Biển khổ thuyền đi cứu độ người

Học về nghi thức thí thực

Cúng thí thực ở Việt Nam cũng được gọi là cúng cháo. Khi tổ chức trai đàn ta dùng nghi thức Đại Mông Sơn. Còn nghi thức này gọi là Tiểu Mông Sơn. Mông Sơn là tên của một ngọn núi ở Trung Quốc, tỉnh Tứ Xuyên. Vào đời Tống có một thiền sư cư trú trên núi ấy tên là Bất Động, thầy đã chế tác ra nghi thức Đại Mông Sơn và Tiểu Mông Sơn. Nghe nói ở trên núi Mông có những cây trà rất ngon, và vì leo lên đỉnh hái trà khó lắm nên người ta đã phải nuôi khỉ để chúng leo lên hái lá trà và liệng xuống. Trà ngon lắm. Mỗi năm người ta lấy trà Mông sơn gửi về dâng vua, nhưng số lượng trà rất ít. Dưới chân núi cũng có trà tuy không ngon bằng. Trà Mông sơn gọi là Mông trà, nghe nói uống vào rất dễ tiêu hóa. Có một thiền sư đem trà Mông sơn rót vào chén bánh lọt, và vài giờ sau bánh lọt biến thành nước. Trong nghi thức cúng linh có câu:

Dương Tử giang tâm thủy
Mông Sơn đỉnh thượng trà
Hương linh tam ẩm liễu
Tảo sinh pháp vương gia.

Nước lấy ở giữa lòng sông Dương. Trà lấy ở đỉnh núi Mông. Hương linh được uống ba ngụm thì có thể sanh ra trong nhà đức pháp vương. Pháp vương là Bụt, là vua pháp (King of the Dharma). Thiền sư Mông Sơn đã nghiên cứu những kinh Mật tông có từ đời Đường và đã sáng chế ra nghi thức cúng cô hồn. Nghi thức này đã được áp dụng trong các đàn trai chẩn tế và được tụng mỗi ngày trong các chùa. Đối tượng của sự cúng dường này trước hết là cô hồn. Cô hồn là những linh hồn không nơi nương tựa, không ai thờ tự. Cô có nghĩa là cô đơn, cô độc; hồn là linh hồn. Thường thường khi một người chết đi thì được gia đình thờ cúng, người ấy biết chỗ để về nên những linh hồn này không phải là những linh hồn cô độc. Những người có một gia đình huyết thống và một gia đình tâm linh thì khi chết đi không cảm thấy bơ vơ tại vì họ biết rằng họ thuộc vào một nền văn hóa, một nhà thờ, một ngôi chùa, một xã hội, một gia đình. Những linh hồn đó không phải là những linh hồn cô độc. Còn những người khi sống có cảm tưởng là mất gốc, không thuộc về một gia đình tâm linh hoặc huyết thống nào, văn hóa nào, những người như vậy cô đơn trong khi sống và khi chết đi cố nhiên cũng sẽ trở thành những linh hồn bơ vơ. Đối tượng đầu của sự cúng kiếng này là những linh hồn bơ vơ. Nhưng không phải chết rồi người ta mới trở thành cô hồn. Khi còn sống chúng ta cũng có thể là những cô hồn và nhìn quanh chúng ta cũng thấy rất nhiều cô hồn, nhất là trong thế giới hiện tại. Phần lớn những cô hồn của thế kỷ thứ 20 và 21 là những cô hồn rất trẻ. Biết bao nhiêu người thanh niên không thấy mình thuộc về một nguồn gốc tâm linh nào, một gia đình huyết thống nào, một nền văn hóa nào. Họ đi lang thang vất vưởng giữa cuộc đời, cảm thấy cô đơn lạnh lẽo. Đó là những cô hồn mà chúng ta có thể tiếp xúc được bằng nhận thức của chúng ta, bằng mắt, bằng tai. Những cô hồn đó đầy dẫy chung quanh ta. Ngay chính trong tăng thân chúng ta cũng có một vài cô hồn vất vưởng. Hy vọng rằng sau một thời gian thực tập những cô hồn ấy có thể tìm ra mái ấm của gia đình, tìm ra chỗ nương tựa tâm linh. Khi những cái rễ mọc ra và bám được vào tăng thân thì những phần tử đó sẽ không còn là cô hồn nữa. Năm nào cũng có những cô hồn tìm tới với tăng thân Làng Mai, và chúng ta cố gắng hết sức để làm cho những cô hồn đó có thể cắm rễ được trong tăng thân này. Khi còn là một cô hồn vất vưởng thì ta đau khổ vô cùng vì ta có sự trống vắng lớn trong trái tim. Hạnh phúc là một cái gì xa vời, ta có cảm tưởng bị lạc lõng. Chung quanh ta có bao nhiêu là người, là cây cối và thú vật, vậy mà ta cảm thấy hoàn toàn không dính líu gì với tất cả mọi người chung quanh, với thiên nhiên, cây cối, cầm thú, … và sự trống trải đó làm ta đau khổ. Có thể là trên bề mặt trí tuệ ta biết rằng trong cuộc đời có những cái rất mầu nhiệm nhưng trên thực tế thì ta lại không tiếp xúc được với những mầu nhiệm đó của cuộc đời. Cuộc đời trống vắng và bơ vơ và vì vậy cô hồn là những linh hồn bơ vơ và đói khát. Đói khát ở đây không hẳn là đói khát cơm áo hoặc một mái nhà mà đói khát tình thương, đói khát một nơi nương tựa, đói khát hiểu biết, tại vì đối với những cô hồn ấy chưa ai từng hiểu mình, chưa ai từng thương mình và mình chưa bao giờ thuộc về một mái nhà ấm cúng, dầu đó là một mái nhà huyết thống hay một mái nhà tâm linh. Xã hội chúng ta được tổ chức như thế nào mà đã chế tác ra không biết bao nhiêu là cô hồn vất vưởng, những cô hồn còn xương còn thịt đàng hoàng, chứ không phải chỉ là những người chết. Vì vậy trong khi trì tụng nghi thức thí thực này chúng ta đừng nghĩ là ta chỉ cúng cho những chúng sanh đã chết. Chúng ta phải biết rằng trong cuộc sống chung quanh ta có rất nhiều những cô hồn đang đi vất vưởng, đói khát hiểu biết, đói khát thương yêu. Hơn nữa, tất cả chúng ta người nào cũng có hạt giống cô hồn ở trong tâm tư, thỉnh thoảng chúng ta vẫn còn muốn bỏ nhà mà đi, bỏ thầy, bỏ tăng thân mà đi. Nếu ta để cho hạt giống đó lớn lên thì một này nào đó chúng ta cũng sẽ trở thành cô hồn. Hơi tủi thân một chút là hạt giống cô hồn đã được tưới tẩm và nếu không cẩn thận, một ngày kia ta sẽ bỏ thầy và tăng thân mà đi. Chúng ta đừng tưởng cô hồn là những người khác. Cô hồn có thể là chính mình. Vũ Hoàng Chương có một bài thơ trong đó có bốn câu:

Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh
Biển vô tận xá gì phương hướng nữa?
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh…

Đó là bốn câu thơ có chất cô hồn. Thấy rằng đất nước này và xã hội này đã từ khước, đã ruồng bỏ ta, vậy thì ta đâu có cần gì nữa. Đâu cần phải giữ gìn thân thể này nữa, đâu cần phải giữ gìn tâm hồn này nữa, đi đâu cũng được! Nếu nghe bốn câu thơ ấy mà ta thấy rung động trong lòng tức là ta đã có hạt giống cô hồn ở trong ta rồi, không còn chối cãi gì được. Và cô hồn là trống trải, cô hồn là khổ đau. Tại vì sự cô độc bao giờ cũng đưa đến sự khổ đau và sự đói khát. Chúng ta đói cơm áo, đói một mái ấm gia đình, đói sự hiểu biết, đói sự thương yêu. ‘‘Chưa ai hiểu ta cả!’’ Trong chúng ta có nhiều người hay than phiền như vậy, đó là hạt giống cô hồn. Chưa ai thương mình mà chưa chắc mình đã thương mình. Niềm tủi thân là dấu hiệu của hạt giống cô hồn trong lòng mỗi người. Chúng ta đừng đi tìm cô hồn ở đâu xa. Cô hồn ở ngay trong tâm chúng ta. Khi ta thương được cô hồn ấy thì ta có thể thương được vạn loài tại vì ai cũng có thể là một cô hồn tương lai cũng như ai cũng có thể một đức Bụt trong tương lai. Thành thử mỗi người nên tự hỏi: mình có phải là một cô hồn không, cô hồn trong hiện tại, hay là cô hồn trong tương lai?

Ở Làng Mai ta thường hay chắp tay lại chào người khác và nói ‘‘Sen búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai.’’ Nhưng nếu chúng ta ăn ở với nhau không đàng hoàng thì người kia đã thành một cô hồn tương lai rồi tại vì hạt giống cô hồn trong hiện tại đang lớn. Cô hồn nếu không được cứu độ lâu ngày thì thành ma đói, gọi là ngạ quỷ. Ngạ quỷ thường được mô tả là có một cái bụng phình ra rất lớn và một cái cổ họng nhỏ như cây kim. Bụng rất lớn nghĩa là sự đói khát rất nhiều, cổ họng nhỏ như kim nghĩa là không có khả năng tiếp nhận. Đó là một hình ảnh thi ca rất rõ. Ở Đông phương mỗi khi nghĩ tới cô hồn là ta nghĩ tới những chúng sanh có nhu yếu rất lớn nhưng khả năng tiếp nhận rất nhỏ. Những cô hồn ấy tuy đói khát hiểu biết và thương yêu nhưng dầu được người ta hiến tặng hiểu biết và thương yêu họ cũng còn nghi ngờ, không tiếp nhận được. Nghi rằng đây là hiểu biết giả, là thương yêu giả, tại vì cô hồn đã từng bị lừa gạt nhiều lần rồi. Cha mẹ nói thương ta mà không thực sự thương, xã hội nói thương ta mà chưa bao giờ thực sự thương, những nhà lãnh đạo chính trị, văn hóa từng nói thương ta mà chưa bao giờ thực sự thương mà chỉ làm cho ta đau khổ. Cô hồn giống như những con chim đã bị trúng tên cho nên thấy cành cong nào cũng sợ và vì vậy khi nghe ai mà nói rằng tôi thương anh, tôi sẽ giúp anh thì cô hồn liền phát tâm nghi ngờ, không tin. Nghi ngờ là bản chất của cô hồn và vì vậy nếu muốn giúp cô hồn ta phải hết sức kiên nhẫn, biết trước rằng lời nói của ta tuy thành thật và ta thật sự có tình thương và sự hiểu biết để hiến tặng nhưng ta đừng tưởng là cô hồn có thể chấp nhận ngay được. Đó là vì khả năng tiếp nhận của cô hồn rất bé nhỏ, đó là vì cổ họng của cô hồn nhỏ bé như cây kim. Ngay giữa chúng ta cũng có những cô hồn như vậy. Thầy thương ta, sư anh, sư chị và sư em thương ta nhưng ta không tiếp nhận được. Ta nghi ngờ đó là lời nói suông ngoài miệng và ta không thể tiếp nhận. Khả năng tiếp nhận tình thương và sự hiểu biết của ta rất nhỏ bé. Có thể là ta chịu trách nhiệm về điều đó, mà xã hội, gia đình và cha mẹ cũng chịu một phần trách nhiệm về điều đó. Vì vậy một trong những dấu hiệu của tình thương đích thực là kiên nhẫn; thương là phải kiên nhẫn. Ngày hôm nay người kia chưa thấy được tình thương của ta nhưng hy vọng mai mốt, tháng sau hoặc năm sau người ấy sẽ thấy được tình thương của ta và sẽ chấp nhận. Thương mà bị hiểu lầm hoặc bị lên án là không thương, đó là chuyện cơm bữa. Vì vậy tình thương chân thật thường được biểu hiện bằng sự kiên nhẫn. Ta hãy cứ thương và cứ tiếp tục thương.

Trong nghi thức này có một câu thần chú có thể giúp cho cổ họng của cô hồn lớn lên, trở lại được kích thước bình thường của một con người, đó là câu thần chú Khai Yết Hầu. Khai yết hầu chơn ngôn tức là chơn ngôn mở rộng cổ họng ra, đọc là Án bộ bộ đế, rị dà rị đa rị, đát tha nga đa da. Không phải chỉ đọc suông câu thần chú đó mà ta có thể làm cho cổ họng cô hồn trở về bình thường. Ta phải có thật nhiều kiên nhẫn, thương yêu và thông minh mới có thể giúp cho cô hồn kia phục hồi khả năng tiếp nhận hiểu biết và thương yêu. Nghi thức này dựa trên giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm là tất cả đều do tâm biểu hiện. Tâm như là một họa sĩ, có thể vẽ ra tất cả mọi sự mọi vật. Thế giới của chúng ta là do tâm sáng tạo ra. Tâm cọng đồng và tâm cá nhân. Địa ngục cũng do lòng người, tịnh độ cũng do lòng người mà phát hiện. Nếu muốn có địa ngục ta chỉ cần vẽ ra địa ngục, nếu muốn có tịnh độ ta chỉ cần vẽ ra tịnh độ và ông thợ vẽ ấy là tâm chúng ta. Tâm như họa sư (mind as painter) và cùng với nhau chúng ta có thể sáng tạo ra một tịnh độ cho chúng ta và cho những người tới với chúng ta. Cùng với nhau ta có thể sáng tạo ra một địa ngục để cùng chịu khổ với nhau và để làm khổ những người tới với chúng ta. Đó là giáo lý đầu của Hoa Nghiêm. Giáo lý thứ hai là trùng trùng duyên khởi, nghĩa là không có một hiện tượng nào chỉ biểu hiện từ một nhân duyên, phải có nhiều lớp duyên khởi trùng trùng với nhau thì mới có thể làm cho một hiện tượng biểu hiện ra được. Cái một được làm bằng cái tất cả, và cái tất cả được thấy trong cái một. Ví dụ trong một bông hoa nếu nhìn kỹ thì ta sẽ thấy tất cả vũ trụ.

Nam mô Bụt và Bồ Tát trên hội Hoa Nghiêm
Nam mô Bồ Tát Diện Nhiên Vương

Diện Nhiên Vương là một vị Bồ tát có khuôn mặt rất dữ. Diện Nhiên là bộ mặt có lửa cháy bừng. Trong những lễ cúng cô hồn người ta rất cần tới Bồ tát Diện Nhiên Vương. Thường thường một Bồ tát như Bồ tát Quán Âm thì mặt mày rất phúc hậu, tươi mát và dễ thương tại vì Bồ tát Quan Âm tượng trưng cho tình thương và sự lắng nghe. Nhưng Diện Nhiên bồ tát lại là một vị bồ tát có khuôn mặt dữ dằn. Lửa cháy từ hai con mắt, lửa bốc ra từ miệng và hai tai bồ tát cũng đang bốc lửa. Vẻ mặt bồ tát rất dữ. Tại sao một vị bồ tát lại có vẻ dữ dằn như vậy? Tại vì ở đây ta cần tới một nhân vật có thể điều phục được những thành phần thuộc vào hàng ác đạo như địa ngục và ngạ quỷ. Vì vậy cho nên phải có một nhân vật rất cứng và rất hùng mới có thể nhiếp phục được những giới đầu trâu mặt ngựa kia. Nhưng nhìn vào trong chiều sâu, người ta thấy có một tình thương rất rộng lớn và ta khám phá ra rằng bồ tát Diện Nhiên không phải là ai ngoài đức Quán Thế Âm. Đức Quan Thế Âm có thể hiện ra thành một người phụ nữ rất hiền dịu, tươi mát nhưng chính Quán Thế Âm bồ tát thỉnh thoảng cũng phải hiện ra như một Diện Nhiên dữ dằn mới có thể trị nổi những âm binh, những chúng sanh đầu trâu mặt ngựa. Hiện giờ đây chung quanh chúng ta có những thanh niên thuộc vào các băng đảng mang theo trong người những chất liệu có thể giết người. Những người ấy có cảm tưởng chưa bao giờ được thương được hiểu. Những người đó khó mà có lòng từ bi và vì vậy họ đã và đang tạo ra biết bao nhiêu tội ác, bao nhiêu là bạo động trong xã hội. Khi tới với họ ta tới bằng một khuôn mặt rất từ bi nhưng thỉnh thoảng ta cũng tới với tính cách của một người rất cứng rắn, mang luật pháp tới để cho họ được nhiếp phục. Vì lý do đó tình thương khoác nhiều hình thức khác nhau, và Diện Nhiên Vương là một hình thức rất đặc biệt. Ở Việt Nam có những người lái xe hàng thuộc về giới anh chị Cầu Muối, không sợ ai hết ‘dọc ngang nào biết trên đầu có ai’, chửi hết tất cả mọi người từ trên xuống dưới. Nhưng khi lái xe từ Sài Gòn lên Đà Lạt, đi ngang qua những khúc quanh trên núi, thấy những miếu thờ sơn đỏ họ biết rằng tại các khúc quanh này đã có nhiều chiếc xe đổ và rất nhiều người chết. Người ta đã lập miếu để thờ họ và người ta nói rằng nếu anh cứng đầu ương ngạnh thì các thần linh và những oan hồn uổng tử kia đó sẽ vặn cổ anh. Khi đi ngang những nơi ấy tự nhiên anh sẽ choáng váng hoa mắt rồi anh bẻ tay ngược để rơi xuống đó và anh cũng sẽ chết như nạn nhân đi trước đó. Vì vậy những anh chàng thiên lôi đánh không chết ấy mỗi khi lái xe ngang các nơi ấy là dở nón xuống và cúi đầu một cách rất cung kính. Miếu thờ cô hồn ở các khúc quanh đó chính là một Diện Nhiên Vương, vì vậy có thể điều phục được những tay anh chị kia mà thôi. Ngoài ra, công an, tỉnh trưởng, quận trưởng và thầy tu không điều phục được những anh chàng đó. Vậy thì Diện Nhiên Vường bồ tát là hiện thân của chúa tể các loài quỷ có khả năng điều phục được giới cô hồn ngạ quỷ, đây là một hành động gọi là đồng sự. Bồ tát nói ‘‘mày lôi thôi thì mày biết tao’’ nhưng bồ tát không nói bằng cái tâm giận hờn, trách phạt và ghét bỏ. Trong lòng bồ tát có một niềm thương rất lớn và biết rằng điều phục bọn này bồ tát phải dùng những hình thức rất kiên cường mới được. Chúng ta cần tới những nhà tù, những ông cai tù và những người cảnh sát tại vì trên thế giới có những người bạo động, gây ra án mạng, gây ra tội ác và đối với những người ấy ta phải dùng đến những biện pháp như còng tay hoặc nhốt vào trong tù, hoặc áp dẫn hoặc đưa ra tòa án. Nhưng chúng ta cũng biết rằng những người cai tù và cảnh sát khi làm những công việc như vậy phải biết sử dụng một trái tim bồ tát. Chừng nào họ làm được như thế thì ta mới yên tâm. Khi vị bồ tát hành động dưới hình thức của một người cai tù, một ông tòa, một cảnh sát thì thế giới này mới thực sự giúp đỡ được cho những thành phần bất hảo của xã hội. Tại sao họ đã trở thành những thành phần bất hảo? Tại vì họ đã không được chấp nhận bởi cha mẹ, bởi nhà thờ, bởi gia đình, bởi bè bạn, bởi xã hội.Vì họ không có cơ hội cho nên họ đã phản kháng, đã đi tìm ma túy, đã đi tìm bạo động. Chúng ta phải có những biện pháp rất cứng rắn để có thể ngăn ngừa những phần tử đó không gây thiệt hại và tội ác trong xã hội. Nhưng trong khi xử dụng những biện pháp mạnh đó ta phải có trái tim của vị bồ tát. Ta phải trao trái tim ấy cho các giới quan tòa, cảnh sát, cai tù. Hình ảnh của bồ tát Diện Nhiên Vương là hình ảnh mẫu mực của người hành động cứng rắn trong xã hội. Anh có thể là người cai tù nhưng anh vẫn có thể là một vị bồ tát. Anh có thể là một chánh án tòa thiếu nhi hay là tòa thượng thẩm nhưng anh vẫn là một vị bồ tát. Anh có thể là người cảnh sát có súng nhưng anh vẫn có thể là một vị bồ tát và súng của anh không bao giờ được sử dụng để giết người. Chúng ta phải đưa giáo lý hiểu và thương của Bụt vào trong tất cả ngõ ngách của cuộc sống xã hội. Đêm qua hồi 11 giờ khuya, Mỹ và Anh đã oanh tạc Iraq trong sáu giờ đồng hồ liên tiếp và có một số thường dân bị thương đã phải chở vào trong nhà thương. Cuộc oanh tạc này có thể tiếp tục trong những ngày tới. Chúng ta hãy cầu nguyện cho bạo động này chấm dứt sớm. Chúng ta cầu nguyện cho giọt nước cam lồ của bồ tát Quán Thế Âm có thể giọt xuống trong trái tim của tổng thống Clinton, của thủ tướng Tony Blair, và của nguyên thủ Sadam Hussein.

‘‘Cứu khổ Quán Âm thị hiện Tiêu Diện quỷ’’, đó là hai câu trong một bài tán trạo của nghi thức chẩn tế. Đức Quán Âm cứu khổ thị hiện ra quỷ Tiêu Diện. Quỷ Tiêu Diện tức là một quỷ sứ lãnh đạo quỷ sứ, cái mặt của Tiêu Diện cháy rần rần và chỉ có một vị lãnh đạo quỷ sứ mới có thể cai trị được quỷ sứ, cũng như chỉ có một thủ lĩnh của băng đảng mới cầm đầu được băng đảng. Cho nên đức Quán Thế Âm bồ tát đã thị hiện ra là một vị lãnh đạo của quỷ sứ. Tiêu Diện là ông Tiêu. Ở các chùa chúng ta thường thấy tượng của Tiêu Diện đại vương cầm một lá cờ và thống lãnh các đoàn quỷ sứ đi sau. Chỉ có Tiêu Diện đại vương mới giữ được cho bọn quỷ sứ ở phía sau lưng đi đứng có trật tự để tới tham dự vào Pháp hội cúng dường tổ chức tại chùa, để cho các giới ngạ quỷ và cô hồn được dịp nghe kinh, tiếp nhận những thức ăn nhà chùa cúng dường để mà chuyển hóa và sanh về tịnh độ. Vai trò của Tiêu Diện đại vương hay là của quỷ Tiêu Diện rất quan trọng. Tiêu Diện hình thức rất dữ dằn nhưng nội dung là tình thương.

Lửa dữ bừng bừng cháy bốn bên
Cô hồn nóng bức khổ triền miên
Cô hồn nếu muốn sinh tịnh độ
Hãy lắng nghe đây kệ Bụt truyền

Đây là cảnh của địa ngục. Địa ngục có lửa, không những lửa cháy ở một bên mà cháy luôn cả bốn bên. Sự thực là lửa đang cháy ở lòng người, tất cả chúng ta những người nào đã từng trải qua những giai đoạn khổ đau thì đã biết thế nào là địa ngục, và địa ngục kia không phải chỉ cháy một bên mà cháy luôn bốn phía và ta không có đường thoát. Nó như một lòng chảo và dù có muốn thoát ta cũng không thoát được. Những lúc đó chúng ta hết sức cô đơn. Chúng ta mong có một vị bồ tát đi xuống để kéo ta ra khỏi biển lửa kia. Đó là hỏa ngục. Có một Phật tử từ Việt nam viết thư cho thầy ‘‘Bạch Thầy, hồi khuya con thấy Thầy tới và Thầy bắc một chiếc thang cho con leo ra khỏi cái chỗ mà con đang bị giam hãm.’’ Người Phật tử đó đã từng gặp Thầy ba mươi mấy năm về trước. Đã từng được dịp tu học nhưng sau đó lại đã rơi xuống địa ngục của đau khổ, và trong giấc mơ anh đã thấy thầy đem thang tới để anh có thể leo lên. Chúng ta cũng vậy, trong những khi bị bủa bây bởi khổ đau, bởi lửa dữ, chúng ta thường mong có một vị bồ tát tới thả một sợi dây hoặc bắc một cái thang để chúng ta có thể thoát ra. Vị bồ tát đó là ai? Đó là một câu hỏi. Và chúng ta có thể là vị bồ tát đó đối với một người khác hay đối với chính ta. Khổ triền miên là khổ không bao giờ chấm dứt. Địa ngục là nơi ngược với tịnh độ. Những vùng trong đó chúng ta bị kẹt vào. Kẹt không hẳn là do người khác lùa ta vào mà chính là do ta đã tìm tới những chỗ đó. Những vùng xì-ke ma túy, những vùng hận thù, băng đảng, tất cả những vùng đó có thể là chính chúng ta đã tìm tới. Chúng ta đã tự muốn tìm tới những chỗ đó chứ không phải là người ta đã lùa và nhốt chúng ta vào những vùng đó. Một cuộc nhân duyên, một sự kết hợp giữa hai người với nhau có thể đã trở thành ra một vùng hỏa ngục và vùng hỏa ngục đó là do chính hai người tạo tác. Bây giờ chúng ta muốn thoát ra và đi tới một nơi không có lửa cháy như vậy, một nơi mà ta có thể bước những bước nhẹ nhàng, an nhiên, thảnh thơi, vững chãi: đó là tịnh độ. Khi đang ở trong hỏa ngục người ta rất khao khát tịnh độ và tìm mọi cách để thoát ra khỏi hỏa ngục để có thể bước vào tịnh độ. Và cô hồn nếu muốn sinh lên tịnh độ thì phải lắng nghe và hiểu một câu nói của Bụt. Đó là bài kệ mở đầu nghi cúng cháo. Lời kệ này rất quan trọng. Quan trọng cho đến nỗi trước khi đọc kệ ta phải có một lời khai thị. Tới bài kệ ấy thì phải tụng với tất cả tâm hồn của chúng ta. Bài kệ ấy được trích trong kinh Hoa Nghiêm nên chúng ta đã bắt đầu nghi thức này bằng câu: Nam mô Bụt và Bồ Tát trên hội Hoa Nghiêm.

Nếu ai muốn thấy và muốn hiểu
Chư Bụt có mặt trong ba đời
Người ấy phải quán chiếu pháp giới
Tất cả đều do tâm mà thôi

Người đem sợi dây hay là cái thang tới để cứu ta ra khỏi hỏa ngục là ai? Là Bụt. Nếu muốn thấy Bụt, hiểu Bụt thì phải nhìn cho kỹ tất cả những gì xung quanh ta và trong ta để thấy được sự thật là tất cả đều do tâm ta sáng tạo ra hết, trong đó có địa ngục của ta. Địa ngục của ta là do ai tạo tác? Do tâm ta tạo tác ra. Đó gọi là duy tâm. Nguyên văn chữ Hán:

Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Nhất thiết duy tâm tạo.

Bài kệ 28 chữ của tiếng Việt là được dịch từ bài kệ 20 chữ trong kinh Hoa Nghiêm. Liễu tri là biết cho tận gốc, biết tường tận. Người nào muốn biết một cách tường tận thế nào là các đức Bụt trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai thì cần phải nhìn sâu vào bản chất của pháp giới. Thường thường chúng ta phân biệt thế giới (lokadhatu) và pháp giới (dharmadhatu). Thế giới cũng là pháp giới, nhưng thế giới là cái mà người phàm trông thấy còn Pháp giới chỉ người giác ngộ mới trông thấy. Trong thế giới của người thường thì cái này nằm ở ngoài cái kia, và vạn vật có có có không, có tới có đi, có sanh có diệt. Còn người giác ngộ nhìn vào trong thế giới thì không thấy thế giới mà chỉ thấy Pháp giới, tức là thấy được tính duyên sinh của mọi sự mọi vật. Cái này không nằm ngoài cái kia mà cái tất cả nằm trong cái một và cái một trong cái tất cả. Thấy được như vậy là thấy được Pháp giới. Còn nếu thấy có sự chia rẽ, có sự cô đơn, có sự kỳ thị thì cái đó còn là thế giới. Tâm không giác ngộ thì chỉ thấy thế giới, còn tâm giác ngộ thì thay vì thấy thế giới ta thấy được Pháp giới. Chúng ta phải biết rằng địa ngục mà trong đó chúng ta đang sống là một sáng tạo của tâm thức cá nhân và cộng đồng và chúng ta có thể thoát ra được. Nếu tâm tạo ra địa ngục thì tâm cũng có thể làm ngưng địa ngục. Nếu chúng ta làm cho tâm tịnh độ phát hiện thì tự nhiên tịnh độ sẽ phát hiện. Chán ghét hỏa ngục, mong ước tịnh độ thì tự nhiên tâm ta sẽ hướng về tịnh độ. Quay lưng lại địa ngục và xoay mặt về tịnh độ, thì thế nào tịnh độ cũng hiện tiền. Đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm. Là người cúng cháo, là người hành trì, ta phải nắm cho vững giáo lý này, tại vì chính tâm thức của ta mới khai thị được nẻo thoát cho cô hồn. Cô hồn là những người đói khát, khổ đau và cô đơn và vì thế ta phải làm thế nào để giúp cho cô hồn mở mắt ra được và mở cổ họng ra được. Vai trò của chúng ta rất quan trọng, vai trò của chúng ta phải là vai trò của bồ tát Quan Thế Âm. Chúng ta phải có kiên nhẫn, phải có định lực. Trong nghi thức cúng cháo ta phải tụng với tất cả tâm chí thành của mình. Ta phải hoàn toàn có mặt, phải đọc những câu kinh và những câu chú hết sức vững chãi, và an trú trong định. Trong khi cúng cháo nếu tâm ta vướng bận sự buồn giận thì rất tội nghiệp cho cô hồn và nhất là tội nghiệp cho chúng ta. Tại vì chúng ta đang làm như một cái máy, chỉ làm được phần hình thức mà thôi.
Trên đây là phần khai thị giáo lý siêu tuyệt của Bụt trong kinh Hoa Nghiêm. Bây giờ đến phần trì chú. Câu thần chú đầu tiên là chân ngôn phá địa ngục. Chúng ta biết rằng địa ngục này đã được sáng tạo bằng tâm thì muốn phá địa ngục đó ta cũng phải phá bằng tâm chứ không phải bằng bom đạn.

Chân Ngôn Phá Địa Ngục
Án dà ra đế da ta bà ha

Đang ở địa ngục thì ta phải tham gia vào việc phá địa ngục. Người thương của ta đang ở địa ngục thì ta phải tới phá địa ngục và đưa người ấy ra. Địa ngục không phải là chuyện trong tương lai, địa ngục là chuyện hiện tiền, vì khi chúng ta rơi vào trong giận dữ, ganh tị và tuyệt vọng là chúng ta đã rơi vào địa ngục lửa cháy. Chúng ta phải tìm cách thoát ra địa ngục liền lập tức và thoát bằng nẻo của tâm vì chính tâm đã làm ra địa ngục thì chính tâm sẽ phá được địa ngục. Địa ngục Hỏa Lò, khám Chí Hòa cũng từ tâm mà ra cả. Trong liên hệ giữa ta với người kia nếu ta đã tạo ra một hỏa ngục thì cả hai phải biết dùng tâm để phá hỏa ngục đó mà thoát về tịnh độ. Và ta có những vị bồ tát trong ta và chung quanh ta để giúp ta làm chuyện đó. Địa ngục đó ở ngay trong tâm ta, ta đừng than vãn là địa ngục đó đã được xây dựng bởi một người khác. Chính ta đã góp phần chủ động xây dựng địa ngục đó cho ta. Người ta đã cảnh cáo, nhưng ta đã cứ khăng khăng đi vào đó, nghĩ rằng chỉ có đi về hướng đó mới có hạnh phúc. Cái không phải là hạnh phúc mà ta gọi là hạnh phúc, cái không phải là tự do mà ta tưởng là tự do, đó gọi là điên đảo. Sau khi phá địa ngục rồi thì ta tụng chân ngôn tiếp theo là Chân

Ngôn Phổ Triệu Thỉnh:
Nam mô bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát tha nga đa da

Phổ triệu thỉnh là mời hết, không chừa ai. Tất cả những người khổ, tất cả những loài đang khổ đau, dù là trong địa ngục nào, ta cũng thỉnh mời hết tại vì cúng dường đây là cúng dường không phân biệt. Da trắng cũng mời, da đen cũng mời, da vàng cũng mời, da đỏ cũng mời, không kỳ thị. Tinh thần của buổi cúng cháo là tinh thần vô già. Vô già là không ngăn, không tạo ra một trở lực nào cho bất cứ ai. Mở hết cửa, tất cả mọi người đều được vào hết, đều có cơ hội như nhau. Khi chúng ta tổ chức một đàn chay hay một cuộc chẩn tế thì đàn chay đó và cuộc chẩn tế đó được gọi là Vô Già Hội. Cũng như hiện bây giờ các thầy và các sư cô đang cứu trợ nạn lụt ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi với sự hợp tác của Làng Mai. Sự cứu trợ đó mở rộng ra cho tất cả mọi người. Người Phật tử cũng được cứu trợ, người Thiên chúa cũng được cứu trợ, đàn ông, đàn bà, trẻ em đều được cứu trợ hết không chừa ai, đó gọi là vô già. Sau đó ta

tụng đến Chân Ngôn Mở Oan Kết:
Án, tam đà ra già đà ta bà ha.

Oan kết là những sợi dây oan ức. Giải oan là một danh từ rất phổ thông trong đạo Bụt. Ta đang lái xe một cách thảnh thơi thì bị một người say đụng vào xe ta. Ta chết, con ta chết, vợ ta chết, để lại cha mẹ không ai chăm sóc, đó là một cái oan. Chúng ta không làm nên tội lỗi gì mà tự nhiên bị lên án chung thân khổ sai. Những cái oan như vậy xảy ra khắp nơi. Chúng ta đang còn trẻ mà tự nhiên bị lâm vào vòng ma túy, tiêu diệt cả cuộc đời, cả thân tâm chúng ta, đó là một cái oan. Những oan ức trong cuộc đời rất nhiều. Những oan ức đó không phải là không có lý do. Chúng ta đã vì dại dột, chúng ta đã không có điều kiện tốt cho nên những thống khổ, những sợi dây oan nghiệt kia đã tới cột vào, và chúng ta không thoát ra được nữa. Thần chú này là để cởi ra những sợi dây oan. Chúng ta đã tạo ra những nhân gì trong quá khứ để bây giờ chúng ta tiếp nhận oan khổ. Khi tạo ra những oan khổ cho người chúng ta thường không biết, bây giờ đây những sợi dây oan khổ đó trở lại cuốn vào chúng ta. Oan khổ này tiếp nối oan khổ khác. Oan oan tương báo. Bất cứ một hành động nào, một lời nói nào hay một cử chỉ nào gây đau khổ cho người cũng đã lên đường tiếp tục gây đau khổ cho người kia, và gây đau khổ trở lại cho chúng ta, rồi gây đau khổ liên tiếp cho con cháu người kia và cho con cháu chúng ta. Cứ như vậy nỗi oan kéo dài. Hận thù tiếp diễn, hận thù đó chúng ta có thể thấy ngay trong thế giới hiện tại. Giữa những người Palestine và những người Israel, giữa những người Hindu và những người Muslim, giữa người da trắng và da đen, giữa dòng họ này và dòng họ khác, giữa dân tộc này và dân tộc khác. Bên Anh, Mỹ, Âu Châu, Á Châu, Phi Châu nơi nào cũng có những oan ức triền miên kéo dài từ đời này sang đời khác. Bụt dạy rằng nếu muốn chấm dứt oan khổ phải dùng từ bi, nếu giải quyết oan khổ bằng oan khổ thì oan khổ không bao giờ chấm dứt được. Lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng, lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan. Nếu chúng ta lấy sự oán hận để đáp lại oán hận thì oán hận ấy sẽ kéo dài bất tuyệt, còn nếu biết lấy đức từ bi và hiểu biết mà đáp ứng với cái oán thì oán đó sẽ tiêu tan, đó là giáo lý của Bụt. Dĩ đức báo oán. Lấy tình thương đối lại hận thù thì ta có thể chấm dứt được luân hồi của hờn oán và đó là chân ngôn mở oan kết. Chúng ta phải dùng sự hiểu biết và thương yêu để đáp ứng lại hận thù và bạo động thì đó mới đúng với lời Bụt dạy và chỉ khi nào chúng ta nghĩ được và làm được như vậy thì câu thần chú này mới thành ra hiện thực mà thôi. Ba câu thần chú này phải tụng lên bằng tất cả tuệ giác của chúng ta mới được. Khi chúng ta tụng ba câu thần chú đó thì hạt giống từ bi, hiểu biết và thương yêu trong chúng ta được tưới tẩm và từ trong chúng ta tỏa ra năng lượng của Bụt và của các vị bồ tát. Lúc đó các cô hồn mới có thể tiếp nhận được mà thôi. Quyền quyết định là ở người cúng cháo. Trước hết ta phải có năng lực định cho thật mạnh để có thể phá địa ngục, nếu người cúng cháo đang ở trong địa ngục thì không có cách gì mà phá được địa ngục cho người khác. Cũng như khi đang đứng trong một cái lu thì ta không thể vần cái lu đi chỗ khác được. Muốn vần cái lu đó đi thì chúng ta phải nhảy ra ngoài cái lu. Đó là một hình ảnh thường dùng của người Việt. Cũng vậy, anh là người muốn phá địa ngục cho người khác thì anh phải thoát ra khỏi địa ngục của anh trước. Muốn mở những sợi dây oan của người khác thì những sợi dây oan khổ của mình ta phải mở ra trước. Nghĩa là chúng ta phải có từ bi và không chất chứa hận thù nữa. Không hận thù cha, mẹ, không hận thù cuộc đời thì lúc đó ta mới có thể mở miệng ra đọc được câu thần chú giải oan.

Nam mô Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Đây là niệm Pháp, vì kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka sutra) là cơ bản của sự thực tập cúng dường này. Thay vì niệm Bụt trước thì ta niệm Pháp trước. Phương Quảng (Vaipulya) là rộng lớn, ‘‘Đại Phương Quảng’’ là rất rộng lớn. Phương Quảng đối với A-hàm. A-hàm thường được gọi là bước đầu, dạy cho những người tân học, Phương Quảng là mở rộng ra, chỉ bày những chân trời giáo pháp rộng lớn hơn. Hoa Nghiêm tức là làm cho đẹp, làm cho trang nghiêm bằng hoa, trang điểm Bụt bằng hoa.

Nam mô Bụt thường trú mười phương
Nam mô Pháp thường trú mười phương
Nam mô Tăng thường trú mười phương

Những câu niệm Bụt này là để hướng dẫn cho các cô hồn biết hướng về Tam Bảo, tại vì địa ngục đã phá rồi, cô hồn đã được triệu thỉnh tới đầy đủ rồi, những nỗi oan kết đã có thể mở ra và bây giờ niệm Bụt để cho tâm tư cô hồn thanh thản lại. Thường trú nghĩa là luôn luôn có mặt. Bụt không phải chỉ có mặt trong quá khứ và ở một địa phương. Bụt có mặt trong hiện tại và ngay trong địa phương này. Bụt đã vậy, mà Pháp và Tăng cũng vậy, luôn luôn có mặt trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây.

Nam mô Đức Bụt Thích Ca Mâu Ni
Nam mô Đức Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm
Nam mô Đức Bồ Tát Cứu Khổ Địa Tạng Vương
Nam mô Đức Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà

Địa Tạng Vương là một vị bồ tát có nguyện lớn là nơi nào có địa ngục thì nơi đó bồ tát phải có mặt. Danh hiệu của bồ tát là Địa Tạng Vương. Minh tức là cõi u minh, nghĩa là cõi âm, minh này không có nghĩa là sáng. Dương tức là cõi trần thế. Người cứu độ cho cả cõi âm và cõi dương được gọi là Minh Dương Cứu Khổ Địa Tạng Vương. Hình ảnh của bồ tát Địa Tạng Vương là một hình ảnh tiêu biểu, vì chính ở đây sự đối tượng cúng dường, đối tượng của tình thương và của sự thực tập là những người cô hồn. Vì vậy bồ tát Địa Tạng Vương đóng một vai trò quan trọng. Sự đau khổ đó có mặt trong cả cõi dương và cõi âm. Cõi dương nằm trong cõi âm và cõi âm nằm trong cõi dương. Đó là giáo lý tương tức. Cõi dương cũng như cõi âm đều nằm trong cõi dương hết. Trong chùa mỗi khi thỉnh chuông đại hồng chúng ta hay xướng bài kệ:

Hồng chung sơ khấu
Bảo kệ cao âm
Thượng triệt thiên đường
Hạ thông địa phủ.

Nam mô u minh giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát!

Hồng chung sơ khấu tức là chuông lớn vừa mới khua lên. Bảo kệ cao âm là bài kệ quí báu đã được xướng lên. Thượng triệt thiên đường là phía trên thì tiếng chuông lên tới thiên đường. Hạ thông địa phủ là phía dưới tiếng chuông đi thẳng tới địa ngục. Chúng ta dịch bài kệ trên là:

Chuông đại hồng mới vọng
Tiếng kệ xướng đã vang
Trên vọng tới thiên đường
Dưới thông về địa phủ.

Nam mô Đức Bồ Tát Địa Tạng giáo chủ cõi u minh!

