Quán chiếu cảm thọ

Quán Chiếu Cảm Thọ

 

Bài tập thứ mười hai: bài tập này tiếp nối bài tập thứ mười một và có công năng giúp ta thấy được gốc rễ và bản chất của những cảm thọ trong ta.

Cảm thọ (dễ chịu, khó chịu, trung tính) của ta có thể có nguồn gốc sinh vật lý hay tâm lý. Khi ta quán chiếu cảm thọ, ta tìm ra được những nguồn gốc ấy. Ví dụ sáng hôm nay, bạn có cảm giác khó chịu đi đôi với sự mệt mỏi và cau có. Quán chiếu cảm giác đó bạn thấy rằng nó là kết quả của sự thức khuya và thiếu ngủ của bạn. trong trường hợp này cảm thọ có gốc rễ sinh vật lý. Khi ta vì hiểu lầm, vì giận hờn hay vì ganh tị mà có những cảm thọ khó chịu, đó là trường hợp cảm thọ có nguồn gốc tâm lý.

Tuy nhiên biết được nơi phát xuất của cảm thọ (sinh vật lý hay tâm lý) chưa đủ. Ta cần quán chiếu thêm để có thể thấy được quá trình của sự hình thành của những cảm thọ ấy và để biết được bản chất chân thực của chúng. Biết được bản chất chân thật của một cảm thọ không những ta có thể thấy gốc rễ của nó mà ta còn thấy luôn cả hoa trái của nó nữa.

Khi bạn nhắp một ngụm rượu cognac, hay kéo một hơi thuốc lào chẳng hạn, bạn có thể có một cảm thọ dễ chịu. Nếu bạn quán chiếu về cảm thọ đó, bạn thấy được nguồn gốc sinh vật lý của nó. Bạn cũng thấy được nguồn gốc tâm lý của nó. Bạn biết rằng không phải ai hút thuốc lào và uống rượu cognac cũng có cảm giác dễ chịu như bạn. (Có người động tới hai thứ ấy thì sẽ ho sặc sụa, và cảm giác của họ sẽ là cảm giác khó chịu). Vậy cái gốc rễ của cảm thọ kia không phải đơn giản như bạn tưởng lúc ban đầu. Những yếu tố tập quán, thời gian và tâm lý… đều có mặt trong ấy. Trong cái bản chất của cảm thọ, có bản chất của tập quán, tâm lý, sinh lý và vật lý của bạn, của xã hội bạn, và của những sản phẩm mà bạn tiêu thụ. Nhìn vào cảm thọ dễ chịu của bạn, thế nào bạn cũng thấy được bản chất của rượu hay của thuốc lá. Nhìn vào ly rượu, bạn có thể thấy được những loại ngũ cốc và thảo mộc đã làm ra rượu. Bạn có thể thấy được tác dụng của rượu trong cơ thể bạn, bây giờ và trong tương lai. Bạn cũng có thể thấy liên hệ giữa ngụm rượu và những tai nạn xe cộ xảy ra hàng ngày. Bạn thấy được liên hệ giữa sự tiêu thụ rượu với nạn thiếu ăn trầm trọng trên thế giới. Chúng ta đã xài phí một số lượng ngũ cốc khổng lồ cho việc chế tạo rượu và thịt, trong khi tại nhiều nơi trên thế giới trẻ em và người lớn chết vì thiếu gạo và bột mì. Giáo sư Perrault, viện trưởng viện thống kê kinh tế tại Paris nói: Nếu tây phương bớt ăn thịt và uống rượu lại chừng 50% thì nạn đói trên thế giới đã có thể giải quyết được. Nhìn vào bất cứ một vật gì với con mắt thiền quán ta cũng có thể thấy được gốc rễ và hoa trái của vật ấy. Quán chiếu một cảm giác, ta cũng có thể thấy được gốc rễ và hoa trái của cảm giác ấy. Quán chiếu cảm thọ có thể đưa tới những cái thấy thật sâu sắc về tự tính của sự sống và của vạn vật.

Khi ta nghe những lời người khác khen ngợi ta, ta có thể có lạc thọ. Lạc thọ này cũng cần được quán chiếu. Cố nhiên ta có quyền chấp nhận một lạc thọ nhưng ta phải quán chiếu để biết rõ tự tính của những cảm thọ ta. Trong khi quán chiếu, ta có thể thấy được rằng những lời khen ngợi kia là những lời tâng bốc quá đáng không được căn cứ vào sự thật, do đó ta khám phá ra rằng lạc thọ của ta được phát sinh trên căn bản vô minh và ngã ái, một thứ lạc thọ có tác dụng đưa ta đi sâu thêm trên con đường của ảo tưởng. Thấy được như vậy, lạc thọ kia tan biến, ta trở về với hai chân chấm trên mặt đất của thực tại, nguy hiểm của ảo tưởng không còn và ta trở nên lành mạnh. Lạc thọ mà ta có trong khi uống rượu mạnh cũng sẽ tan biến khi ta quán chiếu và thấy được gốc rễ và hoa trái của nó. Những lạc thọ loại này khi tan biến có thể nhường chỗ cho một thứ lạc thọ khác phát sinh: đó là ý thức của sự trở về với tính cách lành mạnh và tính thức nơi ta. Lạc thọ này quả thực là lành mạnh vì nó chỉ có tác dụng nuôi dưỡng mà không có tác dụng phá hoại.

Trong trường hợp ta thấy rằng những lời khen ngợi kia đi đôi với sự thật, ta cũng cần tiếp tục quán chiếu về lạc thọ do chúng gây ra. Công phu quán chiếu giúp ta tránh được sự tự hào và tự mãn, bởi chính sự tự hào và tự mãn bít lấp con đường tiến thủ của ta. Ta thấy rằng nếu tiếp tục tinh tiến ta có thể thực hiện được nhiều tiến bộ khác nữa, và những lời khen kia, thay vì làm cho ta tự hào và tự mãn, có thể trở thành những yếu tố khích lệ ta. Quán chiếu như thế, lạc thọ trở nên lành mạnh và có thêm nhiều tác dụng nuôi dưỡng.

Quán chiếu cảm thọ, ta có thể thấy được tính cách tương đối của chúng. Bản chất của một cảm thọ có thể thay đổi tuỳ theo cách nhận thức của ta. Trong khi làm việc, một người nào đó có thể thấy rằng làm việc là một cực hình, và đối với người ấy không làm việc mới  thật là có hạnh phúc. Tuy nhiên, có những người ở không thì bứt rứt, khó chịu, muốn tìm được một việc gì đó để làm. Được làm việc, đối với người này, là một niềm vui, một lạc thọ, trong khi đối với người kia là một khổ thọ. Thường thường, chúng ta không ý thức được những điều kiện của hạnh phúc mà chúng ta hiện có, vì vậy chúng ta thường chạy tìm hạnh phúc ở một chỗ khác hoặc nơi tương lai. Được thở là một hạnh phúc. Chỉ khi nào ta bị nghẹt mũi hoặc bị hen suyễn ta mới thấy rõ được điều đó. Được thở không khí trong lành là một hạnh phúc. Chừng nào ta bị sống trong một thành phố mà không khí ô nhiễm, ta mới giác ngộ điều này. Được thấy hình dáng và màu sắc của vạn vật là một hạnh phúc. Những người mất thị giác thấy rất rõ điều ấy. Có hai bàn tay lành lặn, có hai bắp chân khoẻ mạnh có thể chạy và nhảy, được sống trong một xứ tự do, được đoàn tụ với gia đình, v.v.. Tất cả những điều đó, và hàng vạn điều khác nữa đang có mặt trong ta và quanh ta là những yếu tố của hạnh phúc mà ít khi ta nhớ đến, vì vậy hạnh phúc tuột khỏi tầm tay chúng ta. Chúng ta vô tình dẫm đạp trên những yếu tố của hạnh phúc ấy để đi tìm những yếu tố khác mà ta cho là thật sự cần thiết cho hạnh phúc. Thường thường chúng ta chỉ biết hối tiếc khi những yếu tố của hạnh phúc mà ta đã có bây giờ không còn nằm trong tầm tay của chúng ta nữa.

Ý thức về sự có mặt quý giá của những yếu tố đó chính là thực tập chánh niệm. Ta có thể xử dụng phương pháp quán niệm hơi thở để làm sáng tỏ sự có mặt đó.

 

“Thở vào, tôi biết là tôi đang có hai con mắt sáng”.
“Thở ra, tôi biết là tôi đang có hai bàn tay nguyên vẹn”
“Thở vào, tôi biết tôi đang ôm con tôi trong vòng tay”
“Thở ra, tôi biết tôi đang ngồi sum họp với gia đình quanh bàn ăn”

 

Những bài tập nho nhỏ ấy nuôi sáng chánh niệm và đem hạnh phúc lại cho đời sống hàng ngày thật nhiều.

Hạnh phúc và an lạc trước hết là ý thức rằng mình có những điều kiện để có hạnh phúc và an lạc. Chánh niệm vì vậy là yếu tố tất yếu và căn bản của hạnh phúc. Nếu anh không biết rằng anh có hạnh phúc thì điều này có nghĩa là anh không có hạnh phúc.

Chỉ có những người đang nhức răng mới thấy rõ được rằng không nhức răng là hạnh phúc. Phần lớn chúng ta đang không bị nhức răng, vậy mà chúng ta không có hạnh phúc. Tại sao? tại vì chúng ta không có ý thức về sự không bị nhức răng của chúng ta, nói gọn hơn là tại vì chúng ta không thực tập chánh niệm.

Khi một cảm thọ đã phát sinh trong ta, ta biết nó đã phát sinh. Khi cảm thọ ấy tiếp tục có mặt, ta biết nó đang tiếp tục có mặt. Ta nhìn sâu vào nó để có thể thấy được bản chất của nó (lạc thọ, khổ thọ hay xả thọ), gốc rễ của nó (sinh lý, vật lý, tâm lý) và hoa trái của nó (tâm lý, sinh lý, xã hội). Và ta có thể luôn luôn xử dụng hơi thở ý thức để làm công việc quán chiếu này.

 

“Thở vào, tôi biết một cảm thọ dễ chịu vừa phát sinh trong tôi”
“Thở ra, tôi biết cảm thọ dễ chịu này đang tiếp tục có mặt”
“Thở vào, tôi biết cảm thọ này có nguồn gốc sinh lý hay tâm lý”
“Thở ra, tôi thấy được gốc rễ của cảm thọ dễ chịu này”
“Thở vào, tôi thấy được ảnh hưởng của cảm thọ ấy trên sức khoẻ tôi”
“Thở ra, tôi thấy được ảnh hưởng của cảm thọ ấy trong tâm thức tôi”

 

Khi những phiền não như giận hờn, mê đắm, ghen tuông, lo lắng v.v… xuất hiện trong ta, tâm và thân ta thường bị chúng lây chuyển và sai sử. Những tâm lý ấy tạo ra những khổ thọ trong ta, và làm cho sự vận hành của thân và tâm ta náo động, do đó ta mất đi sự an lạc và thanh tịnh. Trong kinh quán niệm hơi thở. Bụt dạy ta nắm lấy hơi thở để phát khởi ý thức về sự có mặt của những khổ thọ ấy rồi từ từ điều phục chúng.

 

“Tôi đang thở vào và ý thức rằng tôi đang có một khổ thọ”
“Tôi đang thở ra và có ý thức rõ rệt về khổ thọ ấy”

 

Nếu hơi thở của chúng ta nhẹ nhàng và an tịnh (đó là nhờ công phu thực tập) thì thân và tâm ta cũng nhờ đó mà nhẹ nhàng và an tịnh từ từ lại.

“Tôi đang thở vào và làm an tịnh cảm thọ trong tôi”
“Tôi đang thở ra và làm an tịnh cảm thọ trong tôi”

 

Cứ như thế, hàng giả tiếp tục dùng hơi thở để quán chiếu và để an tịnh hóa cảm thọ của mình. Đến khi thấy được bản chất, cội nguồn và hậu quả có thể có của cảm thọ ấy, thì hành giả thoát ra được ngoài sự khống chế của nó. Cảm thọ ấy đã biến tính nhờ công phu thiền quán.

