Xem Kinh Văn >>
Khoá giảng An cư kiết đông 2008-2009- Đạo đức học- Tân tu 5 giới
Hiện Video Pháp thoại bài 12. 2009.01.22 Hoà hợp trong năm uẩn đang bị mất xin quý vị hoan hỷ tìm hiểu thêm bên file mp3 tại đây:
Nghệ thuật thương yêu
(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 20.09.2011)
Thương yêu trước hết là yêu cuộc đời, yêu sự sống
Thật ra nếu không yêu thương thì làm sao sống được? Xã hội bây giờ có nhiều người tự tử, trong đó có rất nhiều người trẻ, đó là vì họ không có khả năng thương yêu. Thương yêu trước hết là thương yêu cuộc đời. Phải yêu cuộc đời thì mới sống được. Cuộc đời ở trong cơ thể mình, trong tim mình, ở xung quanh mình. Chán đời thì không sống được. Vì vậy chúng ta phải thực tập “yêu đời”. Sự sống là một cái gì rất quý giá.
Thương yêu nghĩa là có mặt cho nhau
Nếu các vị đã từng yêu rồi thì các vị biết rằng giây phút ngồi với người yêu là giây phút rất mầu nhiệm. Và có những phương pháp để giúp cho giây phút đó kéo dài. Chứ ngồi với nhau mà bất đồng ý kiến hay cãi nhau thì hư bột hư đường hết. Ngồi với nhau như thế nào để cả hai cùng tận hưởng được những giây phút mầu nhiệm và thiêng liêng ở bên nhau. Khi được ngồi với người yêu mười phút, hai mươi phút, các vị sẽ làm gì để cho những giây phút đó là giây phút thần tiên và kéo dài? Hay là lại nói chuyện chính trị, nói xấu người này người kia và trách móc nhau? Nếu như thế thì hư hết! Vì vậy yêu là một nghệ thuật. Thì giờ ngồi cạnh người yêu là thì giờ vô cùng quý giá. Phải bảo vệ thời gian đó. Thời gian đó rất là nuôi dưỡng, rất là trị liệu.

Về chuyện đi thiền hành, đi chơi với người yêu, tôi nhớ có bài thơ của Xuân Diệu :
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy cả lối đi.
Ở Lộc Uyển trăng rất sáng, mình có thể đi với người yêu của mình, sư anh của mình, sư chị của mình, thầy của mình, bạn tu của mình. Ai mình cũng thương, mình đi với năm trăm người thì năm trăm người đều là người yêu của mình hết.
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy cả lối đi
Tôi với người yêu qua nhè nhẹ
Im lìm chẳng dám nói năng chi.
Tại vì nói năng sẽ làm tan vỡ khung cảnh mầu nhiệm đó. Đây là kinh nghiệm của Xuân Diệu. Ông rất trân quý giây phút đó. Rất thiêng liêng.
Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng
Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang
Xuân Diệu không dám bước mạnh vì sợ bước mạnh thì tất cả sẽ tan biến. Vậy nên đi bên cạnh, ở bên cạnh người yêu là một nghệ thuật. Làm thế nào để đừng phá hỏng, đừng làm hư giây phút đó. Cách tôi uống ly trà cũng như vậy. Trong khi tôi uống ly trà thì tôi có mặt thật sự. Quý vị biết là khi đang uống trà mà đầu óc mình để chỗ khác thì đâu phải là mình đang uống trà mà là một con ma nào đó đang uống trà. Muốn có mặt tại đó cũng dễ lắm, chỉ cần theo dõi hơi thở. Đem tâm của mình trở về với thân. Thân tâm nhất như thì mình có mặt. Khi mình có mặt thì ly trà đó là một thực tại. Mình cũng là thực tại, hai thực tại tiếp xúc với nhau. Ly trà là đại diện cho sự sống, cho những mầu nhiệm của sự sống. Khi ta uống ly trà như vậy thì ta có niệm và có định. Ta uống từng ngụm trà, trân quý từng ngụm trà. Quý vị đã thấy tôi uống trà chưa? Đó là yêu đó. Yêu trà. Vì vậy các thiền sư ngày xưa mới đặt ra cái gọi là Trà Đạo và Thiền Trà. Thiền trà là các bạn ngồi với nhau hai giờ đồng hồ mà chỉ uống với nhau một chén trà mà thôi.
Cái làm cho ta hạnh phúc không phải là âm nhạc hay ca hát, tiền bạc hay giàu sang. Hạnh phúc chân thực là do niệm và định đưa tới. Chúng ta biết rằng chúng ta đang được ngồi với nhau. Chúng ta đang có mặt cho nhau và chúng ta đang được uống trà với nhau. Chỉ cần một chén trà thôi mà mình có được hai giờ hạnh phúc. Hạnh phúc đó không phải do giàu sang mang lại mà do niệm và định mang lại. “Niệm” là mình có mặt thực sự, “định” là mình không để tâm đi chỗ khác. Mình chỉ có một nhóm bạn thôi, một ly trà thôi nhưng hạnh phúc rất lớn. Niệm và định là suối nguồn của hạnh phúc. Mình có thể đem niệm và định vào đời sống gia đình, trân quý từng giây phút bên nhau để gia đình, lứa đôi có hạnh phúc hơn.
Bữa ăn sáng của gia đình là một cơ hội để mình có mặt và nhận diện sự có mặt của những người khác trong gia đình. Ăn sáng như thế nào để mỗi giây phút của bữa ăn sáng là một giây phút của hạnh phúc. Đó là một sự thách thức. Chúng ta có biết yêu khi ăn sáng không? Yêu tức là phải có mặt đích thực. Phải trân quý những cái gì đang có trong vòng tay của ta. Phải thưởng thức từng giây phút như thưởng thức từng ngụm trà. Đó là một sự thách thức. Nếu quý vị luyện tập về niệm và về định thì có thể luyện tập như vậy. Luyện tập trong mỗi bữa ăn sáng như vậy có thể đem lại hạnh phúc rất nhiều. Nuôi dưỡng chính mình và nuôi dưỡng những người chung quanh mình. Nếu mình làm hấp tấp, ăn cho xong để lo chuyện này chuyện kia thì bữa ăn sáng đó không đủ sự sống. Không chỉ lúc ăn sáng ta hạnh phúc, mà ngay cả lúc sửa soạn bữa ăn sáng cũng có thể là giây phút hạnh phúc. Mình thấy người kia đang xuống bếp nấu nước nóng, nướng bánh mì thì tại sao mình không xuống. Giây phút mình và người kia cùng chuẩn bị bữa ăn sáng cũng hạnh phúc.
Hạnh phúc có thể có mặt ngay trong bất cứ giây phút nào, ngay cả trong giây phút mình chải răng. Chải như thế nào để trong khi chải có sự thong dong, hạnh phúc. Có những lúc mình quên không đem theo bàn chải, kem đánh răng, mình thấy rất khó chịu. Bây giờ mình có nước nóng lạnh, có bàn chải, có kem đánh răng, có tất cả mà mình làm hấp tấp như bị ma đuổi. Vì vậy hãy đánh răng như thế nào để có hạnh phúc. Cái đó là yêu sự sống.
Ngay chính khi mình đi tiểu hay đi cầu cũng vậy. Nhớ lại lúc mình muốn đi tiểu mà không có chỗ đi tiểu, những lúc muốn đi cầu mà không có chỗ đi cầu. Trong khi đó bây giờ mình có thời gian thoải mái. Người Tây phương gọi chỗ đó là “Rest room”, là chỗ nghỉ dễ chịu, thoải mái, thì tại sao mình không thừa hưởng những giây phút thoải mái ở trong restroom đó ? Restroom đó là một chỗ để thực tập. Ở đó không kém linh thiêng hơn thiền đường đâu. Cho nên trong các thiền viện, ở trong restroom luôn có một bình hoa để nhắc cho mình là những mầu nhiệm có thể có mặt ở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Chính vua Trần Thái Tông của mình đã nói rằng : “Ngủ là Phật pháp, thức cũng là Phật pháp, ăn cơm cũng là Phật pháp, đi bộ cũng là Phật pháp, đi cầu cũng là Phật pháp, đi tiểu cũng là Phật pháp” thì phải biết rằng nhà vua tuy là một nhà chính trị, có nhiều việc phải làm nhưng cũng đã thực tập rất hay, rất giỏi. Đó là tổ tiên của mình!
