May Mắn Một Con Đường

Thầy Pháp Cứ được xuất gia trong gia đình Cây Lê, tại Bát Nhã, vào năm 21 tuổi.

Thầy là người con có hiếu với ba mẹ cũng như với Tăng thân. Thầy tu học rất hết lòng.

Hiện tại thầy đang ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu.

“Nắng lên ngập lối em về

Hoa thơm cỏ lạ hồn quê vẫn còn

Nơi đây một tấm lòng son

Nơi đây chí nguyện mãi còn trinh nguyên.”

Cho đến bây giờ con chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ từ bỏ cuộc sống xuất gia của mình, thời gian bốn năm không phải là dài. Sau bốn năm tu học so với con đường phía trước, nó chỉ mới là bước khởi đầu cho cuộc hành trình, đó là một cuộc hành trình mà con phải đi qua để có thể hiểu được chính mình và làm an lạc cho thế giới.

 

Chư vị tổ sư đã sống một đời sống tỉnh thức, không cạnh tranh, không tiền bạc, không chạy theo bất cứ một danh vọng nào của thế gian. Quý Ngài thật trong sáng, tự tại. Con hay đặt câu hỏi tại sao các Ngài làm được như vậy, trong khi đó bản thân mình thì đi theo con đường ngược lại, tìm kiếm thật nhiều tiền để thỏa mãn lòng tham, sống trong  nghi ngờ, ganh tỵ, luôn tìm cách để có lợi riêng  mà không nghĩ đến cái khổ của người khác. Có những lúc con tự hỏi: “Mình là ai, mình đang làm gì?” Song đến bây giờ con mới có thể hiểu được một phần nào đó từ câu hỏi này. Thật may mắn cho con, nhờ phước duyên từ kiếp nào mà con đã được Bụt, Tổ và tăng thân cho con cơ hội tìm lại con người thật của mình để có thể trở về được với bản chất trong sáng và tinh khôi, bản chất của sự không kì thị, trách móc, lên án với bất kỳ ai như lời Thầy thường dạy. Và con có thể sống thanh nhàn, tĩnh lặng mà không phải là con của bốn năm về trước, một người trẻ sống với nhiều tham vọng, lo lắng, chỉ biết lao vào làm việc quần quật để mong sao kiếm được thật nhiều tiền và xây dựng một tương lai mơ hồ trong tâm trí…. Vậy mà khi đó con cho những điều như vậy là hạnh phúc và thành công.

 

Nhân duyên khiến con đi xuất gia có thể là do cảm nhận được quá nhiều đau khổ của cuộc sống và của chính bản thân mình. Có những lúc con cảm thấy mình tuyệt vọng tột cùng, muốn lìa xa cuộc đời để trốn chạy tất cả…Nhưng con cũng thầm biết ơn vì chính nhờ nếm trải được mùi vị của khổ đau mà giờ đây với đời sống xuất gia con càng thêm tin tưởng và trân quý những điều kiện mà con đang có được. Nhờ những khổ đau mà con nhận ra được những nhiệm mầu vốn có của sự sống.

 

Quán chiếu và nhìn lại tính tự lập mà con có được một phần cũng do hoàn cảnh khó khăn từ nhỏ tạo nên. Học xong lớp mười hai con vào Sài Gòn để đi học, trong thời gian đó con đi làm thêm để kiếm tiền phụ anh chị trả tiền ăn, tiền phòng. Con có thể tự lo cho cuộc sống của riêng mình mà không phải nhờ sự giúp đỡ của các anh chị nhiều. Con làm bồi bàn cho một nhà hàng không lâu thì may mắn được chọn làm đầu bếp. Chính thời gian làm ở đây đã cho con học hỏi được nhiều bài học từ cuộc đời. Người đến ăn trong nhà hàng thường là những người có tiền nên đa số họ rất kiêu ngạo, xem người làm, người phục vụ như đầy tớ. Vì mong kiếm được tiền cho nên con đành phải chấp nhận tất cả, hơn nữa nếu mình không làm vừa lòng khách, thì sẽ bị chỉ trích vì lần sau khách có thể sẽ không đến…

 

Một bạn cùng làm tâm sự với con rằng: “Cuộc sống là vậy đó, người nào có học thức, có chút tiền tài thì không phải khổ như tụi mình.” Điều con cảm nhận trong câu nói ấy là sự thiếu vắng tình thương giữa con người với con người, tại sao lại đối xử với nhau như vậy? Khoảng mấy tháng sau con cùng một người bạn ra mở quán ăn ở bên ngoài. Rồi khi quán cơm được hình thành khoảng năm tháng thì những khó khăn bắt đầu xảy đến cho con với biết bao điều buồn tủi, giận hờn khổ đau…. Sau đó con là người phải ra đi. Với con lúc này mọi thứ như đen tối hẳn đi, con chỉ muốn quên đi tất cả. Đối với con lúc đó, cuộc sống thật vô vị, sự ngột ngạt như bao trùm cả một không gian và con cảm thấy hướng đi gần như bít lối. Con trở về nhà anh chị và không làm gì nữa. Chính trong thời gian này, con bắt đầu cảm nhận được sự sống tâm linh của mình. Lúc này tự nhiên con muốn ngồi thiền, đọc những quyển sách về giáo lý của đạo Bụt mà con mượn ở quê của một nhà người quen (nhà ba sư cô Thiện Nghiêm). Ngày qua ngày, dần dần con tìm lại được chính mình nhiều hơn, vì không muốn làm cho ba và anh chị buồn, nên con làm giấy tờ để đi học lại.

 

Sau khi có giấy báo học con về nhà thăm Ba và lấy tiền đóng tiền học, con cũng không quên đi mượn thêm một vài Kinh sách Phật giáo để đem theo. Trước khi đi con tình cờ gặp được Thầy Giác Hưng, ngồi nghe Thầy nói chuyện rồi Thầy lựa cho con những quyển kinh phù hợp. Con không ngờ rằng sau cuộc nói chuyện đó hạt giống xuất gia trong con được nảy mầm. Một tuần sau, con lấy tiền của nhà và chào Ba để đi nộp học mà không nói gì về chuyện muốn đi xuất gia vì sợ Ba buồn. Bởi trong số bảy anh chị em, con là người duy nhất còn đi học nên ba dành rất nhiều ưu tiên và hy vọng ở con, mong con có chút kiến thức để sau này không phải vất vả như các anh chị. Nhìn ba con thấy rất thương và muốn làm cho Người vui lòng khi về già. Ngồi trên chuyến xe khách để vào Sài Gòn mà trong đầu con cứ phân vân và suy nghĩ mãi không biết nên chọn con đường nào đây? Đi xuất gia hay đi học? Con bắt đầu đi lạc vào những dòng suy nghĩ, bao nhiêu nghi vấn về đời sống xuất gia tràn về, không biết trong chùa sống như thế nào? Nếu đi xuất gia thì liệu có hạnh phúc không? Mình sẽ làm gì khi ở đó? Rồi  trong đó có sự giận hờn, trách móc nhau không?… Còn nếu đi học gặp lại những chuyện như trước đây thì phải làm sao?… Nhìn qua cửa kính xe, cảnh tượng người chen chúc, vội vã, cuốn theo những bon chen của dòng đời. “Rồi mình cũng sẽ như họ sao?”, con tự hỏi. Xe vẫn không ngừng lăn bánh để hướng về Sài Gòn. Khi gần đến chùa của Hòa Thượng thì con nói bác tài xế cho xuống rồi gọi xe đi lên cốc của thầy Giác Hưng. Thật không thể tưởng được sự bình an và yên tĩnh nơi đây. Cốc của Thầy thật đơn giản, chỉ toàn bằng tre, xung quanh có rất nhiều cây lớn với bầu không  gian yên tĩnh làm lòng con lắng xuống nhiều. Sáng hôm sau con vẫn chưa tin là mình đang ở chùa cho đến khi tiếng chuông Đại hồng vọng lên con mới biết là mình đang nằm trên  một chiếc giường đơn sơ, con trầm tư và ý thức rất rõ hôm nay là ngày quyết định! Nếu không vào trường nộp tiền học trong ngày thì  phải đợi cơ hội năm sau.

 

Con đi dạo quanh khu rừng gần đó để suy nghĩ cho thật kỹ về quyết định của mình thì bỗng con nghe từ xa, một giọng đọc rất hay vọng lại. Bước chân con chậm lại và đặt khẽ xuống mặt đất để không bị những tiếng lá khô làm ồn, những lời đó con chưa từng được nghe. Từng lời như thấm vào tim con. Lát sau con vào cốc hỏi thì Thầy cho biết đây là sách đọc “Đường Xưa Mây Trắng” của Sư Ông. Hạnh phúc làm sao khi nhận thấy trong tâm mình có sự nhẹ nhàng và không có gì vướng bận. Vậy là con đã quyết định chọn hướng đi cho mình trong ý thức sáng tỏ về lẽ sống. Trở vào gặp thầy để nói ý định xuất gia của mình và con không mấy ngạc nhiên khi thầy nói con nên ở lại đây thêm nửa tháng nữa để nhìn nhận cho rõ về con đường mà con sẽ chọn. Trong thời gian này con viết đôi dòng xin lỗi ba và gửi số tiền lại cho gia đình. Mười lăm ngày ở cốc khiến tâm tư con mở rộng hơn, con không còn suy nghĩ nhiều nữa. Con được nghe thầy kể nhiều chuyện về đời sống tăng thân, cũng như những gì thầy biết qua băng giảng, điều đó đã cho con thêm nhiều niềm tin. Thầy dẫn con lên Tu viện Bát Nhã, nơi mà con chưa từng biết đến, rồi cũng chính nơi đây con đã tái sinh thêm một lần nữa. Con được sinh ra trong đời sống tâm linh.

 

Bốn năm nhìn lại sao nhanh quá, tuy vậy con thấy những tập khí trong con cũng được chuyển hóa khá nhiều. Cuộc sống của một người tu thật đẹp, lúc nào cũng hướng đến cái thiện, cái lành cho bản thân và cho mọi người. Nói đến đây lòng biết ơn sâu xa trong con tràn dâng. Con biết nếu không có Sư Ông, không có tăng thân … thì con không có được may mắn như ngày hôm nay, con không được trở thành một con người có hiểu biết, có tình thương và nhận ra được đâu là chân giá trị của hạnh phúc. Bên cạnh đó con được sống chung với những người mà trong tâm hồn, trong lời nói hay trong cách hành xử hàng ngày luôn ẩn chứa một tình thương vô hạn, ai cũng thật hiền, thật trong sáng. Đó là những sư anh, sư chị, sư em của con, những con người thích đem vui cho mọi người bằng cả tấm lòng của mình. Con mong cho tất cả những ai khi gặp phải những vấn đề khó khăn (có thể là như con trước đây) sẽ có cơ hội tiếp xúc với tăng thân và biết đâu sẽ tìm lại được cái mà mình nghĩ rằng có thể đã mất.

 

Tay trong tay đi chung một con đường

Năm nay con đã được hai mươi bốn tuổi, cái tuổi vẫn còn rất trẻ, vậy mà cảm thấy hối hận rằng tại sao mình không được gặp tăng thân sớm hơn, đi tu sớm hơn? Thêm một lần nữa con muốn nói rằng con thật biết ơn Sư Ông, người đã tạo ra tăng thân, đã truyền trao pháp môn cho chúng con tu tập, đã giúp cho rất nhiều người nhận ra được cuộc sống vốn tươi đẹp này! Những lúc khó khăn con hay nghĩ về hình ảnh của Sư Ông để làm nơi nương tựa và thực tập. Cám ơn tất cả những gì đã cho con có ngày hôm nay, con sẽ cố gắng thực tập và giữ gìn hoài bảo của Sư Ông và tăng thân.

 

Thế giới của chúng ta đẹp lắm, bây giờ nó có đẹp thêm hay xấu đi thì tất cả đang ở đây, trong tay của bạn, trong hơi thở ý thức trong tư duy, hành động …. từ cuộc sống hàng ngày của bạn.” Câu nói của Sư Ông làm con nhớ lại những điều không tốt mà con đã làm trước đây và cũng là cơ hội cho con có thêm ý thức bảo vệ cho hành tinh. Xin nguyện cầu cho những ai đang làm cho Đất Mẹ khổ bằng những chương trình thử vũ khí, khai thác khoáng sản, tài nguyên vô tội vạ và làm ô nhiễm nguồn nước… Thì xin dừng lại ngay bây giờ để cho tương lai còn có mặt.

 

EIAB mùa đông 19/12/2011

Con của tăng thân.

 

Thích chân Pháp Cứ

Duyên thầy trò

 

Trăng Phổ Đà

Câu chuyện tôi bắt đầu từ một người bạn thân: Jenny mà tôi đã quen 20 năm về trước. Lúc đó tôi mới trở về từ một chuyến đi nghỉ mát từ Âu Châu và đang tìm một công mới. Trước khi bước sang công việc mới, tôi đã có một việc làm tạm ổn và đó là thời điểm tôi quen cô Jenny. Chị ta đã mở con đường tâm linh và giới thiệu tôi tới Làng Mai.

Jenny đã giới thiệu tôi tham gia vào chương trình Tái thiết lập gia đình (family reconstruction therapy workshop) được hướng dẫn bởi một vị Thiên chúa giáo. Chị đã dạy tôi thở và tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của thiên nhiên. Một thời gian sau chị đã kể với tôi rằng tuy chị là một người gốc Thiên chúa giáo nhưng chị cảm thấy gần gũi với Sư Ông và pháp môn của Làng Mai. Cuối buổi sinh hoạt chị tặng tôi một danh sách của những cuốn sách để tôi có thể dùng tham khảo thêm. Cuốn sách của Sư Ông, “Living Buddha, Living Christ” ( Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời) là một trong những quyển sách trong danh sách đó. Vì tôi đã được học trong những trường Thiên chúa giáo từ nhỏ, tôi đã rất quen thuộc với Kinh thánh và đã cảm kích bởi niềm tin và hạnh phúc của những người bạn Thiên chúa giáo của tôi. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh gia đình, tôi không có cảm thấy thỏa mãn với truyền thống thiên chúa giáo và Tin lành hoặc tin tưởng rằng niềm tin nơi tôn giáo được xác định bởi Thượng đế. Câu hỏi, “Ai là Thượng Đế?” làm cho tôi bối rối. Hơn nữa tôi cảm thấy sự va chạm giữa đức tin tổ tiên huyết thống của tôi và những người theo đạo Tin lành.

Tôi là một người Trung Quốc và bà ngoại thực tập đạo Bụt rất tinh tấn nhưng có lẽ là theo đạo Lão nhiều hơn (Người Trung Quốc thường có sự lẫn lộn giữa đạo Bụt và đạo Lão). Nhà chúng tôi có một bàn thờ với những tượng Bụt và Bồ Tát. Bà ngoại của tôi đã dành nhiều thời gian để tụng kinh và niệm thần chú. Bà ngoại của tôi đã ăn chay trường và ăn riêng từ gia đình của bà. Mỗi cuối tuần đều đi lên chùa để nghe pháp thoại và lâu lâu tôi đi theo bà ngoại của tôi. Tuy tôi đã được dạy bảo rằng tôi đã được quy y Tam Bảo từ thuở bé nhưng tôi không bao giờ cảm thấy có sự truyền thông với Tam Bảo. Bên cạnh đó, tôi có sự cảm hứng hơn khi tôi gặp những khuôn mặt hạnh phúc từ những người theo đạo Thiên chúa giáo và Tin lành hơn là những người thờ cúng với nét mặt long trọng tôi gặp ở chùa mà bà ngoại tôi hay tới. Sau khi được đọc cuốn sách “Living Buddha, Living Christ”, tôi rất hạnh phúc khi thấy được con đường Sư Ông đã kết nối Bụt và Chúa như hai anh em.

Gia đình tôi tuy không giàu có nhưng cũng không hề thiếu về  vật chất, những thứ tiêu dùng hằng ngày rất đơn giản. Ba tôi là người đánh cá và gia đình chỉ gặp Ba hai ngày mỗi hai tháng và có lúc thì lâu hơn. Kết quả là mẹ tôi phải gánh hết những công việc nhà và chăm sóc năm đứa con dưới sự chỉ định của một bà mẹ chồng rất nghiêm khắc. Đã có nhiều trường hợp mẹ của tôi tuy  không đồng ý với bà nội của tôi nhưng  phải rất khiêm nhường xin lỗi bà tôi trước một đêm ba tôi trở về vì không muốn để cho ba tôi biết những chuyện đã xảy  ra ở nhà. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã cảm được sự khổ đau của mẹ tôi. May thay, mẹ tôi là một người dễ chịu nhưng tôi biết mẹ tôi sống với nhiều sự căng thẳng. Thật ra mẹ tôi đã sống sót bởi căn bệnh ung thư. Có lẽ tôi đã bám vào sự khổ đau của mẹ tôi. Vì vậy khi mẹ hỏi tôi có hạnh phúc không, tôi luôn luôn trả lời một cách cho có lệ bởi vì tôi không thật sự biết hạnh phúc là gì. Tôi có một gia đình hòa hợp, luôn nâng đỡ tôi và công ăn việc làm ổn định nhưng khi nào tôi cũng cảm thấy có gì đó thiếu thốn. Cái cảm giác trống rỗng trong trái tim làm tôi khó chịu và kiến cho tôi háo hức để tìm một con đường tâm linh để tự giúp mình. Câu hỏi: “Tại sao tôi có mặt trên trái đất này?” luôn luôn nằm trong đầu tôi cho đến khi tôi gặp Sư Ông và tăng thân Làng Mai.

Năm 2005, có một người bạn chia sẻ với tôi hạnh phúc của chuyến đi thăm viếng Làng Mai và theo Sư Ông trong chuyến đi về Việt Nam lần đầu tiên. Tôi rất thắc mắc và tự hỏi Làng Mai như thế nào và cũng có sự mong muốn được cái hạnh phúc mà bạn tôi kể. Chị ta cho tôi mượn cuốn sách “Giận”.  Lúc đó tôi đã tích lũy sự giận hờn mà tôi tiếp nhận từ khách hàng trong công việc của tôi.  Trái tim của tôi đã quá đầy và không có không gian để có tình thương cho bất cứ ai, trong đó cũng có chính bản thân tôi. Tôi đã nổi giận rất dễ dàng và tệ nhất là tôi biểu lộ sự giận hờn của tôi đối với gia đình và bạn bè. Lời nói và hành động của tôi đã không dễ thương và làm tổn thương họ nhưng tôi thấy rất rõ là đó không phải là ý muốn của tôi. Tôi không muốn làm họ bị tổn thương. Tuy vậy tôi đã không có cách gì để giúp tôi tránh những trường hợp đó. Đồng thời, người bạn Jenny cũng mệt mỏi với công việc và muốn có thời gian nghỉ mát. Chị ta hỏi tôi có muốn đi chung với chị qua Làng Mai trong mùa đông không. Tôi trả lời “Được!” Nhưng chuyến đi đó đã không có đủ nhân duyên để thành sự thật.

Sự gặp gỡ đầu tiên của tôi với pháp môn Làng Mai là qua chuyến viếng thăm ngắn của phái đoàn Làng Mai ở Hong Kong vào tháng 4 năm 2006. Tôi đã thấy có cảm hứng với cách quý thầy, sư cô đi, ăn và cười.v.v… Lúc đó tôi đã mua vé qua Pháp rồi và trong mùa hè năm đó, tôi đã có đủ nhân duyên để thăm Làng lần đầu tiên trong cuộc đời tôi. Thư pháp, “Peace in Oneself, Peace in theWorld” ( Tâm bình thế giới bình ) của Sư Ông treo trong thiền đường Cam Lộ đã đánh động tôi. Thế giới mình đã và còn nhiều chiến tranh lớn và nhỏ xảy ra mọi nơi. Sự xung đột trong chính mình, trong gia đình, trong sở làm và trong xã hội và giữa những quốc gia. Chiến tranh đã đem lại rất nhiều khổ đau cho vô số người. Tôi nghĩ nếu mình có thể sống hòa hợp với chính bản thân mình thì mình cũng có khả năng để sống hòa hợp với mọi loài xung quanh mình. Tôi rất hạnh phúc được Sư Ông dạy là mình có thể phục hồi lại bình an với sự thực tập chánh niệm. Sự thực tập rất đơn giản nhưng rất sâu sắc. Mình chỉ cần trở về với hơi thở và có chánh niệm trong mỗi sinh hoạt hằng ngày. Tôi không cần ngồi lâu để tụng kinh và niệm thần chú như bà nội tôi đã từng thực tập. Khi mà mình có ý thức là mình đang thở thì đó là sự giác ngộ nho nhỏ. Điều đó có rất nhiều ý nghĩa đối với tôi bởi vì tôi thường nghĩ giác ngộ là một cái gì xa vời, khó mà đạt tới được. Mầu nhiệm quá! Tôi có thể áp dụng sự thực tập ở nơi nào và lúc nào cũng được. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc và trái tim của tôi đã mở rộng lớn hơn. Cuối khóa tu tôi đã thọ năm giới và nhận được pháp danh là Tâm Hướng An (Peaceful Direction of the Heart).

Khi trở về Hong Kong, tôi đã gia nhập vào tăng thân Hong Kong và tiếp tục thực tập với sự nâng đỡ của các bạn. Tôi đã rất may mắn được có cơ hội chuẩn bị cho chuyến đi Hong Kong của Sư Ông và tăng thân năm 2007. Tôi đã được sống chung với chúng xuất sĩ gần hai tuần. Đó là lần đầu tiên tôi cảm được cái hạnh phúc của tình huynh đệ và đó cũng là lần đầu tiên được gần gũi vị Thầy của tôi. Tôi có mặt hôm nay chắc có lẽ vì hạt giống đi xuất gia đã được gieo trồng trong lúc đó. Hạt giống của tôi không có đủ điều kiện để mọc bởi vì ba của tôi bị nằm liệt giường. Tuy hạt giống của tôi không có cơ hội được nẩy mầm liền, tôi rất mang ơn cơ hội để tiếp tục đi sâu vào sự thực tập và tiếp tục nâng đỡ Làng Mai ở Hong Kong bằng cách tổ chức những buổi sinh hoạt, khóa tu cuối tuần, ngày quán niệm.v.v. Mỗi khi tôi thấy các bạn thiền sinh rời nơi sinh hoạt tu học với một trái tim nhẹ hơn và mỉm cười được, tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Tuy nhiên bởi vì sự ngăn cách ngôn ngữ nên những người không hiểu được tiếng Anh ngần ngại để tham gia vào sự thực tập. Có những thiền sinh rất ngại để chia sẻ trong những buổi pháp đàm bởi vì họ không nói được tiếng Anh. Tôi rất mong rằng pháp môn Làng Mai có thể đem lợi lạc cho mọi người và có thể giúp họ tìm cách điều phục sự căng thẳng, sự thất vọng và hạt giống giận hờn.

Ba thương yêu của tôi, một người không theo đạo, đã sống với cơn bệnh trong 12 năm sau khi nhận ra là mình có bệnh cho đến ngày Ba mất. Trong lúc bệnh Ba tôi vẫn giữ được sự bình an. Ba tôi đã được phẫu thuật và tưởng rằng đã lành bệnh. Nhưng cơn bệnh không lành và gia đình của tôi chưa học được bài học. Chúng tôi luôn luôn tìm cách để chữa lành bệnh của Ba mà không biết là cách chữa hay nhất là chấp nhận và sống hòa hợp với cơn bệnh của Ba. Vì vậy, Ba tôi đã giải phẫu lần thứ hai và đã không thành công. Sau lần phẫu thuật thứ hai thì Ba tôi đã mất khả năng để tự chăm sóc mình. Mới đầu Ba tôi mất khả năng đi, chỉ dùng hai tay, thân không cử động được, không uống nước hay nuốt được bình thương, không nói chuyện được và dần dần thì không nhận diện được những người thương trong gia đình. Mọi người trong gia đình đều hết lòng góp bàn tay để chăm sóc Ba. Tuy nhiên, tất cả anh chị em tôi ban ngày phải đi làm và mẹ tôi phải gánh trách nhiệm chăm sóc Ba. Trong hai năm cuối của Ba tôi, mẹ tôi phải tự thân đút cho ba tôi ăn như chăm sóc một đứa bé nhưng khó hơn gấp hai lần. Khi Ba tôi nuốt không được thì Mẹ tôi không giữ được sự kiên nhẫn và thốt lên những lời không ái ngữ với Ba. Tôi biết trong trái tim của mẹ tôi đầy sự đau đớn khi thấy thân thể của người mình thương yêu hoại diệt từ từ. Anh chị em tôi cũng cảm được như vậy. Khi Ba tôi thấy nỗi đau đớn của mẹ tôi và tất cả thân phận trong gia đình thì Ba tôi từ chối ăn. Đó là những lúc khó khăn nhất cho cả gia đình. Với một trái tim đau đớn, tôi năn nỉ Ba tôi cho phép gia đình chăm sóc và xin Ba chấp nhận và sống với cơn bệnh cho đến ngày Ba ra đi. Dần dần Ba tôi cố gắng ăn lại tuy rằng mỗi bữa ăn là một sự hành hạ đối với Ba. Tôi biết sự cố gắng đó là cách Ba tôi biểu lộ tình thương đối với gia đình. Tôi vẫn nhớ buổi tiệc ăn mừng sinh nhật cuối cùng chung với nhau, tuy không ăn được nhiều nhưng Ba ngồi đó với gia đình và tôi thấy nước mắt của Ba chảy. Hình ảnh đó đã làm trái tim tôi nhói đau và tôi biết chắc mẹ tôi cũng trong tình trạng như vậy. Tôi rất ngạc nhiên khi nhận biết mẹ tôi đủ vững để nói với Ba tôi hãy thưởng thức giây phút quý báu là đang được ngồi chung với nhau. Chúng tôi đã cố gắng hết sức để giữ Ba tôi ở nhà bởi vì biết rằng khi Ba tôi nhập viện thì sẽ không trở về. Ba tôi đã nhập viện vào ba tháng cuối của cuộc đời trước khi đi vào cuộc hành trình mới.

Tôi thật sự mang ơn sự can đảm của Ba tôi trong lúc sống với cơn bệnh. Đó là một bài học quý báu cho gia đình và tôi. Tôi đã học được là cho dù mình khỏe cách mấy đi nữa, mình cũng không thoát được sinh, lão, bệnh và tử. Tuy rằng chỉ có tôi trong gia đình theo đạo Phật, gia đình tôi đã cho phép tôi sắp xếp đám ma theo truyền thống Phật giáo. Chúng tôi sắp đặt làm lễ Cúng Thất. Buổi lễ đầu tiên được tổ chức theo nghi lễ Làng Mai do Thầy Pháp Ấn hướng dẫn. Đó là cơ hội đầu tiên tôi giới thiệu mẹ tôi với pháp môn Làng Mai. Buổi lễ được diễn ra bằng tiếng Anh và có thông dịch qua tiếng Trung Hoa nhưng mẹ tôi vẫn không hiểu. Đó là một sự nhắc nhở về chí nguyện để đem pháp môn Làng Mai đến cho tất cả mọi người. Ngôn ngữ không là một sự chướng ngại để mọi người có thể tiếp xúc với chánh Pháp. Sáu buổi Cúng Thất sau được tổ chức theo truyền thống Phật giáo Trung Hoa. Tất cả mọi người trong gia đình đã tham dự các buổi lễ hết lòng. Sự ra đi của Ba tôi là cơ hội cho gia đình, nhất là mẹ tôi được tiếp xúc với đạo Bụt nguyên thủy.

Mọi người trong gia đình đã chấp nhận sự ra đi của Ba một cách nhẹ nhàng. Trong thời gian đó mẹ tôi giữ được sự bình an. Ba tôi mất vào tháng 3 năm 2010 và trong tháng 6 năm đó tôi đã tham dự khóa tu đầu tiên tại Phật Học Viện Ứng Dụng Châu Âu do Sư Ông tổ chức. Các bạn hữu trong đạo biết tôi có ý nguyện làm người xuất sĩ nhưng tôi cần sự nâng đỡ để ước nguyện đó thành sự thật. Những ngày cuối của khóa tu,tôi ngạc nhiên khi nghe bạn hữu của tôi thưa với Sư Ông là tôi có ý định đi xuất gia. Tôi đã thưa với Sư Ông là tôi sẽ qua Làng sau chuyến đi hoằng pháp của Sư Ông tại Hong Kong. Trong thời gian đó, tôi đã sắp xếp cho mẹ và em gái tôi nghe pháp thoại tại một ngôi chùa ở Hong Kong. Tôi đã mời mẹ tôi tham dự khóa tu của Sư Ông tổ chức tại Hong Kong để mẹ tôi có cơ hội tiếp xúc với Sư Ông. Tôi cũng thưa với mẹ tôi là tôi sẽ qua Pháp để học hỏi từ Sư Ông. Mẹ tôi đã không từ chối. Lúc đó tôi không có đủ can đảm để thưa với mẹ tôi là tôi có ý định qua Làng để xuất gia bởi vì mẹ và tôi rất gắn bó với nhau. Trước khi tôi bước ra khỏi nhà, mẹ tôi bảo rằng con đừng lo lắng bởi vì anh chị em của con sẽ lo mọi việc ở nhà. Lúc đó tôi thưa với mẹ tôi là nếu có đầy đủ điều kiện thì con sẽ xuất gia. Mẹ tôi khóc và tôi cũng khóc trong lòng. Tôi lập tức rời khỏi nhà bởi vì tôi không muốn mẹ tôi khổ bởi sự ra đi của tôi vào tháng 12 năm 2010. Tôi đã gọi mẹ tôi để xin phép xuất gia vào tháng 6 năm 2011.  Mẹ tôi đồng ý.

Sư cô Her Xuan (Malaisia); Sư cô Trăng Nga Mi (Malaisia);
Sư cô Trăng Mới Lên (Indonexia); Sư cô Trăng Phổ Đà (Hongkong)

Tôi rất mang ơn phước đức của ông bà tổ tiên để tôi có cơ hội đi trên con đường này. Trong tôi sự mang ơn tới Ba Mẹ, Thầy cô, bạn bè và mọi loại thật lớn. Nhờ sự nâng đỡ của mọi người mà tôi đã dễ dàng tìm được Thầy tôi. Ngay bây giờ và ở đây, tôi đang được đi trên con đường mầu nhiệm này. Tôi nguyện sẽ đi cùng với mọi loại và hồi hướng tất cả hoa trái của sự tu tập đến mọi loài.

Núi cao biển sâu

 

Trước ngày xuất gia tại chùa tổ Từ Hiếu

Chân tâm một quyết lên đường”

Sư cô Ân Nghiêm được xuất gia trong gia đình Cây Sen Vàng, năm 2009, lúc tu viện Bát Nhã bắt đầu xảy ra chuyện. Sư cô rất thiết tha trong việc tu học nên nhờ đó đã thay đổi cái nhìn của gia đình về việc đi tu của mình và còn hết lòng ủng hộ.

Tôi đã quen với mùi nước mặn từ thuở bé, vì mỗi lần con nước cạn tôi thích đi mò cua bắt ốc. Khi con nước lên làm tôi thêm háo hức, cùng với bạn bè ra bơi lội trên sông. Tuổi thơ êm đềm nhưng cũng lặng lẽ trôi đi như dòng nước sông quê. Trong ngôi làng nhỏ nằm trên vùng hải đảo, quê nghèo đã nuôi tôi lớn lên với nhiều kỉ niệm khó quên…

Nhiều người trong làng thường cho tôi là cô bé nghịch ngợm, cứng đầu, thứ hạng nhất nhì trong xóm. Vậy mà từ rất bé tôi hay đến chùa sinh hoạt trong gia đình Phật Tử. Nhờ đến chùa nên tôi sớm tiếp xúc với hình ảnh quý thầy, quý sư cô. Mỗi lần bắt gặp hình ảnh này, tôi cứ ngắm nhìn mãi. Tâm trí trẻ thơ của tôi bấy giờ, hình dáng người tu sĩ là biểu tượng cho một điều gì thiêng liêng thần thánh nhưng cũng khó diễn đạt để khái niệm rõ ràng về biểu tượng ấy.