Cái sợ cũng như cái giận đều là những vùng năng lượng phát xuất từ cơ sở tâm sinh lý ta. Những khổ thọ do chúng tạo nên cũng là một loại năng lượng. Phương pháp của Bụt dạy không phải là phương pháp đàn áp cái sợ, cái giận hay những khổ thọ do cái sợ và cái giận gây nên. Không đàn áp, không trốn chạy, không xua đuổi, người hành giả dùng hơi thở để tiếp xúc và chấp nhận cảm thọ của mình, bởi vì người ấy biết cảm thọ ấy, cái giận ấy hoặc cái sợ ấy chính là mình, chính là năng lượng phát xuất từ cơ sở tâm sinh lý của mình. Đàn áp chúng tức là đàn áp chính mình, trốn chạy chúng cũng là trốn chạy chính mình. Phương pháp này dựa trên nguyên lý bất nhị của đạo Bụt. Bất nhị có nghĩa không phải là hai thực thể riêng biệt. Khổ thọ của ta và ta là một. Đó không phải là hai kẻ thù. Ta phải tiếp xúc và chấp nhận khổ thọ của chính ta trước khi chuyển hoá nó thành một thứ năng lượng có tính cách lành mạnh và có công năng nuôi dưỡng ta.

Ta phải đối xử với khổ thọ ta một cách ưu ái và bất bạo động. Bất bạo động ở đây có nghĩa là không xua đuổi, không đè nén, không đàn áp. Chỉ có cách ấy ta mới có thể chuyển hoá được nó. Khổ thọ của ta có thể soi sáng cho ta thật nhiều nhờ công trình quán chiếu ấy và ta sẽ thấy rằng nếu không trải qua những khổ thọ như khổ thọ ấy, ta sẽ không có được cái nhìn thấu triệt và tâm lượng rộng rãi như ngày hôm nay.

Quán chiếu thân thể

Hành trì thiền quán là để đạt tới giải thoát và an lạc. Giải thoát và an lạc là hai yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau: có giải thoát thì có an lạc, giải thoát càng lớn thì an lạc càng lớn. Nhưng giải thoát và an lạc không phải là những gì xa vời mà ta chỉ có thể đạt tới sau một thời gian thực tập lâu dài, như mười năm, hai mươi năm, hay ba mươi năm. Thực tập thiền quán, ta có thể đạt tới giải thoát và an lạc ngay trong giờ phút ta đang thực tập, dù mức độ giải thoát và an lạc ấy còn chỉ là khiêm nhượng. Tuy khiêm nhượng, những yếu tố giải thoát và an lạc ấy là nền tảng cho những giải thoát và an lạc lớn lao hơn. Tập thiền quán là tập quán sát để thấy và hiểu sâu được vào lòng sự vật. Nhờ cái thấy và cái hiểu đó mà ta đạt tới giải thoát và an lạc. Những giận hờn, lo lắng và sợ hãi của ta chẳng hạn đều đang làm cho ta khổ đau. Muốn giải thoát khỏi chúng, ta phải quán sát bản chất của chúng. Bản chất của chúng là vô minh, nghĩa là sự thiếu sáng suốt. Khi ta hiểu lầm một người bạn chẳng hạn, ta giận hờn, và vì giận hờn ta khổ đau. Quán sát thực tại cho sâu sắc, ta đánh tan được sự hiểu lầm đó, và những khổ đau của ta tan biến và ta tức khắc có an lạc.

Quán niệm trước tiên là phát khởi ý thức về đối tượng mà ta muốn quán niệm và sau đó là quán chiếu về đối tượng ấy. Quán niệm như vậy, có nghĩa là ý thức và quán chiếu. Niệm (Sati, Phạn: Smrti) có nghĩa là đi sâu vào lòng đối tượng ấy mà thẩm sát. Trong quá trình ý thức và quán chiếu ấy, dần dần ranh giới giữa chủ thể quán sát và đối tượng quán sát bị xoá bỏ, chủ thể và đối tượng trở thành nhất như. Đây là đặc điểm căn bản của thiền quán. Ta chỉ có thể hiểu được khi ta đi vào và đồng nhất ta với đối tượng. Ta không bằng lòng đứng ngoài để quán sát. Vì vậy, kinh văn luôn luôn nhắc tới quán niệm thân thể trong thân thể, quán niệm cảm thọ trong cảm thọ, quán niệm tâm ý trong tâm ý, quán niệm đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý.

Bụt đã nói kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm cho các vị khất sĩ và nữ khất sĩ nghe. Nhưng không phải vì vậy mà ta có thể nói rằng phép quán niệm xứ là để dành cho người xuất gia. Sự thật là tất cả mọi người đều có thể thực tập phép quán niệm xứ trong đời sống hàng ngày của mình. Nếu người xuất gia có thể thực tập phép quán này trong khi đi, đứng, nằm, ngồi… thì người tại gia cũng có thể thực tập phép quán này trong khi đi, đứng, nằm, ngồi… ai trong chúng ta mà lại không đi, đứng, nằm, ngồi… trong cuộc sống hằng ngày? Điều quan trọng nhất là hiểu những nguyên tắc căc bản hướng dẫn công việc thực tập để có thể áp dụng vào nếp sống hiện tại, một nếp sống khá khác lạ với nếp sống của Bụt và các vị khất sĩ trong một xã hội cách chúng ta trên hai mươi lăm thế kỷ. Đọc kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, ta phải đọc với con mắt của con người thời đại chúng ta thì ta mới có thể phát kiến ra được những nguyên tắc căn bản có thể giúp ta thiết lập những phương cách thực tập hữu hiệu.

Lĩnh vực thứ nhất của quán niệm là lĩnh vực thân thể, gồm có hơi thở, tư thế của thân thể, động tác của thân thể, những bộ phận của thân thể, những yếu tố tạo nên thân thể và cuối cùng là sự tàn hoại của thân thể. Trước hết, ta hãy học phương pháp quán niệm về hơi thở.

 

Quán chiếu thân thể

Bài tập thứ nhất: bài tập thứ nhất thở có ý thức. Quán niệm về hơi thở trước hết là phát khởi ý thức về hơi thở. Khi thở vào, ta biết là ta đang thở vào, khi thở ra, ta biết là ta đang thở ra. Thực tập như thế, hơi thở ta trở thành hơi thở có ý thức. Bài tập đầu mà kinh dạy là: “thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào, thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở ra”.

Bài tập này hết sức đơn giản, rất dễ làm, nhưng hiệu quả thì rất lớn lao. Bí quyết của sự thành công là ở chỗ trong khi thở ta chỉ để tâm tới hơi thở mà thôi, ta không để tâm vào một đối tượng nào khác. Giả dụ khi ta thở vào được nửa chừng mà ta nghĩ đến một việc khác (ví dụ: “mình quên chưa tắt đèn nhà bếp”) thì tâm ta đã tán loạn, ta đã rời bỏ hơi thở mà nghĩ tới việc khác, do đó hơi thở vào kia không trọn vẹn là một hơi thở vào có ý thức, và niệm xứ không thành công. Muốn thành công, tâm ý ta phải bám sát lấy hơi thở trong suốt quá trình của nó. Trong thời gian của hơi thở, tâm ta chỉ để ở hơi thở. Đó là ý nghĩa quán niệm thân thể trong thân thể.

Ai cũng có thể thành công khi thực tập một hơi thở có ý thức. Nếu ta tiếp tục thở như thế được mười hơi mà tâm ta  không tán loạn, ấy là ta đã bước được một bước đáng kể trên đường thực tập. Thực tập như thế được mười phút thì sự đổi mới trong ta đã có thể được gọi là quan trọng.

Tại sao bài tập đơn giản này lại có thể đưa tới những hiệu quả lớn lao? những hiệu quả lớn lao ấy là những hiệu quả nào?

Hiệu quả đầu là ta trở về với chính ta. Trong đời sống hàng ngày, ta thường bị đắm chìm trong quên lãng. Tâm ta rong ruỗi theo muôn ngàn đối tượng và ta ít khi có dịp để trở về với chính mình. Sống như thế lâu ngày thì ta trở nên xa lạ với chính ta, ta bị cắt đứt liên lạc ngay với chính ta. Đó là hiện tượng phóng thể (alíenation) rất phổ thông của thời đại. Hơi thở có ý thức là một phương tiện mầu nhiệm để đưa ta trở về với chính ta. Sự trở về này có thể được thực hiện một cách nhanh chóng phi thường. Để ý tới hơi thở tức là thực hiện sự trở về ấy, và thực hiện một cách mau chóng như làn chớp giật.

Nương vào hơi thở để trở về với chính ta, ta có cảm giác ta là một người con đi xa trở về được ngôi nhà của tổ phụ. Chính trong ngôi nhà này mà ta cảm thấy ấm áp, chính nơi đây mà ta tìm lại được chính ta. Trở về với ta há không phải là một bước thành công lớn của sự thực tập hay sao?

Hiệu quả thứ hai là tiếp xúc với sự sống. Thiền quán là tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại. Ta chỉ có thể gặp mặt sự sống trong giờ phút hiện tại, vì vậy nếu ta không tiếp xúc được với giây phút hiện tại thì ta không thể tiếp xúc được với sự sống. Mà muốn tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại ta phải tương đối có tự do, nghĩa là không bị ràng buộc nhiều quá vào những tiếc nuối hay ân hận vì quá khứ, vào những lo lắng và băn khoăn về tương lai, và vào những giận hờn và đam mê trong hiện tại. Sự sống đầy dẫy và mầu nhiệm trong ta và chung quanh ta, nếu ta bị ràng buộc thì ta không thể tiếp xúc với nó, nghĩa là ta không thể thật sự sống đời sống của ta.

Trở về với hơi thở có ý thức là một phương thức thần diệu để rũ bỏ những ràng buộc ấy và để có thể tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại. Hơi thở của ta đã là một thực tại mầu nhiệm. Tiếp xúc với hơi thở, sống với hơi thở, trở về làm một với hơi thở, ta đã bắt đầu cảm thấy thoải mái, thanh tịnh, an lạc, không bị lo âu và ham muốn lung lạc và thống trị. Càng thở, ta càng làm cho hơi thở điều hoà, lắng dịu và sự thanh thản cùng niềm an lạc của ta cũng do đó mà càng lúc vững chãi thêm lên. Nương vào hơi thở, ta trở về với ta, ta phục hồi được sự toàn vẹn của con người ta. Thân và tâm trở về một mối nhờ ở hơi thở. Khi phục hồi được con người toàn vẹn của ta, ta sẽ thực sự tiếp xúc được với những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Những gì ấy chính là sự sống.

Bài tập thứ hai: bài tập thứ hai mà kinh dạy là theo dõi hơi thở trong suốt chiều dài của nó: “thở vào một hơi dài, người ấy ý thức rằng: ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy ý thức rằng: ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một hơi ngắn, người ấy ý thức rằng: ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, người ấy ý thức rằng: ta đang thở ra một hơi ngắn”.

Những câu kinh này có nghĩa là tâm hành giả phải theo sát hơi thở, đồng nhất với hơi thở, trong suốt chiều dài của hơi thở đó, đừng để một tạp niệm nào chen vào. Tạp niệm ở đây có nghĩa là những tư tưởng, và cả những ý niệm không liên hệ gì tới việc thực tập hơi thở.

Phương pháp này được gọi là phương pháp tùy tức. Tùy là đi theo. Tức là hơi thở. Trong khi tâm đi theo hơi thở thì tâm là hơi thở và chỉ là hơi thở mà thôi. Cố nhiên là trong quá trình thực tập, hơi thở càng lúc càng trở nên đều đặn, êm dịu, nhịp nhàng và tĩnh lặng, và tâm ta do đó cũng càng lúc càng trở nên đều đặn, êm dịu, nhịp nhàng và tĩnh lặng. Điều này mang lại sự thư thái và an lạc trong thân tâm. Tâm và hơi thở đã hợp nhất thì sự hợp nhất của thân và tâm chỉ còn là một bước ngắn.

 

Bài tập thứ ba: bài tập thứ ba mà kinh dạy là hợp nhất thân và tâm lại thành một toàn thể có hoà điệu. Yếu tố dùng để hợp nhất cố nhiên là hơi thở. Kinh dạy: “tôi đang thở vào và có ý thức rõ rệt về toàn thân tôi. Tôi đang thở ra và có ý thức rõ rệt về thân tôi”. Trong thiền quán, trạng thái không còn có sự phân biệt giữa thân và tâm nữa gọi là trạng thái thân tâm nhất như.

Tới bài tập này, đối tượng của quán niệm không còn là hơi thở đơn thuần nữa mà là một đối tượng phối hợp thân thể và hơi thở.

