Thư Gửi Thầy

 

Thầy kính thương,

Những năm còn có cơ hội gần gũi, thầy trò mình đã nói với nhau rất nhiều chuyện, chia sẻ với nhau rất nhiều tháng ngày hạnh phúc. Vậy mà có những chuyện con vẫn chưa kể Thầy nghe. Đó là những gì con học được từ Thầy, những kỷ niệm đã và đang làm cho tháng ngày của con đi qua đẹp như một giấc mơ. Ngày ấy Thầy thường nhắc: “Hiện tại đẹp quá, sự thật mà mình cứ tưởng là một giấc mơ”. Ngày nào mình cũng sống tỉnh thức trong giấc mơ đẹp ấy Thầy nhỉ!

Ngày đầu khi bước chân tới Làng, còn bỡ ngỡ, con chưa cảm nhận được tình Thầy. Con còn nhớ lần đầu tới chào Thầy ở thất Ngồi Yên vào ngày quán niệm ở xóm Thượng, các chị em qua cùng lúc với con cảm động và khóc khi được Thầy ôm. Con lúc đó vẫn đứng ngẩn người ra với thắc mắc: “Tại sao các sư chị lại khóc nhỉ?”. Xuất gia và sống ở Việt Nam, chúng con không được gần Thầy. Với những đứa khờ dại như con thì không thể nào cảm nhận một cách trực tiếp tình thương của Thầy, chỉ biết Thầy qua băng giảng và những câu chuyện của quý thầy, quý sư cô kể thôi. Đến đây ở một thời gian với sự hiện diện của Thầy, con mới thấy quý và ấm áp trong lòng. Con kính phục Thầy từ cách sống đơn giản, gần gũi đến sự lân mẫn của Thầy với tất cả mọi người, đặc biệt Thầy rất kiên nhẫn với các sư con dại dột và nhút nhát của Thầy.

Tình thương từ Thầy thì luôn có đó từ lúc ban đầu, sự tiếp nhận của con thì chỉ đến từ từ. Ban đầu, khoảng cách giữa thầy và trò dừng ở mức kính trọng và ngưỡng mộ mà không thể nào có sự thoải mái. Con vẫn sợ và ngại đến chơi. Những lúc ngồi gần Thầy thì run lắm, cảm giác không biết phải làm gì, nói gì. Thầy biết điều đó. Thầy thường kể bao nhiêu là chuyện, hỏi thăm để con có thể thấy thoải mái hơn… Con chỉ thích mỗi một việc dễ nhất là im lặng ngồi đưa võng cho Thầy thôi mà chẳng cần phải làm gì. Nói chuyện với người lớn mình biết nói gì bây giờ, lỡ nói điều gì không phải, không nên nói thì sao. Mà không nói gì thì cứ thấy sợ, không khí xung quanh bỗng trở nên ngột ngạt. Có lần Thầy hỏi con: “Sao, ngồi với Thầy con có thấy thoải mái không?”. Con trả lời: “Dạ được ạ, chỉ cần đừng nói gì là được, vì con không biết nói gì đâu”. Thầy chỉ cười và động viên: “Không cần nói gì đâu con, chỉ cần ngồi chơi, thở, cảm thấy thoải mái là đủ rồi”. Những buổi ngồi chơi với Thầy bỗng trở nên dễ chịu và sâu lắng, vì con chỉ cần đưa võng và cùng ngắm cảnh vật xung quanh thôi. Tình thầy trò bắt đầu từ đó một cách êm đềm, thầm lặng. Lời nói và những câu chuyện xuất hiện một cách tự nhiên sau đó không lâu, khi sự thoải mái đến một cách lặng 57 lẽ và thầy trò cảm thấy có sự thông thương. Giữa những buổi ngồi chơi có sự yên lặng và có cả tiếng cười. Sau này, con có thể kể rất nhiều chuyện cho Thầy nghe và nhiều khi thầy trò bàn với nhau về rất nhiều đề tài, chuyện tu học, chuyện trong tăng thân, trong sách vở,… Đôi khi thấy Thầy tự lấy tay đẩy võng, con mới nhận ra là mình bận nói mà tay quên đưa võng mất rồi.

 

 

Con thích được giúp Thầy.

Sơn Cốc rất gần xóm Mới nên chị em con có cơ hội được đưa cơm và qua thăm Thầy dường như mỗi ngày. Thời ấy sao con hay trốn thế, tự tìm đủ mọi lý do, như là nghĩ mình đã nấu ăn rồi, thường gặp Thầy hơn, mình nên để cơ hội cho các chị em khác. Bây giờ nghĩ lại, những ngày con đưa cơm cho Thầy cũng chẳng được bao nhiêu, nhưng lần nào cũng thật đáng nhớ. Con thích qua Sơn Cốc những ngày mùa xuân và những ngày đầu hè, tiết trời còn ấm. Ít khi chúng con gặp Thầy ở trong nhà mà phải tìm Thầy tuốt ngoài vườn. Thầy thích đi thiền hành, nằm đưa võng chơi hưởng không khí ấm áp, trong lành và sinh động của mùa xuân. Lúc nào gặp Thầy ngoài trời chúng con cũng được Thầy mời ngồi chơi, ngắm cảnh với Thầy một lúc thì thầy trò mới nhớ tới bữa cơm.

Thầy thích nhất là mùa măng ở Sơn Cốc, thường là vào cuối xuân, khoảng tháng Tư đến tháng Năm. Nếu Thầy đi vắng trúng vào mùa đó là Thầy tiếc lắm và luôn dặn các con ở nhà nhớ hái măng cho Thầy. May mắn lắm mới được một năm Thầy ở nhà vào mùa măng. Vậy là tha hồ mà tận hưởng những phút giây bẻ măng, lột măng, luộc măng cất tủ lạnh và thế nào Thầy cũng kho sẵn một nồi với đậu hũ để đãi các sư con đến ăn cơm chung. Măng Thầy kho chín mềm, có vị cay cay của tiêu, ngon tuyệt! Các anh chị em chúng con đứa nào đến Làng cũng mơ ước được thưởng thức món măng kho của Thầy, ăn với cơm trắng, nhất là vào những ngày đông lạnh.

Con thích sự giản dị, mộc mạc của Thầy. Có lần sau khi dạy các chị em bẻ măng xong, Thầy dạy con ra vườn rau với Thầy để hái xà lách thêm cho bữa cơm chiều. Rau ở vườn Thầy mùa xuân tươi tốt lắm. Tiết trời thuận lợi nên xà lách lên xanh non mơn mởn. Con chỉ đi theo giúp mà không biết mình sẽ giúp gì. Tới nơi, Thầy cầm kéo cắt rau rồi xoay qua con thì con không có rổ để đựng. Vậy là Thầy bày cho con túm tà áo nhật bình phía trước lên tạo thành cái rổ để đựng rau. Con thấy vui vui làm theo. Thầy trò cứ thong thả hái rau. Thầy hái được lá nào thì bỏ vào cái rổ áo của con. Con chỉ việc tòn ten theo Thầy. Sau đó thầy trò vào nhà và chúng con được đãi thêm món rau trộn tươi ngon nữa.

