Giờ phút của sự hiến tặng

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai)

 

Mỗi phút một viên ngọc quý

Hồi nãy, trước khi ra thiền đường, tôi có hỏi thị giả còn mấy phút. Thị giả nói còn mười phút. Mười phút là nhiều hay ít? Và mình sử dụng mười phút đó như thế nào?

Tôi mặc áo và đi vào phòng tắm. Tôi mở nước để rửa mặt cho mát. Tôi mở rất ít. Những giọt nước trong vòi chảy ra, gần như là từng giọt, rơi trên bàn tay phải của tôi. Nó rơi xuống như những giọt tuyết vì nước lạnh lắm. Nó gây cảm giác mát lạnh, làm cho mình tỉnh. Tôi đưa những giọt nước đó lên trên mặt. Mặt tôi cũng được hưởng cái lạnh của những giọt nước. Tôi làm như vậy ba lần, đưa tay phải hứng những giọt nước và đưa lên mặt. Trong thời gian đó, tôi có hạnh phúc nhiều lắm. Tôi thấy được đây là những giọt tuyết từ trên Hy Mã Lạp Sơn, từ trên núi Pyrénées đi xuống. Hiện giờ, nó đang chạm vào trán, vào mắt và vào má tôi. Tôi thấy rất rõ và tôi mỉm cười nhận diện sự có mặt của những giọt tuyết ấy.

Thời gian đó chỉ diễn ra trong khoảng mười hay mười lăm giây thôi, nhưng nó rất đáng sống và rất dễ chịu. Trong lúc tôi nâng những giọt tuyết đó đưa lên má, đưa lên mắt, tôi không nghĩ tới bài pháp thoại mà tôi sẽ nói. Tôi không nghĩ tới tôi cần phải làm gì trong thời gian tới, mà tôi an trú được trong giây phút hiện tại. Tôi không nghĩ đến chuyện quá khứ. Khi cầm chiếc khăn lông màu vàng nhỏ chậm lên mặt, lau khô những giọt nước đó, tôi nghĩ rằng, những giây phút như vậy hết sức là mầu nhiệm. Và tôi mỉm cười. Tôi mỉm cười một mình thôi, vì trong phòng tắm đâu có ai mà cười với, nụ cười này không phải là nụ cười có tính cách ngoại giao.

Mở cửa đi ra, tôi khoác áo ngoài vào, rồi từ từ bước lên trên sân cỏ. Trên sân cỏ cũng có những giọt sương. Có những giọt sương đậu trên đầu ngọn cỏ, những giọt sương này cũng không khác với những giọt nước mà tôi đã phả lên trên mặt. Những giọt tuyết trên Hy Mã Lạp Sơn, đi đâu mình cũng gặp nó thôi. Nhìn lên trời, mình thấy nó dưới dạng một đám mây, mai mốt nó sẽ tìm đường đi vào phòng tắm của mình, chắc chắn như vậy.

Trong bài thơ “Thề Non nước”, Thi sĩ Tản Đà có nói:

Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi

Sự đoàn tụ của mình với những giọt tuyết xảy ra trong từng giây phút. Bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà là một bài thơ lục bát khá hay, nói về mối tình giữa “núi và sông”. Mưa trên núi và làm cho núi xanh. Nhưng nước mưa, dưới dạng những dòng suối, đi xuống núi và đi về đồng bằng. Nó chào tạm biệt núi, khiến cho núi nhớ, núi thương, núi nói: “Nước ơi, bao giờ thì trở lại với núi?”

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non

Đó là một sự trách móc. Nước đi sao không trở về? Nước đi, đi mãi, không về cùng non. Điều đó không đúng! Sau lời than thở dài dòng của núi, thi sĩ đã “khai thị” cho núi. Núi đừng có nghĩ như vậy!

Non kia đã biết hay chưa
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi

Vậy thì sự hội ngộ của quí vị với những giọt tuyết trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn xảy ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày. Khi quí vị rửa mặt, khi quí vị bước những bước chân có chánh niệm trên thảm cỏ, khi quí vị ngẩng lên nhìn mây, lúc nào những giọt sương, những giọt tuyết của đỉnh Hy Mã Lạp Sơn cũng vẫn ở bên quí vị và trong quí vị, tại vì cơ thể chúng ta có ít nhất là bảy mươi phần trăm được làm bằng tuyết, bằng nước.

 

 

Chúng ta luôn luôn có nhau. Những giờ phút đó là những giờ phút rất nhiệm mầu. Nếu tôi quên thì quí vị nhắc, nếu quí vị quên thì tôi nhắc. Đó là ý nghĩa của tăng thân. Chúng ta là sư anh, sư chị, sư em của nhau, và chúng ta thực tập chánh niệm để tịnh độ có thể có mặt trong giây phút hiện tại, để tịnh độ không còn là ước mơ thuộc về tương lai. Điều đó là điều chúng ta có thể làm được ngay ngày hôm nay. Chúng ta không cần phải đợi tới vài ba năm nữa.

Khi ta trồng một cây cam, ngay khi còn bé, cây cam đã bắt đầu hiến tặng. Nó hiến tặng cho ta những lá cam rất xanh. Cây cam không nghĩ rằng: “Ta phải lớn lên! Ta phải có hoa, có quả thì ta mới ích lợi cho đời!” Cây cam còn nhỏ, chưa đầy một thước, nhưng nó đã đẹp. Nhìn vào cây cam, ta đã thấy hoa và trái rồi. Một cây cam xanh tốt như vậy cho ta niềm tin. Cây cam không những hiến tặng hoa trái mà còn hiến tặng sự có mặt mầu nhiệm của nó. Một cây cam cũng giống như một giọt sương, một giọt tuyết, nó rất là mầu nhiệm. Gặp cây cam ta cũng phải cúi đầu chào, tại vì cây cam là một viên đại sứ do đất trời gởi tới: “xin chào cây cam xinh đẹp”. Ta có thì giờ để ngừng lại và chào cây cam không, hay là ta tiếp tục hấp tấp đi tìm một cái gì đó? Chúng ta đã đi tìm suốt đời rồi!

Có một thiền sinh lên hỏi thầy Triệu Châu: “Mục đích của tổ Bồ Đề Đạt Ma qua bên này là gì?” Thiền sư Triệu Châu trả lời: “Hồi nãy, đi ngang qua sân trước vào đây, con có thấy cây tùng đứng đó không?” Cây tùng hay cây cam cũng vậy thôi. Nếu trên con đường tới phòng thầy, đi ngang qua cây cam mà quí vị không thấy, không chào cây cam, thì tới phòng thầy quí vị cũng không thấy thầy được. Thấy được cây cam là thấy thầy rồi. “Cây tùng trước sân” đã thành một công án lớn của Thiền Tông.