Có những hành giả và những bình luận gia vì quá chú trọng đến sự thực hiện các trạng thái thiền định như tứ thiền và tứ vô sắc định, cho nên đã diễn tả từ ngữ toàn thân trong đoạn kinh này như là toàn thân của hơi thở chứ không phải là cơ thể tròn vẹn của người hành giả. Các bộ luận danh tiếng như Patisambhidamagga (Vô Ngại Đạo Luận), Vimuttimagg (Giải Thoát Đạo Luận) và Visudhimagga (Thanh Tịnh Đạo Luận) đều dạy rằng trong khi thở nên chủ tâm ở đầu mũi, tức là nơi không khí đi vào và đi ra khỏi thân thể mà không nên đi vào và đi ra khỏi cơ thể, sợ đi vào cơ thể thì đối tượng tập trung sẽ lớn quá, khó có thể đi vào định. Nghĩ như thế cho nên tác giả các bộ luận ấy đều đã cho rằng chữ thân (kaya) ở trong kinh văn chỉ có nghĩa là thân của hơi thở. Đọc lại kinh văn ta thấy ý niệm theo dõi toàn thân hơi thở đã được nói tới trong bài tập thứ hai rồi (“ hơi thở dài thì biết là hơi thở dài”) đâu có cần phải được lập lại ở bài tập này. Theo kinh Quán Niệm Hơi Thở (An Ban Thủ Ý Kinh – Anapanasati sutta – ) bốn bài tập đầu về hơi thở là để quán niệm về thân, vậy bài tập thứ ba này lấy đối tượng là thân, đó là chuyện dĩ nhiên vậy. Kinh văn không có chỗ nào dặn chỉ nên để ý tới hơi thở nơi đầu mũi, và cũng không có chỗ nào dặn đừng chuyển sự tập trung tâm ý vào trong thân. Đọc sâu vào kinh văn ta sẽ thấy điều ngược lại.

Gần đây ở Miến Điện có thiền sư Mahasi Sayadaw dạy phương pháp chú ý tới sự phồng và xẹp của bụng do hơi thở tạo nên. Hành giả thực tập theo phương pháp này có thể đạt được định tâm khá dể dàng, nhưng phương pháp này lại không được diễn tả như là một phương pháp quán niệm hơi thở. Nguyên tắc hành trì là “do định mà tuệ (sự hiểu biết) tự nhiên phát sinh”. Sở dĩ thiền sư không muốn diễn tả phương pháp này như một phương pháp quán niệm hơi thở có thể đó là vì thành kiến sẵn có trong truyền thống, cho rằng quán niệm hơi thở thì không được đi theo hơi thở vào trong cơ thể và xuống bụng.

Nhân đây tôi cũng xin sơ lược tới mục đích của sự thực hiện định tâm. Trong Bát Chánh Đạo, định được nói tới là chuyên định (Samayagsamadhi) nghĩa là một thứ định chân chính có khả năng đưa tới tuệ giác.

Như vậy có những thứ định không được gọi là chánh định mà phải được gọi là tà định, những trạng thái thiền định chỉ có công năng giúp người hành giả lẫn trốn thực tại phiền toái và khổ đau mà không giúp người hành giả trực tiếp đối phó và quán chiếu những thực tại ấy để đạt tới giải thoát. Trước khi thành đạo Bụt cũng đã học và hành những thứ định ấy, nhưng về sau thấy chúng không có công năng đưa tới giải thoát nên Bụt mới bỏ và tìm con đường chánh định của mình. Vậy nên ta không thể nói hễ có định là tuệ giác tự nhiên phát hiện. Ta chỉ có thể nói: hễ có chánh định là có tuệ giác phát hiện. Mà chánh định là thứ định có liên hệ tới công năng quán chiếu và có ý thức quán chiếu. Do đó mà ta có danh từ kép Samatha – Vipassana (phạn: samatha vipasyana) dịch âm là xa ma tha tỳ bà xá na, dịch nghĩa là chỉ quán, tịch chiếu, tĩnh mịch hay định tuệ. Tứ thiền và tứ vô sắc định là những trạng thái thiền địch Bụt đã thực tập trước khi thành đạo với các vị đạo sư như Alara Kalama và Addeka Ramaputta. Các trạng thái thiền định này đã được đưa vào kinh tạng, có lẽ một vài trăm năm sau ngày bụt nhập diệt. Nhưng nếu các trạng thái thiền định này được diễn tả như có công năng đưa người hành giả lẫn tránh thực tại thì đó cũng không phải là chánh định.

Trong bài tập thứ ba này, hành giả dùng hơi thở để hợp nhất thân tâm lại thành một mối và cố nhiên đối tượng của định đồng thời là thân, tâm và hơi thở. Trạng thái thân và tâm nhất như này là trạng thái toàn vẹn nhất của con người chúng ta. Trong đời sống hàng ngày nhiều khi ta sống tâm một nơi thân một ngã, con người của ta bị chia năm xẻ bảy, tâm ý trôi dạt ngàn nơi, có khi phiêu dạt về quá khứ xa xăm, có khi bồng bềnh ở tương lai mờ mịt. Thực hiện được thân tâm nhất như trong chánh niệm, ta trở về được cội nguồn và phục hồi được sự toàn vẹn của ta. Mọi sự thực hiện đều có thể được bắt nguồn tại trạng thái thân tâm nhất như này. Duy trì trạng thái thân tâm nhất như này, ta tạo điều kiện để cho thiên nhiên bắt đầu chữa trị những thương tích trong tâm hồn và trong cơ thể của ta, những thương tích mà ta không thể chữa trị được trong trạng thái thân tâm ly tán. Trong khi ta tĩnh toạ, ba yếu tố thân, tâm và hơi thở đi dần dần đến sự an tịnh và hợp nhất. Sự an tĩnh của một trong ba yếu tố kéo theo sự an tĩnh của hai yếu tố khác. Ví dụ nếu thân ta được đặt trong tư thế vững chãi, các bắp thịt và hệ thần kinh buông thư, thì tâm ta và hơi thở ta liền chịu ảnh hưởng tốt ấy và cũng dần dần trở nên an tịnh. Cũng như thế, nếu ta thực tập hơi thở ý thức đúng phép, hơi thở của ta càng lúc càng trở nên êm dịu, an tĩnh và điều hoà, thì sự êm dịu, an tĩnh và điều hoà này của hơi thở sẽ lan đến các lĩnh vực thân và tâm của ta. Do đó thân và tâm của ta trong trạng thái thân tâm nhất như sẽ cũng đạt tới trạng thái êm dịu, an tĩnh và điều hoà. Điều này không thể xảy ra một cách khác được. Trong trạng thái thân tâm nhất như này hơi thở giữ vai trò điều hợp, và cảm giác thoải mái và an lạc, hoa trái đầu tiên của thiền tập, sẽ đến với chúng ta.

 

Bài tập thứ tư: bài tập thứ tư là dùng hơi thở để thực hiện sự an tịnh trong toàn thân. Kinh văn chỉ dẫn: “tôi đang thở vào và làm cho sự vận hành của thân thể tôi trở nên an tịnh. Tôi đang thở ra và làm cho sự vận hành của thân thể tôi trở nên an tịnh”.

Bài tập này tiếp nối bài tập thứ ba. Khi cơ thể ta thiếu sự an hoà thì tâm ta khó mà được an tịnh, vì vậy ta phải dùng hơi thở để giúp cho sự vận hành của cơ thể được điều hoà và an tịnh trở lại. Nếu hơi thở ta hổn hển hay đứt quãng thì ta không thể nào làm được việc ấy. Trước hết ta phải điều hoà hơi thở, thở ra và thở vào những hơi thở nhẹ nhàng và liên tục. Khi hơi thở bắt đầu được điều hoà thì cơ thể cũng bắt đầu được điều hoà.

Hơi thở ta cần được êm nhẹ không phát ra tiếng động và liên tục như một dòng nước nhỏ chảy trong cát mịn. Hơi thở càng vi tế thì thân và tâm càng an tịnh. Khi thở vào ta thấy hơi thở đi vào cơ thể và làm dịu mát tất cả các tế bào trong cơ thể. Khi thở ra ta thấy hơi thở đưa ra khỏi cơ thể ta mọi sự mệt mỏi, buồn bực và lo âu. Ta có thể thở theo bài kệ sau đây:

Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời

Ta biết rằng trong lúc thiền quán thân và tâm là một. Vậy thì tâm tĩnh lặng tức cũng có nghĩa là thân tĩnh lặng. Miệng mỉm cười là chứng tích của sự an lạc của thân tâm. Bản chất của thiền tập là trở về an trú trong hiện tại để quán chiếu về những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Cảm thọ an lạc có tác dụng nuôi dưỡng hành giả để hành giả có thể đi xa trên đường thực tập. Xin độc giả tham cứu thêm kinh quán niệm hơi thở về hơi thở thứ năm và thứ sáu. Hai hơi thở này là để giúp người hành giả tự nuôi dưỡng bằng thiền duyệt nghĩa là bằng sự an vui của thiền định. Giờ phút đẹp tuyệt vời là để thấy được những mầu nhiệm của sự sống nơi thân tâm và hơi thở và để làm vững mạnh niềm an vui ấy.

Chúng ta đang ở trong phần thứ hai của kinh văn nói về công phu quán niệm thân thể nơi thân thể, đáng lý chúng ta chưa nên nói tới cảm thọ trong cảm thọ, nhưng vì giữa thân thể và cảm thọ có liên hệ rất mật thiết nên chúng ta đã không ngần ngại vượt ranh giới giữa hai lĩnh vực. Sự an tịnh của thân, như ta biết, cũng là sự an tịnh của tâm.

Trong các bài tập thứ ba và thứ tư, hành giả theo hơi thở trở về với thân và làm cho thân trở nên an tịnh. Cố nhiên là trong khi thực tập các phép thở này, các cánh cửa giác quan như, tai, mũi và lưỡi phải được khép lại để những hình ảnh của thế giới bên ngoài không đi vào và làm náo động sự an tĩnh bên trong. Trở về với thân tức cũng là trở về với tâm vậy. Lâu lâu, trong đời sống hàng ngày, có khi bạn cảm thấy mệt mỏi, làm cái gì cũng dể hư, nói cái gì cũng dễ gây hiểu lầm và bạn cho đó là một ngày “xui” của bạn. Những lúc ấy, tốt hơn hết là bạn nên trở về với bản thân bạn. Chấm dứt mọi sự giao tiếp đóng hết mọi cánh cửa sổ của giác quan, bạn theo hơi thở trở về với bản thân và gom thân, tâm và hơi thở về một mối. Bạn sẽ có cảm giác ấm cúng của một người ngồi trong nhà trong khi mưa gió gào thét bên ngoài. Phương pháp này có thể được thực tập ở đâu, bất cứ lúc nào, không hẳn chỉ là ở trong tư thế thiền toạ. Ta trở về tiếp xúc với ta và làm cho con người của ta toàn vẹn trở lại. Ta đừng nghĩ rằng đóng cửa giác quan là tách rời ta ra khỏi thế giới và cuộc đời, là chấm dứt sự tiếp xúc với cuộc đời. Khi ta không thực sự là ta, khi ta bị chi phối hay tán loạn, ta không thực sự tiếp xúc sự sống. sự tiếp xúc chỉ sâu sắc khi ta thực sự là ta. Nếu ta không là ta trong giây phút hiện tại thì nhìn trời xanh ta không thực sự thấy trời xanh, nắm tay em bé ta không thực sự nắm tay em bé, uống trà ta không thực sự uống trà. Vì vậy thực hiện sự toàn vẹn của ta là căn bản cho mọi sự tiếp xúc có ý nghĩa. Ta thực hiện sự toàn vẹn của con người ta bằng cách theo hơi thở có ý thức mà trở về với thân (và tâm) ta. Làm như thế cũng là làm mới lại con người ta trong từng giây phút. Ta trở nên tươi mát và dễ chịu đối với mọi người. Và khi ta đã đổi mới ta rồi thì nhìn mọi vật ta thấy mọi vật đều đổi mới. Trúc lâm đại sĩ núi yên tử, một thiền sư sống ở thế kỷ thứ mười ba đã nói: “mỗi lần cầm đến lại thành mới tinh” (nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân).

 

Bài tập thứ năm: bài tập này là quán chiếu để có ý thức về những tư thế của thân thể. Kinh văn chỉ dẫn: “khi đi, vị khất sĩ lại cũng ý thức rằng mình đang đi, khi đứng, ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi, ý thức rằng mình đang ngồi, khi nằm, ý thức rằng mình đang nằm”.

