Trung tâm ở Ý

Bên Ý mình cũng có một trung tâm. Dĩ nhiên là đi tới đâu thì mình mướn một cái nhà hay một tu viện để tổ chức một khoá tu chừng năm ngày. Trước đó mình cho một buổi giảng công cộng ngoài thành phố như Rome, Napoli, Milan, Turino. Đó là những buổi giảng công cộng có mấy ngàn người tới nghe. Nghe xong họ thích thì họ muốn dự khoá tu. Dự khoá tu xong có lợi lạc thì họ muốn lập trung tâm để tu học thường xuyên hơn. Ở Ý họ có mua một miếng đất. Nhiều giáo thọ Tiếp Hiện cư sĩ đang chăm sóc trung tâm này. Trung tâm cách Rome khoảng một giờ xe về phía đông.

Thầy Pháp Bản là người Ý cũng lớn tuổi rồi. Thầy có nhận gia tài của ba là một căn nhà và biến nó thành một trung tâm. Trong tương lai thầy sẽ cúng trung tâm cho Làng nhưng bây giờ lâu lâu thầy về Làng tu vài bữa rồi trở về lo trung tâm của mình.

Như vậy, ở Ý mình có hai trung tâm, một cái bán chánh thức của thầy Pháp Bản và một cái chánh thức của anh em Tiếp Hiện ở gần Rome.

Trung tâm Intersein

Ở Đức cũng có một trung tâm thực tập của cư sĩ nhưng không thịnh hành lắm. Khi anh Chân Pháp Nhãn chưa mất, anh có mua một trung tâm chánh niệm do anh điều hành. Anh kêu gọi Karl và Helga Riedle là hai người đã từng qua Làng Mai tu tập trong vài năm. Ba người giáo thọ cư sĩ hùn nhau lập một trung tâm tên là Intersein (Tương Tức). Hai vợ chồng Karl-Helga Riedle thường trú còn anh Chân Pháp Nhãn thì đi đi về về. Họ cho người tập sự Tiếp Hiện vô ở, những người giỏi sau này cũng được làm giáo thọ. Khi anh Chân Pháp Nhãn tịch, Thầy và hai vợ chồng anh Riedle rất muốn chị Ilona (là vợ anh Chân Pháp Nhãn) tiếp tục công việc của Intersein nhưng chị chuyên về thực hành nhịn đói giảm cân chứ không chuyên về chánh niệm nên chị quyết định rút ra. Anh Chân Pháp Nhãn có một đời vợ trước và có con. Anh rất thương mấy đứa cháu ngoại nên có làm giấy chia gia tài cho Ilona, con gái và cháu ngoại. Chị Ilona muốn rút tiền để trả cho con gái và mấy đứa cháu ngoại của anh Chân Pháp Nhãn. Karl và Helga cũng rất hụt hẫng nhưng anh Chân Pháp Nhãn mất rồi thì số người tu học cũng không còn đông. Ngày xưa họ nhận nội trú cả tuần nhưng bây giờ họ chỉ nhận người sáng đi chiều về thôi. Một trung tâm mà thiền sinh sáng đi chiều về thì không dạy được nhiều.

Họ nghe bên Làng, từ một hội nhỏ mình trở thành một congregation tức một Giáo hội lớn (Cộng đồng tu học Giáo hội Làng Mai). Một Giáo hội lớn thì được có tài sản lớn. Pháp và Đức nằm trong Cộng đồng chung Âu Châu cho nên cả EIAB và Intersein cũng có thể trở thành một thành viên của Giáo hội.

Thành ra Karl và Helga có trung tâm Intersein ở Bayern. Anh chị không có con nên sẽ làm chúc thư để trung tâm Inetrsein lại cho Giáo hội Làng Mai. Mấy ông luật sư của mình nói về phương diện nội dung thì EIAB có thể vào Giáo hội bên Pháp nhưng toà nhà sáu tầng sang trọng của EIAB thì phải thuộc về chính phủ Đức tại vì đó là di sản văn hoá của nước Đức và không được bán. Vì vậy mình sẽ có quyết định là, mỗi người chỉ ở một trung tâm 4-5 năm, nếu giỏi thì 7-8 năm rồi phải đổi đi trung tâm khác tại vì mỗi một trung tâm có những khó khăn và thử thách khác nhau. Mình có giỏi bao nhiêu ở Pháp thì cũng nên đi qua Đức để biết những khó khăn bên Đức. Bên Đức giỏi cách mấy cũng nên qua bên Thái để biết những khó khăn bên Thái.

Viện Phật học Ứng dụng Âu châu (European Institute of Applied Buddhism)

Nhân duyên đưa tới có Trung tâm Tu học tại Đức của Thầy Làng Mai như sau:

Nhu cầu tu học của đại chúng Làng Mai

Tên chính thức của Làng Mai ở Pháp là Viện cao đẳng Phật học Làng Mai (Institut des Hautes Etudes Bouddhiques Village des Pruniers). Trong 20 năm đầu sinh hoạt của Làng Mai, Thầy đã tổ chức rất nhiều khoá tu cho bốn chúng và các khoá học đặc biệt chuyên sâu trong những mùa An Cư Kiết Đông. Nội dung các bài giảng này thuộc các công trình nghiên cứu của Thầy ở trình độ Đại học hoặc sau Đại học. Vì Thầy rất từ bi và muốn giúp đại chúng chuyên tâm vào con đường tu học để chuyển hoá và trị liệu cho chính mình cho nên đại chúng không cần phải học thuộc lòng, không cần phải làm các bài tập thường xuyên ngoại trừ các bài thiền tập và viết bài công phu báo cáo sự tu học mỗi ngày của mình, không cần phải nạp bài viết, hay phải thi lên lớp hay làm bài kiểm tra định kỳ vào cuối các khoá học. Thầy muốn thổi một luồng gió mới vào các tu viện và các trường Phật học trên thế giới để các chương trình đào tạo giáo thọ Phật học này có chiều sâu của sự thực tập và các học viên có thể áp dụng được giáo lý của Đạo Bụt vào trong đời sống hằng ngày thay vì chỉ đặt nặng vào việc học thuộc lòng các lý thuyết và thi cử.

Con đường này tuy vậy vẫn không thoả mãn được nhu cầu muốn học hỏi của một số các vị xuất sĩ. Từ cuối tháng 1 đến cuối tháng 3 năm 2002, do nguyện vọng của đại chúng xuất sĩ muốn có những lớp học chính thức của một trường Phật học, Thầy và đại chúng đã tố chức các buổi pháp đàm để lắng nghe sâu và để đại chúng có thể đưa ra những kiến nghị cụ thể. Thầy giao cho thầy Pháp Ấn trách nhiệm chính thức hoá (formalizing) hình thức tổ chức tu học tại Làng Mai để có những khoá học do các thầy và các sư cô giáo thọ hướng dẫn dựa trên các khoá tu Thầy đã thực hiện trong quá khứ.

Thầy Pháp Ấn cùng các sư cô Gina, Thoại Nghiêm và Hương Nghiêm đã cố gắng tổ chức lại sự tu học của đại chúng theo hình thức của một Viện cao đẳng Phật học. Chương trình này đã được trình cho Hội đồng Giáo thọ Làng Mai phê chuẩn. Tuy nhiên chương trình chính thức hoá (formalization) này của Làng Mai vẫn chưa thể thực hiện được vì những lý do: Trước hết vì nhu cầu hoằng pháp khắp nơi trên thế giới của Thầy, quý thầy và quý sư cô giáo thọ lớn cần có mặt trong các chuyến hoằng pháp này để phụ giúp Thầy tổ chức các khoá tu và các buổi giảng công cộng với số lượng thiền sinh rất đông đảo, vì vậy thành phần đại chúng và số quý thầy quý sư cô lớn còn lại ở Làng Mai không nhiều; thêm vào đó tại Làng Mai cũng tổ chức rất nhiều các khoá tu lớn định kỳ hằng năm.

Tuệ giác của Thầy về Phật học ứng dụng

Trong suốt thời gian hành đạo tại các nước Tây phương và Á Đông, đặc biệt là sau chuyến đi về Việt Nam năm 2005, Thầy nhận thấy khắp nơi trên thế giới có rất nhiều chương trình giảng dạy Phật pháp xuất sắc trong các viện Đại học.

Tuy nhiên, hầu hết các chương trình này đều nhắm vào mục đích trao truyền cho học viên một số kiến thức về Đạo Bụt hơn là dạy cho họ những phương pháp cụ thể rút từ kho tàng giáo huấn của Bụt giúp xoa dịu những khổ đau, đem lại an lạc, hạnh phúc cho bản thân, gia đình, cộng đồng và cho toàn thế giới. Tại các nước Á châu, nơi mà đạo Bụt được truyền bá sâu rộng như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam… việc học Phật tại các học viện càng lúc càng đi về hướng lý thuyết, xa rời sự thực tập. Các học viên đến Viện học xong thì về lại trú xứ của mình và đôi khi những điều học được ở trường không phù hợp với cách sinh hoạt tại chùa mình ở nên không áp dụng được.

Từ những điều kiện nêu trên và từ kinh nghiệm giảng dạy trong gần 30 năm qua cho các thiền sinh về Làng Mai tu tập, cũng như cho các thiền sinh đến tham dự những khoá tu được tổ chức khắp nơi trên thế giới, Thầy và hội đồng Giáo thọ Làng Mai nhận thấy cần phải hệ thống hoá cơ sở dạy dỗ, mới giải quyết được nhu cầu càng ngày càng tăng hiện nay cho những người có những khó khăn trong đời sống hiện đại. Nhất là có thể tạo được cơ hội cho những người muốn tiến xa hơn nữa trong vấn đề tu tập, không những để chuyển hoá các tập khí xấu cho chính mình mà còn có thể giúp được người khác chuyển hoá khổ đau.

Để thực hiện được những điều này, Thầy thấy cần phải thành lập một trường Đại học Phật giáo nhấn mạnh việc Ứng dụng đạo Bụt vào đời sống hằng ngày. Thầy đặt tên cho trường Đại học Phật giáo này là Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu.

Về nội dung, Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu sẽ cống hiến một học trình kết hợp trọn vẹn và đầy đủ những giáo điển Phật giáo với những áp dụng cụ thể trên tất cả các bình diện trong đời sống và ngoài xã hội. Về hình thức cơ sở vật chất, Viện sẽ hội đủ các yếu tố như phòng học, phòng ngồi thiền cùng những tiện nghi cho những sự thực tập khác và nhất là đầy đủ chỗ ở cho học viên.

Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu không phải là nơi để các học viên đến để mỗi ngày học một vài tiếng, thu thập một ít lý thuyết về đạo Bụt rồi ra về như tại các khoá học của các phân khoa Phật học trên thế giới, hay tại các Phật học viện ở Việt Nam. Tại các nơi ấy, liên hệ giữa giảng viên và học viên chỉ là thuần tuý trao truyền kiến thức. Học viên đến học để có thể làm được bài thi hầu có được một tín chỉ và mục đích xa hơn nữa là mảnh bằng cử nhân hoặc tiến sĩ Phật học. Có những vị đã trở thành những nhà Phật học nổi tiếng, có thể giảng dạy các kinh điển làu làu nhưng lại không thực hành được điều căn bản mà Đức Thế Tôn thường căn dặn “Đừng đánh mất sự sống trong giây phút hiện tại”. Vì thế khi gặp chuyện khó khăn xảy ra cho chính mình, cho gia đình mình thì vẫn lúng túng không biết giải quyết ra sao, mặc dù vẫn ôm một bụng kinh điển với những lời dạy cao siêu của Đức Thế Tôn. Họ đã quên, hay chưa từng được thực tập và áp dụng những lời Bụt dạy vào đời sống hằng ngày. Trong đời sống văn minh vật chất hiện nay, con người phải đối đầu với bao áp lực từ bên ngoài cũng như áp lực do mình tự tạo ra. Nếu không ý thức thì con người rất dễ bị cuốn hút vào đời sống vật chất, vào các nhu cầu giả tạo.

Giáo lý đạo Bụt giảng dạy ở Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu có tính cách thực tiễn, không mang màu sắc tôn giáo và tất cả mọi người, bất luận theo tôn giáo nào hay không theo tôn giáo nào, đều có thể hưởng được nhiều lợi lạc khi áp dụng nó vào đời sống.

Học viên không bắt buộc phải có những tín chỉ học trình nào trước để được nhận vào học ở Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu. Các lớp học sẽ được tổ chức tại nhiều chi nhánh của Viện trên khắp Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á.

Học viên sẽ được cấp tín chỉ khi nào hoàn tất mỹ mãn một khoá học. Và nếu hội đủ các tín chỉ cho một học trình được quy định, học viên sẽ được cấp bằng Giáo thọ Phật học ứng dụng (MAD, Master of Applied Buddhism) và Tiến sĩ Phật học ứng dụng (DAB, Doctor of Applied Buddhism).

Quá trình thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu tại Đức

Giữa tháng 4, năm 2006, Thầy được mời tham dự Hội nghị Phật giáo Thế giới lần thứ nhất (China First World Buddhist Forum) từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 năm 2006. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1949 chính quyền Trung Quốc cho phép Phật giáo tổ chức một Hội nghị Phật giáo Quốc tế như vậy. Vì quá nhiều việc, Thầy cử một phái đoàn đại diện cho Thầy và tăng thân Làng Mai tham dự. Phái đoàn gồm có thầy Pháp Ấn (người Việt), thầy Pháp Khí (người Pháp), sư cô Giác Nghiêm (người Pháp) và sư cô Tùng Nghiêm (người Mỹ). Vào cuối tháng 4 năm 2006, sau khi phái đoàn trở về, Thầy dạy thầy Pháp Ấn lên Sơn Cốc để gặp Thầy. Khi thầy Pháp Ấn đến, Thầy đang thong thả viết hết thư pháp này đến thư pháp khác chỉ với một dòng chữ: “Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu”. Sau khi viết thư pháp xong, Thầy đi pha trà và dạy thầy Pháp Ấn: “Đây là dự án (project) sắp tới của con sau khi xong công việc ở Việt Nam.”

Vào mùa xuân năm 2006, các ý tưởng và dự kiến về việc thành lập một Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu đã từ từ hình thành rõ nét trong tâm thức của Thầy. Thầy thấy rõ Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu sẽ là một nhịp cầu nối liền giữa các trung tâm chuyên về thực tập (như trung tâm Làng Mai) và các chương trình giảng dạy Phật pháp tại các viện Đại học trên thế giới (Buddhist Studies Program).

Nhưng Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu sẽ được thành lập tại nơi nào trong Châu Âu? Từ giữa thập niên 90, sau các chuyến hoằng pháp và đối thoại tôn giáo với các mục sư Tin Lành tại Đức, Thầy đã có ý muốn thành lập một cơ sở tu học tại nước Đức. Cũng vào thời gian đó, Thầy đã phát động phong trào thành lập các trung tâm thực tập chánh niệm (Mindfulness Practice Center – MPC) tại các thành phố lớn ở Châu Âu và Châu Mỹ để đáp ứng lại nhu cầu thực tập của các thiền sinh ở xa Làng Mai nước Pháp.

Có nhiều thiền sinh chia sẻ là sau khi tham dự khoá tu 21 ngày ở Làng Mai thì họ quá thích pháp môn chánh niệm giảng dạy sâu sắc của Thầy. Họ nói Thầy dạy sâu và hay như vầy mà Thầy ở nơi quá xa xôi. Muốn đến nơi tu học đi phải đổi ba lần xe lửa , tới nơi còn chờ nửa giờ mới có người đón thì quả là không dễ gì. Nhiều người giàu rất phục Thầy, họ nói lời dạy của Thầy không có màu sắc tôn giáo. Thầy dạy chánh niệm, đem thân và tâm về giây phút hiện tại. Mình nhìn sâu để hiểu rõ con trai, con gái, vợ hay chồng của mình hơn. Mình giận chồng quá nhưng mình dừng lại, không gây lộn, nhìn sâu hơn để hiểu anh ấy hơn, hiểu sâu hơn chị ấy hơn. Bữa trước mình còn giận vì không thấy khía cạnh này nhưng sau khi ngủ một đêm, thức dậy mình bình tĩnh hơn, mình thấy được khía cạnh dễ thương khác của người đó. Có nhiều người nổi tiếng, như trưởng luật sư đoàn Âu Châu hay những bác sĩ trưởng phụ trách khoa, dạy ở hai hay ba trường y khoa ở Âu Châu vậy mà trong gia đình họ cũng đau khổ, họ cũng có nhu yếu về một nơi để được lắng nghe. Khi tới Làng, họ rất kín đáo về danh tính của họ. Sau khi Chân Không giúp tháo gỡ các vướng mắc, lắng nghe cả vợ cả chồng, giúp cả hai người thực tập tưới hoa, dạy họ pháp môn thiền ôm, dặn dò họ mỗi tuần phải thực tập làm mới, giúp họ hàn gắn hạnh phúc gia đình thì họ đã thực sự cởi mở chia sẻ với Chân Không trọn vẹn. Sau đó, bà vợ kể, chồng em nghe nói để đi về Làng phải xuống tới Bordeaux rồi lấy xe lửa đi tới Làng, có khi đến vào lúc 9 giờ tối không có taxi thì cực quá. Có những người phụ nữ đi tu một tuần về đổi tánh muốn mời chồng hay con qua tu học. Nhưng muốn đi về Làng Mai thì phải bay qua Paris rồi lấy xe lửa tới Bordeaux, rồi lấy xe lửa tới Libourne. Từ Libourne lấy xe lửa tới Ste-Foy- La-Grande, rồi đứng chờ hoặc lấy taxi mới về tới Làng. Nếu Thầy có một trung tâm gần gần Paris, ví dụ như ở Đức thì ở Phần Lan xuống cũng được, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Đông Âu, Tây Âu gì tới cũng được.

Vì vậy nếu có một trung tâm gần gần ở giữa Âu Châu thì tốt hơn. Điều mong ước này của các thiền sinh cũng phù hợp với suy nghĩ của Thầy sau các chuyến hoằng pháp tại Đức.

Vào tháng 5 năm 2006, các sư cô Trung Chính và Bảo Nghiêm tổ chức các khoá tu cho người Việt tại Berlin và Stuttgart ở Đức. Các anh chị em Tiếp Hiện tại Berlin cùng anh Thiện và chị Bích thưa với quý sư cô về sáu căn nhà trong một khu vực tại Rheine gần nhà của hai anh chị. Sau khi cuộc chiến tranh lạnh với Nga và Đông Âu đã chấm dứt, những trụ sở của quân đội Đức đã được thu hẹp lại tại nhiều nơi và họ đã bán các cơ sở quân đội cho dân sự sử dụng. Hai sư cô đã đi thăm các khu nhà này và khi về Làng đã trình lên cho Thầy. Thầy đồng ý thành lập một trung tâm tại Đức với những căn nhà mua lại của quân đội.

