Melbourne nằm về phía Nam nên lạnh hơn Sydney. Thật ra chỗ ấm nhất của Úc là Brisbane. Brisbane có khí hậu giống như Việt Nam nên có thể trồng sầu riêng, hoa phượng… Lúc đầu mình không tính chuyện lập Làng ở Melbourne tại vì mình thấy nhân duyên chưa đủ. Ở Melbourne có hai vợ chồng đã thọ giới Tiếp Hiện là anh Hồ Thạnh và chị Mịn. Anh chị mua một miếng đất ở Beaufort cách Melbourne chừng 170 cây số, xây một thiền đường rồi cúng dường cho mình để làm Làng Mai ở Úc. Chỗ đó không có điện nước mà sư cô Trung Chính không nói cho mình biết, sư cô Trung Chính chỉ xin cho mấy sư cô gốc Úc tu học ở Làng Mai về hướng dẫn khoá tu cho người Úc để lập Làng Mai Úc. Chân Không năn nỉ các sư cô Thuần Tiến, Trí Duyên, Lương Nghiêm…khoảng sáu, bảy sư cô gốc Úc đi về nhưng về tới nơi thì mới biết là không có điện, nước và nhà cửa quá thô sơ. Sư cô Trung Chính nói:
“Đâu có cần điện đâu, đốt đèn cầy cũng được!”
Ba của sư cô Sinh Nghiêm là chuyên viên điện, ông về kéo điện vô. Sau đó mình mua thêm nhà của một thiền sinh Úc và làm thành tu viện Nhập Lưu. Anh thiền sinh đó cố ý giúp nên bán rất rẻ. Sư cô Thuần Tiến rất nhanh và giỏi nhưng không đủ duyên để chúng ở dài hạn nên sinh hoạt ở Nhập Lưu không đủ người để làm việc như một tăng thân. Chân Không phải bay qua tổ chức trở lại và mời qua bốn sư cô giáo thọ đầy nhiệt huyết để giúp đỡ Nhập Lưu.
Những khoá tu mỗi năm khi thì mình tổ chức ở Melbourne, khi thì mình tổ chức ở Sydney. Tu viện Nhập Lưu bây giờ đã có điện. Căn nhà mình mua của ông Jan có bốn phòng, mình sửa lại một phòng ấm cúng cho Chân Không về ở. Hiện giờ Nhập Lưu phải xây lại nhà ăn cho đúng tiêu chuẩn nhưng vì bao quanh là rừng cây khuynh diệp dễ cháy nên các sư cô đang tìm một trung tâm khác cũng ở gần Melbourne hơn nhưng có sẵn cơ sở vật chất hợp pháp để dễ phát triển hơn và cũng bảo đảm an toàn hơn. Trung tâm Làng Mai Úc bắt đầu bằng tu viện Nhập Lưu đang phát triển. Ở Sydney cũng vừa khởi sắc sau khi có tu viện Sơn Tuyền.
Trong chuyến đi năm 1986 của Thầy, tăng thân Sen Búp mà chủ yếu là chị Mai và anh Bình tại Sydney đã mua một miếng đất rộng khoảng 40ha tại Howes Valley cách thị trấn Singleton khoảng 75 km và cách Sydney khoảng 180 km để tổ chức các sinh hoạt tu học. Miếng đất đó được gọi là Làng Sen Búp. Tuy nhiên vì vùng đó ít phát triển, không có phương tiện giao thông công cộng và các tiện ích căn bản, nên việc thành lập trung tâm ở đó không thành. Sydney ấm áp, nhiều người Việt nhưng cũng nhiều khuynh hướng nên việc lập trung tâm khó hơn, nhất là khi không có vị xuất sĩ nào đứng ra chủ trì.
Tháng 9 năm 2018, anh Bình đã cho mượn căn nhà của anh tại Canoesland rộng khoảng 13 ha để tổ chức tu học. Làng Mai Úc Châu có ý định mua lại căn nhà đó để lập trung tâm tại Sydney, nhưng vì Zoning không cho phép mở tu viện cho nên chỉ sinh hoạt theo tính cách là nơi sinh hoạt của một tăng thân địa phương chớ không phải là một trung tâm chính thức của Làng Mai Châu Úc.
Tháng 2 năm 2020, một gia đình tại Sydney đã cúng dường một miếng đất rộng 5.5 ha tại Bilpin, ngoại ô Sydney. Miếng đất có một căn nhà và các cơ sở có thể chuyển thành thiền đường, phòng ăn, và nhà bếp. Có ba hồ nước, trong đó một hồ nước có nguồn nước từ dòng suối ngầm. Trung tâm được đặt tên là Tu viện Sơn Tuyền vì Bilpin ở trên vùng núi và trong đất có một dòng suối ngầm. Tháng Bảy năm 2020, Làng Mai Úc Châu mua căn nhà bên cạnh để làm bãi đậu xe và để trung tâm có thể có hai xóm riêng biệt cho quý thầy và quý sư cô. Do nhân duyên như vậy nên ở Sydney, sau 34 năm từ khi khởi sự lập làng Sen Búp, một tu viện mới của Làng Mai đã được thành hình. Hiện tại có thầy Pháp Hải là người Úc đang ở đó. Hy vọng trong tương lai các vị giáo thọ có quốc tịch Úc sẽ cùng chung tay để giúp đỡ việc hoằng pháp ở Úc được mạnh hơn.
Trong chuyến đi Ấn Độ năm 1988, Thầy có rủ các anh chị cùng đi như chị Đỗ Quyên, anh Đỗ Quý Toàn, chị Thân Bạch Mai, anh Đinh Nho Bình, anh Hoàng Khôi, chị ca sĩ Hà Thanh, anh Nguyễn Hữu Chí, chị Bích ở Boston, chị Kim Chi, anh Tiếng, tức những đệ tử cũ của Thầy và rất thương Thầy. Chị Bích, anh Trí, chị Hà Thanh, chị Mai, anh Bình đi, anh Hoàng Khôi không đi được. Tới Ấn Độ thì cô Chân Không, cô Chân Đức và cô Chân Vị được cạo đầu trên núi Linh Thứu. Cô Chân Không và cô Chân Đức có tam sư thất chứng tức Phật Thích Ca, thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên… Thầy làm tượng trưng thôi. Thầy nói mình không đủ đức nên để Phật Thích Ca làm thầy dạy còn Thầy làm giáo thọ thôi. Sau đó Thầy cho Chân Lương, Chân Truyền được thọ giới Tiếp Hiện. Anh Bình, anh Shantum thì thọ Năm giới. Chị Hà Thanh được pháp danh là Tâm Ca Lăng Tần Già. Trước đó chị đã thọ Năm giới với quý thầy ở Huế rồi. Thầy nói Ca Lăng Tần Già là chim chỉ hát cho Phật để làm đẹp cuộc đời. Chị làm được, chị không bao giờ đi hát đại nhạc hội để lấy tiền cho mình, chị chỉ hát để quyên tiền cho chùa.
Xong chuyến đi Ấn Độ thì Thầy biểu anh Nho Bình lập Làng Mai ở Úc Châu. Anh tìm mua một miếng đất nhưng sau đó anh có khó khăn vì chuyện làm ăn, chuyện vợ chồng. Thầy thì ít đi Úc Châu, Thầy chưa bao giờ đi Úc đàng hoàng. Phải có một nhóm người địa phương mời thì Thầy mới đi. Năm 1987 có một nhóm người Úc mời thì Thầy qua cho một khoá tu ở Body Farm. Phật tử Việt Nam cũng tới tu chung. Body Farm sống theo lối thiên nhiên, có con rắn tới nằm khoanh tròn trước phòng và trên giường của Thầy. Mình chỉ thở và cười rồi kêu người chuyên bắt rắn đẩy nó ra. Mình cũng hướng dẫn khoá tu ở các chùa như chùa của thầy Tắc Phước, chùa của thầy Bảo Lạc. Ở chùa Bảo Lạc mình quen với anh Hoàng Khôi, một Phật tử rất giỏi của chùa Bảo Lạc. Mới đầu thì anh không tin Thầy lắm nhưng sau khi nghe Thầy giảng thì anh rất phục. Hơn nữa chính em ruột của anh là Hoàng Phúc cũng được nghe Thầy dạy. Anh Hoàng Phúc bệnh nặng, bệnh viện nghĩ là anh sẽ chết trong vài ngày nữa nên cho về nhà, nhưng anh lại sống tới 13 năm sau. Mùa đông hai vợ chồng anh Hoàng Khôi qua Làng Mai tu học một tháng. Anh đánh máy lại bài giảng của Thầy trong khoá mùa đông và làm thành sách. Trước khi bị đột quỵ Thầy nói anh Khôi viết tiếp cuốn Việt Nam sử luận IV nhưng anh không viết được tại vì văn phong và cái thấy của Thầy rất khác. Anh cũng tự thấy như vậy nên anh chuyển qua viết về Tông phái Làng Mai gồm có 3000 trang. Nhưng anh chỉ bỏ trong máy tính. Anh làm cuốn sách đó rất hay, Chân Không rất đội ơn anh.
Từ Thái Lan mình đi cho khoá tu ở Malaysia (Mã Lai), Taiwan (Đài Loan), Trung Quốc. Ở Trung Quốc mỗi năm mình có ít nhất là hai, ba khoá tu. Đài Loan cũng dính rất sâu với Trung Quốc về văn hoá. Mình giúp đỡ Đài Loan có nghĩa là mình giúp Trung Quốc. Những sách hay của Thầy mà Đài Loan mua thì Trung Quốc in lại. Có hai loại chữ Hán: Đài Loan dùng chữ Hán xưa, còn Trung Quốc thì dùng chữ Hán mới. Nhưng họ có hệ thống hoán đổi rất nhanh. Nhiều sách của Thầy được chính thức in ở Trung Quốc trong thời gian Thầy còn đi dạy ở đó.