Nghệ thuật thương yêu đích thực
Khi mình đi thiền hành với nhau thì mỗi bước chân là một niềm hạnh phúc. Mình còn hình hài này, mình đang đi trên tinh cầu đẹp đẽ này và mỗi bước chân có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc. Mỗi bước chân là trị liệu, mỗi bước chân là nuôi dưỡng, mỗi bước chân là thảnh thơi. Điều này chúng ta phải tiếp tục thực tập vì trong khoá tu này tôi thấy có một số các vị chưa đi thiền hành đàng hoàng, bước chân còn sự hấp tấp trong đó. Mình phải tới trong từng bước chân, mình phải về trong từng bước chân, phải cảm thấy an lạc, hạnh phúc, thỏa mãn ngay trong từng bước chân thì mới giúp cho cơ thể trị liệu và chuyển hoá mau chóng được. Đó là bí quyết của sự dừng lại, bắt đầu sống thật và sống sâu sắc.
Cũng giống như khi mình ngồi uống một chén trà. Chén trà đó mình có thể uống như thế nào mà suốt trong thời gian uống chén trà đó phút nào cũng hạnh phúc, giây nào cũng hạnh phúc. Đó là một thách thức. Chúng ta ai mà không có cơ hội để uống một chén trà. Cũng như ăn một trái cam. Nếu có người đem một trái cam tới tặng thì quý vị có khả năng ăn trái cam trong hạnh phúc không? Quý vị có thể cầm trái cam mà nhìn trái cam không? Nhìn trái cam để thấy rằng trái cam là một cái gì rất màu nhiệm. Cây cam kia đã mất bao nhiêu ngày, bao nhiêu tuần để làm ra những hoa cam, rồi nắng, rồi gió, rồi mưa đi ngang qua để hình thành nên một trái cam từ nhỏ xíu. Cây cam đã thở, đã sử dụng các chất dinh dưỡng từ đất để nuôi trái cam lớn lên và trái cam bây giờ to, vàng. Trái cam là một thực tại màu nhiệm trong tay mình. Đó là thiền. Nhìn vào trái cam mà thấy được như vậy, thấy được trái cam mới là thiền.
Còn nhìn vào trái cam mà chỉ thấy những lo âu, buồn khổ và những dự án của mình trong tương lai thì chưa thấy trái cam và khi ăn không phải là mình ăn cam mà là ăn những sầu khổ, ăn những lo lắng của mình mà thôi. Cho nên đây là nghệ thuật sống, nghệ thuật yêu sự sống. Nhìn vào trái cam đâu phải ba, bốn giờ đồng hồ mới thấy được điều đó, có thể chỉ trong ba giây, năm giây là thấy được tất cả những mầu nhiệm đó. Khi bóc trái cam ra mình phải có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Mình ngửi mùi vỏ cam, việc này rất mầu nhiệm và có thể đem lại hạnh phúc cho mình vì mình là một con người tự do, một người thảnh thơi cho nên mới nhìn trái cam và bóc trái cam được như vậy. Khi tách một múi cam ra, mình nhìn và để nó trong miệng, mình ép hai cái hàm răng của mình lại để nghe được chất cam ngọt thấm dần trong lưỡi. Nhờ có niệm và có định mình mới làm được chuyện đó và trong thời gian đó mình không lo âu, không suy nghĩ, không tính toán gì hết. Mình đang thực sự ăn một trái cam. Và ăn một trái cam như vậy là cả một nghệ thuật, nghệ thuật đó là do thiền định và niệm đưa tới.
Kỳ sau, nếu quý vị có dịp ăn một trái cam, quý vị thử ăn như vậy coi. Tôi còn nhớ lần đầu tiên gặp các thiền sinh ở bang California ngoài bãi biển, tôi tặng cho mỗi người một trái cam và mời họ ăn cam. Họ không biết rằng tôi đang giúp cho họ thực tập thiền vì đối với họ thực tập thiền tức là gồng mình lên và ngồi giờ này sang giờ khác. Khi mình ăn một cây kem cũng vậy. Khi con nít ăn kem thì nó hay liếm. Nó liếm một cái, rồi liếm cái thứ hai. Nếu không biết ăn thì cây kem sẽ hết rất mau. Do đó, mỗi lần mình thấy cái hương, cái vị của cái mình đã ăn và mình sống cái giây phút đó một cách rất là sâu sắc. Bên Pháp, có hãng Yaourt tên là Yoplait quảng cáo yaourt của họ như thế này: “Mangez le doucement pour que ça dure longtemps” tức là ăn chầm chậm để nó được kéo dài. Giống như khi mình ngồi với người yêu vậy. Mình muốn giây phút này kéo dài, có phải vậy không? Thì ăn yaourt cũng vậy, phải có thời giờ để thưởng thức một hũ yaourt. Đó là sự thực tập thiền và mình phải có thảnh thơi, có tự do.
Tự do là nền tảng của hạnh phúc. Tự do không phải là tự do chính trị mà là tự do đối với những lo lắng, những tính toán, những sầu khổ của mình. Mình bị những cái đó vây hãm thì mình không phải là con người tự do. Mình không có hạnh phúc tại vì mình không có tự do. Dù cho mình có tự do chính trị đi chăng nữa thì mình vẫn không có hạnh phúc như thường tại vì mình không có tự do đối với những âu lo, những sầu khổ, những buồn phiền, những bực tức của chính mình. Thực tập thiền là để đạt tới tự do và những thanh gươm, những phương tiện để đạt tới được tự do đó là niệm, định và tuệ. Nếu mình được gần thầy để có cơ hội học hỏi và thực tập thì phẩm chất đời sống của mình sẽ càng ngày càng cao nếu mình biết thực tập niệm, định để có hạnh phúc ngay bây giờ chứ không phải là hy vọng một hạnh phúc sau này, sau khi mình chết rồi.

Vì vậy khi đi thiền hành từ lều của mình tới thiền đường là một bữa tiệc, có thể thưởng thức được mỗi một bước chân. Vậy thì tại sao lại chạy như ma đuổi, tại sao lên tới thiền đường rồi mới thực tập thiền? Tập thiền ngay từ bước đầu tiên từ lều của mình cho tới thiền đường thì mỗi một bước chân như vậy là một bài thuyết pháp linh động, và theo tôi đó là tình yêu đích thực. Mình không có tình yêu thì mình không có niềm vui sống. Và tình yêu là một cái gì mình cần chế tác. Mình hãy thử nghĩ ngày xưa mình ngồi như thế nào? Mình có biết trân quý giây phút đó hay không? Mình học được gì trong các giây phút đó và nếu mình có lầm lỡ, vụng về thì bây giờ mình có biết cách làm hay hơn không? Không có gì mất đi hết.
Với trí tuệ đó, kinh nghiệm đó, sự thực tập đó, chúng ta có thể phục hồi được tất cả những gì mà chúng ta tưởng rằng đã mất. Nó không mất, không bao giờ mình muộn hết. Nếu mình chưa biết cách uống trà thì bây giờ mình thực tập cách uống trà, nếu chưa biết cách đi thì mình thực tập cách đi, nếu chưa biết cách đánh răng thì mình học đánh răng, làm thế nào để trong mỗi giây phút, mỗi hành động như vậy đều có thể thảnh thơi, đều có sự vững chãi và hạnh phúc. Mình là bạn tu với nhau thì phải nâng đỡ cho nhau. Mình tới với nhau là để làm chuyện đó chứ không phải là để lập hội và làm chuyện gì khác. Tu tập là chuyện quan trọng nhất.
Bí quyết của những doanh nhân hạnh phúc
(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 15.03.2007)
Xét theo tiêu chuẩn thông thường thì Federick là một người quyền thế. Là giám đốc của một hãng lớn, kinh doanh thành công, ông rất hãnh diện về thành công của mình. Tuy nhiên ông không có thì giờ cho ông, cho vợ ông – Claudia – và cho hai con trai còn nhỏ. Federick rất say mê công việc, luôn muốn làm thật nhiều, làm thật hay, luôn nhắm vào tương lai. Vì mải mê lo lắng cho công ty nên khi đứa con nhỏ đem bức hình mình vừa mới vẽ đến khoe bố thì ông chẳng để ý. Ông không còn khả năng thấy rõ con trai mình là hiện thân mầu nhiệm của sự sống. Về nhà sau một ngày làm việc, ông hỏi thăm Claudia qua loa. Ông không thực sự có mặt. Từ khi ông thành đạt, Claudia và các con dần dần cảm thấy ông xa cách.
Ban đầu thì Claudia yểm trợ Federick hết lòng. Claudia hãnh diện được là vợ của Federick. Bà rất vui khi tổ chức những buổi chiêu đãi bạn bè chồng. Cũng như Federick, Claudia tin rằng nếu nghề nghiệp thăng tiến, lương tiền dồi dào, nhà cao cửa rộng thì hạnh phúc sẽ được bảo đảm. Bà lắng nghe, tìm hiểu những khó khăn mà Federick gặp phải trong khi làm việc. Có khi hai vợ chồng thức tới khuya bàn thảo công việc. Họ chung sức chung lòng, nhưng mục tiêu của hai người không hướng về chính bản thân, về cuộc sống, hạnh phúc của chính họ hay của con cái; Federick và Claudia chỉ bàn thảo về những khó khăn, trở ngại trong hãng, về những lo sợ, phân vân của ông.