Chúng ta làm như thỉnh chuông chỉ là để cho cõi trời và cõi âm nghe thôi, còn với chúng ta thì chuông này không có hiệu lực gì. Thỉnh chuông như vậy là chỉ thỉnh cho cõi trời và cõi địa ngục. Chúng ta biết rằng trên cõi thiên nghe tiếng chuông thì chư thiên rất lấy làm hạnh phúc. Vì sao? Vì họ biết rằng họ đang ở trong một hoàn cảnh rất may mắn. Dưới cõi âm mà nghe tiếng chuông thì người ta thức tỉnh, bớt khổ đau, người ta biết niệm Bụt và có hy vọng thoát ra khỏi khổ đau. Còn chúng ta người cõi dương tại sao không nói tới? Bây giờ có những nơi đạo Phật chỉ phục vụ cho người chết. Người ta tới chùa không phải để tu tập mà chỉ để làm đám. Người ta gọi đó là funeral Buddhism, chuyện đó đã xảy ra mọi nơi nhất là ở Nhật Bản. Đạo Phật không phục vụ nhiều cho người sống, chỉ chuyên phục vụ cho người chết. Điều này ta cần để ý. Câu Nam Mô Minh Dương Cứu Khổ rất quan trọng. Minh dương tức là cả cõi âm và cõi dương. Tiếng chuông trước hết là được thỉnh cho cõi dương và nghi thức cúng cháo này tuy gọi là cúng cho cô hồn nhưng kỳ thực những cô hồn sống cũng rất cần tới chúng ta. Quanh ta có biết bao nhiêu cô hồn đang đói khát, đang khổ đau, đang ở trong địa ngục, cho nên chúng ta phải trở về, phải thấy địa ngục ngay trong hiện tại, bây giờ và ở đây. Cúng cháo không phải chỉ là hướng về cõi u minh mà còn là để nhận thấy tình trạng hiện tại của thế giới. Đừng đi tìm cô hồn đâu xa, ta hãy nhận ra cô hồn ngay trong bản thân ta và chung quanh ta. Khải giáo tức là mở ra giáo pháp. Tại vì đức A Nan đã là một nguồn cảm hứng để Bụt tuyên dạy nhiều giáo lý mầu nhiệm trong đó có giáo lý cứu bạt diệm khẩu cô hồn. Trong kinh Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú do thầy Bất Không đời Đường dịch có câu chuyện sau đây: một hôm thầy A Nan đang ngồi thiền trong chỗ vắng, có một con quỷ hiện ra, mặt cháy bừng bừng. Con quỷ đó tên là Diện Nhiên. Quỷ nói ‘‘Thầy biết không, trong ba ngày nữa thầy sẽ chết và thầy sẽ rơi xuống hỏa ngục.’’ Thầy A Nan sợ quá, tự hỏi bây giờ phải làm sao? Tại sao thầy A Nan phải sợ? Thầy là đệ tử Bụt, nghe giáo pháp mỗi ngày, tu tập mỗi ngày nhưng tại sao lại bị một con quỷ Diện Nhiên dọa nạt như vậy? Thầy A Nan hồi đó còn trẻ. Khi còn trẻ ta cứ nghĩ rằng ta sẽ trẻ hoài, sẽ không bao giờ già đâu, thành ra ta buông thả, không chịu tu tập cho đàng hoàng, phụ lòng thầy, phụ lòng tăng thân, vì vậy quỷ Diện Nhiên đã hiện ra cho biết là nếu tu hành kiểu đó thì mai mốt chết đi rơi xuống địa ngục đó là chuyện rất thường. Quỷ nói có cách là thầy phải tu tập rất nhiều từ bi, phải cúng dường cho kẻ đói khát. Thầy A Nan về bạch Bụt, Bụt nói: ‘‘Không sao đâu, để thầy chỉ cho.’’ Rồi Ngài dạy về phương pháp cúng dường và độ cho giới ngạ quỷ, từ đó về sau ta có truyền thống cúng cô hồn. Vì vậy thầy A Nan đã có được công đức khải giáo, nghĩa là mở bày được ra giáo pháp đó. Khải là mở ra. Như vậy trong phần niệm danh hiệu ta cần niệm kinh Hoa Nghiêm, niệm Tam Bảo thường trú trong mười phương, niệm các đức Thích Ca, Quán Âm và Địa Tạng và cuối cùng là đức A Di Đà nghĩa là tất cả những người có liên hệ trực tiếp tới nghi thức cúng cháo. Bây giờ đến phần sám hối và phát nguyện nghĩa là phần chuyển hóa. Chúng ta hướng dẫn cô hồn sám hối, vì sám hối và chuyển hóa là tiếp tục tháo mở những sợi dây oan kết đang thắt chặt trái tim của chúng ta và giam giữ chúng ta trong địa ngục. Và chúng ta biết rằng đối tượng của sự khai thị này không phải chỉ là cô hồn mà còn hai giới khác là giới Phật tử và giới hữu tình. Cô hồn là giới thứ ba nhưng không phải là giới ít quan trọng nhất (last but not least). Nghi thức này không quên những giới không phải cô hồn nhưng cũng khổ gần như cô hồn vậy, trong đó có giới Phật tử. Là Phật tử nhưng không tu hành đàng hoàng. Phật tử tức là những người có gia đình huyết thống và gia đình tâm linh nhưng không tu hành đàng hoàng, vì vậy đau khổ của Phật tử có thể sâu đậm như đau khổ của cô hồn.
Phật tử đã tạo ra nghiệp xấu

Có những Phật tử thành công trong sự tu tập nhưng có những Phật tử không thành công và cũng gánh chịu nhiều đau khổ. Vì vậy họ cũng cần cũng được khai thị để sám hối, phát nguyện, chuyển hóa và lìa xa địa ngục. Bởi vì Phật tử cũng có thể rơi vào địa ngục nếu không tu hành đàng hoàng. Nguyên văn là ác nghiệp, dịch là nghiệp xấu. Nghiệp xấu là những hành động, những tư duy và những lời nói tạo ra sự đổ vỡ. Khi giận, khi ghen, khi tức, khi u mê, ta nói những điều thất nhân ác đức, nghĩ và làm những điều rất tiêu cực. Đôi khi chúng ta muốn người kia chết đi cho khỏe và ta có thể giết người bằng tư tưởng của chúng ta. Không phải chỉ có cô hồn đã làm như vậy mà Phật tử thỉnh thoảng cũng đã làm như vậy. Chúng ta tự nhận là đệ tử của Bụt nhưng vì tham sân si, thỉnh thoảng chúng ta cũng tạo tác những nghiệp nhân như vậy. Chúng ta làm như vậy đối với cha mẹ, với thầy, anh, chị, em của chúng ta bằng nghiệp xấu.

Cũng vì tâm niệm tham sân si

Vì thèm khát, vì giận hờn và u mê mà chúng ta đã tạo những nghiệp xấu. Khi tụng câu này ta phải thấy rằng chính ta cũng có thể làm như vậy và trong khi ta trì tụng không những giới cô hồn với giới Phật tử được chuyển hóa mà chính trong chúng ta cũng chuyển hóa. Có sự chuyển hóa trong tâm chúng ta thì mới có được sự chuyển hóa ở chung quanh ta.

Từ thân, miệng, ý mà sinh ra
Tất cả Phật tử đều sám hối.

Phật tử là giới trong đó có ta. Vì vậy cho nên người cúng cháo cũng phải sám hối đồng thời với giới Phật tử. Bây giờ chúng ta lặp lại câu kệ đó với các loài hữu tình, nghĩa là tất cả mọi loài. Hữu tình (sentient being) là tất cả những hình thức của sự sống. Chúng ta không phải chỉ cúng cho giới Phật tử. Tuy ta không kỳ thị, nhưng vì thuộc về gia đình Phật tử cho nên chúng ta mời gọi giới Phật tử trước.

Mọi loài đã tạo ra nghiệp xấu
Cũng vì tâm niệm tham, sân, si
Do thân, miệng, ý phát sinh ra
Tất cả mọi loài đều sám hối.

Hữu tình ngược với vô tình. Tiếng phạn là satva. Bây giờ ta khai thị cho và sám hối với cô hồn.

Cô hồn đã tạo ra nghiệp xấu
Cũng vì tâm niệm tham, sân, si
Do thân, miệng, ý phát sinh ra
Tất cả cô hồn đều sám hối.

Chúng ta tụng bài kệ này là để hướng dẫn cho cả ba giới sám hối và trong khi đó chúng ta cũng phải chí thành sám hối thì mới thành công được. Nghi thức này không phải chỉ để cho cô hồn, mà còn cho chúng ta và cho những người khác đang nghe kinh, những người chung quanh chúng ta. Sau khi sám hối rồi chúng ta thực tập phát nguyện.

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Phát nguyện tức là đem một nguồn năng lượng vào trong cơ thể và trong tâm hồn của mình. Khi chúng ta là những cô hồn vất vưởng thì chúng ta không có nguồn năng lượng nào hết. Không có sức sống, ta thấy thân tâm rã rời vì đối với ta cuộc đời không nghĩa lý gì cả. Ở đây người hành giả tìm cách tạo tác ra một nguồn năng lượng. Trông thấy cái đau khổ của mọi loài như vậy ta muốn thoát ra, muốn vươn lên, muốn cứu trợ, vì vậy mục đích của câu này là làm phát khởi bồ đề tâm trong mỗi cô hồn, mỗi chúng sanh. Vì sao vậy? Tuy cô hồn dữ dằn như vậy, đầy dẫy nghi ngờ như vậy nhưng trong lòng họ vẫn có hạt giống của Phật pháp, của bồ đề tâm và ta phải đại diện cho Bụt và các vị bồ tát để chỉ cho họ biết rằng trong tâm họ cũng có những hạt giống tốt lành đó. Khi họ tiếp xúc được hạt giống bồ đề tâm thì tự nhiên một nguồn năng lượng ở trong con người họ bừng dậy và chính nguồn năng lượng đó sẽ làm cho họ thoát ra khỏi cảnh địa ngục và đi về các cõi tịnh độ. Đây là bốn lời nguyện lớn gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện (the four great vows). Bốn lời thề lớn này làm cho năng lượng bồ đề tâm sung mãn và chính năng lượng này đưa chúng ta ra khỏi thế giới của địa ngục. Chúng ta thấy địa ngục này dày, rộng, không thể nào thoát được, nhưng chính năng lượng của bồ đề tâm sẽ đưa chúng ta thoát ra khỏi địa ngục đó. Chúng ta thấy rất rõ rằng giáo lý duy tâm trong này: tất cả đều do tâm. Nhiều khi ta có khuynh hướng chịu thua và buông xuôi nhưng khi được khai thị thì hạt giống của bồ đề tâm được tưới tẩm và chúng ta lại có năng lượng lớn và chính năng lượng đó đẩy chúng ta ra khỏi địa ngục.

Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ
Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn
Tự tánh pháp môn thệ nguyện học
Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.

Cô hồn có thể nghi ngờ tại sao họ lại có thể làm được chuyện đó? Tại sao tôi có thể độ hết chúng sanh, đoạn hết phiền não, học được tất cả các pháp môn, thành tựu được cái vô thượng chánh đẳng chánh giác? Mọi người ai cũng có hạt giống nghi ngờ trong tâm. Chúng ta phải khai thị rằng khả năng đó, hạt giống của bốn hoằng thệ nguyện đó có sẵn trong tự tánh của mọi chúng sanh. Chúng ta không cần đi kiếm cái đó ở đâu xa. Chính trong mỗi người, mỗi cô hồn đều có tự tánh của sự thành Phật, của sự độ tha. Vì vậy ngay trong nghi thức cúng cháo này giáo lý đại thừa được thể hiện rất sâu sắc.

Sau khi hướng dẫn cho các giới cô hồn sám hối và phát nguyện rồi ta thực tập đến phần cúng dường. Chú đầu là chú diệt định nghiệp.

Chân Ngôn Diệt Định Nghiệp:
Án bát ra mạt lân đà nảnh ta bà ha

Diệt định nghiệp tức là phá bỏ cái nghiệp coi như là tiền định. Nghiệp riêng và nghiệp chung mà chúng ta đã gây ra và đã đưa chúng ta tới nẻo đường đen tối và khổ đau của hôm nay. Và chúng ta nghĩ rằng đó là định nghiệp, một hoàn cảnh không thể nào thoát ra khỏi được. Nhưng khi có sự can thiệp của chánh pháp, của tăng đoàn và của chư Bụt thì nghiệp quả đó lại có thể phá bỏ được và chúng ta có thể thoát ra khỏi tình trạng hiện tại. Nghiệp có hai thứ, một là nghiệp nhân, hai là nghiệp quả. Nghiệp nhân là những gì chúng ta tạo tác ra và nghiệp quả là những gì chúng ta phải gặt hái. Gieo gió thì phải gặt bão. Nhưng nếu có sự can thiệp của Bụt, Pháp, Tăng vào đó thì có thể có sự thay đổi. Giống như khi trồng bắp mà trời cứ tiếp tục nắng thì bắp sẽ cháy, sẽ khô, nhưng nếu chúng ta can thiệp bằng cách tưới thì cũng có thể tránh được tình trạng đồng bắp bị khô cháy. Đó là sự can thiệp của yếu tố từ bên ngoài, mà sự can thiệp đó là sự can thiệp của tăng đoàn, của giáo pháp và của đức Thế Tôn.

Chân Ngôn Diệt Nghiệp Chướng
Án a lỗ lặc kế ta bà ha

Chướng tức là những trở ngại, những chướng ngại. Trên bước đường tu tập giải thoát chúng ta thấy có những chông gai và chướng ngại thiết lập ra trước mặt ta. Ví dụ chúng ta quá bận rộn, không có thì giờ, không có cơ hội để tới với tăng thân, với sự tu tập. Chúng ta bị cái này hay cái khác kéo đi và điều ao ước lâu ngày của chúng ta là tới với tăng thân để tu tập đã không thực hiện được qua bao nhiêu tháng năm. Đó là một trong những yếu tố làm chướng ngại sự tu học, sự thành công, sự chuyển hóa của chúng ta. Những chướng ngại đó có thể vượt qua được để chúng ta có cơ hội thành tựu được những ước muốn sâu sắc của chúng ta. Câu chân ngôn này là câu chân ngôn diệt nghiệp chướng, tức là tháo bỏ tất cả những chướng ngại trên con đường đi của mình. Chân ngôn là những thần chú khi đọc lên có tác dụng thay đổi được tình trạng. Những linh chú như câu gate gate paragate parasamgate bodhi svaha là những chân ngôn rất phổ cập. Nguyên tắc của sự thực tập là khi chúng ta đọc lên một câu chân ngôn thì ba nghiệp ta phải thanh tịnh và hợp nhất. Thân khẩu ý hoàn toàn phối hợp với nhau trong một trạng thái thiền định vững chãi thì câu chân ngôn đó mới có kết quả. Nghĩa là chúng ta phải hoàn toàn có mặt, thân tâm hợp nhất thì câu chân ngôn đó mới có hiệu quả. Có một tông phái gọi là Chân Ngôn Tông. Tông phái này cho sự thực tập chân ngôn là quan hệ nhất. Đó cũng là Mật Tông.

Chân Ngôn Mở Rộng Yết Hầu:
Án bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát tha nga đa da

Chúng ta đã biết rằng các cô hồn và quỷ đói bụng rất lớn mà cổ họng rất nhỏ. Trong buổi cúng cháo, chúng ta phải đọc câu chân ngôn mở rộng yết hầu với tất cả lòng từ bi. Người kia đầy nghi kỵ và ta phải làm thế nào cho người kia có niềm tin rằng tình thương là một cái gì có thiệt, sự hiểu biết và cảm thông cũng thế. Vì vậy câu chân ngôn này rất quan trọng.

Chân Ngôn Tam Muội Da Giới
Án tam muội da tát đỏa phạm

Chúng ta nên biết rằng nghi thức cúng cháo này đã phát sinh từ truyền thống Mật tông, vì vậy các câu chú này đều mang màu sắc Mật giáo. Tam muội da giới là một phép tiếp nhận năng lượng chánh niệm trước khi chúng ta có thể tiếp nhận phép quán đỉnh. Trong Mật tông phép quán đỉnh rất quan trọng, tức là phép rót nước tịnh lên đầu. Muốn tiếp nhận phép quán đỉnh thì trước hết phải tiếp nhận phép tam muội da giới. Đây cũng là mở cửa để cho các cô hồn và quỷ đói có thể có cơ hội gia nhập vào trong đoàn thể của những người tu học.

Chân Ngôn Biến Thực:
Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lồ chỉ đế.
Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng

Chân ngôn biến thực tức là chân ngôn nương vào thần lực của Bụt và Bồ Tát để làm cho số lượng thức ăn đang dâng cúng trở thành ra đầy đủ cho mọi thành phần tới tham dự. Đọc ngang đây chúng ta nhớ tới câu chuyện trong thánh kinh Cơ Đốc Giáo. Một lần kia có nhiều người tới trình diện mà chúa Kitô chỉ có hai ổ bánh mì và năm con cá. Nhưng Chúa đã xử dụng hai ổ bánh mì và năm con cá đó để làm cho tất cả mọi người có mặt đều có đủ thức ăn. Trong kho truyện truyền kỳ của Việt Nam có một anh chàng tên là Thạch Sanh. Anh chàng có một nồi cơm rất nhỏ và không biết anh ta đã học được phương pháp nào đó và với cái nồi cơm nhỏ như vậy mà anh có thể xới cơm cho biết bao nhiêu binh lính ăn mà không hết, và đó cũng là khả năng biến thực, nghĩa là khả năng làm cho no đủ tất cả mọi người với một số lượng thực phẩm giới hạn.

Pháp Bụt thật phi thường
Bảy hạt đầy mười phương
Cúng dường khắp tất cả
Từ bi không biên cương.

Bài kệ này thường được dùng để chú nguyện trước khi xuất sinh trong các buổi cơm nghi lễ quá đường. Thần lực của Bụt rất phi thường, chỉ cần bảy hạt cơm thôi mà thực phẩm được biến thành vô số. Pháp giới rộng vô lượng nhưng bảy hạt cơm đó có thể là thức ăn cho tất cả chúng sanh, lý do là lòng thương không ngằn mé, không bờ bến. Chúng ta biết rằng hễ có tình thương thì cái gì cũng giải quyết được hết, mà không có tình thương thì cái gì cũng giới hạn hết. Khi ta có tình thương thì nhà chật ta cũng có thể nhận được hai ba chục người ngủ. Ngủ như cá hộp mà cũng vui lắm. Khi không có tình thương thì hai người ngủ cũng đã cho là chật và ta chê người này ngáy, người kia làm ồn. Cho nên tất cả đều tùy thuộc vào lòng từ bi. Hai ổ bánh mì, năm con cá cũng đủ cho cả làng ăn, nhưng nếu không có tình thương thì cả xe thức ăn cũng vẫn là ít như thường và người ta vẫn sợ hãi, tranh giành và xâu xé nhau. Vì vậy câu trả lời là ‘‘từ bi không biên cương’’, từ bi không ngằn mé thì cái gì cũng thực hiện được hết trong đó có thực phẩm.

Chân Ngôn Biến Thủy:
Nam mô tô rô bà gia, đá tha nga đá gia,
đát điệt tha, án, tô rô, tô rô, bạt ra tô rô,
bạt ra tô rô, ta bà ha.

Giới quỷ đói rất khát nên cần uống nước. Trong nghi thức cúng cháo thế nào cũng phải có nước, tốt nhất là nước lọc. Thường thường chúng ta hay cúng cháo là tại vì nếu lâu quá không được ăn thì những thức ăn cứng sẽ khó mà nuốt vào, vì vậy bắt đầu bằng cháo và nước trong thì rất hay. Cháo gạo nấu rất loãng là một phẩm vật cúng dường trong truyền thống. Nước này tuy chúng ta cúng có mấy chén thôi, nhưng nhờ câu chân ngôn biến thủy mà nước trở thành vô lượng cho tất cả các cô hồn. Uống nước này vào họ cảm thấy những khát khao và khổ sở của họ được tiêu tán. Trong khi tụng các chân ngôn biến thực và biến thủy chúng ta phải có định và phải làm cho lòng từ bi phát hiện. Phải thấy được những loài chúng sanh đói khát bao quanh đang chờ đợi lòng thương của chúng ta. Còn nếu trong khi tụng hai thần chú này mà không có định, mà suy nghĩ vẩn vơ, sầu não, giận hờn thì rất tội cho các loài chúng sanh. Có một chú điệu buổi chiều cúng cháo, nhưng không có định tâm vì hồi trưa chú đã làm mất chùm chìa khóa của thầy. Vì sợ thầy rầy nên trong khi tụng niệm đầu óc chú nghĩ toàn là chìa khóa. Tối hôm đó thầy trụ trì nằm mơ thấy các chúng sanh tới và than phiền rằng chiều hôm qua chỉ được cúng dường toàn chìa khóa bằng sắt thôi, không có gì cho họ ăn hết. ‘‘Chúng con thấy chìa khóa biến hiện ra rất nhiều, chỗ nào cũng có, đầy cả không gian, nhưng chúng con làm sao ăn chìa khóa được.’’ Chuyện này không biết có thật không nhưng là để nhắc các sư cô, sư chú khi cúng cháo tâm phải định chứ đừng nghĩ tới những chuyện ngoài chuyện cúng cháo với lòng từ bi, như chuyện chìa khóa chẳng hạn. Phải có lòng từ bi, và phải thực sự quán chiếu rằng đây là thức ăn, đây là nước. Chúng ta nhân danh đại chúng mà cúng dường cho các loài đang đói khát.

Chân Ngôn Nhất Tự Thủy Luân:
Án, noan noan noan noan noan

Trong khi ta đọc câu chân ngôn này thì nước dâng cúng trở thành ra nước có tám công đức (bát công đức thủy). Nước tám công đức là thứ nước có thể làm cho thỏa mãn mọi khát khao của con người. Nước tám công đức có thể rửa sạch được những phiền lụy và khổ đau của con người và cũng có thể làm cho thỏa mãn những ước vọng và khát khao của họ.

Chân Ngôn Biển Sữa:
Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án noan

Nước ta cúng dường đã trở thành ra sữa để cho những chúng sanh thiếu dinh dưỡng và đói khát lâu ngày có thể có được chất đạm. Nhũ hải là biển sữa. Tiếp ngay sau đó là ta đọc lên hồng danh của bảy vị Bụt. Bảy vị Bụt có liên hệ tới nghi thức cúng dường này.

Nam mô Đa Bảo Như Lai
Nam mô Bảo Thắng Như Lai
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam mô Quảng Bát Thân Như Lai
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai
Nam mô Cam Lồ Vương Như Lai
Nam mô A Di Đà Như Lai

Đa Bảo Như Lai ở về phía Đông, Bảo Thắng Như Lai ở phía Nam. Diệu Sắc Thân Như Lai cũng thuộc về phía Đông, Quảng Bát Thân cũng là Đại Nhật Như Lai. Ly Bố Úy Như Lai ở về phía Bắc, Cam Lộ Vương Như Lai về phía Tây, và A Di Đà Như Lai cũng về phía Tây. Đọc lên tên các vị Như Lai như vậy là để cho những chúng sanh có mặt được nghe danh hiệu các Ngài để họ có thể phát sinh ra lòng cảm mến quy thuận và ta tạo được nhiều công đức.

Thần chú gia trì thức ăn tịnh
Cúng khắp mười phương chúng Phật tử

Đây là lời tâm sự của người thí giả tức là người đang cúng cháo. Đoạn này để ta nói chuyện với chúng Phật tử tu hành không thành công đang ở trong vòng đau khổ. Phật tử tuy gặp Bụt, Pháp, Tăng nhưng không được hướng dẫn tu tập đàng hoàng, học hiểu Phật pháp không đúng phương pháp. Không phải khi ta trở thành Phật tử là ta được thừa hưởng giáo lý của đức Thế Tôn đâu. Nếu ta không gặp được minh sư, không gặp được tăng thân thì cái học Phật của ta không thành công. Chúng ta có thể học được một mớ khái niệm hay lý thuyết, và những cái đó chúng ta không đem áp dụng vào cuộc đời được. Khái niệm lý thuyết đó đôi khi hỗn tạp, không được thuần chất Phật giáo. Nó bị pha trộn với những yếu tố mê tín, và người dạy chúng ta có thể cũng không nắm được tinh yếu của Phật pháp và không thành công trong sự tu tập. Cho nên dầu trở thành Phật tử rồi mà ta có thể vẫn không thành công trong sự tu tập như thường. Không phải khi thành Phật tử là tự nhiên có sự chuyển hóa và an lạc. Chúng ta cần phải có dịp may mắn được gặp thầy giỏi, bạn lành, tăng thân vững thì mới có thể thành công. Giới Phật tử có thể vẫn đói khát như các giới khác. Thức ăn tôi đang cúng dường cho quý vị đây là những thức ăn rất thanh tịnh, thức ăn không tạo ra khổ đau trong cơ thể và tâm hồn quý vị. Thần chú là những câu chân ngôn. Thần chú đưa vào những thức ăn tịnh và biến thức ăn tịnh này từ ít thành nhiều. Có bao nhiêu Phật tử là có bấy nhiêu thức ăn.

Nguyện đều no đủ bỏ xan tham
Mau thoát u minh sinh tịnh độ

Người nào cũng sẽ có đủ thức ăn và thức uống không cần tranh nhau. Bỏ xan tham tức là bỏ sự ham hố, thói quen ăn uống không chừng mực. Đôi khi con mắt lớn hơn bao tử. Chúng ta tưởng rằng ta cần ăn nhiều, nên thường lấy một bình bát khá đầy. Khi lấy thức ăn, ta thường lấy bằng sự tham lam của mình hơn là lấy bằng trí tuệ. Trí tuệ của ta biết lấy chừng nào thì vừa, biết cơ thể ta cần chừng nào thực phẩm. Đức Thế Tôn có nói là nên ăn ít lại, đừng sợ thiếu chất dinh dưỡng. Ăn ít mà ăn cho đàng hoàng thì khỏe mạnh hơn. Ngài có một người bạn thân là vua Ba Tư Nặc, vị vua này ăn uống không biết chừng mực. Vua ăn cơm và cari nhiều quá, mỗi khi tới Kỳ Viên nghe pháp thoại thường hay ngủ gục. Bụt nói: đại vương nên ăn ít lại. Vua dạ và hứa, nhưng vua không ăn ít được. Vua càng ngày càng mập. Có một hôm đi trong tu viện Kỳ Viên tìm Bụt, vua gặp Bụt mà không biết tại vì đang buồn ngủ và đi đụng nhằm Bụt. Sau đó chính Bụt phải sắp đặt để có người phụ trách lo về chất lượng thực phẩm hàng ngày của vua, và nhờ đó vua mới phục hồi được sức khỏe và sự nhanh nhẹn. Ăn như thế nào để thấy rõ được tập khí tham lam, giận hờn và si mê của mình. Thấy được như vậy tức là thoát khỏi cõi u minh. U minh tức là tối tăm. Thoát để sinh về tịnh độ. Đó là ước mong sâu sắc nhất, tại vì ta đã sống trong địa ngục, trong chìm đắm, hệ lụy quá lâu, nên giờ đây ta muốn sinh về tịnh độ.

Quy y Tam Bảo phát bồ đề
Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng

Đây là những lời khai thị cho Phật tử, chúng sanh và cô hồn. Nếu muốn thoát u minh và sanh tịnh độ thì phải quy y Tam Bảo, phải nương nhờ các bậc giác ngộ, nương nhờ vào giáo pháp và tăng đoàn. Phát bồ đề tức là phải có nguyện vọng lớn, phải ước ao giải thoát và tự do. Ước ao giúp người, giúp đời và phát bồ đề tâm, điều đó làm phát sinh trong ta một nguồn năng lượng rất lớn, cái đó gọi là tư niệm thực. Thực phẩm chúng ta ăn gọi là đoàn thực, thực phẩm về ý chí nguyện vọng là tư niệm thực. Quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề thì không những trong khi ăn ta tiếp nhận thức ăn đoàn thực thanh tịnh mà còn tiếp nhận luôn một loại tư niệm thực rất là thanh tịnh, đó là bồ đề tâm. Có hai điều kiện căn bản là quy y Tam Bảo và phát bồ đề tâm thì chắc chắn sớm muộn gì mọi người cũng có thể chứng được đạo vô thượng, tức là chánh giác.

Công đức đi về cõi vị lai
Tất cả Phật tử cùng tiếp nhận

Tất cả những công đức của sự cúng dường, sự ăn uống trong chánh niệm, của sự quy y và phát bồ đề sẽ đi về cõi vị lai, sẽ không bao giờ mất đi như những cái chúng ta thường chắt bóp để dành cho tương lai. Tất cả Phật tử có mặt ngày hôm nay trong buổi cúng cháo được tiếp nhận thức ăn, tiếp nhận giáo pháp và sự hướng dẫn quy y Tam Bảo và phải phát tâm bồ đề. Sau khi hướng dẫn cho giới Phật tử ta lại hướng dẫn cho các loài khác không phải là Phật tử. Chữ Phật tử thì đổi thành chữ mọi loài. Trong khi tụng bài cúng cháo này thì hạt giống từ bi nơi sư chú được tưới tẩm và người cúng cháo nuôi lớn lòng từ bi của mình, tiếp xúc được với những loài đang khổ đau, đem lòng mình hướng tới những loài khổ đau và khai thị cho những loài đó biết trở về quy y Tam Bảo phát lòng bồ đề và nhờ đó tấm lòng mình cũng mở rộng ra. Lúc đó những hạt giống lành được gieo vào và được tưới tẩm trong tâm người thí giả. Vì vậy tụng kinh trong khi cúng cháo đem lại rất nhiều phước đức cho người hành giả. Điều này là một điều rất khoa học tại vì động lực đưa tới sự thực tập cúng cháo này là lòng từ bi và trong suốt thời gian ta tụng bài cúng cháo hạt giống từ bi trong ta được tưới tẩm. Có từ bi là có tất cả, không có từ bi thì sẽ không có gì hết.

Thần chú gia trì thức an tịnh
Cúng khắp mười phương cả mọi loài
Nguyện đều no đủ bỏ xan tham
Mau thoát u minh sinh tịnh độ
Quy y Tam Bảo phát bồ đề
Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng
Công đức đi về cõi vị lai
Tất cả mọi loài cùng tiếp nhận.

Thần chú gia trì thức an tịnh
Cúng khắp mười phương chúng cô hồn
Nguyện đều no đủ bỏ xan tham
Mau thoát u minh sinh tịnh độ
Quy y Tam Bảo phát bồ đề
Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng
Công đức đi về cõi vị lai
Tất cả cô hồn cùng tiếp nhận.

Tuy là giới thứ ba được thỉnh mời và hướng dẫn ở đây là giới cô hồn nhưng đó không phải là giới ít nhất mà giới đông nhất. Trong khi tụng bài kệ ta được đối thoại với các loài, vì vậy nên ta hãy tụng thong thả, cảm nhận rõ ràng rằng ta đang nói chuyện với họ, đang khai thị cho họ. Trái tim của ta mở ra. Đây là những lời nhắn nhủ, khai thị và đối thoại với cô hồn với tất cả lòng từ bi. Những người ngồi nghe những lời kinh này sẽ cảm động lắm. Họ thấy họ đang được khuyên nhủ nhẹ nhàng để có cơ hội quay về nương tựa Tam Bảo, phát tâm bồ đề và nguyện sanh về cõi tịnh độ.

Này các vị Phật tử
Tôi nay xin dâng cúng
Thức ăn biến mười phương
Phật tử đều tiếp nhận
Nguyện đem công đức này
Hồi hướng về tất cả
Phật tử và chúng tôi
Đều cùng thành Phật đạo.

Những lời nói này là những lời nói rất thành thật. Đây là những lời nói rất đơn sơ, đầy thân tình đối với các giới Phật tử và bài này cũng được lập lại cho mọi loài và cho giới cô hồn.

Chân Ngôn Thí Vô Già Thực:
Án mục lực lăng ta bà ha

Vô già tức là không ngăn cấm một ai, không bít lấp đường của bất cứ một ai. Vô già ở đây nghĩa là bình đẳng.

Chân Ngôn Phổ Cúng Dường:
Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng

Đây cũng biểu lộ sự bình đẳng trong khi thực hành bố thí. Hiến tặng thì phải có tâm bình đẳng, đừng phân biệt đừng nghĩ rằng ta chỉ ưa bố thí cho người ta thích và không bố thí cho người ta không thích, để cho những người kia chết đói cho bõ ghét. Cái đó không phải là bình đẳng. Nghi thức được kết thúc bằng một bài kệ:

Phụng hiến cam lồ vị
Phân lượng như thái hư
Xin mọi loài đạt nguyện
Về nương bóng Đại Từ.

Cam lồ vị là thức ăn nuôi dưỡng cơ thể nhưng mà quan trọng nhất là thức ăn nuôi dưỡng được tinh thần, làm cho những đau khổ tiêu tán, làm cho êm dịu mát mẻ thân tâm. Phân lượng của vị cam lồ này rất lớn, nhiều như thái hư và nhờ công đức cúng dường này mà mọi loài đạt được nguyện vọng của mình. Tất cả đều trở về nương nhờ vào đức Thế Tôn nên gọi là về nương bóng Đại Từ.

Đây là nghi thức cúng cháo tại chùa, nhưng ở tư gia các Phật tử cư sĩ cũng có quyền thực tập, với điều kiện là phải luyện tập trước để khi cúng cháo mình có đủ năng lượng của định và của tuệ. Nghi thức này đã được in trong sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000 và trong sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn.

Người ngày xưa

 

Trong tiếng Việt, chữ cố nhân có nghĩa là người yêu cũ của mình. Cố nhân có thể được dịch là người cũ hay là người ngày xưa. Người ngày xưa khác với người đời xưa. Người đời xưa là những người sống cách đây hàng trăm, hàng triệu năm. Người yêu cũ thì ta gọi là người xưa hay là người ngày xưa. Thúy Kiều, sau mười lăm năm lưu lạc, được sư chị Giác Duyên cho gặp lại gia đình, có ba, mẹ, hai em và có một người gọi là người ngày xưa, đó là Kim Trọng.

Xem ra đủ mặt một nhà
Xuân già còn khỏe, huyên già còn tươi
Hai em phương trưởng hòa hai
Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa.

Chữ người ngày xưa đã được dịch từ chữ cố nhân. Ta cũng có thể gọi tắt là người xưa.

Trong chúng ta ai cũng có một hoặc là nhiều người xưa. Mấy ngày hôm nay Thầy hay suy nghĩ tới chị của Thầy. Chị của Thầy bây giờ đang đau nặng, có thể qua đời bất cứ lúc nào. Chị đã 80 tuổi, chị cũng là người ngày xưa của Thầy vì chị em đã cùng sống trong gia đình mười mấy năm với nhau. Sau đó Thầy đi xuất gia còn chị đi lấy chồng. Hình ảnh về chị của Thầy là một hình ảnh rất tươi mát, trẻ trung và đẹp. Khi đi xuất gia rồi, mình đâu có cơ hội để sống chung hàng ngày với những người thân của mình nữa. Vì vậy cho nên những hình ảnh từ hồi nhỏ cho đến khi xuất gia còn rất rõ ràng và linh động. Mỗi khi nằm mơ thấy chị là chỉ thấy hình ảnh của người xưa thôi. Còn hình ảnh của người bây giờ, lớn lên có chồng, có con, rồi già đi, mặc dù thỉnh thoảng mình có thấy trực tiếp hay gián tiếp nhưng cũng không linh động và rõ ràng bằng hình ảnh của người xưa.

Tất cả những người nào đã đi vào trong cuộc đời ta và hiện giờ ta không được sống chung đều có thể gọi là người xưa, trong đó có ba, mẹ, anh, chị hay bạn của mình. Những người mà ngày xưa mình đã từng được sống chung, đã từng chia sẻ những giây phút hạnh phúc, những người đó đều có thể được gọi là người ngày xưa. Không hẳn phải là người mà mình luyến ái, người thuộc về giới khác phái. Thầy cố nhớ ở trong ký ức và vẫn không nhớ là Thầy đã từng giận chị Thầy bao giờ. Hai chị em chưa bao giờ giận nhau. Thầy thường coi chị như là một bà mẹ, một bà mẹ rất trẻ. Hễ không có mẹ là chị thay thế. Cho nên vào lúc có đau đớn trong cơ thể, Thầy vẫn hay gọi mẹ hay gọi chị. Thầy thường gởi sách và băng cassette về cho chị nghe, và Thầy có nói: Chị ơi, mỗi khi chị đau nhức quá thì chị có thể gọi tên em và thở thì chị sẽ bớt đau nhức.

 

Ánh trăng khuya

Trong những giấc mơ Thầy cũng thường gặp Sư Ông. Đó là thầy của Thầy, nghĩa là Sư Ông của quý vị. Thầy xa chùa từ năm 1966 và không được về chùa Tổ từ năm đó; nghĩa là cách đây 34 năm. Sư Ông tịch năm 1968, tức là 2 năm sau khi Thầy rời quê hương, đất nước. Mỗi khi nằm mơ về tới núi xưa (chùa nằm ở trên núi Dương Xuân), leo lên chùa, Thầy luôn luôn thấy Sư Ông ra chào đón. Hình ảnh của Sư Ông luôn luôn là hình ảnh đáng tôn kính. Mỗi lần mơ về tới chùa và được thấy Sư Ông trong giấc mơ, thức dậy Thầy có cảm tưởng là Sư Ông chưa bao giờ từng chết, Sư Ông chưa bao giờ đi và hình ảnh của Sư Ông cũng như hình ảnh của Mẹ vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Thầy.

Trong những năm đầu mất Mẹ, cảm tưởng mình không còn Mẹ rất rõ ràng. Năm, sáu năm sau, có một hôm Thầy thức dậy trong một tịnh thất, chung quanh trồng toàn cây trà. Tịnh thất ấy nằm trong khuôn viên chùa Bảo Lộc, trên Cao Nguyên. Thầy thức dậy lúc 3 giờ sáng và đi ra ngoài đồi để đi tiểu, vì trong thất không có phòng nhà vệ sinh. Thầy đi ra giữa những hàng chè. Trăng lúc 3 giờ khuya hiền dịu như sữa mẹ, tình mẹ. Lúc đó Thầy thấy rất rõ là Mẹ Thầy chưa bao giờ từng mất. Trước khi thức dậy, Thầy đã nằm mơ thấy Mẹ. Mẹ còn trẻ, tóc rất xanh, buông dài. Hai mẹ con ngồi nói chuyện với nhau rất đầm ấm và hạnh phúc. Lúc bước ra vườn chè, một nhận thức rất sâu sắc được nẩy ra trong Thầy: Mẹ chưa bao giờ chết. Và hình ảnh là hình ảnh của bản môn. Hình ảnh mà mình đã thấy ở trong giấc mơ là hình ảnh bản môn. Từ đó sự đau xót về mất mẹ không còn nữa. Mẹ cũng là người xưa, Mẹ cũng là cố nhân. Là cố nhân mà Mẹ không bao giờ mất.

 

 

Xôi đủ màu

Trong suốt 33 năm luân lạc tại quê người, thỉnh thoảng Thầy cũng nằm mơ thấy trở về Phật Học Viện. Phật Học Viện này không phải là nơi Thầy tu học, lớn lên, mà là nơi Thầy dạy. Đó là chùa Ấn Quang, được thành lập năm 1950. Thầy và thầy Trí Hữu là hai người đầu tiên sáng lập ra chùa Ấn Quang. Chùa làm bằng mái tranh, vách đất, hồi đó gọi là chùa Ứng Quang. Thầy bắt đầu dạy một lớp sa di, gồm có mười mấy chú, trong đó có chú Từ Mẫn, sau này làm giám đốc nhà xuất bản Lá Bối. Sau đó chùa Ứng Quang trở thành Phật Học Đường Nam Việt, có rất nhiều thầy và sinh viên tới học. Thầy giảng dạy tại Phật Học Viện này từ năm 1953 đến năm 1962.

Thầy đã dạy rất nhiều thế hệ Tăng sinh. Phần lớn tăng sinh mà Thầy dạy là các sư chú, vì họ là nội trú. Số lượng các sư chú, sư cô ngoại trú tới học rất ít, chừng hai chục người. Sư bà Tịnh Nguyện mà quý vị được gặp năm ngoái, ở đây, cũng là một trong những ni sinh ngoại trú trong những lớp Thầy dạy. Bây giờ có nhiều chú đã trở thành Thượng Tọa, Hòa Thượng. Ví dụ như Hòa Thượng Minh Thành, Viện Chủ chùa Ấn Quang, ngày xưa Ngài cũng là Tăng sinh của Thầy. Tăng sinh mà lại là tăng sinh rất trẻ vì hồi đó Thầy có nhiều học trò lớn tuổi hơn thầy Minh Thành.

Thỉnh thoảng Thầy nằm mơ về Phật Học Viện và thấy Thầy đang ngồi chung với các sư chú ở trong liêu phòng của họ. Mỗi khi gặp họ, Thầy đều rất vui mừng. Thầy hỏi: ‘‘Sao? Những ngày gần đây quý vị có được vui vẻ và mạnh giỏi không? Quý vị làm gì, kể cho tôi nghe với!’’ Có một điều lạ là thỉnh thoảng Thầy đã có gặp những vị ấy ở Hoa Kỳ; họ đang giữ những chức vụ rất lớn như hòa thượng, thượng tọa, trụ trì. Nhưng mỗi khi đi vào trong giấc mơ mà gặp họ thì luôn luôn Thầy chỉ gặp những hình ảnh của cố nhân, những hình ảnh xưa cũ mà thôi. Tại sao? Tại vì trong những ngày giờ ấy Thầy có nhiều hạnh phúc. Thầy trò có hạnh phúc với nhau, có được nhiều thì giờ ở chung với nhau. Bây giờ họ đã lớn, làm chức lớn nhưng Thầy không được sống chung với họ, vì vậy cho nên họ cứ trở thành cố nhân.

Trong những giấc mơ, gặp các thầy, các sư chú trẻ nói chuyện, Thầy vẫn cảm thấy sự thân thiết, và tình thầy trò đem lại rất nhiều hạnh phúc cho Thầy. Thầy là vị giáo thọ trẻ nhất trong Phật Học Viện, Thầy tự cho mình là người thương yêu và chăm sóc cho các tăng sinh nhiều nhất. Thầy đã tổ chức cho các sư chú đi picnic ở bãi biển, tổ chức ban y tế chăm sóc cho các sư chú, và rất gần gũi các sư chú. Trong khi các vị giáo thọ khác người nào cũng có thị giả, còn Thầy thì không cần thị giả. Không có thị giả nhưng trong phòng Thầy luôn luôn có từ 5 tới 7 sư chú một lần. Thầy gần gũi các sư chú và các sư chú rất thương mến Thầy. Tuy là thầy trò nhưng Thầy không lớn hơn họ bao nhiêu nên thầy trò cứ xem nhau như anh em. Xưng hô với nhau là thầy – con nhưng kỳ thực trong sự sống hàng ngày liên hệ giống như tình anh em.

Câu trả lời là nếu trong một thời gian nào đó, sống với những người kia và có hạnh phúc với nhau thì những giây phút hạnh phúc này sẽ trở thành vĩnh cửu, thiên thu. Tình trong giây phút mà thành thiên thu. Cái vĩnh cửu, cái thiên thu nằm trong giây lát. Thầy còn nhớ một hôm Thầy tới giảng và ngủ lại trong một ngôi chùa ở nhà quê tại Mỹ Tho, trong một cái thất nhỏ như thất Ngồi Yên của xóm Thượng bây giờ. Buổi sáng hôm đó, các thầy trong chùa, trong đó có thầy trụ trì ra chơi với Thầy để uống trà. Phía trước thất cũng có một chiếc sàn gỗ giống hệt như chiếc sàn gỗ ở cốc Ngồi Yên.