Cố nhiên bài tập này không phải chỉ để thực tập trong khi ngồi thiền. Thiền pháp để dạy trong kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm là thiền pháp xử dụng suốt ngày để giúp hành giả an trú suốt ngày trong chánh niệm. Khi đi kinh hành trong thiền đường hoặc khi đi thiền hành bên ngoài, hành giả có thể điều hợp với hơi thở với bước chân để an trú vững chãi trong chánh niệm. Trước khi đi kinh hành hay thiền hành, bạn có thể xử dụng bài kệ này, Mỗi câu phối hợp với một hơi thở, bắt đầu bằng hơi thở vào:

Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nở hoa sen
Mỗi khi ngồi xuống, bạn có thể xử dụng bài kệ này, cũng phối hợp với hơi thở:
Ngồi đây ngồi cội bồ đề
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao.

Cố nhiên là trong các tư thế đứng và ngồi ta cũng đều có thể xử dụng hơi thở để có ý thúc về các tư thế ấy. Trong khi đứng sắp hàng để chờ đợi mua vé chẳng hạn, hoặc trong lúc ngồi, ta cũng có thể xử dụng bài kệ “thở vào tâm tĩnh lặng” để tiếp tục an trú trong chánh niệm và để làm an tịnh thân tâm.


Bài tập thứ sáu: bài tập này là quán chiếu để có ý thức về những động tác của cơ thể
. Khi đi tới, đi lui, cúi xuống, ngửng lệ, mặc áo, mang bát, nhai cơm, uống nước, đi tiểu, đi đại v.v… hành giả ý thức được là mình đang làm những động tác ấy.

Bài tập này là công phu căn bản của người xuất gia. Hồi tôi mới đi tu, cách đây bốn mươi sáu năm, cuốn kinh đầu tiên mà thầy tôi trao cho để học thuộc lòng là cuốn Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu, trong đó toàn là những bài thi kệ để thực tập khi rửa tay, đánh răng, rửa mặt, mặc áo, quét sân, đi tiểu, đi tắm v.v.. Ví dụ khi nghe chuông tôi phải thở và đọc bài kệ: “văn chung thanh, phiền não khinh, trí tuệ trưởng, bồ đề sinh…” tập thở và đọc kệ như vậy giúp tôi an trú trong chánh niệm. Chánh niệm khiến cho mọi động tác của thân thể ta có thêm uy nghi, giúp ta làm chủ được thân và tâm và nuôi lớn định lực của ta. Cuốn Tỳ Ni Nhật Tụng Thiết Yếu là do thiền sư Độc Thể viết bằng chữ hán, nhiều bài kệ trong ấy được lấy từ kinh Hoa Nghiêm. Sau này tôi có viết cuốn Từng Bước Nở Hoa Sen trong ấy có khoảng năm mươi bài thi kệ cũng theo tinh thần sách Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu. Những bài thi kệ ở đây bằng tiếng Việt rất dễ thực tập, những bài này có thể được điều hợp với hơi thở.

Thực tập bài tập thứ sáu này, động tác hằng ngày của ta có thể chậm lại, vì động tác có chánh niệm đi theo thường mất đi tính cách vội vàng và vụt chạc của nó. Một chú sa di hay một cô sa di ni nếu siêng năng thực tập bài tập này thì sẽ thấy động tác hằng ngày của mình khoan thai và đĩnh đạc trở lại. Chánh niệm được nhìn thấy qua động tác và ngôn ngữ được xem như là thiền vị, tính chất đặc biệt của người có tu tập. Động tác đi theo chánh niệm thì thân sẽ thư thái ung dung và an lạc. Bài tập này là bài tập cho cả một đời người.


Bài tập thứ bảy: bài tập này còn giúp ta xúc tiếp sâu sắc hơn nữa với cơ thể ta.
Ở đây ta không quán chiếu cơ thể như một toàn thể nữa mà ta quán sát từng bộ phận của cơ thể, từ tóc trên đầu cho đến da dưới gót chân. Trên quá trình quán chiếu, ta đi ngang qua tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó óc, tim, phổi, gan, mật, lá lách, máu, nước tiểu, v.v.. Bụt đưa ra ví dụ người nông dân đổ ra sàn nhà tất cả những loại hạt giống mà ông ta cất chứa trong bao và nhận ra từng thứ: đây là hạt lúa, đây là hạt đậu, đây là hạt mè, v.v.. Trong khi quán chiếu về thân thể, ta nhận ra từng bộ phận của cơ thể ấy. Cố nhiên ta có thể dùng hơi thở ý thức để quán chiếu các bộ phận của cơ thể. Ví dụ: “tôi đang thở vào và có ý thức rằng đây là tóc trên đầu tôi, tôi đang thở ra và có ý thức rằng đây là tóc trên đầu tôi”. Xử dụng hơi thở có ý thức, ta an trú dễ dàng hơn trong chánh niệm và ta có thể tiếp tục không gián đoạn công việc quán chiếu từ bộ phận này đến bộ phận khác của cơ thể. Ngoài việc xử dụng hơi thở ý thức, ta còn có thể dùng phương pháp gọi tên các bộ phận của cơ thể để những bộ phận này càng hiện rõ thêm ra dưới ánh sáng của chánh niệm. Ta chỉ cần gọi thầm trong tâm trí mà thôi. Ta có thể đặt câu hỏi: “quán niệm về các bộ phận cơ thể như thế để làm gì ?”

Trước hết, quán niệm về các bộ phận của cơ thể để thực sự tiếp xúc với chúng cũng như nương vào hơi thở trở về với thân thể để tiếp xúc với thân thể. Nhiều khi ta có cảm tưởng rằng ta đã là cơ thể ta, và cơ thể của ta chẳng có gì lạ đối với ta. Nghĩ như vậy là lầm. Sự thật là giữa ta và cơ thể ta có thể có một sự ngăn cách lớn lao và thân thể ta còn là một thực tại khá xa lạ đối với ta, thậm chí có người nhìn cơ thể họ như một ngục tù đày đoạ họ. Trở về với cơ thể và thiết lập hoà điệu với cơ thể. Ta biết rằng cơ thể không an thì ta không an, và vì vậy muốn làm an tịnh cơ thể ta phải trở về với nó và làm lành với nó. Bạn hãy thử đặt bàn tay bạn trên từng bộ phận của cơ thể bạn để làm quen và quán chiếu về bộ phận ấy. Hơi thở ý thức của bạn sẽ giúp bạn trở về làm quen với từng bộ phận của cơ thể bạn. Bạn hãy chú ý tới từng bộ phận với tất cả lòng ưu ái của bạn. Con mắt, trái tim và bàn chân của bạn chẳng hạn, trong mấy mươi năm qua đã làm việc một cách tận tâm  và trung thành với bạn và cho bạn, nhưng bạn chưa bao giờ thực sự để tâm đến chúng và tỏ vẻ biết ơn chúng. Thiết lập liên hệ thân hữu với cơ thể bạn là một việc làm rất cần thiết. Thứ hai là mỗi bộ phận của cơ thể bạn có thể là một cánh cửa mở ra cho bạn đi vào cái thấy của giải thoát và giác ngộ. Ban đầu bạn chỉ nhận diện bộ phận ấy của cơ thể. Nhưng sau đó bạn sẽ dần dần thấy được tự tính của bộ phận ấy. Mỗi sợi tóc hay mỗi tế bào trong cơ thể bạn đều chứa đựng đầy đủ những dữ kiện về tự tính của vạn hữu trong vũ trụ. Mỗi sợi tóc trên đầu bạn là một thông điệp của chân lý về tự tính của vũ trụ. Có thể sau này bạn đạt tới cái thấy về tự tánh vũ trụ chỉ vì quán chiếu về tính duyên sinh của một sợi tóc.

Bạn quán chiếu các bộ phận của cơ thể bắt đầu từ tóc trên đầu cho đến da dưới bàn chân, hoặc có khi chỉ quán chiếu về một bộ phận của cơ thể như con mắt, trái tim hoặc ngón chân cái của bạn. Trong quá trình quán chiếu từ đầu tới chân, có thể có những chủ đề quán chiếu khác nẩy sinh. Bạn ghi nhận những chủ đề ấy, rồi tiếp tục công việc quán chiếu các bộ phận khác của cơ thể, tự nhủ rằng sẽ trở về những chủ đề kia vào một dịp khác.


Bài tập thứ tám: bài tập này có mục đích cho ta thấy được những liên hệ duyên sinh giữa cơ thể ta và vạn hữu vũ trụ.
Đây là một trong những phép quán chủ yếu để đạt tới sự chứng nghiệm tự tính vô ngã và bất sinh bất diệt của vạn pháp. Sự chứng nghiệm này có hiệu năng đưa tới giải thoát và giác ngộ.

Kinh văn chỉ dẫn ta quán chiếu về sự có mặt của đất, nước, lửa và gió trong cơ thể ta. Đất, nước, lửa và gió được xem như những yếu tố căn bản của vật thể gọi là bốn đạt (Mahabhuta, có khi cũng gọi là dhatu, giới). Đất đại biểu cho tính cách rắn chắc của vật thể, nước đại biểu cho tính cách lưu nhuận, lửa đại biểu cho nhiệt lượng và gió đại biểu cho động tác. Kinh Dhatu – vibhanga (M.140) nói tới sáu đại như những yếu tố cấu tạo vật thể: ngoài đất, nước, lửa và gió còn có không gian (akasa) và tâm thức (vijnana) nữa. Tụng bản II của chúng ta thay vì nói bốn đại cũng đã nói tới sáu đại: đất, nước, lửa, gió, không gian và tâm thức.

Trong cơ thể ta có trên 75% là nước. Hành giả quán chiếu để thấy được yếu tố nước ấy trong thân thể. Không những ta thấy yếu tố nước lưu nhuận trong máu, mồ hôi, nước bọt, nước mắt, nước tiểu . . . ta còn có thể thấy được yếu tố nước trong từng tế bào của cơ thể. Ta thấy những đám mây trong cơ thể ta, vì nếu không có mây thì không có mưa, ta sẽ không có nước để uống, ta cũng sẽ không có gạo và rau để ăn, bởi vì gạo lúa và rau trái phải cần có mưa mới sinh trưởng được. Trong cơ thể ta có lửa, tức là nhiệt lực. Ta thấy mặt trời trong cơ thể ta, vì nếu không có mặt trời thì trái đất sẽ băng giá và sự sống không thể có được trên trái đất. Nhờ mặt trời mà ta có gạo và rau để ăn, bởi vì gạo lúa và rau trái cần phải có ánh sáng mặt trời mới sinh trưởng được. Ta thấy đất trong ta, đất là đại biểu cho khoáng chất. Ta thấy đất sống trong ta vì nếu không có đất thì cũng không có ta. Nhờ đất mà ta có gạo và rau để ăn, bởi vì gạo lúa và rau trái phải cần có đất mới sinh trưởng được. Ta thấy gió trong ta, gió là không khí chuyển động. Nếu không có không khí ta cũng không thể nào sống được. Ta cũng như mọi loài thảo mộc, trong đó có lúa gạo và rau trái ta ăn, phải cần đến không khí để có thể sống còn. Hành giả quán chiếu để thấy được sự có mặt của vạn vật trong tự thân của mình, để chứng nghiệm tính cách tương quan tương duyên giữa mình và vạn hữu trong vũ trụ, để thấy rằng sự sống của mình và để vượt thoát thân kiến, nghĩa là vượt thoát cái nhìn sai lầm căn bản: cho thân thể này là mình và mình chỉ là thân thể này. Đó là tự tính vô ngã của vạn hữu. Trong cuốn Trái Tim Mặt Trời (lá bối, Paris, 1982), tôi có nói tới mặt trời như một trái tim thứ hai của mình, một trái tim nằm ngoài cơ thể của mình nhưng cũng thiết yếu cho cơ thể mình như trái tim thứ nhất nằm trong cơ thể. Khi trái tim bên trong cơ thể không còn vận động nữa thì ta sẽ chết, điều ấy ta biết rõ, nhưng ta thường quên rằng nếu trái tim bên ngoài cơ thể ta ( tức là mặt trời) mà tắt ngấm thì ta cũng sẽ chết tức khắc. Quán chiếu về tự tính duyên khởi của thân thể, ta có thể thấy được sự sống của ta ngoài cơ thể ta, vượt được ranh giới giữa ngã và phi ngã. Phép quán chiếu này có thể giúp ta siêu việt được sinh tử.