Claudia cố gắng hết lòng giúp chồng, nhưng rồi bà mệt mỏi, đuối sức vì Federick có quá nhiều bức xúc, bị công việc chi phối. Ông không có thì giờ cho chính mình, nói gì tới thời gian cho vợ con. Thật ra Federick cũng muốn gần gũi vợ con, nhưng ông tin rằng ông không có thì giờ! Mà đúng vậy, ông không có thì giờ để thở, để ngắm ánh trăng rằm hay để thưởng thức những bước chân của chính mình. Mặc dù trên danh nghĩa Federick là ông chủ, nhưng chính sự đam mê công việc của ông mới là “ông chủ”, nó chiếm cả một trăm phần trăm thì giờ và tâm trí của ông.
Claudia cô đơn. Federick không thực sự “thấy” sự có mặt của bà. Bà chăm sóc nhà cửa, con cái, đi giúp các hội từ thiện hoặc thăm viếng bạn bè cho khuây khỏa. Rồi bà ghi tên học đại học và bắt đầu hành nghề tâm lý trị liệu. Cuộc sống từ đó có đôi phần ý nghĩa, nhưng Claudia vẫn cảm thấy lẻ loi, thiếu nâng đỡ. Hai đứa con nhớ bố và thắc mắc tại sao bố chúng cứ đi vắng hoài.
Khi đứa con đầu của họ – Philip, phải vào bệnh viện giải phẫu tim, Claudia một mình săn sóc Philip suốt bảy giờ đồng hồ vì Federick không thể rời công ty. Ngay cả khi chính Claudia phải vào bệnh viện giải phẫu u lành tính, Federick cũng không vào thăm được.
Vậy mà Federick vẫn nghĩ rằng làm việc cật lực như vậy là đúng, là tốt. Ông nghĩ rằng ông đang làm việc vì vợ con và vì nhân viên dưới quyền, những người đang trông cậy nơi ông. Ông thấy mình có trách nhiệm phải làm tròn bổn phận. Công việc làm ông tự mãn, ông nghĩ rằng mình đã đạt được một thành tích nào đó. Federick hãnh diện vì đã thành công, vì là người đưa ra được những quyết định quan trọng, vì làm ra nhiều tiền.
Claudia đã khóc nhiều lần và khuyên chồng nên buông bỏ bớt công việc đi để dành thì giờ cho gia đình và tận hưởng cuộc sống. Bà chia sẻ với chồng rằng bà cảm thấy ông bị công việc giam hãm. Mà thật vậy, gia đình họ sống trong một khu biệt thự sang trọng có khu vườn xinh xắn và bãi cỏ xanh mướt. Federick thích làm vườn nhưng ông không có thì giờ ở nhà để ra vườn. Khi vợ năn nỉ thì Federick nói rằng ông rất thích thú với công việc trong công ty, và nếu không có ông thì công việc không chạy. Nhiều lần Federick an ủi Claudia rằng chỉ vài năm nữa, khi về hưu, ông sẽ có vô khối thì giờ dành cho bà và các con.
Nhưng chưa kịp về hưu, Federick đã chết vì tai nạn xe hơi khi mới năm mươi mốt tuổi, bỏ lại người vợ xinh đẹp, dịu hiền, bỏ lại hai đứa con ngoan ngoãn, thông minh và một tài sản kếch xù. Trước đây ông từng nghĩ không ai có thể thay ông giải quyết công việc được, thế mà chỉ ba ngày sau khi ông từ trần, công ty đã tìm ra người thay thế.
Tôi gặp Claudia trong một khóa tu chánh niệm và được bà kể cho nghe câu chuyện của chồng bà. Mặc dù Federick và Claudia không thiếu gì danh vọng, thành công và tiền bạc, nhưng họ đâu có hạnh phúc. Vậy mà nhiều người trong chúng ta cứ tin rằng nếu không có quyền lực về tài chính hay chính trị thì không thể nào có hạnh phúc.
Chúng ta đã hy sinh hiện tại cho tương lai. Chúng ta không có khả năng sống sâu sắc từng giây, từng phút trong đời sống hằng ngày.
Chúng ta thường nghĩ rằng khi có quyền lực thì có thể sai bảo người khác, nếu nghề nghiệp thành công thì sẽ có nhiều tiền và muốn làm gì cũng được. Nhưng nhìn sâu ta sẽ thấy Federick không có tự do, không có khả năng sống vui, không có thì giờ cho những người thương. Công việc đã cuốn hút Federick. Federick không có thì giờ để thở sâu, để nở nụ cười, để ngắm trời xanh và tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống.
Vừa thành công trong nghề nghiệp, vừa có quyền thế ở đời, lại vừa sống an lạc và thảnh thơi là điều có thể làm được. Vào thời của Bụt có một thương gia đệ tử tên là Cấp Cô Độc (Anathapindika). Cấp Cô Độc là một thương gia rất giàu có. Ông là người nhiều quyền thế và cũng giàu lòng nhân ái. Ông luôn biết cảm thông hoàn cảnh của nhân viên, khách hàng và các bạn đồng nghiệp. Nhờ tấm lòng rộng rãi nên ông đã được nhân viên giúp đỡ rất nhiều lần khi công việc kinh doanh đi xuống. Có lần cửa hàng của ông bị hỏa hoạn, chính những nhân viên và láng giềng của ông đã hy sinh xông vào chữa cháy. Họ bảo vệ ông vì họ coi ông như một người anh, một người cha. Nhờ thế mà ông làm ăn phát đạt. Khi ông bị phá sản, ông không bị điêu đứng vì bạn bè đã đóng góp giúp đỡ để ông nhanh chóng gây dựng lại cơ nghiệp. Cấp Cô Độc đã có một chiều hướng tâm linh trong khi tiến hành công việc kinh doanh. Cấp Cô Độc đã lôi cuốn được vợ con vào nếp sống thực tập tâm linh và chăm sóc những người nghèo khổ. Ông quả là một vị Bồ Tát với tâm từ bi rộng lớn.
Cấp Cô Độc là một người hạnh phúc không phải vì giàu sang mà vì tình thương. Tình thương là động lực chính của đời ông, là sức mạnh đưa ông đi tới. Ông luôn dành thời gian và sự quan tâm cho vợ con và những người xung quanh. Ông thân cận quý thầy, quý sư cô và các đạo hữu để cùng học hỏi, tu tập nâng cao hiểu biết và thương yêu. Cấp Cô Độc có nghĩa là “người cung cấp, giúp đỡ những người nghèo khó và cô đơn.” Người ta tặng cho ông mỹ danh đó là vì trái tim ông chứa đầy từ bi. Ông biết thương yêu săn sóc mình, thương yêu săn sóc gia đình và đồng bào. Giúp đỡ những ai đang gặp khó khăn là niềm hạnh phúc của ông, vì vậy ông có rất nhiều bạn tốt và được mọi người yêu mến.
Cấp Cô Độc đã đầu tư vào tình bạn, gia đình và những người xung quanh, cho nên ông có thì giờ để trân quý và chăm sóc những người ông thương. Ông rất hoan hỷ khi phụng sự Bụt và tăng thân. Mắt ông sáng lên khi nghe nói tới tăng thân. Mắt ông cũng sáng lên khi nghe nói tới những người nghèo khổ, hay tới những đứa con của mình.
Theo tôi, điều mà phần đông chúng ta gọi là mục tiêu tối hậu chính là tình thương. Nếu chúng ta chỉ biết ham danh, ham quyền thì chúng ta không thể có hạnh phúc như Cấp Cô Độc. Cấp Cô Độc vì lòng thương mà kinh doanh, tình thương là nền tảng. Chính vì thế mà ông sống rất hạnh phúc.
Lắm khi vì thương vợ, thương con, vì muốn giúp cộng đồng mà chúng ta dấn thân vào công việc kinh doanh. Ý định ban đầu rất tốt, nhưng dần dần chúng ta đánh mất hết thì giờ vì phải đeo đuổi thành công. Vì say mê quyền lực và danh vọng mà ta không còn chú ý tới gia đình, bà con, bạn bè. Cũng từ đó chúng ta bắt đầu mất dần hạnh phúc. Bí quyết để duy trì hạnh phúc là nuôi dưỡng tình thương mỗi ngày. Đừng để cho lòng tham quyền, tham danh thay thế tình thương. Mới đầu thì Federick cũng thương vợ, thương con. Ông đã bắt đầu sự nghiệp kinh doanh với tình thương đó. Nhưng rồi Federick đã tự phản bội lại mình vì ông đã đặt ham muốn thành công lên trên nhu cầu hạnh phúc. Nếu bạn tự xét lại và thấy rằng bạn đang mong muốn được thành công hơn là mưu cầu hạnh phúc thì bạn phải biết rằng bạn đang đi theo vết xe của Federick.