Thật ấn tượng với những cái đầu tròn được cạo sạch tóc, với đôi mắt trong như hạt sương trên gương mặt  sáng tươi hiền lành, nhiều lúc tôi tự hỏi: “Sao đầu của các vị xuất gia tròn và sáng quá vậy? Hay là có thoa chất thuốc gì đó? Nếu mình rủ bỏ mái tóc xanh xinh đẹp này đi thì đầu mình có đẹp hơn vậy không?”. Rồi bất chợt một ý nghĩ lóe lên trong tâm tư: “Hay là, lớn lên mình sẽ xuất gia!” Khó có thể biết được điều gì sẽ đến, nhưng có một điều đã đến âm thầm trong trái tim tôi là một ước nguyện xuất gia được thắp lên từ ấy, dù không biết mình đi xuất gia để làm gì? Ước nguyện này như một ngọn nến soi tỏ tấm lòng, như ánh trăng khuya vằng vặc trên thái không mà tôi từng nhìn ngắm. Vì sao mình lại muốn đi tu? Câu hỏi đến từ trái tim mà tôi chưa lý giải được. Có thể đó là một suy nghĩ dễ thương trong tâm hồn đứa trẻ con.

Dì tôi là một nữ huynh trưởng gia đình Phật tử, dì rất có tâm phụng sự Tam Bảo nên bà thường dẫn tôi đi cùng trong những chủ nhật hàng tuần, ngày sinh hoạt gia đình Phật tử. Mỗi lần nấu xong thuốc cho thầy Trụ trì, dì hay dẫn tôi vào gặp thầy. Từ đó tôi biết đến thầy – vị thầy tâm linh đầu tiên của tôi. Lần đầu tiên tôi được thừa hưởng tình thương của một người thầy dành cho người đệ tử. Những lần đi học về chúng tôi thường xách dép lên tay, đua nhau chạy ngang qua chùa, thầy hay ra ngoài đường đứng đợi lũ con nít chúng tôi về cùng chơi. Thầy thương tôi lắm, nên một hôm thầy gọi:

–        Bé P, Con có muốn vào chùa ở không? Thầy nuôi. Con về nhà xin ba má, nếu ba má cho thì mang đồ xuống đây nhé!

Thầy nói xong, tôi vô tư đáp:

–        Dạ không!

–        Sao vậy con? Ở nhà ba má cho ăn cao lương mỹ vị quen rồi nên ăn chay không được chứ gì?

Tôi nghĩ thầm: “Thầy nói lạ quá, nhà mình có giàu gì đâu mà ăn những thứ sang trọng kia, mình ăn chay được chứ bộ…” Tôi nhớ cái thời tấm bé ấy bạn bè chọc nhà đứa này giàu, nhà đứa kia giàu là tôi dị ứng lắm. Không đứa nào chịu cho là nhà nó giàu mặc dù có khá giả thiệt. Huống hồ Ba Má tôi có cái gì đâu để gọi là giàu. Thế rồi tôi phân bua với thầy:

–        Thưa thầy không phải vậy đâu! Vì con chưa muốn đi

tu bây giờ. Lớn lên con mới đi.

Chùa quê nơi nào cũng mộc mạc chân quê. Tôi mến yêu mái chùa từ sự hoang sơ nghèo khó của chùa. Từ lâu chùa bị bỏ hoang, không một bóng người qua lại, không một đường chổi quét dọn, không một bàn tay chăm sóc. Cây bồ đề trước sân vẫn héo hắt trơ cành qua mấy mùa đông. Nét hoang sơ làm chùa thêm lạnh lẽo, nên mỗi lần qua ngỏ ai cũng có cảm giác sợ ma. Người trong xóm ai cũng cho quanh chùa rất nhiều ma. Từ lúc có thầy về chùa, xóm làng trở nên thân thiện ấm áp. Tiếng chuông đại hồng ngân vang trong sớm mai và trong buổi chiều tà đã xóa tan nhiều nỗi u uẩn sợ hãi trong lòng người. Gia đình Phật tử sinh hoạt trở lại, chủ nhật nào cũng là ngày vui cho tất cả mọi người. Nếu không có thầy về tu tập, chăm sóc cho ngôi chùa này thì hôm nay không biết chùa còn không? Hạnh phúc đã đến – với tôi chỉ có thế.

Tháng năm đi qua như vừa tỉnh một giấc mơ, từ một chú chim non mới mở mắt, chập chững trong đôi chân chưa cứng cánh chưa mềm, rồi một ngày nào chợt tung cánh bay cao. Từ ngành oanh tôi lên ngành thiếu, phụ các anh chị huynh trưởng hướng dẫn sinh hoạt đoàn và tập sự làm chị trưởng. Làm anh chị trưởng trong gia đình Phật tử làm gì có lương bổng thù lao nhưng lại cho tôi nhiều hạnh phúc. Vì thế tôi cống hiến, đóng góp phần mình nhiều hơn cho công việc xây dựng gia đình tâm linh này.

Tôi yêu mến màu khói trầm thanh thoát nên dành rất nhiều tình thương cho màu áo gia đình Phật tử và gắn bó với màu áo ấy ngần mười mấy năm. Tình thương sâu đậm làm cho tâm hồn tôi cảm thấy vui hơn khi được sống và đồng hành với những người anh, người chị, người em chung màu áo. Thầy của tôi vẫn sát cánh dìu dắt cho gia đình Phật tử của chùa. Tôi nhớ mãi lời dạy của thầy: “Chỉ có đi tu các con mới có thể báo đền trọn vẹn ơn đức của cha mẹ”.

Lời thầy dạy như khai mở cho tôi một con đường mới, nhưng tôi chưa hiểu và luôn trăn trở. Ước nguyện cũng là một hạt giống mà ngày xưa được gieo trồng trong đất tâm nên thêm một lần tôi thao thức: “Có phải mình muốn đi tu?”. Nhìn sâu vào đời sống thế gian, hạnh phúc là điều quá hiếm hoi mà bế tắc thì cứ hiển bày nhưng ít có ai tìm ra lối thoát cho sự bế tắc ấy. Cuộc giống của gia đình huyết thống, bên nội bên ngoại, không thực sự có được bình an đẹp đẽ như tôi thường nghĩ. Cái mà người đời mãi tìm cầu và cho nó là hạnh phúc sao lại quá mong manh. Mọi người đều đi chung một con đường là lợt lạt với nhau trong sự gắn bó liên hệ, thâm tình ngày một cách xa khi mỗi người an bề gia thất. Tiền bạc có thể làm phương tiện đem lại cho mọi người một ít hạnh phúc, nhưng mặt khác nó lại thành con dao cắt chia tình ruột thịt. Đây là một thực tại trong đời sống thế gian.

Tôi còn có ba người em, chúng tôi thương nhau lắm. Nhưng ngày sau, khi mỗi người tự lo tương lai cho riêng mình thì tình nghĩa chị em biết còn keo sơn như bây giờ? Tôi phải làm gì và phải sống như thế nào để gìn giữ tình thương trọn vẹn cho tất cả những người thân ruột thịt của tôi, bây giờ và mai sau?

Thời học sinh ngày hai buổi đến trường, tình bạn học trò cũng chan hòa màu sắc buồn, vui. Cái tuổi bồng bột, hồn nhiên, trong sáng ấy đã cho tôi biết được thế nào là cảm giác mến mến thương thương, rồi giận hờn vu vơ, trách móc. Tình cảm bạn bè có nhiều mức độ khác nhau. Tình thương mang đến nhiều cơn buồn chứ đâu hẳn chỉ có vui. Tôi lại mơ hồ về hạnh phúc dưới cái tuổi mười chín đôi mươi. Có lẽ bởi sự đổ vỡ mái ấm của các dì, của các bậc tiền bối trong họ nên tôi thường ám ảnh và hoài nghi về nó. Không thật sự tin tưởng vào tình thương, tuy nhiên khi chia tay bạn cũng khiến tôi man mác buồn.

H là người bạn thân trong những năm phổ thông. H thường hay kể cho tôi nghe về người chị đang tu học bên Làng. Thoạt đầu tôi chẳng hiểu Làng là cái gì? Làng ở đâu? Hỏi ra mới biết là trung tâm tu học có tên gọi Làng Mai tại đất Pháp. Thấy tôi hay quan tâm về người tu, H giới thiệu và cho tôi mượn băng giảng “Tuổi trẻ, tình yêu và lý tưởng” của Sư Ông Làng Mai cùng với một CD nhạc thiền của Làng do quý thầy quý sư cô hát. Tôi như được thoát thai, khám phá ra điều mầu nhiệm của tình thương đích thực khi nghe băng giảng. Chưa thương được chính tôi thì làm sao thương được bất cứ ai. Thứ tình thương trong tôi có chăng là vướng mắc, muốn chiếm hữu cho riêng mình, đem đến phiền muộn, mất tự do. Tôi đã trở thành nô lệ của tình thương mà không hề hay biết. Những bản nhạc thiền, giọng tụng niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm từ quý thầy, quý sư cô đã chữa trị cho tâm hồn tôi. Chưa bao giờ tôi cảm một bài hát đơn giản mà hay đến thế. Và một điều hết sức bất ngờ, quyết định không chút chần chừ “mình sẽ làm được điều này, mình sẽ xuất gia. Mình sẽ làm một điều gì đó có ích cho cuộc đời này, cho những người đang đau khổ, cho cả thân bằng quyến thuộc và cho chính bản thân mình.” Cùng một lúc tôi thấy hiểu hơn về câu nói của Thầy năm giới đã “tuyên bố” ngày xưa, và thấy được con đường mà mình hằng tìm kiếm bấy lâu nay. Tâm sự với H về tâm nguyện của mình, H đưa tôi đi thăm Ôn Từ Đức lần đầu tiên tại chùa Pháp Vân TPHCM. Từ đó tôi biết Ôn, nhiều lần xin tham vấn Ôn và lần nào cũng ôm về được một số bài viết đã được đánh máy. Tâm Bồ Đề được nuôi lớn nhanh hơn từ đó. Tôi thấy quá hạnh phúc, quá bình an khi được Ôn hướng dẫn, chỉ dạy phương pháp thực tập. Thấy tôi có tâm xuất gia, Ôn giới thiệu tu viện Bát Nhã.

 

Như một cảnh giới của xứ sở thần tiên, Bát Nhã đẹp, thiêng liêng và hùng vĩ. Người tu ở đây phần đông trẻ tuổi. Ai cũng thanh thoát, nhẹ nhàng. Tôi thoáng gặp lại hình ảnh của những vị tu sĩ ngày xưa – những hình ảnh đẹp đã luôn đi theo bên lòng đứa bé lên bảy lên tám, hôm nay tái hiện lại khiến tôi xúc động. Ước mơ được trở thành một sư cô càng mãnh liệt hơn. Tuy vậy tôi không vội vàng, để cho mình thời gian trải nghiệm và tiếp xúc với con người cũng như môi trường nơi ấy.

Có cơ hội ngồi chơi, tôi hay bàn chuyện tu hành, ba má chột dạ lo lắng. Vậy nên mỗi lần Ôn về chùa Từ Đức, tôi hay “rón rén” đi thăm mà không để ba má biết. Tôi cứ hay mon men rời khỏi nhà, rồi một ngày cũng chẳng qua mặt được ba. Ba tuyệt đối nghiêm cấm không cho tôi tiếp xúc với người tu, đặc biệt quý thầy quý sư cô Bát Nhã về Từ Đức. Như một con chim bị nhốt vào lồng, tôi chẳng được bay nhảy thoải mái như xưa, luôn bị gia đình theo dõi từng nhất cử nhất động. Nhưng có dịp đi đâu ra ngoài hoặc viện cớ đi nhà bạn chơi, tôi luôn lái xe lên chùa. Biết được sẽ có một xe lớn đưa quý thầy quý sư cô về lại trú xứ, H gọi điện rủ tôi đi Bát Nhã chơi nhân dịp xe còn dư chỗ. Hết sức cẩn trọng và cố gắng để xin đi nhưng ba mẹ cương quyết chối từ. Vẫn còn thời gian nên tôi cố gắng ỉ ôi xin xỏ mấy ngày. Ba trở nên cáu gắt, bực bội :

–        Đã nói không là không, sao con lì quá vậy? Đừng tốn công vô ích.

Tôi âu sầu không dám “rọt rẹt” nữa, thất bại ão não, tôi cầm máy điện thoại cho H báo cái tin chẳng mấy vui vẻ gì. Tôi sẽ không còn một tia hy vọng nào nữa cả nếu đêm ấy H không gọi lại cho tôi. Biết có thêm nhỏ bạn cùng lớp muốn đi Bát Nhã nữa, tất cả là ba đứa, tôi hứng khởi lấy hết can đảm để xin một lần cuối cùng, cũng là lần quyết định, tuy nhiên hy vọng phần trăm trong tôi không lên đến năm mươi. Lúc ấy Ba đang nằm xem ti vi:

–        Ba ơi! Ngày mai đoàn đi Bảo Lộc rồi. Lớp con có hai đứa nữa cũng đi. Ba cho con đi chơi với tụi nó cho vui. Con đi chơi thôi mà! Tụi nó nói nếu con không đi thì chắc tụi nó cũng ở nhà. Tội tụi nó quá!

Ba vẫn nằm im, không nói gì. Thấy án binh bất động, tôi tiếp:

–        Mà con xin đi mấy ngày về thôi chứ có ở nhiều đâu. H nó cũng chuẩn bị vào lại Sài Gòn để chuẩn bị nhập học. Nó muốn đi chơi một chuyến rồi về đi học sớm, con cùng về với nó mà! Con xin đi một lần này nữa thôi, con không đòi đi nữa đâu! Một lần cuối cùng nha ba !

Không biết nghe tôi nói có vẻ lọt lỗ tai hay vì thương cảm cho mấy đứa bạn tôi mà Ba từ từ ngồi dậy lên tiếng. Tôi cứ tưởng sẽ bị rầy một trận vì cái tội lãi nhãi. Nhưng một điều mầu nhiệm đã đến với tôi:

–        Bây giờ con muốn đi phải không ? Lên mời má xuống đây rồi trước mặt ba má con phải hứa đây là lần cuối con đến chùa đó, và phải hứa là về lại nhà chứ không được đi luôn…

Tôi  mừng như được mở cờ trong bụng. Còn gì nữa mà không lo dạ lia lịa, có gì đâu phải sợ chỉ vì một lời hứa. Đối với tôi lúc ấy, bao nhiêu điều kiện ba đưa ra tôi đều làm được hết, miễn sao được đi Bát Nhã, thăm lại chốn thần tiên, thăm lại những con người thần thánh ấy. Đó cũng là lần thứ hai tôi đến tu viện và là lần đầu tiên được “cấp” giấy phép hẳn hoi.

 

Phép được ba ngày nhưng tôi đi tuốt đến năm ngày với lý do trời mưa bão, đường đèo nguy hiểm nên con chưa về được. Ba giận lắm, mắng và ra lệnh cho tôi phải về gấp, rồi ông cúp máy. Tôi phải nhờ đến sự phò tá của má, ba mới xiêu lòng.

Mấy ngày ở đây, do không có khóa tu nên thời khóa sinh hoạt bình thường. Tôi có cơ hội được tiếp xúc với những gì hiện thực xảy ra trước mắt, cái nhìn thơ mộng ban đầu về đời sống và hình ảnh người xuất gia cũng giảm bớt. Điều này khiến tôi tự kiểm và rà soát lại cảm quan bản thân, thẩm tra lại các ước muốn của mình. Trong buổi vấn đáp, câu trả lời cho câu hỏi của tôi bởi một sư cô khiến tôi thức tỉnh và giúp tôi mạnh dạn định hướng đi cho mình với một bầu nhiệt huyết dâng tràn. Thời gian ở đó, tôi lại xin đi tham vấn Sư Bá (tức Ôn Từ Đức), phần trăm muốn xuất gia của tôi lúc này lên đến một trăm.

 

Thời hạn đã hết, tôi trở về gia đình. Ba thấy tôi liền mừng vui hỏi :

–        Sao con, đi ngán chưa?

–        Tôi vờ vịt: “Dạ ngán rồi! Con không thèm đi nữa.”

 

Đó là khoảng thời gian gần cuối năm 2006, trong khi đợi chờ cơ hội tốt hơn để thưa chuyện với ba má. Tôi tiếp tục đi học tại TP.HCM. Xa được sự kiểm soát của ba mẹ, có trốn đi chùa cũng chẳng ai biết. Và tôi cứ đi lên vùng Bảo Lộc mỗi khi có ngày nghỉ nhiều để nuôi dưỡng và tưới tẩm hạt giống bồ đề trong mình. Thời gian ấy, nghĩ lại tôi thấy mình phạm giới nói dối nhiều lần. Mỗi khi nhận được điện thoại của ba má hoặc của các dì, tôi hoang mang lo sợ đầu dây bên kia nghe tiếng chuông thỉnh. Có lẽ được Bụt Tổ che chở nên không lần nào bị ba má phát hiện.

Những ngày đầu xuân năm 2007, Sư Ông và tăng thân Làng Mai về, tổ chức khóa tu. Tôi âm thầm lén lút ghi danh tham dự. Tiếp tục nói dối ba má vào lại TP.HCM trước mấy ngày để học sau kì nghỉ Tết, nhưng kỳ thực đi sớm mấy ngày để kịp khóa tu. Tôi chẳng để ba má chở ra quốc lộ đón xe như mọi khi tôi đi, mà hôm ấy nhờ em trai chở qua đón xe đi Bảo Lộc. Tất nhiên em tôi vì thương chị nên giấu kín giùm. Vậy là tôi được dự trọn vẹn khóa tu. Hơn nữa còn dự được buổi lễ xuất gia của bảy mươi bảy người trẻ, một con số khiến ai nghe cũng phải chấn động. Và làm sao tôi tránh khỏi cơn xúc động trước những bồ đề tâm cực kỳ dũng mảnh ấy. Sơ tâm cứ thế trào dâng, tôi hạnh phúc biết nhường nào! Tôi lại thưa với Sư Bá, bày tỏ nguyện vọng muốn đi tu của mình, Sư Bá yểm trợ. Ôn dạy tôi nên về nhà sống hết lòng với ba má trong một tháng.

Thế là tôi về Sài Gòn sau khi mãn khóa tu, quyết định không học tiếp nữa nên tôi lo thu dọn đồ đạc về nhà chơi với gia đình. Chẳng thể nào dám mở miệng xin vì lần nào cũng thế, ba luôn dọa:

–        Con mà bước ra khỏi nhà thì chừng ba ngày sau con về để tang cho ba.

Hoặc là:

–        Con đi đi, trong năm ngón tay này ba sẽ chặt đứt một ngón, xem như không có đứa con này.

Và dữ dội hơn nữa:

–        Con cứ đi trước, ba xách rựa theo sau, hễ gặp ông nào ba sẽ chém ông đó. Con đừng có mà bị dụ dỗ.

Vậy thì làm sao tôi dám, chỉ còn cách âm thầm xách áo ra đi.

Ba má thấy tôi mang tất cả hành lý về nhà nên hơi lo ngại:

–        Sao mang đồ về nhà nhiều vậy? Máy vi tính mang đi mang về làm chi mà khổ vậy con?

–        Trường con một tháng nữa mới đi học lại. Thầy cô ăn Tết hơi kỹ ba à! (tôi cười đùa). Với lại máy tính mà để trong đó thì không an toàn. Nhà không có khóa an toàn nên con mang về thôi. Còn cả tháng nữa mới học lận mà. Mang về con có cái để học chứ ba.

Rồi ba má yên tâm. Thời gian ấy tôi lén may đồ tu gấp. Thấy tôi có vẻ ít nói, hiếu để, ngoan ngoãn hơn rất nhiều so với trước nên ông bà sinh nghi nên cứ vặn hỏi mãi, nhẹ nhàng khuyên tôi nói thật, tôi hơi xiêu xiêu. Đó là một buổi tối, tôi mời ba má lên phòng khách, lấy hết can đảm tôi quỳ xuống thưa:

–        Con xin phép ba má cho con đi tu…

Tôi thấy tay ba run bần bật, ông kêu lên: – Trời ơi!…

–        Khoan đã, xin ba hãy cho con nói hết… Trường con đi học rồi nhưng con định không học nữa mà ôm đồ về sống với ba má một tháng, cố làm những gì có thể với ba má rồi con sẽ trốn đi. Do ba từng dọa dữ quá, nhưng vì ba má bảo con nói thiệt nên con xin khai thiệt… Con thấy hoàn cảnh gia đình hai bên nội ngoại của mình đầy đau khổ. Có tiền nhưng đâu có hạnh phúc thật sự đâu ba! Ba nhìn xem nơi các dì con đó, có mấy dì được hạnh phúc? Nếu con xin đi tu, ba má không cho mà cứ bắt con qua Mỹ, thì dù có qua đó rồi con vẫn đi tu. Con xin ba má cho phép con đi.

–        Thà con qua Mỹ, biết nước này nước kia với người ta, biết đó biết đây, sống khuất mặt ba muốn làm gì thì làm. Chứ giờ ba còn ở đây, con ở đó mà con đòi đi tu trước mặt ba, làm sao ba chịu nổi? Mỗi người có một cái số riêng. Con làm sao giống dì con. – Ba khóc nức rồi đứng dậy bỏ đi, không thèm nghe tôi nói nữa…

 

Đêm đó ba vào phòng nhưng không ngủ được. Ba khóc suốt và rên từng cơn. Nửa đêm, cơn đau khổ dường như tột cùng, ba đập tay xuống thanh giường tức tưởi than trời trách đất. Tôi ở ngoài lòng đau
như cắt, cũng không tài nào chợp mắt được. Quá nửa đêm, ba mở cửa phòng đi ra ngoài. Tôi đợi mãi không thấy ba trở vào trong khi ngoài kia trời đang mưa. Sợ ba nghĩ quẩn, tôi liền mở cửa đi tìm. Khi tôi đi ra tới hiên trước nhà, thấy ba ngồi bó gối co ro buồn bã, tay cầm khăn vừa khóc vừa chùi nước mắt. Lần đầu tiên từ khi sinh ra cho đến bây giờ tôi mới thấy ba tôi khóc như vậy. Như một đứa bé. Tôi thấy

quá xót xa, cảm thương ba vô hạn. Tôi ôm chầm lấy ba và hai cha con cùng khóc. Hồi lâu:

–        Con vào ngủ đi. Ba không sao đâu! – Ba sụt sùi.

–        Ba vào thì con mới vào – Tôi thút thít.

Ngồi đó rất lâu, ba mới chịu đi vào.
Hôm sau, ba bỏ ăn mấy ngày liền và mượn rượu để giải sầu. Kể từ đó hai cha con không nói chuyện với nhau nữa. Tôi cũng “đấu lại” bằng cách bỏ ăn giống ba. Ba xót con nên năn nỉ tôi ăn cơm. Cuộc “chiến” diễn ra ngót mấy ngày, tôi nghĩ mình khó lòng “thắng” được ba nên đành chọn giải pháp hoãn binh, gác chuyện đi tu lại, xin đi làm một thời gian cho ba thấy vậy mà an tâm và vui lòng.

Tôi xin việc nơi một nhà hàng, làm ở quầy bán hải sản. Hằng ngày phải đối mặt với cảnh giết chóc, buôn bán gian dối mà tôi phải tham dự vào công việc gian dối ấy. Lương tâm mình không cho phép phải tiếp tục. Thầm nghĩ chắc bây giờ ba nguôi ngoa rồi, đồ tu đã có sẵn nên tôi háo hức đợi ngày trốn đi. Nên gần hai tháng làm công việc đó, tôi muốn xin nghỉ. Có ngờ bị ba má phát hiện số đồ của tôi, ba lệnh má phải đốt ngay. Má tôi vì phần thương con và cũng muốn ủng hộ tôi nên không nỡ đốt mà đem vào gửi tạm nhà nội. Biết chuyện, tưởng đồ bị đốt sạch nên hơi buồn về cách hành xử của ba má, tôi tự an ủi mình và nhủ sẽ may lại không lâu.

Giai đoạn ấy, phái đoàn Làng Mai có viếng thăm chùa Long Sơn Nha Trang. Tôi nhân cơ hội còn ở đó, lái xe đi thăm Sư Bá và tham vấn chuyện lên Bát Nhã tập sự. Tôi đã làm theo lời Ôn dạy, nghỉ việc và tìm cách khác để ba hiểu mình hơn, thua keo này ta lại bày keo khác.

Với lời góp ý của một đứa bạn thân, tôi vào Sài Gòn học thêm vi tính với chủ ý mở một tiệm Internet tại nhà cho gia đình có thu nhập, sau này có đi cũng an lòng hơn vì mình đã giúp chút ít cho gia đình. Thời gian ở nhà làm việc cũng là thời gian để tôi thực tập hết lòng với gia đình. Chí xuất gia mãnh liệt thôi thúc tôi từng ngày, tôi lại lén may đồ tu giấu kỹ trong tủ quần áo của tôi. Tiếp tục đấu tranh tư tưởng với ba, tôi tiếp tục ăn chay trường sau hơn mấy tháng ăn chay khi học ở thành phố. Tôi không còn thiết nghĩ đến bạn bè, tiệc tùng. Cái điện thoại di động cũng trở thành vô nghĩa đối với tôi, cho nó nằm yên đó. Mỗi tối được xuống chùa tụng kinh cùng quý bác Phật tử là niềm vui sướng của tôi. Mỗi chủ nhật lại về chùa sinh hoạt cùng anh chị em là một điều vô cùng ý nghĩa và nuôi dưỡng bồ đề tâm. Cứ thế ngày lại ngày cho đến sáu tháng tôi sống và làm việc tại gia đình. Đó là cách tôi nỗ lực để cho ba hiểu lý tưởng của tôi. Tôi ao ước ba hiểu tôi muốn gì và cần gì trong đời này. Cái tôi cần không phải là tiền bạc danh vọng. Còn hạnh phúc gia đình đối với tôi giống như ảo ảnh phù du rất dễ vỡ nhưng muốn diễn tả điều tôi nghĩ cho ba má hiểu và cảm thông lại thật khó. Vì ba má lúc nào cũng cầu cho con cái có được tương lai rạng ngời, tươi sáng và hạnh phúc qua việc kết hôn. Nhưng ngưỡng cửa đó nhiều phiền luỵ buộc ràng. Cái tôi muốn là sự tự do, sự thanh thoát thong dong, và cuộc sống xuất gia giúp tôi thực hiện được điều này, lại còn có thể báo ân đấng sinh thành. Tôi rất muốn mang lại sự cảm thông hài hòa thắm thiết nghĩa tình trong gia đình.

Làm người xấu thường rất dễ, chịu sống đẹp rất khó. Sư Bá từng nói một câu khiến tôi nhớ mãi: “Một người đi tu là thế giới bớt khổ hơn bởi một người”. Như vậy nếu tôi tu chẳng phải cũng giúp đời được một phần nhỏ đó sao? Những thao thức trong lòng ngày càng nung nấu chí xuất gia của tôi. Quý thầy quý cô thường nói: Khi nào bồ đề tâm phát lên trên 100% thì hãy quyết định đi tu. Đối với tôi lúc ấy, không được đi tu chắc tôi chết mất. Tôi cảm thấy mình chẳng thể làm được gì nữa, nếu ba má cứ ngăn không cho tôi đi…

Suy nghĩ và chờ thời cơ, tôi sắp xếp hành lý dự tính lên đường trước Vu Lan 2008. Nhưng theo lời khuyên của anh chị trưởng trong đoàn, tôi đành nán lại chờ xong Vu Lan, nghĩ mình nên hưởng một mùa Vu Lan cuối bên cạnh ba má rồi ra đi cũng còn kịp.

 

Ngày báo ân phụ mẫu tôi dâng quà lên cho má. Khi má tôi nhận quà, bà khóc nhiều lắm. Tôi không hiểu vì sao má khóc. Tôi cố gắng cười nhiều để má vui mà lòng tôi lại rất buồn vì cảm giác sắp chia ly. Tôi cố giấu đi bao cảm xúc khi biết mình phải lìa xa gia đình thời gian khá lâu và có thể sẽ không bao giờ được về lại gia đình nếu ba tôi còn giận và muốn từ con. Tôi đã quyết định và chấp nhận hậu quả xảy ra.

Nữa tuần sau, ngày mong đợi đã đến. Hay tin ôn Từ Đức đang về chùa và chuẩn bị trở lại Bát Nhã, tôi lập tức liên lạc và xin đi tập sự xuất gia.

Chiều 20/8/2008, tôi chuyển giấu một cái ba lô xuống nhà bạn thân trước. Đồ đi trước, người đi sau sẽ tiện hơn, sẽ không ai phát hiện ra. Nghĩ rồi tôi gọi điện cho người anh họ xuống chở mình ra khỏi nhà. Em gái tôi biết tôi sẽ đi chiều nay vì một sự hớ hên nào đó trong lúc chuẩn bị nên hỏi:

–        Chị làm gì đó? Chị tính đi thiệt hả? – Em vừa khóc vừa hỏi.

–        Ừ, chị đi. Đừng cho ba má với mấy đứa kia biết nha.

–        Chị đừng đi mà! Lỡ ba má biết chuyện, ba có chuyện gì thì tính sao đây? – Em càng khóc to hơn.

–        Chỉ cần giấu giúp chị thôi, để chị đi cho yên. Đây là cơ hội cuối cùng của chị. Thương chị, em im lặng giùm chị nha! – Tôi bình thản đáp và biết rằng lúc ấy mắt tôi cũng đỏ hoe. Kết quả em đã rất dũng cảm giấu kín.

Chiều ấy ba tôi đi làm ngoài biển. Tôi đứng nhìn qua các lỗ thông gió để được thấy ba lần cuối. Nhìn dáng ba vô tư hiên ngang chẳng hề biết sắp có chuyện động trời xảy ra. Một mình tôi đứng đó bất động và dường như tim mình đang quặng thắt lại. Đau lắm! Cái cảm giác đau thống thiết mà không được khóc thành tiếng, tức ngực, tôi cố gắng dùng tay bịt miệng để ngăn tiếng khóc bật ra.

Cứ thế bóng ba khuất dần sau con dốc nhỏ. Mắt tôi đau và nóng ran lên, nhưng rồi tôi cố kềm nén cơn sầu, đi rửa mặt cho mắt đỡ sưng vì má tôi hiện còn đang ở nhà. Má sẽ lo lắng nhiều nếu thấy mắt tôi đỏ với sự bất an đang có. Lúc này má đang quét sân sau nhà, công việc gì đó khiến má lấy xe đi đâu. Tôi biết đây là giây phút có thể ra đi nhưng cũng là giây phút ngậm ngùi nhất. Tôi lại đứng ở vị trí cũ, lén nhìn má như đã nhìn ba. Bà đang vui vẻ nói nói cười cười với những người hàng xóm đang đi lại trước nhà. Nước mắt tôi lại trào ra giàn giụa, nhìn trước sau trong nhà vắng tanh. Má dẫn xe ra, mắt hướng về phía trước. Tôi chạy ra trước hiên để nhìn dáng má đi xa trên con “ngựa sắt”. Tôi đã có thể buông tay, cho phép mình khóc thành tiếng rồi nghẹn ngào thầm gọi “Má ơi!”.

Con đường làng quanh co lượn khúc. Dáng má đã mất hút. Tôi đứng lặng người trong vài phút để lắng nghe cảm xúc trong mình. Đến giờ tôi phải lên đường rồi, không thể chần chừ thêm phút giây nào nữa. Quýnh quáng đi tìm đôi dép. Đôi dép “rất hợp” để đi tu – tôi thấy vậy đó. Nhưng mèn ơi ! Dép đâu rồi, nó trốn nơi nao úy trời! Nó dường như đã nằm gọn trong đôi chân của má tôi rồi. Nhìn quanh quẩn tôi chẳng thấy mang một đôi dép nào khác được vì toàn là dép thời trang thôi. Có đôi dép “chùa” kia tôi mới tự tin lên Bát Nhã được, tôi ngây thơ nghĩ vậy nên đành phải ráng đợi má về.

