Phương pháp thực tập soi sáng

Mấy ngày hôm nay đại chúng của các xóm thực tập soi sáng cho những vị sắp được thọ giới. Có một số các vị xuất gia và tại gia cũng sẽ được truyền đăng để làm giáo thọ. Họ đã làm giáo thọ thực tập một năm hoặc hai năm rồi. Làm giáo thọ khó lắm, cho nên nhiều người ngại không dám nhận đèn. Không ai nghĩ rằng mình xứng đáng để làm giáo thọ cả, nhưng ta phải có can đảm vì Bụt đang cần ta. Dầu đang còn yếu kém, ta cũng phải can đảm mà nhận lãnh trách nhiệm, rồi từ từ ta sẽ vững lên, sẽ giỏi lên.

Tiếp nhận cây đèn để làm giáo thọ không có nghĩa là ta đã giỏi rồi, thực sự ta chỉ mới bắt đầu thôi. Phải có bước đầu thì mới có bước thứ hai được. Vì vậy ta nên đi vào Giới Đàn với một tâm niệm rất khiêm cung, ta biết rằng ta còn yếu kém, ta biết rằng ta phải có một năng lượng lớn trong lòng mới có thể tiếp nhận được giới pháp: hoặc năm giới, hoặc giới Sa Di, hoặc giới Tiếp Hiện, hoặc Giới Lớn hoặc Tiếp Nhận Truyền Đăng. Ta thấy hổ thẹn, ta chưa đủ khả năng cũng như sức mạnh, nhưng vì ta là con của Bụt, học trò của Thầy, em của anh, em của chị cho nên ta phải có can đảm. Và Bụt, Thầy, anh ta, chị ta đang trông cậy nơi ta nên ta phải can đảm đi tới để tiếp nhận giới pháp đó.

Và cũng vì vậy, cho nên đại chúng với lòng từ bi đã ngồi lại soi sáng cho ta, soi sáng để cho ta thấy được những ưu điểm và những khuyết điểm của ta, và ta phải ngồi trong buổi soi sáng với tất cả sự khiêm cung để mà học hỏi. Soi sáng không có nghĩa là chỉ trích. Soi sáng tức là chỉ cho ta thấy rõ về tình trạng của ta, về những khả năng và những yếu kém của ta. Trong thời gian soi sáng đó ta được nghe không phải một người mà là được nghe tất cả mọi người trong chúng nói cho ta, và về ta. Tại vì mỗi người ai cũng có con mắt để nhận xét về ta cả. Một người có thể không thấy rõ tất cả những gì thuộc về ta, nhưng nhiều người thì thế nào với con mắt của tăng (gọi là Tăng Nhãn), chúng sẽ có thể thấy được ta rõ hơn. Thấy được ta rõ hơn và chỉ dạy cho ta thì ta biết rằng ta phải thực tập như thế nào để có những bước tiến.

Pháp môn soi sáng đã được áp dụng trong giới xuất gia, nhưng cũng cần được áp dụng trong giới tại gia. Trong một buổi soi sáng ban đầu ta nghĩ rằng người được thừa hưởng là người được soi sáng, nhưng kỳ thực tất cả mọi người trong chúng ta đều được thừa hưởng sự thực tập soi sáng ấy.

Soi sáng là một pháp môn thực tập rất hay và rất cụ thể của Làng Mai. Ta hy vọng rằng sau này các trung tâm tu học khác, các đạo tràng khác đều có cơ hội thực tập phương pháp này. Có khi sự thực tập này còn quan trọng hơn cả ngồi thiền. Ta không nên xem những buổi soi sáng là những buổi làm mất thời giờ. Trong những buổi đó ai cũng học hỏi được nhiều, ai cũng thấy được tự thân nhiều hơn, thấy được người em, người anh, người chị của mình rõ hơn.

Thường thường ta có một cái thấy về ta, và cái thấy ấy có thể có nhiều sai lạc, vì vậy cho nên ta cần phải có anh ta, chị ta, em ta chỉ cho ta thấy rõ thêm về ta. Hơn nữa, những cái thấy của ta về người kia cũng có thể sai lạc. Đầu tiên ta nghĩ rằng ta thấy đúng. Có thể là có những điểm đúng trong cái thấy của ta về người kia, nhưng cũng có thể có những điểm sai lầm, và vì vậy cho nên sau khi ta đã soi sáng cho người đó rồi thì ta ngồi lắng nghe những người khác soi sáng cho người đó. Có người có vài nhận thức giống như ta đã có, nhưng cũng có những nhận thức khác mà ta không có. Và khi ta ngồi lắng nghe tất cả mọi người trong chúng rồi thì ta thấy cái nhận thức của ta đối với đương sự được soi sáng đó đã trở nên rất khác với lúc ban đầu.

Đây là một pháp môn rất hay mà tất cả mọi người đều phải học hỏi. Ví dụ chúng ta có một chúng nhỏ thôi, chỉ có 8 người (trong những buổi soi sáng tại Xóm Thượng có khi có tới 60 người), và ta được đại chúng giao phó trách nhiệm phải mở đầu cuộc soi sáng. Ta sẽ nói những gì ta thấy về người được soi sáng này, nghĩa là những ưu điểm và những khuyết điểm về người đó. Tại Làng Mai, trước khi soi sáng ta phải ngồi thiền cho tĩnh tâm trước, rồi nghe tiếng chuông,

Đây là văn bản Quán Nguyện mở đầu các buổi soi sáng:

Lạy Bụt, lạy Tổ, hôm nay chúng con thực tập soi sáng cho các sư anh (sư chị) và sư em của chúng con. Chúng con biết tất cả chúng con đều là những thành phần của cùng một tăng thân, tất cả chúng con đều là xương thịt của cùng một tăng thân. Vì vậy, chúng con ý thức rằng soi sáng cho bất cứ ai trong tăng thân cũng là tự soi sáng cho chính mình. Chúng con nguyện sẽ đem hết tình thương và sự hiểu biết của chúng con để thực tập công việc soi sáng.

Chúng con nguyện tất cả những gì chúng con nói ra đều phát sinh từ thiện ý muốn đi tới một cái thấy chính xác về đối tượng soi sáng và cống hiến cho đương sự những đề nghị thực tập thực tế để có thể đưa tới những chuyển hóa tốt đẹp cho đối tượng soi sáng. Chúng con nguyện cố gắng không để cho sự buồn giận và những thành kiến làm sai lệch cái thấy của chúng con. Chúng con nguyện bất cứ một lời nói nào của chúng con cũng đều phát xuất từ tình thương. Chúng con biết trong khi soi sáng cho một thành phần của tăng thân, chúng con cũng đang soi sáng cho bản thân chúng con, vì vậy việc thực tập soi sáng cũng đem lại lợi lạc cho bản thân của mỗi chúng con.

Lạy Bụt và chư Tổ gia hộ cho chúng con để buổi thực tập soi sáng này được thành công viên mãn.

Văn bản này tuy ngắn nhưng cần được giải thích rất nhiều. Tất cả mọi người đều nên học hỏi trước về văn bản này trước khi tham dự vào một buổi soi sáng. Học và hiểu được văn bản này một cách sâu sắc thì đến khi nghe đọc ta mới tưới tẩm những hạt giống tốt trong ta được. Trước hết ta ý thức rằng soi sáng cho ai cũng là soi sáng cho chính ta. Tại vì những ưu điểm của người kia có thể ta cũng có, và những khuyết điểm của người kia có thể là ta cũng đang có. Có thể những khuyết điểm của người này ta cũng có nhưng ít hơn, nhẹ hơn, và cũng có khi nhiều hơn. Và mỗi khi nói ra được những ưu điểm của người này thì ta nhìn lại xem ta có những ưu điểm đó hay không. Nếu có nhiều thì ta mừng vui và phát nguyện rằng ta sẽ thực tập để phát triển thêm. Nếu có ít hơn người kia hay chưa có thì ta cảm thấy hổ thẹn, tự nhủ rằng ta sẽ cố gắng cho được như người ấy. Thành ra trong khi soi sáng ta có thái độ rất khiêm cung, sợ hãi. Sợ hãi này là môt sự sợ hãi rất lành mạnh, nghĩa là ta không quá tin rằng những điều ta nói chắc chắn là đúng. Các vị Tổ như Tổ Long Thọ trước khi bắt đầu một tác phẩm, dù có kiến thức sâu rộng về phật pháp cũng luôn luôn mở đầu rằng: con cầu mong chư Bụt gia hội cho những điều con nói đây phù hợp với giáo chỉ của Ngài. Nếu các Tổ như Long Thọ, Vô Trước và Thế Thân đều viết những câu như vậy trước khi đặt bút xuống viết một cuốn Luận thì ta là ai mà lại không có được sự khiêm hạ trong khi ta soi sáng cho sư anh của ta, sư chị của ta, sư em của ta? Phải khiêm cung lắm mới được!

Lạy Bụt, lạy Tổ, hôm nay chúng con thực tập soi sáng cho các sư anh (sư chị) và sư em của chúng con. Chúng con biết tất cả chúng con đều là những thành phần của cùng một tăng thân, tất cả chúng con đều là xương thịt của cùng một tăng thân.

Ở Việt Nam ta nói anh em như thể tay chân, tay và chân cùng thuộc về một xương thịt cả, thành ra tay phải đối với tay trái cũng vậy. Tất cả đau nhức của tay trái cũng là của tay phải, tất cả những hạnh phúc của tay phải cũng là của tay trái. Phải soi sáng dưới tinh thần đó thì mới đúng. Vì vậy, chúng con cũng ý thức rằng soi sáng cho bất cứ ai trong tăng thân cũng là soi sáng cho chính mình. Và vì vậy cho nên ta không muốn ta đau. Ta soi sáng như thế nào để người kia không bị đau, tại vì người kia đau thì chính ta cũng đau. Chúng con nguyện đem hết tình thương và sự hiểu biết của chúng con để thực tập công việc soi sáng.

Tình thương ta chỉ có hạn thôi, và sự hiểu biết của ta về người đó cũng có hạn thôi, nhưng ta vẫn đem hết tất cả những cái đó ra soi sáng. Có gì ta hiến tặng cái đó, ta không thể hiến tặng những cái mà ta không có. Nhưng mà có cái đó cũng đã là đỡ rồi. Ta có tình thương, ta có nhận thức về người kia cũng như về ta, ta ý thức được tình thương của ta còn hạn hẹp, cái hiểu biết của ta về chính ta và về người kia cũng đang còn hạn hẹp, không được chắc lắm, vì vậy ta không nên quá chắc rằng cái thấy đó của ta tuyệt đối đúng. Điều này quan trọng lắm. Và đây là sự thực tập cho bản thân ta chứ không phải là cho ai cả. Chúng con nguyện tất cả những gì chúng con nói ra đều phát sinh từ thiện ý muốn đi tới một cái thấy chính xác về đối tượng soi sáng. Nghĩa là ta chỉ có ý hướng đóng góp một vài yếu tố để đi tới cái thấy chính xác mà thôi. Chứ ta không nghĩ rằng ta có đủ tất cả những yếu tố chính xác, ta phải nhờ vào mắt của tăng thân nữa… để cống hiến những đề nghị thực tập thực tế có thể đưa tới những chuyển hóa tốt đẹp cho đối tượng soi sáng.

Nếu quả thực ta thương em ta hay là chị ta, ta muốn cho người đó có cơ hội chuyển hóa thì lời ta nói sẽ không có tính cách chỉ trích. Nếu ta nói: “Sư em sao ngồi thiền cứ ngủ gục hoài, lần nào vô thiền đường cũng thấy sư em ngủ gục, như vậy em không đáng được thọ giới lớn.” Điều đó có thể là sự thực, nhưng soi sáng như vậy thì không giúp được gì cho sư em hết. Ví dụ ta nói như thế này: “Sư anh thấy rằng không biết tại lý do nào mà sư em hay ngủ gục trong khi ngồi thiền, sư em hãy nghĩ lại xem mỗi tối sư em có đi ngủ sớm không hay là thức quá khuya? Hoặc sư em có chứng nhức đầu hay đau bụng gì khiến cho em ngủ không đủ? Em có nói chuyện với các sư anh khác chưa về chuyện mà tại sao em cứ ngủ gục trong khi ngồi thiền? Theo anh thì có lẽ phải nên làm thế này… thì em mới chuyển hóa được.” Rồi ta đề nghị những phương pháp rất cụ thể để cho người sư em đó biết được những gì có thể làm để khỏi phải ngủ gục trong khi ngồi thiền. Trong khi nói đó tình thương của ta được biểu hiện ra và người kia sẽ không bao giờ giận ta. Tình thương đó, thiện chí đó ai cũng thấy nơi ta, rất đẹp. Và vì vậy cho nên ta phải sử dụng sự thông minh của ta và kinh nghiệm của ta để cống hiến cho đương sự một nẻo thoát.

Có tình thương mà không có trí tuệ thì tình thương đó chưa phải tình thương đích thực. Ta có tình thương, ta muốn giúp đỡ sư em nhưng ta phải tìm ra cách, và trước buổi soi sáng ta tự hỏi đã tìm ra cách chưa, và ta đã từng giúp sư em của ta chưa, ta đã từng gọi riêng sư em tới để nói: “Này em, tại sao sư anh thấy sư em cứ ngủ gục hoài.” Ta đã không nói và ta đã không giúp, cho đến khi soi sáng thì mới lên án. Ta đã không giúp được sư em ta chút nào hết từ trước tới giờ, cho đến bây giờ ta đưa ra một phán quyết là sư em không được thọ giới, thì ta đã chứng tỏ là ta không có tình thương. Còn nếu trong quá khứ trước khi soi sáng ta đã từng lân mẫn với sư em, từng hỏi han sư em, từng giúp sư em rồi thì những gì ta nói trong buổi soi sáng này chỉ là sự tiếp nối của sự thực tập ấy thôi và tình thương cũng như thiện chí của ta không những được sư em nhận thấy mà cũng được tất cả mọi người trong chúng nhận thấy. Và đại chúng sẽ thấy được giá trị đó, sẽ tin được giá trị đó của ta, và ta làm gương cho những người khác. Khi soi sáng như vậy, ta là cái gương soi sáng cho những người khác. Và khi đến lượt họ soi sáng, họ cũng tập nói được như ta. Trong chúng nếu có một số người có thể làm được như vậy trong buổi soi sáng thì mọi người đều được học hỏi. Đó chính là giáo dục đích thực. Soi sáng không còn là một lao tác nữa, mà thành ra một buổi thực tập để nuôi dưỡng hạt giống tuệ giác và từ bi trong ta. Đó là một thứ thiền quán, ta gọi là thiền quán tập thể (collective meditation).

Chúng con nguyện cố gắng không để cho sự buồn giận và những thành kiến làm sai lệch cái thấy của chúng con. Có thể là ta đã từng có bực bội với người đó trong cuộc sống hằng ngày, cho nên bây giờ nhân có buổi soi sáng này ta nói ra cho bỏ ghét, ta trừng phạt bằng cách không cho thọ giới, không cho truyền đăng. Là con người, ta còn có buồn có giận, nhưng cái buồn cái giận đó cho ta một cơ hội để thực tập. Ta phải biết nhận diện cái buồn hoặc cái giận của ta. Phải biết đi tới người kia để tái lập sự truyền thông và hỏi tại sao sư anh đã làm như vậy, tại sao sư em đã làm như vậy, đã làm cho ta đau. Giữa anh em với nhau, giữa chị em với nhau ta phải đến nói cho người ấy hay, chứ đừng giữ kín trong lòng và đợi đi vào buổi soi sáng rồi mới nói để trừng phạt người kia, làm cho người kia mất đi một cơ hội của cuộc đời người ấy.

Chúng con biết trong khi soi sáng cho một thành phần của tăng thân, chúng con cũng đang soi sáng cho bản thân của chúng con, vì vậy việc thực tập soi sáng cũng đem lại rất nhiều lợi lạc cho bản thân của mỗi chúng con.

Khi ta đứng vào địa vị người soi sáng hay đứng vào địa vị người có trách nhiệm và có quyền quyết định cho số phận của người kia thì ta phải nhìn lại ta. Ngày xưa ta còn yếu kém như thế mà được các sư anh sư chị chấp nhận. Các anh các chị của ta, thầy của ta đã ôm lấy ta bằng tất cả tình thương, khuyến khích ta dầu ta còn đang yếu kém. Nhớ được điều đó rồi thì ta không còn khắt khe với sư em của ta nữa. Nếu không nhớ nhìn lại điều đó thì ta cứ coi các sư em của ta là những đối tượng xa vời: cho nó làm sa di hay thức xoa ba năm nữa, bốn năm nữa để cho mạnh lên rồi mới được thọ giới. Kỳ thực, nếu trong ba năm sắp đến mà ta vẫn cư xử với vị đó như vậy thì vị đó cũng sẽ còn yếu như thế, đã không tiến lên được chút nào mà đôi khi còn thụt lùi xuống nữa là khác. Đó là vì không có sự nâng đỡ của các anh, của các chị. Không phải thêm một năm hoặc là hai năm mà người kia sẽ mạnh ra đâu. Thời gian không làm cho người đó mạnh, thời gian có thể làm cho người đó đi xuống. Người ấy đi xuống hay đi lên được là do ta: ta làm sư anh, ta làm sư chị, ta phải tạo cho người ấy một cơ hội để cho người ấy đi lên. Người ấy có những yếu kém, đúng như vậy, chính người đó có những yếu kém cho nên mới cần sự nâng đỡ của ta. Tại vì ngày xưa chính ta cũng có những yếu kém và ta đã được nâng đỡ.

Có một sư chị đã không chấp nhận cho tất cả các vị tập sự xuất gia được xuất gia. Hồi đó hình như là đợt của các cây Trà Mi. Đứng về phương diện sức khỏe thì có một số các sư em tương lai ‘Trà Mi’ hơi yếu, và đứng về phương diện thực tập cố nhiên là không có ai hoàn hảo rồi, cho nên sư chị ấy đã không chịu. Trong số các cây Trà Mi có bốn người phái nữ: đơn xin xuất gia của họ đều bị bác bỏ hết. Nhưng mà đại chúng đã không theo ý kiến sư chị đó; cộng với sự nâng đỡ của thầy, cả bốn vị đều được xuất gia. Kết quả là sau khi xuất gia sức khỏe của bốn vị đều tăng tiến lên rất mau. Ta phải cho họ một cơ hội, ta phải đem tình thương ra mà tiếp xử. Tại vì tình thương đó là tình thương cho ta chứ không phải cho ai khác. Họ cũng là xương thịt của tăng thân, cũng như ta là xương thịt của tăng thân. Những người đã tương đối vững rồi thì đâu cần sự yểm trợ của ta nữa.

Chính những người đang còn yếu thì mới cần đến tình thương của ta, cần sự yểm trợ của ta nhiều hơn. Ta phải đặt ta vào trong da thịt của người đó. Và cái hay nhất là ta trở về lại thời của ta, ta thấy ta yếu kém như thế nào, ta thấy ta lo sợ như thế nào, phập phồng như thế nào khi ta chờ đợi quyết định của tăng thân thì ta sẽ hiểu được người sư em của ta. Và khi thấy được rồi ta sẽ tìm đủ cách để giúp người sư em đó. Khi người ta có một cái tâm, một ý chí tu học, một khối lửa trong lòng mà ta làm khó họ thì có thể họ đánh mất cơ hội đó và mất cả một đời tu của họ. Và vì vậy, những lời được nói ra phải rất là cẩn thận. Lời nói ấy quyết định số mạng của một người nên ta phải cẩn thận lắm mới được.

Khi ta bắt đầu mở lời soi sáng cho người ấy, ta có tất cả sự khiêm cung, tất cả sự thận trọng, và thấy được ta là ai trong hiện tại cũng như trong quá khứ. Lúc đó những điều ta nói sẽ có ích lợi, sẽ được tiếp nhận dễ dàng bởi người được soi sáng. Sau khi ta nói được hết những điều ta thấy rồi thì ta nghĩ rằng ngồi đây ta sẽ được nghe những ý kiến khác, cho nên ta mở rộng lòng ra để mà nghe người thứ hai nói.

Trong khi người thứ hai nói, người ấy có thể có những ý kiến phù hợp với ta và những ý kiến không phù hợp với ta, thì ta lại có một cơ hội để xét lại cái thấy của mình. Có thể ta thấy người này có một vài tri giác mà ta cho là sai lầm và ta không thích, nhưng ta có thể thấy được rằng người này cũng có vài nhận thức chính xác, có những cái thấy mà ta chưa thấy. Có thể là sau khi nghe người thứ hai nói thì ta đã thay đổi được quan niệm của ta một ít rồi. Dù ta chỉ thay đổi 1/10 quan điểm của ta thì ta cũng đã học hỏi được thêm rồi.

Đến khi người thứ ba mở lời ra nói thì ta cũng thấy có thể có những cái đúng và những cái mà ta thấy không phù hợp với nhận thức của ta. Và khi nghe người thứ tư nói thì ta lại có thể thấy cái mà ta nghĩ là người thứ hai sai bây giờ không còn sai nữa mà trở thành ra đúng. Và vì vậy cho nên ta cũng như tất cả những người khác ngồi trong buổi soi sáng được tiếp tục học hỏi. Cái này gọi là thực tập ‘kiến hòa đồng giải’.

Ý của ta là Chính Đề. Nếu người kia đồng ý với ta thì không nói gì, nhưng nếu người kia nói rằng cái ta thấy sai thì quan niệm thứ hai này được gọi là Phản Đề. Và cái Chính Đề này đang được đối diện với cái Phản Đề kia. Đối diện lần thứ nhất có thể là chưa có kết quả, tại ta không thấy được những yếu tố tích cực ở trong điều người kia nói, ta chỉ thấy những cái tiêu cực thôi. Nhưng có thể khi nghe một người kế tiếp nói thì tự nhiên trong cái Phản Đề ta thấy có một vài điểm đúng. Ban đầu ta thấy nó không có gì đúng cả, nhưng sau một hồi lắng nghe ta lại thấy trong những điều người kia nói có vài cái đúng, lúc ấy trong cái Chính Đề bắt đầu có sự rúng động, bắt đầu nứt rạn để cho những yếu tố đúng của Phản Đề đi vô.

Thành ra ở trong nhận thức của ta bắt đầu có sự chuyển đổi. Ta nghe hết rồi thì có thể cái Chính Đề của ta dung hợp với những Phản Đề khác để thành ra một Hợp Đề. Và sau khi nghe hết những người trong chúng nói rồi thì ta có một nhận thức rất khác với nhận thức ta có lúc ban đầu. Cuối buổi soi sáng cái thấy của ta trở nên rất gần với cái thấy của tăng thân, cái thấy của ta rất gần với Tăng Nhãn. Trước đó nó chưa phải là cái thấy của Tăng Nhãn, vì bây giờ ta thấy được qua con mắt của người sư anh, người sư chị, người sư em ta. Qua buổi soi sáng ta đã học thêm rất nhiều về người ấy, và có nghĩa là ta đã học thêm về chính ta.

Tất cả những gì của bất cứ ai trong chúng nói ra đều có thể giúp cho ta thấy được ta rõ hơn, chứ không phải chỉ giúp cho ta thấy được người kia rõ hơn. Chúng ta đều là người cả. Chúng ta đều có những hạt giống tốt, những hạt giống xấu. Chúng ta đều có những ưu điểm và những khuyết điểm. Và vì vậy, ngồi trong những buổi soi sáng, ta thấy được ta và ta thấy được người kia, nhờ nhìn người kia mà ta thấy ta. Và khi ta nhìn ta là ta thấy được người kia. Trong đời sống, có rất nhiều khi ta không nhìn thấy ta, điều đó rất nguy hiểm. Và không nhìn thấy được ta thì làm sao nhìn thấy được người kia. Cho nên “cái Đốt và cái Bị Đốt”[1] liên hệ với nhau một cách rất mật thiết, không thấy được cái Đốt thì không thể thấy được cái Bị Đốt.

Thường thường nếu chưa quen thì ta sợ đi vào ngồi trong những buổi soi sáng. Ở những giai đoạn đầu thì trong các buổi thực tập soi sáng của Làng Mai, đương sự không có mặt. Chính đương sự cũng không thích, vì ngồi đó thì cảm thấy hơi khó. Nhưng sau nhiều tháng thực tập rốt cuộc tất cả bảy tăng thân đều áp dụng cách soi sáng với sự có mặt của đương sự, bởi vì sự có mặt của đương sự đem lại rất nhiều lợi ích. Cố nhiên soi sáng có nhiều phần, phần thứ nhất là nói về ưu điểm của người kia. Nói về những ưu điểm của người kia không phải để khen, để tưới hoa, không phải để làm cho người kia hoan hỷ. Nói về những cái tốt của người kia cũng là soi sáng và vì vậy ta phải biết cách nói. Thế nào người kia cũng có cái tốt, và khi nói về cái tốt đó ta không làm cho người kia tự hào mà để người kia có dịp nuôi dưỡng và phát triển thêm. Người kia không trở nên tự mãn về cái tốt của họ. Ta chỉ làm cho hẹp lại cái hố ngăn cách giữa những tích cực và tiêu cực. Bởi vì thật sự cái tiêu cực sẽ có thể trở thành cái tích cực, và rác có thể trở thành hoa nếu ta biết cách.

Sự có mặt của đương sự ở trong buổi soi sáng đó giúp cho tất cả mọi người, giúp cho cả đương sự. Đương sự ngồi lắng nghe mà không nói câu nào hết và tập mở rộng lòng ra để nghe. Đương sự không nói sư anh nói đúng hay là sư anh nói sai, cứ nghe sư anh nói và không sợ hãi. Nếu sư anh hiểu lầm về ta thì sau buổi soi sáng ta có dư cơ hội để tới giúp sư anh lấy tri giác sai lầm của sư anh ra. Ta biết là ta sẽ có thể làm điều đó cho nên ta không ngồi đó mà giận, ta không ngồi đó rồi tự nhủ: “Được há, kỳ sau đến phiên tôi soi sáng rồi sẽ biết”.

Trong khi ngồi nghe mà nếu ta thấy có một người sư anh hay một người sư em có tri giác sai lầm thì ta nói: “Được rồi, tội nghiệp quá đi! Chắc mình đã có vụng về nào đó khiến cho người này hiểu lầm mình như thế”. Ta phải tìm ra cho được nguyên do hiểu lầm kia, và nhất quyết làm thế nào để lấy được cái tri giác sai lầm đó ra khỏi người sư anh hoặc người sư em kia. Vì vậy ta ngồi rất yên, và ta có thể mỉm cười được. Thành ra người được soi sáng phải học cách ngồi để được soi sáng. Và ngồi một cách rất vô úy. Nếu quả thật người đó nói trúng điểm yếu của ta thì ta nói: “Chết rồi, vậy mà lâu nay mình không biết, nhờ bây giờ sư anh chỉ cho mới thấy”.

Ta tu là ta muốn đi tới, thành ra ta phải biết phát khởi tâm niệm biết ơn. Tại người ta thương cho nên mới nói, mà người ta nói đây không phải để chỉ trích, mà là để nâng đỡ soi sáng cho ta. Mà dù người ấy có chỉ trích để trả thù ta, thì ta vẫn có thể ngồi đó mỉm cười và tự nói: “Cái này đâu phải là soi sáng, cái này là trả thù mà.” Ta có thể làm hay hơn vậy. Đến lượt ta soi sáng, ta sẽ không làm vậy. Ta thấy ta không giận. Thành ra người được ngồi soi sáng phải thực tập mới có thể làm hay được, mới có thể an nhiên tự tại và tươi cười (be his best) được. Và khi ta ngồi được như vậy thì ta có thể làm gương được cho người khác.

Có những người ngồi để được soi sáng mà cứ mỉm cười hoài, ai nói chi họ cũng chỉ cười. Cái lợi của việc có đương sự ngồi đó là ta phải cân nhắc những chữ và những lời ta nói. Tại ta biết rằng ta đang ngồi trước một cái hoa và ta có thể làm cho cái hoa nhầu, thành ra ta lựa những lời và những chữ nhẹ nhàng. Mục đích của ta không phải để tấn công, mục đích của ta là đưa được vào trái tim người đó những điều ta nghĩ rằng người đó cần phải tiếp nhận. Vì vậy, ái ngữ rất quan trọng. Ta có cơ hội để thực tập ái ngữ. Có đương sự ngồi đó là ta có cơ hội thực tập ái ngữ. Ta không nói rằng: “Nói ra thì lỡ người đó giận, thôi đừng nói nữa.” Nói như vậy là ta không thực tập. Thầy dạy ta, Bụt dạy ta là phải thực tập ái ngữ. Còn câm như hến thì không phải thực tập. Vì vậy khi đến phiên ta, ta phải làm bổn phận cho đàng hoàng. Ta phải thở, phải chắp tay, phải dùng ái ngữ, phải có tình thương, đó là thực tập. Thành ra những buổi soi sáng như vậy là những buổi thực tập rất nhiệm mầu chứ không phải là lao tác. Vì vậy ta đừng đợi tới giờ chót rồi mới tổ chức soi sáng. Soi cho mau mau mà soi không đàng hoàng, soi không kỹ thì tội cho chúng, tội cho các đương sự và cho chính mình. Nếu cần thì bỏ ngồi thiền để có giờ mà thực tập soi sáng. Đó là chuyện Xóm Thượng đã làm mấy ngày hôm nay. Nhưng nếu Xóm Thượng bắt đầu làm trước đây một tháng thì vẫn hay hơn.

Khi ta nghe người kế tiếp soi sáng có những điều trái chống với cái thấy của người vừa soi thì ta bực bội. Ta không bực bội đương sự nhưng ta lại bực bội người soi sáng này, tự nhủ tại sao mà ý kiến của người này cổ hủ, khắt khe và hẹp hòi, rồi ta đâm ra giận người này, người đang soi sáng. Trong khi giận như vậy thì ta không tiếp nhận được gì, tại vì có thể ta đang có cảm tình với người vừa soi xong. Cho nên khi nghe người này nói ta cho là hẹp hòi, là cố chấp, là không có tình thương, rồi ta giận người đó. Như vậy trong khi ngồi trong soi sáng ta không thừa hưởng được lợi lạc nào cả. Ta nói rằng: “A! hẹp hòi quá há!”. Ta có thể cho là người đó hẹp hòi, không có tình thương, nhưng ta lại vẫn có thể nghĩ rằng: “Không sao, vì lâu nay ta không tiếp xúc với người đó, không giúp người đó, cho nên người đó mới có những thái độ hẹp hòi và những tiêu cực mà ta chưa giúp chuyển hóa được. Người đó cũng là sư anh, sư em của ta, thì thế nào sau này ta cũng giúp cho người ấy lấy ra được những thái độ hẹp hòi ích kỷ đó”. Và vì trong lòng ta có tình thương trấn ngự nên ta không đau khổ trong khi ngồi nghe. Nếu ta đau khổ trong khi ngồi nghe tức là ta đã không thực tập.

Nghe những điều trái với nhận thức ta, đó là chuyện cơm bữa, tại sao ta lại giận? Vì vậy cho nên sự thực tập của ta là ‘Kiến Hòa Đồng Giải’. Làm thế nào để ngay trong buổi soi sáng này hoặc ở ngoài buổi soi sáng ta sẽ tìm cách giúp cho người đó thay đổi nhận thức kia đi. Đó chính là sự thực tập của ta. Thực tập của ta là gì khác nữa? Không lý sự thực tập của ta là chỉ là đi nấu cơm, rửa nồi, lái xe mà thôi? Thì chính thời gian nấu cơm, rửa nồi và lái xe cũng là để làm chuyện đó trong chánh niệm, để chiêm nghiệm sâu sắc xem làm thế nào để chuyển hóa tự thân và chuyển hóa người kia.

Nếu ta nuôi sự bực tức trong lòng tức là ta đang không thực tập. Nếu thực tập thì ta biết rằng những quan điểm như vậy đã phát sinh ra từ nhận thức sai lầm, từ thái độ cổ hủ và ta phải làm thế nào để mà giúp chuyển đổi chúng. Trong quá khứ ta đã làm gì để giúp người đó? Nếu ta đã không làm gì để giúp người đó thì tại sao ta lại trách người đó? Và nếu ta hối hận là trong quá khứ ta đã không giúp người đó thành ra người đó mới nói như vậy thì ta sẽ phát nguyện rằng từ đây về sau, sau buổi soi sáng này, ta sẽ tìm cách nói chuyện với người đó để người đó từ bỏ cái thái độ hẹp hòi kia đi. Có được nhận thức như vậy rồi thì ta ngồi yên và cảm thấy an lạc. Cho đến khi ta nghe tới người thứ bảy nói thì ta thấy rằng điều mà người thứ năm nói hình như cũng có một ít sự thực trong đó. Thành ra ta luôn luôn học hỏi bất cứ trong giờ phút nào của buổi soi sáng. Văn bản Quán niệm mở đầu cho buổi soi sáng này cần được in vào trong sách Nhật Tụng Thiền Môn và trong khi chờ đợi ta có thể in vào lá thư Làng Mai sắp tới.

Và đây là những lời quán nguyện truớc bất cứ một buổi họp nào của Tăng Thân, tại vì mỗi buổi họp của tăng thân là một cơ hội. Họp không phải chỉ là để giải quyết công việc, để đi tới những quyết định. Họp cũng là để xây dựng tình huynh đệ. Làm công việc cũng là một cơ hội rất là tốt vì trong khi làm việc chung với nhau, ta có cơ hội hiểu nhau, thấy được những tích cực, tiêu cực của nhau rồi ta tìm cách để cho cái hiểu đó tăng trưởng nơi ta và nơi người khác. Cùng với cái hiểu cái thương cũng được tăng trưởng.

Do đó cho nên tổ chức một cái gì, dù là một khóa tu hay một buổi lễ, cũng là để xây dựng tình huynh đệ. Đừng vì sự thành công của buổi lễ hay khóa tu mà anh em giận nhau thì hỏng hết. Đó là ta đi ngược lại những điều ta muốn làm. Tổ chức một khóa tu, tổ chức một buổi lễ là một cơ hội thực tập chứ không phải là để có thêm danh thêm lợi, để gặt hái những lời khen. Và nếu vì danh vì lợi, vì thành công của khóa tu hay buổi lễ mà làm cho tình anh em, tình chị em sứt mẻ thì thà rằng không tổ chức mà hơn, dầu là tổ chức Phật Đản. Không có lễ Phật Đản mà đôi khi hay hơn tại vì không có Phật Đản thì chị em, anh em không giận nhau.

Đây là văn bản Quán Nguyện trước buổi họp:

Lạy Bụt, lạy Tổ, chúng con xin nguyện họp buổi họp hôm nay trong tinh thần Ý Hòa Đồng Duyệt và Kiến Hòa Đồng Giải. Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp đưa lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam bảo. Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con, nhưng chúng con cũng nguyện sẽ không mở lời nếu chúng con nhận thấy trong tâm còn có tâm hành bực bội. Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp, và lỡ nếu trong số chúng con có người nhận thấy có sự căng thẳng, Chúng con xin lập tức ngừng lại để sám hối tại chỗ và trả lại cho đại chúng không khí Ý Hòa Đồng Duyệt.

Phối hợp những cái thấy với nhau và cùng đi tới một cái hiểu chung, Đó là Kiến Hòa Đồng Giải của đại chúng. Sau đó ai cũng hoan hỷ. Nếu sau buổi họp mà có người không hoan hỷ thì buổi họp đó chưa thành công hoàn toàn. Đây không phải là vấn đề bỏ phiếu để rồi đa số thắng thiểu số. Khi có Kiến Hòa Đồng Giải thì sẽ có Ý Hòa Đồng Duyệt. Tâm ý của mọi người trở thành một khối, trở thành tâm ý chung và mọi người có chung một niềm vui. Và khi tâm ý của ta hòa hợp với nhau và ta tổng hợp được mọi cái thấy và bỏ tư kiến ra để theo cái thấy của tăng thân rồi thì tự nhiên ta có niềm vui. Niềm vui đó sinh ra ở chỗ tâm ý ta đi đôi với nhau, gọi là ‘Ý Hòa Đồng Duyệt’.

Lạy Bụt, lạy Tổ, chúng con xin nguyện họp buổi họp hôm nay trong tinh thần Ý Hòa Đồng Duyệt và Kiến Hòa Đồng Giải. Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp đưa lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam Bảo.

Họp mà có sự chống đối thì đó không thể nào gọi là phẩm vật cúng dường. Ta làm gì cũng là để cúng dường Tam Bảo. Đốt nhang cũng là để cúng dường Tam Bảo, lái xe đi đón một người bạn thiền sinh cũng là để cúng dường Tam Bảo, hay chùi cầu tiêu cũng là để cúng dường Tam Bảo, và họp buổi họp cũng là để cúng dường Tam Bảo. Nếu họp một buổi họp mà có sự chống đối, buồn giận thì đó không phải là một phẩm vật cúng dường.

Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp mang lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam Bảo. Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con.

Ta thấy cái gì thì ta nói cái đó. Ta không cần che giấu nhưng ta phải sử dụng ái ngữ. Chứ không phải nói để cho tan nát hết rồi nói “tôi chỉ nói sự thật thôi mà!” (I only spoke the truth!) Nói sự thật như vậy thì thà đừng nói. Nói mà làm tan vỡ tình anh chị em thì không nên nói. Phải có những phương pháp khác, phải có những biện pháp khác.

Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con, nhưng chúng con cũng nguyện sẽ không mở lời nếu chúng con nhận thấy trong tâm còn có tâm hành bực bội.

Khi trong tâm còn có bực bội thì ta không nên nói, ta phải thở cho đến khi nào không còn cảm thấy bực bội thì mới nên nói. Trong khi nói mà thấy bực bội trở lại thì phải im lặng và xin phép để sau sẽ nói tiếp. Khi có bực bội mà nói thì đó không phải là phẩm vật cúng dường. Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra. Nếu có sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp thì nên chấm dứt buổi họp. Điều này tôi đã từng đề nghị cho ông chủ tịch quốc hội Ấn Độ, mỗi khi có sự căng thẳng thì có người thỉnh tiếng chuông để thở. Khi nào thấy không khí lắng dịu thì vị chủ tọa của buổi họp mới cho tiếp tục mà thôi. Và ông đã lắng nghe rất thích thú.

Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp, Và lỡ nếu trong số chúng con có người nhận thấy có sự căng thẳng, chúng con xin lập tức ngừng lại để sám hối tại chỗ và trả lại cho đại chúng không khí Ý Hòa Đồng Duyệt.

Ý hòa đồng duyệt là không khí phải có lúc bắt đầu và lúc chấm dứt buổi họp.

Sự thực tập soi sáng này rất quan yếu và nếu cần ta sẽ chú giải thêm văn bản này để chia sẻ với các tăng thân khác trên thế giới.


[1] Phẩm 10 ‘Phá Đốt và Bị Đốt’, Trung Quán Luận của tổ Long Thọ – Bài giảng trong Khóa Tu Mùa Đông 2002 – 2003

Pháp thoại ngày 5 tháng Giêng năm 2003 Xóm Hạ, chùa Cam Lộ, trong khóa tu An Cư Kiết Đông 2002-2003

Tịnh Độ cầm tay

Có một cặp vợ chồng ở bên Đức qua và đang ở lại đây một tuần. Cả hai còn trẻ và đang tu theo Tịnh Độ. Họ nói với sư cô Chân Không là họ cũng thích tu Thiền nhưng họ chọn theo Tịnh Độ bởi vì: “Lỡ mình chết thì mình về Tịnh Độ liền, còn nếu mình tu Thiền thì hơi nguy vì tu Thiền mà lỡ nửa chừng bị chết thì mình không biết sẽ đi về đâu. Thành ra tu Tịnh Độ cho chắc ăn”. Sư cô Chân Không đã chỉ bày họ thấy được cái tánh bất nhị giữa Thiền và Tịnh Độ và họ đã hiểu.

Khi học về tư tưởng Phật giáo, chúng ta thấy rõ rằng trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế, các thầy các sư cô đã tu với mục đích để đạt được quả vị A La Hán, thoát ly sinh tử. Còn quý vị Phật tử cư sĩ thì tu để có hạnh phúc và để được sanh ra về cõi Trời hay ít nhất là cõi Người, chứ chưa nghe nói tới cõi Tịnh Độ. Trong thời gian Bụt còn tại thế thì danh hiệu đức A Di Đà chưa được nhắc tới. Trong thời vua A Dục, thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, thì đạo Bụt đã được truyền qua Iraq, Iran và Afganistan. Đạo Bụt cũng đã tiếp thu được những yếu tố văn hóa của các nước đó để có thể thích ứng với môi trường, xã hội và văn hóa của các nước này. Thời xưa ở Iran đã có tín ngưỡng thờ mặt trời, và cái ý niệm vô lượng quang, vô lượng thọ đã có sẵn trong truyền thống tâm linh của những đạo giáo bản xứ. Cho nên Tịnh Độ của đức A Di Đà vô lượng quang vô lượng thọ cũng là một pháp môn của đạo Bụt để thích ứng với môi trường văn hóa của Iran. Nhờ tiếp thu được với những nền văn hóa trong nội địa và xung quanh nên đại thừa đã được phát sinh và vì vậy đạo Bụt có thể đi khắp thế giới.

Khi mang đạo Bụt đi sang Tây phương, chúng ta phải biết sử dụng những yếu tố văn hóa của Tây phương để chế tác ra những pháp môn mới, những pháp môn có thể chuyên chở được tinh thần của Phật giáo nguyên thủy tức là Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn, Tam Pháp Ấn. Những giáo lý ấy phải được biểu hiện bởi những pháp môn mới thì đạo Bụt mới có thể cắm rễ và thành công được ở Tây phương. Đạo Bụt vẫn là đạo Bụt nhưng mà hoa trái nở ra phía trên có thể rất mới. Cách đây 22 năm tại Làng Mai chúng ta có trồng rất nhiều cây cải bẹ xanh ở Xóm Hạ. Đất ở bên này tốt và những cây cải đó vào mùa Đông được trồng trong những nhà kính. Ban ngày những cây cải này thâu nhận ánh sáng mặt trời để lớn, lá vươn cao, nhưng ban đêm lạnh quá thành ra chúng phải gồng mình, lá ụp xuống và trên thân cải mọc lên rất nhiều gai. Ở Việt Nam thì những cây cải như vậy không bao giờ có gai! Ở đây nó phải thích ứng với địa phương và những cây cải này nặng từ 2 đến 3 kg. Một cây cải cũng phải tìm cách để có thể thích ứng với địa phương mới có thể sống được huống hồ là một truyền thống. Cho nên truyền thống của ta một khi sang Tây phương phải tìm cách để thích ứng với phong thổ và tập quán bên này để có thể cắm rễ vào mảnh đất Tây phương, đó là chuyện rất dĩ nhiên. Nếu ta ôm truyền thống với một thái độ bảo thủ thì không thể nào làm được chuyện này.

Phần lớn những chùa Việt Nam được thiết lập tại Tây phương ở bên Mỹ hay ở bên Âu châu chỉ phục vụ được cho đồng bào Việt kiều mà không cung cấp được những món ăn tinh thần cho người Tây phương. Cây Phật giáo ta đem trồng sang bên này dưới hình thức các chùa Việt Nam cũng giống như những cái cây trồng trong chậu và chỉ có thể phục vụ được cho Việt kiều. Thỉnh thoảng có một vài người Tây phương đến chùa và cảm thấy là lạ vui vui nhưng chưa tìm thấy một cái gì đó quen thuộc với họ. Người Trung Quốc đã làm như vậy, người Đại Hàn đã làm như vậy, người Nhật Bổn cũng đã làm như vậy. Họ đã thiết lập những ngôi chùa ở Âu châu, ở Mỹ châu. Các thầy Tây Tạng đã làm khá hơn và đã có khả năng lấy cây ra khỏi chậu. Các thầy và các sư cô người Việt ở bên này chưa làm được như các thầy các sư cô Tây Tạng. Để cây trong chậu hoài thì lâu ngày đất trong chậu sẽ hết chất bổ và cây sẽ yếu. Các bậc phụ huynh cha mẹ còn đến chùa nhưng con cái thì đã thành Tây thành Mỹ, các em cảm thấy không thoải mái khi đến chùa. Khi hết thế hệ cha mẹ rồi thì đạo Phật với hình thức Á châu sẽ không còn phục vụ được cho người trẻ. Vì vậy ta rất cần đem cây ra khỏi chậu và tìm cách trồng xuống đất. Ban đầu có thể khó khăn nhưng chịu khó chăm sóc thì cây sẽ có khả năng cắm rễ. Lúc đó ta mới mong phục vụ được nhu cầu văn hóa và xã hội địa phương. Đức Thế Tôn đã từng sử dụng những yếu tố văn hóa địa phương để sáng chế ra những pháp môn và các đệ tử của Ngài cũng có khả năng đó. Các vị biết sử dụng các yếu tố văn hóa địa phương để chế biến ra những pháp môn mới như Tịnh Độ tông và Mật tông. Chúng ta đã học tới các nền văn học bản sinh và thí dụ. Chúng ta biết rằng các nền văn học bản sinh và thí dụ đã sử dụng rất nhiều truyện cổ tích và thần thoại của Ấn Độ để chuyên chở giáo lý nghiệp báo và nhân quả của đạo Bụt. Chư Tổ nhờ đó đã chuyên chở được cái lý tưởng Bồ Tát vào truyền thống mà trước kia chưa có. Trước đó chỉ có lý tưởng Thanh Văn, Duyên Giác và La Hán mà thôi. Là con cháu, chúng ta cũng phải làm được như Tổ tiên. Vấn đề là trong khi tiếp thu và chế biến, chúng ta phải giữ được cái bản chất của Phật giáo. Những pháp môn chúng ta cống hiến phải chứa đựng, phải chuyên chở những cốt tủy của Phật giáo, trong đó có tuệ giác Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn, Tam Pháp Ấn và Tam Giải Thoát Môn. Ta phải nắm được cái tinh yếu trước khi ta có khả năng tự do chế biến. Đức Thế Tôn là một người có tự do. Các thế hệ đệ tử sau này nhiều vị cũng là người có tự do cho nên họ đã chế biến được nhiều pháp môn mới và làm cho cây Phật giáo được tồn tại mãi cho đến hai ngàn sáu trăm năm sau. Chúng ta là đàn hậu tấn, chúng ta phải học được bài học của cha ông. Chúng ta phải thông minh, phải có óc sáng tạo, trong nước cũng như ngoài nước.

Hiện bây giờ ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, chúng ta đã đánh mất vai trò lãnh đạo tinh thần trong lãnh vực kiến thức, kinh tế và chính trị. Hồi xưa, khi các vị vua gặp những khó khăn, họ luôn luôn tìm đến các thầy, các vị quốc sư để nhờ sự soi sáng. Các nhà chính trị đã nhìn lên các thầy như là người lãnh đạo tâm linh. Còn bây giờ các nhà chính trị không có nhìn như vậy nữa, họ nhìn xuống ta tại vì ta không thể cung cấp được cho họ chiều sâu tâm linh. Ta không cố vấn được cho họ trên phương diện chính trị, xã hội và văn hóa. Không phải ta thiếu học về những cái đó nhưng vì ta không có đủ cái thực chứng của tuệ giác. Khi có tuệ giác rồi thì nhìn vào kinh tế ta sẽ hiểu về kinh tế, nhìn vào chính trị ta sẽ hiểu về chính trị.