Quan niệm về quyền lực trong đạo Bụt khác hơn. Người Phật tử cũng nghĩ đến quyền lực, nhưng là một thứ quyền lực mang lại hạnh phúc chứ không gây đau khổ.
Thói thường thì ai cũng chạy theo tiền bạc và quyền lực chính trị. Rất nhiều người tin rằng nếu có được những thứ quyền lực đó thì có thể làm được rất nhiều chuyện và sẽ được hạnh phúc. Nhưng nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy rằng những người đang theo đuổi quyền lực chính là những người rất đau khổ, đau khổ trước hết là vì phải tranh đua, bởi vì có biết bao nhiêu người đang đeo đuổi cùng một quyền lực như họ. Ta tin rằng quyền lực mà ta đang theo đuổi là hiếm hoi, khó đạt tới và chỉ có thể có được bằng cách loại trừ những người khác. Tuy nhiên, ngay cả khi có quyền lực rồi, ta lại cảm thấy quyền lực đó vẫn chưa đủ. Tôi đã gặp nhiều người giàu có, quyền thế và danh tiếng nhưng lại không mấy khi được hạnh phúc, thậm chí có người đã phải tự tử. Cho nên tiền bạc, danh vọng và quyền lực có thể đem lại một phần nào hạnh phúc nhưng không thể bảo đảm hạnh phúc hoàn toàn nếu thiếu yếu tố tình thương.
Ai có quyền lực bằng Tổng thống Mỹ? Tổng thống George W. Bush là tổng tư lệnh của một lực lượng quân sự hùng mạnh bậc nhất, là vị lãnh đạo của một quốc gia giàu có nhất thế giới. Không mấy ai nhiều quyền lực như ông. Nhưng không có nghĩa Tổng thống là một người hạnh phúc. Tôi tin rằng mặc dù với bao nhiêu cái-gọi-là quyền lực trong tay, Tổng thống Bush vẫn cảm thấy bất lực và đau khổ vô cùng. Ông ta đang ở trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”: Tiếp tục hay chấm dứt cuộc chiến ở Iraq? Tiếp tục cũng khó mà rút quân về cũng khó, chẳng khác gì bị hóc xương, “khạc không ra, nuốt không trôi.” Tôi không nghĩ rằng Tổng thống Bush thường ngủ được yên giấc. Làm sao mà ngủ yên được khi hàng trăm ngàn thanh niên nước mình đang ngày đêm hy sinh nơi trận địa. Làm sao tránh khỏi ác mộng khi hàng trăm ngàn người dân vô tội phải chết vì chính sách của mình. Bạn may mắn lắm vì bạn không phải là Tổng thống Hoa Kỳ, nếu không thì giờ này bạn đang vô cùng đau khổ. Một điều rất rõ ràng là nếu những nhà lãnh đạo chính trị không lấy lòng từ bi và hiểu biết làm căn bản hành động thì sẽ sử dụng quyền lực sai lạc và sẽ gây đau khổ cho đất nước mình cũng như cho các quốc gia khác.
Cách đây vài năm, vị chủ tịch và tổng giám đốc của một trong những công ty lớn nhất Hoa Kỳ đã đến Tu viện Thanh Sơn Vermont để thiền tập với tôi và các thầy, các sư cô trong hai ngày. Sáng hôm đó, tôi hướng dẫn một buổi thiền tập, ông cũng ngồi thực tập cùng đại chúng. Sau đó ông đã tới và tâm sự với tôi về cuộc sống của những nhà tỷ phú. Những nhà tỷ phú đau khổ, lo âu và nghi kỵ rất nhiều. Họ luôn luôn nghĩ rằng bất cứ ai đến với họ cũng chỉ vì tiền, cũng chỉ để lợi dụng. Họ không có bạn. Vị giám đốc ấy là một người nhiều uy thế chính trị và phương tiện tài chính, nhưng ông đã đến với chúng tôi để học cách tu tập quyền lực tâm linh. Tôi đã có dịp chia sẻ với ông cách an tịnh thân tâm, cách thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm. Ông hết lòng tham dự thiền tập, thiền hành và ăn cơm im lặng. Ông đã tự rửa lấy chén đĩa của mình sau khi ăn. Ông có một vệ sĩ nhưng ông không cho phép anh ta đi theo vào tu viện. Tôi đã tặng ông một cái chuông nhỏ để ông thực tập nghe chuông, sử dụng tiếng chuông để trở về với hơi thở và lắng dịu thân tâm trong những lúc khó khăn. Tôi không biết ông có tiếp tục thực tập như vậy được hay không bởi vì ông rất cô đơn trong môi trường kinh doanh, lại không có tăng thân nâng đỡ. Thế giới mà ông đang sống là một thế giới bận rộn, nhiều đòi hỏi vì nó dồn dập xoay chuyển.
Vậy thì chúng ta phải công nhận một sự thật là nếu không có tâm từ bi và không có một động lực thúc đẩy phụng sự bởi tâm từ bi, thì dù cho giàu có, quyền thế cách mấy cũng sẽ không có hạnh phúc. Bạn chỉ hạnh phúc khi bạn có thể liên hệ với những người khác và với sự sống chung quanh. Nếu không, bạn sẽ cô độc trong thế giới riêng của mình, không bạn tri âm, không người tri kỷ. Tình thương là rất thiết yếu cho hạnh phúc.
Điều này không những đúng cho từng cá nhân mà còn đúng cho một quốc gia. Nhiều quốc gia muốn phát triển trên phương diện kinh tế, vật chất. Theo tôi, định nghĩa của phát triển là hạnh phúc. Có thêm tiền để làm gì nếu vì thế càng thêm đau khổ? Chúng ta trở thành nạn nhân của chính sự thành công của chúng ta. Phải đo mức độ phát triển bằng hạnh phúc chân thật. Một quốc gia có thể là một cường quốc, rất giàu có, rất tiến bộ, nhưng nhân dân trong nước lại đầy đau khổ. Ý muốn phát triển kinh tế, vật chất trở thành quan trọng hơn sức khỏe của nhân dân. Không còn thì giờ để tự chăm sóc và chăm sóc người thương. Quả thật đáng tiếc. Theo tôi, một quốc gia văn minh là một quốc gia mà trong đó nhân dân có một đời sống sâu sắc, có thì giờ yêu thương, chăm sóc gia đình và cộng đồng.
Khóa tu sức khỏe năm 2019
Hoa mặt trời và cánh đồng
Làm sao con có thể mỉm cười
Câu hỏi:
Có đôi lúc bên trong con thường xuất hiện sự ganh tỵ, đố kỵ với một ai đó, rồi tự trách bản thân không cố gắng phấn đấu, chỉ biết sống mà không có sự nỗ lực vươn lên. Con nhận diện được sự ganh tỵ, đố kỵ ấy, nhưng không biết làm thế nào để dung hòa.
Và rồi con cũng trở nên ít cười hơn hẳn, không còn vui vẻ như ngày trước, thường hay suy nghĩ nhiều. Dẫu biết rằng thế sự này là vô thường.
Nhưng khi nhìn thấy những nụ cười hạnh phúc, hiền lành của Sư Thầy, Sư Cô thì bên trong con lại trở nên hồi hộp, thổn thức và một niềm vui khó tả. Con thật ngưỡng mộ những nụ cười ấy, dịu dàng và ấm áp. Con nhớ mãi những nụ cười dịu dàng mà Sư Thầy, Sư Cô mang đến.
Con luôn tự hỏi “điều gì đã làm nên những nụ cười ấy?” , và đó là thứ mà con đang tìm kiếm. Con rất mong nhận được hướng dẫn từ Sư Thầy, Sư Cô.
Trả lời:
Cảm ơn em đã hỏi một câu hỏi hay và cảm ơn em đã mang lại cho quý thầy, quý sư cô một nụ cười 🙂
Em biết không, ở đây ngoài trời đang mưa. Mưa mau lắm. Những sợi mưa như sợi bạc đan dày không gian. Ngoài khung cửa, vô vàn những giọt nước đang đọng nơi những cái đuôi lá đỏ của cây mận Nhật, những lá xanh cây dâu tằm và liên tục rớt xuống, lóng lánh. Tiếng mưa du dương trên nền lá, ấm áp trên nền đất và lắc rắc giọt nơi hiên… Mình không thể không mỉm cười em ơi 🙂
Em à,
Nếu em đã từng có niềm vui khi nhận lấy nụ cười của quý thầy, quý sư cô, nếu em thấy những nụ cười ấy là dịu dàng, ấm áp thì những nụ cười ấy không còn “ở ngoài” em nữa. Những nụ cười ấy quý thầy, quý sư cô đã trao em rồi, giờ đây em có thể mỉm cười như vậy. Mình đã là tri kỷ của nhau rồi. Em biết đấy, tri kỷ là những người hiểu nhau, thương nhau. Em thương nụ cười của quý thầy, quý sư cô. Em hiểu được nụ cười ấy có là vì niềm hạnh phúc, vì tấm lòng hiền lành, ấm áp, dịu dàng. Vậy thì quý thầy, quý sư cô tri ân em và có thêm một nguồn hạnh phúc để có thể mỉm cười.