Trong lúc các thầy đang ngồi nói chuyện và uống trà thì có một chị bán xôi đi ngang qua. Thay vì mời mọi người vào chùa ăn sáng với các chú thì thầy trụ trì đề nghị: Chúng ta hãy ngồi lại đây, gọi chị bán xôi tới mua xôi để cùng ăn sáng. Gánh xôi rất đặc biệt, có đủ màu sắc; xôi gấc màu đỏ, xôi bắp màu trắng. Xôi bắp có những hạt bắp trắng tinh. Xôi đậu xanh, xôi đậu phụng, xôi nếp than. Rất nhiều màu. Lại có bánh phồng mì, dừa nạo, nhân đậu xanh. Các thầy ngồi ăn sáng bằng xôi đủ màu, không có đĩa, muỗng, đũa, mỗi người chỉ có một tờ lá chuối lớn và xôi ba màu, bốn màu, hoặc năm màu. Cho đến bây giờ, Thầy vẫn nghĩ rằng đó là bữa ăn sáng ngon nhất trong đời của Thầy.

Lâu lâu Thầy cũng kể lại chuyện này với các sư chú và các sư cô tại Làng Mai. Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ tổ chức một bữa ăn sáng như vậy. Đã có một số các sư chú và sư cô từng tổ chức một bữa ăn sáng như vậy. Giây phút mà các thầy ngồi với nhau trong tình huynh đệ và ăn sáng với nhau đã trở thành vĩnh cửu, thiên thu. Chính hạnh phúc đó làm cho mình nhớ lại bữa ăn và chi tiết của bữa ăn chứ không phải vì mình ham ăn nên mình nhớ những món ấy. Có những lúc các sư chú mời Thầy ngồi ăn bánh tráng. Chỉ có bánh tráng thôi. Bánh tráng nướng nhúng vào nước cho mềm, rồi lấy ba hoặc bốn cọng rau muống vừa mới hái ở dưới hồ lên, cuốn lại, chấm vào nước tương có ớt, ăn sao mà ngon quá. Cái ngon đó không hẳn là do rau muống hay bánh tráng mà do tình anh em tạo ra. Vì vậy không hẳn là phải có xôi đủ màu ăn mới ngon, mà chỉ có rau muống cuốn bánh tráng ăn cũng vẫn ngon như thường. Đó là những giây phút hạnh phúc. Những giây phút đó mà biết sống cho sâu sắc thì chúng sẽ được ghi lại trong tâm thức và trở thành bản môn sau này. Chúng ta sẽ có thể thấy lại chúng nhiều lần. Giống như cuốn phim sư em Pháp Dung đã thâu ở Trung Quốc, muốn mở ra coi lại lúc nào cũng được.

Đẹp cảnh đẹp người

 

 

Thầy thấy xóm Thượng bây giờ đẹp quá. Càng ngày càng đẹp. Cây cối lên rất xanh tươi. Mỗi khi đi xuống dốc để ra cốc Ngồi Yên là Thầy thấy đẹp. Chưa bao giờ mà không thấy đẹp. Không phải vì mỗi ngày đều nhìn thấy khung cảnh đó mà mình thấy nó ít đẹp hơn. Vẫn đẹp như thường, càng ngày càng đẹp. Càng ngày càng đẹp vì tâm mình đang để tại đó. Tâm mình để tại đó, không rong ruổi, không có ý muốn bỏ chạy nên mình có khả năng thấy được tất cả cái đẹp của nó. Thầy nói với sư anh Pháp Dụng và sư anh Pháp Ứng: ‘‘Xóm Thượng sao mà đẹp quá!’’. Khi Thầy nói như vậy chắc chắn là sư anh Pháp Dụng và sư anh Pháp Ứng cũng thấy xóm của mình đẹp. Đẹp thì đúng là đẹp rồi nhưng đôi khi mình quên, phải có người nhắc cho mình nhớ rằng mình đang ở trong một chỗ rất đẹp. Rồi Thầy nói: Ở xóm Hạ, chùa Cam Lộ cũng đẹp lắm. Ai cũng gật đầu. Xóm Hạ cũng đẹp và xóm Mới cũng vậy. Xóm Mới bây giờ có đồi Dương Xuân, ai lên đồi Dương Xuân cũng thấy quá đẹp; sư cô Chân Không còn nói là người xóm Mới cũng rất đẹp. Các sư cô và thiền sinh ở đó người nào cũng có nụ cười thật tươi và hạnh phúc. Thầy thấy đúng quá. Thầy quay qua nói với sư anh Pháp Dụng và sư anh Pháp Ứng: ‘‘Xóm Thượng đẹp không phải chỉ vì cảnh mà còn vì người’’. Khi chúng ta tu học mà có thảnh thơi và hạnh phúc thì chúng ta đẹp ra.

Thầy nhớ lại lúc ở Trung Quốc, khi đi vào những chùa rất lớn như là chùa Bách Lâm hay chùa Cao Mân với những Thiên Vương Điện, Quan Âm Điện, Đại Hùng Bảo Điện, những dãy cư xá vĩ đại thì Thầy hơi có mặc cảm. Mai mốt các hòa thượng ở bên đó qua bên này thì làm sao mà mình không mắc cỡ, vì ba, bốn chùa của mình không có chùa nào có được một tòa nhà xứng đáng; không có Thiên Vương Điện, không có Đại Hùng Bảo Điện, không có Quan Âm Điện. Không có cung vàng điện ngọc nguy nga như bên ấy. Nhưng sau đó sư cô Định Nghiêm nhắc Thầy: ‘‘Bạch Thầy, các xóm của mình đẹp lắm.’’ Và khi Thầy nhìn lại thì Thầy thấy quả nhiên là đẹp thật. Từ đó Thầy không còn có mặc cảm nữa. Trước khi các hòa thượng sang có lẽ mình nên gửi một tờ fax qua, nói ‘‘Bạch chư hòa thượng, bên này không có cung vàng và điện ngọc, nhưng bên này rất đẹp, vì có rất nhiều cây.’’ Bên đó tuy có nhiều cung vàng và điện ngọc nhưng chung quanh có một bức trường thành bao bọc, và ngoài trường thành là phố xá, làng xóm. Còn bên chúng ta thì không có bức trường thành nào bao bọc cả và chúng ta rõ ràng đang sống trong một khu rừng. Xóm Thượng là một khu rừng, xóm Hạ cũng là một khu rừng, mình có thể gọi đó là Tùng Lâm. Tùng Lâm là tên cũ của tu viện, A Lan Nhã cũng gọi là Tùng Lâm.

Ẩn đây hiện kia

Sở dĩ Thầy nghĩ đến chị Thầy mà không đau đớn và không xót xa là vì Thầy đã có chị ở trong bản môn. Sở dĩ Thầy nghĩ đến mẹ Thầy hay là thầy của Thầy, Sư Ông mà không xót xa vì trong Thầy đã có thầy của bản môn, đã có mẹ của bản môn. Thầy chưa bao giờ xa cách những người như vậy hết. Đức Thế Tôn dạy là các pháp ẩn chỗ này thì lại hiện ra chỗ kia, và thực tại vượt thoát cái có và cái không; cái tới và cái đi. Chỉ có cái ẩn tàng và cái biểu hiện mà thôi. Nếu ta sống có chánh niệm thì ta sẽ thấy tuy cái đó giống như đã ẩn tàng nhưng kỳ thực nó đã bắt đầu biểu hiện. Cái nên thơ nhất của Phật giáo Tây Tạng là chuyện đi tìm hậu thân của các vị đại sư. Người ta tin rằng khi một vị đại sư viên tịch thì vị đại sư đó sẽ đầu thai lại để tiếp tục sự nghiệp của mình. Và mấy năm sau người ta đi kiếm cho được đứa bé có khả năng nhận diện ra được những vật dụng mà vị đại sư kia đã từng dùng trong đời sống hàng ngày của ngài. Vị đại sư đó tịch đi nghĩa là vị đại sư đó ẩn nhưng sau khi ta tìm ra được em bé để tiếp nối rồi thì vị đại sư đó lại hiện. “Xuất thử một bỉ”, đó là bốn chữ ở trong Quy Sơn Cảnh Sách.

Xuất thử một bỉ là xuất hiện ở bên này thì lặn mất ở bên kia. Trong khi quán chiếu Thầy thấy sự ẩn hiện linh động vô cùng; không hẳn là ta phải ẩn thì ta mới xuất hiện lại được. Ví dụ trong trường hợp của Thầy. Quý vị có thể suy nghĩ theo lề lối tín ngưỡng của Tây Tạng là sau khi Thầy mất đi rồi, vài năm sau quý vị đi tìm thì sẽ thấy một chú bé chạy lon ton, nét mặt hơi giống Sư Ông ngày xưa, tới hỏi và đồng nhất hóa chú bé đó với Sư Ông. Quý vị đem chú bé đó về nuôi làm sư ông thứ hai. Điều đó cũng vui, nhưng Thầy thấy khác. Thầy thấy rằng đừng đợi khi Thầy ẩn rồi mới đi tìm chú bé đó, vì chú bé đó ngay bây giờ đã xuất hiện rồi, và đã xuất hiện không phải dưới hình thức của một chú bé mà của nhiều chú bé và nhiều cô bé. Điều này rất khoa học, vì Thầy đã đầu thai, Thầy đã được tiếp nối.

Nếu quý vị đi tìm thì quý vị có thể thấy được ngay bây giờ; khá nhiều, không cần đợi cho báo thân này hoàn toàn ẩn đi thì mới thấy được những báo thân kia xuất hiện. Không, quý vị có thể bắt đầu từ bây giờ và quý vị sẽ thấy những chú bé hay những cô bé đang chạy lúp xúp, và quý vị sẽ thấy rằng Thầy đã được tiếp nối, Thầy đã xuất hiện. Nhìn về phía này cũng thấy Thầy, mà nhìn về phía kia cũng thấy Thầy, nhìn về phía nọ cũng thấy Thầy. Đó là một sự thật rất khoa học.

Kho tàng hạnh phúc

Có thể có những người ngày xưa đã từng sống với ta, chia sẻ ngọt bùi với ta, đã cùng đi picnic với ta, đã cùng tập hát, tập tụng kinh với ta nhưng bây giờ vì duyên cớ gì đó, không còn ở với ta nữa. Và khi chúng ta nghĩ tới người đó đang luân lạc ở một phương trời nào thì ta gọi họ là người cũ, là cố nhân. Nếu chúng ta đã từng có hạnh phúc với người đó thì người đó bây giờ đã trở thành một hình bóng của bản môn trong tâm ta, và trong giấc mơ hoặc trong thiền quán ta sẽ thấy lại họ. Và người đó nếu đã từng sống những giây phút hạnh phúc với chúng ta; đã từng ăn xôi nhiều màu hoặc đã từng ăn bánh tráng cuốn rau muống và cười nói với chúng ta trong một buổi chiều nào đó, thì người đó cũng vậy, người đó cũng có những hình ảnh bản môn trong tâm; một đêm nào nằm mơ thấy lại hình ảnh cũ, người đó sẽ thấy là đã không mất mát gì.

 

 

Chúng ta cũng vậy, chúng ta không mất mát gì cả, vì người cũ không phải là người đã mất; dù người đó là mẹ, là chị, là thầy, là sư em, là sư anh, là sư chị của chúng ta. Giây phút mà chúng ta cuốn những cọng rau muống vào trong bánh tráng rồi chấm vào nước tương ớt ăn với nhau, giây phút đó là giây phút ta có thể tạo tác ra được bất cứ lúc nào trong đời sống hàng ngày. Giây phút mà chúng ta ngồi với nhau trước sàn để cùng ăn một buổi ăn sáng gồm có xôi đủ màu, ta cũng có thể tạo tác ra bất cứ lúc nào trong đời sống hàng ngày của ta. Và tất cả những giây phút đó đều trở thành bất diệt. Một gốc cây, một đóa hoa mới nở hoặc ở xóm Thượng, xóm Hạ hay xóm Mới đều mầu nhiệm; đều là chị, là mẹ, là thầy, là anh và là em của chúng ta. Ta phải nhận diện chúng cho được để chúng đừng bao giờ trở thành cố nhân, vì chúng sẽ trở thành bất diệt.

Ngày hôm nay chúng ta có phước duyên được sống với nhau trong một khung cảnh rất mầu nhiệm và đẹp đẽ. Thầy rất biết ơn là ngày hôm nay Thầy được sống trong khung cảnh này với các con của Thầy. Thầy rất hạnh phúc và rất trân quý từng giây phút của đời sống bây giờ. Thầy không rong ruổi, không trốn chạy, không đi tìm hạnh phúc trong tương lai. Thầy an trú được, và vì vậy mỗi giây phút mà Thầy sống ở đây với quý vị là mỗi giây phút tương đương với những giây phút mà Thầy ngồi với các sư chú ngày xưa ở chùa Ấn Quang và với các thầy khác ở tịnh thất Mỹ Tho, buổi ăn sáng gồm có xôi đủ màu. Tất cả những giây phút đều có giá trị tương đương như vậy. Tất cả chúng ta đều có khả năng biến khoảnh khắc thành thiên thâu và như vậy chúng ta sẽ rất giàu có. Đi đâu với kho tàng giàu có đó của hạnh phúc và của tình thương thì chúng ta cũng sẽ đủ sức mạnh để đối phó với bất cứ một khó khăn nào mà chúng ta phải đối phó.

Chúng ta hãy sống trong giây phút hiện tại, đừng trốn chạy, đừng tìm tòi. Trở về với giây phút hiện tại là để tiếp xúc sâu sắc được với những gì mầu nhiệm, những gì đẹp đẽ và an lành. Sống với tình thương, tha thứ cho nhau, đùm bọc lấy nhau, nâng đỡ cho nhau, chúng ta tạo ra hạnh phúc rất lớn cho chính chúng ta. Hạnh phúc đó bao giờ cũng còn. Hạnh phúc đó không phải là một thứ hạnh phúc mong manh, trái lại nó càng ngày càng vững chãi. Với chính hạnh phúc ấy chúng ta có thể đi làm hạnh phúc cho người. Nếu chúng ta không có một kho tàng của hạnh phúc trong tâm thì chúng ta sẽ không có gì để phân phát, để chia sẻ với những người khác. Sự thực tập của chúng ta là sự thực tập hạnh phúc, vì trong mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của chúng ta tại đây chúng ta đều có thể có hạnh phúc. Giáo lý của Đức Thế Tôn – hiện pháp lạc trú – rất mầu nhiệm. Những điều kiện của hạnh phúc đã có đầy đủ. Có thể hôm nay ta coi thường nhưng một mai này nhìn lại, chúng ta sẽ thấy những giây phút đó là những giây phút mầu nhiệm nhất của đời ta. Những giây phút đó không thuộc về quá khứ, chúng đang thuộc về hiện tại và chúng ta đang có chủ quyền. Sống như thế nào để những giây phút bây giờ đừng trở thành quá khứ; mà mãi mãi còn là hiện tại. Đó là sự thực tập của chúng ta.

Che chở và bảo hộ

Chúng ta tu tập nhưng kỳ thực chúng ta đang làm giàu. Làm giàu không phải với cái nghĩa của thế gian là chất chứa tiền của mà với cái nghĩa là chúng ta đang chất chứa hạnh phúc. Không cần gì nhiều, ta chỉ cần một vài cái bánh tráng và mấy cọng rau muống là có thể làm ra được rất nhiều hạnh phúc. Ta chỉ cần 15 phút hay 20 phút ngồi chơi với nhau, thấy được rằng chúng ta đang được sống bên nhau với khung cảnh mầu nhiệm này ta có thể làm được hạnh phúc. Mỗi giây phút hạnh phúc như vậy sẽ làm giàu cho kho tàng hạnh phúc của chúng ta. Ngày nào chúng ta cũng làm giàu cho kho tàng hạnh phúc ấy.

Chúng ta biết rằng chính với kho tàng hạnh phúc đó mà ta trở thành một vị bồ tát, có thể đem an lạc, hạnh phúc mà chia sẻ với mọi người và mọi loài. Đơn giản như vậy thôi. Tất cả có thể quy tụ về hai chữ: an trú. An trú tức là ở yên. Hạnh phúc có thể có mặt trong giây phút hiện tại.

 

 

Ta sống ở đây, chị của ta đang đau, mẹ của ta đang đau, ta biết rõ như vậy nhưng mẹ ta và chị ta, ta chưa bao giờ từng xa cách. Ta đã có những giờ phút hạnh phúc với mẹ, đã có những giờ phút hạnh phúc với chị, với thầy, với bạn, với anh. Ta tiếp tục sống như vậy. Tiếp tục dùng trái tim, dùng sự hiểu biết và hạnh phúc của ta để ôm lấy những người đó thì ta không cần phải xót xa, ta không cần phải hối hận vì ta chưa bao giờ từng bỏ những người đó, chưa bao giờ từng phụ những người đó. Dầu ta không được sống chung hai mươi bốn giờ đồng hồ với họ nhưng họ đã trở thành hình ảnh bản môn trong trái tim của ta. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười của ta là để nuôi dưỡng ta nhưng đồng thời cũng là để nuôi dưỡng họ. Vì vậy Sư Ông được ta tiếp tục nuôi dưỡng, mẹ được ta tiếp tục nuôi dưỡng, chị được ta tiếp tục nuôi dưỡng và cả những sư chú và sư cô đã không còn cơ duyên ở đây nữa, chúng ta cũng tiếp tục nuôi dưỡng họ; chúng ta không mất đi một cái gì hết. Đây là một sự nhắc nhở.

Thầy nghĩ rằng ngày xưa Đức Thế Tôn cũng thường nhắc nhở các thầy, các sư cô: ‘‘Hạnh phúc luôn luôn có thể có được trong giờ phút hiện tại”. Đừng đánh mất nó bằng vọng tâm, bằng sự bất an của mình, ‘‘Hãy trở về an trú và sống cho sâu sắc đời sống ngày hôm nay’. Chúng ta tạo dựng hạnh phúc, chúng ta làm giàu được nội tâm và nối tiếp được sự nghiệp của Đức Như Lai, và ta không cần ẩn tàng mà vẫn có thể tiếp tục phát hiện, vì trong liên hệ duyên sinh thì hạnh phúc của chúng ta có liên hệ đến hạnh phúc của những người khác. Trong nếp sống như vậy, trong tinh thần như vậy, chúng ta che chở cho nhau, chúng ta đùm bọc lấy nhau; cũng như ngày xưa mẹ đã che chở cho ta, chị đã đùm bọc lấy ta.

Bây giờ ta cũng đùm bọc, che chở cho anh, cho chị, cho em ta. Chúng ta có thể làm hay hơn nữa là che chở cho nhau bằng uy nghi, bằng giới luật. Vì không có sự che chở và bảo hộ nào vững chãi và cao quý hơn là sự che chở và bảo hộ bằng giới luật và bằng uy nghi. Ta thương sư em và ta che chở cho sư em bằng giới luật và uy nghi – đó chính là tình thương cao cả nhất. Ta thương sư anh của ta thì ta cứ thương nhưng ta phải thương bằng cách bảo vệ và che chở sư anh của ta bằng giới luật và bằng uy nghi của chính ta. Được như vậy, đời đời ta sẽ có sư anh, đời đời ta sẽ có sư em và không bao giờ họ trở thành cố nhân của ta; mà họ sẽ trở thành người bạn đường của ta trong kiếp này và trong những kiếp sau này.

 

 

 

Xin nguyện làm dòng sông

Năm 1962, đang dạy học ở trường Columbia, New York, tôi có đi thăm một cặp vợ chồng trẻ ở New Brunswick, tiểu bang New Jersey và tôi đã ở lại nhà của họ hai ngày. Họ là học trò của tôi, người vợ tên là Đào Giao Tiên, con gái của học giả Đào Đăng Vỹ, người làm từ điển, và người chồng tên là Ung Trần Quang Mân trước đó thuộc tăng thân Phan Thiết. Mân làm nghề nghiên cứu chế tạo máy điện tính. Thời đó chưa có máy vi tính cá nhân trên thị trường. Công việc của Giao Tiên là ở nhà chăm sóc nhà cửa và đứa con nhỏ. Chỉ có một cái nhà và một em bé nhỏ xíu vậy mà Giao Tiên dường như bận rộn suốt ngày. Giao Tiên không phải lo tổ chức khóa tu, không phải lo nấu ăn cho hàng trăm người hay làm việc văn phòng, hoặc đi đón thiền sinh từ nhà ga, lại không phải đi ngồi thiền buổi sáng và tối như các thầy, các sư cô ở đây, vậy mà cô ta vẫn cứ bận rộn suốt ngày. Giao Tiên bận rộn không phải là vì bị người khác bắt phải làm việc nhiều, mà tại vì thấy rằng đây là cái nhà của mình, đây là đứa con nhỏ của mình và vì muốn cho nhà cửa được gọn gàng sạch sẽ, và em bé có hạnh phúc nên Giao Tiên cứ phải lăng xăng, bận rộn hoài. Giao Tiên cũng muốn làm hết mọi việc đâu vào đó để khi về Mân được nghỉ ngơi sau một ngày dài làm việc ở sở. Nhưng mỗi khi đi làm về thấy việc nhiều quá Mân cũng xót xa. Hôm đó đi vào phòng bếp và thấy một đống chén bát chưa rửa, chàng liền xắn tay áo lên để rửa. Trong khi đó Giao Tiên đang ngồi tiếp chuyện với tôi ở phòng khách. Nghe tiếng động của đĩa bát ở dưới bếp, Giao Tiên hỏi: “Anh đang làm gì đó?”, Mân ngượng nghịu đáp: “Anh đang rửa vài cái chén”. Có ý muốn giúp vợ bớt cực nhọc nên Mân đã lén rửa chén, vì chàng biết rằng đó không phải là bổn phận của mình. Nếu Giao Tiên biết, chắc chắn cô ta sẽ không cho Mân rửa. Giao Tiên nói: “Đó là chuyện của em. Anh đi nghỉ chút cho khỏe để lát nữa ăn cơm.” Có ai bắt rửa chén đâu, vậy mà chàng cũng tự mình muốn làm. Mân thấy việc rửa chén không phải là việc mình làm cho người khác mà là cho chính mình. Kỳ thực Mân rất hạnh phúc mỗi khi được làm những công việc như vậy và hạnh phúc hơn nữa là được chia sẻ trách nhiệm với Giao Tiên.

Nhìn vào họ, ta thấy rằng họ không còn là ba người riêng biệt nữa mà là một cơ thể. Nếu ta sống được như họ vậy thì tự nhiên sự kỳ thị, so đo, phân chia người này làm cái này người kia làm cái kia không còn là vấn đề nữa. Lúc đó ta sẽ nắm tay nhau để cùng chăm lo cho hoàn cảnh trong đó ta đang sống, mà không cần phải phân công rõ ràng. Giỏi cái gì thì làm cái đó, còn nếu ta không giỏi về cái đó mà thấy chưa có ai làm thì ta cũng cố gắng xông xáo để làm, không cho rằng việc đó là việc của người khác như thế thì có hạnh phúc nào bằng. Đó là tinh thần tự giác tự nguyện, chị ngã em nâng. Làm được như vậy là nhờ chúng ta có được một cái thấy về tăng thân, về vô ngã và tương tức. Một tiểu gia đình cũng là một tăng thân. Cặp vợ chồng và một đứa con trong một nhà cũng là một tăng thân. Mỗi khi làm việc gì ta đều làm cho tất cả tăng thân chứ không phải làm cho riêng ta. Sự thực tập này cần được áp dụng ngay trong phạm vi của một tiểu gia đình. Nếu nhận thức được rằng hạnh phúc của gia đình là hạnh phúc chung, hạnh phúc của chồng là hạnh phúc của vợ và hạnh phúc của con là hạnh phúc của tất cả, thì ta sẽ lấy đi được cái tâm phân biệt rằng việc này là của người này, việc kia là của người kia. Nhà cửa mà sạch sẽ thơm tho thì tất cả mọi người đều được hưởng chung. Giữa họ không còn có sự phân công và phân biệt nữa. Mọi người trong gia đình nhìn vào và thấy rõ ràng đây là tăng thân của mình. Tăng thân là một thân thể. Những người lập gia đình luôn luôn ước ao và nguyện cầu cho gia đình của mình được an lành, hạnh phúc và người vợ luôn luôn nghĩ rằng tương lai của chồng là tương lai của mình. Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ. Đó là khung cảnh ở Việt Nam ngày xưa. Người vợ quay tơ để có tơ lụa bán mà mua gạo nuôi chồng ăn học. Thành ra cả hai người đều cùng học. Người vợ học bằng cách quay tơ.

Nhường chàng một đĩa dầu con
Kề trăng quên ngủ tay dòn quay tơ
(thơ Bàng Bá Lân)

Đêm khuya rồi mà nàng vẫn còn quay tơ và chàng thì đọc sách: Em nhường anh cây đèn để anh đọc sách, còn em thì em có thể quay tơ dưới ánh trăng bên cửa sổ. Thật là một khung cảnh dễ thương. Như vậy quay tơ cũng là để cho chàng mà đọc sách cũng là để cho nàng. Không có sự kỳ thị, vì cả hai đều thấy được hai người là một, tương lai của người vợ là tương lai của người chồng, tương lai của người chồng là tương lai của người vợ. Không có cái gì gọi là riêng cả.

Ngày xưa, Siddhatta có một gia đình tâm linh nhỏ gồm sáu người cùng tu chung với nhau. Họ tu tập như một tăng thân. Nhưng sau sáu năm tu tập, thấy Siddhatta từ bỏ đường lối tu khổ hạnh và bắt đầu ăn uống để có sức khỏe mà tu tập thì năm người kia không hiểu, cho là Siddhatta đã hư hỏng, đã thối chí. Vì vậy họ đã rủ nhau đi tu riêng, từ bỏ Siddhatta, không còn kính nể Siddhatta nữa. Siddhatta không vì vậy mà sinh tâm buồn giận. Siddhatta nghĩ rằng mình phải tu cho thành rồi sẽ trở về giúp họ. Và quả thực Siddhatta đã làm đúng như tâm nguyện của Người. Trong giờ phút giác ngộ, tìm ra được chân lý, Siddhatta liền nghĩ ngay tới năm người bạn tu của mình và sau đó không lâu, Siddhatta lên đường đi tìm họ. Thấy Siddhatta đang đi về phía mình, họ không thèm tiếp đón, vẫn giữ thái độ không phục đối với Siddhatta. Nhưng khi Siddhatta tới gần thì tình trạng đổi khác. Họ thấy phong thái của Siddhatta thật đẹp, thật bình an, vững chãi và thảnh thơi, đúng là phong thái của một người có tu chứng, giác ngộ, tự nhiên họ tỏ lòng cung kính Siddhatta trở lại. Trong khi nghe bài thuyết pháp đầu tiên của Bụt tại vườn Nai, tức là Chuyển Pháp Luân Kinh, tâm thức của A Nhã Kiều Trần Như được khai mở, bừng sáng. Lần lượt các vị khác cũng được giác ngộ và gia đình đoàn tụ trở lại. Đó là khởi điểm của tăng thân nguyên thỉ. Từ đó Siddhatta trở thành con chim đầu đàn, tại vì ánh sáng của giác ngộ nơi Siddhatta tỏa chiếu và khai mở được tâm trí của năm con chim kia. Họ bắt đầu công nhận Siddhatta là con chim đầu đàn của họ vì sự hiểu lầm của họ đối với Siddhatta đã tan biến.

Hãy thử so sánh một gia đình tại gia như là gia đình của Giao Tiên và Quang Mân với gia đình xuất gia ta sẽ thấy có nhiều sự khác biệt. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì ước muốn của một gia đình nhỏ thì chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ, còn ước nguyện của một tăng thân lớn thì cố nhiên là lớn lao và cao quý hơn. Đó là ước nguyện và lý tưởng cứu độ chúng sinh. Gia đình của đức Thế Tôn ngày xưa chỉ có sáu người nhưng bây giờ đã trở thành một đại gia đình tâm linh, có vô số người xuất gia cũng như tại gia đang có mặt khắp nơi để tu tập và hành đạo, đem ánh sáng của hiểu biết, thương yêu và tự do tới cho đời. Sáng nào cũng có tăng thân của Bụt ngồi thiền, ngồi nghe pháp, đi thiền, làm việc trong chánh niệm, độ người… ở khắp mọi nơi. Đó gọi là “tăng thân khắp chốn”. Sự khác nhau đầu tiên là về số lượng. Gia đình kia chỉ có ba người hoặc năm, sáu người mà thôi, trong khi đó thì gia đình tâm linh của Bụt đông vô số kể. Lý tưởng, ước nguyện và sự thành đạt cũng lớn không thể nghĩ lường được. Về phương diện phẩm chất của tăng thân thì ta cũng thấy có sự khác biệt. Trong một tiểu gia đình tuy có thể có thương yêu và hạnh phúc, nhưng vì chưa có những pháp môn tu tập, cho nên có nhiều gia đình bị đổ vỡ tan nát, và những đứa con được sinh ra trong gia đình đó có thể trở thành những người đi vất vưởng như những con ma đói. Tuy lúc ban đầu cả hai đều có cái tâm nguyện rất tốt là muốn xây dựng một tổ ấm hạnh phúc và có những đứa con ngoan, học hành thành tài, nhưng vì không có những phương pháp tu học, không có đủ kiên nhẫn và tuệ giác nên có những gia đình không thành công và do đó bị rạn nứt hay tan vỡ. Trong khi đó tăng thân xuất gia lại có những pháp môn tu tập cụ thể như những pháp môn làm mới, sử dụng ngôn ngữ từ ái, lắng nghe và phối hợp ý kiến khác biệt để đi tới sự đồng tình (ý hòa đồng duyệt) để thực tập và có giới luật uy nghi bảo hộ và che chở, có tăng thân yểm trợ, nên gia nhập vào một tăng thân thì ta có nhiều cơ hội để thành công hơn. Người con trai hay người con gái khi bước vào con đường lập gia đình có thể cảm thấy lo sợ, ngại ngùng, vì người đó chưa biết những gì đang chờ đợi mình ở bên kia sông khi mình đã sang bên nớ. Trong nhiều trường hợp, bà mẹ là nguồn tư liệu duy nhất để trao truyền kinh nghiệm cho con gái. Có thể có một đêm khuya nào đó mẹ gọi con đến và dặn dò những điều thiết yếu của đạo làm dâu để khi sang bên kia sông không bị bỡ ngỡ, v.v.. Mẹ muốn trao truyền cho con tất cả những kinh nghiệm của mẹ để con đừng lặp lại những lỗi lầm vụng dại của mẹ hay là của bà ngoại ngày xưa. Có những bà mẹ không có thì giờ để trao truyền gì cả. Biết bao nhiêu thiếu nữ đã chìm nghỉm ở trong biển tuyệt vọng và khổ đau. Theo chế độ ngày xưa khi đi lấy chồng con cái không có được quyền chọn lựa, nhất là con gái. Cha mẹ đặt đâu thì con ngồi đó, tất cả đều do cha mẹ định đoạt. Cha mẹ chọn lựa trên căn bản nhận xét của kinh nghiệm cha mẹ. Lệ này tuy xưa nhưng cũng có nhiều cái hay, vì vậy là người trẻ ta cần phải nghiên cứu học hỏi. Bây giờ người trẻ không chấp nhận chế độ này và vì vậy họ không được thừa hưởng những kinh nghiệm xương máu của cha mẹ. Vì không có sự trao truyền và tìm hiểu nhau cho nên sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái dễ trở nên bế tắc. Còn khi ta đi tu thì cha mẹ không chọn lựa tăng thân cho ta, cha mẹ ta cũng không ép buộc ta phải tu chỗ này hay chỗ nọ. Ta có quyền chọn lựa. Ta có thể tới ở tại một ngôi chùa nào đó trong một thời gian và nếu thấy thích nghi được thì ta mới ngỏ ý xin xuất gia tại chùa đó. Ngày trước có những sư chú, sư cô đã tới Làng Mai như là một trong những chùa mà mình đi quán sát, xem thử ở chùa này, mình có thể có hạnh phúc hay không, có tương lai không. Sau một thời gian tìm hiểu họ mới chịu dừng chân.

Khi quyết tâm ở lại với tăng thân, ta làm một quyết định lớn lao của đời ta; ta giao phó hết tất cả thân mạng mình cho tăng thân. Cũng như người con gái đi lấy chồng là giao phó thân mạng và tương lai mình cho người chồng. Lấy chồng mà không đặt niềm tin nơi chồng thì làm sao có hạnh phúc? Vậy thì chọn lựa tăng thân thích hợp, có khả năng chuyên chở ta, đưa ta tới đích của sự chuyển hóa, trị liệu và giải thoát là điều cần thiết. Và khi biết ta sẽ có được cơ hội để thành công và đã quyết ở lại tức là ta đã chấp nhận đây là tăng thân của ta rồi thì ta phải lấy tương lai của tăng thân làm tương lai của mình. Chúng ta phải tháo ra cái ranh giới cá nhân, lấy cái khổ vui của tăng thân làm cái khổ vui của mình. Ta không còn hành xử như một cá nhân nữa mà phải bắt đầu thực tập hành xử như một tăng thân. Ta có thể đưa ra ý kiến của riêng ta, nhưng ta phải đặt nó vào trong biển ý kiến của tăng thân. Như vậy là ta đang thực tập giáo lý vô ngã và tương tức. Còn nếu ta sống trong tăng thân mà không thấy được tăng thân là cái thân của ta, không thấy được tương lai, hạnh phúc và lý tưởng của tăng thân chính là tương lai, hạnh phúc và lý tưởng của ta, nghĩa là nếu ta không hòa hợp được với tăng thân, nếu ta còn bị nhốt ở trong cái vỏ của bản ngã thì ta thực sự chưa bước được bước nào trên con đường lý tưởng mà ta đã phát nguyện. Ta chưa thật sự quy y tăng. Khi hai người kết hôn với nhau rồi thì người con gái phải thấy rằng tương lai của người chồng là tương lai của chính mình và tất cả những thao thức và khổ vui của chồng đều là những thao thức và khổ vui của mình. Người chồng cũng phải thấy như vậy. Hạnh phúc của vợ mình chính là hạnh phúc của mình. Không có tương lai riêng, không có sự khác biệt giữa người quay tơ và người đọc sách. Hai cái tương quan tương duyên với nhau. Nếu không có sự quay tơ thì không có sự đọc sách, nếu không có sự đọc sách thì sự quay tơ trở thành vô nghĩa.

Trong tăng thân cũng vậy, có nhiều công việc phải làm, nhưng ta nên thấy rằng làm những công việc đó là làm cho ta, và ta làm với tất cả tình thương. Làm theo tinh thần ấy thì càng làm ta càng có hạnh phúc. Ta thực hiện được lý tưởng thương yêu của ta. Vì vậy tăng thân là khung cảnh để ta thực hiện sự nghiệp lý tưởng hiểu biết (đại trí) và thương yêu (đại bi) của ta. Thành công với tăng thân thì ta mới thành công được với mọi người, mọi nơi. Nếu không có lòng thương lớn thì ta sẽ chán chường và đau khổ trong khi làm việc, và ta sẽ có cảm tưởng là ta bị làm việc, hoặc sẽ than phiền rằng taị sao đi tu rồi mà phải làm việc nhiều quá, không có thì giờ riêng để tu, để “thảnh thơi” và ta nghĩ có lẽ ta phải tìm một chỗ khác an nhàn hơn, có nhiều thì giờ để “tu”.

Nên khi nào ta thấy được tăng thân chính là thân của ta, khi nào ta thấy được lý tưởng và hạnh phúc của tăng thân là lý tưởng và hạnh phúc của ta, khi nào ta đi chung được với tăng thân như một dòng sông mà không phải là một giọt nước riêng rẽ, thì hầu hết những đau khổ của ta sẽ được rơi rụng hoặc chuyển hoá một cách rất mau chóng. Đó là sự thực tập quay về nương tựa tăng. Ngày xưa khi mới vào tu, tôi chưa hiểu được như vậy, tôi cho rằng “con về nương tựa tăng” chỉ là một sự cam kết, một lời tuyên bố, là sự biểu lộ kính ngưỡng mà thôi. Tôi chưa biết rằng quay về nương tựa tăng là một sự thực tập, và sự thực tập đó sẽ làm phiền não của ta rụng rơi. Phiền não được phát hiện trên ý niệm ngã và chấp ngã của ta. Khi cái ngã trong ta được đánh tan và ta hòa hợp vào được với tăng thân thì những phiền não ấy tan biến rất mau lẹ. Còn nếu không hòa hợp được thì ta vẫn tiếp tục mang theo những cái buồn, giận, thất vọng, tại vì ta vẫn còn là một giọt dầu không hòa tan được trong bát sữa. Không hòa được với tăng thân thì sự xuất gia, sự thực tập của ta không bao giờ thành công được. Vì vậy sự thực tập của ta là làm sao mỗi ngày ta nhìn, nghe, cảm và làm việc như thế nào để thấy được rằng tăng thân và thân ta chỉ là một thân. Làm được như vậy thì hạnh phúc là cái mà ta không thể không có. Đức Thế Tôn thường nói rằng tăng thân phải hòa hợp được như là nước với sữa thì mới là tăng thân đích thực, mới làm chỗ nương tựa được cho hải chúng mười phương.

Có những người tu tới năm năm, mười năm, hai mươi năm mà vẫn còn là một giọt dầu trong bát sữa, cái ranh giới giữa ngã và phi ngã vẫn còn nguyên vẹn, vẫn chưa là một được với tăng thân, như vậy ta không thể nói rằng những người ấy đã thành công trong sự tu học. Vì họ chưa xóa được cái bản ngã để trở thành một với tăng thân, nên những khối buồn đau, lo sợ và ganh tỵ vẫn còn nguyên trong lòng họ.

Ta hãy quán tưởng một đàn ngỗng trời, cứ mỗi năm trước khi mùa Đông đến, phải di cư từ miền Bắc xuống miền Nam để dễ bề sinh sống. Nếu có cơ hội để quán sát, ta sẽ thấy rất thú vị. Có khi đàn ngỗng trời có tới hàng ngàn con. Tuệ giác và linh cảm của chúng cho chúng biết là đã đến lúc phải di cư về phương nam và có khi chuyến bay cần phải mất nhiều ngày nhiều tháng. Có những đàn chim phải bay tới ba ngàn dặm hoặc mười ngàn dặm mới về đến phương nam. Mỗi năm chuyện đó đều xảy ra. Khi quan sát thì chúng ta thấy rõ ràng rằng những con ngỗng trời con nào cũng duỗi cái cổ thẳng về phía trước và ép hai chân ra phía sau, trông như một mũi tên đang lao về phía trước và mỗi con đều nằm trong vị trí của nó, rất đẹp. Quan sát cho thật kỹ ta thấy chúng thể hiện sự hòa điệu thật kỳ diệu, chúng giống như một cái màng lưới và mỗi một con chim có vẻ như không cần cố gắng gì cả nhưng sự giao tiếp và truyền thông giữa chúng với nhau đang xảy ra một cách rất tuyệt diệu và tự nhiên. Con chim cũng có mắt, có tai, có linh tính và khi bay lên, nó ý thức rất rõ rằng xung quanh nó có những con chim khác và chúng bay thành một đàn rất hòa điệu. Có những lúc cần phải xoay chiều, thì sự chuyển đổi xảy ra một cách rất tự nhiên, nhịp nhàng và hòa điệu, không hề có sự lộn xộn, thật là mầu nhiệm. Tại sao chúng có thể làm hay như vậy? Tất cả những con chim kia đều có cách phát ra và tiếp nhận những tín hiệu truyền thông rất tuyệt diệu, do đó dù chúng phải bay hàng ngàn cây số mà chúng vẫn không bị lạc nhau. Chúng không cần phải lao tác nặng nhọc. Mỗi một con chim nương vào đàn chim để cho đàn chim chuyên chở đi, chỉ cần có mặt, mở mắt, mở tai ra và bay theo một cách tuyệt đối thì tự nhiên nó ở được vào trong cái vị trí của nó. Trong khi bay như thế, vị trí của một con chim giữa những con chim khác, vị trí của con chim đối với trời, đối với đất là vị trí tuyệt hảo. Chúng ta biết rằng nếu đi một mình, con chim không thể nào đi về miền nam được. Chúng phải đi một đàn, nương tựa vào nhau một cách tuyệt đối thì mới có thể về được miền nam an toàn. Ta hãy để cho thuyền tăng thân chuyên chở ta đi như con chim để cho đàn chim đưa đi vậy. Ta không nên cựa quậy, phản kháng hay vùng vẫy. Phải tập thuận theo tăng thân. Tài năng và sự thành công không phải là tài năng và sự thành công của một con chim mà là của cả đàn chim. Trong đàn chim có tới hàng ngàn con, có những con chim lớn hơn và những con chim nhỏ hơn, nhưng luôn luôn có một con chim đầu đàn và có một số con chim khác có khả năng dẫn đạo phụ giúp. Trong khi quan sát, chúng ta sẽ nghe được tiếng kêu ‘honk! honk!’ của con chim đầu đàn và những con chim bay theo sau cũng đáp lại bằng tiếng ‘honk! honk!’ và tiếng kêu của cả đàn chim biến thành một bản nhạc rất sống động và vui tươi giống như mỗi buổi sáng khi người duy na xướng lên: “Ngưỡng mong đại chúng tinh tấn nhiếp tâm thiền tập. Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni.” thì tất cả đại chúng đồng trả lời: “Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni.” Có một con chim đầu đàn xướng lên và tất cả những con chim khác đáp ứng lại. Đàn chim di động rất đẹp. Buổi sáng hoặc buổi tối khi ngồi thiền trên bồ đoàn, ta hãy quán tưởng ta là một con chim trong đàn chim, đàn chim ta là tăng thân, ngồi một vòng, hai vòng, ba vòng và tất cả đều là những con chim đang bay về hướng an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Mỗi người ngồi trên bồ đoàn của mình, mở lòng ra thì sẽ cảm thấy được năng lượng của tăng thân đang đi vào trong từng thớ thịt, từng tế bào của ta. Điều ta cần làm trong khi ngồi thiền, là phải thật sự có mặt với tăng thân và khi ta thật sự có đó với tăng thân thì niềm vui của ta được tăng tiến rất nhiều và ta cảm thấy được bảo hộ và nâng đỡ. Ta theo dõi hơi thở và thầm nói rằng: Hạnh phúc quá! Ta đang được ngồi với tăng thân, được đóng góp sự có mặt của mình cho tăng thân và được tăng thân chuyên chở về hướng an lạc, tự do và hạnh phúc. Ta chỉ cần ý thức như vậy là niềm vui và hạnh phúc đã bắt đầu trào dâng. Được ngồi với tăng thân là một hạnh phúc lớn. Nhiều khi ta không cần làm gì hết, không cần quán tưởng gì hết, ta chỉ ngồi đó mà theo dõi hơi thở, buông thư và giao phó thân mạng của ta cho tăng thân là ta cũng được đi theo tăng thân rồi. Tăng thân không bao giờ bỏ ta ở lại nếu ta biết nương tựa vào tăng thân. Danh từ mà chúng ta thường hay nói là cho phép tăng thân chuyên chở ta.

