Phần I

Lời nguyện cầu hướng về Đất Mẹ

Kính lạy Mẹ, Mẹ là một hành tinh, là Mẹ của tất cả mọi loài, trong đó có loài người chúng con. Các con của Mẹ có đến hàng triệu chủng loại, loài nào cũng có ngôn ngữ của loài ấy. Vì Mẹ là Mẹ của tất cả chúng con nên Mẹ biết hết mọi thứ ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ của loài người, cho nên chúng con rất thoải mái mỗi khi được trò chuyện với Mẹ và dâng lời cầu nguyện lên Mẹ.

 

Mẹ là hành tinh xanh, là Bồ tát Thanh Lương Địa

Con cúi lạy Mẹ trong ý thức sáng tỏ là Mẹ đang có mặt trong con và con là một phần của Mẹ. Mẹ đã đưa con ra đời, Mẹ đã cung cấp mọi thứ để nuôi dưỡng con, trong đó có không khí cho con thở, nước trong cho con uống, thực phẩm cho con ăn và cây lá cho con trị bệnh. Con biết con sẽ không bao giờ chết bởi vì nếu Mẹ đã đưa con ra đời một lần thì Mẹ sẽ đưa con ra đời muôn vạn lần khác nữa. Mỗi lần con biểu hiện là một lần con trở thành mới tinh và mỗi lần con trở về là Mẹ lại từ bi đưa hai tay ra ôm lấy.

Mẹ là đại địa, Mẹ là Terra, Mẹ là Gaia, Mẹ là hành tinh xanh, Mẹ là Bồ tát Thanh Lương Địa. Mẹ rất thơm tho, rất mát lành. Mẹ rất xinh đẹp. Mẹ có khả năng tiếp nhận, giữ gìn và chuyển hóa tất cả. Kể cả đờm dãi tanh hôi, kể cả khí độc, kể cả phóng xạ nguyên tử Mẹ cũng có khả năng ôm ấp và chuyển hóa. Mẹ có dư dã thì giờ để làm việc ấy và nếu cần Mẹ có thể để ra một triệu năm.

Mẹ có bao nhiêu là con, các con của Mẹ có tới hàng triệu chủng loại, trong đó có con người. Chúng con có nhiều đứa vì tham lam, vì kiêu căng, vì ngu si không nhận ra được Mẹ, đã gây ra bao cảnh tàn khốc cho nhau và làm hại tới sức khỏe cũng như nhan sắc của Mẹ. Chúng con biết Mẹ có đủ sức ôm ấp và chuyển hóa, nhưng chúng con vì đã và đang dại dột nên vẫn còn tiếp tục khai thác và đấu tranh khiến đôi khi Mẹ phải nhọc lòng.

Đức kiên nhẫn và sức chịu đựng vô cùng lớn của Mẹ đã làm cho Mẹ trở nên một vị Bồ tát lớn, một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng con. Mỗi khi chúng con lao đao, mỗi khi chúng con đánh mất tự thân trong quên lãng, trong buồn tủi, trong hận thù và tuyệt vọng, chúng con phải trở về thực tập địa xúc, tìm về nương tựa nơi Mẹ để lấy lại sự bình an, để phục hồi niềm vui sống và đức tự tin. Chúng con biết chúng con đều là con của Mẹ và dù chúng con có gây ra bao nhiêu lầm lỗi, chúng con cũng được Mẹ tha thứ. Và mỗi lần trở về với Mẹ là Mẹ sẵn sàng đưa vòng tay từ mẫu ôm lấy chúng con vào lòng. Chúng con có được tính bất sinh bất diệt là nhờ Mẹ. Mẹ cất chứa trong lòng Mẹ bao nhiêu kho tàng của năng lượng, chúng con nguyện sẽ sử dụng những kho tàng năng lượng đó một cách khéo léo để chúng đừng khô cạn, và để Mẹ khỏi phải tinh chuyên trải qua hàng triệu năm để phục hồi.

 

Mẹ không phải chỉ là Mẹ của chúng con mà còn là Mẹ của nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát khác.

Đức Thích Ca, thầy gốc của chúng con, cũng là con của Mẹ. Bồ tát Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính cũng là con của Mẹ. Mẹ đồng trinh Maria cũng là con của Mẹ. Thánh mẫu Liễu Hạnh cũng là con của Mẹ. Bồ tát Thường Bất Khinh và Bồ tát Địa Tạng cũng là con của Mẹ. Cha mẹ của chúng con cũng là con của Mẹ. Nhiều đứa con của Mẹ được Mẹ giáo dưỡng nhiều kiếp cũng đã trở thành những vị Bồ tát có khả năng giáo hóa và biết cách bảo hộ cho Mẹ. Có những vị Bồ tát có khả năng tiếp xúc, tìm hiểu và giúp Mẹ thiết lập được liên hệ với những tinh cầu khác trong Thái Dương hệ, trong dải Ngân Hà và với những dải tinh hà khác trong vũ trụ. Mẹ đã thiết lập được liên hệ hòa điệu với những tinh cầu khác của Thái Dương hệ, nhất là với Mặt trời và Mặt trăng, đã vận hành đều đặn trong tương tức với các hành tinh ấy để tạo nên ngày đêm và bốn mùa. Chúng con biết Mẹ là một vị Bồ tát trong số những vị Bồ tát xinh đẹp nhất, rất hiếm có trong vũ trụ. Chúng con biết Mẹ có đức kiên nhẫn và chịu đựng rất lớn cho nên chúng con hết lòng tin tưởng,  nương tựa vào Mẹ.

Mẹ đã được biểu hiện từ khoảng 4,5 tỷ năm trước, và Mẹ đã chờ đợi tới hơn 3,5 tỷ năm mới đưa được chúng con ra đời và trở nên một hành tinh xinh đẹp, đầy sức sống như hiện nay. Từ trong lòng đại dương, sự sống bắt đầu sinh sôi nẩy nở trên thân hình Mẹ và làm thay đổi bầu khí quyển để cho biết bao nhiêu chủng loại mới được biểu hiện. Sau một tỷ năm, lượng oxy tích tụ trong bầu khí quyển đã tạo nên tầng ozone có tác dụng ngăn chặn những tia phóng xạ độc hại giúp cho sự sống được lan tràn trên mặt đất.

Trong những tỷ năm đầu, Mẹ đã đi qua những giai đoạn khó khăn để tạo ra bầu khí quyển. Mẹ đã phải thở ra những chất hơi nồng rực và phun lửa từ các Hỏa Diệm Sơn. Trong quá trình đó, khí gas thoát ra từ bề mặt của Mẹ tạo thành hơi nước trong khí quyển; cùng với nước và băng do các tiểu hành tinh và các sao chổi trên không, hơi nước ấy đã giúp Mẹ tạo ra được đại dương. Nhờ có các chất khí nhà kính đã giữ lại sức nóng từ Mặt trời nên các đại dương kia không bị đóng thành băng. Thêm vào đó, lực hấp dẫn và từ trường của Mẹ đã giúp cho bầu khí quyển không bị thổi bay đi vì những cơn gió lớn phát xuất từ Mặt trời cũng như những tia vũ trụ, nhờ vậy mà sự sống được duy trì.

Chúng con biết trước khi hình thành bầu khí quyển, Mẹ đã phải chịu đựng sự va chạm của một thiên thể lớn bằng sao Hỏa và một phần khối lượng ấy đã đi vào Mẹ. Một phần khác của thiên thể và một ít da thịt Mẹ đã bị đánh bật, tách rời ra thành một hành tinh khác gọi là Nguyệt cầu. Mẹ ơi, Nguyệt cầu là một phần của Mẹ, cũng đẹp như một nàng tiên, và đó là dì Trăng của chúng con. Dì luôn luôn đi theo Mẹ, níu áo Mẹ, giúp cho Mẹ đi chậm lại và giữ được sự cân bằng, đồng thời tạo ra thủy triều sớm tối trên hình hài Mẹ.

 

Cha của chúng con là Mặt trời, là một vị Bụt lớn, là Đại Nhật Như Lai.
Và cha đang có mặt trong Mẹ và trong con.

Lạy Mẹ, con biết Mẹ luôn luôn cần đến Cha để có thể tiếp tục sinh ra chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Cha con là Mặt trời. Mẹ đi theo Cha, và vận hành theo một quỹ đạo quanh Cha 365 ngày trong một chu kỳ có xuân hạ thu đông, làm nên một năm 12 tháng. Ánh sáng của Cha chiếu rọi làm cho Mẹ ấm áp tạo thành hiệu năng quang hợp và giúp Mẹ làm ra sự sống cho chúng con. Mẹ cũng đã từ cùng một tinh vân với Cha mà tới. Đường kính của Cha lớn tới 100 lần đường kính của Mẹ. Ánh sáng của Cha cần tới 8 phút đồng hồ mới đi tới được Mẹ, dù khoảng cách giữa Cha và Mẹ chỉ vào khoảng 150 triệu cây số.

Kính lạy Mẹ, mỗi khi con chiêm ngưỡng Mẹ, con thấy Cha trong Mẹ và trong con. Cha con không phải chỉ ở trên trời mà cũng ở dưới đất và đang có mặt trong Mẹ và trong con. Mỗi buổi sáng Cha con xuất hiện từ phương Đông như một chiếc đĩa hồng chói lọi, hào quang phóng ra muôn phương rạng rỡ uy hùng không thể nào tả nổi. Cha con là Mặt trời, là Sol, là Surya, là Sunna. Cha con là một vị Bụt lớn, một vị Bồ tát lớn, là Đại Nhật Như Lai, là Vô Lượng Quang, là Vô Lượng Thọ, là Amitabha, là thần Thái Dương. Cha con có cơ thể lớn hơn cơ thể Mẹ rất nhiều. Tuy là một bậc Cha hiền, có lượng cả bao la, nhưng Cha con uy dũng vô cùng và cũng vô cùng dữ dội. Cái vương miện mà Cha con đội đầu nóng hơn 55000C, cho nên Cha con đang mang hình thức loãng, không có được cái vỏ ngoài đặc cứng và cố định như chiếc áo sinh quyển xanh tươi duyên dáng mà Mẹ đang khoác.

Cha con là một vì sao trong số ít những vì sao lớn nhất của dải Ngân Hà. Tám mươi lăm phần trăm những ngôi sao của tinh hà này đều nhỏ bé hơn Cha. Khối lượng của Cha tuy vĩ đại như thế, 330.000 lần lớn hơn khối lượng của Mẹ, nhưng khối lượng ấy đang tiêu mòn từ từ, vì mỗi giây Cha con đều hiến tặng một ít khối lượng ấy cho thế gian dưới hình thái năng lượng: đó là năng lượng ánh sáng. Sự sống có được trên hình hài Mẹ là nhờ Mẹ con ta tiếp thu được ánh sáng ấy, nhờ quá trình quang hợp. Tuy là một đấng Vô Lượng Thọ, nhưng Cha con cũng vô thường, và đến một ngày nào đó, gần như tất cả khối lượng vĩ đại của Cha sẽ trở thành năng lượng. Sắc tướng hiện thời của Cha sẽ không còn nữa, nhưng với năng lượng phát ra, Cha sẽ tiếp tục biểu hiện dưới những sắc tướng khác. Tuy nhiên, ngày ấy còn xa lắm, nghĩa là ít nhất cũng mười tỷ năm nữa. Hào quang của Cha phóng ra là sự tiếp nối của Cha, và năng lượng ấy không bao giờ mất đi dù là một quang tử, cho nên Cha con vẫn mãi là đấng Vô Lượng Thọ.

Kính lạy Mẹ, chúng con đã biết được rằng Cha chúng con, Mặt trời, là một trong những vì sao lớn nhất và sáng nhất trong dải Ngân Hà, một tinh vân gồm có khoảng 200 tỷ ngôi sao. Hệ Thái Dương của Cha con đang vận chuyển trong dải Ngân Hà ấy, và Mặt trời của chúng con là một vị Bụt đang được vây bọc bởi một chúng hội các hành tinh khác. Mẹ là hành tinh xinh đẹp nhất trong bốn hành tinh đang vận chuyển ở phần bên trong của hệ Thái Dương. Sao Thủy (Mercury) là hành tinh có quỹ đạo gần Cha con nhất, rồi đến sao Kim (Venus), rồi mới tới Mẹ. Sau Mẹ thì tới quỹ đạo của sao Hỏa (Mars). Giữa sao Hỏa và sao Mộc (Jupiter) là cả một vòng đai có cả hàng chục ngàn những tiểu hành tinh (asteroids), trong đó có tiểu hành tinh Ceres có đường kính gần 1.000 cây số và cũng có rất nhiều tiểu hành tinh khác mà đường kính dài hàng trăm cây số. Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn tiểu hành tinh nhỏ hơn, có những hành tinh còn nhỏ hơn những hạt bụi.

