Hoa mặt trời và cánh đồng
Làm sao con có thể mỉm cười
Câu hỏi:
Có đôi lúc bên trong con thường xuất hiện sự ganh tỵ, đố kỵ với một ai đó, rồi tự trách bản thân không cố gắng phấn đấu, chỉ biết sống mà không có sự nỗ lực vươn lên. Con nhận diện được sự ganh tỵ, đố kỵ ấy, nhưng không biết làm thế nào để dung hòa.
Và rồi con cũng trở nên ít cười hơn hẳn, không còn vui vẻ như ngày trước, thường hay suy nghĩ nhiều. Dẫu biết rằng thế sự này là vô thường.
Nhưng khi nhìn thấy những nụ cười hạnh phúc, hiền lành của Sư Thầy, Sư Cô thì bên trong con lại trở nên hồi hộp, thổn thức và một niềm vui khó tả. Con thật ngưỡng mộ những nụ cười ấy, dịu dàng và ấm áp. Con nhớ mãi những nụ cười dịu dàng mà Sư Thầy, Sư Cô mang đến.
Con luôn tự hỏi “điều gì đã làm nên những nụ cười ấy?” , và đó là thứ mà con đang tìm kiếm. Con rất mong nhận được hướng dẫn từ Sư Thầy, Sư Cô.
Trả lời:
Cảm ơn em đã hỏi một câu hỏi hay và cảm ơn em đã mang lại cho quý thầy, quý sư cô một nụ cười 🙂
Em biết không, ở đây ngoài trời đang mưa. Mưa mau lắm. Những sợi mưa như sợi bạc đan dày không gian. Ngoài khung cửa, vô vàn những giọt nước đang đọng nơi những cái đuôi lá đỏ của cây mận Nhật, những lá xanh cây dâu tằm và liên tục rớt xuống, lóng lánh. Tiếng mưa du dương trên nền lá, ấm áp trên nền đất và lắc rắc giọt nơi hiên… Mình không thể không mỉm cười em ơi 🙂
Em à,
Nếu em đã từng có niềm vui khi nhận lấy nụ cười của quý thầy, quý sư cô, nếu em thấy những nụ cười ấy là dịu dàng, ấm áp thì những nụ cười ấy không còn “ở ngoài” em nữa. Những nụ cười ấy quý thầy, quý sư cô đã trao em rồi, giờ đây em có thể mỉm cười như vậy. Mình đã là tri kỷ của nhau rồi. Em biết đấy, tri kỷ là những người hiểu nhau, thương nhau. Em thương nụ cười của quý thầy, quý sư cô. Em hiểu được nụ cười ấy có là vì niềm hạnh phúc, vì tấm lòng hiền lành, ấm áp, dịu dàng. Vậy thì quý thầy, quý sư cô tri ân em và có thêm một nguồn hạnh phúc để có thể mỉm cười.
Em thấy không, mình có thật nhiều hạnh phúc nếu mình biết nhận ra. Mỗi giây, mỗi phút với thực tập chánh niệm mình có thể nhận ra được suối nguồn của thương yêu, của hạnh phúc. Mấy dòng mail của em không phải chỉ là một câu hỏi. Quý thầy, quý sư cô khi đọc mail của em đã nhìn thấy thật nhiều điều trong đó có thể nuôi dưỡng được mình. Nhận ra được những gì đẹp đẽ, tích cực không phải là mình tự kỷ ám thị hay lạc quan vô lối mà là một sự thực tập, thực tập “Như lý tác ý”.
“Tác ý” tức là khơi dậy những ý nghĩ, tư duy, là nhìn sâu để hiểu và “như lý” nghĩa là theo hướng đúng đắn, là như thật. Nhiều khi mình nhìn nhận sự việc, con người, hoàn cảnh,… không phải “như thật” mà thực ra là theo những định kiến, những nội kết sẵn có trong mình. Ví dụ mình nhìn thấy một người ăn mặc không được chỉnh tề cho lắm thì mình nghĩ: “Cái cô đó mà ăn mặc như vậy chắc là không phải người trung thực”. Trong khi đó người ấy có thể là một người trung thực hoặc trong tình huống đó đã hành động trung thực. Nhưng mình đã vì một nội kết, một định kiến mà có một kết luận, mình dán cho người đó một cái nhãn. Đó không phải là “như lý tác ý”, đó là “phi như lý tác ý”. Trong khi đó nếu mình không bị nội kết ngăn trở thì mình có thể nhận ra những điều khác hơn, ví dụ “tuy cô đó ăn mặc như vậy nhưng cô đó đã hành động lương thiện”, …
Thực tập chánh niệm được liên tục thì mình sẽ không bị chạy theo những thói quen suy nghĩ tiêu cực em à. Chánh niệm là ánh sáng giúp mình nhận diện ra những ý nghĩ, những tư duy hay cảm thọ. Nhận diện được rồi thì mình cũng mỉm cười thôi; “Chào bạn ganh tị, tôi nhận ra bạn rồi…”. Nụ cười lúc này là một dấu ấn, dấu ấn của chánh niệm, của sự nhận biết. Mỉm cười được rồi thì mình cũng chào thôi: “… và tạm biệt bạn nha”. Như vậy đồng thời nụ cười sẽ làm khơi dậy một điều khác nữa; lòng bao dung và chấp nhận. Sự ganh tị là mình, nên mình không loại trừ chính mình, không ruồng bỏ mà mỉm cười buông hạt giống ganh tị, để hạt giống ấy đi xuống, và lòng bao dung, sự chấp nhận đi lên.
