Phụ lục 2: Từng bước nở hoa mai

Làng Mai Pháp – Xóm Thượng

Thất Ngồi Yên

Thiền đường Nước Tĩnh

Tháp chuông Mùa Xuân

Tháp chuông Mùa Thu

Làng Mai Pháp – Xóm Hạ

Cư xá Đồi Mận (1984)

Cư xá Đồi Mận (2016)

Quán sách

Cư xá Mây Tím

Văn phòng và Thiền đường Nến Hồng

Thiền đường Hội Ngàn Sao

Tháp chuông Đại Hồng

Rừng bạch dương

Thiền hành cùng Sư Ông tại rừng bạch dương

Thiền hành quanh hồ sen Xóm Hạ

Làng Mai Pháp – Xóm Mới

Tháp chuông Đại Hồng mùa mai nở

Sân Chim

Thiền đường Trăng Rằm

Làng Mai Bắc Mỹ – Tu viện Bích Nham

Đường vào tu viện

Cổng vào tu viện

Bên trong tu viện

Thiền đường

Bên trong Thiền đường

Thiền đường mùa đông

Làng Mai Bắc Mỹ – Tu viện Lộc Uyển

Thiền đường Thái Bình Dương

Tháp thầy cố trụ trì đêm trăng

Ngồi thiền trên đỉnh núi

Làng Mai Bắc Mỹ – Tu viện Mộc Lan

Làng Mai Âu châu – Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB)

Làng Mai Á châu – Tu viện Vườn Ươm Thái Lan

Quy hoạch tổng thể Tu viện Vườn Ươm

Cổng vào Tu viện

Thất Nhìn Xa từ trên cao

Thất Nhìn Xa

Thiền đường Tình Huynh Đệ xóm Trời Quang

Thiền đường Voi Trắng

Ni xá

Đi thiền hành trên đất mới

Bên ngoài thiền đường xưa

Tăng xá xưa

Làng Mai Á châu

Chùa Liên Trì

Ni xá Nhập Lưu, Porcupine Ridge

Thiền đường Thanh Lương Địa, Beaufort

Họa sĩ Minh Đăng Khánh

Khi tôi sang Pháp thì anh Minh Đăng Khánh có lẽ chưa nổi tiếng nên tôi chưa hề biết mặt anh. Minh Đăng Khánh ở trong nhà tù không làm gì giúp được vợ con nhưng biết tin tôi thường gửi quà cho các con anh. Một hôm nọ tôi chợt nhận được một gói quà khá đặc biệt. Đó là cái cái lược bằng kim khí (nhôm hay hay sắt) có khắc chữ: Thân quý tặng cô Phương Hương và có bức thư viết: “Chúng tôi lượm được một mảnh bom. Nó tương đối nhỏ và hơi dẹp. Danh hài Khả Năng đề nghị hai anh em mài miếng bom này cho dẹp như cái lược và khắc tặng cô Phương Hương. Tôi thấy vợ tôi có vẻ không vui gì khi đi thăm nuôi nên không biết quà cô gởi về các con tôi có nhận được hay không. Anh Khả Năng nói, mình vừa làm vừa niệm Phật thì quà của cô sẽ đến tay các cháu.” Chân Không khóc cả ngày khi đọc những dòng này. Hiện tại trong Sơn Cốc của Thầy ở Làng Mai có một tấm tranh nhiều màu đỏ vàng xanh dương xanh lục, có vẻ trừu tượng, ghi là tác phẩm cuối của Minh Đăng Khánh. Sau này có một bức thư của Lê Thương cho biết vợ của hai anh Khả Năng và Minh Đăng Khánh không tha thiết gì tới chuyện đi thăm nuôi nên có lẽ vì thế mà hai anh phải niệm Phật cầu mong cho quà tới tay các con của mình.

Nhà văn Duyên Anh

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long. Tôi thích nhà văn Duyên Anh vì anh hay viết các tập truyện ngắn cho tuổi trẻ như Con sáo của em tôi… Anh viết về các trẻ em đường phố như Dzũng Đa Kao nên tôi rất có cảm tình với anh. Phải kiên nhẫn lắm tôi mới liên lạc được với gia đình anh Duyên Anh. Trở ngại thứ nhất là các bạn quen tôi và biết Duyên Anh có những câu phê bình về vợ chồng Duyên Anh như: “Họ còn giàu lắm, không thiếu thốn gì đâu, cho quà uổng! Họ không cần đâu.”

Khi liên lạc được với chị thì lại có nhiều trở ngại khác như bị nghe chị than phiền về anh. Nhưng tôi vẫn kiên tâm trân quý nhà văn cho tuổi thơ bất hạnh. Đôi khi vẫn còn buồn phiền vì các điều không như ý khi sống bên nhau ngày trước nên vợ của Duyên Anh có viết nhiều phê bình về ông chồng hời hợt của mình. Nhưng thầy Nhất Hạnh, Thầy chúng tôi dạy: “Thương thì thương cho trọn, chỉ đứng về phe thương mà không trách móc gì hết”. Từ trong nhà tù tăm tối anh Duyên Anh đã viết cho cô Angelina Nguyễn (giả danh của Chân Không): Từ khi nhà tôi gửi vào cho tôi những viên thuốc B1, B6, B12 và nói về cô, tôi thật như đứa trẻ côi cút đói khát mà biết được rằng có người vẫn để phần ăn cho mình. Cô Angeline ơi, cô quả thực là Bụt trong truyện Tấm Cám. Một hôm trong khi bị đi lao động trong rừng, tôi nhặt được miếng gỗ mun, biết cô là người đạo Phật, tôi bỗng thấy như được đức Phật từ bi giáng sinh trong chốn tù đày tăm tối này, tôi âm thầm cắt gọt đục đẽo miếng gỗ đen trong tay, màu đen này là tự thân màu của miếng gỗ cô nhé, tôi không phải pha màu.

Bức tượng Bụt cao 4cm, rộng 3cm, dày 0.8cm đang nằm trên bàn thờ ở Sơn Cốc Làng Mai như niềm hy vọng của các bạn không may còn bị giữ trong tù. Những năm 1976 đến 1982, tôi vẫn còn ở Phương Vân am, đang trên đường đi tìm đất làm Làng Hồng tại Pháp và có nhiều bạn quý đã từng giúp tôi trong thời gian kêu gọi Hoà Bình cho Việt Nam. Từ Phương Vân am với chiếc máy in Gestetner, loại làm việc văn phòng, nhỏ xíu nhưng có luôn máy cắt, tôi mua giấy nhiều màu xanh trời, xanh lá, màu cam, đỏ, vàng, làm nhiều chương trình vận động thả tù nhân qua đường bưu điện. Giấy cỡ 21cm x 29,7cm, dày 120mg, tôi mua về cắt làm bốn postcards. Tôi dùng máy cắt một tờ giấy carton 120gr làm bốn, màu xanh gửi đi Hà Lan, màu tím gửi đi Thuỵ Sĩ, màu cam gửi đi Hoa Kỳ, màu vàng gửi đi Ý Đại Lợi… Mỗi nơi tôi nhờ tăng thân địa phương vận động, như ở Ý tôi nhờ chị Hedi Vaccaro với vài chục tăng thân địa phương quanh vùng Rome, Sicilia, Milano, Torino. Tôi nhờ các bạn vận động chữ ký và tên địa chỉ người gửi yêu cầu chánh phủ Việt Nam thả tám người tù chính trị. Trên postcard mình đã in sẵn một câu dễ thương, khen nhà nước có đổi mới và xin xét giùm có tám trường hợp này thôi, ví dụ Doãn Quốc Sỹ ở trại giam Z30, số tù là gì, Lý Đại Nguyên T38, Vũ Mộng Long (Duyên Anh) Z80… Nhờ cách vận động này chúng tôi đã xin thả được một số văn sĩ tên tuổi. Vì xin lẻ tẻ (8 người một lần) nên nhà nước dễ giải quyết. Lúc trước chúng tôi gửi qua Amnesty thì lần đầu có danh sách 48 người, lần thứ hai là có tên 54 thầy tu. Con gái anh Lý Đại Nguyên viết cho cô Chân Không: “Bố con rất khinh thường người có quyền nên cứ bị đưa vào cát sô (cachot tức hầm nhốt riêng từng người tù lì lợm khó dạy của quản giáo) hoài cô ạ. Vì thế nên khi quản trại đọc tên những người chuẩn bị được ra tù thì tất cả tù nhân đều thốt ra ngạc nhiên: ‘Chàng Nguyên, Lý Đại Nguyên lì sắp được ra!’ Khó ai tin được điều này. Thế mà bố con cũng được ra cô ạ. Chúng con biết sự kiện này chắc có bố sư cô (là thầy Nhất Hạnh) nói ra nói vào sao đó nên bố của con mới được về!” Thật ra là chỉ nhờ những postcard đỏ đỏ xanh xanh khắp nơi trên thế giới mà tôi đã tẩn mẩn nhờ các bạn vô danh của tôi gửi về mà thôi.

Viết về Duyên Anh, tôi phải mượn lời của nhà báo Vĩnh Phúc, bạn khá thân của gia đình Duyên Anh: Theo tôi, trong Duyên Anh có hai con người. Nếu muốn cũng có thể bảo rằng hai con người đó tượng trưng cho hai mặt tốt và xấu của Duyên Anh. Mặt xấu chính là Duyên Anh làm báo, dưới những bút hiệu như Thương Sinh, Bếp Nhỏ, Thập Nguyên, Mõ Báo… Vì “đánh đấm” lung tung nên bị nhiều người oán ghét. Còn Duyên Anh nhà văn, nhất là nhà văn của tuổi thơ, nhà văn viết cho tuổi ô mai, Duyên Anh chủ trương tuần báo Tuổi Ngọc, thì trái hẳn lại, được nhiều người thương. Có ai đã đọc Con sáo của em tôi mà không thấy lòng mình chùng lại và dám nói là thù ghét Duyên Anh? Nguyễn Mạnh Côn là người đầu tiên đọc truyện ngắn này, thích quá, nên giới thiệu và chọn đăng ngay. Rồi Nguyễn Mạnh Côn bảo Duyên Anh, “Cậu viết hay quá! Nhưng tôi sợ rằng viết như thế này, cậu sẽ không thọ!” Và câu nói của Nguyễn Mạnh Côn đã như một lời tiên tri: Duyên Anh lìa đời cách đây 20 năm, khi mới 63 tuổi. Vào thời buổi này, với những điều kiện vật chất văn minh và đầy đủ, mà sống có bấy nhiêu năm thì quả là “yểu mệnh” thật.