Chúng ta đã từng tổ chức những khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu. Muốn làm nhà tâm lý trị liệu ta phải học tâm lý học rất nhiều năm. Chúng ta không cần phải học nhiều như họ, nhưng chúng ta có thể giúp họ tại vì chúng ta có tuệ giác của đạo Bụt. Đứng về phương diện kinh tế cũng vậy, chúng ta đã mở những khóa tu cho các nhà lãnh đạo doanh thương. Chúng ta không cần có kinh nghiệm doanh thương như họ, không có đi học trường doanh thương như họ, nhưng chúng ta có thể giúp họ được như thường tại vì chúng ta có tuệ giác của đạo Bụt và cũng tại vì chúng ta có thể hiểu được những khổ đau của nhà doanh thương. Ta giúp họ có thể chuyển hóa được những khó khăn trong lòng và những pháp môn ta cống hiến cho họ tu tập không có hại gì đến công việc của họ, trái lại có thể làm cho sự nghiệp của họ được tăng tiến. Vì vậy điều quan trọng không phải là học những môn học đó mà phải nắm được tuệ giác của đạo Bụt. Có tuệ giác rồi thì nhìn vào cái gì ta hiểu cái đó. Ta đã giúp cho giới y khoa bác sĩ, ta đã giúp cho giới cảnh sát công an và ta đã giúp cho giới dân biểu. Làm gì ta có kiến thức như họ về những ngành đó, nhưng mà ta giúp được. Tại sao? Tại vì ta có một con đường tâm linh có thể đem tới cho họ được niềm tin.

Chúng ta phải làm mới sự học hỏi và tu tập của mình để có thể lấy lại vai trò lãnh đạo cho xã hội. Xã hội không thể không có một hướng đi tâm linh. Không có hướng đi tâm linh thì sẽ sinh ra tham nhũng, hư hỏng. Đó là cái gì đang xảy ra trên đất nước. Nếu chúng ta chỉ nghĩ tới cái chùa, cái tổ chức, hay để tâm vào việc xây dựng và tổ chức thì chúng ta sẽ không có thì giờ đi sâu vào sự thực tập đào xới để làm cho mạch nước của tâm linh được trào lên. Như vậy chúng ta đã phí thì giờ và cuộc đời của chúng ta, nhất là cuộc đời một người xuất gia. Chúng ta phải xử lý và áp dụng thì giờ một cách khôn khéo. Chúng ta không nên phung phí thì giờ vào những công việc không cần thiết. Một ông thầy tu đi học y khoa đó là một sự sai lầm. Một ông thầy tu đi học luật là sai lầm. Chính ông thầy tu đi học để trở thành một học giả về Phật học cũng là sai lầm, vì cuộc đời ít cần học giả bằng hành giả. Chúng ta cần những người có tuệ giác. Ở đời cũng có những nhà Phật học rất nổi tiếng, thông bác về kinh điển, về Phật học, nhưng không thể giải quyết được những khó khăn, những khổ đau của họ, vì vậy họ không thể nào trở thành một nhà lãnh đạo tâm linh. Thiền sinh tới với chúng ta ở đây phần lớn là người trí thức, người trẻ. Họ tới không phải vì chúng ta có kiến thức ngoài đời, có bằng cấp này bằng cấp nọ, mà vì chúng ta có pháp môn tu tập để chuyển hóa khổ đau. Sự thật là như vậy! Cho nên ta phải nắm lấy những pháp môn tu học. Ta phải có khả năng chuyển hóa những khổ đau nơi chính bản thân và giúp cho anh em ở trong nhà làm được việc đó. Đến lúc đó ta sẽ sẵn sàng để đóng vai trò độ đời và ta có thể khôi phục lại vai trò lãnh đạo tâm linh của người tu sĩ.

Trở lại câu chuyện Tịnh Độ. Ở trong đạo Cơ Đốc có người cũng suy nghĩ tương tợ như cặp vợ chồng trên. Có người đã tính toán như thế này: Cứ tin Thượng Đế đi, không có lỗ đâu. Nếu có Thượng Đế thì khi chết mình được về Thiên đường, còn nếu không có Thượng Đế thì thôi, mình có mất mát gì đâu! Còn nếu mình không tin, lỡ ra có Thiên đường thì uổng biết mấy. Cũng vậy, tu Tịnh Độ chắc ăn hơn. Lỡ mình chết thì mình có chỗ về ngay, còn tu Thiền thì không chắc ăn lắm. Chưa đạt tới giải thoát mà đã chết thì mình sẽ không biết đi về đâu. Mình sẽ thành con ma đói đi vòng vòng… Tính toán cũng như nhau, tuy là hơi khác một chút. Theo tôi nếu đợi đến chết rồi mới sanh về Tịnh Độ thì có thể trễ, tại sao không sống Tịnh Độ liền ngay bây giờ? Mà Tịnh Độ liền ngay bây giờ là cái có thể làm được. Phép thực tập Hiện pháp lạc trú, Hiện pháp Tịnh Độ, phương pháp “mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ” là quà tặng quý nhất của Làng Mai. Ta tặng cho bạn Tịnh Độ ngay trong bây giờ.

Mấy năm trước đây có một vị thượng tọa rất dễ thương từ Việt Nam qua. Thượng tọa đã xây chùa nhiều, hiện làm chủ tới bảy ngôi chùa lớn và thượng tọa còn làm công việc xã hội rất giỏi. Qua bên này là một cơ hội để gặp Sư Ông Làng Mai. Ban đầu gặp Sư Ông, thượng tọa nói đến chuyện làm sao để có thể giúp đỡ việc làm xã hội bên nhà. Sư Ông nói: “Tu không lo tu mà cứ lo làm xã hội. Xã hội ai mà không làm được. Tu mới khó chứ!” Thượng tọa nghe như vậy đã không giận, trái lại đã giật mình tỉnh thức và thấy được rõ ràng đó là cái mục tiêu đầu tiên của mình khi phát tâm đi xuất gia. Khi lăn mình vào việc xây dựng, mình có thể đánh mất mình, đánh mất cái chủ đích đầu tiên của mình là tu học để đạt tới thảnh thơi và giải thoát. Công việc xây dựng cũng hấp dẫn lắm, làm thành công thì được người ta khen ngợi và khi ngắm công trình xây dựng của mình thì mình thấy thỏa mãn. Nhưng đó đâu phải cái hoài bão ban đầu của người đi tu. Món quà lớn mà thượng tọa nhận được từ Sư Ông là phục hồi được tâm ban đầu, nghĩa là sơ tâm của người xuất gia.

Châu báu chất đầy thế giới
tôi đem tặng bạn sáng nay
một vốc kim cương sáng chói
long lanh suốt cả đêm ngày.
Mỗi phút một viên ngọc quý
tóm thâu đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày.
Chim hót thông reo hoa nở
trời xanh mây trắng là đây
ánh mắt thương yêu sáng tỏ
nụ cười ý thức đong đầy.
Hỡi người giàu sang bậc nhất
tha phương cầu thực xưa nay
hãy thôi làm thân cùng tử
về đây tiếp nhận gia tài.
Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
và an trú phút giây này
hãy buông thả dòng sầu khổ
về nâng sự sống trên tay.

Trên đây là một bài hát mà cũng là sự thực tập. Tại Làng Mai chúng ta thực tập thiền đi. Chúng ta đi như thế nào để mỗi bước chân ta dẫm lên được Tịnh Độ. Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ. Chúng ta đi như người thảnh thơi, người giác ngộ. Chúng ta không đi như một người bị ma đuổi. Là giáo thọ ta làm điều đó mà sa di ta cũng làm như vậy. Hai thầy trò đều cùng đi trong Tịnh Độ. Đẹp biết bao nhiêu mà kể. Hai thầy trò đều có thảnh thơi, đều có hạnh phúc ngay trong giây phút đi. Đức Thế Tôn đã từng nói rất rõ là “quá khứ đã đi qua, tương lai thì chưa tới”. Sự sống đang có mặt đó và tất cả những nhiệm mầu đang xảy ra trong ta và xung quanh ta. Vậy cho nên ta hãy tỉnh dậy, đừng chạy về tương lai nữa. Hãy thưởng thức những cái kỳ diệu của sự sống ngay trong giây phút hiện tại. Trời mưa cũng đẹp, trời nắng cũng đẹp. Trời có sương mù cũng đẹp, trời tuyết cũng đẹp. Mùa xuân đẹp mà mùa thu cũng đẹp. Lá xanh cũng đẹp mà lá đỏ cũng đẹp… Nếu ta không có mặt thì những mầu nhiệm ấy sẽ đi qua như một giấc mơ. Cho nên công phu là gì? Công phu là sống sâu sắc đời sống hằng ngày, thở mỗi hơi thở, bước một bước chân là ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống. Nếu có một chút niệm, một chút định thì ta làm được điều đó ngay. Nhờ vậy mà ta nối tiếp được sự nghiệp của Đức Thế Tôn.

Có những bài kệ mà chúng ta đã học thuộc lòng như bài:

Đã về đã tới
Bây giờ ở đây
Vững chãi thảnh thơi
Quay về nương tựa…

Hoặc là bài:

Đây là Tịnh Độ
Tịnh Độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay…

Hay là bài:

Vào, ra,
Sâu, chậm
Khỏe, nhẹ
Lặng, cười
Hiện tại, tuyệt vời

Những bài này đã được làm ra nhạc để ta có thể học thuộc dễ dàng. Bất cứ một bài kệ nào chúng ta cũng có thể áp dụng để thở, để đi. Những bài kệ đó cũng có thể áp dụng trong khi ăn cơm. Ví dụ như bài: Đây là Tịnh Độ – Tịnh Độ là đây… Ta có thể nhai cơm theo nhịp đó. Người ta thấy ta nhai nhưng họ đâu biết là ta đang tu. Khi nhai hết một bài thì cơm trong miệng đã trở nên rất nhuyễn, nuốt vào rất ngon và rất dễ tiêu. Ta đang ăn cơm như mọi người nhưng ta có Niệm và có Định. Bất cứ một bài kệ nào ta cũng có thể sử dụng trong khi ăn. Như vậy, ta có mặt một cách đích thực và thực sự đang ngồi ăn trong Tịnh Độ. Ta có thể ăn cơm với bài Đã về đã tới… Ta thấy rõ ràng là ta đã về đã tới, là ta đang an trú trong hiện tại. Đây là Tịnh Độ.

Đôi khi trong lúc đi thiền, bước lên trên thảm lá vàng ta thấy mầu nhiệm quá. Thảm lá vàng này còn đẹp hơn vườn ông Cấp Cô Độc khi ông đem vàng lá lót lên để trả cho thái tử Kỳ Đà. Vàng lá lót đâu có đẹp, dẫm lên đâu có dịu dàng như lá vàng mùa thu! Mỗi khi dẫm lên lá mùa thu ta thấy rõ ràng rằng ông Cấp Cô Độc dễ thương quá. Kỳ này ông không rải lên thứ vàng khi đi kêu răng rắc mà một thứ vàng bước lên rất mềm, rất đẹp. Mỗi bước chân là một hạnh phúc. Nếu đi trên những thảm lá vàng đó trong mưa phùn mùa thu mà không thấy hạnh phúc thì dầu có qua Tịnh Độ ta cũng không có hạnh phúc. Tịnh Độ có thể không đẹp bằng bên này. Hoa sen có thể lớn bằng bánh xe thật, nhưng nếu dưới ao toàn là vàng mà không có bùn thì làm sao cho sen đẹp và thơm? Ta không nên bỏ hình bắt bóng, hãy tập sống với những mầu nhiệm của sự sống hiện tại mà đừng mơ tưởng một cái gì ở tương lai. Bỏ hiện tại là đi trái với giáo lý tu tập Hiện pháp lạc trú. Khi hướng dẫn cho những nhà chính trị, những nhà kinh doanh, những nhà dân biểu quốc hội thì ta cũng chỉ hướng dẫn như thế thôi. Không cần giảng nhiều. Khi họ thấy ta đang làm được như vậy, đang đi, đang ngồi, đang thở trong Tịnh độ thì họ cảm được. Ta không cần phải làu thông kinh sử thì mới có thể giúp họ. Ta chỉ cần có khả năng sống thảnh thơi, sống an lạc. Ta phải có khả năng tháo gỡ những buồn giận, những lo âu của mình. Khi thở vào chúng ta nói con đã về. Câu con đã về đó không phải là lời tuyên bố, không phải là một bản thông cáo mà là sự thực tập. Bạch ĐứcThế Tôn con đã về. Đem tất cả Niệm và Định để bước bước chân đó. Về đâu? Ta về trong giây phút hiện tại và thiết lập thân tâm ở giây phút hiện tại. Đó là đã về. Bạch Đức Thế Tôn con đã tới. Tâm ta không bay đi đâu cả, tâm ta ở với thân ta và cũng dẫm lên mặt đất với bàn chân của ta. Con đã về thật rồi, con không còn đi hoang nữa. Con đã tới thật rồi, con đang tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Ta đã về thật sự chưa, ta đã tới thật sự chưa thì tự ta biết. Nếu tâm ta không còn rong ruổi thì mỗi bước chân như vậy chứng tỏ đã về, mỗi bước chân như vậy chứng tỏ ta đã tới. Lúc đó thì ta mới thành công. Thành công một bước thì ta sẽ thành công hai bước và sẽ thành công được bước thứ ba. Cố tâm thì làm được chứ không có gì khó.

Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ là chuyện ta có thể làm được trong ngày hôm nay và làm như thế nào để sự thực tập ấy trở thành một tập khí tốt, một thói quen tốt. Đi đâu ta cũng mang Tịnh Độ đi theo, giống như đời nay đi đâu cũng mang theo điện thoại cầm tay vậy. Ta gọi là Tịnh Độ cầm tay (portable Pureland.) Ta đi cho cha, ta đi cho mẹ. Suốt đời ba, ba lo lắng, ba có thể chưa bao giờ có được giây phút dừng lại ngồi yên mà bước trong Tịnh Độ. Vậy bây giờ ta đi cho ba. Ba ơi, đi với con một bước đi ba. Cha con mình đã về, cha con mình đã tới. Làm được như vậy thì ta là người con có hiếu nhất trong số những người con có hiếu. Mẹ ta suốt đời tất tả ngược xuôi, bận rộn suốt đời chưa bao giờ có được một phút thảnh thơi an lạc. Ta mời mẹ đi, mẹ ơi đi với con một bước. Mẹ ơi con đã về, mẹ cũng đã về. Mẹ ơi con đã tới, mẹ cũng tới với con. Đó là những điều ta có thể làm được ngay bây giờ, không cần phải tu luyện tám năm sau mới có thể làm được. Nếu quyết tâm thì nội trong một giờ đồng hồ thực tập ta đã có sự thay đổi trong thân và trong tâm ta rồi. Huống hồ là ba tháng, là một năm hay bốn năm. Khi ta bước đi trong Tịnh Độ được rồi thì ta có thể giúp cho những người khác đi trong Tịnh Độ. Người khác đó là ai? Là những người trong gia đình ta, là những người trong xã hội đang đau khổ và tìm tới với ta. Đi được như vậy trong Tịnh Độ, thở được như vậy trong Tịnh Độ, ăn được như vậy trong Tịnh Độ rồi thì ta có thể xử lý và chuyển hóa được dễ dàng những nỗi khổ niềm đau ở trong ta. Còn nếu chưa đi được như vậy, chưa ngồi ăn được như vậy, chưa thở được như vậy thì ta vẫn còn là nạn nhân của những nỗi khổ niềm đau trong lòng.

Nay con đã về, nay con đã tới. Đó không phải là những lời tuyên bố, đó là sự thành công. Khi mình đi thiền hành với đại chúng, mình đi với một tốc độ để đừng chặn đứng những người ở phía sau, nhưng khi đi thiền một mình thì ta có thể đi chậm bao nhiêu cũng được. Ta phải rèn luyện để cho mỗi bước ta đều về được, mỗi bước ta đều tới được. Đây là Tịnh Độ, Tịnh Độ là đây. Đúng là Tịnh Độ rồi, ta không cần phải đi kiếm nữa. Con đang mỉm cười chánh niệm và con đang an trú ngay giờ phút này. Bụt là một chiếc lá đỏ. Con thấy Bụt trong chiếc lá đỏ. Con thấy Pháp trong một đám mây bay và con thấy Tăng thân. Chỗ nào cũng có Tăng thân, từ hạt sỏi, từng dòng nước đều là Tăng thân của con, tất cả đều tu tập với con. Và quê hương của con là ngay tại đây. Tịnh Độ ở đây.

Đối với cặp vợ chồng kia ta phải nói cho họ biết là chúng tôi đang tu Tịnh Độ. Chúng tôi đòi hỏi Tịnh Độ liền ngay bây giờ và chúng tôi có những dụng cụ, những pháp môn để có Tịnh Độ liền ngay bây giờ, cũng như quý vị đang có cái máy điện thoại có thể nói liền sang bên Đức lập tức. Ta nói rằng bây giờ bỏ Tịnh Độ hiện tại mà đi tìm Tịnh Độ tương lai là không thực tế lắm. Khi thuyết giảng cho những bạn Cơ Đốc, tôi cũng cống hiến cho họ những cái thấy như vậy. Không phải vì họ là người Cơ Đốc mà ta tặng cho họ một món quà nhỏ hơn. Cách đây 22 năm giảng cho một thính chúng 500 người da đen ở trong một Thánh đường gần thành phố Philadelphia tôi cũng nói như vậy. Tôi nói: “Quý vị đừng có đợi đến khi thân hình này tan rã rồi mới đi vào nước Chúa. Nên đi vào nước Chúa liền ngay bây giờ đi. Nếu quý vị có chút Niệm và Định thì chỉ với một bước chân thôi quý vị đã có thể đi vào nước Chúa rồi. Đừng chờ đợi, vì trong Thánh kinh có nói: “Nước Chúa là trong trái tim của quý vị”. Giáo lý này áp dụng cho Phật tử và cũng áp dụng cho người Cơ Đốc.

Trong đại hội Tin Lành và Công giáo ở nước Đức tháng sáu năm ngoái, trong một thính chúng khá đông đảo, với sự có mặt của nhiều vị giám mục và hai giáo đoàn Tin Lành và Công giáo tôi cũng đã nói như vậy. Tôi nói: “Sở dĩ mà tuổi trẻ bỏ nhà thờ hàng loạt cũng là tại vì quý vị. Quý vị không cung cấp cho tuổi trẻ những giáo lý và những pháp môn tu tập để họ có an lạc và hạnh phúc trong hiện tại cho nên họ mới đi tìm an lạc và hạnh phúc nơi tình dục, nơi ma túy, nơi danh lợi, nơi quyền hành. Quý vị phải cung cấp cho giới trẻ những giáo lý để họ có thể nếm được an lạc, hạnh phúc của nước chúa, của Thiên Quốc ngay từ bây giờ. Chính quý vị cũng phải thực tập. Quý vị là mục sư, quý vị là linh mục, quý vị phải có khả năng sống trong nước Chúa bây giờ với sự an lạc, với sự hạnh phúc thì quý vị mới thuyết phục được chúng tôi. Theo cái thấy của tôi thì Phúc Âm có dạy rằng: Nước Chúa đang có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Quý vị cần cung cấp giáo lý ấy và những pháp thực tập ấy để cho tuổi trẻ tiếp xúc được những mầu nhiệm trong giây phút hiện tại thì tuổi trẻ mới không bỏ nhà thờ để chạy theo tiếng gọi của tình dục, ma túy…”

Bài pháp thoại nói cho người Cơ Đốc ấy cũng có tầm vóc, cũng có năng lượng lớn như những bài pháp thoại tôi nói cho người Phật tử. Danh từ thì có thể tôi dùng danh từ khác, nhưng nội dung vẫn là nội dung của hiện pháp lạc trú, của Niệm, Định và Tuệ. Sau buổi giảng đó có ba vị Giám mục lên ngồi chung với tôi để cho quần chúng ở dưới đặt câu hỏi. Có một vị Giám mục người Công giáo nói: “Hay lắm! Hay lắm! Giáo lý nước Chúa bây giờ và ở đây rất hay, mình phải thực tập. Nhưng tôi cũng còn muốn có một nước Chúa ở bên kia nữa, ở tương lai nữa.” Tôi hiểu ông Giám mục, lâu nay mình đã đầu tư vào nước Chúa ở bên kia rồi, bây giờ rút lui thì hơi khó. Dù bây giờ mình đã có được nước Chúa ngay giây phút hiện tại. Nhưng không sao. Có hai Thiên Quốc thì càng chắc ăn hơn. Ai cấm mình có cả hai Tịnh Độ?

____________

Pháp thoại ngày 19 tháng 10 năm 2004. chùa Cam Lộ, Xóm Hạ trong khóa tu mùa Thu

Bậc giác ngộ và tên khủng bố

Trong Lâm tế lục có đoạn: Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy cũng như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ Tát và La Hán cũng chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca.

Đối với người Phật tử, Bụt là đối tượng của sự tôn thờ tuyệt đối, của sự mến mộ tuyệt đối, là hình ảnh tuyệt hảo để cho ta noi theo. Chúng ta thường nghĩ, nếu không có hình ảnh của Bụt thì làm sao chúng ta có hướng đi trong cuộc đời. Trong những lúc nguy nan, trong những lúc khổ đau, chúng ta bám vào hình ảnh của Bụt, một tiêu chuẩn tuyệt đối để mà sống, cũng như những người bạn Cơ Đốc giáo bám vào hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu không có hình ảnh của chúa Ki Tô như là chỗ nương tựa để bám víu vào, họ sẽ không thể nào vượt được những giờ phút nguy nan. Ấy vậy mà Tổ Lâm Tế dạy ta đừng có mắc kẹt vào hình ảnh của Bụt và Chúa, tại vì đó chỉ là những hình ảnh của chúng ta đã có về Bụt và Chúa.

Trước hết ta cho rằng Bụt và Chúa là những cái thực tại nằm ở ngoài ta, không phải là ta. Không phải tự mà là tha (the other, l”autre). Quan điểm sai lầm ở chỗ đó. Quan niệm Bụt và Chúa là một thực tại bên ngoài để ta bám víu vào, quan niệm ấy không có khả năng đưa ta đến sự giải thoát. Có thể quan niệm ấy xoa dịu được một phần nào những đau khổ trong chốc lát, nhưng không đưa ta được tới giải thoát. Ta phải vượt thắng quan niệm đó của ta về Bụt và Chúa. Tại vì nó duy trì tình trạng nô lệ của ta. Vì vậy Tổ gọi nó là một cái hố xí. Có người tín đồ nào dám gọi đức giáo chủ của tôn giáo mình là một cái hố xí không? Có người tín đồ của một tôn giáo nào có ý muốn sát hại vị giáo chủ của mình hay không? Nhưng trong thiền tông thì có.

Tổ Lâm Tế kêu gọi chúng ta gặp Bụt thì phải giết Bụt, “phùng Phật sát Phật”, lời dạy này, người có căn cơ thấp bé không thể nào hiểu tới được. Chỉ có những người tu tập đã chín muồi, đã sẵn sàng buông bỏ ý niệm mới có thể tiếp nhận được mà thôi. Nếu Tổ Lâm Tế sinh ra trong truyền thống Cơ Đốc giáo mà nói ra một câu như vậy, thì chắc chắn Tổ đã bị nhà thờ tẩn xuất, và rút phép thông công. Đạo Bụt thì ngộ lắm, Tổ nói như vậy mà vẫn còn tiếp tục hành đạo được. Có những nhà nho nghe Tổ Lâm Tế dạy, nói rằng: “Trời! Nếu ông này không đi tu thì sẽ trở thành tướng cướp”. Tại vì họ không hiểu được Tổ. Tiểu sử của Tổ có ghi chép rằng: khi còn nhỏ Tổ rất hiếu kính với cha mẹ. Vậy mà Tổ lại tuyên bố là “Gặp cha giết cha, gặp mẹ giết mẹ”. Đây là ngôn ngữ của nhà thiền, ta phải chín chắn lắm mới nắm vững được. Còn nếu ta chưa chín chắn, chưa là thiền sư mà đã muốn sử dụng ngôn ngữ này thì sẽ rất nguy hiểm. Chết ta trước, và chết những người khác sau.

Bụt là cái hố xí. Quan niệm của anh về Bụt là một cái hố xí ràng buộc anh, nó bỏ tù anh, và anh phải thoát ra khỏi sự ràng buộc đó. Trong cái nghĩa ấy, hình ảnh các vị Bồ Tát và A la hán mà ta có trong đầu cũng là những cái gông cùm. Ý niệm về Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền mà ta niệm hàng ngày đều là những cái gông cùm mà ta phải thoát ra. Cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm, tức là giết khái niệm đó của ta về Bụt.

Quan niệm về Ông già Noel

Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ông già Noel có thật hay là không có thật? Nhu yếu của sự sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel thì chắc chắn sẽ có một ông già khác. Vấn đề ở đây không phải là tôn giáo, nó là văn hóa. Văn hóa Tây phương mà không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt. Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ. Ông già Noel thường phải mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hài cao (tại vì đi trên tuyết), và thế nào cũng phải có một bộ râu trắng phơ, dài. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình ông không vào bằng cửa thường, tại vì cửa thường đã đóng vào giờ ấy. Ông chui từ trên ống khói đi xuống và chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không có dính lọ nghẹ. Ông không bị nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa, đêm hôm ấy bọn con nít treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin tưởng rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới, và sẽ bỏ vào trong những chiếc vớ của chúng những món quà mà chúng thích. Chúng thật sự tin như vậy.

Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn con nít đi, thì tội nghiệp quá. Nếu một đứa bé mới có bốn tuổi, năm tuổi mà nghe nói: “Ông già Noel là không có thật” thì nó sẽ buồn biết mấy. Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn con nít. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn con nít. Bọn con nít muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó. Rất hay! Ước vọng của bọn con nít là một cái gì có thật, mà những người nghe được, hiểu được ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi bộ hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào cái tướng của ông già Noel thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Vậy thì có ông già Noel, hay là không có ông già Noel? Ta phải nhìn bằng con mắt vô tướng. Nếu ta có một quan niệm về ông già Noel thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của em bé. Em bé đó ngày mai sẽ lớn, sẽ bừng tỉnh, sẽ mỉm cười và sẽ biết rằng: “Mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel của thời ấu thơ. Tuy vượt thoát rồi nhưng mình vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai.

Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đức Văn Thù cũng vậy, đức Phổ Hiền cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nếu chúng ta cho những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng, vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời. Bụt, Chúa và các vị Bồ Tát cần thiết cho cuộc đời. Tuy vậy, nếu chúng ta muốn lớn lên, không phải về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, muốn tiếp xúc được với sự thật thì chúng ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của mình. Chúng ta có quan niệm về Bụt, về Chúa, chúng ta đã sống với quan niệm về Bụt, về Chúa đó từ thời ấu thơ. Khi chúng ta học hỏi, thực tập thì từ từ chúng ta buông bỏ những quan niệm đó về Bụt và về Chúa.

Thầy Thanh Văn hồi còn nhỏ nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối vì thấy ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối để ăn. Đó là cái thấy của thầy Thanh Văn hồi còn 5, 6 tuổi. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao thấy được ước mơ của bọn con nít và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt ở trong những em bé đó, và có mặt ở trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được?

Nhưng sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái nào đó trong văn hóa người ta vẽ ra. Ta phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh để mà tiếp xúc với sự thật. Không phải là Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là đối tượng của sự mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái, nó không phải là một thực thể độc lập ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy rồi, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém ThíchCa. Đây là hai câu chuyện có thể bổ túc cho nhau, nói lên một cách rất tuyệt hảo cái giáo lý vô tướng và vô đắc này. Trước hết ta hãy nói về chuyện Ương Quật Ma (Angulimala).

Câu chuyện về Ương Quật Ma

Trong thành Xá Vệ, ai cũng biết Ương Quật Ma là một kẻ sát nhân. Khi nghe tin Ương Quật Ma xuất hiện trong thành phố, mọi người đều sợ hãi. Có một lần một toán cảnh sát năm chục người đi vào rừng để tìm Ương Quật Ma… Nhưng năm mươi người cảnh sát đó đi vào rừng không thấy trở về. Họ đã bị Ương Quật Ma giết hết. Điều này càng làm cho mọi người kinh sợ. Vua Ba Tư Nặc nghĩ rằng đối với Ương Quật Ma, một toán cảnh sát không đủ, phải huy động cả quân đội mới có thể bắt được Ương Quật Ma. Dân chúng trong thành Xá Vệ có hình ảnh về Ương Quật Ma là một kẻ sát nhân. Họ có hình ảnh về Ương Quật Ma như một ác quỷ không có khả năng hiểu và thương. Tất cả dân chúng trong thành người nào cũng đồng ý là gặp Ương Quật Ma thì phải giết, phải tiêu diệt. Chỉ trừ có một người. Người đó nghĩ rằng trong Ương Quật Ma vẫn còn có hạt giống tốt còn lại. Người đó là đức Thế Tôn.

Nhưng mà từ trước tới nay chưa ai có khả năng chạm vào hạt giống đó, cho nên Ương Quật Ma chưa bao giờ có cơ hội để trở thành con người tốt. Buổi sáng hôm đó, Thế Tôn cầm bát đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Một Phật tử mời Ngài vào trong nhà và thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn, đi khất thực ngày hôm nay rất nguy hiểm, tại vì Ương Quật Ma đang có mặt trong thành phố. Kính xin Đức Thế Tôn ở lại đây, con sẽ cúng dường cơm cho Ngài. Và xin Ngài nghỉ lại đây. Đợi con nghe tin tức, khi biết rằng tình trạng có an ninh, thì lúc đó con thỉnh đức Thế Tôn về lại tu viện Kỳ Viên. Nhưng Bụt nói: Đạo hữu đừng lo! Không sao đâu! Nếu tôi có gặp Ương Quật Ma thì tôi cũng có cách để tự vệ. Đôi khi tôi có thể giúp được Ương Quật Ma nữa. Người Phật tử đó không tin lắm, tại vì ông thấy Bụt rất hiền từ, còn Ương Quật Ma rất hung hãn. Ương Quật Ma có một thanh đao, còn Bụt thì không có một võ khí nào cả. Nhưng người Phật tử đó lầm! Bụt cũng có một thanh gươm, đó là thanh gươm của trí tuệ. Ta sẽ chứng kiến cuộc so gươm của Bụt với thanh đoản đao của Ương Quật Ma.

Ương Quật Ma đã giết rất nhiều người. Mỗi khi giết một người, anh cắt một ngón tay, lấy một đốt xương và xoi một cái lỗ, rồi anh xỏ cái đốt xương đó vào trong cái tràng xương để đeo vào cổ. Ngày hôm đó nghe nói anh ta đã có cái vòng của 99 đốt xương rồi. Anh ta muốn giết thêm một người nữa cho đủ số 100, để có xâu chuỗi làm hoàn toàn bằng xương người. Chữ mala trong danh từ Ương Quật Ma có nghĩa là xâu chuỗi. Đức Thế Tôn đang ôm bát đi từng bước thảnh thơi thì nghe có tiếng chân chạy rầm rập phía sau lưng. Với linh khiếu bén nhạy, Ngài biết rằng Ương Quật Ma đang đuổi theo, nhưng Ngài vẫn đi bình tĩnh. Ngày xưa, Sĩ Đạt Ta cũng giỏi về võ thuật. Nhưng vũ khí của đức Thế Tôn là lòng thương và trí tuệ của Ngài.

Kinh sách hay nói là mỗi khi gặp trường hợp nguy hiểm thì Đức Thế Tôn trổ ra những phép thần thông. Nhưng Đức Thế Tôn đâu cần phải thi thố những phép thần thông. Đức Thế Tôn có dư từ bi, có dư trí tuệ để vượt khỏi những tình trạng khó khăn. Đức Thế Tôn có niềm tin lớn nơi tình thương và trí tuệ của mình. Đức Thế Tôn vẫn bước những bước vững chãi và thảnh thơi, và đề cao cảnh giác. Ương Quật Ma lớn tiếng gọi:

– Ông thầy tu, đứng lại!

Bụt vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, cũng không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất thảnh thơi và ung dung. Thấy vậy, Ương Quật Ma lớn tiếng hơn nữa:

– Đứng lại! Ông thầy tu đứng lại!

Đức Thế Tôn làm như không nghe, cứ tiếp tục đi. Ương Quật Ma lấy làm lạ. Từ trước đến nay, hễ mình lên tiếng một cái là ai cũng sợ run không cử động được nữa, mà tại sao ông thầy tu này lại quá ung dung, lại có vẻ hoàn toàn là vô úy. Ương Quật Ma chạy mau tới để coi thử ông thầy tu này là ai mà cả gan như vậy. Chỉ trong khoảnh khắc  Ương Quật Ma đã đi ngang hàng với Bụt. Ương Quật Ma nói:

– Tôi bảo ông dừng lại, tại sao ông không dừng?

Bụt vẫn đi, với sự điềm tĩnh và giọng nói dịu dàng, Bụt nói:

– Ương Quật Ma! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại.

Quý vị đã đọc Thần Điêu Đại Hiệp chưa? Quý vị có thấy một kiếm chiêu nào mầu nhiệm hơn kiếm chiêu mà Bụt vừa thi thố không? Ngay trong chiêu thức đầu, ta thấy thanh gươm của Đức Thế Tôn đã huy động tới tám thành công lực. Từ trước đến giờ, chưa bao giờ Ương Quật Ma nghe một câu nói như vậy.

– Ông nói sao? Ông đang đi rõ ràng mà tại sao ông nói ông đã dừng lại? Tôi không hiểu, ông cắt nghĩa đi?

Một cách rất bình thản, Đức Thế Tôn nói:

– Ương Quật Ma, trên con đường tạo tác những ác nghiệp thì ta đã dừng lại từ nhiều kiếp rồi, nhưng trên con đường tạo tác ác nghiệp anh vẫn còn tiếp tục, thì anh nên dừng lại.

Câu nói đã làm rung động Ương Quật Ma. Lúc đó Đức Thế Tôn mới dừng lại. Ương Quật Ma cũng dừng lại. Hai người nhìn nhau. Đức Thế Tôn nhìn thẳng vào Ương Quật Ma mà nói rằng:

– Anh biết không! Ở đời ai cũng sợ đau khổ, ai cũng muốn sống, ai cũng sợ chết. Mình phải biết thương người.

Ương Quật Ma mới la lên:

– Trên đời này có ai thương tôi đâu mà bảo tôi thương họ? Loài người là loài độc ác nhất ở trên đời, tôi muốn tiêu diệt hết loài người cho hả dạ tôi.

Đức Thế Tôn nói:

– Ương Quật Ma, tôi biết anh đã đau khổ nhiều. Cuộc đời đã bạc đãi anh, người ta đã không tử tế với anh, người ta đã làm khổ anh. Nhưng anh nên biết rằng hận thù chỉ làm cho mình thêm khổ đau, chỉ có lòng thương mới đem lại hạnh phúc cho đời mà thôi.

Ương Quật Ma la lớn:

– Tình thương hả? Ai là người biết thương? Ông chỉ cho tôi coi?

Đức Thế Tôn vẫn dịu dàng:

– Anh đã từng gặp vì tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào chưa? Các vị đó không những biết tôn trọng sinh mạng của những con người mà họ cũng biết tôn trọng sự sống của cả loài vật. Họ cũng tôn trọng các loài cỏ cây và đất đá nữa. Nếu anh gặp được một vị tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni, anh sẽ thấy rằng tình thương là cái gì có thật. Khi có tình thương trong lòng, ta không còn đau khổ nữa. Hận thù là một khối lửa đốt cháy ta, đốt cháy thế gian. Anh nên quay đầu lại, từ khước bạo động, trở về với con đường của hiểu và của thương.

Những lời nói của Bụt tràn đầy tính chất từ bi, phát xuất từ trái tim. Ương Quật Ma là một con người thông minh nhưng bị hận thù che lấp. Gặp được một con người như Bụt khai mở, anh có cơ hội để cho hạt giống của trí tuệ được tưới tẩm. Anh nói:

– Tôi có nghe tới một ông thầy tu rất dễ thương, tên là Gotama, có phải ông là Gotama không?

Bụt nói:

– Đúng! Tôi là Gotama.

Bụt và AngulimalaƯơng Quật Ma nói:

– Gotama ơi! Bây giờ trễ rồi. Dù tôi có muốn ăn năn, dù tôi có muốn từ bỏ con đường hận thù để đi theo con đường tình thương thì cũng đã muộn. Tôi không có nẻo thoát, tôi đã gây ra quá nhiều tội lỗi.

Đức Thế Tôn im lặng. Rồi Ngài nói:

– Ương Quật Ma, nếu anh thật sự muốn chuyển hóa, muốn từ bỏ con đường bạo động, thì tôi sẽ che chở cho anh. Nếu anh muốn, tôi có thể tiếp nhận anh vào Tăng đoàn làm người xuất gia. Anh sẽ thực tập Từ, thực tập Bi, anh sẽ trở thành một con người mới, anh sẽ làm lại cuộc đời của anh.

Nghe Bụt nói như vậy, Ương Quật Ma rút cây đao liệng xuống đất, rồi quỳ xuống, chắp tay lại và xin làm đệ tử của Đức Thế Tôn. Vừa lúc ấy có các thầy đi tới. Thấy Đức Thế Tôn đang đứng đó, không bị thương tích gì cả mà Ương Quật Ma lại đang quỳ dưới chân Ngài, các thầy mừng rỡ. Đức Thế Tôn nói:

– Thầy Xá Lợi Phất, thầy Anan, các thầy có chiếc y nào không? Bây giờ chúng ta hãy làm lễ xuất gia cho Ương Quật Ma  ngay tại đây.

Thầy trò bao quanh lại làm thành một vòng tròn, và làm lễ xuống tóc cho Ương Quật Ma. Sau khi cạo đầu cho Ương Quật Ma, các thầy mặc cho Ương Quật Ma một chiếc y khất sĩ. Bụt dạy thầy Xá Lợi Phất và các thầy khác đưa Ương Quật Ma về tu viện và dạy cho thầy cách nâng bát, cách ngồi, cách đứng, cách đi, cách thở. Chúng ta thấy câu chuyện Ương Quật Ma gặp Bụt là một cuộc đấu gươm. Ương Quật Ma có thanh gươm của bạo động và hận thù. Đức Thế Tôn có thanh gươm của trí tuệ và từ bi.

Dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những ý niệm và nhãn hiệu

Khi chúng ta dán được vào một người nào đó nhãn hiệu sát nhân cần phải xử trảm, thì chúng ta có thể chĩa súng mà bắn người ấy không gớm tay. Nhưng nếu ta còn thấy được người đó vẫn là một con người thì ta không thể nào bóp cò súng được. Vì vậy muốn giết ai đó, thì chúng ta phải cố nghĩ rằng người này chỉ là ác quỷ, không còn một chút thiện trong tâm. Thanh gươm của đức Thế Tôn, trước hết là để chém đứt khái niệm đó. Vì khi ta muốn giết ai thì ta phải có khái niệm ác quỷ về người đó. Văn hóa của chúng ta bây giờ là như vậy. Chúng ta đi dán nhãn hiệu cho nhau.

Ngày xưa có trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Việt Nam, đào tạo những người xuất gia trẻ và những thanh niên trẻ đi làm việc xã hội. Đường hướng của trường xã hội là không theo bất cứ một phe nào trong hai phe chiến tranh, không theo phe cộng sản, mà cũng không theo phe chống cộng. Đường lối của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội là chấp nhận tất cả những người Việt là anh em. Mục tiêu của trường là làm lớn lòng thương yêu và hiểu biết, chấp nhận và ôm lấy cả hai phía. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Nếu chúng ta không theo bên này thì bên này nghi rằng chúng ta đang theo phía bên kia, vì vậy cho nên trường Xã Hội bị đặt vào một tình trạng rất khó xử. Phe chống cộng thì nghi mình theo phe cộng sản. Phe cộng sản thì nghi mình theo phe chống cộng. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội trở thành đối tượng hiểu lầm của cả hai bên. Một bên muốn dán cho Trường nhãn hiệu cộng sản, một bên muốn dán cho Trường nhãn hiệu phản quốc để có thể giết mình. Đã có những bác, những chú, những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ chết vì cái nhìn đó.

Nếu muốn giết ai thì trước hết phải dán cho kẻ đó một  nhãn hiệu. Nếu không dán nhãn hiệu thì không thể nào giết được. Đêm hôm đó có một toán người võ trang vào lúc nửa đêm xông vào một trại công tác của trường thanh niên Phụng Sự Xã Hội, bắt cóc năm người tác viên của trường đi ra bờ sông Saigon, trong số đó có một vị xuất gia trẻ. Người bắt cóc hỏi, tra gạn để biết chắc rằng năm người có thuộc về cái tổ chức gọi là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội hay không. Khi năm người đó nói: “Đúng, chúng tôi là nhân viên của trường thanh niên Phụng Sự Xã Hội” thì một người trong toán võ trang nói rằng: “Chúng tôi rất tiếc, chúng tôi được lệnh phải bắn các anh.” Nói xong họ bắn năm người ngã gục bên bờ sông.

Tại sao những người thanh niên với trái tim trong trắng, từ bỏ nếp sống xa hoa vật chất, đi vào chùa để được huấn luyện và để được đi vào thôn xóm, để giúp dân giúp nước mà lại bị sát hại một cách tàn nhẫn như vậy? Những người võ trang kia nhận được lệnh là phải tiêu diệt những người gọi là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, tại vì những thanh niên đó không theo họ, và như vậy có thể là cộng sản trá hình, đang tiếp tay cho cộng sản. Tại vì những thanh niên đó không theo phe chống cộng. “Chúng tôi rất tiếc! Chúng tôi được lệnh phải bắn các anh”.

Sở dĩ mình biết câu chuyện là tại vì một trong năm người đó sống sót kể lại. Không khí hận thù cao ngất. Năm đó có một toán người võ trang khác tới trụ sở trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Phú Thọ Hòa và quăng lựu đạn để tàn sát những tác viên xã hội. Sau đó an ninh quân đội khám phá ra được những người đó thuộc về giới Công giáo quá khích. Họ cho rằng những thanh niên Phật giáo tình nguyện đi vào xã hội phục vụ dân chúng, là kẻ thù của Thiên Chúa giáo, là những người cộng sản trá hình. Đêm hôm đó có nhiều người thanh niên phụng sự xã hội bị thương nặng, có hai người chết. Một người tên là Liên, một người tên là Vui. Họ cũng liệng một trái lựu đạn vào phòng tôi, nhưng tấm màn che cửa phòng hất trái lựu đạn ra ngoài. Trong hận thù, người ta không thấy được con người, người ta chỉ thấy được quỷ dữ, mà quỷ dữ đó chỉ là khái niệm. Chỉ thấy quỷ dữ, người ta mới có khả năng ném lựu đạn, hay là bắn súng vào mà thôi. Trong khi đó, những thanh niên kia là những người rất thánh thiện, những người có trái tim thương yêu và hiểu biết. Chúng ta giết nhau tại vì chúng ta không biết nhau là ai.

Chùa Pháp Vân (Chùa Lá) – Trụ sở đầu tiên của trường TNPSXH

Vì vậy cho nên chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những hình ảnh, khái niệm và tất cả những nhãn hiệu. Dù là nhãn hiệu Bụt, Ma, Kitô, hay Sa Tăng. Tất cả những nhãn hiệu đó cần phải chặt đứt hết, nếu không chúng sẽ trở thành những cái còn tệ hơn là hố xí nữa. Nhân danh Chúa người ta đã tàn phá, nhân danh Bụt người ta cũng có thể chém giết. Nếu Bụt và Chúa là những ý niệm của chúng ta, thì có thể còn tai hại hơn những cái hố xí. Cái hố xí còn có ích lợi, còn ý niệm của chúng ta có thể đưa tới cuồng tín, có thể tiêu diệt con người, tiêu diệt tình thương, như vậy còn nguy hiểm hơn là những cái hố xí. Cho nên lời tuyên bố của Tổ Lâm Tế vẫn còn từ bi lắm.

Sau khi bắt được ông Saddam Hussein, Tổng thống Bush có tuyên bố: “Thế giới sẽ dễ chịu hơn nếu không có mặt của ông, ông ơi!” (Mr. Saddam, the world will be a better place without you.) Câu nói đó có nghĩa là: “Tôi muốn loại ông ra khỏi sự sống”. Chúng ta muốn hỏi ông tổng thống Bush: “Có bao nhiêu người cần được loại ra khỏi sự sống thì trái đất này mới là chỗ đáng sống?” Sau khi nghe ông Saddam Hussein bị bắt, thì có những cuộc biểu tình được tổ chức tại nhiều thành phố ở Iraq. Có nhiều người đã không sợ hãi, đã tham dự vào cuộc biểu tình, không lý tất cả những người theo và có cảm tình với ông Saddam Hussein đều phải giết hết sao? Có biết bao nhiêu người đang không có cảm tình với Hoa Kỳ, không những ở nước Iraq, mà ở những nước xung quanh. Nếu cần loại trừ hết tất cả những người đó, thì bao nhiêu người cần bị loại trừ, một triệu, hai triệu hoặc năm trăm triệu?

Cố nhiên là trong cuộc sống, con người có thể tạo ra nhiều lầm lỡ, Ông Saddam Hussein đã làm ra những lầm lỡ, ông ta đã từng độc tài, ông ta đã từng sát hại. Cũng như Ương Quật Ma đã từng lầm lẫn, đã từng sát hại, nhưng Ương Quật Ma đã có cơ hội được gặp đức từ bi. Ương Quật Ma có một khối hận thù rất lớn. Những người gọi là quân khủng bố họ cũng có hận thù rất lớn, họ đã từng đau khổ và họ đã dùng năng lượng hận thù của họ để biến thành hành động.

Nói như thế không có nghĩa là những người tự cho mình không phải là quân khủng bố là những người không có hận thù. Những người đó cũng có hận thù và tuy họ gọi những kẻ thù của họ là quân khủng bố nhưng chính họ cũng là quân khủng bố. Họ cũng sử dụng súng bom, họ cũng tàn sát xóm làng, họ cũng giết hại đàn bà và trẻ em, nhưng mà người ta không gọi họ là quân khủng bố. Những người mang một trái bom làm nổ một chiếc xe bus thì gọi là quân khủng bố. Còn những người sử dụng máy bay oanh tạc, tàn phá một thành phố, giết hại đàn bà trẻ em thì không gọi là khủng bố. Hận thù bên nào mà không có, hiểu lầm bên nào mà không có? Ta cho ta là thánh thiện, là đi trên con đường chánh, là không có tội lỗi, là không có hận thù. Ta cho người kia là quỷ dữ, là hận thù, là sự đe dọa cho văn minh, cho an ninh thế giới. Tất cả những khái niệm đó, tất cả những hình ảnh đó, cần phải được tiêu diệt bằng lưỡi gươm của trí tuệ. Hơn bất cứ lúc nào hết chúng ta phải sử dụng thanh gươm trí tuệ để chặt bỏ tất cả những ý niệm đó. Chính vì những ý niệm đó, chính vì những nhãn hiệu dán lên cho những con người khác, chúng ta mới có khả năng bóp cò súng tiêu diệt họ. Câu chuyện của Ương Quật Ma cho chúng ta thấy rằng nếu chúng ta chuyển hướng, lấy trí tuệ và tình thương làm tiêu chuẩn, thì thế giới này sẽ có hy vọng.