Mười lăm phút sau má về với đôi dép rõ nằm trên chân. Như tên trộm khôn ngoan, lấy được đôi dép xong tôi quan sát bốn bên, thấy im vắng, không bóng người, tôi liền chạy một mạch ra khỏi nhà, đi thẳng xuống trường mẫu giáo cách nhà chừng 30m – nơi anh họ tôi đang đợi. Anh chở tôi xuống nhà nhỏ bạn lấy ba lô, nón lá, thêm một vài cuốn sách của Sư Ông mà tôi chưa đọc xong. Mẹ nhỏ bạn cho phép nó đi cùng tôi. Bà là người mộ đạo, hiểu đạo, nhưng lại phải giấu ba nó. Bà chở nó đi trước rồi về thưa lại với Ông sau. Bà nói: “- Cho nó đi lên chùa một tháng, nếu mà muốn tu luôn thì càng tốt”.

Hai xe bốn người đi được một đoạn đến nhà anh huynh trưởng. Anh ngoắc lại mời vào uống nước để nán đợi vài người nữa. Tôi mới biết lúc này tin tôi ra đi đã truyền lan và hôm nay có nhiều người muốn “hộ tống” đưa tôi lên tới chùa Từ Đức để tạm biệt. Cố nhiên không ai mách lại với gia đình tôi và
sẵn lòng giấu kín. Dễ thương làm sao!

 

Khi đoàn người đưa tiễn với cả xe máy lẫn xe đạp tập trung đầy đủ. Có khoảng hai mươi người kể cả anh chị huynh trưởng và các em đoàn sinh gia đình Phật tử. Nhìn bộ dạng tôi lúc ấy, mặc quần tây, áo thun đen, ba lô trên tay, đầu đội nón lá…nên nhiều người đã không cầm được nước mắt.

 

Xe đạp được để gọn vào nhà anh huynh trưởng và xe máy được vân tập để cùng chở nhau đi. Không đủ xe nên anh chị em tôi phải chở ba. Ai cũng muốn tiễn tôi đến tận chùa, vì thế phải cùng nhau đi đường hẻm để tránh công an giao thông.

Đến chùa, trời đã sụp tối hẳn. Cả đoàn lần lượt đi vào, thầy thị giả Ôn đưa chúng tôi vào bàn khách. Cuộc chia ly thấm đẫm đạo tình, nước mắt tiễn đưa, mọi người ra về. Tôi được sư cô (chị của H. đã từ Làng về) đưa vào phòng nghỉ. Đêm đó là một đêm khó ngủ. Tôi yên tâm là gia đình chưa thể tìm ra tôi và ba không dễ dàng bắt tôi về. Nhưng tôi rất lo lắng cho gia đình, không biết khi tôi đi ở nhà liệu có xảy ra chuyện gì! Ba có bị làm sao không? Tôi sợ ba tự tử lắm.

 

Một đêm sáng trăng, tuy không tròn nhưng trời trong và sáng lắm. Sư cô rủ hai chị em cùng đi thiền hành, ngắm trăng, trao đổi với nhau. Lúc ấy tôi mới biết Bát Nhã đang có chuyện không an. Nhưng tâm đã quyết “người ra đi đầu không ngoảnh lại mặc cho sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…”, tôi chấp nhận tất cả mọi rủi ro nếu sự việc không hay xảy đến cho tu viện. Khi ấy tôi có niềm tin dũng mãnh nơi Tăng Thân nên dù có khó khăn đi chăng nữa, được ở trong Tăng Thân là điều tuyệt vời nhất rồi. Sư cô tin tưởng nơi tôi, tôi cũng tin mình sẽ chân cứng đá mềm. Sau khi tâm sự hàn thuyên, mấy chị em về phòng nghỉ để sáng mai lên đường đi Bát Nhã sớm.

 

Về phía gia đình tôi, chiều đó khi rời gia đình, tôi đã lưu lại thư từ biệt và cuốn nhật ký trong phòng. Tám giờ tối, thấy tôi chưa về, má tôi bắt đầu bồn chồn sốt ruột. Bà hỏi thăm các em tôi:

–        Mấy đứa biết chị đi đâu không?

–        Dạ chắc chị đi uống nước với bạn rồi.

Má suy diễn:

–        Có khi nào nó đi uống nước để từ giã bạn bè không? Tư tưởng này càng khiến bà lo lắng hơn.

Má tôi lo vì có lần vào phòng tôi, bà mở tủ đồ tìm cái gì đó và bất ngờ thấy cái ba lô tôi giấu ở ngăn dưới nên đã để bụng nghi ngờ… Lúc đó má đã nói với ba:

–        “Em nghĩ con nó chuẩn bị đi nữa rồi. Nó lại chuẩn bị đồ tu đủ cả. Em nghĩ lần này nếu nó xin đi thì anh cho nó đi đi, để nó thoải mái, chứ mình cản nó nhiều lần lắm rồi. Anh thấy đó, mình cản nó vô chùa tu, một năm nay nó cũng như người tu tại gia rồi còn gì nữa. Tâm nó quyết rồi, mình cản cũng không được. Để nó đi rồi nếu không được thì nó lại về…”

Nghe đến đó ba làm thinh không nói. Có lẽ ba cũng đồng ý vì những lần trước vừa nghe nhắc đến chuyện tôi đi tu là ba đã nổi trận lôi đình, phản bác tuyệt đối.

Rồi một người cậu họ xuống hỏi thăm tôi khiến má càng cuống quýt lo lắng:

 

–        Lạ thiệt, không hiểu nó đi đâu, bình thường tám giờ là nó về rồi, sao hôm nay đi từ chiều mà giờ hơn chín giờ vẫn chưa về? Bình thường nó lấy xe đi, hôm nay xe còn đó, vậy ai chở?

 

Lúc bấy giờ má thật sự lo bấn người. Ba tôi đã về, ăn tối và về phòng nằm nghỉ. Ba cứ tưởng tôi đi chơi với bạn. Nhưng khi má chạy vào phòng tôi kiểm tra, mở tủ nhìn cái ba lô không còn thì má hô toáng lên
rằng tôi đã đi rồi. Ba hoảng quá ngồi bật dậy. Ngay lúc ấy ông bà ngoại từ Mỹ điện thoại về, má nhấc máy mà giọt ngắn giọt dài trình bày đôi chút rồi lại cúp máy để lo chuyện của tôi. Cả nhà nhốn nháo vào phòng tìm kiếm. Biết là sẽ có thư, má lục toang giường ngủ của tôi, thấy dưới gối có lá thư,  đầu hàng ghi dòng chữ: “Khi Ba Má nhận được thư này thì con đã đi xa rồi” (tất nhiên lúc ấy tôi ở gần nhà lắm, mười hai cây số thôi nhưng tôi phải viết vậy để đánh lạc hướng, không bị bắt về. Vì vậy khi ở chùa tôi tin chắc chắn mình an toàn).

Cả nhà ồ lên khóc. Hàng xóm xúm xít qua thăm thốt lời động viên, an ủi. Má cố gắng gọi điện cho bạn bè tôi hỏi thăm tin, nhưng chẳng ai biết tôi đi đâu, đến đâu. Trong thư tôi nói mình đi Huế mặc dù thực tế tôi đi Bảo Lộc.

Đêm đó cả nhà không ai ngủ ngon. May mắn là ba tôi không tự tử, cũng không làm điều gì nông nổi, chỉ khóc ròng mấy ngày. Hai mắt ba đỏ kè, sưng húp, cứ ngồi chờ tôi điện thoại về. Tôi ra đi ngày thứ Tư, đến Chủ Nhật, ba nhìn thấy mấy em đoàn sinh gia đình Phật tử đến chùa sinh hoạt, ba càng khóc nhiều hơn vì nhớ tôi và nói với má:

–        Anh không chịu nổi nữa, anh nhớ con quá, trong người anh bức rức không yên. Anh phải đi tìm con!

–        Biết ở đâu mà tìm hả anh? Mình phải đợi nó điện thoại về rồi hỏi thăm địa chỉ, chứ giờ biết tìm ở đâu? Anh có thấy không? Bao lần nó xin anh đi tu, anh hăm he đốt chùa đòi sống, đòi chết. Bây giờ nó trốn đi liệu nó có dám gặp anh không, người ta mà biết thì cũng giấu giùm nó, dại gì họ chỉ…

–        Giọng ba áo não: – Nhưng giờ anh sẽ không bắt nó về, anh chỉ muốn nói với nó là: – Ba má đồng ý để con đi tu, cho lòng nó thoải mái, không phải âu lo về gia đình, nó yên tâm tu hành mà mình cũng an lòng biết nơi nó ở – Ba vừa nói vừa sụt sùi nước mắt.

–        Vậy để em ráng hỏi thăm.

 

Má cố gọi điện thoại hỏi gạn thêm mấy anh chị em trong gia đình Phật tử, năn nỉ đủ điều, rồi một em xiêu lòng khai báo:

–        Vậy cô lên chùa Từ Đức hỏi thăm sẽ rõ hơn. Hôm đó P ngủ lại ở chùa một đêm, sáng đi sớm.

 

Ba má tôi mừng lắm, lái xe lên chùa hỏi thăm. Gặp anh L và hỏi thăm về tôi. Anh L cũng ngại lắm, không dám khai nhưng khi hiểu nỗi lòng của ba thì rất thương cảm và chỉ chỗ. Tính đến đó thì cũng gần một tuần kể từ ngày tôi đi.

Phần tôi, tại tu viện, V- nhỏ bạn đi cùng tôi có mang điện thoại theo. Nhưng hễ điện thoại nó reo là tim tôi đập thình thịch, vì vậy nó phải tắt nguồn vì sợ gia đình tôi lần dấu. Nhưng tôi đâu được an tâm trong những ngày đó, cứ ngay ngáy lo cho gia đình. Cuối cùng tôi lấy hết can đảm bảo V mở máy và điện thoại về hỏi thăm em gái tôi. Nó bảo:

–        Chị gọi về cho ba đi. Hổm rày ba cứ khóc hoài và định đi tìm chị đó.

–        Chị không dám điện đâu, ba không sao thì chị mừng rồi. Nếu điện về ba hỏi chỗ rồi lên bắt chị về thì làm sao?

–        Ba không bắt chị về đâu, thiệt đó. Ba nói đã cho phép chị đi tu rồi. Ba muốn biết chỗ chị ở như thế nào, có an không?

–        Đừng gạt chị. Chị không điện. Em cứ nhắn với ba má là chị khỏe, đi tới nơi bình an là được rồi.

Nói đến đó tôi cúp máy, suy nghĩ về những gì em tôi nói và lời động viên của V, và tin chắc đây là sự thât. Nên thu hết can đảm điện về cho em. Lần này tôi chịu nói chuyện với ba. Giọng ba thật ngọt ngào, cứ như dỗ dành tôi ngày còn bé vậy.
– Con đó hả? Con có khỏe không?

Tôi đáp: – Con khỏe, ba có ổn không ba?

Ba nghẹn ngào: – Sao con đi mà không thưa với ba má một tiếng, lẳng lặng rời nhà vậy con? Con có biết lúc biết tin con đi ba bị sốc chừng nào không?  Mấy ngày nay ba cứ đợi tin con, hỏi thăm rất nhiều người mà không ai biết con đang ở đâu, sống như thế nào…

Rồi ba khóc. Nghe tiếng khóc của ba trong điện thoại, nước mắt tôi tuôn đầm đìa:
– Con sợ… ba không cho con đi. Con sợ ba đòi chết. Con sợ ba làm điều xằng bậy với người tu. Vì nhiều lần ba đã hù con…

–        Ba chỉ nói vậy để con nghĩ lại, để con sợ mà bỏ ý định đi tu thôi, chứ ai mà làm điều dại dột đó hả con? Giờ con đang ở đâu? Hãy cho địa chỉ để ba má lên thăm con…

–        Không, con không cho ba má biết đâu. Ba biết ba sẽ lên bắt con về.

–        Ba không bắt con về đâu. Ba má cho con đi tu lâu rồi. Ba chỉ đợi một ngày con xin phép hẳn hoi rồi ba sẽ cho con biết. Nhưng ba chưa kịp nói gì… thì con đã bỏ nhà ra đi. Ba đau lòng lắm. Ba chỉ muốn lên thăm con một lần, nói với con là ba đã đồng ý với sự lựa chọn của con. Nhìn thấy con ba má mới yên tâm được.

–        Vậy ba hứa đi. Ba hứa là sẽ không bắt con về thì con mới cho địa chỉ.

–        Ba hứa!

Thế là theo hẹn, từ quê tôi đến Bảo Lộc đi bằng xe máy thì mất sáu giờ nhưng ngày hôm đó tôi đợi mãi, càng lúc càng về chiều, nghĩ đường đèo nguy hiểm, trời lại mưa dầm, khiến tôi thêm nơm nớp lo sợ. Đến ba-bốn giờ chiều tôi mới thấy một chiếc xe Future đỏ chạy ngang qua tu viện. Hai người ngồi trên xe cứ chăm chăm nhìn vào phía chúng tôi, nhưng do Ni xá cách đường khá xa không thể nhìn rõ mặt, tôi thấy họ chạy thẳng vào khu du lịch Đamb’ri. Lòng sinh nghi, tôi xin phép được cùng V ra ngoài đường đứng đợi. Lát sau khách quay xe ngược trở lại, thì đúng là ba má. Cả ngày dài ba má đi xe rã rời mệt mỏi, tôi xót xa nhìn bụi bặm đóng từng lớp trên gương mặt hai đấng sinh thành yêu thương. Gặp nhau đôi bên đầy xúc động, không cầm được nước mắt. Phút giây đoàn tụ đã giúp chúng tôi giải tỏa hết bao nhiêu khúc mắc. Khi tôi mới chân ướt chân ráo vào tu viện, vài sư cô biết hoàn cảnh của tôi lúc ấy, thông cảm và đến chơi. Nhân cơ hội ba má lên thăm, mọi người rủ nhau đi chơi suối, ăn mít tố nữ và cùng thưởng thức quà bánh ba má mang lên cho tôi tại nhà Lục Giác.

Những gì xảy ra sau khi tôi trốn nhà đi được kể lại. Bao nhiêu buồn vui, bao nhiêu sung sướng khiến không khí đoàn tụ càng trở nên ấm cúng, thân tình. Thấy quý sư cô thật tâm lý, thật gần gũi nên ba má tôi rất yên tâm. Đúng như những gì ba tôi hứa, ông không bắt tôi về và ngược lại rất hạnh phúc khi thấy tôi được sống giữa một tập thể lành mạnh, thân ái, mọi người lại thương yêu, giúp đỡ cho nhau – một tập thể thiện tri thức. Ba mẹ ở lại chơi một ngày. Hôm sau trước khi về, đã chân thành gửi gắm con mình lại cho quý sư cô. Tôi chính thức được tập sự sau một tháng sống tại tu viện, và có những ngày ngập tràn hạnh phúc tiếng cười. Sau sáu tháng tập sự, tôi được đại chúng cho xuất gia cùng với gia đình cây Sen Vàng tại tổ đình Từ Hiếu – Huế. Ba má tôi đã ra tận nơi để dự lễ xuất gia.

 

Lễ xuất gia sư cô Chân Ân Nghiêm tại tổ đình Từ Hiếu

Sau này có dịp về thăm nhà, ngắm tôi trong hình tướng người xuất gia, ba má tỏ vẻ hạnh phúc lắm. Hình như ba má đã nhận ra được điều gì đó nên bảo: – “Con đi tu là sáng suốt lắm. Giờ trong ba đứa em còn lại của con, nếu đứa nào muốn đi tu thì ba má hết lòng ủng hộ”…

Tôi cười, lòng tràn ngập niềm vui vì ba má đã thấu hiểu. Thật tri ân tấm lòng núi cao biển sâu của ba má vô bờ.
Một niềm biết ơn lớn lao hơn nữa là sự yểm trợ hết lòng của ba má đã cho tôi tiếp tục đi trên con đường phụng sự, con đường bất bạo động dù cho biến cố Bát Nhã có xảy ra, dù cho bốn trăm tăng ni không có chỗ ở phải tá túc nhiều nơi nhiều tháng, dù chưa biết số phận của bốn trăm tăng ni trong đó có con của mình sẽ đi về đâu nhưng hai vị đã âm thầm tiếp thêm nghị lực cho tôi được vững lòng và nương vào sức mạnh của Tăng thân để vượt qua muôn ngàn sóng gió.

Trải qua những biến động thăng trầm, mỗi ngày trôi qua, tôi dần lớn lên trong tình thương của huynh đệ và Tăng thân. Cùng với năng lượng thực tập hùng hậu và sự đi tới của tăng thân, niềm tin lớn lên trong tôi và tôi thấy mình thật sự may mắn khi chọn đúng Thầy, đúng môi trường để thực tập nhìn sâu tự thân, dừng lại và chuyển hóa. Cùng trang lứa như tôi hoặc trẻ hơn tôi hiện nay ngoài xã hội có biết bao bạn trẻ đang bị cơn bão của cuộc đời cuốn đi, xô ngã, đau khổ và tuyệt vọng. Các bạn có bao giờ biết dừng lại và biết đủ với những gì đang có trong hiện tại mà mỉm miệng cười hạnh phúc. Tôi nhìn họ và thấy thương thật nhiều. Trong khi đó, tôi nhìn lại tôi và thấy mình có quá nhiều hạnh phúc. Có Thầy và muôn triệu anh chị em, bạn bè cùng chung đôi tay tô đẹp cho đời, có cả một bầu trời xanh, một bầu trời đầy trăng sao trong những đêm Rằm, có đầy không gian của chim choc, của hoa lá, có đầy tình thương của sự hiểu biết, sẵn sàng ôm ấp tha thứ bao dung cho những niềm đau nổi khổ của  mình và cho những gì đã làm mình khổ. Bởi vậy mà con đường tôi đi như rộng lớn thênh thang thêm, có đầy đủ các loại “thuốc men” để chữa trị những lần tôi “đau ốm”. Tôi sẽ vẫn mãi có mặt đây để hát ca cho tôi, cho cuộc đời, cho những người xung quanh tôi.”

Mấy lời kính gởi đến Ba Má lòng tri ân của con. Kính tri ân Thầy và Tăng thân xinh đẹp đầy tình thương này.

 

Con –  Chân Ân nghiêm –

Tôi tu vì tôi là người tu

– Thường Minh –

Thiền hành trong rừng

Trong những khóa tu, tôi có nhiều cơ hội ngồi chơi với anh chị em cư sĩ.  Khi đủ thân một chút thì có người hỏi tôi: “Hỏi thiệt Thầy cái này nha! Tại sao Thầy đi tu vậy?  Thầy còn trẻ mà!  Bộ bị bồ đá rồi chán đời đi tu hả?

Tôi ngường ngượng, thầm nghĩ: “Bộ già hay thất tình mới đi tu sao?”  Nhưng rồi tôi cười trong bụng vì ngày xưa tôi cũng nghĩ như vậy.  Cuộc đời có biết bao nhiêu  cái để hưởng thụ, biết bao nhiêu nơi để chơi! Sống mà không tận hưởng thì hơi… khờ quá,  đó là tư tưởng trước đây của tôi. Ấy vậy mà ngày nay tôi ngồi đây, trong hình tướng của một người đầu trọc, khoác áo cà-sa, tay ôm bình bát.

Tôi nhớ lại ngày xưa khi còn là cư sĩ, tôi ghé qua chùa chỉ với mục đích là thắp vài cây nhang, cúng dường chút đỉnh để hồi hướng cho cô bạn đang bệnh của tôi. Có một lần tôi đến một tu viện và cũng định làm những việc như trước mỗi khi đến chùa, thắp hương, lạy Bụt.v.v. qua loa. Nhưng khi đến nơi, tôi không ngờ ở đó có cả trăm thầy và sư cô rất trẻ cùng với nhiều cư sĩ đang đi thiền hành như một dòng sông, tất cả đều  đi trong im lặng, nhẹ nhàng và thảnh thơi. Tôi bắt đầu hỏi thăm và tìm hiểu về đời sống của những người xuất gia nơi này. Sau đó tôi có cơ hội tham dự những khóa tu và thấy rõ nét đẹp của người xuất gia, nhất là lý tưởng phụng sự và dấn thân. Từ đó tôi rất mê đời sống của người xuất sĩ: từ ý tưởng đến cách đi, cách nói, từ chiếc áo nâu nắng phai đến đôi dép đơn giản. Đời sống thật phạm hạnh và tri túc. Thích quá nên khi về nhà tôi cứ kể tới kể lui với cô bạn. Trong một đêm tâm sự, sau khi lắng nghe tôi kể về  ước muốn đi xuất gia của tôi, bạn tôi nhẹ nhàng nói: “Anh cứ đi đi!” Tôi hơi ngạc nhiên với câu nói của cô bạn, nhưng rồi tôi trả lời: “Không sao đâu em! Anh có thể sống như bây giờ được. Mình cũng có thể bắt chước như Kim Trọng và Thúy Kiều, anh ở một phòng, em ở một phòng. Tu tại gia vẫn là tu mà!”

Huynh đệ bên nhau

Nghe tôi nói vậy cô bạn tôi cười khúc khích và phán: “Theo trong truyện Kiều, thì anh bây giờ không phải là Kim Trọng.” Bị cô bạn phán cho một câu xanh rờn tôi hơi quê quê làm mặt ngớ: “Êh!”. Nhưng như hiểu được tâm nguyện của tôi, cô bạn tôi động viên: “Anh còn sức khỏe.  Anh tu cho anh, cho gia đình, chuyển hóa nghiệp không tốt của anh và của gia đình. Em tự lo cho em được.” Nghe cô bạn động viên vậy, tôi rủ rê: “Vậy thì hai đứa mình đi tu luôn! Không có ai chăm sóc em, anh lo lắm.” Sau một vài phút im lặng, với ánh mắt buồn, cô bạn nói: “Thân em là thân bệnh. Em chỉ làm gánh nặng thôi.  Anh tu cho em, cho hai đứa mình.” Tôi biết cô bạn nói thật và yểm trợ cho tôi đi xuất gia, tôi cảm thấy mình đang có một người tri kỷ luôn luôn hiểu được những gì tôi muốn. Tôi mở lời khuyên cô bạn: “Em bệnh như vậy, cần có người  bên cạnh em để lỡ khi em có chuyện gì. Nếu anh đi tu thì em cứ lập gia đình đi.  Anh không buồn đâu.” “Sau khi quen anh rồi, em không còn tin tưởng một người đàn ông nào trên đời này nữa.” Cô bạn lại chọc tôi trong tiếng cười khúc khích. “Nhưng đi tu, anh phải tu cho đàng hoàng nha. Tu không được thì về với em, chứ đừng vô chùa mà phá. Đừng để em xách gậy vô chùa đập anh, tội lỗi lắm nha!” Trời! Tôi thầm nghĩ. Tôi đâu đến nỗi tệ như vậy.

Vậy đó, ước nguyện của tôi đã được cô bạn yểm trợ và tôi nhẹ nhàng ra đi mang theo sự biết ơn đối với cô bạn của tôi. Tôi biết, có rất nhiều chàng thanh niên khi nhận ra được hướng đi đích thực của đời mình nhưng khi đã dính vào chuyện tình cảm thì khó mà thoát ra được. Và không phải cô gái nào cũng như Da Du Đà La, như cô bạn của tôi, chịu hy sinh cho lý tưởng của người mình thương.

 

Tôi đi tu vì tôi yêu cuộc sống của người xuất gia nhưng phần lớn cũng vì cô bạn mến thương này. Bạn tôi rất muốn đi xuất gia nhưng vì bệnh nên không thể thực hiện được ước muốn của mình. Từ nhỏ đến lớn tôi không có diễm phúc sống cạnh ba mẹ, không có ai dạy cho tôi cách sống có đạo đức. Mười một tuổi tôi rời quê hương sang sống ở xứ Mỹ, xứ sở được mệnh danh là đất nước tự do. Tôi cứ tự do sống cho tôi, sống cuộc đời ăn chơi, thỏa mãn những gì tôi muốn: tiền, sắc, danh và bị bạn bè lôi kéo vào những nơi không nuôi dưỡng…  Tôi hầu như chưa biết thương là gì, ai chết kệ ai, ai khổ mặc kệ, không mắc mớ gì đến tôi. Nhưng cô bạn thì lại khác: luôn hy sinh cho người khác, luôn có tâm giúp người, thương loài vật, con kiến cũng không muốn giết. Khi quen được cô bạn đó, tôi đã hiểu được thế nào là “sống”. Từ nhỏ tôi sống thiếu tình cảm của ba mẹ và người thân, khi gặp được cô bạn này, tôi thấy lòng mình được sưởi ấm lại bằng tình thương, tình thương mà bấy lâu nay tôi chưa hề có được. Cho nên khi gặp được cô bạn đó, tôi mừng quá, cưới liền!

 

Chán thay cái thói quen tật xấu của tôi, có Giáng Kiều mà không biết trân quý. Cưới nhau được vài năm nhưng hai đứa sống không có hạnh phúc, cứ hai ba ngày là có chuyện gây lộn, đập bàn, đập tường. Sống làm sao nổi nên tức quá, tôi ly dị. Hồi đó tôi chưa gặp được tăng thân, chưa hề biết thực tập nuôi dưỡng hạnh phúc là gì nên mới có chuyện không hay xảy như vậy. Nhưng duyên chưa hết, hai đứa trở lại làm bạn sau hơn một năm chia tay. Mất rồi tôi mới biết quý, có lại tôi mới biết thương. Lúc đó tôi mới hiểu được tâm trạng của người bệnh. Ngồi kế bên cô bạn trong những cơn đau vì bệnh của thân, vô ra nhà thương cấp cứu hai ba lần trong tháng, tôi nếm được sự thật của vô thường. Lúc đó, tôi nhìn lại cuộc đời ăn chơi tiều tụy mà tôi đã dấn vào trước đó và giật mình tự hỏi: Tôi sống để làm gì?

 

Có nhiều người khuyên: “Vợ chồng ai không có sóng gió. Bây giờ hiểu nhau rồi thì sanh vài thằng nhóc cho vui.” Sống để sanh con à?  Có con là vui? Nhìn cô bạn đau đớn khi bệnh hành thân, không lẽ nào ép sanh con cho tôi nữa? Tôi biết đó là con đường mà nhiều người chọn, nhưng không phải là con đường mà tôi muốn đi.

 

Cũng vì bệnh mà cô bạn tôi hướng về con đường tâm linh và  nhờ vậy mà tôi được đi ké. Hình ảnh đoàn người với áo nâu đi như một dòng sông đã đánh thẳng vào tim tôi như tia sét, khơi dậy ngọn lửa “tánh Bụt” trong tôi mà tôi không ngờ là mình có được và có công năng phá tan ngọn núi ăn chơi dục lạc, mở một đường khác cho tôi đi. Chỉ mới nhìn hình tướng bên ngoài thôi mà đã khiến tôi “ mê mẫn” đến vậy đó. Đến khi tiếp xúc rồi thì không có một điều gì có thể cản trở ước muốn của tôi được. Phước đức của tôi vẫn còn.

 

Vào sống trong tu viện tôi như đi vào một thế giới khác. Năng lượng tu tập vững chãi của đại chúng như núi cao, tình thương như dòng suối mát. Sống trong chúng rất dễ cho tôi tu tập chuyển hóa những thói quen tật xấu. Đại chúng như tấm gương sáng cho tôi soi vào và nhìn thấy những vết dơ của tập khí, cho tôi pháp môn để chùi sạch những vết xấu ấy, giúp tôi làm đẹp thêm bằng uy nghi và giới luật. Tu cùng đại chúng, tôi thấy có nhiều cái lợi lắm, một trong những cái mà tôi quý khi sống trong tăng thân là giúp tôi chuyển hóa những tập khí lười biếng, thói quen biện hộ cho những tập khí xấu của mình hơn khi tu một mình.

 

Con người ta hay có thói quen bị lờn và tôi cũng vậy, vì những pháp môn thực tập đơn giản quá thành ra đôi khi tôi quên. Ai mà không biết thở! Ai mà không biết đi! Nhưng ai thật sự biết thở và ai thật sự biết đi đúng nghĩa? Vào tăng thân chưa được bao lâu và cũng chưa thấm tương chao lắm, ấy vậy mà tôi cứ tưởng mình biết mọi cái rồi, là thầy rồi, giỏi rồi nên lơ là thực tập các pháp môn căn bản mà Thầy đã hết lòng trao truyền. Ngày này qua tháng nọ, năm này đến năm kia, tôi không nắm được sự thực tập căn bản nên tôi bị vọng tưởng kéo đi. Cứ như vậy tôi sống trong bóng hình của hạnh phúc, nghĩ rằng chỉ cần trôi với dòng chảy của đại chúng thì cũng có ngày mình đi ra tới biển.

May thay nhờ phước đức của ông bà nên tôi sớm nhận ra hướng đi của mình. Tôi còn nhớ chuyến đi hoằng pháp của Thầy ở Mã-Lai, trong một đêm khuya, trên đường trở về lại chùa sau buổi pháp thoại công cộng, xe chở chúng tôi dừng lại trước đèn đỏ gần cầu xa lộ. Tôi nhìn xuống đường và thấy rất nhiều người vô gia cư sống ở đó, đa số là đàn ông. Khuất dưới cột đèn, có một phụ nữ đang cho con bú. Áo cô rách tơi tả, người chỉ còn xương với da, ánh mắt không hồn. Cô đã mất hết tất cả hy vọng trong đời, có thể đứa bé đó là sợi giây duy nhất níu giữ mạng sống của cô.

 

Xe đã chạy lâu rồi nhưng hình ảnh người phụ nữ đó đã khắc sâu trong lòng tôi. Hình ảnh đó như một cái tát mạnh vào má tôi và tôi bàng hoàng tự hỏi: Tôi đi tu để làm gì?

 

Ngày xưa, tôi có thể giúp đỡ cho người phụ nữ này bằng cách tặng cho cô ta một ít tiền để mẹ con cô có thể sống qua ngày, không chỉ một cô mà tôi có thể giúp mười cô như vậy. Bây giờ tôi không có một xu dính túi. Tôi làm sao để giúp họ đây? Người ta nghèo tả tơi như vậy còn mình thì được mọi người lo cho từng bát cơm, chổ ngủ? Hình ảnh đó khiến mỗi lần bưng bát cơm trên tay, tâm hỗ thẹn trong tôi lại phát khởi, tôi tự hỏi mình có xứng đáng để thọ nhận bát cơm này không? Cả tuần như vậy, tôi ôm giữ câu hỏi này, vừa ăn vừa nuốt nước mắt. Mỗi muỗng cơm đưa lên, tôi lại thấy hình ảnh cô ta nhìn tôi với đôi mắt tuyệt vọng.

 

Có một lần, tôi có cơ hội ngồi chơi với Thầy. Hồi đó, tôi hơi phóng tâm một chút, lơ là chuyện tu tập nên được Thầy nhắc nhở: “Khi là người tu, con phải là người tu trọn vẹn 24/24 giờ. Con luôn giữ phạm hạnh của người tu sĩ, suy tư và hạnh động luôn là của người tu. Con đầu tư hết vô một chuyện thôi.” Thầy dạy thêm: “Thầy chỉ có một mong muốn nơi đệ tử của Thầy, dù xuất sĩ hay cư sĩ thì  tụi con phải sống có đạo đức.”

 

Những lời Thầy chỉ dạy cho tôi trước đây tôi đã lãng quên vì tập khí ham chơi của mình. Hôm ấy, nhờ bắt gặp hình ảnh người phụ nữ với đứa con không nhà không cửa, không đủ cơm ăn áo mặc ấy mà tôi nhớ lại lời Thầy, nhớ lại chí nguyện xuất gia ban đầu. Tôi không còn hỗ thẹn khi nâng bát cơm nữa. Tôi trân quý từng muỗng cơm, từng hạt gạo. Đôi khi tôi vẫn nuốt nước mắt khi ăn, nhưng nuốt vì lòng biết ơn.

 

Tôi trở lại với chính tôi, trở lại với những pháp môn căn bản. Tôi ngồi yên và nương vào hơi thở để trở về, nối lại nhịp cầu giữa thân và tâm. Ngồi yên như thế, tôi cảm được nguồn năng lượng vững chãi của đại chúng và của chính tôi. Với mỗi hơi thở ra vào tôi tập dừng lại. Dừng lại có mặt đích thực mỗi khi có tiếng chuông thỉnh hay cho dù không có một hiệu lệnh nào, tôi cũng tự nhắc nhở mình là phải bám vào hơi thở. Tôi thở và gửi năng lượng bình an và vững chãi đó cho tất cả. Năng lượng đi theo như làn sóng, tôi gửi đến mọi loài, đến những nơi u tối để nguyện cầu cho tất cả đều được bình yên như tôi.