Sao Mộc (Jupiter) cách Mặt trời Cha con khoảng 900 triệu cây số. Sao Mộc có đến 64 vệ tinh, trong đó có vệ tinh Europa với một lớp băng dày đến vài cây số,  bên dưới lớp băng này có thể có nước loãng và cũng có thể có sự sống. Một vệ tinh của sao Mộc là hành tinh Ganymede, lớn hơn cả sao Thủy; đó là vệ tinh lớn nhất trong hệ Mặt trời. Sao Mộc lớn hơn Mẹ tới 318 lần, và phần lớn của sao Mộc cũng như của Mặt trời được làm bằng khinh khí và Hélium. Sau sao Mộc thì đến sao Thổ (Saturn), tuy nhỏ hơn sao Mộc nhưng cũng lớn hơn Bồ tát Địa Cầu Mẹ của chúng con đến gần 100 lần. Sao Thổ cũng có tới 62 vệ tinh đi quanh yểm trợ, trong đó có vệ tinh Titan – vệ tinh này lớn hơn sao Thủy. Vệ tinh Titan là Mặt trăng lớn thứ hai của hệ Thái Dương, sau Ganymede và lớn gấp ba lần so với Mặt trăng của Địa Cầu chúng con. Ngoài ra còn có sao Thiên Vương (Uranus) và Hải Vương (Neptune) là hai vệ tinh cuối cùng trong hệ Mặt trời. Chúng hội của Bụt Mặt trời như thế là rất đông đảo và chúng con cảm thấy đây là một gia đình thực thụ, một tăng thân ấm cúng đang đi thiền hành chung một cách mầu nhiệm trong dải Ngân Hà.

Chúng con thường quán sát rằng mỗi chúng con đều có một trái tim trong cơ thể và nếu trái tim trong chúng con ngừng đập thì chúng con phải chết liền lập tức. Nhưng nhìn lên, chúng con biết Mặt trời cũng là một trái tim khác của chúng con, không phải nằm trong cơ thể nhỏ bé này mà nằm trong cơ thể Thái Dương hệ. Nếu Mặt trời Cha chúng con biến mất thì sự sống của chúng con cũng như sự sống của Mẹ đều phải chấm dứt. Cho nên chúng con thường quán chiếu về trái tim Mặt trời để thấy được sự có mặt thường xuyên của Cha trong chúng con và ngoài chúng con, để thấy được ngoài và trong cũng chỉ là những ý niệm.

Vòng tay của Cha rất rộng, chúng con biết nếu Cha ôm Mẹ và chúng con vào lòng thì cả Mẹ và chúng con đều trở thành tro bụi, chất hơi và chất loãng. Tuy nhiên, Mẹ đã biết sử dụng dưỡng khí từ quá trình quang hợp để tạo nên một lớp ozone trên thượng tầng khí quyển, giúp ngăn chận lại những tia phóng xạ cực tím, nhờ đó che chở được cho các loài sinh vật đang được Mẹ nuôi dưỡng. Sở dĩ chim chóc vẫn được cái hạnh phúc trở về với mây trời thênh thang, sở dĩ hươu nai vẫn có cái thích thú chạy nhảy ở đồng quê, đó là nhờ khả năng đùm bọc và che chở của Mẹ. Mẹ đã tiếp thu, đã gặt hái ánh sáng của Cha một cách khéo léo để nuôi dưỡng đàn con của Mẹ và làm cho Mẹ xinh đẹp hơn từ gần hơn một tỷ năm nay. Chúng con biết tương lai của Mẹ con ta tùy thuộc vào tương lai của Cha Mặt trời. Nhật quang của Cha sẽ tăng lên gấp 40 phần trăm nhật quang bây giờ trong ba tỷ rưỡi năm nữa và nếu Mẹ không đổi thay quỹ đạo, thì tất cả đại dương trên thân hình Mẹ sẽ khô cạn mau chóng, và sự sống trên thân hình Mẹ sẽ không còn.

Có những đứa con của Mẹ thấy Cha ngày nào cũng đi từ phương Đông sang phương Tây và nghĩ rằng quê hương của Cha, tịnh độ của Cha là ở phương Tây. Nhưng chúng con đã thấy được như Mẹ rằng đó chỉ là một biểu tượng. Cha đang có mặt khắp nơi: đứng bên này bán cầu mà nhìn thì Cha ở phương Tây nhưng đứng ở bên kia bán cầu mà nhìn thì Cha đang ở phương Đông. Bụt không phân biệt Nam và Bắc, trong và ngoài. Cha con đang ở trên đầu nhưng Cha con cũng đang ở trong con và trong Mẹ. Thấy được Cha được Mẹ trong con rồi thì con đâu còn phải đi tìm cầu nữa.

 

Mẹ đã gặt ánh sáng của Cha để làm nên sự sống,
làm  nên  chiếc  áo  màu  xanh  tuyệt  diệu  của ngày hôm nay.

Chắc Mẹ còn nhớ là hồi mới được tượng hình từ khối tinh vân đầy bụi và các chất hơi của Cha để lại, thì Mẹ, cũng như Cha, bấy giờ chưa có chiếc áo lụa mát mẻ của ngày hôm nay. Ngày ấy chiếc áo của Mẹ làm bằng chất loãng và rất nóng. Từ từ nhờ hơi nước tụ lại trong bầu khí quyển mà da thịt Mẹ mát lạnh lại, và tạo thành một lớp vỏ cứng. Đó là vào khoảng năm tỷ năm về trước. Hào quang của Cha hồi ấy chỉ rạng rỡ vào khoảng 70% hào quang bây giờ. Nhưng các chất hơi nhà kính và ánh sáng của Cha đã nâng cao sức ấm trên mặt đất, và giúp sưởi ấm cho Mẹ, khiến cho các đại dương của Mẹ không trở thành đông đặc.

Mẹ ơi, từ bốn tỷ năm về trước các nguyên tử – có thể đã đến từ ngoài không gian – đã biết giao lưu với nhau và có khả năng tự tái tạo để sản sinh ra những phân tử đầu tiên. Những phân tử đó trở thành gần như các tế bào sống, làm nền tảng để cho Mẹ bắt đầu tạo nên sự sống. Những hạt bụi từ các ngôi sao xa hàng triệu năm ánh sáng đã đến viếng thăm Mẹ và ở lại với Mẹ. Phép quang hợp đã cho Mẹ khả năng gặt hái ánh sáng của Cha để làm nên sự sống. Những tế bào nhỏ từ từ đi vào nhau tạo thành những tế bào lớn, những sinh vật đơn tế bào từ từ đi tới những sinh vật đa tế bào. Sự sống từ dưới nước bắt đầu đi lên đất và bây giờ đây Mẹ đã có một chiếc áo màu xanh tuyệt diệu. Nhưng vô thường là bản tính của vạn pháp cho nên sự sống trên hình hài Mẹ đã hơn năm lần bị biến cố tiêu diệt trên một bình diện khá lớn. Biến cố gần nhất là khi một thiên thể chạm vào hình hài Mẹ, làm diệt chủng loại khủng long và nhiều loài bò sát vĩ đại khác. Tuy nhiên nhiều loài động vật nhỏ bé hơn như loại bộ nhũ vẫn còn sống sót được. Trong khoảng 65 triệu năm vừa qua, các loài này đã sinh sôi nẩy nở phân thành nhiều chủng loại.

Và chỉ mới mấy triệu năm vừa qua thôi, loài người chúng con mới bắt đầu xuất hiện dưới hình thức những loại vượn giả nhân như vượn orrorin tugenensis có khả năng đứng dậy và buông thõng hai tay. Từ đó con vượn có khả năng sử dụng khí cụ, và các biện pháp liên lạc giúp cho bộ não được nuôi dưỡng, nẩy nở và tiến hóa thành con người. Hoạt động nông nghiệp và các nền văn minh bắt đầu giúp cho con người trở thành một sinh vật có được thứ quyền năng mà chưa bao giờ các loại sinh vật khác có được trên mặt đất. Con người khi xấu ác có thể trở thành hiểm độc và bạo động vô cùng, nhưng con người khi tu tập có thể trở nên những bậc hiền thánh, các vị Bụt, các vị Bồ tát có thể thương yêu và cứu giúp không những cho đồng loại mà còn cho những chủng loại khác và cũng có khả năng bảo hộ cho Mẹ, giữ gìn sắc đẹp cho Mẹ.

 

Mẹ là Tịnh độ, là quê hương mà chúng con có thể trở về trong mỗi bước chân.
Chúng con không cần đi tìm một Tịnh độ hay một Thiên quốc ở một nơi nào khác hoặc ở trong tương lai.

Kính lạy Mẹ, ở đâu có đất là ở đấy có Mẹ. Đất Mẹ sinh trưởng ra chúng con, chuyên chở chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Nếu chúng con nuôi dưỡng được ý thức là trong Mẹ luôn luôn có con và trong con luôn luôn có Mẹ thì cả Mẹ cả con đều an vui và khỏe mạnh. Nhưng có những đứa con của Mẹ không thấy được điều ấy cho nên thường hay tự đánh mất mình, không có khả năng nhận diện được hình hài mình cũng là hình hài Mẹ, tâm tư chìm trong tạp niệm hoặc trong thế giới ảo mộng, quên rằng mình đang có một hình hài tuyệt diệu do Mẹ ban cho.

Chúng con mỗi ngày nguyện đi từng bước chân chánh niệm, ý thức rõ rệt là mình đang giẫm chân trên thật địa, để trong mỗi bước chúng con có thể tiếp xúc với Mẹ, với những mầu nhiệm của sự sống biểu hiện trên hình hài Mẹ. Chúng con biết là mỗi bước chân như thế đều có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước chân như thế có thể đem chúng con về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với Mẹ. Mẹ là Tịnh độ, nơi vô số các vị Bụt và Bồ tát đã được sinh ra và đã thành đạo, đã giáo hóa. Chúng con không cần đi tìm một Tịnh độ hay một Thiên quốc ở một nơi nào khác hoặc ở trong tương lai. Mẹ là một Tịnh độ xinh đẹp tuyệt vời, Mẹ là quê hương của chúng con mà chúng con có thể trở về trong mỗi bước chân. Chúng con không muốn mơ tưởng về một Thiên quốc hay một cõi cực lạc nào khác nữa.

Thầy của chúng con là con của Mẹ, đã thành đạo dưới gốc một cây Bồ đề, đã nhận nơi này làm quê hương. Chúng con cũng muốn nối tiếp sự nghiệp của Thầy, nguyện đời đời kiếp kiếp ở lại với Mẹ, giúp cho Mẹ thêm tài năng và sức khỏe để cho ra đời rất nhiều vị Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất.

Có những người thiếu chánh tư duy, nghĩ rằng Ta bà và Tịnh độ là hai cõi khác nhau, và khuyên chúng con nên phát tâm nhàm chán cõi Ta bà để cầu sinh về cõi Tịnh độ. Họ không biết rằng nếu tâm họ thanh tịnh, đầy thương yêu, nếu họ có khả năng biến rác thành hoa, lấy bùn nuôi sen thì họ sẽ thấy phiền não tức bồ đề và Ta bà là Tịnh độ. Họ không biết rằng tùy theo cách nhìn của họ mà cõi này là Tịnh độ hay Ta bà. Mỗi biểu hiện trên thân hình Mẹ, như một đám mây bay hay một chiếc lá rơi cũng đủ cho chúng con thấy được tự tính không sinh không diệt, không có không không của thực tại mầu nhiệm, và chúng con có thể rong chơi thỏa thích mà không cần sợ hãi lo âu về có không, còn mất, thêm bớt và dị đồng.

Kính lạy Mẹ, có những đứa con của Mẹ còn đặt câu hỏi sau khi hình hài mà Mẹ cho tan rã thì họ sẽ đi về đâu, nhưng chúng con biết rất rõ là chúng con sẽ trở về với Mẹ. Đó là một điều hiển nhiên. Nếu biết quán chiếu, chúng con sẽ thấy được tự tính không đi không về của vạn pháp, và chúng con sẽ không còn thắc mắc về chuyện đi và về. Biết rằng Mẹ đã từng cho chúng con biểu hiện thì Mẹ sẽ tiếp tục cho chúng con biểu hiện. Mỗi lần biểu hiện là một lần mới tinh, do đó chúng con không cần phải lo âu, sợ hãi nữa.

Mỗi khi ngồi yên trên đất Mẹ, ý thức là Mẹ đang có trong con, con luôn luôn ao ước có những đức lớn của Mẹ, đó là đức kiên trì chịu đựng, đó là đức trung hậu bền vững, đó là đức vô úy đại hùng, đó là đức sáng tạo không hề biết mỏi. Chúng con nguyện hành trì để có được đầy đủ những đức ấy của Mẹ, và chúng con biết rằng Mẹ đã gieo tất cả những hạt giống tiềm năng ấy trong tâm điền của mỗi chúng con.