Những cuốn sách của Duyên Anh:

Hoa thiên lý

Ðiệu ru nước mắt

Luật hè phố

Thằng Vũ

Dấu chân sỏi đá

Dzũng ÐaKao

Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang

Bồn Lừa

Ảo vọng tuổi trẻ

Gấu rừng

Cỏ non

Ngày xưa còn bé

Nặng nợ giang hồ

Mùa thu

Con suối ở Miền Ðông

Danh ná (truyện tuổi nhỏ)

Cầu Mơ

Ánh lửa đêm tù

Ánh mắt trông theo

Thằng Côn

Trường cũ

Tuổi 13

Nhà tôi

Chương Còm

Mặt trời nhỏ

Lứa tuổi thích ô mai

Giặc ôkê

Đồi Fanta (truyện)

Khi Duyên Anh được thả về, anh tìm cách vượt biên ngay, vợ con chờ anh sang định cư trước rồi xin đoàn tụ sau. Cháu Vũ Nguyễn Thiên Chương (anh hay gọi là Chương Còm) con cả của Duyên Anh vượt biên trước rồi mới đến anh. Sau khi cả gia đình sang đây rồi thì anh chị được mời tới Làng Hồng chơi. Thiền hành, pháp đàm, thiền toạ, nhất là pháp thoại của Thầy thì tuyệt vời. Nhưng Duyên Anh nói thiệt với tôi là ở đây chỉ thiếu phở gà, phở bò thôi. Trong tương lai anh chị sẽ cố gắng mua cái nhà ở gần Làng, sẽ qua Làng tham dự các thứ tu tập có ích lợi này nhưng sẽ có phở gà hay phở bò cho thiền sinh nào thèm mặn. Sướng chưa? Anh tính phá đám như vậy đó! Vì thế nên chị và các cháu chưa bao giờ về Làng lần thứ hai, có lẽ cũng vì quý vị linh mục ở Paris cũng rất quý mến và lo cho gia đình anh đủ thứ.

Đang vắng tin anh thì bỗng tháng 4 năm 1988 cháu Thiên Sơn, con trai út của Duyên Anh điện thoại báo tin bố cháu bị du côn ở Orange County ở Hoa Kỳ đánh té bất tỉnh, hôn mê nặng và xin sư cô giúp với. Có hai quyển sách của anh in ở Pháp được quý vị linh mục giúp dịch và tìm nhà xuất bản tốt nên tôi biết anh Duyên Anh được bảo hiểm xã hội của những nhà văn như Thầy chúng tôi. Tôi nhắc cháu Sơn nên nhờ ngay quý linh mục lo in sách cho biết thuộc nhà xuất bản nào. Bảo hiểm lấy tiền của nhà xuất bản đó sẽ lo cho anh toàn vẹn vừa đưa phi cơ đặc biệt cho anh về Pháp không tốn tiền, bảo đảm nhập viện, trả công bác sĩ, thuốc men nghiêm minh. An ninh xã hội của Pháp về sức khoẻ rất bảo đảm về việc này nên cháu đừng ngại. Trị liệu của Pháp cũng giỏi lắm, đừng sợ thua Hoa Kỳ. Cũng năm này tai nạn lớn thứ hai đến vào cuối năm khi cháu Vũ Nguyễn Thiên Hương con gái lớn của anh chị, sau khi có chồng là anh Mc Aree, đã cùng chồng đi Việt Nam thăm quê nội. Máy bay từ Hà Nội đi Bangkok bị cháy và hai vợ chồng đều chết trên chuyến bay từ Việt Nam sang Thái trước khi lên đường về lại Âu Châu. Thật là một tai nạn lớn cho gia đình anh chị Duyên Anh và Ngọc Phương. Chị Ngọc Phương có kể cho tôi nghe: “Có nhiều lần anh Duyên Anh bị vu oan, em tức quá đi thì nhà em hay an ủi em và cũng như tự an ủi: Này em, đừng có buồn. Bụt mà còn bị oan ức nhiều lần mà! (Anh được thầy Nhất Hạnh tặng cho bộ Đường xưa mây trắng, kể về của đời của Bụt Thích Ca do Thầy viết căn cứ phần nhiều từ các kinh Nam Truyền.) Anh chỉ bị oan có vài lần thôi, vậy thì có sá chi mà em phải tức giận.” Anh Duyên Anh có được Thầy mời cùng đi Hà Lan để dự một khoá tu do Thầy hướng dẫn cùng với Linh Mục Daniel Berrigan. Anh cũng rất thích. Nhưng sau này, thấy các vị linh mục khác giúp anh rất thành công để in hai quyển sách Một người Nga ở Sài Gòn Đồi Fanta nên chúng tôi cũng yên tâm, chưa dám mời anh về Làng lần thứ hai, sợ anh chị mở quán phở bò để dụ thiền sinh ngả mặn thì nguy! Không dè thiếu phần tu học, anh lại bị quá nhiều rủi ro dồn dập mà chúng tôi không có dịp chia bớt gánh lo âu của gia đình dễ thương này. Lần liên lạc cuối cùng chị nhờ tôi nhắn với các nhà xuất bản bên Việt Nam qua linh mục Nguyễn Ngọc Lan là chị không đồng ý cho họ tự ý in nhiều sách của Duyên Anh mà không có phép. Tôi có khuyên chị, nếu có những người cảm phục Duyên Anh vì tấm lòng anh ấy với tuổi thơ thì xin chị dễ dàng cho họ in đi. Thêm một người trẻ đọc những lời văn dễ thương của Duyên Anh, đánh động lòng hào kiệt của tuổi thơ, tuổi mới lớn thì Duyên Anh càng có thêm công đức. Tiền bản quyền cũng không có bao nhiêu đâu.

Hồ Dzếnh

Ngồi đây mà tôi cũng lấy làm xấu hổ với nhà thơ Hồ Dzếnh. Anh cũng nhận tôi là em gái, cũng chép tặng tôi nhiều bài thơ của anh. Nét chữ của anh đẹp như một bức tranh, rất đều đặn đẹp đẽ và nghiêm túc. Hồ Dzếnh không nằm trong danh sách những người trong Nhân văn Giai phẩm xây dựng góp ý với chính quyền, nhưng vì có gốc lai Trung Hoa nên cũng bị cho ra biển trên một chiếc bè mong manh đẩy những người lai Trung Hoa về nước. Chị Hồng Nhật, vợ anh phải kéo anh về giấu trong nhà và phóng hoạ to bức ảnh chụp trong ngày chiến thắng chị mang hoa tặng cụ Hồ làm bùa hộ mệnh. Với một ít quà cáp cho công an nằm vùng, anh chị mới được yên. Quà cáp ấy là của chị Hồng Phúc, chị là cố nhân của anh Hồ Dzếnh. Ngày xưa, hai người yêu nhau vào tuổi 15, 16.

Tôi biết địa chỉ của anh nhờ chị Hồng Phúc có chồng Pháp và đang ở vùng ngoại ô Paris. Chị theo chồng về Pháp nhưng khi về Hà Nội vẫn thăm vợ chồng anh Hồ Dzếnh và mang quà của tôi về cho anh chị. Tôi xin anh chép với thủ bút của anh vài bài thơ mà tôi thích. Anh Hồ Dzếnh có những câu thơ lạ lẫm và nổi tiếng:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân,
Ngó trên tay khói thuốc lá lụi dần…
Tôi nói khẽ: Ôi, làm sao nhớ thế!

Mình nhớ cái hình ảnh mình tưởng tượng về nàng. Nhưng thực tại của nàng thì mình chỉ với tới được khoảng 10% thôi còn 90% kia là tưởng tượng.

Hoặc:

Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa…

Sau này học Phật sâu sắc hơn tôi muốn chia sẻ với các bạn trẻ rằng khi yêu ai mình chỉ thấy thoáng qua chừng 5% hay 10% người đó thôi. 5% hay 10% đó là điểm đậm nhất, hay nhất của người đó. Nó đáp ứng rất sâu sự chờ đợi của mình. Còn 80% hay 90% còn lại là hình ảnh của người kia đang có trong đầu mình khi mình mong đợi nàng chàng. 80% đó được tưởng tượng ra trong tâm nhớ nhung vẽ vời của mình về nàng hay chàng. Những hình ảnh ngọt ngào đó, tính tình đó, mình đã tưởng tượng theo những kỷ niệm mơ mộng của riêng mình chứ thực tại của người kia lại hoàn toàn khác với tưởng tượng của mình. Khi cưới được nhau, mỗi người phải va chạm với thực tại của người kia. Nó hoàn toàn khác hẳn với cái hình mình vẽ trong đầu của mình về người kia. Người kia cũng thế, cũng thoáng tóm được một vài nét đẹp rất thật của mình. Nhưng phần còn lại anh cũng vẽ, cũng tưởng tượng theo những kỷ niệm thời thơ ấu của anh về một người đẹp như thế đó. Than ôi những cái tưởng mà anh ưa thích chỉ đúng 10% con người thật của nàng, 90 % kia chỉ là “cái tưởng” của anh thôi. Ví dụ như nàng hạnh phúc quá khi được anh đến thăm và tặng cho chậu hoa cúc. Từ chậu hoa cúc nàng vẽ vời tình yêu rất lãng mạn của hai bên. Nhưng sự thật là anh có óc tính toán tiết kiệm nên nghĩ: Mỗi lần tới thăm mà có hoa thì nàng thích thật. Tuần trước nàng cũng quá thích khi được tặng chậu hoa cúc. Mỗi lần đi thăm nàng mà mình phải mua chậu hoa mới thì cũng hơi tốn, chi bằng tuần tới mình mua chậu hoa lan bằng nhựa thật đẹp đem làm quà. Lần sau anh mang tới chậu hoa lan bằng nhựa và nói: “Em ơi chậu hoa bằng nhựa này cũng đẹp ghê, em giữ gìn để xài nhiều lần. Mỗi chiều thứ năm khi anh đi tới thăm thì em vẫn đốt nến lên, vẫn có chậu hoa trong buổi cơm chiều thứ năm em nhé!

Xài cho nhiều lần, đỡ tốn” nàng hụt hẫng, tự nhủ mình đâu phải đồ giả mà anh phải mua hoa bằng nhựa! Tình chỉ đẹp khi còn đang dang dở. Vì chưa cưới, chưa gần nhau ngày và đêm nên chỉ thấy vừa đủ 10%, 90% còn lại vì tưởng tượng, vì chưa cưới hẳn, chưa sống chung nên phần thấy sai ở người kia còn chấp nhận được. Nhưng khi cưới rồi, chạm vào thực tế thấy người kia không như mình tưởng, không đẹp như thế nên mình bực mình, cau có, gắt gỏng. Tại vì thương chỉ 10% mà lại tưởng 100% nên thấy đẹp quá. Không phải vì người kia xấu mà tại vì người kia được giáo dục khác, tiêu chuẩn của người kia về đẹp xấu, thương ghét rất khác gia đình mình. Mình thấy hành xử như A (như cùng đi sinh hoạt tăng thân) mới đẹp, mà người kia thấy hành xử như B (đưa gia đình đi ăn các quán ăn ngon) mới đẹp. Rồi hai bên cãi nhau ai đúng ai sai. Cái mặt mình vốn cười rất xinh những khi gặp nhau, nhưng khi không đúng ý mình thì mình đưa cái bộ mặt dễ ghét của mình ra.

Hình ảnh cái cô dễ thương mờ đi từ từ, để nhường chỗ cho cái cô hay cau có, khó chịu.

Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa…

Học giả và nhân sĩ Đào Duy Anh

Hồi năm 1981 mình chưa có mạng toàn cầu Wikipedia nên cô Tây con (là tôi) này có biết cụ Đào Duy Anh là ai đâu. Tôi chỉ biết loáng thoáng cụ là một nhân sĩ lớn đi cách mạng cứu nước cùng thời với cụ Hồ. Nhưng vì đóng góp ý kiến xây dựng một xã hội lành mạnh, thanh khiết hơn đăng lên trong Nhân văn Giai phẩm tháng 11 năm 1956 mà bị vào sổ đen, mất quyền công dân như các nhà văn nhà thơ lớn khác của đất nước như Hoàng Cầm, Phùng Quán, Lê Đạt.

Tôi liên lạc làm quen bằng một thùng thuốc Pháp nhỏ 1 kí lô thôi, xưng tên là cô Đào Thị Mây. Tuy hộp thuốc nhỏ nhưng là những thứ thuốc bổ toàn diện cho người lớn tuổi mà chắc chẳng khi nào gia đình thanh bạch này đủ tiền mua bồi dưỡng cho ông cụ. Vì vậy cho nên cả nhà thương quý cô bé họ Đào này, sinh sau đẻ muộn mà ý tứ biết tới tên tuổi cụ, xin được làm quen, được làm con cháu họ xa của cụ, cúng dường một ít thuốc men khi cụ về già. Lúc đó cụ ông đã yếu lắm rồi cũng viết một câu ngắn nhận tôi, cô bé Đào Thị Mây là cháu của ông. Rồi cụ bà viết dài hơn nói cụ ông nhắc Đào Thị Yến Phi nào trong Gia Đình Phật Tử ở Nha Trang đã tự thiêu cầu nguyện cho nhân quyền, cũng đúng là dòng dõi họ Đào nhà ta. Ông bà cụ gửi hình cả nhà có nhiều con cháu. Cháu nội là Đào Thị Hoàng Mai, con gái của anh Đào Hùng, con trai út của cụ. Con trai lớn là anh Đào… cũng là khoa trưởng một phân khoa ở Đại học. Anh sáng chế ra cách làm bánh tráng bằng bột củ khoai mì, cũng mỏng để thay bánh tráng gạo dùng cuốn chả giò. Ở ngoại quốc rất nhiều người yêu chuộng bánh tráng gạo.

Mở Wikipedia ra, tôi đọc công trình nghiên cứu, biên soạn của cụ Đào Duy Anh. Cụ thực hiện trên 30 công trình về nghiên cứu và dịch thuật cổ văn được in thành khoảng hơn 60 tập sách bắt đầu từ năm 1927:

Từ điển

  • Hán – Việt từ điển (1932): năm 28 tuổi đã soạn và in xong tự điển Hán Việt
  • Pháp – Việt từ điển (1936): năm 32 tuổi soạn xong Pháp Việt tự điển
  • Từ điển Truyện Kiều (viết xong năm 1965, xuất bản năm 1974), cụ cho Chân Không một quyển do anh Đào Hùng, con trai cụ Đào nhân một chuyến công du mang sang Pháp tặng và nhân dịp xem “dung nhan cô Đào Thị Mây” ra sao.

Trong chuyến gặp gỡ này, anh Đào Hùng được thầy Nhất Hạnh rất thương. Thầy mời uống trà và đàm đạo rất sâu.

15 giáo trình và công trình nghiên cứu sâu sắc và công phu:

  • Việt Nam văn hoá sử cương (1938)
  • Khổng giáo phê bình tiểu luận (1938)
  • Trung Hoa sử cương (1942)
  • Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943)
  • Lịch sử Việt Nam (giáo trình Đại học, 1956)
  • Cổ sử Việt Nam (giáo trình Đại học, 1956)
  • Lịch sử cổ đại Việt Nam (1957) gồm 4 tập:
  • Nguồn gốc dân tộc Việt Nam
  • Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc
  • Văn hoá đồ đồng và trống đồng Lạc Việt
  • Giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến.
  • Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam (1957)
  • Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (2 tập, 1958)
  • Đất nước Việt Nam qua các đời (1964)
  • Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến (1975)

Hiệu đính, biên dịch, chú giải 15 công trình:

  • Lịch triều hiến chương loại chí (1961 – 1962)
  • Đại Nam thực lục (1962 – 1977)
  • Phủ biên tạp lục (1964)
  • Đại Việt sử ký toàn thư (1967 – 1968)
  • Đại Nam nhất thống chí (1969 – 1971)
  • Binh thư yếu lược (1970)
  • Gia Định thành thông chí
  • Nguyễn Trãi toàn tập (1969)
  • Khoá hư lục (1974)
  • Sở từ (1974)
  • Truyện Hoa Tiên (1978)
  • Thơ chữ Hán Nguyễn Du (1988)
  • Ngoài ra ông còn biên dịch và chú giải Kinh Thi, Đạo Đức kinh và học thuyết của Lão Tử nhưng chưa xuất bản.

Mở Wikipedia ra tôi thật ngợp với những công trình vĩ đại của ông và xấu hổ thấy lòng kính yêu mình đối với Người chỉ như hạt cát giữa cuộc đời.

Hồi ký

  • Nhớ nghĩ chiều hôm (hồi ký, xuất bản năm 1989) – tôi đã được gia đình cụ Đào thân yêu đề tặng.

Tôi chỉ có được quyển hồi ký nhỏ của cụ và một tập hồi ký của riêng bà Nguyễn Thị Như Mân, phu nhân của cụ Đào, trong đó cụ có nhắc tới niềm vui khi có cô Đào Thị Mây từ phương xa gửi thư về tán thán những công trình của ông cụ. Sau này, bà viết thêm, bà được biết là cô Mây cũng là người tu thiền. Năm 1981 tôi mới chính thức được quen ông bà và được ông bà xem là cháu họ xa. Vài năm sau có một bức thư bà kể, được thư tôi ông rất vui và bắt bà đọc từng câu tôi viết, trong khi cách đó mới mấy ngày trước có ông Văn Tiến Dũng vào thăm thì ông xây mặt vào tường giả vờ như ngủ. Ngay cả lúc cụ Võ Nguyên Giáp đến thăm, cụ Đào cũng lim dim không nói và như không nghe. Không có bức thư nào ông bà phàn nàn về chế độ hay về bất cứ ai. Bà cũng thế, nhưng qua các người con (anh Đào Hùng) và người cháu (Đào Thị Hoàng Mai) tôi biết gia đình sống thiếu thốn nhưng rất liêm trực và thanh cao. Những công trình kể trên có cơ quan nào trong chính phủ nhắc nhở khen tặng gì đâu. Mãi đến năm 2000 khi cụ mất đã 12 năm nhà nước mới vinh danh và tặng cụ giải thưởng Hồ Chí Minh.

Năm 2005, Nhà nước Việt Nam muốn vào World Trade Organisation nên đã thay đổi cách đối xử với một số nhân sĩ trí thức. Cho đến năm 2007 nhà nước muốn sửa sai nên tặng cho năm nhà văn trong danh sách Nhân văn Giai phẩm (trong đó có thi sĩ Hoàng Cầm bị khai trừ trong mấy mươi năm, bị lao tù, tra tấn tinh thần suýt phát điên) mỗi người một Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật và 20 triệu đồng (khoảng 800 Euros). Giải thưởng, tiền thưởng và sự khen tặng có được sau 19 năm từ khi cụ mất vào năm 1988. Người trong nước nói thật nhiều về cụ. Con đường trước ngôi nhà tập thể Kim Liên mà hai ông bà và các con ở thật khiêm nhường nay bỗng biến thành con đường Đào Duy Anh hoành tráng. Sáng hôm ấy tôi theo anh Đào Hùng về thăm căn hộ nhỏ trong khu nhà tập thể Kim Liên. Tôi xin phép được đảnh lễ cụ ông và cụ bà. Anh Đào Hùng đem hương ra thắp và trao cho tôi ba cây. Anh xoay về hướng bàn thờ và nói giọng run run: “Bố, cô đã về thăm bố rồi đó. Mẹ, cô Mây đã về đảnh lễ bố mẹ rồi đấy!” Giọng anh (lúc này chắc anh cũng 70 tuổi) run run nghe như nghẹn khóc. Tôi hơi bỡ ngỡ và ngạc nhiên, trách mình là năm 2005 khi về thăm Việt Nam sau 37 năm lưu đày, đáng lý tôi phải đến đảnh lễ ông bà ngay tại vì gia đình cụ Đào Duy Anh xem món nợ tinh thần này rất nặng. Tôi cứ nghĩ ông bà đã về với tổ tiên hết rồi, hơn nữa vì có ít thì giờ ở Hà Nội nên tôi chỉ đi tìm những người còn sống như Hoàng Cầm. Tôi quên hẳn rằng đối với các con cháu ông bà Đào Duy Anh, một nén hương đốt lên trước bàn thờ ông bà thật quý biết bao. Bố, mẹ, cô đã về thăm bố đây, cô thăm mẹ đây! Tôi khóc thật và tự giận thầm sao mãi đến năm 2008 mình mới tới đốt nhang!

Năm 2005 Thầy chúng tôi có được ông đại sứ Pháp tại Hà Nội Việt Nam tổ chức một buổi nói chuyện về Thiền bằng Pháp văn cho các người hiểu được tiếng Pháp. Tôi mời anh Hoàng Cầm và con trai anh, ông Đào Hùng, con cụ Đào Duy Anh, tới nghe. Tôi không mời gia đình anh Hồ Dzếnh vì lúc ấy anh đã tịch 14 năm rồi. Các anh Hoàng Cầm và Đào Hùng đều có mặt và sau buổi thuyết pháp Thầy có đến ôm thi sĩ Hoàng Cầm và ôm anh Đào Hùng, ôm thật sâu như như là ôm ông cụ. Nhưng đúng hơn thì ngay những ngày đầu ở Hà Nội, tôi phải đến thăm Khu tập thể Kim Liên với tư cách cháu Đào Thị Mây, đốt hương lạy ông bà mới đúng lòng chờ đợi của gia đình cụ Đào Duy Anh. Mãi đến năm 2008 mới đến đốt hương lạy cụ và khi anh Đào Hùng khóc nói thật nhỏ “Cô về lạy bố đây, lạy mẹ đây!” thì tôi thật xấu hổ và hối hận biết bao. Tôi đã quá nông cạn! Đối với cụ Đào, bao nhiêu người đồng chí sống chết bên nhau với ông bà từ hồi kháng chiến gian khổ mà bây giờ thời thế đổi thay, có chức vụ tiền bạc, giàu sang phú quý lên nhưng không mấy người nghĩ đến những chiến hữu cùng sống chết ngày xưa. Năm 1956, cụ Đào Duy Anh có bài trả lời phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do, dân chủ đăng trên bán nguyệt san Nhân văn số 5 (ngày 20 tháng 11). Bài viết nhắc nhở mọi người hãy giữ tâm ban đầu, cố gắng giữ gìn thanh khí của những người yêu nước muốn đóng góp cho đất nước những nét thanh cao, hào hùng, phóng khoáng nhất. Vì thế khi các “đồng chí” lớn đến thăm, cụ ông xây mặt vào vách, cụ ông không chào mừng những chiến hữu đang là các ông lớn. Thế nhưng cụ lại chờ đợi những dòng thư nguệch ngoạc của con bé Đào Thị Mây xa xôi và nằm lắng nghe, chiêm nghiệm và hạnh phúc với những dòng chữ trên nắp hộp, dòng xuống dòng lên đơn sơ mà có cái gì đó gọi là “một chút lòng, một niềm tin vững bền và sâu sắc nơi bậc cha ông”.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

Ba sinh hương lửa, Khu rừng lau là hai quyển sách gối đầu giường của tôi, đã mở mắt cho tôi từng tình tiết éo le của những người thanh niên thiếu nữ dấn thân vào việc giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ Pháp. Tôi đã đọc trên nhật báo những câu chuyện thật cảm động của những người con trai con gái trung trinh, can đảm, dũng cảm, vô vàn xứng đáng. Rồi từ từ tôi sống cùng những tình huống ôi là éo le đau xót vô cùng tận, tôi thao thức ngày đêm theo dõi từng trang hồi ký đăng trên nhật báo. Và rồi tôi bị quên mất các chi tiết sau thời gian.