 

Khi lạy sám hối, tôi biết tôi và Đất Mẹ là một. Hình hài tôi có mặt từ Đất Mẹ, được nuôi lớn, và một ngày nào đó tôi cũng sẽ trở về với Đất Mẹ. Người phụ nữ và đứa bé vô gia cư kia cũng là một với Đất Mẹ. Tôi và cô không phải là hai. Nỗi khổ niềm đau của cô cũng là của tôi. Niềm an lạc và vững chãi thảnh thơi của tôi cũng là của cô. Khi tôi lạy xuống, tôi lạy xuống với mẹ con người phụ nữ ấy, tôi lạy xuống với cô bạn thương mến của tôi, tôi lạy xuống với ông bà tổ tiên trong và ngoài tôi, tôi lạy xuống với tất cả.

 

Là người tu, tôi chỉ có một việc để làm thôi: “Tu!” Tôi rất biết ơn những điều kiện mà tôi đang có để tiếp tục là người xuất sĩ trọn đời. Mỗi ngày tôi là một con người mới. Chí nguyện của tôi cũng thay đổi, mỗi ngày một vững mạnh hơn và tôi luôn hướng về Tam Bảo. Ngày xưa tôi tu vì em.  Ngày nay, tôi tu vì tôi là người tu.

Trích từ Lá thơ làng mai số 35

 

 

Đạo Bụt trong lòng người trẻ

 

Làng Mai năm nay tròn 30 tuổi và đang bước vào một giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Trong thời gian qua, Làng Mai đã cho ra đời nhiều pháp môn mới và tạo cơ hội để đưa đạo Bụt đến với nhiều người trong xã hội. Đặc biệt, Làng Mai đã mở ra một con đường cho các bạn trẻ mong ước được tu tập và phụng sự thông qua phong trào Wake Up cũng như chương trình đào tạo năm năm. Làng Mai cũng là nơi “sản sinh” ra một thế hệ tu sĩ mới. Có thể bạn sẽ thắc mắc rằng: Vì sao Làng Mai lại thu hút được nhiều người trẻ xuất gia như vậy? Có điều gì hấp dẫn những người trẻ để họ có thể chấp nhận cạo sạch mái tóc và sống một nếp sống giản dị của người tu? Có lẽ câu chuyện của tôi sẽ phần nào giải đáp cho bạn những câu hỏi đó.

Tôi năm nay hai mươi bốn tuổi, là một người tu trẻ và hạnh phúc. Tôi biết đến pháp môn tu tập của Làng Mai từ khi còn rất nhỏ. Có thể tôi không giống với mẫu người tu theo kiểu truyền thống như bạn từng biết. Tôi là một trong những người tu trẻ của thế hệ mới. Tôi không xuất gia vì thất tình hay vì không biết làm gì với cuộc đời mình; tôi cũng không chán ghét cuộc đời và tìm cách trốn chạy như cách suy nghĩ thông thường của hầu hết những người lớn tuổi mà tôi có duyên được gặp. Tôi cũng không giống  những thầy tu mà các bạn nhìn thấy trên phim ảnh. Tôi thực sự rất hạnh phúc với đời sống xuất gia của mình tại Làng Mai.

Tôi là một trong những người tu trẻ của thế hệ mới, được rèn luyện và lớn lên trong một trung tâm tu học có tên là Làng Mai. Ở nơi đây, chúng tôi được vui đùa, chơi thể thao, ca hát, có thể hát cả nhạc rap và được giao lưu, gặp gỡ với rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ. Nếu bạn tình cờ thấy tôi cùng với các thầy, các sư cô Làng Mai đang tắm biển hay đang đi chơi picnic trên núi, có khi vừa chơi đàn guitar vừa hát thì chắc là bạn sẽ tự hỏi: “liệu những người này có thực sự là những người tu không nhỉ?”. Khi đó tôi sẽ trả lời với bạn rằng: “chúng tôi đích thực là những người tu, chỉ có điều chúng tôi thuộc một thế hệ mới, chỉ đơn giản vậy thôi!”.

Tôi lớn lên tại Canada, trong một gia đình theo đạo Bụt. Trong nhà chúng tôi có một bàn thờ ở phòng khách, trên đó cha mẹ tôi có đặt một tượng Bụt cùng với nhang, đèn và những đồ thờ cúng theo kiểu truyền thống. Tôi được cha mẹ dạy thắp hương lên bàn thờ Bụt mỗi sáng trước khi đi học. Ban đầu tôi cũng vâng lời và làm theo, nhưng thú thật là đối với một cậu bé đang tuổi mới lớn thì việc làm này chẳng có gì hứng thú hết, vì vậy mà sau một thời gian thì tôi không làm nữa. Ở thành phố Toronto nơi tôi lớn lên có rất nhiều ngôi chùa nhỏ. Cha mẹ thường dẫn tôi và chị gái đến các ngôi chùa này vào những dịp Tết, lễ Vu Lan, Trung thu và nhiều dịp lễ khác. Mặc dù những dịp như vậy cũng khá vui nhưng sao tôi vẫn cảm thấy chán, chỉ muốn đi về nhà để xem tivi hay chơi điện tử Nintendo. Đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy nhiều bạn trẻ cũng có thái độ giống tôi, không hứng thú gì với những sinh hoạt ở chùa.

Khi đến những ngôi chùa ở Canada hay Việt Nam, lúc nào tôi cũng chỉ thấy những nghi lễ tụng kinh và cầu nguyện. Đôi khi đó là một buổi cầu siêu cho người đã chết hay là việc cúng bái theo kiểu sùng tín. Tôi chưa bao giờ cảm thấy những điều này có gì liên hệ tới cuộc sống của tôi hết. Mặc dù trong gia đình tôi, mọi người vẫn thường đến chùa tụng kinh và nghe pháp nhưng sao tôi vẫn thấy họ khổ đau và làm cho những người mình thương khổ đau. Vì vậy tôi chưa hiểu được ý nghĩa và sự lợi ích của việc đi chùa. Khi đến chùa, nhìn lên những tượng Bụt và Bồ tát, tôi không có cảm giác có sự liên hệ hay gần gũi nào. Đối với tôi, những bức tượng đó không có vẻ gì là giống con người cả. Có nhiều người trong chúng ta vốn không tin rằng có Thượng đế. Phải chăng Bụt và Bồ tát cũng là những Thượng đế của người Á Đông? Có thể lúc đầu chúng ta nghĩ rằng đúng vậy, đó là Thượng đế của chúng ta, theo kiểu Á Đông. Và rồi khi lớn lên, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng đó chỉ là những bức tượng được làm rất đẹp để chúng ta thờ cúng. Trong nhiều ngôi chùa, ta có thể nhìn thấy những câu có nội dung như: Nam Mô Đức Phật A Di Đà, con nguyện sẽ sinh về Tây phương Tịnh độ (Tây phương cực lạc). Điều này có nghĩa là gì? Phải chăng những người Phật tử không muốn sống trên hành tinh xinh đẹp này nữa sao? Tại sao phải đợi cho đến khi chết đi mới sang được Tịnh độ? Đây không phải là điều mà những người trẻ ước muốn. Mặc dù tôi rất tôn trọng và cũng hiểu đôi chút về những sinh hoạt tín ngưỡng và lòng mộ đạo, nhưng tôi thấy những sinh hoạt này không hấp dẫn được những người trẻ ngày nay. Bởi vì sau một thời gian cầu nguyện, họ không cảm thấy những lời cầu nguyện của họ được đáp lại. Nhiều khi họ nghĩ rằng đạo Bụt không dành cho những người trẻ như họ mà chỉ dành cho những người lớn tuổi và cho người chết mà thôi. Từ đó  họ bắt đầu nghi ngờ, rồi dần xa rời đạo Bụt.

Trong giây phút này có thể bạn nghĩ rằng tôi đang phán xét và chỉ trích đạo Bụt. Sự thật thì tôi không hề có ý định đó, tôi chỉ muốn chia sẻ cảm giác của một người trẻ cũng như quan điểm của người trẻ về đạo Bụt ngày nay. Tôi nhận thấy đạo Bụt có vai trò và tầm quan trọng rất lớn trong việc giúp những người trẻ của thế hệ mới trở về để tiếp xúc với kho tàng tuệ giác mà tổ tiên huyết thống và tâm linh đã trao truyền. Tuy nhiên, muốn làm được như vậy thì đạo Bụt phải thay đổi để thích ứng với thế kỷ mới, thế kỷ 21.

Là những người trẻ, khi đến thăm một ngôi chùa, thiền viện hay một trung tâm tu học, chúng ta mong muốn hiểu được lời kinh, tiếng kệ mà quý thầy, quý sư cô đang tụng niệm cũng như những lời chỉ dạy từ quý thầy, quý sư cô. Chúng ta muốn học hỏi một phương pháp thực tập có thể áp dụng ngay trong đời sống hàng ngày và có tác dụng ngay khi thực tập. Chúng ta muốn có một nơi để trở về nương tựa, để làm lớn mạnh khía cạnh tâm linh trong đời sống của mình và tiếp xúc với chiếc nôi truyền thống.

Bố tôi dẫn tôi và chị gái đến Làng Mai năm 1996. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ là khi chúng tôi mới đến, tôi nghĩ trong đầu rằng nơi này chắc cũng chẳng khác gì những ngôi chùa mà tôi từng biết. Điều làm tôi ấn tượng đầu tiên là hình ảnh một vị thầy trẻ chào đón chúng tôi với nụ cười thân thiện. Nhìn vị thầy đó thật bình an, hạnh phúc và gần gũi. Sự ấm áp và chu đáo của vị thầy đó làm cho tôi cảm thấy ở nơi này có một cái gì đó không giống với những ngôi chùa mà tôi đã đến và vị thầy tôi gặp là người mà tôi có thể đến chơi một cách thoải mái, dễ dàng. Tôi đã được gặp rất nhiều thầy và sư cô trẻ khác trong thời gian ở Làng. Tôi cũng học được rất nhiều từ cách sống hàng ngày của các thầy, các sư cô nơi đây. Tôi thấy được sự quan tâm, chăm sóc giữa những người tu với nhau đầy tình thương như thế nào. Tôi cũng thấy được các thầy, các sư cô làm việc rất nhiều để phụng sự nhưng sao trên môi các vị vẫn nở được những nụ cười tươi. Những nụ cười đó không có vẻ gì là xã giao mà lại rất thật, phát sinh từ sự thực tập chánh niệm hàng ngày. Năng lượng chánh niệm đã giúp cho các thầy, các sư cô tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc đang có mặt trong mình và xung quanh mình ngay trong giờ phút hiện tại. Năng lượng đó cũng giúp cho các vị nuôi lớn tâm thương yêu đối với mọi người, ngay cả đối với những người chưa dễ thương với mình.

Làng Mai được bao bọc bởi khung cảnh thiên nhiên xung quanh. Ở đây mọi người không được phép chơi các trò chơi điện tử. Điều này tạo cơ hội cho những người trẻ như tôi có cơ hội chơi và tiếp xúc với các bạn trẻ cũng như các em nhỏ đến Làng từ nhiều quốc gia khác nhau. Và nhờ vậy mà tình bạn giữa chúng tôi được hình thành nhanh chóng. Chúng tôi nhận ra rằng hạnh phúc là một cái gì có thật mà không cần phải có nhiều tiền bạc và danh tiếng. Chúng tôi không bị phụ thuộc vào máy tính, tivi, những trò chơi điện tử hay Facebook, Twitters cũng như các hình thức giải trí trên mạng để có hạnh phúc. Cái thấy này có thể giúp thế hệ trẻ không bị cuốn hút vào thế giới công nghệ như hiện nay.

Tôi thích cách diễn bày đạo Bụt theo phương pháp của Làng Mai, tôi không cảm thấy đạo Bụt là một tôn giáo mà chính là một nếp sống. Bụt đã dạy rất rõ rằng hạnh phúc và sự bình an chân thực có thể được tìm thấy ngay bây giờ và ở đây. Chỉ với một hơi thở vào, tôi có thể tiếp xúc được với tất cả những điều kiện hạnh phúc mà tôi đang có, chẳng hạn như tôi đang có một cơ thể khỏe mạnh, một gia đình hạnh phúc, những người bạn dễ thương, v.v. Sự thật là có rất nhiều những điều kiện hạnh phúc đang có mặt cho chúng ta nhưng chúng ta thường bị cuốn đi bởi nhịp sống hối hả của xã hội mà quên đi điều đó. Tôi nhận ra rằng tương lai của mình đang được làm bởi những hành động trong giây phút hiện tại. Và ý thức đó đã cho tôi sức mạnh để quyết định lựa chọn cho mình một hướng đi. Tôi biết tương lai của tôi có tốt đẹp hay không, tất cả đều do chính tôi lựa chọn. Sự “vui tươi” và “trẻ trung” của pháp môn Làng Mai đã thực sự thu hút tôi cũng như rất nhiều các bạn trẻ khác đến Làng. Kinh nghiệm này đã giúp tôi thay đổi cái nhìn của mình đối với nếp sống ở chùa, đối với người tu và đối với đạo Bụt nói chung.

Tôi quyết định xuất gia ở tuổi 13, bởi vì tôi muốn sống một nếp sống như ở Làng Mai. Tình huynh đệ là một cái gì rất sống động ở Làng Mai đã thu hút tôi như… đường thu hút kiến. Tôi nhận thấy ở ngoài xã hội, chúng ta được đào tạo để trở thành những cá nhân xuất sắc, nhưng tại Làng Mai thì chúng ta phải học nhìn mọi thứ bằng con mắt tương tức, dù đó là công việc hay là vấn đề hạnh phúc hoặc khổ đau. Tôi biết điều này là một sự thực tập không hề dễ dàng đối với bất kỳ ai, đặc biệt là những người trẻ lớn lên ở Tây phương như tôi. Ở Làng Mai, tất cả các thầy cùng sống chung với nhau trong một khu tăng xá và các sư cô cũng sống chung trong cùng một ni xá. Chúng tôi đến từ nhiều quốc gia, từ nhiều nền văn hóa khác nhau và có trình độ học vấn cũng như nền tảng gia đình khác nhau. Vì vậy mà chúng tôi có cách nhìn và quan điểm không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thực tập sống chung an lạc với nhau. Mỗi ngày chúng tôi thực tập buông bỏ cái tôi riêng biệt và nuôi dưỡng tuệ giác tương tức bằng cách tập nhìn các sư anh, sư chị, sư em của mình là một tế bào của cùng một tăng thân.

Tôi nhớ có một lần khi làm thị giả cho Thầy, tôi may mắn được trực tiếp nghe Thầy dạy các đệ tử của mình về điều này. Lúc đó có một số quý thầy, quý sư cô đang chuẩn bị cho chuyến đi giảng dạy ở xa; trước khi đi, quý vị ấy đến chào Thầy và xin Thầy chỉ dạy. Trong nhóm này có nhiều vị rất trẻ, tài giỏi và có đủ khả năng thuyết pháp và hướng dẫn tu tập cho thiền sinh. Tuy nhiên, đôi khi có quá nhiều người tài giỏi ở trong cùng một nhóm cũng khá nguy hiểm bởi vì sẽ không ai chịu lắng nghe ai! Hôm đó, các thầy, các sư cô trẻ trong nhóm cùng ăn cơm trưa với Thầy và sau bữa ăn, các vị chia sẻ với Thầy về chương trình cũng như những ước muốn của mình trong chuyến đi. Sau khi lắng nghe các học trò của mình, Thầy dạy rằng: “Tất cả các con phải tập nhìn các sư anh, sư chị, sư em là một với mình. Hãy nhìn những ngón tay của các con. Các con có thấy mỗi ngón tay có hình dáng khác nhau không? Ngón cái thì ngắn và bụ bẫm nhưng lại rất khỏe, ngón trỏ là ngón chỉ phương hướng, ngón giữa là ngón dài nhất, kế đó là ngón đeo nhẫn rồi đến ngón út, ngón này tuy nhỏ nhưng lại rất hữu dụng. Các ngón tay biết rằng mỗi ngón đều rất khác biệt nhưng chúng cũng đồng thời ý thức rằng chúng cùng thuộc một bàn tay. Nhờ khác nhau như vậy mà các ngón tay có thể cùng nhau tạo thành một quả đấm. Nếu các ngón tay đều y như nhau thì chúng không thể hợp lại thành một quả đấm được. Các con phải tập nhìn sư anh, sư chị, sư em mình như vậy. Tất cả chúng ta đều khác nhau, mỗi người đều có điểm mạnh và điểm yếu, nhưng nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta là những ngón tay của cùng một bàn tay thì chúng ta sẽ vượt thoát cái nhìn phân biệt, kỳ thị và chúng ta có thể phối hợp hài hòa với nhau để tạo nên sức mạnh như một quả đấm”. Các thầy, các sư cô trẻ rất vui mừng được nghe lời chỉ dạy của Thầy và hứa sẽ thực tập điều đó. Đây chính là tinh thần mà chúng tôi luôn thực tập cùng nhau tại Làng Mai.

Được sống và lớn lên trong Tăng thân, tôi nhận diện được rất nhiều tâm hành trong tự thân và biết cách chăm sóc những tâm hành đó mỗi khi chúng phát khởi. Tôi nhận ra  mình có nhiều đức tính và phẩm chất tốt được trao truyền từ ông bà tổ tiên, nhưng đồng thời cũng có không ít những tập khí chưa dễ thương cần được chuyển hóa. Đảm đương những trách nhiệm trong tăng thân đã cho tôi cơ hội tốt nhất để thực tập điều đó. Tôi được Tăng thân giao phó chức vụ trụ trì của chùa Pháp Vân, Xóm Thượng sau khi Thầy Pháp Đôn – nguyên trụ trì của chùa Pháp Vân chuyển sang tu viện Lộc Uyển, Mỹ để tiếp tục tu tập cùng đại chúng bên đó. Mặc dù trách nhiệm này có vẻ rất quan trọng và nhiều khó khăn nhưng tôi vẫn hoan hỷ chấp nhận. Tôi thực sự thấy rằng tôi đã cắm rễ sâu vào mảnh đất Tăng thân, nơi tôi có nhiều thương yêu, vì vậy khi được Tăng thân giao phó trách nhiệm đó, tôi chấp nhận một cách rất tự nhiên.

Làm trụ trì ở Làng Mai rất khác so với làm trụ trì ở những chùa truyền thống. Tăng thân Làng Mai bây giờ đã phát triển khá lớn, vì vậy Thầy chúng tôi đã đưa ra một cách thức mới để tổ chức tăng thân. Cách thức này tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các thầy, các sư cô trẻ thể hiện tài năng của mình. Ở những chùa truyền thống, các vị trụ trì thường có quyền hành rất lớn và quyết định mọi việc trong chùa. Nhưng ở Làng Mai thì khác, Thầy đã cho chúng tôi một hướng đi mới. Thầy khuyến khích các sư anh, sư chị lớn đóng vai trò là những trụ cột của Tăng thân. Các vị lớn có mặt đó để lắng nghe các sư em mình chia sẻ về những khó khăn trong tu học, nâng đỡ, yểm trợ và đưa những lời chỉ dẫn khi cần thiết. Các vị cũng đóng góp tuệ giác và kinh nghiệm của mình đối với những công việc trong Tăng thân, nhưng sau khi đưa ra ý kiến của mình, các vị để cho các sư em tự quyết định và thực hiện công việc đó. Tuy nhiên, các vị luôn có mặt ở phía sau để yểm trợ các sư em của mình. Cách tổ chức mới này đã tạo động lực cho các thầy, các sư cô trẻ năng động hơn và điều này giúp cho những người trẻ như chúng tôi cảm thấy mình đang được góp sức vào sự phát triển của Tăng thân. Đó là lý do tại sao Xóm Thượng của Làng Mai lại có một vị trụ trì trẻ như vậy!

Là trụ trì ở Làng Mai, chúng tôi phải làm lớn mạnh kỹ năng truyền thông của mình với những thành phần khác trong Tăng thân. Chúng tôi phải tập lắng nghe các sư anh, sư chị, sư em của mình cũng như các bạn thiền sinh với một tấm lòng rộng mở mà không để bị cuốn đi bởi những cảm xúc của mình. Công việc của một trụ trì Làng Mai cần làm là: Khám phá tài năng của các thành phần trong chúng để giúp các anh chị em có cơ hội phát triển tài năng của mỗi người. Là một thành phần của Tăng thân Làng Mai, ai trong chúng tôi cũng được khuyến khích chia sẻ ý kiến và đóng góp cái thấy của mình cho đại chúng, nhưng một khi đã chia sẻ ra rồi thì chúng tôi nương tựa vào mắt Tăng và để cho Tăng thân dung hòa tất cả các ý kiến.

Cũng có những lúc tôi cảm thấy căng thẳng và đã để cho cảm xúc cuốn đi, khiến cho tôi có những lời phàn nàn, trách cứ Tăng thân, khiến cho tôi nghĩ rằng mình giỏi hơn những người khác và nếu không có tôi thì Tăng thân sẽ rất khó khăn. Thái độ này đã làm cho tôi trở nên xa cách với các sư anh, sư chị, sư em của mình. Nó cũng khiến cho tôi mất rất nhiều năng lượng và làm tổn hại đến tình huynh đệ trong Tăng thân. Những lúc như vậy, tôi luôn tìm cách trở về với những phương pháp thực tập căn bản, buông bỏ những nghĩ suy về các dự án, các cuộc họp trong đầu và nhắc cho mình nhớ rằng chính tôi đã tự nguyện xuất gia và tự nguyện trở thành một thành phần của Tăng thân. Cùng với sự thực tập này, tôi để cho tăng thân ôm ấp những khó khăn trong tôi và nhờ đó tôi có thể nối lại truyền thông với tăng thân của mình. Kinh nghiệm này cũng giúp cho tôi nhớ rằng tôi chỉ là một trong rất nhiều những thành phần tạo nên Tăng thân. Và nếu tôi không làm những dự án đó hoặc giả dụ nếu tôi không chủ tọa những buổi họp thì sẽ có một người khác làm thay tôi. Tôi tự nói với chính mình :“Pháp Hữu, anh không có gì đặc biệt lắm đâu! Anh cũng chỉ là một tế bào như tất cả những tế bào khác của tăng thân thôi”. Sự thực tập này đã cứu tôi rất nhiều lần và giúp cho tôi buông bỏ bản ngã của mình. Nó cũng đồng thời giúp tôi làm mới lại mình và nhắc nhở tôi rằng tôi là một người tu, rằng tôi còn rất trẻ và có nhiều điều cần phải học hỏi; và rằng tôi nên nuôi lớn tâm hiểu biết cũng như tình thương yêu nơi mình. Việc làm trụ trì đã thực sự rèn cho tôi mở lòng mình nhiều hơn và giúp tôi nuôi dưỡng tâm bình đẳng, không phân biệt nơi mình.

Tôi muốn nói với những người bạn trẻ rằng đạo Bụt vẫn còn rất tươi mới và thiết thực đối với thế hệ trẻ chúng ta. Đạo Bụt không chỉ dành cho người già và người đã chết, mà có thể trở nên sống động và tràn đầy sự sống. Đạo Bụt có thể dẫn dắt thế hệ mới của chúng ta hướng về một tương lai tươi sáng hơn. Là một người tu, tôi luôn hành trì theo giới luật và uy nghi để bảo hộ cho mình, nhưng không vì vậy mà tôi không được sống như một người trẻ! Tôi vẫn có thể chơi bóng rổ với các sư anh, sư chị, sư em của mình; tôi vẫn có thể hát nhạc rap với các bạn trẻ. Chỉ có điều, tôi làm những điều này với ý thức chánh niệm và với tinh thần xây dựng tình huynh đệ.

Tôi thấy mình thật may mắn được gặp Tăng thân và không đánh mất gốc rễ truyền thống của mình. Tôi mong ước mình sẽ là sự tiếp nối xứng đáng của Thầy và của Tăng thân. Tôi thấy lòng mình tràn đầy niềm biết ơn vì tôi được là một thành phần của Tăng thân Làng Mai, đặc biệt là khi Làng Mai tròn 30 tuổi. Tôi cầu mong cho mọi người trẻ trên thế giới này đều tìm thấy cho mình một nơi mà mình có thể trở về để tiếp xúc với gốc rễ của mình, và tiếp xúc với gia tài tâm linh mà tổ tiên đã trao truyền.

Thệ nguyện từ nay chỉ một đường

-“Cháu ra đời vậy cháu có ý định trở lại với Tăng thân, trở về xuất gia lại không?”, thầy Pháp Niệm hỏi với một hy vọng rằng rằng câu đáp sẽ là: -“Dạ, thưa có”.

Vào năm 1995, lúc đó tôi mười lăm tuổi, vào dịp nghỉ hè tôi được ba mẹ cho qua Làng Mai. Lúc bấy giờ, thầy Pháp Niệm (cậu ruột của tôi) mới xuất gia được một năm. Lần đầu tiên khi đặt chân vào khuôn viên Làng, tôi đã có ấn tượng. Làm sao mà có được một môi trường bình an như vậy nhỉ! Nhớ lại những lúc đi sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử (GĐPT) tôi không bao giờ có được cảm giác như vậy. Mỗi chủ nhật, tôi tự động khoác chiếc áo lam của GĐPT và lên đường đến chùa. Thỉnh thoảng tôi còn tự hỏi vì sao tôi đi chùa? Tập khí của tôi vẫn còn y nguyên đó, ai nói gì thì tôi nói lại, cứng đầu, bướng bỉnh, có sự so đo khi làm việc nhà với đứa em trai,… Khi Mẹ tôi hỏi một câu làm tôi bừng tỉnh mà không biết làm sao đáp lại: “Con đi chùa làm gì mà khi về nhà con vẫn như vậy?” Tôi đi GĐPT được học Phật Pháp, được sinh hoạt và tham dự vào những trò chơi, đố vui để học. Như khi  được hỏi “Tứ Diệu Đế là gì?”, tôi đáp như một cái máy: “Tứ Diệu Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo”, nhưng cuối cùng tôi vẫn không hiểu làm sao có thể áp dụng giáo lý đó vào đời sống hàng ngày. Tôi được đi chùa từ lúc tôi vượt biên và được bảo lãnh đến Toronto lúc tôi khoảng tám tuổi.

Mùa hè năm ấy tôi đến Làng với mục đích đi thăm thầy Pháp Niệm thôi, nhưng nhờ cơ hội đó mà tôi may mắn được tiếp xúc với Làng. Đó chính là “mối tình đầu” của tôi. Bước chân vào khuôn viên Làng, tự nhiên bao nhiêu lo phiền tan biến và chỉ còn lại không khí trong lành để tôi có thể cảm được sự bình an trong bản thân. Quý thầy và quý sư cô mà tôi được tiếp xúc tại Làng rất khác với những Thầy tôi quen biết trong những năm sinh hoạt trong GĐPT. Tôi thấy sao các thầy các sư cô ở đây có vẻ rất tự do, đi những bước chân rất khoan thai và tự tại. Khi ăn cơm, các vị nhai từng muỗng đến hơn ba mươi lần. Quý thầy, cô ở đây đích thực là biết sống và biết thưởng thức những mầu nhiệm của đất trời.Tôi khám phá ai ai cũng thương nhau như anh em ruột thịt và đôi lúc còn thương nhau hơn thế nữa, vì mỗi người trong đại chúng cùng chung một lý tưởng.

Tôi nhớ ngày tôi phải chuẩn bị rời Làng để về lại Toronto, tôi đã phải thức dậy rất sớm để đón chiếc tàu TGV từ Libourne đến Paris vào lúc 5h45 sáng. Ấy vậy mà có một sư cô đã thức dậy thật sớm để chuẩn bị thức ăn cho tôi đi tàu dù sư cô đó không quen biết gì nhiều đến tôi. Lúc tôi ngồi trên tàu, nhìn miếng bánh mì, tôi cảm được tình thương của sư cô. Tôi tự hỏi: “Tôi có khả năng để cống hiến tình thương như sư cô đã cống hiến cho tôi không? Dù đó là người mình không có quen biết?” Đó chính là hạt giống Bồ Đề trong tôi lần đầu được tưới tẩm, và tôi có ý muốn xuất gia. Vì tôi nghĩ chỉ có duy nhất con đường xuất gia mới trả lời được câu hỏi đó của tôi mà thôi.

Khi tôi về lại môi trường xã hội, về lại gia đình, tôi thấy con người có khuynh hướng hay sống với bản ngã hơi nhiều. Chúng ta tìm đủ cách để cho mọi việc đều thuận lợi cho riêng mình. Chính xã hội cũng khuyến khích và tưới tẩm hạt giống đó. Không ít thì nhiều, tôi đã học được một số pháp môn của Làng, như là thiền đi, thiền trà và trở lại tiếp xúc với hơi thở. Sống trong xã hội, mỗi lần tôi đi học, tôi vẫn tiếp tục thực tập được năm bước hoặc mười bước đi trong chánh niệm. Thỉnh thoảng tôi may mắn thực tập được nhiều hơn. Đã có những lúc tôi xin phép được cô giáo dạy sinh học yểm trợ cho tôi có thể mở những lớp hướng dẫn thiền đi và thiền trà. Vì trong trường có thành lập một cái phòng “peace room” (Sư Ông gọi là phòng thở và có nhóm conflict resolution, những người học cách giải toả xích mích.) Tôi không thuộc trong nhóm đó vì đối với tôi, nhóm ấy học nghiên về lý thuyết hơi nhiều. May mắn là cô giáo chấp thuận và trong năm tôi được hướng dẫn một vài lớp. Đến năm tôi vào lớp 11, tôi được trường trao cho giải thưởng hòa bình. Mỗi năm trường trao giải hòa bình cho một thành viên trong nhóm conflict resolution. Đối với tôi, nhận được giải đó là một điều rất đỗi ngạc nhiên. Tôi vui mừng và chấp nhận. Vì có lẽ đó cũng là những nấc thang, giúp tôi giải đáp một phần nào đó câu hỏi trong chiếc tàu TGV.

Đến khi học xong trung học, tôi quyết định xin mẹ đi tu vì hạt giống Bồ Đề trong tôi đã được chín mùi và tôi không có cách nào có thể chịu đựng được nữa. Lúc đó tôi đang vừa xem vô tuyến truyền hình vừa cắt vải làm túi áo cho mẹ may. Tôi ngừng công việc và tắt máy. Bước lên cầu thang, tôi hơi run run vì sợ mẹ sẽ không cho đi. Nhưng tôi đã quyết tâm rồi. Đến phòng may thì thấy mẹ đang may. Tôi ngồi xuống và xin mẹ ngừng may và hỏi mẹ:

– Mẹ ơi, nếu con quyết định đi tu thì mẹ nghĩ như thế nào?

Mẹ tôi trả lời với giọng nói có vẻ lo lắng nhưng lại vui mừng:

– Nếu con đã suy nghĩ kỹ rồi thì con có thể đi, nhưng con nên nhớ là có những người tu nửa chừng và ra đời.

Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không thuộc những người đó và trả lời một cách rắn chắc.

-Dạ con biết.

-Vậy thì mẹ đi báo tin cho ba mừng.

Tháng hai năm 2001, tôi được xuất gia trong gia đình Cây Trà Mi. Gia đình có chín người và tôi được làm sư út của gia đình. Được làm sư út tôi mừng ghê vì ở nhà tôi là anh cả trong gia đình. Không ngờ, nhờ đi tu tôi mới được nhõng nhẽo! Mỗi ngày tôi được bao bọc bởi tình thương của Sư Ông và của toàn thể đại chúng. Tôi và mọi người nơi đây thật sự được sống như là những người tự do và không kỳ thị chủng tộc hoặc tôn giáo. Bất cứ lúc nào cũng có thể chế tác hạnh phúc và nuôi dưỡng bình an. Mỗi ngày, tôi cùng mọi người thực tập để trân quý hai mươi bốn giờ mà đất trời ban cho và cứ như vậy tôi nở nụ cười để tiếp nhận món quà đó. Tôi ý thức trong thế giới chung quanh có những người không được may mắn như tôi. Mỗi sáng thức dậy, tôi ý thức rằng tôi vẫn còn là một vị xuất gia, còn có thể thở được, nhìn được với đôi mắt sáng và mỉm cười được, chừng đó đã là kỳ diệu lắm rồi. Tôi không cần theo đuổi gì thêm. Dù cho làm tổng thống hay có quyền lợi, giàu sang trong xã hội chắc gì tôi có được hạnh phúc và tự do bằng nếp sống đơn giản và ăn chay nằm đất!