Giờ phút nào cũng là giờ phút của sự hiến tặng

Xin quí vị đừng đánh mất cơ hội để đón nhận những giọt sương mai, đón nhận những giọt tuyết trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Đừng đánh mất cơ hội để được tiếp xúc với cây cam. Cây tùng của thiền sư Triệu Châu đâu phải nằm bên Tàu! Nó nằm ngay ở đây! Hằng ngày mình đi ngang qua, mình không dòm ngó tới, tại vì mình nghĩ có một cái gì quan trọng hơn để mình đi tìm. Đôi khi đó là một chút danh, một chút lợi; đôi khi đó là một sự công nhận của người kia đối với giá trị của mình…, chúng ta đi kiếm những cái như vậy.

Mình là người tu thì giờ phút nào của đời sống hằng ngày cũng là giờ phút của sự hiến tặng. Đừng nghĩ rằng ta phải giàu có, phải quyền thế, phải có ảnh hưởng lớn ta mới có thể hiến tặng được cho đời. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở trong chánh niệm, mỗi nụ cười đều là tặng phẩm rất quí giá mà ta có thể hiến tặng cho tăng thân, cho đời.

Một sư chú mới tu có hai tháng thôi nhưng đi những bước có chánh niệm. Sư chú hiến tặng hằng ngày bước chân đó cho tăng thân, làm đẹp lòng thầy, đẹp lòng các sư anh của mình. Sư chú là một cây cam, sư chú hiến tặng sự xanh tốt của những lá cam, hoa cam, trái cam. Sẽ buồn biết bao nhiêu nếu cây cam không hiến tặng được lá, được hoa, được trái! Người tu cũng vậy. Sẽ rất là buồn thảm nếu người tu không hiến tặng được những hoa trái của sự thực tập của mình trong đời sống hằng ngày. Mỗi câu nói, mỗi cái nhìn, mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều là những tặng phẩm quí giá mà người tu có thể hiến cho đời. Trước hết là cho thầy mình, cho các sư anh, sư chị, sư em của mình.

Đời sống hằng ngày của chúng ta có thể được gọi là đời sống của sự hiến tặng. Ta đừng nói rằng ta không có gì để hiến tặng. Không! Ta có rất nhiều châu báu để hiến tặng. Một hơi thở có ý thức, một nụ cười thân hữu, một cái nhìn từ bi, một bước chân có chánh niệm, một cử chỉ an ủi, vỗ về, đó là những món quà hiến tặng của chúng ta. Nó được chế tác bằng nếp sống chánh niệm.

Trong khi hiến tặng, ta tiếp nhận được biết bao nhiêu tặng phẩm của đất trời. Một giọt sương đầu ngọn cỏ, một bông hoa nở bên vệ đường, một ngôi sao lấp lánh buổi sáng khi ta mở cửa ra, đó là tặng phẩm của đất trời mà ta có thể tiếp nhận trong mỗi giây phút. Vậy thì, mười phút là nhiều hay là ít? Ta có khả năng quản lý mười phút của ta hay không? Khả năng của chúng ta để quản lý mười phút như thế nào? Hay ta để mười phút tuột qua một cái như chớp nhoáng? Đó là những câu mà mỗi người phải tự hỏi.

 

 

Bất cứ một chuyện gì xảy ra cho chúng ta trong đời sống hằng ngày cũng có thể coi như là một tiếng chuông chánh niệm, ví dụ như là một tai nạn xe hơi. Tai nạn xe hơi của một người thân hay của một người không thân đều có thể là một tiếng chuông chánh niệm. Mình biết rằng tai nạn đó có thể xảy ra cho mình hay xảy ra cho bất cứ ai trong ngày hôm nay hoặc là trong ngày mai. Khi thấy được tai nạn đó thì mình có sự tỉnh thức. Mình nhắc nhở mình phải làm thế nào để sống có chánh niệm, để làm giảm thiểu trường hợp làm xảy ra tai nạn càng nhiều càng tốt. Nhiều khi tai nạn xảy ra không phải là do từ ngoài đến mà là do từ trong mình ra. Khi thiếu chánh niệm thì mình có những suy tư, nói năng và hành động thế nào đó để tai nạn có thể xảy ra.

Nhiều người nghĩ, nếu mình mua một chiếc xe hơi thật bền, tốt thì sẽ có an ninh hơn trong khi lái xe. Nhưng những người tu tập như chúng ta thì nghĩ rằng, năng lượng hay yếu tố bảo vệ chúng ta vững chãi nhất không phải là yếu tố vật chất, không phải là trương mục trong ngân hàng, không phải là quyền thế, không phải là quân đội, không phải là vũ khí tinh vi nhất, mà là chánh niệm. Có niệm thì có định. Có niệm và định thì chúng ta thấy được tình trạng và hoàn cảnh đích thực của mình. Chúng ta sẽ không làm những điều chiêu cảm tai nạn đến với mình.

Tai nạn ngày 11 tháng 9 ở New York là một tai nạn rất lớn. Nó làm rung động nước Mỹ và làm rung động cả thế giới. Những nhà chính trị nước Mỹ nghĩ đến chuyện phải bảo vệ nước Mỹ bằng phương tiện quân sự, bằng phương tiện an ninh. Gần đây, một vị Hồng Y ở Boston, trong lá thơ ông gửi cho tổng thống Mỹ đã nói: Nước Mỹ đã hành động như thế nào để các quốc gia trên thế giới thù ghét nước Mỹ. Nước Mỹ bị thù ghét bởi vì nước Mỹ đã yểm trợ cho những chính thể độc tài trên thế giới. Đó là một trong những nguyên do làm cho nước Mỹ trở thành mục tiêu của sự khủng bố. Đức Hồng Y nói: Có những nước như Canada, Thụy Điển, những nước khá lớn, mà tòa đại sứ của họ chưa bao giờ bị bỏ bom. Họ không trở thành mục tiêu của sự tấn công của quân khủng bố. Những nước đó không gieo nhân của sự thù ghét.

Tai nạn đến là do mình không có chánh niệm. Vì vậy, mình không biết mình đang làm gì, mình đang gieo hạt giống nào khiến cho sự thù hận, khiến cho tai nạn đến với mình. Trong đạo Bụt, chúng ta học được bài học rằng: yếu tố bảo vệ chúng ta vững chãi nhất là chánh niệm, là chánh định. Niệm và định đem tới tuệ. Tuệ cho chúng ta biết mình nên làm gì và không nên làm gì để đừng chiêu cảm tai nạn cho chúng ta. Lá thư của Đức Hồng Y đã được dịch và đăng trong tờ báo Pháp tên là Témoignage chrétien.

Trong truyền thống Việt Nam chúng ta hay nói, chính phúc đức của mình bảo vệ cho mình. Một chiếc xe đắt tiền cách mấy cũng không thể nào bảo vệ sinh mạng của mình. Nếu mình ăn ở có đức thì chẳng những mình bảo vệ cho mình mà còn bảo vệ được cho con cháu mình, xóm làng mình. Muốn chống lại tai nạn thì ta phải ăn ở cho có đức, phải có lòng từ bi, phải có sự thương xót. Điều đó đúng về phương diện cá nhân mà cũng đúng về phương diện tập thể. Một quốc gia mà hành xử từ bi với tất cả quốc gia khác thì quốc gia đó được bảo hộ bởi năng lượng từ bi, bởi cái đức của chính mình. Đó là ý hướng mà Đức Hồng Y ở Boston muốn tỏ bày cho tổng thống Bush.