Nhưng sau đó những câu chuyện kia được in thành sách Ba sinh hương lửa, Khu rừng lau Dòng sông định mệnh. Lời văn chân thành mộc mạc nhưng ngầm chứa rất nhiều nếp sống thanh cao của những nhân vật trong truyện mà tôi vô cùng kính phục. Không phải Thầy giới thiệu và hướng dẫn “cô Tây con lớn lên trong văn chương Pháp” như tôi đọc những cuốn sách đó. Chính Thầy dạy tôi phải tìm đọc các quyển sách như Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Nhà nghèo của Tô Hoài. Tôi đã tự đọc và tìm hiểu về tình trạng đất nước, đã thao thức ngay từ tuổi 14, 15 với những câu hỏi: Tại sao? Tại sao tôi có cơm ăn áo mặc, tại sao các cháu bé kia không được cắp sách đến trường như tôi? Những câu hỏi mà các anh chàng “các áng mây màu” của tôi không tha thiết, không cần biết.

Những ngày cuối của thành phố Sài Gòn, anh Trương Bính – một người bạn rất thân của Doãn Quốc Sỹ, ghé ngang Văn phòng Phái đoàn Hoà bình của Phật giáo Việt Nam tại Hội Nghị Paris. Anh xin theo Thầy học đạo cho đỡ cô đơn. Vợ anh mất vì không tặc làm nổ máy bay trên đường bay từ Sài Gòn đi Đà Nẵng. Gia sản của hai vợ chồng, anh chị định đem về làm một siêu thị lớn theo lối Hoa Kỳ ở Đà Nẵng, giờ đang kẹt tại các ngân hàng Sài Gòn. Mỗi sáng được uống trà với thầy trò của Phái đoàn Hoà bình Phật giáo, tôi rất ưa nghe anh Bính kể nhiều chuyện về Sài Gòn, nhưng tôi thích nhất là hỏi thăm được về nhà văn Doãn Quốc Sỹ, tác giả của cuốn Ba sinh hương lửa mà tôi đã đọc từng trang truyện trong Nhật báo Thần Chung lúc 16 tuổi. Ôi những tấm lòng trung trinh, yêu nước, yêu quê hương quá liêm trực và cũng rất nghệ sĩ. Qua anh Bính tôi biết chị Sỹ là con gái của cụ Tú Mỡ. Thầy chúng tôi thì biết nhưng tôi thì mù tịt. Tôi xin anh Trương Bính vui lòng cho tôi xin địa chỉ anh chị Doãn Quốc Sỹ ở đường Thành Thái. Thế là tôi viết thư ngay xin tên và địa chỉ của các con lớn của anh chị để xin gửi quà về làm quen và tỏ lòng tri ân. Đối với tôi, Doãn Quốc Sỹ là vị thầy đã mở mắt cho tôi về tình trạng đất nước trong những khu kháng chiến qua những mảnh đời của những người trẻ lớn lên trong tao loạn miền Bắc Việt Nam. Qua chị và cháu Thanh, tôi được địa chỉ của Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn…

Nhờ sự giới thiệu của anh Trương Bính, anh chị Sỹ thương tôi ngay như cô em gái nhỏ. Tôi là cô Chín của các cháu Thanh, Liên, Hưng, Hương. Vui quá là vui! Lần nào cô Chín gửi về những gói quà nhỏ thì chị cũng bảo các cháu đem hộp thuốc cảm này, mấy viên Cequinyl chia cho Thanh Tâm Tuyền và cho họ địa chỉ của cô Chín khi họ cần thuốc men. Vì vậy cho nên các vị lần lượt liên lạc với tôi khi cần thuốc men. Thư nào cũng cám ơn cô Chín, thăm anh Bính và kính lời thăm “dì Năm”. Hạnh phúc lớn của tôi lúc này là được thư các cháu kể cho nghe chuyện bao nhiêu lần công an đến nhà xét lúc 12 giờ khuya, 1 giờ sáng rất kinh khiếp. Họ vứt tung tất cả sách vở giấy tờ của gia đình. Họ thô tháo lục tung giấy tờ của bố các cháu là anh Doãn Quốc Sỹ. Nhưng suốt ba tiếng đồng hồ anh đã đã ngồi thiền thật yên trước bàn Phật. Tiếng hét, tiếng doạ nạt càng dữ dằn thì bố các cháu càng ngồi yên. Yên cho tới nỗi họ không dám đánh bố dù là một tát tay. Cuối cùng gia đình anh Doãn Quốc Sỹ cũng gửi được một tác phẩm “chui” cho cô Chín và thư nào cũng kính lời thăm “dì Năm”. Dì Năm là ai các bạn biết không? Đó là thầy Nhất Hạnh. Sau này các cháu giải thích là bố Sỹ của các cháu nói bố thương Thầy như mẹ nên bảo gọi “dì” cho thân thương, “dì Năm”, trên danh nghĩa là em của mẹ anh Sỹ nhưng mà thật ra là thầy Nhất Hạnh.

Anh Bính đã mất trong thời gian tôi bận bịu trong công tác phụ tá cho Thầy trong chương trình Máu Chảy Ruột Mềm cứu thuyền nhân trên biển của World Conference on Religions and Peace – (WCRP). Hội này đã bầu và đề cử Thầy làm giám đốc (mời độc giả xem tập 2 Bước chân hộ niệm, hơi thở từ bi).

Quyển sách Đi là tác phẩm đầu tiên của Hồ Khanh (bút danh của anh Doãn Quốc Sỹ). Qua quyển Đi, độc giả biết được cách sống thanh bần mà cao quý dễ thương của gia đình ông giáo Doãn Quốc Sỹ. Vậy mà tại sao anh phải ĐI thôi!

Phụ lục 1: Những áng mây vàng

Tôi đã viết xong bộ hồi ký với tiêu đề 60 năm theo Thầy học đạo và phụng sự gồm bốn tập. Sau đó tôi phải viết gấp lịch sử thành lập Làng Mai, Thiền đường Hơi thở nhẹ, Tu viện Thanh Sơn, Tu viện Lộc Uyển, Tu viện Bích Nham, Tu viện Mộc Lan, Thiền đường Hội Ngàn Đinh và Tu viện Quốc tế Làng Mai Thái Lan… cho các sư em sinh sau đẻ muộn được biết và vui.

Cùng với sự quan tâm chia sẻ của Thầy với các nghệ sĩ như đã kể trong cuốn hồi ký tập 4 – Cần Thơ về Kinh Bắc, cũng còn đó những nhân sĩ, văn sĩ như những Áng Mây Vàng quá dễ thương. Nếu không viết thì thật là thiếu sót. Thật ra tôi còn muốn viết nhiều hơn nữa nhưng như vậy cũng tạm trả nợ cho các sư em của tôi.

Tương lai của Làng Mai theo cái nhìn của Chân Không

Về phương diện vật chất

Chân Không sẽ không lo các sư cô, các thầy đệ tử Thầy không tiếp nối được sự nghiệp Thầy. Họ có thể làm hay hơn vì đã có “hào quang” của Thầy toả rạng dọn đường trước.

Có nhiều em sinh sau đẻ muộn mà giỏi một cách kỳ lạ, giống như là tuệ giác của ông bà tổ tiên họ đẩy họ tới dòng sông này để tuệ giác đó có cơ hội được dùng tới. Nếu họ đi vô dòng sông tham dục thì tuệ giác của ông bà tổ tiên sẽ không có cơ hội được sử dụng. Mình không mời, không năn nỉ mà tự nhiên có những sư em kéo tới xin làm đệ tử của Thầy. Nhiều em chưa bao giờ được nghe Thầy giảng trực tiếp mà chỉ nghe qua băng giảng thôi, vậy mà khi biểu hiện qua khoá tu thì rất xuất sắc. Vì vậy sự tiếp nối của Thầy là trùng trùng duyên khởi, rất nhiệm mầu mà mình không thể hiểu hết được. Có thể 300 năm sau khi Thầy tịch, có một cháu vừa nghe tiếng của Thầy thì đã biết mình phải tiếp nối như thế nào từ cái hay của tổ tiên, đất nước. Đất nước đó có thể không phải là Việt Nam mà là Pháp, Ý, Indonesia, là Thái Lan, là Trung Quốc, là Phi Châu. Tuệ giác của Thầy là sự tiếp nối dòng sinh mạng và tuệ giác của nhiều vị Tổ thật thâm sâu. Chân Không không thể thấy rõ Thầy tiếp nối ai, tiếp nối tổ tiên tâm linh nào. Thầy gặp Bụt Thích Ca sau khi Ngài đã nhập diệt hơn 2000 năm mà vẫn triển khai tuyệt vời được tuệ giác của Bụt. Biết đâu 1000 năm sau có một sư em theo học và phát triển được tuệ giác của Thầy. Bằng cớ là Thầy bị đột quỵ và rời Pháp đã ba năm nay vậy mà ở đó mỗi năm vẫn có vài chục em Âu Châu xuất gia, có mươi sư em xuất gia ở Hoa Kỳ, tuỳ theo mỗi trung tâm, các trung tâm ở Hoa Kỳ thì yếu hơn các trung tâm ở Pháp. Có những em rất giỏi, mới vào tu sau này mà có những cái thấy rất thâm sâu.

Chân Không không thể đoán được tương lai của Làng Mai sẽ như thế nào. Về phương diện vật chất, ngày trước Chân Không làm việc rất cực. Nhờ viết cuốn sách này Chân Không mới thấy là nhờ có chư Phật, chư Tổ thương nên mình mới xây được từ chuồng bò, từ chuồng thỏ, chuồng ngựa, chuồng heo thành ra một thiền đường, thành những phòng ốc như phòng Lá Tía Tô, phòng Rau Răm, phòng Rau Tần Ô… Đó là nhờ chất liệu tâm linh và thi ca của Thầy.