Sư Ông thường ví dụ rằng ý thức của mình như một phòng khách và chánh niệm là người chủ. Nếu chánh niệm luôn có đó thì sẽ nhận ra được người khách nào mình muốn mời vào chơi lâu lâu (ví dụ như lòng bao dung, chấp nhận) và người khách nào mình sẽ chào tạm biệt (như sự ganh tị…). Như vậy mình sẽ rất thảnh thơi, không cần phải đấu tranh gì hết, cũng không phải là một sự thoả hiệp nữa. Khi mình buông xuống được thì lúc đó mình sẽ thực sự thấy được vô thường, chứ không phải là dùng khái niệm vô thường để đàn áp hay loại bỏ những ý nghĩ của mình.
Em thương,
Khi em nhận ra nụ cười của quý thầy, quý sư cô là hạnh phúc, là hiền lành, là ấm áp thì trong chính em cũng có những điều này đó em. Nếu không có những hạt giống này thì em làm sao hiểu được đó là hạnh phúc, là hiền lành… phải không em? Vậy thì hạt giống đó ai cũng có nhưng để biểu hiện lên thành nụ cười thì thực tập của mình là phải khơi những hạt giống đó lên và tưới cho những hạt giống đó nảy nở thêm trong vườn tâm của mình. Những nụ cười của quý thầy, quý sư cô cũng là nước mát để giúp em tưới cho những nụ cười của mình, em hãy nhận lấy và đừng để cho uổng phí nghe em.
Mình không cần đợi đến khi nào có những tâm hành hay cảm thọ tiêu cực thì mới mỉm cười, phải không em? Mình có thể nhận ra vô số những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có ngay trong giây phút hiện tại: một giọt nước trong, một tiếng chim hót, một tờ lá bay, tình thương đang có trong mình, một hành động đẹp của người bên cạnh,… hoặc mỉm cười với tuổi trẻ của mình, với những gì tốt đẹp mà ba mẹ đã trao truyền cho mình, mỉm cười vì biết ơn rằng mình đang có hai con mắt sáng, vì mình có… hàm răng còn chắc, biết ơn đôi chân vẫn đưa mình đi, biết ơn đôi bàn tay, biết ơn trái tim… Mình có thể giữ những tâm hành, cảm thọ này ở lâu với mình được. Em có thể thực tập mỗi tối, trước khi ngủ thay vì đọc hay nghe một cái gì đó thì em có thể nhớ lại những khoảnh khắc đẹp, những tâm ý tốt và mỉm cười.
Rất mong là em sẽ thực tập cùng quý thầy, quý sư cô nụ cười mỗi ngày. Đây là một sự thực tập rất nuôi dưỡng. Em có thực tập thi kệ buổi sáng không? Thức dậy với một nụ cười trên môi: “Thức dậy miệng mỉm cười. Hai bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời”. Mỗi câu kệ đi theo một hơi thở vào hoặc một hơi thở ra. Xin gửi em đường link này, nếu mà em có thực tập rồi thì hay quá:
https://langmai.org/thien-
Thương chúc em thực tập thành công và quý thầy, quý sư cô rất hạnh phúc vì có thêm một người tri kỷ.
Thương và tin cậy,
sư cô Trăng Linh Mẫn
Cha
Sáng nay trời đất Pakchong tinh khôi như một bài thơ. Con nhẹ bước thiền hành cùng đại chúng; hình ảnh cha chợt hiện về trong hơi ấm bàn chân. Chỉ cần nhận diện cha đang có trong mỗi hơi thở, bước chân cũng đủ làm cho con hạnh phúc. Con nhớ Sư Ông dạy: “Mỗi động tác là một nghi lễ”, con trở về với hơi thở và thấy rằng mỗi bước chân thảnh thơi của con hôm nay là một nghi lễ của tình thương mà con gửi đến cha – con đang được đi những bước chân của cha!