Một buổi chiều qua Sơn Cốc vào lúc trời sắp chuyển mưa, Thầy nhờ con: “Con giúp Thầy chạy ra vườn lấy cái võng hồi chiều Thầy nằm vào, không thì trời mưa ướt, phải ‘chạy’ mới kịp nhưng phải chạy trong chánh niệm”. Thực ra thì con thường lén chạy những lúc gấp gáp cho chuyện gì đó, dù biết như vậy là không được phép và đánh mất bước chân của mình. Nhưng được Thầy nhờ chạy và chạy trong chánh niệm thì khác! Cảm giác vui và ý thức là mình đang chạy làm con có mặt trọn vẹn cho những gì con đang làm và vừa kịp trước lúc mưa xuống. Con giỏi quá Thầy ha!

Lúc còn nhỏ tuổi đôi khi có gì lo lắng, thắc mắc con thường hỏi Thầy để được chỉ dạy. Khi chuẩn bị bước tới năm tuổi của mình, con có một sự lo lắng nhỏ là lo bị xui xẻo. Thông thường mình hay lo lắng cho những gì thường xảy ra nhất, rồi ai ai cũng tin như vậy thành ra nó trở thành một sự thật và là chuyện đương nhiên nếu nó có xảy ra. Dần dần con cũng tin vào những gì phần đông mọi người đều tin và thay vì chỉ cần cẩn thận thôi, trong con có thêm một nỗi lo lắng. Trong một lần gặp Thầy, con đã chia sẻ với Thầy sự ngại ngần của con khi phải bước tới một năm phía trước. Con lo rằng có thể năm đó sẽ có nhiều thử thách chông gai. Thầy chỉ mỉm cười, xoa đầu con và khuyến khích: “Con đừng lo, thử thách là một chuyện bình thường ai ai cũng gặp, miễn là con giữ được cho tâm mình thật mạnh mẽ và trong sáng, thế nào mọi chuyện cũng đi qua một cách dễ dàng và ý nghĩa”. Nhờ đó mà con có thể bỏ đi những lo nghĩ trong lòng và bước tới một cách mạnh mẽ, không những một năm mà cả những năm sau đó.

Quả thật năm đó con có gặp chuyện gì to tát lắm đâu, chỉ một vài chuyện rắc rối vụn vặt mà vì đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng rồi nên con đã đi qua một cách an ổn. Sau này, mỗi khi có cảm tưởng mình sắp phải đối diện với chuyện gì đó có thể khó khăn, con biết mình phải chuẩn bị đầy đủ hành trang. Đó là sự bình an, niềm tin và trái tim thật trong sáng. Để có được sự bình an, con luôn nhắc mình nương theo thời khóa của đại chúng để tu tập và để tâm tới những gì đang có mặt trong thân tâm của mình, cũng như những gì diễn ra xung quanh với các chị em. Con chú tâm vào sự tu tập để tìm lại sự quân bình cho mình. Chánh niệm từ những điều nhỏ nhặt nhất giúp con gom góp được năng lượng và niềm vui để con có thể giữ gìn được những năng lượng quý giá đó cho những ngày hơi thiếu nắng, như cất củi cho mùa đông vậy. Và lỡ có gì “xui” thì nó cũng đã xui rồi, làm sao để xử lý cho tốt thì hay hơn là lo sợ về điều đó thêm nữa.

Thầy quen tự làm mọi việc cho mình, ít khi nhờ ai giúp đỡ. Thực ra lúc Thầy còn khỏe, làm thị giả cho Thầy con chỉ chơi và “hưởng thụ” tình thương nơi Thầy thôi mà không được Thầy nhờ làm gì nhiều. Mãi đến thời gian Thầy bị bệnh, Thầy mới nhờ đến sự trợ giúp của các thị giả. Đến lúc đó con mới có cảm giác mình đang làm thị giả cho Thầy. Mỗi lúc cần nhờ gì, Thầy thường dạy: “Con làm đôi chân cho Thầy, đi tới lấy dùm cuốn sách cho Thầy; con làm đôi mắt cho Thầy, đọc hộ Thầy cái này; con làm đôi tay cho Thầy, viết hộ Thầy đoạn này,…” Con rất hạnh phúc được giúp Thầy và những lần làm việc đó con tập làm với tay của Thầy, đi với đôi chân của Thầy và nhìn bằng cặp mắt trẻ của Thầy. Những lúc đó, Thầy và con là một, làm cho Thầy là làm cho con. Và khi con cần làm gì con đều tâm niệm làm như Thầy đang làm. Những thời gian sau này mỗi lần con đánh mất mình hoặc có những lần thiếu đi năng lượng vững chãi trong mình, con thường mời Thầy ở lại với hơi thở, bước chân và cả con người của con để những gì con làm có thể có được sự bình an và thảnh thơi hơn như những gì Thầy đã từng làm.

 

 

Thời gian khó nhất mà con phải đối diện và trải qua là thời gian Thầy bệnh. Chuỗi ngày đó là những ngày đáng nhớ, đầy thử thách chông gai nhưng cũng đầy những kỷ niệm và bài học cho mỗi thành viên trong đại chúng, cũng như cho mỗi anh chị em đang bên Thầy và đang giữ cùng một nhịp điệu với Thầy: Giữ niềm tin. Những tháng ngày đó, con rất kính phục sự đều đặn và mạnh mẽ của Thầy. Sức mạnh và niềm tin đó truyền qua chúng con một cách rõ ràng và đều đặn. Vì vậy tất cả các anh chị em thị giả đều một lòng liên tục có mặt, hoạt động, đi tới và chỉ cần theo chỉ dẫn của Thầy thôi mà đã không xuể rồi. Tuy bị bệnh, Thầy vẫn duy trì những công tác hàng ngày Thầy thường làm như: dịch kinh, tìm cách để giải thích và dạy những giáo pháp làm sao cho các con dễ hiểu, có thể áp dụng thực tập trong những sinh hoạt hằng ngày và quán chiếu về những gì đang xảy ra để công phu thêm vững chãi. Bất cứ lúc nào Thầy của chúng con cũng đầy nhiệt huyết và đầy năng lượng trẻ trung trong lòng. Nếu có một ước mong cho Thầy nghỉ ngơi để Thầy khỏe, con hay gọi đó là enjoy tuổi già, thì đó là mong ước và suy nghĩ của riêng con thôi. Nó đâu ăn khớp gì với chí nguyện và trái tim luôn trẻ của Thầy.