Sự thực tập của chúng ta tại Làng Mai là mỗi ngày làm cho năng lượng của chánh niệm càng lớn, vì năng lượng của chánh niệm có khả năng bảo hộ ta. Hôm qua đi vào nhà bếp xóm Thượng, tôi thấy một số các thầy và các thiền sinh đang làm việc.

Tôi có hỏi một thiền sinh cư sĩ:
– Bác đang làm gì đó? 
Bác thiền sinh trả lời:
– Con đang nấu ăn.
Tôi nói:
– Bác trả lời như vậy thì tôi thất vọng quá. Bác phải trả lời là con đang thực tập hơi thở chánh niệm.

Cố nhiên, mình ở trong bếp là vì mình nấu ăn, chuyện đó đâu cần phải hỏi. Mình trả lời “con đang nấu ăn” thì cũng như mình cho là thầy mình không thông minh. Câu hỏi của thầy không phải là một câu hỏi! Câu hỏi của thầy là một tiếng chuông chánh niệm. Thầy biết chắc rằng mình đang nấu ăn, thầy chỉ hỏi để mình trở về với hơi thở chánh niệm. Trong khi nấu ăn mà mình theo dõi hơi thở thì trong suốt buổi nấu ăn đó mình đang tu tập năng lượng chánh niệm. Thầy trò giúp nhau là ở chỗ đó thôi. Câu hỏi của thầy là để nhắc nhở đệ tử thực tập chánh niệm.

 

Chấp nhận chính mình – linh chú thứ 6

(Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 15.01.2012 trong khoá An cư Kiết Đông)

 

 

Nếu chúng ta chấp nhận được mình, chúng ta biết mình là ai thì chúng ta cũng chấp nhận được người khác và biết được người khác là ai. Nếu chúng ta không chấp nhận được chính mình thì chúng ta cũng không chấp nhận được người khác.

Có những người trong chúng ta không chấp nhận được bản thân, chúng ta có mặc cảm mình thua người và giận bản thân của mình. Đã không chấp nhận được mình thì làm sao mình có thể chấp nhận được người khác? Không chấp nhận nhau thì sống với nhau không có hạnh phúc. Hạnh phúc trong đoàn thể được dựa trên sự thực tập chấp nhận.

Mình phải bắt đầu: Tôi chấp nhận tôi, tôi là một dòng tiếp nối, vì tổ tiên, ông bà, cha mẹ tôi như vậy nên bây giờ tôi chấp nhận như vậy. Trong tôi có những tài năng và những yếu kém, tôi chấp nhận những tài năng và những yếu kém đó trong tôi. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là tôi bất lực, bằng sự tu tập tôi có thể phát triển những tài năng và chuyển hóa bớt từ từ những yếu kém trong tôi. Hai công việc đi đôi với nhau, một bên là chấp nhận gia tài để lại, chấp nhận dòng liên tục và một bên là có ước mơ làm cho hay hơn, chấp nhận và ước mơ đi đôi với nhau.
 

 

Có tuệ giác đó thì mình sẽ không đau khổ khi người ta chê mình, tại vì nhìn vào mình mình thấy trong mình có những tích cực và những tiêu cực, có tài năng và yếu kém. Những tài năng hay yếu kém đó không hẳn là của một cái ngã riêng mà là do sự trao truyền. Mình phải chấp nhận tất cả và sự chấp nhận đem lại cho mình bình an. Mình chấp nhận rằng mình có những đức hạnh, những tài năng và những yếu kém.

Nếu có một người khen mình: Anh giỏi quá đi!

Mình phải biết phản ứng như thế nào cho đúng với chánh pháp. Mình có thể nói: Bạn nói đúng một phần nào đó, tại vì trong tôi có những tích cực thật. Nhưng bạn cũng nên biết rằng trong tôi cũng có những yếu kém, thành ra câu khen ngợi của bạn chỉ đúng một phần thôi.

Mình thoát ra khỏi cái mặc cảm hơn người. Khi được một người khen thì mình phải nói thầm trong bụng: Tôi có một vài cái tích cực như vậy. Nhưng tôi biết trong tôi có rất nhiều tiêu cực. Mình không nói ra nhưng mình nghĩ như vậy, mình giữ được sự khiêm nhường, mình không làm hư mình.

Ví dụ có người tới chê mình: Anh là đồ vô tích sự, anh là người có quá nhiều yếu kém! Mình đáp lại: Anh chỉ nói đúng một phần nào đó thôi. Tôi cũng có những đức tính rất tốt, tôi cũng có những tài năng.

Mình có thể đáp lại bằng lời nói hoặc bằng sự im lặng nhưng phải có câu: “Anh chỉ nói đúng một phần nào đó thôi” (You are only partly right) Đây là câu linh chú thứ 6. Mình có thể nói ra lời, nhưng nếu không nói ra thì chắc chắn mình cũng phải nói trong lòng mình. Khi một người tới khen mình, mình phải nhớ đọc câu linh chú đó: Anh quá khen, nhưng anh chưa thấy những yếu kém của tôi, anh chỉ thấy được một phần sự thật.

Chấp nhận được mình rồi thì mình có bình an và mình có khả năng chấp nhận được người kia. Mình không đòi hỏi người kia nữa, mình chấp nhận người đó như vậy thôi. Mình có sự mong ước người đó qua sự tu tập có thể phát triển cái hay, cái đẹp và làm giảm bớt cái không hay, không đẹp nơi người đó. Nhưng mong ước này không phải là áp lực hay sự phê phán. Mình đối xử với mình như vậy, mình thấy trong mình có cái tích cực và cái tiêu cực, mình chấp nhận hết cả hai và mình có sự bình an. Nhưng không ai ngăn cấm mình có ước mơ.

Với sự thực tập mình có thể làm lớn lên cái tích cực và làm giảm bớt cái tiêu cực. Mình đã ước mơ cho mình thì mình cũng ước mơ cho người kia như vậy. Vì vậy trước khi phê bình mình phải nhớ chấp nhận người đó trước. Thay vì nói em là một người vô tích sự, mình có thể nói: Em có nhiều cái hay lắm, nhưng em cũng còn những yếu kém. Chị muốn em thực tập như thế nào để giảm thiểu những yếu kém đó. Mình nói như vậy thì người kia sẽ hạnh phúc hơn vì có những người rất là mong manh, rất sợ soi sáng.

Khi đã chấp nhận được những yếu kém của chính mình, mình có bình an thì nhìn người khác mình có thể dễ dàng chấp nhận được họ. Nhìn người khác và chấp nhận được thì trong mắt của mình có ánh chấp nhận và người đó rất hạnh phúc. Nếu mình nhìn bằng con mắt soi mói, chỉ trích thì người đó sẽ rất khổ. Vì vậy mỗi người trong mình phải có ánh mắt chấp nhận: Anh ơi, chị ơi, em ơi, tôi chấp nhận anh, chấp nhận chị, chấp nhận em như vậy.
 