Bài tập thứ chín: bài tập này giúp ta thấy được tính cách vô thường và chắc chắn phải tàn hoại của cơ thể.
Phép quán này thường được gọi là cửu tưởng quán, đối tượng là chín giai đoạn tàn hoại của một cơ thể không còn sinh khí. Mới nghe qua, bạn có thể có cảm giác không dễ chịu nhưng hiệu quả của phép quán này quả thật rất lớn lao, và hiệu năng giải thoát và an lạc của nó cũng rất vĩ đại.

Ngày xưa các vị khất sĩ thường hay vào ngồi ở bãi tha ma để thực hành phép quán này.

Chín giai đoạn tàn hoại của tử thi là những giai đoạn sau đây:

  1. Xác chết sình lên, xanh lại, thối nát ra.
  2. Xác chết bị các loài dòi bọ rúc rỉa, bị quạ, diều hâu, kên kên và chó sói rừng xé ăn.
  3. Xác chết chỉ còn là một bộ xương dính ít thịt và máu.
  4. Chỉ còn là một bộ xương, hết thịt nhưng còn dính máu.
  5. Chỉ còn là một bộ xương, không còn dính máu, nhưng các đốt xương còn dính vào nhau.
  6. Chỉ còn một đống xương rời rạc, nơi này là xương ống tay, nơi kia là xương ống chân, nơi nọ là đầu lâu . . .
  7. Chỉ còn một đống xương trắng màu vỏ ốc.
  8. Chỉ còn một mớ xương khô.
  9. Xương đã mục, chỉ còn lại một mớ bụi.

Hành giả quán để thấy được thây chết trong từng giai đoạn và để thấy được rằng thân thể mình cũng sẽ như vậy, không có lối nào tránh thoát.

Phép quán này nên được thực tập khi ta có đủ sức khoẻ, vật chất cũng như tinh thần và nhất là những khi ta bị chi phối bởi những tâm trạng tham dục và sân hận.

Phép quán này đã không khiến cho ta nhàm chán sự sống mà lại giúp ta thấy được cái quí giá của sự sống, đã không khiến cho ta có thái độ bi quan đối với sự sống mà còn giúp ta biết sống như thế nào để đừng làm uổng phí đời ta. Can đảm nhìn vào sự thật để thấy được thật tướng của muôn vật, điều này chỉ có thể đem tới cho ta sự lợi lạc. Thấy được tính vô thường của vạn vật, ta càng thấy được sự quý giá của vạn vật. Bạn đã thức đêm để đợi một bông hoa quỳnh nở hay chưa? Đoá quỳnh nở và tàn trong vòng mấy tiếng đồng hồ nhưng vì ý thức được điều đó nên ta thấy được rất rõ sự quý hoá và mầu nhiệm của đoá hoa quỳnh ấy. Ta tiếp xúc thật sự với tính cách mầu nhiệm của đoá quỳnh, ta trân quý sự có mặt của nó, tuy nhiên ta không bị sự sầu khổ và tiếc nuối trấn ngự, bởi vì ta đã thấy được trước khi nó nở và trong khi nó nở, tính cách chóng tàn của một bông quỳnh. Những người thân yêu sống chung với ta và những gì đẹp đẽ và quý giá hiện có trong tầm tay ta đều là những bông hoa quỳnh mầu nhiệm. Nếu ta thấy được tự tính vô thường của sự vật, ta sẽ biết trân quý sự có mặt của những người ấy và của những cái ấy trong giờ phút hiện tại. Biết trân quý họ ta sẽ có thì giờ tiếp xúc thật sự với họ, sẽ chăm sóc họ, sẽ làm cho họ có hạnh phúc và do đó ta càng có thêm hạnh phúc.

Cửu tưởng quán khiến cho ta thấy được tính cách quý giá của sự sống nơi ta và nơi các loài khác, đồng thời dạy ta cách sống thanh thản, nhẹ nhàng, không vướng mắc vào tham dục và giận hờn đồng thời giúp ta vượt thoát những sầu khổ do tham dục và giận hờn gây ra.

Nhận xét tổng quát về chín bài tập trên: trong suốt chín bài tập vừa qua, hành giả trở về với thân thể mình, khi thì tập trung nơi hơi thở, khi thì tập trung vào cơ thể, khi thì tập trung nơi những động tác của cơ thể, khi thì quán chiếu về những bộ phận của cơ thể và về những yếu tố tạo nên cơ thể, khi thì quán chiếu về sự tàn hoại của cơ thể . . . trở về thân thể để nhận thức và quán chiếu như thể không phải là để bị nhốt lại trong cái vỏ tự ngã mà trái lại là để tiếp xúc trực tiếp với cơ thể và thấy được quá trình sinh khởi và hoại diệt của những yếu tố và những khía cạnh của cơ thể.

Đoạn kinh văn này được lập lại sau mỗi đoạn chỉ dẫn thực tập về sự quán niệm thân thể, ta nên đọc lại: “cứ như thế, vị ấy an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự thường trực quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “có thân thể đây, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, người ấy an trú một cách tự do không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận”.

Ta nên nhớ: hơi thở, các tư thế của thân thể, các động tác của thân thể, các bộ phận của thân thể, những yếu tố tạo nên thân thể và sự tàn hoại của thân thể… đều thuộc về thân thể, đều là  thân thể. Tiếp xúc với tất cả các khía cạnh ấy của thân thể để thấy được quá trình sinh diệt, tự tánh duyên sinh và vô ngã của chúng, tức là quán chiếu về thân thể vậy.

Do đó, các phép quán vô thường, vô ngã và duyên sinh, ba phép quán căn bản của đạo bụt đã được thực tập ngay trong tám bài tập quán niệm về thân thể. Nội việc thực tập tám bài tập quán niệm về thân thể này cũng đủ đem lại giải thoát và giác ngộ.

Đoạn kinh văn vừa trích dẫn nằm trong tụng bản I. Ở tụng bản II, ta thấy câu kinh tương đương sau đây: “như thế, vị khất sĩ quán thân như thân, bên trong cũng như bên ngoài, thiết lập chánh niệm nơi thân, có biết, có thấy, có sáng, có đạt: đó gọi là vị khất sĩ quán thân như thân”.

Biết, thấy, sáng, đạt ở đây là biết, thấy, sáng và đạt về tự tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của thân thể, hay của vạn vật qua sự quán chiếu về thân thể. Quán chiếu về tính cách vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn vật, như ta đã biết, không đưa ta tới sự ghét bỏ sự sống mà trái lại còn làm cho ta thấy được giá trị của sự sống nơi mọi loài sinh vật. Giải thoát không phải là trốn chạy sự sống hay là tiêu diệt sự sống. Có nhiều người trình bày đạo lý của Bụt như con đường thoát ly sự sống, thoát ly thế giới của năm uẩn, tức là thế giới của sắc thân, cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức. Trình bày đạo lý của Bụt như thế có khác nào nói rằng mục đích của sự tu tập là đạt tới sự vắng mặt của sự sống, hay đạt tới hư vô. Trong kinh Chuyển Pháp Luân, pháp thoại đầu của Bụt, giảng tại vườn Lộc Uyển, Bụt có nói tham đắm vào hiện hữu (bhava) và tham  đắm vào hư vô (abhava) đều là tham đắm. Trong kinh nêu khổ đau không phải là sự sống, không phải là năm uẩn, không phải là tính cách vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn vật mà là sự mờ ám của ta về tính cách vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn vật. Ví không chứng nghiệm được tính cách vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn vật cho nên ta rơi vào trong sự tham đắm, từ đó nảy sinh ra mọi phiền não và ràng buộc: thất vọng, giận hờn, kiêu mạn, nghi ngờ v.v… vô thường, vô ngã và duyên sinh không phải là những nhược điểm của sự sống mà chính là điều kiện thiết yếu của sự sống. Nếu không có vô thường, làm sao hạt bắp có thể trở thành cây bắp, và làm sao em bé có thể lớn lên và học giỏi? Chính là nhờ vô thường, vô ngã và duyên sinh, vạn vật mới có thể sinh khởi, trưởng thành, tàn hoại và tiêu diệt. Sinh, thành, hoại, diệt là những giai đoạn cần thiết của sự sống, không phải chỉ là sự sống của một cá thể mà là sự sống của muôn loại. Diễn bày vô thường, vô ngã và duyên sinh như những vết đen hoặc những bệnh trạng của sự sống, ta vô tình bôi đen sự sống và gây tâm trạng chán ghét đối với sự sống. Ta phải làm ngược lại. Ta phải tán dương vô thường, vô ngã và duyên sinh như những điều kiện tất yếu của sự sống, ta phải hoan hô chúng. Chỉ khi nào ta không thực chứng được chúng, ta mới bị ràng buộc vào tham đắm và khổ đau mà thôi.

Kinh Bảo Tích trong tác phẩm Ca Diếp Vấn (Ratnakutasutra kasyaparivarta) có đưa ra ví dụ một người cầm cục đất ném vào con chó. Con chó bị cục đất liệng trúng, chạy theo cục đất mà sủa một cách tức tối. Con chó không biết rằng thủ phạm làm cho nó đau không phải là cục đất mà là người ném đất. Kinh dạy: phàm phu và nhị thừa cứ tưởng năm uẩn là nguồn gốc của khổ đau, nhưng thực ra nguồn gốc của khổ đau là sự không thấu hiểu về tính cách vô thường, vô ngã và duyên sinh của ngũ uẩn. Do không thấu hiểu cho nên tham đắm, và vì vậy bị trói buộc.

Trong kinh ta thấy danh từ uẩn (khanda, phạn: skandha) và thủ uẩn (upadanakkhadha, phạn: upadanaskandha). Năm uẩn tức là năm yếu tố tạo nên sinh mạng, và thủ uẩn là năm yếu tố như đối tượng chấp thủ, chấp thủ nghĩa là vướng mắc. Nguồn gốc của khổ đau không phải là uẩn mà là chấp thủ.

Vì lầm lẫn cho nên thay vì đối trị với tâm chấp thủ, có người đã xoay lại đối phó với trần và uẩn, do đó sinh ra sợ hãi sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, và chán ghét sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

Bụt là người sống an lạc, mạnh khoẻ và tươi vui. Người sống thảnh thơi và không vướng bận vào bất cứ một cái gì. Chính vì sống không vướng bận vào bất cứ một cái gì nên người mới sống thảnh thơi và an lạc. Bụt luôn luôn có nụ cười trên môi và sự có mặt của Bụt làm tươi mát cả hoàn cảnh chung quanh người.

Có nhiều đoạn kinh cho ta thấy Bụt rất yêu đời và người biết thưởng thức những cái đẹp chung quanh người. Nhiều lần Bụt chỉ cho thấy Ananda thấy những cảnh đẹp như cảnh mặt trời lặn trên núi Thứu, những cánh đồng lúa chín vàng với những bờ cỏ xanh, cảnh trí xanh mát của tu viện Trúc Lâm, thành phố Vesali xinh xắn… người không hề sợ cái đẹp, bởi vì người thấy được tự tính vô thường của mọi cái đẹp cũng như mọi cái không đẹp, và vì vậy người không bị vướng mắc. Người không đuổi theo bất cứ một cái gì và người cũng không cần trốn chạy bất cứ một vật gì. Con đường giải thoát không phải là con đường trốn chạy ngũ uẩn mà là con đường trực tiếp đối diện với ngũ uẩn để quán chiếu và khám phá ra tự tính của chúng.

Nếu ta cắt những bông hoa ngoài vườn vào để trang trí phòng khách của ta, đó là vì ta thấy những bông hoa ấy đẹp. Ta phải thẳng thắn nói như vậy. Ta không thể dối lòng ta mà nói: những bông hoa này tuy đẹp, nhưng cái đẹp của chúng cũng mong manh như chúng. Mai mốt khi các bông hoa này tàn thì cái đẹp của chúng cũng tàn theo chúng. “ta nói như thế vì ta thấy như thế, cho nên khi các bông hoa héo tàn và cái đẹp của các bông hoa không còn nữa, ta sẽ không thấy khổ đau và buồn chán. Và vì thấy được tính vô thường của các bông hoa cho nên ta càng thấy rõ được cái đẹp của các bông hoa và ta càng trân quý sự có mặt của cái đẹp ấy.

Quán chiếu về tính vô thường của vạn vật, không phải là để từ khước vạn vật mà là để tiếp xử với vạn vật với tuệ giác, nghĩa là không với thái độ tham đắm và vướng mắc.