Các con của Mẹ sinh ra đều xinh đẹp và đã cùng góp sức làm cho Mẹ thêm xinh đẹp. Một hồ nước trong, một cây tùng xanh, một áng mây hồng, một đỉnh núi tuyết, một khu rừng thơm, một con hạc trắng, một chú nai vàng…, tất cả những biểu hiện mầu nhiệm ấy đều là con của Mẹ và đứa nào cũng có thể làm cho Mẹ càng ngày càng xinh đẹp. Chúng con là con của Mẹ, mà cũng là tự thân của Mẹ, bởi vì Mẹ đang có mặt trong mỗi chúng con. Vì Mẹ có Phật tính cho nên đứa con nào của Mẹ cũng có Phật tính, có khả năng tỉnh thức để biết sống hạnh phúc trong tinh thần trách nhiệm.

 

Chúng con đang tập thương Mẹ, thương Cha và thương nhau trong ánh sáng của tuệ giác bất nhị và tương tức. Chúng con biết cái thấy bất nhị và tương tức giúp chúng con vượt thoát mọi kỳ thị, sợ hãi, ganh tị, oán thù và tuyệt vọng.

Mẹ ơi, loài người chúng con nhờ có ý thức nên đã học hỏi và nhận diện được sự có mặt của mình, đã tìm ra vị trí thật của chúng con giữa lòng Mẹ và trong lòng vũ trụ. Chúng con biết là chúng con nhỏ bé vô cùng, nhưng tâm lượng của chúng con có thể bao trùm được cả ba ngàn thế giới. Chúng con đã biết rằng hành tinh xinh đẹp của chúng con không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là một trong những biểu hiện nhiệm mầu nhất của vũ trụ. Chúng con đã phát triển được khoa học và kỹ thuật, chúng con đã khám phá ra được tự tính bất sinh bất diệt, không có cũng không không, không thêm cũng không bớt, không một cũng không khác của thực tại. Chúng con biết cái một chứa đựng cái tất cả, cái lớn nằm trong cái nhỏ, và mỗi hạt bụi có thể chứa đựng được cả pháp giới.

Chúng con đã chế tạo được những viễn vọng kính có thể tiếp thu được những ánh sáng mà mắt con người không thể nào thu nhận được, như những tia hồng ngoại (infrarouges), tia tử ngoại (ultraviolets), tia X, hoặc tia gamme. Chúng con đã đặt những chiếc kính viễn vọng ấy trên những đài quán sát không gian, vượt lên cả bầu khí quyển mờ đục bao quanh đất Mẹ, cao hơn mặt đất có khi cả hàng ngàn cây số, và chúng con đã thấy được như Mẹ: một vũ trụ sáng rỡ nhiệm mầu không thể nào tả nổi. Chúng con đã thấy được những tinh hà xa xăm, những vì sao cách xa chúng con cả hàng trăm triệu năm ánh sáng. Và nhờ thế chúng con cũng thấy được thêm những nhiệm mầu của Mẹ và của cả chúng con. Tâm thức của chúng con cũng là tâm thức của Mẹ và của cả vũ trụ. Vũ trụ rạng ngời xinh đẹp kia mà chúng con thấy được cũng chính là tâm thức ấy mà không phải là một cái gì khách quan ở ngoài tâm thức ấy. Những đứa con nào của Mẹ biết tu tập, nhìn sâu với chánh niệm và chánh định cũng đạt được khả năng của Diệu Quan Sát Trí ấy.

Chúng con đang tập thương Mẹ, thương Cha và thương nhau trong ánh sáng của tuệ giác ấy. Chúng con biết cái thấy bất nhị và tương tức giúp chúng con vượt thoát mọi kỳ thị, sợ hãi, ganh tị, oán thù và tuyệt vọng. Chúng con nguyện trao truyền tuệ giác ấy cho những thế hệ tương lai. Chúng con không còn dại dột cho rằng con người là chúa tể của vũ trụ, và đã thoát được ý niệm về một đấng tạo hóa tồn tại dưới hình thức một con người. Có những đứa con của Mẹ đã đạt được cái thấy siêu việt lưỡng nguyên về thiện và về ác, không còn thắc mắc với cái ý chí của Đất và Trời. Nhiều đứa trong các con của Mẹ đã không còn tin vào sự có mặt của một ông g ngồi trên trời để điều khiển mọi việc trên mặt đất, hay sự có mặt của một bà tiên trên mây có thể tìm tới cứu độ cho ta khi ta có tai nạn.

Lạy Mẹ, con biết thế giới bản môn là tự tính đích thực của chúng con, không sinh không diệt, không tới không đi. Nếu chúng con biết tiếp xúc với tự tính ấy thì chúng con sẽ có an bình, hạnh phúc, không còn lo lắng và sợ hãi. Chúng con biết bản môn không phải là một cái gì tách ra khỏi tích môn. Nếu chúng con tiếp xúc được sâu sắc với bất cứ một cái gì của thế giới tích môn, dù cho là một chiếc lá, một bông hoa, một đám mây, một con hạc, một dòng sông, một đỉnh núi hay chính hình hài của chúng con là chúng con đồng thời tiếp xúc được với bản môn ấy. Bản môn ấy là chân như, là pháp thân, vượt ra ngoài những ý niệm có không, tâm vật, chủ thể đối tượng, nhân hay phi nhân. Nó luôn luôn chiếu sáng. Tiếp xúc với bản môn, chúng con sẽ có an lành và thoải mái như những con chim về được với trời mây hay những con nai thảnh thơi chạy nhảy ở đồng quê. Chúng con biết chúng con không cần phải đi tìm bản môn ấy ở một nơi nào xa xôi, bởi vì bản môn ấy là tự tính của chúng con, có mặt trong chúng con ngay trong giây phút hiện tại. Thực tập chánh niệm, quán chiếu duyên khởi, thực chứng không và tương tức là chúng con có thể trở về bản môn bất cứ lúc nào.

Nhiều đứa con của Mẹ khi đi ngang qua khổ đau đã quyết chắc rằng những gì gây khổ đau là ác và những gì đem lại an vui là thiện, mà không biết rằng khổ đau và hạnh phúc tùy thuộc vào cái nhìn của mình rất nhiều. Chúng con thấy sự vật như thế là vì các giác quan của chúng con như thế, nếu các giác quan của chúng con được cấu thành một cách khác hơn thì chắc chắn chúng con sẽ thấy sự vật khác hơn. Vì vậy các con biết rằng hạnh phúc và khổ đau cũng như Tịnh độ hay Ta bà tùy thuộc rất nhiều nơi cách thức chúng con quán chiếu về sự vật.

Chúng con biết thực tại tuyệt đối nằm ngoài mọi ý niệm sinh diệt và có không. Bụt có thể là một con người nhưng cũng có thể là một vì sao, các vị Bụt và Bồ tát lớn đã có mặt từ vô thỉ mà không nhất thiết phải mang hình thức con người, vì con người là một sinh vật xuất hiện rất muộn trên một hành tinh tương đối bé nhỏ: đó là Mẹ yêu quý của chúng con.

Cũng như Cha, tự tính của Mẹ là vô sinh bất diệt. Chúng con biết nếu tự tính của Mẹ là như thế thì tự tính của chúng con cũng như thế, nghĩa là vô sinh bất diệt. Chúng con cám ơn Mẹ đã thị hiện như một vị Bồ tát, không phải dưới hình thức một con người mà dưới hình thức một hành tinh. Dù chúng con có nhân cách hóa Mẹ, gọi Mẹ như gọi một bà mẹ người, thì chúng con vẫn biết Mẹ là Mẹ của tất cả mọi loài, trong đó có loài người chúng con.

 

Cũng như Cha và Mẹ, tự tính của chúng con là vô sinh, bất diệt.
Tự tính của chúng con cũng là Di Đà, là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng.

Lạy Mẹ, có những người gọi tên Cha suốt ngày mà không biết là Cha đang có mặt trong bản thân mình và ngay trên đỉnh đầu mình. Họ không biết tự tính của họ là Di Đà, là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng. Họ không biết họ là con của Cha, con của Mặt trời. Chính đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng con, cũng đã tự nhận là con cháu của dòng dõi Mặt trời. Chúng con ngày đêm được tiếp xúc với Cha như một thực tại nhiệm mầu mà không phải chỉ là một danh hiệu. Nếu Cha chúng con là vô lượng quang, vô lượng thọ, thì chúng con cũng là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng. Mỗi tế bào của chúng con đều có thể chiếu rọi hào quang và đi về tương lai.

Lạy Mẹ, có những người đang bước trên đất Mẹ mà vẫn mong cầu tìm về một cõi Tịnh độ, không biết Mẹ chính là một cõi Tịnh độ tuyệt vời đang có mặt trong giây phút hiện tại. Họ không thấy được Tịnh Độ Duy Tâm, không thấy rằng nếu tâm mình thanh tịnh thì cõi đất mình đang giẫm lên trở thành Tịnh độ. Chúng con được ngày đêm rong chơi miền Tịnh độ nhờ tuệ giác ấy, nhờ  pháp môn an trú với chánh niệm trong giây phút hiện tại. Chúng con đã có Tịnh độ, chúng con không còn đi tìm. Mẹ có khả năng chuyên chở chúng con ít nhất là 500 triệu năm nữa. Sau đó mẹ có thể hiện thân thành một hành tinh khác và chúng con cũng sẽ hiện thân thành những thực tại nhiệm mầu khác trên hình hài Mẹ.

Kính lạy Mẹ, Mẹ có những đứa con tự hào là giỏi toán học, là công nhân khéo, là kiến trúc sư tài ba, nhưng ít ai thấy được Mẹ là nhà toán học vĩ đại nhất, người công nhân khéo tay nhất và vị kiến trúc sư tài ba nhất. Chỉ cần nhìn vào một cánh hoa anh đào, một chiếc vỏ ốc hay một con dơi là thấy được điều đó. Chúng con có những họa sĩ tài ba, nhưng những bức tranh của chúng con làm sao so sánh được với những bức tranh của Mẹ vẽ ra trong bốn mùa? Làm sao chúng con vẽ được một buổi bình minh hào hùng như thế, làm sao chúng con vẽ được một hoàng hôn rạng rỡ như kia? Chúng con có những nhạc sĩ tài ba nhưng những bản hợp ca của chúng con làm sao bì kịp với những buổi hòa tấu mầu nhiệm của đất trời, những tiếng hải triều hùng vĩ? Chúng con có những chiến sĩ anh hùng gội nắng dầm mưa, trèo non vượt suối, nhưng có ai có được sức kiên nhẫn chịu đựng và khả năng ôm ấp lâu dài như Mẹ? Chúng con cũng có những tình yêu lớn nhưng có ai có được cái tình yêu ôm trọn được muôn loại, không kỳ thị không phân biệt, như tình thương vĩ đại của Mẹ?

Kính lạy Mẹ, bây giờ đây mỗi khi giẫm chân trên đất Mẹ là con vượt thoát được các ý niệm vật chất và tinh thần. Thực tại nhiệm mầu của Mẹ vượt thoát ý niệm vật chất và tinh thần. Tâm và vật chẳng qua là hai ý niệm, chỉ là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không phải là vật chất bởi vì có cái biết trong nó. Hạt bụi kia không phải là vật chất bởi vì mỗi nguyên tử trong nó đều có sự thông minh, đều là những thực tại linh động. Tự tính của chúng con cũng là tự tính của Mẹ. Tự tính của Mẹ cũng là tự tính của vũ trụ; đó là tự tính tương tức, không có không không, không sinh không diệt, không thêm không bớt, không vật không tâm, không trong không ngoài, không tới không đi. Đất là một trong bốn đại nhưng đất ôm cả các đại khác trong lòng bởi vì đất được làm bằng những yếu tố không phải là đất. Bốn đại cũng mang trong lòng thời gian, không gian và tâm thức. Mỗi bước đi cho chúng con thấy sự thực sáu đại dung thông. Phật tính không phải chỉ có mặt trong con người mà có mặt trong muôn vật.

 

Chúng con phải học nhìn thế giới hiện tượng bằng cái thấy bản môn.
Nếu biết quán chiếu một cách sâu sắc, chúng con có thể vượt thoát mọi sầu khổ và hờn oán.