Trong bài tụng Phòng Hộ Chuyển Hóa, có câu:

Con nhất tâm nguyện sống đời lành
Đem thân mạng nương nhờ Tam Bảo

Khi người con gái đi lấy chồng, cô ta phải đem thân mạng mình giao phó cho chồng, có phải vậy không? Đối với người con trai cũng vậy. Tăng thân luôn luôn phải bắt đầu bằng bốn người trở lên, một người thì không thể gọi là tăng thân được. Cũng vậy, đứng về phương diện cá nhân chúng ta không phải là những con người toàn hảo. Không ai trong chúng ta là một con người toàn hảo cả, nhưng khi chúng ta tới với nhau, thành lập một tăng thân thì tăng thân đó có thể tạo tác ra những cái mà không ai trong chúng ta với tư cách cá nhân có thể tạo tác ra được. Cũng như một đàn chim, cái tài năng đó, cái đẹp đó không phải là tài năng riêng hay cái đẹp riêng của một con chim. Một con chim không thể nào làm ra được cái đó, không thể làm ra được cái khung cảnh nhiệm mầu như thế. Mỗi khi tôi quan sát đàn ngỗng đang bay tôi thấy cảm động gần như chảy nước mắt. Một tăng thân cũng vậy, tăng thân có thể làm hiển bày những cái đẹp và lành, hiển bày khung cảnh nhiệm mầu của sự tươi vui, hòa điệu, những cái rất thánh thiện có khả năng trị liệu và chuyển hóa mà với tư cách cá nhân, ta không thể nào làm được. Các bậc giác ngộ luôn luôn là những người biết xây dựng tăng thân. Đức Bổn Sư cũng đã để rất nhiều thì giờ và năng lực xây dựng tăng thân, đức Bụt A Di Đà cũng vậy. Bất cứ người nào trong chúng ta cũng thấy rằng tăng thân là con đường thoát duy nhất. Với tư cách của anh hùng cá nhân thì ta không thể nào đi xa được. Chỉ có tăng thân mới có thể đem lại an lạc, vững chãi và hy vọng cho tương lai, và giúp ta thực hiện được lý tưởng cao cả của ta mà thôi. Vì vậy ta phải đem hết thân mạng của ta để đầu tư vào công việc xây dựng tăng thân.

Chúng ta ngồi trên thuyền với nhau như một tăng thân và phải giao phó thân mạng của ta cho chiếc thuyền. Khi quán sát một đàn ong thì chúng ta cũng thấy như vậy. Đàn ong kia có rất nhiều tài năng, rất nhiều trí tuệ trong kỹ thuật xây dựng cái tổ ong của chúng. Cái tổ của chúng rất đẹp. Các con ong thợ chăm sóc con ong chúa và dự trữ thức ăn cho mùa Đông một cách tuyệt diệu. Chúng phân chia trách nhiệm rất đồng đều; một số bay đi bốn phương để đem nhụy hoa về và số còn lại thì lo việc xây cất và chăm sóc. Các nhà nghiên cứu về đời sống của loài ong thấy được những mầu nhiệm đó. Họ công nhận rằng những tài năng đó, những công trình tuyệt vời như thế không phải là công trình của cá nhân con ong, mà đó là sự thực hiện của cả tập thể đàn ong. Các nhà khoa học bây giờ nghiên cứu về não bộ cũng vậy, họ thấy rằng não bộ có hàng tỷ tế bào gọi là nơ-ron, những nơ-ron đó với tư cách cá nhân thì không thể làm được gì hết, nhưng khi phối hợp với nhau, hoạt động với nhau như một tăng thân thì thật là nhiệm mầu, chúng luôn luôn cởi mở và tiếp nhận những tin tức, những dữ kiện từ các nơ-ron khác và nhờ vậy chúng làm biểu hiện ra những cái vô cùng mầu nhiệm. Giáo lý vô ngã và tương tức được ứng dụng một cách thiết thực và cụ thể và hiển lộ rõ rệt trong những đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học thời nay. Những tế bào trong cơ thể ta cũng vậy, chúng hoạt động trên cơ bản của vô ngã và tương tức; những tế bào luôn luôn mở lòng ra để thiết lập liên hệ truyền thông và tiếp xúc với những tế bào khác và không có tế bào nào nói rằng tôi là số một, là chúa tể, là “ngã” cả. Sự hòa điệu của các tế bào làm ra sự an toàn vững mạnh của cơ thể. Cho nên người ta nói rằng khoa học bây giờ có thể đóng một cái dấu chứng thực được cho giáo lý vô ngã và tương tức của đạo Bụt. Bây giờ khoa học mới chứng nhận giáo lý vô ngã là đúng, phù hợp với thực tại của chân lý. Tiếc thay các nhà khoa học tuy thấy được chân lý vô ngã, nhưng chưa áp dụng được chân lý vô ngã vào trong đời sống hàng ngày của mình. Đối với gia đình vợ con, họ vẫn còn buồn giận, vẫn thấy họ khác với con, khác với vợ, với chồng và vẫn chưa phá bỏ được những xung khắc. Đứng về phương diện lý thuyết thì họ thấy được tính vô ngã của vạn vật nhưng đứng về phương diện thực tế thì họ chưa áp dụng được cái thấy vô ngã đó vào trong đời sống hàng ngày, vì vậy họ vẫn tiếp tục khổ đau và tạo ra khổ đau cho những người chung quanh. Trong khi đó thì đạo Bụt không ưa nói về chân lý vô ngã như một học thuyết để phô trương mà đưa ra những phép áp dụng chân lý vô ngã trong đời sống hàng ngày. Làm việc gì ta cũng tập làm với tư cách vô ngã. Giải quyết vấn đề nào chúng ta cũng tập giải quyết theo đường hướng vô ngã. Làm mới hay soi sáng cũng đều được thực hiện trên căn bản vô ngã. Còn nếu làm mới và soi sáng hoặc hành xử trên căn bản của ngã thì ta vẫn chưa thực tập giáo lý vô ngã của đạo Bụt. Khi nào ta thực tập và thực chứng được tinh thần vô ngã thì ta mới thật sự có hiểu biết và thương yêu. Cho nên làm mới hay soi sáng cũng đều phát xuất từ lòng thương lớn của ta. Khi chùa tổ chức một khóa tu năm ngày hay bảy ngày, thì người xuất gia và người cư sĩ có cơ hội tu tập chung với nhau; người cư sĩ có thể học hỏi được những điều mà trong xã hội họ không có cơ hội học hỏi. Và người xuất gia cũng học hỏi được về bản chất của những tâm tư, thao thức và khổ đau nơi người cư sĩ. Trong ngày tu, người cư sĩ cũng được ăn cơm trong im lặng, được ngồi thiền, tụng kinh và nghe pháp và như vậy là tham dự được vào một phần đời sống của người xuất gia.

Đức Thế Tôn dạy: “Này các thầy, các thầy phải chăm sóc cho nhau như anh em một nhà. Chăm sóc cho nhau tức là các vị chăm sóc cho tôi vậy”. Chắc quý vị còn nhớ chuyện đức bổn sư và thầy A Nan đi thăm một tu viện nhỏ. Khi tới đó, các thầy đã đi khất thực hết, chỉ có một thầy bị bệnh kiết nằm ở nhà mà thôi. Vì bị bệnh nặng, lại không có người hộ bệnh, một mình thầy không đi ra ngoài được nên mỗi khi thầy cần đi đại tiểu tiện thầy đi ngay ở trong phòng và y áo của thầy bị dính đầy phân và nước tiểu. Thấy vậy Bụt thương quá nên bảo thầy A Nan đi kiếm một chậu nước. Người tự tay tắm rửa và thay áo cho thầy ấy. Bụt hỏi: “Các thầy khác không chăm lo cho thầy sao?” Thầy ấy trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, có. Nhưng vì con nghĩ mình bị bệnh lâu quá mà cứ để các thầy phải chăm sóc thì thật là cực nhọc cho họ nên con rất ngại. Do đó con đã xin các thầy cho phép con tự chăm sóc. Mấy ngày hôm nay là con tự lo liệu lấy.” Nghe vậy, đức Thế Tôn liền dạy: “Như vậy không được. Thầy nên để cho các thầy khác chăm sóc cho đến khi hết bệnh mới thôi”. Khi các thầy đi khất thực về, đức Thế Tôn cho gọi lại và Người dạy: “Này các thầy! Khi đã đi tu rồi thì ta đâu còn cha mẹ, anh, chị, em bên cạnh để lo cho ta nữa. Nếu quý vị không chăm sóc cho nhau thì ai chăm sóc cho quý vị? Chúng ta là một gia đình, chúng ta phải lo cho nhau như anh em ruột thịt. Tôi biết trong các thầy, thầy nào cũng muốn làm thị giả cho tôi, muốn lo lắng, chăm sóc cho tôi. Tôi xin nói rằng: Lo cho nhau tức là lo cho tôi vậy. Người nào muốn chăm sóc cho Như Lai thì hãy chăm sóc cho những người bạn tu của mình. Đó mới thật sự là chăm sóc cho Như Lai.” Bụt cũng dạy: “Khi những người cư sĩ tới tu viện thì người xuất gia chăm sóc cho họ vì họ cũng là đệ tử của Như Lai.” Cố nhiên chúng ta cũng nên tổ chức như thế nào đó để người xuất gia có thể chăm sóc cho người xuất gia đã đành rồi, mà người xuất gia cũng chăm sóc được thêm cho người cư sĩ và người cư sĩ cũng có thể thực tập chăm sóc cho nhau. Làng Mai đã chế tác ra pháp môn đệ nhị thân để áp dụng tinh thần này và đang thực tập rất thành công. Những người cư sĩ tới đây tu tập đều cũng được thực tập theo tinh thần này. Người cư sĩ chăm sóc cho người cư sĩ và người cư sĩ cũng chăm sóc cho người xuất gia. Mỗi khi ta tổ chức khóa tu thì ta nên khai thị tinh thần đó.

Chúng ta nên tự nói rằng: Những người cư sĩ tới tu với ta cũng là đệ tử của đức Như Lai và ta với tư cách những người anh lớn, những người chị lớn, phải chăm sóc cho họ. Có được cái thấy như vậy rồi thì những công việc như nấu cơm, dọn phòng hoặc đi đón thiền sinh từ nhà ga không còn là những công việc nặng nhọc nữa và ta không cảm thấy buồn chán. Ta có thể làm những công việc đó với tất cả tình thương. Cũng như chàng Mân xuống bếp rửa chén mà không thấy đau khổ gì cả, vì Mân thấy rằng rửa vài cái chén là đỡ cho Giao Tiên bớt phần nặng nhọc. Hơn nữa rửa chén chính là niềm vui. Đó là tình thương đích thực. Cũng vậy, ta phải tập làm với tình thương thì ta mới thật sự có hạnh phúc. Trong chúng ta có những thầy, những sư cô đã làm với tinh thần đó và họ cảm thấy rất hạnh phúc. Được phục vụ cho đại chúng cũng hạnh phúc mà được có cơ hội chăm sóc cho các sư anh, sư chị, sư em và cho thiền sinh cũng là hạnh phúc. Nhưng trong chúng ta cũng có một vài người ưa than mệt. Các vị ấy nói: “Trời ơi, mệt quá! Cứ hết khóa tu này lại tới khóa tu khác, không có thì giờ rảnh. Phải có một khóa tu riêng cho người xuất gia mới được”. Tôi rất hiểu và rất thông cảm nhu yếu đó. Chúng ta quả thực đã tổ chức nhiều khóa tu, nhưng vì lòng thương nên ta mới cố gắng tạo cơ duyên cho người ta đến tu tập. Tôi biết cũng có nhiều người trong chúng ta rất muốn mở cửa để cho nhiều người tới thực tập. Họ thực tập được chừng nào thì đỡ cho họ chừng đó. Thường thường ta có hai khuynh hướng: khi mệt thì ta không muốn làm gì hết, nhưng lòng từ bi trong ta cứ muốn ta mở cửa để đón nhận các thiền sinh tới tu tập để cho họ bớt khổ. Chúng ta phải cùng đàm luận về chuyện này. Ta phải làm việc như thế nào, chăm sóc cho nhau như thế nào, độ người cư sĩ như thế nào để vẫn duy trì được sự thoải mái, thảnh thơi mà không bị căng thẳng.

Những người cư sĩ tới đây cũng thực hành theo giáo lý của đức Thế Tôn. Họ tới đây một phần là để yểm trợ cho người xuất gia, một phần là để yểm trợ cho những người bạn tu cư sĩ khác. Họ chăm sóc lấy nhau và họ chăm sóc luôn cả người xuất gia. Cũng như người xuất gia chăm sóc cho nhau và chăm sóc luôn cho những người cư sĩ. Có như vậy chúng ta mới có được một đoàn thể gọi là tứ chúng gồm xuất gia nam, xuất gia nữ, tại gia nam và tại gia nữ. Chúng ta phải đi tới một phương thức trong đó bốn chúng có thể sống hòa hợp, có hạnh phúc, một phương thức trong đó người nào cũng được tu tập chuyển hóa và mọi người có cơ hội nâng đỡ nhau tu tập để chuyển hóa.

Nói tóm lại, trong đời sống tu tập của chúng ta, sự thực tập quay về nương tựa tăng thân đã trở thành một chủ đề lớn. Chúng ta không cần thực tập quá nhiều, chỉ cần thực tập được ba chữ quy y tăng thôi là đã có thể thành công. Quy y tăng là sự thực tập mà các loài ong, loài chim và loài cá, chúng đã và đang làm. Con người là loài sinh vật có tính xã hội, do đó con người phải tập làm cho được như những loài ong, loài chim và loài cá thì nhân loại mới có hòa bình, mới có tương lai. Chúng ta phải vượt thoát ý niệm về ngã và thực tập quay về nương tựa tăng thân. Chúng ta phải thấy hạnh phúc của tăng thân chính là hạnh phúc của mình, lý tưởng của tăng thân chính là lý tưởng của mình, sự thành đạt của tăng thân là sự thành đạt của mình. Cũng như cặp vợ chồng trẻ kia, người vợ quay tơ là không phải chỉ quay tơ cho người chồng mà cô cũng quay tơ cho chính mình, tại vì mình với chồng mình chính là một.

Chúng ta mở rộng hai cánh tay để ôm ấp hết tất cả mọi người vào lòng, tại vì tăng thân là thân của ta. Chúng ta có Phật thân, có pháp thân, có tăng thân. Nếu giữ gìn được ba cái thân đó, sống được với ba cái thân đó một cách thiết thực trong đời sống hàng ngày thì những phiền não của ta sẽ rụng rơi rất mau chóng.

 

________

Pháp thoại ngày 13-1-2000, tại chùa Cam Lộ, xóm Hạ trong khóa tu mùa Đông

Phương pháp thực tập soi sáng

Mấy ngày hôm nay đại chúng của các xóm thực tập soi sáng cho những vị sắp được thọ giới. Có một số các vị xuất gia và tại gia cũng sẽ được truyền đăng để làm giáo thọ. Họ đã làm giáo thọ thực tập một năm hoặc hai năm rồi. Làm giáo thọ khó lắm, cho nên nhiều người ngại không dám nhận đèn. Không ai nghĩ rằng mình xứng đáng để làm giáo thọ cả, nhưng ta phải có can đảm vì Bụt đang cần ta. Dầu đang còn yếu kém, ta cũng phải can đảm mà nhận lãnh trách nhiệm, rồi từ từ ta sẽ vững lên, sẽ giỏi lên.

Tiếp nhận cây đèn để làm giáo thọ không có nghĩa là ta đã giỏi rồi, thực sự ta chỉ mới bắt đầu thôi. Phải có bước đầu thì mới có bước thứ hai được. Vì vậy ta nên đi vào Giới Đàn với một tâm niệm rất khiêm cung, ta biết rằng ta còn yếu kém, ta biết rằng ta phải có một năng lượng lớn trong lòng mới có thể tiếp nhận được giới pháp: hoặc năm giới, hoặc giới Sa Di, hoặc giới Tiếp Hiện, hoặc Giới Lớn hoặc Tiếp Nhận Truyền Đăng. Ta thấy hổ thẹn, ta chưa đủ khả năng cũng như sức mạnh, nhưng vì ta là con của Bụt, học trò của Thầy, em của anh, em của chị cho nên ta phải có can đảm. Và Bụt, Thầy, anh ta, chị ta đang trông cậy nơi ta nên ta phải can đảm đi tới để tiếp nhận giới pháp đó.

Và cũng vì vậy, cho nên đại chúng với lòng từ bi đã ngồi lại soi sáng cho ta, soi sáng để cho ta thấy được những ưu điểm và những khuyết điểm của ta, và ta phải ngồi trong buổi soi sáng với tất cả sự khiêm cung để mà học hỏi. Soi sáng không có nghĩa là chỉ trích. Soi sáng tức là chỉ cho ta thấy rõ về tình trạng của ta, về những khả năng và những yếu kém của ta. Trong thời gian soi sáng đó ta được nghe không phải một người mà là được nghe tất cả mọi người trong chúng nói cho ta, và về ta. Tại vì mỗi người ai cũng có con mắt để nhận xét về ta cả. Một người có thể không thấy rõ tất cả những gì thuộc về ta, nhưng nhiều người thì thế nào với con mắt của tăng (gọi là Tăng Nhãn), chúng sẽ có thể thấy được ta rõ hơn. Thấy được ta rõ hơn và chỉ dạy cho ta thì ta biết rằng ta phải thực tập như thế nào để có những bước tiến.

Pháp môn soi sáng đã được áp dụng trong giới xuất gia, nhưng cũng cần được áp dụng trong giới tại gia. Trong một buổi soi sáng ban đầu ta nghĩ rằng người được thừa hưởng là người được soi sáng, nhưng kỳ thực tất cả mọi người trong chúng ta đều được thừa hưởng sự thực tập soi sáng ấy.

Soi sáng là một pháp môn thực tập rất hay và rất cụ thể của Làng Mai. Ta hy vọng rằng sau này các trung tâm tu học khác, các đạo tràng khác đều có cơ hội thực tập phương pháp này. Có khi sự thực tập này còn quan trọng hơn cả ngồi thiền. Ta không nên xem những buổi soi sáng là những buổi làm mất thời giờ. Trong những buổi đó ai cũng học hỏi được nhiều, ai cũng thấy được tự thân nhiều hơn, thấy được người em, người anh, người chị của mình rõ hơn.

Thường thường ta có một cái thấy về ta, và cái thấy ấy có thể có nhiều sai lạc, vì vậy cho nên ta cần phải có anh ta, chị ta, em ta chỉ cho ta thấy rõ thêm về ta. Hơn nữa, những cái thấy của ta về người kia cũng có thể sai lạc. Đầu tiên ta nghĩ rằng ta thấy đúng. Có thể là có những điểm đúng trong cái thấy của ta về người kia, nhưng cũng có thể có những điểm sai lầm, và vì vậy cho nên sau khi ta đã soi sáng cho người đó rồi thì ta ngồi lắng nghe những người khác soi sáng cho người đó. Có người có vài nhận thức giống như ta đã có, nhưng cũng có những nhận thức khác mà ta không có. Và khi ta ngồi lắng nghe tất cả mọi người trong chúng rồi thì ta thấy cái nhận thức của ta đối với đương sự được soi sáng đó đã trở nên rất khác với lúc ban đầu.

Đây là một pháp môn rất hay mà tất cả mọi người đều phải học hỏi. Ví dụ chúng ta có một chúng nhỏ thôi, chỉ có 8 người (trong những buổi soi sáng tại Xóm Thượng có khi có tới 60 người), và ta được đại chúng giao phó trách nhiệm phải mở đầu cuộc soi sáng. Ta sẽ nói những gì ta thấy về người được soi sáng này, nghĩa là những ưu điểm và những khuyết điểm về người đó. Tại Làng Mai, trước khi soi sáng ta phải ngồi thiền cho tĩnh tâm trước, rồi nghe tiếng chuông,

Đây là văn bản Quán Nguyện mở đầu các buổi soi sáng:

Lạy Bụt, lạy Tổ, hôm nay chúng con thực tập soi sáng cho các sư anh (sư chị) và sư em của chúng con. Chúng con biết tất cả chúng con đều là những thành phần của cùng một tăng thân, tất cả chúng con đều là xương thịt của cùng một tăng thân. Vì vậy, chúng con ý thức rằng soi sáng cho bất cứ ai trong tăng thân cũng là tự soi sáng cho chính mình. Chúng con nguyện sẽ đem hết tình thương và sự hiểu biết của chúng con để thực tập công việc soi sáng.

Chúng con nguyện tất cả những gì chúng con nói ra đều phát sinh từ thiện ý muốn đi tới một cái thấy chính xác về đối tượng soi sáng và cống hiến cho đương sự những đề nghị thực tập thực tế để có thể đưa tới những chuyển hóa tốt đẹp cho đối tượng soi sáng. Chúng con nguyện cố gắng không để cho sự buồn giận và những thành kiến làm sai lệch cái thấy của chúng con. Chúng con nguyện bất cứ một lời nói nào của chúng con cũng đều phát xuất từ tình thương. Chúng con biết trong khi soi sáng cho một thành phần của tăng thân, chúng con cũng đang soi sáng cho bản thân chúng con, vì vậy việc thực tập soi sáng cũng đem lại lợi lạc cho bản thân của mỗi chúng con.

Lạy Bụt và chư Tổ gia hộ cho chúng con để buổi thực tập soi sáng này được thành công viên mãn.

Văn bản này tuy ngắn nhưng cần được giải thích rất nhiều. Tất cả mọi người đều nên học hỏi trước về văn bản này trước khi tham dự vào một buổi soi sáng. Học và hiểu được văn bản này một cách sâu sắc thì đến khi nghe đọc ta mới tưới tẩm những hạt giống tốt trong ta được. Trước hết ta ý thức rằng soi sáng cho ai cũng là soi sáng cho chính ta. Tại vì những ưu điểm của người kia có thể ta cũng có, và những khuyết điểm của người kia có thể là ta cũng đang có. Có thể những khuyết điểm của người này ta cũng có nhưng ít hơn, nhẹ hơn, và cũng có khi nhiều hơn. Và mỗi khi nói ra được những ưu điểm của người này thì ta nhìn lại xem ta có những ưu điểm đó hay không. Nếu có nhiều thì ta mừng vui và phát nguyện rằng ta sẽ thực tập để phát triển thêm. Nếu có ít hơn người kia hay chưa có thì ta cảm thấy hổ thẹn, tự nhủ rằng ta sẽ cố gắng cho được như người ấy. Thành ra trong khi soi sáng ta có thái độ rất khiêm cung, sợ hãi. Sợ hãi này là môt sự sợ hãi rất lành mạnh, nghĩa là ta không quá tin rằng những điều ta nói chắc chắn là đúng. Các vị Tổ như Tổ Long Thọ trước khi bắt đầu một tác phẩm, dù có kiến thức sâu rộng về phật pháp cũng luôn luôn mở đầu rằng: con cầu mong chư Bụt gia hội cho những điều con nói đây phù hợp với giáo chỉ của Ngài. Nếu các Tổ như Long Thọ, Vô Trước và Thế Thân đều viết những câu như vậy trước khi đặt bút xuống viết một cuốn Luận thì ta là ai mà lại không có được sự khiêm hạ trong khi ta soi sáng cho sư anh của ta, sư chị của ta, sư em của ta? Phải khiêm cung lắm mới được!

Lạy Bụt, lạy Tổ, hôm nay chúng con thực tập soi sáng cho các sư anh (sư chị) và sư em của chúng con. Chúng con biết tất cả chúng con đều là những thành phần của cùng một tăng thân, tất cả chúng con đều là xương thịt của cùng một tăng thân.

Ở Việt Nam ta nói anh em như thể tay chân, tay và chân cùng thuộc về một xương thịt cả, thành ra tay phải đối với tay trái cũng vậy. Tất cả đau nhức của tay trái cũng là của tay phải, tất cả những hạnh phúc của tay phải cũng là của tay trái. Phải soi sáng dưới tinh thần đó thì mới đúng. Vì vậy, chúng con cũng ý thức rằng soi sáng cho bất cứ ai trong tăng thân cũng là soi sáng cho chính mình. Và vì vậy cho nên ta không muốn ta đau. Ta soi sáng như thế nào để người kia không bị đau, tại vì người kia đau thì chính ta cũng đau. Chúng con nguyện đem hết tình thương và sự hiểu biết của chúng con để thực tập công việc soi sáng.

Tình thương ta chỉ có hạn thôi, và sự hiểu biết của ta về người đó cũng có hạn thôi, nhưng ta vẫn đem hết tất cả những cái đó ra soi sáng. Có gì ta hiến tặng cái đó, ta không thể hiến tặng những cái mà ta không có. Nhưng mà có cái đó cũng đã là đỡ rồi. Ta có tình thương, ta có nhận thức về người kia cũng như về ta, ta ý thức được tình thương của ta còn hạn hẹp, cái hiểu biết của ta về chính ta và về người kia cũng đang còn hạn hẹp, không được chắc lắm, vì vậy ta không nên quá chắc rằng cái thấy đó của ta tuyệt đối đúng. Điều này quan trọng lắm. Và đây là sự thực tập cho bản thân ta chứ không phải là cho ai cả. Chúng con nguyện tất cả những gì chúng con nói ra đều phát sinh từ thiện ý muốn đi tới một cái thấy chính xác về đối tượng soi sáng. Nghĩa là ta chỉ có ý hướng đóng góp một vài yếu tố để đi tới cái thấy chính xác mà thôi. Chứ ta không nghĩ rằng ta có đủ tất cả những yếu tố chính xác, ta phải nhờ vào mắt của tăng thân nữa… để cống hiến những đề nghị thực tập thực tế có thể đưa tới những chuyển hóa tốt đẹp cho đối tượng soi sáng.

Nếu quả thực ta thương em ta hay là chị ta, ta muốn cho người đó có cơ hội chuyển hóa thì lời ta nói sẽ không có tính cách chỉ trích. Nếu ta nói: “Sư em sao ngồi thiền cứ ngủ gục hoài, lần nào vô thiền đường cũng thấy sư em ngủ gục, như vậy em không đáng được thọ giới lớn.” Điều đó có thể là sự thực, nhưng soi sáng như vậy thì không giúp được gì cho sư em hết. Ví dụ ta nói như thế này: “Sư anh thấy rằng không biết tại lý do nào mà sư em hay ngủ gục trong khi ngồi thiền, sư em hãy nghĩ lại xem mỗi tối sư em có đi ngủ sớm không hay là thức quá khuya? Hoặc sư em có chứng nhức đầu hay đau bụng gì khiến cho em ngủ không đủ? Em có nói chuyện với các sư anh khác chưa về chuyện mà tại sao em cứ ngủ gục trong khi ngồi thiền? Theo anh thì có lẽ phải nên làm thế này… thì em mới chuyển hóa được.” Rồi ta đề nghị những phương pháp rất cụ thể để cho người sư em đó biết được những gì có thể làm để khỏi phải ngủ gục trong khi ngồi thiền. Trong khi nói đó tình thương của ta được biểu hiện ra và người kia sẽ không bao giờ giận ta. Tình thương đó, thiện chí đó ai cũng thấy nơi ta, rất đẹp. Và vì vậy cho nên ta phải sử dụng sự thông minh của ta và kinh nghiệm của ta để cống hiến cho đương sự một nẻo thoát.

Có tình thương mà không có trí tuệ thì tình thương đó chưa phải tình thương đích thực. Ta có tình thương, ta muốn giúp đỡ sư em nhưng ta phải tìm ra cách, và trước buổi soi sáng ta tự hỏi đã tìm ra cách chưa, và ta đã từng giúp sư em của ta chưa, ta đã từng gọi riêng sư em tới để nói: “Này em, tại sao sư anh thấy sư em cứ ngủ gục hoài.” Ta đã không nói và ta đã không giúp, cho đến khi soi sáng thì mới lên án. Ta đã không giúp được sư em ta chút nào hết từ trước tới giờ, cho đến bây giờ ta đưa ra một phán quyết là sư em không được thọ giới, thì ta đã chứng tỏ là ta không có tình thương. Còn nếu trong quá khứ trước khi soi sáng ta đã từng lân mẫn với sư em, từng hỏi han sư em, từng giúp sư em rồi thì những gì ta nói trong buổi soi sáng này chỉ là sự tiếp nối của sự thực tập ấy thôi và tình thương cũng như thiện chí của ta không những được sư em nhận thấy mà cũng được tất cả mọi người trong chúng nhận thấy. Và đại chúng sẽ thấy được giá trị đó, sẽ tin được giá trị đó của ta, và ta làm gương cho những người khác. Khi soi sáng như vậy, ta là cái gương soi sáng cho những người khác. Và khi đến lượt họ soi sáng, họ cũng tập nói được như ta. Trong chúng nếu có một số người có thể làm được như vậy trong buổi soi sáng thì mọi người đều được học hỏi. Đó chính là giáo dục đích thực. Soi sáng không còn là một lao tác nữa, mà thành ra một buổi thực tập để nuôi dưỡng hạt giống tuệ giác và từ bi trong ta. Đó là một thứ thiền quán, ta gọi là thiền quán tập thể (collective meditation).

Chúng con nguyện cố gắng không để cho sự buồn giận và những thành kiến làm sai lệch cái thấy của chúng con. Có thể là ta đã từng có bực bội với người đó trong cuộc sống hằng ngày, cho nên bây giờ nhân có buổi soi sáng này ta nói ra cho bỏ ghét, ta trừng phạt bằng cách không cho thọ giới, không cho truyền đăng. Là con người, ta còn có buồn có giận, nhưng cái buồn cái giận đó cho ta một cơ hội để thực tập. Ta phải biết nhận diện cái buồn hoặc cái giận của ta. Phải biết đi tới người kia để tái lập sự truyền thông và hỏi tại sao sư anh đã làm như vậy, tại sao sư em đã làm như vậy, đã làm cho ta đau. Giữa anh em với nhau, giữa chị em với nhau ta phải đến nói cho người ấy hay, chứ đừng giữ kín trong lòng và đợi đi vào buổi soi sáng rồi mới nói để trừng phạt người kia, làm cho người kia mất đi một cơ hội của cuộc đời người ấy.

Chúng con biết trong khi soi sáng cho một thành phần của tăng thân, chúng con cũng đang soi sáng cho bản thân của chúng con, vì vậy việc thực tập soi sáng cũng đem lại rất nhiều lợi lạc cho bản thân của mỗi chúng con.

Khi ta đứng vào địa vị người soi sáng hay đứng vào địa vị người có trách nhiệm và có quyền quyết định cho số phận của người kia thì ta phải nhìn lại ta. Ngày xưa ta còn yếu kém như thế mà được các sư anh sư chị chấp nhận. Các anh các chị của ta, thầy của ta đã ôm lấy ta bằng tất cả tình thương, khuyến khích ta dầu ta còn đang yếu kém. Nhớ được điều đó rồi thì ta không còn khắt khe với sư em của ta nữa. Nếu không nhớ nhìn lại điều đó thì ta cứ coi các sư em của ta là những đối tượng xa vời: cho nó làm sa di hay thức xoa ba năm nữa, bốn năm nữa để cho mạnh lên rồi mới được thọ giới. Kỳ thực, nếu trong ba năm sắp đến mà ta vẫn cư xử với vị đó như vậy thì vị đó cũng sẽ còn yếu như thế, đã không tiến lên được chút nào mà đôi khi còn thụt lùi xuống nữa là khác. Đó là vì không có sự nâng đỡ của các anh, của các chị. Không phải thêm một năm hoặc là hai năm mà người kia sẽ mạnh ra đâu. Thời gian không làm cho người đó mạnh, thời gian có thể làm cho người đó đi xuống. Người ấy đi xuống hay đi lên được là do ta: ta làm sư anh, ta làm sư chị, ta phải tạo cho người ấy một cơ hội để cho người ấy đi lên. Người ấy có những yếu kém, đúng như vậy, chính người đó có những yếu kém cho nên mới cần sự nâng đỡ của ta. Tại vì ngày xưa chính ta cũng có những yếu kém và ta đã được nâng đỡ.

Có một sư chị đã không chấp nhận cho tất cả các vị tập sự xuất gia được xuất gia. Hồi đó hình như là đợt của các cây Trà Mi. Đứng về phương diện sức khỏe thì có một số các sư em tương lai ‘Trà Mi’ hơi yếu, và đứng về phương diện thực tập cố nhiên là không có ai hoàn hảo rồi, cho nên sư chị ấy đã không chịu. Trong số các cây Trà Mi có bốn người phái nữ: đơn xin xuất gia của họ đều bị bác bỏ hết. Nhưng mà đại chúng đã không theo ý kiến sư chị đó; cộng với sự nâng đỡ của thầy, cả bốn vị đều được xuất gia. Kết quả là sau khi xuất gia sức khỏe của bốn vị đều tăng tiến lên rất mau. Ta phải cho họ một cơ hội, ta phải đem tình thương ra mà tiếp xử. Tại vì tình thương đó là tình thương cho ta chứ không phải cho ai khác. Họ cũng là xương thịt của tăng thân, cũng như ta là xương thịt của tăng thân. Những người đã tương đối vững rồi thì đâu cần sự yểm trợ của ta nữa.

Chính những người đang còn yếu thì mới cần đến tình thương của ta, cần sự yểm trợ của ta nhiều hơn. Ta phải đặt ta vào trong da thịt của người đó. Và cái hay nhất là ta trở về lại thời của ta, ta thấy ta yếu kém như thế nào, ta thấy ta lo sợ như thế nào, phập phồng như thế nào khi ta chờ đợi quyết định của tăng thân thì ta sẽ hiểu được người sư em của ta. Và khi thấy được rồi ta sẽ tìm đủ cách để giúp người sư em đó. Khi người ta có một cái tâm, một ý chí tu học, một khối lửa trong lòng mà ta làm khó họ thì có thể họ đánh mất cơ hội đó và mất cả một đời tu của họ. Và vì vậy, những lời được nói ra phải rất là cẩn thận. Lời nói ấy quyết định số mạng của một người nên ta phải cẩn thận lắm mới được.

Khi ta bắt đầu mở lời soi sáng cho người ấy, ta có tất cả sự khiêm cung, tất cả sự thận trọng, và thấy được ta là ai trong hiện tại cũng như trong quá khứ. Lúc đó những điều ta nói sẽ có ích lợi, sẽ được tiếp nhận dễ dàng bởi người được soi sáng. Sau khi ta nói được hết những điều ta thấy rồi thì ta nghĩ rằng ngồi đây ta sẽ được nghe những ý kiến khác, cho nên ta mở rộng lòng ra để mà nghe người thứ hai nói.

Trong khi người thứ hai nói, người ấy có thể có những ý kiến phù hợp với ta và những ý kiến không phù hợp với ta, thì ta lại có một cơ hội để xét lại cái thấy của mình. Có thể ta thấy người này có một vài tri giác mà ta cho là sai lầm và ta không thích, nhưng ta có thể thấy được rằng người này cũng có vài nhận thức chính xác, có những cái thấy mà ta chưa thấy. Có thể là sau khi nghe người thứ hai nói thì ta đã thay đổi được quan niệm của ta một ít rồi. Dù ta chỉ thay đổi 1/10 quan điểm của ta thì ta cũng đã học hỏi được thêm rồi.

Đến khi người thứ ba mở lời ra nói thì ta cũng thấy có thể có những cái đúng và những cái mà ta thấy không phù hợp với nhận thức của ta. Và khi nghe người thứ tư nói thì ta lại có thể thấy cái mà ta nghĩ là người thứ hai sai bây giờ không còn sai nữa mà trở thành ra đúng. Và vì vậy cho nên ta cũng như tất cả những người khác ngồi trong buổi soi sáng được tiếp tục học hỏi. Cái này gọi là thực tập ‘kiến hòa đồng giải’.

Ý của ta là Chính Đề. Nếu người kia đồng ý với ta thì không nói gì, nhưng nếu người kia nói rằng cái ta thấy sai thì quan niệm thứ hai này được gọi là Phản Đề. Và cái Chính Đề này đang được đối diện với cái Phản Đề kia. Đối diện lần thứ nhất có thể là chưa có kết quả, tại ta không thấy được những yếu tố tích cực ở trong điều người kia nói, ta chỉ thấy những cái tiêu cực thôi. Nhưng có thể khi nghe một người kế tiếp nói thì tự nhiên trong cái Phản Đề ta thấy có một vài điểm đúng. Ban đầu ta thấy nó không có gì đúng cả, nhưng sau một hồi lắng nghe ta lại thấy trong những điều người kia nói có vài cái đúng, lúc ấy trong cái Chính Đề bắt đầu có sự rúng động, bắt đầu nứt rạn để cho những yếu tố đúng của Phản Đề đi vô.

Thành ra ở trong nhận thức của ta bắt đầu có sự chuyển đổi. Ta nghe hết rồi thì có thể cái Chính Đề của ta dung hợp với những Phản Đề khác để thành ra một Hợp Đề. Và sau khi nghe hết những người trong chúng nói rồi thì ta có một nhận thức rất khác với nhận thức ta có lúc ban đầu. Cuối buổi soi sáng cái thấy của ta trở nên rất gần với cái thấy của tăng thân, cái thấy của ta rất gần với Tăng Nhãn. Trước đó nó chưa phải là cái thấy của Tăng Nhãn, vì bây giờ ta thấy được qua con mắt của người sư anh, người sư chị, người sư em ta. Qua buổi soi sáng ta đã học thêm rất nhiều về người ấy, và có nghĩa là ta đã học thêm về chính ta.

Tất cả những gì của bất cứ ai trong chúng nói ra đều có thể giúp cho ta thấy được ta rõ hơn, chứ không phải chỉ giúp cho ta thấy được người kia rõ hơn. Chúng ta đều là người cả. Chúng ta đều có những hạt giống tốt, những hạt giống xấu. Chúng ta đều có những ưu điểm và những khuyết điểm. Và vì vậy, ngồi trong những buổi soi sáng, ta thấy được ta và ta thấy được người kia, nhờ nhìn người kia mà ta thấy ta. Và khi ta nhìn ta là ta thấy được người kia. Trong đời sống, có rất nhiều khi ta không nhìn thấy ta, điều đó rất nguy hiểm. Và không nhìn thấy được ta thì làm sao nhìn thấy được người kia. Cho nên “cái Đốt và cái Bị Đốt”[1] liên hệ với nhau một cách rất mật thiết, không thấy được cái Đốt thì không thể thấy được cái Bị Đốt.

Thường thường nếu chưa quen thì ta sợ đi vào ngồi trong những buổi soi sáng. Ở những giai đoạn đầu thì trong các buổi thực tập soi sáng của Làng Mai, đương sự không có mặt. Chính đương sự cũng không thích, vì ngồi đó thì cảm thấy hơi khó. Nhưng sau nhiều tháng thực tập rốt cuộc tất cả bảy tăng thân đều áp dụng cách soi sáng với sự có mặt của đương sự, bởi vì sự có mặt của đương sự đem lại rất nhiều lợi ích. Cố nhiên soi sáng có nhiều phần, phần thứ nhất là nói về ưu điểm của người kia. Nói về những ưu điểm của người kia không phải để khen, để tưới hoa, không phải để làm cho người kia hoan hỷ. Nói về những cái tốt của người kia cũng là soi sáng và vì vậy ta phải biết cách nói. Thế nào người kia cũng có cái tốt, và khi nói về cái tốt đó ta không làm cho người kia tự hào mà để người kia có dịp nuôi dưỡng và phát triển thêm. Người kia không trở nên tự mãn về cái tốt của họ. Ta chỉ làm cho hẹp lại cái hố ngăn cách giữa những tích cực và tiêu cực. Bởi vì thật sự cái tiêu cực sẽ có thể trở thành cái tích cực, và rác có thể trở thành hoa nếu ta biết cách.

Sự có mặt của đương sự ở trong buổi soi sáng đó giúp cho tất cả mọi người, giúp cho cả đương sự. Đương sự ngồi lắng nghe mà không nói câu nào hết và tập mở rộng lòng ra để nghe. Đương sự không nói sư anh nói đúng hay là sư anh nói sai, cứ nghe sư anh nói và không sợ hãi. Nếu sư anh hiểu lầm về ta thì sau buổi soi sáng ta có dư cơ hội để tới giúp sư anh lấy tri giác sai lầm của sư anh ra. Ta biết là ta sẽ có thể làm điều đó cho nên ta không ngồi đó mà giận, ta không ngồi đó rồi tự nhủ: “Được há, kỳ sau đến phiên tôi soi sáng rồi sẽ biết”.

Trong khi ngồi nghe mà nếu ta thấy có một người sư anh hay một người sư em có tri giác sai lầm thì ta nói: “Được rồi, tội nghiệp quá đi! Chắc mình đã có vụng về nào đó khiến cho người này hiểu lầm mình như thế”. Ta phải tìm ra cho được nguyên do hiểu lầm kia, và nhất quyết làm thế nào để lấy được cái tri giác sai lầm đó ra khỏi người sư anh hoặc người sư em kia. Vì vậy ta ngồi rất yên, và ta có thể mỉm cười được. Thành ra người được soi sáng phải học cách ngồi để được soi sáng. Và ngồi một cách rất vô úy. Nếu quả thật người đó nói trúng điểm yếu của ta thì ta nói: “Chết rồi, vậy mà lâu nay mình không biết, nhờ bây giờ sư anh chỉ cho mới thấy”.

Ta tu là ta muốn đi tới, thành ra ta phải biết phát khởi tâm niệm biết ơn. Tại người ta thương cho nên mới nói, mà người ta nói đây không phải để chỉ trích, mà là để nâng đỡ soi sáng cho ta. Mà dù người ấy có chỉ trích để trả thù ta, thì ta vẫn có thể ngồi đó mỉm cười và tự nói: “Cái này đâu phải là soi sáng, cái này là trả thù mà.” Ta có thể làm hay hơn vậy. Đến lượt ta soi sáng, ta sẽ không làm vậy. Ta thấy ta không giận. Thành ra người được ngồi soi sáng phải thực tập mới có thể làm hay được, mới có thể an nhiên tự tại và tươi cười (be his best) được. Và khi ta ngồi được như vậy thì ta có thể làm gương được cho người khác.