Mã Lai, Mindfulness Practice Center
Ở Mã Lai mình có một trung tâm nhỏ là Mindfulness Practice Center (trung tâm thực tập chánh niệm). Đó là một căn nhà rất cao ráo nằm trong một khu phồn hoa. Tăng thân Mã Lai đã đóng góp một thầy rất giỏi và vài sư cô. Mỗi tuần vào ngày chủ nhật trung tâm này có một ngày chánh niệm, mình ngồi thiền, đi thiền hành… Mỗi năm quý thầy, quý sư cô Làng Mai Đông Nam Á đều có khoá tu năm ngày ở Mã Lai và hai thời pháp thoại ở hai thành phố lớn như Kuala Lumpur và Penang.
Indonesia
Indonesia là một nước khá lớn có nhiều đảo to. Theo Thầy nghiên cứu thì đạo Phật truyền qua các nước như Bhutan, Nepal nhưng cũng có truyền qua Indonesia nên ở đó có một Phật tích gọi là Borobudur. Đó là một thắng tích mà chung quanh còn những thổ dân theo đạo Phật. Người Indonesia coi dân đó như là dân tộc thiểu số. Khi người Hồi giáo mới đến Indonesia vào thế kỷ thứ 3, 4 thì họ giết hết những người theo tôn giáo khác nên bây giờ 90% người Indonesia theo Hồi giáo. Sở dĩ Phật giáo còn ở Indonesia là nhờ người Tàu qua bên đó mua bán thành công, trở nên giàu có và họ thờ Phật trong nhà, trong chùa rồi lập những trung tâm Phật giáo nho nhỏ. Nhưng đó chỉ là thiểu số, là những người giàu. Vì vậy một ông nhà giàu gốc Tàu theo đạo Phật đã sẵn sàng mua một trung tâm Làng Mai ở Indonesia để cúng dường cho Thầy, nhưng có đất rồi mà vấn đề xây cất để chính thức hoạt động, ông xin đã ba năm rồi vẫn chưa được phép để Làng Mai lập chùa ở Indonesia .
Vừa rồi sư cô Thoại Nghiêm và thầy Pháp Khâm qua Indonesia để coi mình có thể tìm đường nào khác để lập một trung tâm ở Bali (cũng thuộc Indonesia nhưng thổ dân theo Ấn Độ giáo là chính nên hy vọng không bị chèn ép như chỗ có đạo Hồi). Mình cũng có bảy, tám em Indonesia qua Làng xuất gia, chỉ khi các em lên giáo thọ thì mình mới có thể gửi về để thành lập trung tâm ở Indonesia. Bốn thầy của tông phái Ekayana (Nhất Thừa) và một tông phái khác ở Indonesia đều theo Thầy Nhất Hạnh nhưng thầy của họ thuộc truyền thống Ekayana nên mình muốn mấy em nên chuyên tâm chỉ xuất gia với Thầy, tu học rất có trách nhiệm, tiến bộ… khi các em lên giáo thọ rồi mới mở trung tâm.
Nhờ trung tâm ở Thái, ở Hong Kong mà mình đi lan ra các nước Á Châu.
Ấn Độ
Người thường tổ chức những chuyến hành hương sang Ấn Độ là anh Shantum Seth. Anh là con của bà chủ tịch tối cao Pháp Viện, em của một nhà văn nổi tiếng Vikram Seth. Shantum đã tổ chức năm bảy khoá tu cho học sinh trung học giới thượng lưu Ấn Độ. Các học sinh, các thầy giáo, giám đốc rất thích. Anh cũng tìm mua một miếng đất ở Ấn Độ rất hợp với căn cơ người Ấn. Vậy mà anh cũng chưa lập được một trung tâm ở Ấn Độ vì thiếu xuất sĩ chịu thường trú nơi đây. Những người thượng lưu trí thức đều học ở trường Dehradun này. Miếng đất ở Dehradun của anh Shantum nhìn ra Hy Mã Lạp Sơn rất đẹp mà chưa tu sĩ Làng Mai nào chịu tới đó tu cả. Đó là một trung tâm cư sĩ, lâu lâu anh chỉ tổ chức được những khoá tu nhỏ tại Làng Mai Dehradun, muốn làm những khoá tu đàng hoàng thì anh phải mướn trường học Dehradun lớn hơn (dân quý phái thượng lưu đều tốt nghiệp trường này). Mỗi lần Thầy sang Ấn Độ, anh Shantum sẵn sàng tổ chức cho Thầy những buổi gặp mặt với gia đình ông Gandhi, đương kim chủ tịch Quốc hội thời đó, nhưng khiêm nhường mà nói “Làng Mai vẫn chưa cắm rễ ở Ấn”. Thầy tu Phật giáo nhiều nước như Nhật Bản, Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan, Đại Hàn… đã định cư ở Ấn Độ, đã từng cất những ngôi chùa đồ sộ, đẹp đẽ tại các thánh tích Phật giáo nhưng đạo Bụt vẫn chưa cắm rễ ở Ấn Độ. Lần cuối khi Thầy đi giảng ở Ấn Độ, cứ mỗi 15 phút thì Đài truyền hình toàn quốc Ấn có một hàng chữ cao chừng 2,5cm chạy bên dưới màn hình ghi câu: Thiền sư Thích Nhất Hạnh đang ở Ấn Độ, Thiền sư sẽ thuyết giảng tại…, tối nay hay trưa ngày kia, lúc… giờ. Thiền sư sẽ dẫn đoàn thiền hành cùng đi với rất đông dân Ấn Độ ở đại lộ lớn nhất thành phố Delhi…
Khi nào thế hệ của các cháu Nandini hay Amika con gái của anh Shantum và chị Gitu bỏ tất cả đi về khu nghèo nhất, bạo động nhất và làm được cái gì khuấy động lòng người, khiến ai ai cũng muốn đứng lên làm cách mạng theo con đường của hiểu biết và thương yêu thì chừng đó, tuy các cháu không xưng là đạo Phật, mà đi tới đâu hay làm gì cũng trong ánh sáng của thấy sâu, hiểu rộng, thương nhiều thì chừng đó đạo Bụt mới cắm rễ lại vào đất Ấn Độ…
Có một thầy Trung Quốc là thầy Tịnh Nhân, sau khi được dự khoá tu của Thầy bên Anh, thấy Thầy giảng cho gần 3000 người Anh ở London và dự khoá tu 700 người Anh tu năm ngày với Thầy, thầy phục quá nên đem sách Thầy về Trung quốc cho một học giả Phật tử rất được các nhà lãnh đạo Trung Hoa Lục Địa thường tham vấn ngay cả trong khi ngài Chu Ân Lai còn sống. Ông tên là Zhao Puchu (Triệu Phác Sơ), nay ông đã già, đã hưu trí nhưng tinh thần vẫn minh mẫn lắm. Ông đọc xong hai cuốn Con đường chuyển hoá (Transformation and Healing) và Buddha Body, Buddha Mind là đòi mời Thầy sang Trung Quốc dạy ngay. Nhờ vậy thầy Tịnh Nhân đã vận động cho Thầy đi dạy chính thức ở Trung Quốc và chuyến đi nào thì trạm đầu hay chót Thầy cũng ghé thăm Hong Kong. Nơi đây thầy Tịnh Nhân và thầy trưởng Ban trị sự ở HGK cũng mời Phật tử tới nghe khoảng 800 đến 1000 người. Lần thứ ba có được các chị Phật tử cư sĩ giàu có ở Hong Kong nhưng gốc Việt thấy mỗi lần Thầy mình qua Hong Kong giảng mà chỉ cho 1.000 người tới tu học thì hơi uổng nên muốn mướn một chỗ cho 10.000 người. Mướn một chỗ như vậy thì rất mắc, gần 100.000USD cho một đêm. Thầy mình nổi tiếng bên Mỹ chứ ở Hong Kong thì chưa có nhiều người biết. Chị Therese Khan đề nghị mướn hội trường lớn và vận động được ba ông nhà giàu ở Hong Kong là Li Ka-shing, Dr. Yeung và một người nữa, mỗi ông cho 50.000USD để thuê một phòng thuyết giảng cho 10.000 người trong một đêm. Đêm đầu thuyết pháp ở đại sảnh đó, người tới nghe không tới 10.000 người nhưng cũng được hơn 8.000 người. Bên Hong Kong người ta không bán vé.
Từ đó mỗi lần Thầy ghé Hong Kong là Phật tử ở đây mướn trung tâm lớn, lần nào cũng trên dưới 10.000 người đến nghe.
Thầy giảng được hai năm liên tiếp thì một hôm Dr. Yeung xin được gặp Thầy trước buổi giảng. Thầy không chịu, thầy bảo là trước khi giảng Thầy phải để tâm rất bình yên, phải thiền chỉ, thiền quán rồi mới ra thuyết pháp được cho hàng ngàn người nghe. Ông đó là một trong ba ông nhà giàu đã thuê phòng giảng cho mình. Năm sau ông xin gặp thì Thầy cho gặp.
Lúc đó mình mới mua một ngôi nhà to lập Viện Phật học Âu Châu nhưng chưa có tiền sửa chữa cho hợp tiêu chuẩn đón sinh viên vào học Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu cho hợp pháp. Thầy nói, bây giờ có lẽ mình nên đi kêu gọi người Á Châu qua tiếp sức để mình đem đạo Bụt (là đạo của người Á châu) sang Âu châu để độ người Âu châu theo đạo Bụt là đạo của ông bà mình. Người Tây phương gốc theo đạo Thiên Chúa còn mình là nước Phật giáo. Thầy gặp ông Dr Yeung đó với mục đích kêu gọi ông đóng góp cho Viện Phật học Âu Châu – EIAB (European Institute of Applied Buddhism). EIAB thì có toà nhà quá lớn mà mình chưa đủ tài chính để sửa sang. Ông ta vừa gặp Thầy nói một câu đơn giản:
“Con gặp Thầy hôm nay để kính nhờ Thầy lập Viện Phật học Á Châu chứ không phải Âu Châu. Phật tử ở đây mà không tu tập theo pháp môn của Thầy giảng thì rất là uổng. Con muốn lập mộtViện Phật học Á Châu và con có thể gửi các thầy đệ tử của Thầy đi dạy bên Trung Quốc nữa. Con có cơ sở ở Trung Quốc và có thể tổ chức cho Thầy được.”