Kính lạy Mẹ, Mẹ là một vị Bồ tát lớn đã cho ra đời nhiều vị Bụt và Bồ tát, trái tim của Mẹ ôm lấy thái hư và trí tuệ của Mẹ chiếu sáng mười phương. Chúng con làm sao đem cái hiểu và cái thương của chúng con mà đánh giá được cái hiểu và cái thương của Mẹ. Có những đứa con chưa hiểu được Mẹ, oán hờn Mẹ đã sinh ra chúng để chúng phải khổ đau: “Thiều chi hoa, kỳ diệp thanh thanh, tri ngã như thử, bất như vô sinh” (Hoa thiều lá nó xanh xanh, thân ta biết thế đừng sinh ra đời),  “Thiên địa bất nhân, thị vạn vật như sô cẩu” (Trời đất không có tình thương, xem vạn vật như chó rơm).

Quán chiếu cho sâu, chúng con thấy chúng con có thể vượt thoát mọi sầu khổ và hờn oán. Tiếp xúc sâu sắc được với tích môn, chúng con thấy được bản môn và hiểu được những gì đang xảy ra trong tích môn. Trong bản môn không có sinh, không có diệt, không có khổ, không có vui, không có đi, không có tới, không có thiện, không có ác. Chúng con phải học nhìn thế giới  hiện tượng bằng cái thấy bản môn. Nếu không có tử thì không có sinh, nếu không có khổ thì không có vui, nếu không có ác thì không có thiện, nếu không có bùn thì không có sen. Bùn và sen không phải là kẻ thù của nhau. Sen và bùn nương nhau mà biểu hiện, khổ vui và thiện ác cũng thế.

Vì cái thấy về thiện ác của chúng con còn có tính cách nhị nguyên cho nên mới có những đứa con đem lòng oán trời trách đất. Chúng con thường đem cái tâm nhỏ bé của chúng con để phán xét cái tâm lớn lao của Đất và của Trời. Những cơn lũ lụt, những trận cuồng phong, những trận hải chấn không phải là sự biểu hiện giận dữ của Mẹ hay của Cha hay những hành động trừng phạt mà chỉ là những gì phải thỉnh thoảng xảy ra trong tích môn để thiết lập lại thế thăng bằng. Một ngôi sao băng cũng thế. Để thiết lập thế cân bằng trong thiên nhiên, các chủng loại có khi phải chịu thiệt thòi, nhưng sự tàn bạo nào cũng kéo theo cái thảm khốc của nó, khi mức nhu yếu sinh tồn được thay thế bằng tham vọng và kiêu căng.

Chúng con đã thấy được rằng khi một chủng loại phát triển quá mau chóng và quá mức, gây tổn hại nặng nề, đe dọa sự sống còn cho những chủng loại khác thì tự nhiên có những nguyên nhân và điều kiện được phát sinh đưa tới sự tổn thất nặng nề hoặc hoại diệt của chủng loại ấy, để thế cân bằng được thiết lập lại giữa các chủng loại với nhau. Những nguyên nhân hoặc điều kiện nầy thường phát sinh từ bên trong của chủng loại ấy. Chúng con đã học được bài học là khi mình tàn ác với đồng loại và các loài khác là mình tàn ác với chính mình. Và khi mình biết bảo hộ cho muôn loài là mình đã bảo hộ cho chính bản thân.

 

Chúng con nguyện noi gương các vị Bụt và Bồ tát để tiếp nối được Mẹ, để xứng đáng là con của Mẹ.
Và chúng con cũng muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có mặt lâu dài với chúng con.

Kính lạy Mẹ, nơi mỗi chúng con đều có Phật tính, bởi vì chúng con đều là con của Mẹ, dù chúng con là con người hay một loại sinh vật khác, một loại thảo mộc hay một loại khoáng chất. Loài người chúng con hay tự hào có ý thức, nhưng ý thức của chúng con chỉ là một công dụng trong nhiều công dụng khác của tâm thức, trong đó có Tàng thức và Yếm Ma La thức. Ý thức của chúng con cho chúng con khả năng nhận diện sự có mặt của chính mình và của vũ trụ trong giây phút hiện tại, nhưng ý thức ấy còn bị hạn chế bởi khuynh hướng phân biệt giữa có và không, sinh  và  diệt, trong  và   ngoài, một  và tất cả.

Có những đứa con của Mẹ đã tu tập, đã quán chiếu, đã tịnh hóa và đã đạt tới Trí Vô Phân Biệt, tiếp xúc được với Niết bàn, với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Chắc chắn Mẹ đã tự hào với những đứa con như thế, những đứa con đang tiếp nối được Mẹ trên quá trình tiến hóa, những đứa con có khả năng giáo hóa để giúp cho kẻ khác cũng đạt được cái thấy bất nhị, chuyển hóa mọi phân biệt, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng.

Mẹ đã sinh ra được nhiều vị Bụt và Bồ tát lớn. Chúng con xin hứa với Mẹ là sẽ noi gương các bậc đàn anh và đàn chị ấy để đi lên, để xứng đáng là con của Mẹ, để xứng đáng đại diện cho tâm thức mầu nhiệm của Mẹ. Chúng con biết vạn pháp đều vô thường, vô ngã. Mẹ, Cha, các vị Bụt và Bồ tát cũng thế. Chúng con biết đứng về phương diện bản môn mà nói thì thọ mạng của Cha, của Mẹ, của muôn loài trong đó có những chiếc lá và nụ hoa là vô lượng, đứng ngoài sinh diệt có không. Nhưng đứng về phương diện tích môn, chúng con cũng muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có thể tiếp tục có mặt lâu dài trong hình thức xinh đẹp hiện tại của Mẹ, không những trong 500 triệu năm mà còn lâu dài hơn thế nữa. Chúng con muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có mặt lâu dài với chúng con trong hệ Thái Dương ấm áp này.

 

Thấy được đức vững chãi và kiên trì nơi Mẹ,
chúng con biết là chúng con phải trở về nương tựa nơi Mẹ.

Và Mẹ cũng có thể  tin tưởng và trông cậy chúng con.

Lạy Mẹ, có những lúc chúng con đau khổ thật nhiều vì thiên tai xảy ra. Chúng con ý thức rằng trong khi chúng con khổ thì Mẹ cũng đau khổ. Có khi chúng con hướng về Mẹ và hỏi: Chúng con có thể trông cậy và nương tựa vào Mẹ không? Những lúc ấy Mẹ không trả lời ngay cho chúng con. Sau đó Mẹ đã nhìn chúng con bằng con mắt đại bi và nói: “Cố nhiên là các con có thể nương tựa vào Mẹ, vì Mẹ sẽ luôn luôn có mặt đó cho các con. Nhưng các con cũng phải tự hỏi câu hỏi này: Liệu Mẹ có thể tin tưởng và trông cậy vào các con hay không?” Lạy Mẹ, chúng con đã thức nhiều đêm không ngủ với công án ấy. Bây giờ đây, với những khuôn mặt đầm đìa nước mắt, chúng con đến quỳ dưới chân Mẹ và dâng câu trả lời chân thành này lên Mẹ: “Mẹ từ bi và thánh thiện của chúng con ơi, Mẹ có thể trông cậy và tin tưởng ở chúng con”.

Lạy Mẹ, con thấy cả Pháp giới trong Mẹ và Mẹ trong con. Dù Mẹ là Mẹ của mọi loài, không phải chỉ là Mẹ của con người, chúng con vẫn có thể tâm sự được với Mẹ bằng ngôn ngữ của loài người, có thể hiểu được Mẹ và biết rằng Mẹ đang muốn chúng con sống như thế nào để mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày chúng con có thể chế tác được năng lượng chánh niệm, bình an, vững chãi và thương yêu. Chúng con nguyện sẽ làm theo ý Mẹ. Chúng con có niềm tin vững chãi rằng nếu loài người chúng con cứ tiếp tục chế tác hàng ngày những năng lượng an lành ấy thì chúng con có thể giúp được mọi loài làm giảm bớt những khổ đau do chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật gây ra, có thêm được niềm vui sống, thừa hưởng được sự có mặt của Mẹ, của Pháp giới, và cũng có thể giúp làm giảm thiểu lại các thiên tai như hồng thủy, bão tố, địa chấn và hải chấn. Xin Mẹ an lòng tin tưởng ở chúng con.

Nhất tâm kính lễ Đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, đức Bụt Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang A Di Đà hiến tặng sự sống trên hành tinh Đại Địa.

Nhất tâm kính lễ Đức Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, Mẹ của muôn loài luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu.

Tâm tình với Đất Mẹ

Tâm tình với Đất Mẹ

Với tác phẩm Tâm tình với Đất Mẹ, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã mang đến một cái nhìn đặc biệt về môi trường và trách nhiệm của con người đối với trái đất. Với cái nhìn này Thiền Sư đã cho ta thấy vũ trụ là một quần thể có mối liên hệ mật thiết với nhau mà ở đó Thiền Sư gọi bằng những cái tên trìu mến là Mẹ đất, cha Trời và dì Trăng.

Tâm Tình với Đất Mẹ là một tác phẩm mới nhất của Thiền Sư, có khả năng đem lại sự tổng hợp kỳ diệu giữa Phật học, khoa học, tôn giáo và triết học. Đây là một thông điệp đánh thức ta trở về tiếp xúc với Đất Mẹ, hành tinh xanh đẹp của chúng ta. Đất Mẹ là một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng ta. Mỗi khi ta lao đao, lận đận, đánh mất mình trong quên lãng, buồn tủi, hận thù, cô đơn và tuyệt vọng, ta có thể trở về tiếp xúc, nương tựa nơi Đất Mẹ để lấy lại sự bình an, phục hồi niềm vui sống và đức tự tin trong ta. Đất mẹ luôn bảo hộ, nâng đỡ và đón ta trở về.

Câu hỏi và trả lời

Nếu các bạn có câu hỏi nào liên quan đến sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày, tôi sẽ rất hoan hỷ được trả lời.

H.: Thầy có khi nào nổi giận điên lên không? Lần cuối Thầy nổi giận là khi nào?

T.L.: Là một con người, tôi có hạt giống nóng giận trong tôi, nhưng nhờ có thực tâp, tôi có thể xử lý sự nóng giận trong tôi. Nếu cơn giận nổi lên, tôi biết cách chăm sóc nó. Tôi không phải là thánh, nhờ tôi biết thực tập, tôi không còn là nạn nhân của sự nóng giận nữa.

H.: Phải mất bao lâu mới có thành công trong sự thực tập?

T.L.: Không phải vấn đề thời gian. Nếu bạn thực tập đúng và có niềm vui, bạn sẽ thành công nhanh. Tuy nhiên, nếu bạn mất nhiều thời giờ và không thực tập đúng, có thể bạn sẽ không thành công được. Cũng giống như hơi thở trong chánh niệm. Nếu bạn thở đúng, hơi thở vào đầu tiên đã có thể đem lại nhẹ khỏe và niềm vui. Nhưng nếu bạn làm không đúng, ba hay bốn tiếng đồng hồ cũng không đem lại kết quả mong muốn. Tốt nhất là có một người bạn, một người anh hay người chị đã thành công trong sự thực tập, giúp bạn và nâng đỡ bạn.

Bạn cũng có thể thực tập một mình. Khi bạn thở vào, hãy để cho hơi thở đi vào một cách tự nhiên. Hãy chú tâm đến hơi thở vào. Khi bạn thở ra, hãy để cho hơi thở đi ra một cách tự nhiên. Bạn chỉ cần nhận biết hơi thở ra.

Ðừng xen vào nó. Ðừng ép nó. Nếu bạn để cho hơi thở đi vào đi ra một cách tự nhiên và bạn nhận biết hơi thở ấy, thì sẽ có tiến bộ trong vòng mười lăm hay hai mươi giây. Bạn sẽ bắt đầu cảm thấy thích thú trong khi thở vào thở ra.

Có một lần tôi tổ chức khóa tu ở Montreal, Canada. Sau lần thiền hành đầu tiên, một bà đến hỏi tôi: “Thưa Thầy, con có thể chia sẻ thực tập thiền hành với người khác không?” Trong bảy năm từ ngày bà đến xứ này, bà chưa bao giờ được bước đi với nhiều thảnh thơi và an lạc như bà cảm thấy sau chỉ một lần thiền hành ở khóa tu. Nó đem lại sự hàn gắn, sự tươi mát cho bà nên bà muốn chia sẻ sự thực tập đi trong chánh niệm này với các bạn. Tôi trả lời: “Ðược chứ!” Bà tin tưởng rằng sau một tiếng đồng hồ đi thiền hành, người ta có thể cảm thấy nhẹ khỏe và có niềm vui. Nhưng đừng đo lường bằng thời gian. Dù là thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ăn trong chánh niệm hay làm việc trong chánh niệm, khi bạn cảm thấy có hiệu quả ngay tức khắc, và khi sự thực tập có vui thích, là bạn đã thực tập đúng.

H.: Tôi nên dành bao nhiêu thời giờ cho sự thực tập?