 

Con mắt của mình tỏa ra sự chấp nhận. Dù người đó có sự yếu kém và mình ước mơ người đó có thể chuyển hóa được, nhưng mình phải thấy rằng trong người đó cũng có những tích cực, không người nào mà không có những tài năng. Khi bị một người chỉ trích mình phải căn cứ trên tuệ giác đó để nói: Người đó chỉ thấy một phần của mình thôi mà chưa thấy hết được mình. Sự thật là như vậy, làm sao mình thấy được hết người kia? Chính mình mà mình còn không thấy được thì làm sao mình thấy được người kia?

Sống trong một đoàn thể mình phải có sự khiêm nhượng, mình phải thấy mình không có một cái ngã riêng biệt, mình là sự tiếp nối của dòng họ, tổ tiên. Tất cả những tài năng, đức hạnh mà mình có, mình đừng tưởng là của mình. Tất cả đều là do tổ tiên truyền lại, mình phải có lòng biết ơn tổ tiên đã trao truyền cho mình những hạt giống của tài năng, đức hạnh. Nếu có một hình hài mạnh khỏe, xinh đẹp, mình cũng đừng tự hào, tại vì đó là của tổ tiên chứ không phải của mình. Nếu mình có vài yếu kém, vài tật xấu thì đó cũng là của tổ tiên trao lại, mình đừng bị kẹt vào cái ngã và giận mình. Điều quan trọng nhất là chấp nhận, mình phải chấp nhận chính mình.

Chấp nhận chính mình không có nghĩa là chịu chết trong tình trạng đó, mình vẫn có thể có ước mơ, với sự thực tập mình có thể phát triển những tài năng, những tích cực và giảm thiểu những yếu kém. Mình đối xử như vậy đối với chính mình thì mình bắt đầu có thể đối xử với người kia cũng như vậy. Mình nhìn người kia bằng con mắt chấp nhận, người kia sẽ hạnh phúc lắm. Điều đó không có nghĩa là mình không ước mơ cho người đó, mình vẫn ước mơ người có thể phát triển những tích cực và chuyển hóa bớt những tiêu cực nơi họ. Nên câu linh chú thứ 6 mà tôi đề  nghị là: Anh nói đúng một phần (You are partly right )

Khi người ta khen mình thì chỉ đúng một phần, và khi họ chê mình thì cũng chỉ đúng một phần. Chúng ta, ai cũng có những tài năng và những yếu kém, mình đừng để cho khen hay chê làm mình đau khổ.

Mình cũng phải cẩn thận khi khen hay chê người khác. Mình chỉ nói những ước mơ của mình, mình đừng chê hoặc khen, mình đừng làm cho cái ngã của người kia hay cái ngã của mình bung ra.

Tóm lại là:

–    Không có một cái ta riêng biệt mà chỉ có một dòng tương tục như hình ảnh một dòng sông. Mình phải nhìn mình như dòng sông, mình là sự tiếp nối của tổ tiên, cha mẹ, ông bà mà không phải là một cái ngã riêng. Mình là tổ tiên, là ông bà, là cha mẹ.

–    Phải chấp nhận tất cả những tích cực và tiêu cực trong dòng tương tục đó. Một dòng sông do từ những dòng chảy khác nhau tới làm thành, mình thấy trong dòng sông đó một bên là nước đục và một bên la nước trong. Mình phải chấp nhận hết, tại vì dòng suối chảy vô thế nào thì dòng sông sẽ như thế đó.

–   Phải ước mong bồi đắp và chuyển hóa, bồi đắp những tích cực và chuyển hóa, thanh lọc những yếu tố đang còn tiêu cực trong dòng tương tục đó.

Đó là những điều mình làm cho mình về phương diện tự độ, tự tu. Làm được cho mình thì sự liên hệ giữa mình và những người khác sẽ tốt, tại vì nhìn người khác mình cũng thấy họ không có cái ta riêng biệt mà họ là những dòng tương tục. Nếu họ có tài năng thì đó là do tổ tiên, ông bà trao truyền cho họ và nếu họ có những hạt giống tiêu cực thì cũng do tổ tiên, ông bà trao truyền lại. Mình phải chấp nhận người đó như vậy. Khi mình đã có cái thấy thì mắt mình lộ ra sự chấp nhận, mình nhìn bằng hiểu và thương.

Hiểu là thương, mình nhìn người kia bằng con mắt chấp nhận thì họ sẽ đỡ khổ rất nhiều. Trong đoàn thể thỉnh thoảng có người hơi nhạy cảm, một cái nhìn hơi phê phán cũng làm người đó run lên và đau khổ. Đôi khi mình không phê phán, nhưng người đó lại nghĩ rằng mình phê phán, giống như con chim đã từng bị thương thấy cái cây hơi cong thì tưởng đó là cây cung sắp bắn mình. Vì vậy mình phải biết nhìn bằng con mắt chấp nhận, từ bi. Cái hiểu đưa tới cái thương, muốn hiểu thì phải có cái thấy, thấy rằng người đó không có một cái ta riêng biệt, người đó chỉ là một dòng tương tục, người đó đã tiếp nhận những tích cực và những tiêu cực từ quá khứ. Mình phải chấp nhận sư em, sư anh, sư chị mình như vậy.

 

 

Cách đây ba hôm, xóm Thượng họp và đồng ý cho ba em tập sự được xuất gia. Hôm qua tôi đưa ba em đi thiền hành với tôi ở Sơn Hạ. Khi được đại chúng chấp nhận thì mình biết là có hiểu và thương và mình có cảm tưởng thoải mái, hạnh phúc. Vì vậy mình phải tập nhìn những người trong đại gia đình của mình với con mắt chấp nhận. Điều đó không có nghĩa là mình không có ước mơ cho người đó.

Mình nói: Này sư em, sư em có những tích cực mà sư em nên giữa gìn và bồi đắp để sư em và đại chúng có hạnh phúc. Nhưng sư em có một vài tiêu cực mà sư em có thể tự lực hoặc nhờ chúng giúp sư em chuyển hóa từ từ để cho sư em và chúng có hạnh phúc thêm. Mình nhìn và nói được như vậy thì người kia sẽ không đau khổ và phẩm chất của an lạc, hạnh phúc trong đại chúng được nâng cao.

Con mắt của mình nói được rất nhiều, nhiều khi mình không nói nhưng mắt của mình nói.  Mình phải có cái thấy để mắt nói lên được sự chấp nhận người kia. Mình là một gia đình, phải chấp nhận nhau thì mình mới có hạnh phúc và có cơ hội đem lại hạnh phúc cho những người khác. Chấp nhận được chính mình thì mình có an lạc, hạnh phúc và chấp nhận được mình rồi thì mình sẽ chấp nhận được người khác. Hạnh phúc trong nếp sống cộng đồng sẽ trở thành sự thật.