Thầy hỏi:
“Vậy thì đạo hữu có một chỗ nào cho 120 vị ở tu không?”
Ông nói:
“Chỗ cho 120 người thì hơi sớm. Con có một chỗ, nếu các thầy ở được chùa này thì mình có thể lan ra từ từ.”
Hôm sau ông mời Thầy và một số thầy cô tới chùa Liên Trì trên đảo Lantau thì Chân Không giật mình. Chùa Liên Trì nằm sát chùa Bảo Liên, đó là hai ngôi chùa dựa trên vách núi rất đẹp. Hai ngôi chùa này là nơi rất đặc biệt trong đời của Chân Không. Năm 1968, Thầy gọi Chân Không sang Hong Kong để báo cáo cho Thầy nghe về tình hình bên nhà vì Thầy có ý định trở về Việt Nam. Chân Không đã đi hỏi quý Hoà thượng Thiện Hoa, Hoà thượng Thiện Hoà, Hoà thượng Thiện Minh, Hoà thượng Quảng Độ, Hoà thượng Quảng Liên… rồi mới qua báo cáo cho Thầy Nhất Hạnh. Quý thầy ở Việt Nam đề nghị thế nào Thầy Nhất Hạnh cũng phải ở lại, mà ở lại thì Thầy cần một phụ tá hành động giỏi, biết cách thu xếp và tổ chức như Chân Không. Thầy nói:
“Nếu Thầy ở với mấy người chưa góp phần xây dựng tranh đấu cho Hoà Bình mà đã đòi chức này chức nọ thì Thầy rất mệt. Nhưng con đã chứng tỏ đủ sức giúp thầy ở Thanh niên Phụng sự Xã hội, con đã chèo chống được rất giỏi… nên Thầy cần con ở lại để giúp Thầy.”
Chân Không không chịu:
“Ở nhà có 11.000 người ở chen chúc nơi sân Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội đang chờ con. Nhà họ bị oanh tạc và đang ở chung quanh đó, mỗi ngày con đi xin mấy chục tạ gạo cho họ ăn. Bây giờ con đi thì ai lo cho họ.”
Thầy nói:
“Gạo là của USAID cho. Hoa Kỳ bỏ bom tan nhà nát cửa nát đầu cha, tan xương mẹ… xong mình đi xin gạo của chánh quyền ấy… nên không có con thì người khác xin cũng được.”
Tối hôm đó Thầy ở chùa Bảo Liên còn Chân Không ở chùa Liên Trì. Sáng hôm sau hai Thầy trò đi thiền hành trên núi sau lưng chùa Liên Trì. Chân Không quán chiếu trong ba ngày thì lên đảnh lễ với Thầy xin ở lại. Trong cuốn Con đường mở rộng (Tập 1 hồi ký 60 năm theo Thầy học đạo và phụng sự), Chân Không có kể tại sao Chân Không ở lại với Thầy. Chùa Liên Trì là nơi Chân Không đảnh lễ Thầy và xin được ở lại để theo Thầy kêu gọi hoà bình và làm công tác xã hội. Nơi đó, 40 năm trước Chân Không đảnh lễ Thầy và 40 năm sau vị thí chủ này cúng dường cho mình chùa để làm Viện Phật học Ứng dụng Á Châu. Rồi ông cúng luôn chùa Trúc Lâm nhỏ hơn kế bên cho các thầy ở, tại vì số lượng các thầy ít hơn. Chùa Trúc Lâm cũng dựa trên vách núi linh thiêng này. Giữa chùa Liên Trì và chùa Bảo Liên có một ngôi chùa nhỏ, hơn nữa ở đó còn có bốn, năm chùa nhỏ có thể nhập lại thành chùa lớn. Hong Kong là xứ cấp visa thường trú rất khó khăn. Người Việt được cấp visa rất ít. Số lượng các sư cô là 14 người, còn bên các thầy là chín hay mười người. Chùa Liên Trì chỉ đủ chỗ cho khoảng 15 – 20 người ở rất chật nên cư sĩ tới dự khoá tu phải mướn chỗ bên ngoài gần chùa Bảo Liên. Chùa Trúc Lâm cũng vậy, chỉ đủ chỗ cho khoảng 10 – 12 thầy.
Thầy Pháp Khâm là cột trụ của Viện Phật học Ứng dụng Á Châu này. Chùa vẫn thuộc quyền sở hữu của Dr. Yeung nên mình không phải lo gì cả về cơ sở vật chất, chỉ lo tu học và giảng dạy. Dr. Yeung cúng dường toàn bộ tiền ăn và chi phí sinh hoạt căn bản của chúng xuất sĩ ở đây. Những ngày quán niệm của mình gồm cả người Việt và người Hong Kong. Chùa ở trên núi nên có xe buýt công cộng và cáp treo. Đường lên núi rất đẹp.
Tên trung tâm ở Thái là International Plum Village in Thailand, nhưng mình hay gọi là Làng Mai Thái. Bây giờ khi nghe người ta nói “con đã tới Làng“ thì mình hay hỏi lại là Làng nào: Làng Mai Pháp hay Làng Mai Thái. Hiện nay Làng Mai Thái đã trở thành một trung tâm tu học phồn thịnh. Có nhiều người Việt làm chức cao trong chính quyền Việt Nam ưa ẩn danh qua bên Làng Mai Thái tu tập, vì họ đọc sách của Thầy rất thích. Cũng có nhiều gia đình có người thân làm công an qua Làng Mai Thái tu tập. Đại gia hay bình dân nghèo khó đều qua bên Thái tu tập thoải mái. Bên Thái mình cũng kết hợp với tinh thần văn hoá Việt Nam, tức là ai đóng góp được bao nhiêu thì đóng góp, như là đóng 15$ cho nguyên một tuần. Người Thái thì không phải đóng góp vì mình muốn trả ơn cho đất nước Thái đã cưu mang mình, nhưng họ cũng cúng dường như những người Việt Nam có khả năng muốn cúng dường thêm.
Làng Mai Thái bây giờ rất đông, không đủ chỗ nên có một số đại gia phụ với mình mua thêm đất để mình có thể cất thêm thiền đường. Thiền đường thì chưa cất được vì mình xây cất nhiều quá nên vượt khỏi quy định cho phép của chính quyền. Do đó có thêm đất thì mới có thêm diện tích được phép xây cất. Vì vậy thiền đường hiện giờ quá nhỏ vì thiền đường hồi xưa là nhà ăn nhưng vì Thầy bị đột quỵ, mình nghĩ thiền sinh không tới đông nữa nên sửa tầng trên của nhà ăn thành thiền đường rộng hơn.
Ở Làng Mai Thái mỗi năm có hai khoá tu cho người Việt: khoá tu Tết (mồng 2, mồng 3 và kéo dài tới mồng 7, mồng 8) và khoá tu Mùa Hè (từ 25, 26 tháng 6 tới 2, 3 tháng 7). Ngoài ra còn có các khoá tu xuất gia gieo duyên cho con nít Thái (7 ngày) và người lớn (3 tháng). Một khoá tu nói tiếng Anh dành cho cư sĩ Đông Nam Á được tổ chức mỗi cuối năm. Một khoá tu nữa dành cho người Thái cũng được tổ chức. Ngoài ra cũng có các khoá tu không định kỳ dành cho thầy cô giáo, giới y khoa, doanh nhân… có khi tổ chức trong tu viện, có khi tổ chức ở bên ngoài. Mỗi tháng mình cũng tổ chức ngày quán niệm ở Bangkok cho phật tử Thái ở đó.
Ngoài ra Làng Mai Thái cũng tham dự tổ chức khoá tu hàng năm cho Indonesia, Philippine, Mã Lai… và tham gia các sự kiện của trường Đại học Maha Chulalongkorn.
Người trụ cột ở Thái Lan là sư cô Linh Nghiêm. Sư cô Linh Nghiêm là người Thái tốt nghiệp đại học và làm giám đốc chương trình Liên Hiệp Quốc Phát triển và Cứu trợ người Lào của Liên Hiệp Quốc. Khi gặp pháp môn của Thầy thì sư cô thích quá nên xin xuất gia. Sư cô rủ mấy sư cô Làng Mai qua Thái để hướng dẫn khoá tu. Lâu lâu sư cô dẫn được năm, bảy người làm khoá tu và báo chí có khen nhưng mình vẫn không cắm rễ được ở Thái.
Tuy Thầy đã được chính quyền mời về nước nhưng thấy tình hình chính trị Việt Nam còn khó khăn nên sư cô Linh Nghiêm đề nghị chọn bên Tu viện Bát Nhã chừng năm em xuất gia nam và năm em xuất sĩ nữ đi Thái học tiếng Thái và thăm dò tình hình nếu cần sẽ lập thêm Làng Mai ở Thái Lan. Khi chuyện Bát Nhã xảy ra, Thầy ra lệnh cho sư cô Linh Nghiêm tìm cách giúp đón và cho tá túc nhà các bạn Thái ở Bangkok trong khi chờ đợi Thầy tìm giải pháp. Mỗi ngày có khi hơn 20 em bay qua Thái từ nhiều ngả nên Bangkok cũng không đủ chỗ. Sư cô Linh Nghiêm mới nghĩ tới căn nhà nghỉ mát của gia đình mình.
Gia đình của cô Linh Nghiêm giàu, có một căn nhà ở nhà quê và hai mẫu xoài nên cho mấy thầy mấy sư cô ở đậu. Thấy nam nữ xuất sĩ ở chung như vậy không tiện, một người bạn của ba mẹ sư cô Linh Nghiêm ở cách đó 3 cây số có một căn nhà bỏ không nên bác cho mấy sư cô ở tạm. Bác tên là bác Buôn Lư.