T.L.: Cách thiền mà tôi giới thiệu có thể được thực tập bất cứ lúc nào. Khi bạn đi từ chỗ này đến chỗ khác, bạn có thể áp dụng phương pháp đi trong chánh niệm. Khi bạn làm việc, bạn có thể dùng phương pháp làm việc trong chánh niệm. Khi bạn ăn, bạn có thể ăn trong chánh niệm. Bạn không cần phải xếp đặt một thời gian cố định nào cho sự thực tập; bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào trong ngày.

Tuy nhiên, nếu hoàn cảnh cho phép, bạn có thể để ra một ít thời giờ để làm công chuyện riêng. Ví dụ thức dậy sớm hơn mười lăm phút để bạn có thể có thú vị ngồi thiền mười lăm phút. Hay trước khi ngủ – dù cho đèn đã tắt rồi – bạn ngồi trên giường để thực tập thở trong chánh niệm. Vì bạn có nhiều việc phải làm tập thể với người khác, nên có thể bạn không có thời giờ riêng để làm điều bạn muốn. Vì vậy còn tuỳ thuộc vào sáng kiến của bạn về sự xếp đặt thời giờ. Nhưng bạn nên nhớ, bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào, dù là lúc bạn đi tiểu hay lúc bạn lau sàn nhà.

Bạn có thể lau nhà như một người tự do hay như một tên nô lệ, điều ấy tuỳ bạn. Ở đây, mọi người đều phải làm những công việc nhất định, nhưng bạn có thể làm những việc ấy như một người tự do. Bạn có thể nuôi dưỡng sự tự do cho lớn lên. Ðiều ấy sẽ đem lại cho bạn sự oai nghi và mọi người sẽ nhận thấy. Với sự thực tập, bạn thực sự là một người tự do, bất kể bạn đang sống trong hoàn cảnh nào.

Tôi đề nghị rằng mỗi lần bạn đi phòng vệ sinh, mỗi lần bạn đi đại tiện, đi tiểu tiện hay rửa tay, bạn hãy để hết 100 phần trăm của con người bạn vào động tác ấy. Hãy ngưng mọi suy tư. Chỉ cần làm động tác ấy với niềm vui. Bạn có thể cảm thấy thích thú. Trong vài tuần, bạn sẽ thấy hiệu quả tuyệt vời của sự thực tập này.

H.: Xin Thầy nói rõ về chánh niệm. Làm sao chúng con có thể thực tập khi tâm trí bị phân tán?

T.L.: Tiếng Việt, “chánh niệm” có nghĩa là thực sự có mặt trong giây phút hiện tại. Khi bạn ăn, bạn biết là bạn đang ăn. Khi bạn bước, bạn biết là bạn đang bước. Ðối nghịch với chánh niệm là “thất niệm.” Bạn ăn nhưng bạn không biết là bạn đang ăn, bởi vì tâm trí bạn để ở đâu đâu. Khi bạn đem tâm bạn trở về với những gì đang xẩy ra bây giờ và ở đây, đó là chánh niệm, và chánh niệm có thể đem lại cho bạn sự sống, thích thú và niềm vui. Ví dụ đơn giản như ăn một trái cam trong chánh niệm có thể đem lại thích thú gấp ngàn lần hơn khi ăn cam mà bạn bị vướng mắc vào lo âu, sợ hãi hay tuyệt vọng. Vậy chánh niệm là năng lượng giúp bạn thực sự có mặt với những gì đang hiện hữu.

Ví dụ bạn nghe nhiều tiếng ồn chung quanh. Bạn có thể dùng tiếng ồn làm đối tượng của chánh niệm. “Thở vào tôi nghe nhiều tiếng ồn. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ồn. Tôi biết rằng người làm ồn không luôn luôn có an lạc, và tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với họ.” Vì vậy thực tập hơi thở có chánh niệm và dùng sự đau khổ quanh bạn làm đối tượng của chánh niệm sẽ giúp những năng lượng hiểu biết và thương yêu sinh khởi trong lòng bạn.

Ở một khóa tu, một bà than phiền rằng người bạn cùng phòng ngáy lớn quá làm cho bà không ngủ được. Bà sắp đem túi ngủ đi vào thiền đường, nhưng sực nhớ điều tôi dạy, nên bà ở lại. Bà dùng tiếng ngáy như một thứ chuông chánh niệm để làm phát sinh lòng từ bi. “Thở vào tôi biết có tiếng ngáy. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ấy.” Mười phút sau bà đã ngủ ngon lành. Thật là một sự khám phá kỳ diệu cho bà ấy.

H.: Xin Thầy nói thêm về sự tha thứ.

T.L.: Tha thứ là hoa trái của hiểu biết. Ðôi khi, mặc dù ta muốn tha thứ cho một người, ta không thể làm được. Thiện chí muốn tha thứ có đấy, nhưng sự chua chát và đau khổ cũng còn đấy. Với tôi, tha thứ là kết quả của sự nhìn sâu và hiểu biết.

Một buổi sáng trong văn phòng chúng tôi ở Paris trong thập niên bảy mươi và tám mươi, chúng tôi nhận được nhiều tin buồn. Một bức thư đến, kể rằng một em bé gái mười một tuổi đi trên một chiếc thuyền vượt biển từ Việt Nam, đã bị bọn hải tặc hãm hiếp. Khi người cha cố can thiệp thì chúng nó vứt ông xuống biển. Vì vậy em bé gái cũng nhảy xuống biển và chết đuối . Tôi nổi giận. Là một con người, bạn có quyền nổi giận; nhưng là một người biết thực tập, bạn không có quyền ngưng thực tập.

Tôi không ăn sáng được; tin tức đã tràn ngập tôi. Tôi thực tập thiền hành trong khu rừng kế cận. Tôi cố tiếp xúc với cây, với chim và bầu trời xanh để an tịnh tâm hồn, và rồi tôi ngồi xuống để thiền định. Tôi ngồi thiền khá lâu .

Trong lúc ngồi thiền, tôi thấy mình là một em bé sinh ra trên vùng bờ biển Thái Lan. Cha tôi là một người đánh cá nghèo, mẹ tôi là một người vô học. Quanh tôi đầy cảnh nghèo khó. Khi tôi mười bốn tuổi, tôi phải làm việc cùng với cha tôi trên chiếc thuyền đánh cá để mưu sinh; làm việc rất nhọc nhằn. Khi cha tôi mất, tôi phải làm thay cha tôi để nuôi sống gia đình.

Một người đánh cá tôi quen cho tôi biết rằng nhiều thuyền nhân Việt Nam đi vượt biên, mang theo nhiều của quý, như vàng và nữ trang. Anh ta đề nghị rằng nếu chúng tôi chận đánh chỉ một trong những chiếc thuyền ấy và lấy được một số vàng thì chúng tôi sẽ giàu. Là một người đánh cá nghèo, còn trẻ, không có học thức, tôi bị anh ta cám dỗ. Và một hôm tôi quyết định đi theo anh ta để cướp thuyền nhân. Khi tôi thấy anh ta hiếp một người đàn bà trên thuyền, tôi cũng bị cám dỗ làm theo. Tôi nhìn quanh và khi thấy không có gì ngăn cản, không cảnh sát, không ai hăm dọa; tôi tự nói: “tôi cũng làm như vậy được, chỉ một lần thôi.” Ðó là vì sao tôi trở thành một tên cướp biển đi hãm hiếp một em bé gái.

Bây giờ giả sử bạn ở trên thuyền đó và bạn có một cây súng. Nếu bạn bắn tôi và giết tôi, hành động của bạn sẽ không giúp gì được tôi . Suốt đời tôi, không ai giúp tôi và suốt đời cha mẹ tôi cũng không ai giúp ông bà. Là môt đứa bé, tôi không được đi học. Tôi chơi với những đứa trẻ hư hỏng, và lớn lên tôi thành một người đánh cá nghèo khổ. Không một nhà chính trị hay giáo dục nào giúp tôi bao giờ. Và vì không ai giúp nên tôi trở thành một tên cướp biển. Nếu bạn bắn tôi thì tôi chết.

Ðêm ấy, tôi thiền quán về điều này. Tôi lại thấy mình là một chàng đánh cá trẻ trở nên một tên hải tặc. Tôi cũng thấy hàng trăm em bé sinh ra đêm ấy trên vùng dọc theo bờ biển Thái lan. Tôi nhận thấy rằng nếu không ai giúp những em bé này lớn lên có học vấn và có cơ hội sống đời sống đứng đắn, thì trong vòng hai mươi năm nữa, những em bé này cũng sẽ thành những tên hải tặc. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu tôi sinh ra làm một chú bé trong làng đánh cá ấy, tôi cũng đã trở thành một tên hải tặc. Khi tôi hiểu được như vậy cơn giận của tôi đối với những tên hải tặc tan biến mất.

Thay vì nổi giận chàng đánh cá, tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với anh ta. Tôi nguyện nếu tôi có thể làm được gì để giúp những em bé sinh ra đêm ấy trên vùng bờ biển Thái lan, thì tôi sẽ giúp. Năng lượng của cơn giận đã được chuyển hóa thành năng lượng của từ bi nhờ thiền quán. Ta không thể tha thứ nếu không hiểu biết, và hiểu biết là hoa trái của sự nhìn sâu mà tôi gọi là thiền quán.

H.: Thực chất của đạo Bụt là gì? Có phải là một tôn giáo không? Bụt có phải là một vị thần linh không?

T.L.: Bụt luôn luôn nhắc chúng ta rằng ngài là người, không phải thần linh. Ngài để lại nhiều luận văn mà ngài trao lại cho các đệ tử của ngài. Những luận văn ấy gọi là kinh. Sáng nay tôi đã cống hiến các bạn sự thực tập về hơi thở có chánh niệm. Sự thực tập này có xuất xứ từ Kinh Quán Niệm Hơi Thở.

Trong kinh này, ngài chỉ cho chúng ta mười sáu phép thực tập hơi thở có chánh niệm để xử trí với những khó khăn trong đời sống hằng ngày, để nuôi dưỡng tuệ giác và từ bi. Có những kinh khác dạy về chánh niệm đưa tới sự chuyển hóa và hàn gắn. Những kinh ấy không phải là những lời cầu nguyện. Ðó là những bản văn dạy cho bạn cách đối xử với những đau khổ và khó khăn trong đời sống hằng ngày.

Nguyên thủy, đạo Bụt không phải là một tôn giáo; đó là một lối sống. Kinh là những lời dạy của Bụt làm thế nào để chuyển hóa khổ đau và nuôi dưỡng niềm vui và lòng từ bi. Là những tu sĩ Phật giáo, chúng tôi học nhiều những kinh đó, và chúng tôi học để giảng giải cho mọi người biết đúng cách thực tập những lời dạy ấy.

Trong truyền thống đạo Bụt, chúng tôi vinh danh Ba Viên Ngọc Quý. Viên Ngọc Quý thứ nhất là Bụt: người đã tìm ra con đường của hiểu biết, thương yêu, chuyển hóa và hàn gắn. Viên Ngọc Quý thứ hai là Pháp: con đường của chuyển hóa và hàn gắn, đã được Bụt lập ra dưới dạng những luận văn, lời dạy và cách thực tập. Viên Ngọc Quý thứ ba là cộng đồng thực tập, Tăng: những người đàn ông và đàn bà đã lập thành một cộng đồng và nguyện đi theo con đường của sự thực tập thiền định và chánh niệm.

Tăng thân có nghĩa là “cộng đồng.” Mọi người trong cộng đồng đều thực tập thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm,và làm phát sinh từ bi và hiểu biết. Chúng tôi thực tập trở về nương tựa Tăng, bởi vì một Tăng thân đích thực là một cộng đồng ở đó có sự thực tập đích thực; nghĩa là có chánh niệm đích thực, hiểu biết và từ bi. Một Tăng thân đích thực chứa đựng trong tự thân Pháp đích thực và Bụt đích thực. Vì vậy khi bạn tiếp xúc được với một Tăng thân đích thực, bạn cũng tiếp xúc được với Bụt và với Pháp.

Với một Tăng thân, bạn dễ có cơ hội thành công, vì Tăng thân là phương tiện để che chở và nâng đỡ bạn trong sự thực tập. Không có một Tăng thân, bạn có thể từ bỏ sự thực tập trong vòng vài tháng. Chúng tôi có câu tục ngữ rằng khi con cọp lìa rừng để về đồng nội, nó sẽ bị người bắt và giết. Một người thực tập phải ở lại với Tăng thân mình, nếu không người ấy sẽ từ bỏ thực tập sau vài tháng. Sự nâng đỡ và dìu dắt của Tăng thân rất quan trọng.