Trong khoảng thời gian sau này Thầy đau nhiều, chân bắt đầu nặng và yếu. Vì đã quen với việc tự chăm sóc bản thân mình, Thầy phải tập làm quen và cố gắng chấp nhận từ từ sự giúp đỡ của các sư con. Mỗi khi sắp phải đứng dậy từ ghế hay từ giường của mình Thầy luôn muốn thử sức, cố gắng tự làm. Anh chị em con luôn đứng đằng sau Thầy để quan sát và sẵn sàng giúp đỡ nếu Thầy cần. Câu mà Thầy thường dùng để tự cổ vũ mình đó là “I can do it” (Thầy có thể làm được). Cùng lúc đó, anh chị em đồng thời làm một dàn cổ vũ chung cùng ngân nga “You can do it, you can do it”. Cho dù có thành công hay không, cả thầy và trò đều giữ vững tinh thần và có niềm vui trong những phút giây đó. Những lúc chưa thành công, Thầy chỉ nói “chưa được” và tất nhiên là vẫn tiếp tục cho những lần sau.

Những năm qua con chỉ làm một chuyện thôi, đó là phải tập làm một người lớn. Đã biết không còn một chọn lựa nào khác ngoài sự cố gắng để tự chăm sóc chính mình đồng thời giúp Thầy, giúp các sư chị chăm sóc các sư em và xây dựng tăng thân, nên con không thể trì hoãn và không có lý do gì khác để trốn tránh trách nhiệm. Con có chịu làm sư chị lớn và để tâm học hỏi thêm nhưng lắm lúc tự cảm thấy mình còn non dại quá, nhất là những khi mình không biết giải quyết những vấn đề trong tâm và làm sao để nâng đỡ thêm cho các sư em của mình. Có khi con thấy tủi thân và chùn bước vì… khó quá.

Những lúc như vậy con nhớ tới hình ảnh Thầy đã cố gắng như thế nào và tự động viên mình nên con cũng thường nói với bản thân “I can do it”, đồng thời con cũng nghe Thầy trong con khích lệ “con làm được mà” nên con có thêm động lực, ngẩng đầu lên mà bước tới. Và nếu không thành công con sẵn sàng thử lại lần nữa và thử cách khác. Thế nào cũng có cách nào đó tốt hơn cho một vấn đề và không bao giờ có cách hay nhất cố định cho mãi mãi. Có một điều rất rõ mà những năm qua Thầy và chúng con đều thấy, đó là các con của Thầy người nào cũng đang lớn lên, cứng cáp hơn nhiều. Tất cả đang cùng nhau tiếp tục công trình xây dựng tăng thân và giúp đời như Thầy đã mở đường. Khi nào chúng con có sự hòa hợp và thương yêu nhau là con biết chúng con đang tặng Thầy món quà quý nhất.

Thầy kính thương, có những ngày nghe tin Thầy không khỏe thì con hơi hướng tâm về bên ấy và nhận diện mình đang lo lắng. Đôi lúc mong sao khoảng cách địa lý không xa vời như vậy để tất cả chúng con được gặp Thầy, thấy Thầy và có sự an tâm trong lòng. Đã bao lần nắm tay Thầy và thầy trò cùng hòa một nhịp thở, ấm áp nhất là cảm giác thật sự có mặt cho nhau. Còn nhớ hôm nghe chuông Thầy gọi, con hơi vội vàng chạy vào để xem Thầy cần gì, bước vào thấy Thầy nằm trên giường, con rón rén hỏi: “Bạch Thầy, con có thể giúp gì được ạ?”. Thầy đưa tay ra và nói: “Thầy mệt, Thầy cần con ngồi chơi với Thầy”. Ngay lập tức con biết mình phải làm gì, đó là tức khắc trở về với chánh niệm và thiết lập sự bình an. Vì Thầy cần năng lượng lành cho đỡ mệt (lúc đó con không khóc, khóc thì không thể nào giấu được nước mắt. Những ngày đó con mạnh mẽ lắm vì mình đang trong vai trò trợ giúp mà, bây giờ kể lại mới thấy bùi ngùi).

Xa Thầy con nhớ Thầy nhiều, mỗi lần nghe Thầy mệt, tuy từ xa nhưng con cũng làm như những gì con từng làm là ngồi yên và thở với Thầy, tìm lại sự bình an cho con và cho các chị em xung quanh nữa. Thầy có mặt trọn vẹn nơi đây và nơi tất cả mọi người, chăm sóc sự tu học là đang chăm sóc Thầy rồi. Con kính chúc Thầy dùng cơm được mỗi ngày, thở ngon, ngủ ngon và chơi vui với các con ở bên.

Thương Thầy nhất thế giới,

Ôm Thầy một cái.

Con – Chân Thao Nghiêm

 

Mùa Hè 2020 – Nông Trại Hạnh Phúc

“Này sư chú, sáng hôm đó thầy có chỉ cho con một cây tía tô cao lớn dưới chân đồi. Chú nghi đó không phải là cây tía tô. Cây tía tô gì mà lớn đến thế. Thầy ngắt một lá cho chú ngửi. Chú xác nhận là hương tía tô. Thầy nói với chú là thầy rất ưa hương vị tía tô, cũng như hương vị rau tần, rau mùi, rau húng, ngò gai, và những thứ rau thơm khác mọc trên đất quê hương ta. Lá tràm cũng như lá ổi, có hương và vị đặc biệt mà thầy rất ưa thích. Mỗi chiếc lá ổi, dù là một chiếc lá ổi nhỏ xíu, đều mang theo cái mùi hương đặc biệt mà ta không thể tìm thấy nơi bất cứ thứ lá nào khác. Sư chú ơi, giá như mai sau nhờ những phi thuyền liên hành tinh mà loài người chúng ta đi lập nghiệp được ở tận những hành tinh xa, mỗi khi ngửi tới một ngọn lá tía tô thì chắc chúng ta sẽ nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ trái đất chúng ta biết mấy.

Hiện pháp mầu nhiệm quá, mỗi chiếc lá có một trời hương vị, mỗi chiếc lá có một trời kỷ niệm, mỗi chiếc lá có một vũ trụ tâm vật lý đặc thù. Một chiếc lá chứa đủ toàn thế giới. Ta giật mình nhìn ra và với thái độ thành kính. Ta nghiêng mình trước biểu hiện nhiệm mầu. Ta không dám coi thường một ngọn lá nào, một hạt sỏi nào hay một làn hương nào.”