Phương pháp của kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm không phải là phương pháp vật lộn với sự tham đắm và vướng mắc mà là phương pháp quán chiếu tự tính của vạn pháp. Phương pháp pháp này là tiếp xúc với sự vật để quán chiếu về tự tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của chúng. Một khi đã chứng thực được các tự tính ấy, ta vượt được tham đắm và vướng mắc mà khỏi cần phải vật lộn một cách mệt nhọc với tham đắm và vướng mắc.

Giải thoát trong đạo bụt là giải thoát bằng sự tỉnh thức và bằng sự hiểt biết, và vì vậy hành giả không cần cực nhọc vật lộn với tham đắm. Hai kinh căn bản về thiền quán là kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm và kinh Quán Niệm Hơi Thở đều toả chiếu nguyên tắc ấy. Khi có tâm niệm tham dục thì ý thức là mình đang có tâm niệm tham dục, “đó là lời dạy của kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm”. Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta”, đó là lời dạy của kinh Quán Niệm Hơi Thở. Nhận diện tâm niệm tham dục, quán chiếu về thực tính của tâm niệm ấy và của đối tượng tham dục, ta sẽ thấy được tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của chúng và ta sẽ không còn bị tâm niệm ấy khống chế nữa.

Có những thế hệ học giả và hành giả đã từng diễn tả đạo Bụt như một con đường diệt dục và con người giải thoát được họ miêu tả như một vị La Hán gầy gò, da thịt nhăn nheo, không còn nhựa sống. Ta định nghĩa thế nào là dục? Nhịn đói ba ngày, ta thèm ăn cơm, cái đó có phải là dục không? Đói thì ăn, khát thì uống… điều ấy có đi ngược lại với đạo lý giải thoát không? nếu điều ấy đi ngược với giáo lý giải thoát, đạo Bụt há chẳng phải là con đường trốn tránh và tiêu diệt sự sống?

Ta biết rõ ăn uống là những động tác cần thiết để nuôi dưỡng thân thể và làm cho thân thể khoẻ mạnh. Nhưng ta cũng biết rằng ăn và uống có thể đem tới sự tàn hoại thân thể trong trường hợp ta ăn uống quá độ, nhất là khi những thức ta ăn và uống có tác dụng độc hại cho cơ thể. Vậy thì ta có thể nói: ăn và uống như thế nào để làm cho thân thể khoẻ mạnh, đó là đi đúng đạo lý giải thoát, còn ăn và uống làm sao mà gây khổ đau cho bản thân ta và cho người khác, đó là đi ngược với đạo lý giải thoát. Trong trường hợp thứ nhất, tham dục không có mặt, trong trường hợp thứ hai, tham dục có mặt.

Vì chống lại hình ảnh vị La Hán diệt dục, gầy gò, chỉ còn da bọc lấy xương, nhiều thế hệ học giả và hành giả đã đưa ra hình tượng các vị Bồ Tát tươi tắn, mạnh khoẻ, xinh đẹp và tràn đầy sức sống. Hình ảnh các vị Bồ Tát rất gần với hình ảnh Bụt, đi vào trong cuộc đời với từ bi trong tâm và với một nụ cười trên môi. Bụt tuy có sống độc cư, tuy có yêu mến sự độc cư nhưng cho đến năm tám mươi tuổi, người không bao giờ từ chối đi sâu vào cuộc đời để hoá độ.

Thấy một cảnh mặt trời lặn đẹp và biết thưởng thức cái đẹp ấy, đó không phải là dục, nếu ta “an trú một cách tự do, không bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. (kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm). Thấy được tự tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn vật rồi thì ta đạt tới sự thảnh thơi đó. Bơi trong một dòng sông mát, uống một ly nước trong, ăn một trái cam ngọt, và biết thưởng thức cái mát mẻ và cái ngọt ngào ấy, đó cũng không phải là đục, nếu ta đã đạt tới sự không vướng mắc kia.

Sở dĩ tôi đã nói hơi dài về ý trên là tại vì trong đạo Bụt Nam Truyền, và cả ở trong đạo bụt Bắc Truyền nữa, nhiều thế hệ học giả và hành giả đã tỏ ra sợ sự an lạc, không dám thực tập sự an lạc. Sau đây xin trình bày bài tập thứ mười về sự thực tập an lạc.


Bài tập thứ mười: bài tập này nhằm mục đích tạo ra sự thoải mái và an lạc trong thân tâm để chữa trị
những thương tích trong thân thể và trong tâm hồn, và cũng để nuôi lớn mình bằng pháp lạc và có thể đi xa trên con đường thực hiện. Bài tập này rút ra trong tụng bản II của kinh. Khi đã chấm dứt được những bận rộn nhiễu nhương và phiền toái của đời sống, khi đã chấm dứt được những theo đuổi tham dục và những tư tưởng hận thù, hành giả vào rừng hoặc đóng cửa tịnh thất và ngồi lại trong tư thế hoa sen. Nắm lấy hơi thở, hành giả thấy được niềm thảnh thơi của mình, từ đó trong tự thân phát khởi một nguồn hỷ lạc. Hỷ là mừng vui, lạc là hạnh phúc. Hành giả có thể thực tập theo những hơi thở sau đây:

  1. Ta đang thở vào và làm cho toàn thân ta an tịnh, ta đang thở ra và làm cho toàn thân an tịnh (xin xem lại bài tập thứ tư).
  2. Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui, ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui (đây là hơi thở thứ năm trong kinh Quán Niệm Hơi Thở).
  3. Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc, ta đang thở ra và cảm thấy an lạc (đây là hơi thở thứ sáu trong kinh Quán Niệm Hơi Thở).
  4. Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc, ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc (đây là hơi thở thứ mười trong kinh Quán Niệm Hơi Thở)

Trong khi thực tập như thế, hành giả thấy chất liệu của sự hỷ lạc thấm vào từng tế bào của cơ thể mình. Mời bạn đọc đoạn này trong tụng bản II: “vị khất sĩ quán thân  như thân nhờ xa lìa (cuộc sống náo loạn và dục vọng) mà niềm hỷ lạc được phát sinh và thấm nhuần đầy dẫy trong châu thân. Trong thân thể này niềm hỷ lạc do sự xa lìa (cuộc sống náo loạn và dục vọng) mà phát sinh ấy không chỗ nào là không phổ biến, như một người hầu tắm sau khi bỏ bột tắm vào chậu, nhồi bột tắm ấy với nước, cho đến khi cục bột tắm không có chỗ nào là không thấm nhuận chất nước. Vị khất sĩ cảm thấy niềm vui (do sự xa lìa cuộc sống náo loạn và dục vọng mà phát sinh) đầy dẫy trong châu thân minh, không chỗ nào là không thấm nhuận. “Niềm hỷ lạc phát sinh do sự xa lìa nếp sống náo loạn và dục vọng sẽ được tăng cường và thấm nhuận hơn khi hành giả thực hiện được sự chuyên chú của tâm ý:

“Lại nữa, các vị khất sĩ! vị khất sĩ quán thân như thân thấy nguồn Hỷ Lạc do Định phát sinh thấm nhuần đầy dẫy trong châu thân mình, trong thân thể ấy, niềm hỷ hạc do định phát sinh không chỗ nào mà không phổ biến. Như một dòng suối trong núi, trong sạch không ô nhiễm, chảy ra đầy dẫy khắp cả bốn mặt, những  nơi không có nẻo để nước chảy vào thì nước của dòng suối ấy lại từ dưới phun lên, thấm nhuần núi non, không nơi nào là nước không chảy đến…”

Ban đầu, trạng thái vui mừng (hỷ) làm phát sinh trạng thái hạnh phúc (lạc), nhưng khi trạng thái hạnh phúc đã thật sự có mặt thì tâm niệm vui mừng lắng đọng xuống để cho trạng thái hạnh phúc trở nên vững chãi và sâu đậm hơn, bởi vì dù sao sự vui mừng vẫn còn mang ít nhiều tính chất suy tư và kích thích:

“Vị khất sĩ quán thân như thân thấy niềm hạnh phúc (lạc) phát sinh do sự vắng mặt của tâm trạng vui mừng (hỷ), niềm hạnh phúc này phát triển và thấm nhuần đầy dẫy trong tự thân, trong thân thể vị khất sĩ này không có chỗ nào là niềm hạnh phúc (lạc) ấy không thấm nhuần đầy dẫy, như các loại hoa sen, sen xanh, sen hồng, sen đỏ, sen trắng sinh ra từ trong nước, lớn lên từ trong nước. Rễ sen, ngó sen, lá sen và hoa sen đều thấm nhuần chất nước, không có chỗ nào (trong cây sen) mà nước không thấm nhuận. Như thế, niềm hạnh phúc phát sinh từ sự vắng mặt của tâm trạng vui mừng (hỷ) thấm nhuần vào toàn thân của vị khất sĩ, không nơi nào mà niềm hạnh phúc ấy không phổ biến…”

Trong lúc thiền quán, hành giả thấy tâm ý mình an lạc và thanh tịnh. Hành giả đem cái ý thức an lạc và thanh tịnh này mà bao trùm cả cơ thể mình để cơ thể mình cũng được thấm nhuần sự an lạc và thanh tịnh kia:

“Lại nữa, các vị khất sĩ! vị khất sĩ quán thân như thân lấy tâm thanh tịnh và ý thức về sự thanh tịnh ấy của mình mà bao trùm cả thân thể mình, làm cho toàn thân thể mình không có chỗ nào mà không được bao trùm bởi tâm thanh tịnh ấy, cũng như một người kia choàng lên một cái áo dài tới bảy hoặc tám sải, từ đầu tới chân, không nơi nào mà thân thể không được chiếc áo ấy bao phủ. Vị khất sĩ kia cũng thế, lấy tâm thanh tịnh mà bao phủ toàn vẹn thân thể của mình, chẳng nơi nào của cơ thể mà không được (tâm thanh tịnh) che chở. Như thế, vị khất sĩ quán thân như thân, bên trong cũng như bên ngoài, thiết lập chánh niệm nơi thân, có biết, có thấy, có sáng, có đạt, đó gọi là vị khất sĩ quán thân như thân”.

Như ta đã biết, phép quán này có tác dụng nuôi dưỡng ta bằng hỷ lạc và chữa trị những thương tích trong ta. Nhưng ta sẽ không chần chừ lưu trú mãi trong hỷ lạc ấy. Một lúc nào đó, ta phải rời bỏ hỷ và lạc để đi vào công trình quán chiếu. Hỷ và lạc cũng do các điều kiện sinh vật lý tạo thành, và cũng vô thường như các hiện tượng sinh vật lý. Chỉ khi nào nhờ quán chiếu mà ta thực chứng được tự tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn pháp, ta mới thực sự đạt tới giải thoát và thảnh thơi.


Bài tập thứ mười một:
bài tập này giúp ta tiếp xúc với những cảm giác của ta và nhận diện được chúng.

Cảm thọ có ba loại: lạc thọ, tức là những cảm giác dễ chịu, khổ thọ, những cảm giác khó chịu và xả thọ, những cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Phương pháp của bài tập này là nhận diện và tiếp xúc với những cảm thọ ấy khi chúng phát sinh, trở thành và hoại diệt.

Mỗi khi có một khổ thọ, hành giả chớ vội tìm cách xua đuổi hay xa lánh nó. Hành giả trở về với hơi thở có ý thức và quán chiếu:

“Thở vào, ta biết là một khổ thọ đã phát sinh trong ta, thở ra, ta biết là khổ thọ ấy đang có mặt trong ta”.

Mỗi khi có một lạc thọ hay một xả thọ, hành giả cũng thực tập quán chiếu theo cách ấy. Hành giả biết rằng cảm thọ ấy là mình, mình đang là cảm thọ ấy, mình không tham đắm vào nó mà cũng không ghê sợ ghét bỏ nó. Đó là phương pháp hữu hiệu nhất để tiếp xúc với những cảm thọ của mình. Gọi tên cảm thọ là khổ thọ, lạc thọ hay xả thọ, gọi thầm trong trí thôi, ta nhận diện được cảm thọ ấy một cách rõ ràng và sâu sắc hơn. Thái độ không ôm chặt cũng không ruồng bỏ của ta đối với cảm thọ là thái độ hành xả (upekkha, phạn: upeksa) rất quan trọng trong thiền tập. Hành xả thuộc về một trong bốn tâm vô lượng là từ, bi, hỷ và xả.