Trong khoá tu An Cư Kiết Đông năm 2006, chị Bích đã đến Làng để trình bày với Thầy và trao đổi với Chân Không về các khu nhà này. Anh chị Thiện – Bích đã gửi qua Làng Mai một CD với hình ảnh của năm dãy nhà đó. Những ngôi nhà này giống hệt một trường Đại học ở Mỹ. Nhà có hai đến ba tầng, sức chứa từ 700 đến 800 thiền sinh và còn nhiều nhà khác của Bộ Quốc phòng ngày xưa xây cất cho sĩ quan cũng như binh lính ở. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ vào tháng 10 năm 1989, họ thu gọn và bán bớt để không bị tốn hao tiền bảo quản.

Sau một buổi pháp thoại tại thiền đường của Xóm Hạ, thầy Pháp Ấn báo tin cho chị Bích biết là Thầy đã cho phép mua những dãy nhà ở Rheine để làm cơ sở cho Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu. Tuy Thầy đã đồng ý cho mua, nhưng chị Bích vẫn muốn Thầy ghé xem những cơ sở này trước khi có quyết định cuối cùng. Chị cho biết giá mà người ta muốn bán là 100.000€ một dãy nhà. Năm dãy nhà là 500.000€ nhưng mình muốn mua mấy dãy cũng được. Thầy vui lắm, nghĩ là mình có thể mua năm dãy nhà ở Rheine.

Bước kế tiếp trong quá trình thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu là nền tảng pháp lý của Viện Phật học. Công việc này đòi hỏi một văn phòng luật sư có kinh nghiệm và am tường về luật pháp nước Đức trong việc thành lập các hội đoàn, tổ chức từ thiện và tôn giáo. Rất may mắn là tăng thân Làng Mai có quen biết một cặp luật sư người Đức rất giỏi. Đó là Dr. Alexander Puplick và vợ là luật sư Beate Puplick. Lúc trước anh chị Puplick có qua Làng tham dự một khoá tu 21 ngày. Anh chị nghe Thầy giảng và anh chị rất mến phục.

Sau một buổi Pháp thoại trong tuần thứ hai của khoá tu Mùa Hè năm 2006, Thầy đã mời vợ chồng Dr. Puplick đến gặp Thầy để bàn về dự án thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu.

Sau khi được mời dùng trà và sau vài phút im lặng, Thầy nhìn vợ chồng Dr. Puplick bằng ánh mắt rất bình an, tràn đầy ấm cúng và họ cảm nhận được một sự đồng cảm thân thiết với Thầy. Thầy bắt đầu giải thích viễn kiến (vision) của Thầy về việc thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu. Thầy diễn tả bằng những câu ngắn gọn về việc thành lập một trường Đại học Phật giáo dựa trên nền tảng kinh nghiệm tu học mà không phải chỉ là một trường học dạy về lý thuyết hoặc triết học Phật giáo. Trọng tâm thật sự của Viện Phật học là sự tập trung vào việc thực hành, áp dụng các nguyên tắc của Phật giáo, để mỗi học viên, bất kể mục đích nào mà người đó đến tham dự, có thể trực tiếp trải nghiệm giải thoát và bình an của các giáo lý Đạo Bụt. Viện Phật học sẽ mở cửa cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, tôn giáo và trình độ giáo dục trước đây của họ. Đồng thời, Viện Phật học phải được công nhận là một trung tâm giáo dục và nghiên cứu theo tiêu chuẩn của nước Đức. Viện Phật học sẽ hợp tác giảng dạy với các trường Đại học và trung tâm giáo dục khác.

Thầy nói thêm với Dr. Puplick:

“Tôi rất muốn có một trung tâm thực tập tại Châu Âu. St.- Foy-la-Grande thì quá hẻo lánh nên chúng tôi mong có một cơ sở gần các thành phố lớn nằm ngay chính giữa Châu Âu.”

Dr. Puplick nói:

“Vấn đề giấy tờ lập hiệp hội thì con rất có kinh nghiệm chuyên môn nên con có thể làm hết lòng cho Thầy. Con sẽ làm liền cho Thầy để xin giấy phép.”

Dr. Puplick hỏi Thầy muốn để tên gì thì Thầy nói là Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (European Institute of Applied Buddhism – EIAB).

Vợ chồng Dr. Puplick đã có những ấn tượng rất đẹp và sâu sắc về tầm nhìn sâu rộng và ước nguyện muốn giúp người và độ đời của Thầy. Đây không phải là lần đầu tiên Thầy thành lập một trường Đại học như vậy, mà trước đó, Thầy cũng đã cùng với những người khác thành lập trường Đại học Vạn Hạnh vào năm 1965 tại Sài Gòn.

Dr. Puplick về lại Đức và sau nhiều cuộc bàn bạc qua điện thoại với Thầy và Chân Không, vào tháng 11 năm 2007, Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu chính thức được thành lập như là một tổ chức bất vụ lợi (non-profit organization), có công ích cho mọi người. Đây là một hiệp hội tư nhân bất vụ lợi (những ai đóng góp cúng dường cho Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu sẽ được miễn thuế), nếu không giỏi như Dr. Puplick thì cũng rất khó và sẽ mất rất nhiều thời gian để có thể xin được giấy phép sinh hoạt.

Hành trình tìm kiếm địa điểm thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu

Vào ngày 11 tháng 11 năm 2006, anh Thiện và chị Bích đã liên lạc với vợ chồng Dr. Puplick để mời hai vị đến thăm hai anh chị tại tư gia của họ ở Rheine.

Anh Thiện và chị Bích đã cho hai vị luật sư biết rõ về tình hình những căn nhà ở Rheine và họ đã nhờ hai vợ chồng Dr. Puplick giúp về mặt luật pháp về việc mua những căn nhà này. Hai vị hoan hỷ nhận lời.

Sau đó Dr. Puplick được Thầy uỷ nhiệm việc lo mua đất và nhà nên ngày 18.05.2007 đã có một buổi hội thảo trong toà thị chính của thành phố Rheine. Tham dự buổi hội thảo này gồm có: ông phó tỉnh trưởng Dr. Janning, trưởng ty phòng hoạch định đất đai, trưởng ty phòng xây dựng, người đại diện phía bán đất, bà Ilona Schmied, ông Dr. Alexander Puplick, anh Thiện và chị Bích.

Sau nhiều cuộc bàn bạc, chuyện mua chỉ còn ký giấy và giao nhà là hoàn thành.

Vào tháng 7 năm 2007, trước khi Thầy về mở khoá tu tại thành phố Berlin, Thầy đã cùng 30 quý thầy quý sư cô ghé thăm cư xá Quân đội tại Rheine. Trong khi tham quan năm toà nhà, trời đã về trưa, vừa mệt lại vừa đói, chị Bích thưa với Thầy, các nhà đều giống nhau, chắc Thầy đã mệt, mình về nhà nghỉ ngơi. Thầy nói Thầy không mệt và muốn tiếp tục xem cho đến căn nhà cuối cùng kể cả tầng hầm.

Sau khi tham quan xong năm toà nhà Thầy còn đi vòng chung quanh và Thầy hỏi, các sân chơi thể thao và các nhà chơi thể thao kia mình có mua được không? Trên đường đi Thầy căn dặn chị Bích, vì những toà nhà này lớn, nên mình sẽ xây một toà nhà ở giữa làm văn phòng, nó sẽ giống một trường Đại học, như khi xưa Thầy còn đi dạy học và mình sẽ làm vườn đẹp để chuyển hoá vẻ cứng cỏi của những toà nhà này để nó có chất thiền vị và sẽ rất đẹp. Thầy dạy chị Bích về viết bài đăng báo với chủ đề “Quân đội ra đi, tâm linh trở về”.

Đi thăm dãy nhà ở Rheine về, Thầy hoan hỷ nhưng chị Bích nói:

“Bà thị trưởng này rất thương con nhưng trong nhân viên nhà nước có một ông rất khó nên Sư cô phải thuyết phục.”

Chân Không phải điện thoại cho ông. Ông đặt câu hỏi:

“Quý vị mua để làm cái gì?”

“Chúng tôi muốn mua để làm một trung tâm thực tập chánh niệm ở Châu Âu, để mọi người trong các nước Châu Âu đều tới được.”

Họ đồng ý với mình nhưng tới khi quyết định mua mình thấy có những điểm bất lợi như có mùi hôi từ một nông trại nuôi heo gần đó, nên chị Bích nói, nếu quý thầy và quý sư cô không muốn mua trung tâm này, con sẵn sàng đi tìm nơi khác. Sau đó chị Bích và một số quý thầy Làng Mai đã đi thăm nhiều nơi khác do các bạn trong các tăng thân Đức giới thiệu.

Thành phố Waldbröl – Vùng đất mới cho Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB)

Trong số các đệ tử của Thầy tại Đức, anh Karl Schmied (Chân Pháp Nhãn), một giáo thọ Tiếp Hiện là người được Thầy rất thương và trân quý. Anh rất tôn kính Thầy và đã giúp rất nhiều trong việc giới thiệu pháp môn của Thầy cho quần chúng ở Đức. Anh đã thành lập một nhóm tăng thân rất lớn tại thành phố München, một thành phố quan trọng bậc nhất của Đức ở về phía nam. Rất thương tiếc anh mất vào ngày 7 tháng 5 năm 2006 trước khi Làng Mai tìm ra cơ sở cho Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu tại Đức.

Sau khi anh Chân Pháp Nhãn qua đời, chị Ilona Schmied là vợ của anh đứng ra làm thủ quỹ của chương trình Hiểu và Thương ở tại Đức (Hội Matreiya Fond Từ Thị).

Theo lời dạy của Thầy có nhiều nhóm tăng thân tại Đức đã tích cực tìm địa điểm cho Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu ở khắp nơi trên nước Đức. Anh chị Bùi Hữu Tường – Bùi Thị Kiều Trang, anh Tảo ở Hamburg, mạnh ai nấy đi tìm và trình bày cho Thầy qua Chân Không. Trong số đó, chị Ilona và chị Thục Quyên thuộc tăng thân München cũng đi tìm chỗ.

Chị Ilona và chị Thục Quyên cũng có tới Hamburg để coi cơ sở và chụp hình gửi qua cho Làng. Vào mùa xuân mình thấy trong hình bông Bruyère nở tím đỏ hết cả cánh rừng. Mình cũng mê nhưng than ôi, khi coi ra thì ngôi nhà đồ sộ đó ở Hamburg bán giá không mắc nhưng nó ở gần cột điện cao thế khá độc, thiền sinh sẽ không dám tới tu đâu. Chị Thục Quyên tìm được ngôi nhà rất sang trọng như một lâu đài, ba tầng, vườn đẹp nhưng khám phá ra là khu ranh giới giữa vùng khá nhiều người theo phe quá khích Đức Quốc Xã dù rằng thành phố kế bên cũng tiến bộ. Sư cô Jina được giới thiệu một trung tâm khá tiện nghi nhưng cũng vùng bên này bên kia quá khích nên không mua được.

Trong một chuyến đi thăm cơ sở tại vùng Bad Ems, khoảng trên một tiếng đồng hồ lái xe về hướng tây nam của thành phố Waldbröl, chị Ilona và chị Thục Quyên được người bán bất động sản giới thiệu đến một cơ sở của quân đội Liên Bang Đức nằm tại thành phố Waldbröl. Theo lời chị Ilona kể, hôm đó trước khi đi đến cơ sở tại Waldbröl, chị Ilona nói với chị Thục Quyên là nơi đây sẽ là trung tâm của mình. Chị Thục Quyên hỏi làm sao chị Ilona biết được. Chị Ilona trả lời chị có trực giác như vậy.

Thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB)

Cơ sở này ở Waldbröl là một căn nhà thật sang. Nhà cất theo phong cách của Đức Quốc Xã. Anh Puplick tới coi nói nhà đẹp theo thời đó, nó hơi thẳng và cứng. Anh cũng nhắc đây là phong cách thẳng cứng của Hitler. Nhưng không quan trọng vì mình đi vô thì thấy những bức tranh mosaïque thật lớn, dưới đất thì lót đá ngọc thạch, một loại đá trên núi Alpes. Ở toà thánh Vatican cũng lót loại đá đó. Núi Alpes nằm giữa Đức, Pháp, Thuỵ sĩ và Ý. Vô nhà thì thấy đẹp huy hoàng, những bức tranh chừng 6 thước bề cao 12 thước bề dài, mỗi bên hai ba bức. Toà nhà dài 150 mét nhưng mỗi 6 mét thì có một cửa kiếng pha lê ngăn lại, đứng bên này có thể nhìn thấy suốt tới đằng kia. Mình có thể để truyền hình ở đây mà phòng thứ hai, thứ ba cũng thấy được. Mình chỉ nghĩ đơn giản như vậy. Nếu mua nhà này mà chưa có tiền xây thiền đường thì Thầy có thể ngồi ngay chính giữa, để máy truyền hình dài theo hành lang và dùng microphone để giảng.

Ông bán bất động sản muốn tìm hiểu coi Thích Nhất Hạnh là ai mà muốn đi mua trung tâm. Ông đã vô tìm hiểu về Thầy trong internet nhưng ông không nói gì. Sau này ông mới tiết lộ là ông “bám” theo mình tại ông có người em bên Nhật, ông hỏi em ông có biết ông Thích Nhất Hạnh không thì anh ta nói: “Trời ơi ông này nổi tiếng lắm. Tuy ông ít đi giảng bên Nhật, ông qua có một lần mà gieo tiếng tốt nhiều lắm. Người ta phục ổng lắm!” Ông ta cũng có một cô em gái làm việc ở toà đại sứ Đức bên Việt Nam, cô đọc sách Thầy bằng tiếng Đức thì thích quá. Có một phòng trong toà đại sứ Đức ở Việt Nam trưng bày toàn sách của Thầy trong đó cũng có một cuốn sách của Chân Không bằng tiếng Đức. Ông lên mạng vào coi trang nhà của Làng Mai thấy đơn giản, nghèo nghèo mà dễ thương, có cái đẹp của những trung tâm nghèo mà sâu sắc nên ông thích. Ông nghĩ nếu đem cái sâu sắc này để vô viện này thì viện sẽ đẹp lắm. Ông nói có một người Đức muốn để làm thành hotel restaurant nhưng tới giờ chót không biết tại sao họ không mua được. Ông năn nỉ mình cố gắng thì ông bán. Họ xuống giá thì mình cũng không có tiền. Toà nhà từ 10 triệu xuống còn 3 triệu 3 nhưng mình chỉ có 400 ngàn. Chị Annabelle bán được căn nhà chót của má chị và cho mình 600.000€. Chị Thục Quyên nói với ông ta mình không có đủ tiền, mình chỉ có một triệu nếu họ bán thì mình mua. Ông nói một triệu ít quá. Chị Thục Quyên tính cho mượn 100.000€ nên trả 1,1 triệu thì ông chịu.

Người ta sợ mình mua rồi làm sao trả nổi chi phí mỗi năm khoảng hơn 200.000€. Chị Thục Quyên nói, ba năm đầu thì các ông trả tiền chi phí cũng như một công ty mới ra đời thì mình phải giúp cho nó đứng vững. Ông ta nghe cũng có lý nhưng tiền không phải của ông, ông làm việc cho Bộ Quốc phòng. Ông là người lý tưởng nên nghĩ nếu giúp Thầy hết lòng thì nước Đức sẽ đỡ hơn. Ông bằng lòng, ông sẽ đề nghị trong ba năm đầu, mỗi năm Bộ Quốc phòng sẽ giúp mình trả tiền chi phí tức là 600.000€.

Chị Thục Quyên nói cái nhà lớn quá nếu rỉ nước chỗ này chỗ nọ mà tìm ra chỗ rỉ thì chắc chết. Như vậy thì ông bớt thêm 200.000€ nữa cho nên rốt cuộc mình chỉ mua với giá 300.000€, chỉ tương đương 1/100 giá trị của ngôi nhà.

Khi ký giấy tờ mua mình phải làm giấy cam kết không được trả lại trong mười năm. Mình nghĩ mình muốn mua quá thì làm sao mà trả lại. Mình mời Thầy qua coi.

Ngày 8 tháng 3 năm 2008 Thầy qua coi thì Thầy thích quá. Mình mua rồi mới bị xín vín, chới với với nhiều luật pháp xây cất, không lường trước được những khó khăn sẽ xảy ra sau này. Ông thị trưởng mở cuộc họp báo, ông rất hãnh diện vì có thiền sư Thích Nhất Hạnh tới đây. Ngày hôm sau báo chí đăng rất nhiều.

Tiểu sử của toà nhà

Sau này mình mới biết tiểu sử toà nhà mình mua. Toà nhà hiện nay là Viện Vô Ưu, khởi đầu là một bệnh viện được xây dựng từ năm 1895 đến năm 1897 để chăm sóc các bệnh nhân tâm thần và khuyết tật dưới sự quản lý của Giáo hội Tin Lành. Bệnh viện này được khánh thành vào ngày 09 tháng 6 năm 1897. Đến năm 1933, do ý thức hệ thuần chủng và chính sách thanh lọc giống nòi, phần lớn những người bị bệnh tâm thần, khuyết tật về tâm lý hay cơ thể, những người ở ngoài vòng xã hội hay các thai nhi, trẻ em có khả năng bị khuyết tật đều bị đối xử bằng những phương pháp bạo động như bị triệt sản, bị phá thai hoặc giết chết bằng thuốc mê. Từ giữa tháng 11 năm 1938 đến tháng 1 năm 1939, gần 700 bệnh nhân tâm thần, khuyết tật và trên 100 nhân viên của bệnh viện bị ép ra khỏi toà nhà để đi đến làng Hausen ở Westerwald. Không ai biết rõ số phận của những bệnh nhân này. Nhưng chúng ta biết họ đã phải chịu đựng những khổ đau rất lớn từ thể xác đến tinh thần. Trên một cái bia trước Viện Vô Ưu có ghi: “Nhà này có 700 trẻ em khuyết tật bị đưa đi một nơi nào không ai biết. Bây giờ người ta không biết các em ở đâu. Chính gia đình các em cũng không tìm ra tông tích.”

Khi nghe như vậy thầy Pháp Ấn cùng quý thầy, quý sư cô Viện EIAB cho làm những trái tim: “Người nào ở đây mà thương những trẻ em bị đưa đi mất thì xin làm một trái tim.” Nhờ có cái bia mình mới biết chứ lúc đầu chính chị Thục Quyên cũng không tin chuyện đó. Thầy Pháp Ấn rất nhạy cảm, lúc đầu mới được cử về thầy bị rớt chuông lúc làm lễ cầu siêu, rồi thầy nằm mơ thấy mấy đứa nhỏ sắp chết cầu cứu trong nhà vệ sinh. Thầy chạy vô kéo nó ra, giữa chừng thì thầy tỉnh dậy. Thầy nghĩ con nít ở đây đang khổ lắm.

Trong thời gian khi toà nhà hoàn toàn thuộc về sự kiểm soát của những người theo chủ nghĩa phát-xít Đức, những khổ đau to lớn và kỳ thị đó, chúng ta không hề biết cho đến khi chúng ta dọn vào toà nhà và với thời gian, qua sự chia sẻ của những người địa phương, chúng ta từ từ hiểu ra mọi chuyện.