                                                   (Sư Ông Làng Mai)

Ở Làng Mai quý thầy quý sư cô cũng có một khu vườn được đặt tên là ” Nông trại hạnh phúc (Happy Farm)”. Ở nơi ấy, trồng đủ các thứ: rau húng, tía tô, kinh giới, ngò, quế, parsley, rosemary,… Cộng với các thứ rau mùng tơi, rau khoai, rau muống, bí ngô v..v…, Vườn rau giống hệt một vườn rau của quê hương. Chỉ cần đi dạo một vòng, hái trên tay những trái ngọt lành, hay cảm nhận hương vị của quê nhà trong những đọt rau thơm cũng đủ gọi về lửa đỏ trong tim.

Thương kính mời đại chúng trở về với hơi thở ý thức, mỉm cười và dạo quanh Nông Trại Hạnh Phúc cùng quý thầy, quý sư cô.

Phần kết

 

Tất cả những pháp môn thực tập này đều có cùng chung một mục đích căn bản là đưa tâm trở về với thân, có mặt thật sự trong giây phút hiện tại, sống trọn vẹn sâu sắc để mọi việc diễn ra dưới ánh sáng của chánh niệm. Tự thân mỗi pháp môn rất đơn giản, như thở vào thở ra, bước từng bước chân trong chánh niệm, lắng nghe những người thương của mình một cách sâu sắc, gần gũi và thân thiện với những cái đẹp đang có mặt chung quanh mình. Tuy nhiên, những pháp môn căn bản này có thể giúp chúng ta tiếp xúc được với tự tánh không sinh, không diệt và tương tức.

Nếu chúng ta muốn có an lạc trong tự thân, muốn mang lại hòa bình cho thế giới thì chúng ta phải thực tập. Nếu không thực tập, chúng ta sẽ không đủ năng lượng chánh niệm để chăm sóc nỗi sợ hãi và giận dữ trong ta, cũng như chăm sóc nỗi sợ hãi và giận dữ của những người ta thương. Thực tập chánh niệm là một điều thiết yếu cho sự sống, cho hòa bình, giúp chúng ta bảo hộ chính mình và bảo hộ cho nhau. Tất cả chúng ta, gia đình, xã hội, thế giới đều cần tuệ giác từ sự thực tập chánh niệm và nhìn sâu này.

Trong đạo Bụt có đưa ra một hình ảnh tuyệt đẹp về một thế giới đầy châu ngọc sáng chói. Thế giới này được gọi là “Pháp Giới”. Nhìn cho kỹ, chúng ta có thể thấy được Pháp Giới trong thế giới mà chúng ta đang sống mỗi ngày. Chúng ta có một gia tài rất quý báu mà chúng ta không hề hay biết. Chúng ta đã sống như những người cùng tử, nghèo túng, cơ cực. Giờ đây, chúng ta nhận ra là chúng ta đang có một gia tài giác ngộ, hiểu biết, thương yêu và an vui trong mỗi chúng ta. Đã đến lúc chúng ta trở về để nhận lại gia tài của mình. Những pháp môn này có thể giúp ta trở về tiếp nhận lại gia tài đó.

Viên ngọc kinh Pháp Hoa

Châu báu chất đầy thế giới

Tôi đem tặng bạn sáng nay

Một vốc kim cương sáng chói

Long lanh suốt cả đêm ngày.

Mỗi phút một viên ngọc quý

Tóm thâu đất nước trời mây

Chỉ cần một hơi thở nhẹ

Là bao phép lạ hiển bày.

Chim hót, thông reo, hoa nở

Trời xanh mây trắng là đây

Ánh mắt thương yêu sáng tỏ

Nụ cười ý thức đong đầy.

Này người giàu sang bậc nhất

Tha phương cầu thực xưa nay

Hãy thôi làm thân cùng tử

Về đi tiếp nhận gia tài.

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc

Và an trú phút giây này

Hãy buông thả dòng sầu khổ

Về nâng sự sống trên tay.

Thích Nhất Hạnh

 

Ngày của ngày hôm nay

 

Chúng ta có rất nhiều ngày đặc biệt. Ngày đặc biệt để tưởng nhớ công ơn của cha gọi là Ngày của Cha. Ngày để tưởng nhớ công ơn của mẹ gọi là Ngày của Mẹ. Rồi Ngày Tết, Ngày Lao Động và Ngày của Trái Đất… Một ngày nọ, có một người trẻ đến thăm Làng Mai và hỏi: “Tại sao mình không công bố hôm nay là “Ngày của Ngày Hôm Nay”?” Tất cả các em trẻ đều đồng ý rằng chúng ta nên ăn mừng ngày hôm nay và gọi đó là “Ngày của Ngày Hôm Nay”.

Thực tập

Vào ngày này, tức là Ngày của Ngày Hôm Nay, chúng ta đừng nghĩ về ngày hôm qua, đừng nghĩ về ngày mai, chỉ nghĩ về hôm nay. Ngày của Ngày Hôm Nay là ngày mà chúng ta sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Khi uống nước, chúng ta ý thức về nước mà chúng ta đang uống. Khi đi, chúng ta thực sự ý thức từng bước chân của mình và cảm nhận sự sung sướng nhẹ nhàng khi bước. Khi chơi, chúng ta thực sự có mặt trong trò chơi…

Hôm nay là một ngày mầu nhiệm. Là ngày mầu nhiệm nhất. Điều này không có nghĩa là hôm qua và ngày mai không mầu nhiệm. Nhưng hôm qua đã qua rồi và ngày mai thì chưa tới. Hôm nay là ngày duy nhất đang có mặt cho chúng ta và chúng ta sống cho thật xứng đáng. Vì vậy, ngày hôm nay rất quan trọng, đó là ngày quan trọng nhất trong cuộc đời ta.

Mỗi buổi sáng khi thức dậy, em bé phải quyết định biến ngày hôm nay thành ngày quan trọng nhất. Trước khi đi học, hướng dẫn em ngồi hoặc nằm xuống, thở cho thật thong thả trong vài phút, thưởng thức hơi thở vào – ra và mỉm cười. Em bé đang có mặt ở đây, rất hài lòng và bình an. Bắt đầu một ngày mới như thế rất mầu nhiệm.

Hãy nhắc nhở em cố gắng sống với tinh thần này suốt ngày, nhớ quay về với hơi thở, nhìn người khác bằng lòng từ bi, mỉm cười hạnh phúc và trân quý những món quà của cuộc sống ban tặng. Chúc em có một ngày hôm nay thật đẹp. Đây không chỉ là một lời chúc tụng hay một ước mong mà là sự thực tập.

 

 

Thiền ôm cây

 

Ở Làng Mai, cách đây khoảng ba mươi năm, tôi có trồng ba cây tùng tuyết. Bây giờ chúng rất cao lớn, xinh đẹp và tươi mát. Mỗi khi đi thiền hành, tôi thường dừng lại trước mỗi cây và xá chào. Điều đó làm tôi rất hạnh phúc. Tôi áp má vào vỏ cây, ngửi mùi hương của cây rồi nhìn lên những tàng lá xinh đẹp, cảm nhận sức mạnh và sự tươi mát của cây. Tôi thở vào, thở ra thật sâu và thấy rất dễ chịu. Vì vậy, thỉnh thoảng tôi dừng lại đó khá lâu, chỉ để có mặt và chơi với những cây tùng tuyết đó.