Nhà của mẹ sư cô Linh Nghiêm cho mấy thầy ở tạm. Mấy thầy dựng một thiền đường bằng lá, vài căn nhà bằng lá để ở. Sàn thiền đường thì mấy thầy đóng đầy đinh vì không phải thợ mộc chuyên nghiệp. Ngồi thiền xong đứng dậy thì có thể bị đinh móc rách quần như không, nên mấy sư cô gọi đùa là thiền đường Hội Ngàn Đinh. Nhà bác Buôn Lư thì tốt hơn, tuy cũ nhưng mấy sư cô ở cũng được. Chỗ đó là nhà quê nên còn trăn, còn rắn nhưng mình sống hài hoà nên không có vấn đề gì xảy ra. Những ngày tháng đó các thầy các sư cô cực lắm. Làm việc miết tới giờ cơm mà ra không kịp thì còn hết cả cơm ăn vì nhà bếp còn tạm bợ, nồi to cũng chưa có để nấu đủ đồ ăn. Chân Không nhớ năm đó có các thầy từ Pháp qua Thái, Chân Không dặn mua quà tặng các sư em đang làm việc ở Thái thì ra siêu thị, hỏi mua quà gì thì các sư chú chỉ lựa hàng trăm gói mì gói thôi, để mỗi khi làm việc xong mà lỡ hết đồ ăn thì có mì gói ăn đỡ đói. Mà mua được mì gói chay cũng không dễ vì ở Thái ít người ăn chay, kể cả người tu.
Rồi mình quyết định mua một miếng đất cách đó khoảng nửa giờ lái xe. Đó là một vùng đất đá, một khu rừng phòng hộ mà cây cối giữ nước đổ về Thái Lan trước khi đi vào những hồ nước trong vùng, cho nên đất ở đó rất mắc. Miếng đất chưa tới 40 mẫu giá là 845.000USD, rồi khi mình xây nhà phải tôn trọng sinh môi nên sẽ tốn 4,2 triệu USD. Người ta nói, với hiện tượng hâm nóng khí hậu toàn cầu thì 50 năm sau Bangkok sẽ nằm dưới biển nên dân nhà giàu ở Bangkok chạy lên đây mua đất. Vì vậy cho nên đất ở đây giá mắc như vậy. Cả xứ Pháp mà mình chưa mua miếng đất nào mắc như vậy. Mấy sư cô nói:
“Mình cứ để chư Tổ dẫn dắt thôi. Sư cô cứ ngồi đây đi. Tụi con tổ chức một khoá tu doanh nhân. Sư cô thuyết pháp kêu gọi người ta phát tâm cúng dường.”
Nhưng chưa tới một năm thì chủ đất cho hay, nếu mình không mua thì họ ngưng không bán nữa. Có sáu đại gia hứa đưa vai gánh trước rồi mình sẽ trả lại từ từ. Nhưng không ngờ chỉ ba tháng sau thì người ta đóng góp đủ. Mình có tiền mua, mua xong thì mình tổ chức một khoá tu, nhà chưa có nên mình mướn resort cho mấy ông doanh nhân ở. Khoá tu đầu tiên đó là khoá tu tiếng Việt. Khi sư cô Hoa Nghiêm đi mướn resort để sắp xếp cho 300 người tới tu thì trong khu vực đó không có resort nào đủ chỗ cho cả 300 người cùng ở cả. Nhưng có một ông chủ rất dễ thương, ông để dành cả resort cho mình, lại cho sử dụng các phòng suite để kê thêm tới 12 giường trong phòng mà chỉ lấy giá như phòng thường và bao luôn cả tiền ăn. Hoá ra về sau nghe kể mình mới biết có câu chuyện rất là lạ kỳ. Một đêm ông nằm chiêm bao thấy một người như là thần đất của vùng đó hiện về báo mộng cho ông, sắp tới sẽ có một vị Đại hoà thượng tới vùng này giảng pháp, và còn dặn ông liệu bề lo liệu tiếp đón và chăm sóc cho đàng hoàng, nếu không là không được đâu. Sáng ra ngủ dậy thì có vị nữ tu sĩ là sư cô Hoa Nghiêm tới đặt vấn đề mướn resort mở khoá tu để Thầy của sư cô là một vị Thiền sư nổi tiếng đến giảng. Ông chủ resort sau khi đồng ý cho mình mượn với giá tiền rất dễ thương như thế thì tiếp tục giúp mình đi thương thuyết với các resort xung quanh để đủ chỗ cho mọi người về tu. Resort của ông là lớn nhất, ông dựng một thiền đường ngoài trời che bằng tấm bạt đủ cho hàng nghìn người. Tất cả có bốn resort cùng yểm trợ mình tổ chức khoá tu đó. Lạ kỳ hơn nữa là các vị chủ resort đều được báo mộng như ông chủ lúc đầu, thậm chí một cô nhân viên resort còn bị nhập đồng, có vị nhập vào người cô hiện lên nói cho mọi người lúc đó cùng nghe, là sắp tới sẽ có một vị Đại hoà thượng về ban phước trong vùng. Khoá tu đó hàng nghìn người Việt quy về đây tu tập rất hạnh phúc. Những câu trả lời vấn đáp của Thầy đầy tuệ giác. Tuy khi đó sự kiện Bát Nhã đã xảy ra và mình phải rời Việt Nam, nhưng khi trả lời câu hỏi vì sao mình có đất nước mà phải ra đi, thì Thầy trả lời đầy thương yêu và tin cậy, là bây giờ điều kiện thiên nhiên Việt Nam đang lũ lụt (lúc đó đang lũ lụt trong nước thật), chúng ta dừng chân tu tập ở đây, mai sau này đủ điều kiện, hết lụt lội thiên nhiên ưu đãi chỗ tu ta lại về Việt Nam. Câu trả lời không hề oán trách nhà nước một chút nào sau tất cả những gì đã xảy ra, hẳn nhiên có các ông an ninh ngồi nghe ở dưới cũng thấy tình thương đích thực nơi Thầy.
Sau thành công của khoá tu tiếng Việt đó, Làng tổ chức tiếp khoá tu tiếng Anh. Có một ông người Thái ăn mặc rất bình dân tới nói muốn cúng dường 78 triệu bahts: cỡ hơn hai triệu đô để xây cất trung tâm. Ông làm nghề kinh doanh mền và đã cúng dường rất nhiều mền cho Làng. Thầy hỏi ông tiền cúng dường là của ông hay do ông được thừa kế? Ông nói tiền của ông nhưng ông vẫn đủ tiền để công việc kinh doanh mền của ông tiếp tục sau khi cúng dường cho Làng. Chân Không nghe sư cô Linh Nghiêm thưa thì giật mình, không biết mình có nghe lộn không? Chân Không nói với cô Linh Nghiêm:
“Sư cô theo Thầy xây dựng Làng Mai từ Pháp qua Đức rồi qua Hoa Kỳ, Bắc Mỹ Châu, Canada… cho tới giờ chưa có ai cúng dường số tiền như vậy hết. Chừng nào tiền vô tài khoản của em thì mình mới biết.”
Ai dè một tuần lễ sau thì cô Linh Nghiêm báo:
“Tiền vô rồi Sư cô ơi.”
Nhờ có tiền đó nên vừa có đất xong là mình xây chỗ ở. Mình có hai cư xá nữ và một cư xá nam tại vì bên nam ít người tu hơn.
Làng Mai Thái nằm trong huyện Pakchong cách Bangkok 4 giờ xe taxi, nếu không kẹt xe thì chừng 3-3,5 giờ xe. Ở đó núi rừng bao la rất đẹp, cây cối xanh tươi nhưng mình không được xây cất nhiều tại vì đó là chỗ chứa nước cho cả vùng. Mình chỉ được xây cất 20% diện tích của miếng đất thôi nên mình phải mua thêm đất để xây thiền đường và những cơ sở khác.
Ban xây cất của Thái rất dễ thương, đồng ý đợi đến khi mình mua thêm đủ đất thì sẽ cấp phép xây dựng tiếp theo các bản vẽ đã được một nhóm kiến trúc sư giúp thiết kế và không hối thúc mình phải làm đúng thời gian đã trình xin phép trước đây. Cốc của Thầy ở Làng Mai Thái đẹp lắm, thế dựa vào núi nhìn xuống cánh rừng xa xa, trước mặt là hồ nước nhỏ, yên tĩnh chỉ thoảng nghe chuông gió và tiếng chim hót, mỗi buổi sáng đều thấm đẫm mùi hương của lá.
Làng Mai Thái là một trung tâm tu học mà Làng Mai trung ương không bỏ tiền nhiều: đất thì hoàn toàn do các đệ tử người Thái đóng góp sau khoá tu doanh nhân cho người Thái 845.000USD luôn. Những ngôi nhà của mấy thầy mấy sư cô ở là tiền đóng góp của một doanh nhân Thái. Kể như Trung tâm tu học tị nạn cho xuất sĩ con Thầy. Không ngờ đây là nơi tới tu học lý tưởng cho các Phật tử mới lần đầu tiếp xúc với pháp môn mầu nhiệm của Bụt do Thầy và các sư con trình bày. Vì thế thiền sinh Việt Nam không ngại xin hộ chiếu để có thể đi Bangkok, đi ba giờ xe buýt tới tu học cả tuần. Người này tu học chuyển hoá tánh tình biết điều hơn, vợ chồng lắng nghe nhau hơn nên bà rủ ông, ông khác rủ được vợ con cùng đi. Chưa có chỗ ngủ đàng hoàng thì mình làm những ngôi nhà bằng lá mà hễ có lá thì… có rắn cho nên mình sợ, muốn xây bằng gạch đàng hoàng. Mình tính vay tiền để xây nhà cho những vị khá giả ở Việt Nam muốn qua tu học cho con cái họ trở nên người tốt trong xã hội. Có một số người cho mượn không có lời. Trong một khoá tu có mặt sư cô Chân Không, sau khi Chân Không giảng xong thì có một vị cư sĩ Việt Nam khá giả và theo Phật giáo Tây Tạng tới xin gặp Chân Không nói, khi con gái của cô mất, cô cầu nguyện, niệm Phật mà không hết khổ dù cô cũng đã thuộc lòng Kinh Kim Cương. Cô đó thấy pháp môn “không sinh không diệt đừng sợ hãi” của Thầy hay và đơn giản như vậy nên bàn với chồng muốn cúng dường một số tiền để xây thiền đường cho rộng hơn. Sau mình năn nỉ họ cho mình khoan xây thiền đường mà xây nhà cho cư sĩ tới ở. Cuối cùng thì mình xây được một cư xá ba tầng khá tốt cho cư sĩ. Kỳ này rút kinh nghiệm nên mình xây nhà có tường, có nóc ngói đàng hoàng, giường tầng sạch sẽ, có bàn, có tủ khoá để cất đồ. Một phòng có bốn giường tầng cho tám người, có quạt máy, có nhà vệ sinh bên ngoài cách 5, 7 thước.