Khi được hỏi vì sao Thầy chọn thành phố Waldbröl để xây dựng Viện Phật học. Thầy thường trả lời thành phố Waldbröl chọn Thầy và tăng thân Làng Mai. Quả thật những năng lượng khổ đau do chiến tranh và hận thù tại nơi đây đã nương vào sức mạnh tâm linh của Thầy và đại chúng Làng Mai để được chuyển hoá và hoà giải. Đó là cũng do nơi đại nguyện Bồ tát cứu khổ của Thầy suốt một đời xây dựng hoà bình, chấm dứt chiến tranh và chuyển hoá khổ đau không những cho đất nước Việt Nam mà còn cho cả thế giới.

Sau thế chiến thứ 2 toà nhà lại trở thành bệnh viện đa khoa. Kể từ năm 1969 sau khi bệnh viện được dời đi nơi khác, toà nhà này trở nên một trung tâm cho các sinh hoạt quân sự về biên phòng và từ năm 1975 cho đến năm 2006 chánh thức thuộc về quân đội liên bang Đức (Deutsch Bundeswehr). Toà nhà có chiều dài 150 m, chiều ngang từ 12 đến 16 m, với sáu tầng (kể cả tầng hầm) và có tổng số diện tích mặt bằng khoảng 12.000m2. Toà nhà có thể cung cấp chỗ ở cho khoảng 500 người cư ngụ và các phòng ốc khác dùng để tu học.

Đại chúng biết rằng mình sẽ phải đầu tư rất nhiều tài chánh và năng lực để thực hiện công trình xây dựng Viện Phật học. Tuy nhiên, những dự tính về thời gian cũng như ngân quỹ sửa chữa đã phải bị thay đổi rất nhiều vì trong quá trình sửa chữa và xây cất lại có phát sinh thêm những đòi hỏi quan trọng và thiết yếu khác của cơ quan xây cất chính quyền.

Mình chia toà nhà ra hai bên, bên các thầy và bên các sư cô. Nhưng họp báo xong thì chính quyền cho biết mình không được ở trong toà nhà cho đến khi sửa chữa xong. Mình nói ông thị trưởng vừa mở một buổi họp báo có ba bốn trăm người đâu có sao. Năm nào vào dịp Giáng sinh hay Tết ông thị trưởng cũng mở buổi dạ hội hợp pháp ở đó. Họ cho biết tại vì lúc trước chủ của ngôi nhà là Bộ Quốc phòng mà nếu có hoả hoạn thì Bộ Quốc phòng có 300 người lính sẵn sàng để tới chữa lửa. Nhưng nếu là tư nhân như mình thì phải lập chương trình phòng cháy chữa cháy trở lại và có cách chữa lửa khác với lối của Bộ Quốc phòng. Trong hành lang của tầng dưới có những tấm kiếng ngăn phòng này với phòng kia. Kiếng nhìn đẹp như vậy nhưng nếu bị lửa đốt lên chừng 200 độ thì chảy liền. Mình phải đổi loại kiếng đốt tới 200 độ mà không chảy. Loại kiếng đó rất đắt tiền, một tấm giá là 80.000€. Mình chỉ đổi được ba tấm bên này và ba tấm bên kia là hết tiền.

Mình phải sửa ngôi nhà đó lại theo đúng tiêu chuẩn dân sự về chữa lửa, trước hết là phải có hai cầu thang. Trong nhà mình đã có hai cầu thang bằng cẩm thạch rất đẹp. Mình tưởng như vậy là đủ, khi cháy thì mình có thể chạy ra tại vì hai cầu thang đó cũng cách nhau khá xa, nhưng người ta nói không đủ. Mình phải làm hai cầu thang bên ngoài, phía tay mặt và phía tay trái. Cầu thang được làm bằng loại sắt đốt mấy ngàn độ mới chảy nên rất mắc tiền, mắc bằng ba bằng bốn sắt thường.

Tóm lại, vì trước đây, toà nhà là một trung tâm sinh hoạt của quân đội liên bang Đức, do đó những yêu cầu về tiêu chuẩn phòng hoả của toà nhà được xác định dựa trên những quy chế đặc biệt dành riêng cho quân đội. Giờ đây, toà nhà được sử dụng như một cơ sở dân sự, nên những đòi hỏi về xây cất trên khía cạnh phòng hoả, các hệ thống điện và cầu thang thoát hiểm cần phải thay đổi rất nhiều và dĩ nhiên khe khắt hơn để thoả mãn những yêu cầu theo quy chế dân dụng. Ngoài ra, phần lớn hệ thống ống nước đã được ráp đặt vào những thập niên 30, nay đã bị rỉ nặng và hư hỏng rất nhiều. Thêm vào đó, toàn bộ thiết kế của nhà bếp đã quá lỗi thời và không còn đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra hiện nay về phương diện vệ sinh và y tế công cộng. Hệ thống lò sưởi cần phải được sửa chữa lại rất nhiều vì đã bị rỉ chảy và quan trọng hơn cả là hệ thống lò sưởi cần phải được thiết kế lại theo tiêu chuẩn mới để có thể tiết kiệm được năng lượng và giúp bảo vệ cho sinh môi. Các nhà vệ sinh và phòng tắm công cộng cũng cần phải được xây cất thêm để đáp ứng cho nhu cầu mới. Tình trạng của toà nhà hiện nay không hội đủ tiêu chuẩn phòng hoả cần thiết để được phép nhận khách thăm viếng, mở các khoá tu, cũng như được phép tổ chức những hoạt động công cộng khác.

Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu có hai toà nhà là viện Vô Ưu và chùa Đại Bi. Thầy đã căn dặn khi lập Viện Phật học Âu Châu thì mình phải mua một chỗ gần đó cho bên các sư cô có chỗ ngủ nghỉ và sinh hoạt. May là có một ngôi nhà lớn ở sát bên cũng đang bán. Đó là ngôi nhà mà những người không muốn làm nghĩa vụ quân sự thì làm công tác xã hội gọi là service civile, tức là nghĩa vụ dân sự trong đó họ huấn luyện công tác xã hội trong 18 tháng. Mình mua ngôi nhà đó với giá 400.000€, trong khi đó nguyên một toà nhà lớn của Viện chỉ có 300.000€. Thầy đặt tên là chùa Đại Bi. Chùa Đại Bi là ngôi chùa ngày xưa gia đình muốn cho Thầy vô xuất gia, nhưng quý thầy trong chùa nói Thầy nên đi vô chùa Tổ Từ Hiếu. Chùa Đại Bi là chỗ mấy sư cô ở, còn viện Vô Ưu là để mấy thầy ở.

Chùa Đại Bi có hai tầng, tầng trệt có bốn văn phòng và một phòng họp, tầng hai có bốn phòng seminar dùng làm Phật đường, phòng học và chỗ ở cho các sư cô. Có tổng cộng là 33 phòng. Có nhà bếp nhỏ và nhà ăn cho khoảng 80 người, được dùng cho công cộng (public) nhưng sau khi viện Vô Ưu xây dựng xong nhà ăn đúng tiêu chuẩn public quy định thì bếp và nhà ăn chùa Đại Bi chỉ dùng cho trong nhà.

Giữa viện Vô Ưu và chùa Đại Bi có tháp chuông được xây bằng những cột trụ đá còn sót lại của Đức Quốc Xã. Ở dưới căn hầm của viện còn chứa những cột bằng đá rất cao to. Thầy Pháp Ấn nghĩ sử dụng những cái cột đó để làm một cái tháp chuông. Tháp chuông đó không giống các tháp chuông Việt Nam, tại vì thợ từ Việt Nam rất khó mời qua. Tháp chuông cao 21m với những biểu tượng hàm chứa giáo lý và con đường thực tập của đạo Bụt đã giúp quân bình năng lượng cho toàn bộ khu đất của viện Vô Ưu và chùa Đại Bi được xây dựng vào năm 2013. Chung quanh tháp, thầy Pháp Ấn cho đặt bảy tượng Phật ngoài trời. Muốn thỉnh chuông mình phải xin phép chính quyền. Buổi sáng chủ nhật lúc 6 giờ sáng người ta còn ngủ, tuy tiếng chuông rất trầm nhưng người xung quanh không thích nên mình phải thỉnh chuông lúc 11:30 giờ.

Trong mười năm qua, nhờ sự thương yêu và yểm trợ của quý thân hữu khắp nơi trên thế giới, mình đã trùng tu được tầng trệt và 1/5 toà nhà của viện Vô Ưu. Những phần này quý thầy và quý sư cô hiện nay chỉ được giấy phép sử dụng tạm thời với sự gia hạn hai năm một lần cho đến khi toàn thể toà nhà được sửa chữa xong. Năm 2017, sau bốn năm xây dựng, nhà bếp và phòng ăn cũng đã được hoàn tất và theo yêu cầu của chính quyền địa phương, hệ thống phòng hoả trung ương cho chùa Đại Bi cũng đã được thực hiện.

Trên phương diện tu học và hành trì, trong mười năm qua, các khoá tu học, các chương trình sinh hoạt cho các em học sinh, sinh viên cũng như giao lưu tôn giáo, những buổi pháp thoại công cộng, sinh hoạt cộng đồng, hoà tấu gây quỹ… được tổ chức ngay tại Viện Phật học, hay tại các địa điểm khác trong cũng như ngoài Châu Âu do Thầy, quý thầy, quý sư cô của Phật Học Viện và tăng thân Làng Mai đảm trách đã giúp cho hàng vạn lượt người khắp nơi trên thế giới biết đến pháp môn, tu tập và chuyển hoá những khổ đau của tự thân và hoà giải được với những người thân trong gia đình. Số lượng thiền sinh đến tu học mỗi ngày một đông hơn và có những khoá học đông, thiền sinh phải mướn phòng ở trọ bên ngoài. Có những cuối tuần, quý thầy và quý sư cô gặp khó khăn để sắp xếp phòng sinh hoạt và thuyết giảng cho tất cả các khoá học và các sinh hoạt khác của tăng thân.

Từ khi biết đến những khổ đau của những bệnh nhân đã từng sống tại đây, trong suốt bảy năm sau khi dọn vào toà nhà của viện Vô Ưu, quý thầy quý sư cô đã gởi năng lượng từ bi, cúng cháo mỗi ngày cho các hương linh và mỗi tuần toàn thể đại chúng cùng nhau tổ chức cúng thí thực cho các vị khuất mặt, cầu nguyện năng lượng từ bi và hồng ân của chư Bụt, chư vị Bồ tát và chư vị Tổ Sư gia hộ cho quý vị đó được vãng sanh Tịnh Độ. Hằng năm trước các khoá tu Mùa Hè, Thầy và đại chúng cũng tổ chức trai đàn chẩn tế cho tất cả các nạn nhân đã chết oan ức trong mọi hoàn cảnh khổ đau của cuộc sống, đặc biệt là cho các nạn nhân tại Waldbröl và trong các cuộc chiến tranh. Trong những lần chẩn tế đầu, có lúc gió bão nổi lên rất là mạnh mẽ. Chư vị Tôn Đức đến thăm viếng Viện Phật học cũng đã tổ chức những buổi lễ cầu siêu và chú nguyện rất nhiều cho các hương linh.

Nhờ công phu tu tập tinh chuyên và sự tuỳ hỷ hồi hướng công đức của toàn thể tứ chúng cho tất cả mọi người và mọi loài, năng lượng thương yêu, hiểu biết và bao dung càng ngày càng được bồi đắp tại vùng đất mới này. Năng lượng của Viện Phật học giờ đây nhẹ nhàng, tươi vui và sáng đẹp hơn xưa rất nhiều.

Điều hành

Khi vừa mua xong trung tâm, Thầy cử chị Thục Quyên tạm làm giám đốc về sửa sang, điều hành, cùng hợp tác với anh Puplick lo về luật lệ. Mỗi lần mình muốn mướn kiến trúc sư hay kỹ sư thì phải bàn với hai người. Năm 2009, chị Quyên giao công việc lại cho thầy Pháp Ấn. Thầy cử thầy Pháp Ấn làm viện trưởng (Director) và sư cô Chân Đức lo chuyện tu học cho các em. Sư cô Chân Đức đã từng làm giám đốc Trung tâm Thanh Sơn nên sư cô rất ngại chuyện giấy tờ sửa chữa, nhưng trong việc giảng dạy thì sư cô rất giỏi.

Thành phố Waldbröl lúc đầu xa lạ với mình nhưng bây giờ trong phố có một tiệm sách bán rất nhiều sách của Thầy bằng tiếng Đức. Các thầy các sư cô ở đó phải học tiếng Đức, có cô giáo tình nguyện tới dạy miễn phí. Mình phải thi đậu bằng tiếng Đức thì họ mới cấp cho thẻ lưu trú. Bên Đức có cái bất lợi là học tiếng Đức quá khó nên một số anh chị em ở được bốn năm thì đòi đi về.

Sau mười năm phát triển và xây dựng

Vào ngày 10 tháng 8 năm 2018, nhân dịp lễ kỷ niệm đệ thập chu niên của Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu, trước hằng trăm quý vị quan khách đến từ khắp nơi trên nước Đức và Châu Âu, Ông Peter Koester, thị trưởng của thành phố Waldbröl đã phát biểu một cách thân thương và đầy tình cảm thương mến của ông đối với Viện Phật học trong đó có đoạn như sau:

… Trong mười năm qua, tại EIAB đã diễn ra nhiều điều hơn là người ta có thể hình dung được.

Khi quý Thầy, quý Sư cô mới đến nơi này, dĩ nhiên quý vị có sự phấn khởi rất lớn – một toà nhà tuyệt đẹp, uy nghiêm và to lớn, nhưng sau đó những gì sẽ đến cho quý vị là không biết bao nhiêu khó khăn, những gánh nặng, không chỉ về tài chính mà cả về quá khứ nặng nề và phức tạp của toà nhà này trong lịch sử nước Đức, điều mà nhiều người trong số quý vị ở đây đã biết.

Tôi chỉ có thể nói rằng lòng tôi tràn đầy sự cảm phục và kính nể những việc mà quý Thầy, quý Sư cô Viện Phật học EIAB đã làm được: từ việc chuyển hoá năng lượng khổ đau trong quá khứ của ngôi nhà này đến việc tạo dựng tháp chuông cũng như xây dựng và trùng tu các cơ sở vật chất khác. Đặc biệt hơn nữa, đó là cách tiếp xử, luôn luôn bằng sự trân quý, chánh niệm và tình thương mà quý Thầy, quý Sư cô đã thể hiện trong tất cả mọi sinh hoạt của quý vị trong tương quan với đời sống của thành phố Waldbröl này.

Tôi xin chân thành chúc mừng Viện Phật học EIAB đã có mặt mười năm ở thành phố Waldbröl! Tôi nói điều này hoàn toàn xuất phát từ chính trái tim của mình, như là một người bạn thân thiết của Viện Phật học EIAB.

Tại EIAB hay tại những nơi khác của thành phố, có khi là ngay trong Toà thị sảnh, tôi đã có cơ hội được tiếp xúc với quý Thầy, quý Sư cô. Tôi vẫn còn nhớ rất đậm nét hình ảnh quý Thầy, quý Sư cô đi lên thang lầu của Toà thị sảnh rất là từ tốn và chậm rãi. Ngày hôm đó, tôi vừa họp xong và phải đi đến một cuộc họp kế tiếp ở trên tầng hai. Theo thói quen thường lệ, tôi đã vượt qua quý Thầy, quý Sư cô và đi lên phía trước. Sau đó khi đến cuộc họp, tôi mới dần dần cảm nhận rõ về hành động vừa qua của mình. Tôi ngẫm nghĩ và tự hỏi mình rằng: Tại sao tôi không thể đi chậm lại được? Tại sao tôi không tự cho mình cơ hội thưởng thức từng bước chân, từng bậc cầu thang? Tôi nhận ra được điều đó và thấy mình có thể học được một điều mới. Cũng như thế, chúng tôi từ từ đã học được rất nhiều điều khác từ các sinh hoạt chung với quý Thầy, quý Sư cô.

Chúng tôi cũng đã học cách chung sống với người khác, chung sống với nhau trong tinh thần hoà hợp. Chung sống với nhau đồng nghĩa với sự trân quý nhau, thật sự có mặt cho nhau trong tinh thần chánh niệm cũng như biểu lộ và hiến tặng tình thương cho nhau. Và tôi đã chứng kiến được điều đó tại đây, tại thành phố Waldbröl, một sự chung sống với nhau thật là hoà hợp, thật là tuyệt vời.

Đó cũng là nhờ sự thực tập của quý Thầy, quý Sư cô. Quý vị đã tìm mọi cách để có thể đi vào được đời sống nơi đây của thành phố này, để có thể đến với những người Cơ Đốc giáo cũng như các tôn giáo khác tại nơi đây để cùng sống chung với nhau trong tinh thần hoà hợp. Có những lúc, quý Thầy, quý Sư cô đã đứng yên thật là im lặng và chánh niệm trước cửa các nhà thờ Tin Lành hoặc nhà thờ Thiên Chúa giáo khi tiếng chuông nhà thờ ngân vang. Và tôi muốn nói rằng, những phương cách tích cực, những con đường mà quý Thầy, quý Sư cô cùng với quý vị đã tìm để có thể đến được với nhau, để chúng ta có thể sống chung hoà hợp được với nhau, thật đáng ngưỡng mộ.

Không những chỉ có quý Thầy, quý Sư cô đã về, đã tới mà chính chúng tôi cũng đã về, đã tới. Ấn tượng đẹp nhất là giây phút bản thiền ca Chúng ta đã về, chúng ta đã tới cất vang lên trong Toà thị sảnh. Giờ phút này tôi đang thật sự xúc động với những gì tôi vừa chia sẻ với quý vị và với tư cách thị trưởng của một thành phố có hai mươi ngàn dân (20.000) tôi chỉ có thể nói với quý vị rằng: Đẹp thay! Lành thay! Quý vị đã có mặt tại nơi này với chúng tôi, đã nuôi dưỡng và làm tăng trưởng chất liệu thương yêu, trân quý, cẩn trọng và chánh niệm trong chúng tôi bằng những chất liệu ấy trong lòng quý vị. Chúng tôi có thể học được rất nhiều điều mà không cần phải từ bỏ đức tin và tôn giáo riêng của chính mình.

Tôi nhớ lại sau khi mua toà nhà này với giá vài trăm ngàn Euro, bao nhiêu khó khăn đã đến cho quý Thầy, quý Sư cô với bao nhiêu đòi hỏi và yêu cầu, dù là hoàn toàn chính đáng từ phía Ban giám sát xây dựng, ví dụ như những yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy… Trong năm đầu tiên đó của Viện Phật học EIAB khi mùa đông về, tôi đã nghĩ rằng: Quý Thầy, quý Sư cô sẽ lạnh cóng, và không những chỉ lạnh cóng mà quý vị sẽ chết cóng mất thôi bởi vì trong toà nhà này hệ thống sưởi đã hoàn toàn không còn hoạt động được nữa. Tuy vậy quý Thầy, quý Sư cô đã vượt qua được tất cả những thử thách đó, đã chứng tỏ một nghị lực phi thường, một đức tin vững chãi nơi con đường mình đang đi và một sức mạnh tự thân thể hiện qua công phu thiền tập và tất cả những gì quý vị đang hiến tặng.