Khi tiếp xúc với cây, chúng ta nhận lại được một cái gì đó đẹp đẽ, tươi mới. Cây thật tuyệt vời. Dù trong bão giông cây cũng vững chãi. Chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ cây.

Thực tập

Mỗi em trẻ đều có thể tìm một cái cây đặc biệt xinh đẹp cho mình. Có thể là cây táo, cây sồi hoặc cây tùng. Nếu em bé dừng lại trước cái cây, tiếp xúc một cách sâu sắc với cây, em bé sẽ cảm nhận được những phẩm chất kỳ diệu của cây. Hít thở sâu sẽ giúp em tiếp xúc với cây sâu sắc hơn. Sờ vào thân cây và thở vào thở ra ba lần. Tiếp xúc với cây như vậy sẽ giúp em bé thấy tươi tắn và hạnh phúc.

Sau đó, nếu thấy thích, em bé có thể thiền ôm với cây. Thiền ôm cây là sự thực tập rất hay. Khi em bé ôm cây, cây không bao giờ từ chối. Em bé có thể nương tựa vào cây đó. Cây thật đáng tin cậy. Mỗi lần em bé muốn ngắm nhìn cây, cần bóng mát của cây, thì cây luôn có ở đó cho em.

 

 

Thiền quýt

 

Có một số người ăn quýt mà không thực sự ăn quýt. Họ ăn những đau buồn, sợ hãi, giận dữ, ăn quá khứ và tương lai. Họ không thực sự có mặt với thân tâm họ, thân thì ở đây mà tâm thì ở kia. Khi ăn một trái quýt, chúng ta có thể làm cho việc ăn quýt trở thành thiền tập. Đầu tiên chúng ta ngồi trong một tư thế thoải mái, vững chãi và nhìn vào trái quýt để thấy rằng trái quýt là một phép lạ. Định lực rất quan trọng. Chúng ta biết rằng khi ăn kem mà mở truyền hình lên xem thì chúng ta không thể chú tâm vào cây kem của mình. Và như vậy, chúng ta sẽ đánh mất cây kem. Không có niệm và định, chúng ta không thể thực sự có mặt với chính mình và không thể thưởng thức trái quýt một cách trọn vẹn.

Thực tập

Khi em bé cầm trái quýt trong tay, nhìn vào trái quýt và thở vào thở ra trong ý thức, thì trái quýt sẽ trở nên có thực. Nếu em bé hoàn toàn không có mặt ở đó thì trái quýt cũng không có. Hãy nói với em bé quán tưởng về cây quýt, quán tưởng về những bông hoa quýt, về mặt trời, về những cơn mưa và những trái quýt còn nhỏ xíu. Bây giờ, trái quýt đã lớn lên thành một trái quýt rất xinh đẹp. Chỉ cần nhìn sâu vào trái quýt và mỉm cười, em bé có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống. Đôi khi, em bé không biết một sự thật là trái quýt đang nằm trong lòng bàn tay em là một phép lạ, một mầu nhiệm. Có rất nhiều điều mầu nhiệm trong em và chung quanh em. Vì vậy, khi nhìn vào trái quýt và mỉm cười như vậy, em bé thực sự nhìn thấy trái quýt với sự giàu có, đẹp đẽ và bản chất mầu nhiệm của nó. Rồi đột nhiên, chính em bé cũng trở thành một phép lạ, bởi vì em bé là một phép lạ không thua kém gì những phép lạ khác. Sự có mặt của em bé là một phép lạ gặp gỡ những phép lạ kia.

Khi nhìn sâu vào trái quýt, em bé có thể thấy được nhiều điều kỳ diệu như ánh nắng mặt trời, những cơn mưa rơi xuống trên cây quýt, những bông hoa quýt đang nở, những trái quýt bé xíu xuất hiện trên cành, màu sắc của trái quýt đang chuyển từ xanh sang vàng, sau đó trở thành một trái quýt chín ngọt. Bây giờ, em bé từ từ bóc trái quýt ra, ngửi mùi thơm của vỏ quýt. Sau đó, tách trái quýt ra từng múi nhỏ và bỏ vào miệng, cảm nghe hương vị tuyệt vời của trái quýt.

Cây quýt phải mất ba, bốn hoặc sáu tháng để có thể cho ra một trái quýt như vậy. Bây giờ, trái quýt đã sẵn sàng và nói: “Tôi đang có mặt ở đây cho bạn.” Nhưng nếu em bé không có mặt, em bé sẽ không nghe thấy điều đó. Khi em bé không nhìn trái quýt bằng giây phút hiện tại thì trái quýt cũng sẽ không có mặt. Có mặt hoàn toàn trong khi ăn một trái quýt là một kinh nghiệm rất thú vị.

 

 

Chiếc bánh trong tủ lạnh

 

Nếu chưa có chuông hoặc chưa thiết lập được phòng thở trong nhà, chúng ta có thể sử dụng chiếc bánh để thực tập. Chiếc bánh này rất đặc biệt, không làm bằng bột và đường như các loại bánh khác nhưng ta có thể ăn hoài không hết. Đó là Chiếc bánh trong tủ lạnh.

Thực tập

Sẽ có một ngày nào đó, con mình ngồi trong phòng khách và thấy ba mẹ sắp gây gổ với nhau. Khi thấy không khí nặng nề khó chịu, nó có thể thực tập với chiếc bánh để đem lại hòa khí cho gia đình. Đầu tiên, nó sẽ thở vào thở ra ba lần để có thêm can đảm, sau đó, nó nhìn mẹ và kêu lên: “Mẹ ơi, mẹ.” Cố nhiên là nó cũng có thể làm điều này với ba nó, hoặc ông bà, hay bất cứ người lớn nào chăm sóc nó. Mẹ nó sẽ nhìn nó hỏi: “Chuyện gì đó con ?” – “Con nhớ là nhà mình còn một chiếc bánh trong tủ lạnh.” Trong tủ lạnh có thật sự còn bánh hay không, không thành vấn đề.