Sau khi đi vắng ba năm trở về, Chân Không thấy số thiền sinh tới Làng Mai, thay vì giảm đi thì lại tăng nhiều hơn. Có người không tha thiết gặp thầy Nhất Hạnh, họ còn không biết là Thầy bị đột quỵ nhưng tới tu học rất đàng hoàng, rất thuộc bài chi tiết những gì Thầy dạy. Những ngôi nhà cũng được tu sửa từ từ. Chân Không không cần đi lạc quyên, mấy thầy mấy sư cô cũng đủ sức lạc quyên và sửa lại nhà của ông Bonnamy ngày xưa. Lúc trước Chân Không đã sửa rồi, tưởng là đã hay lắm nhưng bây giờ họ sửa lại rất sang và đúng tiêu chuẩn. Đó là nhờ có mấy thầy trẻ. Xóm Mới, ngày xưa có mấy căn phòng nhỏ rất dễ thương, bây giờ họ phá bỏ và làm thành một nhà bếp sang trọng giống như nhà bếp của EIAB bên Đức, có phòng lạnh chứa rau, chứa nấm… Chân Không không thể tưởng tượng là không có Chân Không mà họ làm được. Mình có cái dở là cứ tưởng không có mình thì các em không làm nổi.

Hồi xưa, khoá tu Mùa Hè mỗi năm mở cửa trong ba bốn tuần lễ quan trọng nhất để các cha mẹ mang con về tu học. Phòng ốc thì chỉ có 600 chỗ nhưng mình tiếp được 800-1000 thiền sinh vì có người cắm lều bên ngoài hay mình mướn nhà khách cho họ. Sau này, Chân Không vừa về năm rồi thì thấy trong tuần đầu đã có 1350 người trong khi hồi thời còn có Thầy thì tuần đầu chỉ có khoảng 800-1000 người, tuần thứ hai lên 1100 người và tuần thứ ba lên tối đa là 1250 người. Thầy đi vắng ba, bốn năm nay nhưng trong tuần đầu có 1350 người, rồi tuần kế lên 1450 người.

Hay ở Paris, một số thầy đề nghị mở một trung tâm ở Paris rồi mua một tu viện cũ của các nữ tu Thiên Chúa giáo cho mấy sư cô. Chân Không nói:

“Hồi Phật còn tại thế, Ngài đi tới vườn Trúc Lâm xòe bàn tay ra nói với vua: ‘Nếu vua nghĩ tôi có thể giữ chỗ này để làm chỗ tu học cho các thầy thì đổ nước lên tay tôi.’ Vua đổ nước lên tay Phật và vườn Trúc Lâm trở thành tu viện. Chân Không cũng nói: ‘Tôi đưa tay ra nè! Ai có tiền thì đổ nước lên tay tôi và trả giùm tôi cái trung tâm đó.’”

Có một người tới đổ nước thiệt, đó là một người Pháp hoàn toàn không biết về đạo Phật. Ông tới tu với các thầy ở Xóm Thượng. Ông ly dị vợ và có con đã lớn, ông thấy đời nhạt nhẽo quá nên muốn tự tử chết cho rồi. Ông về Làng ở với các thầy được một tuần, hai tuần, ba tuần. Ông thấy cuộc đời vui quá, mình không cần phải chết, ông yêu đời trở lại nên muốn phụ mình mua trung tâm. Vì những thủ tục rắc rối nước Pháp nên ông đại thí chủ này không thể cho toàn bộ tiền mua Trung tâm Suối Trị Liệu ở Paris nhưng sự đóng góp của ông là nhân duyên để rồi mình cũng mua được. Thiền đường Hơi Thở Nhẹ thì quá nhỏ cho chỗ sinh hoạt, mình bán rồi lấy tiền mua một ngôi nhà khác cho quý sư cô ở gần chỗ của quý thầy.

Thầy dạy là theo nguyên tắc thì một trung tâm phải có âm và dương để nâng đỡ nhau, nhưng không nên ở gần nhau quá. Nếu ở gần nhau quá thì nhu yếu làm cha làm mẹ sẽ kéo mình đi mà người tu thì phải ở độc thân. Vì vậy tuy là có âm có dương nhưng phải ở cách xa nhau khoảng 3, 4 cây số. Những trung tâm mà âm dương sát nhau quá thì thường dễ rớt. Mình đã có trung tâm Suối Trị Liệu của quý thầy, bây giờ mình có thêm trung tâm Hơi Thở Nhẹ cách đó chừng 2,5 cây số.

Về phương diện tu học

Chân Không thấy mấy thầy, mấy sư cô trẻ rất thông minh và biết triển khai những điều Thầy mình dạy, nhất là những vị có đức độ như là thầy Pháp Ứng, Pháp Dung, Pháp Hữu… Thầy Pháp Ứng có điểm yếu, nhưng đối với Chân Không đó lại là điểm mạnh ví dụ như thầy đi tu nhưng không bỏ cha mẹ. Lúc đó ba thầy bị đột quỵ chết. Trong thời gian ba mẹ sống với nhau thì ba không dễ thương với mẹ. Thầy viết cho mẹ những lá thơ với nội dung giống như là thầy thay ba để xin lỗi mẹ, Chân Không đọc thơ của thầy mà chảy nước mắt. Thầy có một đứa em bị bệnh nên xin phép chúng về lo cho gia đình. Thầy Pháp Ứng về nhà mà không buông Xóm Thượng, cứ vài tuần thì thầy điện thoại báo cáo cho Thầy qua Sư cô Chân Không việc này, báo cáo với các thầy ở Xóm Thượng việc kia. Thầy Pháp Ứng tuy ở nhà lo cho em nhưng không rời tăng thân của mình. Bây giờ, cứ 12 tháng thì thầy về nhà hai tháng để giúp mẹ và em trai. Thầy Pháp Ứng rất chín chắn và sâu sắc.

Mỗi thầy, mỗi sư cô có những đặc thù rất hay. Cái hay nào Chân Không cũng học hỏi và phát triển được. Vì vậy trên con đường này mình phải đi chung với tăng thân thì mới có thể phát triển và chuyển hoá được những tập khí yếu kém của mình. Chân Không nhớ những lời cuối Thầy Làng Mai nói với Chân Không trước khi đột quỵ là: “Này con, con cái gì cũng giỏi, nhưng cái giỏi của con cũng chưa đủ. Con phải nghe lời tăng thân một chút để học được tuệ giác của mấy em. Mấy em tuy không giỏi bằng con nhưng nó cũng có tuệ giác mà con không thấy được.” Vì vậy bây giờ, tuy thấy có mấy em làm chưa giỏi lắm nhưng Chân Không cũng không muốn lấy quyền của một chị lớn để bắt mấy em phải làm theo ý mình. Chân Không cũng lắng nghe, theo dõi một hai năm rồi mới góp ý để sửa đổi. Chân Không nghĩ, nếu một dòng sông mà đi cho đàng hoàng thì tuệ giác của mình càng ngày càng lớn để mình có thể giúp cho nhân loại.

Hiện tại Thầy có 1179 học trò xuất gia, tính tới khi Cây Hoa Mộc ra đời tháng 11 năm 2020, chưa kể những Cây Trà Thơm tức là gồm những vị đệ tử của quý Sư bà hay quý Hoà thượng truyền thống sang Làng Mai xin y chỉ của Ôn Nhất Hạnh. Đường tu thì rất khó nên có người tu được 5 năm, 10 năm, 12 năm thì ra đời. Vì vậy số người đi tu với Thầy cũng có khi lên khi xuống.

Sức khỏe của Thầy bây giờ yếu, Thầy về ở chùa Từ Hiếu rồi muốn tịch luôn ở đó. Mình hy vọng Thầy sống thêm vài năm nữa nhưng cũng thấy Thầy khó mà khỏe đến độ có thể bay về Pháp. Sơn Cốc bây giờ chia ra, 2/3 làm viện bảo tàng giữ sách vở, thư pháp… của Thầy và 1/3 làm nội viện để mấy thầy mấy sư cô về tịnh tu sau khi làm việc. Tầng dưới của Sơn Cốc có một nhà bếp và một phòng ăn rất to chung quanh lắp kính nhìn ra một vườn tre lớn. Phía sau nội viện là những ngôi nhà bỏ trống mà Thầy sau khi đột quỵ vẫn ngồi xe lăn ra coi và biểu sửa lại. Hiện giờ chỗ đó đã được sửa lại thành một thiền đường lớn cho chúng xuất sĩ sinh hoạt. Sơn Cốc ngày xưa là nhà của ông tỉnh trưởng nên rất đẹp. Không ai được vào Sơn Cốc của Thầy trừ vài người giữ chìa khoá.

Khi Chân Không về lại Pháp thì thường ở Sơn Cốc tại vì trong đó có những hình ảnh và tài liệu quý giá của Thầy. Lúc trước, có lẽ Thầy ý thức được là mình có thể chết bất cứ lúc nào nên nói:

“Mỗi khi con cạo tóc cho Thầy thì lấy một ít bỏ vô bao thơ rồi đề ngày tháng lên.”

Chân Không về kỳ này khám phá còn đủ tóc của Thầy từ năm 2010 tới năm 2018, có điều là tóc của Thầy đen hơn tóc của Chân Không. Thư viện của Thầy có những tượng Phật thầy mua bên Trung Quốc, tượng Phật bên Ấn Độ tặng cho Thầy, xá lợi Phật, bàn thờ của ba mẹ và anh của Thầy, bàn thờ của Thầy của Thầy tức Sư Cố. Kệ sách của Thầy mình không được đụng tới tại vì đó là những sách xưa cũ. Có một phòng ngày xưa mẹ Chân Không ở, có kỷ niệm và gia phả của Chân Không. Gia phả của Thầy bằng chữ Hán thì Chân Không không biết để đâu, nhưng đồ vật của Thầy thì mình để yên không đụng tới.

Nhưng hình như là khi đi Thái Lan Thầy có linh cảm là mình không trở về nên biểu sư cô Định Nghiêm lấy hết những nhật ký của Thầy và những cuốn sổ có ghi chép chương trình đi giảng của Thầy. Cô Định Nghiêm không lấy hết nên bây giờ ở Sơn Cốc còn mấy chục cuốn sổ đó. Ở đó còn hình lúc nhỏ của Thầy cho nên Sơn Cốc đúng là bảo tàng viện của Thầy.

Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu EIAB và Viện Phật học Ứng dụng Á Châu AIAB vẫn còn đứng vững và rất cần người, những người có đủ đạo đức và tình thương để ôm ấp và nâng đỡ mấy em. Sư cô Chân Đức tuy là giáo thọ trưởng bên Đức nhưng sư cô nói phần đông mấy em là người Việt Nam còn sư cô là người Anh không nắm vững văn hoá Việt Nam. Sư cô muốn xin mấy sư chị lớn người Việt Nam qua giúp. Mấy sư chị lớn của Diệu Trạm hay Trạm Tịch là những người theo pháp môn của Thầy nhưng cũng hiểu về truyền thống. Nếu làm mới nhiều quá thì mình có thể làm tổn thương.

Mình ráng tu tập theo lời Bụt dạy. Thầy nói kỳ này Thầy về Việt Nam chỉ với một vai trò duy nhất là xây dựng tình huynh đệ. Bác Hồ nói “không có gì quý hơn độc lập tự do”, còn Thầy thì nói “không có gì quý hơn tình huynh đệ”. Chân Không nhìn sâu thì thấy mình phải bắt đầu từ mình. Mình xây dựng tình huynh đệ với những thầy không dễ thương. Mình tập thương, tập hiểu, tập thấy những tánh hay của quý thầy đó. Mình không nói láo, mình trân quý họ thiệt. Nếu quý thầy chê mình thì mình phải nhìn sâu để nhận lỗi chứ đừng vì cái ngã mà cãi chầy cãi bướng. Có nhiều sư em tu chưa giỏi, chưa thọ tỳ kheo mà đã nghinh mặt với mình, không cho mình làm cái này, không cho mình làm cái kia. Mình nên tự nhắc tội nghiệp các em mới tu, mình tu lâu rồi mà mình cũng bực sao. Chân Không nói, tình huynh đệ bắt đầu từ mình thôi.