Làm tri kỷ của chính mình

(Trích trong sách “Áo vách núi” – Chân Đẳng Nghiêm)

 


Khi có một người hiểu mình, thấu rõ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình thì người đó được gọi là “soul mate” hay “kindred spirit” trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt con thấy có hai từ rất hay và rất nhiều ý nghĩa. Chúng ta gọi người đó là tri kỷ hay tri âm. Khi dùng tiếng Anh là soul mate hay kindred spirit, ta thường nghĩ đó là một người nào khác ở ngoài mình. Nhưng trong tiếng Hán-Việt, tri có nghĩa là hiểu, biết, nhớ, làm chủ; kỷ là chính mình. Vậy thì tri kỷ có nghĩa là hiểu mình, biết mình, nhớ đến mình và làm chủ được mình. Chúng ta đang nói đến một người biết mình nhiều đến nỗi người đó có thể hiểu mình, nhớ đến mình, và làm chủ được mình. Người này là ai nếu không phải là chính chúng ta? Nếu chúng ta không làm được cho chính mình thì ai làm được cho mình?

Nói một cách khác, ta có từ tri âmTri là để biết, để hiểu, để nhớ, để làm chủ. Âm là âm thanh; để biết các âm thanh, để biết tiếng nói của chính mình. Bạn có biết âm thanh của bạn? Bạn có biết giọng nói của bạn? Bạn có biết nguyện vọng của bạn? Bạn có biết nỗi buồn của bạn? Sự tức giận của bạn? Sự bồn chồn bất an của bạn? Bạn có biết đến và hiểu rõ những điều đó không? Bởi vì nếu chúng ta dành cả một đời để tìm kiếm một người nào đó có thể biết tiếng nói và âm thanh của chúng ta, để hiểu chúng ta, thì chúng ta sẽ thất vọng. Bởi vì có thể là những người đó cũng như chúng ta, không phải là “tri âm” và “tri kỷ” của chính họ. Điều này cũng giống như người mù dẫn đường cho người mù. Hai người cô đơn đến với nhau thì sẽ cảm thấy cô đơn hơn cả trăm ngàn lần.

Thiền sư Trí Bảo ở thế kỷ thứ 12 đã nói: “Tri thức mãn thiên hạ, tri âm năng kỷ nhân?” (Quen biết đầy thiên hạ, tri âm được mấy người?). Bao nhiêu người trong số đó là tri âm hay tri kỷ của mình? Đó là thế kỷ thứ 12, và thời đại bây giờ, với kỹ thuật tân tiến, chúng ta càng thật sự quen biết bạn bè khắp thế giới. Chúng ta có thể dùng fax, gởi e-mail, gọi điện thoại. Thật là dễ dàng để liên lạc với người khác, nhưng trong tâm ta vẫn bồn chồn bất an, luôn muốn liên lạc với một người nào đó hiểu, biết mình. Chúng ta có thể biết nhiều người trên toàn cầu, nhưng có lẽ chúng ta vẫn cảm thấy hoàn toàn cô độc. Chúng ta tự hỏi ai là người biết mình. Người luôn ở trước mặt mình, người thức dậy với mình – người đó có thật sự hiểu biết mình không? Chúng ta có dám đặt câu hỏi này không? Chúng ta có nơm nớp sợ câu trả lời không?

Trong sự tu tập, chúng ta học cách trở thành người tri âm, tri kỷ của chính mình. Mỗi ngày, chúng ta thực tập thiền hành. Các bạn có tiếp xúc được với những bước chân của mình không? Các bạn có thưởng thức những bước chân của mình không? Các bạn có cười với hoa không? Các bạn có ý thức được hơi thở không? Với ý thức sáng tỏ đó chúng ta đang tiếp xúc với thân ta, ta biết âm thanh của cơ thể mình, của hơi thở mình, ta thở ra sao, ta đi ra sao. Và như vậy mình đang là “tri kỷ” của mình. Bất kỳ chúng ta đang làm gì – ta đứng, ta đi, ta ngồi, ta nằm, ta nói, ta im lặng, hay ta đang ăn – bất kỳ đang làm gì, nếu tâm biết đến thân, có ý thức về những cảm thọ, tri giác, tâm hành, và tâm thức, thì khi đó chúng ta là tri âm, tri kỷ của mình. Đây là những điều chúng ta có thể học hỏi và trau dồi trong đời sống hàng ngày với sự thực tập chánh niệm. Khi biết rằng sự bồn chồn, trạo cử và những khao khát được có người hiểu mình vẫn còn trong tâm, chúng ta có thể trở về để thực hiện các khao khát đó. Những điều mình làm bên ngoài, dù thành công hay không có thể cũng không thành vấn đề; vì trước hết chúng ta phải hiểu rõ bản thân và thiết lập một liên hệ sâu sắc với chính mình.

 

Bốn câu linh chú

 

 

Bốn câu linh chú là một pháp môn mà tôi mong quý vị thực tập mỗi ngày. Mỗi câu linh chú là một linh dược, mỗi lần đọc lên là tình trạng sẽ chuyển đổi ngay lập tức, không cần phải đợi thời gian. Đó là một công thức thần diệu chúng ta phải đọc lên đúng lúc. Và điều kiện làm cho nó trở nên hiệu nghiệm là chánh niệm và chánh định, nếu không có chánh niệm và chánh định nó sẽ không có kết quả.

Thực tập

Câu linh chú thứ nhất : “Em ơi, tôi đang có mặt đây cho em”.

Chúng ta không cần phải thực tập bằng tiếng Sanskrit hay Tây Tạng, chúng ta chỉ cần dùng ngôn ngữ của mình. Tại sao ta phải thực tập câu linh chú này? Bởi vì khi thương ai, chúng ta muốn hiến tặng cho người đó cái gì tốt đẹp nhất của ta. Và điều tốt đẹp nhất mà ta có thể hiến tặng cho người thương là sự có mặt đích thực của mình.

Câu linh chú thứ hai : “Em ơi, tôi biết là em ở đó và tôi rất hạnh phúc”.

Thương nghĩa là công nhận sự có mặt của người mình thương. Chúng ta phải có thời giờ, nếu chúng ta quá bận rộn làm sao ta có thể công nhận sự có mặt của người đó? Điều kiện để thực hiện câu linh chú này là ta phải có mặt một trăm phần trăm. Nếu không có mặt thì ta không thể nhận diện sự có mặt của người kia. Nếu ai đó thương mình, mình cần người đó biết rằng mình đang có mặt đây.

Chúng ta chỉ có thể thương yêu khi chúng ta có mặt thật sự. Để có mặt, chúng ta có thể thực tập: thở chánh niệm, thiền hành hay phương pháp nào giúp ta có mặt đích thực cho người mình thương như một con người tự do. Bởi vì có mặt nên ta có chánh niệm. Nhờ có chánh niệm mà khi người thương của ta đau khổ là ta biết được tình trạng của người ấy. Khi nhận diện khổ đau của người ấy, chúng ta phải thực tập có mặt sâu sắc một trăm phần trăm. Rồi đến bên người ấy và đọc câu linh chú thứ ba.