Chân Không nhớ bữa đầu tiên Thầy về tới Thái Lan thì Phật tử Việt Nam qua Thái thăm Thầy đông quá thấy rất là thương. Ban đêm, ngoài trời, trên nền đá lởm chởm, người ta làm những cái mùng to 2 thước bề ngang, 10-15 thước bề dài. Giường nằm là các miếng sạp gỗ làm bằng gỗ thông mềm mà nhà thầu xây cất hay dùng để dùng xe xúc khiêng nguyên một mét khối gạch. Trải sạp trên nền đá lởm chởm cho cân bằng. Xong quý thầy mua thêm nệm mousse loại 7cm dày trải lên trên để cô bác nằm ngủ như cá hộp, nửa thước một người, thấy rất tội nghiệp! Lúc Thầy về là tháng 11, trên núi cũng khá lạnh mà Phật tử Việt Nam khắp nơi về đông quá, thấy thương lắm. Các cư xá ni xây thành hình vuông chính giữa xây một thiền đường để các sư cô ngồi thiền khuya mà lúc ni khỏi ngồi thiền trong cư xá, phải đi lên thiền đường lớn. Trong thiền đường đó, các cha mẹ các sư cô cũng giăng mùng nằm đầy. Bây giờ mình cũng chưa dẹp bỏ những căn nhà lá đó tại vì mình có thể dùng khi có những khoá tu quá đông người. Mình vừa báo có khoá tu thì trong vòng vài giờ là đã hết chỗ nên mình cho gia đình của các xuất sĩ được ưu tiên, rồi tới gia đình có con đông cần được giúp đỡ. Mình còn làm khoá tu cho người Thái. Sư cô Linh Nghiêm là người Thái trí thức đầu tiên, sư cô có những người bạn cùng lớp, trong đó có một cô nha sĩ có chị làm bác sĩ khoa ung bướu và một bác sĩ về đường ruột. Họ tới giúp mình vì tình nhân ái và vì tình bạn với sư cô Linh Nghiêm chứ không biết về giáo lý. Mình tặng họ mấy cuốn sách của Thầy, họ đọc thấy hay, bắt đầu sửa đổi tính tình và trở thành con người dễ thương. Họ thọ Năm giới rồi từ từ thọ Mười bốn giới. Tụng giới mỗi hai tuần, tu học tinh chuyên.
Ở Bangkok có một bệnh viện tư nhân thượng thặng tên Bumrungrad. Những người giàu có ở các nước Phi Châu hay Ả Rập đều tới bệnh viện đó trị bệnh. Tiền bệnh viện rất mắc, mắc bằng các bệnh viện sang trọng bên Pháp nhưng cách trị bệnh cũng thuộc đẳng cấp cao. Bên Thái có cái hay là bệnh viện bớt 15% cho người tu. Các bác sĩ trị bệnh cho mình cúng dường không lấy tiền công nên mình chỉ trả có 10% tiền chi phí bệnh viện. Các bác sĩ ở đó rất giỏi, ví dụ một sư cô bỗng nhiên mất khẩu vị, cô không còn hứng thú ăn cơm nữa. Cô thử máu mình thì thấy mình thiếu chất DHEA và Zinc (kẽm). Cô uống thêm hai chất đó và ăn lại được rất ngon.
Nhưng Làng Mai Thái phát triển nhanh nhờ các Hoà thượng lớn của MCU ủng hộ Thầy hết lòng và cho phép Thai Plum Village như đối tác của Maha Chulalongkorn University.
Đúng ra thì mình phải thành lập trường đàng hoàng mới được làm cộng tác viên với trường Đại học Phật giáo Maha Chulalongkorn (MCU). Các vị viện trưởng, phó viện trưởng đều rất thích Thầy mình nên lập một Thiết kế đối tác giữa hai Đại học, một bên là Viện đại học Phật giáo Hoàng gia và một bên là Trường Cao đẳng Phật học Làng Mai. Thầy Nhất Hạnh đã dạy những khoá tu Mùa Đông rất có lớp lang nên mình có thể dựa vô đó. Trong 24 khoá tu Mùa Đông, Thầy đã dạy đầy đủ kinh, luận, luật. Vì vậy nếu so với các thầy của MCU thì trường Làng Mai không thua. Thầy khám phá ra kinh A Di Đà không phải được sáng tác sau này mà căn cứ trên một kinh Nam tông, trong đó Phật hỏi: “Ai tu giỏi và muốn lập một đạo tràng thích hợp với căn cơ của mình?”, thì có một thầy nói: “Mai sau con sẽ lập một đạo tràng có hoa sen đỏ, trắng, xanh, vàng nở thật to. Có những cây khi có gió thổi qua thì thuyết pháp.” Thầy nói, bây giờ mình đang thực hiện việc mà khi có tiếng chuông thỉnh lên thì mình dừng lại để tiếp xúc với hiện tại mầu nhiệm. Thầy cũng dạy rõ kinh Hoa Nghiêm, kinh Kim Cương xuất phát từ kinh nào của kinh Nam Truyền chứ không do một số thầy sáng tác và cho là lời Bụt dạy cho Long Vương hay Bụt dạy cho mẹ là phu nhân Ma Da ở cung trời Đao Lợi… Những điều dạy của Thầy rất khoa học, rất hợp với cái thấy mới về nhân chủng học chứ không cần phải tin một cách mê tín.
Thầy cử thầy Pháp Anh, một xuất sĩ trẻ trong nhóm đầu tiên được xuất gia ở Việt Nam làm trụ trì chùa Làng Mai Thái Lan. Thầy Pháp Anh có anh là thầy Pháp Lâm, em là sư cô Lộc Nghiêm, và mẹ là sư cô Toại Nghiêm đều cùng tu hết ở Làng Mai. Nhà của ba anh em và mẹ đã cúng cho Làng Mai của Thầy luôn rồi, có tên là Bây Giờ. Làng Mai Thái không chỉ có xuất sĩ người Việt mà còn có người Thái, người Trung Quốc, người Nhật tới tu.
Khi xây Diệu Trạm thì có một bà Phật tử người Singapore quốc tịch Mỹ, là giáo sư của Đại học Havard giúp đỡ. Ngày xưa, bà đã cho 45.000USD để xây chùa Diệu Nghiêm và cho thầy Chí Thắng 45.000USD để xây chùa Phước Thành. Lần này bà cho 150.000USD để xây Diệu Trạm. Diệu Trạm không phải là chùa mà chỉ là ni xá cho các sư cô, trực thuộc chùa Từ Hiếu. Sổ đỏ đứng tên một sư cô nhưng mình cũng đưa cho thầy Giám tự của Từ Hiếu. Mấy sư cô tu hành đàng hoàng và được quý thầy bên Từ Hiếu giúp đỡ rất nhiều mặt. Diệu Trạm thật sự trở thành một phần của ni chúng ở Huế và là chỗ duy nhất mà các sư cô mặc y phục màu nâu và chít khăn nâu. Bây giờ đi chợ Đông Ba các sư cô không bị hỏi là có phải từ miền Bắc vào hay không mà các cô các dì ngoài chợ đều biết là từ Diệu Trạm. Tuy nhiên để hoà đồng nên các sư cô cũng mặc đồ lam khi đi tham dự một buổi lễ nào đó với ni bộ cũng như các thầy Làng Mai ở Từ Hiếu cũng đắp y hậu vàng trong một sự kiện nào đó.
Khi Thầy mới về tới Sài Gòn thì thầy Đức Nghi lên gặp và hãnh diện báo tin là thầy Đức Nghi đã có mấy niệm Phật đường. Tại vì bên Thiên Chúa giáo đông quá nên hễ chỗ nào có nhà thờ Thiên Chúa thì thầy tới mua đất xây niệm Phật đường gần ngay đó. Nếu Thầy Thích Nhất Hạnh thích chỗ nào thì thầy Đức Nghi sẽ cúng dường chỗ đó. Thầy có ghé qua Bảo Lộc và chọn Bát Nhã là chỗ tương đối rộng, xung quanh có đồi, có núi và có dòng suối uốn quanh. Thầy Đức Nghi nói sẵn sàng cúng dường. Mình phụ thầy Đức Nghi xây cư xá Phượng Vĩ có hai tầng cho 70 sư cô gọi là xóm Bếp Lửa Hồng. Vì vậy khi ở Diệu Nghiêm quá chật chội không tiện cho việc tu học các em tập sự nữ nên mình rời Diệu Nghiêm về Bát Nhã. Sau này đông người quá nên mình xây thêm cư xá Liễu Xanh kề bên cư xá Phượng Vĩ cũng nằm trong xóm Bếp Lửa Hồng.
Còn bên nam cũng đông nên mình xây thêm một cư xá ba tầng. Trước nhất là xây nhà bếp to sát cư xá Rừng Tùng của quý thầy. Quý thầy có cư xá ba tầng rất khang trang. Bên mặt cư xá của quý thầy là thiền đường lớn nhất từ trước tới nay: Thiền đường Cánh Đại Bàng. Gần chỗ thầy Đức Nghi ở có nhiều nhà thấp dành cho các sư chú tập sự nhỏ, hồi xưa làm chỗ ở cho các thầy tỳ kheo và các sư chú tập sự xuất gia. Khi mình xây cư xá rồi thì mấy căn nhà nhỏ đó mình dành cho tập sự nam. Sau này vẫn thiếu chỗ nên mình mua một miếng đất bên ngoài để xây một cư xá lớn cho các sư cô gọi là cư xá Mây Đầu Núi.