Khi về đây, nơi mà Chân Không đang ngồi viết hồi ký này, người ta thấy có vẻ như là Chân Không không làm Phật sự nhiều nhưng thật ra Chân Không làm nhiều Phật sự cho chính mình. Bước đi bước nào Chân Không cũng nguyện: Xin cho Đức Bồ tát Quan Thế Âm trong con sống dậy để con biết thương cái cây cái ngọn cỏ này, để con thương được chú sư em khó chịu này, để con hiểu và lắng nghe được người kia. Trong thời gian này hễ không đi dạy thì Chân Không tu (nói vậy chứ không hoài đâu, đi mười bước mà nhớ được ba bước tập dừng lại nhìn sâu hơn, tha thứ và thương thêm là giỏi lắm rồi). Chân Không mong rằng người nào đọc được tới đây mà thương Thầy thì phải tu, tự quán chiếu lại mình thêm nhiều hơn. Đừng chờ đóng góp gì cho tăng thân. Mình tha thứ, thương yêu, chấp nhận ngay những người xung quanh mình, trong sở làm, trong công ty, ngoài khu phố thì từ từ mình sẽ xây dựng được tình huynh đệ cho đất nước Việt Nam để Thầy được sống lâu.

Thầy trở về chùa Từ Hiếu là để xây dựng tình huynh đệ. Ban đầu nghe một cách cạn cợt thì Chân Không nghĩ rằng, xây dựng tình huynh đệ có nghĩa là những người với các lập trường khác nhau nên tập có tình huynh đệ với nhau hơn. Tri giác tức cái tưởng của mình chỉ đúng với sự thật có năm phần trăm, vì vậy cho nên mình phải rất khiêm nhường về cái tưởng (tức là “cái thấy” của mình). Mình mới chỉ sờ cái chân của con voi nên tưởng con voi là cây cột. Mình phải khiêm nhường để học hỏi và biết được rằng con voi có bốn cái chân, hai cái tai, một cái vòi. Mình giận người kia tại vì mình chỉ thấy một phần nhỏ của người kia thôi, mới thấy chân của con voi. Đừng tự tin là mình thấy hết, biết hết về người kia. Nếu có cái thấy đó rồi thì dù mình thuộc lập trường nào cũng đều là một và mình có thể học được từ nhau. Đi được với nhau thì từ từ mình có tình huynh đệ. Từ chùa Từ Hiếu tình huynh đệ sẽ lan ra các chùa, lan ra các thành phần, lan ra các tỉnh và lan ra toàn quốc, lan qua Á Châu, Âu Châu và cả địa cầu. Chân Không nghĩ đó là con đường mình phải đi, đầu tiên là sự khiêm nhường về cái thấy của mình. Cái thấy của mình chỉ là năm phần trăm của thực tại. Mới biết có năm phần trăm thôi nhưng khuynh hướng lúc nào cũng chắc mẩm là mình biết hết. Chồng tôi thì lúc nào cũng thế đấy. Bám chặt vào cái thấy giới hạn của mình mà cứ chắc chắn là mình biết hết. Vợ tôi thì lúc nào cũng thế đấy! Cô ấy, anh ấy thì lúc nào cũng thế đấy. Biết bao nhiêu là sinh vật đang sinh sống trên trái đất này, mỗi sinh vật có cái thấy khác nhau. Nên nhìn sâu, lắng nghe và tập khiêm nhường buông xả về cái biết của mình để học thêm về mình… và về người khác. Đó là tương lai nhân loại nằm trong tầm tay của cái chủng loại mà loài người có được. Người Tỉnh Thức (Bụt) thấy rõ và chỉ cho ta điều đơn giản ấy, cũng có chỉ cách tháo gỡ… Nhưng chúng ta có tập luyện khiêm nhường về cái thấy của mình và tập luyện buông bỏ, tập nhìn xa hơn và chấp nhận nhau hơn không?

Sự tiếp nối pháp môn Làng Mai

Nếu mình đem gieo 300 hạt mít thì sẽ mọc lên 300 cây mít. Tuỳ theo những điều kiện mà mỗi cây mít biểu hiện ra một cách khác nhau. Khi Chân Không đang viết cuốn hồi ký này thì trong sổ gia phả của Làng Mai, do sư cô Thoại Nghiêm giữ, có ghi là Thầy có tất cả là 1179 đệ tử xuất gia tính luôn cả thầy Nhất Trí đã mất tích. Có nhiều người đi tu một thời gian rồi xin ra đời. Có người không muốn sống chung với tăng thân mà đi lập cốc riêng. Cũng có người đã mất. Có người vì hoàn cảnh gia đình mà phải tạm rời tăng thân. Con số những người không còn sinh hoạt với tăng thân Làng Mai tính một cách rộng rãi là khoảng hai mươi phần trăm như vậy mình cũng còn khoảng 800 người. Trong khi đó có những vị rất xuất sắc nhưng không phải là đệ tử xuất gia với Thầy.

Trong nhiều năm qua, đã có nhiều vị xuất sĩ từ các chùa khác về y chỉ với Thầy. Các vị này xuất sắc và trung kiên, đã hỗ trợ Thầy rất nhiều trong việc dạy dỗ các sư em như quý thầy Giác Thanh, Giác Viên, Phước Tịnh và quý sư cô Trung Chính, Gina… Sau này có thế hệ trẻ hơn, là đệ tử của sư bà này, hoà thượng kia hay là đệ tử của sư em hay sư anh của Thầy. Họ tới từ một truyền thống, từ một đạo tràng khác nhưng khi nhập chúng thì họ tu hết lòng theo pháp môn của Làng Mai. Họ đã góp phần vào việc xây dựng tăng thân rất tích cực như các thầy Nguyên Tịnh, Đồng Trí, Minh Sang, Minh Hy… và các sư cô Thanh Ý, Thuần Tiến, Đức Nguyên, Chơn Đệ, Phước Tâm, Như Hiếu, Hạnh Liên, Tịnh Hằng, Hạnh Nghĩa… hay những đệ tử của hoà thượng Chánh Trực như thầy Giác Viên. Như vậy thì tổng cộng trên dưới Làng Mai có khoảng 1000 người xuất gia.

Hoà thượng Chánh Trực quen với Thầy Làng Mai rất lâu từ những năm 1972. Lúc đó Chân Không lạc quyên cho ba trung tâm phát triển tái thiết ở ba tỉnh là Quảng Trị, Quảng Ngãi và Tánh Linh (Bình Thuận) Việt Nam. Nhà nước Thuỵ Điển tài trợ 1 triệu 500 ngàn Krones tức là khoảng 300.000USD. Trung tâm ở Quảng Trị do Hoà thượng Chánh Trực phụ trách, Hoà thượng Long Thọ ở Quảng Nam còn trung tâm ở Tánh Linh (Bình Thuận) thì do Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội phụ trách.

Ở Cam Ranh có một xã tên Cam Hiệp Nam, ở đó có chùa Từ Đức do một thầy đệ tử hoà thượng Chánh Trực, sinh sau đẻ muộn không biết gì ảnh hưởng của Thầy Nhất Hạnh với chánh quyền Thuỵ Điển đã cho dân Quảng Trị 500.000 Krones để xây nhà cho rất đông gia đình ở Quảng Trị vốn là nạn nhân chiến tranh nát tan nhà cửa ở Quảng Trị, quyết tâm xây nhà ở khu khá an ổn vùng Cam Hiệp Nam nằm sâu trong núi không xa Cam Ranh.

Hoà thượng Chánh Trực có giao cho chú đệ tử nhỏ tỳ kheo Thích Giác Viên chăm sóc ngôi chùa Từ Đức và mấy trăm gia đình con Phật nạn nhân từ Quảng Trị vào định cư tại đây. Thầy Giác Viên là chú đệ tử nhỏ của hoà thượng Chánh Trực rất mê cuốn Con đường chuyển hoá nên dặn đệ tử (là sư cô Hỷ Nghiêm) có qua Mỹ thì phải tìm cho được tác giả của cuốn Con đường chuyển hoá. Sư cô Hỷ Nghiêm là đệ tử của đệ tử của thầy Giác Viên. Hoà thượng Chánh Trực có một trung tâm ở Quảng Trị, nhưng ngài không dám ở đó mà vô Cam Ranh, tới một xã tên là Cam Hiệp Nam khẩn mấy chục mẫu đất trong núi, xây lên mấy chục ngôi nhà với tiền tài trợ của Thuỵ Điển. Nhưng chính quyền Thuỵ Điển không hề biết chuyện đó, họ nghĩ sau mùa hè đỏ lửa thì Quảng Trị đã tan nát. Cho tới khi tịch thì hoà thượng Chánh Thực cũng không hề thổ lộ chuyện này với ai.

Hôm đó đọc cuốn hồi ký của Chân Không trong đó Chân Không có viết chính phủ Thuỵ Điển có giúp cho ba trung tâm ở Quảng Trị, Quảng Ngãi và Bình Thuận mỗi trung tâm 500.000SK (300.000USD) thì sư cô Khải Nghiêm nói:

“Bà ngoại con kể là hồi đó hoà thượng Chánh Trực có cho ngoại con một căn nhà mà không có nói tiền của ai, chỉ nói là tiền xã hội cho. Hoà thượng Chánh Trực cho mỗi gia đình Phật tử một căn nhà tại vì chúng con đã bỏ Quảng Trị chạy vô núi rừng ở đây. Con hỏi ngoại và mẹ tại sao mình lại ở trong hang cùng ngõ hẻm như vậy mỗi lần đi buôn bán thì rất cực. Nếu hoà thượng cho sao mình không xin cái nhà ở ngoài đường cho dễ buôn bán.”

Ngoại sư cô Khải Nghiêm nói:

“Con đừng nói vậy! Hoà thượng cưng mình lắm mới cho nhà ở đây. Nếu ở ngoài đường lỡ nhà binh Mỹ đi ngang thấy con gái đẹp thì làm ẩu. Mình ở xa trong núi thì mới giấu con gái được.”

Nghe như vậy Chân Không mới nghĩ đó là tiền cho trung tâm phát triển tái thiết. Ở Cam Hiệp Nam có một ngôi chùa tên Từ Đức do hoà thượng Chánh Trực lập rồi giao cho thầy Giác Viên trụ trì. Từ đó thầy Giác Viên giới thiệu rất nhiều vị sang Làng Mai xuất gia tu học như các sư cô Hỷ Nghiêm, Hội Nghiêm, Khải Nghiêm, Hoạ Nghiêm, các thầy Pháp Sĩ, Pháp Lâm (thầy Pháp Lâm tuy không ở Cam Hiệp Nam nhưng cũng do thầy Giác Viên giới thiệu), thầy Pháp Anh… Có rất đông người từ Cam Hiệp Nam đi xuất gia. Cam Hiệp Nam là nơi nhận được sự hỗ trợ của Thầy Làng Mai và đã phổ triển ra tinh thần thương yêu hiểu biết bằng công tác xã hội. Số tiền của chính phủ Thuỵ Điển cho, hoà thượng không xài mà dùng để lâp một trung tâm cho đồng bào lánh nạn và đồng thời cũng được tu tập tâm linh. Vì vậy mấy chục đứa con xuất gia của Thầy có nguồn gốc từ Cam Hiệp Nam của hoà thượng Chánh Trực.