Nhưng có lẽ, tôi nằm trong thành phần những người xuất gia trẻ mà trong tâm thức vẫn còn những hạt giống đã được trao truyền từ ông bà tổ tiên. Dần dà tôi đã đánh mất đi sự thực tập căn bản của Làng, và thế vào đó những hạt giống thèm khát, muốn sống một nếp sống gia đình được khơi dậy trong tôi. Lúc ấy tôi xuất gia đã được chín năm. Chính vào hai năm cuối là thời điểm khó khăn nhất. Tôi đã vất vả nhiều với sự lựa chọn giữa con đường xuất gia và con đường hoàn tục. Nếu tôi chọn con đường ra đời, tôi sẽ phụ bạc tình thương của Sư Ông, của Tăng thân và của ba mẹ tôi. Nhất là với những lời dặn dò của mẹ ngày tôi xin đi xuất gia. Tôi đã chật vật rất nhiều với sự đắn đo ấy. Để rồi cuối cùng, tôi đã nhắm mắt trước tình thương to lớn mà tôi đã nhận từ Sư Ông và từ Tăng thân. Đồng thời tôi cũng chấp nhận, chính quyết định này là con đường mà tôi phải đi ngang thì mới lớn lên được. Vào hai năm cuối đó, tôi đã để hạt giống thèm khát trỗi dậy trong tâm thức rất nhiều và âm thầm muốn rủ người tôi thương cùng nhau ra đi. Thuở ban đầu chỉ là đơn phương, về sau trở thành song phương. Do vậy, tôi đã bám víu vào nó. Đã để dòng mơ tưởng lấn chiếm cả “mối tình đầu” của tôi với Tăng thân. Tôi nhớ trong những ngày tháng đó, tất cả những gì tôi làm chỉ là nuôi lớn hạt giống và năng lượng thèm khát đó trong tôi thôi. Tôi đã dại dột nghĩ rằng: “Đâu phải cặp vợ chồng nào cũng khổ đau, cũng có những cặp vợ chồng rất thành công trong sự thực tập và có thể giúp đỡ rất nhiều người bớt khổ”. Đến mức tôi nghĩ, tôi không có thể sống được trong Tăng thân nữa vì tôi không xứng đáng với tình thương của Sư Ông và của Tăng thân mỗi ngày đã dành cho tôi. Sư Ông và Tăng thân đã làm mọi cách để nâng đỡ và dạy tôi rất nhiều điều, nhưng tâm tôi đã khép kín rồi nên tôi không thể tiếp nhận được tình thương đó! Cuối năm 2010, tôi đã quyết định xin phép Sư Ông và tăng thân cho tôi xả giới. Tôi biết ơn tình thương của Sư Ông và đại chúng  luôn luôn dành cho tôi. Sống trong Tăng thân, tôi cảm được đây chính là nơi có tình huynh đệ, tình tỷ muội thật sự. Đi nhiều nơi trên thế giới, tôi chưa kiếm được thứ tình huynh đệ mà tôi đã cảm được trong suốt ngần mười năm xuất gia của tôi. Thầy Pháp Niệm cũng từng cố gắng để giúp tôi ra khỏi khó khăn này rất nhiều lần. Thầy hay chia sẻ: “Từ ngày cháu đi xuất gia đến giờ, cháu có thấy gia đình, họ hàng của mình đã chuyển hoá được biết bao không? Các em trẻ có ý thức hơn về sự thực tập và trở nên những người rất dễ thương.Thời gian mà Tony mất (em ruột của tôi mới 18 tuổi), cháu đã là cột trụ để làm nơi nương tựa cho ba mẹ cháu, và cho họ hàng…” Nhưng cuối cùng thầy Pháp Niệm cũng đành buộc lòng chấp nhận quyết định của tôi vì biết rằng tôi sẽ không còn đứng lưng chừng ở giữa ngã ba nữa. Nên khi thầy hỏi: “Cháu ra đời, vậy cháu có ý định trở lại với Tăng thân, trở về xuất gia lại không?” Tôi trả lời một cách chắc chắn: “Dạ không! Nếu cháu ra đi cách đây một năm thì cháu nghĩ sẽ có ngày trở lại. Giờ đây thì không.”

 

Ngày tôi về nhà, có lẽ là ngày khổ sở nhất trong cuộc đời của tôi, vì tôi đã cắt đi niềm tự hào của ba mẹ tôi đối với chuyện có người con đi xuất gia. Có đứa con đi tu là niềm hạnh phúc và tự hào nhất đối với những người Phật tử chất phác như ba mẹ tôi. Tôi đành phải nhắm mắt trước việc ấy và hy vọng có ngày ba mẹ sẽ hiểu. Nghỉ ngơi được vài ngày thì tôi đi làm cùng với ba mẹ và đứa em trai trong nghề home renovation (cải tiến, sửa chữa nhà cửa). Sau một ngày làm việc, mẹ tôi nói với giọng than và buồn khổ: “Sao thấy con mình đi làm khổ quá”. Tôi thấy mẹ buồn khổ quá nên quyết định không đi làm chung nữa và lên mạng tìm việc làm khác.Thấy tiệm Tim Hortons (tiệm café) đăng báo cần tìm người tính tiền (cashier) và làm café. Tôi liền tạo một cái lý lịch tóm tắt (résumé). Trong lý lịch ấy phần nhiều là kinh nghiệm từ thời gian tôi ở Làng và một ít từ thời trung học. Viết xong tôi gửi qua điện thư đến tiệm. Chỉ trong vài ngày sau, tôi may mắn đã được bà chủ tiệm gọi điện và hẹn ngày phỏng vấn để nhận công việc. Sau buổi phỏng vấn tôi được chấp nhận làm thành viên của Tim Hortons. Lúc đó tôi mừng lắm! Tôi không ngờ những kinh nghiệm mà tôi có được ở Làng, ghi vào lý lịch mà tiệm vẫn có thể chấp nhận được tôi. Có lẽ do đặc điểm lý lịch tôi viết là tôi có thể lắng nghe, nói những lời ái ngữ và luôn mỉm cười và có thể giúp được khách hàng khi họ có những lời than phiền, có thể đem niềm vui đến với những người cùng làm chung việc. Tôi nhớ trong hai tháng đầu, bà chủ tiệm rất thích cách tôi làm việc, rất hiệu quả và luôn vui tươi chấp nhận bất cứ việc làm gì, dù đó là quét nhà, lau nhà. Nhìn thấy cách tôi làm, cách tôi nói chuyện, và kể cả việc tôi ăn chay điều khiến cho bà chủ tiệm ngạc nhiên. Tuy rằng sống trong căn nhà của ba mẹ, tôi không phải lo về cơm nước, nhà cửa, tiền bạc, nhưng tôi vẫn thấy vất vả thật. Luôn luôn phải đi làm để kiếm chút tiền. Phải đua đòi với người ta để được bà chủ khen thưởng và mong có ngày để được lên chức. Nếu tôi ở riêng, chắc chắn bao nhiêu tiền tôi làm được chỉ đủ để trả tiền nhà, tiền điện, tiền nước, điện thoại, bảo hiểm,… và có thể không đủ nữa. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói là số tiền họ làm được là đủ để cho họ sống cả. Sống trong tu viện, tôi không cần lo đến chuyện tiền bạc hoặc ngủ đâu, ăn ra sao. Mỗi ngày đều có ba bữa cơm dọn sẵn trên bàn. Tôi biết rõ, ra đời không phải để tôi tìm kiếm những tiện nghi mà tôi không có trong tu viện. Mà nói cho đúng, sống trong tu viện chúng tôi thiếu tiện nghi nhưng cũng lại rất dư dả. Vì chính tình thương của Tăng thân chính là tiện nghi đích thực nhất. Dần dà tôi thiết kế phòng ngủ của tôi y như là cách sống của tôi ở trong tu viện. Chính nhờ cách sống mà tôi quen thuộc ở trong tu viện đã giúp tôi có thể trở về lại với sự thực tập, thở vào thở ra dễ dàng nhất. Tôi từ từ tạo cho mình có đủ thời gian và không gian để tôi có thể ngồi thật yên. Ngồi để nhìn lại những năm qua và trong hiện tại. Và tôi luôn luôn khơi dậy được trong tôi tình thương mà tôi đã tiếp nhận được từ Sư Ông và Tăng thân. Đích thực, tôi ra đây là để tìm kiếm nếp sống đôi lứa hay sao? Nếu vậy, người mà tôi mong đợi sẽ từ bỏ đời sống xuất gia của người đó có để sống với tôi không? Tôi đã vật lộn với câu hỏi đó trong tôi. Mãi đến sáu tháng sau tôi mới thấy rõ hơn. Đây có phải là thứ tình thương đích thực không? Tình thương mà tôi đang muốn tìm kiếm chính là tình thương có sự chiếm hữu. Một bông hoa đẹp ngoài sân tự dưng mình cắt đi đem vào nhà chưng để cho chỉ có mình thưởng thức thôi thì sớm muộn gì hoa cũng sẽ héo tàn. Sư cô đó đang sống một nếp sống cao thượng, có nhiều hạnh phúc và giúp đỡ được biết bao nhiêu người. Tôi có đem sư cô đó được về nhà thì cũng giống như việc tôi ngắt bông hoa ngoài sân kia thôi. Bông hoa có thể cống hiến cái đẹp cho nhiều người thì đó mới là bông hoa đẹp. Sư Ông thường xuyên dạy cho chúng tôi là chúng ta có quyền thương, nhưng thương như thế nào để không có vướng mắc, vẫn có giới luật và uy nghi hỗ trợ. Đó mới đích thực là thương. Chẳng lẽ tình thương của tôi hẹp hòi và ích kỷ vậy sao? Nhờ sống trong xã hội, tôi mới thực sự hiểu cái khó và cái khổ của những người phải đua đòi cho miếng cơm và chỗ ngủ. Cuối cùng, tôi bắt đầu thực tập để chuyển hóa cách nhìn của tôi về tình thương trong bản thân. Tôi bắt đầu muốn ủng hộ và yểm trợ sư cô đó tu tập cho đến nơi đến chốn, đem lợi lạc cho bản thân và cho mọi người.

Vào tháng 10 và đến đầu tháng 11, Sư Ông và Tăng thân hướng dẫn khoá tu tại Tu viện Bích Nham, New York, Mỹ. Tôi lấy dịp đó để dự khoá tu năm ngày, với tựa đề là: “Stepping into Freedom, Savoring Life”(Bước tới thảnh thơi). Khi tôi đến tu viện, các thầy các sư cô vẫn tiếp đãi tôi như là huynh đệ trước đây.Vẫn thương tôi như huynh đệ trước đây. Có những thầy những sư cô vẫn gọi tôi là “Pháp Duệ” vì luôn có niềm tin vững chắc là sẽ có ngày tôi trở lại với Tăng thân. Tôi được quý thầy ưu đãi cho ngủ chung trong Tăng xá. Tôi thật sự rất ngạc nhiên, vì trước giờ những vị ra đời sau này khi trở lại Làng thì họ đều ở nơi cư xá của những người khách thôi mà không có cùng ở trong tăng xá. Vậy mà các thầy vẫn cho tôi ngủ trong tăng xá và có những buổi trà đàm mà cư sĩ bình thường ít ai may mắn được tham dự. Tôi có mặt đó giống như là một vị xuất sĩ. Vì bất cứ chuyện gì các thầy các sư chú đều có thể cùng nhau chia sẻ cả, dù có tôi ngồi đó, các thầy cũng không có nhu cầu phải che dấu gì cả. Trở về lại Bích Nham, tắm mình trong dòng nước từ bi và yêu thương của quý thầy đã khiến khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tình thương của tôi đối với Sư Ông và với Tăng thân. Và đó chính là “mối tình thứ hai” của tôi.

Đến lần thứ ba tôi đến Bích Nham, tôi cùng đi với Ba Mẹ tôi và thầy Pháp Niệm. Tôi ngủ lại một đêm và ngày sau Sư Ông và đại chúng làm lễ an vị Phật. Sau buổi lễ an vị Phật, thì Sư Ông nói: “Pháp Duệ đâu rồi, đem đầu ra mà cạo cho rồi!” Tôi quá là ngạc nhiên và hầu như không chỉ tôi thôi mà cả đại chúng đều rất ngạc nhiên. Mẹ tôi liền tức thời qùy lên và đáp:”Dạ, xin Sư Ông cạo đầu cho!”. Lúc ấy, trong đầu tôi giống như có một cuộn phim đang quay bằng tốc độ nhanh gấp cả ngàn lần, và tôi tỏ vẻ hơi phân vân. Nhưng liền tức khắc tôi biết Sư Ông chỉ có thể nói như vậy khi Sư Ông có tình thương đích thực, và mối liên hệ tình thầy trò với nhiều cảm thông. Và Sư Ông cũng biết rõ trong chúng ai ai cũng muốn và hy vọng có ngày tôi trở lại làm người tu sĩ. Nếu tôi không có đáp ứng tình thương mà Sư Ông đã luôn luôn dành cho tôi và cho gia đình dòng họ thì tôi tỏ ra phụ bạc quá. Tôi cũng biết rõ thời điểm này cũng có thể là thời điểm duy nhất mà tôi có thể trở lại xuất gia, nếu tôi không nắm bắt cơ hội này thì tôi có thể không còn dịp khác nữa. Tôi liền lập tức qùy lên và xin Sư Ông: “nếu con cạo đầu thì xin cho con làm lại Sa di”. Sư Ông đáp với nụ cười vui: “Trước mắt là con cạo đầu đã, sau đó tùy theo Tăng thân.” Tôi đã đến trước Sư Ông và lạy xuống ba lạy, sau đó được Sư Ông và đại chúng chứng minh và thầy Pháp Niệm đại diện cắt tóc. Ngày tôi rời chúng ra đi đã có nhiều nước mắt, bây giờ ngày tôi xuống tóc trở lại thì có nhiều nước mắt của hạnh phúc. Kỳ thực “mối tình đầu” của tôi, “mối tình thứ nhì” của tôi, tình thương tôi dành cho sư cô ấy không khác nhau, rốt cuộc chỉ là một mà thôi. Tôi ngỡ là tôi thương một cá nhân, nhưng phải chăng sư cô ấy là một hình thức của Bồ Đề Tâm vốn nằm vỏn vẹn trong tôi, nhưng vì theo khuynh hướng con người mà tôi đã tìm kiếm bên ngoài, thay vì trở về với nội tâm tôi?

Cuộc đời tôi đã không là một kết thúc của một thất bại, của sự thụt lùi. Nhờ hồng ân Tam Bảo, nhờ đại bi tâm của Sư Ông và Tăng thân mà tôi được thêm một cơ hội nữa để sống nếp sống xuất gia cao thượng, trong sáng này. Tôi xin hướng về Tam Bảo, hướng về Sư Ông và Tăng thân mà thành tâm chắp tay đọc câu trong bài kệ tôi từng trình lên chư Tổ:

“Sơn kia đứng vững trong bão tố.

Thệ nguyện từ nay chỉ một đường.”

-Chân Pháp Duệ-

Chuyện của sư bé

Phải đọc chuyện của Bé mới biết Sư Bé là ai, nhưng cũng chưa đủ vì Sư Bé bây giờ khác xưa nhiều lắm. Sư Bé là một bông sen trắng thơm ngát và trong sáng hồn nhiên, biểu hiện cùng với rất nhiều bông sen khác trong gia đình xuất gia Sen Trắng. Hiện giờ, Sư bé đang có những tháng ngày rất hạnh phúc và bình yên ở Xóm Mới,  bên cạnh Thầy và Tăng thân yêu quý.

Sư bé Đôn Nghiêm

 

ơi, con mun đi tu!

“Má ơi! Con muốn đi tu. Má cho con vô ở với quý sư cô trong Bát Nhã nhé!”

Con nhớ cách đây một tháng thôi con đã rất buồn, thật sự buồn trước sự ra đi của ba người thân trong gia đình. Đầu tiên là Bà Nội. Con đã khóc rất nhiều. Một tuần sau anh con cũng theo Bà ra đi. Ui cha, con khóc nhiều hơn nữa. Nỗi buồn chưa nguôi thì mấy ngày sau ba con cũng từ giã cuộc đời. Con chưa kịp thấy mặt ba lần cuối… Còn nỗi đau nào hơn khi mất người thân? Lúc đó con chưa biết gì về vô thường, về tương tức để biết là ba có mặt trong con và con là sự tiếp nối của ba… Ba cái đám tang dồn dập tới nên nỗi buồn trong con cũng được nhân lên làm ba lần. Trong đám tang của ba con không khóc nữa. Con ngơ ngác quá đỗi như không thể tin vào mắt mình, vào tai mình. Con cứ đinh ninh rằng người nằm trong cái hòm lạnh lẽo kia không phải là ba con. Một ngày nào đó ba con sẽ trở về. Mau lắm thôi, ba sẽ ôm con vào lòng, con chìa tay ra xin kẹo và bỏ nhanh vào miệng, nhấm nháp hương vị ngọt của kẹo, của tình ba. Con thương bà Nội, thương anh và thương Ba lắm. Con không thể chấp nhận được sự ra đi vĩnh viễn của ba người thân trong gia đình. Con cứ nuôi hy vọng một ngày nào đó, Nội con sẽ trở về và con lại được nghe tiếng nhai trầu bỏm bẻm của Bà, được thỉnh thoảng giặt đồ cho anh hay để anh sai vặt. Có những lúc nhớ quá, con tự nói trong im lặng: “Anh Bi ơi! Anh tỉnh dậy đi, bây giờ anh bảo gì em cũng làm chớ không kì kèo bắt anh trả công bằng bánh kẹo hay cà rem nữa. Con cũng sẽ nhổ tóc bạc cho Nội, cho Ba miễn phí mà không tính tiền từng cọng năm trăm hay một ngàn nữa. Con sẽ đổi tất cả, bánh kẹo, những đồ chơi đẹp con đang có để được sự có mặt của Nội, của Ba và anh…” Con có đọc sách và được nghe Sư Ông nhắc tới câu thơ: “ Tôi thấy tôi mất mẹ, là mất cả bầu trời”. Còn con mất một lúc ba người nghĩa là con mất cả ba bầu trời, mất luôn cả mặt đất. Con còn quá nhỏ để hiểu được rằng những gì quý giá bên cạnh mình không chịu trân quý, đến lúc tuột khỏi tầm tay rồi mới nhận ra được giá trị của nó. Dù hối tiếc cũng muộn màng. May mắn thay bên con còn có Má và các anh chị em. Hơn ai hết, Má là người thương Nội, thương Ba và anh. Má đang đau khổ cực độ. Khuôn mặt Má phờ phạc quá. Nỗi đau buồn làm con quên mất  sự có mặt của Má và những người còn lại trong nhà. Con giật mình: “May mà Má còn đây cho con!” Con thương Má nên nỗi buồn trong con vơi lại, nó lặng lẽ rút về một góc nào đó trong tâm hồn. Con để ý tới Má và các anh chị em trong gia đình. Ngoài giờ đi học ở trường con ở nhà giúp đỡ Má những công việc lặt vặt. Ở trường, những sinh hoạt của Đoàn, Đội hay những phong trào văn nghệ con tham gia rất tích cực. Ở nhà, tối tối con lại rủ đám trẻ trong xóm chơi đủ trò, nào là chơi u, chơi trốn tìm, chơi keo, đá banh, đá cầu.v.v… Từ từ rồi mọi chuyện cũng qua, con dần vui trở lại. Con đi học đều đặn và cuối năm vẫn được học sinh giỏi. Con đặt phần thưởng lên bàn thờ, cười tươi rói khoe với Ba. Ba muốn con trở thành một cô giáo nên con ráng học để thực hiện mong ước của Ba. Và rồi kỳ nghỉ hè tới, anh trai con đi tu trở về thăm nhà. Anh lặng lẽ đứng trước bàn thờ của Ba, không nói câu gì. Sau mấy phút mật niệm anh mỉm cười thật tươi, từ từ quay lại với đôi mắt đỏ hoe: “ Cả nhà mình ngồi xuống đây chơi đi!” Con thấy sống mũi mình cay cay, xúc động quá. Rồi anh rủ con và hai đứa em gái nữa vô Bát Nhã chơi, coi như là phần thưởng vì đã được học sinh giỏi. Con vốn thích đi chơi nên cũng chẳng bận tâm Bát Nhã là chỗ nào, miễn đi chơi với anh, với chị, với em là vui rồi. Vậy là ba chị em con hí hưởng chuẩn bị đồ đạc để lên đường. Con ở xóm Bếp Lửa Hồng, hai em ở xóm Mây Đầu Núi. Ngày Quán Niệm ba chị em gặp nhau, thi nhau kể những chuyện kì lạ ở đây. Nào là ăn cơm im lặng, rồi ngồi im ru trong thiền đường, nghe chuông lại đứng im như bị điểm huyệt, rồi còn thở vô thở ra chi chi đó nữa… vừa kể vừa cười hí hí. Tóm lại cả ba cùng đồng ý là rất thích pháp môn thiền trà, vừa được ăn kẹo, vừa được uống trà và chia sẻ hạnh phúc. Pháp môn thiền buông thư tựa tựa như Má hay ru mình ngủ và những bài hát thiền ca cũng hết sức dễ thương. Lâu lâu quý sư cô cứ mua bánh kẹo cho ăn. Con thấy ở đây vui quá, sư cô nào cũng đẹp và hiền chi lạ, nói chuyện lại nhẹ nhàng và rất thương tụi con và thương những người sống quanh mình… Một tuần trôi qua thật nhanh, chị em con phải trở về nhà chuẩn bị sách vở, quần áo cho năm lớp 11. Hai em con cũng sắp vào lớp 9 và lớp 6. Trước khi đưa các em về, anh con có hỏi ba đứa: “Ở đây đẹp không mấy em?” Cả ba đồng thanh: “Dạ đẹp!” “Mấy em có thích nơi này không?” “Dạ thích lắm!” “Vậy có ai muốn đi tu giống anh và quý sư cô không?” Hai em con nhanh nhảu: “Dạ không! Đi tu mà cứ nghe pháp thoại, ngồi yên cả ngày rứa em buồn ngủ lắm. Đi tu mà không phải làm hai việc đó thì chúng em đi.” Anh con cười, cóc cho mỗi đứa một cái thật nhẹ trên đầu. Thấy con còn chần chừ anh hỏi: “Còn em?” Nghe anh hỏi con giật mình vì con còn háo hức với ý định về nhà gặp lại Má, các bạn ở trường, cùng học, cùng chơi và sau này làm giáo viên như đã hứa với Ba. Con đáp: “ Em cũng thích ở đây lắm nhưng…” Con chưa nói hết câu thì anh bảo: “Đi tu cho rồi, ở ngoài đời người ta lượm mất đó.” Con đỏ mặt tía tai:  “Anh cứ chọc em hoài, em còn nhỏ mà, ai lượm em cơ chứ?” Nói thiệt trong lớp con thuộc hạng ngơ nhất, chỉ có việc học, làm công việc của một bí thư chi đoàn, ngoài ra không biết gì về cái chuyện “lượm, rớt…” gì cả. Ai mà nhắc tới là con nghỉ chơi với người đó luôn. May là anh, người mà con thương và kính trọng nên con không muốn nghỉ chơi. Nghe con giãy nãy như vậy, anh cũng thôi không nhắc nữa, chỉ buông lửng một câu “Ừ, anh xin lỗi, để từ từ cũng được.” Vậy đó mà một tuần sau về lại nhà, con quyết định xin vô Bát Nhã tập sự xuất gia. Anh con hỏi lạ lùng: “Em bị cái chi rứa?” Con cười tươi rói: “Có răng mô anh, em bị tương tư… Bát Nhã rồi. Em nhớ quý sư cô và mọi người trong đó lắm, em nhớ những buổi đi thiền hành lên đồi rất đẹp, được nghe quý sư cô kể chuyện, nhớ những buổi ăn cơm im lặng, em nhớ ông Bụt màu cam cam ở trong thiền đường Cánh Đại Bàng nữa. Quý sư cô sống hòa hợp và thương yêu nhau, em chưa thấy quý sư cô giận hờn nói nặng với nhau điều gì… Sao lại có những con người tuyệt vời quá vậy anh? Em cũng muốn sống đẹp như vậy đó, bây giờ “ Bụt” lượm em rồi, anh cho em đi theo Bụt, theo chân anh đi!” Anh xoa đầu con cười nói: “Thôi, hay là em học xong lớp 12 rồi đi, đang học lỡ dở bỏ có được không?” Con reo lên: “ Sao lại không được, bỏ ba bỏ mẹ, bỏ nhà đi còn được, bỏ học đâu thấm thía gì hả anh?” “Ừ, nếu em đã quyết thì anh ủng hộ hai tay hai chân. À, mà em hỏi ý kiến má chưa, anh nghĩ chắc má vui lắm đó!” Từ trong nhà bếp má đã nghe hết, ánh mắt má sáng lên một niềm vui. “ Má đồng ý, việc gì chơ đi tu là má chịu liền. Má còn mong sao cho những đứa con của má có duyên với Phật, đi vào chùa tu hết. Đến lúc đó cho má theo vô làm dì vải luôn.” “ Ôi! Má của con thật là tuyệt vời!” Con ôm cổ má mừng rơn, cả nhà vui như thể có đám cưới vậy. Coi bộ xuất gia hạnh phúc hơn xuất giá nhiều. Chỉ ngay ngày hôm sau, con thu xếp đồ đạc, chào cả gia đình, ăn tô bún riêu Má nấu rồi lên xe anh chở vô lại Bát Nhã. Tới nơi quý sư cô ngạc nhiên và vui lắm. Trong vai một cô bé tập sự 16 tuổi với bộ đồ vạt hò rộng thùng thình của anh và cái áo tràng lam quý sư cô mua cho ở thư quán, con tung tăng đến từng ngõ ngách của tu viện, đến từng gốc cây bờ cỏ, miệng không ngừng reo vang: “ A ha, đây là nhà mới của mình, đây là cuộc sống mới của mình!” Con bắt đầu cuộc sống của người xuất gia như thế đó.

 

Lớp học mới

Xa lìa bạn bè, thầy cô, trường lớp và những thú vui của đời học sinh, con bắt đầu tiếp xúc được những điều mộc mạc nơi đây. Đi tu rồi tự nhiên con thấy mình có vô khối thời gian để tận hưởng thiên nhiên và tận hưởng cuộc đời. Một bông hoa dại cũng có nét đẹp lạ kỳ, tiếng chim hót mỗi sớm mai, tiếng suối chảy róc rách xem lẫn bài hát thì thào của những ngọn cây mỗi khi có gió xao nhẹ. Rồi có những đêm trăng sáng thật trong, ngàn sao chi chít, những buổi tinh sương khi rừng thông còn lặng chìm trong đám sương mờ, những người con Bụt ngồi thiền an tịnh thân tâm, hơi thở hòa theo tiếng chuông ngân vang. Ngồi trong lòng đại chúng thật ấm cúng, con mới nhận ra một điều: “Cuộc đời này vốn rất xinh đẹp vậy mà bao lâu nay mình cứ bị những bận rộn kéo đi và không nhận ra cuộc sống bình dị nhưng thật đẹp này.” Từ đó con bước vào ngày mới như một chuyến phiêu lưu, khám phá ra những điều mới lạ trong con và xung quanh con.

Trở thành một tập sự con ở trong nhóm y chỉ muội của sư cô Như Hiếu. Y chỉ muội ở trong chùa, con thấy giống học sinh ở trường, còn Y chỉ sư giống như thầy cô giáo. Vậy là ngày ngày, y chỉ sư dạy cho chúng con cách đi, đứng, nói cười, dạy từng li từng tí về cách ăn cơm, để dép, đến cả cách mặc áo và một việc hết sức đơn giản: Thở! Được sinh ra 16 năm rồi mà lần đầu tiên con mới biết thở một hơi thở có ý thức, cảm nhận được không khí trong lành tràn đầy hai lá phổi, một điều đơn giản nhưng quý giá vô cùng. Ở trường con là một học sinh xuất sắc, còn ở trong ngôi nhà mới này, con thấy mình ngơ ngơ như một em bé, cả bước chân cũng phải tập đi sao cho thảnh thơi. Các thầy và sư cô ở đây cũng thật hiền như Bụt, chẳng bao giờ đánh đập la mắng, phạt quỳ hay chấm điểm Zê rô cho chúng con. Còn nhiều và nhiều điều mà chúng con đã được học ở trong tăng thân. Đây đúng là ngôi trường đích thực, có dịp con sẽ kể cho hai em gái của con nghe về những lớp học thú vị này.

 

Con muốn giống thầy

Ba ơi, con đi tu rồi, ba có đồng ý không? Con học được nhiều cái lạ, cái mới lắm ba à. Con học được cách trở về với tự thân để chăm sóc cho mình thật tốt, nghĩa là con làm cho sự tiếp nối của ba trong con thật đẹp. Ba muốn con trở thành cô giáo, dạ thưa Ba, con thấy con đang đi trên đường mà Ba mong ước. Giáo dục không có giới hạn ở trường lớp mà rộng ra đến tất cả mọi nơi, trong từng giây phút của đời sống hằng ngày. Con đang sống có hạnh phúc, con muốn một ngày nào đó con cũng sẽ giống như Thầy, quý sư cha sư mẹ, biết đem hạnh phúc cho mình và hướng dẫn mọi người tìm được hạnh phúc. Ba ơi, Ba có hạnh phúc không, con xin gởi đến Ba nụ cười thật tươi thật lành của con.

 

Bữa cơm gia đình mừng cây Sen Trắng ra đời

sư cha trao “vòng hoa sư út cho sư Bé út Sen Trắng nè!

Ngày tháng hạnh phúc

Sau ba tháng tập sự con được xuống tóc, trở thành một “ baby nun” trong gia đình áo nâu. Những ngày tháng tiếp theo là những tháng ngày hạnh phúc và tràn đầy tiếng cười.

Con như con cá nhỏ tung tăng bơi lội trong dòng sông tăng thân, ngày ngày uống dòng sữa pháp từ Thầy, từ pháp môn. Con rất biết ơn cuộc đời đã đưa con tới gặp Thầy, gặp các sư anh, sư chị và sư em. Và từ đó, hơi thở tiếp nối bình an, bước chân tiếp nối thảnh thơi, nụ cười tiếp nối niềm vui.