Câu linh chú thứ ba : “Em ơi, tôi biết em đang đau khổ, vì vậy mà tôi có mặt đây cho em”.

Khi đau khổ, ta muốn người ta thương ý thức được nỗi khổ của ta. Điều này rất con người, rất tự nhiên. Nếu người mà ta thương không biết ta đang đau khổ, hay phớt lờ sự đau khổ của ta, ta sẽ khổ nhiều hơn. Vì vậy nếu người ta thương ý thức được là ta đang đau khổ thì nổi khổ của ta sẽ vơi đi rất nhiều. Trước khi người ấy làm một điều gì đó để giúp đỡ mình thì mình đã bớt khổ đi rồi. Đây không chỉ là sự thực tập của con cái mà là sự thực tập của tất cả mọi người. Điều này có thể tạo ra rất nhiều hạnh phúc trong gia đình. Chúng ta thử thực tập vài tuần sẽ thấy tình trạng trong gia đình được chuyển hóa một cách bất ngờ.

Câu linh chú thứ tư : “Em ơi, anh đang khổ, xin hãy giúp anh”.

Câu linh chú thứ ba được sử dụng khi người mà ta thương đau khổ. Còn câu linh chú thứ tư này được sử dụng khi chính ta đau khổ. Chúng ta tin rằng người ta thương yêu nhất gây ra đau khổ cho ta, vì vậy ta gặp rất nhiều khó khăn. Khi người mà ta rất thương yêu nói điều gì đó hoặc làm điều gì đó gây cho ta tổn thương, ta sẽ đau khổ nhiều hơn. Nếu người nào khác nói và làm điều đó thì ta lại không đau khổ nhiều như vậy. Đằng này người mà ta thương nhất trên đời đã làm điều đó, nói điều đó. Cho nên ta không thể chịu đựng nổi. Ta đau khổ hơn cả trăm lần. Vì vậy đây là lúc ta cần thực tập câu linh chú thứ tư. Chúng ta phải đi đến người mà thương yêu nhất, người vừa làm tổn thương ta tột cùng, với tỉnh thức tràn đầy, với chánh niệm và chánh định, và nói lên câu linh chú thứ tư này. Điều này hơi khó, nhưng nếu tập luyện thì ta có thể làm được. Thông thường, khi đau khổ mà mình tin rằng chính người mình thương yêu nhất làm cho mình đau khổ, thì ta có khuynh hướng muốn ở một mình. Chúng ta nhốt mình trong phòng và khóc một mình. Chúng ta không muốn nhìn người đó, không muốn nói chuyện với người đó, không muốn người đó đụng đến mình. – “Hãy để tôi yên!” –  Điều này rất tự nhiên, rất con người. Thậm chí nếu có ai đó cố gắng lại gần để hòa giải, ta còn nổi giận hơn.

Chúng ta có thể thực tập được câu linh chú thứ tư này không? Dường như chúng ta không muốn thực tập bởi vì chúng ta thấy mình không cần sự giúp đỡ của người đó. Chúng ta muốn một người nào khác giúp đỡ mà không phải người đó. Chúng ta muốn độc lập – “Tôi không cần anh!” Chúng ta tự ái, vì vậy câu linh chú thứ tư rất quan trọng. Hãy đến với người đó, thở vào thở ra thật sâu, trở về với chính mình một trăm phần trăm và dùng tất cả định lực của mình để nói rằng mình đang đau khổ và mình cần người đó giúp đỡ.

Để có thể thực tập điều này, chúng ta phải tập luyện một ít. Chúng ta hay có khuynh hướng nói với người này rằng chúng ta không cần họ. Không có người kia mình vẫn sống sót được, mình hoàn toàn tự lập. Nhưng nếu chúng ta biết dùng tuệ giác để nhìn nhận vấn đề, thì ta sẽ thấy rằng hành xử như thế là không thông minh. Bởi vì khi thương nhau, chúng ta cần có nhau, nhất là những khi ta đau khổ. Chúng ta có chắc là đau khổ của ta do người đó gây ra không? Có thể chúng ta lầm. Có thể người đó không làm điều đó, không nói điều đó để làm ta đau. Có thể chúng ta đã hiểu lầm, có thể đó là tri giác sai lầm của ta.

Chúng ta phải luyện tập từ bây giờ để chuẩn bị cho lần tới, khi có đau khổ, chúng ta có thể thực tập câu linh chú thứ tư. Thực tập đi thiền, ngồi thiền, thở chánh niệm để phục hồi lại chính mình. Sau đó đến với người đó và thực tập câu linh chú này: ‘Em ơi, anh quá đau khổ. Em là người mà anh thương nhất trên đời. Em hãy giúp anh đi.’ Đừng để tự ái ngăn cản mình đến với người kia. Trong tình thương đích thực không có chỗ cho sự tự ái. Nếu tự ái còn đó, thì chúng ta phải biết rằng chúng ta cần thực tập để chuyển hóa tự ái của mình thành tình thương yêu đích thực.

Con em mình còn rất trẻ, chúng còn rất nhiều cơ hội để học hỏi và luyện tập. Tôi tin chắc rằng nếu chúng được dạy dỗ và thực tập ngay từ bây giờ thì sau này khi khổ đau, chúng sẽ thực tập dễ dàng, bởi vì chúng nghĩ người mà chúng thương yêu nhất đã thực tập như thế, đã nói như thế đối với chúng. Tôi không nghĩ rằng chúng sẽ sử dụng câu linh chú thứ tư thường xuyên, nhưng đây là một câu linh chú rất quan trọng. Có thể chúng chỉ sử dụng câu linh chú này một hoặc hai lần trong năm nhưng cực kỳ quan trọng. Hãy viết câu linh chú xuống và giữ nó đâu đó để mỗi khi con em mình đau khổ, hãy khuyến khích chúng đến tìm câu linh chú này để thực tập.

xem bài khác cùng chủ đề>>

Sách thiếu nhi “Mẹ con sư tử”

 

 

HÃY LÀ CHÚ SƯ TỬ MẠNH MẼ TRONG ĐỜI!

“Sư tử mẹ nhìn sư tử con mỉm cười. Nó nhảy qua bên kia bờ suối đi vào rừng thì sư tử con cũng mỉm cười, nhảy theo mẹ, vượt qua suối vào rừng. Sư tử con biết rằng, nó không phải là khỉ, nó là sư tử. Từ đó hai mẹ con được đoàn tụ hạnh phúc”…

Câu chuyện giản dị, gần gũi được Sư Ông THÍCH NHẤT HẠNH kể lại như một ngụ ngôn giàu hàm nghĩa, khơi nguồn những điều thiện hảo trong tâm hồn.

Hãy là chú sư tử mạnh mẽ trong đời.