Con người là một hợp thể của năm uẩn tức là sắc thân (sắc), cảm thọ (thọ), tri giác (tưởng), tâm tư (hành) và nhận thức (thức). Mỗi uẩn là một dòng sông trong đó mỗi giọt nước là một tế bào, tất cả đều đang chuyển biến và trôi chảy. Trong ta cũng có một dòng sông cảm thọ, nơi ấy mỗi giọt nước là một cảm thọ, hoặc dễ chịu hoặc khó chịu hoặc không dễ chịu cũng không khó chịu. Các cảm thọ này nối tiếp nhau mà phát sinh, có mặt rồi tan biến. Quán chiếu về cảm thọ trước hết là ngồi bên bờ dòng sông cảm thọ để nhận diện từng cảm thọ đang sinh trưởng và hoại diệt trong dòng sông ấy, để duy trì ý thức về sự có mặt của chúng.

Cảm thọ của ta thường đóng vai trò hướng dẫn tâm ý ta: tư tưởng ta hay phát sinh và nối tiếp nhau quanh cảm thọ đang có mặt. Khi ta phát khởi chánh niệm về cảm thọ ấy thì tính trạng bắt đầu thay đổi: cảm thọ không còn có mặt một mình trong ta nữa, cảm thọ bây giờ đang diễn biến dưới ánh sáng của ý thức chánh niệm. Cảm thọ ấy không còn sai sử và lung lạc được ta dễ dàng như trước nữa, trái lại nó bắt đầu chịu ảnh hưởng của ý thức quán chiếu của ta. Chủ quyền của ta được khôi phục lại, đó là hiệu năng đầu tiên của sự quán chiếu. Nếu ta tiếp tục quán chiếu về cảm thọ ấy thì ta sẽ thấy được nguồn gốc và bản chất của nó. Đó là hiệu năng thứ hai của công trình quán chiếu. Thấy được tự tính của một vật, là được giải thoát và không còn bị vật ấy sai sử và lung lạc nữa.

Đại ý, tên kinh và nội dung

 

ĐẠI Ý KINH

Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm cùng với kinh Quán Niệm Hơi Thở là hai kinh căn bản dạy về thiền tập trong thời Bụt còn tại thế, trong cả ba tụng bản, danh từ Con Đường Duy Nhất (Ekayana, tụng bản 1, Nhất Đạo, tụng bản 2, Nhất Nhập Đạo, tụng bản 3) đã được xử dụng, điều này cho ta thấy vị trí chính yếu của phép quán Tứ Niệm Xứ trong toàn bộ giáo lý đạo Bụt. Đạo Bụt đã trở thành một tôn giáo lớn nhưng cốt tủy của đạo Bụt vẫn là thiền quán. Kinh này vì vậy đã được học hỏi, thực tập và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách cẩn trọng đặc biệt.

Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm nói về bốn phép quán niệm: quán niệm về thân thể, quán niệm về cảm giác, quán niệm về tâm ý và quán niệm về những đối tượng của tâm ý. Trong lĩnh vực thân thể, hành giả quán niệm về hơi thở, về các tư thế của thân thể, về các động tác của thân thể, về các bộ phận của thân thể, về những yếu tố tạo nên cơ thể, và về sự tàn hoại của cơ thể. Trong lĩnh vực cảm giác, hành giả quán niệm về các cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu cũng không khó chịu đang phát sinh, tồn tại và hoại diệt, các cảm giác có nguồn gốc sinh vật lý và tâm lý. Trong lĩnh vực tâm ý, hành giả quán niệm về các trạng thái tâm ý như tham, giận, lầm lạc, tập trung, tán loạn, ràng buộc, giải thoát… Trong lĩnh vực đối tượng tâm ý, hành giả quán niệm yếu tố của sinh mạng là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, các giác quan và đối tượng của chúng, các yếu tố gây chướng ngại cho trí tuệ và giải thoát, các yếu tố đưa đến giác ngộ và bốn sự thật về khổ đau và giải thoát.

 

VỀ TÊN KINH

Từ ngữ Satipatthana (Phạn: Smrtyupasthana) được dịch ra tiếng Hán Việt là Niệm Xứ. Niệm (Sati, Phạn: Smrti) là phát khởi ý thức, là để tâm tới.

Xứ (Upatthana, Phạn: Upasthana) là nơi chốn, lĩnh vực, đối tượng, Xứ cũng có nghĩa là ở lại, an trú, duy trì sự có mặt của mình. Xứ khi là danh từ thì có nghĩa là nơi chốn, nhưng khi là động từ (đọc là xử) thì có nghĩa là duy trì sự có mặt. Vì vậy ngoài danh từ niệm xứ, ta còn có danh từ niệm trú, cả hai cùng có nghĩa như nhau. Vậy niệm xứ vừa có nghĩa là Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm mà cũng có nghĩa là duy trì sự có mặt trong Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm ấy. Tây phương thường dịch là the foundations of mindfuness ( hay là the establishments of mindfulness). Bốn lĩnh vực là thân thể, cảm giác, tâm ý và đối tượng tâm ý. Duy trì ý thức trên các lĩnh vực ấy để quán chiếu tức là thực tập phép quán niệm xứ vậy.

 

PHÂN TÍCH NỘI DUNG KINH

Tụng bản thứ nhất có thể được chia làm sáu phần:

  1. Phần thứ nhất nói về trường hợp trong đó kinh được nói ra, tầm quan trọng của kinh, và đề mục Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm.
  2. Phần thứ hai nói về các phương pháp quán niệm thân thể nơi thân thể.
  3. Phần thứ ba nói về các phương pháp quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ.
  4. Phần thứ tư nói về các phương pháp quán niệm tâm ý nơi tâm ý.
  5. Phần thứ năm nói về các phương pháp quán niệm đối tượng tâm ý nơi đối tượng tâm ý.
  6. Phần thứ sáu nói về thời gian và thành quả của sự thực tập quán niệm

 

Nội dung tụng bản thứ hai cũng có thể được phân tích y như tụng bản đầu.

Tụng bản thứ ba lại cũng có thể được phân ra làm sáu phần, nhưng nội dung có hơi sai khác chút ít:

  1. Phần thứ nhất nói về trường hợp trong đó kinh đã được nói ra, tầm quan trọng của kinh, và chủ đề của kinh là bốn phép quán ngưng tụ tâm ý. Trong phần này, con đường tám sự hành trì chân chánh (bát chánh đạo) và năm thứ chướng ngại của giải thoát (ngũ cái) cũng được nhắc đến.
  2. Phần thứ hai nói về phép quán thân nơi thân.
  3. Phần thứ ba nói về phép quán cảm thọ nơi cảm thọ.
  4. Phần thứ tư nói về phép quán tâm nơi tâm.
  5. Phần thứ năm nói về phép quán pháp nơi pháp.
  6. Phần thứ sáu nói về hiệu quả của sự tu tập để trừ diệt sự ngăn che (ngũ cái) và thực hiện bốn sự ngưng tụ tâm ý (tứ niệm xứ)

Chút ít lịch sử

Đứng về phương diện thiền tập, kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm cùng với kinh Quán Niệm Hơi Thở có thể được xem như là hai kinh quan trọng vào bực nhất. Hai kinh này đều nói tới niệm (sati, phạn: smrti) như cánh cửa chính để đi vào giác ngộ. Địa vị của niệm là địa vị then chốt trong các pháp tu tứ niệm xứ, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần và bát chánh đạo.

Chúng ta may mắn có tới ba tụng bản của kinh này. Tụng bản thứ nhất là kinh satipatthana sutta (M.10 và D.22) thuộc hệ phái Theravada được ghi chép lại bằng tiếng Nam Phạn (Pali) vào thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch. Tụng bản thứ hai là kinh Niệm Xứ (ĐTTT.26 (98)) thuộc hệ phái Sarvastivada tức là thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, mà bản dịch ra chữ Hán là của Gotama Sanghadeva dịch từ tiếng Bắc Phạn ra từ đời Đông Tấn (317-420). Tụng bản thứ ba là kinh Nhất Nhập Đạo (ĐTTT.125 (12)) thuộc hệ phái Mahasanghika tức là Đại Chúng Bộ. Bản dịch giả là Gotama Sanghadeva nhưng có thể là do Đharmanandi thực hiện.

Hồi Bụt còn tại thế, ngôn ngữ được xử dụng cho kinh và luật là tiếng Ardhamagadhi. Nhưng địa bàn hoằng pháp của Bụt rất rộng, cho nên tại các địa phương không thuộc trung tâm lưu vực sông Hằng, các thầy và các sư cô thường phải giảng dạy giáo pháp bằng các thứ tiếng địa phương, và điều này đã được Bụt chấp nhận và khuyến khích. Một hôm, tại tu viện Cấp Cô Độc, hai đại đức Yamelu và Tekula xin phép bụt được dịch tất cả các kinh của người nói ra cổ ngữ Vedic thường được dùng trong các thể phúng tán của các kinh Vệ đà. Hai đại đức thưa rằng sở dĩ họ muốn làm như vậy là vì lời của Bụt dạy rất đẹp mà đến khi được dịch ra các thứ tiếng địa phương thì có thể trở thành méo mó, và làm cho người ta hiểu lầm ý Bụt. Dịch lời Bụt ra thành thể phúng tụng theo cổ ngữ là một cách bảo vệ cái đẹp và tính cách chính xác của giáo lý. Bụt đã không đồng ý với hai thầy. Người không muốn giáo lý của người trở nên một bảo vật dành riêng cho giới trí thức quý phái. Người muốn giáo lý của người là một thực thể sống động trong mọi giới quần chúng. Vị vậy Bụt đã nói: “không, tôi không muốn các thầy đưa giáo lý vào hình thức phúng tụng cỗ ngữ. Tôi muốn mọi người có thể học và hành giáo lý trong tiếng mẹ đẻ của chính mình”.

Sau ngày Bụt nhập diệt khoảng bốn tháng, đại đức Mahakasyapa triệu tập một cuộc hội nghị tại núi Thất Diệp (Saptaparnaguha) tại thành Vương Xá (Rajagrha) để kiết tập kinh luật. Kiết tập (sangiti) có nghĩa là thu góp lại, tập họp lại, ôn lại, đừng để cho tán thất. Năm trăm vị khất sĩ có uy tín được mời tham dự hội nghị kết tập này. Vua Ajatasatru quốc vương xứ Magadha đứng bảo trợ cho cuộc kết tập. Cố nhiên ngôn ngữ được xử dụng để kết tập vẫn là Ardhamagadhi, tiếng của Bụt vẫn dùng. Và nếu các địa phương có những tụng bản với ngôn ngữ khác, các tụng bản này đều đã phải căn cứ trên tụng bản của hội nghị Rajagraha.

Một trăm bốn mươi năm sau, tại thành phố Vesali, một hội nghị khác được triệu tập để kết tập kinh điển lần nữa. Kỳ này bảy trăm vị khất sĩ được mời tham dự. Hội nghị kết tập thứ ba được tổ chức tại Pataliputra vào năm 236 sau khi Bụt nhập niết bàn (244 trước kỷ nguyên Tây Lịch) dưới sự bảo trợ của vua Asoka.

Sau kỳ kết tập thứ hai, giáo đoàn khất sĩ chia thành hai phái: một Thượng Toạ Bộ (Sthavira) có khuynh hướng bảo thủ, và hai là Đại Chúng Bộ (Mahasanghika) có khuynh hướng cởi mở và cải cách. Cố nhiên phái đại chúng bộ đông đảo hơn. Việc này xảy ra vào khoảng năm 375 trước kỷ nguyên Tây Lịch.

Trong khoảng ba trăm năm kế tiếp, từ hai phái ấy đã phát sinh nhiều bộ phái khác. Theo sách Di Bộ Tông Luân Luận (Samayabhedoparacanacakra) thì tất cả có tới mười tám bộ phái. [Tác giả của sách này là Vasumitra, sống vào khoảng bốn trăm năm sau ngày Bụt nhập diệt. Ông thuộc về bộ phái Sarvastivada (Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ)].

Đó là theo truyền thống miền Bắc. Theo truyền thống miền Nam, tác phẩm Dipavamsa, số lượng các phái đã đi đến con số hai mươi bốn.

Sở dĩ có nhiều bộ phái khác nhau là vì có nhiều cách hiểu và giải thích giáo lý của Bụt khác nhau. Những tác phẩm được viết ra để trình bày những cái hiểu ấy được gọi là các tác phẩm Abhidharma, thuộc về Luận Tạng. Mỗi bộ phái truyền lại kinh tạng, luật tạng và luận tạng riêng của mình.