Chúng tôi thật sự hạnh phúc vì quý Thầy, quý Sư cô đã đến đây và tôi tin rằng không có điều gì tuyệt vời hơn đối với thành phố Waldbröl là Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB) đã được thành lập tại thành phố này.

Tới bây giờ thì mình sửa được 3/5 toà nhà, còn 2/5 và tầng hầm thì chưa làm gì hết. Chân Không kêu gọi mấy người trong nước hay ngoại quốc có thể đóng góp được. Có cô Lilian Cheung là người Mỹ gốc Tàu, cô rất thương Thầy. Cô dạy Đại học Havard về nutrition (dinh dưỡng). Cô Lilian Cheung muốn tặng cho Thầy một món quà đặc biệt mà chưa hề có ai tặng. Cô muốn tặng cho chùa của Thầy. Chùa Từ Hiếu là chùa Tổ nên Thầy có bổn phận phải sửa sang, cất thêm và các chi phí đó thì Thầy chịu chứ không muốn lạc quyên ai hết. Nhưng kế bên chùa Từ Hiếu có một chùa ni là chùa Diệu Nghiêm để các sư cô có chỗ tu tập không xa Từ Hiếu. Lúc đó sư bà Diệu Nghiêm muốn cho Thầy chùa Diệu Nghiêm để làm ni viện và là nơi tu tập cho các sư cô trẻ vì sư bà không muốn chùa Diệu Nghiêm chỉ làm nơi bán hương. Cô Lilian nghe nói về ước muốn của Thầy nên cho 45.000$. Mới đầu cô muốn cho 100.000$ nhưng Chân Không nói cô cho 90.000$ thôi. Sau đó Chân Không sực nhớ là các sư cô Thoại Nghiêm, Định Nghiêm có kể với Chân Không là em của Thầy tức sư thúc Chí Thắng có rất nhiều đệ tử xuất gia còn nhỏ xíu ở trong một ngôi chùa lá rất nghèo. Chân Không đề nghị với cô Lilian:

“Bây giờ Diệu Nghiêm cũng chưa xây liền được, mình xây từ từ thôi. Mình lấy 45.000USD thôi còn 45.000USD thì mình cho sư thúc Chí Thắng để sửa chùa.”

Vì vậy chùa Diệu Nghiêm và chùa sư thúc Chí Thắng cũng có chút nhân duyên với cô Lilian.

Sau khi mình có EIAB và vận động tiền để sửa chữa, Chân Không nói với cô Lilian là cô dạy về thức ăn dinh dưỡng mà bên Đức cần một chỗ để nấu ăn. Mỗi khi Thầy về giảng thì lên cả ngàn người. Khi nào Thầy về EIAB cho khoá tu thì mình phải nấu trong nhà bếp chùa Đại Bi và làm nhà bếp lộ thiên. Vì thế Chân Không đề nghị và cô Lilian Cheung cúng dường 1 triệu đô để EIAB có nhà nấu ăn đúng luật.

Những thuận lợi ở EIAB

Thầy cử thầy Pháp Ấn qua làm viện trưởng Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu. Thầy Pháp Ấn mới từ Việt Nam về và chưa bị kẹt vào trung tâm nào cả. Thầy Pháp Ấn rất có hiếu với Thầy mình nên Thầy biểu thì thầy làm thôi. Mình có sư chú Pháp Hoạt và sư cô Song Nghiêm, tuy họ mới là sa di và sa di ni thôi nhưng họ giỏi tiếng Đức nên có thể phụ tá cho thầy Pháp Ấn. Ngoài ra còn có thầy Pháp Chương, thầy Pháp Lượng, thầy Pháp Thanh rồi sư cô Bảo Nghiêm, sư cô Bi Nghiêm cũng là những người nói được tiếng Đức. Nhưng cô Bi Nghiêm khi mới vào thăm viện Asoka (Vô Ưu) đã hoảng lên nói: Ôi chao lớn thế này thì ai mà quét cho nổi! Sư cô Bảo Nghiêm lúc đi xem đất lần đầu cũng sợ cắt cỏ không xuể. May là ở đây gần trung tâm có một hãng bán máy cắt cỏ. Họ cho người ta cắt cỏ giùm mình để thử máy nên tiền cắt cỏ xung quanh viện mình không phải trả đồng nào. Có hai mẫu vườn táo sau lưng nhà mà mình thì rất thích táo.

Những khó khăn ở EIAB

Thầy rất thích có trung tâm tu học ở Đức nhưng khi Thầy qua thì bị chạm những cái khá cứng của người Đức. Ví dụ mới đầu Thầy muốn dẫn 30 hay 50 con của Thầy qua thì chị Thục Quyên nói không được. Chị phải liên lạc với nhà giữ trẻ kế bên cho mấy thầy và mấy sư cô ở bên đó. Bên đây chỉ có Thầy, Sư cô Chân Không và ba bốn người lớn thôi, tại vì mình chưa ký hợp đồng mua mà mới chỉ ký giấy đồng ý mua thôi.

Khi sư cô Gina qua thấy toà nhà lớn như vậy thì hỏi làm sao sắm giường đây. Chân Không nói: “Đâu có sao đâu, nền đá cẩm thạch thì mình mua nệm dày trải lên thôi.” Trung tâm hình như có tất cả là 462 phòng, mỗi phòng đều có máy báo động hoả hoạn, có gì thì mình chỉ cần lấy bình chữa lửa xịt thôi. Mình nghĩ vậy nên mới mua, mình không cần tốn gì hết. Phòng nào cũng sạch sẽ chứ đâu có giống như phòng phơi thuốc lá hay chuồng bò ở Làng Mai. Mình tưởng dễ, nhưng sư cô Gina nói không được, người Đức không nằm dưới đất. Mình thì nghĩ đơn giản, ai muốn học pháp môn của Thầy thì nằm dưới đất thôi, miễn là có tấm nệm dày là được rồi.

Lập một Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu là lý tưởng của Thầy nên dù cho Thầy tịch rồi 10, 20 hay 100 năm sau thì mình cũng lập một Viện Phật học Ứng dụng tại Âu Châu. Nếu không đủ sức hay đủ tiền để giữ cái nhà này thì mình cũng tìm một ngôi nhà khác để làm. Đó mới thiệt là ý của Thầy.

Nhờ mình có nhiều phòng nên khoá tu của cô Chân Đức mở đồng thời với khoá tu của thầy Pháp Ấn mà vẫn có đủ chỗ cho thiền sinh. Bettina, chị Annabelle cũng là giáo thọ cư sĩ. Chị Annabelle mỗi lần tới dạy được 1000, 1500€ thì đưa hết cho viện. Trong khi đó nếu Bettina hay Kai Romdhart giảng mà khoá tu của họ chỉ có ba người ghi tên thì mình xin lỗi không đủ tiền để mua vé xe lửa cho họ từ Berlin tới Viện. Giáo thọ cư sĩ nào mình cũng hoan nghênh nhưng hiện nay không có khoá tu nào của giáo thọ cư sĩ mà có đông người ghi tên tham dự. Chỉ có lớp của thầy Pháp Ấn là đông người ghi tên thôi.

Gần đây chị Thục Quyên có ý kiến rất hay. Có những trường Đại học mà nhà nước Đức phải ủng hộ vì là di sản của quốc gia. Chị nói đây cũng là di sản quốc gia, nếu mình liên hệ tốt với các trường Đại học và nhà nước coi Viện Phật học Ứng dụng Âu Châu (EIAB) là trường đào tạo con người trở thành những con người tốt thì chánh phủ sẽ nuôi. Nếu chánh phủ nuôi thì mới hy vọng EIAB được vững bền chứ mình không trông cậy ở tiền cúng dường được. Ở Việt Nam có cúng dường thì sống nổi nhưng bên đây ít ai cúng dường như vậy.

Thiền đường Suối Thương

Lúc đó có một cô người Đức rất thương quý Thầy tên là Annabelle Zinser. Chị được anh Karl Schmied rủ vô Matreiya Fonds. Năm nào chị Annabelle cũng tặng cho Matreiya Fonds một số tiền rất lớn, chị rất thương phục Thầy và chị cũng có đọc sách của Chân Không. Chị cũng thích Chân Không lắm nhưng Chân Không đi theo Thầy chỉ lo giảng dạy thôi chứ không để ý người đó có tiền hay có khả năng gì.

Hôm đó có một người lại nói với Chân Không, hình như là cô Lê Phương Chi:

“Cô Annabelle này rất muốn có một trung tâm do Thầy dạy ở Đức lắm. Cô sẵn sàng cúng dường một trung tâm cho Thầy. Cô đã tìm ra một trung tâm rất lớn của Tây Tạng gần Berlin.”

Cô hỏi mình chịu mua trung tâm đó không, nghe cô tả thì mình thấy trung tâm đó lớn quá chắc làm không nổi và giá tiền chắc là cao. Cuối cùng cô lựa một cái nhà đẹp hai ba tầng ở một cái góc cũng yên tĩnh ở Berlin và xin cúng dường cho Thầy.

Lúc đó tình trạng cũng giống như tình trạng của Mộc Lan lúc trước vậy. Người ta muốn cúng dường đất cho Thầy nhưng Thầy không muốn làm sở hữu chủ. Ai cúng dường thì làm luôn trụ trì rồi Thầy sẽ từ từ chọn mấy sư cô mấy thầy, tại vì lúc đó tuy Làng có nhiều xuất sĩ nhưng vẫn chưa có đủ giáo thọ. Nếu cô Annabelle chịu đứng làm trụ trì thì Thầy sẽ nhận. Có trung tâm đó rồi thì mình sẽ gửi sư cô Bảo Nghiêm (người Việt quốc tịch Đức) và một số thầy và sư cô nhỏ qua ở bên đó.

Nhưng dự định này cũng không thành công. Một bữa mấy sư cô đang đi dạo trên lề đường thì có một đứa nhỏ người Đức đi xe đạp ngang đập một cái rất mạnh lên đầu một sư cô. Thầy thấy quá bạo động nên rút mấy thầy mấy sư cô về hết.

Quỹ Từ Thị (Matreiya Fond)

Năm 2000 mình gặp một anh Phật tử người Đức theo đạo Phật Tây Tạng là anh Karl Schmied. Thầy đặt tên cho anh là Chân Pháp Nhãn. Anh là giáo thọ của bên Tây Tạng nhưng anh rất thương Thầy. Từ khi gặp Thầy, nghe Thầy dạy, anh đã bỏ uống rượu và không ăn thịt cá nữa. Anh gặp chị Chân Diệu tức chị Thục Quyên và đề nghị thành lập chương trình Matreiya Fond tức Quỹ Từ Thị để giúp con nít đói Việt Nam. Chương trình rất thành công. Mỗi buối thuyết pháp công cộng hàng ngàn người ở Đức tới nghe, hay sau các khoá tu anh đều đứng lên kêu gọi giúp trẻ em Việt Nam. Anh nói: “Đây là một tổ chức do Sư cô Chân Không và tôi thành lập. Tôi đem luật lệ của nước Đức để những người cho tiền được miễn thuế. Nhưng Sư cô Chân Không thì muốn những việc làm từ thiện ở Việt Nam phải có giá trị tinh thần đạo đức.” Không phải chỉ là vấn đề cho tiền, mình phải làm sao để làm sao các cháu học hát “là hoa tươi mát, là núi vững vàng” để mỗi lần tụi nó đánh nhau thì có thể hát làm dịu cơn giận, rồi làm thiền ôm và thông cảm nhau.

Mỗi năm anh đi Việt Nam một vòng, tới trường nào anh cũng bắt trả bài là hát những bài nhạc thiền cho con nít của Làng Mai. Nếu thuộc thì anh mới khen tốt, nếu không thì anh phê bình là chỗ đó không có tu đàng hoàng và xin mấy chú tác viên phải dạy tụi nhỏ cho kỹ. Lẽ dĩ nhiên là người Việt đóng góp cũng nhiều. Lúc đầu anh chỉ muốn làm việc xã hội chứ không cứu trợ. Nhưng năm 1999-2000 ở miền Trung có lụt lớn nên chị Thục Quyên quyết định lập một quỹ riêng để lạc quyên cứu trợ đồng bào. Anh do dự nhưng cuối cùng đồng ý và khi lập xong thì số tiền quyên lên rất nhiều. Thường thường thì quỹ có khoảng 200.000€ – 300.000€, sau khi lập quỹ cứu trợ thì số tiền lên tới 500.000€. Quỹ Từ Thị làm việc chung với chương trình Hiểu Và Thương ở Việt Nam. Sau khi Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội tan nát, bà Dương Quỳnh Hoa từ chối không hợp tác thì mình không còn chương trình Thanh niên Phụng sự Xã hội chính thức nữa. Nhưng mình cũng vẫn âm thầm làm việc và giúp được rất nhiều. Tới khi anh Chân Pháp Nhãn về Việt Nam thì họ hỏi tại sao mình không xin phép chính thức, Chân Không đề nghị mình làm theo từng địa phương vì nếu xin phép, dù chính quyền ở Thừa Thiên họ hứa cấp phép cho mình, nhưng nếu anh em tác viên có điều gì khiến cho chính quyền Thừa Thiên không hài lòng vì chuyện phân phối quà cho người nghèo không như ý họ, thì họ sẽ không cho phép cũng như thông báo ra các tỉnh khác như Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Thuận… cấm luôn chương trình Hiểu và Thương ra toàn quốc và như vậy chương trình Từ Thị của anh sẽ bị tê liệt hết. Vì vậy nên Chân Không nói mình không chủ trương xin phép công khai. Thừa Thiên hợp tác thì biết chương trình ở Thừa Thiên, Bình Thuận hợp tác thì biết chương trình ở Bình Thuận. Vì vậy nếu chẳng may họ yêu cầu đóng cửa một chương trình thì các chương trình ở tỉnh khác vẫn có thể tiếp tục hoạt động. Đến nay quỹ đã và đang tiếp tục giúp rất nhiều hoạt động từ thiện của chương trình Hiểu và Thương ở Việt Nam.

Làng Cây Phong ở Canada

Ở Canada thiền sinh rất muốn có một trung tâm. Có ba nhóm khác nhau: một nhóm người Việt Nam muốn mở trung tâm nói tiếng Việt, nhóm khác thì muốn mở trung tâm nói tiếng Pháp, nhóm kia thì muốn mở trung tâm nói tiếng Anh.

Nhóm Việt Nam đầu tiên do anh chị Đỗ Quý Toàn và Hà Quyên khởi xướng. Anh chị giỏi và khéo, và rất dấn thân theo con đường Thầy Làng Mai khai mở. Nhờ Thầy ghé thăm Montreal mỗi năm khi mới đi dạy Bắc Mỹ mà Làng Cây Phong hưng thịnh nhanh, nhất là nhờ có các trí thức trẻ như Chân Cơ Trịnh Đình Tấn, Chân Văn Đỗ Quý Toàn, Chân Huyền Hà Dương Quyên, Chân Nhã, Chân Sinh Hoàng Phúc, Chân Hữu, Chân Hội.

Làng Cây Phong tuy năng nổ nhưng thiếu xuất sĩ thường trú nên chưa mạnh, phải có xuất sĩ thì trung tâm mới mạnh. Một anh tên là Chân Huy, anh là cháu của bà Ngô Văn Hiệu, bà Hiệu đã giúp Thầy từ thời lập Nhà xuất bản Lá Bối ở Việt Nam và Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Anh Chân Huy rất thông minh và có tâm nhưng anh rất Tây phương. Nghe Thầy lập Viện Phật học Âu Châu dạy bằng tiếng Anh và tiếng Đức ở Đức thì anh cũng muốn lập Viện Phật học Ứng dụng ở Montreal dạy bằng tiếng Pháp và tiếng Anh ở Canada. Và anh lập liền một Viện Phật học ở Canada. Ở đó học rất nhiều nhưng trên lý thuyết. Sống trong tu viện rất khác, mình được soi sáng, được nhắc nhở tu học 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày thì mới phát triển được. Viện Phật học Bắc Mỹ Châu của anh Chân Huy mở nhiều lớp nhưng không mạnh.

Trực tiếp hướng dẫn làng Cây Phong bây giờ thì có anh Chân Cơ. Ngay từ những năm đầu thị giả dễ thương nhất của Thầy khi đi dạy Canada thì có anh Chân Cơ, anh Chân Hội, Chân Hữu, chị Chân Nhã vợ anh Chân Sinh, chị Phi Thị Nhung ngày xưa học Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Năm 1966, sau khi trường bị liệng lựu đạn thì ba mẹ chị là người Bắc di cư sợ quá, bắt con về. Chị về nhà, lập gia đình nhưng vẫn theo hướng đi của Thầy. Sau này về Canada và liên lạc được với Thầy thì chị trở thành một trong những người năng nổ bền bỉ trong tăng thân. Anh Đỗ Quý Toàn rất giỏi, anh là nhà văn, được nhật báo Người Việt ở Nam Cali mời làm giám đốc nên anh và vợ là chị Chân Huyền cũng chuyển dần dần về Nam Cali và lập Tăng Thân Xóm Dừa. Hồi còn ở Montreal Canada, gặp được Thầy chị Chân Huyền rủ anh Chân Cơ, Chân Hữu, Chân Hội và các anh chị khác đứng ra lập Làng Cây Phong ở Canada. Lúc đầu Làng Cây Phong cũng rất thành công nhưng như Chân Không đã nói, trung tâm của cư sĩ thì không bền như trung tâm có người xuất sĩ. Vì người cư sĩ tuỳ thuộc rất nhiều ở gia đình, vợ chồng con cái.

Canada vùng nói tiếng Anh là Toronto, Edmondton, Alberta và Vancouver. Đa số dân Canada nói tiếng Anh nhưng Thầy có đệ tử Canada nói tiếng Pháp nhiều hơn nhờ nhóm Tiếp Hiện gốc Việt rất năng nổ đứng ra hy sinh lo mọi thứ. Ở cực Tây Canada thành phố Vancouver có chị Jeannie Mc Segie đã lập được Mindfulness Practice Center.