Sau này có những vị giúp mình hết lòng như hoà thượng Giác Quang hay ni sư Như Minh. Họ đều là sự tiếp nối từ hoà thượng Chánh Trực mà ra. Cam Hiệp Nam tuy mang tên là một trung tâm làm công tác xã hội nhưng cũng là một trung tâm tu tập tâm linh. Một trong những đứa con tâm linh đầu tiên của Thầy là mấy đệ tử trong trung tâm phát triển xã hội của hoà thượng Chánh Trực. Mình không ngờ từ một trung tâm công tác xã hội mà Cam Hiệp Nam trở thành trung tâm tâm linh.

Trong cả ngàn người xuất sĩ ở Làng Mai có những sư em rất giỏi mà không phải xuất gia với Thầy nhưng có những nhân duyên gì đó với Làng Mai, ví dụ như các sư cô Huệ Tri, Huệ Định trong mười cô Huệ của sư bà Kiều Đàm ở Long Thành. Sư bà rất thương Thầy, cho luôn mười cô Huệ ra học ở Bát Nhã. Khi Bát Nhã bị đuổi thì chỉ có một số về lại Long Thành còn phần đông thì theo Thầy đi chỗ này chỗ kia độ người như một vài cô Huệ đầu tiên tới Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu.

Ai có thể thay thế Thầy sau khi Thầy tịch

Nói về tiếp nối cái học uyên bác của Thầy thì sư cô Chân Đức thâm sâu về kinh điển. Đưa kinh điển vào hành động thì nhiều lắm: các thầy Pháp Đăng, Pháp Ấn, Pháp Ứng, Pháp Niệm, Pháp Hải, Pháp Khâm, Pháp Dung, Pháp Lưu, Pháp Hữu, Pháp Linh, Pháp Nguyện… Các sư cô Chân Không, Diệu Nghiêm, Đoan Nghiêm, Hoa Nghiêm, Hương Nghiêm, Thoại Nghiêm, Định Nghiêm, Tuệ Nghiêm, Hỷ Nghiêm, Linh Nghiêm, Giác Nghiêm, Đào Nghiêm, Hiến Nghiêm…

Ai cũng biết rất rõ Thầy là một người có tuệ giác thâm sâu và muốn làm biểu hiện tuệ giác thành hành động. Lúc vừa gặp Chân Không thì Thầy biết ngay đây là một cánh tay hành động không thể thiếu được. Thầy theo dõi rất kỹ công tác xã hội của Chân Không trong các xóm nghèo. Thầy nghĩ sau này khi Thầy lập một con đường cách mạng xã hội đàng hoàng thì Chân Không sẽ có dịp thi triển tài năng trở thành một cánh tay hành động của Đức Thích Ca. Chân Không rất hài lòng chuyện Thầy đưa các anh chị tích cực lãnh đạo năm sáu xóm nghèo trong thành phố của Chân Không vô phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội như chị Trà Mi, Phùng Thăng, anh Minh, anh Niên, chị Cao Ngọc Thanh… Thầy theo dõi và hết lòng ủng hộ Chân Không nhưng không phải là ủng hộ một cá nhân. Lúc đó Thầy còn trẻ và Chân Không nhỏ hơn Thầy 12 tuổi nhưng Chân Không là một người hành động. Thầy nắm được Chân Không là nắm được 60-70 người trẻ như Chân Không. Họ đều đi làm công tác xã hội trong các khu phố nghèo. Thầy chưa về tới Sài Gòn thì đã có một nhóm 60- 70 người bạn từng cộng tác sát nút với Chân Không tới làm việc cho Thầy, giúp Thầy lập Làng Tình Thương 1 và 2. Nhờ đó Thầy có thể biến được giấc mơ và hoài bão của mình thành ra hành động hiện thực. Có được chị Cao Ngọc Phượng là có được chị Trà Mi, chị Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, anh Tôn Thất Tuệ, anh Lê Hữu Bôi, anh Ngô Vĩnh Thành, anh Lê Khắc Tích, anh Bùi Văn Thanh, chị Cao Ngọc Thanh, chị Phạm Thuý Uyên, chị Nghiêm Thị Bạch Tuyết, chị Lê Kim Chi, chị Lê Khắc Phương Thảo, chị Diệu Huỳnh Phan Thị Mai, anh Nguyễn Văn Niên, anh Nguyễn Văn Bảy, anh Trần Tấn Trâm, anh Lê Thành Nguyên, anh Hồ Văn Quyền, anh Phạm Hữu Tài, đây là những người trẻ làm việc sát cánh với Thầy ngay những ngày đầu Thầy trở về Việt Nam khi chánh quyền Ngô Đình Diệm vừa bị lật đổ và chưa có quân đội Mỹ vào Việt Nam.

Trước đó Thầy đã từng viết bài cho nhiều tờ báo của Phật giáo Việt Nam, trong đó Thầy trình bày cái thấy của mình về văn chương Pháp, nếu biết áp dụng tuệ giác của đạo Phật thì văn chương Pháp sẽ sâu sắc hơn và trở thành tuệ giác của nhân loại. Đừng nên đi, đứng, nằm, ngồi như một cái máy mà phải nhìn cho sâu và có chánh niệm từng hành động nhỏ. Người có truyền thống Thiên Chúa giáo mà biết nhìn sâu và nhìn rõ thì là đứa con thật sự của Thượng Đế. Người Hồi giáo mà biết nhìn sâu, nhìn rõ và có thương yêu thì là đứa con thật sự của Allah. Là người theo Phật giáo, nếu biết nhìn sâu để tiếp xúc với Phật tính trong mình thì mình là một Phật tử chân chính. Thầy nói trên những nét đại cương nhưng để đi vào hành động thì Thầy thông qua Chân Không và mấy chục người bạn của Chân Không. Vì vậy Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội vừa thành lập là đã có những cán bộ rất giỏi. Chân Không chỉ ở trong ban phổ triển, giống như là ngày xưa Chân Không đã đi tới từng nhà xin mỗi tháng một đồng. Một đồng thì chỉ mua được một khúc bánh mì không có nhân. Nhưng nhờ vậy Chân Không xin được mỗi tháng 30-40 đồng, cô em của Chân Không cũng xin được mỗi tháng 30-40 đồng. Khi trường TNPSXH thành lập thì mình có 3470 người cho tiền hàng tháng. Đó là một phong trào gọi là “vì dân, cho dân và do dân đóng góp”, không lấy tiền của Mỹ, của Nga, của Tàu, của đạo Thiên Chúa hay của đạo Phật mà chỉ xin tiền của quần chúng Việt Nam để giúp cho dân Việt Nam.

Chân Không có thể thay mặt Thầy cũng như các em của Chân Không có thể tiếp nối Thầy để hành động. Bây giờ Chân Không đã 83 tuổi và sẽ chết, nhưng Chân Không đã lập thành những nhóm nhỏ và các em có thể thay thế Chân Không làm công tác thể hiện tình thương của Phật, giúp cho trẻ em mồ côi, trẻ em đói hay trẻ em phải ăn thịt chuột, thịt cóc rất tội nghiệp. Mình cho các em ăn một bữa cơm rồi dạy cho nó về đời sống tâm linh. Chân Không có thể thay thế Thầy về phương diện hành động.

Nhưng thay thế Thầy về phương diện trí thức và học giả thì chỉ có sư cô Chân Đức là thích hợp nhất. Sư cô Chân Đức là một học giả rất giỏi và có tu tập. Khi nói về 37 phẩm trợ đạo thì ai cũng biết nhưng nói cho sâu và tìm hiểu nguồn gốc của chữ nghĩa như là chữ này từ gốc Prakrit hồi Phật còn tại thế, rồi đổi ra Sanskrit rồi đổi ra tiếng Pali như thế nào thì cô Chân Đức nắm rất vững.

Thầy Pháp Ấn có thể thay thế Thầy về phương diện điều hành diễn dịch thật sâu ý Thầy khi đàm phán ngoại giao và thương thuyết. Lúc thầy Pháp Ấn về Việt Nam thương thuyết cho chuyến đi về của Thầy lần thứ nhất thì bất cứ vấn đề gì thầy Pháp Ấn cũng thỉnh ý của Thầy và hỏi từng ly từng tí. Thầy Pháp Đăng là sư anh của thầy Pháp Ấn, rất dễ thương và giảng đạo đàng hoàng nhưng lâu lâu thầy tuyên bố những câu bất ngờ không sâu sắc về những vấn đề mà thầy không chuyên môn và có thể gây tổn thương. Điểm yếu của thầy là không ở lâu với tăng thân được. Hiện nay thầy cũng đã xin phép Thầy và đại chúng để đi ra tự thành lập một Làng Hạnh Phúc. Các thầy Pháp Niệm, Pháp Hữu thì Chân Không đã kể rồi.

Có một người mà nhiều người rất thích là thầy Pháp Dung. Thầy rất năng nổ và hết lòng. Thầy Pháp Dung là con nhà thuyền nhân định cư ở Mỹ từ lúc năm, sáu tuổi nên không giỏi tiếng Việt. Văn hoá Việt thì thầy Pháp Dung không nắm vững nhưng rất vững văn hoá đa dạng của Mỹ. Khi thầy nói chuyện với ông thống đốc Jerry Brown và mấy ông dân biểu thì họ rất thích tại vì thầy nói rất chân thật từ sự tu tập của mình. Còn thầy Pháp Khâm giỏi về tổ chức và có tinh thần cộng đồng. Thầy hay đưa ra nhiều chương trình và hoạch định kế hoạch huấn luyện cho các thầy các sư cô trẻ. Thầy rất năng nổ trong việc xây dựng tăng thân ở các nước vùng Đông Nam Á như Nhật, Indonesia, Hồng Kông. Các thầy Pháp Hải, Pháp Lưu, Pháp Linh là người Tây phương mà tu tập hết lòng trong cộng đồng có đa số là người Việt. Thầy Pháp Hải giỏi tiếng Việt, giỏi về luật pháp và đã giúp cho việc bảo lãnh huynh đệ qua Mỹ. Thầy Pháp Lưu giúp đưa tới phong trào Happy Farm (làm vườn hạnh phúc) và từ đó có nhiều người trẻ Tây phương muốn xuất gia. Thầy Pháp Linh là một trong các vị xuất gia trẻ thành lập phong trào Wake Up càng ngày càng lớn mạnh trên toàn thế giới, thầy cũng là một nhạc sĩ phổ nhạc cho nhiều bài kinh tiếng Anh và tiếng Pháp. Thầy Pháp Nguyện nhẹ nhàng, khiêm cung nhưng làm việc vô cùng chu đáo. Thầy sắp xếp hết các buổi triển lãm thư pháp của Thầy cũng như được Thầy giao cho trách vụ quản lý thư pháp để cung cấp cho doanh nghiệp ABC bên Mỹ phát hành giúp tài chánh cho học viện bên Đức.