Cái hay của mấy anh chị Thanh niên Phụng sự Xã hội là họ rất chính xác. Khi nhận bao nhiêu tiền của mình thì thầy Đức Nghi phải làm giấy ký nhận đàng hoàng. Tới khi có 200 em tới tập sự xuất gia thì thầy Đức Nghi viết thư cho Thầy: “Thưa Thầy buổi sáng thấy 200 em đi thiền hành giữa đồi núi Bát Nhã mà con tưởng là trong mơ. Không biết làm sao mà có 200 người trẻ, người có lòng muốn tu như vậy. Con tưởng là trong giấc mơ.” Thơ đó bây giờ Chân Không vẫn còn giữ.
Năm 2005 Thầy về Việt Nam lần đầu. Ngày Tết Thầy giảng ở chùa Pháp Vân và có bói Kiều. Ai cũng thích môn bói Kiều, Chân Không giải thích đây là tâm thức cộng đồng chứ không phải là mê tín dị đoan và tưởng tượng. Khi tu có chánh niệm thì mình có thể chuyển hoá tâm thức cộng đồng yếu kém thành tâm thức cộng đồng tốt. Bói Kiều rất khoa học chứ không phải mê tín dị đoan. Nghe nói như vậy mấy ông cán bộ rất thích. Thầy bói Kiều từ 9 giờ sáng tới 11 giờ thì sau đó đại chúng sắp hàng nhờ Chân Không giải quẻ Kiều. Tới giờ cơm trưa Chân Không vẫn còn giải tiếp, có khi kéo dài tới 11 giờ khuya. Mình dựa trên tuệ giác của cụ Nguyễn Du rồi thêm pháp của Phật vào và mình giải thêm.
Có bà nói: “Tôi có một đứa con dâu dữ lắm, không cho tôi gặp đứa cháu nội nào hết.” Chân Không nói, con dâu bà cũng có tánh tốt, bà lựa tánh tốt của cô rồi bà khen, cô được tưới hoa thì cô mới cho cháu tới thăm bà chứ nếu bà cứ chửi cô hoài thì làm sao cô có thể đưa con tới thăm bà nội.
Bà khác thì nói:
“Nó là dâu mình chứ bộ bà nội mình sao mà sư cô bắt tôi khen nó?”
Chân Không nói:
“Con dâu bà thế nào cũng có tính tốt, nếu không thì tại sao con trai bà lại cưới? Bà khen sắc đẹp của con dâu cũng được như ‘con mặc áo xanh này đẹp quá’ hay ‘bữa nay con bới tóc này rất là dễ thương’. Bà chỉ cần nói vậy thì không khí giữa bà và con dâu sẽ dịu xuống.”
Vài ba hôm sau Chân Không đi chợ thì có bà bán quýt xin tặng một bó sen, bà bán ổi xá lị tặng bảy trái ổi làm Chân Không lớ quớ. Người tặng cái này người tặng cái kia, nói là cúng dường tại vì Chân Không bói Kiều hay quá. Bà đó nghe lời Chân Không về khen con dâu nên bây giờ con dâu dễ thương với bà lắm, ẵm con tới chào bà nội. Như vậy là mình dùng pháp môn giúp cho người căn cứ trên văn hoá Việt Nam của cụ Nguyễn Du.
Xong khoá tu ở chùa Hoằng Pháp thì mình đi thăm thầy Quảng Độ nhưng thầy không tiếp. Mình tới chùa Già Lam gặp thầy Tuệ Sỹ thì thầy Tuệ Sỹ cũng tránh mặt. Thầy Nhất Hạnh nói: “Thầy làm đúng bổn phận của Thầy còn người khác làm sao thì đó là chuyện của họ.” Thầy Trí Quang ngày xưa rất quý Chân Không. Trước khi được học giáo lý với thầy Nhất Hạnh thì Chân Không gặp thầy Trí Quang, thầy cho Chân Không rất nhiều sách quý của đạo Phật bằng tiếng Pháp. Nhưng Chân Không là một nhà hành động, không ưa viết lách nên không thích thú đọc mấy cuốn sách quá cổ điển đó. Chân Không không có thì giờ, thì giờ của Chân Không là chạy tìm gạo lo con nít bị mẹ bắt đi đánh giày ở vùng này, con nít không có trường học ở vùng kia. Thầy Trí Quang cũng có sự không vui, hồi trước nó là đệ tử của mình mà bây giờ nó theo Thầy Nhất Hạnh sát nút. Tại vì Thầy Nhất Hạnh trả lời được những thao thức của Chân Không, mở cho mình những cái kẹt thì mình làm đệ tử của Thầy. Thầy Nhất Hạnh có những cái thấy sâu sắc nhưng Thầy thiếu người để biến những cái thấy đó thành hành động. Thầy gặp Chân Không thì không phải chỉ có mình Chân Không theo Thầy mà cả nhóm bạn 60, 70 người bạn trai, gái, người nào cũng mê cùng làm việc giúp dân nghèo, làm trường học để giúp người đói khổ. Thầy Nhất Hạnh gặp những người bạn làm việc xã hội của Chân Không thì Thầy làm việc sát cánh với nhóm sáu bảy chục bạn ấy và một năm sau làm việc với 300 Thanh niên Phụng sự Xã hội. Thầy Nhất Hạnh hạnh phúc thấy công trình giúp dân quê của Thầy thành công, học trò và Thầy đều hạnh phúc. Nhưng thầy Trí Quang hơi buồn nên không thèm tiếp Chân Không. Thầy Trí Quang nói không tiếp ai hết ngoài Thầy Nhất Hạnh khi phái đoàn về Việt Nam năm 2005.
Hôm gần Tết 2019, Chân Không có đem quà tới đảnh lễ thầy Thanh Từ và đảnh lễ thăm thầy Trí Quang thì thấy thầy Trí Quang cũng đã yếu nhiều.
Trở lại chuyện thầy Huyền Quang năm 2005, tăng đoàn xuất sĩ và cư sĩ Làng Mai ở ngoài am của thầy Huyền Quang tụng kinh Bát Nhã nhưng thầy không mở cửa. Thầy không mở cửa thì cũng không sao, tiếc là không được nghe các sư em Tây phương tụng Bát Nhã Tâm Kinh bằng tiếng Anh và hát nhạc Phật tiếng Anh để thấy Phật giáo Việt Nam đã lan toả ra nước ngoài như thế nào. Phật tử Việt rưng rưng nước mắt. Riêng Chân Không rất thích tu viện Nguyên Thiều Bình Định, nơi thầy Nhất Hạnh được phép cho một khoá tu. Ngày xưa Chân Không gửi quà, gửi thuốc cho thầy Huyền Quang tại vì lúc đó thầy cần thuốc. Thầy đã viết thư cho Chân Không nói: “Cô đã từng vận động hơn 17.000 bức thư để thầy Tuệ Sỹ, thầy Trí Siêu không bị tử hình, một người phụ nữ như vậy rất hiếm có.” Mình tranh đấu hết sức bắt buộc nhà nước phải để cho mình thăm thầy, nhưng về tới đây thăm thầy mà thầy không mở cửa thì thôi, không sao cả. Ở Phật học viện Nguyên Thiều, trời nóng quá thầy Nhất Hạnh ngồi giảng dưới gốc cây xoài. Nhìn thấy cả chục, cả trăm trái xoài xanh đong đưa thì Chân Không thấy sướng quá chừng. Hồi xưa Phật giảng ở vườn xoài của bà Ambapali thì bây giờ Chân Không ngồi trong vườn xoài nghe Thầy mình thuyết pháp rất hạnh phúc cho nên thầy Huyền Quang không tiếp mình cũng không mất hạnh phúc gì hết.
Đề nghị sáu điểm
Sau đợt về đầu tiên thì chính phủ có mời thầy Nhất Hạnh vào gặp ông thủ tướng. Thầy có tính mắc cỡ, không biết vô gặp thủ tướng để làm gì. Nhưng nếu thủ tướng muốn nghe tiếng nói của một người gần gũi dân chúng tại vì trong khi đi giảng Thầy cũng có lắng nghe các thầy và lòng dân ở địa phương thì Thầy đồng ý gặp và đưa lên chính phủ sáu điểm đề nghị để giúp chính phủ hiểu và gần với dân hơn. Sáu điểm đề nghị là dành cho những đảng viên. Thầy chỉ muốn họ mở lòng ra để trở thành Đảng Cộng sản Việt Nam thuần tuý như là biết thờ cúng ông bà. Mình đốt nhang trước bàn thờ thì mùi nhang tượng trưng cho trí tuệ. Mình đứng trước đền Hùng thắp nhang không có gì là mê tín dị đoan hết. Mình thắp hương của sự trong sạch, sự thanh khiết của mình cho đất nước. Vì vậy người Cộng sản Việt Nam phải biết thờ cúng ông bà, thờ cúng tổ tiên, giữ gìn cái hay của văn hoá đất nước.
Đề nghị bảy điểm
Sau đó Thầy đề nghị bảy điểm cho dân. Chân Không không nhớ rõ hết bảy điểm, quý vị muốn tìm hiểu thì xin coi trong Lá thư Làng Mai.
Chính phủ đồng ý cho Làng Mai sinh hoạt ở Việt Nam với điều kiện là Làng Mai trở thành một thành phần trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thầy đề nghị nhà nước không nên làm như vậy. Ở các nước văn minh, bên Công giáo chỉ có một Giáo hội Vatican nhưng bên Phật giáo thì có nhiều Giáo hội như Giáo hội của Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Nam tông… Có bốn, năm Giáo hội Phật giáo cũng đâu có sao, tại sao phải có một Giáo hội thôi? Bên Mỹ cũng có 42 Giáo hội Tin Lành đâu có sao? Từ từ dưới áp lực của Hoa Kỳ nhà nước Việt Nam cũng cho phép hai, ba Giáo hội Tin Lành. Bên Thiên Chúa giáo thì đức giáo hoàng không chịu nên còn bàn bạc. Còn Phật giáo thì chỉ có một Giáo hội Phật giáo thuộc nhà nước thôi.