Dù cho ở đây, bạn cũng có thể thiết lập Tăng thân riêng của bạn gồm có bốn hay năm người cùng thực tập hằng ngày; đi trong chánh niệm, thở, ăn và làm việc trong chánh niệm. Một Tăng thân có thể nâng đỡ khi ai cần đến. Một Tăng thân có thể gồm có những người cư sĩ hay xuất gia, nhưng bất cứ đâu có ít nhất bốn người cùng thực tập chánh niệm với nhau, thì đó là một Tăng thân. Về nương tựa Tăng thân là điều quan trọng, vì nếu Tăng thân thực sự thực tập, Tăng thân chứa đựng Bụt và Pháp trong ấy.

H.: Chánh niệm là gì và nó có thể đem lại những gì?

T.L.: Như tôi đã nói, chánh niệm là khả năng có thể có mặt bây giờ và ở đây . Hãy chú tâm vào việc gì đang xẩy ra. Nếu có chánh niệm thì sẽ có tập trung. Nếu bạn tiếp tục có chánh niệm về một điều gì, là bạn sẽ tập trung vào điều ấy; nó trở thành đối tượng của sự tập trung. Khi chánh niệm và sự tập trung của bạn đã giỏi rồi, bạn sẽ có được tuệ giác; bạn sẽ bắt đầu hiểu biết sâu sắc điều gì đang xẩy ra bây giờ và ở đây. Vậy tiến trình là chánh niệm, tập trung, và tuệ giác. Tuệ giác giúp bạn hiểu biết và giải phóng cho bạn ra khỏi những tri giác sai lầm. Nhờ đó bạn hết đau khổ.

H.: Chúng tôi có thể nghĩ đến quá khứ và trù tính tương lai không?

T.L.: Chánh niệm có nghĩa là tự ổn định trong giây phút hiện tại. Nhưng điều ấy không có nghĩa rằng bạn không có quyền xem xét lại tỉ mỉ và học bài học của quá khứ, hoặc là dự trù cho tương lai. Nếu bạn sống vững chắc trong giây phút hiện tại, và tương lai là đối tượng của chánh niệm, thì bạn có thể nhìn sâu vào tương lai để thấy nhũng gì bạn làm được bây giờ để có thể có được một tương lai như thế. Chúng tôi thường nói rằng cách hay nhất để lo cho tương lai là lo cho hiện tại bởi vì tương lai được làm bằng hiện tại. Chăm sóc cho hiện tại là điều duy nhất bạn có thể làm được để bảo đảm một tương lai tươi sáng.

Khi chúng ta đưa những sự kiện đã xẩy ra trong quá khứ trở về giây phút hiện tại và làm chúng trở thành đối tượng của chánh niệm, điều ấy sẽ dạy chúng ta rất nhiều. Lúc chúng ta tham dự vào những sự kiện ấy, chúng ta không thể thấy rõ ràng như chúng ta thấy bây giờ. Nhờ thực tập chánh niệm, chúng ta có được đôi mắt mới, và chúng ta có thể học được nhiều bài học từ quá khứ.

H.: Xin Thầy nói thêm về hơi thở.

T.L.:Nhờ thực tập, phẩm chất hơi thở của bạn sẽ khá hơn. Nó sẽ trở nên sâu hơn và chậm hơn. Nó đem lại niềm vui thích cho thân tâm bạn, ngoài ra không có gì thay đổi. Bạn tiếp tục thở, đi và ngồi như thường lệ, và phẩm chất của hơi thở, bước đi và sự ngồi sẽ tiến bộ. Thực tập hơi thở có ý thức phải đem lại nhiều thích thú, sự sống và niềm vui hơn. Thiền tập không đem lại điều gì tiêu cực cả. Nếu ta thấy có gì đối nghịch với an lạc, thoải mái và niềm vui, là ta đã làm sai. Thiền tập chỉ làm thăng tiến phẩm chất của đời sống trong giây phút hiện tại.

H.:Ở Tây phương, người ta nhấn mạnh đến sự thành công. Có thể có thành công hay không?

T.L.: Lấy ví dụ ta đi thiền hành. Có thể ta đi thiền hành một lúc, rồi vì ta muốn nhìn vạn vật như cỏ cây, hòn đá, mây, v.v.., ta để ý thấy một cái hoa rất đẹp trước mặt, và ta muốn ngưng thiền hành để ngắm hoa. Không sao cả, bởi vì mặc dầu ta dừng bước, nhưng sự vui thích vẫn còn.

Ngồi thiền cũng vậy. Trong khi bạn đang vui thú thở vào thở ra, có thể một ý nghĩ đột nhiên đến với bạn. Bạn có tự do lựa chọn tiếp tục hơi thở có ý thức hay là trở về với ý nghĩ ấy. Bạn có thể quyết định và nói với ý nghĩ ấy rằng:

“Tôi muốn tiếp tục hơi thở có ý thức trước khi tôi dùng thì giờ cho anh bạn.” Nếu ý nghĩ ấy chấp thuận thì nó sẽ lui về đằng sau, để cho bạn tiếp tục thiền quán. Cũng giống như khi bạn duyệt qua một chồng thư từ trên bàn giấy và để riêng một bức thư đặc biệt để đọc sau cùng.

Chánh niệm có thể là chánh niệm về một điều gì bạn thích trong giờ phút hiện tại. Nếu ý nghĩ ấy rất mạnh và muốn bạn chú ý đến ngay thì sao? Thì bạn có thể nói rằng: “Ðược rồi, tôi ngưng hơi thở có ý thức bây giờ và để ý đến anh bạn.” Rồi bạn có thể tập trung sự chú ý vào đề mục mới của thiền quán. Không có gì hại cả.

Nếu trong lúc ngồi thiền, bạn bị đau chân sau chỉ mười phút, có lẽ bạn nghĩ rằng mình phải chịu đựng sự đau đớn này và ngồi cho hết mười lăm phút, nếu không thì mình thất bại. Bạn không cần phải nghĩ như vậy. Thay vì thế bạn có thể thực tập xoa bóp trong chánh niệm. “Thở vào, tôi biết rằng tôi bắt đầu phải đổi thế ngồi. Thở ra, tôi mỉm cười với sự đau chân của tôi.” Bạn tự do lựa chọn đối tượng của sự thiền quán. Bạn đâu có từ bỏ thiền quán; không một giây phút nào của sự thiền quán bị lãng phí. Bạn không thất bại.

H.: Thế nào là một vị thiền sư?

T.L.: Một vị thiền sư là một người đã thực tập thiền quán một thời gian, đã có kinh nghiệm về thiền quán, và có thể chia sẻ sự thực tập này với những người khác.

H.: Tôi có căn bản Thiên chúa giáo . Tôi có thể thực tập chánh niệm không?

T.L.: Tôi đã nghiên cứu Thiên chúa giáo và tìm thấy có nhiều lời dạy về chánh niệm trong Thiên chúa giáo, cũng như trong Do thái giáo và Hồi giáo. Tôi nghĩ rằng chánh niệm có một bản chất chung cho toàn thế giới. Bạn có thể tìm thấy nó trong tất cả các truyền thống tâm linh. Nếu bạn nghiên cứu kỹ đời sống của một vị hiền nhân trong bất cứ truyền thống nào, bạn sẽ tìm thấy tính chất chánh niệm trong đời sống hiền nhân ấy. Một hiền nhân là người có khả năng sống sâu sắc từng giây phút của đời sống và tiếp xúc được với những gì đẹp và thật trong từng giây phút ấy.

Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể học hỏi từ nhiều truyền thống trong cùng một lúc. Nếu bạn thích cam, mời bạn cứ ăn cam, nhưng không có gì ngăn cản bạn thưởng thức thêm trái kiwi hay xoài. Tại sao phải tự cam kết với một loại trái cây mà thôi, trong khi tất cả truyền thống tâm linh của nhân loại đều sẵn sàng cho bạn? Ta có thể có gốc rễ Phật giáo cùng với gốc rễ Thiên chúa giáo và Do thái giáo. Như vậy chúng ta có thể lớn mạnh hơn.

H.: Có một mãnh lực nào hướng dẫn đời sống chúng ta? Có một lực nào mạnh hơn để chỉ đường cho chúng ta?

T.L.: Tôi đã nói rằng trong mỗi tế bào của cơ thể, bạn đều có thể tìm thấy vừa Ðịa ngục vừa Thiên đàng của Thượng đế. Mãnh lực tâm linh cao hơn hay thấp hơn đều có sẵn trong người bạn. Khi bạn có từ tâm bạn có thể tiếp xúc với từ bi khắp nơi. Khi bạn có hạt giống bạo động và hận thù, bạn sẽ bắt liên lạc với những năng lượng ấy quanh bạn. Vì vậy rất là quan trọng khi bạn lựa chọn một đài vô tuyến để mở ra xem.

Nếu bạn quyết định chỉ nuôi dưỡng mình bằng những năng lượng tích cực mà thôi, thì chánh niệm có thể giúp bạn phân biệt giữa những năng lượng thích hợp và những năng lượng không thích hợp cho bạn. Ví dụ người nào bạn nên hợp tác, loại thực phẩm nào bạn không nên ăn, chương trình truyền hình nào bạn nên xem, v.v… Chánh niệm có khả năng cho bạn biết những gì bạn cần và những gì có hại cho bạn.

H.: Xin Thầy giải thích về nguồn thơ Thầy đã làm.

T.L.: Làm thơ là điều tôi có thể làm suốt ngày. Khi tôi tưới rau hay tôi rửa bát, nguồn thơ được phát sinh trong tôi. Khi tôi ngồi xuống bàn viết là tôi chỉ việc viết ra thơ. Nguồn thơ đến với ta như một nguồn cảm hứng. Thơ là hoa trái của đời sống trong chánh niệm của tôi. Sau khi làm được một bài thơ, tôi nhận thấy nó giúp ích cho tôi; bài thơ giống như một “tiếng chuông chánh niệm.”

Ðôi khi bạn cần phải đọc lại một bài thơ đã làm vì nó đem bạn trở về một kinh nghiệm tuyệt vời; nó nhắc bạn về sự hiện hữu của một cái gì đẹp trong tâm bạn và quanh bạn. Vì vậy một bài thơ là một bông hoa mà bạn hiến tặng cho cuộc đời, và đồng thời nó cũng là tiếng chuông chánh niệm để nhắc bạn nhớ đến sự hiện hữu của một điều gì đẹp trong đời sống hằng ngày.

Mỉm cười với năng lượng tập khí của bạn

Có một thứ năng lượng rất mạnh trong mỗi chúng ta, gọi là năng lượng của tập khí. Vasana là chữ Sanskrit để chỉ tập khí. Mỗi chúng ta đều có năng lượng tập khí xúi giục chúng ta nói hay làm những điều chúng ta không muốn nói hay làm. Những năng lượng tập khí ấy gây tổn hại cho ta và cho sự liên hệ giữa ta và những người khác. Ðứng về phương diện trí thức, ta biết rằng nói hay làm một điều gì có thể gây đau khổ, ấy thế mà ta vẫn nói hay làm điều ấy. Và một khi đã nói hay làm, là bạn đã gây tổn hại rồi. Thế rồi bạn hối tiếc. Bạn đấm ngực và bức tóc. Bạn nói: “Tôi sẽ không nói hay không làm điều ấy nữa đâu.” Thế nhưng, mặc dầu bạn nói điều này với tất cả sự thành thật, lần kế tiếp, khi gặp hoàn cảnh ấy, bạn lại nói và làm điều giống hệt như vậy. Ðó là sức mạnh của năng lượng tập khí, mà có thể cha mẹ hay tổ tiên đã truyền lại cho bạn.

Hơi thở có chánh niệm có thể giúp bạn nhận diện năng lượng tập khí khi nó trồi lên. Bạn không cần phải chiến đấu với nó. Bạn chỉ cần nhận diện nó và mỉm cười với nó. Thế đủ rồi. “Chào ông bạn, năng lượng tập khí của tôi. Tôi biết ông bạn có đó, nhưng ông bạn không làm gì được tôi đâu.”

Bạn mỉm cười với tập khí, và thế là bạn được tự do rồi. Thật là một sự bảo vệ tuyệt diệu. Vì vậy tôi nói rằng chánh niệm là năng lượng của thượng đế, là năng lượng của Bụt che chở cho chúng ta .

Muốn cho năng lượng chánh niệm có hiệu quả, điều quan trọng là bạn phải thực tập đi trong chánh niệm và thở trong chánh niệm mỗi ngày. Khi năng lượng tập khí bắt đầu nổi lên, bạn tiếp tục thở, nhận diện nó và nói: “Chào ông, ông bạn tập khí của tôi. Tôi biết ông có đó, nhưng tôi đã được tự do rồi . Ông không còn xúi dục tôi nói và làm những điều ấy được nữa đâu.”

Ðó là cách giúp bạn có một lối phản ứng khác; bạn chế tác ra được một năng lượng tập khí tốt để thay thế cho năng lượng tập khí xấu.