 

Bạn đọc có thể mua sách tại đây:

Phanbook 

Thiền điện thoại

 


 

Đừng xem thường lời nói của chúng ta, những lời nói chánh ngữ có ảnh hưởng rất lớn, có khả năng xây dựng nên sự hiểu biết và thương yêu. Lời nói có thể đẹp như châu ngọc, đáng yêu như hoa, và có thể đem lại hạnh phúc cho rất nhiều người. Nhưng thông thường, khi nói chuyện qua điện thoại, chúng ta quá bận rộn, làm chuyện này đến chuyện khác mà không để ý đến lời nói của mình.

Điện thoại là một phương tiện truyền thông rất tiện lợi, đặc biệt là điện thoại di động, càng tiện lợi hơn nhiều, có thể giúp ta tiết kiệm thời gian đi lại và phí tổn. Nhưng điện thoại cũng khống chế chúng ta. Nếu điện thoại cứ reo liên tục, chúng ta cũng mệt mỏi và không làm được gì cả. Nếu chúng ta nói chuyện điện thoại không có ý thức, chúng ta sẽ lãng phí nhiều tiền bạc và thời gian quý báu. Thông thường chúng ta hay nói những điều không cần thiết, trong khi chung quanh chúng ta có rất nhiều niềm vui xảy ra trong giây phút hiện tại như có một em bé muốn nắm tay ta đi chơi, hay tiếng chim hót, hay ánh nắng mặt trời đang tỏa chiếu khắp nơi.

Khi chuông điện thoại reo, tiếng chuông tạo ra trong ta một xung động, có thể đó là sự lo lắng, như: “Ai gọi vậy? Tin tốt hay tin xấu đây?” Rồi có một sức mạnh kéo chúng ta đi tới điện thoại. Chúng ta không thể kháng cự được. Và chúng ta có thể trở thành nạn nhân của chính cái điện thoại chúng ta.

Thực tập

Lần tới, khi điện thoại reo, chúng ta hãy ngồi yên tại chỗ và ý thức về hơi thở của mình: “Thở vào, tôi an tịnh toàn thân. Thở ra, tôi mỉm cười.” Khi điện thoại reo lần thứ hai, ta cũng thở như thế. Điện thoại reo lần thứ ba, ta cũng tiếp tục thực tập hơi thở, sau đó ta mới nhấc điện thoại lên. Hãy luôn nhớ rằng, ta có thể làm chủ chính mình, an trú trong chánh niệm và đi như Bụt đi. Khi nhấc điện thoại lên, chúng ta mỉm cười, mỉm cười không chỉ cho riêng ta mà còn cho cả người kia nữa. Nếu chúng ta cáu kỉnh hoặc nổi giận, thì người kia sẽ nhận được nguồn năng lượng tiêu cực đó. Nhưng nếu chúng ta mỉm cười thì người kia sẽ may mắn nhận được nguồn năng lượng tươi mát của ta.

Trước khi gọi điện cho ai, hãy thở vào, thở ra hai lần và đọc thầm bài thi kệ:

Tiếng đi ngoài ngàn dặm
Xây dựng niềm tin yêu
Mỗi lời là châu ngọc
Mỗi lời là gấm thêu.

Rồi nhấc điện thoại lên và bấm số. Khi chuông điện thoại reo, có thể người bạn của ta cũng đang thở, mỉm cười và sẽ không nhấc điện thoại lên ngay cho đến tiếng chuông thứ ba. Hãy tiếp tục thực tập: “Thở vào, tôi an tịnh toàn thân. Thở ra, tôi mỉm cười.” Cả hai, mình và người bạn bên kia đầu dây đều đang thở và mỉm cười. Thật đẹp! Mình không cần phải đi vào thiền đường mới thực tập điều mầu nhiệm này. Nó có sẵn trong nhà hay trong văn phòng của ta. Thực tập thiền điện thoại có thể giúp ta trung hòa những căng thẳng hay trầm cảm trong ta và ta có thể mang Bụt vào đời sống hàng ngày của mình.

Sách thiếu nhi "Bồ Tát ngàn tay ngàn mắt"

 

Bồ tát ngàn tay ngàn mắt thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

VÌ SAO SƯ ÔNG ĐI TU?

“Bé Em ngày xưa nay là Sư Ông, một thiền sư đi giảng dạy chánh niệm, đem bình an đến cho hàng triệu người, và đã có hàng trăm ngàn đệ tử xuất gia, tại gia ở Việt Nam, Tây phương và khắp nơi trên thế giới”…

Qua cuốn sách này, bạn đọc sẽ được dõi theo những câu chuyện giản dị, trong trẻo của những em nhỏ ngoan ngoãn, thông minh và sớm có ước mơ cao đẹp. Bạn sẽ biết được “Vì sao Sư Ông đi tu?”, “Bụt là ai?”, “Bụt ở đâu?”, “Bồ Tát Ngàn Tay Ngàn Mắt là ai?” và nhận ra ngay trong chính mình cũng có nhiều phẩm chất tốt đẹp như các em nhỏ nơi đây.

 

Về Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH

“Thích Nhất Hạnh là một trong những tiếng nói quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Hơn bao giờ hết, đây là lúc chúng ta cần lắng nghe vị thầy này.” – Sogyal Rinpoche

 

Bạn đọc có thể mua sách tại đây:

Phanbook

Sách mới xuất bản “Người Thầy của tỉnh thức và thương yêu”

 

 

“Bạn đọc đang có trên tay một cuốn sách rất thú vị Người Thầy Của Tỉnh Thức & Thương Yêu.

Đây là tập hợp một số bài báo trong hàng vạn bài viết về Thiền sư Thích Nhất Hạnh của các cây bút nổi tiếng trên thế giới. Có thể xem cuốn sách này như một tập chân dung về Thiền sư Thích Nhất Hạnh được “ký họa” ở nhiều góc độ khác nhau, dưới con mắt quan sát, qua “cái thấy” của người nước ngoài.

Một điều thú vị là qua những bài viết ở đây, chúng ta phát hiện ra, người phương Tây tìm đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh không chỉ để giãi bày, chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau, tìm lại niềm vui sống giữa đời mà họ còn tìm cầu tuệ giác của ông trong việc làm thế nào để điều hành doanh nghiệp tốt hơn, giảm bớt stress, căng thẳng, phát huy nhiều hơn nữa sự sáng tạo, trên cơ sở đó để tăng lợi nhuận. Họ là những CEO của các tập đoàn kinh tế khổng lồ như Google, Yahoo, Ngân hàng Thế giới (World Bank). Họ còn là những thượng nghị sĩ Mỹ, những ngôi sao Hollywood nổi tiếng, những chính khách lừng danh… Qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chỉ bày cho họ hướng đi tâm linh trong đời sống, trong sự nghiệp cùng những phương pháp thực hành rất cụ thể. Tu tập theo ông, người ta sẽ thấy trí tuệ và lòng từ bi tăng trưởng, nhờ thế mà an lạc thân tâm.”