Sau khi xuất gia, Ương Quật Ma đã trở thành một vị khất sĩ giỏi. Thầy tu tập chuyển hóa mau chóng còn hơn nhiều vị khất sĩ khác. Cho đến nỗi các bạn đồng tu đã đặt cho Ương Quật Ma một cái tên mới là Ahimsaka, tức là bất bạo động. Có một lần Ương Quật Ma đi khất thực về khóc với Đức Thế Tôn. Bụt hỏi: “Tại sao con khóc?” Ương Quật Ma nói: “Bạch Đức Thế Tôn, trên đường đi khất thực con gặp một người đàn bà sắp sinh nở, nhưng bà đau quá sinh nở không được. Bà nhờ con đem tâm từ bi để chú nguyện cho bà, mà con không biết làm sao để chú nguyện cho được. Con thấy người ta sắp chết mà mình không cứu được cho nên con khổ quá”. Đức Thế Tôn dạy: “Thầy Ahimsaka, thầy hãy trở về với người đàn bà đó và nói rằng: Từ khi tôi sinh ra cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại một người nào, nhờ công đức đó mà bà có thể sinh con một cách bình an”. Thầy Ahimsa mới la lên: “Bạch Đức Thế Tôn, con không thể nói được như vậy! Từ khi sinh ra, con đã sát hại rất nhiều”. Đức Thế Tôn nói: “Không! Ta không muốn nói tới ngày sinh ra của cái sắc thân này. Thầy hãy đi nói với người phụ nữ kia rằng: “Từ ngày tôi sinh ra trong đạo pháp cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại bất cứ một sinh mạng nào, dù nhỏ như một con sâu con kiến. Nhân danh công đức đó, tôi muốn cho bà sinh cháu bình an”. Đức Thế Tôn vừa dứt lời, Ương Quật Ma liền chạy vụt đến nơi người đàn bà đang nằm đau đớn chờ sanh, và nói câu đó với bà. Thật mầu nhiệm! Bà ta sinh con một cách dễ dàng.

Một hôm khác, Ương Quật Ma đi khất thực về và lết vào tu viện. Có một người ngày xưa nhận ra được thầy là Ương Quật Ma ngày trước. Ông ta đã dùng gậy đánh Ương Quật Ma tơi bời, Ương Quật Ma thực tập pháp bất bạo động nên không chống trả. Mình mẩy của thầy sưng lên bầm tím, có chỗ chảy máu. Đức Thế Tôn đi ra thấy Ương Quật Ma như vậy liền bảo các thầy khiêng thầy ấy vào hậu liêu và chăm sóc. Trong khi các thầy chăm sóc cho Ương Quật Ma, lấy nước muối rửa các vết thương và băng bó thì Đức Thế Tôn nói: “Con hãy ráng chịu đựng đi. Đây là cái quả cuối cùng mà con phải nhận chịu trước khi con trở thành A la hán”.

Sự chuyển hướng của Ương Quật Ma là một thành công lớn. Không phải chỉ của Ương Quật Ma mà của cả một truyền thống và của tất cả chúng ta. Khi ta chuyển hướng thì ta được sinh ra trở lại lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Ương Quật Ma có một cơ hội sinh ra lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Saddam Hussein sinh ra lần thứ hai. Người ta sẽ đưa ông ra tòa, nhưng ai là người có quyền xử trị Saddam Hussein? Trong Phúc Âm có nói: “Ai là người thấy mình không có tội thì hãy ném viên đá vào người đàn bà này”. Tất cả chúng ta đều có lầm lỡ trong quá khứ, đã gây khổ đau cho người khác. Chúng ta phải biết rằng trong con người chúng ta cũng có hạt giống của bạo động, của hận thù, của vô minh. Nhưng chúng ta cũng phải tin rằng trong con người của chúng ta cũng có hạt giống của hiểu biết, của thương yêu, của khả năng chuyển hướng.

Nếu các nhà lãnh đạo như Tony Blair, hay Georges Bush v.v.. có được những nhà cố vấn có khả năng tưới tẩm hạt giống của hiểu và của thương trong họ thì các vị đó sẽ có những chính sách khác hơn, sẽ không mỗi ngày tạo ra thêm nhiều hận thù, nhiều khổ đau. Từ ngày khởi sự cuộc chiến ở Iraq, hận thù đã được nuôi dưỡng rất nhiều, và người Mỹ đã tạo thêm rất nhiều kẻ thù cho nước Mỹ. Nước Mỹ là một nước rất đẹp, trẻ em Mỹ rất dễ thương, và chúng ta muốn cho nước Mỹ phồn thịnh, đẹp đẽ để làm chỗ nương tựa cho nhiều quốc gia khác. Nhưng nước Mỹ đang đi trên một con đường tạo ra rất nhiều kẻ thù cho chính nước Mỹ. Vì an ninh mà nước Mỹ đã tạo ra một tình trạng không an ninh. Hàng ngàn thanh niên Mỹ đang chết tại Iraq, gần mười ngàn lính Mỹ đã bị thương. Có những người bị thương rất nặng. Vì vậy cho nên lời dạy của Tổ Lâm Tế vẫn còn có hiệu lực trong ngày hôm nay.

Chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những tri giác sai lầm, những cái thấy hẹp hòi của chúng ta về chính chúng ta và về người. Chúng ta đừng tự dán cho chúng ta nhãn hiệu của sự thánh thiện, của sự vô tội. Chúng ta đừng vội dán vào người nhãn hiệu của tội lỗi, của tàn ác. Tại vì trong tất cả chúng ta, người nào cũng có hạt giống của tàn ác, của hận thù, của vô minh, nhưng người nào cũng có hạt giống của tình thương, của sự hiểu biết. Chúng ta hãy tổ chức cuộc sống hằng ngày như thế nào và thiết lập liên hệ giữa con người với con người như thế nào, giữa quốc gia và quốc gia như thế nào, để cho mọi người đều có cơ hội trở về tưới tẩm hạt giống tốt ở trong con người của mình. Đó là con đường tương lai của chúng ta.

Khi ta niệm Bụt có thể ta không biết Bụt là ai và ta là ai. Ai là người niệm Bụt? Ai là Bụt? Ta cầu nguyện Chúa, nhưng có thể ta chưa biết Chúa là ai. Ta không biết ta là ai? Ta có thể nhân danh ta, ta có thể nhân danh Chúa để sát hại. Vì vậy cho nên lưỡi gươm thần của trí tuệ rất là quan trọng. Chúng ta phải là những chiến sĩ, phải sử dụng được lưỡi gươm thần trí tuệ để chặt đứt tất cả những ảo giác, những tri giác sai lầm của chúng ta. Hãy phá bỏ tất cả những nhãn hiệu mà chúng ta thường muốn dán vào nhau để có thể tiêu diệt lẫn nhau. Đây là vấn đề chính của xã hội, của thế giới chúng ta trong ngày hôm nay. Chúng ta tu là để lột ra khỏi bản thân và lột ra khỏi người khác những nhãn hiệu. Bên này dán nhãn hiệu cho bên kia, bên kia dán nhãn hiệu cho bên này, để rồi hai bên có thể giết nhau. Lưỡi gươm trí tuệ là để phá bỏ những nhãn hiệu đó, tại vì những nhãn hiệu đó đưa tới sự giết chóc, đưa tới sự hận thù, đưa tới sự tiêu diệt. Dù đó là nhãn hiệu Bụt, nhãn hiệu Chúa, nhãn hiệu Bồ tát, nhãn hiệu La hán, nhãn hiệu cộng sản, nhãn hiệu khủng bố, nhãn hiệu dân chủ, nhãn hiệu tự do, nhãn hiệu văn minh.

Viên ngọc kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa có nói tới những viên ngọc dấu trong áo và đứa con nghèo khổ. Tôi đã kết hai câu chuyện này lại với nhau như sau. Có một cậu con trai con nhà giàu ham ăn chơi phung phí tiền của mà không ý thức được cái may mắn và hạnh phúc của mình. Người cha rất thương con nhưng không có cách gì giúp được. Ông biết trước là nó sẽ khổ, sẽ đi tha phương cầu thực, sẽ phải đi xin ăn. Biết rằng: “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” nên ông ta không la mắng nó và nghĩ rằng chỉ có kinh nghiệm khổ đau trong tương lai mới giúp nó được thôi. Ông lặng lẽ may cho nó một cái áo. Sau khi mặc một thời gian, ông cởi áo ra đưa cho nó và nói: “Nầy con, sau này gia tài sự sản của ba, con có thể xài hết, riêng cái aó nầy thì ba xin con giữ lại.” Ông đã bí mật may dấu vào gấu áo một viên ngọc thật quý. Ðứa con cũng không thích gì cái áo đó, nhưng cha đã dặn đừng bán thì nó cũng nhớ lời và không bán làm chi cái áo không qúy giá gì lắm đó.

Sau khi người cha chết, dĩ nhiên là người con xài phí rất nhanh cái gia tài đồ sộ của ông và đã trở nên nghèo đói, phải đi xa tìm việc làm và nhiều lúc cơ cực không có gì để ăn. Kinh gọi đó là người cùng tử (đứa con khốn cùng), đi cùng khắp mà vẫn không gây được sự nghiệp, cũng không tìm được hạnh phúc. Tất cả sự nghiệp của người cha, anh ta chỉ còn giữ chiếc áo cũ kỹ mà người cha đã căn dặn đừng bán. Có một bữa đó trời xui đất khiến sao đó mà anh ta bỗng nhiên táy máy mân mê và khám ra viên ngọc thật quý nằm dấu trong khâu áo rách của cha mình. Khi khám ra viên ngọc quý rồi thì đứa con nghèo đói trở nên hết nghèo đói.

Cái chuổi ngày dài cơ cực bị khinh khi, bị đói khát, bị đau đớn đã là bài học rất thấm thía, rất giá trị cho người con và từ đó anh ta biết sử dụng viên ngọc qúy và biết dùng nó làm vốn liếng để gây lại sự nghiệp, đã sống cuộc đời rất hạnh phúc và tiếp nhận trọn vẹn gia tài bí mật của cha để lại. Gia tài đó là viên ngọc, nhưng cũng là sự hiểu biết, tinh thần trách nhiệm và cái lề lối sống để có hạnh phúc.

Ðó là một hình ảnh Bụt đưa ra trong kinh Pháp Hoa. Bụt có ý nói rằng tất cả chúng ta đều là những đứa con phá của, những đứa cùng tử. Chúng ta có hạnh phúc, có gia tài mà chúng ta không biết xài; chúng ta phung phí, chúng ta dày đạp lên cái hạnh phúc của chúng ta mà đi, và chúng ta trải qua năm nầy tháng nọ làm một kẻ tha phương cầu thực, gối đất nằm sương, chịu biết bao nhiêu là khổ nhục. Chính bây giờ là chúng ta phải khám phá lại viên ngọc đã và đang được khâu trong áo chúng ta.

Kinh Bảo Tích và kinh Pháp Hoa là những người bạn giúp chúng ta khám phá lại những châu ngọc mà chúng ta hiện có trong cái áo rách của chúng ta. Trong tác phẩm gần đây của Phạm Duy “Người tình già trên đầu non”, nhạc sĩ có nói vắn tắt mấy câu về cuộc đời ông: “thuở tìm tự do, nửa đời sương gió, nên mau tóc ngả, con tim chóng già. Còn nửa đời sau, tưởng là châu báu, nhưng xương máu nhiều bao vây sớm chiều, còn gì đâu cho một tình yêu, còn gì đâu cho một đời sau.” Ðiều đó làm cho mình nhớ tới viên ngọc của ông nhà giàu để lại cho con trong kinh Pháp Hoa.

Trong kinh Kim Cang mình cũng học được rằng có những người con trai và con gái nhà lành, dùng châu báu bảy thứ chứa đầy tam thiên đại thiên thế giới để đem đi bố thí. Chuyện đó chúng ta đều có thể làm được cả, tại vì thật sự chúng ta có rất nhiều châu báu. Mỗi phút của cuộc đời ta là một viên ngọc. Mỗi giờ đồng hồ trong ngày là một viên bảo châu và nếu chúng ta sống có chánh niệm, sống tỉnh thức với nụ cười thì giây phút đó trở thành tuyệt vời và rất đáng sống. Ðó là ngọc, đó là châu báu.

Khi có chánh niệm và có nụ cười, thì giây phút mà chúng ta đang sống trở nên một phép lạ màu nhiệm. Chỉ nhờ một tiếng chuông chánh niệm thôi, tự nhiên chúng ta nghe được tiếng chim hót, tiếng thông reo và bao thứ tiếng vi diệu khác; chúng ta thấy được một đóa hoa đang nở, chúng ta thấy được trời xanh, mây trắng và mỗi phút của đời ta như vậy trở thành viên ngọc. Nếu chúng ta tiếp tục sống trong chánh niệm như vậy thì mỗi ngày chúng ta có từng rổ châu báu và chúng ta sẽ không phải than phiền như nhạc sĩ Phạm Duy là cả cuộc đời không còn cái gì nữa cả.

Châu báu của Bụt để lại cho chúng ta rất nhiều, đó là những giây phút tỉnh thức và nếu muốn, chúng ta có thể vốc từng vốc đầy tay những hạt kim cương. Châu báu thật ra đầy cả thế giới, nếu sống tỉnh thức quý vị sẽ có rất nhiều châu báu và quý vị có thể xúc một rổ đem tặng những người thương, làm cho họ sống ngày hôm nay của họ có chánh niệm có hạnh phúc có nụ cười, và nếu có căn cơ và hạt giống thì người đó sẽ tiếp nhận cái rổ kim cương của qúy vị và sẽ sống được mỗi giây phút trong đời của người đó với thật nhiều hạnh phúc. Mỗi giây là một viên ngọc, mỗi phút là một viên ngọc và mỗi giờ là một viên kim cương và mỗi ngày là một rổ châu báu.

Thành ra chúng ta, con trai cũng như con gái, nên biết rằng chúng ta là những người cùng tử nghèo đói đi lang thang từ bao nhiêu tháng năm và đây là lúc chúng ta phải chấm dứt cái kiếp nghèo hèn của kẻ cùng tử đi lang thang để trở về tiếp nhận cái gia tài của Bụt, những rổ kim cương lóng lánh sáng chói, để sống những giờ phút của chúng ta cho thật hạnh phúc, thật sâu sắc. Và khi mà chúng ta học được cách sống hạnh phúc như vậy thì cố nhiên chúng ta sẽ gieo rắc hạnh phúc xung quanh chúng ta. Chúng ta sẽ có rất nhiều châu báu và chúng ta sẽ đem một vốc châu báu tặng người phía trái rồi vốc một vốc khác tặng người bên tay mặt, và chúng ta trở thành những người con trai con gái mà Bụt nói trong Kinh Kim Cang. Châu báu của chúng ta chứa đựng đầy tam thiên đại thiên thế giới. Chúng ta rất giàu mà xưa nay vẫn nghĩ là mình nghèo:

Châu báu chất đầy thế giới
Tôi đem tặng bạn sáng nay
Một vốc kim cương sáng chói
Long lanh suốt cả đêm ngày.

Mỗi phút một viên ngọc quý
Tóm thâu đất nước trời mây
Chỉ cần một hơi thở nhẹ
Là bao phép lạ hiển bày.

Chim hót thông reo hoa nở
Trời xanh mây trắng là đây
Ánh mắt thương yêu sáng tỏ
Nụ cười ý thức đong đầy.

Này người giàu sang bậc nhất
Tha phương cầu thực xưa nay!
Hãy thôi làm thân cùng tử
Về đi, tiếp nhận gia tài!

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
Và an trú phút giây nầy
Hãy buông thả dòng sầu khổ
Về nâng sự sống trên tay.

Giảng tại Làng Hồng ngày 20-12-1990 – (Trích “Về Việt Nam”- Thích Nhất HạnhNXB Lá Bối, Hoa Kỳ 1992)

Thường, lạc, ngã, tịnh

 

Nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy rằng những điều ta học được ở các kinh điển, kể cả trong kinh Duy Ma, có liên hệ rất mật thiết trong việc thực tập tu học của chúng ta. Người tu học luôn luôn nghĩ đến mục đích của mình là giải thoát và an lạc, cũng như người làm cách mạng xã hội luôn luôn nghĩ tới tự do và bình đẳng xã hội. Người tu học có thể nói đến giải thoát, giác ngộ và an lạc rất nhiều mà không chứng nghiệm được giải thoát, giác ngộ và an lạc trong khi mình đang nói. Người làm cách mạng xã hội cũng vậy; họ nói đến tự do, công bình xã hội và ấm no nhưng sự thực về công bình, tự do và no ấm không hề thấy có. Một chủ nghĩa đã hứa hẹn tự do, công bình và no ấm trong suốt bảy mươi lăm năm mà cái tự do, công bình no ấm ấy không hề xuất hiện. Điều này không phải chỉ những nhà chính trị mắc phải, mà ngay những người tu học cũng mắc phải. Phần đông chúng ta rất “hồ hởi phấn khởi” về đạo giải thoát, giác ngộ và an lạc của chúng ta; tuy nhiên chúng ta chỉ nói nhiều chứ không nếm được. Chúng ta nói cuộc đời là vô thường, vô ngã, khổ đau, chúng ta đi tìm chân tâm, an lạc, giải thoát và giác ngộ nhưng chúng ta có trực tiếp nếm được cái giải thoát và an lạc ấy hay không? Thực tập theo con đường Bụt dạy, ta không nên làm như những người chỉ nói về các thức ăn mà không bao giờ được ăn. Không nên như những người làm nhà băng mỗi ngày chỉ đi đếm tiền dùm cho người khác. Chúng ta phải trực tiếp nếm cái vị tịnh lạc và giải thoát mà ta đã từng nói đó.

Theo Bụt dạy thì vị tịnh lạc và giải thoát đó chúng ta có thể nếm được ngay trong hiện tại mà không cần phải tu mười năm hay hai mươi năm. Ngay trong ngày đầu tu học ta cũng có thể đạt được phần nào cái tịnh lạc và giải thoát đó. Chúng ta phải đặt lại cấp bách câu hỏi ấy: “cái an lạc và giải thoát mà ta nói đó chúng ta đã nếm được hay chưa?” Nếu chưa thì ta phải nếm cho được trong ngày hôm nay. Thiền duyệt mà Bụt nếm và dùng làm thức ăn hàng ngày, chúng ta cũng phải được nếm. Hạnh phúc mà chúng ta nói tới làm sao chúng ta nếm được hoặc tiếp xúc được? Bản chất của hạnh phúc ấy là gì? Hôm nay chúng ta sẽ nói sơ lược về cái đó.

 

1.Yếu tố thứ nhất là tự do:

Tự do đó là chủ quyền (sovereignty). Có khi ta dịch là tự tại. Ta là ta. Ta không là nô lệ của quá khứ, của tương lai, của hiện tại; ta không là nô lệ của những phiền não, và như vậy tự do đó được dịch là giải thoát (freedom, liberation). Đó là bản chất của sự an lạc. Đó là nền tảng tất yếu của sự an lạc.

Cố nhiên là muốn thực tập đạo Bụt trước nhất là phải thực tập tự do. Nếu không có tự do thì chúng ta không có hạnh phúc. Đó là điều mà ta không chối cãi được. Đó là nền tảng của thực tập trong đạo Bụt. Cái mà ta gọi là chủ quyền hoặc tự do đó có khi được hình dung bằng một danh từ rất là kỳ đặc: ngã. Ngã đây không phải là một bản chất hoặc một thực tại bất biến. Nó không phải là atma. Ngã đây là sự tự do. Một trong bốn định nghĩa của Niết Bàn là ngã. Niết Bàn có ngã. Ngã đây không là ngã chấp mà là sự tự tại, không bị vướng bận. Ta biết rằng bốn định nghĩa của Niết Bàn là thường, lạc, ngã và tịnh. Toàn bộ của giáo lý Bụt dạy là để nói về sự thực vô ngã và để diệt trừ những khái niệm về ngã. Nhưng khi định nghĩa Niết Bàn là ngã thì ta nên hiểu ngã này chỉ có nghĩa là tự do hoặc là chủ quyền thôi.

Khi đi thiền hành, quý vị bước từng bước chân thảnh thơi, an trú trong hiện tại và không bị vướng bận vào những phiền não về quá khứ, những lo lắng về tương lai thì quý vị có thảnh thơi và tự tại; quý vị tiếp xúc được với bản thân và với vũ trụ chung quanh. Cái thảnh thơi tự tại đó ta có thể gọi là ngã. Chữ ngã này không có nghĩa là một thực thể bất biến, đồng nhất, tách rời với những gì ngoài ngã như được diễn tả trong khái niệm ngã chấp. Chúng ta chỉ có hạnh phúc khi nào chúng ta có cái tự do đó. Vì vậy khi đi thiền hành hay ngồi thiền, chính ta biết là ta có tự tại hay không, hay là ta bị bao vây bởi phiền não, bởi những chuyện đã qua và những chuyện sắp tới. Nếu biết rằng ta đang bị bao vây bởi những bực bội thì ta cũng biết rằng ta đang không có hạnh phúc, vì ta không có tự do. Và tu học là để đạt tới tự do. Đạt tới tự do là cắt đứt những sợi dây ràng buộc của mình để có thể tiếp xúc được với sự sống trong giờ phút hiện tại. Hạnh phúc là tự do, không hạnh phúc là ràng buộc.

Khi ta đặt câu hỏi: “Hạnh phúc của Bụt là gì? Chúng ta có quyền và có khả năng nếm được thứ hạnh phúc đó hay không?” Ta có thể trả lời rằng: “Có”. Vì bản chất của hạnh phúc đó là sự tự do và nếu ta có tự do, có thảnh thơi thì tức là ta đã tham dự vào cái hạnh phúc của Bụt một cách trực tiếp. Ta có thể làm được chuyện đó ngay từ bây giờ. Kinh nói trước khi rời thành phố Tỳ Sa Ly (Vaisali) lần chót để đi về phương Bắc, Bụt đã nhìn thành phố bằng cặp mắt của một con voi chúa, rồi mới ngoảnh mặt lại và tiến về hướng Bắc. Nhìn bằng cặp mắt của một con voi chúa là nhìn bằng cái nhìn thật là sâu sắc. Mình chỉ có thể nhìn sâu sắc sự vật trên đời này nếu mình có được cái tự do lớn, cái thảnh thơi lớn, không bị vướng mắc bởi những sợi dây ràng buộc. Bụt hay khen thành phố Vaisali và núi Thứu là đẹp: trong những giây phút đó Bụt cũng an trú trong hiện tại và đưa cặp mắt của một con tượng chúa để nhìn.

Sáng nay đi thiền hành với đại chúng về, tôi có nói chuyện về đôi mắt của con tượng chúa đó. Tôi nói mỗi người chúng ta trong khi đi thiền hành thỉnh thoảng cũng có thể dừng lại và đưa con mắt tượng vương của mình để nhìn cảnh vật của xóm Thượng. Nếu ta nhìn bằng con mắt tự do thì cái nhìn của ta sẽ bao gồm được cả vũ trụ trong giây phút đó. Khi ta dừng lại và dừng lại với tất cả con người của ta thì ta sẽ có cái năng lượng của giải thoát, và khi ta đưa cặp mắt voi chúa của ta mà nhìn cảnh vật xóm Thượng thì những vùng năng lượng của giải thoát sẽ được dâng lên mắt. Nhờ thế mà cái nhìn của ta trở nên sâu sắc và chọc thủng được bức màn thất niệm và hôn mê. Câu thơ của Thế Lữ trong bài Hổ Nhớ Rừng:

Trong đêm tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho vạn vật đều im hơi 
Ta biết ta chúa tể của muôn loài 
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi

Khi cọp đưa mắt của cọp chúa mà nhìn cảnh rừng núi của nó, tất cả muôn loài đều nín im thin thít. Và nó biết nó là chúa tể của rừng núi. Khi một người có định lực lớn đưa cặp mắt nhìn cảnh vật của xóm Thượng thì tự nhiên những lo lắng và những phiền não sẽ lắng im phăng phắc. Nếu chúng ta nhìn cảnh vật xóm Thượng như vậy một lần trong đời thôi, thì sống trên đời cũng đã không uổng. Huống gì chúng ta có thể nhìn nhiều lần trong ngày? Thực tập là làm nhiều lần. Mỗi giây phút là một viên ngọc quý. Nếu Bụt nhìn sự vật với cặp mắt tượng vương thì khi bước đi Bụt cũng bước những bước chân của con sư tử chúa. Từng bước thảnh thơi dẫm lên mặt đất của thực tại, và như vậy bước đi của Người là bước đi của giải thoát an lạc. Ta biết hạnh phúc của Người là hạnh phúc căn cứ trên tự do. Vì vậy nếu bị quá khứ phong tỏa và tương lai lôi kéo thì chúng ta không có tự do, không có hạnh phúc.

Thực tập đạo Bụt là thực tập hạnh phúc. Ta nên biết chánh niệm (mindfulness) là vũ khí giúp chúng ta đoạt lại quyền tự do mà chúng ta đã đánh mất và đang đánh mất. Người tu mà không biết sử dụng chánh niệm thì không có vũ khí nào khác cả để giành lại chủ quyền của mình. Chủ quyền đó đạo Bụt đại thừa gọi là ngã. Đạo Bụt đại thừa không sợ danh từ, trong đó có danh từ “Ngã”. Chánh niệm là một thứ vũ khí giúp ta giành lại chủ quyền, nhưng ta còn một vũ khí khác cũng quan trọng lắm, đó là giới luật. Suốt mùa hè chúng ta đã học và thấy rất rõ là giới luật không phải những gì do người khác bắt buộc ta phải theo mà là hoa trái của chánh niệm. Giới luật căn bản của tất cả các giới luật là chánh niệm. Chánh niệm là mẹ của tất cả các giới luật.

Nhờ chánh niệm tôi biết rằng sát sanh tạo ra đau khổ. Nhờ chánh niệm tôi biết rằng uống rượu và sử dụng các chất ma túy tạo ra khổ đau. Vì chánh niệm tôi biết rằng tà dâm làm tan nát gia đình và tạo ra không biết bao nhiêu là đau khổ. Vì vậy tôi nguyện không uống rượu, không sát hại và không tà dâm. Giới luật, như vậy, là hoa trái của chánh niệm. Giới luật vì thế không phải là một cái gì hạn chế tự do của mình. Những người chưa học Bụt và nhất là chưa thực tập, mỗi khi nghe nói tới giới thì cứ tưởng rằng giới luật hạn chế tự do của mình. Sự thực, giới luật bảo vệ tự do của mình, giúp mình có thêm tự do. Phá giới thì ta lâm vào cái vòng tù tội (không phải là cái vòng tù tội của chánh quyền đặt ra mà là cái nhà tù của khổ đau). Ví dụ khi uống rượu và sử dụng các chất ma túy ta tự giam ta vào cái vòng nghiện ngập. Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong. Mình tự tạo khổ đau cho mình và tạo khổ đau cho những người khác; mình tạo ra những cái nhà tù cho mình và cho những người khác. Ta thử nghĩ cho kỹ lại xem. Ta mà nghiện ngập thì cả gia đình ta ở tù hết. Ta “tà dâm” thì cả gia đình ta cũng “ở tù” hết. Cái nhà tù đó là nhà tù của đau khổ.

Trong một đại chúng tu học cũng vậy, nếu có một người phạm giới thì tất cả đại chúng đều lãnh đủ hết. Cho nên tự do của một người, giới luật của một người có liên hệ tới hạnh phúc và tự do của những người khác trong đại chúng. Trong kinh Sa Môn Quả, Bụt có nói là khi một vị khất sĩ giữ giới thì vị ấy được tự do, vị ấy không còn sợ hãi. Ngủ dưới gốc cây ta cũng cảm thấy rất an lành. Các vị khất sĩ giữ đến hai trăm năm mươi giới thì tự do càng lớn. Khi có tự do ta cũng có hạnh phúc. Mà hạnh phúc là an lạc (peace and joy). Nếu mình nói tuy mình đã có tự do rồi mà mình vẫn chưa có an lạc thì mình hãy thử tự hỏi là cái tự do đó có phải là tự do thực sự chưa? Bởi vì nếu đó là tự do thật sự thì dù không muốn mình vẫn có an lạc. Sự thật là như thế. Nhiều khi không có tự do mà mình cứ tưởng là mình có tự do, cũng như rất nhiều người có vấn đề về ruột mà vẫn nghĩ là mình không hề có vấn đề về ruột. Có người có rất nhiều nội kết mà cứ tưởng là không có nội kết.

Khi tôi nhìn cảnh mặt trời lặn rực rỡ huy hoàng thì tôi có hạnh phúc. Có kẻ nói rằng vì cảnh mặt trời kia là vô thường, nên cái đẹp ấy chỉ là cái hạnh phúc của thế gian chứ không phải là cái hạnh phúc của người giải thoát. Cái đó không đúng. Hạnh phúc của người giải thoát là hạnh phúc mang theo tự do và biểu lộ được tự do. Còn hạnh phúc của người không giải thoát là hạnh phúc mang theo sự ràng buộc. Bụt có thể nhìn bông hoa và khen bông hoa đó là đẹp mà vẫn không bị vướng mắc, không bị ràng buộc bởi cái đẹp ấy. Còn người không có giải thoát nhìn vào một bông hoa có thể bị dính vào bông hoa. Khi nhìn bông hoa, Bụt thấy được tính chất vô thường của bông hoa và ý thức về vô thường đó chứng tỏ rằng Bụt có giải thoát.

Vì vậy khi Bụt nói với thầy A Nan: “Này thầy A Nan, thành phố Vaisali đẹp quá há!” Bụt quả thấy thành phố đẹp. Bụt biết thưởng thức thành phố mà không bị vướng mắc vào thành phố. Chúng ta là những người tu theo Bụt, chúng ta có thể thấy được cuộc sống mầu nhiệm trong giây phút hiện tại, chúng ta thấy được cái đẹp và cái hay của vũ trụ vạn hữu trong giây phút hiện tại, chúng ta có thể hưởng thụ cái hạnh phúc đó với điều kiện là chúng ta thấu được lẽ vô thường, biết rõ là những hiện tượng đó đều là những sự kiện vô thường sẽ tan biến.

Nói một cách khác hơn là trong khi thưởng thức những cái đó chúng ta vẫn còn là những con người tự do. Thành ra an lạc ở đây phải được làm bằng chất liệu của tự do. Nếu không có chất liệu tự do thì không thể gọi đó là an lạc chân thực. Người kia đang hưởng thụ năm món dục lạc (tài, sắc, danh, thực và thụy: moneỵ, sex, fame, uncontrolled eating, and oversleeping), tham đắm và ràng buộc vào năm món dục lạc như một con thiêu thân nhảy vào trong lửa. Người như vậy không có tự do. Khi chúng ta đi thiền hành hay uống một ly nước mát, ta có quyền có sự an lạc. Chúng ta đừng tưởng rằng có an lạc như vậy là có tội vì đó là hạnh phúc thế gian. Không, hạnh phúc đó cũng là hạnh phúc giải thoát, Bụt cũng hưởng cái hạnh phúc đó mà Người không vướng víu. 
Ta không thể hiểu bản chất của an lạc trong đạo Bụt nếu ta không biết rằng tự do là bản chất của an lạc. Bụt dạy các vị khất sĩ khi ăn nên quán chiếu về thức ăn. Các thầy có thể thấy ngon trong khi ăn nhưng các thầy cũng biết rằng thức ăn cũng bất tịnh và khi nuốt vào trong bụng rồi thì thức ăn sẽ rất khác. Đó là cách quán chiếu về tính cách bất tịnh của thức ăn mà các thầy ngày xưa thường thực tập. Cố nhiên khi tắm gội thân thể sạch sẽ ta cũng biết rằng phải hiểu nghĩa sạch sẽ ấy theo tinh thần vô thường, nghĩa là mình biết trong con người mình đồng thời có những cái không sạch. Vì vậy Bụt dạy quán bất tịnh. Chẳng phải khi mình mẩy mồ hôi dơ dáy mình mới quán bất tịnh được mà khi mới tắm sạch mình cũng quán thấy thân thể mình có tính bất tịnh như thường.

2. Yếu tố thứ hai là an lạc:

An có nghĩa là tâm tư không bị khuấy động. Cái cảnh mặt trời huy hoàng kia, niềm vui trước mắt kia không khuấy động được tâm tư mình. Mình đang thưởng thức nó nhưng tâm mình vẫn bình thản. Mình thưởng thức nó nhưng những huy hoàng kia không tạo sóng gió và không tạo ra những phiền não ràng buộc trong tâm mình. Cái đó gọi là an.

An cũng có nghĩa là không sợ hãi. Biết rằng vạn vật vô thường, chính ngũ uẩn của ta cũng vô thường nên ta không sợ hãi cái sanh và cái diệt. Đó mới là thứ an tịnh vững chải nhất. Ta biết rằng hạnh phúc trong môi trường tu học được làm bằng bản chất của sự an tịnh. Nếu con người không có bản chất của sự an tịnh này thì không có hạnh phúc. Còn cái “an lạc” của người đang say mê trong ngũ dục không gọi là an lạc được. Đó gọi là đam mê, là sự đánh mất mình.

Lạc là khả năng vui sống. Bụt bằng sự sống hằng ngày của Người chứng tỏ là Người có sự vui sống. Tôi rất lấy làm lạ là trong mấy chục năm tu học ở tu viện, được học rất nhiều giáo lý sâu sắc của đạo Bụt nhưng chưa bao giờ tôi được quý thầy dạy cho những câu mà Bụt nói với thầy A Nan như: “Này thầy A Nan, núi Thứu đẹp quá! A Nan, Thầy hãy nhìn xuống cánh đồng lúa kia, đẹp không? Tại sao thầy không tìm cách may áo của các vị khất sĩ theo mẫu mực của các cánh đồng lúa này? Thầy A Nan, thành Vaisali đẹp quá phải không?”

Bụt đã chứng tỏ là Người có rất nhiều hạnh phúc. Người an trú trong hiện tại. Người có tự do. Người đã sống đời sống thanh thản an lạc. Người tu mà không có an và lạc thì tu chưa giỏi. Hạnh phúc đó và sự an lạc đó thuộc về cái an lạc xuất thế gian (lokottara), trong khi những người tham đắm trong ngũ dục thì quanh quẩn trong cái gọi là hạnh phúc thế gian. Cũng là sắc, thanh, hương, vị, xúc nhưng cách thức đón nhận khác nhau. Đón nhận bằng ràng buộc, nặng nề và tham đắm thì ta sống trong cảnh thế gian. Đón nhận bằng trí tuệ giác ngộ, biết chúng là vô thường và vô ngã thì ta vẫn duy trì được an tịnh và tự do của ta và vẫn an trú trong thế giới của tịnh lạc xuất thế gian. Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây là như vậy. Niết Bàn nằm chính trong giây phút hiện tại.

Đã biết rằng an và lạc làm bằng bản chất tự do thì ta rõ an lạc ấy không mong manh như sự đắm chìm theo ngũ dục. Vì không có tính cách gây khuấy động và gây tà kiến vô minh nên an lạc này có tính cách tịnh và thường. Có tính cách tịnh, vì an lạc ấy không làm đục ngầu cái tâm của mình và cái tâm của những người khác, không tạo ra khổ đau trong năm uẩn mình và trong năm uẩn của những người khác. Khi thưởng thức một tách trà, ta thưởng thức với chánh niệm, với tự do. Tuy chúng ta biết trà ấy ngon nhưng chúng ta nghĩ là nếu không có trà chúng ta cũng uống được nước lạnh, và nước lạnh cũng có cái ngon của nó. Vì vậy sự thưởng thức hạnh phúc của chúng ta có tính cách tịnh. Nó không khuấy động tâm ta.

Trong khi thưởng thức hạnh phúc ấy, biết rằng hạnh phúc ấy không phải là nguyên do của những đau khổ trong hiện tại và trong tương lai thì ta gọi hạnh phúc ấy là tịnh, bởi vì nó không có tác dụng làm cho thế giới và tâm hồn ta bất tịnh. Còn như khi ta uống rượu và tham đắm, chúng ta không có chánh niệm. Nếu có chánh niệm, ta đã biết rằng rượu làm hại gan. Rượu lại có tác dụng gây đau khổ cho mọi người, cho mình, cho xã hội và cho các loài khác. Ta biết rằng rượu được làm bằng chất ngũ cốc. Hằng triệu người đang chết vì thiếu ăn: uống rượu tức là sát sanh và đồng thời làm hư gan của mình. Nếu nghiện ngập mình sẽ làm đau khổ cho nhiều người: lái xe có thể làm chết người, say sưa sẽ làm nhiều điều xằng bậy. Vì vậy uống rượu mà không có chánh niệm là bất tịnh. Mà nếu uống rượu trong chánh niệm thì không thể nào có an lạc hạnh phúc được và nếu tiếp tục uống trong chánh niệm ta sẽ bỏ rượu không chóng thì chầy.

Hạnh phúc của người tu mang tính cách tịnh ấy. Tuy rằng thân thể ta miêu tả là bất tịnh, các thức ta ăn là bất tịnh, nhưng nếu ta có tự do, nếu ta có chứng nghiệm về vô thường và vô ngã thì tất cả các việc mà ta làm mới xem qua tuy giống hệt như việc người khác làm nhưng bản chất của chúng là tịnh, bởi vì chúng không gây khổ đau cho ta và cho người, bây giờ và trong tương lai.

Về bất tịnh quán, thầy tôi đã dạy: “không phải là thấy được sự dơ bẩn về vật chất của sự vật mới gọi là bất tịnh quán”. Bất tịnh quán là có thể nhìn với con mắt quán chiếu về nhân quả. Một hành động nào có thể gây đau khổ trong tương lai, mình quán chiếu thấy được kết quả đau khổ ấy thì đó có thể gọi là bất tịnh quán rồi. Đang đi ăn cắp mà chợt thấy rằng ăn cắp thì có thể bị ở tù, như vậy đã là bất tịnh quán. Quán như thế cho rõ ràng ta sẽ ngưng ý định ăn cắp. Nhờ tự do, chánh niệm và giới luật người tu có an lạc và có thanh tịnh. Niết Bàn của chúng ta là cái mà ta có thể tiếp xúc được ngay trong ngày hôm nay tới một mức độ nào đó.

Trong khi đi thiền hành, trong khi uống trà, ta thấy được và ta nếm được nó. Cái vui của ngũ dục rất mong manh, có khi chỉ kéo dài một phút, vài phút nhưng vì mê đắm quá có người đã nói “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt…!” Nhưng hạnh phúc của người giải thoát thì có thể kéo dài bao lâu cũng được. Khi mình ngắm nhìn một cội cây lá vàng rực rỡ trong mùa thu và mình thực tập hơi thở chánh niệm: “Tôi đang thở vào và tiếp xúc lá vàng rực rỡ, tôi đang thở ra và cảm thấy hạnh phúc.” Thực tập như thế trong năm phút ta có hạnh phúc trong năm phút. Nếu thở và ngắm trong mười lăm phút thì hạnh phúc ta kéo dài mười lăm phút.

Dĩ nhiên cội cây ấy không vàng rực suốt đời cho mình ngắm đâu. Lá vàng rồi lá đỏ, và cây từ từ trụi lá. Khi mình không tham đắm màu vàng mình mới biết tận hưởng màu đỏ và cảm thấy hạnh phúc. Rồi khi cây trụi lá mình cũng không tham đắm tiếc thương lá. Biết lá thế nào cũng sẽ trở lại, mình mới thấy được cái đẹp của cội cây với những cành khẳng khiu trụi lá, hùng vĩ can trường trong sương tuyết và mình lại có hạnh phúc. Rồi khi xuân về, mình lại được thấy cái đẹp khi những chồi hoa lá xuất hiện từ từ trên các cành khẳng khiu kia một cách thật mầu nhiệm.

Cái hạnh phúc không tham đắm đó gọi là thường. Khi mà có tuệ giác về vô thường rồi thì cây vàng mùa thu cũng đẹp mà cây trụi lá mùa đông cũng đẹp. Hạnh phúc đó là hạnh phúc trường cửu, hạnh phúc làm bằng chánh niệm và bằng tự do. Những danh từ thường, lạc, ngã và tịnh ấy có người sợ lắm. Họ xem những danh từ đó là kỵ, là không chánh thống, là ngoại đạo. Ta phải hiểu bốn tiếng đó không phải theo nghĩa trái chống với bốn tiếng vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh. Thường (permanence), lạc (joy), ngã (sovereignty), tịnh (non disturbance) ở đây là bốn đức của Niết Bàn, Niết Bàn có thể thực chứng được tại đây và bây giờ.

Bụt chỉ cho mọi người thấy tính cách vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh của mọi sự vật. Chúng ta quán chiếu để thấy được tính cách vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh của vạn vật vì vậy ta có khuynh hướng từ bỏ thế giới năm uẩn để đi tìm cái mà Bụt dạy, đó là Niết Bàn, trong đó có thường, lạc, ngã và tịnh. Rất nhiều người đã đi lạc vào trong cái quan niệm cho rằng niết bàn là một cái gì tách rời ra khỏi cuộc đời vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh này. Đạo Bụt đại thừa tới giúp ta nhìn sâu hơn, rõ hơn về những điều Bụt dạy và nói rằng cái mà ta đang đi tìm đó, cái hạnh phúc và Niết Bàn đó, chúng ta hãy tìm ngay trong thế giới của vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh. 
Vì vậy cho nên nếu khéo léo quý vị sẽ thực tập được tự do, chánh niệm, giới luật, chí và quán và sẽ chứng nhập được Niết Bàn, cảnh giới của thường, lạc, ngã, tịnh tại đây, ngay trong cuộc đời này. Bốn từ này phải được hiểu theo nghĩa của tự do, của giải thoát. Hạnh phúc mà chúng ta đi tìm có tính cách trường cửu, trường cửu vì được căn cứ trên tuệ giác về vô thường, căn cứ trên phong độ và nhận thức tự do của chúng ta. Hạnh phúc ấy đem lại một niềm vui vững bền, nuôi nấng chúng ta bằng nhiều chất liệu lợi lạc. Thực tập là để cởi bỏ những sợi dây ràng buộc, để có tự do. Tự do ấy mà không có thì ta không có gì hết. Khi sống cuộc đời của mình trong tu viện mà được nuôi dưỡng hằng ngày bằng bốn chất thường, lạc, ngã và tịnh ấy thì ta mới nên nói về Phật pháp và mới nên đem Phật pháp chia sẻ với người khác. Anh muốn giảng cho tôi nghe về thường, lạc, ngã và tịnh thì anh phải nếm nó trước. Anh hãy cười, hãy chứng tỏ là anh có hạnh phúc. Nếu không, tôi sẽ không theo học với anh.

 

(Trích “Về Việt Nam”, NXB Lá Bối, 1992 – Thích Nhất Hạnh Làng Hồng – ngày 28-11-199)

Tu phước và tu huệ

Tu Phước là gieo nhiều hạt giống phước đức (punya), như bỏ tiền vào trương mục tiết kiệm, như giúp người và làm những điều lành khác để sau này được hưởng hạnh phúc. Tu huệ là quán chiếu học hỏi luôn để mỗi ngày trí tuệ mỗi lớn thêm và có công năng giải phóng mình ra khỏi những ràng buộc khổ đau.

Ở Việt Nam đôi khi mình nói: "người đó chỉ tu phước thôi chứ không tu huệ" câu nói có vẻ chê bai; nhưng thật ra nếu không có huệ thì cũng khó có phước lắm. Tại sao người ta tu phước? Tại thấy rằng tu phước đem lại hạnh phúc cho mình và cho người: như vậy trong hành động tu phước đã có huệ rồi và những người tu học thông minh thì vừa tu phước vừa tu huệ (gọi là phước huệ song tu). Nếu tu hành cho vững chãi, ta sẽ thấy rằng trong phước có huệ và trong huệ có phước.

Có nhiều cách tu: khi quán niệm hơi thở thì gọi là tu an ban, khi ngồi thiền gọi là tu thiền tọa, khi đi thiền hành là tu thiền hành, khi rửa nồi gọi là tu rửa nồi, khi lau bát lau nhà gọi là tu lau bát lau nhà. Nếu tu đúng cách mình sẽ thấy rằng khi lau bát hoặc chùi cầu tiêu hoặc giúp một người đói…không phải ta chỉ tu phước mà cũng tu huệ. Khi tu tập ở Làng Hồng, giữ gìn chánh niệm, gieo trồng những hạt giống tươi mát an lạc vào tâm thức hàng ngày, không chỉ ta chỉ tu huệ mà cũng đang gieo trồng rất nhiều hạt giống phước đức.

Nói một cách đơn giản hơn, đó không phải chỉ là phước hay là huệ, chỉ là tu thôi. Tu như vậy là để đạt tới sự giải thoát ra khỏi những khổ đau và đem lại thêm an lạc và hạnh phúc. Hành động tu học của mình không phải là một cái gì tách ra khỏi kết quả của sự tu học; trong khi tu học mình phải cảm thấy được cái hạnh phúc của sự tu học; như vậy mới đúng tinh thần tu học ở đây.

Phương tiện và cứu cánh là một. Bước một bước chân trong chánh niệm, hớp một hớp trà, thở một hơi thở… những hành động đó gọi là tu tập. Những hành động đó phải mang tánh chất hạnh phúc trong tự thân chúng thì đó mới đúng pháp môn của chúng mình.

Tu ở đây biểu lộ khả năng có hạnh phúc của mình (the capacity to be happy). Thật ra trong tâm thức người nào cũng có một hạt giống gọi là khả năng có hạnh phúc. Nếu mỗi ngày biết tưới tẩm hạt giống đó thì mình sẽ có hạnh phúc và có liền trong phút giây mình tưới. Điều mà chúng ta phải làm là biết tưới tẩm hạnh phúc của mình ngay bây giờ, để cho khả năng cho hạnh phúc trong con người mình được phát triển, và như thế mình có hạnh phúc ngay trong giờ phút mình đang tu học.

Nếu xét lại phương pháp tu học ở đây, ta sẽ thấy rằng hằng ngày chúng ta ngồi thiền, đi thiền hành, uống trà, ăn cơm trong chánh niệm… là để tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc nơi chúng ta. Nếu trong khi làm những điều đó mà chúng ta an trú được trong hiện tại và chúng ta có hạnh phúc thì chúng ta đã làm đúng và tu đúng. Nếu trong khi làm những thứ đó mà ta vẫn thấy âu sầu, vẫn nghĩ rằng ta chỉ có được hạnh phúc trong tương lai thì ta đã không làm được đúng pháp môn mà thầy đã trao truyền và ta đang thực tập.