Sự liên hệ giữa ta và những người quanh ta là tối cần thiết cho hạnh phúc của ta. Ðôi khi ta cư xử không đẹp với người khác hay với chính ta cũng vì năng lượng tập khí này. Ta phải tự đối xử một cách kính trọng, dịu dàng, và với lòng từ bi. Ðiều này rất quan trọng. Nếu ta biết kính trọng thân tâm ta thì ta sẽ biết kính trọng người khác. Ðó là cách ta chế tác hòa bình, tự do và hạnh phúc trên thế giới. Ai trong chúng ta cũng có thể làm diều nàỵ. Chúng ta chỉ cần được huấn luyện chút đỉnh. Có được một người bạn biết cách thực tập thì thật là diễm phúc. Với hai người bạn cùng thực tập, ta có thể nâng đỡ nhau trong sự hành trì nuôi dưỡng năng lượng gọi là chánh niệm, chánh niệm trong khi đi, chánh niệm trong khi thở, chánh niệm trong khi ăn.

Mỗi một giây phút trong đời sống hằng ngày đều có thể dùng để nuôi dưỡng chánh niệm – năng lượng của Bụt, của Thánh thần. Bất cứ ở đâu mà có Thánh thần là có hiểu biết, tha thứ và từ bi. Năng lượng của chánh niệm cũng cùng một bản chất như thế. Nếu bạn biết cách chế tác năng lượng này, bạn sẽ thực sự có mặt, thực sự sống và sẽ có khả năng hiểu biết sâu. Vói hiểu biết, bạn sẽ có lòng từ bi, và điều này sẽ thay đổi tất cả.

Nghệ thuật làm dịu cơn giông bão

Khi một cơn giông tố đến, nó ở một thời gian, rồi nó đi. Một cảm xúc cũng giống như thế, nó đến, nó ở lại một lúc, rồi nó đi. Một cảm xúc chỉ là một cảm xúc. Chúng ta không chết vì một cảm xúc. Chúng ta mạnh hơn một cảm xúc nhiều. Vậy khi bạn để ý biết một cảm xúc bắt đầu đi lên, thì điều quan trọng là bạn ngồi xuống cho vững vàng, hay bạn nằm xuống, vì nằm cũng là một vị thế vững vàng. Rồi bạn tập trung sự chú ý vào cái bụng của bạn. Ðầu của bạn giống như một ngọn cây trong một cơn bão. Tôi không ở lại trên ấy đâu. Hãy chú ý xuống thân cây, ở đấy vững chãi hơn.

Khi bạn đã tập trung vào bụng, hãy chú ý xuống vùng nằm ngay dưới rốn, và bắt đầu thở trong chánh niệm. Thở vào thở ra cho sâu, ý thức sự phồng lên xẹp xuống của bụng. Sau khi thực tập như vậy trong vòng mười, mười lăm hay hai mươi phút, bạn sẽ thấy bạn mạnh lên; đủ mạnh để đương đầu với cơn bão. Trong vị thế ngồi hay nằm ấy, nhớ nắm lấy hơi thở như thể một người đang trôi trên biển níu lấy cái áo phao. Sau một thời gian, cơn xúc cảm sẽ đi qua.

Ðây là một cách thực tập rất có hiệu quả, nhưng xin nhớ một điều: Ðừng đợi đến khi bạn có cảm xúc mạnh mới thực tập. Nếu bạn đợi, bạn sẽ không nhớ cách thực tập. Bạn phải thực tập bây giờ, hôm nay, khi bạn đang cảm thấy bình thản – khi bạn không phải đối diện với một cảm xúc mạnh. Ðây là lúc bạn nên bắt đầu sự thực tập. Bạn có thể thực tập mười phút mỗi ngày. Hãy ngồi xuống và thực tập thở vào thở ra, chú ý vào cái bụng. Nếu bạn làm như vậy trong ba tuần, hai mươi mốt ngày, sự thực tập này sẽ trở thành một thói quen. Rồi khi cơn giận nổi lên, hay khi một niềm tuyệt vọng tràn ngập tâm hồn, tự nhiên bạn sẽ nhớ lại cách thực tập. Một khi đã thành công, bạn sẽ có niềm tin vào sự thực tập, và bạn sẽ có thể nói với cảm xúc: “Ðược rồi, nếu ông trở lại, tôi sẽ làm đúng như vậy.” Bạn sẽ không còn lo sợ bởi vì bạn đã biết cách phải xử lý ra sao.

Hãy thực tập đều đặn. Một khi sự thực tập đã trở thành thói quen, bạn sẽ cảm thấy thiếu thốn một cái gì nếu hôm đó bạn không thực tập. Thực tập sẽ đem lại an lạc và vững chãi. Ðây là cách tự bảo vệ hay nhất mà bạn có thể có được. Tôi luôn luôn nghĩ rằng năng lượng của chánh niệm là năng lượng của Bụt, của Thượng đế, của Thánh thần, nằm sâu trong ta và che chở cho ta. Mỗi khi bạn tiếp xúc với hạt giống chánh niệm và thực tập hơi thở có ý thức, năng lượng của Thượng đế, năng lượng của Bụt sẽ hiện hữu để che chở cho bạn.

Khi bạn đã học cách thực tập, có thể bạn sẽ muốn chỉ cho một người bạn khác, một người trong họ hàng, hay con bạn, nếu bạn có con, làm thế nào để thực tập. Tôi biết nhiều bà mẹ cùng thực tập với con. Họ cầm tay con và nói: “Cưng ơi, thở với mẹ. Thở vào, con thấy bụng phồng lên. Thở ra, con thấy bụng xẹp xuống.” Họ hướng dẫn cho con cùng thở với họ, cho đến khi người con qua được cơn cảm xúc.

Nếu bạn biết cách thực tập, bạn sẽ có thể làm phát sinh năng lượng của vững chãi, và bạn có thể cầm tay một người khác để truyền cho người ấy năng lượng vững chãi của bạn. Bạn có thể giúp người ấy vượt qua được cơn giông bão; biết đâu có thể bạn cứu sống được một mạng người. Ngày nay có quá nhiều người trẻ không biết cách xử lý những cảm xúc của họ. Số lượng những người tự tử đã quá lớn. Ðây là một cách thực tập đơn giản, nhưng vô cùng quan trọng.

Hiểu biết làm khởi sinh Từ bi

Hiểu biết là chất liệu nhờ đó ta chế tác được từ bi. Nhưng hiểu gì?

Ðó là hiểu rằng người kia cũng đau khổ. Khi ta đau khổ, ta có xu hướng tin rằng ta là nạn nhân của người kia, và chỉ mình ta đau khổ thôi. Ðiều đó không đúng, người kia cũng khổ. Anh ta cũng có những khó khăn riêng, những sợ hãi, lo lắng riêng. Nếu ta có thể thấy được nỗi khổ trong lòng anh ta, ta sẽ bắt đầu hiểu anh ta. Một khi đã hiểu thì sẽ có từ bi.

Ta có đủ thời giờ để nhìn sâu vào hoàn cảnh của người kia không?

Người kia có thể là môt tù nhân như chúng ta hay là một anh gác tù. Nếu ta nhìn sâu, ta sẽ thấy rất nhiều khổ đau trong anh ta. Có lẽ anh ta không biết làm thế nào để xử lý những khổ đau của mình. Có lẽ anh ta để cho khổ đau tràn ngập vì không biết cách xử lý nó, và điều này làm cho anh ta khổ và những người quanh anh ta cũng khổ. Với tỉnh thức hay chánh niệm, bạn bắt đầu hiểu, và sự hiểu sẽ làm sinh khởi lòng từ bi. Với lòng từ bi trong tâm, bạn sẽ ít khổ hơn, và bạn được thúc đẩy muốn làm một cái gì – hay không làm cái gì – để cho người kia bớt khổ. Cách bạn nhìn hay mỉm cười với anh ta có thể giúp anh ta bớt khổ và đem lại cho anh ta niềm tin vào tâm từ bi.

Có thể nói rằng sự thực tập của tôi là thực tập nuôi dưỡng lòng từ bi. Nhưng tôi biết rằng từ bi sẽ không thể có được nếu không có hiểu biết. Và hiểu biết chỉ có thể có được nếu ta có thời giờ để nhìn sâu. Thiền có nghĩa là nhìn sâu để hiểu. Trong tu viện tôi sống, chúng tôi có nhiều thời giờ để thực hành nhìn sâu. Trong một khám đường, ta cũng có nhiều thời giờ và cơ hội để thực tập nhìn sâu. Ở đấy là một nơi thuận tiện để thực tập nhìn sâu, để cho lòng từ bi có thể tăng trưởng thành một yếu tố giải phóng. Tôi nghĩ rằng nếu một người trong các bạn, hoặc mười hay hai mươi người thực tập nhìn sâu với tâm từ bi, thì các bạn có thể chuyển hóa nơi này ngay lập tức. Các bạn có thể đem thiên đàng đến ngay đây.

Theo tôi, thiên đàng là nơi mà lòng từ bi có mặt. Khi bạn có lòng từ bi trong tâm, bạn chỉ cần thở vào thở ra, nhìn sâu, và bạn sẽ hiểu. Bạn sẽ hiểu chính bạn, và có lòng từ bi với chính mình; bạn sẽ biết cách xử lý nỗi khổ của bạn và biết tự chăm sóc. Rồi bạn có thể giúp cho người khác làm như mình, và lòng từ bi sẽ lớn lên giữa các bạn. Như vậy, bạn trở thành một vị Bụt, một vị bồ tát đem từ bi vào nơi chốn của mình và chuyển hóa địa ngục thành thiên đàng. Thiên đàng của thượng đế có được bây giờ hay không bao giờ. Ðiều này rất đúng. Có thể rằng các bạn có nhiều cơ hội để thực tập hơn chúng tôi. Bạn nghĩ sao?  

Từ bi là yếu tố giải phóng

Mỗi giây phút trong đời sống hằng ngày của bạn đều có thể là một giây phút thực tập. Khi bạn đứng xếp hàng chờ lấy thức ăn hay chờ đến lượt mình, bạn đều có thể thực tập mỉm cười và thở vào thở ra trong chánh niệm. Ðừng bỏ phí một giây phút nào trong đời sống hằng ngày. Mỗi giây phút là một cơ hội để nuôi dưỡng sự vững chãi, an lạc và niềm vui. Chỉ thực tập như vậy sau vài ngày, bạn sẽ thấy sự có mặt tươi mát của bạn nuôi dưỡng những người xung quanh. Sự có mặt của bạn trở thành sự có mặt của một vị Bồ Tát, một vị thánh. Ðiều này chúng ta có thể làm được.

Có một câu chuyện mà tôi được đọc khi còn là một chú bé bảy tuổi. Ðó là một câu chuyện tiền thân của Bụt. Chuyện kể về một kiếp trước của Bụt, khi Ngài ở trong địa ngục. Người cai ngục chẳng có một chút từ bi nào. Hắn ta cầm một cái chĩa lớn và mỗi khi có ai làm gì sai ý hắn thì hắn đâm ngay cái chĩa vào trong ngực người ấy. Dù cho đau đớn cách mấy vì sự tra tấn tàn nhẫn này nhưng các tội nhân không thể nào chết được. Ðó là một sự trừng phạt. Họ đâu đớn nhưng họ không thể chết được.

Một hôm, các tội nhân bị bắt phải vác trên lưng nhiều vật nặng. Người cai ngục, tay cầm cái chĩa nhọn và và thúc giục tội nhân phải đi nhanh hơn. Tiền thân Bụt thấy rằng một trong số những tội nhân không đi theo kịp. Người cai ngục đã bắt đầu để ý đến anh ta và luôn đưa cái chĩa ra hăm dọa ép anh phải đi nhanh hơn.

Ngay lúc đó trong lòng tiền thân Bụt ứa ra tình thương. Ngài muốn can thiệp, muốn đương đầu với người cai ngục cho dù Ngài biết rằng hắn ta sẽ quay lại và hại Ngài. Nếu sự can thiệp kết thúc bằng cái chết của Ngài thì dễ dàng để can thiệp. Ðằng này thứ hình phạt Ngài gánh chịu sẽ không làm Ngài chết, mà lại còn làm Ngài phải chịu đau đớn hơn nhiều. Mặc dù biết như vậy, Ngài vẫn can đảm đến gần người cai ngục và nói: “Ông không có một chút từ tâm nào hết sao? Sao Ông không cho anh ấy thư thả một tí để mang gánh nặng?”

Vừa nghe vậy, người cai ngục liền đâm cái chĩa nhọn vào ngực tiền thân Bụt. Ngài chết ngay và được tái sinh làm người.