Có những người ngồi để được soi sáng mà cứ mỉm cười hoài, ai nói chi họ cũng chỉ cười. Cái lợi của việc có đương sự ngồi đó là ta phải cân nhắc những chữ và những lời ta nói. Tại ta biết rằng ta đang ngồi trước một cái hoa và ta có thể làm cho cái hoa nhầu, thành ra ta lựa những lời và những chữ nhẹ nhàng. Mục đích của ta không phải để tấn công, mục đích của ta là đưa được vào trái tim người đó những điều ta nghĩ rằng người đó cần phải tiếp nhận. Vì vậy, ái ngữ rất quan trọng. Ta có cơ hội để thực tập ái ngữ. Có đương sự ngồi đó là ta có cơ hội thực tập ái ngữ. Ta không nói rằng: “Nói ra thì lỡ người đó giận, thôi đừng nói nữa.” Nói như vậy là ta không thực tập. Thầy dạy ta, Bụt dạy ta là phải thực tập ái ngữ. Còn câm như hến thì không phải thực tập. Vì vậy khi đến phiên ta, ta phải làm bổn phận cho đàng hoàng. Ta phải thở, phải chắp tay, phải dùng ái ngữ, phải có tình thương, đó là thực tập. Thành ra những buổi soi sáng như vậy là những buổi thực tập rất nhiệm mầu chứ không phải là lao tác. Vì vậy ta đừng đợi tới giờ chót rồi mới tổ chức soi sáng. Soi cho mau mau mà soi không đàng hoàng, soi không kỹ thì tội cho chúng, tội cho các đương sự và cho chính mình. Nếu cần thì bỏ ngồi thiền để có giờ mà thực tập soi sáng. Đó là chuyện Xóm Thượng đã làm mấy ngày hôm nay. Nhưng nếu Xóm Thượng bắt đầu làm trước đây một tháng thì vẫn hay hơn.

Khi ta nghe người kế tiếp soi sáng có những điều trái chống với cái thấy của người vừa soi thì ta bực bội. Ta không bực bội đương sự nhưng ta lại bực bội người soi sáng này, tự nhủ tại sao mà ý kiến của người này cổ hủ, khắt khe và hẹp hòi, rồi ta đâm ra giận người này, người đang soi sáng. Trong khi giận như vậy thì ta không tiếp nhận được gì, tại vì có thể ta đang có cảm tình với người vừa soi xong. Cho nên khi nghe người này nói ta cho là hẹp hòi, là cố chấp, là không có tình thương, rồi ta giận người đó. Như vậy trong khi ngồi trong soi sáng ta không thừa hưởng được lợi lạc nào cả. Ta nói rằng: “A! hẹp hòi quá há!”. Ta có thể cho là người đó hẹp hòi, không có tình thương, nhưng ta lại vẫn có thể nghĩ rằng: “Không sao, vì lâu nay ta không tiếp xúc với người đó, không giúp người đó, cho nên người đó mới có những thái độ hẹp hòi và những tiêu cực mà ta chưa giúp chuyển hóa được. Người đó cũng là sư anh, sư em của ta, thì thế nào sau này ta cũng giúp cho người ấy lấy ra được những thái độ hẹp hòi ích kỷ đó”. Và vì trong lòng ta có tình thương trấn ngự nên ta không đau khổ trong khi ngồi nghe. Nếu ta đau khổ trong khi ngồi nghe tức là ta đã không thực tập.

Nghe những điều trái với nhận thức ta, đó là chuyện cơm bữa, tại sao ta lại giận? Vì vậy cho nên sự thực tập của ta là ‘Kiến Hòa Đồng Giải’. Làm thế nào để ngay trong buổi soi sáng này hoặc ở ngoài buổi soi sáng ta sẽ tìm cách giúp cho người đó thay đổi nhận thức kia đi. Đó chính là sự thực tập của ta. Thực tập của ta là gì khác nữa? Không lý sự thực tập của ta là chỉ là đi nấu cơm, rửa nồi, lái xe mà thôi? Thì chính thời gian nấu cơm, rửa nồi và lái xe cũng là để làm chuyện đó trong chánh niệm, để chiêm nghiệm sâu sắc xem làm thế nào để chuyển hóa tự thân và chuyển hóa người kia.

Nếu ta nuôi sự bực tức trong lòng tức là ta đang không thực tập. Nếu thực tập thì ta biết rằng những quan điểm như vậy đã phát sinh ra từ nhận thức sai lầm, từ thái độ cổ hủ và ta phải làm thế nào để mà giúp chuyển đổi chúng. Trong quá khứ ta đã làm gì để giúp người đó? Nếu ta đã không làm gì để giúp người đó thì tại sao ta lại trách người đó? Và nếu ta hối hận là trong quá khứ ta đã không giúp người đó thành ra người đó mới nói như vậy thì ta sẽ phát nguyện rằng từ đây về sau, sau buổi soi sáng này, ta sẽ tìm cách nói chuyện với người đó để người đó từ bỏ cái thái độ hẹp hòi kia đi. Có được nhận thức như vậy rồi thì ta ngồi yên và cảm thấy an lạc. Cho đến khi ta nghe tới người thứ bảy nói thì ta thấy rằng điều mà người thứ năm nói hình như cũng có một ít sự thực trong đó. Thành ra ta luôn luôn học hỏi bất cứ trong giờ phút nào của buổi soi sáng. Văn bản Quán niệm mở đầu cho buổi soi sáng này cần được in vào trong sách Nhật Tụng Thiền Môn và trong khi chờ đợi ta có thể in vào lá thư Làng Mai sắp tới.

Và đây là những lời quán nguyện truớc bất cứ một buổi họp nào của Tăng Thân, tại vì mỗi buổi họp của tăng thân là một cơ hội. Họp không phải chỉ là để giải quyết công việc, để đi tới những quyết định. Họp cũng là để xây dựng tình huynh đệ. Làm công việc cũng là một cơ hội rất là tốt vì trong khi làm việc chung với nhau, ta có cơ hội hiểu nhau, thấy được những tích cực, tiêu cực của nhau rồi ta tìm cách để cho cái hiểu đó tăng trưởng nơi ta và nơi người khác. Cùng với cái hiểu cái thương cũng được tăng trưởng.

Do đó cho nên tổ chức một cái gì, dù là một khóa tu hay một buổi lễ, cũng là để xây dựng tình huynh đệ. Đừng vì sự thành công của buổi lễ hay khóa tu mà anh em giận nhau thì hỏng hết. Đó là ta đi ngược lại những điều ta muốn làm. Tổ chức một khóa tu, tổ chức một buổi lễ là một cơ hội thực tập chứ không phải là để có thêm danh thêm lợi, để gặt hái những lời khen. Và nếu vì danh vì lợi, vì thành công của khóa tu hay buổi lễ mà làm cho tình anh em, tình chị em sứt mẻ thì thà rằng không tổ chức mà hơn, dầu là tổ chức Phật Đản. Không có lễ Phật Đản mà đôi khi hay hơn tại vì không có Phật Đản thì chị em, anh em không giận nhau.

Đây là văn bản Quán Nguyện trước buổi họp:

Lạy Bụt, lạy Tổ, chúng con xin nguyện họp buổi họp hôm nay trong tinh thần Ý Hòa Đồng Duyệt và Kiến Hòa Đồng Giải. Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp đưa lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam bảo. Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con, nhưng chúng con cũng nguyện sẽ không mở lời nếu chúng con nhận thấy trong tâm còn có tâm hành bực bội. Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp, và lỡ nếu trong số chúng con có người nhận thấy có sự căng thẳng, Chúng con xin lập tức ngừng lại để sám hối tại chỗ và trả lại cho đại chúng không khí Ý Hòa Đồng Duyệt.

Phối hợp những cái thấy với nhau và cùng đi tới một cái hiểu chung, Đó là Kiến Hòa Đồng Giải của đại chúng. Sau đó ai cũng hoan hỷ. Nếu sau buổi họp mà có người không hoan hỷ thì buổi họp đó chưa thành công hoàn toàn. Đây không phải là vấn đề bỏ phiếu để rồi đa số thắng thiểu số. Khi có Kiến Hòa Đồng Giải thì sẽ có Ý Hòa Đồng Duyệt. Tâm ý của mọi người trở thành một khối, trở thành tâm ý chung và mọi người có chung một niềm vui. Và khi tâm ý của ta hòa hợp với nhau và ta tổng hợp được mọi cái thấy và bỏ tư kiến ra để theo cái thấy của tăng thân rồi thì tự nhiên ta có niềm vui. Niềm vui đó sinh ra ở chỗ tâm ý ta đi đôi với nhau, gọi là ‘Ý Hòa Đồng Duyệt’.

Lạy Bụt, lạy Tổ, chúng con xin nguyện họp buổi họp hôm nay trong tinh thần Ý Hòa Đồng Duyệt và Kiến Hòa Đồng Giải. Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp đưa lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam Bảo.

Họp mà có sự chống đối thì đó không thể nào gọi là phẩm vật cúng dường. Ta làm gì cũng là để cúng dường Tam Bảo. Đốt nhang cũng là để cúng dường Tam Bảo, lái xe đi đón một người bạn thiền sinh cũng là để cúng dường Tam Bảo, hay chùi cầu tiêu cũng là để cúng dường Tam Bảo, và họp buổi họp cũng là để cúng dường Tam Bảo. Nếu họp một buổi họp mà có sự chống đối, buồn giận thì đó không phải là một phẩm vật cúng dường.

Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp mang lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam Bảo. Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con.

Ta thấy cái gì thì ta nói cái đó. Ta không cần che giấu nhưng ta phải sử dụng ái ngữ. Chứ không phải nói để cho tan nát hết rồi nói “tôi chỉ nói sự thật thôi mà!” (I only spoke the truth!) Nói sự thật như vậy thì thà đừng nói. Nói mà làm tan vỡ tình anh chị em thì không nên nói. Phải có những phương pháp khác, phải có những biện pháp khác.

Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con, nhưng chúng con cũng nguyện sẽ không mở lời nếu chúng con nhận thấy trong tâm còn có tâm hành bực bội.

Khi trong tâm còn có bực bội thì ta không nên nói, ta phải thở cho đến khi nào không còn cảm thấy bực bội thì mới nên nói. Trong khi nói mà thấy bực bội trở lại thì phải im lặng và xin phép để sau sẽ nói tiếp. Khi có bực bội mà nói thì đó không phải là phẩm vật cúng dường. Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra. Nếu có sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp thì nên chấm dứt buổi họp. Điều này tôi đã từng đề nghị cho ông chủ tịch quốc hội Ấn Độ, mỗi khi có sự căng thẳng thì có người thỉnh tiếng chuông để thở. Khi nào thấy không khí lắng dịu thì vị chủ tọa của buổi họp mới cho tiếp tục mà thôi. Và ông đã lắng nghe rất thích thú.

Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp, Và lỡ nếu trong số chúng con có người nhận thấy có sự căng thẳng, chúng con xin lập tức ngừng lại để sám hối tại chỗ và trả lại cho đại chúng không khí Ý Hòa Đồng Duyệt.

Ý hòa đồng duyệt là không khí phải có lúc bắt đầu và lúc chấm dứt buổi họp.

Sự thực tập soi sáng này rất quan yếu và nếu cần ta sẽ chú giải thêm văn bản này để chia sẻ với các tăng thân khác trên thế giới.


[1] Phẩm 10 ‘Phá Đốt và Bị Đốt’, Trung Quán Luận của tổ Long Thọ – Bài giảng trong Khóa Tu Mùa Đông 2002 – 2003

Pháp thoại ngày 5 tháng Giêng năm 2003 Xóm Hạ, chùa Cam Lộ, trong khóa tu An Cư Kiết Đông 2002-2003

Tịnh Độ cầm tay

Có một cặp vợ chồng ở bên Đức qua và đang ở lại đây một tuần. Cả hai còn trẻ và đang tu theo Tịnh Độ. Họ nói với sư cô Chân Không là họ cũng thích tu Thiền nhưng họ chọn theo Tịnh Độ bởi vì: “Lỡ mình chết thì mình về Tịnh Độ liền, còn nếu mình tu Thiền thì hơi nguy vì tu Thiền mà lỡ nửa chừng bị chết thì mình không biết sẽ đi về đâu. Thành ra tu Tịnh Độ cho chắc ăn”. Sư cô Chân Không đã chỉ bày họ thấy được cái tánh bất nhị giữa Thiền và Tịnh Độ và họ đã hiểu.

Khi học về tư tưởng Phật giáo, chúng ta thấy rõ rằng trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế, các thầy các sư cô đã tu với mục đích để đạt được quả vị A La Hán, thoát ly sinh tử. Còn quý vị Phật tử cư sĩ thì tu để có hạnh phúc và để được sanh ra về cõi Trời hay ít nhất là cõi Người, chứ chưa nghe nói tới cõi Tịnh Độ. Trong thời gian Bụt còn tại thế thì danh hiệu đức A Di Đà chưa được nhắc tới. Trong thời vua A Dục, thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, thì đạo Bụt đã được truyền qua Iraq, Iran và Afganistan. Đạo Bụt cũng đã tiếp thu được những yếu tố văn hóa của các nước đó để có thể thích ứng với môi trường, xã hội và văn hóa của các nước này. Thời xưa ở Iran đã có tín ngưỡng thờ mặt trời, và cái ý niệm vô lượng quang, vô lượng thọ đã có sẵn trong truyền thống tâm linh của những đạo giáo bản xứ. Cho nên Tịnh Độ của đức A Di Đà vô lượng quang vô lượng thọ cũng là một pháp môn của đạo Bụt để thích ứng với môi trường văn hóa của Iran. Nhờ tiếp thu được với những nền văn hóa trong nội địa và xung quanh nên đại thừa đã được phát sinh và vì vậy đạo Bụt có thể đi khắp thế giới.

Khi mang đạo Bụt đi sang Tây phương, chúng ta phải biết sử dụng những yếu tố văn hóa của Tây phương để chế tác ra những pháp môn mới, những pháp môn có thể chuyên chở được tinh thần của Phật giáo nguyên thủy tức là Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn, Tam Pháp Ấn. Những giáo lý ấy phải được biểu hiện bởi những pháp môn mới thì đạo Bụt mới có thể cắm rễ và thành công được ở Tây phương. Đạo Bụt vẫn là đạo Bụt nhưng mà hoa trái nở ra phía trên có thể rất mới. Cách đây 22 năm tại Làng Mai chúng ta có trồng rất nhiều cây cải bẹ xanh ở Xóm Hạ. Đất ở bên này tốt và những cây cải đó vào mùa Đông được trồng trong những nhà kính. Ban ngày những cây cải này thâu nhận ánh sáng mặt trời để lớn, lá vươn cao, nhưng ban đêm lạnh quá thành ra chúng phải gồng mình, lá ụp xuống và trên thân cải mọc lên rất nhiều gai. Ở Việt Nam thì những cây cải như vậy không bao giờ có gai! Ở đây nó phải thích ứng với địa phương và những cây cải này nặng từ 2 đến 3 kg. Một cây cải cũng phải tìm cách để có thể thích ứng với địa phương mới có thể sống được huống hồ là một truyền thống. Cho nên truyền thống của ta một khi sang Tây phương phải tìm cách để thích ứng với phong thổ và tập quán bên này để có thể cắm rễ vào mảnh đất Tây phương, đó là chuyện rất dĩ nhiên. Nếu ta ôm truyền thống với một thái độ bảo thủ thì không thể nào làm được chuyện này.

Phần lớn những chùa Việt Nam được thiết lập tại Tây phương ở bên Mỹ hay ở bên Âu châu chỉ phục vụ được cho đồng bào Việt kiều mà không cung cấp được những món ăn tinh thần cho người Tây phương. Cây Phật giáo ta đem trồng sang bên này dưới hình thức các chùa Việt Nam cũng giống như những cái cây trồng trong chậu và chỉ có thể phục vụ được cho Việt kiều. Thỉnh thoảng có một vài người Tây phương đến chùa và cảm thấy là lạ vui vui nhưng chưa tìm thấy một cái gì đó quen thuộc với họ. Người Trung Quốc đã làm như vậy, người Đại Hàn đã làm như vậy, người Nhật Bổn cũng đã làm như vậy. Họ đã thiết lập những ngôi chùa ở Âu châu, ở Mỹ châu. Các thầy Tây Tạng đã làm khá hơn và đã có khả năng lấy cây ra khỏi chậu. Các thầy và các sư cô người Việt ở bên này chưa làm được như các thầy các sư cô Tây Tạng. Để cây trong chậu hoài thì lâu ngày đất trong chậu sẽ hết chất bổ và cây sẽ yếu. Các bậc phụ huynh cha mẹ còn đến chùa nhưng con cái thì đã thành Tây thành Mỹ, các em cảm thấy không thoải mái khi đến chùa. Khi hết thế hệ cha mẹ rồi thì đạo Phật với hình thức Á châu sẽ không còn phục vụ được cho người trẻ. Vì vậy ta rất cần đem cây ra khỏi chậu và tìm cách trồng xuống đất. Ban đầu có thể khó khăn nhưng chịu khó chăm sóc thì cây sẽ có khả năng cắm rễ. Lúc đó ta mới mong phục vụ được nhu cầu văn hóa và xã hội địa phương. Đức Thế Tôn đã từng sử dụng những yếu tố văn hóa địa phương để sáng chế ra những pháp môn và các đệ tử của Ngài cũng có khả năng đó. Các vị biết sử dụng các yếu tố văn hóa địa phương để chế biến ra những pháp môn mới như Tịnh Độ tông và Mật tông. Chúng ta đã học tới các nền văn học bản sinh và thí dụ. Chúng ta biết rằng các nền văn học bản sinh và thí dụ đã sử dụng rất nhiều truyện cổ tích và thần thoại của Ấn Độ để chuyên chở giáo lý nghiệp báo và nhân quả của đạo Bụt. Chư Tổ nhờ đó đã chuyên chở được cái lý tưởng Bồ Tát vào truyền thống mà trước kia chưa có. Trước đó chỉ có lý tưởng Thanh Văn, Duyên Giác và La Hán mà thôi. Là con cháu, chúng ta cũng phải làm được như Tổ tiên. Vấn đề là trong khi tiếp thu và chế biến, chúng ta phải giữ được cái bản chất của Phật giáo. Những pháp môn chúng ta cống hiến phải chứa đựng, phải chuyên chở những cốt tủy của Phật giáo, trong đó có tuệ giác Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn, Tam Pháp Ấn và Tam Giải Thoát Môn. Ta phải nắm được cái tinh yếu trước khi ta có khả năng tự do chế biến. Đức Thế Tôn là một người có tự do. Các thế hệ đệ tử sau này nhiều vị cũng là người có tự do cho nên họ đã chế biến được nhiều pháp môn mới và làm cho cây Phật giáo được tồn tại mãi cho đến hai ngàn sáu trăm năm sau. Chúng ta là đàn hậu tấn, chúng ta phải học được bài học của cha ông. Chúng ta phải thông minh, phải có óc sáng tạo, trong nước cũng như ngoài nước.

Hiện bây giờ ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, chúng ta đã đánh mất vai trò lãnh đạo tinh thần trong lãnh vực kiến thức, kinh tế và chính trị. Hồi xưa, khi các vị vua gặp những khó khăn, họ luôn luôn tìm đến các thầy, các vị quốc sư để nhờ sự soi sáng. Các nhà chính trị đã nhìn lên các thầy như là người lãnh đạo tâm linh. Còn bây giờ các nhà chính trị không có nhìn như vậy nữa, họ nhìn xuống ta tại vì ta không thể cung cấp được cho họ chiều sâu tâm linh. Ta không cố vấn được cho họ trên phương diện chính trị, xã hội và văn hóa. Không phải ta thiếu học về những cái đó nhưng vì ta không có đủ cái thực chứng của tuệ giác. Khi có tuệ giác rồi thì nhìn vào kinh tế ta sẽ hiểu về kinh tế, nhìn vào chính trị ta sẽ hiểu về chính trị.

Chúng ta đã từng tổ chức những khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu. Muốn làm nhà tâm lý trị liệu ta phải học tâm lý học rất nhiều năm. Chúng ta không cần phải học nhiều như họ, nhưng chúng ta có thể giúp họ tại vì chúng ta có tuệ giác của đạo Bụt. Đứng về phương diện kinh tế cũng vậy, chúng ta đã mở những khóa tu cho các nhà lãnh đạo doanh thương. Chúng ta không cần có kinh nghiệm doanh thương như họ, không có đi học trường doanh thương như họ, nhưng chúng ta có thể giúp họ được như thường tại vì chúng ta có tuệ giác của đạo Bụt và cũng tại vì chúng ta có thể hiểu được những khổ đau của nhà doanh thương. Ta giúp họ có thể chuyển hóa được những khó khăn trong lòng và những pháp môn ta cống hiến cho họ tu tập không có hại gì đến công việc của họ, trái lại có thể làm cho sự nghiệp của họ được tăng tiến. Vì vậy điều quan trọng không phải là học những môn học đó mà phải nắm được tuệ giác của đạo Bụt. Có tuệ giác rồi thì nhìn vào cái gì ta hiểu cái đó. Ta đã giúp cho giới y khoa bác sĩ, ta đã giúp cho giới cảnh sát công an và ta đã giúp cho giới dân biểu. Làm gì ta có kiến thức như họ về những ngành đó, nhưng mà ta giúp được. Tại sao? Tại vì ta có một con đường tâm linh có thể đem tới cho họ được niềm tin.

Chúng ta phải làm mới sự học hỏi và tu tập của mình để có thể lấy lại vai trò lãnh đạo cho xã hội. Xã hội không thể không có một hướng đi tâm linh. Không có hướng đi tâm linh thì sẽ sinh ra tham nhũng, hư hỏng. Đó là cái gì đang xảy ra trên đất nước. Nếu chúng ta chỉ nghĩ tới cái chùa, cái tổ chức, hay để tâm vào việc xây dựng và tổ chức thì chúng ta sẽ không có thì giờ đi sâu vào sự thực tập đào xới để làm cho mạch nước của tâm linh được trào lên. Như vậy chúng ta đã phí thì giờ và cuộc đời của chúng ta, nhất là cuộc đời một người xuất gia. Chúng ta phải xử lý và áp dụng thì giờ một cách khôn khéo. Chúng ta không nên phung phí thì giờ vào những công việc không cần thiết. Một ông thầy tu đi học y khoa đó là một sự sai lầm. Một ông thầy tu đi học luật là sai lầm. Chính ông thầy tu đi học để trở thành một học giả về Phật học cũng là sai lầm, vì cuộc đời ít cần học giả bằng hành giả. Chúng ta cần những người có tuệ giác. Ở đời cũng có những nhà Phật học rất nổi tiếng, thông bác về kinh điển, về Phật học, nhưng không thể giải quyết được những khó khăn, những khổ đau của họ, vì vậy họ không thể nào trở thành một nhà lãnh đạo tâm linh. Thiền sinh tới với chúng ta ở đây phần lớn là người trí thức, người trẻ. Họ tới không phải vì chúng ta có kiến thức ngoài đời, có bằng cấp này bằng cấp nọ, mà vì chúng ta có pháp môn tu tập để chuyển hóa khổ đau. Sự thật là như vậy! Cho nên ta phải nắm lấy những pháp môn tu học. Ta phải có khả năng chuyển hóa những khổ đau nơi chính bản thân và giúp cho anh em ở trong nhà làm được việc đó. Đến lúc đó ta sẽ sẵn sàng để đóng vai trò độ đời và ta có thể khôi phục lại vai trò lãnh đạo tâm linh của người tu sĩ.

Trở lại câu chuyện Tịnh Độ. Ở trong đạo Cơ Đốc có người cũng suy nghĩ tương tợ như cặp vợ chồng trên. Có người đã tính toán như thế này: Cứ tin Thượng Đế đi, không có lỗ đâu. Nếu có Thượng Đế thì khi chết mình được về Thiên đường, còn nếu không có Thượng Đế thì thôi, mình có mất mát gì đâu! Còn nếu mình không tin, lỡ ra có Thiên đường thì uổng biết mấy. Cũng vậy, tu Tịnh Độ chắc ăn hơn. Lỡ mình chết thì mình có chỗ về ngay, còn tu Thiền thì không chắc ăn lắm. Chưa đạt tới giải thoát mà đã chết thì mình sẽ không biết đi về đâu. Mình sẽ thành con ma đói đi vòng vòng… Tính toán cũng như nhau, tuy là hơi khác một chút. Theo tôi nếu đợi đến chết rồi mới sanh về Tịnh Độ thì có thể trễ, tại sao không sống Tịnh Độ liền ngay bây giờ? Mà Tịnh Độ liền ngay bây giờ là cái có thể làm được. Phép thực tập Hiện pháp lạc trú, Hiện pháp Tịnh Độ, phương pháp “mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ” là quà tặng quý nhất của Làng Mai. Ta tặng cho bạn Tịnh Độ ngay trong bây giờ.

Mấy năm trước đây có một vị thượng tọa rất dễ thương từ Việt Nam qua. Thượng tọa đã xây chùa nhiều, hiện làm chủ tới bảy ngôi chùa lớn và thượng tọa còn làm công việc xã hội rất giỏi. Qua bên này là một cơ hội để gặp Sư Ông Làng Mai. Ban đầu gặp Sư Ông, thượng tọa nói đến chuyện làm sao để có thể giúp đỡ việc làm xã hội bên nhà. Sư Ông nói: “Tu không lo tu mà cứ lo làm xã hội. Xã hội ai mà không làm được. Tu mới khó chứ!” Thượng tọa nghe như vậy đã không giận, trái lại đã giật mình tỉnh thức và thấy được rõ ràng đó là cái mục tiêu đầu tiên của mình khi phát tâm đi xuất gia. Khi lăn mình vào việc xây dựng, mình có thể đánh mất mình, đánh mất cái chủ đích đầu tiên của mình là tu học để đạt tới thảnh thơi và giải thoát. Công việc xây dựng cũng hấp dẫn lắm, làm thành công thì được người ta khen ngợi và khi ngắm công trình xây dựng của mình thì mình thấy thỏa mãn. Nhưng đó đâu phải cái hoài bão ban đầu của người đi tu. Món quà lớn mà thượng tọa nhận được từ Sư Ông là phục hồi được tâm ban đầu, nghĩa là sơ tâm của người xuất gia.

Châu báu chất đầy thế giới
tôi đem tặng bạn sáng nay
một vốc kim cương sáng chói
long lanh suốt cả đêm ngày.
Mỗi phút một viên ngọc quý
tóm thâu đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày.
Chim hót thông reo hoa nở
trời xanh mây trắng là đây
ánh mắt thương yêu sáng tỏ
nụ cười ý thức đong đầy.
Hỡi người giàu sang bậc nhất
tha phương cầu thực xưa nay
hãy thôi làm thân cùng tử
về đây tiếp nhận gia tài.
Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
và an trú phút giây này
hãy buông thả dòng sầu khổ
về nâng sự sống trên tay.

Trên đây là một bài hát mà cũng là sự thực tập. Tại Làng Mai chúng ta thực tập thiền đi. Chúng ta đi như thế nào để mỗi bước chân ta dẫm lên được Tịnh Độ. Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ. Chúng ta đi như người thảnh thơi, người giác ngộ. Chúng ta không đi như một người bị ma đuổi. Là giáo thọ ta làm điều đó mà sa di ta cũng làm như vậy. Hai thầy trò đều cùng đi trong Tịnh Độ. Đẹp biết bao nhiêu mà kể. Hai thầy trò đều có thảnh thơi, đều có hạnh phúc ngay trong giây phút đi. Đức Thế Tôn đã từng nói rất rõ là “quá khứ đã đi qua, tương lai thì chưa tới”. Sự sống đang có mặt đó và tất cả những nhiệm mầu đang xảy ra trong ta và xung quanh ta. Vậy cho nên ta hãy tỉnh dậy, đừng chạy về tương lai nữa. Hãy thưởng thức những cái kỳ diệu của sự sống ngay trong giây phút hiện tại. Trời mưa cũng đẹp, trời nắng cũng đẹp. Trời có sương mù cũng đẹp, trời tuyết cũng đẹp. Mùa xuân đẹp mà mùa thu cũng đẹp. Lá xanh cũng đẹp mà lá đỏ cũng đẹp… Nếu ta không có mặt thì những mầu nhiệm ấy sẽ đi qua như một giấc mơ. Cho nên công phu là gì? Công phu là sống sâu sắc đời sống hằng ngày, thở mỗi hơi thở, bước một bước chân là ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống. Nếu có một chút niệm, một chút định thì ta làm được điều đó ngay. Nhờ vậy mà ta nối tiếp được sự nghiệp của Đức Thế Tôn.

Có những bài kệ mà chúng ta đã học thuộc lòng như bài:

Đã về đã tới
Bây giờ ở đây
Vững chãi thảnh thơi
Quay về nương tựa…

Hoặc là bài:

Đây là Tịnh Độ
Tịnh Độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay…

Hay là bài:

Vào, ra,
Sâu, chậm
Khỏe, nhẹ
Lặng, cười
Hiện tại, tuyệt vời

Những bài này đã được làm ra nhạc để ta có thể học thuộc dễ dàng. Bất cứ một bài kệ nào chúng ta cũng có thể áp dụng để thở, để đi. Những bài kệ đó cũng có thể áp dụng trong khi ăn cơm. Ví dụ như bài: Đây là Tịnh Độ – Tịnh Độ là đây… Ta có thể nhai cơm theo nhịp đó. Người ta thấy ta nhai nhưng họ đâu biết là ta đang tu. Khi nhai hết một bài thì cơm trong miệng đã trở nên rất nhuyễn, nuốt vào rất ngon và rất dễ tiêu. Ta đang ăn cơm như mọi người nhưng ta có Niệm và có Định. Bất cứ một bài kệ nào ta cũng có thể sử dụng trong khi ăn. Như vậy, ta có mặt một cách đích thực và thực sự đang ngồi ăn trong Tịnh Độ. Ta có thể ăn cơm với bài Đã về đã tới… Ta thấy rõ ràng là ta đã về đã tới, là ta đang an trú trong hiện tại. Đây là Tịnh Độ.

Đôi khi trong lúc đi thiền, bước lên trên thảm lá vàng ta thấy mầu nhiệm quá. Thảm lá vàng này còn đẹp hơn vườn ông Cấp Cô Độc khi ông đem vàng lá lót lên để trả cho thái tử Kỳ Đà. Vàng lá lót đâu có đẹp, dẫm lên đâu có dịu dàng như lá vàng mùa thu! Mỗi khi dẫm lên lá mùa thu ta thấy rõ ràng rằng ông Cấp Cô Độc dễ thương quá. Kỳ này ông không rải lên thứ vàng khi đi kêu răng rắc mà một thứ vàng bước lên rất mềm, rất đẹp. Mỗi bước chân là một hạnh phúc. Nếu đi trên những thảm lá vàng đó trong mưa phùn mùa thu mà không thấy hạnh phúc thì dầu có qua Tịnh Độ ta cũng không có hạnh phúc. Tịnh Độ có thể không đẹp bằng bên này. Hoa sen có thể lớn bằng bánh xe thật, nhưng nếu dưới ao toàn là vàng mà không có bùn thì làm sao cho sen đẹp và thơm? Ta không nên bỏ hình bắt bóng, hãy tập sống với những mầu nhiệm của sự sống hiện tại mà đừng mơ tưởng một cái gì ở tương lai. Bỏ hiện tại là đi trái với giáo lý tu tập Hiện pháp lạc trú. Khi hướng dẫn cho những nhà chính trị, những nhà kinh doanh, những nhà dân biểu quốc hội thì ta cũng chỉ hướng dẫn như thế thôi. Không cần giảng nhiều. Khi họ thấy ta đang làm được như vậy, đang đi, đang ngồi, đang thở trong Tịnh độ thì họ cảm được. Ta không cần phải làu thông kinh sử thì mới có thể giúp họ. Ta chỉ cần có khả năng sống thảnh thơi, sống an lạc. Ta phải có khả năng tháo gỡ những buồn giận, những lo âu của mình. Khi thở vào chúng ta nói con đã về. Câu con đã về đó không phải là lời tuyên bố, không phải là một bản thông cáo mà là sự thực tập. Bạch ĐứcThế Tôn con đã về. Đem tất cả Niệm và Định để bước bước chân đó. Về đâu? Ta về trong giây phút hiện tại và thiết lập thân tâm ở giây phút hiện tại. Đó là đã về. Bạch Đức Thế Tôn con đã tới. Tâm ta không bay đi đâu cả, tâm ta ở với thân ta và cũng dẫm lên mặt đất với bàn chân của ta. Con đã về thật rồi, con không còn đi hoang nữa. Con đã tới thật rồi, con đang tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Ta đã về thật sự chưa, ta đã tới thật sự chưa thì tự ta biết. Nếu tâm ta không còn rong ruổi thì mỗi bước chân như vậy chứng tỏ đã về, mỗi bước chân như vậy chứng tỏ ta đã tới. Lúc đó thì ta mới thành công. Thành công một bước thì ta sẽ thành công hai bước và sẽ thành công được bước thứ ba. Cố tâm thì làm được chứ không có gì khó.

Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ là chuyện ta có thể làm được trong ngày hôm nay và làm như thế nào để sự thực tập ấy trở thành một tập khí tốt, một thói quen tốt. Đi đâu ta cũng mang Tịnh Độ đi theo, giống như đời nay đi đâu cũng mang theo điện thoại cầm tay vậy. Ta gọi là Tịnh Độ cầm tay (portable Pureland.) Ta đi cho cha, ta đi cho mẹ. Suốt đời ba, ba lo lắng, ba có thể chưa bao giờ có được giây phút dừng lại ngồi yên mà bước trong Tịnh Độ. Vậy bây giờ ta đi cho ba. Ba ơi, đi với con một bước đi ba. Cha con mình đã về, cha con mình đã tới. Làm được như vậy thì ta là người con có hiếu nhất trong số những người con có hiếu. Mẹ ta suốt đời tất tả ngược xuôi, bận rộn suốt đời chưa bao giờ có được một phút thảnh thơi an lạc. Ta mời mẹ đi, mẹ ơi đi với con một bước. Mẹ ơi con đã về, mẹ cũng đã về. Mẹ ơi con đã tới, mẹ cũng tới với con. Đó là những điều ta có thể làm được ngay bây giờ, không cần phải tu luyện tám năm sau mới có thể làm được. Nếu quyết tâm thì nội trong một giờ đồng hồ thực tập ta đã có sự thay đổi trong thân và trong tâm ta rồi. Huống hồ là ba tháng, là một năm hay bốn năm. Khi ta bước đi trong Tịnh Độ được rồi thì ta có thể giúp cho những người khác đi trong Tịnh Độ. Người khác đó là ai? Là những người trong gia đình ta, là những người trong xã hội đang đau khổ và tìm tới với ta. Đi được như vậy trong Tịnh Độ, thở được như vậy trong Tịnh Độ, ăn được như vậy trong Tịnh Độ rồi thì ta có thể xử lý và chuyển hóa được dễ dàng những nỗi khổ niềm đau ở trong ta. Còn nếu chưa đi được như vậy, chưa ngồi ăn được như vậy, chưa thở được như vậy thì ta vẫn còn là nạn nhân của những nỗi khổ niềm đau trong lòng.

Nay con đã về, nay con đã tới. Đó không phải là những lời tuyên bố, đó là sự thành công. Khi mình đi thiền hành với đại chúng, mình đi với một tốc độ để đừng chặn đứng những người ở phía sau, nhưng khi đi thiền một mình thì ta có thể đi chậm bao nhiêu cũng được. Ta phải rèn luyện để cho mỗi bước ta đều về được, mỗi bước ta đều tới được. Đây là Tịnh Độ, Tịnh Độ là đây. Đúng là Tịnh Độ rồi, ta không cần phải đi kiếm nữa. Con đang mỉm cười chánh niệm và con đang an trú ngay giờ phút này. Bụt là một chiếc lá đỏ. Con thấy Bụt trong chiếc lá đỏ. Con thấy Pháp trong một đám mây bay và con thấy Tăng thân. Chỗ nào cũng có Tăng thân, từ hạt sỏi, từng dòng nước đều là Tăng thân của con, tất cả đều tu tập với con. Và quê hương của con là ngay tại đây. Tịnh Độ ở đây.

Đối với cặp vợ chồng kia ta phải nói cho họ biết là chúng tôi đang tu Tịnh Độ. Chúng tôi đòi hỏi Tịnh Độ liền ngay bây giờ và chúng tôi có những dụng cụ, những pháp môn để có Tịnh Độ liền ngay bây giờ, cũng như quý vị đang có cái máy điện thoại có thể nói liền sang bên Đức lập tức. Ta nói rằng bây giờ bỏ Tịnh Độ hiện tại mà đi tìm Tịnh Độ tương lai là không thực tế lắm. Khi thuyết giảng cho những bạn Cơ Đốc, tôi cũng cống hiến cho họ những cái thấy như vậy. Không phải vì họ là người Cơ Đốc mà ta tặng cho họ một món quà nhỏ hơn. Cách đây 22 năm giảng cho một thính chúng 500 người da đen ở trong một Thánh đường gần thành phố Philadelphia tôi cũng nói như vậy. Tôi nói: “Quý vị đừng có đợi đến khi thân hình này tan rã rồi mới đi vào nước Chúa. Nên đi vào nước Chúa liền ngay bây giờ đi. Nếu quý vị có chút Niệm và Định thì chỉ với một bước chân thôi quý vị đã có thể đi vào nước Chúa rồi. Đừng chờ đợi, vì trong Thánh kinh có nói: “Nước Chúa là trong trái tim của quý vị”. Giáo lý này áp dụng cho Phật tử và cũng áp dụng cho người Cơ Đốc.

Trong đại hội Tin Lành và Công giáo ở nước Đức tháng sáu năm ngoái, trong một thính chúng khá đông đảo, với sự có mặt của nhiều vị giám mục và hai giáo đoàn Tin Lành và Công giáo tôi cũng đã nói như vậy. Tôi nói: “Sở dĩ mà tuổi trẻ bỏ nhà thờ hàng loạt cũng là tại vì quý vị. Quý vị không cung cấp cho tuổi trẻ những giáo lý và những pháp môn tu tập để họ có an lạc và hạnh phúc trong hiện tại cho nên họ mới đi tìm an lạc và hạnh phúc nơi tình dục, nơi ma túy, nơi danh lợi, nơi quyền hành. Quý vị phải cung cấp cho giới trẻ những giáo lý để họ có thể nếm được an lạc, hạnh phúc của nước chúa, của Thiên Quốc ngay từ bây giờ. Chính quý vị cũng phải thực tập. Quý vị là mục sư, quý vị là linh mục, quý vị phải có khả năng sống trong nước Chúa bây giờ với sự an lạc, với sự hạnh phúc thì quý vị mới thuyết phục được chúng tôi. Theo cái thấy của tôi thì Phúc Âm có dạy rằng: Nước Chúa đang có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Quý vị cần cung cấp giáo lý ấy và những pháp thực tập ấy để cho tuổi trẻ tiếp xúc được những mầu nhiệm trong giây phút hiện tại thì tuổi trẻ mới không bỏ nhà thờ để chạy theo tiếng gọi của tình dục, ma túy…”

Bài pháp thoại nói cho người Cơ Đốc ấy cũng có tầm vóc, cũng có năng lượng lớn như những bài pháp thoại tôi nói cho người Phật tử. Danh từ thì có thể tôi dùng danh từ khác, nhưng nội dung vẫn là nội dung của hiện pháp lạc trú, của Niệm, Định và Tuệ. Sau buổi giảng đó có ba vị Giám mục lên ngồi chung với tôi để cho quần chúng ở dưới đặt câu hỏi. Có một vị Giám mục người Công giáo nói: “Hay lắm! Hay lắm! Giáo lý nước Chúa bây giờ và ở đây rất hay, mình phải thực tập. Nhưng tôi cũng còn muốn có một nước Chúa ở bên kia nữa, ở tương lai nữa.” Tôi hiểu ông Giám mục, lâu nay mình đã đầu tư vào nước Chúa ở bên kia rồi, bây giờ rút lui thì hơi khó. Dù bây giờ mình đã có được nước Chúa ngay giây phút hiện tại. Nhưng không sao. Có hai Thiên Quốc thì càng chắc ăn hơn. Ai cấm mình có cả hai Tịnh Độ?

____________

Pháp thoại ngày 19 tháng 10 năm 2004. chùa Cam Lộ, Xóm Hạ trong khóa tu mùa Thu

Bậc giác ngộ và tên khủng bố

Trong Lâm tế lục có đoạn: Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy cũng như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ Tát và La Hán cũng chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca.

Đối với người Phật tử, Bụt là đối tượng của sự tôn thờ tuyệt đối, của sự mến mộ tuyệt đối, là hình ảnh tuyệt hảo để cho ta noi theo. Chúng ta thường nghĩ, nếu không có hình ảnh của Bụt thì làm sao chúng ta có hướng đi trong cuộc đời. Trong những lúc nguy nan, trong những lúc khổ đau, chúng ta bám vào hình ảnh của Bụt, một tiêu chuẩn tuyệt đối để mà sống, cũng như những người bạn Cơ Đốc giáo bám vào hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu không có hình ảnh của chúa Ki Tô như là chỗ nương tựa để bám víu vào, họ sẽ không thể nào vượt được những giờ phút nguy nan. Ấy vậy mà Tổ Lâm Tế dạy ta đừng có mắc kẹt vào hình ảnh của Bụt và Chúa, tại vì đó chỉ là những hình ảnh của chúng ta đã có về Bụt và Chúa.

Trước hết ta cho rằng Bụt và Chúa là những cái thực tại nằm ở ngoài ta, không phải là ta. Không phải tự mà là tha (the other, l”autre). Quan điểm sai lầm ở chỗ đó. Quan niệm Bụt và Chúa là một thực tại bên ngoài để ta bám víu vào, quan niệm ấy không có khả năng đưa ta đến sự giải thoát. Có thể quan niệm ấy xoa dịu được một phần nào những đau khổ trong chốc lát, nhưng không đưa ta được tới giải thoát. Ta phải vượt thắng quan niệm đó của ta về Bụt và Chúa. Tại vì nó duy trì tình trạng nô lệ của ta. Vì vậy Tổ gọi nó là một cái hố xí. Có người tín đồ nào dám gọi đức giáo chủ của tôn giáo mình là một cái hố xí không? Có người tín đồ của một tôn giáo nào có ý muốn sát hại vị giáo chủ của mình hay không? Nhưng trong thiền tông thì có.