Mẹ đã dạy con trai cứng cáp, dạy cho con gái dịu dàng. Món quà cha để lại là sự lặng im vững chãi của một người gánh vác sứ mệnh tiếp nối tổ tiên và trao truyền những điều thiêng liêng cho con cháu. Con thực sự nhận ra điều này khi cha đã nằm xuống – Cây đại thụ đã ngã, cả khoảng trời trống rỗng, con trở thành đứa trẻ mồ côi. Đã nhiều mùa Vu Lan con cài hoa hồng trắng trên ngực áo. Mẹ ra đi; cha cũng bỏ con ở lại. Những cột mốc đánh dấu sự côi cút, bất hạnh lớn dần thêm. Chẳng có bất hạnh, khổ đau nào giống nhau, nhưng mất cha là bất hạnh mở đầu cho mọi bất hạnh dù rằng con phải hiểu dưới bất kỳ lớp nghĩa nào. Mất cha, con đã thực sự mất đi tri kỷ từ khi con chào đời, bởi tri kỷ là hiểu biết, thương yêu mà trong cuộc sống này có ai hiểu con như lòng cha thầm lặng và cha là người tri kỷ mà chưa bao giờ con tỏ bày.
Cha thương yêu!
Một tiếng gọi muộn đủ để cho con quay về nương tựa trong tình thương và lòng tôn kính. Con hôm nay là công trình cha đã tạo dựng nên. Có mấy ai hiểu hết được tình thương và ước vọng mà cha mình để lại. Cái ước vọng mà tuổi thơ con được cha chở đi trên chiếc xe đạp hay đi bộ đón con sau những buổi tan trường, con chữ của con buổi đầu có giọt mồ hôi cha mằn mặn và những mơ ước gửi theo những con đường gập ghềnh. Quê mình nhiều dốc núi, cha lúc ấy như đỉnh núi nâng con lên để chạm với mây trời và ước mơ làm một con người chân chính.
Từ ấu thơ, cha là người thầy đầu tiên khơi nguồn cho con với bao mơ ước. Cha bao giờ cũng mạnh mẽ, phóng khoáng và dám chấp nhận. Những bước chân đầu tiên của con, cha là người động viên con và ngăn mẹ cứ để cho con bước. Con đã ngã, dấu tích là vết sẹo trên khuôn mặt theo lời mẹ kể, nhưng con nín khóc khi có bàn tay của cha nâng dậy và niềm tin rằng con có đủ dũng cảm để nước mắt đừng rơi. Vết sẹo ngày xưa đã lành, nhưng nghị lực và hơi ấm tình thương của cha đã theo con cùng năm tháng. Tuổi thơ con cũng lam lũ, vất vả như cuộc đời của mẹ cha. Nhưng chính cha đã dạy cho con đừng bao giờ bỏ cuộc; hãy sống xứng đáng dù có đôi khi những nghiệt ngã của cuộc đời làm cho con chẳng thể chịu đựng được. Con hiểu, cuộc đời cha đã trải qua biết bao khó khăn nhưng cha luôn lạc quan đi tới; phải thế chăng mà những ruộng vườn, khoai sắn trên đất quê cằn cỗi cũng từ đó mà lên xanh, nuôi sự sống cho cha và con. Con biết ơn nụ cười của cha những khi mùa gặt thất bát, gió thổi rỗng cả trời nhưng lòng tin yêu cuộc sống chưa bao giờ cạn.
Mẹ mất sớm, cha trở thành người có hai đôi vai, gánh cả hai phần. Con không có bức ảnh nào về cha nhưng ký ức con đã chụp lại rất rõ những vết nhăn trên khuôn mặt cha do tần tảo và lo lắng cho đàn con. Con biết, khi nào con còn đủ sức lưu giữ những tình thương đó thì hình cha vẫn mãi trong con mà không có bức ảnh nào trên đời có thể thay thế. Chính những vết nhăn chi chít đó đã nâng con lên trong cuộc đời, bởi cũng có đôi khi, con thầm so sánh cha với cha của bạn bè con khi con ra thành phố học, có đôi khi khó khăn khiến con có chút nản lòng… Nhưng vầng trán của cha còn đó; con lại tiếp tục lên đường, xuôi ngược với ước mơ, hiển vinh trong khi cha là người chống đỡ những nhọc nhằn nơi quê nhà, lấy sự trưởng thành, hạnh phúc của chúng con làm niềm vui sống.
Con đã nhiều lần viết, nhiều lần tặng quà cho bao người nhưng con chưa bao giờ viết, chưa từng có một món quà nào xứng đáng cho cha. Ấy thế mà cha vẫn mỉm cười, hạnh phúc khi nhìn những bước con đi. Từ khi mẹ mất, mấy cha con chẳng con ngôi nhà xưa vì đã bán để lo thuốc thang cho mẹ, nhưng cha đã là ngôi nhà che nắng mưa cho chúng con bằng cả niềm tin. Những thành tích mà con có được, con cũng mong được một lần dán lên ngôi nhà, nhất là có thể làm mờ những vết nhăn trên trán cha. Nhưng đôi khi, ước mơ của con còn nhỏ lắm với lòng cha mong đợi; Cha mong con đi vững vàng trên chính đôi chân mình như một con người bản lĩnh, tự do.