Khi thiên hạ hỏi "ở Làng Hồng quý vị tu theo pháp môn nào? Vipassana, thiền đại thừa hay Phật Giáo Việt Nam thống nhất?" Ta có thể nói: "Chúng tôi đang thực tập hạnh phúc." Khi mình có thể cắt đứt được những lo lắng, bực bội và sầu đau đã qua (những gì vừa xảy ra hồi nảy, vài giờ trước, vài ngày trước hay vài tháng, vài năm trước) và có thể cắt đứt được những tính toán và lo lắng về những chuyện sẽ xảy ra trong vài giờ, vài ngày, vài tuần, vài tháng hay vài năm nữa (thuộc về tương lai), thì mình đã có thể bước được những bước chân có an lạc và khỏe khoắn trong giờ phút hiện tại, nở được một nụ cười, và lúc đó mình đã thật sự có tự do để có thể tiếp xúc với sự sống.

Mình có thể thấy rõ là mình còn sức khỏe, còn hai mắt sáng thấy đủ hết các màu sắc, hình dáng, và đường nét; tai mình còn nghe được gió thổi, mưa rơi, chim hót, tiếng nói của người thương và đủ thứ âm thanh khác… Được như vậy, mình có hạnh phúc lập tức, và đồng thời làm cho khả năng có hạnh phúc của mình biểu lộ ra, và người khác nhìn sẽ thấy liền.

Khi được người ta khen ngợi mình, nói rằng cô ấy hay anh đó có sức chịu đựng lớn, làm việc siêng năng, thông minh… mình chưa thực sự cảm thấy hãnh diện. Nhưng nếu được khen là có khả năng có hạnh phúc, có an lạc, nhẹ nhàng, thảnh thơi và tươi mát, thì ta sẽ sung sướng hơn, bởi vì một người hạnh phúc và tươi mát như vậy sẽ biết cách chia xẻ niềm vui cho rất nhiều người.

Cần cù siêng năng mà cau có buồn bã thì chẳng sung sướng gì lắm. Người ta thường nói tu phước là chất chứa công đức để sẽ có hạnh phúc trong tương lai. Đó là một định nghĩa chưa được chính xác trong tinh thần Bụt dạy. Thật ra nếu tu phước đúng pháp thì hạnh phúc đó nằm trong phút giây hiện tại. Và mình biết rằng trong hiện tại mà có hạnh phúc như thế này thì trong tương lai nhất định sẽ có hạnh phúc.

Tương lai được làm bằng hiện tại. Dù mình có cực khổ cách mấy mà trong hiện tại mình không có hạnh phúc thì tương lai mình cũng không có hạnh phúc đâu, lý do là tương lai được làm bằng chất liệu hiện tại. Ngày hôm nay nếu bạn mỉm cười được, thảnh thơi được, an trú được trong hiện tại, vui hưởng được từng bước chân, từng tách trà, và từng nụ cười, thì cái vốn liếng hạnh phúc ngày hôm nay sẽ làm ra cái vốn liếng hạnh phúc cho ngày mai. Chúng ta thường bị ám ảnh bởi ý tưởng là hôm nay phải cực khổ, ngày mai mới có thể sung sướng. Ví như câu ca dao:

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Hôm nay khó nhọc ngày mai mới có thiên đường của hạnh phúc. Không chắc lắm đâu. Tôi thấy hai câu sau có chân lý nhiều hơn và đẹp hơn hai câu đầu. Hai câu ấy cho thấy rằng làm việc chung, có đủ vợ, chồng và con trâu là vui biết mấy! Cùng đồng tâm làm việc, đó đã là hạnh phúc rồi, đâu có cần ngày mai ngày mốt gì nữa. Nếu đã đồng tâm làm việc trong hạnh phúc hôm nay thì tương lai dĩ nhiên sẽ được làm bằng hạnh phúc.

Khả năng có hạnh phúc của mình được biểu lộ trong hai trường hợp: trường hợp không làm việc và trường hợp làm việc. Đi thiền hành cũng hạnh phúc mà chùi nồi cũng hạnh phúc. Đi thiền hành, cắt đứt hết những tính toán lo âu, sợ sệt, bước những bước thật thanh thản và nhẹ nhàng, miệng nở nụ cười tươi mát, hít thở không khí trong lành buổi sáng, đó hạnh phúc đã đành mà chùi nồi cũng vậy: trong khi chùi nồi ta cắt đứt những lo lắng, lăng xăng, những suy tư tính toán, ta không hấp tấp, ta làm việc thật thanh thản, thì việc chùi nồi không thua kém gì việc đi thiền hành hay ngồi thiền tọa.

Trong những lúc đó mình thật sự có hạnh phúc, mình an trú trong giây phút hiện tại, mình là một con người thật sự tự do. Trong khi chùi nồi, nếu ta không bị kéo đi bởi chuyện đã qua và chuyện sắp tới, nếu ta cắt đứt được những sợi dây phiền lo tính toán bất an, thì ta thực đang chùi nồi một cách thật thanh thản, an lạc, và ta không làm hấp tấp như đang bị ma đuổi. Bị ma đuổi là cố làm cho mau xong để còn đi học kinh.

Nếu nghĩ rằng học kinh mới là hạnh phúc còn chùi nồi không có hạnh phúc, thì khi học kinh ta cũng có thể không an trú được trong việc học kinh, ta sẽ vừa học kinh vừa tính toán tiếp: học kinh cho giỏi thì mới có hạnh phúc trong tương lai, phải học cho cực khổ thì sau này mới hạnh phúc.

Học kinh đâu có quan trọng bằng sống theo lời kinh dạy. Tu là thực tập sống theo lời kinh dạy, tập an trú thảnh thơi trong từng hơi thở, từng giây, từng phút, từng bước chân và từng hành động. Khi an trú thảnh thơi được trong từng phút giây của sự sống, ta tiếp xúc được với tất cả những sâu sắc mầu nhiệm của sự sống.

Ta nhìn sâu vào hiện tại để thấy hiện tại bao gồm hết quá khứ và tương lai, bao gồm cả vũ trụ vạn hữu. Thấy quá khứ và tương lai nhưng ta không trôi lăn vào quá khứ và vào tương lai, bởi vì trong chánh niệm, hiện tại vẫn là nền tảng. Mình phải chứng minh khả năng hạnh phúc thảnh thơi của mình trong từng giây phút.

Những phương pháp thực tập để ta tự biến từng phút giây của sự sống ta thành những phút giây an vui hạnh phúc thảnh thơi đã được trao truyền, và nếu quý vị nghĩ rằng tới Làng Hồng chỉ để học kinh Đại Thừa thôi thì rất là uổng. Quý vị nào mới tới chưa được hướng dẫn xin hỏi quý vị thọ giáo của Làng vì những người đó biết cách làm mà cũng thực sự đang tự làm hạnh phúc cho chính mình.

(Thầy giảng ngày 17-11-1992 – Được in trong sách: Về Việt Nam – Sáu bài giảng tại Làng Hồng về gốc rễ hạnh phúc và tu tập)

 

Mảnh trời xanh

Tâm sáng chói

Tổ Lâm Tế dạy rằng mỗi chúng ta đều có cái tâm sáng chói. Nếu tìm về được tâm sáng chói ấy, vận dụng được tâm sáng chói ấy thì ta cũng làm được như các vị Bụt và các vị Bồ tát. Ta có thể làm được ngay bây giờ. Nhưng cái tâm sáng chói đó của ta bây giờ không được sáng lắm tại vì ta không chịu tu tập. Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Thế Tôn có nói rằng tâm của ta vốn sáng chói nhưng vì phiền não làm uế nhiễm cho nên đen tối. Vì vậy muốn sử dụng tâm sáng chói đó ta phải trở về và tu tập. Cũng giống như một mảnh vườn lâu ngày không trồng trọt thì đất sẽ khô cứng, sẽ có gai góc và cỏ dại mọc đầy. Tâm ta cũng vậy. Tâm không tu tập thì cũng giống như một khu vườn đầy gai góc cỏ dại, và vì vậy tu tập là trở về làm việc trên miếng đất tâm của mình. Chữ tu có nghĩa là làm cho tốt trở lại, như trong danh từ "tu bổ", chữ tập có nghĩa là luyện cho quen, làm cho quen. Tâm của ta là đất và trong đất đã có những hạt giống tốt. Đất Xóm Thượng có sẵn hạt rau dền, ta chỉ cần cày lên và tưới nước thì rau dền mọc lên. Sự tu tập cũng vậy. Từ chỗ không có ta làm cho có. Tâm sáng chói có đó nhưng vì ta không tu tập cho nên nó không biểu hiện ra. Nó không biểu hiện ra được thì ta không làm được như Bụt, như các vị bồ tát. Cái diệu dụng đó không phải đi tìm ở ngoài, nó đã có sẵn ở nơi đất tâm của ta.

Đây là một đoạn trong kinh Tăng Chi Bộ "Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đưa đến bất lợi lớn như là tâm không tu tập". Tâm không tu tập thì đưa đến rất nhiều phiền não, giận hờn, chia rẽ, oán thù, khổ đau, bất lợi rất lớn cũng như một mảnh đất không được chăm sóc gieo trồng thì sẽ đưa tới gai góc bụi rậm. "Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đưa đến ích lợi lớn như là tâm được tu tập". Tâm mà được tu tập thì sẽ đưa đến lợi ích lớn, sẽ có từ, có bi, có trí, có dũng làm hạnh phúc cho ta và cho đời.

Tâm sáng chói mà Tổ Lâm Tế đề cập tới là tâm đã có sẵn trong mỗi người của chúng ta. Tâm ta mà không sáng chói được tại vì bị phiền não che lấp. Phiền não có nhiều loại như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Tâm của ta giống như một con ngựa hoang. Muốn con ngựa hoang trở thành một con ngựa hữu dụng ta phải có nghệ thuật gọi là điều mã. Tâm ta giống như một con vượn chuyền cành. Nó kéo ta đi, ta không điều phục được nó. Vì vậy cho nên ta không làm được như Bụt và các vị bồ tát đang làm. Tâm ta mà như vậy thì dù ta có học hỏi cách mấy đi nữa, ta có học thuộc lòng tam tạng kinh điển và diễn giảng giáo lý ba thừa trôi chảy đến mấy thì ta vẫn bị kéo đi. Vì vậy cho nên vấn đề là phải trở về nắm lấy tâm và điều phục tâm mình. Nếu không thì sẽ đau khổ nhiều. Còn nếu điều phục được tâm thì sẽ đưa lại lợi ích lớn, hạnh phúc lớn.

Những sợi dây cương để điều phục tâm

Ở Thái Lan và ở một số các nước Á châu khác người ta điều phục được cả những con voi rừng rất hung hăng. Có khi họ dùng những sợi xích bằng sắt để cột chân voi lại, đem về huấn luyện và điều phục. Những con voi rừng hung hăng như vậy mà có thể trở thành những con voi hữu dụng có thể chuyên chở, có thể giúp người. Chính những con cọp trong các gánh xiệc cũng do người ta điều phục được và làm được những điều mà những con cọp thường không làm được. Tâm ta cũng vậy. Nó là một con voi hoang, một con ngựa hoang. Ta phải làm thế nào để cột con voi hoang, cột con ngựa hoang đó lại và luyện tập cho nó. Ban đầu ta phải có những sợi dây để cột nó lại. Những người đi bắt ngựa hoang có một sợi dây thòng lọng dài. Họ cỡi trên lưng một con ngựa đã thuần thục rồi và cầm sợi dây đó chạy theo con ngựa hoang. Khi vừa tầm thì họ liệng sợi dây ra tròng lấy con ngựa. Con ngựa hoang bị cái thòng lọng kéo lại thì vùng vẫy muốn thoát đi mà không được, từ từ con ngựa đó được đưa về và được luyện tập để trở nên hữu dụng. Tâm ta cũng vậy. Tâm ta là con ngựa hoang, và phương pháp thực tập chánh niệm là những sợi dây cương giữ con ngựa hoang lại để con ngựa từ từ thuần đi.

Ở Làng Mai chúng ta có nhiều phương pháp, chúng ta có những sợi dây cương nắm và cột được tâm, cột được ý. Nắm lấy ý gọi là thủ ý, thủ tức là nắm và ý là tâm. Ta có thể nắm được ý bằng nhiều phương pháp. Phương pháp đầu là hơi thở có chánh niệm, gọi là an ban thủ ý. An ban tức là hơi thở vào hơi thở ra.

Tại Làng Mai ta lại có phương pháp đi. Ta nắm lấy hơi thở và nắm lấy bước chân. Nếu quý vị không sử dụng những sợi dây của Làng Mai thì quý vị không nắm lấy được tâm của mình. Vì vậy ai tới Làng Mai cũng phải sử dụng những sợi dây đó. Những sợi dây đó không phải của những người khác đưa ra để cột ta mà chính ta làm ra và sử dụng lấy để tự cột tâm mình lại. Nếu không thì có học cách mấy, có thực tập quán chiếu cách mấy cũng không được. Trước hết là phải nắm lấy tâm, gọi là thủ ý, tức là nắm lấy tâm ý. Nếu quý vị thực tập độ chừng vài tuần lễ thì quý vị sẽ thấy tình trạng thay đổi. Phải thực tập cho miên mật chứ không thể thực tập khơi khơi. Tôi đã đi ngang qua những thời gian thực tập rất miên mật như thế nên tôi đã có sự chuyển hóa. Quý vị không thể làm nửa vời, làm lưng chừng được. Phải cương quyết nắm cho được tâm mình mà trước hết là nắm lấy thân tại vì thân tâm đi đôi với nhau. Hơi thở thuộc về thân, hai chân cũng thuộc về thân nhưng nắm được hơi thở và bước chân thì ta từ từ nắm được tâm.

Trong sinh hoạt hàng ngày, khi ta lái xe đi chợ, nấu bếp hoặc rửa chén, những lúc đó là những lúc ta thực tập nắm lấy tâm. Đừng làm việc suông. Làm việc suông thì ở ngoài đời người ta làm bao nhiêu rồi, không lý ta vô chùa để rồi cũng làm việc giống hệt như ngoài đời? Trong khi rửa chén, nấu cơm, tưới nước, ta làm thế nào để ta có thể nắm được tâm mình. Ta trở về với tâm mình cũng giống như người điều mã luôn luôn ở với con ngựa.

Ở Làng Mai chúng ta có một số bài kệ để thực tập. Chúng ta đã thuộc lòng những bài kệ đó nhưng chúng ta phải đem áp dụng thực tập cho đàng hoàng. Nắm lấy hơi thở, nắm lấy bước chân thì một vài tuần sau chúng ta bắt đầu nắm lấy được tâm của chúng ta. Tâm chứa đựng thân và thân cũng chứa đựng tâm. Những bài này là những thiền phổ rất hay, rất đơn giản. Bài Quay về nương tựa hải đảo tự thân là một bài rất mầu nhiệm. Những lúc tâm ta hoang mang, ta không biết nên làm gì cho đúng; những lúc tình trạng trở nên nguy hiểm mà ta trở về được với hơi thở để thở theo bài đó thì tâm ta an lại liền lập tức. Ví dụ như khi đang ở trên máy bay, ta nghe tin rằng không tặc đã chiếm lấy máy bay rồi và có thể làm nổ máy bay bất cứ lúc nào. Chính lúc đó là lúc ta phải thực tập những bài này. Ta sẽ sống hay sẽ chết, nhưng ta sẽ sống hoặc sẽ chết trong sự vững chãi của tâm. Nếu mỗi người trên máy bay đều có thực tập thì ta có cơ hội sống nhiều hơn, tại vì người nào cũng vững chãi, người nào cũng không náo loạn; không náo loạn thì có thể thấy được rõ ràng là mình nên làm gì và không nên làm gì để tình trạng nguy hiểm có thể được chấm dứt.

Quay về nương tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt
Soi sáng xa gần
Hơi thở là pháp
Bảo hộ thân tâm
Năm uẩn là tăng
Phối hợp tinh cần
Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát
Là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu
Không gian thênh thang.

Quay về nương tựa hải đảo tự thân, đây là lời dạy của đức Thế Tôn khi ngài 80 tuổi. Ngài biết rằng sau khi ngài tịch đi thì sẽ có vô số các vị đệ tử xuất gia và tại gia cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa, cho nên Ngài dạy rằng có một hải đảo tự thân và mỗi khi ta thấy bơ vơ, lạc lõng, buồn chán, do dự không biết làm gì cho đúng thì ta hãy trở về cái hải đảo đó để có sự an toàn. Đó là cái tâm vững chãi của ta. Một hơi thở đưa ta về hải đảo đó ngay, hải đảo có sự vững chãi. Hải đảo đó không phải tìm ở ngoài. Trong tâm có hạt giống của sự vững chãi, của sự thảnh thơi, có hạt giống của Bụt, và ta quay về nương tựa nơi ấy. Ở bên Cơ Đốc giáo, những lúc hoang mang sợ hãi người tín đồ cũng quay về nương tựa nơi Chúa, nhưng sự thực tập không duy lý bằng, không rõ ràng bằng. Ta biết trong mỗi người đều có hạt giống của sự vững chãi, sự thảnh thơi, sự không sợ hãi, ta trở về nương tựa nơi những hạt giống đó, thì những hạt giống đó có tính cách cụ thể hơn ý niệm về Chúa, ý niệm về Bụt. Trong ta có những hạt giống tốt và những hạt giống xấu, trong số các hạt giống tốt có hạt giống của sự vững chãi, của tự do, của hiểu biết và của trí tuệ. Chính cái đó làm chỗ nương tựa che chở cho ta, về nương tựa vào những cái có thật chứ không phải vào những cái gì mơ hồ trong tương lai.

Trong tư thế ngồi ta thở vào và trong khi thở vào ta có thể đọc bốn chữ "quay về nương tựa". Khi thở ra ta đọc bốn chữ "hải đảo tự thân". Trong tư thế đi cũng vậy, khi thở vào thì ta đọc "quay về nương tựa", khi thở ra ta đọc "hải đảo tự thân". Phải có sự quay về thật sự chứ không phải chỉ có lời tụng niệm. Trong các tư thế ngồi, nằm, đứng, đi, ta đều có thể thực tập được quay về nương tựa, hoặc ta có thể "quay về" trong hơi thở vào, "nương tựa" trong hơi thở ra, "hải đảo" thở vào, "tự thân" thở ra.

Khi quay về ta sẽ gặp gì? Chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần. Quay về ta sẽ gặp Bụt mà Bụt không phải là một cái gì trừu tượng. Bụt đây là chánh niệm. Ngoài chánh niệm ra không thể nào có Bụt được. Chánh niệm là khả năng trở về với giây phút hiện tại, biết được những gì đang xảy ra. Những gì đang xảy ra là hơi thở vào và hơi thở ra. Đó gọi là an ban thủ ý tức là chánh niệm về hơi thở. Khi một người thở vào có ý thức, thở ra có ý thức thì trong người ấy phát khởi ra năng lượng chánh niệm, chánh niệm đó là Bụt. Nếu không có chất liệu của chánh niệm người đó không thể được gọi là Bụt. Vì vậy chánh niệm là Bụt. Khi niệm "Nam mô A Di Đà Phật" chưa chắc ta đã có thể chế tác chánh niệm tại vì ta có thể đang niệm như một con vẹt. Niệm Bụt mà niệm Bụt đúng là trong khi niệm ta chế tác được chánh niệm. Nếu không niệm Bụt mà ta niệm hơi thở, niệm bước chân, niệm đám mây, niệm hòn sỏi với chánh niệm thì đó cũng là Bụt. Vì vậy cho nên chánh niệm là Bụt chứ không phải danh từ "Bụt" là Bụt.

Khi trở về với hải đảo tự thân ta gặp Bụt liền, Bụt dưới hình thức chánh niệm và chánh niệm là ánh sáng soi cho ta thấy những gì ở gần, những gì ở xa nên gọi là "soi sáng xa gần". Chánh niệm là ánh sáng. Khi uống nước mà ta biết rằng ta đang uống nước thì đó là có ánh sáng rồi, còn khi uống nước mà không biết mình đang uống nước thì đó là bóng tối; bước đi một bước biết là bước đi một bước thì đó là ánh sáng. Chánh niệm có nghĩa là nhận diện được cái gì đang xảy ra và sự nhận diện đó là ánh sáng soi chiếu. Khi có ánh sáng soi chiếu thì ta không sợ hãi nữa. Có chánh niệm tức là có năng lượng để soi sáng và biết cái gì đang xảy ra. Định nghĩa căn bản của chánh niệm là biết những gì đang xảy ra.

"Hơi thở là pháp, bảo hộ thân tâm", hơi thở ở đây là hơi thở chánh niệm chứ không phải hơi thở thường. Mỗi ngày ta đều thở ra, thở vào không ngừng, nhưng cái đó không phải là Pháp. Khi ta thở vào mà biết ta đang thở vào, khi ta thở ra mà ý thức được có hơi thở ra thì đó mới là Pháp. Pháp này không phải là Pháp nói hay Pháp viết mà là Pháp linh hoạt đích thực (the living dharma) cũng như chánh niệm là "the living Buddha". Phật sống có mặt khi ta có chánh niệm, Pháp sống có mặt khi ta có hơi thở chánh niệm và khi có hơi thở chánh niệm rồi thì pháp này bảo hộ cho cả thân và tâm. Khi ta thất thần, sợ hãi, hoảng hốt, sắp điên loạn thì ta trở về với hơi thở. Ta thở vào, thở ra có chánh niệm thì hơi thở vào, thở ra đó sẽ đưa ta vào trong trạng thái của sự an ổn. Ví dụ có người báo cho ta hay là ta có bệnh ung thư hay người thân của ta vừa bị thương không biết có sống sót được qua tai nạn hay không v.v…

Trong tất cả những trường hợp đó ta đều phải trở về với hải đảo tự thân và thực tập bài này. Bài này rất hay. Tôi đã sử dụng rất hiệu nghiệm trong những lúc khó khăn của tôi và lúc nào cũng thành công. Khi thân ta lâm vào tình trạng nguy biến và khi tâm ta rơi vào tình trạng khủng hoảng, thực tập bài này ta sẽ lấy lại được thăng bằng. Bài này đích thực là bài tập Quy y Tam bảo. Tuy nó không nói Quy y Tam bảo nhưng kỳ thực nó là quy y Tam bảo đích thực. Tam bảo không phải ở những đối tượng thờ cúng mà Tam bảo là thực tại có thật trong tâm ta. Nếu quý vị thực tập mà không thành công thì tôi hứa là tôi sẽ không đi dạy nữa. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm thì hơi thở chánh niệm trở thành ra một năng lượng bảo vệ cho thân và tâm. Năng lượng đó là Pháp linh động. Có Pháp sống cùng với Phật sống trong ta thì không có lý gì ta phải lo sợ nữa. Trong những trường hợp khi ta không biết nên làm gì cho đúng thì ta biết rằng cái mà ta có thể làm được trong giờ phút này là trở về để nương tựa nơi Tam bảo, nhờ sức Tam bảo để che chở cho mình. Tam bảo đây không phải đối tượng của sự kính ngưỡng hay thờ cúng mà Tam bảo đây là những năng lượng có thật.

Năm uẩn là tăng phối hợp tinh cần. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm thì hơi thở chánh niệm đó gọi là Pháp sống, Pháp linh hoạt. Hơi thở này bắt đầu điều hòa năm uẩn của ta, đưa tâm trở về với thân, nhận diện và ôm ấp những cảm thọ, cảm xúc và tạo ra sự hòa hợp ở trong cơ thể ta cho nên gọi năm uẩn là tăng. Năm uẩn là thành phần của tăng thân ở trong con người ta và năm uẩn đó có thể rời rạc, có thể chống đối nhau, có thể hỗn loạn nhưng khi có hơi thở chánh niệm tức là Pháp linh hoạt tới rồi thì năm uẩn đó bắt đầu tới với nhau trong một trạng thái có hòa điệu. Chỉ cần thực tập năm, mười phút là ta thấy được sự hòa điệu đó của năm uẩn và sự hòa điệu đó đưa lại sự bình an, sự vững chãi của thân tâm. Thiền phổ này rất mầu nhiệm.

Trong một kiếp trước, khi đức Thế Tôn còn đi tìm đạo thì ngài có gặp một dạ xoa. Con dạ xoa nói: "Ta biết một câu kệ về chánh pháp nhưng mà ta chỉ có thể đọc cho ngươi nghe nếu ngươi bằng lòng để ta ăn thịt ngươi sau đó". Tiền thân của đức Thế Tôn nói: "Được, bây giờ anh nói cho tôi nghe bài kệ chánh pháp đó đi rồi tôi sẽ để cho anh ăn thịt tôi". Bài kệ này cũng có giá trị thực tập rất lớn. Bài này có giá trị trong mọi hoàn cảnh. Dù cho khó khăn, điên đảo, nguy biến cách mấy mà nếu quý vị trở về hơi thở và thực tập bài này thì quý vị sẽ có an ninh, sẽ có Tam bảo hộ trì. Tam bảo hộ trì không phải như một quyền phép mê tín mà Tam bảo là chánh niệm, có khả năng soi sáng cho ta và cho ta biết nên làm gì và không nên làm gì trong lúc này. Hơi thở chánh niệm là Pháp sống, có khả năng điều hợp thân tâm và đưa lại sự thăng bằng của thân tâm.

Riêng tôi, tôi đã thừa hưởng được rất nhiều từ bài thực tập này và tôi không đợi đến khi có khó khăn mới sử dụng. Đó là sự thực tập hàng ngày, mà sự thực tập có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong ngày. Lái xe cũng có thể thực tập bài này mà ăn cơm cũng có thể thực tập bài này. Khi nhai ta có thể nhai theo nhịp của bài này và khi nhai hết bài này thì cơm trong miệng rất nhuyễn, nuốt vô sẽ rất dễ tiêu. Thay vì nói chuyện này, chuyện kia, nghĩ chuyện người này, chuyện người kia, nghĩ chuyện bên này, nghĩ chuyện bên kia thì ta an trú trong bài kệ này để ăn cơm. Tôi đã ăn cơm vô số lần với bài kệ này. Ngồi đó và trong khi ăn cơm tôi thực tập quy y Tam bảo. Quy y Tam bảo một cách rất khoa học chứ không phải quy y như một người theo tôn giáo. Từ Bụt ở đây được định nghĩa là chánh niệm, Pháp là hơi thở chánh niệm và Tăng là năm uẩn điều hợp với nhau dưới ánh sáng của chánh niệm. Trong khi đi ta có thể thực tập được bài này. Nếu ta đi hai bước với hơi thở vào thì ta niệm "quay về, quay về" rồi khi thở ra ta niệm "nương tựa, nương tựa". Khi đi mau hơn, ví dụ hơi thở vào ba bước, hơi thở ra ba bước, thì ta đọc thêm "tôi quay về, và nương tựa, nơi hải đảo, của tự thân, chánh niệm ấy, tức là Bụt, đang soi sáng, khắp xa gần, hơi thở ấy, là chánh pháp, đang bảo hộ, cả thân tâm, năm uẩn kia, là tăng thân, đang phối hợp, rất tinh cần." Ta chỉ cần một chút thông minh thì hai chữ trở thành ba chữ. Trong khi chạy bộ quý vị cũng có thể thực tập được theo bài này. Khi chạy tôi thường thực tập bài này hoặc một bài khác chứ không bao giờ tôi chạy mà không thực tập theo một bài kệ.

Thành ra những vị nào chưa thuộc lòng như cháo những bài này thì phải học và đem ra thực tập liền. Ta nên biết rằng những lúc ta bơ vơ, bối rối không biết làm gì cho đúng để bảo hộ thân và tâm thì bài này là bài cần thực tập để trở về được trong những lúc đó. Điều hay nhất ta có thể làm để đối phó với những trường hợp như thế là trở về hơi thở và thực tập những bài này. Phải biết rằng ta đang làm cái mà ta đang cần làm, ta có thể làm; đã làm được rồi thì tự nhiên ta không còn lo lắng nữa. Ta chỉ lo lắng sầu khổ, sợ hãi khi ta không biết rằng mình phải làm gì cho đúng. Còn khi biết rằng ta đang làm cái ta có thể làm hay nhất trong lúc này, trong những cơn bối rối đó là thực tập trở về thì trạng thái đánh mất tự thân được chấm dứt liền lập tức. Mầu nhiệm vô cùng. Bài này rất đáng để cho ta đổi thân mạng của mình để nghe, nghe rồi thì để cho dạ xoa ăn thịt cũng được.

Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát

Làm sao ta trở thành một bông hoa trong khi ta thở vào, và làm sao ta cảm thấy sự tươi mát trong khi ta thở ra? Đây là thiền sỏi của các bé. Nếu các bé làm được thì ta cũng phải làm được. Khi đi một mình, ta có thể đi thiền rất chậm. Chậm nhiều hay ít tùy theo ta nhưng khi ta làm được rồi thì tại sao ta phải đi chậm quá, tuy mỗi bước chân phải có đủ thì giờ để ta sống cho thấu đáo cái thấy đó. Cái thấy là ta đã quay về, ta đang nương tựa, ta đang thật sự ở trong hải đảo của tự thân và ta đang tiếp xúc với thực tại một cách sâu sắc. Nếu chưa tiếp xúc được thì ta chưa nhấc chân lên, giống như khi ta đóng một dấu ấn có son, ta muốn dấu ấn đầy đủ thì ta phải đè mạnh con dấu các phía để cho son in lên đủ rồi ta mới nhấc con dấu lên. Bước chân của ta cũng vậy. Khi ta chưa hoàn toàn tới được với giây phút hiện tại thì bước chân ta vẫn còn một chút tính cách của sự đi như bị ma đuổi. Thành ra khi đi thiền một mình, ta có cơ hội đi chậm bao nhiêu cũng được, còn khi đi chung với đại chúng ta phải đi với một tốc độ trung bình của đại chúng. Ví dụ bước đi và nói "bây giờ", ta phải nếm, phải tiếp xúc cho được cái bây giờ rồi lúc đó ta mới bước khác và nói "ở đây", giống như dấu ấn in sát vào văn bản. Thỏa mãn rồi thì ta mới bước bước khác và nếu chưa tiếp xúc được thì ta có thể để vậy cho đến khi nào ta tiếp xúc được với cái bây giờ thật sâu thật vững rồi ta mới đi bước tiếp. Trong những bước ấy tâm ta hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của ta. Sợi dây của tâm ý được cột lại rất đàng hoàng, rất dễ chịu. Con ngựa hoang, con voi hoang đau khổ khi bị buộc bằng những sợi dây xích sắt, bị đánh ở trên đầu, nhưng khi thực tập ta không đau khổ như vậy, trái lại sự thực tập có thể đưa tới niềm an lạc và hạnh phúc rất lớn. Vì vậy nên thay vì dùng thì giờ của ta để nói chuyện này, chuyện kia, để cười giỡn thì ta để giờ ra để làm chuyện này. Ta trở về chăm sóc vườn tâm của ta tại vì ta đi tu là để làm chuyện đó. Ta đi một mình trong vườn sồi, ta đi một mình trong vườn tre, ta tha hồ mà thực tập. Với mỗi bước chân như vậy ta dẫm vào sự thật, dẫm vào thực tại gọi là "bộ bộ đạp trước thật địa", đó là một câu kệ của vua Trần Thái Tông. Mỗi bước đều dẫm vào thực tại cả chứ không phải là ta đi trong giấc mơ, ta không đi như bị ma đuổi. Khi làm được như vậy bằng cách thực tập một mình thì đến khi đi với tăng thân ta thực tập rất dễ. Làm chậm được rồi thì nhanh ta đi cũng được, chứ không hẳn là phải đi chậm ta mới tiếp xúc được hiện tại với tất cả mầu nhiệm. Cũng như khi nhìn một bông hoa, ta nhìn làm sao để có thể thực sự thấy được nó và ta mỉm cười, thấy được nó như một thực tại chứ không phải như một bóng ma.

Mỉm cười với trời xanh

Trong tiểu thuyết L'étranger của Albert Camus, có một người tử tù bốn mươi mấy tuổi rồi mà chưa bao giờ thật sự thấy trời xanh. Ông ấy bị ở tù tại vì trong một cơn bực bội ông đã giết chết một người, ông tên là Meursault. Hôm đó ông biết rằng là ngày mai ông sẽ bị đem xử tử. Nằm trong phòng giam, ngửa đầu lên ông thấy một cái khung cửa tò vò, qua khung cửa tò vò đó ông thấy được trời xanh. Ông rất ý thức chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa ông sẽ bị xử tử, và kỳ này không biết tại sao ông thật sự thấy được trời xanh. Chưa bao giờ ông thấy được trời xanh như vậy mà trời xanh đó chỉ được thấy qua một khung cửa nhỏ. Sống tới bốn mươi mấy tuổi rồi mà ông ta chưa bao giờ nhìn và thấy được trời xanh một cách sâu sắc như vậy.

Khi ta nhìn một cái gì, ta phải nhìn sao để cho thấy được sâu sắc và sau này khi người ta có hỏi: "Sao, anh sống ở trên thế gian mấy chục năm anh đã thấy trời xanh lần nào chưa?" Ta phải nói là có thấy. Khi thấy được trời xanh như thế thì trời xanh không còn ở trong một giấc mơ nữa mà đó là thực tại, đó gọi là thật địa. "Bộ bộ đạp trước thật địa", mỗi bước ta đi đều dẫm vào đất đai của thực tại.

Có một lần tôi tiếp một ký giả của nhật báo San Francisco Chronicle, sau khi phỏng vấn xong tôi đưa ông ra xe và chỉ cho ông bước những bước chân chánh niệm như thế từ chỗ ngồi phỏng vấn dưới ba cây tùng cho đến bãi đậu xe. Nửa đường tôi mời ông dừng lại, ngửng lên nhìn trời xanh và đề nghị ông thực tập: "thở vào tôi thấy trời xanh, thở ra tôi mỉm cười với trời xanh". Trước khi từ biệt ông nói với tôi: "Tôi chưa bao giờ nhìn trời xanh như vậy cả!" Có chút năng lượng chánh niệm thì trời xanh thật sự là trời xanh. Mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của ta, ta phải sống như vậy.

Có chánh niệm thì tất cả đều trở thành thật. Trong khi sống như vậy thì tâm của ta ở trong vòng tay của ta, nó không còn đi như con ngựa hoang nữa. Vì vậy cho nên có sự khác biệt giữa việc điều phục con ngựa hoang với việc điều phục tâm. Nếu ta biết phương pháp điều phục tâm thì điều phục tâm không làm ta đau khổ như khi con ngựa bị điều phục, tại vì phương pháp chánh niệm thực tập ở Làng Mai rất dễ chịu, mỗi giây phút đều có thể đưa tới sự an lạc và hạnh phúc. Hơi thở cũng vậy mà bước chân cũng vậy. Thực tập đưa lại sự hoan lạc và nuôi dưỡng chứ không làm cho ta phải trầy da tróc vẩy như sợi xích cột chân voi lại hay sợi thòng lọng cột cổ con ngựa lại. Tâm ta hung hăng nhưng ta có những phương pháp bất bạo động để ôm lấy tâm của ta như nắm lấy bước chân và nắm lấy hơi thở. Ta có thể thực tập bài kệ này trong khi ngồi thiền. Nếu trong khi ngồi thiền mà không biết làm gì thì quý vị hãy thực tập bài này đi. Ta có thể bắt đầu buổi ngồi thiền của mình bằng bài này. Trước khi thỉnh chuông cũng vậy, trước khi ăn cơm và trong khi ăn cơm cũng vậy, khi rửa chén, nấu nước, chạy bộ, bất cứ giờ phút nào ta cũng thể thực tập quy y Tam Bảo cả. Bản chất của bài này là quy y Tam bảo và như đã nói, Tam bảo đây không phải đối tượng của sự thờ cúng, tín ngưỡng. Tam bảo đây là những năng lượng có thật ở trong ta, ta chạm tới là nó phát khởi. Đó là năng lượng của chánh niệm, của pháp, của năm uẩn.

Nếu ta chỉ có một bài kệ để thực tập thì sau một thời gian bài kệ có thể bị soi mòn và bài đó sẽ không còn hiệu nghiệm nữa. Dù bài đó có hay mấy đi nữa mà ta sử dụng nhiều quá nó sẽ lờn. Cũng như một bài hát mà ta ưa thích, ta cứ nghe hoài nhưng nghe tới tuần thứ hai thì ta sẽ ngán. Ngán như thế thì rất uổng. Ta phải giữ cho bài đó luôn luôn được tươi mát. Cũng vì vậy cho nên ta phải xen kẽ và sử dụng những bài khác nữa.

Hiện tại tuyệt vời

Bài thứ hai cũng là một thiền phổ rất quý, đó là bài "Vào ra sâu chậm". Bài này tiếng Anh và tiếng Pháp có khác thành ra khi dịch, quý vị phải linh động.

Vào ra
Sâu chậm
Khỏe nhẹ
Lặng cười
Hiện tại tuyệt vời.

Đây là một thiền phổ rất đơn giản có thể thực tập trong bất cứ lúc nào trong ngày. Thiền ngồi cũng như thiền đi: "Vào ra" tức là thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, nói tắt lại. Khi thở vào ta biết là hơi thở vào đang xảy ra. Tâm của ta không nghĩ đến chuyện gì khác. Tâm ta nắm lấy hơi thở. Nắm lấy hơi thở tức là nắm được tâm, tâm không chạy nữa. Hơi thở có chánh niệm là sợi cương nắm lấy tâm. Nội thực tập được câu đầu này là ta nắm được tâm rồi. Thở vào, đây là hơi thở vào của tôi, nhận diện hơi thở vào là hơi thở vào. Khi thở vào tôi biết rằng tôi đang thở vào và khi thở ra tôi biết tôi đang thở ra, đó là bài tập đầu do chính đức Thế Tôn dạy trong kinh An Ban Thủ Ý.

Sâu chậm có nghĩa là hơi thở vào đã sâu, hơi thở ra đã chậm. Nếu ta thực tập thở vào biết thở vào, thực tập thở ra biết thở ra trong một hai phút mà thành công rồi thì tự nhiên hơi thở vào sâu hơn và hơi thở ra sẽ chậm hơn, cả hai hơi thở vào ra đều sâu đều chậm. Đây là sự nhận diện tôi thở vào và tôi biết rằng hơi thở vào của tôi đã sâu hơn trước, chứ không phải tôi đang thở vào và cố gắng làm cho hơi thở vào sâu thêm. Sâu hơn chậm hơn có nghĩa là phẩm chất của hơi thở đã cao hơn trước. Trước khi ta thực tập thì hơi thở vào và hơi thở ra của ta ngắn và hổn hển, nhưng khi ta thực tập được nửa phút hoặc một phút rồi thì hơi thở vào của ta nhẹ lại, sâu lại, lắng lại, chậm lại và bắt đầu có sự thư thái ở trong thân tâm. Sở dĩ như vậy là vì nếu có sự thư thái nhẹ nhàng trong hơi thở thì cũng có sự nhẹ nhàng thư thái trong thân và tâm của mình. Hơi thở là môi giới giữa thân và tâm. Thở vào tôi nhận thức rằng hơi thở vào của tôi đã bắt đầu sâu, thở ra tôi nhận thấy rằng hơi thở ra của tôi bắt đầu chậm lại. Phẩm chất của hơi thở đã lên cao.

Thở vào tôi thấy khỏe. Thấy khỏe đây không phải tự kỷ ám thị. Tại sao đó không phải là tự kỷ ám thị? Tại vì nếu ta thành công trong hai bài tập đầu rồi, thì tự nhiên trong người ta thấy khỏe. Khi ta khỏe mà ta biết ta đang khỏe thì ta sẽ thấy khỏe thêm. Thở vào tôi cảm thấy khỏe, thở ra tôi cảm thấy nhẹ, chữ nhẹ ở đây là "khinh an", ta có thể dịch là "I feel light" hay "I feel at ease", chữ khỏe ở đây ta có thể dịch là "I feel good". Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, an trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời. Ta chỉ có một giây phút để sống thôi, đó là giây phút hiện tại. Nếu trở về giây phút hiện tại, ta sẽ tiếp xúc được với bao nhiêu mầu nhiệm ở trong ta và xung quanh ta.

Bài kệ này ta có thể hát được bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh hoặc tiếng Việt. Có một cái lợi cho những người thực tập bằng tiếng Việt, tại vì ngôn ngữ Việt Nam là đơn âm nên phối hợp với bước chân rất dễ, mỗi bước đều nhau; nhưng những người nói tiếng Pháp và tiếng Anh, nếu khôn một chút, cũng có thể tạo ra được những nhịp như khi ta tụng Tâm Kinh theo đơn âm, theo tiếng mõ và ta có thể tụng chung được cả chúng một lần rất dễ. Tôi xin cam đoan với quý vị chỉ sau vài tuần thực tập, quý vị sẽ thấy có sự thay đổi. Thở vào tôi thấy tâm tôi đã tĩnh lặng và thở ra tôi mỉm cười để công nhận rằng trong tôi có sự tĩnh lặng. Thở vào tâm tĩnh lặng cũng là bài tập của đức Thế Tôn. Khi ta có một cảm thọ hoặc cảm xúc nào đó và ta thực tập bài này thì cảm xúc hoặc cảm thọ đó sẽ êm dịu trở lại, đó gọi là thở vào tâm tĩnh lặng. Khi thực tập bài này ta đưa tới sự buông thư của thân và của tâm. Sự buông thư của tâm không thể có được khi không có sự buông thư của thân, cho nên bài này cũng có thể thực tập trong tư thế nằm. Trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi ta đều có thể thực tập được bài này. Bài trước cũng vậy.

Bài này cũng có thể thực tập trong khi ăn vì trong khi ăn ta không nói chuyện, ta vẫn tiếp tục thở có chánh niệm như thường và ta có thể nhai cơm theo bài này được. Bài này là một thiền phổ rất hay, quan trọng không kém một bài thoại đầu và đáng giá ngàn vàng. Tôi thực tập rất nhiều với bài này: khi bước ba bước thì ta đếm vào, vào, vào, ra, ra, ra, sâu, sâu, sâu, chậm, chậm, chậm. Phải vào, ra một thời gian, đi cho vững rồi ta mới đi tới sâu chậm. Ta thở bằng hai chân của ta và ta đừng tụng kinh "vào, vào, ra, ra" mà ta phải thực sự vào ra, thực sự sâu chậm.

Cố nhiên ta có thể không dùng bài kệ nào hết mà vẫn có thể dẫm vào thực tại, an trú chánh niệm trong từng bước chân. Nhưng khi tâm ta còn là con ngựa hoang thì ta phải cần dùng một vài dây cương, một vài sợi dây để kéo lại. Còn khi ta đã đi giỏi rồi thì đâu cần bài gì nữa, mỗi bước chân của ta thành ra một dấu ấn in xuống đất sự an lạc, sự thảnh thơi của ta. Đi như vậy một hồi thì mảnh đất ta đi trở thành thánh địa. Ta đi và để lại dấu ấn của sự an lạc, sự hạnh phúc của ta trên đó, người khác bước lên sẽ cảm thấy. Khi con ngựa thuần rồi, ta không cần những sợi dây cột nữa nhưng khi ta chưa nắm được nó thì ta phải sử dụng những sợi dây cho thật vững. Những sợi dây này dễ chịu lắm, không làm cho ta trầy da như những sợi xích sắt cột chân voi hay sợi thòng lọng xiết cổ ngựa.

Đây là Tịnh độ
Đây là Tịnh độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay
Bụt là lá chín
Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn
Quê hương nơi này
Thở vào hoa nở
Thở ra trúc lay
Tâm không ràng buộc
Tiêu dao tháng ngày.

Đây là một bài khác, bài "Đây là Tịnh Độ". Với bài này quý vị có thể thực tập mỗi hơi thở vào bốn bước, mỗi hơi thở ra bốn bước. Bài này đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Pháp môn của Làng Mai là không đi tìm Tịnh Độ trong tương lai. Tương lai có thể là một ảo tưởng, nếu trong giây phút hiện tại ta không tiếp xúc được với Tịnh Độ thì đừng mong gì trong tương lai ta có Tịnh Độ. Nếu trong giây phút hiện tại mà ta tiếp xúc với Tịnh Độ rồi thì chắc chắn Tịnh Độ sẽ có ở tương lai thật sự. Những mầu nhiệm mà ta trở về tiếp xúc được trong giây phút hiện tại đều thuộc về Tịnh Độ. Chính thân của ta cũng thuộc về Tịnh Độ, cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Không phải Tịnh Độ là một cái gì có ngoài thân và tâm ta. Thân của ta cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Tịnh độ không phải là một khung cảnh, một xứ sở có ngoài ta. Thân tâm ta mà không thuộc về Tịnh Độ thì không bao giờ ta vào được Tịnh Độ. Chỉ khi nào thân và tâm của ta thuộc về Tịnh Độ thì ta mới đi vào Tịnh Độ. Cho nên sự thực tập của ta là mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ. Và nếu anh không bước vào Tịnh Độ trong khi anh đang còn có mặt ở đây thì sức mấy mà anh bước vào được Tịnh Độ trong tương lai. Mà bước vào Tịnh Độ nhờ cái gì? Nhờ chánh niệm, tại vì chánh niệm đánh tan thất niệm, đánh tan tán loạn và đưa tới tuệ giác. Tuệ giác cho ta biết rằng trong giây phút hiện tại ta đang sống những giây phút mầu nhiệm của Tịnh Độ ở trong ta và chung quanh ta.

Đây là Tịnh Độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay

Nụ cười này không phải nụ cười ngoại giao, nụ cười làm duyên mà là nụ cười của chánh niệm. Tại sao phải cười? Tại vì sự sống mầu nhiệm quá chừng. Ta đã sống bao nhiêu năm rồi: ba chục, bốn, năm chục năm rồi. Thời gian vừa qua ta từng chạy theo những bóng dáng, những ảo tưởng. Bây giờ tỉnh rồi, ta biết quý những giây phút, những ngày giờ còn lại của ta và nguyện không xài phí một cách oan uổng ngày giờ của ta nữa. "Mỗi phút một viên ngọc quý, tóm thâu đất nước trời mây, chỉ cần một hơi thở nhẹ là bao phép lạ hiển bày: chim hót thông reo hoa nở, trời xanh mây trắng là đây". Sống như vậy mới là nghệ thuật sống và điều này ta có thể làm được bây giờ. Với tâm sáng chói đó, với chánh niệm đó ta có thể làm được như Bụt. Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ ở đây không phải chuyện mơ tưởng.