Cho đến một ngày nọ má con đột ngột vô thăm. Con chưa kịp mừng rỡ thì má đòi dắt con về. Thì ra có mấy chú công an vô nhà thăm và bắt má phải vào đây dắt con về với lí do: “Ngày mai, người ta sẽ vô Bát Nhã biểu tình. Dắt con về là bảo vệ an toàn cho con và giữ gìn an ninh trật tự xã hội.” Con lo quá vì thấy má đang bị bắt ép. Làm sao để cho má hiểu là không đâu an toàn bằng sống trong tăng thân. May quá, các sư cô ra giải thích giùm cho con để má hiểu rõ tình hình. Có một bà mẹ của sư chị con cũng đang lên thăm con và tiếp tế lương thực cho quý sư cô. Hai người mẹ dắt nhau ra gốc mít ngồi hàn huyên tâm sự một hồi. Con đứng trong phòng niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, gởi năng lượng bình an cho hai bà mẹ, mong cho công tác tư tưởng thành công. Không biết bà mẹ của sư chị con đã to nhỏ những gì mà khi vào gặp con, má vừa khóc vừa cười và nói: “ Con ở lại tu ngoan và khỏe nhé, má về!” Con nhìn theo bước chân của má khuất sau đám trà xanh mà lòng thương má vô cùng. Chú công an đã đợi má sẳn ở đó từ lâu. Má thẳng thắn nói với chú: “ Cháu nó không chịu về, tôi bắt cũng không được. Anh giỏi thì vô bắt dùm tôi với!” Thế là chú ấy cam lòng ra về tay không. Con biết thế nào về tới nhà Má cũng bị mấy chú làm khó tiếp. Vậy mà một tuần sau, má con trở vô lại không phải với chú công an mà với một xe đầy rau củ cúng dường cho đại chúng. Con mừng quá trời, con ôm má trong vòng tay nhỏ: “ Đó, má thấy chưa, con vẫn còn đây, vẫn tròn trịa dễ thương như ngày nào, má đừng lo cho con má nhé. Con cảm ơn má nhiều nhiều lắm, đã yểm trợ cho con và quý thầy quý sư cô ở đây.”  Má thoa thoa cái đầu tròn của con và cười tươi: “Má biết rồi thưa sư cô bé nhỏ của má!”  Vậy là lần đó nhờ có tăng thân, nhờ có niềm tin nơi Tam Bảo của Má mà con còn được ở lại với tăng thân. Nhưng chuyện còn chưa hết, mấy tháng sau con về nhà làm hộ chiếu. Được gặp lại Má và các anh chị em. Cả nhà cùng ăn chay. Con tình nguyện nấu ăn, món gì cũng dở vậy mà ai cũng tấm tắc khen… méo mặt. Con mắc cỡ quá, tự hứa sau này sẽ học cách nấu ăn ngon hơn. Con mới về buổi sáng thì tối lại có chú thôn trưởng đến thăm liền. Con chưa kịp tránh nên phải đối diện. Chú hỏi: “ Đợt này về chắc ở luôn cô nhỉ? Bát Nhã không còn gì… thôi ở nhà với mẹ lấy chồng cho rồi, tu khổ lắm!” Con thở thật sâu, yên lặng không trả lời. Nếu nói thiệt thế nào con cũng bị họ giữ hết giấy tờ, đến lúc đó ra khỏi nhà còn không được, mơ gì đi qua Làng. Má con cười cười: “ Ừ, chú đừng lo, em nó ở chơi khuây khỏa vài tuần đã, chị cũng tính cho em nó học cái nghề gì đó!” Nghe vậy chú vui ra mặt, hớn hở đồng tình: “ Phải đó chị, học hành cho giỏi, sau này cháu sẽ đỡ đần giúp mẹ và xã hội được nhiều lắm.” Không ngờ từ “cô” con bị rớt xuống chức “cháu”. Chú nhìn con và tiếp: “Chú có đứa cháu trai, dễ thương và hiền lành lắm, chú sẽ giới thiệu cho!” Nghe tới đây con mắc cười quá nhưng rán nhịn lại.  Ngay khi đó con nghĩ tới tăng thân mình rất nhiều. Con mong tình thương của con cũng lớn như tình thương của Bụt, của tăng thân. Nếu bó buộc vào một người thì mình sẽ mất tự do và người đó cũng mất tự do rồi suốt ngày cứ phải lo chuyện chồng con cơm nước, rất là cực. Nghĩ tới đây con nhắm mắt lại và trở về với hơi thở, không để những tư tưởng đó lôi kéo nữa. Con cũng không thốt lên một lời nào để phản ứng lại, những lúc như thế này thở là khỏe nhất.

Khi chú về rồi cả nhà con cười rộ lên. Em con còn chọc: “ Chị ơi, mới 16 tuổi mà lấy chồng thì sớm quá, em chưa muốn có cháu!” Đứa khác chen vào: “ Một tay bế con, một tay đút cháo. Ôi, cực lắm chị ạ!” Con không dám nghĩ tới tương lai “ cực nhọc” đó nên hôm sau xin phép Má và cả nhà lẳng lặng ra đi trước khi chú ấy dẫn… cháu trai đến.

Bây giờ con đang thật sự ở Làng. Nhớ lại chuyện đó, con vừa thấy mắc cười vừa hú hồn. May mắn quá! Sau tất cả những gì xảy ra với bao nhiêu tiếng cười, bao giọt nước mắt, tăng thân mình cùng đứng bên nhau để vượt qua tất cả. Con hạnh phúc biết bao khi đang được sống ở Làng, được gặp Thầy, gặp tăng thân để rồi xúc động trước những điều Thầy dạy bấy lâu nay, cốt là để cho chúng con nhận ra được bản tâm thanh tịnh trong mình và an trú trong giây phút hiện tại. Con xin cúi đầu lạy tạ chư Bụt Tổ, Thầy, Ba má và tất cả mọi người, mọi loài đã cho con có được con đường tươi đẹp này.

“Thở vào tâm tĩnh lặng

Thở ra miệng mỉm cười

An trú trong hiện tại

Giây phút đẹp tuyệt vời”

Đến tận cùng vẫn là phút đầu tiên

Mới chiều qua, giọng mẹ tôi reo vui qua điện thoại: con biết không, cách đây mấy hôm, trong một buổi sáng ngồi uống trà, ba nói với mẹ là: “ba có tìm vé xem có rẻ không, rồi mình qua Làng thăm KN một chuyến, chắc là KN bất ngờ lắm.” Tôi cảm được niềm hạnh phúc của mẹ khi báo tin đó cho tôi. Tôi nghe mà như mơ. Dù ba mẹ có qua được hay không, thì tôi cũng đã mãn nguyện thật sự rồi. Bởi lẽ…

Trở về chín năm trước đây…

“Con mà đi tu, chắc chắn hạnh phúc gia đình sẽ đổ vỡ. Con liệu đó mà làm. Con là chị đầu đó, rồi ba đứa em con nó sẽ thế nào? Bao nhiêu kỳ vọng ba mẹ đặt vào con hết rồi bây chừ ra ri đây hả!”

– “Ba làm sao mà ăn nói với bà con và với mấy thầy cô trên trường đây. Cho ăn học đâu vào đó để rồi bỏ mà đi tu hả ?”

– “Được chỗ làm như con bây giờ ở Huế đâu phải ai muốn cũng được đâu? Dạy đại học chưa làm con đủ hạnh phúc sao?”

Tôi cúi đầu im lặng. Biết là ngôn ngữ không thể giúp tôi thuyết phục được ba trong lúc này. Tôi chỉ biết cầu nguyện và chờ đợi. Tôi kiên nhẫn đợi một dịp khác, canh hoài canh mãi xem ba thật sự vui thì mới dám hó hé. Lần này, ba càng dứt khoát hơn: “Muốn đi thì đi đi, không ba không con gì nữa hết. Đừng có mà nói nhiều.”

Và rồi, tôi quyết định “bỏ nhà đi bụi” để mong ba chuyển ý. Tôi viết thư để lại nói là ba mẹ đừng lo gì cho tôi hết, tôi chỉ muốn có thời gian thật sự cho cả ba và tôi cùng nhìn lại quyết định xin xuất gia của tôi mà thôi. Tôi cần không gian yên lắng cho quyết định của mình được chín chắn và tôi nghĩ ba cũng vậy. Tôi nói trong thư là chừng nào ba đồng ý thì tôi mới về lại nhà. Tôi đợi đến lúc cả nhà ngủ thật ngon, khoảng 2 giờ khuya, tôi vác một cái ba lô con trên vai, đi bộ ra đầu cầu An Cựu. Gặp may có một chú xe thồ ở đó. Tôi nhờ chú chở cho lên địa chỉ mà tôi cần tới. Nghĩ lại mới thấy mình quá ư là liều mạng, thân gái giữa khuya một mình trong thành phố! Sao lúc đó trong tôi không có một nỗi sợ nào. Có thể, chư vị hộ pháp đã có mặt cho tôi ngay những phút giây đầu tiên đó. Bảy ngày đó đến bây giờ vẫn còn là một bí mật. Tôi đã đi đâu? Đã làm gì? Ai đã “chứa chấp” tôi trong những ngày này?

Tắt nguồn máy di động, không liên lạc bất cứ một ai. Với tôi, những ngày đó quả thật đã un đúc mạnh mẽ hơn chí nguyện của mình. Nhưng còn ở nhà, một tai họa lớn đã xảy ra. Với một gia đình từ lâu nay được nhìn với cặp mắt gia giáo, mẫu mực, việc bỏ nhà đi của một đứa con gái là một chuyện không thể tưởng tượng được. Hơn nữa, trước đó trong mắt mọi người tôi quả là người hạnh phúc, có đầy đủ gia đình huyết thống và tâm linh bên mình, không hề tỏ một thái độ nào “chán đời” hết. Cả nhà cuống cuồng lên, gọi điện khắp hết tất cả những ai có can hệ tới tôi. Tôi đâu biết rằng chuyện “nó bỏ nhà đi rồi” là một cái gì đó rất tủi nhục và xấu hổ vô cùng cho cả nhà… Chuyện ầm lên tới chùa Tổ. (Có một thời gian ba tôi có giúp quý Thầy học ngoại ngữ nên nhiều Thầy rất thương quý ba. Còn tôi thì khỏi nói, ngày mô mà tôi chẳng có mặt.) Tin tôi bỏ nhà đi làm ai cũng sốc. Chẳng hiểu chuyện gì xảy ra trong cái gia đình mà ai ai cũng nghĩ là quá ư lý tưởng đó. Ba tôi lên cầu cứu Sư thúc, cầu cứu Thầy giáo thọ, hy vọng có chút manh mối để lần tìm nơi tôi ở. Nhưng như tôi đã nói, tôi không hề liên lạc với một ai. À, chỉ có một người (tôi xin giấu tên) nhưng cũng chỉ để hỏi xem tình hình gia đình và xem ba đã có đổi ý gì chưa mà thôi.

Nhưng tôi đã tính sai nước. Tôi cứ hy vọng là mình bỏ nhà đi như vậy chỉ một vài hôm thì ba sẽ thay đổi. Nhưng không hề. Ba tôi còn cao cơ hơn tôi nhiều! Tôi không thể ở ngoài lâu hơn được. Vấn đề không phải là chỗ ở mà chính là công việc của tôi chỉ sắp xếp nhờ người dạy thế chỉ được chừng đó thôi. (Lúc này, tôi chưa có tin tức gì về giấy tờ bảo lãnh đi Làng nên chưa dám nghỉ việc.) Tôi đành vác mặt lủi thủi về. Thời gian này là gần Tết. Và chính tôi đã làm cho không khí gia đình thật khó thở vào những ngày đúng ra là phải vui vẻ để đón Xuân. Tôi về, càng lầm lỳ hơn trước, chẳng nói chẳng rằng gì, hỏi đi đâu tôi cũng chỉ làm mặt ngầu im lặng. Vào phòng đóng cửa không tiếp xúc một ai, chỉ ra ngoài khi có giờ lên lớp. Lúc đó, thật tội mẹ vô cùng, mẹ đâu có cản trở tôi, nhưng vì là người đứng giữa nên mẹ đã khó xử như tơ vò trăm mối. Giận ba, tôi cũng không còn sáng suốt để không giận lây mẹ và các em. Tôi chặm bặm cái mặt thật khó coi trong suốt một thời gian dài. Tôi đã nói trong bụng rằng muốn tôi vui lên, chỉ có một cách: cho tôi đi tu. Nếu không, thì phải rán chịu vậy!

Ai tính được những cơn đau chợt đến

khi giữa lòng bao day dứt

vấn vương. (*)

Tôi lẳng lặng sắp xếp mọi chuyện ở trường. Từ chối lần những giờ dạy. Tôi cáo bệnh và xin được nghỉ một thời gian để đi xa trị bệnh. Đơn giản chỉ có thế, nên trên trường coi như không ảnh hưởng gì. Tôi nghe nói là trong một năm đó, họ cứ gọi điện nói mẹ tôi qua trường nhận lương về cho tôi có chi phí trị bệnh. Mẹ không biết phải nói thế nào về thiện ý đó của họ. Nhận thì không được rồi, nhưng phải nói làm sao đây. Một năm sau, khi tôi đã ổn định bên này rồi, mẹ tôi mới dám nói sự thật.

Sư cô Chân Không đã lo cho tôi đâu vào đấy mọi giấy tờ và gọi tôi phải ra gấp chùa Đình Quán để chuẩn bị đi phỏng vấn. Chỉ đợi có thế và tôi quyết định lên đường ngay. May vô cùng là những ngày này ba tôi đi công tác xa. Mẹ và mấy em tôi tiễn lên ga Huế để ra Hà Nội vào một đêm mưa. Buồn não ruột. Trong tôi, lúc đó dù có thích tu mấy đi nữa cũng thấy đau buốt trong lòng khi thấy cảnh dưới toa tàu mẹ đang đưa tay lau vội hai dòng nước mắt. Rồi ba về, mẹ sẽ ăn nói thế nào đây? Thương mẹ một mình, có chịu nỗi trời đông! Gia đình sẽ phải chịu đựng không khí âm u này đến bao giờ? Một sự chịu đựng phi thường như trước đây mẹ đã từng như vậy, đang hiện lên trên khuôn mặt hao gầy của mẹ. Tàu chạy. Tôi khóc như mưa trút nước. Khóc thật đã đời, vì trước đó tôi bận đóng mặt ngầu, lạnh lùng như sắt đá nên chẳng có giờ nghĩ đến chuyện khóc.

Ngồi trên tàu, tôi gởi cho ba một tin nhắn nhỏ, xin ba tha thứ là tôi đã lên đường. Và đau đớn thay, tin nhận được là một lời khẳng định rằng từ nay đừng có liên lạc gì với ba nữa hết. Ba đã từ tôi. Nói là từ nhưng ba chưa chịu dừng việc cản bước của tôi đâu. Ba tiếp tục lên cầu cứu với Sư thúc và Thầy giáo thọ. Nghe nói ba đã quỳ dưới chân hai vị đó và khóc thật thảm thương. Ba tìm đủ mọi cách, từ điện thoại, đến email, ba gởi thư qua tới Làng, gởi hết tất cả những địa chỉ email của các xóm từ Thượng, đến Hạ, và xóm Mới, nói là tuyệt đối không được nhận tôi. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi tôi mới tới Làng ngày đầu thì ai cũng tới hỏi: Ủa, em là Tm  ở Huế phải không? Như thể là tôi đã được nhắc tới từ lâu rồi. Thì ra là ba tôi đã vô tình làm cho tôi “nổi tiếng” ngay khi chưa có mặt ở Làng. Mẹ còn bật mí là ba đã nói mẹ lục tìm hộ chiếu của tôi khắp nơi, nhưng may là không tìm ra. Tôi thật là không cố tình cất kỹ, nhưng có thể chư Bụt đã giúp tôi.

Những ngày ở Đình Quán cũng hồi hộp không kém. Tôi ngày đêm cầu nguyện cho giấy tờ được thông suốt để bay cái vèo tới đâu cũng được, miễn là ra khỏi VN để khỏi lo gia đình bắt về. Biết tôi đang gặp nhiều khó khăn từ gia đình, giấy tờ lại trục trặc, Sư Cô Chân Không luôn gọi điện về khích lệ tinh thần tôi, gởi kèm lời nhắn thương yêu của Sư Ông nữa, nên trong tôi đang được tiếp sức. Tôi mang ơn Sư Thầy Đình Quán vô cùng. Hai tháng ở đó thật quý giá với một người đang xin được tập sự xuất gia như tôi. Tôi học được rất nhiều qua thân giáo của Người, qua sự khiêm hạ và hết lòng có mặt cho những chướng ngại vật đầu tiên trong quãng đời tu sau này của tôi. Không có sự cưu mang, đùm bọc đầy tình thương lẫn tuệ giác của Người thì chắc chắn tôi đã bị túm cổ về rồi. Hết ba, đến ôn nội tôi liên tiếp gọi ra chùa và nhất định đòi Sư Thầy đừng cho tôi “tá túc”. Sư Thầy thật thông minh vô cùng và chính Sư Thầy đã cứu tôi sau cú điện thoại đó. Tôi nhớ chiều đó Ba tôi gọi ra và cho Sư Thầy hay là sáng mai ba sẽ ra bắt tôi về. Rứa là Sư Thầy nói liền: Anh đừng có mà dại. Anh muốn mất con gái thiệt hay không? Thà nó ở đây thì anh còn biết đường mà lần. Còn nếu tôi cho nó biết là ngày mai anh sẽ ra đây, chắc chắn nó sẽ trốn chùa đi trong đêm nay và lúc đó thì tôi cũng không biết nó ở đâu mà giúp anh luôn. Anh tính sao? Có định ra nữa hay không? Nếu còn chút sáng suốt, xin anh đừng lên đường…”

Và ngay tối đó, Sư Thầy cho gọi tôi vào và quyết định ngay: Khuya nay 4 giờ, con sẽ được Thầy xuống tóc. Tôi khá bất ngờ, nhưng hiểu ngay liền rằng dù gì cũng phòng hờ lỡ ngày mai ba làm liều ra tận đây thì… đầu cũng đã rụng tóc! Và Sư Thầy cũng đang tính đưa tôi qua một ngôi chùa khác ở lánh (đi trốn) vài ngày. Hình ảnh đêm khuya hôm đó tôi không thể nào quên. Trên chiếc gác xép phía sau chùa, Sư Thầy Đàm Nguyện cùng Sư Thầy Tịnh Quán và một vài sư cô khác nữa đã làm lễ xuống tóc cho tôi. Chỉ xuống tóc thôi chứ không nhận giới gì hết, nhưng đó là buổi lễ tiền xuất gia của tôi. Thật ấm cúng và cảm động vô cùng.

Giữ mình giữa những phù vân

thì mây phiền não

khó gần

được ta. (*)

Suốt một năm rưởi tôi và ba không liên lạc nhau. Nhưng thú thật là tôi luôn canh cánh bên lòng những thao thức, trăn trở tìm cách gỡ mối tơ vò trong lòng ba và tôi. Nói là không để tâm nhiều, nhưng sâu thẳm trong tàng thức tôi nó đang hướng về. Sau ngày tôi đi tu, ba tôi cũng đi nghiên cứu thêm ở Mỹ khoảng 8 tháng và thế là… cơ hội đã đến!

Ba tôi là một giảng viên đại học, nhưng đồng thời cũng là một nhà thơ. Ba đi công tác nhiều lắm, trong nước cũng có, ngoài nước cũng có. Mà lạ là chỉ những lần xa nhà thì ba mới ra thơ.

Đời anh

những cuộc hành trình

đi xa là để

thấy mình

rõ hơn. (*)

Tôi thích thơ ba lắm. Thơ ba nhẹ như hơi thở và sâu thẳm vô cùng.

Tôi không thể dùng lý luận để thuyết phục ba tôi, vì về lý, ba chẳng cần tôi phải nói gì thêm. Đọc thơ ba cũng đủ thấy là ba tôi thấm đạo đến đâu rồi. Nên tôi biết, có cố gắng thêm gì cũng càng bít lối giữa ba và tôi. Tôi không thể nói chuyện về lý tưởng nọ kia gì ráo với ba. Tôi tiếp tục im lặng, chỉ chú tâm lo về phần tu học của mình trước đã. Bẵng tin một thời gian, một hôm mẹ tôi gọi điện qua với một giọng rất vui. Mẹ khoe liền: “Con biết không, ba bây chừ thay đổi rồi, ba được gặp lại một người bạn học cũ, và bác ấy dẫn ba đến sinh hoạt chung với Tăng thân Lá Bối ở Cali.”

Bạn ngồi ngẫm phù vân

Tôi đứng nhìn danh lợi

Thôi rong tìm, trông đợi

Thong thả mỗi bước chân. (*)

Một buổi nọ, theo lời kể của ba sau này, ba tôi ngồi thật yên bên chung trà và ba đã òa khóc khi nghe bài “Tìm nhau”.

Con đã tìm ra Thế Tôn

Con đã tìm ra con

Nước mắt con không cầm nổi

Một cơn xúc động đã xâm lấn cõi lòng của ba, hay chính vị Bụt trong ba đang rơi những giọt nước mắt tỉnh thức. Ba chợt nhận ra những sợ hãi, lo lắng, những bất an… của những ngày qua… Bây giờ mới có giờ lắng lòng, nhìn lại,…

Dù cho đất trời đã lên cơn bão tố,…

nhưng cuối cùng trong con

mưa cũng tạnh,

mây cũng tan

nhìn ra cửa sổ con thấy vầng trăng khuya đã hiện

và đất trời đã thật sự bình an.

Qua bài hát Tìm Nhau, ba tôi đã thật sự cảm thông khi chạm đến mối tình thầm kín và linh thiêng của con gái mình với Bụt, với Tăng thân khi nó quyết định bỏ lại sau lưng tất cả để đi theo tiếng gọi cao cả ấy. Thế Tôn đã chờ đúng thời điểm để lên tiếng gọi. Và chính ba đã mở cánh cửa lòng mình để đón chào phút giây mầu nhiệm ấy. Cánh cửa đã mở ra thật rồi. Đã mở ra một lần và sẽ mở ra mãi mãi. Đâu phải ai cũng may mắn có được những giây phút linh thiêng chấn động tâm can như vậy trong đời mình! Từ sau giây phút đó, có thể nói ba tôi không còn là ba tôi trước đây nữa.

Tôi thấy rõ là không phải Bụt trong ba trước đây đã ngủ quên mà chính Bụt đang thử lòng tôi. Tôi chẳng tu tập gì giỏi cho lắm đâu, chỉ là phước đức ông bà để lại nên tôi đã nương theo mà may mắn leo qua nổi đoạn đèo dốc cao thật là cao ấy. Thú thật là có lúc tôi cũng đã hụt hơi. Và chính những người leo núi cùng tôi luôn có mặt tiếp sức cho tôi kịp lúc.

Chưa gánh nặng qua đời

lưng chưa đẫm mồ hôi

làm sao đến

phút nhẹ rơi của lá?

Phải đi từ cái xanh biếc của chồi

cái hồng thơm của quả

mới hiểu hết sắc vàng của những chiếc lá khô. (*)

Tôi chỉ mới kể đôi chút những truân chuyên vào khoảnh khắc tôi quyết định dứt áo ra đi. Cũng còn khá nhiều những ngõ ngách mà tôi đã phải “luồng lách” để đi qua. Khá vất vả. Nhưng nghĩ lại, giai đoạn đó sao mà tâm tôi cứng như chì vậy đó, chẳng gì lay chuyển nỗi tôi, dù đó là tình phụ tử. Thật ra, không phải tôi không bị mềm lòng đâu, nhưng sự thật là tôi có một niềm tin rất lớn rằng với đời sống xuất gia, với công phu tu tập của tự thân thì một ngày rất gần ba tôi sẽ thấu hiểu. Cảm ơn ba thật nhiều đã âm thầm tạo ra những nghịch duyên để giúp tôi thấm sâu hơn cái sắc vàng của những chiếc lá khô.

Với tôi, mãi mãi vẫn là phút đầu tiên, là tâm ban đầu dũng liệt phi thường, là khởi điểm cho dòng suối tâm linh tìm về nguồn cội. Phải đi qua những thác ghềnh, ngay những phút đầu tiên, như ba tôi vẫn thường nhắn nhủ: muốn có ngay không dễ, phải lao nhọc đầy vơi. Đúng thật, phải đầy vơi những niềm đau, thì hạnh phúc mới chín ngọt.

Hạnh phúc không vào đời

bằng

lối đi riêng

dễ gì đến đại dương

phải làm mưa vào đất.

Vượt sa mạc vàng khô

dòng nước sẽ

thanh khiết nhất

trước mặt

biển rồi

vực thẳm

vẫn chờ kia.(*)

Ba tôi vẫn luôn cho tôi những homework (bài tập về nhà) để làm, để chơi, để thử sức mình. Bây chừ nhìn lại, Chuyện xưa như mới hôm qua, quay nhìn sao nắng cứ nhòa lên mi. (*)

Xin được cảm ơn tất cả những nhân duyên để tôi được làm con của người. Nếu được sinh ra trở lại, tôi cũng xin được chọn ba là ba của tôi, và tiếp tục tôi cũng sẽ xin người được xuất gia. Lúc đó, có thể người sẽ chỉ mỉm cười và cú cho tôi một cú thật đau trên đầu: “Ngốc nì, đã “lỡ” tu rồi thì phải tiếp tục thôi chứ xin xỏ gì nữa hả. Con của ba, không đứa nào được phép bỏ dở nửa chừng con đường đang đi, nghe chưa!?” Chỉ một hướng tìm, chỉ một phương đến. Chỉ một. Nhớ nhé, nghe tôi!

Có dịp ngồi chơi với huynh đệ, với chị em chúng tôi bên bếp lửa hồng, chắc chắn bạn sẽ được nghe nhiều hơn nữa những câu chuyện ly kỳ và hấp dẫn. Có người đã chọn hạnh im lặng, có người có duyên được sẻ chia. Dù nói ra hay chưa nói ra, thì tận sâu thẳm trong lòng tất cả anh chị em áo nâu chúng tôi xin được cúi đầu đảnh lễ những người mẹ hiền, những người cha trung kiên đã hết lòng yểm trợ để anh chị em chúng tôi được hội ngộ dưới cùng một mái nhà tâm linh. Đặc biệt, xin tri ân những ba mẹ đã “hết lòng” cản ngăn chúng tôi vào những ngày đầu chúng tôi xin được lìa xa vòng tay ấm của người. Chính trên những lớp bùn quý giá đó mà những đóa sen thơm đang hiển lộ ra từng ngày. Càng tu, chúng con càng hiểu hơn những tình thương thầm lặng đó. Tấm lòng ấy vẫn luôn dõi theo mỗi bước chân, mỗi chặng đường chúng tôi đi qua. Bây giờ và mãi mãi.

Trong tôi có cái gì đang tràn ngập cõi lòng…

Nơi đây, một tấm lòng son, hướng về người…

Đợi gì đến bình minh

môi mới nở nụ cười

khi đôi mắt đêm qua

đã một vầng trăng sáng.

lúc trong trái tim

mặt trời

bừng cháy nắng

chưa hái được hoa hồng

ta vẫn thấy

niềm vui. (*)

———————————

(*)Thơ ba tôi

Người làm vườn tận tụy

Khung cửa sổ phòng tôi nhìn xuống vườn cỏ rộng, nơi có cái nhà kính và vườn rau. Ngay cạnh cửa sổ, tôi kê một tấm ván gỗ coi như là bộ phản để ngồi uống trà. Từ chỗ ngồi này, mỗi ngày tôi nhìn xuống những thay hình đổi dạng của vườn rau. Nhưng những thay hình đổi dạng liên tục của vườn không phải là đề tài tôi muốn nói, mà điều tôi muốn nói tới là những người làm vườn.

Mùa Xuân và mùa Hè vừa rồi, một người em Tây phương của tôi đảm nhận việc làm vườn. Làm vườn, đối với người em ấy của tôi là một niềm hạnh phúc. Một lần, có người so sánh niềm vui khi làm vườn ấy của em tôi với niềm vui của những người trẻ đi shopping, em tôi cười hiền từ gật gù, nhưng im lặng. Chẳng những em tôi có mặt ở vườn trong những giờ chấp tác của đại chúng, em tôi còn có mặt ở vườn cả những lúc mà mọi người gọi là giờ rảnh rỗi hay giờ cá nhân. Vào những giờ rảnh rỗi và giờ cá nhân ấy, có người trong anh em chúng tôi dùng để học thêm chút tiếng Anh, tiếng Pháp hay chữ Hán; có người ngồi trước máy tính viết thư cho gia đình, bạn bè; cũng có người nhâm nhi tách trà rồi khe khẽ hát một mình trong phòng vắng; cũng có người ở phòng học, trước một chồng sách dày đang tìm tòi nghiên cứu; và cũng có người đi lang thang trong rừng hay đơn giản chỉ là nằm khoèo trong chăn ấm. Người em ấy của tôi hiếm khi cầm tới cuốn sách, cũng chẳng hề để dành hàng giờ trong phòng học. Những giờ rảnh rỗi ấy, tôi thường thấy em tôi, từ điểm nhìn sau khung cửa sổ trên tấm phản, vui tươi quanh quẩn trong vườn rau. Có khi thì lo tưới tắm, khi thì chăm chú nhặt từng cọng lá vàng cho gốc cà chua, khi thì lấy rơm kê cho trái bí non mới rụng cuống hoa; lại có khi chỉ ngồi đó, trên gốc sồi giữa vườn cỏ rộng tênh đưa mắt mỉm cười nhìn quanh từng ngọn rau, từng cánh hoa.

Một buổi chiều, khi đó hãy còn là đầu Xuân, lúc mặt trời vừa chín đỏ trên đỉnh ngọn bạch dương ở góc rừng, tôi cũng ngồi sau khung cửa sổ, nhìn xuống vườn rau còn mùi đất mới, thấy em tôi ngồi trầm tư thật lâu trên một phiến đá cạnh cái giàn nhỏ mà năm trước một người em khác của tôi đã trồng su su và bầu. Tôi đã chẳng phải rời khỏi phòng, sẽ vẫn ngồi yên đó để ngắm những khoảnh khắc bình yên của em tôi như mọi khi nếu như khuôn mặt quen thân với đôi mắt xanh trong vắt ấy không mang vẻ hoang mang và kiếm tìm. Ngồi yên, nhìn quanh, rồi đứng dậy lục từng hũ từng bao bì trong cái thùng xốp ở góc vườn; mân mê từng cái gốc bầu khô dưới chân giàn, rồi trở về ngồi nơi phiến đá dáo dác nhìn quanh. Tôi rời phòng, xuống vườn sau và đi ra vườn rau nơi em tôi, khi ấy đang đào bới tìm tòi gì đó nơi mấy gốc su su, gốc bầu khô quắt.

Một nụ cười tươi trên môi, nhưng không đủ vẻ hân hoan và sáng ngời trong mắt như mọi khi. Em tôi vừa chào hỏi và nói chuyện với tôi vừa tiếp tục tìm tòi cái gì đó nơi mấy gốc su su, gốc bầu từ năm ngoái. Mấy vồng đất mới đã xanh chồi non, những bụi rau thơm trong nhà kính cũng đã cho nhiều lá non, cái giàn dưa leo cũng đã có ngọn, những vồng khoai tây đã gieo xong và vẫn còn đợi hơi ấm dưới lớp rơm phủ vàng nâu. Đưa mắt quanh vườn, em tôi chỉ cho tôi những loại rau củ vừa được trồng, vừa được gieo và trong giọng nói đã bắt đầu có chút hân hoan tươi tắn thường ngày. Sau khi đi hết một vòng bằng mắt quanh vườn, em tôi trở lại những cái gốc khô trước mặt và nói với tôi rằng năm ngoái, cũng thời gian này, những ngọn su su và những ngọn bầu đã bắt đầu leo lên giàn rồi, đã hơn tuần nay, em tôi tìm khắp vườn mà chẳng thấy hạt giống nào của những loài cây ấy cả. Em tôi cũng muốn có giàn mướp đắng, có giàn su su và giàn bầu như năm ngoái. Tuy phát âm những chữ đó không rõ lắm, nhưng tình thương cho những giống cây ấy qua giọng nói và ánh mắt em tôi là rất rõ ràng.

Năm ngoái, người làm vườn là một thầy người Việt Nam. Mùa Hè năm ngoái, những cái giàn thấp này được phủ đầy màu xanh của mướp đắng, su su và bầu. Em tôi trồng khoai tây và cà chua rất giỏi, và cũng bắt đầu thương mướp đắng, su su và bầu. Tôi chẳng rành rẽ chuyện vườn tược, kể cả chuyện trồng bầu, trồng su su và trồng mướp đắng. Tuy nhiên, tôi thấy vườn các xóm khác đã bắt đầu trồng xuống những loài cây này vào các hố ủ phân dưới chân giàn rồi. Tôi nói với em tôi thế, và trong đôi mắt màu xanh trong vắt ấy đã lấp lánh phản chiếu niềm vui, niềm vui ấy phảng phất một chút màu nâu nếu như tôi không nhìn lầm.

Ngày hôm sau, tôi được nghe các anh chị em làm vườn của các xóm khác kể lại niềm vui của họ khi họ lấy những cây su su giống, những cây bầu giống và những cây mướp đắng giống cho một thầy người Tây phương.