Thầy giáo dạy chánh niệm đầu tiên thành phố Toronto có anh Tiếp Hiện Nguyễn Văn Kỷ Cương, anh là giáo sư Toán, dạy chánh niệm cho các trường trung học rất giỏi. Hồi xưa anh rất thích đi câu cá, sau khi nhận năm giới và trở thành đệ tử của Thầy, anh đã bỏ thú vui đó và tu tập rất hay, sáng chế ra pháp môn dạy học tại trường trung học anh dạy và rất thành công nơi bốn điểm then chốt:

  • Dừng lại mỗi 15 phút. Mỗi 15 phút một em học sinh vỗ tay ba cái. Thầy trò đều dừng lại, thầy không giảng, trò không suy nghĩ. Nhờ dừng lại như thế nên tâm các cháu định hơn, theo bài kỹ hơn. Thầy và trò tập dừng lại, thở, không suy nghĩ nên dạy học hay hơn, tiếp thu hay hơn.
  • Thầy sửa bài bình tĩnh hơn khi thấy học trò làm sai, không để cơn bực mình kéo đi và không chê trò quá nặng. Sau khi thở vài hơi cho bớt bực, thầy viết: “Con không hiểu bài tại thầy giảng chưa rõ.”
  • Học trò thấy tính tình của thầy có tiến bộ, thầy ngọt ngào hơn nên các em vừa cố gắng vừa có niềm tin nơi thầy và thích học với thầy hơn.
  • Tình thầy trò có cái gì rất thật nên nếu trong gia đình huyết thống không hạnh phúc thì các em có thể nương tựa nơi thầy hỏi ý kiến.

Bên Canada cũng có quý anh như anh Tư Đồ Minh khá năng nổ trong Gia đình Phật tử Bắc Mỹ Châu, anh Chân Bồ Đề Nguyễn Văn Minh và chị Chân Thường Hỷ Tôn Nữ Diệu Liên đã lập nhóm Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời chuyên lo cho người nghèo và trẻ em trong nước cũng như những chương trình từ thiện khác. Anh chị cũng tổ chức những ca mổ mắt ở những vùng sâu xa Việt Nam, mời nhiều bác sĩ chuyên viên mổ mắt cườm, mắt kéo mây. Họ về tận những miền quê Thừa Thiên, Quảng Trị một lần làm chục ca về phẫu thuật mắt cho người khiếm thị.

Nhưng cống hiến của tăng thân Toronto lớn nhất cho Làng Mai là khuyên các con và em mình đi xuất gia với Thầy. Vị xuất gia rất xuất sắc từ Toronto là thầy Pháp Niệm. Ban đầu thầy chỉ là cánh tay mặt của Thầy mình về thi ca, xướng kệ thiền môn và âm nhạc thiền. Thầy mà xướng các bài kệ cổ của Thầy mình dịch ra Việt văn thì thiên hạ lắng nghe, ai cũng đều rung động tận tâm can. Thầy mình rất hãnh diện về khả năng xướng tán của thầy Pháp Niệm. Thầy nói chỉ nghe Thầy xướng một lần là thầy Pháp Niệm lập lại y chang như vậy mà vì còn trẻ nên giọng dũng mãnh hơn mà không kém thiền vị. Khi đi dạy ở Hoa Kỳ, ở Âu Châu, Á Châu hay Trung Quốc, đi đâu Thầy cũng đọc lớn tiếng Anh ý nghĩa những bài kệ cổ xưa ấy. Có khi Thầy còn viết lên bảng đen chữ Trung Quốc của bài kệ đó. Có thể bài này đã được nhiều thế hệ Trung Quốc xướng tán rồi, nhưng sau khi viết lên bảng đen chữ Trung Quốc bài kệ ấy, Thầy nghiêm túc đọc nghĩa Anh văn, thỉnh chuông xong thì thầy Pháp Niệm xướng lên, giọng thật cao mà hùng, từng câu, từng tiếng Việt thật đậm mùi thiền. Các thầy Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bổn đều rúng động, sảng khoái. Phật tử Trung Quốc không dám khinh thường dân Việt Nam là ai mà sang đây chia sẻ sự tu tập Thiền cho người Trung Quốc. Thầy giảng đến đâu họ nể phục đến đó. Đó một phần cũng nhờ Thầy có đệ tử xướng tán giỏi như thầy Pháp Niệm. Ngoài ra thầy Pháp Niệm cũng dạy rất sâu về 16 hơi thở chánh niệm, vượt thoát sợ hãi tử sinh.

Toronto còn cống hiến cho Làng Mai một nam xuất sĩ rất xuất sắc nữa là Bé Nhiệm, sau này là thầy Pháp Hữu, đến Làng từ lúc mới tám tuổi. Trong nhiều năm ba của thầy cho hai con là bé Nhiệm và chị của bé sang Làng chơi mỗi mùa hè, đến năm 13 tuổi thì bé Nhiệm được xuất gia.

Thầy Pháp Hữu thực tập rất tinh chuyên những điều Thầy dạy. Và đến năm 20 tuổi Thầy cho Pháp Hữu thọ đại giới, năm 21 tuổi làm phó trụ trì của chùa Pháp Vân. Năm 22 tuổi Thầy truyền đăng cho thầy Pháp Hữu. Năm 2011, lúc 24 tuổi thầy Pháp Hữu chính thức trở thành trụ trì của Xóm Thượng. Mỗi lần trước khi cho pháp thoại, thầy Pháp Hữu thường đi thiền hành hoặc uống một ly trà trong chánh niệm để chế tác năng lượng tĩnh lặng và bình an. Mỗi lần thực tập như vậy thầy Pháp Hữu đều mời Thầy của mình cùng có mặt trong mỗi bước chân hay trong ly trà. Được may mắn làm thị giả của Thầy rất nhiều năm nên thầy Pháp Hữu có cơ hội để uống trà trong chánh niệm hay đi thiền hành với Thầy rất nhiều lần và học hỏi trực tiếp từ Thầy. Ở vai trò trụ trì thầy Pháp Hữu được học hỏi cách làm việc với Thầy trong vấn đề tổ chức các buổi lễ lớn và Đại Giới Đàn. Ở vai trò một người em thầy Pháp Hữu thường hỏi ý kiến của các sư anh sư chị lớn và con mắt của tăng thân về những vấn đề trong chúng để giảng pháp có liên hệ thực tế hơn. Thầy giảng xong ai nấy cũng đều tấm tắc khen là rất lợi lạc và sâu sắc.

Ngoài ra ở Toronto cũng có một em nữ cư sĩ thọ giới Tiếp Hiện rồi, và đã đứng ra mở một phòng thực tập chánh niệm cho dân thành phố trong một chung cư.

Tu viện Mộc Lan ở miền Trung Hoa Kỳ

Vào năm 2002 một số Phật tử ở Memphis và Mississippi có cơ duyên tham dự Peace walk (đi cho hoà bình) tại Memphis do Thầy và tăng đoàn Làng Mai hướng dẫn. Sau khi về lại nhà, cộng đồng Việt Nam tại North Mississippi và vùng phụ cận nhận thấy ở miền Trung Mỹ cần có một trung tâm thực tập Chánh Niệm phù hợp cho giới trẻ. Một số thân hữu đóng góp mua được 120 mẫu đất và cúng dường cho Thầy.

Lúc đầu Làng Mai thấy không đủ quý thầy, quý sư cô để nhận, nhưng các phật tử tha thiết quá nên mình nhận trên giấy tờ, Thầy nói họ phải tự lo giáo thọ. Thầy biểu họ tu tập, cho họ thọ giới Tiếp Hiện để sau này được truyền đăng và làm chủ tu viện. Thầy nói mỗi lần nhận một trung tâm thì mình phải gởi quý thầy, quý sư cô tới, ít là mười thầy và mười sư cô, để có thể tu học và nâng đỡ nhau. Mình không có đủ người nhưng mình cứ nhận rồi giao cho các anh chị làm trụ trì, mình chỉ tới để giảng dạy. Tu viện Mộc Lan thành lập từ đó, năm 2003.

Nhưng sau vụ Bát Nhã, mấy thầy mấy sư cô bị đuổi ra khỏi tu viện không có chỗ tu tập nên mình vận động chính phủ Hoa Kỳ để xin một số visa cho các thầy các sư cô qua Mỹ. Mỗi năm mình cũng bảo lãnh được khoảng 20 người qua Mỹ. Nhờ vậy nên Mộc Lan mới trở thành trung tâm tu học có người xuất sĩ.

Sư cô Chân Không nhờ sư cô Hỷ Nghiêm, một sư cô rất đảm đang, qua làm cột trụ ở đó để chăm sóc các sư em. Từ từ có một thầy và hai sư cô, có cha mẹ ở gần đó là sư cô Học Nghiêm và sư cô Bội Nghiêm, thầy Pháp Triển cũng có ba mẹ ở gần và một số anh chị em từ các nơi về mà trung tâm Mộc Lan trở thành một trung tâm tu học có tăng đoàn xuất sĩ vững mạnh.

Mộc Lan là một khu đất rừng hiền lành. Lúc đầu mình chưa có nhà cho quý thầy, nên quý thầy ở tạm căn nhà cũ bằng gỗ, quý sư cô ở tạm trong dãy nhà dành cho cư sĩ, rồi sau này từng bước xây một ni xá để có chỗ ở đàng hoàng. Xây xong ni xá, thiền đường rồi tiếp tục xây tăng xá cho quý thầy. Luật lệ ở Mộc Lan còn đơn giản nên trong việc xây cất quý thầy, quý sư cô và các anh chị chủ trì đều tự túc làm được rất nhiều. Xóm quý thầy tên là Xóm Trúc, xóm quý sư cô là Xóm Mai. Một cái thất của Thầy cũng được xây toàn bằng gỗ thông rất thơm, được Thầy đặt tên là thất Chịu Chơi. Thầy dạy: “Chịu Chơi có nghĩa là khi có khó khăn ta không chùn bước rút lui.”

Sau này mình khám phá ra trung tâm Mộc Lan cách nhà thờ mà ngài Martin Luther King, Jr. tới giảng lần cuối cùng khoảng 1,5 miles. Giảng xong ngài lên xe đi Memphis giảng tiếp thì bị bắn chết. Memphis là một thành phố lớn cách đó hơn một giờ lái xe. Thầy cũng đã từng gặp ngài Martin Luther King, Jr. và được ngài ấy đề nghị để nhận giải Nobel về hoà bình năm 1967. Biết được điều này nên tăng thân ở tu viện Mộc Lan quyết định xây một tượng đài của hai người bạn đứng cạnh nhau là mục sư Martin Luther King, Jr. và thầy Thích Nhất Hạnh trong khuôn viên tu viện. Trong vùng có một số người da trắng kỳ thị người da đen đã 50, 60 năm nay. Trong quá khứ họ trùm mũ trắng có chữ KKK (Klu Klux Klan) và khá cực đoan. Có đọc văn hoá Mỹ thì mình mới biết điều đó, còn các anh chị Việt Nam đầy lòng tốt, thấy đất bán rẻ vừa túi tiền thì mua thôi. Tuy nhiên vì Mộc Lan hầu hết là người Việt Nam và không có đe doạ nhiều đến quyền lợi người bản xứ cũng như đức tin của họ nên mình được chấp nhận. Trong một khoá tu tổ chức lần đầu ở Mộc Lan khi Thầy qua Mỹ, có một ông Mỹ trắng chia sẻ trong pháp đàm rằng ông nội của ông từng ở trong đảng KKK.

Quý thầy, quý sư cô ở Mộc Lan cũng giỏi, mời được anh thợ Việt Nam làm tháp chuông bên Pháp về xây một tháp chuông ở Mộc Lan không thua tháp chuông của Làng, Thầy đặt tên là tháp An Trú. Mấy thầy, mấy sư cô làm việc chung với mấy người thợ. Thiền đường Hải Triều Lên ở Mộc Lan lớn và khá giống như thiền đường Đại Đồng của Bích Nham. Ngoài ra Mộc Lan có tượng Quan Âm nằm giữa hồ sen trắng, có cầu tre đi ra rất nên thơ và thanh tịnh.

Khí hậu ở Mississippi ấm, không lạnh như New York, cũng không quá nóng vào mùa hè nhưng hay có những cơn gió lốc. Ở đó người ta trồng đậu phộng, bắp và thu hoạch bằng máy nên còn bỏ sót lại rất nhiều. Mình đi mót đậu phộng, mót bắp có khi được cả xe tải (truck) đem về luộc ăn rất ngon.

Phật tử Việt Nam vùng Mississippi không đông. Nhưng khi có khoá tu tiếng Việt thì Phật tử khắp nơi về tham dự. Quý thầy, quý sư cô ở Mộc Lan tu tập vững chãi và hàng năm có tổ chức khoá tu cho Gia đình Phật tử Việt Nam ở Hoa Kỳ cho khoảng 250, 350 người.

Khoá tu tiếng Việt ở Lộc Uyển hay ở Bích Nham cũng có rất nhiều người Việt Nam tới tham dự. Phần đông những người ở Florida, Noth Carolina thì về Bích Nham. Lộc Uyển thì có những người ở Cali tới. Phần đông những người ở Cali giúp mình nhiều lắm, có những bác sĩ hay nha sĩ trị bệnh hay sửa răng cho mình miễn phí. Mỗi lần Thầy về thì có bác sĩ Tiếng thử máu, khám kiểm tra toàn bộ không tính tiền.

Tu viện Lộc Uyển ở miền Tây Hoa Kỳ

Mua Lộc Uyển

Tu ở tu viện Thanh Sơn rất yên ả nhưng không xin được giấy phép tiếp đón thiền sinh các thành phố đến tu trọn ngày chủ nhật hay khoá tu ba ngày, hoặc năm ngày. Cuối cùng các thầy nói tại sao mình không mua một trung tâm gần New York. Nếu xa một chút cách New York chừng 1, 2 giờ lái xe thì chắc cũng rẻ. Luôn tiện mua chỗ nào mà tiếp khách thập phương được. Sau này các thầy tìm ra trung tâm Bích Nham. Nhưng trong lúc chưa tìm được thì có một số Phật tử ở Cali xin Thầy lập một trung tâm ở Cali.

Năm 1997, tu viện Hải Biên được tạm thời thiết lập ở vùng Oceanside, miền Nam California do ba người Phật tử trung kiên với Thầy bỏ tiền ra mua một ngôi nhà có nhiều phòng rộng rãi cho Thầy và 36 thành viên của tăng thân Làng Mai đi theo Thầy tạm trú trong thời gian Thầy đi hoằng pháp ở Cali. Thầy ở cư xá trong, các sư cô ở cư xá ngoài và các thầy ở cư xá Sùng Nghiêm. Tại đây công khoá tu tập hàng ngày như trong một tu viện được một số các Phật tử cư sĩ cùng tham dự rất nghiêm túc.

Người Việt định cư bên Mỹ ở Cali rất đông vì Cali khí hậu ôn hoà, nắng ấm và vì mới hội nhập vào một nền văn hoá mới cho nên đã có rất nhiều thảm kịch xảy ra trong gia đình. Có một thằng bé rất thích chia sẻ với các sư cô trẻ như sư cô Định Nghiêm, sư cô Tuệ Nghiêm… Cháu nói:

“Sư cô Tuệ Nghiêm ơi, con muốn chạy ra đường cho xe cán chết con cho rồi.”

Sư cô Tuệ Nghiêm chạy vô cầu cứu Chân Không. Chân Không hỏi cháu tại sao thì cháu nói:

“Ba mẹ con trước mặt Thầy thì ăn nói dễ thương lắm. Về nhà thì ổng đập bả, bả đập ổng. Con chán đời quá, con không còn tin tưởng nữa, con muốn chết.”

Hết người này tới người kia, bốn năm nhóm như vậy nên Thầy nói:

“Chắc mình phải lập một tu viện ở Cali quá Sư cô Chân Không. Thương mấy đứa con nít quá. Đó là các cháu đói tinh thần chứ không phải đói vật chất.”

Vì vậy Chân Không năn nỉ Thầy:

“Kỳ này mình qua bên đó, Thầy cho phép con đi thăm coi căn nhà nào có thể mua được.”

Năm đó khi Thầy qua Cali thì Chân Không đi cùng anh Chân Hộ Tăng (Pritam Singh) và một số Phật tử ở miền Nam Cali để coi khoảng chừng 15 căn nhà. Anh Pritam Singh nói mấy căn nhà đó là để cho Phật tử ở chứ để làm một trung tâm tu học thì nhỏ quá. Quan trọng là phải có nhiều không gian hơn cho người ta tới tĩnh tu.

Nhờ có anh Pritam Singh là developer nổi tiếng nên văn phòng địa ốc đã giới thiệu cho Pritam khu núi rừng 487 mẫu Anh (chừng hơn 200 mẫu ta) ở Escondido cách San Diego gần một giờ lái xe. Khu này núi đá, rừng sage rất thoáng, đúng là có thể mở một trung tâm tu học hùng vĩ sau này. Họ để bán đấu giá 1 triệu 800 ngàn dollars.

Ngày hôm sau anh Pritam mời Sư cô Chân Không và hai người nữa là sư cô Trung Chính vàc thầy Pháp Ấn tới coi.

Chỗ này đã từng được dùng làm trại tù, rồi trại cai nghiện, chỗ huấn luyện cho tình nguyện viên Peace Corp… rồi bỏ hoang nhiều năm nên chính quyền muốn bán. Ở trên có năm khoảnh đất được san bằng (plattforms) và nhiều dãy nhà cho tù nhân ở ngày xưa. Tầng giữa có một dãy nhà làm nhà ăn của nhà tù, và tầng dưới có vài căn nhà để cho trưởng trại tù và các nhân viên cùng gia đình ở. Mình tới thì thấy thích tại vì mình biết, tuy nó xấu như vậy, nhưng nếu sửa sang lại thì sẽ đẹp. Ở bên Pháp chuồng bò mà mình sửa lại cũng vẫn thấy đẹp. Mình chịu mua và họ ra giá là 1 triệu 2 trăm ngàn USD. Đó chỉ là con số để bắt đầu đấu giá thôi. Một số Phật tử và hội đoàn thấy khu núi rừng đó đẹp nên đề nghị là tất cả chia làm bảy nhóm, mỗi nhóm mua một phần thì rẻ hơn mà khỏi phải ra đấu giá. Chân Không không đồng ý tại vì nếu mình mua hết thì mới biến thành một trung tâm theo ý của mình, nếu chia làm bảy mà lỡ trong đó có nhóm nudist, họ xây hồ bơi rồi khoả thân đi tùm lum thì sẽ làm hư phong cảnh của mình. Mình không chịu, nói một là mình mua hết còn hai là họ mua hay là ra đấu giá. Mấy hội đoàn kia bàn với nhau sẽ trả 7 triệu để mình không mua được. Chân Không định tìm chỗ khác thì nửa giờ sau đó có một cặp vợ chồng thí chủ điện thoại cho Chân Không nói:

“Sư cô đừng từ chối, cứ ra đấu giá đi. Sư cô có một triệu hai thì tụi con sẽ đóng thêm 2 triệu nữa.”

Mình mừng quá nên nhất định đi đấu giá. Chân Không nhờ anh Pritam Singh đại diện cho mình. Anh đã giúp mua Tu viện Thanh Sơn cho mình nhưng vẫn có mặc cảm vì Tu viện Thanh Sơn không được nhận đông người tới tu tập. Anh thấy mỗi lần Thầy từ Pháp bay qua Tu viện Thanh Sơn khá xa, mà rất ít người có được cơ hội đến với trung tâm để tham dự khoá tu cho nên anh mới đi theo qua Cali phụ tìm trung tâm với mình. Đấu giá xong anh nói:

“Thua cuộc rồi Sư cô ơi, trả tới 3 triệu 9 thì em ngưng. Người ta mua được sau khi trả giá 4 triệu.”