Bên quý sư cô cũng rất giỏi. Sư cô Đoan Nghiêm tháo vát và giúp Thầy đánh máy các bài giảng để làm sách từ những năm đầu. Sư cô làm thơ cũng hay lắm, hay nhất là bài Áo lụa thiền hành mà thỉnh thoảng Thầy hay bảo sư cô Chân Không hát cho Thầy nghe. Lại thêm bài Lời qua tiếng lại sau này nhiều người thích, sư cô đi dạy ở Thừa Thiên Quảng Trị họ bảo sư cô sửa chút xíu lời lại cho nặng mùi dân Quảng Trị Quảng Bình luôn!!

Lời qua (mà) tiếng lại
Giải quyết chi mô
Răng không (bơ) dừng lại
Kẻo hố (mà) thêm su (sâu)

Lời qua tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Răng không (bơ) dừng lại
Thở nhẹ và su

Lời qua (mà) tiếng lại
Đưa ta tới đâu
Răng không thở nhẹ
Mỉm cười nhìn nhau

Sau này sư cô Đoan Nghiêm giảng rất hay về Duy Thức học vì sư cô đã đánh máy hết các bài Thầy giảng về Duy Thức tam thập dụng. Sư cô cũng giảng Kiều theo cách Thầy rất sâu để dạy Phật tử qua bói Kiều.

Sư cô Hoa Nghiêm hát hay và phổ nhạc nhiều bài thơ rất thiền, rất sâu sắc của Thầy như Lòng không bận về. Tính sư cô Hoa Nghiêm hiền, xuề xoà, nên “chăm em” giỏi lắm. Còn sư cô Hương Nghiêm đã phụ tá công việc của Làng từ khi mới xuất gia. Chư Tổ chỉ thiếu cho sư cô Hương Nghiêm thêm sức khoẻ nữa thì tuyệt vời. Sư cô cẩn thận chu đáo, đầy tinh thần trách nhiệm lo từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, rất chi li, nhất là về luật lệ nhập cư, thủ tục hành chánh thương mại…, bên nào sư cô cũng quá kỹ càng. Sư cô làm việc sát cánh với luật sư từ việc lớn đến từng chi tiết nhỏ rất kiên nhẫn.

Sư cô Thoại Nghiêm có một ông cha người Huế giỏi và sâu sắc nên sư cô giống ông cụ, chu đáo, kỹ tính và làm việc mạch lạc. Sư cô phụ Thầy làm sách những năm đầu và là một trong những người đầu tiên xây dựng Lộc Uyển và chăm sóc các sư em ở Bát Nhã. Hiện tại sư cô phụ trách việc tài chánh trung ương ở Làng. Sư cô Định Nghiêm là con gái của một ông bác sĩ người Huế rất sâu sắc, má sư cô là người Quảng Nam ngọt ngào, nên sư cô Định Nghiêm nhận được cả gia tài của ba lẫn má. Sư cô Định Nghiêm dịch sách của Thầy ra tiếng Pháp rất hay và có trách nhiệm trong ban làm sách. Sư cô lại rất giỏi về âm nhạc. Sau khi Thầy bệnh, sư cô Định Nghiêm nắm rất vững tình hình sức khỏe của Thầy, lo thuốc men cho Thầy từng chút, thật chu đáo, còn sư cô Thoại Nghiêm thì lo thức ăn cho Thầy như bác sĩ chuyên lo dinh dưỡng. Sư cô Tuệ Nghiêm là em thầy Pháp Đăng, khi còn nhỏ được chuyển hoá rất xuất sắc qua lối giáo dục của Thầy. Sư cô Tuệ Nghiêm có khả năng chơi với người trẻ rất giỏi. Nhưng điểm mà Thầy rất khen sư cô Tuệ Nghiêm vì sư cô này không nói lý thuyết. Mỗi khi pháp đàm chia sẻ tu học ai cũng phục cách chia sẻ của sư cô. Sau này nhận công việc tài chánh trung ương ở Làng sư cô làm cũng rất hết lòng và chu đáo. Sư cô Hỷ Nghiêm có ba là một Phật tử thuần thành, trung trực nên sư cô rất liêm trực và rõ ràng. Giao việc nào sư cô cũng làm thật rốt ráo. Sư cô dạy uy nghi cho các sư em rất hay, cho pháp thoại cũng rất hay. Sư cô tu thành công nên làm gương cho cả gia đình, có hai cháu ruột cũng đi tu là sư cô Thượng Nghiêm và sư cô Trăng Huyền Diệu. Em họ sư cô là thầy Pháp Thiên cũng tu học rất vững chãi ở Viện Phật học Ứng dụng Âu châu. Sư cô là cột trụ ở tu viện Mộc Lan. Sư cô Thanh Ý là món quà của chư tổ tặng tăng thân. Sư cô xuất gia với Thượng toạ Tịnh Từ (vị Thượng toạ ở Bắc Cali mà ủng hộ Thầy rất nhiều, sáng tác rất nhiều nhạc thiền đó). Nhưng sư cô hạp với cách dạy của thầy Nhất Hạnh hơn nên sư cô lúc nào cũng là một sư chị rất siêng năng, lặng lẽ đóng góp rất nhiều mà ít ai thấy. Mỗi lần Thầy qua Mỹ dạy, sư phụ là Thượng toạ Tịnh Từ cứ bắt sư cô ở lại, định gửi đi làm trụ trì chùa này, trung tâm tu học kia nhưng sư cô “trốn” vì sư cô ưa đóng góp vô tướng hơn là lộ liễu. Còn nhiều sư cô Việt Nam khác cũng giỏi lắm, ai cũng có những đóng góp đặc biệt của mình. Sư cô Linh Nghiêm là người Thái thì Chân Không cũng đã nói rồi. Ngoài những đặc tính đã kể sư cô Linh Nghiêm xưa có học nghề Y tá nên có thể nói sư cô như y tá trưởng chăm sóc sức khoẻ Thầy thật chu đáo.

Về phần các sư cô người Tây phương thì mình có sư cô Chân Diệu Nghiêm hay gọi là sư cô Gina, sư cô Diệu Nghiêm là người hành giả đóng góp rất im lặng và rất nhiều. Trước khi đến theo làm đệ tử Thầy thì sư cô là đệ tử một thiền sư Nhật chi nhánh tu sĩ độc thân, không lập gia đình như đa số các thầy Nhật khác. Sư cô giữ uy nghi giới luật rất nghiêm mật. Sư cô lặng lẽ giúp nhiều sư em khác khi làm trụ trì chùa Cam Lộ. Sư cô Giác Nghiêm đi tu khi đã 50 tuổi nhưng tu thật xuất sắc. Gia đình sư cô người Pháp rất trưởng giả và có truyền thống Thiên Chúa giáo rất đậm. Theo học ở Làng Mai từ năm 1984, 1985 nhưng sư cô vẫn một mực hành xử như một ni sư (bà Sơ lớn Thiên Chúa giáo) mẫu mực. Chào một sư cô nhỏ sa di ni sư cô cũng chào thật ngọt và thật cưng “Bonjour ma petite soeur chérie“, “Bonjour ma Grande Soeur chérie, je vous ecoute…” Đối với cảnh sát trưởng, Thị trưởng chánh quyền Pháp, sư cô lễ phép đúng mực, ai cũng nể nhưng một số các sư cô Tây đợt sống mới khác thì không thích kiểu cách các bà Sơ quý phái đó.

Sư cô Đào Nghiêm đã giúp được cho người Pháp rất nhiều. Sư cô Hiến Nghiêm người Anh, trước khi đi tu làm cho đài BBC nên rất giỏi trong vấn đề đối ngoại ở phương Tây và giảng pháp cũng rất hay. Sư cô là biên tập viên nòng cốt trong ban làm sách tiếng Anh của Thầy.

Trong tăng thân còn nhiều vị khác nữa, ai cũng có những đặc điểm riêng và đóng góp âm thầm tài năng và sự tu học của mình trong sự nghiệp xây dựng tăng thân mà mình không kể hết được.

Quý thầy Từ Minh, Từ Hải, Từ Tế, Minh Hy, Giới Đạt, Nguyên Tịnh, quý sư cô Đức Nguyên, Phước Tâm, Như Hiếu, Thanh Huệ, Thuần Khánh, Tịnh Hằng, Chơn Tâm đều là những viên ngọc quý chư tổ gửi đến cho tăng thân để tiếp nối sự nghiệp của Thầy mà lo cho các sư em trong giai đoạn chuyển tiếp.

Quý thầy Từ Minh, Từ Hải, Từ Tế là đệ tử của sư thúc Chí Mậu và giúp đỡ mình rất nhiều từ giảng dạy đến các Phật sự ở Huế. Thầy Minh Hy là đệ tử của sư thúc Chí Thắng. Thầy ở Làng Mai lúc nào cũng chứng tỏ một sư anh lớn đầy trách nhiệm. Các sư em rất thương quý thầy. Thầy Giới Đạt là đệ tử của Hoà thượng Thái Thuận ở Bảo Lộc đã từng cưu mang tăng thân Bát Nhã trong những ngày khó khăn. Thầy cũng là một sư anh lớn được các sư em nương tựa rất nhiều ở trung tâm Suối Trị Liệu. Thầy Nguyên Tịnh là đệ tử Ôn Kim Sơn nhưng quá thích Thầy Làng Mai lại có khiếu viết văn khá vững nên các sư em có ý nhờ thầy viết tiếp Việt Nam Phật giáo sử luận 4.

Trên quý vị này thì có Sư bà Đàm Ánh, Ni trưởng Tinh Hạnh (Bồ Đề), Sư bà Phổ Đà, Sư bà Tịnh Nguyện (Phước Hải), quý Ni sư Đàm Nguyện, Đàm Lan, Như Minh, Minh Tánh, Giới Minh, Như Hải, Diệu Đạt, Như Ngọc là những người tiên phong lo mọi việc chuẩn bị cho Thầy về lại Việt Nam. Ni sư Đàm Nguyện dẫn cả đoàn đi Trung Quốc ngay từ năm 1995 dự khoá tu với Thầy và về nhà vẽ hình Thầy thật to như người thật và để bảng đăng tin Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ dạy khoá tu 5 ngày, khoá tu 21 ngày, khoá tu tại chùa Đình Quán.

Mỗi người có thể thay thế một chút của Thầy. Do đó khi đi cùng với nhau thì chính tăng thân Làng Mai thay thế Thầy. Sự vận hành của tăng thân Làng Mai xuất sĩ với Hội đồng Giáo Thọ, Hội đồng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ban Chăm sóc là thành quả xây dựng tăng thân mà Thầy đã dày công đưa ra và giảng dạy. Đó là sự tiếp nối của Thầy.

Thầy dạy mọi chuyện đều phải do Hội đồng Tỳ kheo hay Hội đồng Tỳ kheo ni quyết định. Tuệ giác của tập thể bao giờ cũng sáng hơn tuệ giác của một cá nhân.