Câu nói: “Có một chiếc bánh trong tủ lạnh” thực sự có nghĩa là: “Ba mẹ đừng làm khổ nhau nữa.” Khi nghe những lời này, ba mẹ sẽ hiểu. Mẹ đứa bé sẽ nhìn nó và nói: “Đúng rồi! Vậy con ra sắp xếp bàn ghế đi, mẹ sẽ đi lấy trà bánh.” Khi người mẹ nói vậy, nghĩa là bà đã tìm ra một cách để thoát khỏi tình huống nguy hiểm. Đứa bé có thể chạy ra sân, chờ mẹ ở đó. Và bây giờ mẹ bé có một cơ hội để thoát khỏi cuộc tranh cãi. Trước khi đứa bé kêu lên như vậy, mẹ bé không thể đứng dậy rời khỏi chỗ đó, bởi vì như vậy sẽ mất lịch sự và có thể rót thêm dầu vào ngọn lửa giận dữ của ba bé. Mẹ bé có thể đi vào nhà bếp. Khi mở tủ lạnh ra để lấy bánh và nấu nước pha trà, mẹ theo dõi hơi thở. Nếu trong tủ lạnh không có bánh cũng đừng lo, mẹ có thể tìm một thứ khác để thay thế chiếc bánh. Trong khi chuẩn bị trà bánh, mẹ có thể mỉm cười để cảm nhận sự nhẹ nhàng trong thân tâm.

Trong khi đó, ba đứa bé ngồi một mình trong phòng khách cũng bắt đầu thực tập hơi thở chánh niệm. Dần dần, cơn nóng giận của ông lắng dịu. Sau khi trà bánh đã được dọn lên bàn, người cha có thể đi từ từ ra sân, cùng uống trà ăn bánh trong một bầu không khí nhẹ nhàng, đầy cảm thông. Nếu người cha còn ngần ngại chưa muốn ra thì đứa bé có thể chạy vào nhà, nắm lấy tay ba nó năn nỉ: “Ba, ba ra uống trà ăn bánh với con đi.”

 

 

Bốn câu thần chú

 

Bốn câu thần chú là một pháp môn linh ứng, tôi mong quý vị nên thực tập mỗi ngày. Mỗi câu thần chú là một linh dược, mỗi lần đọc lên là tình trạng sẽ chuyển đổi ngay lập tức, không cần phải đợi thêm một giây phút nào nữa cả. Đó là một công thức thần diệu mà chúng ta phải đọc lên đúng lúc. Điều kiện làm cho nó trở nên hiệu nghiệm là chánh niệm và chánh định. Nếu không có chánh niệm và chánh định thì sẽ không có kết quả.

Thực tập

Cách thức thực tập bốn câu thần chú cho trẻ em và người lớn đều giống nhau.

Câu thần chú thứ nhất: “Em ơi, anh đang có mặt ở đây cho em.” (Hay: “Ba ơi, con đang có mặt ở đây cho ba.”) Chúng ta không cần phải thực tập bằng tiếng Sanskrit hay tiếng Tây Tạng, chúng ta chỉ cần dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Tại sao ta phải thực tập câu thần chú này? Bởi vì khi thương ai, chúng ta muốn hiến tặng cho người đó những gì tốt đẹp nhất của ta. Và điều tốt đẹp nhất mà ta có thể hiến tặng cho người ta thương là sự có mặt đích thực của mình.

Câu thần chú thứ hai: “Em ơi, anh biết là em ở đó nên anh rất hạnh phúc.” (hay: “Ba ơi, con biết ba có ở đó nên con rất hạnh phúc”). Thương nghĩa là công nhận sự có mặt của người mình thương. Chúng ta phải có thời giờ. Nếu quá bận rộn, làm sao ta có thể công nhận sự có mặt của người đó? Điều kiện để thực hiện câu thần chú này là ta phải có mặt một trăm phần trăm. Nếu không có mặt thì ta không thể nhận diện sự có mặt của người kia. Nếu ai đó thương mình, mình cần người đó biết rằng mình đang có mặt ở đây – bất kể là mình già hay trẻ.

Chúng ta chỉ có thể thương yêu khi chúng ta có mặt thật sự. Chúng ta phải thực tập bằng bất kỳ pháp môn nào: thở chánh niệm, đi thiền hành hay phương pháp nào giúp ta có mặt đích thực cho người mình thương như một con người tự do. Nhờ có mặt nên ta có chánh niệm. Nhờ có chánh niệm nên khi người thương của ta đau khổ, ta biết được tình trạng của người ấy, nhận diện khổ đau của người ấy. Ta phải thực tập có mặt sâu sắc một trăm phần trăm. Rồi đến bên người ấy và đọc câu thần chú thứ ba.

Câu thần chú thứ ba: “Em ơi, anh biết em đang đau khổ nên anh có mặt ở đây cho em.” (Hay: “Ba ơi, con biết là ba đang đau khổ nên con có mặt ở đây cho ba.”) Khi đau khổ, ta muốn người ta thương ý thức được nỗi khổ của ta. Điều này rất con người và rất tự nhiên. Nếu người ta thương không biết ta đang đau khổ hay phớt lờ sự đau khổ của ta, ta sẽ khổ nhiều hơn. Vì vậy, nếu người ta thương ý thức được là ta đang đau khổ thì nỗi khổ của ta sẽ vơi đi rất nhiều. Trước khi người đó có thể làm điều gì để giúp đỡ ta, thì ta đã bớt khổ rồi. Đây không phải là sự thực tập riêng của con cái, của một cá nhân nào, mà là sự thực tập của tất cả mọi người. Điều này có thể tạo ra rất nhiều hạnh phúc trong gia đình. Thực tập vài tuần ta sẽ thấy tình trạng trong gia đình được chuyển hóa một cách bất ngờ.

Câu thần chú thứ tư: “Em ơi, anh đang khổ, xin hãy giúp anh.” (Hay: “Ba ơi, con đang khổ, con xin ba hãy giúp con.”) Câu thần chú thứ ba được sử dụng khi người ta thương đau khổ. Còn câu thần chú thứ tư này được sử dụng khi chính ta đau khổ. Ta tin rằng người ta thương yêu nhất gây ra đau khổ cho ta, vì vậy ta gặp rất nhiều khó khăn. Khi người mà ta rất thương nói hoặc làm điều gì đó gây tổn thương cho ta, ta sẽ đau khổ nhiều hơn. Nếu người nào khác nói và làm điều đó, có lẽ ta sẽ không khổ đau nhiều như vậy. Đằng này người mà ta thương nhất trên đời lại làm điều đó, nói điều đó. Cho nên ta không chịu đựng nổi. Ta đau khổ hơn cả trăm lần. Vì thế, đây là lúc ta cần thực tập câu thần chú thứ tư. Ta phải đi đến người ta thương yêu nhất vừa làm ta tổn thương tột cùng. Với ý thức tròn đầy, với sự có mặt của chánh niệm, chánh định, ta nói lên câu thần chú thứ tư này. Điều này hơi khó, nhưng nếu tập luyện thì ta có thể làm được. Thông thường, khi đau khổ mà mình tin rằng chính người mình thương yêu nhất làm cho mình đau khổ, thì ta có khuynh hướng muốn ở một mình. Ta nhốt mình trong phòng và khóc một mình. Ta không muốn nhìn người đó, không muốn nói chuyện với người đó, không muốn người đó đụng đến mình. “Hãy để cho tôi yên!” Điều này cũng rất tự nhiên, rất con người. Thậm chí nếu có ai đó cố gắng lại gần để hòa giải, ta còn nổi giận hơn.