Tổ Lâm Tế kêu gọi chúng ta gặp Bụt thì phải giết Bụt, “phùng Phật sát Phật”, lời dạy này, người có căn cơ thấp bé không thể nào hiểu tới được. Chỉ có những người tu tập đã chín muồi, đã sẵn sàng buông bỏ ý niệm mới có thể tiếp nhận được mà thôi. Nếu Tổ Lâm Tế sinh ra trong truyền thống Cơ Đốc giáo mà nói ra một câu như vậy, thì chắc chắn Tổ đã bị nhà thờ tẩn xuất, và rút phép thông công. Đạo Bụt thì ngộ lắm, Tổ nói như vậy mà vẫn còn tiếp tục hành đạo được. Có những nhà nho nghe Tổ Lâm Tế dạy, nói rằng: “Trời! Nếu ông này không đi tu thì sẽ trở thành tướng cướp”. Tại vì họ không hiểu được Tổ. Tiểu sử của Tổ có ghi chép rằng: khi còn nhỏ Tổ rất hiếu kính với cha mẹ. Vậy mà Tổ lại tuyên bố là “Gặp cha giết cha, gặp mẹ giết mẹ”. Đây là ngôn ngữ của nhà thiền, ta phải chín chắn lắm mới nắm vững được. Còn nếu ta chưa chín chắn, chưa là thiền sư mà đã muốn sử dụng ngôn ngữ này thì sẽ rất nguy hiểm. Chết ta trước, và chết những người khác sau.

Bụt là cái hố xí. Quan niệm của anh về Bụt là một cái hố xí ràng buộc anh, nó bỏ tù anh, và anh phải thoát ra khỏi sự ràng buộc đó. Trong cái nghĩa ấy, hình ảnh các vị Bồ Tát và A la hán mà ta có trong đầu cũng là những cái gông cùm. Ý niệm về Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền mà ta niệm hàng ngày đều là những cái gông cùm mà ta phải thoát ra. Cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm, tức là giết khái niệm đó của ta về Bụt.

Quan niệm về Ông già Noel

Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ông già Noel có thật hay là không có thật? Nhu yếu của sự sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel thì chắc chắn sẽ có một ông già khác. Vấn đề ở đây không phải là tôn giáo, nó là văn hóa. Văn hóa Tây phương mà không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt. Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ. Ông già Noel thường phải mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hài cao (tại vì đi trên tuyết), và thế nào cũng phải có một bộ râu trắng phơ, dài. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình ông không vào bằng cửa thường, tại vì cửa thường đã đóng vào giờ ấy. Ông chui từ trên ống khói đi xuống và chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không có dính lọ nghẹ. Ông không bị nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa, đêm hôm ấy bọn con nít treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin tưởng rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới, và sẽ bỏ vào trong những chiếc vớ của chúng những món quà mà chúng thích. Chúng thật sự tin như vậy.

Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn con nít đi, thì tội nghiệp quá. Nếu một đứa bé mới có bốn tuổi, năm tuổi mà nghe nói: “Ông già Noel là không có thật” thì nó sẽ buồn biết mấy. Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn con nít. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn con nít. Bọn con nít muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó. Rất hay! Ước vọng của bọn con nít là một cái gì có thật, mà những người nghe được, hiểu được ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi bộ hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào cái tướng của ông già Noel thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Vậy thì có ông già Noel, hay là không có ông già Noel? Ta phải nhìn bằng con mắt vô tướng. Nếu ta có một quan niệm về ông già Noel thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của em bé. Em bé đó ngày mai sẽ lớn, sẽ bừng tỉnh, sẽ mỉm cười và sẽ biết rằng: “Mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel của thời ấu thơ. Tuy vượt thoát rồi nhưng mình vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai.

Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đức Văn Thù cũng vậy, đức Phổ Hiền cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nếu chúng ta cho những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng, vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời. Bụt, Chúa và các vị Bồ Tát cần thiết cho cuộc đời. Tuy vậy, nếu chúng ta muốn lớn lên, không phải về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, muốn tiếp xúc được với sự thật thì chúng ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của mình. Chúng ta có quan niệm về Bụt, về Chúa, chúng ta đã sống với quan niệm về Bụt, về Chúa đó từ thời ấu thơ. Khi chúng ta học hỏi, thực tập thì từ từ chúng ta buông bỏ những quan niệm đó về Bụt và về Chúa.

Thầy Thanh Văn hồi còn nhỏ nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối vì thấy ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối để ăn. Đó là cái thấy của thầy Thanh Văn hồi còn 5, 6 tuổi. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao thấy được ước mơ của bọn con nít và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt ở trong những em bé đó, và có mặt ở trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được?

Nhưng sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái nào đó trong văn hóa người ta vẽ ra. Ta phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh để mà tiếp xúc với sự thật. Không phải là Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là đối tượng của sự mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái, nó không phải là một thực thể độc lập ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy rồi, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém ThíchCa. Đây là hai câu chuyện có thể bổ túc cho nhau, nói lên một cách rất tuyệt hảo cái giáo lý vô tướng và vô đắc này. Trước hết ta hãy nói về chuyện Ương Quật Ma (Angulimala).

Câu chuyện về Ương Quật Ma

Trong thành Xá Vệ, ai cũng biết Ương Quật Ma là một kẻ sát nhân. Khi nghe tin Ương Quật Ma xuất hiện trong thành phố, mọi người đều sợ hãi. Có một lần một toán cảnh sát năm chục người đi vào rừng để tìm Ương Quật Ma… Nhưng năm mươi người cảnh sát đó đi vào rừng không thấy trở về. Họ đã bị Ương Quật Ma giết hết. Điều này càng làm cho mọi người kinh sợ. Vua Ba Tư Nặc nghĩ rằng đối với Ương Quật Ma, một toán cảnh sát không đủ, phải huy động cả quân đội mới có thể bắt được Ương Quật Ma. Dân chúng trong thành Xá Vệ có hình ảnh về Ương Quật Ma là một kẻ sát nhân. Họ có hình ảnh về Ương Quật Ma như một ác quỷ không có khả năng hiểu và thương. Tất cả dân chúng trong thành người nào cũng đồng ý là gặp Ương Quật Ma thì phải giết, phải tiêu diệt. Chỉ trừ có một người. Người đó nghĩ rằng trong Ương Quật Ma vẫn còn có hạt giống tốt còn lại. Người đó là đức Thế Tôn.

Nhưng mà từ trước tới nay chưa ai có khả năng chạm vào hạt giống đó, cho nên Ương Quật Ma chưa bao giờ có cơ hội để trở thành con người tốt. Buổi sáng hôm đó, Thế Tôn cầm bát đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Một Phật tử mời Ngài vào trong nhà và thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn, đi khất thực ngày hôm nay rất nguy hiểm, tại vì Ương Quật Ma đang có mặt trong thành phố. Kính xin Đức Thế Tôn ở lại đây, con sẽ cúng dường cơm cho Ngài. Và xin Ngài nghỉ lại đây. Đợi con nghe tin tức, khi biết rằng tình trạng có an ninh, thì lúc đó con thỉnh đức Thế Tôn về lại tu viện Kỳ Viên. Nhưng Bụt nói: Đạo hữu đừng lo! Không sao đâu! Nếu tôi có gặp Ương Quật Ma thì tôi cũng có cách để tự vệ. Đôi khi tôi có thể giúp được Ương Quật Ma nữa. Người Phật tử đó không tin lắm, tại vì ông thấy Bụt rất hiền từ, còn Ương Quật Ma rất hung hãn. Ương Quật Ma có một thanh đao, còn Bụt thì không có một võ khí nào cả. Nhưng người Phật tử đó lầm! Bụt cũng có một thanh gươm, đó là thanh gươm của trí tuệ. Ta sẽ chứng kiến cuộc so gươm của Bụt với thanh đoản đao của Ương Quật Ma.

Ương Quật Ma đã giết rất nhiều người. Mỗi khi giết một người, anh cắt một ngón tay, lấy một đốt xương và xoi một cái lỗ, rồi anh xỏ cái đốt xương đó vào trong cái tràng xương để đeo vào cổ. Ngày hôm đó nghe nói anh ta đã có cái vòng của 99 đốt xương rồi. Anh ta muốn giết thêm một người nữa cho đủ số 100, để có xâu chuỗi làm hoàn toàn bằng xương người. Chữ mala trong danh từ Ương Quật Ma có nghĩa là xâu chuỗi. Đức Thế Tôn đang ôm bát đi từng bước thảnh thơi thì nghe có tiếng chân chạy rầm rập phía sau lưng. Với linh khiếu bén nhạy, Ngài biết rằng Ương Quật Ma đang đuổi theo, nhưng Ngài vẫn đi bình tĩnh. Ngày xưa, Sĩ Đạt Ta cũng giỏi về võ thuật. Nhưng vũ khí của đức Thế Tôn là lòng thương và trí tuệ của Ngài.

Kinh sách hay nói là mỗi khi gặp trường hợp nguy hiểm thì Đức Thế Tôn trổ ra những phép thần thông. Nhưng Đức Thế Tôn đâu cần phải thi thố những phép thần thông. Đức Thế Tôn có dư từ bi, có dư trí tuệ để vượt khỏi những tình trạng khó khăn. Đức Thế Tôn có niềm tin lớn nơi tình thương và trí tuệ của mình. Đức Thế Tôn vẫn bước những bước vững chãi và thảnh thơi, và đề cao cảnh giác. Ương Quật Ma lớn tiếng gọi:

– Ông thầy tu, đứng lại!

Bụt vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, cũng không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất thảnh thơi và ung dung. Thấy vậy, Ương Quật Ma lớn tiếng hơn nữa:

– Đứng lại! Ông thầy tu đứng lại!

Đức Thế Tôn làm như không nghe, cứ tiếp tục đi. Ương Quật Ma lấy làm lạ. Từ trước đến nay, hễ mình lên tiếng một cái là ai cũng sợ run không cử động được nữa, mà tại sao ông thầy tu này lại quá ung dung, lại có vẻ hoàn toàn là vô úy. Ương Quật Ma chạy mau tới để coi thử ông thầy tu này là ai mà cả gan như vậy. Chỉ trong khoảnh khắc  Ương Quật Ma đã đi ngang hàng với Bụt. Ương Quật Ma nói:

– Tôi bảo ông dừng lại, tại sao ông không dừng?

Bụt vẫn đi, với sự điềm tĩnh và giọng nói dịu dàng, Bụt nói:

– Ương Quật Ma! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại.

Quý vị đã đọc Thần Điêu Đại Hiệp chưa? Quý vị có thấy một kiếm chiêu nào mầu nhiệm hơn kiếm chiêu mà Bụt vừa thi thố không? Ngay trong chiêu thức đầu, ta thấy thanh gươm của Đức Thế Tôn đã huy động tới tám thành công lực. Từ trước đến giờ, chưa bao giờ Ương Quật Ma nghe một câu nói như vậy.

– Ông nói sao? Ông đang đi rõ ràng mà tại sao ông nói ông đã dừng lại? Tôi không hiểu, ông cắt nghĩa đi?

Một cách rất bình thản, Đức Thế Tôn nói:

– Ương Quật Ma, trên con đường tạo tác những ác nghiệp thì ta đã dừng lại từ nhiều kiếp rồi, nhưng trên con đường tạo tác ác nghiệp anh vẫn còn tiếp tục, thì anh nên dừng lại.

Câu nói đã làm rung động Ương Quật Ma. Lúc đó Đức Thế Tôn mới dừng lại. Ương Quật Ma cũng dừng lại. Hai người nhìn nhau. Đức Thế Tôn nhìn thẳng vào Ương Quật Ma mà nói rằng:

– Anh biết không! Ở đời ai cũng sợ đau khổ, ai cũng muốn sống, ai cũng sợ chết. Mình phải biết thương người.

Ương Quật Ma mới la lên:

– Trên đời này có ai thương tôi đâu mà bảo tôi thương họ? Loài người là loài độc ác nhất ở trên đời, tôi muốn tiêu diệt hết loài người cho hả dạ tôi.

Đức Thế Tôn nói:

– Ương Quật Ma, tôi biết anh đã đau khổ nhiều. Cuộc đời đã bạc đãi anh, người ta đã không tử tế với anh, người ta đã làm khổ anh. Nhưng anh nên biết rằng hận thù chỉ làm cho mình thêm khổ đau, chỉ có lòng thương mới đem lại hạnh phúc cho đời mà thôi.

Ương Quật Ma la lớn:

– Tình thương hả? Ai là người biết thương? Ông chỉ cho tôi coi?

Đức Thế Tôn vẫn dịu dàng:

– Anh đã từng gặp vì tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào chưa? Các vị đó không những biết tôn trọng sinh mạng của những con người mà họ cũng biết tôn trọng sự sống của cả loài vật. Họ cũng tôn trọng các loài cỏ cây và đất đá nữa. Nếu anh gặp được một vị tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni, anh sẽ thấy rằng tình thương là cái gì có thật. Khi có tình thương trong lòng, ta không còn đau khổ nữa. Hận thù là một khối lửa đốt cháy ta, đốt cháy thế gian. Anh nên quay đầu lại, từ khước bạo động, trở về với con đường của hiểu và của thương.

Những lời nói của Bụt tràn đầy tính chất từ bi, phát xuất từ trái tim. Ương Quật Ma là một con người thông minh nhưng bị hận thù che lấp. Gặp được một con người như Bụt khai mở, anh có cơ hội để cho hạt giống của trí tuệ được tưới tẩm. Anh nói:

– Tôi có nghe tới một ông thầy tu rất dễ thương, tên là Gotama, có phải ông là Gotama không?

Bụt nói:

– Đúng! Tôi là Gotama.

Bụt và AngulimalaƯơng Quật Ma nói:

– Gotama ơi! Bây giờ trễ rồi. Dù tôi có muốn ăn năn, dù tôi có muốn từ bỏ con đường hận thù để đi theo con đường tình thương thì cũng đã muộn. Tôi không có nẻo thoát, tôi đã gây ra quá nhiều tội lỗi.

Đức Thế Tôn im lặng. Rồi Ngài nói:

– Ương Quật Ma, nếu anh thật sự muốn chuyển hóa, muốn từ bỏ con đường bạo động, thì tôi sẽ che chở cho anh. Nếu anh muốn, tôi có thể tiếp nhận anh vào Tăng đoàn làm người xuất gia. Anh sẽ thực tập Từ, thực tập Bi, anh sẽ trở thành một con người mới, anh sẽ làm lại cuộc đời của anh.

Nghe Bụt nói như vậy, Ương Quật Ma rút cây đao liệng xuống đất, rồi quỳ xuống, chắp tay lại và xin làm đệ tử của Đức Thế Tôn. Vừa lúc ấy có các thầy đi tới. Thấy Đức Thế Tôn đang đứng đó, không bị thương tích gì cả mà Ương Quật Ma lại đang quỳ dưới chân Ngài, các thầy mừng rỡ. Đức Thế Tôn nói:

– Thầy Xá Lợi Phất, thầy Anan, các thầy có chiếc y nào không? Bây giờ chúng ta hãy làm lễ xuất gia cho Ương Quật Ma  ngay tại đây.

Thầy trò bao quanh lại làm thành một vòng tròn, và làm lễ xuống tóc cho Ương Quật Ma. Sau khi cạo đầu cho Ương Quật Ma, các thầy mặc cho Ương Quật Ma một chiếc y khất sĩ. Bụt dạy thầy Xá Lợi Phất và các thầy khác đưa Ương Quật Ma về tu viện và dạy cho thầy cách nâng bát, cách ngồi, cách đứng, cách đi, cách thở. Chúng ta thấy câu chuyện Ương Quật Ma gặp Bụt là một cuộc đấu gươm. Ương Quật Ma có thanh gươm của bạo động và hận thù. Đức Thế Tôn có thanh gươm của trí tuệ và từ bi.

Dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những ý niệm và nhãn hiệu

Khi chúng ta dán được vào một người nào đó nhãn hiệu sát nhân cần phải xử trảm, thì chúng ta có thể chĩa súng mà bắn người ấy không gớm tay. Nhưng nếu ta còn thấy được người đó vẫn là một con người thì ta không thể nào bóp cò súng được. Vì vậy muốn giết ai đó, thì chúng ta phải cố nghĩ rằng người này chỉ là ác quỷ, không còn một chút thiện trong tâm. Thanh gươm của đức Thế Tôn, trước hết là để chém đứt khái niệm đó. Vì khi ta muốn giết ai thì ta phải có khái niệm ác quỷ về người đó. Văn hóa của chúng ta bây giờ là như vậy. Chúng ta đi dán nhãn hiệu cho nhau.

Ngày xưa có trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Việt Nam, đào tạo những người xuất gia trẻ và những thanh niên trẻ đi làm việc xã hội. Đường hướng của trường xã hội là không theo bất cứ một phe nào trong hai phe chiến tranh, không theo phe cộng sản, mà cũng không theo phe chống cộng. Đường lối của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội là chấp nhận tất cả những người Việt là anh em. Mục tiêu của trường là làm lớn lòng thương yêu và hiểu biết, chấp nhận và ôm lấy cả hai phía. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Nếu chúng ta không theo bên này thì bên này nghi rằng chúng ta đang theo phía bên kia, vì vậy cho nên trường Xã Hội bị đặt vào một tình trạng rất khó xử. Phe chống cộng thì nghi mình theo phe cộng sản. Phe cộng sản thì nghi mình theo phe chống cộng. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội trở thành đối tượng hiểu lầm của cả hai bên. Một bên muốn dán cho Trường nhãn hiệu cộng sản, một bên muốn dán cho Trường nhãn hiệu phản quốc để có thể giết mình. Đã có những bác, những chú, những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ chết vì cái nhìn đó.

Nếu muốn giết ai thì trước hết phải dán cho kẻ đó một  nhãn hiệu. Nếu không dán nhãn hiệu thì không thể nào giết được. Đêm hôm đó có một toán người võ trang vào lúc nửa đêm xông vào một trại công tác của trường thanh niên Phụng Sự Xã Hội, bắt cóc năm người tác viên của trường đi ra bờ sông Saigon, trong số đó có một vị xuất gia trẻ. Người bắt cóc hỏi, tra gạn để biết chắc rằng năm người có thuộc về cái tổ chức gọi là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội hay không. Khi năm người đó nói: “Đúng, chúng tôi là nhân viên của trường thanh niên Phụng Sự Xã Hội” thì một người trong toán võ trang nói rằng: “Chúng tôi rất tiếc, chúng tôi được lệnh phải bắn các anh.” Nói xong họ bắn năm người ngã gục bên bờ sông.

Tại sao những người thanh niên với trái tim trong trắng, từ bỏ nếp sống xa hoa vật chất, đi vào chùa để được huấn luyện và để được đi vào thôn xóm, để giúp dân giúp nước mà lại bị sát hại một cách tàn nhẫn như vậy? Những người võ trang kia nhận được lệnh là phải tiêu diệt những người gọi là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, tại vì những thanh niên đó không theo họ, và như vậy có thể là cộng sản trá hình, đang tiếp tay cho cộng sản. Tại vì những thanh niên đó không theo phe chống cộng. “Chúng tôi rất tiếc! Chúng tôi được lệnh phải bắn các anh”.

Sở dĩ mình biết câu chuyện là tại vì một trong năm người đó sống sót kể lại. Không khí hận thù cao ngất. Năm đó có một toán người võ trang khác tới trụ sở trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Phú Thọ Hòa và quăng lựu đạn để tàn sát những tác viên xã hội. Sau đó an ninh quân đội khám phá ra được những người đó thuộc về giới Công giáo quá khích. Họ cho rằng những thanh niên Phật giáo tình nguyện đi vào xã hội phục vụ dân chúng, là kẻ thù của Thiên Chúa giáo, là những người cộng sản trá hình. Đêm hôm đó có nhiều người thanh niên phụng sự xã hội bị thương nặng, có hai người chết. Một người tên là Liên, một người tên là Vui. Họ cũng liệng một trái lựu đạn vào phòng tôi, nhưng tấm màn che cửa phòng hất trái lựu đạn ra ngoài. Trong hận thù, người ta không thấy được con người, người ta chỉ thấy được quỷ dữ, mà quỷ dữ đó chỉ là khái niệm. Chỉ thấy quỷ dữ, người ta mới có khả năng ném lựu đạn, hay là bắn súng vào mà thôi. Trong khi đó, những thanh niên kia là những người rất thánh thiện, những người có trái tim thương yêu và hiểu biết. Chúng ta giết nhau tại vì chúng ta không biết nhau là ai.

Chùa Pháp Vân (Chùa Lá) – Trụ sở đầu tiên của trường TNPSXH

Vì vậy cho nên chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những hình ảnh, khái niệm và tất cả những nhãn hiệu. Dù là nhãn hiệu Bụt, Ma, Kitô, hay Sa Tăng. Tất cả những nhãn hiệu đó cần phải chặt đứt hết, nếu không chúng sẽ trở thành những cái còn tệ hơn là hố xí nữa. Nhân danh Chúa người ta đã tàn phá, nhân danh Bụt người ta cũng có thể chém giết. Nếu Bụt và Chúa là những ý niệm của chúng ta, thì có thể còn tai hại hơn những cái hố xí. Cái hố xí còn có ích lợi, còn ý niệm của chúng ta có thể đưa tới cuồng tín, có thể tiêu diệt con người, tiêu diệt tình thương, như vậy còn nguy hiểm hơn là những cái hố xí. Cho nên lời tuyên bố của Tổ Lâm Tế vẫn còn từ bi lắm.

Sau khi bắt được ông Saddam Hussein, Tổng thống Bush có tuyên bố: “Thế giới sẽ dễ chịu hơn nếu không có mặt của ông, ông ơi!” (Mr. Saddam, the world will be a better place without you.) Câu nói đó có nghĩa là: “Tôi muốn loại ông ra khỏi sự sống”. Chúng ta muốn hỏi ông tổng thống Bush: “Có bao nhiêu người cần được loại ra khỏi sự sống thì trái đất này mới là chỗ đáng sống?” Sau khi nghe ông Saddam Hussein bị bắt, thì có những cuộc biểu tình được tổ chức tại nhiều thành phố ở Iraq. Có nhiều người đã không sợ hãi, đã tham dự vào cuộc biểu tình, không lý tất cả những người theo và có cảm tình với ông Saddam Hussein đều phải giết hết sao? Có biết bao nhiêu người đang không có cảm tình với Hoa Kỳ, không những ở nước Iraq, mà ở những nước xung quanh. Nếu cần loại trừ hết tất cả những người đó, thì bao nhiêu người cần bị loại trừ, một triệu, hai triệu hoặc năm trăm triệu?

Cố nhiên là trong cuộc sống, con người có thể tạo ra nhiều lầm lỡ, Ông Saddam Hussein đã làm ra những lầm lỡ, ông ta đã từng độc tài, ông ta đã từng sát hại. Cũng như Ương Quật Ma đã từng lầm lẫn, đã từng sát hại, nhưng Ương Quật Ma đã có cơ hội được gặp đức từ bi. Ương Quật Ma có một khối hận thù rất lớn. Những người gọi là quân khủng bố họ cũng có hận thù rất lớn, họ đã từng đau khổ và họ đã dùng năng lượng hận thù của họ để biến thành hành động.

Nói như thế không có nghĩa là những người tự cho mình không phải là quân khủng bố là những người không có hận thù. Những người đó cũng có hận thù và tuy họ gọi những kẻ thù của họ là quân khủng bố nhưng chính họ cũng là quân khủng bố. Họ cũng sử dụng súng bom, họ cũng tàn sát xóm làng, họ cũng giết hại đàn bà và trẻ em, nhưng mà người ta không gọi họ là quân khủng bố. Những người mang một trái bom làm nổ một chiếc xe bus thì gọi là quân khủng bố. Còn những người sử dụng máy bay oanh tạc, tàn phá một thành phố, giết hại đàn bà trẻ em thì không gọi là khủng bố. Hận thù bên nào mà không có, hiểu lầm bên nào mà không có? Ta cho ta là thánh thiện, là đi trên con đường chánh, là không có tội lỗi, là không có hận thù. Ta cho người kia là quỷ dữ, là hận thù, là sự đe dọa cho văn minh, cho an ninh thế giới. Tất cả những khái niệm đó, tất cả những hình ảnh đó, cần phải được tiêu diệt bằng lưỡi gươm của trí tuệ. Hơn bất cứ lúc nào hết chúng ta phải sử dụng thanh gươm trí tuệ để chặt bỏ tất cả những ý niệm đó. Chính vì những ý niệm đó, chính vì những nhãn hiệu dán lên cho những con người khác, chúng ta mới có khả năng bóp cò súng tiêu diệt họ. Câu chuyện của Ương Quật Ma cho chúng ta thấy rằng nếu chúng ta chuyển hướng, lấy trí tuệ và tình thương làm tiêu chuẩn, thì thế giới này sẽ có hy vọng.

Sau khi xuất gia, Ương Quật Ma đã trở thành một vị khất sĩ giỏi. Thầy tu tập chuyển hóa mau chóng còn hơn nhiều vị khất sĩ khác. Cho đến nỗi các bạn đồng tu đã đặt cho Ương Quật Ma một cái tên mới là Ahimsaka, tức là bất bạo động. Có một lần Ương Quật Ma đi khất thực về khóc với Đức Thế Tôn. Bụt hỏi: “Tại sao con khóc?” Ương Quật Ma nói: “Bạch Đức Thế Tôn, trên đường đi khất thực con gặp một người đàn bà sắp sinh nở, nhưng bà đau quá sinh nở không được. Bà nhờ con đem tâm từ bi để chú nguyện cho bà, mà con không biết làm sao để chú nguyện cho được. Con thấy người ta sắp chết mà mình không cứu được cho nên con khổ quá”. Đức Thế Tôn dạy: “Thầy Ahimsaka, thầy hãy trở về với người đàn bà đó và nói rằng: Từ khi tôi sinh ra cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại một người nào, nhờ công đức đó mà bà có thể sinh con một cách bình an”. Thầy Ahimsa mới la lên: “Bạch Đức Thế Tôn, con không thể nói được như vậy! Từ khi sinh ra, con đã sát hại rất nhiều”. Đức Thế Tôn nói: “Không! Ta không muốn nói tới ngày sinh ra của cái sắc thân này. Thầy hãy đi nói với người phụ nữ kia rằng: “Từ ngày tôi sinh ra trong đạo pháp cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại bất cứ một sinh mạng nào, dù nhỏ như một con sâu con kiến. Nhân danh công đức đó, tôi muốn cho bà sinh cháu bình an”. Đức Thế Tôn vừa dứt lời, Ương Quật Ma liền chạy vụt đến nơi người đàn bà đang nằm đau đớn chờ sanh, và nói câu đó với bà. Thật mầu nhiệm! Bà ta sinh con một cách dễ dàng.

Một hôm khác, Ương Quật Ma đi khất thực về và lết vào tu viện. Có một người ngày xưa nhận ra được thầy là Ương Quật Ma ngày trước. Ông ta đã dùng gậy đánh Ương Quật Ma tơi bời, Ương Quật Ma thực tập pháp bất bạo động nên không chống trả. Mình mẩy của thầy sưng lên bầm tím, có chỗ chảy máu. Đức Thế Tôn đi ra thấy Ương Quật Ma như vậy liền bảo các thầy khiêng thầy ấy vào hậu liêu và chăm sóc. Trong khi các thầy chăm sóc cho Ương Quật Ma, lấy nước muối rửa các vết thương và băng bó thì Đức Thế Tôn nói: “Con hãy ráng chịu đựng đi. Đây là cái quả cuối cùng mà con phải nhận chịu trước khi con trở thành A la hán”.

Sự chuyển hướng của Ương Quật Ma là một thành công lớn. Không phải chỉ của Ương Quật Ma mà của cả một truyền thống và của tất cả chúng ta. Khi ta chuyển hướng thì ta được sinh ra trở lại lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Ương Quật Ma có một cơ hội sinh ra lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Saddam Hussein sinh ra lần thứ hai. Người ta sẽ đưa ông ra tòa, nhưng ai là người có quyền xử trị Saddam Hussein? Trong Phúc Âm có nói: “Ai là người thấy mình không có tội thì hãy ném viên đá vào người đàn bà này”. Tất cả chúng ta đều có lầm lỡ trong quá khứ, đã gây khổ đau cho người khác. Chúng ta phải biết rằng trong con người chúng ta cũng có hạt giống của bạo động, của hận thù, của vô minh. Nhưng chúng ta cũng phải tin rằng trong con người của chúng ta cũng có hạt giống của hiểu biết, của thương yêu, của khả năng chuyển hướng.

Nếu các nhà lãnh đạo như Tony Blair, hay Georges Bush v.v.. có được những nhà cố vấn có khả năng tưới tẩm hạt giống của hiểu và của thương trong họ thì các vị đó sẽ có những chính sách khác hơn, sẽ không mỗi ngày tạo ra thêm nhiều hận thù, nhiều khổ đau. Từ ngày khởi sự cuộc chiến ở Iraq, hận thù đã được nuôi dưỡng rất nhiều, và người Mỹ đã tạo thêm rất nhiều kẻ thù cho nước Mỹ. Nước Mỹ là một nước rất đẹp, trẻ em Mỹ rất dễ thương, và chúng ta muốn cho nước Mỹ phồn thịnh, đẹp đẽ để làm chỗ nương tựa cho nhiều quốc gia khác. Nhưng nước Mỹ đang đi trên một con đường tạo ra rất nhiều kẻ thù cho chính nước Mỹ. Vì an ninh mà nước Mỹ đã tạo ra một tình trạng không an ninh. Hàng ngàn thanh niên Mỹ đang chết tại Iraq, gần mười ngàn lính Mỹ đã bị thương. Có những người bị thương rất nặng. Vì vậy cho nên lời dạy của Tổ Lâm Tế vẫn còn có hiệu lực trong ngày hôm nay.

Chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những tri giác sai lầm, những cái thấy hẹp hòi của chúng ta về chính chúng ta và về người. Chúng ta đừng tự dán cho chúng ta nhãn hiệu của sự thánh thiện, của sự vô tội. Chúng ta đừng vội dán vào người nhãn hiệu của tội lỗi, của tàn ác. Tại vì trong tất cả chúng ta, người nào cũng có hạt giống của tàn ác, của hận thù, của vô minh, nhưng người nào cũng có hạt giống của tình thương, của sự hiểu biết. Chúng ta hãy tổ chức cuộc sống hằng ngày như thế nào và thiết lập liên hệ giữa con người với con người như thế nào, giữa quốc gia và quốc gia như thế nào, để cho mọi người đều có cơ hội trở về tưới tẩm hạt giống tốt ở trong con người của mình. Đó là con đường tương lai của chúng ta.

Khi ta niệm Bụt có thể ta không biết Bụt là ai và ta là ai. Ai là người niệm Bụt? Ai là Bụt? Ta cầu nguyện Chúa, nhưng có thể ta chưa biết Chúa là ai. Ta không biết ta là ai? Ta có thể nhân danh ta, ta có thể nhân danh Chúa để sát hại. Vì vậy cho nên lưỡi gươm thần của trí tuệ rất là quan trọng. Chúng ta phải là những chiến sĩ, phải sử dụng được lưỡi gươm thần trí tuệ để chặt đứt tất cả những ảo giác, những tri giác sai lầm của chúng ta. Hãy phá bỏ tất cả những nhãn hiệu mà chúng ta thường muốn dán vào nhau để có thể tiêu diệt lẫn nhau. Đây là vấn đề chính của xã hội, của thế giới chúng ta trong ngày hôm nay. Chúng ta tu là để lột ra khỏi bản thân và lột ra khỏi người khác những nhãn hiệu. Bên này dán nhãn hiệu cho bên kia, bên kia dán nhãn hiệu cho bên này, để rồi hai bên có thể giết nhau. Lưỡi gươm trí tuệ là để phá bỏ những nhãn hiệu đó, tại vì những nhãn hiệu đó đưa tới sự giết chóc, đưa tới sự hận thù, đưa tới sự tiêu diệt. Dù đó là nhãn hiệu Bụt, nhãn hiệu Chúa, nhãn hiệu Bồ tát, nhãn hiệu La hán, nhãn hiệu cộng sản, nhãn hiệu khủng bố, nhãn hiệu dân chủ, nhãn hiệu tự do, nhãn hiệu văn minh.

Viên ngọc kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa có nói tới những viên ngọc dấu trong áo và đứa con nghèo khổ. Tôi đã kết hai câu chuyện này lại với nhau như sau. Có một cậu con trai con nhà giàu ham ăn chơi phung phí tiền của mà không ý thức được cái may mắn và hạnh phúc của mình. Người cha rất thương con nhưng không có cách gì giúp được. Ông biết trước là nó sẽ khổ, sẽ đi tha phương cầu thực, sẽ phải đi xin ăn. Biết rằng: “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” nên ông ta không la mắng nó và nghĩ rằng chỉ có kinh nghiệm khổ đau trong tương lai mới giúp nó được thôi. Ông lặng lẽ may cho nó một cái áo. Sau khi mặc một thời gian, ông cởi áo ra đưa cho nó và nói: “Nầy con, sau này gia tài sự sản của ba, con có thể xài hết, riêng cái aó nầy thì ba xin con giữ lại.” Ông đã bí mật may dấu vào gấu áo một viên ngọc thật quý. Ðứa con cũng không thích gì cái áo đó, nhưng cha đã dặn đừng bán thì nó cũng nhớ lời và không bán làm chi cái áo không qúy giá gì lắm đó.

Sau khi người cha chết, dĩ nhiên là người con xài phí rất nhanh cái gia tài đồ sộ của ông và đã trở nên nghèo đói, phải đi xa tìm việc làm và nhiều lúc cơ cực không có gì để ăn. Kinh gọi đó là người cùng tử (đứa con khốn cùng), đi cùng khắp mà vẫn không gây được sự nghiệp, cũng không tìm được hạnh phúc. Tất cả sự nghiệp của người cha, anh ta chỉ còn giữ chiếc áo cũ kỹ mà người cha đã căn dặn đừng bán. Có một bữa đó trời xui đất khiến sao đó mà anh ta bỗng nhiên táy máy mân mê và khám ra viên ngọc thật quý nằm dấu trong khâu áo rách của cha mình. Khi khám ra viên ngọc quý rồi thì đứa con nghèo đói trở nên hết nghèo đói.

Cái chuổi ngày dài cơ cực bị khinh khi, bị đói khát, bị đau đớn đã là bài học rất thấm thía, rất giá trị cho người con và từ đó anh ta biết sử dụng viên ngọc qúy và biết dùng nó làm vốn liếng để gây lại sự nghiệp, đã sống cuộc đời rất hạnh phúc và tiếp nhận trọn vẹn gia tài bí mật của cha để lại. Gia tài đó là viên ngọc, nhưng cũng là sự hiểu biết, tinh thần trách nhiệm và cái lề lối sống để có hạnh phúc.

Ðó là một hình ảnh Bụt đưa ra trong kinh Pháp Hoa. Bụt có ý nói rằng tất cả chúng ta đều là những đứa con phá của, những đứa cùng tử. Chúng ta có hạnh phúc, có gia tài mà chúng ta không biết xài; chúng ta phung phí, chúng ta dày đạp lên cái hạnh phúc của chúng ta mà đi, và chúng ta trải qua năm nầy tháng nọ làm một kẻ tha phương cầu thực, gối đất nằm sương, chịu biết bao nhiêu là khổ nhục. Chính bây giờ là chúng ta phải khám phá lại viên ngọc đã và đang được khâu trong áo chúng ta.

Kinh Bảo Tích và kinh Pháp Hoa là những người bạn giúp chúng ta khám phá lại những châu ngọc mà chúng ta hiện có trong cái áo rách của chúng ta. Trong tác phẩm gần đây của Phạm Duy “Người tình già trên đầu non”, nhạc sĩ có nói vắn tắt mấy câu về cuộc đời ông: “thuở tìm tự do, nửa đời sương gió, nên mau tóc ngả, con tim chóng già. Còn nửa đời sau, tưởng là châu báu, nhưng xương máu nhiều bao vây sớm chiều, còn gì đâu cho một tình yêu, còn gì đâu cho một đời sau.” Ðiều đó làm cho mình nhớ tới viên ngọc của ông nhà giàu để lại cho con trong kinh Pháp Hoa.

Trong kinh Kim Cang mình cũng học được rằng có những người con trai và con gái nhà lành, dùng châu báu bảy thứ chứa đầy tam thiên đại thiên thế giới để đem đi bố thí. Chuyện đó chúng ta đều có thể làm được cả, tại vì thật sự chúng ta có rất nhiều châu báu. Mỗi phút của cuộc đời ta là một viên ngọc. Mỗi giờ đồng hồ trong ngày là một viên bảo châu và nếu chúng ta sống có chánh niệm, sống tỉnh thức với nụ cười thì giây phút đó trở thành tuyệt vời và rất đáng sống. Ðó là ngọc, đó là châu báu.

Khi có chánh niệm và có nụ cười, thì giây phút mà chúng ta đang sống trở nên một phép lạ màu nhiệm. Chỉ nhờ một tiếng chuông chánh niệm thôi, tự nhiên chúng ta nghe được tiếng chim hót, tiếng thông reo và bao thứ tiếng vi diệu khác; chúng ta thấy được một đóa hoa đang nở, chúng ta thấy được trời xanh, mây trắng và mỗi phút của đời ta như vậy trở thành viên ngọc. Nếu chúng ta tiếp tục sống trong chánh niệm như vậy thì mỗi ngày chúng ta có từng rổ châu báu và chúng ta sẽ không phải than phiền như nhạc sĩ Phạm Duy là cả cuộc đời không còn cái gì nữa cả.

Châu báu của Bụt để lại cho chúng ta rất nhiều, đó là những giây phút tỉnh thức và nếu muốn, chúng ta có thể vốc từng vốc đầy tay những hạt kim cương. Châu báu thật ra đầy cả thế giới, nếu sống tỉnh thức quý vị sẽ có rất nhiều châu báu và quý vị có thể xúc một rổ đem tặng những người thương, làm cho họ sống ngày hôm nay của họ có chánh niệm có hạnh phúc có nụ cười, và nếu có căn cơ và hạt giống thì người đó sẽ tiếp nhận cái rổ kim cương của qúy vị và sẽ sống được mỗi giây phút trong đời của người đó với thật nhiều hạnh phúc. Mỗi giây là một viên ngọc, mỗi phút là một viên ngọc và mỗi giờ là một viên kim cương và mỗi ngày là một rổ châu báu.

Thành ra chúng ta, con trai cũng như con gái, nên biết rằng chúng ta là những người cùng tử nghèo đói đi lang thang từ bao nhiêu tháng năm và đây là lúc chúng ta phải chấm dứt cái kiếp nghèo hèn của kẻ cùng tử đi lang thang để trở về tiếp nhận cái gia tài của Bụt, những rổ kim cương lóng lánh sáng chói, để sống những giờ phút của chúng ta cho thật hạnh phúc, thật sâu sắc. Và khi mà chúng ta học được cách sống hạnh phúc như vậy thì cố nhiên chúng ta sẽ gieo rắc hạnh phúc xung quanh chúng ta. Chúng ta sẽ có rất nhiều châu báu và chúng ta sẽ đem một vốc châu báu tặng người phía trái rồi vốc một vốc khác tặng người bên tay mặt, và chúng ta trở thành những người con trai con gái mà Bụt nói trong Kinh Kim Cang. Châu báu của chúng ta chứa đựng đầy tam thiên đại thiên thế giới. Chúng ta rất giàu mà xưa nay vẫn nghĩ là mình nghèo:

Châu báu chất đầy thế giới
Tôi đem tặng bạn sáng nay
Một vốc kim cương sáng chói
Long lanh suốt cả đêm ngày.

Mỗi phút một viên ngọc quý
Tóm thâu đất nước trời mây
Chỉ cần một hơi thở nhẹ
Là bao phép lạ hiển bày.

Chim hót thông reo hoa nở
Trời xanh mây trắng là đây
Ánh mắt thương yêu sáng tỏ
Nụ cười ý thức đong đầy.

Này người giàu sang bậc nhất
Tha phương cầu thực xưa nay!
Hãy thôi làm thân cùng tử
Về đi, tiếp nhận gia tài!

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
Và an trú phút giây nầy
Hãy buông thả dòng sầu khổ
Về nâng sự sống trên tay.

Giảng tại Làng Hồng ngày 20-12-1990 – (Trích “Về Việt Nam”- Thích Nhất HạnhNXB Lá Bối, Hoa Kỳ 1992)

Thường, lạc, ngã, tịnh

 

Nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy rằng những điều ta học được ở các kinh điển, kể cả trong kinh Duy Ma, có liên hệ rất mật thiết trong việc thực tập tu học của chúng ta. Người tu học luôn luôn nghĩ đến mục đích của mình là giải thoát và an lạc, cũng như người làm cách mạng xã hội luôn luôn nghĩ tới tự do và bình đẳng xã hội. Người tu học có thể nói đến giải thoát, giác ngộ và an lạc rất nhiều mà không chứng nghiệm được giải thoát, giác ngộ và an lạc trong khi mình đang nói. Người làm cách mạng xã hội cũng vậy; họ nói đến tự do, công bình xã hội và ấm no nhưng sự thực về công bình, tự do và no ấm không hề thấy có. Một chủ nghĩa đã hứa hẹn tự do, công bình và no ấm trong suốt bảy mươi lăm năm mà cái tự do, công bình no ấm ấy không hề xuất hiện. Điều này không phải chỉ những nhà chính trị mắc phải, mà ngay những người tu học cũng mắc phải. Phần đông chúng ta rất “hồ hởi phấn khởi” về đạo giải thoát, giác ngộ và an lạc của chúng ta; tuy nhiên chúng ta chỉ nói nhiều chứ không nếm được. Chúng ta nói cuộc đời là vô thường, vô ngã, khổ đau, chúng ta đi tìm chân tâm, an lạc, giải thoát và giác ngộ nhưng chúng ta có trực tiếp nếm được cái giải thoát và an lạc ấy hay không? Thực tập theo con đường Bụt dạy, ta không nên làm như những người chỉ nói về các thức ăn mà không bao giờ được ăn. Không nên như những người làm nhà băng mỗi ngày chỉ đi đếm tiền dùm cho người khác. Chúng ta phải trực tiếp nếm cái vị tịnh lạc và giải thoát mà ta đã từng nói đó.