Cha đã rất trân trọng những quyết định của con. Lúc nào cha cũng trầm tĩnh, vững vàng với một câu đã quen nhưng con đừng quên suy ngẫm: “Tuỳ ở con”. Cha đã dặn con phải nương tựa chính nơi con, phải bước bằng đôi chân của mình để vững vàng trước bao biến cố. Và con đã có không ít những lần vấp ngã, may thay, bàn tay cứng cáp và trái tim bao la của cha đã cho con đứng dậy. Cha vẫn đứng đó, trán có thể thêm nếp nhăn nhưng chưa bao giờ thôi truyền cho con niềm tin, nghị lực, cho con thêm những kinh nghiệm để vững bước vào đời. Có một lần, vì những khó khăn trong công việc, mệt mỏi trong cuộc sống, chứng kiến các anh đối xử tệ bạc với cha, con đã vung vãi những lời đau đớn, trách móc: “Tại cha thương yêu, hiền lành quá nên các anh trèo lên đầu như vậy đó. Bây giờ thì cha trách ai. Con chán hết mọi thứ rồi!” Đó có thể là lần đầu tiên con làm tổn thương cha. Cha lặng lẽ ra khu vườn, trời không gió bụi mà mắt cha đỏ hoe. Con đã làm tổn thương cha, chạm đến điều mà cha đã hy sinh cả đời: hết lòng thương yêu chúng con!
Cha chưa bao giờ đổi thay dù đàn con có đứa mang đến nỗi đau này hay nỗi đau khác. Con nhớ ngày đó, hối hận vì lỡ lời, con trở về định xin lỗi cha. Cha ngồi đó với chén trà và cha vẫn bình yên, như chén trà đầy ánh trăng đêm. Con đã chưa nói lời xin lỗi trong khung cảnh bình yên đó, con lặng lẽ ngồi đó. Cha đã cho con có cơ hội dừng lại để cảm nhận cuộc sống này, đã cho con biết bao điều tốt đẹp. Cho nên có lúc con ngồi thật yên bên ly trà, bên thềm yên lặng ta sẽ có dịp hiểu về cha, hiểu và biết ơn là cha đã về ngồi uống trà cùng con rồi đó. Đã có lúc, con thấy vị đắng ngọt của trà tan trong cổ giống như dư vị của đời cha. Bước trên con đường của Bụt, Tổ và tăng thân, con có cơ hội trở về để nhìn thấy hình ảnh của cha, nói như Mark Twain: “Cha tôi thật kỳ lạ. Tôi càng lớn bao nhiêu, cha lại càng tuyệt vời bấy nhiêu.” Có thể, con chưa cảm nhận sâu sắc những điều cha đã cho con, nhưng con biết con đang hạnh phúc vì ý thức được những gì cha đã cho con, kể cả những khó khăn canh cánh bên lòng mà đời cha đã chưa làm xong.
Mỗi sớm mai thức dậy, hai bàn tay con vốc nước rửa mặt. Con thấy bàn tay chai sần của cha. Cha đã trao truyền cho con hết thảy bởi chính người đã yêu cuộc đời này bằng tình yêu và muốn con lớn lên cũng bằng những yêu thương hào phóng, rộng rãi và cao đẹp. Cha trở nên cụ thể trong mỗi xương thịt của chính con trong mỗi bước thăng trầm. Con bây giờ là con của Bụt, Tổ, Sư Ông và tăng thân ôm ấp, chẳng khác nào tình thương cha đã dành cho con. Bằng hình hài cha mẹ đã truyền trao, con cúi đầu lạy xuống, con thấy tình thương của gia đình tâm linh và huyết thống đang tuôn chảy trong mỗi tế bào cơ thể của con. Ý thức được điều đó con càng yêu thương, tin tưởng con đường thương yêu đích thực mà con đang đi, bởi trên con đường này con đang được nắm tay Bụt, nắm tay Thầy Tổ và nắm tay cha để rong chơi, để sống cho vững vàng, sâu sắc, thành thơi, tự do như ước mơ cha từng gửi lại.
Cha ơi, con thương cha nhiều lắm! Trong con cha mãi như cha đã từng, và chỉ từng ấy thôi cũng đủ nuôi đời tu của con hạnh phúc rồi.
Chân Trời Văn Lang
Lễ Bông hồng cài áo
“Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta… Đừng đợi đến khi mẹ mất rồi, mới nói: “Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào ‘nhìn kỹ’ được mặt mẹ.” (Trích từ đoản văn “Bông hồng cài áo” – Sư Ông Làng Mai)
Lễ Bông hồng cài áo là cơ hội để chúng ta trở về với dòng suối tình thương của mẹ cha, và cùng nhau nuôi lớn kho tàng thương yêu đang hiện hữu trong trái tim mỗi người.