Em thấy không, mình có thật nhiều hạnh phúc nếu mình biết nhận ra. Mỗi giây, mỗi phút với thực tập chánh niệm mình có thể nhận ra được suối nguồn của thương yêu, của hạnh phúc. Mấy dòng mail của em không phải chỉ là một câu hỏi. Quý thầy, quý sư cô khi đọc mail của em đã nhìn thấy thật nhiều điều trong đó có thể nuôi dưỡng được mình. Nhận ra được những gì đẹp đẽ, tích cực không phải là mình tự kỷ ám thị hay lạc quan vô lối mà là một sự thực tập, thực tập “Như lý tác ý”.
“Tác ý” tức là khơi dậy những ý nghĩ, tư duy, là nhìn sâu để hiểu và “như lý” nghĩa là theo hướng đúng đắn, là như thật. Nhiều khi mình nhìn nhận sự việc, con người, hoàn cảnh,… không phải “như thật” mà thực ra là theo những định kiến, những nội kết sẵn có trong mình. Ví dụ mình nhìn thấy một người ăn mặc không được chỉnh tề cho lắm thì mình nghĩ: “Cái cô đó mà ăn mặc như vậy chắc là không phải người trung thực”. Trong khi đó người ấy có thể là một người trung thực hoặc trong tình huống đó đã hành động trung thực. Nhưng mình đã vì một nội kết, một định kiến mà có một kết luận, mình dán cho người đó một cái nhãn. Đó không phải là “như lý tác ý”, đó là “phi như lý tác ý”. Trong khi đó nếu mình không bị nội kết ngăn trở thì mình có thể nhận ra những điều khác hơn, ví dụ “tuy cô đó ăn mặc như vậy nhưng cô đó đã hành động lương thiện”, …
Thực tập chánh niệm được liên tục thì mình sẽ không bị chạy theo những thói quen suy nghĩ tiêu cực em à. Chánh niệm là ánh sáng giúp mình nhận diện ra những ý nghĩ, những tư duy hay cảm thọ. Nhận diện được rồi thì mình cũng mỉm cười thôi; “Chào bạn ganh tị, tôi nhận ra bạn rồi…”. Nụ cười lúc này là một dấu ấn, dấu ấn của chánh niệm, của sự nhận biết. Mỉm cười được rồi thì mình cũng chào thôi: “… và tạm biệt bạn nha”. Như vậy đồng thời nụ cười sẽ làm khơi dậy một điều khác nữa; lòng bao dung và chấp nhận. Sự ganh tị là mình, nên mình không loại trừ chính mình, không ruồng bỏ mà mỉm cười buông hạt giống ganh tị, để hạt giống ấy đi xuống, và lòng bao dung, sự chấp nhận đi lên.
Sư Ông thường ví dụ rằng ý thức của mình như một phòng khách và chánh niệm là người chủ. Nếu chánh niệm luôn có đó thì sẽ nhận ra được người khách nào mình muốn mời vào chơi lâu lâu (ví dụ như lòng bao dung, chấp nhận) và người khách nào mình sẽ chào tạm biệt (như sự ganh tị…). Như vậy mình sẽ rất thảnh thơi, không cần phải đấu tranh gì hết, cũng không phải là một sự thoả hiệp nữa. Khi mình buông xuống được thì lúc đó mình sẽ thực sự thấy được vô thường, chứ không phải là dùng khái niệm vô thường để đàn áp hay loại bỏ những ý nghĩ của mình.
Em thương,
Khi em nhận ra nụ cười của quý thầy, quý sư cô là hạnh phúc, là hiền lành, là ấm áp thì trong chính em cũng có những điều này đó em. Nếu không có những hạt giống này thì em làm sao hiểu được đó là hạnh phúc, là hiền lành… phải không em? Vậy thì hạt giống đó ai cũng có nhưng để biểu hiện lên thành nụ cười thì thực tập của mình là phải khơi những hạt giống đó lên và tưới cho những hạt giống đó nảy nở thêm trong vườn tâm của mình. Những nụ cười của quý thầy, quý sư cô cũng là nước mát để giúp em tưới cho những nụ cười của mình, em hãy nhận lấy và đừng để cho uổng phí nghe em.
Mình không cần đợi đến khi nào có những tâm hành hay cảm thọ tiêu cực thì mới mỉm cười, phải không em? Mình có thể nhận ra vô số những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có ngay trong giây phút hiện tại: một giọt nước trong, một tiếng chim hót, một tờ lá bay, tình thương đang có trong mình, một hành động đẹp của người bên cạnh,… hoặc mỉm cười với tuổi trẻ của mình, với những gì tốt đẹp mà ba mẹ đã trao truyền cho mình, mỉm cười vì biết ơn rằng mình đang có hai con mắt sáng, vì mình có… hàm răng còn chắc, biết ơn đôi chân vẫn đưa mình đi, biết ơn đôi bàn tay, biết ơn trái tim… Mình có thể giữ những tâm hành, cảm thọ này ở lâu với mình được. Em có thể thực tập mỗi tối, trước khi ngủ thay vì đọc hay nghe một cái gì đó thì em có thể nhớ lại những khoảnh khắc đẹp, những tâm ý tốt và mỉm cười.
Rất mong là em sẽ thực tập cùng quý thầy, quý sư cô nụ cười mỗi ngày. Đây là một sự thực tập rất nuôi dưỡng. Em có thực tập thi kệ buổi sáng không? Thức dậy với một nụ cười trên môi: “Thức dậy miệng mỉm cười. Hai bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời”. Mỗi câu kệ đi theo một hơi thở vào hoặc một hơi thở ra. Xin gửi em đường link này, nếu mà em có thực tập rồi thì hay quá:
https://langmai.org/thien-
Thương chúc em thực tập thành công và quý thầy, quý sư cô rất hạnh phúc vì có thêm một người tri kỷ.
Thương và tin cậy,
sư cô Trăng Linh Mẫn
Cha
Sáng nay trời đất Pakchong tinh khôi như một bài thơ. Con nhẹ bước thiền hành cùng đại chúng; hình ảnh cha chợt hiện về trong hơi ấm bàn chân. Chỉ cần nhận diện cha đang có trong mỗi hơi thở, bước chân cũng đủ làm cho con hạnh phúc. Con nhớ Sư Ông dạy: “Mỗi động tác là một nghi lễ”, con trở về với hơi thở và thấy rằng mỗi bước chân thảnh thơi của con hôm nay là một nghi lễ của tình thương mà con gửi đến cha – con đang được đi những bước chân của cha!
Mẹ đã dạy con trai cứng cáp, dạy cho con gái dịu dàng. Món quà cha để lại là sự lặng im vững chãi của một người gánh vác sứ mệnh tiếp nối tổ tiên và trao truyền những điều thiêng liêng cho con cháu. Con thực sự nhận ra điều này khi cha đã nằm xuống – Cây đại thụ đã ngã, cả khoảng trời trống rỗng, con trở thành đứa trẻ mồ côi. Đã nhiều mùa Vu Lan con cài hoa hồng trắng trên ngực áo. Mẹ ra đi; cha cũng bỏ con ở lại. Những cột mốc đánh dấu sự côi cút, bất hạnh lớn dần thêm. Chẳng có bất hạnh, khổ đau nào giống nhau, nhưng mất cha là bất hạnh mở đầu cho mọi bất hạnh dù rằng con phải hiểu dưới bất kỳ lớp nghĩa nào. Mất cha, con đã thực sự mất đi tri kỷ từ khi con chào đời, bởi tri kỷ là hiểu biết, thương yêu mà trong cuộc sống này có ai hiểu con như lòng cha thầm lặng và cha là người tri kỷ mà chưa bao giờ con tỏ bày.
Cha thương yêu!
Một tiếng gọi muộn đủ để cho con quay về nương tựa trong tình thương và lòng tôn kính. Con hôm nay là công trình cha đã tạo dựng nên. Có mấy ai hiểu hết được tình thương và ước vọng mà cha mình để lại. Cái ước vọng mà tuổi thơ con được cha chở đi trên chiếc xe đạp hay đi bộ đón con sau những buổi tan trường, con chữ của con buổi đầu có giọt mồ hôi cha mằn mặn và những mơ ước gửi theo những con đường gập ghềnh. Quê mình nhiều dốc núi, cha lúc ấy như đỉnh núi nâng con lên để chạm với mây trời và ước mơ làm một con người chân chính.