Chân Không nói:

“Sao anh không chịu? Mình có người hứa cho mà?”

Anh ta nói:

“Em có cảm tưởng là mình không nên, em ngưng thôi.”

Anh linh cảm rất đúng. Một ông đại diện cho nhiều hội đoàn trả tới 4 triệu và mua được nhưng anh Pritam cảm thấy ông ta có cái gì không thật. Ông ta nháy mắt với anh, đưa danh thiếp và nói muốn gì thì liên lạc với ông. Ngày hôm sau anh điện thoại cho ông. Ông mời anh tới nhà của ông ở gần đó và nói sẽ bán lại cho mình giá 4 triệu với điều kiện là mình đồng ý cho ông 15 mẫu đất xung quanh nhà ông và làm một con đường xe chạy xung quanh núi. Chỗ của mình nằm ở phía bắc mà ở phía nam không có đường thoát. Nếu có hoả hoạn thì sẽ không có đường cho xe ra. Vì vậy mình phải làm một con đường thoát lửa ở phía Bắc. Anh Pritam tính là phải có 3 triệu USD để làm đường nên nói:

“Thôi Sư cô quên đi! Bất động sản ở đây họ bán tùm lum. Em sẽ đi coi và chỉ cho Sư cô.”

Chân Không thấy hơi kẹt. Chỗ đó thầy Pháp Ấn và sư cô Trung Chính đều thích, rất nhiều thầy và sư cô khác cũng thích nên mình nhất định mua. Chân Không điện thoại cho chị Hải, vợ anh Thọ. Để an ủi mình, chị chỉ cho mình mua một căn nhà ở miền Nam Cali gần chỗ chị. Tới nơi Chân Không xin địa chỉ của ông đại diện cho hãng môi giới mua bán tất cả bất động sản trong vùng. Ông cho Chân Không số điện thoại của ông chủ đứng tên là ông Art. Chân Không có hỏi tại sao họ đánh mình tới cùng, không cho mình mua đất thì họ nói họ sợ mình mua làm tu viện mà chữ tu viện họ dịch ra tiếng Anh là cloister. Thật ra chữ cloister là tu viện kín, còn tu viện của mình phải dịch là monastery. Ông đấu thầu thắng cuộc cũng sợ mình mua đất làm cloister. Chân Không phải giải thích rõ cái điểm là mình không làm cloister mà mình làm monastery rất dễ thương. Chân Không xin số điện thoại và gọi cho ông chủ đất. Ông không có ở nhà, chỉ để máy thu âm. Chân Không nói:

“Tôi nghe ông mua được khu đất đó cho sáu, bảy hội đoàn. Tôi muốn xin với ông là tôi muốn mua lại, tại vì chúng tôi muốn làm một monastery chứ không phải là một cloister. Những người tu ở đó, có thể tiếp khách, ai vào thăm cũng được. Có người tu đi thăm nhà tù hay giúp nhiều người khác nhất là các cháu thanh thiếu niên, thiếu nhi mà không truyền thông được với mẹ cha chuyện này chuyện nọ. Chúng tôi không đóng cửa như cloister mà quý vị đã nghĩ, quý vị muốn đi ngang thăm thì cứ đi. Nếu nhà ông ở gần mà ông đi ngang qua vào giờ ăn trưa thì chúng tôi mời ông vào ăn trưa với chúng tôi. Nếu ông đi ngang qua lúc chúng tôi đang làm vườn thì chúng tôi mời ông vào cùng làm vườn trong chánh niệm tức làm vườn mà không nói chuyện để theo dõi hơi thở và thư giãn. Nếu ông tới trong lúc chúng tôi đang thiền trà thì chúng tôi

mời ông uống trà. Thành ra ông nên giúp cho chúng tôi mua khu đất này. Ông để cho chúng tôi với giá vừa đúng nhé.”

Chân Không vừa nói xong thì nửa giờ sau ông gọi lại liền cho Chân Không ở Pháp:

“Cô ơi, nghe giọng nói của cô thì tôi rùng mình. Tôi nghĩ mình quen nhau từ mấy kiếp rồi, vì vậy bằng mọi giá tôi phải đồng ý để cô mua được chỗ này. Bây giờ cô gửi đại diện của cô tới đi (ông biết Chân Không đang ở Pháp). Tôi sẽ đưa ra điều kiện thật dễ dàng.”

Sư cô nói anh Pritam điện thoại cho ông thì ông nói, mình không cần phải làm con đường đi quanh núi, ông sẽ bán cho mình giá 4 triệu. Ông mua 3 triệu 9 và bán 4 triệu. Ông chỉ lời 100 ngàn đô thôi và xin 15 mẫu đất quanh nhà ông. Mình chịu liền và hôm sau mình ký giấy. Khi đó vị thí chủ hứa cho tiền nói, cô thì chịu cho nhưng chồng cô nói:

“Thầy thì tôi phục rồi nhưng không biết mấy thầy trẻ có dễ thương như Thầy hay không? Nếu họ không dễ thương thì tôi còn 1 triệu để cho trung tâm khác. Bây giờ cho hết 2 triệu, nếu họ không dễ thương thì trễ rồi. Họ thực tập một năm cho tôi chứng kiến rồi tôi sẽ cho triệu thứ hai.”

Nhưng không sao vì mình được phép trả tiền mua đất trong vòng hai ba năm. Mình trả trước số tiền mình có. Lập tu viện xong thì Thầy cử sư cô Trung Chính qua làm trụ trì bên ni và thầy Giác Thanh làm trụ trì bên tăng. Biết sư cô Thoại Nghiêm rất giỏi tổ chức sắp xếp cho một trung tâm mới, Thầy cử ngay sư cô Thoại Nghiêm làm thủ quỹ và phụ tá cho sư cô Trung Chính. Hai sư cô rời Làng Mai Pháp giữa năm 2000 khi vừa ký giấy mua xong Lộc Uyển. Sau đó một tháng thì thầy Pháp Dung cũng được Thầy dạy qua Lộc Uyển để giúp về mặt kiến trúc và xây cất.

Ở Lộc Uyển có nhiều chuyện rất kỳ bí. Dưới chân núi có một người bạn ở cùng tỉnh Kiên Giang với thầy Giác Thanh nhưng thầy không biết, đó là vợ chồng cô Cúc, mẹ cô đã mất bốn, năm năm rồi. Trước khi mất bà cụ nói:

“Con ơi, con lên núi chơi đi. Sao má thấy có nhiều thầy tu đi qua lại trên núi đó. Họ mặc áo dài nâu đi trên núi nói tiếng Việt không hà.”

Cô nghĩ mẹ cô sảng rồi nên tưởng tượng thôi, vì đi lên núi coi thì không thấy ai hết. Đến bốn năm sau khi thầy Giác Thanh tới và Thầy mình về thì đúng như lời bà cụ nói. Thầy Giác Thanh nhận ra chồng của cô Cúc là bạn học của thầy ngày xưa thời còn học trung học ở Kiên Giang. Anh nói: “Hồi xưa trong trường có một thằng nhỏ giống thầy tu mà cứ đòi đi tu hoài. Té ra nó là thầy Giác Thanh.”

Cũng giống như tên Lộc Uyển, tiếng Anh là Deer Park, vốn là tên có sẵn từ trước. Một tờ báo của San Diego nói về vùng đất này năm 1969 cũng đã gọi là Deer Park. Đây lại là một sự trùng hợp khó tin vì nhiều người tưởng mình đặt tên tu viện Lộc Uyển theo địa danh của Phật tích.

Đất Lộc Uyển được xếp vào dạng bảo tồn cho các động vật hoang dã nên trừ những con đường mòn đã có sẵn, khi mình đi bộ hay leo núi mở thêm nhiều con đường khác cũng bị cấm vì ảnh hưởng đến môi trường sinh hoạt của các loại động vật này. Lộc Uyển mặc dù cũng nằm trên núi nhưng bao quanh là các ngọn núi khác cao hơn nên gần thành phố Escondido (chỉ đi 15 phút là tới) nhưng rất khuất và rất yên. Đường vào từ chân núi cho đến khi tới căn nhà đầu tiên khá xa, trên một cây số, đầy vẻ hoang sơ dù đường được trải nhựa đàng hoàng, người mới tới lần đầu hay lo ngại là bị lạc đường nên mình phải để bảng tên tu viện ngay dưới chân núi. Nhờ vào vị trí giấu kín đó mà Thầy đặt tên vùng này là Đại Ẩn Sơn.

Lúc đó không có tiền xây thiền đường, Thầy mình là văn sĩ nên biểu sắp đá thành một cái bệ đá rồi đặt tên là thiền đường Rừng Sồi, tại vì chỗ đó có hằng trăm cây sồi lớn che bên trên. Thầy ngồi thuyết pháp ở giữa rừng sồi. Có nhiều đêm mình thắp đèn ngồi niệm “Nam mô Bồ tát Quan Thế Âm” ở giữa rừng. Mấy thầy, mấy sư cô cảm động quá, có cảm giác như tăng đoàn xuất hiện giữa rừng sâu thời Phật còn tại thế.

Thầy chia ranh giới từ cổng vào – chừng 2km đường lên dốc đến căn nhà đầu tiên bên trái gọi là Gate House, nhà đó gồm bốn phòng ngủ, mình gọi là nhà khách cho cư sĩ, xuống dốc bên trái là Rừng Sồi. Còn bên mặt là dãy nhà của nhân viên cai tù ngày xưa, mình sơn sửa nhà lại cho các sư cô ở gọi là xóm Trong Sáng. Xóm này có khu nhà chính với một phòng khách, một nhà bếp và bốn phòng ngủ, hai phòng ngủ dài có thể để từ bốn đến tám giường, còn hai phòng nhỏ chỉ để được mỗi phòng hai giường thôi, có ba phòng vệ sinh và ba phòng tắm nằm bên trái phòng khách, ngay sau bếp. Ngoài sân sau có một sàn gỗ và một nhà kho mình sửa lại thành một thiền đường cho xóm quý sư cô. Thầy đặt tên Sao Trên Biển cho thiền đường Xóm Trong Sáng. Dưới thiền đường là một thư viện nhỏ và một phòng dành cho khách ni, có đường tráng nhựa cho xe hơi chạy quanh khu nhà chính.

Bên kia đường song song với thiền đường có khu vệ sinh công cộng và một hồ bơi nằm trên cao. Trong khu đồi trước mặt có một dãy nhà cây có ba phòng: mình làm văn phòng tiếp tân, phòng làm việc, và văn phòng ghi danh cho khoá tu. Và bốn cái thất cây vuông nhỏ phía sau, mỗi thất chỉ có một phòng với cầu tiêu nhà tắm. Mỗi thất có thể làm chỗ ngủ cho ba người, để tiếp đón quý sư bà hay sư cô lớn cùng với một hay hai thị giả. Bên ngoài mỗi thất đều có một hành lang gỗ mình có thể để bàn ghế trước cửa để tiếp khách.

Trong khuôn viên của xóm Trong Sáng trên một ngọn đồi cao bên mặt có bốn cây tùng cao vút rất đẹp. Ngôi nhà cây sơn trắng hiền hiền này dành cho Thầy, ngôi nhà đó có lò sưởi củi, có bếp nhỏ, có nhà tắm cầu tiêu, có phòng khách lớn để những ngày chánh niệm ở Tu viện Lộc Uyển Thầy tiếp khách. Có khi 70 người ngồi chen chúc quanh Thầy. Chỉ những “con ông cháu cha” như gia đình nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nhạc sĩ Anh Việt, vợ là Tố Oanh, vợ chồng các anh chị Tiếng Nguyễn và Lê Kim Chi, Phạm Văn Điến và Trương Thị Nhiên, Lê Văn Hoà và Mỹ Hạnh, anh chị Nguyễn Hữu Xương, anh chị Nguyễn Hữu Hùng và Quỳnh Tiên, anh chị Art và Thuỷ Tiên, anh chị Thọ và Hải Đất Lành, bác Tôn Thất An Cựu, Chú Quân chị Hoàng, chú Quyền chị Xuân Lan, anh chị Đồng Sĩ Nam, Phương Thảo và ba mẹ các sư cô, quý thầy xuất gia với Thầy… Tất cả là “con ông cháu cha” được Thầy mời vào ăn trưa với Thầy. Sau phòng tiếp khách là hai phòng ngủ nhỏ, một cho thị giả và một cho Thầy. Trước nhà, vách sơn trắng dưới mái hiên đong đưa những chùm hoa giấy màu tím, trắng hồng. Trước mặt hiên là vườn cây ăn quả có hai cây ổi xá lị, hai cây bưởi, một cây hoa ngọc lan bông nhỏ thơm màu vàng và màu trắng. Cả khu nhà và vườn nằm như dựa lưng vào bốn cây tùng thẳng, đẹp như bốn ngọn bút. Đó là cốc Tùng Bút của Thầy.

Từ ngôi cốc của Thầy có đường xe chạy, rẽ bên phải, trước khi đến nhà bếp lớn thì đi ngang qua một mặt bằng, sau này mình xây thiền đường Thái Bình Dương có trồng vài cây phượng tím, một bụi tre vàng và thiền đường này có đất rộng để thiền sinh tập khí công sau khi ngồi thiền buổi sáng. Phía sau xây thêm được một cái tháp chuông để thỉnh chuông đại hồng. Mặt bằng kế tiếp có nhà bếp trước đây nấu ăn cho 300 tù nhân, với phòng ăn lớn, nhìn ra rừng núi bao la, Thầy đặt ranh giới từ bếp trở lên mặt bằng cao là xóm của quý thầy gọi là xóm Vững Chãi.

Xóm Vững Chãi gồm có tất cả mười dãy nhà được chia làm hai khu vực. Hồi mới mua cả mười dãy nhà nóc hư rớt bẹp sát đất, xác coyotes (chó sói rừng) chết hôi rình. Cửa kính bị vỡ văng khắp nơi và đây đó rất nhiều vỏ đạn còn để lại – trước kia chỗ này được dùng cho người ta tập bắn súng, vì vậy những con sóc, con thỏ, chim chóc đều sợ mà bỏ đi. Vậy mà nhờ cộng đồng Phật tử Việt Nam đến phụ dọn dẹp hết lòng: vào mỗi cuối tuần tăng thân đều về Lộc Uyển để giúp quý thầy, quý sư cô sửa chữa những dãy nhà hư hao, tinh thần làm việc vui như “hội”, các cháu cũng biết phụ giúp sơn tường cho nên chỉ năm sáu tháng sau đã hoàn thành xóm Vững Chãi, có thiền đường, nhà khách, văn phòng, quán sách bán sách Thầy, CD, VCD… Dãy thứ nhất nhìn ra núi cao rộng, Thầy đặt tên thiền đường Trăng Đầu Non của quý thầy, dãy thứ hai làm quán sách và văn phòng ghi danh, dãy thứ ba là văn phòng tu viện của quý thầy. Hai dãy còn lại là chỗ ở của quý thầy nằm phía sau. Bên kia thiền đường Trăng Đầu Non có năm dãy nhà khác, bốn dãy làm phòng ngủ của thiền sinh nam và gia đình tới tu học và một dãy là phòng giặt và khu vệ sinh công cộng. Thiền sinh nữ đi một mình thì ở xóm quý sư cô, xóm Trong Sáng.

Tuốt trên cao đất tu viện còn một mặt phẳng chót Thầy thường hay đi thiền hành trên đó và đặt tên là núi Yên Tử. Mình tính làm tháp chuông nhưng chưa được giấy phép mà cũng chưa có thợ. Thế rồi một vị thầy từ Quảng Nam sang thăm và cúng dường một tôn tượng Bụt Thích Ca bằng đá trắng từ Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng đặt trên núi Yên Tử.

Mình xài tiền rất ít mà có được trung tâm Lộc Uyển rất oai.

Sư cô Thoại Nghiêm là một người kỹ lưỡng và sâu sắc. Cô ngồi quán sát chỗ này chỗ kia. Cô có viết truyện Sư tử núi. Sư tử núi là tên của mountain lion, một loại báo sống trong khu rừng thiên nhiên gần đó. Cô thuật chuyện rất hay, rất cảm động nên thiên hạ theo dõi sự mở mang của Lộc Uyển qua câu chuyện Sư tử núi của sư cô Thoại Nghiêm.

Sau khi thầy Giác Thanh tịch thì xóm Vững Chãi đang có thầy Pháp Dụng, thầy Pháp Dung. Thầy Pháp Dụng là anh lớn và thầy Pháp Dung là em út. Vậy mà đang hoằng pháp ở Trung Quốc, Thầy gởi fax về dặn dò: “Thầy Giác Thanh tịch, tôi xin cử thầy Pháp Dung (không có dấu nặng) làm trụ trì.” Chân Không nghe báo cáo lại là lúc má thầy Pháp Dung nghe tin thì bà la lên:

“Nam mô A Di Đà Phật! Trời ơi con tôi mới thọ giới tỳ kheo mà bị làm trụ trì!”

Nhưng từ đó thì thầy Pháp Dung làm trụ trì rất giỏi. Thầy thấy sư cô Thoại Nghiêm giỏi nên cử sư cô tới trung tâm khác, nhưng sư cô trụ trì Trung Chính thì còn ở lại vì sự có mặt của sư cô ở Lộc Uyển rất cần thiết cho đồng bào người Việt ở đó.

Sau đó mình cất được thiền đường Thái Bình Dương rất đẹp do thầy Pháp Dung vẽ.

Những cơ sở ở Lộc Uyển

Tu viện Lộc Uyển có nhiều mặt phẳng lớn. Mặt phẳng thứ nhất từ dưới lên cao là nhà của cai tù hồi xưa, được gọi là nhà chính, một nhà kho (barn) để máy cắt cỏ, và vật dụng làm vườn của chủ cũ được sửa lại thành nhà ăn và bếp cho xóm Trong Sáng, trước cửa nhà ăn có thể đậu được vài chiếc xe. Đi tiếp lên là cốc của Thầy và rẽ phía bên kia là nhà của các sư cô. Từ xóm Trong Sáng đi lên xóm Vững Chãi, bên tay trái là một mặt phẳng nữa rất thoáng để làm parking lot từ đó đi lên dốc cao là thiền đường Thái Bình Dương nằm bên tay trái cùng phía với nhà ăn lớn, nhà ăn đủ chỗ cho 300-400 người và bếp của quý thầy, dùng để nấu ăn cho các thiền sinh về tu tập trong ngày quán niệm và trong những khoá tu. Leo thêm một cầu thang xi măng chừng 57 cấp là mặt phẳng nữa có năm dãy nhà bị hư hoại rất nhiều, mình đã sửa chữa lại (thay mái nhà, thay kính cửa sổ, thay vách tường có để vật liệu cách nhiệt, sơn chung quanh) để mình có thể dùng được. Dãy đầu làm thiền đường nhỏ cho xóm quý thầy mình thay gạch nền nhà, bỏ thêm hệ thống máy lạnh và sưởi. Hai dãy nhà làm tăng xá của quý thầy mình sửa lại một phòng có cửa kính nhìn ra núi, đồng thời có gió mát từ biển thổi vào để làm phòng cho thầy Giác Thanh, bây giờ là phòng của Hoà thượng Phước Tịnh và có một thư viện cho quý thầy trong tăng xá.