Lúc sau thấy có đông thầy và sư cô quá mà không lẽ bắt họ chỉ đi giảng ở nước ngoài nên mình muốn xin phép mà cho tới
bây giờ nhà nước chưa đồng ý, đòi mình phải vô Giáo hội nhà nước. Mình không hấp tấp, nếu chưa độ được người ở Việt Nam thì mình độ người Tây phương ở hải ngoại. Ngày nào có nhân duyên đầy đủ thì mình sẽ độ thôi.
Chuyến về Việt Nam lần thứ hai và sự phát triển của Bát Nhã
Hai năm sau đó Thầy về Việt Nam lần thứ hai để lập trai đàn chẩn tế và ghé thăm Bát Nhã. Đệ tử Thầy ở Bát Nhã đã lên đến hơn 200 người, toàn là người trẻ đầy sức sống và tu học rất tươi vui. Họ được nghe Thầy giảng pháp qua internet mỗi tuần và sinh hoạt giống hệt như ở Làng Mai. Các buổi lễ xuất gia cũng được Thầy truyền giới qua internet. Lực lượng tu sĩ trẻ này đã đóng góp rất nhiều cho các buổi lễ Trai đàn Chẩn tế ở Huế và ở Hà Nội. Những ngày quán niệm cuối tuần và các khoá tu đã thu hút rất đông sự yểm trợ của giới cư sĩ toàn quốc và đã có khoá tu tiếng Anh dành cho tăng thân Đông Nam Á được tổ chức ở đây.
Chuyến về Việt Nam lần thứ ba và sự kiện Bát Nhã
Năm 2008, Thầy về Việt Nam lần thứ ba cho sự kiện lễ Vesak lần đầu được tổ chức ở Việt Nam. Vì nhiều nguyên nhân tế nhị trong Giáo hội và Ban Tôn giáo Chính phủ cũng như vì thấy sinh hoạt của người trẻ ở Bát Nhã lớn mạnh nhanh chóng, lúc này đã lên đến gần 400 người nên thầy Đức Nghi rút lại lời hứa, không bảo lãnh cho các tăng ni sinh được tạm trú ở Bát Nhã nữa. Không ở Bát Nhã thì đi đâu? Nên họ tạo nhiều khó khăn trong sinh hoạt, cấm Phật tử tới, cấm tổ chức ngày quán niệm, cho người doạ nạt, để loa 24/24 ầm ầm vô Bát Nhã, mình cũng im lặng và ngồi thiền nhiều hơn, thở nhiều hơn và tụng kinh trong im lặng. Họ cho người tới xét giấy từ 7 giờ tối tới 12 giờ khuya. Mấy cô mấy thầy nói:
“Tội mấy bác công an quá, giờ này đáng lý bác phải về nhà với vợ con. Bác làm việc cả ngày rồi. Thôi để con tặng bác một bài hát.”
Rồi mình hát hết bài này tới bài kia:
“Để tụi con làm thiền trà để đãi mấy bác nha.”
Thầy viết thư dạy: “Con đừng buồn. Họ vô minh không hiểu mình thì mình cứ ăn ở cho dễ thương. Từ từ cái dễ thương của mình hiển lộ ra. Đừng giận! Con nên tập đi một bước chân trong chánh niệm. Đó là đi những bước chân huyền thoại rồi. Nói một lời nói đầy tình thương và sự hiểu biết, đó là lời nói huyền thoại. Con phải giữ từng lời nói, từng bước chân như những lời nói huyền thoại, từng bước chân huyền thoại.” Sau họ mướn người tới chửi. Người chửi đó đi hái trà thì mỗi ngày lãnh 30 ngàn đồng, còn đi chửi nguyên ngày thì họ lãnh 300.000 đồng. Nhiều người chửi nguyên ngày thấy kỳ quá nên thôi, không nhận lời đi chửi dù tiền lương cao bằng mười lần hơn. Lương tâm họ không cho phép họ làm như vậy. Sau họ phải mướn những người ngoài Bắc. Sở dĩ Chân Không biết như vậy là tại vì có mấy sư cô là con, cháu cán bộ cao cấp ở ngoài Bắc. Một bữa cô thấy một nhóm ở Thái Bình vô, nhận ra là người thường đến nhà chú mình:
“Ủa chú, chú thường tới nhà chú của cháu mà, sao chú lại ở đây?”
Ông kia giơ tay lên suỵt:
“Cô đừng nói, tôi đi vô đây làm việc ba ngày. Tôi đã làm việc (chửi) hai ngày rồi, còn một ngày nữa thì tôi về.”
Chửi hoài cũng không được thì ngày đó họ quyết định hành động. Hôm đó trời mưa lớn, mấy thầy đang ngồi thiền thì họ lại khiêng các thầy từ tầng ba xuống dưới đất rồi liệng ra ngoài sân. Thầy này móc tay thầy kia làm thành một vòng xích. Họ thuê taxi tới và công an kéo mấy thầy bỏ vô xe nhưng vừa chạy được khoảng một cây số thì anh taxi mở cửa cho mấy thầy đó xuống. Mấy thầy đi bộ mười mấy cây số ra Bảo Lộc vào chùa của thầy Thái Thuận. Thầy Thái Thuận không thích thầy Đức Nghi. Thầy đã từng viết thư cho Thầy mình khuyên đừng nên tin thầy Đức Nghi. Nhưng mình thấy thầy Đức Nghi nhận của mình cái gì thì cũng ký biên nhận đàng hoàng. Mình nghĩ chắc thầy Đức Nghi bị áp lực nào đó nên cũng thương thầy. Sau khi mấy thầy đi vào chùa Phước Huệ của thầy Thái Thuận thì mấy sư cô cũng phải rời Bát Nhã đi ra đó. Thầy Thái Thuận thấy mình bị đuổi nên đem về nuôi hết. Nhưng công an lại tới bắt buộc thầy Thái Thuận phải đuổi mình. Tội nghiệp thầy Thái Thuận bị áp lực và quấy nhiễu quá chừng. […]
Được tin này, Thầy rất buồn, cuối cùng cầm bút khuyên tất cả các con nên tạm rời chùa Phước Huệ. Ai đi đâu được thì đi. Nếu báo chí đăng tin thầy tu này đâm thầy tu kia thì xấu và dơ quá. Thương quá. Có một số đi về Bắc được sư cô Đàm Nguyện giấu ở chùa Lại Đà, có người về miền Thừa Thiên thì may mắn được ông trưởng ban trị sự Giáo hội PGVN tỉnh Thừa Thiên Huế thương nên không đuổi, cho ở tạm chùa Từ Hiếu và chùa Diệu Nghiêm. Chùa Diệu Nghiêm cũng bị xúi đuổi mình nên mình phải xây Diệu Trạm. Trong khi xây Diệu Trạm thì mình về ở tạm chùa Tây Linh với ni sư Như Minh. Một số đi qua Campuchia. Một số qua Thái Lan và sau đó Làng Mai Thái Lan hay tu viện Vườn Ươm được thành lập.
Tại sao mình có các trung tâm ở Á Châu? Mình nghĩ chỉ lập một trung tâm đàng hoàng ở Việt Nam thôi thì năm 2004 toà đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ xin gặp Thầy. Sư cô Chân Không nói:
“Muốn gặp thiền sư thì phải là thiền sinh tu học ba bốn ngày thì cuối tuần mới có được một tham vấn. Mời quý vị đến Tu viện Lộc Uyển chúng tôi tu ba bốn ngày nhé.”
Mấy ông nhân viên của toà lãnh sự Việt Nam ở San Francisco đồng ý ngay. Họ ở ba ngày rồi được gặp Thầy. Họ nói muốn mời Thầy đi về Việt Nam một chuyến. Mình biết rõ là đồng bào mình ở hải ngoại chia làm hai nhóm, nhóm chống Cộng thấy mình về Việt Nam thì cho mình là Cộng sản. Nhưng Thầy sau đó hỏi ý bàn bạc với các con xuất gia lớn của Thầy và Thầy nói mình không thể bỏ 80 triệu đồng bào của mình sống chết mặc họ được. Dù theo bên nào thì họ cũng đều là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Thầy đưa điều kiện với chánh quyền đương thời ở Việt Nam là:
10 cuốn sách của Thầy phải được cho xuất bản chính thức tại Việt Nam trước khi thầy về nước.
Họ xin một nhóm thương thuyết và giải thích cặn kẽ tại sao phải in trước mười cuốn sách đó…
Thầy đề nghị phải cho phép thầy đi với 100 học trò xuất gia và 200 học trò tại gia, được đi thăm từ Bắc, Trung, Nam Việt Nam và ở mỗi miền Thầy phải được đến những nơi của chư Tổ ngày xưa.
Quan trọng nhất là Thầy được gặp các vị trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Ngày xưa Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất gửi Thầy đi hải ngoại, cử Thầy đại diện Giáo hội đi kêu gọi hoà bình. Nay quý hoà thượng Thiện Hoà, Thiện Hoa, Thiện Minh đã tịch. Bây giờ hết chiến tranh chỉ còn quý Hoà thượng Huyền Quang và Quảng Độ. Thầy vẫn là bạn của họ. Nếu về, được nhà nước tiếp đón trọng thể mà không gặp họ thì mình là con người phản bạn không có tư cách của một con người bình thường. Mình gặp họ là vì tình bạn. Nếu nhà nước không đồng ý thì Thầy không về. Thầy muốn gặp Thầy Huyền Quang, Thầy Quảng Độ, còn thầy Tuệ Sỹ là học trò của Thầy, là đệ tử lại học rất giỏi nên Thầy cũng muốn gặp.
Một trăm con xuất gia của Thầy phải được ở chùa.
Đại diện Phái đoàn Làng Mai cùng lập chung với đại diện chánh quyền lộ trình sinh hoạt của Thiền sư cùng 100 tu sĩ và 200 cư sĩ đi theo từ ngày nào đến ngày nào.