Chúng ta có khả năng thực tập được câu thần chú thứ tư này không? Dường như chúng ta không muốn thực tập bởi vì ta thấy mình không cần sự giúp đỡ của người đó. Chúng ta muốn một người nào khác giúp đỡ mà không phải người đó. Chúng ta muốn độc lập. “Tôi không cần anh!” Chúng ta tự ái. Vì vậy, câu thần chú thứ tư rất quan trọng. Hãy đến với người đó, thở vào thở ra thật sâu, trở về với chính mình một trăm phần trăm, dùng tất cả định lực của mình để nói rằng mình đang đau khổ và mình cần người đó giúp đỡ.

Để có thể thực tập điều này, chúng ta phải tập luyện một ít. Chúng ta hay có khuynh hướng nói với người này rằng ta không cần họ. Không có người kia ta vẫn sống được, ta hoàn toàn tự lập. Nhưng nếu chúng ta biết dùng tuệ giác để nhìn nhận vấn đề, thì ta sẽ thấy rằng hành xử như thế là không thông minh. Bởi vì khi thương nhau, chúng ta cần có nhau, nhất là khi ta đau khổ. Chúng ta có chắc là khổ đau của ta do người đó gây ra không? Có thể chúng ta lầm. Có thể người đó không chủ ý làm điều đó, nói điều đó để làm ta đau. Có thể chúng ta đã hiểu lầm, có thể đó là tri giác sai lầm của ta.

Chúng ta phải luyện tập từ bây giờ để chuẩn bị cho lần tới. Khi có khổ đau, chúng ta có thể thực tập câu thần chú thứ tư. Thực tập đi thiền, ngồi thiền, thở chánh niệm để phục hồi lại chính mình. Sau đó đến với người đó và thực tập câu thần chú này: “Em ơi, anh đau khổ quá. Em là người mà anh thương yêu nhất trên đời. Em hãy giúp anh đi.” (Hay: “Ba ơi, con đau khổ quá. Ba là người con thương yêu nhất trên đời. Ba hãy giúp con đi.”) Đừng để tự ái ngăn cản mình đến với người kia. Trong tình thương đích thực không có chỗ cho sự tự ái. Nếu tự ái còn đó, thì chúng ta phải biết rằng chúng ta cần thực tập để chuyển hóa tự ái của mình thành tình thương yêu đích thực.

Con em mình còn rất trẻ, chúng còn rất nhiều cơ hội để học hỏi và luyện tập. Tôi tin chắc rằng nếu chúng được hướng dẫn và thực tập ngay từ bây giờ thì sau này khi có khổ đau, chúng sẽ thực tập dễ dàng, bởi vì chúng nghĩ người mà chúng thương yêu nhất đã thực tập như thế, đã nói như thế với chúng. Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ sử dụng câu thần chú thứ tư này thường xuyên, nhưng đây là một câu thần chú rất quan trọng. Có thể chúng ta chỉ sử dụng câu thần chú này một hoặc hai lần trong năm nhưng cực kỳ quan trọng. Hãy viết câu thần chú xuống và giữ nó đâu đó để mỗi khi con em mình đau khổ, ta hãy khuyến khích chúng đến tìm câu thần chú này để thực tập.

 

 

Phòng thở

 

Mỗi gia đình nên có một phòng thở, hoặc ít nhất là một góc để ngồi yên và thở. Ở đó, chúng ta có thể đặt một chiếc bàn nhỏ, một bình hoa, một cái chuông nhỏ và vài cái gối ngồi đủ cho mọi người trong gia đình. Mỗi khi chúng ta thấy bứt rứt khó chịu hoặc buồn rầu, giận dữ, chúng ta có thể đi vào phòng thở, đóng cửa lại, ngồi xuống, thỉnh một tiếng chuông và thực tập hơi thở chánh niệm. Thở như vậy trong vòng mười, mười lăm phút, ta sẽ thấy khỏe nhẹ hơn. Nếu không thực tập như vậy, ta có thể đánh mất mình, rồi sinh ra cãi cọ, la mắng hoặc đánh đập nhau, tạo nên những cơn bão tố trong gia đình.

Trong một khóa tu mùa hè ở Làng Mai, tôi có hỏi một em bé trai: “Con, khi ba con giận, con có làm được gì để giúp ba con không?” Cậu bé lắc đầu trả lời: “Con không biết phải làm gì cả. Con sợ lắm và chỉ biết chạy trốn.” Những đứa trẻ đến Làng Mai đều được học về phòng thở, vì vậy chúng có thể giúp ba mẹ khi ba mẹ nổi giận. Tôi đã dạy cậu bé đó: “Con có thể mời ba mẹ con vào phòng thở và thở chung với con.”

Thực tập

Mọi người trong gia đình nên thỏa thuận và đồng ý với nhau về phòng thở hoặc góc thở của gia đình. Khi nào thấy mọi người vui vẻ, chúng ta nên đề nghị mọi người thỏa thuận với nhau điều này. Chúng ta có thể nói: “Thỉnh thoảng, chúng ta nổi giận. Chúng ta có thể nói những điều gây tổn thương cho chính mình và gây tổn thương cho nhau. Điều này làm cho mọi người thấy sợ hãi. Vì vậy lần tới, khi xảy ra chuyện gì, chúng ta sẽ đi vào phòng thở và thỉnh chuông lên để nhắc nhở mọi người cùng thở với nhau.” Nếu ta sống với đứa con duy nhất của mình, ta vẫn có thể thỏa thuận điều này với con, để khi nào ta nổi giận thì con sẽ giúp ta.

Nếu vào một dịp đặc biệt nào đó khi con mình đang hạnh phúc, nó sẽ rất háo hức đồng ý. Là một đứa trẻ, nó rất tươi mát. Nó có thể đem sự tươi mát của nó để giúp đỡ ba mẹ. Nó có thể nói với ba hoặc mẹ rằng: “Đi với con vào phòng thở đi, mình sẽ ngồi thở với nhau. Ba mẹ chịu không?”

Nếu chỉ có một mình ba đồng ý mà mẹ không đồng ý, thì khi mẹ nói điều gì không dễ thương, nó sẽ đến nắm tay ba và nói với ba rằng: “Mình đi vào phòng thở đi.” Khi nghe thấy như vậy, người mẹ có thể thức tỉnh.