Thiền đường ở Lộc Uyển tên là thiền đường Thái Bình Dương tại vì nó nằm bên bờ Thái Bình Dương miền Tây nước Mỹ. Thiền đường Thái Bình Dương ở Lộc Uyển là do Thầy đề nghị thầy Pháp Dung vẽ theo mẫu phân nửa hình trụ của thiền đường ở Tu viện Thanh Sơn. Thiền đường Thái Bình Dương được xây năm 2003 để cho khoá An Cư Kiết Đông năm 2004, Thầy, quý Tôn Túc Tăng, Ni và tất cả đệ tử xuất gia của Thầy gần 300 vị xuất sĩ về an cư ở Lộc Uyển ba tháng. Trên cao là xóm của quý thầy gọi là xóm Vững Chãi (Solidity Hamlet). Phía dưới là xóm của quý sư cô gọi là xóm Trong Sáng (Clarity Hamlet). Một thầy ở Việt Nam gởi tặng một tượng Phật rất lớn sau này mình thỉnh lên đỉnh núi Yên Tử. Trong thiền đường Thái Bình Dương thì chỉ có thư pháp của Thầy với hai chữ Vô Sự thật lớn. Vô Sự, tức tới đây là sống cho thảnh thơi.

Thiền đường trên những tảng đá xanh nghìn tuổi

Mỗi ngày thứ tư trong tuần, thay vì ngồi thiền trong thiền đường Thái Bình Dương thì mình đi bộ lên núi, ngồi thiền trên những tảng đá thật to và ngắm mặt trời lên rất đẹp. Mỗi tảng đá có thể cả trăm người ngồi mà vẫn vững chãi. Vì thế Lộc Uyển còn có một thiền đường không có nóc mà sàn thiền đường là những tảng đá xanh hơn nghìn tuối. Trong phim Walk with me có quay rất nhiều cảnh ở Lộc Uyển ở trên cái thiền đường không có nóc mà sàn thiền đường là những tảng đá xanh hơn nghìn tuổi đó.

Từ xóm các sư cô, phía tay trái hơi xuống dốc một chút có một khu rừng sồi, lên cao hơn về phía tay mặt của xóm Trong Sáng, có bốn cây tùng bút rất đẹp (Cypress tree). Ở đó có một ngôi nhà bằng cây, mình sửa lại thành nhà cho Thầy và đặt tên là cốc Tùng Bút. Từ cốc Tùng Bút leo lên một ngọn đồi cao hơn, mình tính xin phép để xây ni xá cho các sư cô, nhưng quận hạt San Diego cho biết chỗ đồi đó chưa từng được khai khẩn, nếu mình muốn xây nhà trên đồi thì mất rất nhiều thời gian và chi phí cho giấy tờ vì mình phải mướn những nhà chuyên môn đến kiểm tra xem chỗ đồi đó có thể xây nhà được không, và mình phải mang ra điều trần công khai (public hearing) với hàng xóm chung quanh tu viện, dù chỉ có một người hàng xóm không chấp thuận thì quận cũng không thể cấp giấy phép cho mình được. Những nơi nào đã có cơ sở sẵn thì quận mới có thể cấp giấy phép. Được Thầy cho phép mình đã phải phá cốc Tùng Bút đi để lấy đất xây ni xá cho các sư cô. Khu đất này xây lên được bốn dãy nhà, một dãy dành cho Thầy, phòng khách có cửa sổ lớn nhìn ra dãy núi hùng vĩ, phòng ngủ, ở phía sau có một phòng ngủ cho thị giả và một phòng nhỏ làm bếp, và ba dãy nhà dành cho các sư cô. Trước khi ni xá được xây, quý sư cô đã chia ra ở nhiều nơi từ nhà chính, các thất và khu vực hồ bơi (hồ bơi có từ chủ cũ, sau này mình dùng để làm hồ sen), trên khu hồ bơi có một dãy phòng, ngày xưa họ dùng để thay áo quần (changing room) sau khi tắm lên, quý sư cô sửa lại thành phòng ngủ, mùa đông thì mình như cây cà rem trong tủ đông lạnh, còn mùa hè thì mình như ổ bánh mì nướng trong lò. Cho đến năm 2014 mới bắt đầu xây ni xá. Để đóng góp vào việc bảo vệ sinh thái, ni xá được xây với vật liệu là rơm (strawbales wall ) vách tường dầy hơn 50cm, rơm được dùng thay thế cho vật liệu cách nhiệt cho nên mùa hè không cần phải mở máy lạnh, cũng như mùa đông không phải mở sưởi trung ương, vì vậy tiết kiệm được rất nhiều tiền điện, và có một lợi điểm rất lớn khác của vách tường rơm là, nếu trường hợp có hoả hoạn mà mình chưa kịp chạy ra khỏi tu viện thì có thể tạm thời trú ẩn trong nhà rơm này được nửa ngày để chờ nhân viên cứu hoả đến cứu, vì nhà rơm không cháy nhanh bằng nhà gỗ. Đó là phát biểu của nhân viên cứu hoả đến kiểm tra trước khi mình hoàn tất ni xá.

Ở Lộc Uyển có văn phòng của hội PVCEB, trước đây là UBC. Thầy là Chủ tịch (President) của hội Unified Buddhist Church Congregation (UBC) ở Hoa Kỳ. Sau này có mấy nhóm chính trị cũng sử dụng tên UBC nên mình đổi lại là Plum Village Community of Engaged Buddhism (PVCEB). Hội PVCEB gồm có mấy người do Thầy chỉ định để phụ tá Thầy: thầy Pháp Ấn chăm sóc ở EIAB, sư cô Chân Không chăm sóc ở Làng Mai bên Pháp, sư cô Hương Nghiêm chăm sóc ở Mỹ, sư cô Thoại Nghiêm chăm sóc ở Việt Nam lúc mình còn Bát Nhã, thầy Pháp Khâm chăm sóc ở Hồng Kông, sư cô Chân Đức, sư cô Định Nghiêm, thầy Pháp Dung… Tu viện Lộc Uyển cũng là nơi đặt văn phòng của Thích Nhất Hạnh Foundation từ năm 2011.

Từ xóm Vững Chãi đi lên dốc cao là núi Yên Tử. Thầy gọi tên là núi Yên Tử để nhớ Việt Nam chứ đây chỉ là một con dốc cao, là mặt phẳng cao nhất của tu viện chứ còn rất thấp so với các ngọn núi bao quanh. Con đường đất được ủi phẳng để đi lên rất nắng, may mà ngay từ ngày đầu tiên tới thăm Lộc Uyển Thầy đã dạy sư cô Thoại Nghiêm trồng cả trăm cây tiêu cảnh hột hồng lá xanh quanh năm như liễu rũ hai bên đường nên có chút bóng mát. Thầy hay dẫn đại chúng đi thiền hành lên trên này, ngắm núi rừng bên dưới và không gian bao la chung quanh. Trên núi có tôn tượng Bụt Thích Ca bằng đá trắng rất lớn, đi xuống vài nấc thang dưới dốc của núi Yên Tử có tháp của thầy Giác Thanh, thầy Giác Thanh làm trụ trì Lộc Uyển chưa tới một năm thì tịch. Đứng trên núi vào ngày trời trong xanh mình có thể nhìn được thành phố Escondido.

Ở Lộc Uyển, muốn đi lên ngồi trên những tảng đá phẳng trên núi thì mình phải đi xuống cổng trở lại chỗ Gate House. Vừa ra khỏi xóm các sư cô khoảng 300 thước bên tay trái có một cái cổng mình có thể khoá lại nếu muốn. Bên tay mặt có một con đường đi lên núi. Trên núi thì 2/3 là đất của mình còn 1/3 là đất của người khác nhưng mình có thể xài chung. Dọc đường là những tảng đá dài đã hơn trăm tuổi hay ngàn tuổi. Mình thường lên đó ngồi thiền buổi sáng – khoá tu nào ở Lộc Uyển cũng có một lần trong thời khoá thiền sinh được lên núi ngồi thiền để ngắm mặt trời mọc hay mặt trời lặn tuỳ theo thời tiết, thiền sinh được nuôi dưỡng rất nhiều. Đi dài xuống có thêm một cổng lớn mình có thể khoá lại để mấy người say không vô được. Ngoài cổng có bảng đề chữ Deer Park Monastery. Cổng lớn phải có mật mã mới có thể mở được. Trong ngày chủ nhật, vì là ngày quán niệm có thiền sinh tới tham dự thì mình không đóng cổng. Lộc Uyển có vài chỗ đậu xe nhỏ và một bãi đậu xe lớn có thể đậu được 60-70 chiếc xe mà cũng không đủ. Thầy muốn con đường từ bãi đậu xe lớn đi lên thiền đường Thái Bình Dương không được lái xe lên, để mọi người có cơ hội đi thiền hành, tận hưởng không khí trong lành của núi rừng, có mặt cho chính mình và người mình thương, Thầy có viết một thư pháp trên gỗ: You Have Arrived – Enjoy Your Steps được treo ở bãi đậu xe, cho nên tất cả các xe đều phải đậu ở bãi đậu xe, và mình có xe điện (golf cart) chở các bác lớn tuổi không lên dốc cao được lên thiền đường để sinh hoạt.

Sống chung an lạc

Xung quanh vùng này chỉ có núi đá và rừng cây sage là một loại cây thuốc ở Tây phương. Dân da đỏ hay làm nhang sage. Ở đó cũng có nhiều rắn, nhưng mình ở đã chín, mười năm mà chưa bị rắn cắn. Ngày chủ nhật thì có Phật tử tới nên thầy Pháp Dung đi vòng vòng nói: “Quý vị đi chơi đi nha. Quý vị đi lơ mơ người ta xách cây đập quý vị chết tôi không chịu trách nhiệm đâu nha.” Khi xây sửa nhà trên đó mình gặp rất nhiều rắn, nhất là rắn rung chuông. Nhưng thấy rắn thì mình lấy cây đẩy nó thì nó đi mất. Nó trốn trong rừng không đụng tới mình. Mình và nó sống chung an lạc với nhau. Mỗi khi có US tour của Thầy mình phải mướn thêm trailer mới đủ chỗ cho thiền sinh về tham dự khoá tu, mình làm sạch một vùng rồi để thêm 5-15 trailers. Trailer giống như những phòng nhỏ trong đó có bốn hay sáu giường tầng, thiền sinh dùng nhà vệ sinh công cộng bên ngoài. Khi dọn dẹp mình thấy có rất nhiều rắn, nhưng mình biểu nó đi thì nó đi hết.

Xóm Trong Sáng có mấy ngôi nhà gỗ. Năm, bảy sư cô ở trong ngôi nhà gỗ lớn nhất. Ban đầu trong nhà gỗ lớn có các sư cô Trung Chính, Thoại Nghiêm, Hộ Nghiêm, Đắc Nghiêm, Hiền Hải, Thanh Nghiêm và những sư cô trẻ như cô Kính Nghiêm, Túc Nghiêm ở đó. Một bữa nọ sư cô Trung Chính may áo, sư cô thò tay vô rổ lấy cây thước thì đụng phải con rắn nhưng nó chỉ bò ra rồi đi mất. Chỗ cửa hông ra vào có một ổ rắn, sư cô Hộ Nghiêm bảo đi chỗ khác ở đừng làm các sư cô sợ nó cũng dọn đi mất. Ở lâu riết rồi mấy thầy giỏi nghề bắt rắn, ai cũng có thể bắt được rắn. Mùa hè nóng bức rắn thường bò vào nhà bếp. Mấy thầy mua những ống bằng plastic rất cứng, bịt một đầu, để gần chỗ rửa chén. Nếu có một con rắn thì mình lấy chổi đùa cho nó chui vô ống rồi đậy nắp lại. Bắt được vài con thì cho lên xe lái đi vô núi xa rồi mở nắp thả nó ra.

Mặt phẳng trên cùng là chỗ mình định xây tháp chuông. Thầy gọi đó là núi Yên Tử vì con đường lên khá dốc. Hôm đó Thầy lên trên đó treo võng nằm, thị giả của Thầy là sư cô Thường Nghiêm người Mỹ thì ngồi trên phiến đá gần đó. Chân Không và thị giả Chân Không cũng đi theo. Cô Thường Nghiêm khoe vừa đặt một bài hát và xin hát cho Thầy nghe. Cô vừa mở miệng định hát thì thấy có một con rắn đang nằm dài dưới võng của Thầy cách võng chừng 40 phân. Thầy nói:

“Kệ nó con, để nó nằm chơi đi. Con hát thì cứ hát.”

Khi sư cô Thường Nghiêm hát thì cái đuôi con rắn ngoắc qua ngoắc lại như nhịp theo điệu hát vậy. Sau đó mình nghe tiếng chuông thỉnh báo giờ ăn cơm chiều. Nghe tiếng chuông con rắn ngóc đầu lên nguẩy đuôi trườn đi vô trong núi. Con rắn đi rồi mấy sư cô mừng quá, đứng dậy đi về. Chân Không nói, con rắn tới cám ơn Thầy, từ ngày mình về Lộc Uyển thì bà con của nó không bị giết nữa. Mình xây dựng ở đây đã bốn, năm năm rồi mà không có con rắn nào bị giết hết. Đó là nhờ ơn đức của Thầy nên hôm nay con rắn nằm dưới võng Thầy ngóc đầu lên chào Thầy rồi đi.

Garry Shandling

Nói tới Lộc Uyển là phải nhắc tới anh Garry Shandling. Anh Shandling không có vợ con và là một danh hài của Mỹ. Nhờ anh mà Lộc Uyển được cho giấy phép hoạt động chính thức.

Hồi đó Thầy đi giảng nhiều lần ở Cali cho nhiều người ở các thành phố lớn như Berkeley, Oakland… Ở Oakland người ta rất phục Thầy. Ông thị trưởng Jerry Brown, sau này trở thành thống đốc California cũng rất thích Thầy. Khi Thầy tới thành phố Oakland thì ông tặng Thầy một giải thưởng và nói: “Hôm nay thành phố rất hạnh phúc. Niềm tin ở sự bất bạo động đã lan tràn khắp thành phố. Sau khi thiền sư tới và làm một ngày chánh niệm ở đây thì con số người bạo động đã giảm đi rất nhiều.” Thầy Pháp Dung đi theo Thầy, thầy Pháp Dung là dân Cali nên khi thầy nói chuyện thì ông thị trưởng rất thích. Bà vợ ông ta còn thích thầy Pháp Dung hơn là thích Thầy nữa.

Hôm đó có anh diễn viên hài quốc tế tên Garry Shandling. Anh ngồi chơi với Thầy, mỗi lần anh mở miệng nói một câu thì mấy sư cô trẻ như Kính Nghiêm, Nho Nghiêm ôm bụng cười ngặt nghẽo còn Chân Không thì không hiểu gì hết tại vì tiếng Anh của Chân Không rất giới hạn, chỉ dùng để thuyết pháp hay đi kêu gọi hoà bình thôi. Mới tới lần đầu ông đã ký séc (check) cho Lộc Uyển 50.000USD. Ông được Thầy dẫn lên núi chơi, đi xem núi đá này núi đá kia. Thầy trò mình rất thích những tảng đá to ngàn tuổi, rộng thênh thang, bảy tám chục thầy trò ngồi trên tảng đá cũng còn đủ chỗ. Lúc đó mình không được giấy phép tiếp đông người tới tu tập dù mình nộp đơn đã hai năm rồi. Mình xin giấy phép cho 300 người ở thì nhà nước cũng không cho. Thầy đề nghị viết thơ cho ông Jerry Brown thì anh Pritam nói không nên tại vì bên Mỹ người ta làm việc độc lập với nhau. Sau này ông Arnold Schwarzenegger lên làm thống đốc, ông cũng rất thích Thầy. Ông có mời Thầy tới giảng ở trường Đại học.

Khi Garry tới thăm Thầy, biết Garry Shandling rất ăn khách nên thầy Pháp Dung và Pritam rủ Garry Shandling cùng đi để nhờ anh ta thuyết phục chính quyền cho phép trung tâm Lộc Uyển được tiếp khách rộng rãi, được mở khoá tu cho 500-600 người. Không có đủ chỗ thì mình có thể mướn những trailer tức nhà có bánh xe kéo.

Vừa tới Văn phòng xin phép xây cất hay sinh hoạt công cộng thì anh Shandling đã nói:

“Nè quý vị có biết là quý vị may mắn lắm không? Có một ông thầy tu tới định cư dưới vùng kiểm soát của quý vị chỗ sườn núi đá Escondido đó. Ông ở DEER PARK, chỗ mà quý vị bỏ hoang đó. Nhờ đọc cuốn sách này của ông mà tôi hết giận cô bạn gái của tôi. Trong giới điện ảnh thì đáng lẽ tôi gây lộn sáng, gây lộn trưa, gây lộn chiều. Tôi đi sang phải cũng để sẵn một câu bút pháp với một nét dặn dò “Breathe and smile!”, nhờ thế tôi cười được.”

Anh ta nói làm sao mà cả văn phòng ôm bụng cười ngả nghiêng – thầy Pháp Dung cũng ôm bụng cười theo. Rồi anh ta đưa cuốn sách khác ra nói:

“Nhờ cuốn này mà tôi giải quyết được chuyện phản phúc của một cộng tác phụ tá tôi…”

Suốt buổi anh ta ngồi quảng cáo sách của Thầy một cách hài hước. Anh ta nói tới đâu thì người ta cười tới đó.

“Quý vị đừng tưởng là tôi làm quảng cáo cho ông này nghe. Ổng đổi đời tôi thiệt đó.”

Những người trong ban xây cất ôm bụng cười một hồi thì anh Pritam nói:

“Quý vị có thể cấp giấy phép cho chúng tôi hoạt động đàng hoàng ở Lộc Uyển được không? Chúng tôi nộp đơn đã hai năm mà chưa có trả lời.”

Họ lỡ mê anh chàng danh hài nên ký giấy cho phép không do dự. Vừa ra xe anh Pritam gọi điện cho Chân Không:

“Sư cô biết không, mình mới thắng một trận rất lớn. Giấy phép cho mình hoạt động với số người y như cũ. Họ không biết chỗ này tiếp nhận 300 người tù, rồi khi làm ăn thất bại thì đổi qua tiếp nhận 300 người nghiện ngập. Như vậy là họ cho phép mình xây một hotel restaurant 300 chỗ ở đó.”

Anh Gary rất thương Thầy và Chân Không. Chân Không tặng cho anh băng của sư cô hát những bài thiền ca, dân ca và anh rất thích. Anh thương Chân Không như một người chị.