Và đây là vài hình ảnh của buổi lễ tại chùa Sơn Hạ và chùa Từ Nghiêm, xóm Mới trong khoá tu mùa hè 2019:
Ta từ đâu tới? Ta đi về đâu?
(Trích từ cuốn “Không diệt, không sinh, đừng sợ hãi” – Sư Ông Làng Mai)
Trong tu viện của tôi ở nước Pháp, có một bụi cây hoa đào Nhật bổn.
Bụi hoa này thường nở rộ vào mùa Xuân, nhưng một năm, mùa Đông ấm áp hơn nên hoa nở sớm hơn thường lệ. Rồi một đêm trời trở lạnh, nhiệt độ xuống tới điểm băng giá. Sớm hôm sau khi đi thiền hành, tôi nhận thấy những nụ hoa đều bị héo hết. Tôi nghĩ “Vậy là đầu năm nay sẽ không có đủ hoa cúng Bụt.”
Vài tuần sau, trời ấm áp trở lại. Khi tôi đi bộ trong vườn, tôi lại nhìn thấy những nụ hoa đào thuộc thế hệ mới đang biểu hiện ra. Tôi hỏi chúng:
“Các con là những bông hoa đã chết khi trời băng giá hay là những bông hoa khác?”
Hoa trả lời tôi:
“Thầy, chúng con không phải những bông hoa đó, mà cũng không khác những bông đó. Khi nhân duyên đầy đủ chúng con biểu hiện ra, và khi thiếu nhân duyên thì chúng con ẩn tàng. Giản dị vậy thôi!”
Đó là giáo pháp của Bụt. Khi nhân duyên đầy đủ, thì sự vật biểu hiện. Khi nhân duyên không còn đầy đủ, thì chúng rút lui. Chúng đợi tới đúng thời điểm sẽ biểu hiện trở lại.
Trước khi sinh ra tôi, mẹ tôi đã mang thai một em bé khác. Nhưng bà bị xảy thai và em bé đó không ra đời. Khi còn nhỏ, tôi thường hỏi: “Bào thai đó là anh tôi hay chính là tôi? Ai đã muốn biểu hiện ra trong lần mẹ xảy thai đó?” Khi mẹ tôi mất em bé, thì có nghĩa là nhân duyên chưa đủ cho bé ra đời, nên nó quyết định lui lại, chờ điều kiện tốt đẹp hơn: “Con tốt hơn nên rút lui, và sẽ trở lại nay mai nhé mẹ!” Chúng ta phải tôn trọng ý kiến của em bé. Nếu bạn nhìn đời bằng những cái nhìn như thế, bạn sẽ bớt khổ đau nhiều. Mẹ tôi đã mất anh tôi hay chính tôi lúc đó, thấy chưa đúng thời điểm, tôi đã lui lại?
Trở thành Không
Nỗi sợ hãi lớn lao nhất của chúng ta là khi chết, chúng ta sẽ trở thành không. Nhiều người trong chúng ta tin rằng cuộc đời của ta bắt đầu từ lúc chào đời và chấm dứt khi ta chết. Chúng ta tin rằng chúng ta tới từ cái Không, nên khi chết chúng ta cũng không còn lại gì hết. Và chúng ta lo lắng vì sẽ trở thành hư vô.
Bụt có cái hiểu rất khác về cuộc đời. Ngài hiểu rằng sống và chết chỉ là những ý niệm không có thực. Coi đó là những sự thực, chính là nguyên do gây cho chúng ta khổ não. Bụt dạy không có sinh, không có diệt, không tới cũng không đi, không giống nhau cũng không khác nhau, không có cái ngã thường hằng cũng không có hư vô. Chúng ta thì coi là Có hết mọi thứ. Khi chúng ta hiểu rằng mình không bị hủy diệt thì chúng ta không còn lo sợ. Đó là sự giải thoát. Chúng ta có thể an hưởng và thưởng thức đời sống một cách mới mẻ.
Tìm lại người thân đã mất
Đối với trường hợp mất người thương cũng thế. Khi nhân duyên không còn đầy đủ thì họ biến đi. Khi mẹ chết, tôi rất đau đớn. Khi chúng ta chỉ mới bảy hay tám tuổi đầu, ta không hề nghĩ sẽ có ngày mất mẹ. Nhưng sự thực là khi lớn lên và tất cả chúng ta, ai cũng sẽ mất mẹ. Nếu bạn biết tu tập, thì tới giờ phút chia lìa, bạn sẽ không quá khổ sở. Bạn sẽ sớm nhận thức được rằng mẹ bạn vẫn đang còn sống trong bạn.