Khi đã đi vào phòng thở, đứa trẻ sẽ thỉnh lên tiếng chuông và Bụt sẽ bảo hộ cho chúng ta. Mọi người trong gia đình đều có thể ký thỏa thuận rằng: “Tiếng chuông là tiếng gọi của Bụt, khi nghe chuông trong phòng thở, mọi người trong nhà sẽ ngừng lại hết mọi chuyện và chỉ có thở thôi. Không ai được tiếp tục nổi giận, quát tháo sau đó.” Cả gia đình cùng cam kết ngừng lại để thở khi nghe chuông. Điều này được gọi là “Hiệp ước sống chung an lạc”. Nếu chúng ta có khả năng thực tập phương pháp này ở nhà thì chỉ sau ba tháng, chúng ta sẽ thấy không khí trong gia đình trở nên dễ chịu, vui tươi hơn nhiều. Những vết thương lòng của các con sẽ được xoa dịu và dần dần được chữa lành.

 

 

Thiền sỏi

 

Tôi thường thích mang theo trong túi mình vài viên sỏi. Trong túi tôi không có thẻ tín dụng, tiền bạc hay thuốc lá. Chỉ có một tờ giấy, một cái chuông nhỏ và vài thứ đại loại như thế… Những viên sỏi này nhắc nhở tôi rằng loài người chúng ta được sinh ra như những bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Nếu không biết cách bảo dưỡng niềm vui tươi, chúng ta sẽ đau khổ và sẽ không có đủ những phẩm chất đẹp, lành để hiến tặng cho người ta thương.

Thực tập

Chúng ta hãy may một cái túi nhỏ và bỏ vào đó bốn viên sỏi. Mọi người có thể ngồi với nhau thành vòng tròn. Một em bé hoặc ai đó trong gia đình có thể làm người thỉnh chuông. Sau khi thỉnh ba tiếng chuông và theo dõi hơi thở của mình, chúng ta lấy những viên sỏi ra, để lên nền nhà phía bên tay trái. Dùng tay phải nhặt lấy một viên sỏi lên và ngắm nhìn. Viên sỏi đầu tiên tượng trưng cho một bông hoa, cho sự tươi mát và bản tính hoa của mình.

Đặt viên sỏi trong lòng bàn tay trái và đặt bàn tay trái lên bàn tay phải để bắt đầu thiền tập về hoa:

Thở vào, tôi thấy tôi là một bông hoa

Thở ra, tôi thấy tươi mát.

Lặp lại “là hoa – tươi mát” ba lần.

Đây không phải là tưởng tượng, bởi vì chúng ta thật sự là một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Hãy nhìn mình như một bông hoa và luôn mỉm cười trong suốt buổi thiền quán bởi vì một bông hoa thì luôn tươi cười. Thực tập “là hoa – tươi mát” ba lần. Sau đó lấy viên sỏi ra và đặt xuống bên phải mình.

Kế đó nhặt viên sỏi thứ hai lên và ngắm nhìn nó. Viên sỏi này tượng trưng cho núi. Núi tượng trưng cho sự vững chãi. Mình là chính mình, mình đang yên ổn và vững chãi. Nếu không vững chãi, chúng ta không thể hạnh phúc thực sự, chúng ta sẽ bị những khiêu khích, giận dữ, sợ hãi, tiếc nuối, lo âu kéo đi. Chúng ta nên thực tập thiền sỏi trong tư thế ngồi là tốt nhất, bởi vì trong tư thế bán già hay kiết già, thân thể ta sẽ rất an ổn và vững vàng. Thậm chí nếu có ai đó đến xô ta, ta cũng không bị ngã. Đặt viên sỏi thứ hai lên tay trái và bắt đầu thiền quán về núi:

Thở vào, tôi thấy tôi là núi

Thở ra, tôi thấy vững vàng.

Lặp lại “là núi – vững vàng” ba lần.

Khi vững vàng, chúng ta sẽ không còn run sợ, thân tâm ta sẽ không còn lung lay nữa.

Viên sỏi thứ ba tượng trưng cho nước tĩnh. Thỉnh thoảng, ta thấy có những hồ nước mà mặt hồ rất tĩnh lặng, phản chiếu được tất cả những gì in lên đó. Nước tĩnh có thể phản chiếu được trời xanh, mây trắng, núi đồi, rừng cây… Chúng ta có thể lấy máy hình, chụp cảnh trời xanh, mây trắng, núi đồi in lên mặt nước mà cảnh vật trông giống như trên không vậy. Khi tâm ta yên lắng, nó sẽ phản chiếu hết tất cả những gì trong ta. Chúng ta không còn là nạn nhân của tri giác sai lầm nữa. Còn khi tâm ta bị tán loạn bởi giận dữ, hận thù, ganh tị, thì chúng ta sẽ tiếp nhận mọi thứ một cách sai lệch. Tri giác sai lầm gây cho ta nhiều giận hờn, sợ hãi, bạo động, khiến ta nói hoặc làm những điều gây đổ vỡ, tàn hoại. Vì thế, sự thực tập này giúp ta hồi phục lại sự bình an, tĩnh lặng của mình được tượng trưng bởi nước tĩnh.

Thở vào, tôi thấy tôi là nước tĩnh

Thở ra, tôi thấy mình lặng chiếu.

Lặp lại “nước tĩnh – lặng chiếu” ba lần.

Điều này không phải là điều mơ tưởng mà với chánh niệm chúng ta có khả năng đem sự tĩnh lặng bình an vào hơi thở, thân thể và cảm thọ của mình.

Viên sỏi thứ tư tượng trưng cho không gian và tự do. Nếu không đủ không gian trong lòng, chúng ta sẽ khó có hạnh phúc. Khi chưng hoa, chúng ta hiểu rằng những bông hoa cần không gian để tỏa chiếu vẻ đẹp của chúng. Mỗi người trong chúng ta cũng cần có một khoảng không gian như vậy. Nếu chúng ta yêu thương người nào, một trong những điều quý giá nhất mà chúng ta có thể hiến tặng cho người đó là không gian. Điều này chúng ta không thể mua được ở siêu thị. Chúng ta hãy quán tưởng mặt trăng đang đi ngang trên bầu trời, mặt trăng có rất nhiều không gian xung quanh, đó là một phần làm nên vẻ đẹp của trăng. Nhiều vị đệ tử Bụt đã mô tả Bụt như một vầng trăng mát đi ngang trời thái không.

Thở vào, tôi thấy mình là không gian

Thở ra, tôi thấy thênh thang.

Lặp lại “không gian – thênh thang” ba lần.

Ai cũng cần tự do và không gian. Có không gian ta thấy mình thật thênh thang và bao la. Vì vậy chúng ta phải hiến tặng không gian cho những người thương trong gia đình. Thực tập bài thiền sỏi này, chúng ta có thể hiến tặng cho nhau một món quà không áp đặt mọi người theo ý kiến hoặc cách thức riêng của mình. Như vậy, chúng ta có thể giúp mọi người trong gia đình lấy đi những lo lắng, sợ hãi và oán thù trong lòng.