Từ ấu thơ, cha là người thầy đầu tiên khơi nguồn cho con với bao mơ ước. Cha bao giờ cũng mạnh mẽ, phóng khoáng và dám chấp nhận. Những bước chân đầu tiên của con, cha là người động viên con và ngăn mẹ cứ để cho con bước. Con đã ngã, dấu tích là vết sẹo trên khuôn mặt theo lời mẹ kể, nhưng con nín khóc khi có bàn tay của cha nâng dậy và niềm tin rằng con có đủ dũng cảm để nước mắt đừng rơi. Vết sẹo ngày xưa đã lành, nhưng nghị lực và hơi ấm tình thương của cha đã theo con cùng năm tháng. Tuổi thơ con cũng lam lũ, vất vả như cuộc đời của mẹ cha. Nhưng chính cha đã dạy cho con đừng bao giờ bỏ cuộc; hãy sống xứng đáng dù có đôi khi những nghiệt ngã của cuộc đời làm cho con chẳng thể chịu đựng được. Con hiểu, cuộc đời cha đã trải qua biết bao khó khăn nhưng cha luôn lạc quan đi tới; phải thế chăng mà những ruộng vườn, khoai sắn trên đất quê cằn cỗi cũng từ đó mà lên xanh, nuôi sự sống cho cha và con. Con biết ơn nụ cười của cha những khi mùa gặt thất bát, gió thổi rỗng cả trời nhưng lòng tin yêu cuộc sống chưa bao giờ cạn.
Mẹ mất sớm, cha trở thành người có hai đôi vai, gánh cả hai phần. Con không có bức ảnh nào về cha nhưng ký ức con đã chụp lại rất rõ những vết nhăn trên khuôn mặt cha do tần tảo và lo lắng cho đàn con. Con biết, khi nào con còn đủ sức lưu giữ những tình thương đó thì hình cha vẫn mãi trong con mà không có bức ảnh nào trên đời có thể thay thế. Chính những vết nhăn chi chít đó đã nâng con lên trong cuộc đời, bởi cũng có đôi khi, con thầm so sánh cha với cha của bạn bè con khi con ra thành phố học, có đôi khi khó khăn khiến con có chút nản lòng… Nhưng vầng trán của cha còn đó; con lại tiếp tục lên đường, xuôi ngược với ước mơ, hiển vinh trong khi cha là người chống đỡ những nhọc nhằn nơi quê nhà, lấy sự trưởng thành, hạnh phúc của chúng con làm niềm vui sống.
Con đã nhiều lần viết, nhiều lần tặng quà cho bao người nhưng con chưa bao giờ viết, chưa từng có một món quà nào xứng đáng cho cha. Ấy thế mà cha vẫn mỉm cười, hạnh phúc khi nhìn những bước con đi. Từ khi mẹ mất, mấy cha con chẳng con ngôi nhà xưa vì đã bán để lo thuốc thang cho mẹ, nhưng cha đã là ngôi nhà che nắng mưa cho chúng con bằng cả niềm tin. Những thành tích mà con có được, con cũng mong được một lần dán lên ngôi nhà, nhất là có thể làm mờ những vết nhăn trên trán cha. Nhưng đôi khi, ước mơ của con còn nhỏ lắm với lòng cha mong đợi; Cha mong con đi vững vàng trên chính đôi chân mình như một con người bản lĩnh, tự do.
Cha đã rất trân trọng những quyết định của con. Lúc nào cha cũng trầm tĩnh, vững vàng với một câu đã quen nhưng con đừng quên suy ngẫm: “Tuỳ ở con”. Cha đã dặn con phải nương tựa chính nơi con, phải bước bằng đôi chân của mình để vững vàng trước bao biến cố. Và con đã có không ít những lần vấp ngã, may thay, bàn tay cứng cáp và trái tim bao la của cha đã cho con đứng dậy. Cha vẫn đứng đó, trán có thể thêm nếp nhăn nhưng chưa bao giờ thôi truyền cho con niềm tin, nghị lực, cho con thêm những kinh nghiệm để vững bước vào đời. Có một lần, vì những khó khăn trong công việc, mệt mỏi trong cuộc sống, chứng kiến các anh đối xử tệ bạc với cha, con đã vung vãi những lời đau đớn, trách móc: “Tại cha thương yêu, hiền lành quá nên các anh trèo lên đầu như vậy đó. Bây giờ thì cha trách ai. Con chán hết mọi thứ rồi!” Đó có thể là lần đầu tiên con làm tổn thương cha. Cha lặng lẽ ra khu vườn, trời không gió bụi mà mắt cha đỏ hoe. Con đã làm tổn thương cha, chạm đến điều mà cha đã hy sinh cả đời: hết lòng thương yêu chúng con!
Cha chưa bao giờ đổi thay dù đàn con có đứa mang đến nỗi đau này hay nỗi đau khác. Con nhớ ngày đó, hối hận vì lỡ lời, con trở về định xin lỗi cha. Cha ngồi đó với chén trà và cha vẫn bình yên, như chén trà đầy ánh trăng đêm. Con đã chưa nói lời xin lỗi trong khung cảnh bình yên đó, con lặng lẽ ngồi đó. Cha đã cho con có cơ hội dừng lại để cảm nhận cuộc sống này, đã cho con biết bao điều tốt đẹp. Cho nên có lúc con ngồi thật yên bên ly trà, bên thềm yên lặng ta sẽ có dịp hiểu về cha, hiểu và biết ơn là cha đã về ngồi uống trà cùng con rồi đó. Đã có lúc, con thấy vị đắng ngọt của trà tan trong cổ giống như dư vị của đời cha. Bước trên con đường của Bụt, Tổ và tăng thân, con có cơ hội trở về để nhìn thấy hình ảnh của cha, nói như Mark Twain: “Cha tôi thật kỳ lạ. Tôi càng lớn bao nhiêu, cha lại càng tuyệt vời bấy nhiêu.” Có thể, con chưa cảm nhận sâu sắc những điều cha đã cho con, nhưng con biết con đang hạnh phúc vì ý thức được những gì cha đã cho con, kể cả những khó khăn canh cánh bên lòng mà đời cha đã chưa làm xong.
Mỗi sớm mai thức dậy, hai bàn tay con vốc nước rửa mặt. Con thấy bàn tay chai sần của cha. Cha đã trao truyền cho con hết thảy bởi chính người đã yêu cuộc đời này bằng tình yêu và muốn con lớn lên cũng bằng những yêu thương hào phóng, rộng rãi và cao đẹp. Cha trở nên cụ thể trong mỗi xương thịt của chính con trong mỗi bước thăng trầm. Con bây giờ là con của Bụt, Tổ, Sư Ông và tăng thân ôm ấp, chẳng khác nào tình thương cha đã dành cho con. Bằng hình hài cha mẹ đã truyền trao, con cúi đầu lạy xuống, con thấy tình thương của gia đình tâm linh và huyết thống đang tuôn chảy trong mỗi tế bào cơ thể của con. Ý thức được điều đó con càng yêu thương, tin tưởng con đường thương yêu đích thực mà con đang đi, bởi trên con đường này con đang được nắm tay Bụt, nắm tay Thầy Tổ và nắm tay cha để rong chơi, để sống cho vững vàng, sâu sắc, thành thơi, tự do như ước mơ cha từng gửi lại.
Cha ơi, con thương cha nhiều lắm! Trong con cha mãi như cha đã từng, và chỉ từng ấy thôi cũng đủ nuôi đời tu của con hạnh phúc rồi.
Chân Trời Văn Lang
Lễ Bông hồng cài áo
“Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta… Đừng đợi đến khi mẹ mất rồi, mới nói: “Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào ‘nhìn kỹ’ được mặt mẹ.” (Trích từ đoản văn “Bông hồng cài áo” – Sư Ông Làng Mai)
Lễ Bông hồng cài áo là cơ hội để chúng ta trở về với dòng suối tình thương của mẹ cha, và cùng nhau nuôi lớn kho tàng thương yêu đang hiện hữu trong trái tim mỗi người.
Và đây là vài hình ảnh của buổi lễ tại chùa Sơn Hạ và chùa Từ Nghiêm, xóm Mới trong khoá tu mùa hè 2019:
Ta từ đâu tới? Ta đi về đâu?
(Trích từ cuốn “Không diệt, không sinh, đừng sợ hãi” – Sư Ông Làng Mai)
Trong tu viện của tôi ở nước Pháp, có một bụi cây hoa đào Nhật bổn.
Bụi hoa này thường nở rộ vào mùa Xuân, nhưng một năm, mùa Đông ấm áp hơn nên hoa nở sớm hơn thường lệ. Rồi một đêm trời trở lạnh, nhiệt độ xuống tới điểm băng giá. Sớm hôm sau khi đi thiền hành, tôi nhận thấy những nụ hoa đều bị héo hết. Tôi nghĩ “Vậy là đầu năm nay sẽ không có đủ hoa cúng Bụt.”