Theo Bụt dạy thì vị tịnh lạc và giải thoát đó chúng ta có thể nếm được ngay trong hiện tại mà không cần phải tu mười năm hay hai mươi năm. Ngay trong ngày đầu tu học ta cũng có thể đạt được phần nào cái tịnh lạc và giải thoát đó. Chúng ta phải đặt lại cấp bách câu hỏi ấy: “cái an lạc và giải thoát mà ta nói đó chúng ta đã nếm được hay chưa?” Nếu chưa thì ta phải nếm cho được trong ngày hôm nay. Thiền duyệt mà Bụt nếm và dùng làm thức ăn hàng ngày, chúng ta cũng phải được nếm. Hạnh phúc mà chúng ta nói tới làm sao chúng ta nếm được hoặc tiếp xúc được? Bản chất của hạnh phúc ấy là gì? Hôm nay chúng ta sẽ nói sơ lược về cái đó.

 

1.Yếu tố thứ nhất là tự do:

Tự do đó là chủ quyền (sovereignty). Có khi ta dịch là tự tại. Ta là ta. Ta không là nô lệ của quá khứ, của tương lai, của hiện tại; ta không là nô lệ của những phiền não, và như vậy tự do đó được dịch là giải thoát (freedom, liberation). Đó là bản chất của sự an lạc. Đó là nền tảng tất yếu của sự an lạc.

Cố nhiên là muốn thực tập đạo Bụt trước nhất là phải thực tập tự do. Nếu không có tự do thì chúng ta không có hạnh phúc. Đó là điều mà ta không chối cãi được. Đó là nền tảng của thực tập trong đạo Bụt. Cái mà ta gọi là chủ quyền hoặc tự do đó có khi được hình dung bằng một danh từ rất là kỳ đặc: ngã. Ngã đây không phải là một bản chất hoặc một thực tại bất biến. Nó không phải là atma. Ngã đây là sự tự do. Một trong bốn định nghĩa của Niết Bàn là ngã. Niết Bàn có ngã. Ngã đây không là ngã chấp mà là sự tự tại, không bị vướng bận. Ta biết rằng bốn định nghĩa của Niết Bàn là thường, lạc, ngã và tịnh. Toàn bộ của giáo lý Bụt dạy là để nói về sự thực vô ngã và để diệt trừ những khái niệm về ngã. Nhưng khi định nghĩa Niết Bàn là ngã thì ta nên hiểu ngã này chỉ có nghĩa là tự do hoặc là chủ quyền thôi.

Khi đi thiền hành, quý vị bước từng bước chân thảnh thơi, an trú trong hiện tại và không bị vướng bận vào những phiền não về quá khứ, những lo lắng về tương lai thì quý vị có thảnh thơi và tự tại; quý vị tiếp xúc được với bản thân và với vũ trụ chung quanh. Cái thảnh thơi tự tại đó ta có thể gọi là ngã. Chữ ngã này không có nghĩa là một thực thể bất biến, đồng nhất, tách rời với những gì ngoài ngã như được diễn tả trong khái niệm ngã chấp. Chúng ta chỉ có hạnh phúc khi nào chúng ta có cái tự do đó. Vì vậy khi đi thiền hành hay ngồi thiền, chính ta biết là ta có tự tại hay không, hay là ta bị bao vây bởi phiền não, bởi những chuyện đã qua và những chuyện sắp tới. Nếu biết rằng ta đang bị bao vây bởi những bực bội thì ta cũng biết rằng ta đang không có hạnh phúc, vì ta không có tự do. Và tu học là để đạt tới tự do. Đạt tới tự do là cắt đứt những sợi dây ràng buộc của mình để có thể tiếp xúc được với sự sống trong giờ phút hiện tại. Hạnh phúc là tự do, không hạnh phúc là ràng buộc.

Khi ta đặt câu hỏi: “Hạnh phúc của Bụt là gì? Chúng ta có quyền và có khả năng nếm được thứ hạnh phúc đó hay không?” Ta có thể trả lời rằng: “Có”. Vì bản chất của hạnh phúc đó là sự tự do và nếu ta có tự do, có thảnh thơi thì tức là ta đã tham dự vào cái hạnh phúc của Bụt một cách trực tiếp. Ta có thể làm được chuyện đó ngay từ bây giờ. Kinh nói trước khi rời thành phố Tỳ Sa Ly (Vaisali) lần chót để đi về phương Bắc, Bụt đã nhìn thành phố bằng cặp mắt của một con voi chúa, rồi mới ngoảnh mặt lại và tiến về hướng Bắc. Nhìn bằng cặp mắt của một con voi chúa là nhìn bằng cái nhìn thật là sâu sắc. Mình chỉ có thể nhìn sâu sắc sự vật trên đời này nếu mình có được cái tự do lớn, cái thảnh thơi lớn, không bị vướng mắc bởi những sợi dây ràng buộc. Bụt hay khen thành phố Vaisali và núi Thứu là đẹp: trong những giây phút đó Bụt cũng an trú trong hiện tại và đưa cặp mắt của một con tượng chúa để nhìn.

Sáng nay đi thiền hành với đại chúng về, tôi có nói chuyện về đôi mắt của con tượng chúa đó. Tôi nói mỗi người chúng ta trong khi đi thiền hành thỉnh thoảng cũng có thể dừng lại và đưa con mắt tượng vương của mình để nhìn cảnh vật của xóm Thượng. Nếu ta nhìn bằng con mắt tự do thì cái nhìn của ta sẽ bao gồm được cả vũ trụ trong giây phút đó. Khi ta dừng lại và dừng lại với tất cả con người của ta thì ta sẽ có cái năng lượng của giải thoát, và khi ta đưa cặp mắt voi chúa của ta mà nhìn cảnh vật xóm Thượng thì những vùng năng lượng của giải thoát sẽ được dâng lên mắt. Nhờ thế mà cái nhìn của ta trở nên sâu sắc và chọc thủng được bức màn thất niệm và hôn mê. Câu thơ của Thế Lữ trong bài Hổ Nhớ Rừng:

Trong đêm tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho vạn vật đều im hơi 
Ta biết ta chúa tể của muôn loài 
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi

Khi cọp đưa mắt của cọp chúa mà nhìn cảnh rừng núi của nó, tất cả muôn loài đều nín im thin thít. Và nó biết nó là chúa tể của rừng núi. Khi một người có định lực lớn đưa cặp mắt nhìn cảnh vật của xóm Thượng thì tự nhiên những lo lắng và những phiền não sẽ lắng im phăng phắc. Nếu chúng ta nhìn cảnh vật xóm Thượng như vậy một lần trong đời thôi, thì sống trên đời cũng đã không uổng. Huống gì chúng ta có thể nhìn nhiều lần trong ngày? Thực tập là làm nhiều lần. Mỗi giây phút là một viên ngọc quý. Nếu Bụt nhìn sự vật với cặp mắt tượng vương thì khi bước đi Bụt cũng bước những bước chân của con sư tử chúa. Từng bước thảnh thơi dẫm lên mặt đất của thực tại, và như vậy bước đi của Người là bước đi của giải thoát an lạc. Ta biết hạnh phúc của Người là hạnh phúc căn cứ trên tự do. Vì vậy nếu bị quá khứ phong tỏa và tương lai lôi kéo thì chúng ta không có tự do, không có hạnh phúc.

Thực tập đạo Bụt là thực tập hạnh phúc. Ta nên biết chánh niệm (mindfulness) là vũ khí giúp chúng ta đoạt lại quyền tự do mà chúng ta đã đánh mất và đang đánh mất. Người tu mà không biết sử dụng chánh niệm thì không có vũ khí nào khác cả để giành lại chủ quyền của mình. Chủ quyền đó đạo Bụt đại thừa gọi là ngã. Đạo Bụt đại thừa không sợ danh từ, trong đó có danh từ “Ngã”. Chánh niệm là một thứ vũ khí giúp ta giành lại chủ quyền, nhưng ta còn một vũ khí khác cũng quan trọng lắm, đó là giới luật. Suốt mùa hè chúng ta đã học và thấy rất rõ là giới luật không phải những gì do người khác bắt buộc ta phải theo mà là hoa trái của chánh niệm. Giới luật căn bản của tất cả các giới luật là chánh niệm. Chánh niệm là mẹ của tất cả các giới luật.

Nhờ chánh niệm tôi biết rằng sát sanh tạo ra đau khổ. Nhờ chánh niệm tôi biết rằng uống rượu và sử dụng các chất ma túy tạo ra khổ đau. Vì chánh niệm tôi biết rằng tà dâm làm tan nát gia đình và tạo ra không biết bao nhiêu là đau khổ. Vì vậy tôi nguyện không uống rượu, không sát hại và không tà dâm. Giới luật, như vậy, là hoa trái của chánh niệm. Giới luật vì thế không phải là một cái gì hạn chế tự do của mình. Những người chưa học Bụt và nhất là chưa thực tập, mỗi khi nghe nói tới giới thì cứ tưởng rằng giới luật hạn chế tự do của mình. Sự thực, giới luật bảo vệ tự do của mình, giúp mình có thêm tự do. Phá giới thì ta lâm vào cái vòng tù tội (không phải là cái vòng tù tội của chánh quyền đặt ra mà là cái nhà tù của khổ đau). Ví dụ khi uống rượu và sử dụng các chất ma túy ta tự giam ta vào cái vòng nghiện ngập. Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong. Mình tự tạo khổ đau cho mình và tạo khổ đau cho những người khác; mình tạo ra những cái nhà tù cho mình và cho những người khác. Ta thử nghĩ cho kỹ lại xem. Ta mà nghiện ngập thì cả gia đình ta ở tù hết. Ta “tà dâm” thì cả gia đình ta cũng “ở tù” hết. Cái nhà tù đó là nhà tù của đau khổ.

Trong một đại chúng tu học cũng vậy, nếu có một người phạm giới thì tất cả đại chúng đều lãnh đủ hết. Cho nên tự do của một người, giới luật của một người có liên hệ tới hạnh phúc và tự do của những người khác trong đại chúng. Trong kinh Sa Môn Quả, Bụt có nói là khi một vị khất sĩ giữ giới thì vị ấy được tự do, vị ấy không còn sợ hãi. Ngủ dưới gốc cây ta cũng cảm thấy rất an lành. Các vị khất sĩ giữ đến hai trăm năm mươi giới thì tự do càng lớn. Khi có tự do ta cũng có hạnh phúc. Mà hạnh phúc là an lạc (peace and joy). Nếu mình nói tuy mình đã có tự do rồi mà mình vẫn chưa có an lạc thì mình hãy thử tự hỏi là cái tự do đó có phải là tự do thực sự chưa? Bởi vì nếu đó là tự do thật sự thì dù không muốn mình vẫn có an lạc. Sự thật là như thế. Nhiều khi không có tự do mà mình cứ tưởng là mình có tự do, cũng như rất nhiều người có vấn đề về ruột mà vẫn nghĩ là mình không hề có vấn đề về ruột. Có người có rất nhiều nội kết mà cứ tưởng là không có nội kết.

Khi tôi nhìn cảnh mặt trời lặn rực rỡ huy hoàng thì tôi có hạnh phúc. Có kẻ nói rằng vì cảnh mặt trời kia là vô thường, nên cái đẹp ấy chỉ là cái hạnh phúc của thế gian chứ không phải là cái hạnh phúc của người giải thoát. Cái đó không đúng. Hạnh phúc của người giải thoát là hạnh phúc mang theo tự do và biểu lộ được tự do. Còn hạnh phúc của người không giải thoát là hạnh phúc mang theo sự ràng buộc. Bụt có thể nhìn bông hoa và khen bông hoa đó là đẹp mà vẫn không bị vướng mắc, không bị ràng buộc bởi cái đẹp ấy. Còn người không có giải thoát nhìn vào một bông hoa có thể bị dính vào bông hoa. Khi nhìn bông hoa, Bụt thấy được tính chất vô thường của bông hoa và ý thức về vô thường đó chứng tỏ rằng Bụt có giải thoát.

Vì vậy khi Bụt nói với thầy A Nan: “Này thầy A Nan, thành phố Vaisali đẹp quá há!” Bụt quả thấy thành phố đẹp. Bụt biết thưởng thức thành phố mà không bị vướng mắc vào thành phố. Chúng ta là những người tu theo Bụt, chúng ta có thể thấy được cuộc sống mầu nhiệm trong giây phút hiện tại, chúng ta thấy được cái đẹp và cái hay của vũ trụ vạn hữu trong giây phút hiện tại, chúng ta có thể hưởng thụ cái hạnh phúc đó với điều kiện là chúng ta thấu được lẽ vô thường, biết rõ là những hiện tượng đó đều là những sự kiện vô thường sẽ tan biến.

Nói một cách khác hơn là trong khi thưởng thức những cái đó chúng ta vẫn còn là những con người tự do. Thành ra an lạc ở đây phải được làm bằng chất liệu của tự do. Nếu không có chất liệu tự do thì không thể gọi đó là an lạc chân thực. Người kia đang hưởng thụ năm món dục lạc (tài, sắc, danh, thực và thụy: moneỵ, sex, fame, uncontrolled eating, and oversleeping), tham đắm và ràng buộc vào năm món dục lạc như một con thiêu thân nhảy vào trong lửa. Người như vậy không có tự do. Khi chúng ta đi thiền hành hay uống một ly nước mát, ta có quyền có sự an lạc. Chúng ta đừng tưởng rằng có an lạc như vậy là có tội vì đó là hạnh phúc thế gian. Không, hạnh phúc đó cũng là hạnh phúc giải thoát, Bụt cũng hưởng cái hạnh phúc đó mà Người không vướng víu. 
Ta không thể hiểu bản chất của an lạc trong đạo Bụt nếu ta không biết rằng tự do là bản chất của an lạc. Bụt dạy các vị khất sĩ khi ăn nên quán chiếu về thức ăn. Các thầy có thể thấy ngon trong khi ăn nhưng các thầy cũng biết rằng thức ăn cũng bất tịnh và khi nuốt vào trong bụng rồi thì thức ăn sẽ rất khác. Đó là cách quán chiếu về tính cách bất tịnh của thức ăn mà các thầy ngày xưa thường thực tập. Cố nhiên khi tắm gội thân thể sạch sẽ ta cũng biết rằng phải hiểu nghĩa sạch sẽ ấy theo tinh thần vô thường, nghĩa là mình biết trong con người mình đồng thời có những cái không sạch. Vì vậy Bụt dạy quán bất tịnh. Chẳng phải khi mình mẩy mồ hôi dơ dáy mình mới quán bất tịnh được mà khi mới tắm sạch mình cũng quán thấy thân thể mình có tính bất tịnh như thường.

2. Yếu tố thứ hai là an lạc:

An có nghĩa là tâm tư không bị khuấy động. Cái cảnh mặt trời huy hoàng kia, niềm vui trước mắt kia không khuấy động được tâm tư mình. Mình đang thưởng thức nó nhưng tâm mình vẫn bình thản. Mình thưởng thức nó nhưng những huy hoàng kia không tạo sóng gió và không tạo ra những phiền não ràng buộc trong tâm mình. Cái đó gọi là an.

An cũng có nghĩa là không sợ hãi. Biết rằng vạn vật vô thường, chính ngũ uẩn của ta cũng vô thường nên ta không sợ hãi cái sanh và cái diệt. Đó mới là thứ an tịnh vững chải nhất. Ta biết rằng hạnh phúc trong môi trường tu học được làm bằng bản chất của sự an tịnh. Nếu con người không có bản chất của sự an tịnh này thì không có hạnh phúc. Còn cái “an lạc” của người đang say mê trong ngũ dục không gọi là an lạc được. Đó gọi là đam mê, là sự đánh mất mình.

Lạc là khả năng vui sống. Bụt bằng sự sống hằng ngày của Người chứng tỏ là Người có sự vui sống. Tôi rất lấy làm lạ là trong mấy chục năm tu học ở tu viện, được học rất nhiều giáo lý sâu sắc của đạo Bụt nhưng chưa bao giờ tôi được quý thầy dạy cho những câu mà Bụt nói với thầy A Nan như: “Này thầy A Nan, núi Thứu đẹp quá! A Nan, Thầy hãy nhìn xuống cánh đồng lúa kia, đẹp không? Tại sao thầy không tìm cách may áo của các vị khất sĩ theo mẫu mực của các cánh đồng lúa này? Thầy A Nan, thành Vaisali đẹp quá phải không?”

Bụt đã chứng tỏ là Người có rất nhiều hạnh phúc. Người an trú trong hiện tại. Người có tự do. Người đã sống đời sống thanh thản an lạc. Người tu mà không có an và lạc thì tu chưa giỏi. Hạnh phúc đó và sự an lạc đó thuộc về cái an lạc xuất thế gian (lokottara), trong khi những người tham đắm trong ngũ dục thì quanh quẩn trong cái gọi là hạnh phúc thế gian. Cũng là sắc, thanh, hương, vị, xúc nhưng cách thức đón nhận khác nhau. Đón nhận bằng ràng buộc, nặng nề và tham đắm thì ta sống trong cảnh thế gian. Đón nhận bằng trí tuệ giác ngộ, biết chúng là vô thường và vô ngã thì ta vẫn duy trì được an tịnh và tự do của ta và vẫn an trú trong thế giới của tịnh lạc xuất thế gian. Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây là như vậy. Niết Bàn nằm chính trong giây phút hiện tại.

Đã biết rằng an và lạc làm bằng bản chất tự do thì ta rõ an lạc ấy không mong manh như sự đắm chìm theo ngũ dục. Vì không có tính cách gây khuấy động và gây tà kiến vô minh nên an lạc này có tính cách tịnh và thường. Có tính cách tịnh, vì an lạc ấy không làm đục ngầu cái tâm của mình và cái tâm của những người khác, không tạo ra khổ đau trong năm uẩn mình và trong năm uẩn của những người khác. Khi thưởng thức một tách trà, ta thưởng thức với chánh niệm, với tự do. Tuy chúng ta biết trà ấy ngon nhưng chúng ta nghĩ là nếu không có trà chúng ta cũng uống được nước lạnh, và nước lạnh cũng có cái ngon của nó. Vì vậy sự thưởng thức hạnh phúc của chúng ta có tính cách tịnh. Nó không khuấy động tâm ta.

Trong khi thưởng thức hạnh phúc ấy, biết rằng hạnh phúc ấy không phải là nguyên do của những đau khổ trong hiện tại và trong tương lai thì ta gọi hạnh phúc ấy là tịnh, bởi vì nó không có tác dụng làm cho thế giới và tâm hồn ta bất tịnh. Còn như khi ta uống rượu và tham đắm, chúng ta không có chánh niệm. Nếu có chánh niệm, ta đã biết rằng rượu làm hại gan. Rượu lại có tác dụng gây đau khổ cho mọi người, cho mình, cho xã hội và cho các loài khác. Ta biết rằng rượu được làm bằng chất ngũ cốc. Hằng triệu người đang chết vì thiếu ăn: uống rượu tức là sát sanh và đồng thời làm hư gan của mình. Nếu nghiện ngập mình sẽ làm đau khổ cho nhiều người: lái xe có thể làm chết người, say sưa sẽ làm nhiều điều xằng bậy. Vì vậy uống rượu mà không có chánh niệm là bất tịnh. Mà nếu uống rượu trong chánh niệm thì không thể nào có an lạc hạnh phúc được và nếu tiếp tục uống trong chánh niệm ta sẽ bỏ rượu không chóng thì chầy.

Hạnh phúc của người tu mang tính cách tịnh ấy. Tuy rằng thân thể ta miêu tả là bất tịnh, các thức ta ăn là bất tịnh, nhưng nếu ta có tự do, nếu ta có chứng nghiệm về vô thường và vô ngã thì tất cả các việc mà ta làm mới xem qua tuy giống hệt như việc người khác làm nhưng bản chất của chúng là tịnh, bởi vì chúng không gây khổ đau cho ta và cho người, bây giờ và trong tương lai.

Về bất tịnh quán, thầy tôi đã dạy: “không phải là thấy được sự dơ bẩn về vật chất của sự vật mới gọi là bất tịnh quán”. Bất tịnh quán là có thể nhìn với con mắt quán chiếu về nhân quả. Một hành động nào có thể gây đau khổ trong tương lai, mình quán chiếu thấy được kết quả đau khổ ấy thì đó có thể gọi là bất tịnh quán rồi. Đang đi ăn cắp mà chợt thấy rằng ăn cắp thì có thể bị ở tù, như vậy đã là bất tịnh quán. Quán như thế cho rõ ràng ta sẽ ngưng ý định ăn cắp. Nhờ tự do, chánh niệm và giới luật người tu có an lạc và có thanh tịnh. Niết Bàn của chúng ta là cái mà ta có thể tiếp xúc được ngay trong ngày hôm nay tới một mức độ nào đó.

Trong khi đi thiền hành, trong khi uống trà, ta thấy được và ta nếm được nó. Cái vui của ngũ dục rất mong manh, có khi chỉ kéo dài một phút, vài phút nhưng vì mê đắm quá có người đã nói “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt…!” Nhưng hạnh phúc của người giải thoát thì có thể kéo dài bao lâu cũng được. Khi mình ngắm nhìn một cội cây lá vàng rực rỡ trong mùa thu và mình thực tập hơi thở chánh niệm: “Tôi đang thở vào và tiếp xúc lá vàng rực rỡ, tôi đang thở ra và cảm thấy hạnh phúc.” Thực tập như thế trong năm phút ta có hạnh phúc trong năm phút. Nếu thở và ngắm trong mười lăm phút thì hạnh phúc ta kéo dài mười lăm phút.

Dĩ nhiên cội cây ấy không vàng rực suốt đời cho mình ngắm đâu. Lá vàng rồi lá đỏ, và cây từ từ trụi lá. Khi mình không tham đắm màu vàng mình mới biết tận hưởng màu đỏ và cảm thấy hạnh phúc. Rồi khi cây trụi lá mình cũng không tham đắm tiếc thương lá. Biết lá thế nào cũng sẽ trở lại, mình mới thấy được cái đẹp của cội cây với những cành khẳng khiu trụi lá, hùng vĩ can trường trong sương tuyết và mình lại có hạnh phúc. Rồi khi xuân về, mình lại được thấy cái đẹp khi những chồi hoa lá xuất hiện từ từ trên các cành khẳng khiu kia một cách thật mầu nhiệm.

Cái hạnh phúc không tham đắm đó gọi là thường. Khi mà có tuệ giác về vô thường rồi thì cây vàng mùa thu cũng đẹp mà cây trụi lá mùa đông cũng đẹp. Hạnh phúc đó là hạnh phúc trường cửu, hạnh phúc làm bằng chánh niệm và bằng tự do. Những danh từ thường, lạc, ngã và tịnh ấy có người sợ lắm. Họ xem những danh từ đó là kỵ, là không chánh thống, là ngoại đạo. Ta phải hiểu bốn tiếng đó không phải theo nghĩa trái chống với bốn tiếng vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh. Thường (permanence), lạc (joy), ngã (sovereignty), tịnh (non disturbance) ở đây là bốn đức của Niết Bàn, Niết Bàn có thể thực chứng được tại đây và bây giờ.

Bụt chỉ cho mọi người thấy tính cách vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh của mọi sự vật. Chúng ta quán chiếu để thấy được tính cách vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh của vạn vật vì vậy ta có khuynh hướng từ bỏ thế giới năm uẩn để đi tìm cái mà Bụt dạy, đó là Niết Bàn, trong đó có thường, lạc, ngã và tịnh. Rất nhiều người đã đi lạc vào trong cái quan niệm cho rằng niết bàn là một cái gì tách rời ra khỏi cuộc đời vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh này. Đạo Bụt đại thừa tới giúp ta nhìn sâu hơn, rõ hơn về những điều Bụt dạy và nói rằng cái mà ta đang đi tìm đó, cái hạnh phúc và Niết Bàn đó, chúng ta hãy tìm ngay trong thế giới của vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh. 
Vì vậy cho nên nếu khéo léo quý vị sẽ thực tập được tự do, chánh niệm, giới luật, chí và quán và sẽ chứng nhập được Niết Bàn, cảnh giới của thường, lạc, ngã, tịnh tại đây, ngay trong cuộc đời này. Bốn từ này phải được hiểu theo nghĩa của tự do, của giải thoát. Hạnh phúc mà chúng ta đi tìm có tính cách trường cửu, trường cửu vì được căn cứ trên tuệ giác về vô thường, căn cứ trên phong độ và nhận thức tự do của chúng ta. Hạnh phúc ấy đem lại một niềm vui vững bền, nuôi nấng chúng ta bằng nhiều chất liệu lợi lạc. Thực tập là để cởi bỏ những sợi dây ràng buộc, để có tự do. Tự do ấy mà không có thì ta không có gì hết. Khi sống cuộc đời của mình trong tu viện mà được nuôi dưỡng hằng ngày bằng bốn chất thường, lạc, ngã và tịnh ấy thì ta mới nên nói về Phật pháp và mới nên đem Phật pháp chia sẻ với người khác. Anh muốn giảng cho tôi nghe về thường, lạc, ngã và tịnh thì anh phải nếm nó trước. Anh hãy cười, hãy chứng tỏ là anh có hạnh phúc. Nếu không, tôi sẽ không theo học với anh.

 

(Trích “Về Việt Nam”, NXB Lá Bối, 1992 – Thích Nhất Hạnh Làng Hồng – ngày 28-11-199)

Tu phước và tu huệ

Tu Phước là gieo nhiều hạt giống phước đức (punya), như bỏ tiền vào trương mục tiết kiệm, như giúp người và làm những điều lành khác để sau này được hưởng hạnh phúc. Tu huệ là quán chiếu học hỏi luôn để mỗi ngày trí tuệ mỗi lớn thêm và có công năng giải phóng mình ra khỏi những ràng buộc khổ đau.

Ở Việt Nam đôi khi mình nói: "người đó chỉ tu phước thôi chứ không tu huệ" câu nói có vẻ chê bai; nhưng thật ra nếu không có huệ thì cũng khó có phước lắm. Tại sao người ta tu phước? Tại thấy rằng tu phước đem lại hạnh phúc cho mình và cho người: như vậy trong hành động tu phước đã có huệ rồi và những người tu học thông minh thì vừa tu phước vừa tu huệ (gọi là phước huệ song tu). Nếu tu hành cho vững chãi, ta sẽ thấy rằng trong phước có huệ và trong huệ có phước.

Có nhiều cách tu: khi quán niệm hơi thở thì gọi là tu an ban, khi ngồi thiền gọi là tu thiền tọa, khi đi thiền hành là tu thiền hành, khi rửa nồi gọi là tu rửa nồi, khi lau bát lau nhà gọi là tu lau bát lau nhà. Nếu tu đúng cách mình sẽ thấy rằng khi lau bát hoặc chùi cầu tiêu hoặc giúp một người đói…không phải ta chỉ tu phước mà cũng tu huệ. Khi tu tập ở Làng Hồng, giữ gìn chánh niệm, gieo trồng những hạt giống tươi mát an lạc vào tâm thức hàng ngày, không chỉ ta chỉ tu huệ mà cũng đang gieo trồng rất nhiều hạt giống phước đức.

Nói một cách đơn giản hơn, đó không phải chỉ là phước hay là huệ, chỉ là tu thôi. Tu như vậy là để đạt tới sự giải thoát ra khỏi những khổ đau và đem lại thêm an lạc và hạnh phúc. Hành động tu học của mình không phải là một cái gì tách ra khỏi kết quả của sự tu học; trong khi tu học mình phải cảm thấy được cái hạnh phúc của sự tu học; như vậy mới đúng tinh thần tu học ở đây.

Phương tiện và cứu cánh là một. Bước một bước chân trong chánh niệm, hớp một hớp trà, thở một hơi thở… những hành động đó gọi là tu tập. Những hành động đó phải mang tánh chất hạnh phúc trong tự thân chúng thì đó mới đúng pháp môn của chúng mình.

Tu ở đây biểu lộ khả năng có hạnh phúc của mình (the capacity to be happy). Thật ra trong tâm thức người nào cũng có một hạt giống gọi là khả năng có hạnh phúc. Nếu mỗi ngày biết tưới tẩm hạt giống đó thì mình sẽ có hạnh phúc và có liền trong phút giây mình tưới. Điều mà chúng ta phải làm là biết tưới tẩm hạnh phúc của mình ngay bây giờ, để cho khả năng cho hạnh phúc trong con người mình được phát triển, và như thế mình có hạnh phúc ngay trong giờ phút mình đang tu học.

Nếu xét lại phương pháp tu học ở đây, ta sẽ thấy rằng hằng ngày chúng ta ngồi thiền, đi thiền hành, uống trà, ăn cơm trong chánh niệm… là để tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc nơi chúng ta. Nếu trong khi làm những điều đó mà chúng ta an trú được trong hiện tại và chúng ta có hạnh phúc thì chúng ta đã làm đúng và tu đúng. Nếu trong khi làm những thứ đó mà ta vẫn thấy âu sầu, vẫn nghĩ rằng ta chỉ có được hạnh phúc trong tương lai thì ta đã không làm được đúng pháp môn mà thầy đã trao truyền và ta đang thực tập.

Khi thiên hạ hỏi "ở Làng Hồng quý vị tu theo pháp môn nào? Vipassana, thiền đại thừa hay Phật Giáo Việt Nam thống nhất?" Ta có thể nói: "Chúng tôi đang thực tập hạnh phúc." Khi mình có thể cắt đứt được những lo lắng, bực bội và sầu đau đã qua (những gì vừa xảy ra hồi nảy, vài giờ trước, vài ngày trước hay vài tháng, vài năm trước) và có thể cắt đứt được những tính toán và lo lắng về những chuyện sẽ xảy ra trong vài giờ, vài ngày, vài tuần, vài tháng hay vài năm nữa (thuộc về tương lai), thì mình đã có thể bước được những bước chân có an lạc và khỏe khoắn trong giờ phút hiện tại, nở được một nụ cười, và lúc đó mình đã thật sự có tự do để có thể tiếp xúc với sự sống.

Mình có thể thấy rõ là mình còn sức khỏe, còn hai mắt sáng thấy đủ hết các màu sắc, hình dáng, và đường nét; tai mình còn nghe được gió thổi, mưa rơi, chim hót, tiếng nói của người thương và đủ thứ âm thanh khác… Được như vậy, mình có hạnh phúc lập tức, và đồng thời làm cho khả năng có hạnh phúc của mình biểu lộ ra, và người khác nhìn sẽ thấy liền.

Khi được người ta khen ngợi mình, nói rằng cô ấy hay anh đó có sức chịu đựng lớn, làm việc siêng năng, thông minh… mình chưa thực sự cảm thấy hãnh diện. Nhưng nếu được khen là có khả năng có hạnh phúc, có an lạc, nhẹ nhàng, thảnh thơi và tươi mát, thì ta sẽ sung sướng hơn, bởi vì một người hạnh phúc và tươi mát như vậy sẽ biết cách chia xẻ niềm vui cho rất nhiều người.

Cần cù siêng năng mà cau có buồn bã thì chẳng sung sướng gì lắm. Người ta thường nói tu phước là chất chứa công đức để sẽ có hạnh phúc trong tương lai. Đó là một định nghĩa chưa được chính xác trong tinh thần Bụt dạy. Thật ra nếu tu phước đúng pháp thì hạnh phúc đó nằm trong phút giây hiện tại. Và mình biết rằng trong hiện tại mà có hạnh phúc như thế này thì trong tương lai nhất định sẽ có hạnh phúc.

Tương lai được làm bằng hiện tại. Dù mình có cực khổ cách mấy mà trong hiện tại mình không có hạnh phúc thì tương lai mình cũng không có hạnh phúc đâu, lý do là tương lai được làm bằng chất liệu hiện tại. Ngày hôm nay nếu bạn mỉm cười được, thảnh thơi được, an trú được trong hiện tại, vui hưởng được từng bước chân, từng tách trà, và từng nụ cười, thì cái vốn liếng hạnh phúc ngày hôm nay sẽ làm ra cái vốn liếng hạnh phúc cho ngày mai. Chúng ta thường bị ám ảnh bởi ý tưởng là hôm nay phải cực khổ, ngày mai mới có thể sung sướng. Ví như câu ca dao:

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Hôm nay khó nhọc ngày mai mới có thiên đường của hạnh phúc. Không chắc lắm đâu. Tôi thấy hai câu sau có chân lý nhiều hơn và đẹp hơn hai câu đầu. Hai câu ấy cho thấy rằng làm việc chung, có đủ vợ, chồng và con trâu là vui biết mấy! Cùng đồng tâm làm việc, đó đã là hạnh phúc rồi, đâu có cần ngày mai ngày mốt gì nữa. Nếu đã đồng tâm làm việc trong hạnh phúc hôm nay thì tương lai dĩ nhiên sẽ được làm bằng hạnh phúc.

Khả năng có hạnh phúc của mình được biểu lộ trong hai trường hợp: trường hợp không làm việc và trường hợp làm việc. Đi thiền hành cũng hạnh phúc mà chùi nồi cũng hạnh phúc. Đi thiền hành, cắt đứt hết những tính toán lo âu, sợ sệt, bước những bước thật thanh thản và nhẹ nhàng, miệng nở nụ cười tươi mát, hít thở không khí trong lành buổi sáng, đó hạnh phúc đã đành mà chùi nồi cũng vậy: trong khi chùi nồi ta cắt đứt những lo lắng, lăng xăng, những suy tư tính toán, ta không hấp tấp, ta làm việc thật thanh thản, thì việc chùi nồi không thua kém gì việc đi thiền hành hay ngồi thiền tọa.

Trong những lúc đó mình thật sự có hạnh phúc, mình an trú trong giây phút hiện tại, mình là một con người thật sự tự do. Trong khi chùi nồi, nếu ta không bị kéo đi bởi chuyện đã qua và chuyện sắp tới, nếu ta cắt đứt được những sợi dây phiền lo tính toán bất an, thì ta thực đang chùi nồi một cách thật thanh thản, an lạc, và ta không làm hấp tấp như đang bị ma đuổi. Bị ma đuổi là cố làm cho mau xong để còn đi học kinh.

Nếu nghĩ rằng học kinh mới là hạnh phúc còn chùi nồi không có hạnh phúc, thì khi học kinh ta cũng có thể không an trú được trong việc học kinh, ta sẽ vừa học kinh vừa tính toán tiếp: học kinh cho giỏi thì mới có hạnh phúc trong tương lai, phải học cho cực khổ thì sau này mới hạnh phúc.

Học kinh đâu có quan trọng bằng sống theo lời kinh dạy. Tu là thực tập sống theo lời kinh dạy, tập an trú thảnh thơi trong từng hơi thở, từng giây, từng phút, từng bước chân và từng hành động. Khi an trú thảnh thơi được trong từng phút giây của sự sống, ta tiếp xúc được với tất cả những sâu sắc mầu nhiệm của sự sống.

Ta nhìn sâu vào hiện tại để thấy hiện tại bao gồm hết quá khứ và tương lai, bao gồm cả vũ trụ vạn hữu. Thấy quá khứ và tương lai nhưng ta không trôi lăn vào quá khứ và vào tương lai, bởi vì trong chánh niệm, hiện tại vẫn là nền tảng. Mình phải chứng minh khả năng hạnh phúc thảnh thơi của mình trong từng giây phút.

Những phương pháp thực tập để ta tự biến từng phút giây của sự sống ta thành những phút giây an vui hạnh phúc thảnh thơi đã được trao truyền, và nếu quý vị nghĩ rằng tới Làng Hồng chỉ để học kinh Đại Thừa thôi thì rất là uổng. Quý vị nào mới tới chưa được hướng dẫn xin hỏi quý vị thọ giáo của Làng vì những người đó biết cách làm mà cũng thực sự đang tự làm hạnh phúc cho chính mình.

(Thầy giảng ngày 17-11-1992 – Được in trong sách: Về Việt Nam – Sáu bài giảng tại Làng Hồng về gốc rễ hạnh phúc và tu tập)

 

Mảnh trời xanh

Tâm sáng chói

Tổ Lâm Tế dạy rằng mỗi chúng ta đều có cái tâm sáng chói. Nếu tìm về được tâm sáng chói ấy, vận dụng được tâm sáng chói ấy thì ta cũng làm được như các vị Bụt và các vị Bồ tát. Ta có thể làm được ngay bây giờ. Nhưng cái tâm sáng chói đó của ta bây giờ không được sáng lắm tại vì ta không chịu tu tập. Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Thế Tôn có nói rằng tâm của ta vốn sáng chói nhưng vì phiền não làm uế nhiễm cho nên đen tối. Vì vậy muốn sử dụng tâm sáng chói đó ta phải trở về và tu tập. Cũng giống như một mảnh vườn lâu ngày không trồng trọt thì đất sẽ khô cứng, sẽ có gai góc và cỏ dại mọc đầy. Tâm ta cũng vậy. Tâm không tu tập thì cũng giống như một khu vườn đầy gai góc cỏ dại, và vì vậy tu tập là trở về làm việc trên miếng đất tâm của mình. Chữ tu có nghĩa là làm cho tốt trở lại, như trong danh từ "tu bổ", chữ tập có nghĩa là luyện cho quen, làm cho quen. Tâm của ta là đất và trong đất đã có những hạt giống tốt. Đất Xóm Thượng có sẵn hạt rau dền, ta chỉ cần cày lên và tưới nước thì rau dền mọc lên. Sự tu tập cũng vậy. Từ chỗ không có ta làm cho có. Tâm sáng chói có đó nhưng vì ta không tu tập cho nên nó không biểu hiện ra. Nó không biểu hiện ra được thì ta không làm được như Bụt, như các vị bồ tát. Cái diệu dụng đó không phải đi tìm ở ngoài, nó đã có sẵn ở nơi đất tâm của ta.

Đây là một đoạn trong kinh Tăng Chi Bộ "Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đưa đến bất lợi lớn như là tâm không tu tập". Tâm không tu tập thì đưa đến rất nhiều phiền não, giận hờn, chia rẽ, oán thù, khổ đau, bất lợi rất lớn cũng như một mảnh đất không được chăm sóc gieo trồng thì sẽ đưa tới gai góc bụi rậm. "Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đưa đến ích lợi lớn như là tâm được tu tập". Tâm mà được tu tập thì sẽ đưa đến lợi ích lớn, sẽ có từ, có bi, có trí, có dũng làm hạnh phúc cho ta và cho đời.

Tâm sáng chói mà Tổ Lâm Tế đề cập tới là tâm đã có sẵn trong mỗi người của chúng ta. Tâm ta mà không sáng chói được tại vì bị phiền não che lấp. Phiền não có nhiều loại như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Tâm của ta giống như một con ngựa hoang. Muốn con ngựa hoang trở thành một con ngựa hữu dụng ta phải có nghệ thuật gọi là điều mã. Tâm ta giống như một con vượn chuyền cành. Nó kéo ta đi, ta không điều phục được nó. Vì vậy cho nên ta không làm được như Bụt và các vị bồ tát đang làm. Tâm ta mà như vậy thì dù ta có học hỏi cách mấy đi nữa, ta có học thuộc lòng tam tạng kinh điển và diễn giảng giáo lý ba thừa trôi chảy đến mấy thì ta vẫn bị kéo đi. Vì vậy cho nên vấn đề là phải trở về nắm lấy tâm và điều phục tâm mình. Nếu không thì sẽ đau khổ nhiều. Còn nếu điều phục được tâm thì sẽ đưa lại lợi ích lớn, hạnh phúc lớn.

Những sợi dây cương để điều phục tâm

Ở Thái Lan và ở một số các nước Á châu khác người ta điều phục được cả những con voi rừng rất hung hăng. Có khi họ dùng những sợi xích bằng sắt để cột chân voi lại, đem về huấn luyện và điều phục. Những con voi rừng hung hăng như vậy mà có thể trở thành những con voi hữu dụng có thể chuyên chở, có thể giúp người. Chính những con cọp trong các gánh xiệc cũng do người ta điều phục được và làm được những điều mà những con cọp thường không làm được. Tâm ta cũng vậy. Nó là một con voi hoang, một con ngựa hoang. Ta phải làm thế nào để cột con voi hoang, cột con ngựa hoang đó lại và luyện tập cho nó. Ban đầu ta phải có những sợi dây để cột nó lại. Những người đi bắt ngựa hoang có một sợi dây thòng lọng dài. Họ cỡi trên lưng một con ngựa đã thuần thục rồi và cầm sợi dây đó chạy theo con ngựa hoang. Khi vừa tầm thì họ liệng sợi dây ra tròng lấy con ngựa. Con ngựa hoang bị cái thòng lọng kéo lại thì vùng vẫy muốn thoát đi mà không được, từ từ con ngựa đó được đưa về và được luyện tập để trở nên hữu dụng. Tâm ta cũng vậy. Tâm ta là con ngựa hoang, và phương pháp thực tập chánh niệm là những sợi dây cương giữ con ngựa hoang lại để con ngựa từ từ thuần đi.

Ở Làng Mai chúng ta có nhiều phương pháp, chúng ta có những sợi dây cương nắm và cột được tâm, cột được ý. Nắm lấy ý gọi là thủ ý, thủ tức là nắm và ý là tâm. Ta có thể nắm được ý bằng nhiều phương pháp. Phương pháp đầu là hơi thở có chánh niệm, gọi là an ban thủ ý. An ban tức là hơi thở vào hơi thở ra.

Tại Làng Mai ta lại có phương pháp đi. Ta nắm lấy hơi thở và nắm lấy bước chân. Nếu quý vị không sử dụng những sợi dây của Làng Mai thì quý vị không nắm lấy được tâm của mình. Vì vậy ai tới Làng Mai cũng phải sử dụng những sợi dây đó. Những sợi dây đó không phải của những người khác đưa ra để cột ta mà chính ta làm ra và sử dụng lấy để tự cột tâm mình lại. Nếu không thì có học cách mấy, có thực tập quán chiếu cách mấy cũng không được. Trước hết là phải nắm lấy tâm, gọi là thủ ý, tức là nắm lấy tâm ý. Nếu quý vị thực tập độ chừng vài tuần lễ thì quý vị sẽ thấy tình trạng thay đổi. Phải thực tập cho miên mật chứ không thể thực tập khơi khơi. Tôi đã đi ngang qua những thời gian thực tập rất miên mật như thế nên tôi đã có sự chuyển hóa. Quý vị không thể làm nửa vời, làm lưng chừng được. Phải cương quyết nắm cho được tâm mình mà trước hết là nắm lấy thân tại vì thân tâm đi đôi với nhau. Hơi thở thuộc về thân, hai chân cũng thuộc về thân nhưng nắm được hơi thở và bước chân thì ta từ từ nắm được tâm.

Trong sinh hoạt hàng ngày, khi ta lái xe đi chợ, nấu bếp hoặc rửa chén, những lúc đó là những lúc ta thực tập nắm lấy tâm. Đừng làm việc suông. Làm việc suông thì ở ngoài đời người ta làm bao nhiêu rồi, không lý ta vô chùa để rồi cũng làm việc giống hệt như ngoài đời? Trong khi rửa chén, nấu cơm, tưới nước, ta làm thế nào để ta có thể nắm được tâm mình. Ta trở về với tâm mình cũng giống như người điều mã luôn luôn ở với con ngựa.