Cũng sau khung cửa, trên tấm phản gỗ ấy vào một buổi chiều đầu mùa Hè, tôi cũng ngồi đó nhìn xuống vườn, em tôi cũng ngồi trên phiến đá dưới những cái giàn thấp, nhưng chẳng hề có dáng tìm tòi và lo âu nữa mà đôi mắt trong màu xanh ấy đã vui tươi phản chiếu màu xanh của những trái mướp đắng, những trái bầu non, những trái su su non đang treo lủng lẳng trên giàn. Vườn rau là đạo tràng, là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của em tôi.

Mấy tuần nay, cũng sau khung cửa sổ trên cái phản gỗ trong phòng, tôi ngồi đó nhìn xuống vườn rau đầu mùa Đông. Những cái giàn trống trơn chỉ còn vài cành khô quắt queo, đám dây bí vàng vọt dập nát sau thu hoạch, những vồng khoai tây chỉ còn cỏ dại, những luống cà chua còn lủng lẳng vài quả hoặc rất non hoặc đã thối và quanh vườn, lá khô phủ vương vãi trên những đám cỏ dại tốt tươi. Người em làm vườn của tôi đã đi tới một trung tâm khác rồi, đã mấy tuần nay cái dáng nâu điềm đạm ấy chẳng còn quanh quẩn trong nhà kính hay những vồng đất nữa. Vườn rau đã bị bỏ hoang gần cả tháng cuối mùa Thu. Tôi vẫn thường ngồi yên nhìn xuống vườn rau và theo dõi từng thay hình đổi dạng của nó, nhưng vì chẳng phải là người làm vườn giỏi, tôi ít khi để ý tới từng giống cây, từng họ quả mà chỉ ngắm nghía khung cảnh chung chung vậy thôi, đơn giản là vì tôi thích cái cảnh ấy. Thế nhưng ngày này qua ngày khác, khung cảnh vườn rau yêu thích của tôi vẫn là cái khô quắt ấy trên giàn, vẫn là cái dập nát ấy nơi đám dây bí và vẫn là cái tươi tắn hớn hở của cỏ dại nơi những vồng cà chua khoai tây. Có thay đổi chăng là cái khô quắt kia trở nên quắt queo hơn, cái dập nát kia có thêm màu vàng vọt và cái tươi vui của cỏ dại trở nên hân hoan, hớn hở hơn.

Một lần, tôi chẳng còn thấy vui khi nhìn mãi xuống vườn rau như mọi khi nữa. Thu chín, cây phong lớn trước cửa phòng tôi đang thay một chiếc áo mới rực rỡ và đã kéo tôi ra khỏi vườn rau héo úa. Ngồi bên cửa sổ, trên cái phản gỗ, tôi nhìn từng chiếc lá hình sao theo điệu hát khe khẽ của gió mà diễn điệu múa trở về. Từng chiếc từng chiếc, từng đám từng đám và rồi cơn mưa lớn hôm qua đã mời được hết những chiếc lá cuối cùng lên chuyến tàu chót mà trở về với Mùa Yên. Chiều nay, khi chút nắng ấm hiếm hoi cuối Thu đang lau khô những cành nâu khẳng khiu ấy, tôi vẫn ngồi bên khung cửa trên tấm phản gỗ, gió mang theo một mùi thơm rất quen thuộc đến cho tôi và khi đưa mắt nhìn theo hướng đến của cái mùi thơm thân quen ấy, tôi thấy một cột khói nhạt đang tung tăng nhảy múa tươi vui giữa bầu xanh và niềm vui. Vâng, một thứ niềm vui nhẹ như cột khói ấy cũng từ lòng tôi thoát ra, và ngay lập tức, cùng nhảy múa hân hoan giữa bầu xanh với cột khói đang bốc lên từ vườn rau ấy.

Một người em khác của tôi, cũng có đôi mắt xanh, trong và sáng như bầu xanh lồng lộng đầy nắng cuối Thu hôm nay, đang nói cười tung tăng trong vườn rau và với vài người cư sĩ nữa, đang gom hết những thứ khô quắt, héo úa và dập nát ấy thành một đống lớn, và từ đó mà những đám khói đã nhảy múa cùng với mùi thơm quen thuộc tới cửa sổ phòng tôi. Không như người em kia của tôi: trầm lặng, kỹ lưỡng và ân cần, người em này của tôi năng nỗ, sinh động và vui tính; trong khi người em kia của tôi chăm chút, tưới tắm, nuôi dưỡng từng cọng lá chồi hoa, thì người em này của tôi cắt, nhổ, đốt bằng hết những “hậu thân” của những cọng lá chồi hoa ấy. Thế nhưng, từ chỗ ngồi của tôi sau cửa sổ, vườn rau bỗng trở nên sinh khí lạ thường.

Trong đám dây bí dập nát ấy, em tôi nhặt được dăm quả còn tươi. Trước khi nhổ hết những bụi cà chua, em tôi đã gom hết quả dù còn non hay đã bắt đầu vữa. Ở cuối vườn, em tôi đã cắt hết cỏ dại và đang lật hết đám đất ấy lên. Chỉ trong một buổi chiều, cái vẻ hoang vu tiêu điều của vườn rau như đã bốc hơi theo đám khói thơm. Vườn rau, sau khi được dọn dẹp sạch sẽ và cày xong đất đã sẵn sàng cho một mùa mới. Em tôi với những người bạn trở lại bên đống lửa đang tàn dần theo hoàng hôn ngắn ngủi của buổi cuối Thu, ngồi đó, trên những khúc củi khô, cười nói và lên kế hoạch cho một vụ mùa khác vào năm tới. Nhìn xuống từ khung cửa sổ, tôi đã thấy màu xanh yêu thương quen thuộc từ đôi mắt phản chiếu những lá bó xôi, những lá cải, những đọt bầu, đọt mướp đang biểu hiện trong ánh mắt tươi vui hồng ánh lửa của em tôi. Vườn rau, dù lúc này chỉ là những đám đất nâu trống trơn, vẫn là đạo tràng của em tôi, là nơi tu đạo và là nơi hành đạo của em tôi.

Mỗi năm, chúng tôi đón hàng ngàn người về Làng tu học. Vào mùa Hè, mỗi tuần có cả ngàn người đến tu học chung với chúng tôi. Những khi ấy, tôi chẳng có cơ hội ngồi yên ở cửa sổ phòng tôi mà nhìn các em tôi làm vườn. Những lúc ấy là lúc chính tôi phải thực tập chuyện làm vườn. Thầy tôi dạy rằng thiền sinh là vườn của chúng tôi. Anh em tôi không phải ai cũng làm vườn rau giỏi như những người em có đôi mắt xanh mà tôi vừa kể, nhưng ai cũng phải học làm vườn, nhất là những khu vườn sinh động đến với chúng tôi hàng ngàn lượt mỗi năm. Chuyện làm vườn của anh em tôi là một quá trình học hỏi cam go tuy cũng có nhiều hoa trái. Mùa này là Mùa Yên, tuy cũng có những “khu vườn” đến tu học chung với chúng tôi và chúng tôi vẫn tiếp tục săn sóc những khu vườn ấy, nhưng mùa này, người làm vườn tận tụy nhất là Thầy của chúng tôi, bởi vì, mùa này là mùa mà Thầy chúng tôi phải nuôi dưỡng và chuẩn bị nhiều nhất cho những người làm vườn con, những sự tiếp nối của mình.

Thầy tôi đã bắt đầu sự nghiệp làm vườn của mình từ rất trẻ. Từ lúc ấy, Thầy tôi thường nói, Thầy đã ước có một khu vườn lý tưởng cho mình. Và Thầy đã thực hiện được điều mong muốn ấy một cách tuyệt hảo. Mới đây thôi, Thầy nói rằng cho đến lúc này, sau 70 năm thực tập làm vườn, Thầy vẫn thấy rất cần nương tựa một mảnh vườn. Có thể mường tượng ra một người làm vườn mà không có một mảnh vườn chăng? Điều Thầy tôi nói thật dễ hiểu làm sao, nhưng nếu đã từng là một người làm vườn, người ta sẽ dễ dàng hơn để hiểu rằng cái điều nghe dễ hiểu ấy mới thực sự khó làm như thế nào!

Vì đã mang ước vọng ấy, mọi công phu của Thầy tôi đều nhắm đến việc rèn luyện mình trở nên một người làm vườn chuyên nghiệp. Thầy thích thú với công việc của một người làm vườn. Thầy cũng an trú trong công việc của một người làm vườn. Thầy yêu thương những mảnh vườn của mình và có hạnh phúc với những mảnh vườn ấy. Những mảnh vườn là đạo tràng của Thầy tôi, là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của Thầy tôi. Chúng tôi là đạo tràng của Thầy tôi, chúng tôi là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của Thầy tôi.

Nhiều khi tôi tự hỏi mình rằng có phải mình là một góc vườn đẹp của Thầy? Hay mình đang là một luống rau héo úa vàng vọt phải cần Thầy thường xuyên chăm bón. Có khi, tôi phải cẩn thận lắm mới không để cho mình tự biến thành một ổ sâu, có thể lây lan sang các phần vườn khác của Thầy. Lắm khi, nhìn Thầy phải dụng công chăm bón cho nhiều thứ không thuận tiện đang hẹn nhau diễn trò trong vườn, tôi xót xa, nhưng chẳng biết làm gì khác ngoài việc giữ cho cành lá của mình xanh tươi mạnh khỏe để Thầy bớt phải lo phần mình. Từ chỗ ngồi sau khung cửa sổ phòng mình, tôi có thể nhìn thấy hết việc làm vườn của các em tôi. Nhưng từ góc nhìn hẹp tối của tâm mình, khó khăn lắm tôi mới nhìn được một chút nhỏ bé việc làm vườn của Thầy tôi. Và từ việc làm của Thầy tôi, không biết tự lúc nào, tôi đã bắt đầu thấy cái ước vọng lúc trẻ của Thầy tôi mỉm cười trong lòng tôi, và tôi bắt đầu thấy được nhiều hơn sự cao quý của nó.

Nhưng việc làm vườn không phải luôn luôn suông sẻ. Thầy tôi thường bảo khi rau cải trong vườn không được tươi thì đừng đổ lỗi cho rau cải, đó chính là trách nhiệm của người làm vườn. Đó là Thầy tôi, luôn có trách nhiệm và hết lòng trong phần việc của mình. Nếu như anh chị em rau cải chúng tôi luôn hợp tác tốt với người làm vườn thì sẽ bớt cho Thầy tôi được rất nhiều công sức. Thầy tôi hiểu rõ từng loại hoa quả trong vườn mình và luôn luôn hết lòng săn sóc chúng tôi. Như tôi đã nói, Thầy tôi luôn nhận trách nhiệm về mình khi trong vườn có cọng rau, ngọn cải nào không được tươi tốt. Thế nhưng những khó khăn của Thầy tôi không phải biểu hiện từ việc không tươi tốt của những cọng rau ngọn cải.

Có lần, mấy quả mướp đắng trong vườn không chịu lớn nữa, không chịu tiếp tục chín nữa. Lý do bởi vì chúng muốn mình là dưa leo như những quả tươi xanh phẳng phiu ở giàn bên cạnh. Làm sao mà một quả mướp đắng lại có thể trở thành một trái dưa leo? Thầy tôi phải mất biết bao công sức để chuyển hóa cái tưởng ấy của người anh em mướp đắng của tôi. Và thường thì Thầy tôi sẽ cho trái mướp đắng thấy được hết cái đẹp cái hay của mình để rồi chúng tiếp tục lớn lên, tiếp tục chín mà chẳng còn chật vật với ý tưởng trở thành một quả dưa leo nữa. Nhưng đôi khi tôi cũng thấy Thầy tôi buồn khi phải nhìn một vài trái mướp đắng ấy héo đi rồi rụng xuống khỏi giàn.

Cũng có lần Thầy tôi phải ngồi hàng giờ cạnh một bụi ớt tươi tốt để truyền thông với những quả ớt tí hon ấy, chỉ với mục đích để chúng hiểu rằng ớt là cay. Tôi chẳng hề thấy các em tôi phải làm thế với đám bí hay đám khoai tây của mình bao giờ. Nhưng Thầy tôi thì thường phải làm thế, và đó là một việc rất mất công. Bụi ớt anh em kia của tôi tuy tươi tốt, nhưng phàn nàn, rằng tại sao chúng không hút được những tinh chất thơm tho của đất trời như những bụi rau húng của vồng bên cạnh mà chỉ toàn là vị cay xè, ít người ưa. Làm như rằng chuyện quả ớt cay là do Thầy tôi tự ý gây ra. Nhìn Thầy tôi với đầy yêu thương kiên nhẫn, tháo gỡ từng nút thắt trong cái vọng tưởng của bụi ớt, tôi thấy thương Thầy lạ lùng. Thế đấy, tuy là cùng uống nước cả, tuy là cùng thở khí trời cả và tuy là rễ hút chất trong cùng một mảnh đất nhưng từng loài rau quả lại thu nhận những thứ chất liệu khác nhau, sử dụng chúng khác nhau và cuối cùng biểu hiện ra những thứ hoa trái khác nhau. Thầy tôi biết tường tận từng loại hạt giống và cũng hiểu tường tận hoa trái của những loại hạt giống ấy với những điều kiện biểu hiện của chúng. Bụi ớt anh em của tôi cuối cùng cũng nhận ra gia tài đích thực của mình và chiều hôm qua đã biểu hiện thành niềm hạnh phúc trong những tô phở của anh em tôi.

Lắm khi, Thầy tôi biết rõ là sẽ khiến cho chúng tôi chẳng vui, chẳng hoan hỷ nhưng Người cũng phải làm điều Người cần làm. Mới đây thôi, khi những gốc bí bắt đầu mạnh và những ngọn bí xanh tươi vươn ra bốn phía, chúng bò lan cả sang luống cà và còn muốn níu kéo cả những đám dâu rừng đầy gai. Thầy tôi phải dứt khoát tháo những ngọn bí với tua tủa những chiếc vòi lò xo ra khỏi những đọt cà chua hãy còn chưa có hoa rồi hướng chúng quay trở vào vườn bí. Còn những ngọn bí bò quá xa, muốn gia nhập hội của những đám dâu rừng đầy gai ấy cũng được Thầy tôi dứt khoát kéo về. Có mấy ngọn đã bám quá chặt những chiếc vòi lò xo của mình vào những cành đầy gai, Thầy tôi phải đành lòng cắt bỏ chúng. Cũng có mấy đọt bí dại dột bò ra hướng lối đi, đã mấy lần được Thầy tôi kéo về hướng khác nhưng chúng vẫn cứ một mực quay ra hướng cũ, lại “khéo léo” núp dưới những đám cỏ làm Thầy tôi chẳng thấy chúng được. Chỉ sau một vài hôm, chúng dập nát dưới những gót giày. Dù vậy, Thầy tôi vẫn phải tiếp tục công việc của mình và nhờ thế, cuối cùng bí đã được thu hoạch. Mùa này, anh em chúng tôi chẳng có ngày nào là không được ăn một món bí.

Thầy tôi chưa từng từ chối một mảnh vườn nào. Chỉ cần mảnh vườn ấy chịu để cho Thầy tôi cày xới, gieo giống, vun bón và tưới tẩm thì thế nào hoa trái cũng biểu hiện trên mảnh vườn ấy; chỉ cần những rau cải hoa màu trên những mảnh vườn ấy không từ chối ánh sáng, không từ chối nước và sự săn sóc của Thầy tôi thì thế nào chúng cũng được lớn lên tươi tốt. Thầy tôi có niềm tin rất lớn vào đất, vào nắng, vào nước, vào hạt giống… và quan trọng hơn cả là rất tự tin vào khả năng chăm bón tưới tẩm của mình. Nhưng mọi việc sẽ dễ dàng biết mấy cho Thầy tôi nếu như anh em tôi cũng có được những đức tính của mảnh vườn nhỏ mà tôi thường ngồi nhìn các em tôi săn sóc. Bởi vì đất tâm của chúng tôi rất khác nhau cho nên Thầy tôi có khi phải đợi mười năm hoặc hơn thế nữa cho một hạt giống nảy mầm nơi mảnh đất này, trong khi trên một mảnh đất khác, hạt giống ấy nảy mầm chỉ sau thời gian một bài thiền ca; có khi Thầy tôi phải gieo cùng một hạt giống ấy rất nhiều lần cho một mảnh đất nọ mà lần nào mảnh đất ấy cũng làm cho hạt giống kia thối đi, nhưng trên mảnh đất khác thì chỉ cần một lần gieo, hạt giống ấy liền nảy mầm và lớn lên tươi tốt. Nhưng dù cho đó là một mảnh đất như thế nào thì Thầy tôi vẫn có khả năng làm cho hoa trái biểu hiện được trên mảnh đất ấy.

Có thật nhiều chuyện để kể về việc làm vườn của Thầy tôi, nhưng tôi chẳng thể kể hết được. Tuy nhiên, có một điều tôi không thể không nhớ khi học làm vườn, điều này Thầy tôi thường dạy chúng tôi, đó là đừng bao giờ cho rằng mình đã là một người làm vườn thành công rồi, và đừng bao giờ lìa bỏ mảnh vườn của mình.

Tôi là một góc vườn của Thầy tôi, nhưng tôi cũng là một người đang học làm vườn và tôi cũng đang có những mảnh vườn để thực tập. Tăng thân tôi là mảnh vườn lớn và tôi, vừa thuộc về mảnh vườn ấy mà cũng vừa là người làm vườn. Thầy tôi, đã gần 90 tuổi và đã làm vườn trong 70 năm mà vẫn luôn thấy rằng mình cần một mảnh vườn. Nếu thế thì Thầy tôi vừa là người làm vườn, việc làm vườn là việc của Thầy tôi và Thầy tôi cũng là một mảnh vườn. Chúng tôi thuộc về mảnh vườn ấy, và đó là một mảnh vườn tuyệt hảo. Cho dù Thầy tôi không cho rằng mình là một người làm vườn thành công thì ai cũng biết rằng vườn của Thầy tôi là một mảnh vườn tuyệt hảo. Và ai ai cũng thấy được rằng dù đã gần 90 tuổi, Thầy tôi vẫn còn là một người làm vườn rất tận tụy.

Từ chỗ ngồi sau cửa sổ trên tấm phản gỗ, tôi thích nhìn xuống vườn rau, nơi các em tôi đang hành đạo. Từ góc vườn của mình, tôi nhìn khắp mảnh vườn, tôi thấy Thầy tôi vẫn đang làm vườn. Các em tôi, những người làm vườn có hạnh phúc. Thầy tôi, người làm vườn tận tụy.

(Hình ảnh: Sư Ông Làng Mai trồng cây tại đất mới – Thái Lan, năm 2011)

Tiếp nối con Đường của Bụt

Hành Trình 30 Năm

Vài Nét VLàng Mai

Làng Mai là tên gọi tắt của Đạo Tràng Mai Thôn, đã được thành lập vào năm 1982. Vì nhu cầu tu học của thiền sinh khắp nơi mỗi ngày mỗi đông, Làng đã thành lập thêm nhiều tu viện trên thế giới như Tu Viện Lộc Uyển ở miền nam California, Tu Viện Bích Nham ở New York, Tu Viện Mộc Lan ở Mississippi, Thiền Đường Nhập Lưu ở Úc, Trung Tâm Thiền Tập Làng Mai Quốc Tế Thailand ở Thái Lan, Phật Học Viện Châu Á ở Hong Kong và Phật Học Viện Châu Âu ở Đức. Tất cả các tu viện trên đều thực tập theo pháp môn của Làng (mời xem bài “Làng Mai qua năm tháng” trong Lá Thư Làng Mai số 35).

Năm tháng gian nan và th thách

Những ngày tháng đầu mới thành lập, Làng còn rất nhiều khó khăn về nơi sinh hoạt. Phần nhiều các xóm đã được mua lại từ những người làm nghề nông và chăn nuôi như nuôi cừu và nuôi bò v.v… Xóm Thượng nguyên là một nông trại và Thiền đường Chuyển Hóa trước đây là một cái chuồng bò.

Mùa Đông ở Làng lạnh lắm. Thời gian đầu chưa có hệ thống sưởi như bây giờ. Quý thầy, quý sư cô khi ngồi thiền phải đem theo mền để quấn cho đỡ lạnh. Khi Sư Ông viết sách, một tay hơ lửa và một tay cầm viết. Điện, nước và tất cả các vật dụng, kể cả thực phẩm trong tu viện đều rất hạn chế, ngày nào trên bàn ăn có đậu hủ là ngày đó quý thầy quý sư cô cho là sang lắm rồi. Mỗi năm Làng lại có thêm nhiều thiền sinh về tu học. Số người càng đông thì càng thấy cơ sở hạ tầng hạn hẹp. Có năm vì tiêu chuẩn tiện nghi kém quá và kết quả là Xóm Hạ đã bị đóng cửa không được phép sinh hoạt. Trường hợp như vầy cũng đã từng xảy ra cho Xóm Thượng và Xóm Mới.

Nhiều lần Sư Ông bị bệnh và mỗi lần như vậy tưởng rằng khó qua khỏi, nhưng nhờ Bụt Tổ gia hộ nên Sư Ông đã phục hồi trở lại. Tuy nhiên đó chỉ là những khó khăn về mặt vật chất. Về mặt tinh thần, tăng thân cũng đã nhiều lần phải đối diện với những khó khăn đáng để ghi vào lịch sử. Chuyện gần đây nhất là tu viện Bát Nhã ở Việt Nam đã bị đánh tan tành vào năm 2009 – một giai đoạn cực kỳ khó khăn và thử thách cho Làng. Bao nhiêu đau khổ và sợ hãi đã đổ xuống đầu những mầm non vô tội. Quý thầy quý sư cô không còn nơi nương tựa trên đất nước đã sinh ra mình và kết quả phải di cư tứ tán. May nhờ Bụt Tổ che chở, quý thầy quý sư cô đã thực tập rất vững chãi theo tinh thần bất bạo động và chúng tôi đã vượt qua được giai đoạn khó khăn này.

Mng Làng 30 tui

Khai mạc triển lãm thư pháp tại chùa Sơn Hạ – Làng Mai

Vào đầu mùa An cư Kiết Đông 2011-2012, trong ngày xuất sĩ đầu tiên tại Nội Viện Phương Khê, Thầy trò ngồi quây quần với nhau trong không khí gia đình bên bếp lửa hồng, hôm ấy Sư Ông đã ngỏ lời rằng: “Năm tới mình sẽ ăn mừng Làng Mai 30 tuổi nguyên năm. Mình có thể tổ chức ăn mừng suốt năm trong mỗi khóa tu.” Có một vài người trong đại chúng cảm thấy hơi lo trước lời ngỏ của Sư Ông. Làm thế nào để có thể tổ chức ăn mừng nguyên năm? Như hiểu được nỗi lo của đệ tử nên Sư Ông dạy tiếp: “Nếu mình tu tập và chế tác được hạnh phúc trong mỗi ngày thì đó là cách thức hay nhất để ăn mừng Làng Mai 30 tuổi rồi. Mình không cần phải tổ chức ăn mừng rầm rộ và sang trọng mới có hạnh phúc. Mình phải có hạnh phúc với những gì mình đang làm trong mỗi ngày, ngay bây giờ.  Đó mới thật sự là ăn mừng.”

Theo lời Sư Ông, chúng tôi đã chia ra thành nhiều nhóm họp bàn với nhiều chủ đề khác nhau để tổ chức ăn mừng Làng Mai 30 tuổi. Tất cả có sáu nhóm: nhóm thuyết trình về lịch sử Làng Mai, nhóm triển lãm thư pháp, nhóm triển lãm pháp cụ mà Sư Ông thường dùng trong khi giảng dạy, nhóm phụ trách triển lãm sách, lại có nhóm làm Lá Thư Làng Mai và nhóm tổ chức các buổi văn nghệ. Những ngày sau đó, đi tới xóm nào cũng nghe mọi người bàn tới những đề tài và cách thức ăn mừng Làng 30 tuổi một cách hăng hái, vui vẻ và đầy hứng thú. Chỉ cần nói tới làm thế nào để ăn mừng Làng Mai 30 tuổi thôi cũng đủ làm cho mình và người nghe có đầy hạnh phúc rồi.

Thời gian chúng tôi có được là 3 tháng để chuẩn bị cho các buổi lễ ăn mừng Làng Mai 30 tuổi. Buổi triển lãm đầu tiên xảy ra trong khóa tu tiếng Pháp vào cuối tháng Tư năm 2012. Quý thầy quý sư cô trong mỗi nhóm được phân chia các công việc khác nhau. Vì cơ sở của Làng còn hạn hẹp nên tăng xá của quý thầy ở Sơn Hạ đã được mượn tạm để dùng làm nơi triển lãm thư pháp, còn thiền đường nhỏ Mây Thong Dong của quý sư cô Xóm Mới thì được dùng làm nơi triển lãm sách và pháp cụ. Dù có rất nhiều công việc cần làm, nhưng chúng tôi đã sắp xếp để mọi người được tham dự trọn vẹn những ngày quán niệm cũng như hai buổi công phu sáng tối. Thời gian còn lại trong ngày, chúng tôi sử dụng vào việc nâng cấp, sơn sửa, dọn dẹp, sắp đặt lại nhà cửa v.v… Hầu hết tất cả các công việc đều do quý thầy và quý sư cô trong ban tổ chức làm. Trong lúc anh chị em làm việc thì một vài huynh đệ tình nguyện ngồi đàn hát cho mọi người nghe khiến khung cảnh trở nên nhẹ nhàng và vui tươi. Cứ vài buổi trưa tôi lại xuống bếp nấu chè để đãi quý thầy. Các huynh đệ ngồi quanh nồi chè, vừa thưởng thức và kể chuyện cho nhau nghe với những tiếng cười giòn, còn gì vui hơn tình huynh đệ như những lúc này? Một sư anh của tôi chia sẻ: “Ở ngoài đời người ta làm việc có thể có rất nhiều tiền, nhưng làm gì có được không khí nhẹ nhàng và hạnh phúc như vầy!” Ở Làng, lợi tức của chúng tôi là niềm hạnh phúc của thiền sinh và sự nuôi dưỡng của chúng tôi là tình huynh đệ. Trong khi tu học và làm việc chúng tôi ý thức rất rõ về điều này.

 

Trước ngày khánh thành các buổi triển lãm trong các khóa tu, quý sư cô phải đi mua hoa về để trang trí các nơi triển lãm. Hoa có đủ màu đủ loại. Các sư cô rất thích hoa nên việc cắm hoa tự nó đã là một niềm hạnh phúc của các sư cô rồi. Mỗi nơi triển lãm cần khoảng sáu đến mười sư cô đến cắm hoa. Người nào cũng có đôi bàn tay khéo léo của các bà mẹ trao truyền nên ai cắm hoa cũng tuyệt vời. Mỗi người có một phong cách khác nhau nên khi nhìn vào, ta có thể biết được đây là tác phẩm nghệ thuật của người nào. Ở các phòng triển lãm, trong khi quý sư cô đang cười với hoa, thì bên ngoài quý thầy đang đàn hát và tập múa lân. Không khí vui tươi như một ngày hội. Đối với quý thầy, quý sư cô, những ngày chuẩn bị để tổ chức các buổi khánh thành ăn mừng Làng Mai 30 tuổi là chất liệu đóng góp để xây nên lịch sử sống của Làng, đồng thời cũng là để cống hiến khả năng và sự có mặt của mình cho tất cả thiền sinh về Làng. Đặc biệt là trước đó một ngày các anh chị em làm việc chung và chơi với nhau rất vui. Chính những giây phút ấy là những giây phút nuôi lớn tình huynh đệ của chúng tôi, và đã để lại trong mỗi chúng tôi những kỷ niệm và những kinh nghiệm “nhớ đời”.

 

Cắm hoa chuẩn bị triển lãm thư pháp

Trong tháng Sáu, có một cô cư sĩ người Mã Lai Á (Malaysia) gốc Hoa, một trong những người đã tài trợ cho phần triển lãm thư pháp. Cô đã có mặt tại Làng vài ngày trước khóa tu. Được biết cô rất thích cắm hoa nên chúng tôi đã mời cô vào ban cắm hoa để làm việc chung với các sư cô cho vui. Cô chia sẻ: “Tôi rất hạnh phúc được làm việc với các thầy các sư cô. Tôi thấy được sự nuôi dưỡng của tình huynh đệ.” Sau này cô thỉnh luôn bốn tấm thư pháp đã được triển lãm để đem về Mã Lai Á. Một trong bốn tấm thư pháp mà cô đã thỉnh là “Be still and heal” (Lắng dịu và trị liệu). Sau đó chúng tôi đã nghe cô kể rằng chính tấm thư pháp ấy đã an ủi được rất nhiều cho một gia đình vừa mới bị mất một người con gái.

Trong năm 2012, chúng tôi tổ chức được tất cả là năm khóa tu tại Làng và tại Phật Học Viện Châu Âu ở Đức và ba khóa tu ở Anh quốc (United Kingdom), Ái Nhĩ Lan (Ireland) và Ý (Italy). Các khóa này do Sư Ông và phái đoàn Làng Mai hướng dẫn. Khóa tu đầu tiên tại Làng cho người nói tiếng Pháp bắt đầu vào cuối tháng Tư có 800 người tham dự kéo dài một tuần; khóa tu tháng Sáu có gần 700 người tham dự kéo dài đến ba tuần; khóa tu mùa Hè có khoảng 4672 người tham dự (tổng số người của bốn tuần) kéo dài suốt bốn tuần; khóa tu cho người nói tiếng Hà Lan có 700 người và cho người nói tiếng Đức có 800 người tại Phật Học Viện Châu Âu, mỗi khóa tu kéo dài đến năm ngày.

 

Lễ ăn mừng Làng Mai 30 tuổi được tổ chức hai lần trong khóa tu tháng Sáu và mỗi tuần trong khóa tu mùa Hè. Lần đầu được tổ chức tại chùa Sơn Hạ. Sau buổi pháp thoại tại Xóm Thượng, Sư Ông hướng dẫn thiền sinh thiền hành từ Xóm Thượng xuống chùa Sơn Hạ. Con đường thiền hành từ Xóm Thượng xuống chùa Sơn Hạ đi xuyên qua đồi thông rất xanh tươi và ngoạn mục, được nổi bật thêm hơn khi có những chậu hoa chùm treo lên đón chào Sư Ông và đại chúng. Dưới những chậu hoa chùm là những câu thư pháp “Nay con đã về nay con đã tới” do Sư Ông viết bằng tám ngôn ngữ khác nhau: tiếng Việt, Hoa, Pháp, Anh, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha và Ý. Câu thiền ngữ này là pháp ấn của Làng Mai. Một cô thiền sinh người Bồ Đào Nha (Portugese) đến gặp chúng tôi khen ngợi về những tấm thiền ngữ ấy và cũng tỏ vẻ tiếc tại sao không có tiếng Bồ Đào Nha của cô. Một thượng tọa khách tăng người Hoa nói: “Tôi rất thích cách quý thầy quý sư cô trang trí. Tuy đơn giản nhưng tôi cảm được rất nhiều tình thương. Nhìn rất đẹp và đầy thiền vị.”

 

Trước chùa Sơn Hạ có một bãi cỏ xanh và cũng là nơi dùng để sinh hoạt trong những ngày lễ ăn mừng Làng Mai 30 tuổi. Tại đây, đại chúng được thưởng thức những buổi hòa nhạc Tây phương do quý thầy và quý sư cô Tây phương trình diễn, và cũng được xem các thầy Việt Nam đánh trống và múa lân. Các em nhỏ Tây Phương cũng như Việt Nam vô cùng thích thú khi coi múa lân và say mê chạy theo níu đuôi lân. Sau khi xem múa lân xong, đại chúng được giới thiệu sơ lược về Làng Mai và buổi triển lãm thư pháp, Sư Ông được mời lên cắt băng khánh thành và hướng dẫn đại chúng vào xem triển lãm.

 

Hòa nhạc tại chùa Sơn Hạ – Làng Mai

Lần triển lãm thứ hai trong khóa tu được tổ chức tại Xóm Mới. Đại chúng lại được xem múa lân, múa hoạt cảnh do các sư cô Xóm Mới và Xóm Hạ trình diễn, sau đó mọi người được mời ăn bánh sinh nhật mừng Làng Mai 30 tuổi. Sau cùng Sư Ông dẫn đại chúng lên xem triển lãm pháp cụ và sách của Sư Ông.