Vài tuần sau, trời ấm áp trở lại. Khi tôi đi bộ trong vườn, tôi lại nhìn thấy những nụ hoa đào thuộc thế hệ mới đang biểu hiện ra. Tôi hỏi chúng:
“Các con là những bông hoa đã chết khi trời băng giá hay là những bông hoa khác?”
Hoa trả lời tôi:
“Thầy, chúng con không phải những bông hoa đó, mà cũng không khác những bông đó. Khi nhân duyên đầy đủ chúng con biểu hiện ra, và khi thiếu nhân duyên thì chúng con ẩn tàng. Giản dị vậy thôi!”
Đó là giáo pháp của Bụt. Khi nhân duyên đầy đủ, thì sự vật biểu hiện. Khi nhân duyên không còn đầy đủ, thì chúng rút lui. Chúng đợi tới đúng thời điểm sẽ biểu hiện trở lại.
Trước khi sinh ra tôi, mẹ tôi đã mang thai một em bé khác. Nhưng bà bị xảy thai và em bé đó không ra đời. Khi còn nhỏ, tôi thường hỏi: “Bào thai đó là anh tôi hay chính là tôi? Ai đã muốn biểu hiện ra trong lần mẹ xảy thai đó?” Khi mẹ tôi mất em bé, thì có nghĩa là nhân duyên chưa đủ cho bé ra đời, nên nó quyết định lui lại, chờ điều kiện tốt đẹp hơn: “Con tốt hơn nên rút lui, và sẽ trở lại nay mai nhé mẹ!” Chúng ta phải tôn trọng ý kiến của em bé. Nếu bạn nhìn đời bằng những cái nhìn như thế, bạn sẽ bớt khổ đau nhiều. Mẹ tôi đã mất anh tôi hay chính tôi lúc đó, thấy chưa đúng thời điểm, tôi đã lui lại?
Trở thành Không
Nỗi sợ hãi lớn lao nhất của chúng ta là khi chết, chúng ta sẽ trở thành không. Nhiều người trong chúng ta tin rằng cuộc đời của ta bắt đầu từ lúc chào đời và chấm dứt khi ta chết. Chúng ta tin rằng chúng ta tới từ cái Không, nên khi chết chúng ta cũng không còn lại gì hết. Và chúng ta lo lắng vì sẽ trở thành hư vô.
Bụt có cái hiểu rất khác về cuộc đời. Ngài hiểu rằng sống và chết chỉ là những ý niệm không có thực. Coi đó là những sự thực, chính là nguyên do gây cho chúng ta khổ não. Bụt dạy không có sinh, không có diệt, không tới cũng không đi, không giống nhau cũng không khác nhau, không có cái ngã thường hằng cũng không có hư vô. Chúng ta thì coi là Có hết mọi thứ. Khi chúng ta hiểu rằng mình không bị hủy diệt thì chúng ta không còn lo sợ. Đó là sự giải thoát. Chúng ta có thể an hưởng và thưởng thức đời sống một cách mới mẻ.
Tìm lại người thân đã mất
Đối với trường hợp mất người thương cũng thế. Khi nhân duyên không còn đầy đủ thì họ biến đi. Khi mẹ chết, tôi rất đau đớn. Khi chúng ta chỉ mới bảy hay tám tuổi đầu, ta không hề nghĩ sẽ có ngày mất mẹ. Nhưng sự thực là khi lớn lên và tất cả chúng ta, ai cũng sẽ mất mẹ. Nếu bạn biết tu tập, thì tới giờ phút chia lìa, bạn sẽ không quá khổ sở. Bạn sẽ sớm nhận thức được rằng mẹ bạn vẫn đang còn sống trong bạn.
Ngày mẹ chết, tôi viết vào nhật ký: “Tai nạn lớn nhất đời tôi đã xảy ra rồi.” Tôi đau khổ hơn một năm sau khi mẹ qua đời. Nhưng rồi một đêm, khi ngủ trong cái cốc ở vùng cao nguyên Việt nam, tôi nằm mơ thấy mẹ tôi. Tôi thấy tôi ngồi chơi bên bà và chúng tôi nói chuyện rất vui. Mẹ tôi trông trẻ đẹp, tóc bà thả dài xuống lưng. Thật là sung sướng được truyện trò với mẹ như thể bà chưa chết vậy. Tôi tỉnh dậy vào lúc hai giờ sáng và tôi có cảm giác thực sự là tôi chưa từng mất mẹ. Cảm tưởng mẹ vẫn ở trong tôi nó rất rõ ràng. Tôi hiểu rằng ý tưởng mất mẹ chỉ là một ý tưởng mà thôi. Rõ ràng lúc đó tôi thấy mẹ luôn luôn còn sống trong tôi.
Tôi mở cửa đi ra ngoài. Tất cả sườn đồi được tắm trong ánh trăng. Đó là một đồi trà và thất của tôi ở lưng chừng đồi, phía sau ngôi chùa. Khi đi bộ thong thả giữa các luống trà, tôi vẫn cảm thấy mẹ ở bên tôi. Bà là ánh trăng vuốt ve tôi như bà thường hay làm, thật dịu dàng âu yếm… thật là kỳ diệu! Mỗi khi chân tôi chạm mặt đất, tôi biết mẹ tôi vẫn đang ở cạnh. Tôi biết cái thân này không phải của riêng tôi mà nó là sự tiếp nối của mẹ, cha, của ông bà, của cụ kỵ, của tổ tiên. Những dấu chân tôi tưởng của tôi, thực ra là của cả hai chúng tôi. Tôi và mẹ cùng để lại những dấu chân trên mặt đất ẩm ướt đó.
Từ lúc ấy, ý nghĩ mất mẹ không còn hiện diện trong tôi nữa. Tôi chỉ cần nhìn vào bàn tay tôi, cảm nhận hơi gió mát trên mặt hay đất dưới bàn chân, là tôi nhớ mẹ tôi luôn luôn có mặt với tôi, trong mọi thời điểm.
Khi mất một người mình thương thì ta đau khổ. Nhưng nếu bạn biết nhìn sâu, bạn có cơ hội để nhận ra rằng bản thể của người đó là vô sinh, bất diệt. Chỉ có sự biểu hiện và sự ngừng lại để biểu hiện dưới hình thức khác mà thôi. Bạn phải rất tinh và tỉnh thức để có thể nhận ra sự biểu hiện mới của người thương đó. Nhưng khi thực tập và cố gắng, bạn có thể làm được chuyện này.
Vậy, hãy nắm tay một người bạn tu, cùng nhau đi thiền hành. Hãy để tâm tới từng cái lá, từng bông hoa, từng con chim và từng giọt sương nhỏ. Nếu bạn có thể ngừng lại và nhìn sâu thì bạn có thể nhận diện được người thương ở những biểu hiện khác nhau, dưới nhiều hình thái. Bạn sẽ lại yêu đời.
Không có gì sinh ra, không có gì mất đi
Nhà khoa học người Pháp, ông Lavoisier đã từng tuyên bố: “Không có gì được sinh ra, cũng không có gì mất đi.” Dù ông ta không thực hành đạo Bụt, nhưng nhà khoa học ấy đã tìm ra chân lý giống như Bụt thấy vậy.
Bản chất thực của chúng ta là bản chất không sinh không diệt. Chỉ khi nào ta chạm được vào bản chất chân thực đó, chúng ta mới chuyển đổi được nỗi sợ hãi mình không hiện hữu, đổi được cái lo trở thành hư không.
Bụt dạy khi đầy đủ nhân duyên thì sự việc biểu hiện, và chúng ta nói nó hiện hữu. Khi thiếu một hoặc hai điều kiện, sự việc đó không biểu hiện như trước thì ta nói nó không hiện hữu. Theo Bụt, nói rằng thứ này có hay không có là sai. Trong thực tại, không có thứ gì hoàn toàn có hay hoàn toàn không hiện hữu.