(Nhà thơ Trần Đăng Khoa)

 

Bạn đọc có thể mua sách tại đây:

Nhà sách Phương Nam 

Sách Khai Tâm

Khổ đau trên thế giới

Sư Ông Làng Mai trả lời những câu hỏi từ Facebook

Câu hỏi: Làm thế nào để chống lại những bất công trên thế giới mà không bị chìm đắm trong sự giận dữ, cay đắng, phẫn nộ và oán hận ?

 

 

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Chúng ta cứ tưởng tượng có một ông bác sĩ, ông gặp rất nhiều bệnh nhân và ông nói:“ Làm thế nào mà tôi thấy vui vẻ, khỏe mạnh được trong khi nhiều người chung quanh tôi đều bị bệnh?“ Chúng ta biết là nếu ông bác sĩ cũng bị bệnh thì không còn hy vọng gì nữa cả. Bổn phận của ông bác sĩ là phải giữ cho mình được khỏe mạnh để có thể chữa trị cho các bệnh nhân.

Cũng tương tự như vậy, nếu thấy có quá nhiều người đau khổ chung quanh mà ta không biết cách nào để đau khổ ít hơn, ta không biết cách nuôi dưỡng mình bằng niềm vui và hạnh phúc thì ta sẽ không giúp được gì cho ai cả. Có một phương pháp thực tập có thể giúp ta bớt khổ đau để ta có thể giúp được cho những người đau khổ nhiều hơn mình, đó là sự thực tập chánh niệm.

Chúng ta biết là có rất nhiều yếu tố tươi mát đang có mặt cho mình như nước mát, không khí trong lành,…những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt ở trong ta và chung quanh ta. Nếu tiếp xúc với những yếu tố đó thì ta được nuôi dưỡng và trị liệu. Và khi ta đau khổ ít, ta nuôi dưỡng được mình bằng niềm vui và hạnh phúc thì ta sẽ có khả năng giúp được cho những người xung quanh mình.

Sự thực tập của chúng ta là phải tự bảo hộ cho mình, không để bị tràn ngập bởi những đau khổ chung quanh. Điều này ta có thể làm được bằng sự thực tập chánh niệm. Ta ý thức là không khí trong lành, ánh sáng mặt trời, nước mát và rất nhiều mầu nhiệm của sự sống đang có mặt cho ta. Đất Mẹ có mặt đây để nuôi dưỡng và trị liệu cho ta. Nếu ta ý thức được điều đó và để cho Đất Mẹ cùng những mầu nhiệm của sự sống nuôi dưỡng và trị liệu thì ta mới có thể giúp ích được cho những người chung quanh mình.

Ông bác sĩ phải biết chăm sóc cho mình. Ông phải ý thức là sức khỏe và hạnh phúc của mình rất cần thiết cho những bệnh nhân đang tìm đến ông để được chữa trị. Sự thực tập thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, thực sự có mặt trong giây phút hiện tại để được nuôi dưỡng và trị liệu bởi thiên nhiên là sự thực tập rất quan trọng.

Khi ta dừng lại mọi rong ruổi, tìm cầu thì ta mới có thể thật sự có mặt trong giây phút hiện tại để được nuôi dưỡng và trị liệu bởi những yếu tố tươi mát của thiên nhiên. Khi đó ta sẽ chuyên chở năng lượng của bình an, niềm vui và hạnh phúc để giúp cho người khác bớt khổ hơn.

Chung quanh ta có rất nhiều hận thù, giận dữ, cay đắng, v.v. Nếu ta không biết cách trở về với tự thân để chăm sóc cho mình thì ta sẽ bị tràn ngập bởi năng lượng tập thể của sự hận thù, giận dữ, cay đắng đó. Vì vậy chăm sóc cho chính mình là điều rất quan trọng! Muốn như vậy thì ta phải biết cách trở về với hải đảo tự thân trong chính mình bằng hơi thở và bước chân chánh niệm để làm lắng dịu hình hài và cảm thọ của mình. Khi đó trong ta bắt đầu có sự bình an, tĩnh lặng và ta có thể thấy được rõ hơn. Ta biết điều gì nên làm và điều gì không nên làm để đừng đưa đến tình trạng tệ hại hơn.

Chúng ta nhận ra rằng chỉ cần một hơi thở vào hay một bước chân chánh niệm cũng đã có thể giúp ta có được một chút lắng dịu và bình an. Vì vậy ta đừng nên chịu chết, ta phải biết là luôn luôn còn có hy vọng. Ta không nên cảm thấy bất lực, tại vì nếu biết cách thực tập thở trong chánh niệm và đi trong chánh niệm thì một hơi thở vào hay một bước chân thôi cũng có thể làm thay đổi tình trạng rồi.

Vấn đề ở đây không chỉ là “mình làm được gì?“  Thường thì chúng ta  có ước muốn phải làm một cái gì đó để giúp cho thế giới bớt khổ. Nhưng “hành động“ (to do) chỉ là một trong những điều mà ta có thể cống hiến. “Sự có mặt“ (to be) cũng là một cách hành động. Nếu trong ta có sự thư giãn, sự bình an và lòng từ bi thì đó đã là hành động rồi. Cách ta nhìn người kia cũng có thể giúp được cho người đó rất nhiều. Nếu trong ta có sự bình an, tĩnh lặng và lòng từ bi thì sự có mặt của ta đã giúp ích được rất nhiều rồi. “Sự có mặt“ rất quan trọng và nó là nền tảng cho hành động. Trước hết mình phải có bình an trong tự thân, rồi sau đó mình mới có thể hành động để đem lại bình an cho người khác (To be peace first and to do peace later).

Chúng ta nói đến yếu tố tăng thân. Nếu thực tập với những người bạn nắm vững được phương pháp “có mặt“, có mặt một cách thư giản, bình an, tươi mát và lành mạnh thì ta sẽ được yểm trợ bởi năng lượng tập thể hùng hậu của sự bình an, niềm vui, hạnh phúc và ta có thể giúp được được rất nhiều người. Khi chúng ta có sự bình an, tươi mát và lòng từ bi thì năng lượng tập thể của sự bình an, sự tươi mát và lòng từ bi đó đã là sự đóng góp cho bình an và hạnh phúc trên thế giới. Chính năng lượng bình an và từ bi sẽ cho ta biết cần phải làm gì để nuôi lớn bình an, sự tươi mát và niềm vui cho thế giới này.

Câu trả lời là: Chúng ta phải thực tập chánh niệm để tự bảo hộ mình, không để cho năng lượng lượng tập thể của hận thù, bạo động, giận dữ, … cuốn mình đi. Đồng thời ta phải biết cách trở về với hải đảo của bình an, tươi mát và từ bi trong tự thân. Nếu chúng ta có một nhóm bạn cùng thực tập như vậy thì chúng ta sẽ là chỗ nương tựa cho nhiều người khác. Vì vậy xây dựng một tăng thân cùng nhau tu tập là điều rất quan trọng!