 

Những buổi triển lãm như thế đã đem lại rất nhiều niềm vui và hạnh phúc cho thiền sinh. Có người vì quá hạnh phúc nên cười ra nước mắt. Một cô thiền sinh người Pháp nói: “Tôi không ngờ nó quá đẹp và đầy nghệ thuật đến như vầy. Các thầy và các sư cô là người tu mà sao có thể tổ chức triển lãm một cách chuyên nghiệp như thế?” Một người thiền sinh khác chia sẻ: “Tôi thấy được rất nhiều công sức và tình thương của tăng thân để làm nên buổi triển lãm này.” Sau khóa tu tiếng Pháp, có người vì cảm động quá nên đã chụp hình tất cả những bức thư pháp, làm thành một hiện hình trượt (slide show) và gửi đi khắp nơi cho người khác xem.

 

Trong một buổi khánh thành thư pháp, chúng tôi có chia sẻ với các bạn thiền sinh rằng, chúng tôi phải trải qua 30 năm mới có được ngày hôm nay. Có người rất cảm động khi nghe câu nói ấy. Họ nghĩ rằng Làng Mai đã bước qua một chặng đường khá dài 30 năm, nhưng cơ sở vật chất thì chỉ khiêm tốn có đến chừng này, như vậy có nghĩa là những ngày tháng đầu Làng còn đơn sơ và khó khăn hơn nhiều lắm. Điều quan trọng là họ biết được Làng Mai không chủ trương xây dựng cho hoành tráng, mà chú trọng về sự tu học và làm thế nào để pháp môn của Làng có thể giúp được nhiều người hơn trên thế giới.

 

Năm 2012 đã đánh dấu Làng Mai tròn 30 tuổi. Ba mươi năm, thời gian không ngắn cũng không dài. Đức Khổng Tử có nói: “Tam thập nhi lập”, nghĩa là đến tuổi 30 thì Ngài đã có thể tự lập. Nói một cách khác là Ngài có thể đứng vững trên hai bàn chân Ngài. Nhìn lại đoạn đường Làng Mai đã đi qua trong 30 năm, chúng tôi thật sự không dám tự hào như thế, ngược lại chúng tôi cảm thấy Làng Mai còn nhỏ bé lắm. Là những người con của Bụt, chúng tôi ý thức rằng mình không được xao lãng việc tu tập mà chỉ lo làm công việc, phải sử dụng thì giờ để học hỏi và làm lớn mạnh tâm bồ đề của mình, để mỗi ngày có thể làm cho bánh xe chánh pháp được lan rộng xa hơn. Làm được như thế thì mới đền đáp được bốn ân và mới có thể thực sự lớn lên.

Đạo Bt đi vào cuc đời

Tổ chức và hướng dẫn khóa tu là lý tưởng phụng sự của Làng với tâm nguyện đem đạo Bụt đi vào cuộc đời. Một khóa tu kéo dài năm ngày có thể giúp nhiều người trị liệu được những vết thương trong lòng, hàn gắn mối quan hệ và tái lập truyền thông với người thân, chế tác được bình an và hạnh phúc trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, Làng Mai đã mở cửa suốt năm để chào đón thiền sinh khắp nơi trên thế giới về tu tập. Hàng năm Làng có khoảng từ ba đến bốn khóa tu lớn; đó là khóa tu cho người nói tiếng Pháp, khóa tu tháng Sáu (mỗi hai năm một lần), khóa tu mùa Hè và khóa tu mùa Đông. Trong mỗi khóa tu như thế có khoảng từ 700 đến 1000 người về tham dự. Ngoài các khóa tu hướng dẫn tại Làng, chúng tôi còn có lịch trình giảng dạy của Sư Ông và các vị giáo thọ của Làng đi đến nhiều nơi trên thế giới. Cứ  mỗi hai năm thì Sư Ông và phái đoàn Làng Mai qua Bắc Mỹ hoằng pháp ba tháng. Theo nguyên tắc thì mỗi năm chẵn Sư Ông đi giảng dạy ở các nước Âu châu như Pháp, Đức, Anh, Ái Nhĩ Lan, Hà Lan, Ý v.v… còn mỗi năm lẻ thì Sư Ông đi giảng dạy tại Bắc Mỹ và Á châu. Quý thầy và quý sư cô giáo thọ cũng thay nhau đi ra ngoài để hướng dẫn các khóa tu cho thiền sinh vào mùa Xuân và mùa Thu. Mỗi năm chúng tôi nhận được rất nhiều thư thỉnh mời Sư Ông và các vị giáo thọ đến hướng dẫn các khóa tu từ khắp nơi, nhưng vì Sư Ông đã lớn tuổi và tuy Làng Mai đã đào tạo nhiều vị giáo thọ xuất gia và tại gia trong 30 năm qua, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng cho nhu cầu hiện nay trên thế giới nên phải buồn lòng từ chối nhiều lời thỉnh cầu. Suốt 30 năm qua, Làng đã mở cửa và đã giúp được nhiều người trị liệu những vết thương, chuyển hóa những khổ đau, hòa giải và truyền thông được với những người thương của họ.

 

Tại khóa tu ở thành phố Rome nước Ý vào mùa Thu vừa qua, trong một buổi pháp đàm có một cô thiền sinh mù người Ý chia sẻ:“Đầu thập niên 90, tôi khám phá ra đôi mắt của tôi có vấn đề và tôi không thể nhìn thấy được rõ nữa. Tôi được bác sĩ cho biết là tôi sẽ bị mù trong một vài năm nữa. Khi tôi về nhà báo lại tin này cho mẹ thì mẹ tôi cho biết đây là chứng bệnh gia truyền của giòng họ bên ngoại tôi. Có những người bên ngoại tôi đã bị chứng bệnh này và đã bị mù. Tôi rất buồn và thất vọng trước lời nói ấy vì biết rằng mình sắp sửa bị mù và không có cách nào để chữa trị. Đúng thế, tình trạng kéo dài trong một vài năm kế đó và tôi gần như đã bị mù. Tôi sống rất đau khổ với căn bệnh của mình. Biết được căn bệnh mù của mình vô phương chữa trị nên tôi muốn trở về với cuộc sống tâm linh nhiều hơn để tìm cách học hỏi phương pháp sống an hòa với chứng bệnh tật nguyền của tôi. Đầu năm 1992, tôi được người ta cho biết là sẽ có một ông thầy Phật giáo Việt Nam đến thành phố Rome giảng dạy. Tôi đã lần mò tìm đến nơi Thầy giảng dạy, đó là thầy Thích Nhất Hạnh. Lần đầu tiên được thấy Thầy và được nghe giọng nói của Thầy, tôi biết ngay rằng đây là người Thầy của tôi, người mà bấy lâu nay tôi mong chờ. Giọng của Thầy nhẹ nhàng, truyền cảm với nhiều từ bi. Tôi hạnh phúc lắm! Tại khóa tu này tôi được học về phương pháp thực tập chánh niệm. Mỗi ngày tôi được hướng dẫn thực tập sống chánh niệm trong mỗi phút giây. Tôi học thở, học đi trong chánh niệm, học cách làm giảm bớt sự căng thẳng trong thân và làm lắng dịu tâm mình. Tôi học được nhiều thứ lắm! Đây là pháp môn rất thực tiễn và giúp tôi sống an lành trong thời gian còn lại của đời tôi. Nhờ thực tập chánh niệm, nên trong suốt thời gian qua tôi có thể tự chăm sóc cho chính mình với những điều căn bản trong cuộc sống hàng ngày. Tuy bây giờ tôi không còn thấy được hình sắc của Thầy bằng cặp mắt mù lòa của tôi nữa, nhưng khi nghe lại được giọng nói êm dịu và đầy lòng từ bi kia tôi nhận biết ngay rằng đó là Thầy tôi. Đây là một vị Thầy mà tôi vô cùng biết ơn. Người đã giúp tôi tìm lại được chính mình trong mảnh đời đen tối.” Đại chúng rất cảm động trước lời chia sẻ của cô.

 

Vấn đáp trong khóa tu tại Ý

Theo tình hình thế giới hiện nay, hiện tượng toàn cầu hóa đã làm cho con người thời đại có nhiều căng thẳng, áp lực, lo lắng, tranh đua và bạo động. Vì thế, con người ngày nay rất cần đến nếp sống tâm linh, đặc biệt là những người trẻ. Ở Làng, chúng tôi không ngừng nỗ lực để thành lập những phong trào, những phương pháp tu học vui tươi, lành mạnh và nhẹ nhàng để người trẻ có thể dễ dàng đến tu tập. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã tiếp nhận những người trẻ vào tăng thân xuất gia. Những người trẻ thường có tâm hồn cởi mở hơn, có khả năng sáng tạo và tiếp nhận, có sức sống mạnh, có tinh thần cách mạng và có “khối lửa” (bồ đề tâm) yêu thương để phụng sự. Vấn đề là chúng ta có biết cách để đào tạo, hướng dẫn họ đi đúng con đường và lý tưởng ban đầu mà họ đã chọn hay không. Ở Làng, Sư Ông và tăng thân luôn khuyến khích, nâng đỡ để những người xuất gia trẻ có thêm niềm tin và khám phá ra những tài năng tiềm ẩn trong mỗi người. Những người xuất gia trẻ vừa thực tập tự mình chuyển hóa, đồng thời làm mẫu mực, giúp cho thiền sinh cư sĩ thực tập và chuyển hóa những khó khăn trong họ. Người xuất gia trẻ là tương lai của đạo pháp, là sự tiếp nối của Bụt và Thầy Tổ, đem đạo Bụt đi về tương lai. Nếu không làm được như vậy thì sau này, các tu viện chỉ là nơi du lịch tâm linh hoặc trở thành viện bảo tàng tôn giáo. Nói chi đến chuyện sau này, hiện tại hiện tượng này đã và đang xảy ra ở rất nhiều nơi. Đến nay thì Sư Ông đã xuống tóc cho gần 800 người xuất sĩ. Ngoài quý thầy quý sư cô đã được Sư Ông xuống tóc, Làng còn có rất nhiều “quả trứng vàng” mà ở Làng chúng tôi thường gọi là “Cây Trà Thơm” đã đến từ các truyền thống hoặc chùa khác để cùng thực tập. Số người xuất sĩ trong cây Trà Thơm tính đến nay có khoảng cả trăm vị và sự có mặt của quý thầy quý sư cô cây Trà Thơm khiến Làng càng thêm phong phú hơn. Chúng tôi rất trân quý sự có mặt với những đóng góp của những cây Trà Thơm này. Trong số 900 người xuất sĩ đang tu tập tại Làng hoặc tại các trung tâm khác của Làng có khoảng 28 quốc gia khác nhau, nên các trung tâm tu học của chúng tôi rất đa dạng và đa văn hóa.

 

Trong chuyến đi hoằng pháp tại Ý năm 2008, số người trẻ tham dự khóa tu khá đông. Ngoài khóa tu ra, chúng tôi cũng đã tổ chức một buổi giảng diễn và sinh hoạt dành cho khoảng 500 học sinh trung học tại gần thủ đô Rome. Trong các buổi pháp đàm, chúng tôi đã hết lòng lắng nghe người trẻ chia sẻ về những khó khăn cũng như những bế tắc mà họ đang đối diện. Có những người trẻ rất cô đơn, lạc lõng, không có đường lối trong cuộc đời. Lại cũng có những người trẻ mang trong mình những vết thương, những khổ đau do gia đình và xã hội gây ra. Họ không có niềm tin nơi họ hoặc những người xung quanh. Họ đã bị lôi cuốn bởi những cảm xúc, cảm thọ của họ, và kết quả của những gì họ đã nghĩ, đã làm và đã nói đều không lành mạnh.

 

Tại phi trường Rome, Sư Ông đã đề nghị thành lập một phong trào gọi là “Wake Up” (Tỉnh Dậy Đi Thôi, Hỡi Người Trẻ!), dành riêng cho người trẻ. Đây là một phong trào sinh hoạt cho một xã hội từ bi và lành mạnh dựa trên nền tảng của Năm giới. Phong trào này là món ăn tinh thần, là sân chơi dành riêng cho những người trẻ có tâm hồn lành mạnh hướng tới một nền đạo đức tâm linh toàn cầu hóa.

 

Phong trào “Wake Up” ngày nay rất thịnh hành. Mỗi năm Làng tổ chức vài khóa tu dành riêng cho phong trào này do các thầy và các sư cô giáo thọ trẻ của Làng hướng dẫn. Các khóa tu được thay phiên tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới. Tại quảng trường Trafalgar ở thủ đô Luân Đôn, có lần 5000 người trẻ đã tới ngồi thiền và nghe pháp thoại của Sư Ông. Đây là một phong trào vượt thoát mọi tôn giáo, dù bạn là người trẻ có quốc tịch hay tôn giáo nào thì cũng có thể tham dự được. Các buổi sinh hoạt rất vui tươi và lành mạnh, thích hợp với người trẻ thời nay. Tại các thành phố lớn trên thế giới đều có những tăng thân trẻ sinh hoạt theo phong trào này. Chúng tôi đã tạo ra một mạng lưới mà tất cả thành viên trong phong trào này có thể theo dõi để tu học, chia sẻ và liên lạc được với nhau. Phong trào “Wake Up” không những đem lại những buổi sinh hoạt có ý nghĩa và hạnh phúc cho mình và cho đời, mà còn là một chương trình họp bạn bốn phương rất lành mạnh. Một em sinh viên ở Đức có thể liên lạc và chia sẻ với các bạn sinh viên ở các nước khác. Bạn có thể tìm hiểu thêm về phong trào “Wake Up” qua trang nhà www.wkup.org.

 

Hơn mấy năm qua, Làng đã không ngừng phát triển để đưa phương pháp thực tập chánh niệm của đạo Bụt đi vào cuộc đời bằng những đường lối thích hợp và hữu dụng nhất cho con người thời đại. Chúng tôi đã thành lập chương trình “Applied Ethics” (Đạo Đức Ứng Dụng). Chương trình “Applied Ethics” được thành lập nhằm mục đích đưa thẳng pháp môn thực tập chánh niệm vào ngành giáo dục quốc gia. Đây là một môn học như tất cả các môn học khác: toán, lý, hóa, khoa học v.v… Chúng tôi lấy Năm giới làm nền tảng cho môn học này và chánh niệm là phương pháp để thực tập. Các thầy cô giáo dạy môn học này phải biết thực tập và phải có hạnh phúc thì mới có thể dạy được học sinh. Chúng tôi có chương trình đào tạo các thầy cô giáo tại Làng. Đây là một chương trình rất trẻ và rất mới, đi tới đâu chúng tôi cũng chia sẻ về đề tài này. Chúng tôi đã tổ chức những khóa huấn luyện cho giới giáo chức tại nhiều nước, như Ấn Độ, Hoa Kỳ, Thái Lan, Bhutan, Pháp, Đức v.v… Tại khóa tu cho dân biểu Hoa Kỳ ở Washington D.C. vào tháng 10 năm 2011 và buổi diễn thuyết tại House of Lords (tòa nhà của thượng nghị viện Anh) ở Anh vào tháng 3 năm 2012, Sư Ông cũng đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để đưa môn học “Applied Ethics” vào ngành giáo dục.

 

Trong chuyến hoằng pháp vào năm 2011 tại Bắc Mỹ, Sư Ông và một số quý thầy quý sư cô đã gặp ông Thống Đốc Jerry Brown của tiểu bang California tại thành phố Oakland, CA. Tại một buổi họp, ông Jerry Brown đã được nghe chúng tôi đề cập về môn học “Applied Ethics” và làm thế nào để đưa môn học này vào ngành giáo dục của tiểu bang California. Ông lấy làm thích thú và rất hoan nghênh, ông nói: “Hiện tại tôi làm chủ hai trường học tư, chúng ta có thể thử áp dụng vào hai trường học của tôi trước.” Cũng trong chuyến đi này, Sư Ông đã có buổi gặp mặt với ông Thượng Nghị Sĩ Tim Ryan của tiểu bang Ohio và ông Thống Đốc Martin O’Malley của tiểu bang Maryland và họ cũng hứa sẽ cố gắng giúp đỡ những gì họ có thể làm được để yểm trợ cho việc đem đạo đức học ứng dụng vào học đường.

 

Ở ngoài đời, đến tuổi trưởng thành, những người trẻ cũng phụng sự đất nước bằng cách gia nhập vào quân đội trong thời gian từ ba đến năm năm. Đây là một cách biểu lộ tình thương, trách nhiệm của mình đối với giống nòi và đất nước. Họ ra trận với mục đích là chống giặc ngoại xâm để bảo vệ tổ quốc. Vào tháng 6 năm 2012, chúng tôi có tới thành phố Miami tiểu bang Florida để hướng dẫn một khóa tu cho những cựu chiến binh. Chúng tôi được nghe một anh cựu chiến binh tại trụ sở Chữ Thập Đỏ chia sẻ: “Khi ra trận chúng tôi không sợ chết, còn bây giờ về nhà thì chúng tôi sợ sống.” Tại sao thế? Bởi vì khi trở về anh không có công ăn việc làm và lại bị ám ảnh với những hình ảnh chết chóc, bạo động do chiến tranh gây ra. Anh ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người khác là khi trở về thân thể vẫn còn nguyên vẹn, nhưng tâm hồn đã bị tổn thương rất nhiều.

Tiếp nối con Đường của Bụt

 

Ở Làng, chúng tôi có chương trình xuất gia 5 năm cho những ai có bồ đề tâm muốn phụng sự, được rèn luyện và sống theo đời sống phạm hạnh của người xuất gia. Sau 5 năm, nếu thấy thích hợp với đời sống của người xuất gia thì có thể phát nguyện xin tu học suốt đời, còn nếu không thì có thể trở về với cuộc sống trước đây và làm một vị giáo thọ cư sĩ. Tiêu chuẩn cần thiết để gia nhập vào chương trình này rất đơn giản: tuổi dưới 35, có bồ đề tâm phụng sự và muốn tu học theo đời sống của người xuất gia. Chương trình tu học phụng sự 5 năm rất hiền. Ở đây, các bạn trẻ cũng làm việc phụng sự tương đương với việc chống giặc xâm lăng, bảo vệ tổ quốc và thương yêu giống nòi. Giặc thật sự của ta là những “con ma” phiền não, giận hờn, bạo động, tham muốn, ganh tị, kỳ thị v.v… Các bạn trẻ được tu học theo pháp môn chánh niệm để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa các “con ma” ấy. Khi ta có thể ôm ấp và chuyển hóa được các “con ma” ấy thì ta sẽ có nhiều hạnh phúc và tự do. Nếu ta tu học có thành quả thì ta có thể giúp đỡ được rất nhiều cho người thân của ta, cho xã hội, đất nước của ta và cho cả thế giới được bình an, lành mạnh. Đây là những điều mà các bạn trẻ có thể làm được trong 5 năm. Hiện tại, Làng đang có những người trẻ Tây phương tu học theo chương trình này và họ đang có rất nhiều bình an và hạnh phúc trong đời sống xuất gia.

Ngày nay gia đình áo nâu (gồm có 4 chúng) đang có mặt với các chương trình hoằng pháp và cứu tế ở nhiều nơi trên thế giới. Ngoài những người xuất sĩ áo nâu, chúng tôi còn có những người cư sĩ áo nâu trong dòng tu Tiếp Hiện. Dòng tu Tiếp Hiện được Sư Ông Làng Mai sáng lập vào tháng 2 năm 1966. Gia đình Tiếp Hiện đầu tiên được Sư Ông cho thọ giới gồm có sáu người và bây giờ đã có hơn 1,000 người đã tiếp nhận giới Tiếp Hiện và hành trì theo dòng tu này. Đây là những vị Bồ tát hóa thân đi vào cuộc đời để giúp hóa độ chúng sanh. Chương trình Hiểu và Thương tại Việt Nam và Ấn Độ có hơn 300 trường mẫu giáo đều do các vị Bồ tát Tiếp Hiện đầu tư thời gian và tâm lực của mình vào công việc phụng sự. Nếu không có các vị Bồ tát này thì làm sao chúng tôi có thể cung cấp những ly sữa và những bát cơm vào những buổi trưa cho các cháu?

Các vị Bồ tát áo nâu Tiếp Hiện tại Pháp, Anh, Hà Lan, Ý, Thailand, Malaysia, Hồng Kông, Indonesia, Brazil, Canada v.v… đều dùng những phương tiện quyền xảo khác nhau để tiếp tay với Làng làm việc độ sinh: có người lo chuyện dịch sách của Sư Ông; có người giúp in sách; có người giúp chuyển ngữ băng giảng; có người giúp phổ nhạc; có người vào nhà tù giúp các tù nhân tu học; có người giúp tổ chức các khóa tu; có người giúp về việc hành chánh; có người giúp về việc quyên góp tài chánh; lại có người chuyên môn giúp đỡ về mặt pháp luật,v.v.. Mỗi người là một viên ngọc quý của tăng thân. Chúng tôi luôn luôn biết ơn sự cống hiến và có mặt của mỗi người.

Hiện nay có rất nhiều tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai trên thế giới, phần nhiều là tại các thành phố lớn như: New York, San Francisco, Los Angeles, Chicago, Toronto, Quebec, Vancouver B.C, Brasilia, London, Paris, Frankfurt, Berlin, Madrid, Rome, Moscow, Tokyo, Sydney, Melbourne, Singapore, Hồng Kông, Bangkok, Seoul, Beijing, Taipei, Jakarta, Kuala Lumpur, Sài Gòn, Hà Nội v.v… Theo thống kê cho biết hiện nay có hơn 1000 tăng thân trên thế giới đang tu học theo truyền thống Làng Mai. Nước Anh đã có tới 80 tăng thân, nước Đức có 70 và nước Mỹ có trên 500. Vì vậy, địa bàn hành đạo của chúng tôi rất rộng lớn; không chỉ ở nước Pháp hay ở Việt Nam mà rất nhiều nơi khác. Trong quá trình hành đạo của Sư Ông và tăng thân Làng Mai trên 30 năm qua, chúng tôi đi đến nơi nào cũng đều làm công việc quan trọng của người làm vườn (người tu), đó là giúp người dọn dẹp “khu vườn tâm” của họ và gieo những hạt giống lành, nên ngày nay những hạt giống ấy đã được nảy mầm đâm chồi khắp nơi.

Trong mấy năm qua Làng có các thí chủ đến từ nhiều nơi trên thế giới, thành tâm muốn cúng dường đất đai cũng như tài chánh để thành lập các trung tâm tu học theo pháp môn Làng Mai tại trú sở của họ. Sau chuyến hoằng pháp Đông Nam Á vào năm 2010, có những thí chủ ở Malaysia và Indonesia đã nhiều lần ngỏ lời muốn cúng dường đất để làm tu viện cho Làng. Trong khóa tu tháng Sáu vừa qua có một đại thí chủ ở Indonesia cùng gia đình đến Làng tham dự khóa tu. Trong thời gian ông cùng gia đình tham dự khóa tu, họ đã cảm nhận và chứng kiến được sự lợi ích của pháp môn, nên sau khi về tới Indonesia đã mua một miếng đất khá rộng để cúng dường cho Làng làm trung tâm tu học. Vào dịp lễ Giáng sinh trong năm 2012, một phái đoàn gồm có 23 người đến từ Malaysia cũng đến xin phép Sư Ông và tăng thân để thành lập một trung tâm tu học theo pháp môn Làng Mai tại Kuala Lumpur. Ngoài những thí chủ đến từ Indonesia và Malaysia, chúng tôi còn có nhiều thí chủ đến từ các nước như: South Korea, Brazil, United Kingdom, Italy v.v… cũng rất muốn thành lập trung tâm Làng Mai tại xứ sở của họ. Nhưng vì nhân duyên chưa đầy đủ, phần lớn là vì chúng tôi vẫn chưa có đủ người xuất gia để hướng dẫn, nên tạm thời phải từ chối. Chúng tôi đã hướng dẫn họ tu tập, thành lập tăng thân trước, khi nào tăng thân vững mạnh và nhân duyên đầy đủ thì lúc đó thành lập trung tâm không phải là chuyện khó làm. Sư Ông dạy: “Nếu có khay đựng đào to và đẹp mà không có trái đào để vào, thì khay đựng đào kia có cũng bằng không. Vấn đề là phải có trái đào trước, còn khay đựng đào thì lúc nào có cũng  được.” Chúng tôi tin chắc rằng tại quê hương Việt Nam một ngày nào đó cũng sẽ có một trung tâm thực tập Làng Mai rất đẹp.

 

Mấy năm gần đây Sư Ông dành thời gian đầu tư vào chuyện dịch kinh sách ra Việt ngữ. Sư Ông thích dịch và chú giải kinh sách, đặc biệt là những kinh từ Hán tạng. Những tác phẩm đã được hoặc sẽ được phát hành gần đây như: Con Sư Tử Vàng của thầy Pháp Tạng (kinh Hoa Nghiêm), Đạo Bụt Nguyên Chất (kinh Nghĩa Túc), Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào (Trung Quán Luận), Rong Chơi Trời Phương Ngoại (kinh Pháp Cú), Kết Một Tràng Hoa (kinh Pháp Cú) v.v… Trong khi dịch kinh từ Hán tạng ra Việt ngữ, Sư Ông đã đối chiếu với bản Pàli. Nhờ đối chiếu giữa hai bản Hán tạng và Pàli, (phần nhiều các kinh điển được ghi chép lại bằng hai thứ tiếng phổ thông này) nên Sư Ông đã tìm được những rơi rụng và sai sót trong quá trình truyền thừa. Sư Ông đã nghiên cứu và giúp chúng ta hiểu được nghĩa lý uyên áo của các kinh này. Đây là lý do chính yếu mà Sư Ông đã đầu tư thời gian của Người vào việc Việt dịch các kinh điển để đàn hậu thế của chúng ta có thể dễ dàng học và hiểu được lời dạy của Bụt một cách đúng đắn. Tất cả các kinh sách đều được Sư Ông dịch ra tiếng Việt dưới dạng văn xuôi rất đơn giản, lưu loát, dễ hiểu nhưng rất phong phú và sâu sắc. Sư Ông dạy: “Khi học kinh thì phải nương vào các kinh liễu nghĩa. Phải hiểu được ý kinh cho rõ ràng và nương vào đó mà hành trì chớ đừng bị kẹt vào danh từ hay khái niệm.” Phải sử dụng ba pháp ấn của đạo Bụt, là Vô thường, Vô ngã và Niết bàn để thanh lọc, điều chỉnh và khôi phục lại nguyên ý của Bụt trong các kinh. Nếu kinh nào mà không mang dấu ấn của tam pháp ấn này, thì đó không phải là kinh liễu nghĩa đích thực của đạo Bụt. Tuy tuổi đã cao, nhưng Sư Ông vẫn luôn luôn không ngừng nghiên cứu và học hỏi. Hơn 70 năm tu tập và hành đạo đã cho Người những kinh nghiệm sống rất sâu sắc và những cái thấy thấu triệt. Có một lần Sư Ông chia sẻ với chúng tôi rằng:“Nếu bây giờ viết lại quyển Đường Xưa Mây Trắng thì Thầy sẽ viết vui hơn và khác hơn.” Nhờ vào lòng từ bi và trí tuệ của Sư Ông, chúng ta có thể thừa hưởng được thêm nhiều cái hay trong kho tàng tuệ giác vô tận của Bụt.

 

Chiếc thuyn tăng thân và s tiếp ni ca Bt

Chiếc thuyền tăng thân Làng Mai đã vượt qua bao sóng gió, bao thử thách và cũng đã đưa rất nhiều người qua được bến bờ bên kia, bến bờ của thảnh thơi, tự do và an lạc trong 30 năm qua, đó là nhờ vào sức mạnh và sự hòa hợp của tăng đoàn cùng nhau lèo lái. Sư Ông là một vị thuyền trưởng vững chãi hướng dẫn cho chúng tôi lèo lái con thuyền tăng thân, là một cây đại thụ làm chỗ cho chúng tôi nương tựa. Cây đại thụ tuy tuổi đã già nhưng lúc nào cũng cho thêm hoa thêm trái. Hoa trái của Sư Ông có thể trổ ra bất cứ lúc nào và ở đâu, cũng như tuệ giác của Sư Ông luôn luôn tuôn chảy như một dòng suối mát.

Chúng tôi rất biết ơn những người đã sáng lập ra Làng Mai cũng như những thế hệ tiền bối đi trước đã có công xây dựng tăng thân. Nhìn lại lịch sử, chúng tôi thấy rất rõ là cuộc cách mạng nào cũng có những người tiên phong dẫn đầu. Đặt chân lên Xóm Thượng chúng tôi thấy được hình bóng và sự tiếp nối của thầy Nguyện Hải qua thầy Pháp Hữu, thầy Pháp Triển và nhiều người khác. Về tới Lộc Uyển chúng tôi thấy được sự tiếp nối của thầy Giác Thanh trong thầy Pháp Dung, thầy Pháp Hải, thầy Pháp Hộ và các thầy các sư cô khác. Khi nghĩ về chương trình cứu tế xã hội, chúng tôi cũng thấy được sự tiếp nối của thầy Thanh Văn và sư cô Chân Không qua cô Xuân, chú Nghiệm, chú Lộc, chú  Đính, chú Nam, chú A, chú Đạm, cô Kỷ, cô Phùng và rất nhiều người trên thế giới.

Chúng tôi thuộc về những thế hệ trẻ, sanh sau đẻ muộn, lúc nào cũng mang ơn sâu nặng trước một bậc Thầy khả kính đã để hết đời mình làm lợi lạc cho chúng sanh. Dù lớn tuổi nhưng Sư Ông không ngừng tìm cách làm mới pháp môn cho thích hợp với căn cơ thời đại, đặc biệt là cho đàn hậu thế của chúng tôi cảm thấy thoải mái để quay về.

Mỗi người trong chúng tôi là một tế bào của cơ thể tăng thân, là một thành phần của chiếc thuyền tăng thân. Trong một cơ thể có rất nhiều tế bào và mỗi tế bào có một nhiệm vụ riêng của nó. Cũng như chiếc thuyền tăng thân, chúng tôi vừa là ván, là đinh, là thuyền trưởng, là chiếc thuyền. Ván có nhiệm vụ chống nước để nước không thể tràn vào lòng thuyền, đinh có nhiệm vụ giữ ván dính lại với nhau, thuyền trưởng có nhiệm vụ lèo lái chiếc thuyền cho đến nơi đến chốn, và chiếc thuyền có nhiệm vụ đưa người qua sông. Nhờ có những thành phần như thế phối hợp lại với nhau nên ta mới có được con thuyền vững chãi đưa người qua đến bờ bên kia. Nói như thế, nối tiếp con đường của Bụt cũng như hành trình 30 năm là phận sự, là hành trình chung của chư Tổ, của Sư Ông và của tăng thân, trong đó có bạn và tôi. Mỗi một người đóng góp một bàn tay vào sự nghiệp của Bụt. Và cứ như thế bàn tay này nối tiếp bàn tay kia.

 

Nhìn lại hành trình 30 năm qua, chúng tôi vô cùng mang ơn Bụt Tổ đã gia hộ. Chúng tôi ý thức rất rõ cuộc đời là vô thường. Một chủ nghĩa nào, một đất nước nào, một tông phái nào rồi cũng có ngày suy tàn; thịnh suy suy thịnh là chuyện muôn đời. Nhưng chúng tôi nguyện sẽ tiếp tục tu học, bước thêm những bước vững chãi và thảnh thơi để cống hiến cho đời thêm 30 năm nữa và nếu Bụt Tổ còn thương tình cho thêm 30 năm kế tiếp. Sư Ông dạy: “Ba mươi năm đầu có thể đi qua chầm chậm, nhưng 30 năm kế tiếp sẽ đi qua mau lắm.” Thầy trò cùng nắm tay nhau mà đi như một dòng sông để leo đồi thế kỷ. Chúng tôi thấy vấn đề không phải là thời gian, dù đó là 30 năm hay 300 năm, nhưng phải thiết kế và đi như thế nào để mỗi giây phút mình có thể đem lại hạnh phúc, bình an và lợi lạc cho mình và cho người. Làm được như thế thì chúng ta mới có thể thừa hưởng được gia tài và tiếp nối được sự nghiệp của Bụt một cách đích thực.

—Chân Pháp Nguyện–