Chúng ta thấy được chuyện này rất dễ dàng khi nhận xét các máy truyền hình và phát thanh. Chúng ta có thể đang ở trong một căn phòng không có máy truyền hình và cũng không có máy phát thanh. Khi ở trong căn phòng đó, chúng ta có thể cho rằng không có chương trình truyền hình hay truyền thanh tại đó. Nhưng tất cả chúng ta đều hiểu là không gian trong phòng chứa đầy các tin hiệu. Tín hiệu của các chương trình đó có mặt khắp mọi nơi. Chúng ta chỉ cần một điều kiện nữa thôi, một chiếc máy thu thanh hay truyền hình, là bao nhiêu hình thái, màu sắc và âm thanh sẽ biểu hiện ra. Vậy khi nói rằng các tín hiệu đó không hiện hữu là sai, vì sự thực chúng ta chỉ thiếu dụng cụ để thâu chúng vô và cho các tín hiệu đó cơ hội biểu hiện ra. Chúng hình như không hiện hữu chỉ vì nhân duyên không đầy đủ để các chương trình xuất hiện. Vậy thì trong căn phòng đó, ở giờ phút đó, nếu chúng ta nói rằng chúng không hiện hữu, thì chỉ vì chúng ta không nhìn hay nghe được chúng, chứ không phải vì chúng không có mặt. Chỉ vì các quan niệm có-không mà chúng ta bị rối trí. Quan niệm hiện hữu và không hiện hữu khiến chúng ta tin là cái này có, cái kia là không. Ý niệm có và không đó không thể áp dụng vào thực tại được.
Không đến không đi
Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệm đến – đi. Chúng ta nghĩ rằng những người thương của ta đã đến từ một nơi nào đó và nay sẽ đi tới một nơi nào đó. Nhưng bản chất của thực tại là không đến cũng không đi. Chúng ta không từ đâu tới mà cũng không đi tới đâu cả. Khi nhân duyên đầy đủ thì ta biểu hiện, khi nhân duyên không còn đầy đủ thì chúng ta không biểu hiện. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không hiện hữu. Giống như khi làn sóng phát thanh không phát ra âm thanh, thì chúng chỉ không biểu hiện mà thôi.
Không phải chỉ có các ý niệm đến-đi mới không diễn bày được thực tại, mà các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu cũng vậy. Chúng ta học được câu này trong kinh Bát Nhã:
“Xá lợi tử nghe đây
Thể mọi pháp đều không
Không sinh cũng không diệt
Không thêm cũng không bớt…”
Ý nghĩa chữ Không này rất quan trọng. Nó có nghĩa là mọi sự việc đều trống rỗng, không có tự tánh riêng biệt. Không có cái gì có tự tánh độc lập, không có cái gì tự nó hiện hữu. Khi nhìn sâu vào mọi sự, mọi vật ta sẽ thấy rằng tất cả, kể luôn ta trong đó, đều là những hợp thể. Ta được làm bằng các phần tử không phải ta. Ta được là hợp thể của cha mẹ, ông bà, cơ thể, cảm thọ, nhận thức, đất, mặt trời và vô số các yếu tố không phải ta. Tất cả những thứ đó tùy theo nhân duyên. Ta thấy rằng tất cả những thứ đó đã, đang hay sẽ biểu hiện đều có tương quan và liên hệ mật thiết với nhau. Những gì biểu hiện ra mà ta nhìn thấy, chỉ là một phần của bao thứ khác, của các điều kiện đầy đủ khiến cho nó có mặt. Mọi sự mọi vật đều không được sinh ra hay bị mất đi vì chúng luôn luôn ở trong tiến trình liên tục biểu hiện.
Chúng ta có thể thông minh để hiểu được chuyện này. Nhưng hiểu bằng trí óc thôi không đủ. Thực sự hiểu điều này, ta sẽ hết sợ hãi. Ta sẽ được giác ngộ và sống với cái nhìn tương tức (Inter-being).
Chúng ta phải thực tập nhìn thật sâu như thế trong đời sống hàng ngày để nuôi dưỡng sự hiểu biết về không sinh không diệt. Như thế, ta có thể thực chứng được sự mầu nhiệm của sự vô úy, không sợ hãi.
Nếu chúng ta nói tới vấn đề tương tức tương nhập như một lý thuyết thì không ích lợi gì hết. Ta nên đặt câu hỏi: “Tờ giấy này, mi từ đâu tới? Giấy là cái gì? và mi tới đây làm gì? Giấy sẽ đi đâu?” Ta cũng hỏi ngọn lửa (đang dốt tờ giấy): “Lửa ơi, mi từ đâu tới và mi sẽ đi đâu?” Hãy lắng nghe chúng trả lời. Ngọn lửa, tờ giấy đang trả lời bằng sự có mặt của chúng. Chúng ta chỉ cần nhìn sâu thì sẽ nghe được câu trả lời của nó. Ngọn lửa trả lời: “Tôi không tới từ đâu cả.”
Đó cũng là câu trả lời của cây hoa đào Nhật bổn. Chúng tôi (hai đợt hoa) không giống mà cũng không khác nhau. Hoa không tới từ đâu và cũng không đi đâu hết. Khi mất một em bé, chúng ta không nên buồn. Đó chỉ là vì lúc ấy chưa đủ nhân duyên cho nên em chưa biểu hiện ra ở thời điểm đó mà thôi. Em sẽ trở lại.
Buồn phiền vì vô minh
Đức Quan Thế Âm là học trò của Bụt. Một bữa Ngài nhập định và đạt được sự hiểu biết sâu xa, Ngài thấy rằng mọi sự vật đều không có tự tánh. Hiểu như vậy, Ngài vượt qua được màn vô minh, nghĩa là Ngài thoát được hết các khổ não.
Nhìn cho sâu, chúng ta cũng thấy được rằng không có gì sinh ra, không có gì chết đi, không có gì tới, cũng không có gì đi, không có cũng không không, không giống cũng không khác.
Nếu ta không học phép tu tập này thì thật là phí phạm quá sức. Chúng ta có thể thực tập theo nhiều phương pháp để bớt khổ, nhưng trí tuệ lớn nhất là sự giác ngộ về không sinh không diệt. Khi chúng ta giác ngộ được chuyện này thì ta không còn sợ hãi nữa. Chúng ta có thể vui hưởng được gia tài khổng lồ mà tổ tiên ta truyền lại cho. Ta nên thu xếp để có thì giờ thực tập giáo pháp huyền diệu này mỗi ngày.
Kính trọng biểu hiện của mình
Khi nhìn một người bạn mình bằng con mắt thiền quán, ta có thể nhìn thấy trong đó tất cả các thế hệ tổ tiên của bạn mình. Ta sẽ rất kính trọng người đó và kính trọng cả con người mình, vì ta thấy đó là ngôi đền thờ của tất cả các thế hệ tổ tiên.
Bạn cũng nhìn thấy thân thể mình là nền tảng của các thế hệ tương lai. Do đó chúng ta sẽ không làm hại thân mình, vì như thế là không tử tế với các thế hệ con cháu. Ta sẽ không sử dụng ma túy và ăn uống những thứ có độc tố làm hại thân thể. Đó là do cái hiểu về sự biểu hiện, nó đã giúp chúng ta sống một cuộc đời lành mạnh, trong sáng và có trách nhiệm.
Ý niệm trong ngoài cũng như vậy. Khi chúng ta nói Bụt và cha mẹ ở trong ta, hay ở ngoài ta, ý niệm trong ngoài đó không có nghĩa chi cả. Chúng ta bị kẹt vào các ý niệm, nhất là ý niệm đến-đi và hiện hữu hay không hiện hữu. Chỉ khi ta buông bỏ được các ý niệm đó thì sự thật mới hiển lộ, sự thật của Niết bàn. Khi tất cả các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu đã tắt ngấm thì Chân như thực tại nó sẽ biểu hiện ra.
Không có gì bằng kinh nghiệm
Chúng ta có thể dùng một thí dụ dễ hiểu về trái quít và trái sầu riêng. Nếu có người nào chưa từng nếm quít hay sầu riêng, thì dù cho bạn mô tả các thứ đó bằng bao nhiêu hình tượng, bạn cũng không thể diễn tả được các thứ trái cây đó thực sự chúng ra sao. Bạn chỉ có thể giúp người kia có kinh nghiệm sống, thực chứng về hai trái cây đó. Bạn không thể nói: “Sầu riêng ư, nó giống như mít hay đu đủ.” Bạn không thể nói gì như khi người ta ăn trái sầu riêng. Sầu riêng nó vượt qua tất cả các ý niệm. Trái quít cũng vậy. Khi bạn chưa từng ăn trái quít, thì dù cho người kia thương bạn cách mấy, cố gắng giúp bạn cách mấy cũng không diễn tả được hương vị trái quít ra sao. Thực tại của trái quít vượt lên trên tất cả mọi ý niệm. Niết Bàn cũng vậy. Đó là một thực tại vượt qua các ý niệm. Chỉ vì ta có ý niệm về Niết bàn mà ta đau khổ. Phải thực chứng, phải tự kinh nghiệm, đó là con đường phải đi.





























































































































