Thực tập của Làng Mai không phải là chuyện mơ tưởng. Ta không đầu tư vào tương lai vì những gì ta muốn đều có thể có trong giây phút hiện tại. Mỉm cười chánh niệm là như vậy, an trú hôm nay tức là trở về giây phút hiện tai. Bụt ở đâu? Bụt là lá chín. Bài này được viết trong mùa thu khi lá đang vàng tươi hay đỏ au. Người ta nói tới trái cây chín nhưng lá cũng chín và rất đẹp. Nhìn vào một tờ lá đỏ hay vàng au mà thấy Bụt, thấy Tịnh Độ trong đó tức là ta đã thành công rồi. Ta còn muốn đi tìm Bụt, tìm Pháp và Tịnh Độ ở đâu nữa? Nếu ta thấy được một tờ lá đỏ đẹp và mầu nhiệm như vậy thì Bụt, Tịnh Độ ở ngay trong tờ lá đó. Bụt là lá chín, Pháp là mây bay, những người theo Cơ Đốc giáo cũng phải thực tập như vậy. Đừng tìm Thượng để ở trên mây, trên trời mà phải tìm Thượng đế ngay trong giây phút hiện tại. Phải tìm Thượng đế ngay trong tờ lá đỏ, trong đám mây bay và phải có hạnh phúc ngay trong lúc đó thì mới tiếp xúc được với Thượng đế, còn nếu không thì Thượng đế chỉ là một ý niệm mơ hồ viễn vông. Đó là sự hy vọng vào tương lai. Thấy lá mình thấy Bụt, thấy mây mình thấy Pháp. Tăng thân khắp chốn, tăng thân ở đây không hẳn chỉ là người mà có thể là cây, là rừng, là lá, chỗ nào cũng có tăng thân. Quê hương nơi này, cũng như tổ Lâm Tế nói, giây phút nào cũng là giây phút trở về nhà mình. Trở về quê hương đích thật của ta là giây phút hiện tại thì ta không đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa cả. Quê hương là giây phút hiện tại, ngay chỗ này, ngay giây phút này và như vậy là ta tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng.

Quý vị thực tập bài này cũng là quy y Tăng, cũng là thực tập nương tựa Tam bảo. Thở vào thì anh thấy gì? Hoa nở nghĩa là những mầu nhiệm của sự sống. Thở ra anh thấy gì? Thấy trúc lay. Tâm không ràng buộc, không ràng buộc đây tức là không ràng buộc bởi những dự án, những mong ước tương lai của mình bởi vì ngay bây giờ, ở tại đây là đã có hạnh phúc tràn trề rồi. Ta không cần thiết kế một tương lai hay ao ước những gì mà ta chưa có. Ta cũng không tiếc thương quá khứ vì tất cả những cái đó đều là những ràng buộc. Tiếc thương về quá khứ hay ngóng trông những gì trong tương lai đều là ràng buộc. Tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày. Tiêu dao tức là tự do và có hạnh phúc trong mỗi giây phút. Khi ăn cơm, quý vị có thể ăn cơm theo bài này. "Đây là Tịnh Độ, Tịnh Độ là đây", thì ta còn đi tìm Tịnh Độ ở đâu nữa, đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa. Được ngồi ăn cơm với tăng thân trong chánh niệm cũng là đang ngồi ăn với Bụt và giáo đoàn nguyên thủy. Bụt và giáo đoàn nguyên thủy không phải thuộc về quá khứ đâu, nếu ta an trú trong hiện tại thì Bụt và giáo đoàn nguyên thủy đang có mặt ngay trong hiện tại. Và vì Bụt là chánh niệm nên không giây phút nào, không bữa cơm nào mà ta không được ăn chung với Bụt. Bài này cũng có bằng tiếng Pháp bằng tiếng Anh.

Đã về đã tới

Bài thứ tư là bài "Đã về đã tới."

Đã về, đã tới
bây giờ ở đây
Vững chãi, thảnh thơi,
Quay về nương tựa …

Nhờ Bụt và chư Tổ gia hộ lắm tôi mới nói ra được hai chữ "đã về, đã tới". Đã về, đã tới là pháp ấn của Làng Mai. Bất cứ sự thực tập nào, giáo lý nào mà không mang dấu ấn đã về đã tới thì không phải giáo lý và sự thực tập của Làng Mai – "I have arrived, I am home". Khi thực chứng được điều đó, thực tập được điều đó thì hạnh phúc có liền lập tức. Nếu anh chưa có hạnh phúc là tại vì anh chưa thành công ở chỗ đã về, đã tới; còn khi anh đã về, đã tới rồi thì anh thành công, anh có hạnh phúc liền. Vì vậy các cô, các chú nào mà chưa hạnh phúc là biết rằng mình chưa về, mình chưa tới.

Vững chãi, thảnh thơi. Vững chãi là không bị quá khứ và tương lai lôi kéo, thảnh thơi là tự to. Vững chãi thảnh thơi là hai đặc tính của hạnh phúc, của Niết bàn. Khi không có vững chãi, không có thảnh thơi thì anh không thể nói có Niết bàn được.

Quay về nương tựa. Quay về tức là quay về giây phút hiện tại, và nương tựa là nương tựa nơi hải đảo của tự thân, tức là nơi chánh niệm, hơi thở và bước chân. Chánh niệm về bước chân và hơi thở là những điều rất cụ thể, không phải là những gì trừu tượng. Tổ Lâm Tế dạy chúng ta phải quay về hiện tại và sử dụng tâm sáng chói của mình để đi vào thế giới Hoa tạng, đi vào cõi Bụt, vào thế giới Tịnh độ, nắm tay Bụt cùng đi chơi. Chuyện đó ta có thể làm được hôm nay. Tổ dạy một cách tổng quát như vậy và chỉ có những bậc đại căn đại trí mới làm được nhưng ở Làng Mai chúng ta có thể đi xa hơn, chúng ta đưa ra những phương pháp cụ thể, những pháp môn mà ai cũng có thể làm được. Ta không cần phải là bậc đại căn đại trí cũng có thể làm được và sống hạnh phúc như Bụt được.

Đã về, đã tới
Bây giờ, ở đây
Vững chãi, thảnh thơi
Quay về nương tựa
Nay tôi đã về
Nay tôi đã tới
An trú bây giờ
An trú ở đây
Vững chãi như núi xanh,
Thảnh thơi dường mây trắng,
Cửa vô sanh mở rồi,
Trạm nhiên và bất động.

Bốn bài này giúp ta thực tập để nắm lấy tâm mình. Đừng chỉ thực tập một bài mà nên thực tập luôn cả bốn bài để cho bài nào cũng còn mới. Thực tập bài này một thời gian rồi thực tập bài kia, đến khi ta trở lại thì bài này vẫn còn mới. Ta đừng để cho bài nào bị soi mòn. Trong khi mở khóa tu ta có thể sử dụng các bài này để giúp cho thiền sinh tại vì ai cũng có một cái tâm hoang sơ, một cái tâm chưa tu tập và do đó đã làm nên những lẫm lỗi khổ đau. Cho nên ta giúp họ nắm lấy tâm họ và đưa cho họ những sợi dây xích để buộc tâm của họ lại. Tâm mà không tu tập dễ bị thất niệm kéo đi.

Thất niệm là không có chánh niệm: ăn không biết mình ăn, uống không biết mình uống, đi không biết mình đi, nói những điều ác độc mà không biết là mình đang nói những điều ác độc, đang vướng mắc mà không biết mình vướng mắc, đang sống trong mầu nhiệm mà không biết mình đang sống trong mầu nhiệm … Thất niệm đi đôi với tán loạn. Thất niệm và tán loạn đưa tới bất chánh tri. Tri là biết, chánh là đúng, bất chánh tri là không có kiến giải chân chính. Khi tâm ta tán loạn thì ta nhìn sự vật một cách hời hợt, ta không thấy được sự thật và ta có những tri giác sai lầm. Trong khi đó Bụt là người có chánh biến tri. Bụt có chánh tri mà chánh tri này được áp dụng vào trong mọi trường hợp thời gian và không gian nên gọi là chánh biến tri, biến là cùng khắp. Vì muốn có được chánh biến tri ta phải thoát ra khỏi tình trạng thất niệm, tình trạng tán loạn và tình trạng bất chánh tri; đó là ba tâm sở bất thiện đem tới phiền não.

Khi ta không có chánh niệm, khi tâm ta tán loạn, ta hiểu lầm nhiều lắm. Ta không nhận diện được gì cả và ta gây ra những đổ vỡ, những xáo trộn hiểu lầm ở giữa anh em, chị em. Tâm không tu tập là như vậy. Do đó cho nên khi ta trở về nắm được tâm ta thì từ từ ta có chánh niệm, có chánh định. Chánh niệm để đối trị với thất niệm, chánh định để đối trị với tán loạn và khi ta có niệm, có định rồi thì bắt đầu ta có chánh tri. Ta có được cái thấy sâu hơn và ta sẽ không tạo ra những lầm lỗi, những khổ đau. Đó gọi là tâm có tu tập. Dù ta học giỏi cách mấy đi nữa mà ta không trở về nắm được tâm và tu tập cày cấy miếng đất của tâm, tưới tẩm hạt giống tốt trong tâm thì ta cũng không thành công.

"Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đem đến đau khổ như tâm không được tu tập, tâm không được tu tập đem lại rất nhiều đau khổ. Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào có thể lại đem lại an lạc như là tâm được tu tập, tâm được tu tập thì đem lại an lạc rất nhiều", đó là lời Bụt dạy. Tôi mong rằng tất cả mọi người trong đại chúng xuất gia cũng như tại gia đem hết tâm thành của mình ra mà thực tập những bài này. Nếu quý vị thực tập hết lòng trong một vài tuần thì quý vị sẽ thay đổi và khi quý vị biết thực tập tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác thì cố nhiên cái tuệ của quý vị sẽ được khơi mở ra. Ta sẽ có tuệ khi ta thực tập chánh niệm và chánh định. Mà chánh niệm, chánh định trước hết là cột tâm mình lại. Ở Làng Mai, muốn cột tâm mình lại thì trước hết ta cột hơi thở, cột bước chân vào trong chánh niệm. Ta có những bài tập rất hay để làm chuyện đó. Xin quý vị sử dụng cho hết lòng tại vì mục tiêu của người tu là giải thoát an lạc chứ không phải là để trở thành một học giả về Phật học.

 

Hạnh phúc là con đường (II)

Kính thưa đại chúng hôm nay là ngày 28 tháng 09 năm 2003 chúng ta đang ở tại Xóm thượng trong khóa mùa Thu.

Thế nào là hạnh phúc?

Hôm thứ năm, chúng ta đã đặt ra câu hỏi: Nếu chúng ta không biết cái gì có thể làm cho chúng ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, thì làm sao chúng ta biết được cái gì làm cho chúng ta hạnh phúc trong tương lai? Câu hỏi đó rất là quan trọng. Câu hỏi đó có liên hệ đến câu hỏi: Hạnh phúc trong hiện tại có thể có được hay không? Chúng ta có đủ những điều kiện để có hạnh phúc trong hiện tại hay không? Trước hết, chúng ta hãy thử định nghĩa thế nào là hạnh phúc.

Hạnh phúc trước hết là một cảm thọ

Hạnh phúc trước hết là một cảm thọ, gọi là lạc thọ, pleasant feeling. Nhưng lạc thọ chưa hẳn là hạnh phúc. Khi nhìn các em bé đang nô đùa một cách rất vô tư, không luyến tiếc quá khứ, không lo lắng tương lai, chúng ta thấy các em như là đang ở trong thiên đường. Đó là hạnh phúc. Nhưng không biết các em có biết là các em đang có hạnh phúc hay không? Đang nô đùa, đang rong chơi, không lo lắng, chưa hẳn đó là hạnh phúc. Mình không biết là mình đang có hạnh phúc, thì cái hạnh phúc đó chưa hẳn là hạnh phúc chân thật. Có nhiều người đang sống trong những điều kiện rất thuận lợi, không có vấn đề, không có lo lắng, không có sầu khổ, đáng lý ra là những người đó có hạnh phúc. Cho nên sống trong những điều kiện thuận lợi coi như chưa phải là hạnh phúc. Không thể định nghĩa rằng hạnh phúc là một cảm thọ dễ chịu, một cái lạc thọ. Chúng ta có thể định nghĩa hạnh phúc là ý thức mình đang có về lạc thọ. Lạc thọ chưa phải là hạnh phúc, mà ý thức rằng mình đang có lạc thọ thì mới thật là hạnh phúc. Những em bé đang nô đùa trong thiên đường, các em không biết là các em đang có hạnh phúc. Chỉ khi nào các em lớn lên và mất cái thiên đường đó rồi, các em mới biết rằng mình đã từng có hạnh phúc.

Yếu tố chánh niệm là yếu tố căn bản

Nếu mình hạnh phúc mà không biết rằng mình đang hạnh phúc thì cái đó chưa phải là hạnh phúc. Mình có thể tạm đưa ra một định nghĩa về hạnh phúc, tức là ý thức được rằng mình đang có một lạc thọ. Nhưng định nghĩa đó chưa có tuyệt đối, tại vì có thể mình đang không có lạc thọ, nhưng mình vẫn có hạnh phúc như thường. Ví dụ mình đang khuân vác một cái gì đó nặng, nhưng nghĩ rằng khuân vác như vậy đem lại hạnh phúc cho tăng thân, cho người thương của mình, thì trong khi đang khuân vác nặng nề như vậy mình cũng có thể có hạnh phúc. Cảm thọ lúc đó không hẳn là lạc thọ, nhưng vì ý thức được mình đang làm một việc có ý nghĩa, do tình thương xúc tác, thì lúc đó trong tâm phát sinh một lạc thọ, lạc thọ đó có thể đi đôi với khổ thọ (là mình đang chịu đựng về thân xác, mình đang khuân vác cực nhọc, không được nghỉ ngơi), thì đó cũng là hạnh phúc. Các vị Bồ Tát đang lăn mình vào trong những hoàn cảnh khổ đau để cứu vớt chúng sanh, thì tuy là họ đang bị sức nóng của chiến tranh, của áp bức, của nghèo khổ đè nặng, nhưng vì họ có tâm trí của đại bi, đại từ cho nên họ không có khổ đau, và họ có hạnh phúc. Vì vậy hạnh phúc không thể định nghĩa đơn thuần là lạc thọ mà thôi. Trong tâm vị bồ tát có bình an và có tình thương, thì dù có những khổ thọ vị bồ tát vẫn chịu đựng được rất dễ dàng, tại vì vị bồ tát có hạnh phúc trong khi làm công việc nặng nhọc như vậy. ở trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, ý thức rằng mình đang làm cái đáng làm, mình đang làm những việc cao quý có ý nghĩa, có lợi ích cho cuộc đời, thì với cái ý thức đó nó sẽ đem tới hạnh phúc. Định nghĩa ‘hạnh phúc là một lạc thọ’ là một định nghĩa quá hẹp hòi, đơn giản. Tâm mình đóng một vai trò rất quan trọng. Tâm mình không phải chỉ là lạc thọ hay chỉ là cảm thọ thôi.

Lạc đi đôi với an

Trong văn học Phật giáo, chữ lạc thường đi đôi với chữ an, an lạc. An có nghĩa là bình an, peace. Lạc có nghĩa là hạnh phúc. Hạnh phúc thường đi đôi với cái an, không có an thì chưa hẳn là có lạc. Dù mình đang uống rượu, dù mình đang ăn thức ăn rất là ngon, dù mình mới trúng số độc đắc, nhưng nếu tâm không có an thì cái đó chưa hẳn là lạc. Có những người nghe tin mình trúng số độc đắc thì ngất xỉu, tại vì họ chịu đựng không nỗi cái tin mừng đó, tại vì trong tâm họ không có an. Cái tin đó chỉ là một chất xúc tác, một cái exiting, một sự kích động. Nếu đó là sự kích động thì trong đó không có cái an, nếu không có an thì trong đó không thực sự là có lạc. Trong khi mình theo đuổi và hưởng thụ ngũ dục, ví dụ khi mình đang ăn một cái gì đó, đang uống một cái gì đó, đang có những liên hệ xác thịt với một người nào đó, thì có thể trong khi ăn cái đó, uống cái đó, có liên hệ xác thịt đó, thì mình cho cái cảm giác lúc đó nó là lạc thọ. Nhưng trong cái lạc thọ đó, mình hãy tự hỏi nó có cái an hay không? Nếu không có an thì cái đó không phải là lạc, mà là mình đang bị một ngọn lửa đốt cháy. Ngọn lửa đó là ngọn lửa của dục. Tham ăn, bị chìm đắm trong biển Vị mênh mông, đó là một cái dục. Thèm nghe hát nhạc Rock, nhạc tình sầu đứt ruột, thì đắm chìm trong biển Thanh mênh mông, đó là một cái dục. Trong khi mình hưởng thụ những hương vị đó, những âm thanh đó, thì trong người mình bị thiêu đốt, cái thiêu đốt bởi dục. Nếu có ngọn lửa của sự đam mê đốt cháy thì tuy mình có thể diễn tả cái đó là một lạc thọ, nhưng lạc thọ đó không phải là hạnh phúc. Tại vì nó không có yếu tố an ở trong đó, không có an thì không có lạc. Trong ngôn từ đạo Bụt, luôn luôn là an đi đôi với lạc, an lạc – yên vui. Không có yên thì không có vui. Cho nên mình có thể nhận diện ra được cái chân hạnh phúc và cái không phải là chân hạnh phúc. Người đời chỉ muốn có những cảm giác lạc thọ mà ít khi để ý hay phán xét cái đó có thật là lạc thọ, là hạnh phúc hay không. Cho dù trong cái lạc thọ đó nó có ít yếu tố của sự bất an, của sự đốt cháy, thì cái lạc thọ đó cũng không phải là hạnh phúc chân thật. Giây phút của khoái lạc đó có thể kéo theo giây phút của sự khổ đau. Ví dụ như khi mình buồn quá, mình đi uống rượu. Trong khi uống rượu mình thấy bớt buồn và mình nghĩ là có hạnh phúc. Nhưng kỳ thực, sau khi uống rượu nhiều rồi thì lại chồng chất thêm những cái khổ thọ khác lên, mà cơn buồn sẽ trở lại khi mình tỉnh rượu. Sử dụng ma túy cũng vậy hay là đắm mình trong sắc dục cũng vậy, để quên bớt những khổ đau, để quên bớt những cô đơn. Nhưng sau những hưởng thụ dục lạc đó thì những khổ đau ban đầu hiện hình ra rõ ràng hơn trước. Vì vậy những giây phút đó không thể được định nghĩa là những giây phút thực sự là hạnh phúc, tại vì nó là nền tảng, là nguyên nhân của những giây phút khổ đau sau này, những cái khổ thọ sau này.

Liên hệ giữa khổ và lạc

Sau khi đã xét liên hệ giữa lạc (không có an) và Lạc (có an), bây giờ chúng ta xét tới liên hệ giữa khổ và lạc, tức là khổ đau và hạnh phúc. Khổ đóng một vai trò rất là quan trọng để tạo ra lạc. Nếu không có khổ thì không có lạc. Ví dụ khi chúng ta không có đói, không biết đói là gì, thì chúng ta không được cái hạnh phúc của sự ăn ngon. Khi chúng ta không biết lạnh là gì, thì chúng ta không biết được hạnh phúc của sự ấm áp. Hạnh phúc là cái gì chỉ có thể nhận diện được trên bối cảnh của khổ đau mà thôi. Bối cảnh, tiếng Anh là background. Cũng như khi chúng ta đang ở ngoài trời lạnh buốt mà chúng ta mở cửa đi vào trong nhà, chúng ta cảm thấy ấm quá, dễ chịu quá, hạnh phúc quá, thì cái hạnh phúc khi bước vào nhà là do cái đau khổ bị chịu lạnh ở ngoài trời. Nếu chúng ta ở trong nhà độ chừng mười phút hoặc mười lăm phút, thì chúng ta quên đi cảm giác đó, chúng ta không thấy hạnh phúc nữa. Chúng ta phải ra ngoài để thấy lạnh rồi đi vô mới thấy hạnh phúc lại, đó là điều kiện của con người, condition du man, là như vậy. Chúng ta phải nhờ có khổ đau thì chúng ta mới nhận diện được hạnh phúc. Đó là cái contrast, cái tương đãi, cũng như là ánh sáng và bóng tối. Nếu không có đêm thì ta không thấy được ngày là sáng. Có đêm, có ngày thì mình mới biết đêm là quý, và ngày là quý. Tưởng tượng mình chỉ có ngày thôi mà không có đêm thì buồn biết mấy, và mình sẽ không biết được cái quý giá của ngày. Nếu chỉ có đêm thôi mà không có ngày thì làm sao thấy được cái êm đềm của đêm, mình sẽ thấy đêm dài đặc. Mình đã thấy ngày rồi cho nên thấy đêm là hạnh phúc, mình đã sống cả đêm rồi cho nên thấy ngày là hạnh phúc. Hạnh phúc tùy thuộc ở khổ đau. Muốn loại trừ khổ đau ra để chỉ có hạnh phúc thôi là một ý niệm rất là ngây thơ, khờ dại. Khi có chiến tranh thì chúng ta mới biết hòa bình là quý. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta nên duy trì chiến tranh, chiến tranh luôn luôn có, tại vì loài người có quá nhiều tham, sân, si, cho nên chiến tranh cứ tiếp tục hết nơi này đến nơi khác. Thành ra chúng ta đâu cần phải tạo thêm chiến tranh để có điều kiện nhận diện ra hòa bình. Chiến tranh luôn luôn có mặt: nó có ở trong nội thân của chúng ta, nó có ở trong sự liên hệ giữa ta và người ta thương. Chiến tranh là thường xuyên, và nhờ chiến tranh cho nên chúng ta mới nhận diện được hòa bình là quý. Hòa bình ở trong bản thân, hòa bình giữa ta với người ta thương, hòa bình giữa ta với đoàn thể chúng ta đang sống.

Ý niệm về Thiên Đường hay Tịnh Độ, là một nơi không có khổ đau là một ý niệm rất ngây thơ. ‘Xá Lợi Phất ! Tại sao cõi đó gọi là Cực Lạc? Tại vì nhân dân ở cõi đó không biết khổ là gì, vì vậy cho nên cõi đó gọi là Cực Lạc.’ Câu kinh này ở trong kinh A Di Đà, là một câu kinh không có liễu nghĩa. Câu này chỉ biểu lộ lòng từ bi của Bụt mà thôi. Bụt thấy chúng sinh khổ quá, ao ước trốn tránh khổ đau, cho nên Bụt mới nói như vậy để cho hấp dẫn. Thật ra, nếu không có khổ đau thì không thể nào có hạnh phúc được. Câu kinh trong kinh A Di Đà là chứng tỏ cái hiểu của Bụt về tâm trạng của chúng sanh là chỉ muốn trốn tránh đau khổ để đi tìm hạnh phúc. Ngài đưa ra một cái bánh để chúng sanh chạy theo. ‘Xá Lợi Phất ! Tại sao cõi đó gọi là Cực Lạc? Tại vì nhân dân ở cõi đó không biết khổ là gì, vì vậy cho nên cõi đó gọi là Cực Lạc.’ Sự thật nếu ta không biết khổ đau là gì thì ta cũng không biết hạnh phúc là gì. Thiên Đường cũng vậy. Chúng ta không nên gởi con cháu của chúng ta tới những nơi không có khổ đau, nếu con cháu chúng ta tới những nơi không có khổ đau thì chúng nó sẽ không biết gì là hạnh phúc. Không có khổ đau thì làm sao mình tập hiểu và tập thương được ! Nếu không có chất liệu hiểu và thương thì đố mà anh có hạnh phúc được. Chỉ khi nào trong trái tim anh có chất liệu hiểu và thương thì anh mới có hạnh phúc. Nếu không có khổ đau, thì làm sao anh biết hiểu và làm sao anh biết thương. Hiểu cái gì? Thương cái gì? Do đó định nghĩa về Thiên Đường hay Cực Lạc là chỗ không có khổ đau là một định nghĩa rất ngây thơ. Thế hệ của quý vị phải thấy cho rõ. Chúng ta không phải là một bầy con nít mà bất cứ ai nói cái gì thì chúng ta tin cái đó. Chúng ta phải quán chiếu bằng trí tuệ của chúng ta. Hạnh phúc là một cái gì chỉ nhận diện được khi có đau khổ. Hạnh phúc chỉ nhận diện được trên cái bối cảnh khổ đau mà thôi. Cũng như cái ấm được nhận diện trên bối cảnh của cái lạnh; cái no được nhận diện trên bối cảnh của cái đói. Chạy trốn khổ đau là một thái độ không phù hợp với tinh thần của giáo lý đạo Bụt. Chúng ta phải đối diện khổ đau, phải nhìn vào khổ đau, hành động đó giúp chúng ta nhận diện được thế nào là hạnh phúc.

Sự thật thứ nhất là Khổ Đế, rất cần thiết để chúng ta nhận diện được sự thật thứ ba. Sự thật thứ ba là sự chấm dứt của khổ, có nghĩa là hạnh phúc. Sự thật thứ nhất và sự thật thứ ba có liên hệ với nhau, nếu không có sự thật thứ nhất làm gì có sự thật thứ ba, nếu không có sự thật thứ ba làm gì có sự thật thứ nhất. Sự thật thứ nhất là khổ đau, sự thật thứ ba là hạnh phúc. Sự thật thứ hai là con đường đưa tới khổ đau. Sự thật thứ tư là con đường đưa tới hạnh phúc. Có hai cặp chân lý. Cặp đầu là đau khổ và con đường đưa đến đau khổ. Cặp thứ hai là hạnh phúc và con đường đưa tới hạnh phúc. Đó là giáo lý Tứ Diệu Đế. Hai cặp đó đi đôi với nhau, nếu không có cặp này thì không có cặp kia.

Khi cầm cây bút thẳng đứng, thì chúng ta thấy rất rõ là có trên có dưới. Hễ có trên thì thế nào cũng phải có dưới, hễ có dưới thì thế nào cũng có trên. Làm sao chỉ có trên mà không có dưới được, đó là chuyện vô lý. Nếu chúng ta để cây bút nằm ngang, chúng ta thấy có trái và có mặt. Nếu có trái thì phải có mặt, nếu có mặt thì phải có trái. Nếu mình thuộc về phe tả thì đừng mong ước phe hữu không có mặt, tại vì nếu phe hữu không có mặt thì phe tả cũng không có mặt, cái này gọi là tương đãi. Mình phải hiểu hạnh phúc trong văn mạch đó thì mới biết hạnh phúc là gì. Hạnh phúc không thể nào được nhận diện nếu không có bối cảnh của khổ đau. Mà khổ đau thì luôn luôn có đó, tham, sân, si luôn luôn có đó, nhận diện được khổ đau thì ta có thể nhận diện được hạnh phúc.

Hạnh phúc tùy thuộc vào tâm

Chúng ta đã tìm ra liên hệ giữa lạc và lạc, giữa khổ và lạc: Có khi ta đi trong mưa lạnh nhưng ta có hạnh phúc; có khi ta ngồi trong ấm áp mà ta không có hạnh phúc. Ví dụ chúng ta nghe một người thân đang bị tai nạn, chúng ta không có cơ hội đi ra ngoài để tìm cách cứu trợ người thân của chúng ta, thì chúng ta đau khổ vô cùng, dù chúng ta đang ở trong chỗ ấm áp. Hạnh phúc lúc đó là được cứu giúp người thân dù phải đi ra chỗ mưa lạnh, hạnh phúc lúc đó không phải được ngồi yên trong nhà ấm nữa, người đó sẽ đau khổ. Liên hệ giữa lạc và khổ tương đối. Hạnh phúc nằm ở trong tâm mà không phải ở hoàn cảnh. Thường thường mình hay nghĩ tới hạnh phúc trong cái văn mạch của sự mua sắm. Có cái xe hơi đó, có cái nhà đó, có cái bằng cấp đó, thì có hạnh phúc; có được tiền để đi du lịch là có hạnh phúc. Tất cả những cái mình nghĩ tới hạnh phúc như là một điều kiện ngoại tài, điều kiện đi tìm ở ngoài, trong khi hạnh phúc tùy thuộc vào tâm của mình rất nhiều.

Trở về trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc

Trong sự thực tập của Làng Mai, chúng ta thường nghe và được nhắc nhở rằng chúng ta có nhiều điều kiện hạnh phúc rồi, nhiều hơn là chúng ta tưởng. Chúng ta chỉ cần trở về trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc thì ta có hạnh phúc liền. Người đời nghĩ rằng hạnh phúc không thể có được trong giây phút hiện tại, cho nên họ mới đi tìm thêm một số điều kiện chưa có, vì vậy họ phóng tâm về tương lai. Còn chúng ta là người tu, chúng ta không nên làm như họ, không được làm như họ. Giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú nói rất rõ ràng là hạnh phúc có thể có được trong giây phút hiện tại, đó là một sự xác quyết của đức Như Lai. Đức Như Lai nói rằng mình có thể sống hạnh phúc được trong giây phút hiện tại. Chúng ta cần những gì, những điều kiện nào để có thể hạnh phúc ngay trong giây phúc hiện tại? Trở về với giây phút hiện tại, tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc đã có và đang có. Câu hỏi được trả lời liền, và những điều kiện đó ta có thể nêu ra rất rõ ràng. Và những điều kiện đó có mặt, nếu những điều kiện đó có mặt mà ta không có hạnh phúc là tại vì ta mà thôi. Khi ngồi ăn cơm thì mình ăn như thế nào để có hạnh phúc trong khi ăn. Khi từ liêu xá của mình đi ra thiền đường, thì đi như thế nào để có hạnh phúc trong khi đi. Buổi sáng thức dậy có được một giờ để ngồi thiền, thì ngồi như thế nào để có hạnh phúc trong khi ngồi. Buổi chiều có một giờ chấp tác, thì chấp tác thế nào để trong giờ chấp tác đó mình có hạnh phúc. Buổi sáng mình có hai phút để chải răng, trong hai phút để chải răng thì chải như thế nào để có hạnh phúc, để có an và có lạc. Mỗi ngày được đi cầu một lần hay hai lần, đi cầu làm sao để trong khi đi mình có an, có lạc. Sự thực tập rất rõ ràng. Làm được hay không làm được, cái đó là do mình thôi. Tại vì những điều kiện hạnh phúc mình có rồi. Nếu trong khi đi cầu mình không có an thì làm sao lạc được, trong khi chải răng mình không có an thì làm sao có lạc được. Quý vị có thể tự biết rằng trong khi chải răng mình có an hay là không. Cái tập khí đi như bị ma đuổi, làm như bị ma đuổi, mình có thể nhận diện và đối phó với nó được hay không? Có thể an trú trong giây phút hiện tại không? Đó là công phu hàng ngày của mình. Nếu mình giảng một bài giảng về hạnh phúc, hay viết một cuốn sách về hạnh phúc, thì mình phải nói những điều đó. Nếu đức Thế Tôn nói hạnh phúc có thể có được trong giây phút hiện tại, và sự thực tập của anh là phải có hạnh phúc, thì là suốt ngày mình chỉ lo hạnh phúc mà thôi, đâu có lo cái gì đâu mà than thở. Mình chỉ lo hạnh phúc của mình thôi. Khi mình hạnh phúc là mình đóng góp cho Tăng Thân, đóng góp cho cuộc đời. Nếu không có cái đó thì mình có gì cống hiến cho đời đâu. Cho nên phải chải răng làm sao để trong khi chải răng mình có hạnh phúc, phải đi cầu làm sao để trong khi đi mình có hạnh phúc, phải ngồi ăn cơm làm sao để trong khi ăn mình có hạnh phúc, chứ vừa ăn vừa khóc thì đâu tốt.

Mười năm gối hận bên giường
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh

Đó là thơ của Nguyễn Bính.

Bữa ăn nào cũng khóc, cũng lấy nước mắt chan vô cơm. Ôm những mối sầu đau của mình để ăn cơm thì tội quá đi, tội cho cơm quá đi. Ăn cơm sao cho có hạnh phúc, là mình tiếp nhận những lời chỉ bảo của đức Thế Tôn. Đức Thế tôn dạy trong khi ăn phải duy trì năm quán, phải ý thức về thức ăn, phải ý thức về Tăng Thân, ngồi ăn như thế nào để có thảnh thơi, hạnh phúc. Nếu trong khi ăn cơm mà không có hạnh phúc là tại vì mình, chứ không phải tại vì đức Thế Tôn.

Ly sanh hỷ lạc

Hỷ là niềm vui và Lạc là hạnh phúc. Đức Thế Tôn muốn chúng ta có Hỷ và có Lạc trong đời sống hàng ngày. Nếu không có Hỷ và có Lạc thì sự thực tập của ta không được nuôi dưỡng và ta không có đi xa được. Đức Thế Tôn nói là có những phương pháp thực tập để giúp ta có Hỷ và có Lạc trong đời sống hàng ngày.

Trước hết là ly. Ly tức là buông bỏ. Mình phải biết buông bỏ thì mới có Hỷ và Lạc được. Buông bỏ cái gì đây? Có những cái trong tâm cần phải buông bỏ: những giận hờn, những tiếc nuối, những cố chấp, những thành kiến. Đó là những hành trang làm chiếc thuyền của mình nặng và đi không được. Buông bỏ rất là quan trọng. Thử hỏi mình có hành trang nào cần phải buông bỏ? Trước hết mình có ý niệm về hạnh phúc. Mình nghĩ rằng trong giây phút hiện tại mình không có hạnh phúc, mình chỉ có thể có hạnh phúc khi mình được như thế này, được như thế kia, được có cái này, được có cái kia, thì đó là trở lực đầu tiên. Ví dụ bây giờ tôi nghĩ rằng nếu được về Việt Nam thì tôi mới có hạnh phúc, và nếu chánh quyền vẫn không cho tôi về thì tôi không có hạnh phúc. Nếu tôi kẹt với ý nghĩ đó thì ôi thôi hết rồi, sống đâu có vui vẻ gì nữa, thành ra phải buông cái ý đó ra, không cần phải về Việt Nam mới có hạnh phúc, ở đây cũng có hạnh phúc chán. Quý vị đang muốn đi đâu? Quý vị nghĩ rằng phải tới chỗ nào đó mới có hạnh phúc, quý vị phải buông cái suy nghĩ đó đi, thì cái đó là ly.

Ly sanh hỷ lạc, tức là sự buông bỏ đưa tới Hỷ và Lạc. Quý vị nghĩ rằng nếu mình không được người đó thương thì mình không có hạnh phúc, người đó phải thương mình thì mình mới có hạnh phúc được. Điều kiện đó chưa có, thành ra mình phải đợi người đó thương mình, rồi mình mới có hạnh phúc được, thì cái đó là một cái kẹt, cái đó cần phải buông bỏ. Tại sao phải có người đó thương mình mới có hạnh phúc? Tại sao phải cột hạnh phúc của mình vào một điều kiện mà mình chưa có? Tại sao hạnh phúc đang tới từ muôn phương thì mình đóng cửa lại hết, mà mình chỉ ngồi đó trông cầu một cái mình chưa có? Đó là phóng tâm về tương lai, đòi hỏi những cái khác, trong khi điều kiện hạnh phúc mình có sẵn mà không biết thừa hưởng. Đó là những cái phải buông bỏ. Có những cái ta nghĩ rằng rất cần thiết cho hạnh phúc của ta, và ta cứ tiếp tục nắm giữ. Có thể chính vì những cái ta đang nắm giữ mà ta không có hạnh phúc. Có những người thích đi ‘chợ rệp’. Họ thấy người ta bày hàng rẽ quá đi, một đô hay là hai đô một món thôi, tuy không cần xài những thứ đó nhưng không mua thì uổng, cho nên họ lấy tiền ra mua. Họ nghĩ rằng những cái đó sẽ làm cho họ có hạnh phúc. Rốt cuộc, cái nhà của họ là một cái kho, đi ra đi vô không có chỗ đi, không có chỗ thở, mà buông ra thì tiếc. Trong khi đó, con đường mà họ phải làm là gọi bạn tới ‘nếu anh cần cái gì thì anh lấy đi, tôi không cần món đồ nào hết, tôi cần một cái nhà thật là trống, có không gian cho tôi thở, có khoảng trống để tôi có thể đi ra đi vô cho thảnh thơi’, và họ phải buông hết. Khi người ta tới lấy những cái gì người ta thích rồi, thì tự nhiên mình có một cái nhà rất là trống, đi ra đi vô rất là sướng. Những cái đó thật sự không cần thiết nhưng vì mình nghĩ là cần thiết.

Ví dụ trên chỉ là sự buông bỏ đồ đạc. Ở đây, không phải là đồ đạc mà là những ý niệm, những tình cảm, những vướng mắc của mình. Mình nghĩ không có cái đó mình sống không được, không có hạnh phúc, ai dè chính cái đó lại là những trở lực của mình, ngăn cản mình hạnh phúc. Thành ra mỗi người phải tự quán chiếu để coi mình vướng vào những cái gì, mình muốn nắm chặc những cái gì, khi buông ra thì mình sẽ có hạnh phúc liền. Chữ ly có nghĩa là buông. Càng buông càng có hạnh phúc, càng chất chứa thì càng đau khổ. Đức Thế Tôn dạy phương pháp buông bỏ rất là hay, phương pháp này ngược lại với cái lề thói thâu góp, chứa chất, chiếm đoạt. Phương pháp này rất là mầu nhiệm. Hạnh phúc chỉ có thể có được khi mình biết buông bỏ. Buông bỏ những tiếc nuối của mình, nhất là buông bỏ những ý niệm của mình, những ý niệm về mình và về người kia. Những ý niệm đó làm cho mình khổ mà cũng làm cho người kia khổ. Mình có sự phán xét về mình, mình có sự phán xét về người kia; mình cho mình là cao, hoặc mình cho mình là thấp, mình cho mình là đẹp, hoặc mình cho mình là xấu, mình cho người kia là đẹp, người kia là xấu, người kia là tốt, người kia là khó chịu, người kia là dễ chịu, tất cả những ý niệm đó đều có thể làm cho mình khổ đau. Thành ra buông bỏ những ý niệm đó rất là quan trọng, không có tốn một đồng nào hết. Buông bỏ là một phương pháp rất là mầu nhiệm, nó đem tới hạnh phúc liền lập tức. Chúng ta phải học và thực tập phương pháp đó. ‘Nếu không có cái đó chắc là tôi chết quá !’ Mình cứ nghĩ như vậy. ‘Tôi làm sao sống được nếu không có cái đó, hay người đó’, khi kẹt vào ý niệm đó, thì mình không còn tự do nữa. Ví dụ mà Làng Mai thường đưa ra là những người sống ở thành phố lớn như là Paris, hay là Los Angeles. Cuối tuần, vì muốn thoát khỏi thành phố với những bụi bậm cũng như tiếng ồn, họ lái xe ra khỏi thành phố. Chỉ cần một giờ đồng hồ thôi thì ra khỏi thành phố, ra khỏi thành phố, thì tiếp xúc được với núi đồi, biển cả, gió mát, bắt đầu thấy trăng sao, thấy trời xanh mây trắng, thấy trong lòng lâng lâng. Hạnh phúc đó là do bỏ cái thành phố lại sau lưng, cái đó gọi là ly, là buông bỏ, là để lại sau lưng. Mình phải bỏ lại sau lưng những cái làm cho mình kẹt thì mình mới có hạnh phúc. Cái đó gọi là ly sinh hỷ lạc, nghĩa là Hỷ và Lạc được phát sinh ra từ cái khả năng buông bỏ. Bây giờ nhiều người nghĩ rằng có nhiều tiền thì có hạnh phúc, mua sắm nhiều mới có hạnh phúc. Còn phương pháp của đức Thế Tôn thì không cần một đồng nào hết.

Niệm sinh hỷ lạc

Niệm sinh hỷ lạc là một phương pháp khác. Niệm tức là ý thức. Ví dụ khi mình uống một ly trà hay một ly sữa đậu nành, nếu mình biết rằng mình đang có ly trà hay một ly sữa đậu nành để uống trong giờ phút này thì mình có hạnh phúc lớn, đó là niệm. Niệm là có mặt, có mặt đích thực. Niệm tức là ý thức được cái gì đang xảy ra. Trong khi có niệm thì mình nhận diện được những điều kiện của hạnh phúc, cái đó gọi là niệm sinh hỷ lạc. Ý thức rằng mình đang có tuổi trẻ, mình đang có cơ hội để tu học, mình đang ở trong tăng thân, mình có những điều kiện để tu tập, thì cái ý thức đó là niệm. Khi mà không biết, không có ý thức tức là quên, là thất niệm. Niệm đưa lại hạnh phúc liền lập tức.

Mình đang ở ngoài trời lạnh mà đi vào trong nhà ấm thì có hạnh phúc, nhưng chỉ mười phút sau thì mình quên là mình đang có hạnh phúc. Cơ thể và tâm mình luôn luôn có khuynh hướng bình thường hóa, làm cho soi mòn những cảm thọ. Niệm cho mình biết rằng: ‘Trời ơi! Đang ở trong nhà ấm hạnh phúc quá!’, thì niệm giúp mình phục hồi cái hạnh phúc trở lại. Nếu bây giờ mình phải đi ra ngoài trời lạnh, thì ý thức rằng mình đang được ở trong nhà ấm sẽ đưa lại hạnh phúc liền lập tức, mau như là một tia chớp. Ý thức đó là niệm. Ý thức rằng người thương của mình đang còn đó, ngồi trước mặt mình, thì tự nhiên mình có hạnh phúc. Ý thức rằng mình còn hai mắt sáng, mở mắt ra thì thấy trời xanh mây trắng, đó là niệm. Ý thức rằng mỗi ngày có cơ hội thực tập thiền đi là hạnh phúc. Có vô số những điều kiện hạnh phúc đang có mặt mà mình chỉ cần thực tập chánh niệm là trở về được giây phút hiện tại và tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc. Niệm là một nguồn suối của hạnh phúc, niệm sinh hỷ lạc. Từ niệm mà hỷ và lạc phát sanh. Mình rất là giàu có. Mình thật sự là những đứa con rất giàu có nhưng mình hành xử như những đứa cùng tử than nghèo. ‘Trời ơi! Tại sao tôi không có hạnh phúc gì hết, tôi chỉ có khổ đau mà thôi.’

Niệm sinh hỷ lạc có thể được khai thác phát triển ra được, thế giới ngày hôm nay rất cần cái giáo lý này, rất cần sự nhắc nhở này.

Định có nghĩa là chuyên chú, là tập trung tâm ý. Niệm đã đem lại hỷ lạc rồi, còn định làm cho niềm vui và hạnh phúc sâu sắc hơn. Trong niệm có định. Càng thực tập niệm thì định càng lớn. Định này làm cho mình tập trung được, làm cho mình chuyên chú được vào đối tượng, và đối tượng đó có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc. Ví dụ như là hơi thở của mình. Trong khi mình ngồi thở, trong khi mình đi thiền, trong khi mình ngồi thiền, trong khi mình nấu cơm, giặt áo, niệm về hơi thở đưa lại hạnh phúc, và định về hơi thở làm cho hạnh phúc sâu sắc hơn. Định càng lớn thì hạnh phúc càng lớn. Khi chúng ta có năng lượng của niệm và định hùng hậu thì chúng ta sẽ có tuệ. Tuệ tức là cái thấy, cái hiểu. Nhờ cái thấy này, cái hiểu này mà đem lại hạnh phúc rất là nhiều. Tuệ có khả năng giải tỏa những hiểu lầm, những khổ đau, những kiến chấp. Ngày xưa khi con mình bị sốt, tại mình không có tuệ, cho nên mình mới nghĩ rằng con mình bị sốt là vì ông thần nào đó phạt hay lúc đi ngang qua cây đa, nó vạch quần đái, vì vậy nó bị ông thần của cây đa phạt… Người mẹ cuống lên nghe người ta bảo phải đem một mâm cơm ra cúng ngoài cây đa thì con mình mới hết sốt. Mình tin như vậy. Hiện bây giờ cũng có nhiều người tin như vậy. Có những ví dụ như là sấm sét hay là mưa bão, tất cả những cái đó mình đều cho là sự trừng phạt của thần linh. Cũng như các ông vua Ả Rập hay là các ông vua Tàu ngày xưa, trước khi chết đi, họ muốn sang thế giới bên kia cũng phải có người hầu cận, cũng cần phải có nhiều lính, có bác sĩ, và vì vậy khi người ta chôn vua người ta chôn luôn cả bác sĩ, nàng hầu, cung nữ mà vua thích. Chôn sống hết! Cái đó là do thiếu tuệ mà gây đau khổ cho mình và cho người khác, cái đó là do chấp vào cái linh hồn bất diệt (thường kiến). Ở bên Tàu, người ta đào xới ra và thấy có quân lính nung bằng đất, hàng trăm ngàn người bằng đất. Tại vì ông vua nghĩ rằng sang thế giới bên kia ông cũng rất cần nhiều lính; khi chôn vua phải chôn theo cái ấn của ông, cái ấn bằng ngọc, tại vì ông sẽ phải ra lệnh; phải đem theo bác sĩ vì nếu có bệnh thì có bác sĩ để chữa trị, cho nên chôn sống luôn cả bác sĩ… Những cái đó là do u mê, vô minh mà ra. Khi có niệm, có định, có tuệ thì mình thấy được sự thật, cho nên mình giải tỏa được những thành kiến, những u mê, và mình có hạnh phúc. Ví dụ giữa mình với người thương của mình có sự hiểu lầm. Người thương hiểu lầm mình, và mình hiểu lầm người thương vì những tri giác sai lầm. Nhờ niệm và tuệ mình thấy được sự thật, nhờ vậy mình lấy đi sự hiểu lầm đó, thì tự nhiên giữa mình và người mình thương có hạnh phúc thôi, cho nên tuệ sinh hỷ lạc. Trí tuệ là nguồn suối của hỷ và lạc, cho nên người nào cũng phải thực tập.

Giới tức là thực tập chánh niệm, mindfulness training. Giới bảo hộ cho mình. Giới là do niệm sinh ra. Nhờ có chánh niệm cho nên ta biết những đau khổ được sinh ra vì ta không chịu giữ giới, cho nên giới tương đương với niệm. Khi giữ giới, mình bảo hộ cho mình, và bảo hộ cho người thương của mình, bảo hộ cho hoàn cảnh gia đình, vì vậy cho nên hạnh phúc có được, niềm vui có được. Giới cũng sanh ra hỷ và lạc.