Ngày mẹ chết, tôi viết vào nhật ký: “Tai nạn lớn nhất đời tôi đã xảy ra rồi.” Tôi đau khổ hơn một năm sau khi mẹ qua đời. Nhưng rồi một đêm, khi ngủ trong cái cốc ở vùng cao nguyên Việt nam, tôi nằm mơ thấy mẹ tôi. Tôi thấy tôi ngồi chơi bên bà và chúng tôi nói chuyện rất vui. Mẹ tôi trông trẻ đẹp, tóc bà thả dài xuống lưng. Thật là sung sướng được truyện trò với mẹ như thể bà chưa chết vậy. Tôi tỉnh dậy vào lúc hai giờ sáng và tôi có cảm giác thực sự là tôi chưa từng mất mẹ. Cảm tưởng mẹ vẫn ở trong tôi nó rất rõ ràng. Tôi hiểu rằng ý tưởng mất mẹ chỉ là một ý tưởng mà thôi. Rõ ràng lúc đó tôi thấy mẹ luôn luôn còn sống trong tôi.
Tôi mở cửa đi ra ngoài. Tất cả sườn đồi được tắm trong ánh trăng. Đó là một đồi trà và thất của tôi ở lưng chừng đồi, phía sau ngôi chùa. Khi đi bộ thong thả giữa các luống trà, tôi vẫn cảm thấy mẹ ở bên tôi. Bà là ánh trăng vuốt ve tôi như bà thường hay làm, thật dịu dàng âu yếm… thật là kỳ diệu! Mỗi khi chân tôi chạm mặt đất, tôi biết mẹ tôi vẫn đang ở cạnh. Tôi biết cái thân này không phải của riêng tôi mà nó là sự tiếp nối của mẹ, cha, của ông bà, của cụ kỵ, của tổ tiên. Những dấu chân tôi tưởng của tôi, thực ra là của cả hai chúng tôi. Tôi và mẹ cùng để lại những dấu chân trên mặt đất ẩm ướt đó.
Từ lúc ấy, ý nghĩ mất mẹ không còn hiện diện trong tôi nữa. Tôi chỉ cần nhìn vào bàn tay tôi, cảm nhận hơi gió mát trên mặt hay đất dưới bàn chân, là tôi nhớ mẹ tôi luôn luôn có mặt với tôi, trong mọi thời điểm.
Khi mất một người mình thương thì ta đau khổ. Nhưng nếu bạn biết nhìn sâu, bạn có cơ hội để nhận ra rằng bản thể của người đó là vô sinh, bất diệt. Chỉ có sự biểu hiện và sự ngừng lại để biểu hiện dưới hình thức khác mà thôi. Bạn phải rất tinh và tỉnh thức để có thể nhận ra sự biểu hiện mới của người thương đó. Nhưng khi thực tập và cố gắng, bạn có thể làm được chuyện này.
Vậy, hãy nắm tay một người bạn tu, cùng nhau đi thiền hành. Hãy để tâm tới từng cái lá, từng bông hoa, từng con chim và từng giọt sương nhỏ. Nếu bạn có thể ngừng lại và nhìn sâu thì bạn có thể nhận diện được người thương ở những biểu hiện khác nhau, dưới nhiều hình thái. Bạn sẽ lại yêu đời.
Không có gì sinh ra, không có gì mất đi
Nhà khoa học người Pháp, ông Lavoisier đã từng tuyên bố: “Không có gì được sinh ra, cũng không có gì mất đi.” Dù ông ta không thực hành đạo Bụt, nhưng nhà khoa học ấy đã tìm ra chân lý giống như Bụt thấy vậy.
Bản chất thực của chúng ta là bản chất không sinh không diệt. Chỉ khi nào ta chạm được vào bản chất chân thực đó, chúng ta mới chuyển đổi được nỗi sợ hãi mình không hiện hữu, đổi được cái lo trở thành hư không.
Bụt dạy khi đầy đủ nhân duyên thì sự việc biểu hiện, và chúng ta nói nó hiện hữu. Khi thiếu một hoặc hai điều kiện, sự việc đó không biểu hiện như trước thì ta nói nó không hiện hữu. Theo Bụt, nói rằng thứ này có hay không có là sai. Trong thực tại, không có thứ gì hoàn toàn có hay hoàn toàn không hiện hữu.