Tiền thân Bụt đã có can đảm đứng lên và nhìn thẳng vào mặt người cai ngục vì lợi ích của người bạn tù. Ngài thấy sự được bất công, và do đau khổ quá nhiều, từ bi đã nẩy sinh trong tim Ngài. Lòng từ bi đã đưa đến hành động can thiệp. Vì vậy Ngài được chết ngay và được tái sinh làm người. Kể từ đó, tiền thân Bụt thực tập cho đến khi Ngài trở thành một bậc giác ngộ, một vị Bụt. Vì vậy dù là Bụt, trong một kiếp trước, Ngài cũng đã từng rơi xuống tận cùng của khổ đau. Nhưng nhờ lòng từ bi nẩy sinh trong trái tim mà Ngài đã có thể tự giải thoát ra khỏi tình trạng ấy.

Chính tôi cũng đã trải qua rất nhiều khổ đau, và tôi có thể nói với bạn rằng lòng từ bi có thể giải phóng bạn ra khỏi những tình trạng khó khăn nhất. Chính năng lượng của từ bi giúp ta tìm thấy được lối thoát khỏi những tình trạng khó khăn cùng cực đó. Đã có thời gian chúng tôi đem tàu vào vịnh Thái Lan để cứu người những vượt biển. Làm công việc này là vô cùng nguy hiểm vì trên biển lúc đó có rất nhiều hải tặc. Nhưng với niềm tin là lòng từ bi chính là sự bảo vệ tốt nhất. Không phải là sự bảo động, mà chính lòng từ bi là sự tự vệ hữu hiệu nhất, nên dù trong những trường hợp cứu người nguy hiểm như vậy nhưng chúng tôi không mang theo súng trên tàu của mình. Chúng tôi chỉ mang theo bên mình sức mạnh của lòng từ bi. Theo lời dạy của Bụt và kinh nghiệm thực tập của tôi thì lòng từ bi chính là sự bảo vệ tốt nhất.

Chúng ta thường nhắc đến danh hiệu đức Quán Thế Âm-vị bồ tát với lòng từ bi rộng lớn và hạnh lắng nghe sâu. Bồ tát có thể thị hiện dưới hình tướng của một người  phụ nữ, một người nam giới, một em bé, một chính trị gia, hay một người nô lệ, nhưng bản chất của bồ tát luôn luôn là sự biểu hiện của lòng từ bi trong trái tim Ngài. Có khi bồ tát Quán Thế Âm thị hiện như một con ma đói với vẻ mặt rất hung dữ. Ngài dùng hình tướng của một con ma đói để giúp cho những con ma đói khác, nhưng sự thật ngài là một người có lòng từ bi. Nhiều người trong chúng ta sợ bị tấn công nên chúng ta thường tỏ ra dữ tợn và tàn ác để tự vệ, dù rằng trong trái tim ta có đầy hiểu biết và thương yêu. Không có lòng từ bi, ta sẽ đau khổ vô cùng và làm những người quanh ta đau khổ. Với lòng từ bi, ta có thể làm vơi bớt nỗi khổ của người và cũng làm cho chính ta hạnh phúc.

Nếu bạn có năng lượng từ bi trong lòng là bạn đang được sống trong môi trường an toàn nhất. Từ bi được thể hiện qua đôi mắt của bạn, trong cách bạn hành động hay phản ứng, trong cách bạn đi, đứng, ngồi, ăn uống, hay liên hệ với người những khác. Từ bi là cách tự bảo vệ hữu hiệu nhất. Năng lượng từ bi cũng dễ dàng được lan tỏa. Ngồi cạnh một người có lòng từ bi trong trái tim sẽ mang lại cho chúng ta cảm giác nhẹ nhàng. Với lòng từ bi, bạn sẽ có thêm những người bạn, bởi vì ai cũng cần từ bi và tình thương. Chúng ta có thể bảo vệ cho nhau và bảo vệ cho những người xung quanh.

Sự thực tập của chúng tôi là nuôi dưỡng lòng từ bi trong đời sống hằng ngày. Với sự thực tập từ bi, chúng tôi mở lòng ra cho một người, rồi cho thêm một người nữa,.. và cuối cùng, khi lòng từ bi được biểu hiện thì ta có thể sống tự do và vui thích bất cứ nơi đâu. Khi niềm vui đã thấm nhuần trong thân tâm thì ta có thể tìm thấy an lạc ngay bây giờ và ở đây.

Năm Điều Quán Niệm

Thức ăn này là tặng phẩm của đất, trời và công phu lao tác.

Xin nguyện ăn trong chánh niệm để xứng đáng thọ nhận thức ăn này.

Xin nguyện chuyển hóa những tật xấu và học cách ăn uống có điều độ.

Xin nguyện chỉ ăn những thức có tính cách nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh.

Vì muốn thành tựu đạo nghiệp hiểu và thương nên xin thọ nhận thức ăn này.

Ðiều Quán Niệm thứ nhất là ý thức rằng thức ăn của ta đến trực tiếp từ Ðất và trời; đó là một tặng phẩm của đất trời, và của những người đã nấu nên nó.

Ðiều Quán Niệm thứ hai nói về sự xứng đáng nhận lãnh thức ăn. Xứng đáng với thức ăn có nghĩa là phải ăn trong chánh niệm; ý thức rằng thức ăn đang hiện hữu và có lòng biết ơn đã nhận được thức ăn. Hãy lấy thí dụ miếng đậu đũa. Ðất và trời đã để ra nhiều tháng để làm ra trái đậu đũa. Thật là tội nghiệp nếu ta chỉ nhìn nó mà không thấy được nó là một mầu nhiệm của cuộc sống. Khi ta ăn, năng lượng của chánh niệm có thể giúp ta thấy thức ăn của ta thật là tuyệt vời. Ta không thể để mình lạc vào những lo âu, sợ hãi hay tức giận những điều trong quá khứ hay tương lai. Ta có mặt đó cho thức ăn bởi vì thức ăn có mặt đó cho ta; chỉ là công bằng thôi. Hãy ăn trong chánh niệm và bạn sẽ cảm thấy mình xứng đáng với đất và trời.

Ðiều Quán Niệm thứ ba là có ý thức về những khuynh hướng tiêu cực trong ta và không để cho những khuynh hướng tiêu cực ấy lôi kéo ta. Ta cần học cách ăn uống có điều độ; ăn một số lượng vừa phải. Ở Làng Mai, mọi người trong chúng tôi đều ăn trong một cái bình bát, và mỗi khi lấy thức ăn, chúng tôi biết đích xác chúng tôi cần bao nhiêu thức ăn. Bình bát mà các sư chú và các sư cô dùng để ăn được xem như là một dụng cụ thích hợp để đo lường. Không ăn quá độ là một điều rất quan trọng. Nếu bạn ăn chậm lại và nhai thật kỹ, bạn sẽ có đầy đủ chất bổ dưỡng. Số lượng thức ăn vừa phải là số lượng giúp ta sống mạnh khỏe.

Ðiều Quán Niệm thứ tư nói về phẩm chất của thức ăn. Chúng ta nhất quyết chỉ dùng những thức ăn không có độc tố cho thân và cho tâm ta. Chúng ta hứa chỉ dùng những thức ăn giúp ta giữ gìn sức khỏe và nuôi dưỡng lòng từ bi, và tránh những thức ăn có chứa đựng hoặc đem độc tố vào thân ta, và làm lòng từ bi trong ta suy giảm. Như thế gọi là ăn trong chánh niệm. Bụt dạy rằng nếu bạn ăn như thế nào mà để cho lòng từ bi trong bạn bị hủy diệt thì giống như bạn ăn thịt của chính con trai hay con gái bạn. Vậy phải thực tập ăn như thế nào để giữ vững lòng từ bi trong bạn .

Ðiều quán niệm thứ năm là ý thức rằng ta thọ nhận thức ăn là để thành tựu một cái gì. Cuộc sống của ta phải có ý nghĩa, và ý nghĩa ấy là giúp người bớt khổ, giúp người tiếp xúc được với những niềm vui trong đời sống. Khi ta có lòng từ bi trong tim ta, khi ta biết rằng ta có thể giúp người bớt khổ, thì đời sống trở nên có ý nghĩa hơn. Ðó là một thức ăn rất quan trọng cho ta.

Chỉ một người thôi cũng có thể giúp được cho nhiều người. Sư Cô Chân Không, vị đồng tu của tôi, đã từng làm việc với dân nghèo, trẻ mồ côi, và người đói trong nhiều năm. Nhờ việc làm của mình, Sư Cô đã giúp được hàng ngàn người bớt khổ. Ðiều ấy đã đem lại cho Sư Cô nhiều niềm vui và làm cho cuộc sống của Sư Cô có ý nghĩa. Ðiều này có thể đúng với tất cả chúng ta bất cứ ở đâu, bất cứ nơi nào . Chỉ cần nói vài chữ làm cho người khác bớt khổ là đã đem lại ý nghĩa cho đời sống chúng ta. Và ta có thể làm điều này bất cứ ở đâu.

Khi đời bạn có ý nghĩa, hạnh phúc trở nên một thực tại và bạn trở thành một vị Bồ Tát ngay bây giờ và ở đây. Bồ Tát là một người có lòng từ bi trong tim và có thể làm cho người khác mỉm cười được, hay cảm thấy bớt khổ. Ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều này. 

Khi bạn cảm thấy biết ơn, bạn không còn đau khổ

Tôi nhận thấy rằng ở Hoa Kỳ, nơi có rất nhiều thực phẩm, ta lại không có nhiều thì giờ để ăn. Ăn có thể là một niềm vui lớn, và bạn không cần ăn nhiều để được khỏe mạnh.

Khi tôi gắp lên một miếng ăn, dùng đôi đũa hay dùng cái nĩa, tôi dừng lại một lát để nhìn miếng ăn ấy. Một phần nhỏ của một giây đồng hồ đủ cho tôi nhận diện được thức ăn. Nếu tôi thật sự có mặt bây giờ và ở đây, tôi có thể nhận biết thức ăn ấy ngay; là một miếng cà rốt, đậu đũa hay mẩu bánh mì. Tôi mỉm cười với nó, cho vào miệng, và nhai nó với sự tỉnh thức hoàn toàn về cái mà mình đang ăn. Chánh niệm là chánh niệm về một điều gì, và tôi nhai thức ăn như thế nào để có được sự sống, niềm vui, vững chãi và sự không-sợ-hãi. Sau hai mươi phút ăn, tôi cảm thấy no đủ, không những về thể xác, mà còn về tinh thần và tâm linh. Ðây là một sự thực tập sâu sắc vô cùng.

Ở Làng Mai, chúng tôi ăn thong thả. Chúng tôi ăn như một cộng đồng. Mọi người đều ngồi cho đẹp và chúng tôi đợi nhau để cùng bắt đầu một lần. Khi có một sư anh hay một sư chị ngồi ăn trong chánh niệm phía bên phải hay bên trái mình, bạn cảm thấy được nâng đỡ trong sự thực tập ăn trong chánh niệm. Trước khi bắt đầu một bữa ăn, chúng tôi thực tập năm điều Quán Niệm.

Thực tập mỉm cười

Trong bài tập “Thở vào, tôi mỉm cười,” bạn có thể hỏi, tại sao tôi phải mỉm cười, khi mà tôi không có một niềm vui nào? Câu trả lời là: Mỉm cười là một sự thực tập. Có hơn ba trăm bắp thịt trên khuôn mặt bạn. Khi bạn nổi giận hay sợ hãi, các bắp thịt ấy đều căng thẳng. Sự căng thẳng các bắp thịt này tạo nên một cảm giác cứng nhắc. Tuy nhiên, nếu bạn biết thở vào và mỉm được một nụ cười thì sự căng thẳng sẽ biến mất, đó là điều mà tôi gọi là tập Yoga bằng miệng. Hãy thực tập mỉm cười. Bạn chỉ việc thở vào và mỉm cười, sự căng thẳng sẽ biến mất và bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nhiều.

Có những lúc niềm vui tạo ra một nụ cười. Cũng có những lúc nụ cười do bạn tạo ra đem lại thoải mái, bình an và niềm vui. Tôi không đợi đến lúc có niềm vui mới mỉm cười; niềm vui sẽ đến sau. Ðôi khi ngồi một mình trong phòng tối, tôi thực tập mỉm cười với chính tôi. Tôi làm như vậy để tự đối xử tốt với mình, để tự chăm sóc mình, để tự thương yêu mình. Tôi biết rằng nếu tôi không tự chăm sóc được tôi thì tôi còn chăm sóc được ai nữa.

Có lòng từ bi đối với bản thân là một thực tập quan trọng.  Khi bạn mỏi mệt, cáu giận hay tuyệt vọng, bạn nên trở về với chính bạn để chăm sóc sự mỏi mệt, cơn nóng giận, và niềm tuyệt vọng của mình. Ðó là lý do tại sao ta thực tập mỉm cười, bước đi, thở và ăn trong chánh niệm.