 

Nhu yếu hiểu và thương

Trong con người của mình có hai nhu yếu, và khi hai nhu yếu đó được thỏa mãn thì mình có rất nhiều hỷ và nhiều lạc. Cái nhu yếu thứ nhất là hiểu. Hiểu tức là tuệ. Hạt giống tuệ ở trong mình đòi hỏi mình phải làm thỏa mãn nó, mình khao khát hiểu biết (curiosity), bởi vì sự sống là một mầu nhiệm. Chính cái thân của mình cũng là một mầu nhiệm. Ngành khoa học Anatony, người ta nghiên cứu về mắt, về mũi, về tất cả những cái gì thuộc về cơ thể của con người, nhưng người ta cũng vẫn chưa hiểu được hết những mầu nhiệm đó. Cho nên con mắt cần một cái viện, gọi là viện mắt, để chỉ nghiên cứu về con mắt mà thôi. Cái lỗ tai cần một cái viện để mà nghiên cứu, gọi là viện tai; mũi cần một cái viện để mà nghiên cứu, gọi là viện mũi,… Có nhiều viện lắm để nghiên cứu về những thành phần của cơ thể. Chúng ta đã khám phá ra những mầu nhiệm của cơ thể, nhưng khám phá đó là khám phá riêng của từng vùng cơ thể. Toàn thể cơ thể đã phối hợp với nhau và lưu chuyển như thế nào, đó cũng là cái mầu nhiệm rất lớn, huống hồ là tâm của chúng ta. Tâm của chúng ta cũng là những mầu nhiệm rất lớn. Đạo Bụt là một khoa học nghiên cứu về tâm, gọi là tâm học. Chúng ta tu, chúng ta cũng có cái nhu yếu muốn hiểu, muốn có cái hiểu biết sâu sắc về thực tại. Chúng ta muốn hiểu biết về năm uẩn của chúng ta, và sự hiểu biết về năm uẩn đó sẽ đưa lại sự thỏa mãn, có thể làm tiêu tán những u mê sai lầm của chúng ta về năm uẩn, những cái u mê đã từng gây ra những khổ đau cho mình và cho người khác. Vì vậy cho nên cái hiểu này không phải là cái hiểu suông, cái hiểu này có tính cách chuyển hóa, giải phóng, giải thoát, cái hiểu đó gọi là prajna (bát nhã), là trí tuệ, đó là nhu yếu rất lớn. Ngày xưa Sĩ Đạt Ta đi tu cũng vì khao khát muốn hiểu biết, mà hiểu biết này không phải là hiểu biết của trí năng không, cái hiểu biết có khả năng giải phóng, chuyển hóa và trị liệu. Trong ta có cái nhu yếu lớn đó. Chúng ta phải để thì giờ để mà thỏa mãn nhu yếu đó, chứ không để thì giờ chạy theo cái nhu yếu khác không quan trọng bằng. Vì những nhu yếu tầm thường như muốn có những tiện nghi về vật chất, muốn có những tiện nghi về tình cảm, mà chúng ta để hết thì giờ để thỏa mãn những nhu yếu đó, thì chúng ta đâu còn thì giờ nào nữa để mà thỏa mãn cái nhu yếu hiểu biết lớn, tiếng phạn là maha-prajna. Maha là lớn, prajna là hiểu biết.

Chúng ta cũng có một cái nhu yếu lớn khác nữa, đó là thương yêu lớn. Thương yêu lớn không phải là tình thương vị kỷ, không phải là tình thương chỉ có một người, hai người, ba người, hay chỉ có vợ chồng con cái mà thôi. Tình thương lớn là tình thương ôm ấp được mọi loài. Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống thương yêu lớn, và khi nhu yếu này được chúng ta thỏa mãn, càng thỏa mãn chừng nào thì hạnh phúc của chúng ta càng lớn chừng đó. Tình thương đem lại hạnh phúc, càng thương nhiều càng hạnh phúc nhiều. Tình thương này gọi là maha-maitri (đại từ), maha-karuna (đại bi). Còn cái tình thương một hai người kia thì càng thương càng khổ, càng thương càng bị hệ lụy, càng thương càng bị vướng mắc, càng thương càng bị ray rức, càng thương càng bị lo sợ, đó là tình thương nhỏ không cùng chất liệu với tình thương lớn, nó là tình thương vị kỷ, là sự đam mê, kỳ thị. Trong khi đó tình thương lớn, đối tượng của nó rất là rộng lớn không có tính cách kỳ thị. Dầu cho mình chăm sóc mình đi nữa thì cái đó không phải là kỳ thị, nếu mình chăm sóc mình là mình chăm sóc người kia, mình có sức khỏe, mình có sự thư thái thì cái đó rất là cần thiết cho người mình thương. Bảo trọng thân thể của mình, bảo trọng hạnh phúc của mình rất là quan trọng cho người mình thương, cái đó nằm trong phạm vi của tình thương lớn. Nó không phải là vị kỷ nữa tại vì mình làm cái đó không phải cho mình mà cho những người mình thương. Khi mình lo cho những người khác tức là cũng lo cho mình, tại vì những người khác bớt khổ, mỉm cười được thì mình cũng có hạnh phúc. Tình thương lớn không có tính cách kỳ thị, không có tính cách giới hạn. Trong khi cái tình đam mê vướng mắc có tính cách kỳ thị, chỉ có người này là người thương của mình thôi, còn người khác thì không phải.

Bậc Đại Giác Viên Mãn xuất hiện nơi cõi ta bà,
Tấm lòng ôm trọn cả thái hư

Tức là trái tim của Bụt chứa được hết cả vũ trụ, còn trái tim mình nhỏ xíu chứa được có một người thôi mà chưa chắc đã chứa dược, đó là sự kỳ thị. Chúng ta biết được cái chân hạnh phúc, hạnh phúc chân thật là do mỗi ngày mình có làm thỏa mãn được hai nhu yếu căn bản đó của mình không, tức là nhu yếu hiểu và nhu yếu thương, nhu yếu hiểu biết lớn và nhu yếu thương yêu lớn.

Bây giờ chúng ta có ý niệm sâu hơn và rõ ràng hơn thế nào là chân lạc, chân hạnh phúc. Chúng ta nghiên cứu thêm liên hệ giữa lạc và Lạc. Chữ Lạc viết hoa không phải là chữ lạc không hoa. Chúng ta biết rằng bốn đức của Niết Bàn là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh (đều viết hoa), nó không phải là thường của vô thường, lạc của khổ, ngã của vô ngã, và cái tịnh của bất tịnh. Thường và vô thường là một cặp đối đãi, lạc và khổ là một cặp đối đãi thứ hai, ngã và vô ngã là một cặp đối đãi thứ ba, tịnh và bất tịnh là một cặp đối đãi thứ tư. Nhưng Thường không phải là cái thường đối đãi với vô thường cho nên nó được viết hoa, Lạc không phải là lạc đối đãi với khổ cho nên nó được viết hoa. Vậy thì ta hãy xét coi thử có sự liên hệ giữa Lạc và lạc hay không? Hai cái có hẳn là chống đối nhau hay không? Cố nhiên khi nói tới bốn đức của Niết Bàn là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh, thì chúng ta không thể nói cái Thường ở đây là cái thường đối với vô thường, tại vì cái thường đối với vô thường là một tà kiến, là một điên đão kiến, còn Thường của Niết Bàn không phải là tà kiến, không phải là điên đão kiến. Chúng ta chưa hiểu được văn mạch của Tích môn và Bản Môn, chúng ta phải đem lại hình ảnh của sóng và nước để cho dễ hiểu. Sóng có sinh có diệt, có lên có xuống, có thường có vô thường. Những từ ngữ sinh diệt, cao thấp, thường vô thường, lên xuống là chỉ áp dụng cho sóng thôi, phải như vậy không? Nó không áp dụng cho nước được. Đứng về phương diện sóng thì có lên có xuống, nhưng nước thì đâu có lên có xuống, nước chỉ có nước thôi. Sóng có thể nói ‘tôi là sóng này anh sóng kia’, nhưng nước thì không thể nói ‘tôi nước này, anh nước kia.’ Đứng về phương diện bản môn thì không có sinh không có diệt, không có lên không có xuống, không có cái này, không có cái kia, cho nên đứng về phương diện bản môn ta không thể dùng chữ thường và vô thường để diễn tả bản môn cho được, cho nên ta dùng chữ Thường viết hoa. Nhìn vào sóng thì ta thấy nước, và ta thấy sóng cũng là nước, trong khi sóng bị điều kiện hóa bởi thường hay vô thường, nhưng mà nước thì không có bị điều kiện hóa, vì vậy trong nước có cái gì giống như là thường (Thường), nhưng cái thường của nước không phải là cái thường đối lại với vô thường của sóng. Chữ Thường ở đây không có nghĩa là có một cái gì trường cửu bất diệt, nó đối chọi với cái mong manh, dễ tan vỡ. Khi nói tới sóng ta nói tới vô thường để đối trị với cái quan niệm thường, đứng về phương diện nước thì chúng ta phải vượt thoát ý niệm thường và vô thường để đi tới một ý niệm cao hơn vượt thoát hai ý niệm kia, đó là ý niệm Thường. Trong khi sóng lên xuống, cao thấp, thì nước đâu có lên xuống, cao thấp, vì vậy ta thấy tính Thường của nó ở trong. Thường của Niết Bàn không phải là thường của sinh tử, Thường của bản môn không phải là thường của tích môn. Cũng như trên phương diện tích môn, có hữu và có vô, đứng về phương diện hiện tượng, đứng về phương diện các pháp thì mình nói tới có và không. Khi đi vào chân như, đi vào phương diện bản môn, thì tuy vượt thoát hữu và vô rồi mình vẫn thấy là có thể dùng chữ diệu hữu và chân không. Diệu hữu và chân không, hai cái là một. Tại vì diệu hữu không phải là hữu, chân không không phải là không. Thì chữ Thường đây ta gọi là chân thường, chữ Lạc đây ta gọi là diệu lạc, còn cái Ngã đây ta gọi là chân ngã, true self, còn cái Tịnh đây ta gọi là diệu tịnh, tạm mượn chữ như vậy. Chư Tổ đã xài chữ như vậy, đã sử dụng chữ nghĩa như vậy, thì ta có thể tiếp tục được chư Tổ.

Khi ta vượt được cái thường và cái vô thường rồi thì ta không có sự sợ hãi, không có sự sợ hãi thì tự nhiên ta có niềm an vui. Khi chúng ta ca ngợi đức Quan Thế Âm, chúng ta hay nói rằng:

Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài
Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai

Nghĩa là ‘trí tuệ bừng lên đóa biện tài, đứng yên trên sóng sạch trần ai,’ tức là cái sóng của thường và vô thường còn đó, nhưng bồ tát đứng yên không bị sóng đó làm cho lên xuống, làm cho vùi dập, tại vì Ngài đã vượt thoát thường và vô thường, đã đạt được cái chân thường rồi. Chân thường cũng là chân vô thường, vô thường này là một ý niệm, còn chân vô thường không còn là một ý niệm nữa mà nó là một thực tại. Vì vậy ta không còn sự sợ hãi nữa, và ta có Lạc. Lạc này là hạnh phúc, hạnh phúc này hoàn toàn do vô úy, là sự không sợ hãi sinh ra. Món quà lớn nhất đức Quan Thế Âm tặng cho mình là cái vô úy, là sự không sợ hãi. Có ba món quà mình có thể tặng cho người là Tài thí, Pháp thí, và Vô Úy thí. Vô úy thí là món quà lớn nhất. Khi nào đạt tới Bản Môn, Niết Bàn thì mới có Vô Úy thí mà thôi. Ngã là gì? Chân Ngã là gì? Ngã ở đây có nghĩa là không còn là nạn nhân của sự lên xuống, của thường, vô thường nữa. Ngã ở đây có nghĩa là tự do lớn, Ngã ở đây có nghĩa là chủ quyền. Trong khi định nghĩa về Ngã, các Tổ ngày xưa có nói về Ngã là có chủ quyền. Mình có chủ quyền hay không? Nếu mình không có tuệ giác và không có từ bi, thì làm gì mình có chủ quyền được, mình chỉ là nạn nhân thôi, nạn nhân của những gì xảy ra trong hàng ngày. Có được đại trí và đại bi thì có chủ quyền, cái đó gọi là Ngã, tức là có chủ quyền, lúc đó mình không còn là nạn nhân của sự lên xuống của thế gian nữa. Thế gian chê, mình cũng không có buồn; thế gian khen, mình cũng không có mừng, cái đó là chủ quyền, cái đó là Ngã. Bát phong suy bất động, tám ngọn gió không làm cho mình động, đó là chủ quyền, cái đó gọi là Ngã. Ngã tức là chủ quyền. Niết Bàn là chủ quyền. Ngã không phải là một cái ta, một cái ego, hễ ai đụng tới thì ta nổi tam bành lục tặc ra. Cái Ngã này có chủ quyền rất lớn, mà các vị Bụt, các vị bồ tát và các bậc đại nhân có chủ quyền rất lớn. Không còn làm nạn nhân của sự lên xuống, ra vào, khen chê hay là đắc thất nữa, cái đó gọi là Ngã. Tịnh ở đây không phải là cái tịnh do vô minh thấy. Vô minh nhìn cái bất tịnh thì cho là tịnh. Tịnh ở đây vượt ra khỏi ý niệm dơ và sạch. Khi có Thường, Lạc, Ngã rồi thì có sự thanh tịnh lớn gọi là diệu tịnh. Diệu tịnh này tức là sự không có vẩn đục, tâm mình không bị vẩn đục bởi danh lợi tài sắc, đây là sự tinh khiết lớn nhất mà mình có thể đạt được. Sự tinh khiết này chỉ có thể đạt được khi mình thực chứng được niết Bàn. Bốn đức của Niết Bàn là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh phải được hiểu như vậy thì mới có thể nói bốn cái đó không phải là tà kiến điên đão, nếu không thì nó vẫn là tà kiến điên đão. Nếu không hiểu thì nói rằng giáo lý về Thường, Lạc, Ngã và Tịnh đi ngược lại giáo lý nguyên thủy của đứcThế Tôn. Tại vì Thường, Lạc, Ngã và Tịnh là bốn điên đão kiến, nhưng nếu hiểu theo văn mạch của bản môn, tích môn, thì mình thấy Thường đây là chân thường, vượt thoát ý niệm thường và vô thường; Lạc đây là diệu lạc, vượt thoát ý niệm khổ và lạc; Ngã đây là chân ngã, vượt thoát ý niệm ngã và vô ngã; Tịnh đây tức là diệu tịnh, sự trong sáng hoàn toàn, không dính líu gì đến tịnh và bất tịnh của tích môn.

Có một ví dụ rất mầu nhiệm có thể cho mình thấy giáo lý của Bụt như là phương tiện huyền xảo. Con người bị kẹt vào ý niệm thường, cho nên Bụt mới chế ra phương thuốc gọi là vô thường, để cho con người có thể hóa giải được, bệnh thường chỉ có thuốc vô thường mới trị được. Con người cho là lạc những cái không phải là lạc, cho nên Bụt nói rằng cái đó không hẳn là lạc, cái đó là khổ. Đó cũng là một phương tiện huyền xảo. Chỉ là thang thuốc thôi, nếu không có bệnh thì thuốc đó đâu có xài được, đâu có cần phải xài. Con người cho là có ngã riêng biệt, cho nên Bụt mới dạy vô ngã. Vô ngã là thuốc để trị ngã. Con người tin vào tịnh nên But mới dạy bất tịnh để cho con người đừng có đam mê. Tất cả giáo lý về vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh là những phương tiện huyền xảo, và những phương tiện huyền xảo đó mình phải vượt luôn. Chớ không có lý nói thuốc này quý quá, vất đi thì uổng, nhưng uống vô thì nguy. Không có bệnh mà uống thuốc thì hơi nguy. ỀGiáo lý của ta là chiếc bè để đưa qua sông, qua sông rồi các ngươi đừng đội chiếc bè mà đi, nên để chiếc bè ở lạiỂ. Bụt dạy như vậy.

Như vậy mình đã thấy cái liên hệ giữa Lạc và lạc. Mình thấy rằng cái lạc nào không viết hoa có khả năng đưa tới Lạc viết hoa, thì cái lạc đó mình có thể sử dụng được. Còn cái lạc nào không đưa tới Lạc viết hoa, cái lạc đó không phải là chân lạc, cái đó là khổ. Kinh Người Bắt Rắn có nói tới sự hiểu lầm này. Bụt dạy rằng chỉ có những cái lạc nào, thanh thoát, nhẹ nhàng, nuôi dưỡng, đưa tới cái Lạc lớn (giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú), thì tất cả những cái lạc đó mình đều có thể sử dụng được, trong khi thầy Arita hiểu lầm đức Thế Tôn, thầy nghĩ rằng hành lạc là không có chướng ngại cho sự tu tập.

Đây là bài giảng cho chúng ta chuẩn bị đi vào Lâm Tế Lục. Tại vì Lâm Tế Lục là thuốc rất là đắng, thuốc rất là mạnh, nếu kẹt vào Lâm Tế Lục là chết luôn. Cũng như quẹt que diêm là để có ngọn lửa. Que diêm có mục đích là tạo ra ngọn lửa. Giáo lý vô thường, vô ngã có mục đích giúp cho mình có được tuệ giác về vô thường, vô ngã. Que diêm tức là phương tiện huyền xảo, phương tiện huyền xảo đó để làm phát sinh ra tuệ giác về vô thường và vô ngã. Khi tuệ giác vô thường và vô ngã được phát sinh thì nó thêu đốt que diêm. Vì vậy que diêm là giáo lý vô thường, là giáo lý khổ, vô ngã và bất tịnh. Giáo lý được đưa ra để làm thang thuốc thôi, khi mà thang thuốc đã chữa được bệnh rồi, thì thuốc đó không cần xài nữa. Giáo lý của Bụt như là ngón tay chỉ mặt trăng, như là thuốc trị bệnh, là chiếc bè đưa qua sông. Mục đích của giáo lý đó là làm phát khởi ra tuệ giác, mà tuệ giác đó trong khi phát khởi nó thiêu đốt cái giáo lý đó, làm cho chiếc bè đó không còn, và mình không còn dính vào chiếc bè nữa. Chúng ta phải có một thái độ rất là buông bỏ đối với giáo lý thì mới được, Lâm Tế Lục dạy mình như vậy. Que diêm rất là cần thiết để làm phát sinh ra ngọn lửa, nếu không có que diêm làm sao có ngọn lửa, thì những giáo lý của Bụt như là vô thường, vô ngã, bất tịnh rất cần thiết để làm sinh ra tuệ giác, khi mà tuệ giác sinh ra rồi thì nó đốt cháy cái giáo lý về vô thường, vô ngã, bất tịnh. Khi nào vượt thoát được rồi thì mới đạt được Niết Bàn. Cái thí dụ hộp diêm rất hay, giúp cho quý vị thấy được những người có khuynh hướng giáo điều, bị kẹt vào giáo điều, thì những người đó sẽ khổ, cũng như là những người bắt rắn mà không biết bắt rắn thì rắn trở lại cắn mình. Bụt cũng nói rõ ràng là ‘Giáo lý của ta nguy hiểm lắm, giáo lý của ta là rắn đó, nếu quý vị không biết sử dụng thì nó sẽ cắn quý vị.’ Không có một vị đạo sư nào trên thế gian lại nói về giáo lý của chính mình như vậy. ‘Giáo lý của ta rất là cần thiết cho các ngươi, nếu các ngươi không biết sử dụng thì các ngươi sẽ chết về giáo lý của ta.’ Đệ tử của Bụt chết về giáo lý của Bụt cũng khá nhiều. Thầy Lâm Tế cũng nói như vậy. Con cháu của Tổ Lâm Tế cũng chết vì giáo lý của Tổ Lâm Tế rất nhiều, tại vì trong khi học hỏi họ kẹt vào chữ nghĩa, không biết rằng những giáo lý của Ngài, những cái gậy của Ngài, những tiếng hét của Ngài đều là những phương tiện cả, kẹt vào đó là chỉ có chết thôi.

Hạnh phúc là con đường (I)

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 25 tháng 09 năm 2003, chúng ta đang ở tại chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, trong khóa tu mùa Thu.

Hiện Pháp Lạc Trú

Chúng ta thường nói tới con đường: con đường đưa tới giải thoát, con đường đưa tới hạnh phúc, con đường đưa tới hòa bình. Khi có ý niệm về con đường thì chúng ta đồng thời có ý niệm là chúng ta vẫn còn đang trên con đường đó, nghĩa là chúng ta chưa tới. Nếu chúng ta đang trên con đường đi tới hạnh phúc, thì chúng ta chưa có hạnh phúc. Nếu chúng ta đang trên con đường đi tới hòa bình, thì chúng ta chưa có hòa bình.

Nếu chúng ta đang trên con đường đi tới giải thoát, thì chúng ta chưa có giải thoát, giải thoát là vấn đề tương lai. Cái ý niệm về con đường có thể gây ra hiểu lầm, có thể gây ra tai hại, một khi chúng ta nói tới con đường như là quá trình phải đi tới. Trong khi đó tại Làng Mai có câu: “There is no way to happiness, happiness is the way”, là không có con đường nào đi đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường. “There is no way to peace, peace is the way”, không có con đường nào đưa tới hòa bình cả, hòa bình chính là con đường. Giải thoát cũng vậy. Không có con đường nào đi đến giải thoát, giải thoát chính là con đường. Đó là pháp môn của Làng Mai.

Chúng ta tu học như thế nào để có được giải thoát, có được hạnh phúc, có được hòa bình ngay trong giây phút hiện tại, mà đừng nghĩ rằng giải thoát, hòa bình và hạnh phúc là cái gì chỉ có thể đạt tới trong tương lai. Theo nguyên tắc đó, trong quá trình tu học, chúng ta phải tiếp xúc được với hạnh phúc, giải thoát và hòa bình ngay trong giây phút hiện tại, tại vì không có con đường đi tới hạnh phúc, không có con đường đi tới giải thoát, không có con đường đi tới hòa bình. Hạnh phúc là con đường mình đang đi, đi mà có hạnh phúc. Giải thoát là con đường mình đang đi, vừa đi vừa giải thoát. Hòa bình là con đường mình đang đi, và mình phải có hòa bình trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Đó là sự thực tập của chúng ta. Có như vậy chúng ta mới thật sự thực tập được cái gọi là Hiện Pháp Lạc Trú.

Hạnh phúc là cái gì có thật hay không? Mỗi chúng ta ai cũng có kinh nghiệm những giây phút hạnh phúc, và cố nhiên là chúng ta cũng đã có những giây phút khổ đau. Chúng ta thường hỏi: ‘Hạnh phúc đó có phải là hạnh phúc chân thật hay không? Khổ đau đó có phải là khổ đau chân thật không ? Hay tự ta làm khổ ta ?’ Cho nên xét lại cái quan niệm về hạnh phúc và khổ đau là một sự thực tập.

Giáo lý Tam Pháp Ấn, theo đạo Bụt Bắc Truyền là Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn, là ba đặc tính của thực tại, nghĩa là thực tại là Vô Thường, thực tại là Vô Ngã, nhưng thực tại cũng là Niết Bàn. Trong khi đó, ba đặc tính của thực tại trong Đạo Bụt Nam Truyền là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.

Nếu thực tại là Khổ thì làm sao ta có hạnh phúc được. Chúng ta nhìn vào cái bàn này, chúng ta nói cái bàn này là Vô Thường, cái đó hiểu được. Chúng ta nói cái bàn này là Vô Ngã, không có cái ngã riêng biệt, nếu không có những yếu tố như là cây, rừng hay là thợ mộc… thì cái bàn này không thể nào có được, vì vậy nói cái bàn là vô ngã thì ta có thể hiểu được. Nhưng nói cái bàn là khổ thì thật là khó hiểu. Bàn ơi mi có khổ không ? Sự thật là khi cái bàn là vô thường mà ta nghĩ là nó thường thì ta khổ, khi cái bàn là vô ngã mà ta nghĩ là nó có ngã thì ta khổ. Cái khổ này không nằm trong cái bàn, mà nó nằm trong cái cách ta nhìn cái bàn. Nhìn cái bàn và cho nó là thường, là ngã, thì ta khổ thôi. Khổ không phải là bản chất của thực tại. Khổ là kết quả của cái cách ta nhìn về thực tại.

Có một kinh trong hệ A Hàm (thuộc Đạo Bụt Bắc Truyền) đã sử dụng cụm danh từ Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn tới năm lần trong kinh này. Trong khi đó, ở thế kỷ thứ hai, thầy Long Thọ đã nói tới Tam Pháp Ấn là Vô thường, Vô Ngã và Niết Bàn, mà không phải là Vô Thường, Vô Ngã và Khổ. Chúng ta thấy rõ là có một sự sai lầm trong khi truyền thừa kinh điển. Có những thế hệ Phật tử đã quá bị ám ảnh bởi cái danh từ Khổ, tại vì khi học Tứ Diệu Đế thì sự thật đầu tiên là Khổ đế, cho nên họ đã muốn nhìn tất cả bằng cái nhãn quang là Khổ. Có nhiều người thực tập cho rằng nếu họ không tự nhắc ‘đời là khổ’, thì họ không chứng đạo được, vì vậy cho nên họ cứ lặp lại ‘đời là khổ, đời là khổ’. Và lâu dần, ‘đời là khổ’ trở thành ra một cái giáo điều. May mắn cho chúng ta là giáo lý về Tam Pháp Ấn có ở trong một vài kinh được trao truyền lại trong Đạo Bụt Bắc Truyền, thì ba đặc tính của thực tại là Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn. Chúng ta còn nhớ một bài kệ rất nổi tiếng, trong đó có nói Niết Bàn là hạnh phúc. Bài kệ đó là:

Chư hành vô thường
Thị sinh diệt pháp
Sinh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi Lạc

‘Chư hành vô thường’ dịch ra tiếng Anh là all formations are impermanent. Formation là danh từ chuyên môn của đạo Bụt. Chữ hành có nghĩa là hiện tượng, tiếng Phạn là samskara. Cái bàn là một hành, do đó cái bàn là vô thường (chư hành vô thường); cái chuông là vô thường, ta là vô thường, cái nhà là vô thường, núi sông là vô thường, tất cả những cái đó là đều là hành cả. Chư hành vô thường tức là tất cả mọi hiện tượng đều là vô thường. Thị sinh diệt pháp, chúng nó đều là những pháp phải đi ngang qua Sinh và Diệt. Sinh Diệt diệt dĩ. Sinh là birth, Diệt là death. Dĩ là xong rồi. Một khi ý niệm sinh diệt đã được lấy ra rồi, đạt tới sự vắng lặng rồi, thì tịch diệt vi Lạc, tức là sự vắng lặng đó là hạnh phúc. Chữ tịch diệt này nghĩa là Niết Bàn. Nirvana có nghĩa là extinction, tức là không còn nữa, là vắng lặng, là sự tắt ngấm. Sinh và Diệt là một cặp đối nghịch, có sinh thì có diệt, hễ còn sinh thì còn diệt, hễ vượt thoát sinh diệt thì gọi là Niết Bàn. Niết Bàn là sự vắng mặt của những ý niệm về sinh và về diệt.

Hãy lấy hình ảnh của sóng và nước để giúp cho ta hiểu. Khi nhìn một đợt sóng, ta thấy sóng có sinh có diệt : Đây là điểm sinh của đợt sóng, đây là điểm diệt của đợt sóng ; và đây là điểm sinh của đợt sóng khác, và đây là điểm diệt của đợt sóng khác. Các pháp được ví dụ là sóng, và hễ là sóng thì có lên có xuống, có cao có thấp, có sinh só diệt. Đó là đứng về phương diện hiện tượng (tích môn) mà nói. Còn đứng về phương diện bản thể (bản môn), thì tuy sóng là sinh diệt nhưng sóng đồng thời cũng là nước. Và khi sóng biết mình là nước rồi thì nó không còn sợ sinh diệt nữa, tại vì nước thì không sinh không diệt, không cao không thấp, không lên không xuống. Đối với sóng lúc bấy giờ thì sinh cũng vui mà diệt cũng vui.

 

Vậy ta phải thực tập làm sao để đạt tới Niết Bàn, đạt tới Bản Môn?

Sóng là thuộc về thế giới của hiện tượng (Tích Môn). Nước là thuộc về thế giới của bản thể (Bản Môn). Bản thể là self nature, là cái entité ontologic. Sóng với nước không phải là hai cái khác nhau. Sóng là nước, và nước là sóng. Cho nên sóng cũng là nước đứng về phương diện hiện tượng. Còn nước cũng là sóng đứng về phương diện Bản Thể. Đứng về phương diện hiện tượng (sóng), thì ta thấy có sinh có diệt, có có có không, có còn có mất. Khi mà đứng về phương diện bản thể (nước) thì không có lên có xuống, có sinh có diệt nữa. Sự vắng mặt của sinh diệt đó là Tịch Diệt, là Niết Bàn. Vì vậy Niết Bàn là hạnh phúc, và hạnh phúc này thật.

Sinh Diệt diệt dĩ, tịch diệt vi Lạc, một khi mà không còn sinh diệt nữa thì sự vắng lặng đó, Niết Bàn đó được gọi là hạnh phúc. Nhưng sóng có cần phải hết là sóng thì mới là nước không ? Không, sóng vẫn là sóng như thường, trong khi là sóng thì nó vẫn là nước. Và cái hạnh phúc có liền trong giây phút này, tức là trong khi đang còn là sóng thì nó cũng là nước rồi, vì nó tiếp xúc được với bản thể của nó là nước thì nó có hạnh phúc thôi. Cho nên một trong những đặc tính của Niết Bàn là hạnh phúc, điều này không phải là của Đại Thừa riêng mà của Đạo Bụt Nguyên Thỉ nữa. Trong rất nhiều kinh, đức Thế Tôn đã nói Niết Bàn là hạnh phúc. Như vậy hạnh phúc là có thật, và nó có thật ngay bây giờ, không phải đợi tới sau này. Kinh Pháp Hoa nói rằng, các pháp từ xưa đến nay đang an trú trong tự tánh Niết Bàn của nó (chư pháp tùng bản lai, thường trụ tịch diệt tướng), tức là cái bàn này tuy là vô thường, vô ngã nhưng nó cũng là Niết Bàn trong giây phút này. Vô thường, vô ngã và cặp đối lập của nó là thường, ngã, chỉ là những cấu tạo của tâm thức mà thôi. Cái bàn này không là thường mà kỳ thực cũng không vô thường, cái bàn này không phải là ngã mà kỳ thực cũng không phải là vô ngã. Vô thường và vô ngã được dùng để đối trị với ý niệm về thường và về ngã. Và Niết Bàn là sự vắng mặt của tất cả mọi ý niệm, trong đó có ý niệm về thường và vô thường, ngã và vô ngã. Vô thường và vô ngã là thuốc để trị bệnh thường và ngã. Một khi trị bệnh rồi thì thuốc đâu cần sài nữa, bệnh đã mất rồi mà thuốc cũng vất luôn. Do đó ý niệm thường là cái bệnh, thì thuốc trị là vô thường ; ý niệm ngã là cái bệnh thì thuốc trị là vô ngã. Tại vì có bệnh nên có thuốc, nếu không có bệnh thì cần gì thuốc. Vì vậy Niết Bàn không phải là vô thường, Niết Bàn không phải là vô ngã, Niết Bàn là không thường cũng không vô thường, Niết Bàn là không ngã cũng không vô ngã.

Khi người ta cho rằng sự vật là thường, sự vật là ngã, thì cái đó gọi là tà kiến. Tà kiến là vọng tưởng điên đảo. Vọng tưởng nghĩa là tri giác sai lầm. Điên đảo nghĩa là chổng ngược lại. Sự vật là vô thường mà cho là thường, sự vật là vô ngã mà cho là ngã, đó là những cái thấy chổng ngược lại, gọi là tà kiến, gọi là điên đảo (upside down). Trong Tâm Kinh có câu là ‘viễn ly điên đảo mộng tưởng rồi mới cứu cánh Niết Bàn’. Tà kiến, dịch theo tiếng Anh là perverted view, wrong view.

Theo kinh Tam Pháp Ấn của Đạo Bụt Nam Truyền thì có bốn tà kiến: Thường, Ngã, Lạc, và Tịnh. Sự vật vô thường thì cho là thường, đó là tà kiến; sự vật vô ngã thì cho là có ngã, đó là tà kiến; sự vật là không có hạnh phúc thì cho là có hạnh phúc, đó là tà kiến; và sự vật là bất tịnh, nhơ nhớp mà cho là thanh tịnh, đó là tà kiến. Cái gì không có trong sạch, không có thanh tịnh, không có đẹp, mà nghĩ là nó thanh tịnh, nó trong sạch, nó đẹp thì gọi là tà kiến. Khi một số các thầy dạy về Tứ Niệm Xứ thì các thầy ghép bốn đặc tính vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh, coi đó là cái nhìn về thực tại. Và vì vậy khi nói về Tứ Niệm Xứ thì các thầy nói rằng: Thân là bất tịnh, thọ là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã. Khi tôi còn là chú tiểu thì phải học thuộc những câu: Thân bất tịnh , thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Học như là giáo điều vậy, học như là nhồi sọ vậy. Thân, Thọ, Tâm và Pháp là bốn đối tượng của sự quán chiếu, gọi là Tứ Niệm Xứ, Four Foundations of Mindfulness. Các thầy mới ghép bốn đặc tính của hiện hữu vào trong bốn lãnh vực quán niệm: Thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Có cái gì sai ở trong mà ta phải tìm ra cho được. Nó sai ở chỗ là: tâm vô thường nhưng tâm cũng vô ngã, pháp vô ngã nhưng pháp cũng vô thường. Tại sao lại nói pháp chỉ có vô ngã không thôi ? Tại sao chỉ có thân mới bất tịnh thôi ? Tại sao chỉ có thọ mới là khổ thôi ? Chúng ta biết là thọ có tới ba loại: lạc thọ, khổ thọ và xã thọ. Thành ra, khi nói ‘thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã’ là có hơi gượng ép, hơi có tính cách giáo điều, hơi có tính cách nhồi sọ, không đi đúng với tinh thần truyền thống của đạo Bụt. Có cái gì sai ở trong ! Hồi còn nhỏ, tôi học thuộc lòng câu ‘thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã’, học như là con vẹt vậy.

Theo cái nhìn của Đạo Bụt Nam Truyền thì thường, lạc, ngã, tịnh là bốn tà kiến. Vì nhìn cho kỹ có cái gì là thường đâu, nhìn cho kỹ có cái gì là ngã đâu, nhìn cho kỹ có cái gì là lạc đâu. Trong khi đó, Đạo Bụt Đại Thừa đã đi đến định nghĩa bốn đặc tính của Niết Bàn lại là Thường, Lạc, Ngã và Tịnh (theo kinh Đại Niết Bàn). Điều này làm sao hiểu được nếu ta không phân biệt được Tích Môn và Bản Môn. Đứng về phương diện tích môn, đứng về phương diện sóng thì có sanh có diệt, có thường, có ngã; đứng về phương diện bản môn, tức là nước, thì không còn có sanh có diệt, không còn có thường có ngã nữa. Nếu hiểu được Thường, Lạc, Ngã, Tịnh theo cái nghĩa siêu việt của nó, siêu việt vô thường, siêu việt vô ngã, thì mới có thể hiểu được đó là bốn đặc tính của Niết Bàn. Niết Bàn là gì ? Niết Bàn là sự vượt thoát không những ý niệm về thường mà vượt thoát ý niệm về vô thường, vượt thoát ý niệm ngã và vô ngã, vượt thoát ý niệm lạc và khổ, vượt thoát ý niệm tịnh và bất tịnh. Tất cả mọi ý niệm đều có thể gây ra khổ đau. Niết Bàn, trước hết, có nghĩa là sự vắng lặng, sự tắt ngấm. Sự vắng lặng đây là sự vắng lặng của những ý niệm. Không những có sự vắng lặng của ý niệm thường mà cũng có sự vắng lặng của ý niệm vô thường, vì thường và vô thường là một cặp. Cặp thứ hai là sinh và diệt, và Niết Bàn là sự vắng mặt của cả sinh và diệt. Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi Lạc, khi ý niệm về sinh và diệt vắng mặt rồi, thì sự vắng mặt đó, sự tắt ngấm đó, sự vắng lặng đó, được gọi là hạnh phúc. Cái Lạc này không phải là cái lạc nằm trong cặp đối nghịch của lạc và khổ. Bây giờ mình lấy một cái ví dụ để cho dễ hiểu : Có hai con gà sắp bị đi làm thịt. Người ta ra chợ mua hai con gà để làm giỗ, và trong hai giờ đồng hồ nữa hai con gà này sẽ bị chọc tiết. Người ta đem cái lồng gà về, đem hạt bắp và hạt lúa để cho chúng ăn trước khi chết. Hai con gà đánh nhau, mổ nhau nói rằng: ‘Hột bắp ngon hơn hay là hột lúa ngon hơn ?’ Chúng nó tranh nhau cái gì là ngon, cái gì là dở, cái gì là hạnh phúc, cái gì là không hạnh phúc. Chúng không biết rằng ăn hột bắp hay ăn hột lúa đều là khổ. Ăn bắp cũng khổ, ăn lúa cũng khổ, tại vì cái sự thật là chúng sẽ bị giết trong vòng hai giờ đồng hồ nữa. Chỉ có một việc là tháo cái lồng ra cho chúng chạy thoát, khỏi phải bị làm thịt, mới thật là hạnh phúc. Thành ra cái lạc đích thật của chúng không phải trong chỗ hột bắp ngon hay là hột lúa ngon, mà ở chỗ được tháo củi sổ lồng bay đi và không bị giết. Vì vậy cái lạc mà hai con gà tranh chấp nhau không phải là cái Lạc của Niết Bàn là vậy.

Cái Lạc của Niết Bàn không nằm trong vòng tranh chấp của khổ lạc tầm thường. Ví dụ: trúng số độc đắc là lạc, nghèo kiết xác mồng tơi là khổ. Cái lạc, khổ đó nằm trong vòng tương đối, quanh quẩn trong tà kiến: có tiền nhiều là hạnh phúc, không có tiền nhiều là đau khổ. Một người đã được giải thoát, đã thấy hạnh phúc nằm ở chỗ hiểu biết và thương yêu thì thấy người kia rất là tội nghiệp. Người kia có quan niệm về hạnh phúc và khổ đau của họ căn cứ trên tiền tài, còn mình có quan niệm về hạnh phúc lớn hơn, đó là khi nào mà có hiểu và có thương là mình có hạnh phúc. Hạnh phúc của Niết Bàn không phải là hạnh phúc được diễn tả trong sinh tử, trong Tích Môn. Quý vị thấy được điều này thì mình mới đi tiếp được. Có thấy được điều này không? Cái Lạc của Niết Bàn không phải là cái lạc của sinh tử. Cái lạc của sinh tử thì đối chiếu với cái khổ của sinh tử. Cái Lạc của Niết Bàn vượt thoát cái lạc và cái khổ của sinh tử. Cũng như cái tự do của hai con gà mới thật sự là Lạc, còn hai con gà tranh chấp ăn cái này là ngon, ăn cái kia là không ngon, là thuộc về cái lạc khổ của sinh tử. Chúng ta mất thì giờ tranh đấu với nhau, ghanh ghét nhau, đánh lộn nhau, giết nhau là tại chúng ta đi tìm cái lạc tránh cái khổ của tương đối mà không biết rằng cái hạnh phúc thật sự nằm ở chỗ khác.

Giữa cái lạc/khổ của thế gian và cái Lạc của Niết Bàn có sự liên hệ gì ? Quan điểm về hạnh phúc của thế gian là khi mình có được đối tượng của năm dục thì mình mới có hạnh phúc, tức là phải có tiền, phải có tài (tiền tài). Có tiền nhiều thì hạnh phúc, có danh nhiều thì hạnh phúc, có quyền lực nhiều thì hạnh phúc. Có tiền tài, danh vọng, quyền lực, sắc dục là có hạnh phúc. Phần lớn chúng ta đều nghĩ như vậy, và chúng ta đã đi tìm hạnh phúc ở cái hướng đó. Có tiền thì có thể mua sắm được. Có nhiều người nói mua được cái ti vi lớn đó, cái xe hơi đó, thì là hạnh phúc. Bây giờ mình chưa có cái ti vi đó, chưa có cái xe hơi đó, và mình nghĩ rằng: mua được cái xe hơi đó, mua được cái ti vi đó là mình có hạnh phúc. Mình tiên đoán hạnh phúc sẽ có được khi mình mua được chiếc xe đó, mua được cái ti vi đó. Đứng về phương diện danh vọng, mình nghĩ là nếu mình được bầu làm Tổng Thống, bầu làm Dân Biểu Quốc Hội, hay mình giật được cái bằng cấp tiến sĩ…, thì lúc đó mình mới có hạnh phúc, còn bây giờ mình chưa có hạnh phúc. Hạnh phúc là khi nào mình giật được mảnh bằng đó, mình được bầu vào chức vụ đó, thì mình có hạnh phúc. Chúng ta đang đứng ở chỗ không có hạnh phúc, và tiên đoán rằng sẽ có hạnh phúc khi mà chúng ta được cái đó. Trước hết là chuyện mua sắm, thứ hai là chuyện danh vọng. Nếu chúng ta quán chiếu và nghiên cứu để kiểm chứng lại sự thật đó, thì chúng ta thấy rằng : một tuần hay hai tuần sau khi mua xe hơi, thì cái hạnh phúc đó không còn nữa. Một năm hay sáu tháng sau khi có chức vụ đó, hay là có bằng cấp đó, thì ta không còn cảm thấy hạnh phúc nữa. Những người nào đã đậu bằng tiến sĩ, nên nghĩ lại là trước khi mình có cái bằng tiến sĩ đó, mình ước ao nó như thế nào : ‘Nếu mình không có bằng tiến sĩ chắc là mình chết quá, mình sẽ không có hạnh phúc.’ Nhưng khi có cái bằng đó rồi, thì tự hỏi mình hạnh phúc được mấy ngày, được mấy tuần hay mấy tháng ? Sự thật là mình chỉ sử dụng cái điều kiện hạnh phúc đó trong một thời gian rất là ngắn, sau đó sự kiện đó nó lờn và không đủ sức làm cho mình có hạnh phúc nữa. Có hạnh phúc thiệt đó, nhưng trong một thời gian ngắn thôi. Cấu trúc của cơ thể và của tâm lý có công năng biến những cái đó ra bình thường, không còn có tính cách kích động nữa. Cho nên cái điều kiện ban đầu mình cho là hạnh phúc, khi mình đạt được rồi, thì chỉ trong một thời gian ngắn nó sẽ lờn đi, nó không còn có cái hấp dẫn lực nữa và không còn cho mình hạnh phúc nữa. Ví dụ khi mình chưa xuất gia, mình nghĩ được xuất gia mới là hạnh phúc. Khi được cạo đầu rồi, được mặc áo nhật bình vô rồi, mới thật là hạnh phúc, chứ bây giờ mình chưa có hạnh phúc. Nhưng xuất gia xong thì hạnh phúc được kéo dài tới mấy tháng hay mấy năm, rồi sau đó mình thấy không còn hạnh phúc nữa. Tại vì điều kiện mình cho là căn bản có hạnh phúc đó, mình làm lờn đi. Thân và tâm của mình có tác dụng làm cho lờn đi. Sau đó khi thấy không có hạnh phúc nữa thì mình lại đi tìm cái điều kiện hạnh phúc khác nữa. Cứ như vậy mà đi tìm hết cái này đến cái khác. Tâm ta rong ruổi chạy theo đối tượng của năm dục mà không bao giờ nhàm chán, đó là kinh Bát Đại Nhân Giác (kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân). Được cái này rồi thì thấy cái này cũng chưa được thỏa mãn, và chạy theo cái khác. Tâm mình cứ tiên đoán thời tiết : nếu mà có được thêm cái đó là có hạnh phúc ; cứ như vậy mà mình chạy về tương lai. Trong khi đó những điều kiện hạnh phúc nhiều khi có đủ rồi hoặc là quá đủ, mà mình không có thừa hưởng được. Cũng như một người có đôi mắt đang sáng, tự nhiên mù không thấy gì được nữa, thì rất là đau khổ. Và nghĩ rằng nếu người ta mổ cho mắt mình sáng lại thì mình hạnh phúc biết bao. Cái điều đó đúng, sau khi giải phẩu, mắt thấy lại thì hạnh phúc thật, nhưng hạnh phúc vài ba tháng rồi mình lại quên và mình coi hai con mắt sáng của mình không còn quan trọng nữa. Chúng sanh rất dại dột. Những điều hạnh phúc đang có thì không biết thừa hưởng, cứ ngồi đó mà tiên đoán, mà ước mơ là nếu giả dụ mình có cái này, mình có kia thì mình có hạnh phúc. Các vị chưa làm giáo thọ thì nói : ‘Trời ơi, mình mà làm giáo thọ thì oai lắm, lúc đó mình mới có hạnh phúc.’ Nhưng làm giáo thọ rồi thì có hạnh phúc gì đâu, đôi khi còn mệt hơn nữa. Cái tiên đoán đó thường thường là không đúng, trước hết là tầm quan trọng của nó, thứ hai là thời gian của nó. Mình nghĩ rằng có cái ti vi đó mình sống hạnh phúc suốt đời, năm này qua năm khác. Nhưng mua ti vi về được hai tuần, mình bắt đầu lờn, mình thấy không có hạnh phúc gì mấy. Mình tưởng là có cái bằng cấp đó rồi thì mình sẽ hạnh phúc suốt đời, ai dè cái bằng cấp đó chỉ hấp dẫn mình sáu tháng hay một năm rồi mình thấy cái chuyện có bằng cấp cũng không có gì đặc biệt, thành ra mình không có hạnh phúc nữa, và mình bắt đầu đi tìm cái khác. Đó là cái sự thật về quan niệm hạnh phúc của mình.

Không những hạnh phúc như vậy mà khổ đau cũng như vậy. Giả tưởng là một ngày nào đó mình bị tai nạn xe hơi, mình sẽ đi giải phẩu và bị cụt một chân. Bây giờ chưa có tai nạn đó, nhưng mình nghĩ nếu cái tai nạn đó xảy ra cho mình thì chắc là mình chết quá. Mình mà cụt chân thì đâu còn gì là cuộc đời nữa. Hoặc là trong gia đình có một người thân chết đi thì làm sao mình sống nỗi. Thành ra mình tiên đoán thời tiết, nếu cái đó xảy ra cho mình, mình không sống nỗi. Sự thật là người ta sống được hết, tại vì thân và tâm của mình có khả năng thích ứng với hoàn cảnh. Cho dù cụt một chân mình vẫn sống được, vẫn có thể có được niềm vui. Dầu người mình thương nhất ở trong gia đình mất đi, mình đau khổ, nhưng thân và tâm mình học thích ứng được với hoàn cảnh, mình vẫn có thể sống được, la vie continue, sự sống vẫn tiếp tục được như thường. Mình phải trông thấy được điều đó. Thân và tâm của mình làm cho bình thường hóa, làm cho những cái excitement dịu xuống, làm cho những khổ đau dịu xuống.

Trong đạo Bụt có nói tới hỷ và lạc. Hỷ chưa phải là Lạc. Hỷ tức là niềm vui sắp được cái đó. Cũng như một người đi trong sa mạc, sắp chết khát rồi mà thấy được một cái hồ nước, thì tuy là chưa có uống nước nhưng mà đã có hỷ rồi, đã có niềm vui rồi. Trong hỷ có cái thao thức, có cái bồn chồn (exciting). Khi mình quỳ xuống bên bờ hồ vóc nước lên uống, lúc đó lạc phát sinh. Giữa hỷ và lạc có sự khác nhau. Trong lạc không còn cái thao thức, bồn chồn của lúc ban đầu. Đối với khổ đau cũng vậy. Mình chưa bị tai nạn, mình chưa mất người thương, mình chưa bị mù, nhưng nghĩ rằng mình có tai nạn, mình bị mù, mình mất người thương, thì mình sống không nỗi, mình đã bắt đầu khổ rồi, tuy là cái khổ chưa tới. Khi cái khổ tới rồi, thì thân và tâm mình sẽ vận động, sẽ hành động, và có thể thích ứng được. Đó là sự thật có thể kiểm chứng bằng những cuộc thí nghiệm, rất là khoa học.