Ở Làng Mai chúng ta có một số bài kệ để thực tập. Chúng ta đã thuộc lòng những bài kệ đó nhưng chúng ta phải đem áp dụng thực tập cho đàng hoàng. Nắm lấy hơi thở, nắm lấy bước chân thì một vài tuần sau chúng ta bắt đầu nắm lấy được tâm của chúng ta. Tâm chứa đựng thân và thân cũng chứa đựng tâm. Những bài này là những thiền phổ rất hay, rất đơn giản. Bài Quay về nương tựa hải đảo tự thân là một bài rất mầu nhiệm. Những lúc tâm ta hoang mang, ta không biết nên làm gì cho đúng; những lúc tình trạng trở nên nguy hiểm mà ta trở về được với hơi thở để thở theo bài đó thì tâm ta an lại liền lập tức. Ví dụ như khi đang ở trên máy bay, ta nghe tin rằng không tặc đã chiếm lấy máy bay rồi và có thể làm nổ máy bay bất cứ lúc nào. Chính lúc đó là lúc ta phải thực tập những bài này. Ta sẽ sống hay sẽ chết, nhưng ta sẽ sống hoặc sẽ chết trong sự vững chãi của tâm. Nếu mỗi người trên máy bay đều có thực tập thì ta có cơ hội sống nhiều hơn, tại vì người nào cũng vững chãi, người nào cũng không náo loạn; không náo loạn thì có thể thấy được rõ ràng là mình nên làm gì và không nên làm gì để tình trạng nguy hiểm có thể được chấm dứt.

Quay về nương tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt
Soi sáng xa gần
Hơi thở là pháp
Bảo hộ thân tâm
Năm uẩn là tăng
Phối hợp tinh cần
Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát
Là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu
Không gian thênh thang.

Quay về nương tựa hải đảo tự thân, đây là lời dạy của đức Thế Tôn khi ngài 80 tuổi. Ngài biết rằng sau khi ngài tịch đi thì sẽ có vô số các vị đệ tử xuất gia và tại gia cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa, cho nên Ngài dạy rằng có một hải đảo tự thân và mỗi khi ta thấy bơ vơ, lạc lõng, buồn chán, do dự không biết làm gì cho đúng thì ta hãy trở về cái hải đảo đó để có sự an toàn. Đó là cái tâm vững chãi của ta. Một hơi thở đưa ta về hải đảo đó ngay, hải đảo có sự vững chãi. Hải đảo đó không phải tìm ở ngoài. Trong tâm có hạt giống của sự vững chãi, của sự thảnh thơi, có hạt giống của Bụt, và ta quay về nương tựa nơi ấy. Ở bên Cơ Đốc giáo, những lúc hoang mang sợ hãi người tín đồ cũng quay về nương tựa nơi Chúa, nhưng sự thực tập không duy lý bằng, không rõ ràng bằng. Ta biết trong mỗi người đều có hạt giống của sự vững chãi, sự thảnh thơi, sự không sợ hãi, ta trở về nương tựa nơi những hạt giống đó, thì những hạt giống đó có tính cách cụ thể hơn ý niệm về Chúa, ý niệm về Bụt. Trong ta có những hạt giống tốt và những hạt giống xấu, trong số các hạt giống tốt có hạt giống của sự vững chãi, của tự do, của hiểu biết và của trí tuệ. Chính cái đó làm chỗ nương tựa che chở cho ta, về nương tựa vào những cái có thật chứ không phải vào những cái gì mơ hồ trong tương lai.

Trong tư thế ngồi ta thở vào và trong khi thở vào ta có thể đọc bốn chữ "quay về nương tựa". Khi thở ra ta đọc bốn chữ "hải đảo tự thân". Trong tư thế đi cũng vậy, khi thở vào thì ta đọc "quay về nương tựa", khi thở ra ta đọc "hải đảo tự thân". Phải có sự quay về thật sự chứ không phải chỉ có lời tụng niệm. Trong các tư thế ngồi, nằm, đứng, đi, ta đều có thể thực tập được quay về nương tựa, hoặc ta có thể "quay về" trong hơi thở vào, "nương tựa" trong hơi thở ra, "hải đảo" thở vào, "tự thân" thở ra.

Khi quay về ta sẽ gặp gì? Chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần. Quay về ta sẽ gặp Bụt mà Bụt không phải là một cái gì trừu tượng. Bụt đây là chánh niệm. Ngoài chánh niệm ra không thể nào có Bụt được. Chánh niệm là khả năng trở về với giây phút hiện tại, biết được những gì đang xảy ra. Những gì đang xảy ra là hơi thở vào và hơi thở ra. Đó gọi là an ban thủ ý tức là chánh niệm về hơi thở. Khi một người thở vào có ý thức, thở ra có ý thức thì trong người ấy phát khởi ra năng lượng chánh niệm, chánh niệm đó là Bụt. Nếu không có chất liệu của chánh niệm người đó không thể được gọi là Bụt. Vì vậy chánh niệm là Bụt. Khi niệm "Nam mô A Di Đà Phật" chưa chắc ta đã có thể chế tác chánh niệm tại vì ta có thể đang niệm như một con vẹt. Niệm Bụt mà niệm Bụt đúng là trong khi niệm ta chế tác được chánh niệm. Nếu không niệm Bụt mà ta niệm hơi thở, niệm bước chân, niệm đám mây, niệm hòn sỏi với chánh niệm thì đó cũng là Bụt. Vì vậy cho nên chánh niệm là Bụt chứ không phải danh từ "Bụt" là Bụt.

Khi trở về với hải đảo tự thân ta gặp Bụt liền, Bụt dưới hình thức chánh niệm và chánh niệm là ánh sáng soi cho ta thấy những gì ở gần, những gì ở xa nên gọi là "soi sáng xa gần". Chánh niệm là ánh sáng. Khi uống nước mà ta biết rằng ta đang uống nước thì đó là có ánh sáng rồi, còn khi uống nước mà không biết mình đang uống nước thì đó là bóng tối; bước đi một bước biết là bước đi một bước thì đó là ánh sáng. Chánh niệm có nghĩa là nhận diện được cái gì đang xảy ra và sự nhận diện đó là ánh sáng soi chiếu. Khi có ánh sáng soi chiếu thì ta không sợ hãi nữa. Có chánh niệm tức là có năng lượng để soi sáng và biết cái gì đang xảy ra. Định nghĩa căn bản của chánh niệm là biết những gì đang xảy ra.

"Hơi thở là pháp, bảo hộ thân tâm", hơi thở ở đây là hơi thở chánh niệm chứ không phải hơi thở thường. Mỗi ngày ta đều thở ra, thở vào không ngừng, nhưng cái đó không phải là Pháp. Khi ta thở vào mà biết ta đang thở vào, khi ta thở ra mà ý thức được có hơi thở ra thì đó mới là Pháp. Pháp này không phải là Pháp nói hay Pháp viết mà là Pháp linh hoạt đích thực (the living dharma) cũng như chánh niệm là "the living Buddha". Phật sống có mặt khi ta có chánh niệm, Pháp sống có mặt khi ta có hơi thở chánh niệm và khi có hơi thở chánh niệm rồi thì pháp này bảo hộ cho cả thân và tâm. Khi ta thất thần, sợ hãi, hoảng hốt, sắp điên loạn thì ta trở về với hơi thở. Ta thở vào, thở ra có chánh niệm thì hơi thở vào, thở ra đó sẽ đưa ta vào trong trạng thái của sự an ổn. Ví dụ có người báo cho ta hay là ta có bệnh ung thư hay người thân của ta vừa bị thương không biết có sống sót được qua tai nạn hay không v.v…

Trong tất cả những trường hợp đó ta đều phải trở về với hải đảo tự thân và thực tập bài này. Bài này rất hay. Tôi đã sử dụng rất hiệu nghiệm trong những lúc khó khăn của tôi và lúc nào cũng thành công. Khi thân ta lâm vào tình trạng nguy biến và khi tâm ta rơi vào tình trạng khủng hoảng, thực tập bài này ta sẽ lấy lại được thăng bằng. Bài này đích thực là bài tập Quy y Tam bảo. Tuy nó không nói Quy y Tam bảo nhưng kỳ thực nó là quy y Tam bảo đích thực. Tam bảo không phải ở những đối tượng thờ cúng mà Tam bảo là thực tại có thật trong tâm ta. Nếu quý vị thực tập mà không thành công thì tôi hứa là tôi sẽ không đi dạy nữa. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm thì hơi thở chánh niệm trở thành ra một năng lượng bảo vệ cho thân và tâm. Năng lượng đó là Pháp linh động. Có Pháp sống cùng với Phật sống trong ta thì không có lý gì ta phải lo sợ nữa. Trong những trường hợp khi ta không biết nên làm gì cho đúng thì ta biết rằng cái mà ta có thể làm được trong giờ phút này là trở về để nương tựa nơi Tam bảo, nhờ sức Tam bảo để che chở cho mình. Tam bảo đây không phải đối tượng của sự kính ngưỡng hay thờ cúng mà Tam bảo đây là những năng lượng có thật.

Năm uẩn là tăng phối hợp tinh cần. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm thì hơi thở chánh niệm đó gọi là Pháp sống, Pháp linh hoạt. Hơi thở này bắt đầu điều hòa năm uẩn của ta, đưa tâm trở về với thân, nhận diện và ôm ấp những cảm thọ, cảm xúc và tạo ra sự hòa hợp ở trong cơ thể ta cho nên gọi năm uẩn là tăng. Năm uẩn là thành phần của tăng thân ở trong con người ta và năm uẩn đó có thể rời rạc, có thể chống đối nhau, có thể hỗn loạn nhưng khi có hơi thở chánh niệm tức là Pháp linh hoạt tới rồi thì năm uẩn đó bắt đầu tới với nhau trong một trạng thái có hòa điệu. Chỉ cần thực tập năm, mười phút là ta thấy được sự hòa điệu đó của năm uẩn và sự hòa điệu đó đưa lại sự bình an, sự vững chãi của thân tâm. Thiền phổ này rất mầu nhiệm.

Trong một kiếp trước, khi đức Thế Tôn còn đi tìm đạo thì ngài có gặp một dạ xoa. Con dạ xoa nói: "Ta biết một câu kệ về chánh pháp nhưng mà ta chỉ có thể đọc cho ngươi nghe nếu ngươi bằng lòng để ta ăn thịt ngươi sau đó". Tiền thân của đức Thế Tôn nói: "Được, bây giờ anh nói cho tôi nghe bài kệ chánh pháp đó đi rồi tôi sẽ để cho anh ăn thịt tôi". Bài kệ này cũng có giá trị thực tập rất lớn. Bài này có giá trị trong mọi hoàn cảnh. Dù cho khó khăn, điên đảo, nguy biến cách mấy mà nếu quý vị trở về hơi thở và thực tập bài này thì quý vị sẽ có an ninh, sẽ có Tam bảo hộ trì. Tam bảo hộ trì không phải như một quyền phép mê tín mà Tam bảo là chánh niệm, có khả năng soi sáng cho ta và cho ta biết nên làm gì và không nên làm gì trong lúc này. Hơi thở chánh niệm là Pháp sống, có khả năng điều hợp thân tâm và đưa lại sự thăng bằng của thân tâm.

Riêng tôi, tôi đã thừa hưởng được rất nhiều từ bài thực tập này và tôi không đợi đến khi có khó khăn mới sử dụng. Đó là sự thực tập hàng ngày, mà sự thực tập có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong ngày. Lái xe cũng có thể thực tập bài này mà ăn cơm cũng có thể thực tập bài này. Khi nhai ta có thể nhai theo nhịp của bài này và khi nhai hết bài này thì cơm trong miệng rất nhuyễn, nuốt vô sẽ rất dễ tiêu. Thay vì nói chuyện này, chuyện kia, nghĩ chuyện người này, chuyện người kia, nghĩ chuyện bên này, nghĩ chuyện bên kia thì ta an trú trong bài kệ này để ăn cơm. Tôi đã ăn cơm vô số lần với bài kệ này. Ngồi đó và trong khi ăn cơm tôi thực tập quy y Tam bảo. Quy y Tam bảo một cách rất khoa học chứ không phải quy y như một người theo tôn giáo. Từ Bụt ở đây được định nghĩa là chánh niệm, Pháp là hơi thở chánh niệm và Tăng là năm uẩn điều hợp với nhau dưới ánh sáng của chánh niệm. Trong khi đi ta có thể thực tập được bài này. Nếu ta đi hai bước với hơi thở vào thì ta niệm "quay về, quay về" rồi khi thở ra ta niệm "nương tựa, nương tựa". Khi đi mau hơn, ví dụ hơi thở vào ba bước, hơi thở ra ba bước, thì ta đọc thêm "tôi quay về, và nương tựa, nơi hải đảo, của tự thân, chánh niệm ấy, tức là Bụt, đang soi sáng, khắp xa gần, hơi thở ấy, là chánh pháp, đang bảo hộ, cả thân tâm, năm uẩn kia, là tăng thân, đang phối hợp, rất tinh cần." Ta chỉ cần một chút thông minh thì hai chữ trở thành ba chữ. Trong khi chạy bộ quý vị cũng có thể thực tập được theo bài này. Khi chạy tôi thường thực tập bài này hoặc một bài khác chứ không bao giờ tôi chạy mà không thực tập theo một bài kệ.

Thành ra những vị nào chưa thuộc lòng như cháo những bài này thì phải học và đem ra thực tập liền. Ta nên biết rằng những lúc ta bơ vơ, bối rối không biết làm gì cho đúng để bảo hộ thân và tâm thì bài này là bài cần thực tập để trở về được trong những lúc đó. Điều hay nhất ta có thể làm để đối phó với những trường hợp như thế là trở về hơi thở và thực tập những bài này. Phải biết rằng ta đang làm cái mà ta đang cần làm, ta có thể làm; đã làm được rồi thì tự nhiên ta không còn lo lắng nữa. Ta chỉ lo lắng sầu khổ, sợ hãi khi ta không biết rằng mình phải làm gì cho đúng. Còn khi biết rằng ta đang làm cái ta có thể làm hay nhất trong lúc này, trong những cơn bối rối đó là thực tập trở về thì trạng thái đánh mất tự thân được chấm dứt liền lập tức. Mầu nhiệm vô cùng. Bài này rất đáng để cho ta đổi thân mạng của mình để nghe, nghe rồi thì để cho dạ xoa ăn thịt cũng được.

Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát

Làm sao ta trở thành một bông hoa trong khi ta thở vào, và làm sao ta cảm thấy sự tươi mát trong khi ta thở ra? Đây là thiền sỏi của các bé. Nếu các bé làm được thì ta cũng phải làm được. Khi đi một mình, ta có thể đi thiền rất chậm. Chậm nhiều hay ít tùy theo ta nhưng khi ta làm được rồi thì tại sao ta phải đi chậm quá, tuy mỗi bước chân phải có đủ thì giờ để ta sống cho thấu đáo cái thấy đó. Cái thấy là ta đã quay về, ta đang nương tựa, ta đang thật sự ở trong hải đảo của tự thân và ta đang tiếp xúc với thực tại một cách sâu sắc. Nếu chưa tiếp xúc được thì ta chưa nhấc chân lên, giống như khi ta đóng một dấu ấn có son, ta muốn dấu ấn đầy đủ thì ta phải đè mạnh con dấu các phía để cho son in lên đủ rồi ta mới nhấc con dấu lên. Bước chân của ta cũng vậy. Khi ta chưa hoàn toàn tới được với giây phút hiện tại thì bước chân ta vẫn còn một chút tính cách của sự đi như bị ma đuổi. Thành ra khi đi thiền một mình, ta có cơ hội đi chậm bao nhiêu cũng được, còn khi đi chung với đại chúng ta phải đi với một tốc độ trung bình của đại chúng. Ví dụ bước đi và nói "bây giờ", ta phải nếm, phải tiếp xúc cho được cái bây giờ rồi lúc đó ta mới bước khác và nói "ở đây", giống như dấu ấn in sát vào văn bản. Thỏa mãn rồi thì ta mới bước bước khác và nếu chưa tiếp xúc được thì ta có thể để vậy cho đến khi nào ta tiếp xúc được với cái bây giờ thật sâu thật vững rồi ta mới đi bước tiếp. Trong những bước ấy tâm ta hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của ta. Sợi dây của tâm ý được cột lại rất đàng hoàng, rất dễ chịu. Con ngựa hoang, con voi hoang đau khổ khi bị buộc bằng những sợi dây xích sắt, bị đánh ở trên đầu, nhưng khi thực tập ta không đau khổ như vậy, trái lại sự thực tập có thể đưa tới niềm an lạc và hạnh phúc rất lớn. Vì vậy nên thay vì dùng thì giờ của ta để nói chuyện này, chuyện kia, để cười giỡn thì ta để giờ ra để làm chuyện này. Ta trở về chăm sóc vườn tâm của ta tại vì ta đi tu là để làm chuyện đó. Ta đi một mình trong vườn sồi, ta đi một mình trong vườn tre, ta tha hồ mà thực tập. Với mỗi bước chân như vậy ta dẫm vào sự thật, dẫm vào thực tại gọi là "bộ bộ đạp trước thật địa", đó là một câu kệ của vua Trần Thái Tông. Mỗi bước đều dẫm vào thực tại cả chứ không phải là ta đi trong giấc mơ, ta không đi như bị ma đuổi. Khi làm được như vậy bằng cách thực tập một mình thì đến khi đi với tăng thân ta thực tập rất dễ. Làm chậm được rồi thì nhanh ta đi cũng được, chứ không hẳn là phải đi chậm ta mới tiếp xúc được hiện tại với tất cả mầu nhiệm. Cũng như khi nhìn một bông hoa, ta nhìn làm sao để có thể thực sự thấy được nó và ta mỉm cười, thấy được nó như một thực tại chứ không phải như một bóng ma.

Mỉm cười với trời xanh

Trong tiểu thuyết L'étranger của Albert Camus, có một người tử tù bốn mươi mấy tuổi rồi mà chưa bao giờ thật sự thấy trời xanh. Ông ấy bị ở tù tại vì trong một cơn bực bội ông đã giết chết một người, ông tên là Meursault. Hôm đó ông biết rằng là ngày mai ông sẽ bị đem xử tử. Nằm trong phòng giam, ngửa đầu lên ông thấy một cái khung cửa tò vò, qua khung cửa tò vò đó ông thấy được trời xanh. Ông rất ý thức chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa ông sẽ bị xử tử, và kỳ này không biết tại sao ông thật sự thấy được trời xanh. Chưa bao giờ ông thấy được trời xanh như vậy mà trời xanh đó chỉ được thấy qua một khung cửa nhỏ. Sống tới bốn mươi mấy tuổi rồi mà ông ta chưa bao giờ nhìn và thấy được trời xanh một cách sâu sắc như vậy.

Khi ta nhìn một cái gì, ta phải nhìn sao để cho thấy được sâu sắc và sau này khi người ta có hỏi: "Sao, anh sống ở trên thế gian mấy chục năm anh đã thấy trời xanh lần nào chưa?" Ta phải nói là có thấy. Khi thấy được trời xanh như thế thì trời xanh không còn ở trong một giấc mơ nữa mà đó là thực tại, đó gọi là thật địa. "Bộ bộ đạp trước thật địa", mỗi bước ta đi đều dẫm vào đất đai của thực tại.

Có một lần tôi tiếp một ký giả của nhật báo San Francisco Chronicle, sau khi phỏng vấn xong tôi đưa ông ra xe và chỉ cho ông bước những bước chân chánh niệm như thế từ chỗ ngồi phỏng vấn dưới ba cây tùng cho đến bãi đậu xe. Nửa đường tôi mời ông dừng lại, ngửng lên nhìn trời xanh và đề nghị ông thực tập: "thở vào tôi thấy trời xanh, thở ra tôi mỉm cười với trời xanh". Trước khi từ biệt ông nói với tôi: "Tôi chưa bao giờ nhìn trời xanh như vậy cả!" Có chút năng lượng chánh niệm thì trời xanh thật sự là trời xanh. Mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của ta, ta phải sống như vậy.

Có chánh niệm thì tất cả đều trở thành thật. Trong khi sống như vậy thì tâm của ta ở trong vòng tay của ta, nó không còn đi như con ngựa hoang nữa. Vì vậy cho nên có sự khác biệt giữa việc điều phục con ngựa hoang với việc điều phục tâm. Nếu ta biết phương pháp điều phục tâm thì điều phục tâm không làm ta đau khổ như khi con ngựa bị điều phục, tại vì phương pháp chánh niệm thực tập ở Làng Mai rất dễ chịu, mỗi giây phút đều có thể đưa tới sự an lạc và hạnh phúc. Hơi thở cũng vậy mà bước chân cũng vậy. Thực tập đưa lại sự hoan lạc và nuôi dưỡng chứ không làm cho ta phải trầy da tróc vẩy như sợi xích cột chân voi lại hay sợi thòng lọng cột cổ con ngựa lại. Tâm ta hung hăng nhưng ta có những phương pháp bất bạo động để ôm lấy tâm của ta như nắm lấy bước chân và nắm lấy hơi thở. Ta có thể thực tập bài kệ này trong khi ngồi thiền. Nếu trong khi ngồi thiền mà không biết làm gì thì quý vị hãy thực tập bài này đi. Ta có thể bắt đầu buổi ngồi thiền của mình bằng bài này. Trước khi thỉnh chuông cũng vậy, trước khi ăn cơm và trong khi ăn cơm cũng vậy, khi rửa chén, nấu nước, chạy bộ, bất cứ giờ phút nào ta cũng thể thực tập quy y Tam Bảo cả. Bản chất của bài này là quy y Tam bảo và như đã nói, Tam bảo đây không phải đối tượng của sự thờ cúng, tín ngưỡng. Tam bảo đây là những năng lượng có thật ở trong ta, ta chạm tới là nó phát khởi. Đó là năng lượng của chánh niệm, của pháp, của năm uẩn.

Nếu ta chỉ có một bài kệ để thực tập thì sau một thời gian bài kệ có thể bị soi mòn và bài đó sẽ không còn hiệu nghiệm nữa. Dù bài đó có hay mấy đi nữa mà ta sử dụng nhiều quá nó sẽ lờn. Cũng như một bài hát mà ta ưa thích, ta cứ nghe hoài nhưng nghe tới tuần thứ hai thì ta sẽ ngán. Ngán như thế thì rất uổng. Ta phải giữ cho bài đó luôn luôn được tươi mát. Cũng vì vậy cho nên ta phải xen kẽ và sử dụng những bài khác nữa.

Hiện tại tuyệt vời

Bài thứ hai cũng là một thiền phổ rất quý, đó là bài "Vào ra sâu chậm". Bài này tiếng Anh và tiếng Pháp có khác thành ra khi dịch, quý vị phải linh động.

Vào ra
Sâu chậm
Khỏe nhẹ
Lặng cười
Hiện tại tuyệt vời.

Đây là một thiền phổ rất đơn giản có thể thực tập trong bất cứ lúc nào trong ngày. Thiền ngồi cũng như thiền đi: "Vào ra" tức là thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, nói tắt lại. Khi thở vào ta biết là hơi thở vào đang xảy ra. Tâm của ta không nghĩ đến chuyện gì khác. Tâm ta nắm lấy hơi thở. Nắm lấy hơi thở tức là nắm được tâm, tâm không chạy nữa. Hơi thở có chánh niệm là sợi cương nắm lấy tâm. Nội thực tập được câu đầu này là ta nắm được tâm rồi. Thở vào, đây là hơi thở vào của tôi, nhận diện hơi thở vào là hơi thở vào. Khi thở vào tôi biết rằng tôi đang thở vào và khi thở ra tôi biết tôi đang thở ra, đó là bài tập đầu do chính đức Thế Tôn dạy trong kinh An Ban Thủ Ý.

Sâu chậm có nghĩa là hơi thở vào đã sâu, hơi thở ra đã chậm. Nếu ta thực tập thở vào biết thở vào, thực tập thở ra biết thở ra trong một hai phút mà thành công rồi thì tự nhiên hơi thở vào sâu hơn và hơi thở ra sẽ chậm hơn, cả hai hơi thở vào ra đều sâu đều chậm. Đây là sự nhận diện tôi thở vào và tôi biết rằng hơi thở vào của tôi đã sâu hơn trước, chứ không phải tôi đang thở vào và cố gắng làm cho hơi thở vào sâu thêm. Sâu hơn chậm hơn có nghĩa là phẩm chất của hơi thở đã cao hơn trước. Trước khi ta thực tập thì hơi thở vào và hơi thở ra của ta ngắn và hổn hển, nhưng khi ta thực tập được nửa phút hoặc một phút rồi thì hơi thở vào của ta nhẹ lại, sâu lại, lắng lại, chậm lại và bắt đầu có sự thư thái ở trong thân tâm. Sở dĩ như vậy là vì nếu có sự thư thái nhẹ nhàng trong hơi thở thì cũng có sự nhẹ nhàng thư thái trong thân và tâm của mình. Hơi thở là môi giới giữa thân và tâm. Thở vào tôi nhận thức rằng hơi thở vào của tôi đã bắt đầu sâu, thở ra tôi nhận thấy rằng hơi thở ra của tôi bắt đầu chậm lại. Phẩm chất của hơi thở đã lên cao.

Thở vào tôi thấy khỏe. Thấy khỏe đây không phải tự kỷ ám thị. Tại sao đó không phải là tự kỷ ám thị? Tại vì nếu ta thành công trong hai bài tập đầu rồi, thì tự nhiên trong người ta thấy khỏe. Khi ta khỏe mà ta biết ta đang khỏe thì ta sẽ thấy khỏe thêm. Thở vào tôi cảm thấy khỏe, thở ra tôi cảm thấy nhẹ, chữ nhẹ ở đây là "khinh an", ta có thể dịch là "I feel light" hay "I feel at ease", chữ khỏe ở đây ta có thể dịch là "I feel good". Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, an trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời. Ta chỉ có một giây phút để sống thôi, đó là giây phút hiện tại. Nếu trở về giây phút hiện tại, ta sẽ tiếp xúc được với bao nhiêu mầu nhiệm ở trong ta và xung quanh ta.

Bài kệ này ta có thể hát được bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh hoặc tiếng Việt. Có một cái lợi cho những người thực tập bằng tiếng Việt, tại vì ngôn ngữ Việt Nam là đơn âm nên phối hợp với bước chân rất dễ, mỗi bước đều nhau; nhưng những người nói tiếng Pháp và tiếng Anh, nếu khôn một chút, cũng có thể tạo ra được những nhịp như khi ta tụng Tâm Kinh theo đơn âm, theo tiếng mõ và ta có thể tụng chung được cả chúng một lần rất dễ. Tôi xin cam đoan với quý vị chỉ sau vài tuần thực tập, quý vị sẽ thấy có sự thay đổi. Thở vào tôi thấy tâm tôi đã tĩnh lặng và thở ra tôi mỉm cười để công nhận rằng trong tôi có sự tĩnh lặng. Thở vào tâm tĩnh lặng cũng là bài tập của đức Thế Tôn. Khi ta có một cảm thọ hoặc cảm xúc nào đó và ta thực tập bài này thì cảm xúc hoặc cảm thọ đó sẽ êm dịu trở lại, đó gọi là thở vào tâm tĩnh lặng. Khi thực tập bài này ta đưa tới sự buông thư của thân và của tâm. Sự buông thư của tâm không thể có được khi không có sự buông thư của thân, cho nên bài này cũng có thể thực tập trong tư thế nằm. Trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi ta đều có thể thực tập được bài này. Bài trước cũng vậy.

Bài này cũng có thể thực tập trong khi ăn vì trong khi ăn ta không nói chuyện, ta vẫn tiếp tục thở có chánh niệm như thường và ta có thể nhai cơm theo bài này được. Bài này là một thiền phổ rất hay, quan trọng không kém một bài thoại đầu và đáng giá ngàn vàng. Tôi thực tập rất nhiều với bài này: khi bước ba bước thì ta đếm vào, vào, vào, ra, ra, ra, sâu, sâu, sâu, chậm, chậm, chậm. Phải vào, ra một thời gian, đi cho vững rồi ta mới đi tới sâu chậm. Ta thở bằng hai chân của ta và ta đừng tụng kinh "vào, vào, ra, ra" mà ta phải thực sự vào ra, thực sự sâu chậm.

Cố nhiên ta có thể không dùng bài kệ nào hết mà vẫn có thể dẫm vào thực tại, an trú chánh niệm trong từng bước chân. Nhưng khi tâm ta còn là con ngựa hoang thì ta phải cần dùng một vài dây cương, một vài sợi dây để kéo lại. Còn khi ta đã đi giỏi rồi thì đâu cần bài gì nữa, mỗi bước chân của ta thành ra một dấu ấn in xuống đất sự an lạc, sự thảnh thơi của ta. Đi như vậy một hồi thì mảnh đất ta đi trở thành thánh địa. Ta đi và để lại dấu ấn của sự an lạc, sự hạnh phúc của ta trên đó, người khác bước lên sẽ cảm thấy. Khi con ngựa thuần rồi, ta không cần những sợi dây cột nữa nhưng khi ta chưa nắm được nó thì ta phải sử dụng những sợi dây cho thật vững. Những sợi dây này dễ chịu lắm, không làm cho ta trầy da như những sợi xích sắt cột chân voi hay sợi thòng lọng xiết cổ ngựa.

Đây là Tịnh độ
Đây là Tịnh độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay
Bụt là lá chín
Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn
Quê hương nơi này
Thở vào hoa nở
Thở ra trúc lay
Tâm không ràng buộc
Tiêu dao tháng ngày.

Đây là một bài khác, bài "Đây là Tịnh Độ". Với bài này quý vị có thể thực tập mỗi hơi thở vào bốn bước, mỗi hơi thở ra bốn bước. Bài này đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Pháp môn của Làng Mai là không đi tìm Tịnh Độ trong tương lai. Tương lai có thể là một ảo tưởng, nếu trong giây phút hiện tại ta không tiếp xúc được với Tịnh Độ thì đừng mong gì trong tương lai ta có Tịnh Độ. Nếu trong giây phút hiện tại mà ta tiếp xúc với Tịnh Độ rồi thì chắc chắn Tịnh Độ sẽ có ở tương lai thật sự. Những mầu nhiệm mà ta trở về tiếp xúc được trong giây phút hiện tại đều thuộc về Tịnh Độ. Chính thân của ta cũng thuộc về Tịnh Độ, cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Không phải Tịnh Độ là một cái gì có ngoài thân và tâm ta. Thân của ta cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Tịnh độ không phải là một khung cảnh, một xứ sở có ngoài ta. Thân tâm ta mà không thuộc về Tịnh Độ thì không bao giờ ta vào được Tịnh Độ. Chỉ khi nào thân và tâm của ta thuộc về Tịnh Độ thì ta mới đi vào Tịnh Độ. Cho nên sự thực tập của ta là mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ. Và nếu anh không bước vào Tịnh Độ trong khi anh đang còn có mặt ở đây thì sức mấy mà anh bước vào được Tịnh Độ trong tương lai. Mà bước vào Tịnh Độ nhờ cái gì? Nhờ chánh niệm, tại vì chánh niệm đánh tan thất niệm, đánh tan tán loạn và đưa tới tuệ giác. Tuệ giác cho ta biết rằng trong giây phút hiện tại ta đang sống những giây phút mầu nhiệm của Tịnh Độ ở trong ta và chung quanh ta.

Đây là Tịnh Độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay

Nụ cười này không phải nụ cười ngoại giao, nụ cười làm duyên mà là nụ cười của chánh niệm. Tại sao phải cười? Tại vì sự sống mầu nhiệm quá chừng. Ta đã sống bao nhiêu năm rồi: ba chục, bốn, năm chục năm rồi. Thời gian vừa qua ta từng chạy theo những bóng dáng, những ảo tưởng. Bây giờ tỉnh rồi, ta biết quý những giây phút, những ngày giờ còn lại của ta và nguyện không xài phí một cách oan uổng ngày giờ của ta nữa. "Mỗi phút một viên ngọc quý, tóm thâu đất nước trời mây, chỉ cần một hơi thở nhẹ là bao phép lạ hiển bày: chim hót thông reo hoa nở, trời xanh mây trắng là đây". Sống như vậy mới là nghệ thuật sống và điều này ta có thể làm được bây giờ. Với tâm sáng chói đó, với chánh niệm đó ta có thể làm được như Bụt. Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ ở đây không phải chuyện mơ tưởng.

Thực tập của Làng Mai không phải là chuyện mơ tưởng. Ta không đầu tư vào tương lai vì những gì ta muốn đều có thể có trong giây phút hiện tại. Mỉm cười chánh niệm là như vậy, an trú hôm nay tức là trở về giây phút hiện tai. Bụt ở đâu? Bụt là lá chín. Bài này được viết trong mùa thu khi lá đang vàng tươi hay đỏ au. Người ta nói tới trái cây chín nhưng lá cũng chín và rất đẹp. Nhìn vào một tờ lá đỏ hay vàng au mà thấy Bụt, thấy Tịnh Độ trong đó tức là ta đã thành công rồi. Ta còn muốn đi tìm Bụt, tìm Pháp và Tịnh Độ ở đâu nữa? Nếu ta thấy được một tờ lá đỏ đẹp và mầu nhiệm như vậy thì Bụt, Tịnh Độ ở ngay trong tờ lá đó. Bụt là lá chín, Pháp là mây bay, những người theo Cơ Đốc giáo cũng phải thực tập như vậy. Đừng tìm Thượng để ở trên mây, trên trời mà phải tìm Thượng đế ngay trong giây phút hiện tại. Phải tìm Thượng đế ngay trong tờ lá đỏ, trong đám mây bay và phải có hạnh phúc ngay trong lúc đó thì mới tiếp xúc được với Thượng đế, còn nếu không thì Thượng đế chỉ là một ý niệm mơ hồ viễn vông. Đó là sự hy vọng vào tương lai. Thấy lá mình thấy Bụt, thấy mây mình thấy Pháp. Tăng thân khắp chốn, tăng thân ở đây không hẳn chỉ là người mà có thể là cây, là rừng, là lá, chỗ nào cũng có tăng thân. Quê hương nơi này, cũng như tổ Lâm Tế nói, giây phút nào cũng là giây phút trở về nhà mình. Trở về quê hương đích thật của ta là giây phút hiện tại thì ta không đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa cả. Quê hương là giây phút hiện tại, ngay chỗ này, ngay giây phút này và như vậy là ta tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng.

Quý vị thực tập bài này cũng là quy y Tăng, cũng là thực tập nương tựa Tam bảo. Thở vào thì anh thấy gì? Hoa nở nghĩa là những mầu nhiệm của sự sống. Thở ra anh thấy gì? Thấy trúc lay. Tâm không ràng buộc, không ràng buộc đây tức là không ràng buộc bởi những dự án, những mong ước tương lai của mình bởi vì ngay bây giờ, ở tại đây là đã có hạnh phúc tràn trề rồi. Ta không cần thiết kế một tương lai hay ao ước những gì mà ta chưa có. Ta cũng không tiếc thương quá khứ vì tất cả những cái đó đều là những ràng buộc. Tiếc thương về quá khứ hay ngóng trông những gì trong tương lai đều là ràng buộc. Tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày. Tiêu dao tức là tự do và có hạnh phúc trong mỗi giây phút. Khi ăn cơm, quý vị có thể ăn cơm theo bài này. "Đây là Tịnh Độ, Tịnh Độ là đây", thì ta còn đi tìm Tịnh Độ ở đâu nữa, đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa. Được ngồi ăn cơm với tăng thân trong chánh niệm cũng là đang ngồi ăn với Bụt và giáo đoàn nguyên thủy. Bụt và giáo đoàn nguyên thủy không phải thuộc về quá khứ đâu, nếu ta an trú trong hiện tại thì Bụt và giáo đoàn nguyên thủy đang có mặt ngay trong hiện tại. Và vì Bụt là chánh niệm nên không giây phút nào, không bữa cơm nào mà ta không được ăn chung với Bụt. Bài này cũng có bằng tiếng Pháp bằng tiếng Anh.

Đã về đã tới

Bài thứ tư là bài "Đã về đã tới."

Đã về, đã tới
bây giờ ở đây
Vững chãi, thảnh thơi,
Quay về nương tựa …

Nhờ Bụt và chư Tổ gia hộ lắm tôi mới nói ra được hai chữ "đã về, đã tới". Đã về, đã tới là pháp ấn của Làng Mai. Bất cứ sự thực tập nào, giáo lý nào mà không mang dấu ấn đã về đã tới thì không phải giáo lý và sự thực tập của Làng Mai – "I have arrived, I am home". Khi thực chứng được điều đó, thực tập được điều đó thì hạnh phúc có liền lập tức. Nếu anh chưa có hạnh phúc là tại vì anh chưa thành công ở chỗ đã về, đã tới; còn khi anh đã về, đã tới rồi thì anh thành công, anh có hạnh phúc liền. Vì vậy các cô, các chú nào mà chưa hạnh phúc là biết rằng mình chưa về, mình chưa tới.

Vững chãi, thảnh thơi. Vững chãi là không bị quá khứ và tương lai lôi kéo, thảnh thơi là tự to. Vững chãi thảnh thơi là hai đặc tính của hạnh phúc, của Niết bàn. Khi không có vững chãi, không có thảnh thơi thì anh không thể nói có Niết bàn được.

Quay về nương tựa. Quay về tức là quay về giây phút hiện tại, và nương tựa là nương tựa nơi hải đảo của tự thân, tức là nơi chánh niệm, hơi thở và bước chân. Chánh niệm về bước chân và hơi thở là những điều rất cụ thể, không phải là những gì trừu tượng. Tổ Lâm Tế dạy chúng ta phải quay về hiện tại và sử dụng tâm sáng chói của mình để đi vào thế giới Hoa tạng, đi vào cõi Bụt, vào thế giới Tịnh độ, nắm tay Bụt cùng đi chơi. Chuyện đó ta có thể làm được hôm nay. Tổ dạy một cách tổng quát như vậy và chỉ có những bậc đại căn đại trí mới làm được nhưng ở Làng Mai chúng ta có thể đi xa hơn, chúng ta đưa ra những phương pháp cụ thể, những pháp môn mà ai cũng có thể làm được. Ta không cần phải là bậc đại căn đại trí cũng có thể làm được và sống hạnh phúc như Bụt được.

Đã về, đã tới
Bây giờ, ở đây
Vững chãi, thảnh thơi
Quay về nương tựa
Nay tôi đã về
Nay tôi đã tới
An trú bây giờ
An trú ở đây
Vững chãi như núi xanh,
Thảnh thơi dường mây trắng,
Cửa vô sanh mở rồi,
Trạm nhiên và bất động.

Bốn bài này giúp ta thực tập để nắm lấy tâm mình. Đừng chỉ thực tập một bài mà nên thực tập luôn cả bốn bài để cho bài nào cũng còn mới. Thực tập bài này một thời gian rồi thực tập bài kia, đến khi ta trở lại thì bài này vẫn còn mới. Ta đừng để cho bài nào bị soi mòn. Trong khi mở khóa tu ta có thể sử dụng các bài này để giúp cho thiền sinh tại vì ai cũng có một cái tâm hoang sơ, một cái tâm chưa tu tập và do đó đã làm nên những lẫm lỗi khổ đau. Cho nên ta giúp họ nắm lấy tâm họ và đưa cho họ những sợi dây xích để buộc tâm của họ lại. Tâm mà không tu tập dễ bị thất niệm kéo đi.

Thất niệm là không có chánh niệm: ăn không biết mình ăn, uống không biết mình uống, đi không biết mình đi, nói những điều ác độc mà không biết là mình đang nói những điều ác độc, đang vướng mắc mà không biết mình vướng mắc, đang sống trong mầu nhiệm mà không biết mình đang sống trong mầu nhiệm … Thất niệm đi đôi với tán loạn. Thất niệm và tán loạn đưa tới bất chánh tri. Tri là biết, chánh là đúng, bất chánh tri là không có kiến giải chân chính. Khi tâm ta tán loạn thì ta nhìn sự vật một cách hời hợt, ta không thấy được sự thật và ta có những tri giác sai lầm. Trong khi đó Bụt là người có chánh biến tri. Bụt có chánh tri mà chánh tri này được áp dụng vào trong mọi trường hợp thời gian và không gian nên gọi là chánh biến tri, biến là cùng khắp. Vì muốn có được chánh biến tri ta phải thoát ra khỏi tình trạng thất niệm, tình trạng tán loạn và tình trạng bất chánh tri; đó là ba tâm sở bất thiện đem tới phiền não.

Khi ta không có chánh niệm, khi tâm ta tán loạn, ta hiểu lầm nhiều lắm. Ta không nhận diện được gì cả và ta gây ra những đổ vỡ, những xáo trộn hiểu lầm ở giữa anh em, chị em. Tâm không tu tập là như vậy. Do đó cho nên khi ta trở về nắm được tâm ta thì từ từ ta có chánh niệm, có chánh định. Chánh niệm để đối trị với thất niệm, chánh định để đối trị với tán loạn và khi ta có niệm, có định rồi thì bắt đầu ta có chánh tri. Ta có được cái thấy sâu hơn và ta sẽ không tạo ra những lầm lỗi, những khổ đau. Đó gọi là tâm có tu tập. Dù ta học giỏi cách mấy đi nữa mà ta không trở về nắm được tâm và tu tập cày cấy miếng đất của tâm, tưới tẩm hạt giống tốt trong tâm thì ta cũng không thành công.

"Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đem đến đau khổ như tâm không được tu tập, tâm không được tu tập đem lại rất nhiều đau khổ. Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào có thể lại đem lại an lạc như là tâm được tu tập, tâm được tu tập thì đem lại an lạc rất nhiều", đó là lời Bụt dạy. Tôi mong rằng tất cả mọi người trong đại chúng xuất gia cũng như tại gia đem hết tâm thành của mình ra mà thực tập những bài này. Nếu quý vị thực tập hết lòng trong một vài tuần thì quý vị sẽ thay đổi và khi quý vị biết thực tập tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác thì cố nhiên cái tuệ của quý vị sẽ được khơi mở ra. Ta sẽ có tuệ khi ta thực tập chánh niệm và chánh định. Mà chánh niệm, chánh định trước hết là cột tâm mình lại. Ở Làng Mai, muốn cột tâm mình lại thì trước hết ta cột hơi thở, cột bước chân vào trong chánh niệm. Ta có những bài tập rất hay để làm chuyện đó. Xin quý vị sử dụng cho hết lòng tại vì mục tiêu của người tu là giải thoát an lạc chứ không phải là để trở thành một học giả về Phật học.