Năm đầu tiên sau khi bị đột quỵ thì Thầy qua Mỹ. Chân Không theo Thầy qua Mỹ ở nhờ nhà của anh Marc Benioff ở San Francisco. Garry Shandling lấy máy bay tới thăm và kể là anh bệnh suýt chết mấy lần, anh sẽ ký check cho “Walk with me”, phim của anh thầy Pháp Linh sản xuất nói về xuất sĩ Làng Mai. Sư cô Chân Không nói anh ký check cho anh thầy Pháp Linh thì phải để riêng. Nếu muốn cho tiền Lộc Uyển hay phụ chăm sóc Thầy thì anh ký check riêng. Anh nói anh sẽ ký check riêng, ngoài ra anh sẽ làm di chúc sau này khi anh chết thì một phần lớn gia tài của anh sẽ thuộc về tăng thân của Thầy Nhất Hạnh. Chiều hôm đó anh chào đi về và nói tuần sau anh lại tới.

Sau đó, một hôm Chân Không đi làm răng về thì được tin anh mới qua đời vì bị đột quỵ. Lúc đó Chân Không đang ở Pháp nên không tới dự đám tang của anh được. Lần cuối mà Chân Không đứng chụp hình với anh cách đó có một tuần. Chân Không nhớ hình ảnh anh đứng trước cửa sổ, Chân Không hỏi:

“Hồi đó tới giờ anh có thương cô nào không? Sao anh không cưới?”

Anh trả lời:

“Có, em thích người này nhưng không xong, rồi em thích người kia cũng không xong.”

Anh chưa viết kịp di chúc như đã hứa trước khi chết.

Lúc trước anh đã từng bay qua Washington DC để giới thiệu Thầy với các dân biểu quốc hội. Mấy ông dân biểu bận làm chính trị nên thường viện cớ là không có thì giờ. Anh tới thuyết phục các dân biểu thấy sự quan trọng của Thầy mà đi tham dự khoá tu. Anh Shandling rất được hâm mộ, một hợp đồng anh ký tham gia một chương trình truyền hình là mấy triệu đô la. Nghe có Shandling tới Library của Congress nói chuyện và giới thiệu thiền sư Thích Nhất Hạnh thì dân chúng tới rất đông. Anh nói:

“Tôi là người Do Thái đó (ý là người tính tiền rất kỹ). Tôi tới đây không được trả tiền vé máy bay mà còn phải tự móc túi mình ra mua vé (thiên hạ cười ầm). Tôi không bỏ thì giờ bay tới Washington DC để giới thiệu ông thiền sư này nếu ông không phải là người vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc, đã giúp tôi gỡ được những nút thắt khổ đau trong cuộc đời của tôi.”

Nghe anh ta nói chuyện thiên hạ cười rần rần. Chân Không dở tiếng Anh nên không hiểu gì hết. Ngày anh tịch, Chân Không xin một thầy đại diện cho Làng Mai là thầy Pháp Hải đang ở Lộc Uyển tới dự đám tang của anh và xin một mớ tro của anh đem về rải ở Lộc Uyển. Hiện giờ anh đang bàng bạc ở tu viện Lộc Uyển cùng các thầy và các sư cô.

Tu viện ở miền Đông Hoa Kỳ

Thầy là người Á Châu thì đáng lý Thầy phải lập trung tâm tu học ở Á Châu. Nhưng khi đi kêu gọi hoà bình ở Tây phương thì Thầy không được về lại Việt Nam và lập cơ sở ở Tây phương. Lúc đầu Thầy cũng không muốn lập trung tâm. Thầy rút về Phương Vân am để tịnh tu cho chính mình và vài người bạn trân quý. Mở khoá tu ở Phương Vân am thì quá chật nên Thầy về miền nam nước Pháp mua được đất làm Làng Hồng sau đổi tên là Làng Mai. Nhiều thiền sinh năn nỉ Thầy qua Mỹ, qua Úc… và lập trung tâm tu học ở đó.

Có một anh thiền sinh người Mỹ tên là Pritam Singh mà mọi người thường gọi anh là Cấp Cô Độc. Tên anh như là tên Ấn Độ nhưng thật ra anh là người Mỹ da trắng. Gia đình anh theo đạo Chúa. Trong chiến tranh Việt Nam anh chống chiến tranh nên bị các cha rầy. Anh chán đạo Chúa nên bỏ đạo đi qua Ấn Độ, theo đạo Sikh tiến bộ của Ấn Độ giáo và lấy họ Singh như những người của đạo Sikh. Anh buôn bán bất động sản rất thành công ở Hoa Kỳ. Anh muốn cúng dường một biệt thự trong tài sản của anh cho Thầy để mở một trung tâm ở bên Mỹ nhưng Thầy không chịu. Trong chuyến hoằng pháp của Thầy năm 1997 ở Hoa Kỳ có ba người trẻ muốn xuất gia nhưng chưa có quốc tịch Hoa Kỳ nên chưa đi qua Làng Hồng ở Pháp được. Thương thế hệ tương lai, Thầy chịu mở một trung tâm ở Mỹ cho ba vị này có chỗ tu tập. Vì vậy mà tu viện Rừng Phong, thiền viện Thanh Sơn ra đời với sự giúp đỡ của anh Pritam. Cũng vì lòng từ bi đó mà song song với trung tâm anh Pritam đề nghị tặng ở miền Đông, Thầy cũng muốn mở một trung tâm miền Tây Hoa Kỳ, vùng California cho đa số tuổi trẻ gốc Việt vùng Cali.

Tu viện Rừng Phong

Tu viện Rừng Phong ở Woodstock, tiểu bang Vermont là nhà nghỉ của anh Chân Hộ Tăng Pritam Singh. Anh là người Mỹ đầu tiên rất tha thiết với pháp môn của Thầy và nhất định là Thầy phải có trung tâm tu học ở Hoa Kỳ chứ chỗ Làng Mai tu học của Thầy xa xôi khó đi quá thiên hạ không tới tu được. Chuyến hoằng pháp ở Bắc Mỹ vào mùa thu năm 1997, lần đầu tiên Thầy đem theo nhiều thầy, sư cô trẻ ở Làng Mai. Trong chuyến đi này có ba người trẻ thấy tăng đoàn đi theo Thầy trẻ trung, đầy năng lượng tươi vui mà lại an lạc quá nên phát tâm đi tu mà chưa có quốc tịch Mỹ để qua Pháp xuất gia. Thương thế hệ trẻ có bồ đề tâm lớn, Thầy đã nhận cho các em xuất gia sau khoá tu tại đảo Key West, Florida. Vào thời điểm này có một giáo thọ cư sĩ là anh Chân Thiện Căn đang sắp xếp để qua Làng Mai thực tập xuất gia, Thầy gọi anh đến Key West để cùng xuất gia với ba bạn trẻ và anh trở thành anh cả trong gia đình xuất gia mà Thầy đặt tên là Cây Phượng. Vì có các vị xuất gia mới này, nên Thầy đã nhờ anh Pritam tìm chỗ cho các vị này tu. Pritam nghe Thầy nhờ nên mừng lắm, anh ta phát tâm cúng dường liền hai căn nhà của anh ở Vertmont xung quanh có hồ và rừng cây phong. Nhà cho các sư cô có hai tầng, tầng trên gồm hai phòng ngủ, tầng dưới gồm một phòng ngủ, hai phòng sinh hoạt chung, nhà bếp và nhà ăn đủ cho sáu sư cô. Thầy đặt tên là Xóm Tùng. Cách đó khoảng 15 phút đi bộ là nhà cho các thầy. Nhà các thầy cũng có hai tầng gồm hai phòng ngủ trên lầu với một nhà bếp nhỏ và một phòng sinh hoạt lớn. Tầng dưới có một bếp lớn chung với phòng ăn và có một dãy bàn dài đủ chỗ cho 20 người. Nhà này ở trên đồi, nhìn xuống rừng phong rất đẹp. Thầy đặt tên là xóm Thạch Lang. Kế bên là căn nhà nấu đường Maple Sirup được anh Pritam ra lệnh cấp tốc sửa thành một cái thiền đường đủ chỗ ngồi cho khoảng 80 người, trong đó có một phòng ngủ và một phòng tắm. Thiền đường này được đặt tên là Sugar House. Gần đó có một cái hồ nhỏ bên trong có xây một nhà trà theo phong cách Nhật. Đi xa khoảng năm phút nữa thì có một thung lũng có những trụ đá cao lớn dựng theo vòng tròn phong cách Anh quốc xưa. Và sau đó là một hồ thiên nhiên nhỏ thôi mà gia đình anh Pritam hay bơi vào mùa hè. Có nhiều con đường thiền hành nằm trên núi rất đẹp. Sư cô Chân Đức được Thầy cử qua Vermont để hướng dẫn sự tu học của đại chúng. Tu viện Rừng Phong chính thức được thành lập vào cuối chuyến đi hoằng pháp ở Hoa Kỳ mùa thu năm 1997, mang tên là chùa Phong Lâm, gồm có ba vị nam xuất gia và bảy sư cô.

Tu viện Thanh Sơn

Năm tháng sau anh Pritam tìm ra một ngôi nhà khá rộng rãi ở cách tu viện Rừng Phong khoảng nửa tiếng, anh đề nghị mua tặng thầy làm tu viện cho đàng hoàng hơn ngôi nhà nhỏ xíu chật chội kia. Khu nhà và núi rừng này giá 900.000 đô. Các sư em và cả anh Pritam cũng nói: “Đúng là tu viện của Thầy phải có chỗ thiền hành, núi rừng bao la như chỗ mới này.” Nó nằm ở Hartland Four Corners, Vermont. Chỗ này nằm ở trung tâm Vermont, phải lái xe 6 giờ mới tới New York City, 5 giờ tới Boston, 5 giờ đi Philadelphia, 6 giờ lái xe đi Montreal hay 7 giờ đi Toronto, Canada. Anh muốn cúng dường toàn bộ tiền mua ngôi nhà nhưng Thầy không chịu, Thầy nói:

“Nếu Thầy để anh mua trung tâm này thì người ta sẽ nói trung tâm này là của anh Pritam Singh chứ không phải là một trung tâm của Phật giáo. Một trung tâm Phật giáo phải do nhiều bàn tay đóng góp nên anh chỉ có thể đóng góp tới 600.000USD thôi, phần còn lại do những vị khác đóng góp.”

Vì vậy ngoài số tiền của anh Pritam, mẹ của anh Richard Brady (một thiền sinh) cúng dường 100.000USD và các Phật tử các nơi quy tụ về đóng góp. Và thêm vào tiền thu được từ hai cuốn sách của thầy là Living Bouddha Living Christ và Anger đủ cho mình mua tu viện Thanh Sơn.

Như vậy vào năm 1998 Làng Mai có thêm Trung tâm tu học Thanh Sơn cách Rừng Phong 25 phút lái xe, quý sư cô dọn qua Thanh Sơn. Tu viện Thanh Sơn tức là Green Mountain Dharma Center được đặt tên theo địa danh, tại vì tiểu bang đó tên Vermont, ver là màu xanh và mont là núi (có gốc từ tiếng Pháp).

Thầy cử các sư cô Quy Nghiêm và Linh Nghiêm qua Tu viện Thanh Sơn phụ với sư cô Chân Đức. Năm này có đợt xuất gia mới, sư em Thục Nghiêm người Mỹ cũng được qua Thanh Sơn lo giấy tờ hành chánh cho Trung Tâm. Như một sư cô đứng tuổi có trách nhiệm, sư em Thục Nghiêm có đóng góp lớn và được Thầy và Chân Không trân quý lắm.

Anh Pritam cho xây ngay một thiền đường bằng gỗ láng làm chỗ ngồi thiền cho quý sư cô. Anh còn mua thêm 125 acres đất rừng xung quanh tu viện để có đủ diện tích hy vọng ban xây cất nhà nước cho phép xây thiền đường lớn, nhà ăn, phòng ngủ, khu vệ sinh công cộng v..v. nhưng ba lần nộp đơn xin đều bị từ chối vì Vermont là tiểu bang cơ ngơi của các tỷ phú như Rockfeller. Khi mình xin giấy phép mở khoá tu hay ngày chánh niệm cuối tuần có đông người đến tu tại Tu viện Thanh Sơn thì mãi mà không được tại vì vùng Vermont toàn là dân nhà giàu nên không muốn cho đông đảo người đến tu. Họ không cho xây cất những cơ ngơi sinh hoạt công cộng.

Thanh Sơn là một ngôi nhà hai tầng khá lớn nên đủ chỗ ở cho các sư cô và có thêm phòng cho Thầy cũng như thị giả. Nhà nằm trên cánh đồng đầy hoa dại rất mượt mà. Có một cái lán rất rộng có mái che để tập cưỡi ngựa cho con cái các gia đình giàu có được mình cải tạo lại thành thiền đường Phật Mã. Vùng miền Đông Hoa Kỳ quanh năm tuyết phủ nên bên trong thiền đường lót rơm bện cứng cho thiền sinh dự Khoá tu Phật tử Việt Nam tha hồ có chỗ ngủ. Một góc là nam thiền sinh cũng 180 người, góc kia là nữ thiền sinh được gần 300 người. Mình không có giấy phép sinh hoạt công cộng nhưng khoá tu cho người Việt khá đông người tham dự, thiền sinh mướn sáu xe bus 50 chỗ đi từ Boston, Philadelphia, Montreal, Toronto và ngay cả từ North Carolina nữa. Họ hạnh phúc vô cùng. Nhiều bạn trẻ trí thức từ Toronto thích về đây tu học hơn là đi làng Cây Phong. Có cả gia đình con cháu cụ Lê Đình Thám là anh Lê Đình Duyên, vợ và các con về tu nữa. Cả gia đình về thọ giới với Thầy. Có nhiều người trí thức ở Toronto đi tham dự và lập ngay tăng thân Toronto, tăng thân Ottawa.

Thơ phổ nhạc của sư cô Chân Quy Nghiêm về tu viện Núi Xanh (Thanh Sơn):

Dáng Núi Xanh, dáng núi bình yên

Nước biếc non xanh trời đất thật hiền

Đi rất nhẹ giữa trời xanh biếc

Lòng vẫn trong thế giới bình yên.

Khi mua xong Green Mountain Dharma Center thì bên tu viện Rừng Phong, anh Pritam vẫn xây dựng Phật đường cho quý thầy khá đẹp. Anh xây theo kiểu nóc bầu để không đọng tuyết mà ba năm sau Thiền đường Thái Bình Dương ở tu viện Lộc Uyển mô phỏng lại với nóc đỏ.

Mình ở Rừng Phong và Thanh Sơn mười năm nhưng địa phương không yểm trợ cho mình phát triển rộng, thêm nữa Thanh Sơn nằm trong khu nhà giàu. Mình thấy cần phải mua một trung tâm ở chỗ có nhiều người khổ nên mình đã đi tìm chỗ mới, đó là tu viện Bích Nham bây giờ. Trung tâm Bích Nham ở tiểu bang New York, cách New York city từ 1 đến 1,5 giờ lái xe.

Tu viện Bích Nham

Thầy Pháp Duyệt lên internet tìm một số cơ sở ở trong vùng New York để làm một trung tâm mà người nghèo Mỹ và Việt Nam có thể tới được. Trung tâm ở Vermont thì người Mỹ da đen không tới được và quá xa cho người Việt Nam. Ngoài ra chỗ đó không được đón tiếp quá một trăm người tới tu học. Mình tìm được một chỗ gần New York và nhờ anh Pritam coi giùm.

Đây là một khu nghỉ dưỡng với nhiều nhà nằm rải rác trong rừng có được dòng suối lớn bao quanh. Rừng cây xanh mướt, xanh trong như bích ngọc vào xuân và vàng rực óng ả như cõi tiên vào mùa thu lá đỏ kéo dài hai ba tháng, ngồi thiền giữa rừng thu sẽ rất tuyệt vời. Mùa thu là mùa lá rụng, người Mỹ ở các tiểu bang không có mùa thu thường bay tới đây để ngắm lá rơi tại vì chỗ này đặc biệt có cây phong lá đỏ mùa thu đổi màu rất đẹp. Khu này có chừng năm ngôi nhà nhỏ, có hai nhà một tầng và một căn nhà hai tầng. Có một cư xá thật lớn bằng gỗ nhưng ọp ẹp lắm rồi cần khoảng 1 triệu USD mới sửa hết được. Cư xá này nếu sửa lại đàng hoàng sẽ có thể chứa 100 người. Căn nhà hai tầng có tầng trên làm văn phòng, thư viện và phòng sinh hoạt chung. Tầng dưới là khu nhà ăn và bếp, đủ chỗ ăn cho khoảng 80 người. Chỗ ngủ của các sư cô là các ngôi nhà cất rải rác trong rừng, khách cũng có thể ở lại nghỉ dưỡng qua đêm nhiều ngày hay hàng tuần. Trước mặt phòng ăn công cộng là ngôi nhà nhỏ làm thiền đường cho các sư cô. Đây là chỗ ở của các sư cô, gọi là xóm Hạc Trắng. Một con đường nhỏ từ đầu đường đi vào xóm Hạc Trắng chạy dọc đến bìa rừng không có tên nên mình xin chính quyền và đặt bảng tên đường là Mindfulness Road (đường Chánh Niệm). Một con suối chảy quanh đất mình và một bờ hồ nước trong xanh trên con đường đi vào rừng rất đẹp, nằm gần căn nhà đã cũ kỹ tên là Hồ Nguyệt (Moon Lake). Thiền đường, nhà ăn, mấy căn nhà rải rác, nhà nào cũng có tên rất thơ mộng. Tuy nhiên vì chỗ này ngày xưa chỉ hoạt động vào mùa ấm và mùa thu nên không đủ tiện nghi cho mùa đông tuyết lạnh lẽo. Các sư cô dự định xây một ni xá đủ tiện nghi tối thiểu để ở chung nhưng đã nhiều năm rồi mà dự án vẫn chưa đi đến đâu.

Bên kia con đường xuyên quận tên Pleasant Valley Rd. là nhà của ông chủ, mình mua luôn làm nhà ở cho các thầy. Nhà rộng, cũng được mười căn phòng, có nhà ăn, nhà bếp rộng rãi. Đất còn rộng nên mình xây một thiền đường khá lớn, có sức chứa tới 500 người do thầy Pháp Dung dùng sở trường kiến trúc vẽ giùm. Thiền đường có cửa kính lớn nhìn ra núi rừng rất đẹp, được đặt tên là Đại Đồng, dùng cho hai xóm trong ngày Quán Niệm hay cho những buổi thuyết giảng công cộng của Thầy cho cả vùng đến nghe. Kế bên thiền đường là thất Thạch Lang dành cho Thầy và thị giả mỗi khi đến Bích Nham. Đó là xóm của mấy thầy gọi là xóm Tùng Xanh.

Đi xe ra xa cách đó 3 cây số là rừng núi vách đá cheo leo nên mình đặt tên cơ sở này là Thiền viện Bích Nham, lấy tên theo cuốn thiền tập Bích Nham lục. Sư cô Chân Không đề nghị đặt tên Bích Nham thì Thầy đồng ý ngay. Bài hát Colchiques dans les Prés là một bài dân ca Pháp, Chân Không đặt lời Anh là nhờ có Bích Nham và rừng thu của tu viện.