Bây giờ áp dụng lại, quý vị có thể làm thử một bài tập là : Những cái gì mình nghĩ là rất thiết yếu cho cái hạnh phúc mà mình chưa đạt được, thì quý vị hãy gọi tên nó ra và viết xuống một tấm giấy. Mỗi người đều có quyền có ba lời ước : ‘Nếu mà tôi được cái này…, tôi được cái kia…, cái nọ…, là tôi có hạnh phúc.’ Viết xuống ba lời ước đó rồi quán chiếu coi thử. Đó là cái giây phút bây giờ mình có ba lời ước. Ai trong chúng ta mà không có ba lời ước. Và chúng ta hãy nhảy lui năm năm về trước. Chúng ta nhìn lại năm năm về trước, ba lời ước đó là ba lời ước nào, đã có lời ước nào đã được thực hiện chưa, nếu thực hiện rồi tại sao ta không có hạnh phúc ? Quý vị làm thử đi rồi sẽ thấy cái chân lý, cái sự thật bởi chính mình chứ không phải do một người nào khác trao truyền lại. Trong giây phút hiện tại, chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng nếu chúng ta có điều kiện này, thì hạnh phúc sẽ lớn lắm, đó là giây phút hiện tại. Rồi chúng ta đi về quá khứ, năm năm về trước hoặc mười năm về trước, chúng ta có những ước vọng gì, và những ước vọng đó đã thành tựu chưa. Một trong ba cái đã thành tựu chưa ? Giả dụ đã thành tựu rồi mình đang có hạnh phúc không, hay là cũng vậy thôi. Tiên đoán thời tiết là nếu ta có cái đó thì ta sẽ có hạnh phúc. Có vị nói : ‘Chà được qua bên Pháp, ở Làng Mai chắc là hạnh phúc lớn lắm.’ Ngày đêm trông ngóng, ngủ không được, ăn không được, làm sao có được chiếu kháng, hộ chiếu, lên được trên máy bay ngồi thao thức. Nhưng khi qua bên Làng Mai thì khóc quá chừng. Cái tiên đoán thời tiết đó trật lất. Cái đó gọi là forcasting. Forcasting errors là những cái lầm lỗi trong khi tiên đoán thời tiết. Chúng ta thấy trong quá khứ có nhiều khi ông weatherman tiên đoán thời tiết trật lất hết. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta tiên đoán hạnh phúc rất là trật, và chúng ta người nào cũng vấp phải. Hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc ở chỗ chúng ta có đang làm chuyện đó không ? Chúng ta đang có tiên đoán thời tiết hay không ? Chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có được trong tương lai khi mà những điều kiện đó được thực hiện, đó là cái bẫy của tất cả chúng ta. Câu hỏi đúng cần được đặt ra là: Nếu chúng ta không biết được cái gì làm cho chúng ta có hạnh phúc trong giây phút hiện tại, thì làm sao ta biết được những cái gì làm cho ta hạnh phúc trong tương lai ? Phải hỏi câu hỏi đó. Thành ra, mỗi chúng ta sẽ đặt câu hỏi trong giây phút hiện tại này, cái gì sẽ làm cho ta hạnh phúc. Đó là câu hỏi rất là thiết yếu. Mà cái gì đó có thể có thật hay không ? Có được liền hay không ? Nếu chúng ta không nhận diện được điều kiện có thể làm cho ta có hạnh phúc trong giây phút hiện tại, thì làm sao ta có thể tiên đoán được cái mà làm cho ta có hạnh phúc trong tương lai. Sự thật là trong hiện tại, mình không biết cái gì có thể làm cho mình có hạnh phúc được, nhưng mình phải biết cái gì đem lại hạnh phúc thật cho mình. Nếu biết được rồi thì có hạnh phúc liền lập tức. Hạnh phúc không phải là cái gì trong tương lai, hạnh phúc không phải là con đường, hạnh phúc không phải là cái gì có ở cuối đường nữa, mà hạnh phúc nằm ngay trên mỗi bước chân trên con đường. Ví dụ sư cô Minh Hương tự hỏi, trong giây phút hiện tại cái gì làm cho mình có hạnh phút ? Mình có thể thí nghiệm liền lập tức : Mì gói hay là có sư chị ngồi một bên. Những điều kiện đó mình cứ thử đi. Đó là sự thực tập. Chúng ta có thể tìm hiểu và thấy một cách rõ ràng. Nếu biết được cái gì có thể làm cho mình hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, thì mình có hạnh phúc liền. Không cần ngồi đó mà đau khổ, mà tiên đoán thời tiết là sau này ta sẽ có hạnh phúc nếu ta có cái này, cái kia. Cái Lạc này không phải là vấn đề tương lai, nó là vấn đề hiện tại.

Chúng ta mới nói tới vấn đề tiền tài, mua sắm, danh vọng, bằng cấp, địa vị, chúng ta chưa nói tới quyền lực. Có quyền thì có hạnh phúc. Mình ra lệnh thì người ta theo, mà mình không cần phải theo lệnh của ai hết. Đó là một cái hạnh phúc. ‘Có quyền ra lệnh, có quyền làm cái này cái kia, hạnh phúc rất là lớn’, mình nghĩ như vậy. Mình nghĩ đến tổng thống Bush, ông có quyền rất là lớn, tại vì ông làm tổng thống một nước rất là lớn. Mình có thể tưởng tượng ông tổng thống Bush ăn không ngon, ngủ không yên: cái đầu nằm ở Irac, cái đầu nằm ở Liên Hiệp Quốc, cái đầu nằm ở nước Pháp. Quyền lực rất là lớn, nhưng mà đau khổ cũng rất là lớn. Mình có thể thấy được những âu lo, ưu tư, những dằn vặt của ông tổng thống đó. Trong khi đó, bao nhiêu người thanh niên Mỹ đều ôm ấp là làm sao, sau này mình được làm tổng thống Mỹ. Người con trai Mỹ nào cũng ôm ấp cái ước vọng đó. Và cái tiên đoán thời tiết đó rất là trật. Còn chuyện sắc dục cũng vậy. Nếu được ngủ với anh chàng đó, nếu được ngủ với cô nàng đó, chắc là hạnh phúc lắm. Nhưng mà đi tới đó rồi sẽ biết. Tất cả những việc làm của chúng sanh là ngồi đó mà tiên đoán, mà ước mơ những điều kiện. Thường thường những tiên đoán đều trật, không trật hoàn toàn nhưng có thể trật hai phần ba, hoặc là hơn hai phần ba.

Mỗi khi mình có điều kiện hạnh phúc đó rồi, ví dụ như là một cái danh vọng, một cái bằng cấp, một cái địa vị, hay là một số tiền lớn, mình vẫn tiếp tục đau khổ như thường. Những cái đó ban đầu cho mình những cái ‘exiting’, nhưng sau đó thân và tâm mình chấp nhận và biến nó thành ra bình thường, và nó hết trở thành một điều kiện của hạnh phúc. Đó là sự thật. Trong đời của một con người, dầu mới có hai mươi mấy tuổi, mình cũng đã thấy điều đó đã xảy ra trong quá khứ của đời mình rồi, mình cần phải học từ những cái đó.

Năm cánh tỏa kỳ hương

(Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 14.02.1999)

 

 

Hôm nay chúng ta học về Nghi thức chúc tán Tổ Sư. Xin quý vị mở cuốn Nhật tụng Thiền môn. Nghi thức Chúc Tán này hướng về các vị Tổ Sư tức là tổ tiên tâm linh của chúng ta. Sư là thầy. Các vị Tổ Sư tức là các bậc thầy trong quá khứ thuộc về nhiều thế hệ. Nghi thức này xưa nay chỉ được sử dụng trong thiền môn. Nhưng lễ Chúc Tán Tổ Sư chưa bao giờ được tổ chức tại gia đình. Theo tôi thì chúng ta cũng có thể áp dụng nghi thức Chúc Tán Tổ Sư trong phạm vi gia đình, tại vì người cư sĩ cũng có tổ tiên tâm linh của họ.

Trong ta có sự có mặt của tổ tiên huyết thống. Ông bà tổ tiên của bao nhiêu thế hệ đã đi trước đều đang có mặt trong ta từng giây từng phút và chúng ta là sự tiếp nối của các vị. Điều này cũng đúng đối với phương diện tâm linh, bởi vì trong ta có sự có mặt của Bụt và của các vị Tổ Sư từ thầy Ca Diếp cho đến Thầy của chúng ta. Khi ta được Thầy trao truyền chánh pháp, ta biết rằng sự trao truyền đó đã tới từ tất cả những thế hệ tổ tiên tâm linh. Và nếu sự trao truyền và tiếp nhận thành công thì trong mỗi tế bào của ta đều có sự có mặt của Bụt và của các vị Tổ Sư. Sự có mặt của các vị tổ tiên tâm linh cũng hiện thực rõ ràng như sự có mặt của tổ tiên huyết thống. Tất cả những tuệ giác, hạnh phúc, kinh nghiệm và tình thương của các thế hệ tổ tiên tâm linh cũng được trao truyền cho ta. Ta phải biết trân quý và sử dụng gia tài quý báu đó. Nhìn vào cách sống, cách hành xử của các sư anh, sư chị và sư em của ta, ta cũng thấy được sự trao truyền nếp sống tâm linh đó và ta thấy rõ ràng họ là sự tiếp nối của Bụt, của chư Tổ qua các thời đại và của Thầy. Thấy được như vậy rồi thì ta cảm nhận có một sự liên hệ giữa ta với sư anh, sư chị và sư em của ta, từ đó ta có sự giao cảm, liên đới, đoàn kết và hiểu biết và ta quyết tâm thiếp lập và xây dựng Tăng thân để làm chỗ nương tựa cho hải chúng mười phương.

Tiếp xúc với chiều dọc đồng thời cũng là tiếp xúc với chiều ngang. Chiều dọc là biểu tượng của hai dòng sinh mạng tổ tiên tâm linh và huyết thống và chiều ngang là biểu tượng của dòng sinh mạng của mọi người và mọi loài có mặt cùng thời với ta giờ này trong giây phút hiện tại. Tất cả đều là tổ tiên của ta và anh chị em của ta. Ta là một với họ. Nếu ta thất bại trong sự tiếp xúc với chiều dọc thì ta sẽ thất bại trong sự tiếp xúc với chiều ngang và nếu ta đã thất bại trong sự tiếp xúc với chiều ngang thì đó cũng có nghĩa là ta cũng đã thất bại trong khi tiếp xúc với chiều dọc. Sự thật là như vậy. Khi ta giận hờn người anh, người chị hoặc người em của ta và ta muốn bỏ đi, hoặc khi liên hệ giữa ta với họ có khó khăn thì ta biết rằng liên hệ giữa ta với tổ tiên tâm linh của ta cũng đã không thành công. Sự thất bại của cái này chứng tỏ sự thất bại của cái khác. Nếu ta thực sự tiếp xúc được với tổ tiên tâm linh, thì ta sẽ không có khó khăn gì trong sự tiếp xúc, xây dựng sự truyền thông với những người bạn đồng tu trong Tăng thân. Đây là điểm rất quan trọng mà chúng ta phải đem ra quán chiếu để thực tập.

Sau khi xướng kệ dâng hương xong, ta xướng tiếp bài Chúc Tán Tổ Sư.

Một đóa hiện linh thoại
Năm cánh tỏa kỳ hương
Pháp tạng trao truyền từ Tây Vức
Tâm tông nối tiếp ở Đông Phương
Xin các thế hệ cao tăng
Trong niết bàn diệu tâm
Cao tọa pháp bảo đàn
Với tuệ giác siêu trần
Đưa mắt nhìn xuống đàn cháu con
Đem lòng thương chứng giám:

Các thế hệ tổ sư đã mở rộng con đường thảnh thơi và vững chãi
Làm khuôn thước và suối nguồn cho các thế hệ tương lai
Chúng con đây là tăng thân chùa ….., quận …..,
tỉnh ……, nước Việt Nam
Hôm nay ngày kỷ niệm Sư Tổ …..
Tập họp bốn chúng
Đi lên tổ đường và bảo điện
Thiền tọa công phu
Phúng tụng kinh văn
Xưng dương công hạnh của liệt vị tổ sư
Đem hết lòng thành kính ngưỡng
Mong tỏ lộ được niềm biết ơn thầm kín của chúng con.

Chúng con kính lạy các vị Bồ tát tổ sư
Tây Phương và Đông Độ
Hòa thượng khai sơn bổn tự
Tất cả các thế hệ cao tăng đi trước
Đã khai đường mở lối cho đàn hậu tiến chúng con
Xin nguyện nỗ lực tiến tu
Chuyển hóa phiền não
Nuôi dưỡng bồ đề
Làm cho tông phong mãi mãi được chấn chỉnh
Tổ ấn càng ngày càng rạng rỡ quang huy
Hoa giác ngộ nở khắp trong thiền lâm
Mưa diệu pháp thấm nhuần nơi học địa
Đệ tử chúng con nhớ ơn huấn giáp của liệt vị tổ sư
Nguyền chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau
Thương yêu nhau như con một nhà
Cho tăng thân lớn mạnh
Cho hạnh phúc vững bền
Làm chỗ nương tựa cho hải chúng mười phương
Nguyền noi gương các bậc tổ sư như Ca Diếp, A Nan, Long Thọ, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân, Nghĩa Huyền, Liễu Quán
Cùng các bậc long tượng trong sơn môn
Các bậc có tâm chí đại hành
Các bậc Bồ Tát Ma Ha Tát.
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

Một đóa tức là một bông hoa, một đóa hoa. Linh Thoại tiếng Bắc là linh thụy, đó là tên của hoa Ưu Đàm hay Ưu Bát Đa La (udumbara)- hoa Ưu Đàm mấy ngàn năm mới nở một lần, vì vậy người ta ví Bụt như hoa Ưu Đàm, lâu lắm mới nở trong vườn hoa nhân loại. Sự xuất hiện của một bậc giác ngộ hoàn toàn như Bụt là điềm rất hiếm có; cũng như hoa Linh Thoại, mỗi ba ngàn năm mới nở một lần. Bây giờ đã 2600 năm rồi và có người nghĩ là 400 năm nữa chúng ta sẽ có một đóa hoa Ưu Đàm mới, một vị Bụt mới.

Một đóa hiện linh thoại tức là Bụt, là Thế Tôn, là đấng giác ngộ cao tột đã xuất hiện trên đời. Năm chữ trong câu này đưa ra một hình ảnh rất đẹp. Năm cánh tỏa kỳ hương, là đóa hoa ấy có năm cánh và năm cánh đó tỏa ra mùi hương rất kỳ diệu. Kỳ tức là lạ lùng, mầu nhiệm. Năm cánh này chỉ cho năm tông phái thiền đã tiếp nối được dòng tuệ giác của Bụt. Đây là lời xưng tụng truyền thống của các phái thuộc về thiền tông. Ở Trung Quốc có năm phái thiền; và người Trung Quốc thường đồng nhất năm phái thiền đó với năm cánh của bông hoa. Đó là các thiền phái Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng và Vân Môn. Năm phái thiền này rất nổi tiếng ở Trung Quốc trong đó phái Lâm Tế và phái Tào Động là hai phái mạnh nhất. Hai phái này đã được truyền sang Nhật Bản và Cao Ly và cũng có truyền sang Việt Nam. Ở Việt Nam chúng ta cũng có năm phái thiền và trong năm phái thiền của Việt Nam cũng có yếu tố của các phái Lâm Tế và phái Tào Động. Nhưng năm phái thiền ở Việt Nam không phải là năm phái thiền của Trung Quốc. Vì vậy chúng ta có cùng một câu tán dương là một đóa hiện linh thoại, năm cánh tỏa kỳ hương.

Phái thiền được thành lập đầu tiên ở Việt Nam là phái thiền Tăng Hội. Phái thiền này được thiết lập vào thế kỷ thứ III. Còn các phái thiền như phái Lâm Tế và phái Tào Động thì mới được du nhập từ thế kỷ thứ XII trở về sau. Tổ Bồ Đề Đạt Ma qua Trung Quốc vào thế kỷ thứ V; nhưng vào thế kỷ thứ III, tại Việt Nam thiền sư Tăng Hội đã lập được phái thiền đầu tiên rồi, tức là trước tổ Bồ Đề Đạt Ma gần ba trăm năm. Điều lạ lùng nhất là Sư Tổ Tăng Hội không phải là một vị tăng sĩ từ Ấn Độ đi sang mà đã được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Tăng Hội là đứa con lai giữa một người cha gốc Bắc Ấn và một người mẹ Việt Nam. Ngày xưa tổ tiên của thầy Tăng Hội sống ở một nước miền Bắc Ấn Độ gọi là nước Khương Cư (Sogdian). Thân phụ của thầy Tăng Hội là một nhà buôn trẻ sinh ra ở miền Nam Ấn Độ chứ không phải sinh ra ở nước Khương Cư. Ông cùng đi với các thương gia khác tới Việt Nam và thấy đất Việt rất dễ chịu cho nên đã ở lại và định cư tại đó. Người thương gia trẻ đó đã cưới một người thiếu nữ Việt Nam và đã sinh được một đứa con. Khi đứa con vừa mới lên mười một tuổi thì cả cha mẹ đều qua đời. Đứa bé đã đi vào chùa sống, tu tập và sau này đã trở thành một vị cao tăng rất lỗi lạc tên là Tăng Hội.

Thiền sư Tăng Hội sống vào nửa đầu thế kỷ thứ III, vì vậy chúng ta biết rằng Đạo Bụt đã được truyền sang Việt Nam từ Ấn Độ trước thầy Tăng Hội và tới đời thầy Tăng Hội, Việt Nam mới bắt đầu có một thiền phái. Phái thiền này không phải là đã được truyền từ Ấn Độ sang mà đã được thầy Tăng Hội sáng lập. Đạo Bụt sang Việt Nam vào khoảng thế kỷ đầu. Trong thế kỷ thứ II, chúng ta có những nhân vật như Mâu Bác – Mâu Bác có thể là một trong những giáo sư của thầy Tăng Hội. Thầy Tăng Hội là người đã lập ra một môn phái thiền đặc biệt sử dụng các kinh thiền nguyên thỉ nhưng sử dụng theo tinh thần Đại Thừa. Ví dụ kinh An Ban Thủ Ý là một kinh Nguyên Thỉ, nhưng đã được thầy Tăng Hội giảng theo tinh thần Đại Thừa. Câu đầu tiên mà thiền sư Tăng Hội viết trong bài tựa là: An Ban Thủ Ý là cỗ xe lớn (Đại Thừa) mà các vị Bụt dùng để cứu độ cho chúng sanh đang lênh đênh chìm nổi. Câu này rất hay tại vì trong lúc chúng ta đang lênh đênh chìm nổi trong biển sầu, thương, giận, ghét ghen mà chỉ cần biết thở vào, thở ra có chánh niệm thôi thì tự nhiên chúng ta không còn bị lênh đênh chìm nổi nữa. Đó là sự thực tập tại đạo tràng Làng Mai. Phép thực tập ở Làng Mai đã theo sát với truyền thống của thiền tông Việt Nam ngay từ lúc ban đầu, và đã sử dụng những kinh điển nguyên thỉ nhưng đã nhìn với con mắt của Đại Thừa.

Sách Thiền Uyển Tập Anh (Uyển tức là khu vườn thiền, Tập tức là gom lại, Anh tức là đẹp; là sự tập hợp những bông hoa đẹp nhất từ trong vườn thiền) nói rằng tới đời Trần, tức là vào khoảng thế kỷ thứ XII, phái thiền Tăng Hội vẫn còn hiện hành và người đại diện cho thiền phái đó là thiền sư Lôi Hà Trạch. Tăng Hội không phải chỉ là tên của một vị thiền sư mà cũng là tên của một thiền phái và thiền phái đó do người Việt sáng lập chứ không phải là một thiền phái được đem từ Ấn Độ hoặc Trung Quốc sang.

Tới thế kỷ thứ VI chúng ta có một thiền phái thứ hai xuất hiện, đó là thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) là người Ấn Độ. Thầy đã sang Trung Quốc và lưu trú ở đó khoảng hai năm. Trong thời gian tu tập và hành đạo tại Trung Quốc, Thầy đã gặp tổ Tăng Xán, tức là người kế thừa tổ Bồ Đề Đạt Ma. Thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi được gặp gỡ tổ Tăng Xán và sau đó Thầy đi về miền Nam và cư trú tại chùa Pháp Vân. Ở đây Thầy đã sáng lập ra phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi như vậy không hẳn là do từ Trung Quốc truyền vào mà là từ Ấn Độ truyền sang. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi có ảnh hưởng tư tưởng của Mật Giáo. Thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã ở tại chùa Pháp Vân, thủ đô Giao Châu ngày xưa. Thầy đã dịch nhiều kinh thuộc về Mật Giáo, cho nên phái thiền của thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi là một tổng hợp giữa Thiền và Mật Tông. Chúng ta có thể nói rằng phái thiền thứ hai của Việt Nam là một phái thiền từ Ấn Độ truyền sang, tại vì chi tiết Thầy có gặp tổ Tăng Xán ở Trung Quốc tuy được ghi chép nhưng không có gì quan trọng. Chuyện tổ Tăng Xán bảo thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi phải đi về phương Nam để hành đạo có thể là do người đời sau thêm vào để cho rằng phái thiền này cũng có gốc gác Trung Quốc. Chúng ta biết rằng Giao Châu thời bấy giờ là một nước nhỏ, cho nên cái gì xảy ra ở Trung Quốc mới được xem là quan trọng.

Đến thứ kỷ thứ IX, có một thiền sư tên là Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc qua Việt Nam và thành lập một phái thiền thứ ba tên là Vô Ngôn Thông. Vô Ngôn Thông nghĩa là sự truyền thông siêu việt cả ngôn từ và lời nói. Thầy Vô Ngôn Thông có liên hệ với tổ Bách Trượng, tức là vị tổ đã sáng lập ra những thanh quy rất nổi tiếng gọi là Bách Trượng Thanh Quy. Tổ Bách Trượng cũng là người chủ trương rằng làm việc chấp tác cũng là tu như làm vườn, tưới rau, cày ruộng… Bất tác bất thực là câu châm ngôn của tổ Bách Trượng. Một hôm có một vị thủ tọa thấy Tổ già yếu rồi mà ngày nào cũng vác cuốc ra làm việc, thấy thương quá nên đem giấu cái cuốc của Tổ đi để Tổ khỏi phải ra ngoài vườn trồng rau nữa. Hôm đó vì không có cuốc để đi làm việc thành ra Sư Tổ không chịu ra ăn cơm. Vị Thủ Tọa đến hỏi: Bạch Hòa Thượng, sao hôm nay Ngài không ra dùng cơm? Sư Tổ đáp: Hôm nay tôi không được làm việc nên tôi không ăn cơm (Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực). Bất tác bất thực từ đó đã trở thành một câu châm ngôn nổi tiếng. Từ truyền thống đó ta bắt đầu có một mẫu mực tổ chức thiền viện gọi là nông thiền, tức là những trung tâm tu học trong đó mọi người đều làm việc như cày ruộng, làm vườn, trồng trọt. Làm việc là để sản xuất nhưng cũng là tu tập, nghĩa là phải có chánh niệm trong khi làm chứ không phải chỉ là để tăng gia sản xuất mà thôi. Cố nhiên theo tinh thần nông thiền chúng ta phải trồng trọt như thế nào đó để tránh gây tổn hại tới sinh mạng của các loài chúng sanh và đất đai.

Vào thế kỷ thứ XI, ta lại có một phái thiền khác được thành lập, đó là phái thiền Thảo Đường. Thiền sư Thảo Đường là vị tổ đã sáng lập ra thiền phái này. Đây là một thiền phái mang nhiều tính chất trí thức. Thiền sư Thảo Đường là một thi sĩ, một nhà văn rất lỗi lạc. Văn chương và thơ phú của Thầy rất hay. Thầy Thảo Đường đến Đại Việt từ nước Chàm (Champa). Nhưng trước đó Thầy đã từ Trung Quốc tới nước Chàm, rồi từ nước Chàm mới qua Đại Việt. Thời đó Champa còn là một lãnh thổ riêng. Ngày xưa miền Nam Việt Nam được chia ra hai phần; một phần là đất Champa và một phần là đất Thủy Chân Lạp. Giữa hai nước Đại Việt và Champa thường có những cuộc tranh chấp về biên giới và người Chàm là những người chiến sĩ rất hùng dũng, họ có hải quân rất tài giỏi và thường đem hải quân sang đánh phá nước ta. Có lần họ đem hải quân ra tới Thăng Long và đánh chiếm được cả thủ đô Đại Việt. Vì vậy giữa hai nước thường có những tranh chấp và ở biên giới không có ngày nào được yên ổn. Cho nên vào đời Lý, ở thế kỷ thứ XI, vua Lý đã đem quân sang đánh Chiêm Thành và đã bắt đem về một số tù binh. Vua đem chia các tù binh đó cho mỗi quan trong triều để sử dụng như là những người giúp việc trong nhà. Chúng ta nên nhớ rằng đây không phải là chế độ bắt người làm nô lệ vì nước Việt Nam ta chưa bao giờ có chế độ nô lệ.

Hồi đó, ở triều đại nhà Lý có chức quan gọi là Tăng lục. Tăng lục là một vị quan trông coi văn phòng giữ hồ sơ của tất cả các tăng sĩ và sự phát triển của Phật Giáo qua các niên đại. Vị quan này thường phải là người am tường về Phật pháp. Vị Tăng lục cũng đã nhận được một người tù binh để giúp chăm lo việc nhà. Một hôm vào triều chầu vua về ông thấy bản thảo viết về lịch sử Phật Giáo của mình ở trên bàn bị một người nào chữa lại rất đặc. Ông giận dữ và tìm hỏi cho ra kẻ đã to gan chữa bản thảo của ông. Người tù binh đó đã thú nhận là mình đã tự ý sửa chữa. Ông quan Tăng lục vừa ngạc nhiên vừa khâm phục. Sau khi tra hỏi và chuyện trò một hồi thì ông mới khám phá ra rằng người tù binh mà vua trao tặng cho mình là một vị thiền sư. Vị thiền sư này đã từ Trung Quốc đi qua Champa để hoằng pháp độ sanh, nhưng không may trong thời cuộc chiến tranh đã bị bắt làm tù binh và cuối cùng đã bị chia cho vị Tăng lục để giúp việc nhà. Văn chương đã giỏi hơn vị Tăng lục, mà Phật pháp còn uyên thâm hơn. Trong khi quan tăng lục đi vắng người giúp việc kia (thiền sư Thảo Đường) đã có cơ hội đọc trộm bản thảo ở trên bàn, đã thấy rằng những điều ghi chép trong bản thảo đó có nhiều chỗ sai lầm và người giúp việc kia đã tự ý chữa những chỗ sai lầm đó. Vị Tăng lục đi công tác về, nhìn vào bản thảo, chợt giật mình vì thấy rằng người chữa bản thảo là một nhân tài, là một người có kiến thức về Phật Pháp rất thâm uyên và văn chương lưu loát. Vị Tăng lục đã đem mọi việc tâu lên vua. Biết được điều ấy, vua cho mời vị tù binh vào chầu và sau một cuộc đối đáp vua khám phá ra rằng đây không phải là một tên tù binh mà là một vị thiền sư. Thiền sư đã đối đáp rất hay và rất thông suốt khiến cho vua hết sức khâm phục và vua đã tôn thiền sư làm thầy của mình, làm vị Quốc Sư. Đây là sự kiện làm cho chúng ta cảm phục và hãnh diện vì thái độ cởi mở biết cầu hiền của cha ông chúng ta. Một vị hoàng đế đã dám cả gan tôn một tên tù nhân của mình làm thầy và đưa kẻ đó lên làm vị Quốc Sư cho cả nước. Và từ đó chúng ta có thêm một thiền phái nữa, gọi là thiền phái Thảo Đường. Sau này phần nước Chàm được sát nhập vào nước Việt, và hiện bây giờ nếu đi về những tỉnh như Khánh Hòa, Phan Rang và Phan Thiết thì chúng ta còn thấy những di tích của văn hóa Chàm và những làng của người Chàm đang ở. Thiền phái Thảo Đường tuy thế đã không phát triển mạnh vì thiền phái này gồm toàn những người trí thức, trong đó có vua và quan.

Đến thế kỷ thứ XIII, chúng ta lại có một thiền phái khác nữa do người Việt thành lập, đó là thiền phái Trúc Lâm. Người thành lập phái này là thiền sư Hiện Quang. Phái Trúc Lâm sau này có một ông vua đi tu, tên là vua Trần Nhân Tông được chính thức nhìn nhận là tổ thứ nhất của thiền phái. Sau đó có các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, và phái Trúc Lâm này được tiếp nối mãi cho đến ngày nay. Núi Yên Tử là nơi xuất phát của thiền phái Trúc Lâm này.

Thiền phái Lâm Tế đã được truyền vào sau đó từ thời Tống. Vua Trần Thái Tông là đệ tử của thiền sư Hiện Quang là một trong những người đầu tiên tiếp nhận trao truyền từ thiền phái Lâm Tế. Sau này một số đông trong chúng ta đều đã tiếp nhận nguồn năng lượng của thiền phái Lâm Tế, nhưng trước đó chúng ta vẫn thuộc về các thiền phái của bản xứ rồi.

Những thiền phái ở Trung Quốc đi vào giống như những dòng sông khác đổ vào trong những dòng sông đã có sẵn. Năm thiền phái Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Trúc Lâm là năm thiền phái Việt Nam. Các thiền phái này được tập hợp thành một dòng sông, và các dòng Lâm Tế và Tào Động từ Trung Quốc đi qua đã chảy vào trong dòng sông lớn đó.

Trong khi chúng ta xướng

Một đóa hiện linh thoại
Năm cánh tỏa kỳ hương

Thì ta nghĩ tới năm thiền phái ở Việt Nam, nhưng khi người Trung Quốc đọc năm cánh thì họ nghĩ tới năm thiền phái ở Trung Quốc. Chúng ta phải nhớ điều đó.

Vào đời Trần, thế kỷ thứ XIII, các thiền phái Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Trúc Lâm có khuynh hướng tìm tới với nhau thành một nền Phật giáo thống nhất để không có sự kỳ thị giữa các tông phái khác nhau nữa, và vì vậy cho nên thời đại Trần Thái Tông chúng ta đã có một vị quốc sư tên là Nhất Tông Quốc Sư. Năm thiền phái hợp chung với nhau như là một dòng sông và chính trong dòng sông đó mà các dòng Lâm Tế và Tào Động đã đi vào. Phật giáo nhất tông là Phật giáo thống nhất. Trong thế kỷ XX, chúng ta có một giáo hội gọi là Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất. Chuyện này không phải là chuyện mới, đó chỉ là sự tiếp nối tinh thần thống hợp các tông phái lại để tu chung với nhau, làm việc chung với nhau. Tinh thần này đã có từ đời Trần. Nhất Tông Quốc Sư, Phật Giáo Nhất Tông, những cái tên rất hay.

Những tài liệu này về Phật Giáo Việt Nam, hiện bây giờ, trên thế giới còn ít người biết, vì vậy chúng ta phải cố gắng phiên dịch các cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận ra Anh văn. Chúng ta phải cố gắng phổ biến những tài liệu đó cho quốc tế biết, tại vì nhiều người còn nghĩ rằng Phật Giáo Việt Nam chỉ là Phật Giáo truyền vào từ Trung Quốc và vì thiền Việt Nam chẳng qua chỉ là thiền Lâm Tế, thiền Tào Động. Phật Giáo Việt Nam có tiếp nhận từ Phật Giáo Trung Quốc nhưng trước đó đã trực tiếp tiếp nhận từ Phật Giáo Ấn Độ.

Pháp tạng trao truyền từ Tây Vức
Tâm tông nối tiếp ở Đông Phương

Pháp tạng tức là kho tàng chánh pháp. Kho tàng chánh pháp đã được trao truyền từ Tây Vức. Tây Vức hoặc là Tây Vực là chỉ cho Ấn Độ. Tâm tông là tông phái của trái tim, ám chỉ thiền tông, tại vì thiền tông là một tông phái truyền từ trái tim này tới trái tim khác. Gọi là dĩ tâm ấn tâm. Lấy trái tim để mà in vào trong trái tim. Nối tiếp tức là chưa bao giờ bị đứt đoạn. Dòng tổ tiên tâm linh của chúng ta chưa bao giờ bị đứt đoạn.

Xin các thế hệ cao tăng
Trong niết bàn diệu tâm
Cao tọa pháp bảo đàn
Với tuệ giác siêu trần
Đưa mắt nhìn xuống đàn cháu con
Đem lòng thương chứng giám

Những câu này có mục đích gọi tên, giúp ta hướng về các thế hệ cao tăng và xin các nhìn lại đàn cháu con để chứng giám cho lòng thành của con cháu. Chúng ta xin các vị tổ tiên tâm linh nhìn xuống chúng ta nhưng kỳ thực chúng ta đang thực tập nhìn về tổ tiên tâm linh. Tổ tiên tâm linh đang cao tọa pháp bảo đàn tức là đang ngồi trên cao, trên đài cao của pháp bảo. Có một kinh gọi là Pháp Bảo Đàn. Chỗ ngồi của quý vị tức là cái đàn chánh pháp. Các ngài ngồi trong niết bàn diệu tâm tức là ngồi trong bản môn và có trái tim rất mầu nhiệm. Các ngài có tuệ giác siêu trần, siêu trần tức là vượt thoát khỏi những tư duy và ham muốn của cuộc đời hệ lụy.

Các thế hệ tổ sư đã mở rộng con đường thảnh thơi và vững chãi

Công nghiệp của các ngài là mở rộng con đường thảnh thơi và vững chãi. Con đường đó ngày xưa còn nhỏ và hẹp nhưng nhờ các ngài con đường đã trở thành xa lộ, đi rất là mau và rất dễ.

Làm khuôn thước và suối nguồn cho các thế hệ tương lai

Khuôn thước tức là những quy tắc, thanh quy và pháp môn rõ ràng, có hiệu quả. Suối nguồn cho các thế hệ tương lai. Chúng ta là những người uống nước và biết rằng sở dĩ có nước là tại vì có suối, có nguồn, có sông.

Chúng con đây là tăng thân Chùa Làng Mai, quận Duras, tỉnh Lot et Garonne, nước Pháp
Hôm nay nhân ngày kỷ niệm Sư Tổ Huệ Minh
Tập họp bốn chúng
Đi lên tổ đường và bảo điện

Bốn chúng gồm có người xuất gia nam, người xuất gia nữ, người cư sĩ nam và người cư sĩ nữ. Tổ đường tức là nơi thờ Tổ, bảo điện tức là nơi thờ Bụt, Bụt cũng là Tổ nhưng chúng ta lại có Phật đường và Tổ đường. Nếu chùa chưa có tổ đường thì chúng ta phải xây cất tổ đường, nếu chùa chưa có Phật đường thì chúng ta phải xây Phật đường. Nếu chưa có tăng đường thì ta xây dựng tăng đường. Trong chùa phải có Phật đường, pháp đường, tổ đường và tăng đường. Trong sự thực tập của chúng ta tiếp xúc với tổ tiên là một pháp môn hành trì rất quan trọng. Nếu không tiếp xúc được với Tổ thì chúng ta cũng không tiếp xúc được với anh, chị, em trong tăng thân của chúng ta.

Tập họp bốn chúng
Đi lên tổ đường và bảo điện
Thiền tọa công phu
Phúng tụng kinh văn
Xưng dương công hạnh của liệt vị tổ sư
Đem hết tâm thành kính ngưỡng
Mong tỏ lộ được niềm biết ơn thầm kín của chúng con

Những câu này chúng ta đã được học ở trong bài Chúc Tán kỳ trước cho nên ở đây khỏi nghe giảng lại.

Chúng con kính lạy các vị
Bồ Tát tổ sư
Tây Phương và Đông Độ

Các vị tổ sư đều là những vị bồ tát tại vì các vị đã mở rộng con đường thảnh thơi và vững chãi. Tây Phương ở đây có nghĩa là Ấn Độ, Đông Độ là những vùng đất về phương Đông, Đông có nghĩa là đối với Tây. Đông tức là Trung Quốc và Việt Nam, còn Tây nghĩa là Ấn Độ.

Hòa thượng khai sơn bổn tự

Ngày chúc tán chúng ta cũng phải nghĩ tới vị cao tăng lập ra đạo tràng này, gọi là hòa thượng khai sơn bổn tự. Công trình khai sơn chùa Làng Mai không phải là công trình của một người. Tất cả chúng ta đều là hòa thượng khai sơn bổn tự.

Tất cả các thế hệ cao tăng đi trước

Người mà chúng ta tiếp xúc dễ dàng nhất là người đã sáng lập ra trung tâm tu học trong đó ta đang thực tập. Rồi qua vị đó ta tiếp xúc với tất cả các thế hệ cao tăng đi trước.

Đã khai đường mở lối cho đàn hậu tiến chúng con
Chúng con là những đàn hậu tiến, những thế hệ đi sau.
Xin nguyện nỗ lực tiến tu

Nỗ lực là đem hết sức mình, tiến tu là tu hành có tiến bộ.

Chuyển hóa phiền não
Nuôi dưỡng bồ đề
Làm cho tông phong mãi mãi được chấn chỉnh
Tổ ấn càng ngày càng rạng rỡ quang huy.

Ở đây có hai chữ tông phong và tổ ấn. Tông phong là phong thái của truyền thống mình, cách thức sống, làm việc, vẻ đẹp của cách sống hàng ngày, vẻ đẹp của cách thức chấp trì công việc và giải quyết mọi vấn đề. Tổ ấn nghĩa là khuôn dấu của tổ, chứng minh rằng chúng ta thuộc về truyền thống đó một cách đích thực, có đầy đủ nội dung chứ không phải là chỉ có danh từ mà thôi. Nhìn vào cách đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc và cách hành xử của chúng ta với nhau, người ta thấy được Tổ ấn, chứ không phải Tổ ấn chỉ là khuôn dấu in trên một tấm giấy chứng chỉ hoặc giới điệp. Tổ ấn có thể được nhìn thấy trong cách chúng ta sống với nhau giữa anh chị em, có sự thương yêu, nhường nhịn, có hạnh phúc, có hòa thuận, có vững chãi và thảnh thơi. Chúng ta thấy được cái ấn của Tổ trong mỗi bước chân, trong mỗi cách hành xử. Tổ ấn rất thơm tho, đẹp đẽ và quý giá.

Tông phong được mãi mãi chấn chỉnh.

Chấn chỉnh có nghĩa là vững mạnh hơn, hùng vĩ hơn, đẹp đẽ hơn. Quang huy tức là sáng rỡ. Quang là ánh sáng, huy là rạng rỡ, sáng chói.

Hoa giác ngộ nở khắp trong thiền lâm
Mưa diệu pháp thấm nhuần nơi học địa

Làm thế nào để cho ở chốn rừng thiền chỗ nào cũng thấy bừng nở những đóa hoa giác ngộ, hoa giác ngộ thấy nơi sư anh, nơi sư chị, nơi sư em. Mưa diệu pháp thấm nhuần nơi học địa. Học đây có nghĩa là tu tập, chứ không phải là tiếp thu và trao truyền kiến thức. Học địa là trung tâm thực tập. Trong chốn học địa ngày nào cũng có mưa pháp rơi xuống để thấm nhuần những hạt giống của thương yêu, của hiểu biết, của giác ngộ.

Đệ tử chúng con nhớ ơn giáo huấn của liệt vị tổ sư
Nguyền chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau
Thương yêu nhau như con một nhà

Đây là sự cam kết của chúng ta đối với chư Tổ. Tiếp xúc được với chư Tổ mà thành công thì ta tiếp xúc được với nhau thành công. Cho nên chiều dọc và chiều ngang liên hệ với nhau. Không thương được anh, thương được em, thương được chị có nghĩa là mình chưa kính được Tổ. Chấp nhận nhau tại vì người kia có những yếu kém mà ta có thể chấp nhận được. Còn nếu người kia có yếu kém mà ta muốn đẩy người kia đi hay là ta bỏ đi là ta đã thất bại hoàn toàn trong sự tiếp xúc với các vị Tổ sư. Chấp nhận nhau, thương yêu nhau như con một nhà là sự thực tập hàng ngày của chúng ta.

Tại Làng Mai, sự thực tập của chúng ta được hướng về liên hệ giữa người với người. Chúng ta tin rằng sự chuyển hóa chỉ có thể xảy ra khi ta có cơ hội sống chung với những người khác. Khi sống chung với những người khác thì những vụng về, dại dột hoặc khó khăn trong liên hệ giữa con người với con người xảy ra. Ta sẽ thấy những tâm hành như buồn, giận, ganh, nản, v.v.. phát hiện. Còn nếu ta đóng cửa lại sống một mình trong thất hay trong hang núi năm năm hoặc ba năm thì làm gì có cơ hội để cho những tâm hành như vậy phát hiện. Tu tập chánh niệm để có thể nhận diện những tâm hành tiêu cực trong ta. Nhận diện xong rồi nhìn sâu vào trong bản chất của những tâm hành đó để mà chuyển hóa, dùng sức của cá nhân và lợi dụng tuệ giác cùng sự yểm trợ của tăng thân mà chuyển hóa những phiền giận, ganh tỵ ở trong ta. Thực tập không phải là vấn đề cá nhân, sự thực tập phải xảy ra ở trong chúng. Cho nên nếu ta thất bại trong liên hệ hàng ngày giữa anh em trong chúng là ta đã thất bại trong sự thực tập. Ta sống không vui với sư anh và sư em, điều đó chứng tỏ ta thất bại và cũng chứng tỏ rằng tăng thân chưa thành công trong sự giúp đỡ cho ta. Nếu quả thật ta đã chấp nhận được các vị tổ sư là tổ sư của mình thì ta phải cố gắng để có thể chấp nhận được người chị hay là người em của chúng ta. Ta không thể nói rằng: Tại vì chị hay em không tu, không làm đúng như sự mong ước của tôi cho nên tôi không còn liên hệ gì ở đây nữa, tôi muốn đi. Chỉ có tôi mới có lý tưởng, có từ bi thôi, chị không có lý tưởng và từ bi, chị chỉ có thể làm một người quản lý doanh nghiệp thôi, chị không thể nào đóng vai trò của người sư chị hay người sư em được. Nói như vậy là ta chịu thua, ta thất bại, tại vì người anh, người chị kia cũng là ta, là tăng thân của ta, mà nếu ta không làm gì được để giúp người đó, không liên hệ được với người đó, không nói chuyện được với người đó thì sự thực tập của ta đã thất bại. Ta không thể nói chỉ có ta mới thật tâm phụng sự cho chúng, không thể nói chỉ có ta mới có lòng từ bi. Tại vì sự thực là trong chúng, người nào cũng đang làm hết sức mình để mà phụng sự cho đại chúng, mỗi người một cách khác nhau nhưng ai cũng có làm. Có thể người kia làm cách khác và mình làm cách khác và nếu ta nghĩ rằng có thể có cách làm hay hơn thì ta phải biết thiết lập một cuộc đối thoại với người kia để có thể bàn bạc. Khi người kia làm những điều có thể gây ra những thương tích trong ta và trong đại chúng thì ta phải tự hỏi: Tại sao người ấy lại làm như vậy? Tại sao người ấy lại không làm được hay hơn? Ta phải hiểu rằng cái gì cũng có nguyên do. Trong đó có nguyên do là ta chưa bao giờ giúp người ấy cả, ta chưa bao giờ nói chuyện được với người đó. Chúng ta là ai mà có thể đóng vai quan tòa đối với một người khác? Chúng ta là anh em của nhau, chị em của nhau và người kia cũng chính là mình. Những yếu kém của người kia cũng là những yếu kém của mình, những yếu kém của mình cũng là những yếu kém của tăng thân. Cho nên ta phải nương vào nhau để mà thực tập. Sự thất bại của người kia là thất bại của ta và sự thất bại của ta là sự thất bại của người kia. Khi ta có sự chán nản, đầu hàng, muốn bỏ đi thì không những tuệ giác ở trong ta khô cạn mà từ bi trong ta cũng khô cạn nữa. Nếu quả thật năng lượng từ bi còn có mặt trong ta thì những năng lượng của sự giận hờn, bực bội và chán nản không thể phát hiện được. Năng lượng của từ bi là năng lượng hóa giải năng lượng giận hờn và chán nản.

Nếu ta có nhận xét rằng người kia trước khi đi tu dễ thương hơn bây giờ thì ta phải đem điều đó ra để quán chiếu, để xem điều đó có thật hay không. Nếu quả thật điều đó đã xảy ra thì vì những nguyên nhân nào, và ta đã đóng vai trò gì ở trong này. Ta đã thành công hay không trong vai trò một người anh hay một người chị của người đó? Ta không thể nói: Tôi không chấp nhận người đó được! Người đó không có gì được hết! Nếu ta quán chiếu và thấy được phần trách nhiệm của ta, thấy được rằng ta cũng có những yếu kém, những tiêu cực thì ta rất dễ dàng chấp nhận những yếu kém và tiêu cực của người khác, để rồi hai bên cùng bắt đầu nâng đỡ cho nhau. Lúc mà ta có thể thiết lập được truyền thông với người đó và hai bên cùng giúp đỡ được cho nhau thì tự nhiên sự cảm thông của ta với chư tổ được hình thành một cách dễ dàng. Tại vì chư tổ đang nằm ở ngay trong con người của sư em, sư anh hay là sư chị của ta. Nếu không liên hệ được với người sư anh, sư chị và sư em của ta thì thử hỏi làm sao ta liên hệ được với Tổ và với Bụt, vì Bụt cũng là một vị Tổ của chúng ta. Cho nên những câu xướng này quan trọng lắm. Trong lễ chúc tán, chúng ta có dịp thật sự nhìn lại hoàn cảnh và bản thân của chính chúng ta.

Đệ tử chúng con nhớ ơn giáo huấn của liệt vị tổ sư

Các vị Tổ sư đã ban cho ta những lời giáo huấn, cho nên chúng ta phải nguyền chấp nhận nhau. Chấp nhận những yếu kém của nhau tức cũng là chấp nhận những yếu kém của chính mình, nghĩa là biết tha thứ cho nhau. Dầu người kia đã gây ra lỗi lầm và vụng về ta cũng tha thứ. Có tha thứ thì ta mới giúp cho người kia được. Nếu ta không tha thứ được cho người kia thì làm sao ta có thể tha thứ cho chính ta? Ta đâu có phải là toàn hảo, toàn bích?