Thầy Pháp Ấn phải bay sang San Francisco họp mỗi ngày, hai bên làm việc chung 4 giờ buổi sáng 4 giờ buổi chiều, chia sẻ nhau thật nhiều chi tiết. Hai vị tham tá họp đại diện chính quyền Việt Nam điện thoại về Việt Nam hỏi từng điểm. Bên này thầy Pháp Ấn điện về Pháp hỏi Thầy từng điểm: Mười cuốn sách của Thầy là cuốn nào, đại cương nội dung ra sao, tại sao là quyển này mà không phải là những quyển sách khác, tại sao phải có 200 cư sĩ đi theo, ngày nào, thuyết pháp ở đâu, đề tài gì, nội dung nghĩa là sao, tại sao phải đi thăm Thầy Quảng Độ, tại sao phải đi thăm Thầy Huyền Quang.
Cuối cùng thì bên chính quyền Việt Nam cũng chịu. Mình viết một lá thư tường trình cho Hoà thượng Huyền Quang, Hoà thượng Quảng Độ tại sao mình phải về và nhờ nhà nước chuyển các bức thư đó. Nhưng Ban Tôn giáo trong nước đã ém nhẹm thư của Thầy gửi cho hai vị Hoà thượng. Vì sự ém nhẹm ấy nên sự liên lạc không được tốt. Vì thế nên khi Thầy về thì mấy Thầy kia hơi giận. Họ còn bị các chính trị gia ở Paris nói ra nói vô nên họ nghĩ là Thầy Nhất Hạnh đã đầu hàng, đã phản bội họ.
Ba tháng về nước Thầy Nhất Hạnh từ chối không cho báo chí phỏng vấn. Khi báo chí phỏng vấn thì Thầy nói Thầy mới về Việt Nam, chưa biết tình hình ra sao nên không tuyên bố gì hết. Đại diện Thông tấn xã Pháp Agence France Presse phỏng vấn Chân Không, hỏi vì sao nhà nước Việt Nam mời Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà không mời thầy tu Phật giáo Việt Nam khác ở hải ngoại. Chân Không nói:
“Thường thì Thầy chúng tôi Thích Nhất Hạnh chỉ thuyết pháp những lời dạy của Bụt và vì thế từ chối không cho ai treo cờ của bất kỳ chính quyền nào trong lúc thuyết pháp.” […]
Ý của Chân Không trong câu trả lời là Thầy Nhất Hạnh đi giảng Phật pháp không chen vô chính trị. Vì vậy cho nên chính quyền Việt Nam thấy thế đứng của Thầy rất độc lập, rất Phật giáo chứ không theo bên này hay bên kia. Nhưng khi mấy ông chính trị gia người Pháp dịch lại cho các thầy trong nước nghe thì họ bóp méo, nói rằng Chân Không tố các thầy trong nước lén treo cờ của chính quyền cũ trong chùa. Các thầy trong nước hiểu lầm cho nên khi Chân Không liên lạc với Hoà thượng Quảng Độ để xin gặp thì thầy Quảng Độ từ chối.
Trong những năm đầu, thầy Quảng Độ bị lưu đày ở miền Thái Bình, Vũ Thư, Vũ Đoài. Trong lúc còn bị lưu đày nhà nước bắt thầy tự túc, đói khát. Biết khí hậu ở đó rất lạnh nên Chân Không tìm cách gửi cho thầy thuốc men có thể đổi được thành tiền, và gửi hai áo Thermolactile rất ấm mà mỏng cho thầy. Thầy Quảng Độ rất thích, thầy cảm động và khen Chân Không khéo chọn áo ấm. Cứ thỉnh thoảng thầy Quảng Độ gửi cho Chân Không rất nhiều bài thơ thầy sáng tác trong tù. Bên này thầy Nhất Hạnh đã cho Chân Không đánh máy, Thầy bỏ dấu tiếng Việt thật công phu và cho đăng dưới tên Thích Cao Đăng cùng với nhiều bài văn, thơ viết từ trong tù của những thầy tu khác và những văn nghệ sĩ liêm khiết như Doãn Quốc Sỹ, Trần Kha, Linh Thoại. Những ấn phẩm của các nhà văn trong nước phát hành bởi Lá Bối hải ngoại dưới tên Tắm mát ngọn sông đào có bài của Thích Cao Đăng là của Hoà thượng Quảng Độ đó.
Nhưng sau này nghe lời các chính trị gia Paris bóp méo sự thật nên thầy Quảng Độ hiểu lầm, nghĩ là mình phản bội nên không tiếp Phái đoàn của Thiền sư Nhất Hạnh về nước xin thăm viếng ân tình với thầy. Thầy không tiếp thì thầy trò Làng Mai cũng chịu thôi, tại vì thầy Nhất Hạnh về không phải là vì thầy Quảng Độ và thầy Huyền Quang mà là vì 70 – 80 triệu đồng bào Việt Nam, cho dù là ở Việt Nam có chế độ gì đi nữa thì Thầy cũng phải về. Hai trăm đứa con tinh thần của thầy cùng về quê hương tâm linh của cha tinh thần. 100 xuất sĩ và gần 200 cư sĩ theo Thiền sư Nhất Hạnh đi Bình Định thăm thầy Huyền Quang và cho một khoá tu bốn ngày cho xuất sĩ Phật giáo Việt Nam. Mình đi Bình Định như trong chương trình đã vạch sẵn thì thầy Huyền Quang cũng không tiếp. Tuy đi thăm “hụt” thầy Huyền Quang ở Bình Định, Chân Không vẫn hạnh phúc vô cùng vì lần đầu tiên được nghe Pháp Bụt do Thiền sư Nhất Hạnh thuyết trong một khu vườn. Ở đó có những trái xoài đong đưa lủng lẳng, đẹp ơi là đẹp. Ôi vườn xoài của nữ sĩ Ambapali cúng dường Bụt để dân trong vùng ngồi nghe thuyết pháp chắc cũng mát mẻ và đẹp như vườn xoài hôm nay thôi.
Trong chương trình đi giảng dạy từ Bắc chí Nam, hai bên đồng ý gì với nhau thì mình thực hiện đầy đủ hết. Nhưng lúc sau này Thầy khám ra sự liên hệ sâu sắc giữa khoa thần kinh học (neuro-science) và tâm học Phật giáo nên Thầy muốn tới dạy ở các trường Đại học. Dạy ở trường Đại học thì người nghe mới hiểu. Nhưng người thương thuyết không chịu, tại vì dạy trong chùa cho đại chúng bình thường thì không sao mà dạy trong trường Đại học cho các sinh viên thì khác, mình không biết được phản ứng của sinh viên. Chính quyền Việt Nam không đồng ý, Thầy nói không đồng ý thì Thầy không về. Vài ngày sau thì họ trả lời là đồng ý với điều kiện là Thầy giảng trong trường Đại học của Đảng tức là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Sinh viên ở đó toàn là đảng viên cao cấp. Thầy rất vui vì trường Đại học nào thì cũng giống nhau. Thầy cũng muốn giảng ở Viện Nghiên cứu Tôn giáo, bởi ngoài là một nhà Phật học ra, Thầy còn là một sử gia, nên Thầy muốn giảng về chủ đề lịch sử Phật giáo Việt Nam tại Viện Sử học Hà Nội. Cuối cùng họ cũng chịu. Viện thì có khoảng 300 chỗ nhưng cuối cùng họ chỉ cho sắp 80 chỗ, phân nửa cho viện và phân nửa cho mình mời khách.
Buổi giảng đầu tiên khi Thầy về là ở chùa Đình Quán, còn buổi giảng thứ hai là ở Viện Sử học. Thầy giảng rất là có tình thương, sâu sắc, đẹp đẽ. Thầy giảng từng bài kệ của các thiền sư. Sau buổi giảng đầu tiên ở chùa Đình Quán, công an thấy ông thầy này giảng dễ thương quá nên hôm sau họ mới chính thức cho phép mình giảng ở Viện Sử học. Từ từ họ mở lòng ra và mình có buổi giảng ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Các giáo sư của Học viện nắm rất vững lý thuyết Marxisme nhưng họ hỏi câu nào thì Thầy cũng trả lời rât thâm sâu, khiêm cung nên các vị giáo sư rất thương quý lời chia sẻ sâu sắc của ông thầy này.
Mình đánh máy hết buổi giảng, in liền tại chỗ thành một cuốn sách có tên là Cho đất nước đi lên. Nếu các nhà chính trị mà có tuệ giác của Phật thì đất nước mới đi lên được.
Thầy Nhất Hạnh là trụ trì của chùa Từ Hiếu từ khi Sư Cố tịch. Sư Cố để di chúc giao chùa Từ Hiếu cho thầy Nhất Hạnh và giám tự là thầy Chí Mậu. Thầy Nhất Hạnh có nhiều sư anh nhưng Sư Cố không không giao mà năm 1968 trước khi tịch lại để di chúc giao chức trụ trì Từ Hiếu cho Thầy Thích Nhất Hạnh thôi. Trong chuyến về này có 19 người trẻ được xuất gia với Thầy ở chùa Hoằng Pháp và một số đông người trẻ khác cũng có ý muốn xin được tu học và xuất gia theo Thầy nên mình cần một chỗ cho các em nữ đó ở vì bên nam đã có chùa Từ Hiếu rồi.
Mình thương thuyết với sư bà Diệu Nghiêm ở chùa sư nữ kế bên. Chùa này cũng thuộc Từ Hiếu, ngày xưa Sư Cố từng làm trụ trì của Diệu Nghiêm. Nhưng sau khi được đề cử tấn phong trụ trì Từ Hiếu thì Sư Cố giao cho sư bà Diệu Trí làm trụ trì tạm để khi Sư Cố có đệ tử nữ thì cho họ về ở. Mình xin phép sư bà cho mấy em tập sự xuất gia về ở đó. Tuy Diệu Nghiêm là của Từ Hiếu nhưng bây giờ đã có một chúng ni ở đó nên số lượng người ở đông quá có nhiều bất tiện, quý sư cô Diệu Nghiêm hay rầy rà và cố ý gây khó dễ nên mình quyết định rời Diệu Nghiêm vào tu học trong tu viện Bát Nhã ở Bảo Lộc.