Chúng ta thấy được chuyện này rất dễ dàng khi nhận xét các máy truyền hình và phát thanh. Chúng ta có thể đang ở trong một căn phòng không có máy truyền hình và cũng không có máy phát thanh. Khi ở trong căn phòng đó, chúng ta có thể cho rằng không có chương trình truyền hình hay truyền thanh tại đó. Nhưng tất cả chúng ta đều hiểu là không gian trong phòng chứa đầy các tin hiệu. Tín hiệu của các chương trình đó có mặt khắp mọi nơi. Chúng ta chỉ cần một điều kiện nữa thôi, một chiếc máy thu thanh hay truyền hình, là bao nhiêu hình thái, màu sắc và âm thanh sẽ biểu hiện ra. Vậy khi nói rằng các tín hiệu đó không hiện hữu là sai, vì sự thực chúng ta chỉ thiếu dụng cụ để thâu chúng vô và cho các tín hiệu đó cơ hội biểu hiện ra. Chúng hình như không hiện hữu chỉ vì nhân duyên không đầy đủ để các chương trình xuất hiện. Vậy thì trong căn phòng đó, ở giờ phút đó, nếu chúng ta nói rằng chúng không hiện hữu, thì chỉ vì chúng ta không nhìn hay nghe được chúng, chứ không phải vì chúng không có mặt. Chỉ vì các quan niệm có-không mà chúng ta bị rối trí. Quan niệm hiện hữu và không hiện hữu khiến chúng ta tin là cái này có, cái kia là không. Ý niệm có và không đó không thể áp dụng vào thực tại được.
Không đến không đi
Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệm đến – đi. Chúng ta nghĩ rằng những người thương của ta đã đến từ một nơi nào đó và nay sẽ đi tới một nơi nào đó. Nhưng bản chất của thực tại là không đến cũng không đi. Chúng ta không từ đâu tới mà cũng không đi tới đâu cả. Khi nhân duyên đầy đủ thì ta biểu hiện, khi nhân duyên không còn đầy đủ thì chúng ta không biểu hiện. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không hiện hữu. Giống như khi làn sóng phát thanh không phát ra âm thanh, thì chúng chỉ không biểu hiện mà thôi.
Không phải chỉ có các ý niệm đến-đi mới không diễn bày được thực tại, mà các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu cũng vậy. Chúng ta học được câu này trong kinh Bát Nhã:
“Xá lợi tử nghe đây
Thể mọi pháp đều không
Không sinh cũng không diệt
Không thêm cũng không bớt…”
Ý nghĩa chữ Không này rất quan trọng. Nó có nghĩa là mọi sự việc đều trống rỗng, không có tự tánh riêng biệt. Không có cái gì có tự tánh độc lập, không có cái gì tự nó hiện hữu. Khi nhìn sâu vào mọi sự, mọi vật ta sẽ thấy rằng tất cả, kể luôn ta trong đó, đều là những hợp thể. Ta được làm bằng các phần tử không phải ta. Ta được là hợp thể của cha mẹ, ông bà, cơ thể, cảm thọ, nhận thức, đất, mặt trời và vô số các yếu tố không phải ta. Tất cả những thứ đó tùy theo nhân duyên. Ta thấy rằng tất cả những thứ đó đã, đang hay sẽ biểu hiện đều có tương quan và liên hệ mật thiết với nhau. Những gì biểu hiện ra mà ta nhìn thấy, chỉ là một phần của bao thứ khác, của các điều kiện đầy đủ khiến cho nó có mặt. Mọi sự mọi vật đều không được sinh ra hay bị mất đi vì chúng luôn luôn ở trong tiến trình liên tục biểu hiện.
Chúng ta có thể thông minh để hiểu được chuyện này. Nhưng hiểu bằng trí óc thôi không đủ. Thực sự hiểu điều này, ta sẽ hết sợ hãi. Ta sẽ được giác ngộ và sống với cái nhìn tương tức (Inter-being).
Chúng ta phải thực tập nhìn thật sâu như thế trong đời sống hàng ngày để nuôi dưỡng sự hiểu biết về không sinh không diệt. Như thế, ta có thể thực chứng được sự mầu nhiệm của sự vô úy, không sợ hãi.
Nếu chúng ta nói tới vấn đề tương tức tương nhập như một lý thuyết thì không ích lợi gì hết. Ta nên đặt câu hỏi: “Tờ giấy này, mi từ đâu tới? Giấy là cái gì? và mi tới đây làm gì? Giấy sẽ đi đâu?” Ta cũng hỏi ngọn lửa (đang dốt tờ giấy): “Lửa ơi, mi từ đâu tới và mi sẽ đi đâu?” Hãy lắng nghe chúng trả lời. Ngọn lửa, tờ giấy đang trả lời bằng sự có mặt của chúng. Chúng ta chỉ cần nhìn sâu thì sẽ nghe được câu trả lời của nó. Ngọn lửa trả lời: “Tôi không tới từ đâu cả.”
Đó cũng là câu trả lời của cây hoa đào Nhật bổn. Chúng tôi (hai đợt hoa) không giống mà cũng không khác nhau. Hoa không tới từ đâu và cũng không đi đâu hết. Khi mất một em bé, chúng ta không nên buồn. Đó chỉ là vì lúc ấy chưa đủ nhân duyên cho nên em chưa biểu hiện ra ở thời điểm đó mà thôi. Em sẽ trở lại.