Thương yêu nhau như con một nhà
Cho tăng thân lớn mạnh
Cho hạnh phúc vững bền
Làm chỗ nương tựa cho hải chúng mười phương

Thương yêu là sự thực tập hàng ngày. Người kia có thể đi đứng chưa có chánh niệm, người kia có thể còn hời hợt, ham những cái vui còn có vẻ thế tục, nhưng vì có lòng từ bi nên ta có thể tới ngồi gần người ấy được. Khi ta có lòng từ bi và có thể ngồi gần được người đó thì sự truyền thông sẽ dễ dàng. Ta có thể nói, cười và giúp được người ấy. Còn nếu ta tiếp tục trách cứ thì ta sẽ thất bại hoàn toàn. Sự tu học của ta có thành công hay không, tự ta ta có thể biết được. Nếu ta không có hạnh phúc với những người trong tăng thân thì ta biết rằng ta thực tập chưa thành công. Ta đừng nói Trong quá khứ tôi đã bị vết thương ấy và bây giờ vì vết thương vẫn còn nên tôi không thực tập gì được. Nói như vậy không có đúng, vì nếu ta hết lòng thực tập thì pháp môn sẽ đem tới hiệu quả ngay tức khắc. Nếu ta có liên hệ tốt với tăng thân bây giờ và ở đây thì đó đã là hạnh phúc lớn. Hạnh phúc này có thể chữa lành những vết thương quá khứ. Vậy thì khi có những liên hệ khó khăn với đại chúng, ta đừng đổ lỗi cho những vết thương ngày xưa. Ngày xưa giả dụ ta đã từng bị người lớn lạm dụng tình dục thì cố nhiên là ta đã có những vết thương. Nhưng nếu ta tu tập và thiết lập được liên hệ tốt giữa ta với những người trong chúng thì tự nhiên những vết thương ngày xưa sẽ từ từ thuyên giảm và cuối cùng sẽ lành hẳn. Chính hạnh phúc mà ta có với thầy và anh em trong đời sống hàng ngày là yếu tố làm lành vết thương. Sở dĩ vết thương ngày xưa vẫn còn chưa lành là vì ta vẫn chưa thực tập được để làm hòa và để sống hạnh phúc với tăng thân ngay bây giờ. Chúng ta phải luôn luôn tự nhắc mình điều đó.

Nếu ta có khó khăn với sư anh, sư chị, sư em, nếu ta chưa nói chuyện được với họ thì ta phải cầu cứu Tăng thân, phải cầu cứu Thầy, phải làm ngay một cái gì đó. Chứ không thể nào để cho tình trạng kéo dài từ ngày này sang ngày khác, năm này qua năm khác và chỉ đứng trên cương vị của một ông quan tòa để phán xét người khác. Tại sao ta không ngồi lại quán chiếu và viết cho người kia một lá thư về những điều ta nghĩ về người đó, về những yếu kém đã từng làm cho ta đau khổ, và ta thực tập viết bằng cái tâm thành thật và bằng phép ái ngữ của ta. Người đó đọc và quán chiếu xong, có thể chỉ cho ta những tri giác sai lầm của ta có về người đó. Chắc chắn thế nào ta cũng vì vậy có tri giác sai lầm, đừng bao giờ tin chắc rằng ta là hoàn hảo trong nhận thức. Phải cẩn thận lắm mới được.

Nguyền noi gương các bậc tổ sư như Ca Diếp, A Nan, Long Thọ, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân, Nghĩa Huyền, Liễu Quán…

Những danh xưng trên đây là những danh xưng tiêu biểu. Ca Diếp, A Nan là những vị tổ sư đã sống đồng thời với Bụt. Long Thọ, Đề Bà là những vị tổ sư đã sống vào khoảng thế kỷ thứ II, thứ III. Vô Trước, Thế Thân là những vị tổ sư đã sống vào khoảng thế kỷ thứ IV và thứ V. Nghĩa Huyền là tên của tổ Lâm Tế. Liễu Quán là tên của một vị tổ sư đã cách chúng ta tới chín thế hệ.

Cùng các bậc long tượng trong sơn môn

Trong sơn môn tức là trong đại chúng, vì Tăng thân ngày xưa cư trú trong vùng rừng núi. Long là rồng, tượng là voi, tức là những cao tăng có kích thước lớn như Long Thọ, Đề Bà, Vô Trước. Các vị được gọi là long tượng trong sơn môn.

Các bậc có tâm chí đại hành
Các bậc Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. (CC)

Đại hành tức là đang đi trên con đường lớn và đang có hành động lớn, mà không mơ ước những chuyện nho nhỏ. Chỉ phát tâm làm những chuyện rất lớn như cứu đời giúp người, mà không để tâm mơ ước những chuyện nho nhỏ như đi lập chùa, học để có một bằng cấp, tìm một nguồn lợi tức nào đó để sống cho yên, để đừng có ai tới quấy phá mình. Có tâm chí đại hành ta sẽ không đặt những câu hỏi như tại sao ta phải ở trong một cái chúng rất đông, phải lo cho nhiều người, rồi bị người này nhìn, người kia ngó, không có tự do làm cái gì mình thích, thức dậy lúc nào mình thích, đi ngủ giờ nào mình muốn ngủ. Nếu chỉ ưa những chuyện nho nhỏ như vậy thì mình không phải là một bậc long tượng, không phải là những bậc có tâm chí đại hành, không thể nào làm đệ tử của bồ tát Phổ Hiền hay bồ tát Quan Âm được.

 

PHẦN II

Lời Khấn Bạch

Chúng con, tăng thân xuất gia, hôm nay vào ngày giỗ Sư Tổ … đã tập họp tại chùa … thôn … xã … quận … tỉnh … nước Việt Nam, kính cẩn trình diện trước tổ đường với tất cả lòng dạ chí thành của chúng con, cúi xin các thế hệ tổ sư của chúng con từ bi chứng giám:

Chúng con ý thức cây có cội, nước có nguồn; chúng con biết Bụt và các thế hệ tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị. Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác, từ bi và an lạc mà Bụt và chư tổ đã trao truyền; nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy. Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sinh của liệt vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp được người đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ và mở ra cho các thế hệ tương lai những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lĩnh vực của sự sống. Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại, để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh.

Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởI vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu của liệt vị. Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau, thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu, để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa. Chúng con xin hứa sẽ tập sử dụng các hạnh ái ngữ và lắng nghe để nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân, nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa, nguyện xóa bỏ mọi hiềm hận để có thể nương vào nhau mà đi trên con đường thành tựu đạo nghiệp. Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và của liệt vị tổ sư.

Chúng con cúi xin Sư Tổ cùng tất cả liệt vị tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con như phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày giỗ tổ. (lạy ba lạy)

Lời khấn bạch có tác dụng thiết lập và quán chiếu về những liên hệ giữa ta và các vị tổ sư tâm linh. Các vị tổ sư tâm linh không những chỉ có mặt trong tâm thức ta mà còn có mặt trong cơ thể ta nữa, cũng như các vị tổ tiên huyết thống. Ta cảm thấy được sự có mặt của Bụt, của các vị bồ tát, của các vị tổ sư, của sư ông và của thầy ở ngay trong tâm thức và trong thân thể ta, tại vì thân và tâm là hai thực thể không tách rời ra được. Có mặt ở trong thân thì cũng có mặt ở trong tâm. Thực tập là để thấy được tổ tiên huyết thống và tâm linh trong cơ thể và tâm hồn. Mỗi khi ta cầu cứu tổ tiên huyết thống hay tổ tiên tâm linh thì ta có thể tiếp xúc được với tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh ngay trong giờ phút chúng ta cầu cứu. Trong truyền thống Việt Nam vào những lúc nguy ngập chúng ta hay tới bàn thờ tổ tiên cầu nguyện ông bà và cha mẹ đã qua đời. Khi cầu nguyện, ta cảm thấy năng lượng của tổ tiên ông bà phát sinh trong ta. Cũng như vậy mỗi khi có những đau buồn, có khó khăn mà ta cầu cứu tới các bậc tổ tiên tâm linh như Bụt là các vị sư tổ, thì ta cũng cảm thấy những năng lượng của các vị phát hiện trong ta. Đó là vì thân và tâm ta đang chứa đựng năng lượng của những gì mà các vị tổ tiên tâm linh đã trao truyền. Vì vậy cho nên chúng ta phải học tiếp xúc với tổ tiên. Trong đời sống hàng ngày có những lúc ta phải cầu cứu tới năng lượng của quý vị. Nếu chúng ta biết cách cầu cứu và tiếp xúc thì tự nhiên những năng lượng của tổ tiên tâm linh ta sẽ phát hiện trong ta và ta sẽ vững chãi hơn, sẽ an bình hơn, sẽ có nhiều trí tuệ hơn và ta sẽ không làm những điều sai lạc. Ta biết con đường của ta đi, ta biết nên làm những gì và không nên làm những gì. Ngày giỗ sư tổ là một cơ hội để chúng ta có thể tiếp xúc được với năng lượng của sư tổ và qua sư tổ ta tiếp nhận được năng lượng của các vị sư tổ khác trong quá khứ. Lời khấn bạch giúp chúng ta quán chiếu và thấy được sự liên hệ giữa ta và các vị tổ sư tâm linh của ta.

Chúng con ý thức được cây có cội, nước có nguồn.

Cội tức là gốc. Cây có cội, nước có nguồn, đó là sự thật khoa học.

Chúng con biết Bụt và các thế hệ tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị.

Nếu không có Bụt, không có các vị tổ sư thì không có ta và ta sẽ đi trong bóng tối, sẽ không biết những giá trị đạo đức, không biết con đường tâm linh cho nên ta biết các vị tổ sư là cội nguồn của mình. Và nguồn cội là các mà mình có thể tiếp xúc ngay được. Mỗi cái lá, mỗi cái cành phía trên đều được liên hệ trực tiếp với cái cội và những cái rễ bên dưới. Lá và cành biết rất rõ rằng cội rễ là nền tảng của mình. Và giọt nước trong dòng sông biết rằng khởI nguyên của nó là dòng nước từ trên núi chảy xuống, chưa từng có sự đứt đoạn. Mỗi giọt nước khi tiếp xúc sâu sắc với bản thân thấy mình có liên hệ rất mật thiết rất mầu nhiệm với dòng suối đã từ trên núi cao chảy xuống. Chúng ta cũng vậy. Nếu biết tiếp xúc thì ta liên hệ được với Bụt, với các bậc bồ tát và các vị tổ sư một cách rất mật thiết, và niềm tin đó làm cho năng lượng của các vị Bụt, các vị bồ tát và các vị tổ sư phát hiện trong ta. Rất quan trọng.

Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác, từ bi và an lạc mà Bụt và chư tổ đã trao truyền.

Đây là một điều rất khoa học. Bụt có tuệ giác, từ bi, an lạc và các vị tổ sư, học trò của Bụt, cũng đã thực tập và vì vậy các vị tổ sư qua các thời đại cũng có tuệ giác, từ bi và an lạc. Chúng ta là con cháu quý vị thì thế nào chúng ta cũng đã tiếp nhận những cái đó, nghĩa là tuệ giác, từ bi và an lạc. Có thể chúng ta đã tiếp nhận mà chưa biết đem ra sử dụng, và bây giờ đây là lúc chúng ta học cách đem ra sử dụng những nguồn tuệ giác, từ bi và an lạc ấy của Bụt, bồ tát và các vị tổ sư. Những gì mà thầy ta đã trao truyền có thể rất hay nhưng ta đã chỉ cất chứa mà chưa đem ra sử dụng. Nếu ta biết rằng ta giàu có và ta quyết đem ra sử dụng thì đời đời ta có hạnh phúc.

Nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy.

Chúng ta đã tiếp nhận gia tài của các tổ tiên tâm linh và bổn phận của ta là nắm giữ, đừng để cho rơi rụng mất mát và bồi đắp cho cái gia tài đó càng ngày càng thêm giàu có. Hai danh từ nắm giữ và bồi đắp rất quan trọng vì chúng nói lên được thực chất sự thực tập của chúng ta. Thứ nhất là nắm giữ đừng để cho rơi rớt ra ngoài, và thứ hai là phải bồi đắp để cho nó càng ngày càng vững. Nắm giữ cái gia tài mà chúng ta đã tiếp nhận và bồi đắp cho nó, nếu không thì chúng ta sẽ là những đứa con, những đứa cháu bất hiếu với tổ tiên, bất hiếu với Bụt và các vị bồ tát.

Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sinh của liệt vị

Chí nguyện của quý vị tổ tiên tâm linh, Bụt và các vị tổ sư là độ sinh, làm thế nào để đưa những chúng sinh đang đau khổ và chìm đắm từ bờ hệ lụy đi sang bờ giải thoát. Sở dĩ chúng ta liên hệ được với các vị là nhờ chúng ta cũng có chí nguyện độ sinh kia, là giúp đời, giúp người, giúp chúng sanh. Nếu ta không có tâm độ sinh thì ta không có dính líu gì tới Bụt, bồ tát và với các vị tổ sư. Nếu ta không có tiếp tục cái chí nguyện độ sinh đó thì ta không trung thành với tổ tiên tâm linh của chúng ta.

Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sinh của liệt vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp được người đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ…

Nội dung sự thực tập được diễn đạt một cách rõ ràng. Chúng ta là những người có hiếu. Ta muốn được trung kiên với các vị tổ tiên tâm linh của chúng ta. Nhưng làm thế nào để thực sự có hiếu? Phải nói ra một cách rất cụ thể. Thực tập thế nào, sống thế nào để cái hiếu hạnh của chúng ta được biểu lộ? Đó là chuyển hóa những khổ đau trong tự thân của chúng ta và giúp được người đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ. Người đương thời tức là người đang sống với ta trong thời đại này, trong năm 1999, trong những ngày cuối cùng của thế kỷ XX và bắt đầu những ngày mới của thế kỷ XXI. Nhìn ra xung quanh ta thấy những người đang sống với chúng ta, đó là những người đương thời. Những người đương thời có những khổ đau của họ, có những loại khổ đau mới mà ngày xưa không có, và chúng ta phải hiểu được, phải nhận diện được những loại khổ đau mới. Thời của Bụt và của các vị tổ sư đã có những khổ đau và những khổ đau đó chúng ta có thể thấy được trong thời hiện tại, nhưng trong thời đại hiện tại chúng ta lại thấy có những khổ đau mới và chúng phải nhận diện chúng. Những chứng bệnh như ung thư, những hệ lụy mới như ma túy, xì ke, những khổ đau gây ra do gia đình tan nát, môi trường sinh sống bị tàn phá, niềm tuyệt vọng vì đánh mất niềm tin. Có rất nhiều nỗi khổ mới ở trong xã hội của chúng ta, và chúng ta phải nhận diện được những khổ đau đó và mở ra cho các thế hệ tương lai những pháp môn mới có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng vào mọi lĩnh vực của sự sống. Độ sinh có nghĩa là giúp cho các loài chúng sanh được bớt khổ, được có an lạc. Trong số những chúng sinh cần được độ có bản thân chúng ta. Chúng ta biết rằng không chuyển hóa được những khổ đau trong tự thân ta thì chúng ta không thể chuyển hóa những khổ đau của người khác. Vì vậy chúng ta luôn luôn bắt đầu bằng việc tự độ và khi thành quả của sự tự độ đã khá thì hành động độ tha mới có kết quả. Cũng như một người đứng trong cái lu thì không thể vần cái lu đi chỗ khác được. Phải nhảy ra ngoài cái lu thì mới vần cái lu đi chỗ khác. Chúng ta cũng vậy, nếu còn bị kẹt trong những khổ đau của bản thân thì chúng ta không thể nào giúp người khác được, không thể độ sinh được.

Đây là tinh hoa của sự thực tập đem đạo Bụt đi vào cuộc đời. Tại vì trong xã hội mới có những khổ đau mới, những khó khăn mới của con người đương thời. Nhìn sâu vào những khổ đau và những khó khăn ấy chúng ta phát kiến ra được phương pháp đối trị với chúng. Nghĩa là khi nào chúng ta chưa thực sự hiểu được sự thật thứ nhất là khổ đế thì ta vẫn chưa thấy được sự thật thứ tư là đạo đế. Cho nên phải thấy được khổ đau thì mới thấy con đường thoát khổ. Đây là một câu kinh, một lời cầu nguyện chứng tỏ rằng chúng ta nắm vững được nguyên tắc của tứ diệu đế. Phải thấy được, hiểu được bản chất của những khó khăn và khổ đau mới thì mới cống hiến được những pháp môn đưa con người hiện đại ra khỏi tình trạng khổ đau và khó khăn. Sự thật thứ tư chỉ có thể thực hiện được khi mà chúng ta nắm vững được sự thật thứ nhất. Đạo đế phát sinh từ sự quán chiếu khổ đế. Pháp môn thích hợp là những phương pháp tu mà khi đem áp dụng thì ta thấy có hiệu quả liền. Tu không có nghĩa là bắt chước và làm theo một cách không thông minh. Tu là phải thấy được những khổ đau của mình, phải chọn những pháp môn thích hợp. Nếu chúng ta nhận diện được những khổ đau và những khó khăn của chúng ta, nếu chúng ta tìm ra được những pháp môn thích hợp thì chỉ nội trong vài ba ngày thực tập là chúng ta đã bắt đầu thấy được sự chuyển hóa trong thân tâm của chúng ta. Vì vậy bốn chữ pháp môn thích hợp rất quan trọng. Chúng ta thấy có những người trẻ đi chùa mà không thấy thoải mái, tại vì những giáo lý được trao truyền cho họ, họ không hiểu được và những pháp môn đưa ra cho họ thực tập, họ thực tập không có hiệu quả. Họ thấy những gì trao truyền cho họ không thích hợp với thân và tâm của họ, và vì vậy họ không muốn đi chùa nữa. Họ thấy đạo Bụt không phải là một cái gì có thể chuyển hóa khổ đau và đem tới sự an lạc cho họ. Tại sao? Tại vì những giáo lý và pháp môn đó không phải là những giáo lý và pháp môn thích hợp. Do đó người tu phải tu tập, học hỏi như thế nào để cống hiến được cho những người đương thời – nghĩa là những người trẻ – những pháp môn tu thích hợp, có khả năng chuyển hóa những khổ đau hiện thực ở trong thân và trong tâm của họ. Đó là chìa khóa. Khi ta tiếp xúc với những người xung quanh, thấy được những khổ đau, những bế tắc, những khó khăn của họ và hiểu được những khổ đau, bế tắc và khó khăn đó thì ta mới có thể thấy được những phương pháp hữu hiệu mà ta có thể đem ra hiến tặng cho họ. Và nhờ đó họ có thể thực tập vượt thoát những khổ đau, bế tắc và khó khăn của họ. Điều này rất quan trọng.

Chúng ta biết rằng trong đạo Bụt có nhiều pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn. Tại sao lại phải có nhiều pháp môn như vậy? Tám vạn bốn ngàn pháp môn chưa đủ hay sao mà phải mở ra những pháp môn mới? Tại vì chừng nào còn có những khổ đau, bế tắc và khó khăn mới thì chúng ta còn cần mở ra những pháp môn mới, những pháp môn thích hợp để có thể cứu người cứu đời.

… những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lãnh vực của sự sống.

Sự sống có nhiều lĩnh vực như là kinh tế, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, … Làm thế nào những pháp môn của đạo Bụt đi được vào tất cả các lĩnh vực đó. Người làm chính trị cũng phải tu học, nếu không họ sẽ gây đau khổ cho họ và gây đau khổ cho những người khác. Nhà thương mại cũng thế. Vì vậy có bao nhiêu lĩnh vực của sự sống là có bấy nhiêu lĩnh vực của sự hành đạo và đạo Bụt mà chúng ta đang nói đây là đạo Bụt nhập thế, đi vào cuộc đời và có mặt trong tất cả mọi lĩnh vực của sự sống, từ kinh tế tới chính trị, xã hội, giáo dục, thương mại và khoa học.

Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại, để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh.

Trong lời khấn nguyện này chúng ta tiếp xúc được với giáo lý hiện pháp lạc trú. Chúng ta đã được nghe rằng giáo pháp của đức Thế Tôn là vượt thoát thời gian, là đến để mà thấy, là có hiệu nghiệm ngay trong giờ phút hiện tại. Vì vậy tu tập không phải là để cho một hạnh phúc mơ hồ viễn vông nào trong tương lai, mà là để có sự bớt khổ ngay trong hiện tại, và bắt đầu có được hạnh phúc vá an lạc ngay trong giờ phút hiện tại. Giáo pháp mà chỉ hứa hẹn hạnh phúc trong tương lai mà không có khả năng làm vơi bớt sầu khổ trong giờ phút hiện tại thì giáo pháp đó không phải là giáo pháp đích thực của đức Thế Tôn. Giờ phút mà chúng ta biết thở vào và mỉm cười, thở ra và buông thả thì giờ phút đó chúng ta đã bắt đầu bớt khổ rồi. Giờ phút mà chúng ta mở cửa đi thiền hành thì ngay những bước đầu đã đem lại sự thư thái buông thả cho chúng ta. Vì vậy giáo pháp có khả năng đem lại sự chuyển hóa ngay từ khi chúng ta bắt đầu sự thực tập, và sự an lạc đó chúng ta có thể thừa hưởng được ngay trong giờ phút hiện tại. Chúng ta phải đem giáo lý này truyền bá bằng cách tự mình thực tập và khuyên những người xung quanh thực tập. Thực tập như thế nào để mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày chúng ta có thể tiếp nhận được những chất liệu nuôi dưỡng ta. Đó là chất liệu vững chãi và thảnh thơi. Nếu không có sự vững chãi và thảnh thơi thì chúng ta không có hạnh phúc. Có thêm yếu tố vững chãi và thảnh thơi chúng ta mới làm chỗ nương tựa cho chính ta, và làm chỗ nương tựa cho những người ta thương được. Còn nếu ta thay đổi hoài như cái chong chóng, nếu ta không có sự bình an và vững chãi trong thân tâm thì ai có thể nhờ cậy được ta. Chính ta cũng không có thể nhờ cậy được ta nữa. Vì vậy phải bước những bước vững chãi, ngồi cho vững chãi, thở cho vững chãi, phải thực tập sự vững chãi đó trong khi nấu ăn, quét dọn, lái xe, làm việc, tưới rau, tiếp khách. Mỗi giây phút của đời sống hàng ngày là để chúng ta thực tập nuôi dưỡng sự vững chãi trong ta. Yếu tố thứ hai là thảnh thơi. Ta không bận rộn quá, không xoay như một con chong chóng, không bị cuộc sống hàng ngày xô đẩy như là một cái nút chai nằm trên mặt nước bị những đợt sóng xô đẩy. Chúng ta phải có tự do. Tự do này không phải là tự do chính trị, mà tự do đối với những sự ràng buộc như là sự tham đắm, vướng mắc, giận hờn, ganh tỵ và si mê. Có những sự bận bịu hàng ngày có tính cách vô ích, không đáng để cho ta bận tâm. Nếu ta đem tâm lực và thì giờ của ta để vào những cái vô nghĩa đó thì rất uổng. Tự do có nghĩa là ta biết cái gì là quan trọng nhất, cái gì có thể đem lại hạnh phúc và an lạc cho ta và cho những người chung quanh và những cái gì thật sự không có ích lợi gì cả, chỉ làm mất thì giờ và năng lượng của ta. Không để bị chìm đắm và lôi cuốn trong những cái đó, thì lúc đó ta bắt đầu có tự do.

Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh.

Chúng ta gọi nhau là sư anh, sư chị và sư em. Tuy chúng ta đã rời gia đình huyết thống để trở thành người xuất gia nhưng chúng ta vẫn còn một gia đình, đó là gia đình của những người xuất gia cũng gọi là gia đình tâm linh. Sự thực tập của chúng ta là phải làm thế nào để đối xử với người sư anh, sư chị và sư em của ta giống như một người ruột thịt. Thầy của ta cũng như là một người cha hay một người mẹ của ta. Sư anh ta cũng là anh ruột của ta, sư em ta cũng là em ruột của ta. Tu tập như thế nào để cho Tăng thân trở thành một gia đình ấm áp và hạnh phúc, lúc đó chúng ta mới có khả năng tiếp độ và làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu người ở bên ngoài. Nếu thất bại trong sự thực tập này thì ta không thể nào làm chỗ nương tựa cho hải chúng mười phương. Vì vậy sự thực tập chuyển hóa liên hệ giữa ta và sư anh, sư chị và sư em là đối tượng trực tiếp của sự tu học. Chúng ta ngồi thiền, thiền hành, nghe pháp thoại, dự pháp đàm, tập thở và tụng kinh là để làm cho liên hệ giữa ta và sư anh, sư chị và sư em trở thành tốt đẹp hơn mỗi ngày. Chúng ta đã biết rằng trong khi tiếp xúc và chung đụng có thể có những khó khăn xảy ra. Người kia có thể có những vụng về, có thể nói những câu thiếu chánh niệm, có thể có những hành động không chánh niệm, và trong ta có thể phát sinh ra một cảm thọ không dễ chịu, cảm thọ đau buồn, hờn tủi. Tu tập là có ý thức về những cảm thọ đang có trong ta và để nhìn sâu vào trong chiều sâu của cảm thọ đó để thấy rõ được những nguyên do nội tại và những nguyên do ngoại tại của chúng. Chúng ta phải nhận diện những nguyên do đó, để có thể chuyển hóa, tu tập, bằng bản thân mình và với sự yểm trợ của tăng thân. Sống trong tăng thân ta phải nhờ tới sư anh, sư chị và sư em của ta. Chuyển hóa một tâm hành phát hiện trong tâm là điều quan trọng nhất, đó là bản chất của sự tu. Tu không có nghĩa là làm việc suốt ngày. Làm việc suốt ngày trong vườn, trong thiền đường, trong bếp hay với máy vi tính đó chưa phải là tu, đó chỉ mới là lao động thôi. Tu như vậy là để cầu phước, nhưng cái phước đó còn rất nhỏ so với cái phước lớn là sự chuyển hóa những tâm hành tiêu cực ở trong ta và giúp những người bạn đạo của ta là các sư anh, sư chị và sư em của ta chuyển hóa được những tâm hành tiêu cực ở trong họ. Khi chuyển hóa được rồi thì đau khổ giảm thiểu, hạnh phúc tăng tiến, điều này chúng ta phải thực hiện mỗi ngày. Khi trong tăng thân đã có sự chuyển hóa, đã có nụ cười và mắt người nào cũng sáng, bước chân của người nào cũng vững chãi thì lúc đó tăng thân trở thành chỗ nương tựa cho hải chúng mười phương và lúc đó chúng ta xứng đáng để tiếp nối sự nghiệp của Bụt, bồ tát và các vị tổ sư. Vì vậy tổ chức có khéo cách mấy đi nữa mà trong tăng thân không có hòa điệu và hạnh phúc thì trung tâm tu học vẫn được xem là thất bại như thường. Tài tổ chức cũng cần, nhưng không phải là căn bản. Căn bản là thiết lập được liên hệ tốt giữa ta và người bạn đồng tu, những người sư anh, sư chị và sư em của ta. Đó là mục tiêu đầu của sự tu tập. Chung đụng với nhau, sống với nhau hai mươi bốn giờ một ngày thì có thể có những tâm hành tiêu cực phát hiện. Nắm lấy những tâm hành tiêu cực ấy, nhận diện và nhìn sâu vào chúng để thấy được những nguyên do nội tại và ngoại tại, những nguyên nhân gần và những nguyên nhân xa. Thấy được rồi thì có thể hiểu, hiểu được rồi thì có thể tha thứ, có thể thương yêu. Cái hiểu đưa tới sự chấp nhận và thương yêu. Thương yêu ở đây là năng lượng từ bi, tha thứ và ý hướng muốn đem lại hạnh phúc cho người kia và cho chính mình.

Người kia rất dễ thương, tu tập rất đàng hoàng, nói năng hòa nhã, ánh mắt dịu hiền. Thương người đó là chuyện quá dễ. Nhưng nếu người kia ánh mắt còn chưa được dễ thương, lời nói còn chưa được dễ thương và hành động cũng chưa được dễ thương mà ta thương được, chấp nhận được thì điều đó chứng tỏ rằng ta thực tập giỏi và đã có thành công. Khi chấp nhận được và thương được người đó thì người ấy bắt đầu có sự chuyển hóa, đó là một sự thành công lớn. Có khi người thương không dễ thương nhưng nếu ta thương được thì trong lòng ta sẽ thấy khỏe và người thương sẽ trở thành thực sự dễ thương. Ta có thể viết trong nhật ký Người thương ơi! Hôm nay em không dễ thương nhưng mà tôi vẫn thương! Nếu tôi không thương được em thì đó là một sự thất bại của chính tôi trong sự tu tập.

Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh.
Điều này tôi hay lặp lại trong các trung tâm tu học mà tôi đã viếng thăm. Ở Âu châu cũng như Mỹ châu có nhiều trung tâm tu học, nhiều thiền viện thuộc nhiều truyền thống khác nhau. Họ tổ chức rất giỏi và Làng Mai đã học được nhiều phương pháp tổ chức của họ. Nhưng tổ chức giỏi không có nghĩa là ta đã thành công được trong sự tu tập. Mỗi người sống trong trung tâm tu học có thể vẫn còn là mỗi ốc đảo không có liên hệ được với nhau nhiều. Sự truyền thông giữa người thực tập này với người thực tập kia nếu không có thì sự thương yêu, chấp nhận và niềm vui không được tỏa rạng. Sự thực tập bề ngoài có thể được coi như rất nghiêm chỉnh nhưng sự thực tập đó không có kết quả, tại vì khi bước vào thiền viện ta không thấy được niềm vui, sự thương yêu và không thấy được không khí hạnh phúc của một gia đình. Dầu được tổ chức khéo, trung tâm ấy vẫn là một sự thất bại lớn. Cho nên tôi thường nhắc quý vị phải tổ chức trung tâm tu học của mình như thế nào để nó trở thành một gia đình thì mới thành công. Chừng nào chúng ta không sống được với nhau như là một gia đình thì chừng đó sự thực tập của chúng ta còn thất bại.

Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởI vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu của liệt vị.

Điều này là một sự thật, vì tất cả chúng ta đều là con cháu của Bụt và các vị tổ sư.

Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau, thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu, để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa.

Ta có những khó khăn và khổ đau, và ta muốn người khác thấy được những khó khăn và khổ đau của ta. Người khác cũng có những khó khăn và khổ đau của họ, chúng ta phải làm thế nào để thấy được những khó khăn và khổ đau của họ. Muốn đưọc như vậy ta phải quán chiếu và xin người đó nói cho ta nghe những khó khăn và khổ đau của người đó. Nếu người ấy không nói được thì ta phải hỏi, phải nhờ người khác ở trong tăng thân giúp ta, và mỗi khi ta thấy được những khó khăn và khổ đau của người đó rồi thì ta có thể thực tập hiểu và thương, giúp người đó trong công trình chuyển hóa. Người đó chuyển hóa được thì ta có hạnh phúc thêm và lại giúp được người đó chuyển hóa thêm nữa. Nói luôn luôn phải dùng phép ái ngữ và nghe thì nên thực tập phép bi thính, tức là nghe với lòng từ bi, nghe bằng năng lượng chánh niệm nằm sau lỗ tai. Hai hạnh đó có thể nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân.

Nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa.

Tại Làng Mai, chúng ta có pháp môn soi sáng. Tăng thân họp lại để soi sáng cho ta, soi sáng với tất cả từ bi. Trong những lá thư soi sáng, tăng thân rất cẩn thận, nói rằng cái thấy của tăng thân là như vậy, có thể có một vài khuyết điểm, có thể tăng thân chưa thấy hết được những điểm tích cực của đương sự và tăng thân có thể còn có một vài tri giác chưa hoàn toàn chính xác. Lá thơ chứng tỏ rằng tăng thân có đức khiêm cung và làm việc soi sáng cho ta với tất cả sự thương yêu. Soi sáng không có nghĩa là chỉ trích, tại vì trong công trình thực tập soi sáng này tất cả mọi người đều được soi sáng. Đại chúng họp lại để soi sáng cho một sư anh, một sư chị hay một sư em về những ưu điểm và khuyết điểm trong sự tu tập của người đó. Và mỗi khi nói tới một ưu điểm của đương sự thì mọi người trong đại chúng lại có cơ hội nhìn lại xem thử mình có ưu điểm ấy trong tự thân mình hay không. Nếu có thì ta phát tâm hân hoan, và ta tự hứa rằng sẽ cố gắng để làm cho ưu điểm đó lớn lên nữa. Nếu thấy ưu điểm đó của đương sự không có ở trong ta thì ta cảm thấy hổ thẹn và tự dặn lòng là ta sẽ làm thế nào để phát triển ưu điểm đó trong bản thân của mình. Soi sáng là soi sáng cho cả hai phía. Soi sáng ở đây không có nghĩa là phán xét, lên án hoặc chỉ trích. Khi ta nói đến một khuyết điểm của đương sự thì ta cũng có cơ hội để nhìn vào bản thân để xem có khuyết điểm đó hay không. Nếu ta cũng có khuyết điểm đó thì ta cũng nói như vậy: sư em có khuyết điểm đó nhưng trong tăng thân cũng có người có khuyết điểm đó. Và khi ta thấy có khuyết điểm đó thì ta phải biết tu tập để chuyển hóa điểm tiêu cực ấy trong bản thân.

Nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân, nguyện xóa bỏ mọi hiềm hận để có thể nương vào nhau mà đi trên con đường thành tựu đạo nghiệp

Không những ta chấp nhận mà ta còn cần phải lạy xuống để cầu tăng thân soi sáng thêm cho ta. Tại Làng Mai pháp môn soi sáng đã trở thành một pháp môn rất quan trọng, không những các sư em mới tu được soi sáng, mà các sư anh và sư chị đã tu lâu năm cũng được soi sáng. Chính sư cô Chân Đức một vị giáo thọ lớn của Làng, hiện làm trú trì của đạo tràng Thanh Sơn, làm thầy của tất cả các sư em cũng đã quỳ xuống để cầu tăng thân soi sáng cho mình. Vậy thì chúng ta biết rằng pháp môn soi sáng là để cho tất cả mọi người, chứ không phải là chỉ để cho những người mới tu mà thôi. Tại đạo tràng Mai Thôn cũng như đạo tràng Thanh Sơn, những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến những buổI soi sáng rất đầm ấm, hạnh phúc, chúng ta cũng đã chứng kiến cảnh tượng những người được tiếp nhận soi sáng và thấy được đối tượng chính của sự hành trì chuyển hóa của họ và đạt tới sự chuyển hóa rất mau chóng sau khi được soi sáng.

Tu tập là để chuyển hóa những buồn phiền, ganh tức và phiền não trong ta. Sự chuyển hóa này có công năng tạo ra không khí đầm ấm vì hạnh phúc có công năng nuôi dưỡng mọi người. Ta phải quyết tâm chuyển hóa buồn phiền để nương vào nhau mà đi trên con đường thành tựu đạo nghiệp. Nếu ta thất bại trong tăng thân của ta thì ta sẽ thất bại trong sự nghiệp hoằng pháp sau này. Cho nên ta phải thành công trong sự tạo ra hạnh phúc và hòa điệu trong tăng thân. Hòa điệu và hạnh phúc ấy là cái mà người ta tới có thấy ngay được. Nếu ta không có hòa điệu thì ta có giấu cách mấy thì người ta cũng thấy. Nếu ta không có hạnh phúc mà giả bộ có hạnh phúc thì nội trong một vài giờ người ta cũng thấy. Hòa điệu và hạnh phúc là những cái ta có thể chế tác ra trong mỗi giờ phút của đời sống hàng ngày. Tất cả chúng ta ở đây, vị nào cũng có tâm niệm tu tập chuyển hóa để cho mọi hiềm hận của mình đối với người khác được chuyển hóa, và để cho tăng thân được an lạc, để cho hạnh phúc và hòa điệu trở thành niềm vui cho tăng thân và cho những người tới với tăng thân.

Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và của liệt vị tổ sư.

Câu này là câu kết luận, rất quan trọng. Trong Thánh kinh cũng có một câu tương tự: trước khi anh dâng lễ vật lên bàn thờ của Thượng Đế thì anh phải trở về hòa giải với người anh em của anh. Nếu anh chưa hòa giải được với người anh em của anh thì hãy khoan dâng lễ vật của anh lên bàn thờ Thượng Đế. Ở đây chúng ta cũng có một tuệ giác tương tự. Nếu chúng ta không tha thứ cho nhau, không chấp nhận nhau, nếu chúng ta sống không có an lạc với nhau thì chúng ta lạy trước Bụt và các vị tổ sư là không có ý nghĩa. Điều này tôi thấy rất rõ trong tăng thân. Vị nào trong tăng thân có hòa hợp, có hạnh phúc với đại chúng thì liên hệ giữa vị đó với Thầy trở thành tự nhiên, rất dễ dàng, không cần phải có một cố gắng nào cả. Trong khi đó vị nào có khó khăn với chúng, liên hệ với chúng không dễ dàng thì tự nhiên cũng cảm thấy với Thầy có một cái gì ngăn cách. Cái ngăn cách đó không phải do Thầy tạo ra, mà tại vì đương sự cảm thấy như vậy. Có chánh niệm một chút quý vị sẽ thấy khi nào mình có liên hệ tốt với tăng thân thì cũng cảm thấy rất gần với Thầy, và tới với Thầy một cách rất là dễ dàng. Tại sao? Tại vì Thầy cũng là tăng thân, tăng thân cũng là Thầy. Không phải là gần gũi Thầy, nấu cơm cho Thầy, pha trà, giặt áo cho Thầy mà mình gần Thầy hơn đâu. Có thể là mình mỗi tháng chưa được gặp Thầy một lần, nhưng mình vẫn cảm thấy rất gần gũi Thầy. Có những vị vì công vụ tăng thân giao phó khá nhiều, không có thì giờ để gần gũi Thầy, nhưng những vị đó đối với Thầy luôn luôn cảm thấy rất gần gũi. Vì vậy sự gần gũi Thầy không phải được đo bằng thời gian ở bên Thầy, mà được đo bằng sự liên hệ giữa mình với những thành phần khác của tăng thân. Dầu mình ở rất xa như là bên Úc, không được nói chuyện với Thầy, không được gần gũi Thầy, nhưng nếu đối với tăng thân mà có hạnh phúc thì mình cũng có cảm tưởng Thầy với mình ở trong gang tấc mà thôi. Xin quý vị quán chiếu thì sẽ thấy. Khi ta lạy xuống trước các vị tổ sư mà cảm thấy có hạnh phúc thì ta biết rằng liên hệ giữa ta với tăng thân của ta đã tốt. Còn nếu liên hệ giữa ta với tăng thân không tốt thì dầu có lạy xuống 108 lạy ta vẫn không có hạnh phúc.

Chúng con cúi xin Sư Tổ cùng tất cả liệt vị tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con như phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày giỗ tổ.

Cố nhiên là trong ngày giỗ tổ ta dâng hoa, hương, trái cây và thực phẩm nhưng mà phẩm vật cúng dường quý báu nhất là tâm thành kính và hiếu thảo của ta. Tâm thành kính và hiếu thảo đó được biểu lộ một cách rõ ràng ở chỗ ta sống hài hòa và hạnh phúc với những người trong tăng thân.
Bây giờ chúng ta đi sang phần tán dương vị tổ sư.

Nâng hoa ngộ chỉ
Nối gót tôn sư
Lâu đài pháp nhiệm diễn chân thừa
Thiền đạo nhiếp tâm tu
Hiện pháp lạc cư
Chánh pháp sáng hơn xưa.

Nam mô liệt vị Bồ Tát tổ sư qua các triều đại (C)

Đây là một bài tán, và ta có thể tán theo điệu truyền thống của thiền môn.
Nâng hoa ngộ chỉ, là nói về truyền thuyết về đức Thế Tôn một hôm ở trong hội Linh Sơn, đến giờ thuyết pháp ngài nâng trên tay một đóa hoa. Thay vì nói, ngài chỉ mỉm cười rồi nhìn đại chúng. Đó là nâng hoa (niêm hoa). Ngài giữ nụ cười của ngài rất bền, trong một lúc ngài không nói một tiếng nào hết. Đại chúng không biết tại sao đức Thế Tôn im lặng lâu như vậy. Trong đại chúng có một thầy tên là Ca Diếp thấm được nụ cười đó và hiểu được tông chỉ của đức Thích Ca. Đó gọi là ngộ chỉ, tức là bừng tỉnh, và thấy được nội dung của sự trao truyền của đức Thế Tôn, gọi là nâng hoa ngộ chỉ. Đức Thế Tôn đang trao truyền một tông chỉ gì đó, mà ngài trao truyền bằng sự im lặng, bằng một bông hoa và một nụ cười. Chúng ta có thể hiểu rằng bông hoa là tượng trưng, là đại diện cho sự mầu nhiệm của sự sống. Đức Thế Tôn có mặt, tất cả mọi người trong tăng thân đều có mặt, giờ phút này quý báu. Đức Thế Tôn đưa cành hoa lên. Nếu an trú trong hiện tại thì ta sẽ thấy rõ đây là một cảnh tượng rất mầu nhiệm. Đức Thế Tôn còn sống, đang nâng cành hoa lên và tất cả đại chúng đang có mặt đó. An trú trong hiện pháp thì mọi người sẽ thấy đó đã là một sự mầu nhiệm lớn lao rồi. Nếu ta có khuynh hướng suy nghĩ thì ta sẽ đặt ra hàng ngàn câu hỏi trong đầu: Hôm nay Đức Thế Tôn làm gì lạ vậy? Có ý nghĩa gì trong sự nâng hoa đó không? Chìm đắm trong suy tư về siêu hình và triết học và như vậy ta đánh mất hết sự mầu nhiệm. Ta không thấy rằng Đức Thế Tôn là một mầu nhiệm và bông hoa là một mầu nhiệm, nụ cười của ngài là một mầu nhiệm, và sự có mặt của đại chúng trên núi Thứu cũng là một mầu nhiệm. Chừng đó không đủ sao? Nếu ta có khả năng sống trong giây phút hiện tại thì trong giây phút đó ta không cần phải suy nghĩ, phải đặt câu hỏi. Vì vậy cái người đứng trong chúng mà hiểu được nụ cười của Bụt cũng đã đáp ứng lại bằng một nụ cười, đức Thế Tôn cầm hoa mỉm cười thì mình cũng mỉm cười lại với đức Thế Tôn. Đâu có cần làm gì khác. Người đó là người khôn khéo nhất ở trong đại chúng. Người đó không suy nghĩ về quá khứ, về tương lai, người đó tiếp xúc được với cảnh tượng đẹp đẽ mầu nhiệm nhất ở trong hiện tại. Đó là tông chỉ của thiền. Và cũng vì lẽ đó trong thiền tông người ta nhận thầy Ca Diếp làm vị tổ đầu tiên của thiền tông là tại vì thầy không cần nói, không cần nghe mà vẫn tiếp nhận được giáo chỉ của Bụt.

Nâng hoa ngộ chỉ
Nối gót tôn sư.

Có nghĩa là đi theo các bậc thầy tôn kính của mình. Các bậc thầy của chúng ta đi trước và ta cứ chỉ đi theo thôi. Đó là nối gót tôn sư.

Lâu đài pháp nhiệm diễn chân thừa
Thiền đạo nhiếp tâm tu

Truyền thống đó kéo dài từ thời của đức Thế Tôn cho đến bây giờ, không bao giờ bị đứt đoạn, đó là sự truyền thừa tu tập. Pháp nhiệm tức là giáo pháp mầu nhiệm, diễn chân thừa là trình bày ra được cái giáo lý, cái cỗ xe chân chính. Chân tức là chính thống, không hỗn tạp, không phải tà đạo mà là chánh tông. Thừa tức là cỗ xe, là con đường, mà cỗ xe đó chở được rất nhiều người từ bến mê tới bờ giác, con đường đó đưa ta từ chỗ khổ đau tới hạnh phúc. Giáo pháp diễn đạt được con đường chân chính của đức Thế Tôn, giáo pháp đó được kéo dài là nhờ ta thực tập thiền đạo, nhiếp tâm tu. Đem hết tâm tư đi vào con đường thiền gọi là thiền đạo nhiếp tâm tu. Chúng ta cần hiểu chữ thiền ở đây không có nghĩa là phe phái, không phải là thiền công án hay là thiền mặc chiếu, không phải là thiền Trung Quốc, không phải là thiền Tổ Sư. Thiền ở đây là nói chung cho sự thực tập của tất cả các Phật tử, tức là sự thực tập của đức Thế Tôn dạy. Khi nào ta thực tập giới, định và tuệ (tam học), tức là ta đã thực tập thiền rồi. Có tông phái nào trong Phật giáo mà không thực tập giới, niệm, định và tuệ không? Trong Tịnh Độ cũng có sự thực tập giới, niệm, định và tuệ, và như vậy Tịnh Độ cũng là thiền. Khi nào có giới, niệm, định và tuệ thì lúc đó là có thiền rồi. Thiền được hiểu theo nghĩa rộng đó. Lâu nay chúng ta đã tranh chấp, đã nói vào ra, qua lại về sự khác nhau giữa thiền và không phải thiền là tại vì chúng ta nghĩ thiền đó là thiền tổ sư ở Đông Độ, nhưng chữ thiền ở đây có nghĩa là sự thực tập giới, niệm, định và tuệ. Ngay trong đạo Bụt nguyên thỉ chúng ta đã có thiền Tứ Niệm Xứ là phương pháp thực tập giới, niệm, định và tuệ và phương pháp An Ban Thủ Ý. Tất cả những pháp đó đều thuộc về thiền nguyên thỉ cả mà thiền nguyên thỉ có thể được nhận diện trong các hệ phái truyền thiền khác như là thiền Mặc Chiếu, thiền Công Án, thiền Tào Động, thiền Lâm Tế, thiền Pháp Nhãn, thiền Vân Môn, v.v.. Vì vậy chúng ta phải hiểu chữ thiền ở đây không phải là một cái gì đối lập với Tịnh Độ mà nó bao trùm được cả Tịnh Độ, bao trùm được cả Mật Tông, bao trùm được cả Thiên Thai tông, tức là bao trùm tất cả các tông phái Phật giáo. Không có giới, niệm, định và tuệ, không có tam học thì không phải là Phật giáo, và thiền ở đây chỉ có nghĩa là sự thực tập giới, niệm, định và tuệ mà thôi. Thiền đạo là con đường thiền ta phải nhiếp tâm để tu học.

Hiện pháp lạc cư tức là sống an lạc, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Bản in đầu của sách Thiền Môn Nhật Tụng đã bỏ sót bốn chữ hiện pháp lạc cư này, chúng ta nên thêm vào cho đủ.

Chánh pháp sáng hơn xưa

Nhờ sự tu tập hết lòng mà giáo pháp của đức Thế Tôn càng ngày càng sáng và cung cấp rất nhiều ánh sáng cho thế giới đầy khổ đau và bế tắc của chúng ta trong hiện tại.