Buồn phiền vì vô minh
Đức Quan Thế Âm là học trò của Bụt. Một bữa Ngài nhập định và đạt được sự hiểu biết sâu xa, Ngài thấy rằng mọi sự vật đều không có tự tánh. Hiểu như vậy, Ngài vượt qua được màn vô minh, nghĩa là Ngài thoát được hết các khổ não.
Nhìn cho sâu, chúng ta cũng thấy được rằng không có gì sinh ra, không có gì chết đi, không có gì tới, cũng không có gì đi, không có cũng không không, không giống cũng không khác.
Nếu ta không học phép tu tập này thì thật là phí phạm quá sức. Chúng ta có thể thực tập theo nhiều phương pháp để bớt khổ, nhưng trí tuệ lớn nhất là sự giác ngộ về không sinh không diệt. Khi chúng ta giác ngộ được chuyện này thì ta không còn sợ hãi nữa. Chúng ta có thể vui hưởng được gia tài khổng lồ mà tổ tiên ta truyền lại cho. Ta nên thu xếp để có thì giờ thực tập giáo pháp huyền diệu này mỗi ngày.
Kính trọng biểu hiện của mình
Khi nhìn một người bạn mình bằng con mắt thiền quán, ta có thể nhìn thấy trong đó tất cả các thế hệ tổ tiên của bạn mình. Ta sẽ rất kính trọng người đó và kính trọng cả con người mình, vì ta thấy đó là ngôi đền thờ của tất cả các thế hệ tổ tiên.
Bạn cũng nhìn thấy thân thể mình là nền tảng của các thế hệ tương lai. Do đó chúng ta sẽ không làm hại thân mình, vì như thế là không tử tế với các thế hệ con cháu. Ta sẽ không sử dụng ma túy và ăn uống những thứ có độc tố làm hại thân thể. Đó là do cái hiểu về sự biểu hiện, nó đã giúp chúng ta sống một cuộc đời lành mạnh, trong sáng và có trách nhiệm.
Ý niệm trong ngoài cũng như vậy. Khi chúng ta nói Bụt và cha mẹ ở trong ta, hay ở ngoài ta, ý niệm trong ngoài đó không có nghĩa chi cả. Chúng ta bị kẹt vào các ý niệm, nhất là ý niệm đến-đi và hiện hữu hay không hiện hữu. Chỉ khi ta buông bỏ được các ý niệm đó thì sự thật mới hiển lộ, sự thật của Niết bàn. Khi tất cả các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu đã tắt ngấm thì Chân như thực tại nó sẽ biểu hiện ra.
Không có gì bằng kinh nghiệm
Chúng ta có thể dùng một thí dụ dễ hiểu về trái quít và trái sầu riêng. Nếu có người nào chưa từng nếm quít hay sầu riêng, thì dù cho bạn mô tả các thứ đó bằng bao nhiêu hình tượng, bạn cũng không thể diễn tả được các thứ trái cây đó thực sự chúng ra sao. Bạn chỉ có thể giúp người kia có kinh nghiệm sống, thực chứng về hai trái cây đó. Bạn không thể nói: “Sầu riêng ư, nó giống như mít hay đu đủ.” Bạn không thể nói gì như khi người ta ăn trái sầu riêng. Sầu riêng nó vượt qua tất cả các ý niệm. Trái quít cũng vậy. Khi bạn chưa từng ăn trái quít, thì dù cho người kia thương bạn cách mấy, cố gắng giúp bạn cách mấy cũng không diễn tả được hương vị trái quít ra sao. Thực tại của trái quít vượt lên trên tất cả mọi ý niệm. Niết Bàn cũng vậy. Đó là một thực tại vượt qua các ý niệm. Chỉ vì ta có ý niệm về Niết bàn mà ta đau khổ. Phải thực chứng, phải tự kinh nghiệm, đó là con đường phải đi.
13. Nương vào hơi thở của chính mình
Pháp thoại An cư kiết đông 2007-2008
Ngày 17 tháng 01 năm 2008, tại Thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai.
14. Ai là người vãng lai trong tam giới
Pháp thoại An cư kiết đông 2007-2008
Ngày 20 tháng 01 năm 2008, tại Thiền đường Hội Ngàn Sao, chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, Làng Mai.
15. Thượng đế tạo hay tâm tạo
Pháp thoại An cư kiết đông 2007-2008
Ngày 24 tháng 01 năm 2008, tại Thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới, Làng Mai.
16. Kim Sư Tử Chương P12
Pháp thoại An cư kiết đông 2007-2008
Ngày 27 tháng 01 năm 2008, tại Thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai.
Nghiệp Lực


























































































































