Tụng bản thứ nhất của chúng ta, kinh Satipatthana, là thuộc bộ phái Theravada, một bộ phái đã duy trì được đầy đủ tam tạng của mình, nhờ địa bàn hành đạo tương đối an ổn ở xứ Tích Lan. Tam tạng của bộ phái này được ghi chép bằng tiếng Pali, có nguồn gốc ở Ấn Độ. Bộ phái Theravada (phân biệt Thuyết Bộ) vốn là một bộ phái đối lập với bộ phái Saravastivada (Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ) tác giả sách Dị Bộ Tông Luân Luận của truyền thống Bắc tông thuộc về bộ phái Saravastivada

Kinh Satipatthana là kinh thứ mười của Trung Bộ (Majjhimanikaya) và cũng là kinh thứ 22 của Trường Bộ (Dighanikaya) của kinh tạng Pali.

Tụng bản thứ hai của chúng ta, kinh Niệm Xứ, là thuộc về bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada) được dịch từ Phạn ra Hán vào cuối thế kỷ thứ tư kỷ nguyên Tây Lịch. Sau kỳ kết tập thứ ba, có lẽ vua Asoka có biệt nhãn với phái Vibhajyavada nên chủ lực của phái Sarvastivada đã dời lên miền Bắc và đã lập căn cứ phát triển của mình tại Kashmir. Căn cứ này đã tồn tại trên một ngàn năm. Chính từ căn cứ này mà kinh Tứ Niệm Xứ được truyền dịch sang chữ Hán. Kinh Tứ Niệm Xứ là kinh thứ 98 trong bộ Trung A Hàm, mang số 26 trong Đại Tạng Tân Tu. Trung A Hàm là kinh bộ tương đương Với Trung Bộ ở văn hệ Pali.

Tụng bản thứ ba của chúng ta, kinh Nhất Nhập Đạo, là thuộc về bộ phái Đại Chúng Bộ (Mahasanghika). Đây không phải là bộ phái gốc mà là bộ phái ngọn của Đại Chúng Bộ. Ta biết Đại Chúng Bộ phát xuất từ cuộc kết tập Pataliputra ở nước Magadha và sau đó phân thành hai dòng, một dòng thiên di lên miền Tây Bắc, một dòng thiên di xuống Miền Nam, xung quanh Amaravati, Dhanyakatala và Nagarjunakonda. Tại miền Tây Bắc, Đại Chúng Bộ được phân làm năm phái, trong đó có phái Lokottaravada có khuynh hướng Đại thừa. Kinh Tăng Nhất A Hàm Dharamanandi dịch hẳn là do bộ phái Lokottaravada này truyền lại. Kinh Nhất Nhập Đạo được tìm thấy ở bộ Tăng Nhất A Hàm, kinh số 125 trong Đại Tạng Tân Tu. Tăng Nhất A Hàm được xem tương đương với Tăng Nhất Bộ (Ekottaranikaya) trong văn hệ Pali. Bài tựa của kinh Tăng Nhất A Hàm đã mang nhiều sắc thái phát triển của đạo Bụt Đại thừa. So với hai tụng bản đầu, tụng bản mang tên Nhất Nhập Đạo không được nguyên thuần bằng, vì trong kinh đã có những yếu tố mới được thâm nhập. Tuy nhiên bản chất chính của kinh vẫn còn được duy trì không mất mát.

Con đường chuyển hóa

Kinh Bốn lĩnh vực quán niệm (Tụng bản I)

I

Sau đây là những lời mà tôi đã được nghe đức Thế Tôn dạy, hồi người còn đang cư trú Kammasadhamma, nơi một ấp phố của giống dân Kuru. Một hôm Đức Thế Tôn gọi các vị khất sĩ: “Này quý thầy!” các vị khất sĩ đáp: “Thưa Thế Tôn, có chúng tôi đây”. Bụt nói: “Này quý vị, đây là con đường duy nhất để giúp chúng sanh thực hiện thanh tịnh, vượt thắng phiền não, tiêu diệt ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết bàn: đó là con đường của bốn phép an trú trong quán niệm”.

Bốn phép an trú trong quán niệm ấy là những phép nào?

1. Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm thân thể nơi thân thể, tinh cần, sáng suốt và tỉnh thức, bỏ ra ngoài mọi tham dục và chán bỏ đối với cuộc đời.

2. Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ, tinh cần, sáng suốt và tỉnh thức, bỏ ra ngoài mọi tham dục và chán bỏ đối với cuộc đời.

3. Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm tâm thức nơi tâm thức, tinh cần, sáng suốt và tỉnh thức, bỏ ra ngoài mọi tham dục và chán bỏ đối với cuôc đời.

4. Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, tinh cần, sáng suốt và tỉnh thức, bỏ ra ngoài mọi tham dục và chán bỏ đối với cuộc đời.

II

Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm thân thể nơi thân thể như thế nào?

Vị khất sĩ ấy tìm tới một khu rừng, hoặc tới một gốc cây, hoặc một căn nhà vắng, ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ thân mình ngay thẳng và thiết lập chánh niệm trước mặt mình. Người ấy thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào. Người ấy thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở ra. Thở vào một hơi dài, người ấy ý thức rằng: ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy ý thức rằng: ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một hơi ngắn, người ấy ý thức rằng: ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, người ấy ý thức rằng: ta đang thở ra một hơi ngắn. Cũng như khi quay một vòng dài, người thợ tiện khéo tay ý thức rằng mình đang xoay một vòng dài, và khi xoay một vòng ngắn, ý thức rằng mình đang xoay một vòng ngắn. Vị khất sĩ mỗi khi thở vào một hơi dài, ý thức rằng mình đang thở vào một hơi dài, mỗi khi thở ra một hơi dài, ý thức rằng mình đang thở ra một hơi dài, mỗi khi thở vào một hơi ngắn, ý thức mình đang thở vào một hơi ngắn, mỗi khi thở ra một hơi ngắn, ý thức mình đang thở ra một hơi ngắn. Người ấy tự mình tập luyện như sau: “Tôi đang thở vào và có ý thức rõ rệt về trọn thân thể tôi”. “Tôi đang thở ra và có ý thức rõ rệt về trọn thân thể tôi. “Tôi đang thở vào và làm cho sự vận hành trong thân thể tôi trở nên an tịnh”. “Tôi đang thở ra và làm cho vận hành trong thân thể tôi trở nên an tịnh”.

Cứ như thế, vị ấy an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, người ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm thân thể nơi thân thể là như vậy đó, thưa quí vị.

“Khi đi, vị khất sĩ lại cũng ý thức rằng mình đang đi, khi đứng, ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi, ý thức rằng mình đang ngồi, khi nằm, ý thức rằng mình đang nằm. Bất cứ thân thể mình đang được xử dụng trong tư thế nào, vị ấy cũng ý thức được về tư thế ấy của thân thể”.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, người ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quý vị.

Khi đi tới hoặc đi lui, vị khất sĩ cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ của mình về sự đi tới hay đi lui ấy, khi nhìn trước nhìn sau, cúi xuống, duỗi lên, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy, khi mặc áo ca sa, mang bình bát, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy, khi ăn cơm, uống nước, nhai thức ăn, nếm thức ăn, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy, khi đi đại tiện, tiểu tiện, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy, khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói năng, hoặc im lặng, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy vào tự thân.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài thân thể ấy. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình  sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình hủy diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quí vị.

“Vị khất sĩ lại quán niệm chính thân thể này từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy nhiều loại bất tịnh: thuộc về thân thể ta, này đây là tóc, này đây là lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tuỷ, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá  lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mật, mỡ da, nước bọt, nước mủ, nước ở các khớp xương, nước tiểu.

“Này các vị khất sĩ! Ví dụ có một cái bao tải đựng đủ các loại ngũ cốc, như gạo lức, gạo hẻo rằng, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng và hai đầu bao tải có thể mở ra. Một người có mắt tốt, khi mở bao ra, thấy rõ mọi loại hạt chứa đựng trong bao. Này đây là gạo lức, gạo hẻo rằng, này đây là hạt lúa, này đây là đậu xanh, này đây là đậu ngự, này đây là hạt mè, này đây là gạo trắng. Cũng như thế, khi quán sát về chính thân thể của mình, vị khất sĩ thấy được mọi thứ, từ gót chân đến đỉnh đầu, và từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy nhiều loại bất tịnh: thuộc về thân thể ta, này đây là tóc, này đây là lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tuỷ, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, màng ruột , phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mật, mỡ da, nước bọt, nước mủ, nước ở các khớp xương, nước tiểu.

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quý vị”

“Lại nữa, các vị khất sĩ! Trong bất cứ tư thế nào của thân thể này, vị khất sĩ cũng quán chiếu những yếu tố tạo nên chính thân thể ấy: “Trong thân thể này có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa và có yếu tố gió”.

“Như một bác đồ tể rành nghề hoặc một đồ tể tập sự, giết một con bò và ngồi giữa ngã tư mà xẻ con bò ra thành nhiều phần, vị khất sĩ cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể mình, cũng quán chiếu về những yếu tố tạo nên chính thân thể ấy: “Trong thân thể này có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa và có yếu tố gió”.

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quý vị”

“Lại ví như khi thấy một xác chết bị liệng vào bãi tha ma đã được một ngày, hai ngày hoặc ba ngày, sính lên, xanh lại, thối nát ra, vị khất sĩ quán chiếu sự thật ấy vào chính thân thể mình: chính thân thể ta đây cũng vậy, cũng trở thành như thế, không có lối nào tránh thoát”.

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quý vị”

Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, bị quạ rỉa, bị diều hâu, kên kên và chó sói rừng ăn, và bị các loài dòi, bọ rúc rỉa, vị khất sĩ quán chiếu sự thật ấy vào chính thân thể mình: chính thân thể ta đây cũng như vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có lối nào tránh thoát”

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quý vị”

“Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn là một bộ xương dính ít thịt và máu, các khúc xương còn được nối liền nhau nhờ có những sợi gân…”

“Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn là một bộ xương, không còn dính chút thịt nào nhưng vẫn còn vướng máu, các khúc xương còn nối được liền nhau nhờ có những sợi gân…”

“Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn một bộ xương, không còn dính chút thịt nào và cũng không còn vướng chút máu nào, các khúc xương còn được nối liền nhau nhờ có những sợi gân…”

“Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn lại một đống xương rời rạc đó đây, chỗ này là xương tay, chỗ nọ là xương ống chân, chỗ kia là xương bắp vế, chỗ kia nữa là xương mông, xương sống và đầu lâu…”

“Rồi như thấy một xác chết bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn lại một mớ xương trắng màu vỏ ốc…”

“Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn lại một đống xương khô, để hơn một năm trên bãi…”

“Rồi như thấy một xác chết liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn lại một mớ xương mục tan thành bụi… vị khất sĩ quán chiếu sự thật ấy vào chính thân thể mình: chính thân thể ta đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có lối nào tránh thoát”

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài thân thể ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quán niệm quá trình hủy diệt nơi thân thể, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân thể đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm thân thể nơi thân thể là như thế đó, thưa quý vị”

III

“Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ như thế nào”?

Mỗi khi có một cảm thọ khoái lạc, vị khất sĩ ấy ý thức rằng: ta đang có một cảm thọ khoái lạc. Mỗi khi có một cảm thọ khổ đau, người ấy ý thức rằng: ta đang có một cảm thọ khổ đau. Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: ta đang có một cảm thọ không khoái lạc cũng không khổ đau. Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, vị ấy ý thức rằng mình đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất. Khi có một cảm thọ khoái lạc tinh thần, vị ấy ý thức rằng mình đang có một cảm thọ khoái lạc tinh thần. Khi có một cảm thọ khổ đau vật chất, vị ấy ý thức rằng mình đang có một cảm thọ khổ đau vật chất. Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, vị ấy ý thức rằng: ta đang có một cảm thọ khổ đau tinh thần. Khi có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng mình đang có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau.

Cứ như thế, vị khất sĩ sống trong sự thường trực quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ: hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài cảm thọ ấy, hoăc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy sống trong sự thường trực quán niệm quá trình sinh khởi của cảm thọ, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt của cảm thọ, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt của cảm thọ. Hoặc vị ấy quán niệm: “Có cảm thọ đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của cảm thọ đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ là như thế đó, thưa quí vị”.

IV

Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm tâm thức nơi tâm thức như thế nào? Mỗi khi nội tâm có tham dục, vị khất sĩ ấy ý thức là nội tâm có tham dục. Mỗi khi nội tâm không có tham dục, vị ấy ý thức là nội tâm không có tham dục. Mỗi khi trong tâm có sân hận, vị khất sĩ ấy ý thức là trong tâm có sân hận. Mỗi khi trong tâm không có sân hận, vị ấy ý thức là trong tâm không có sân hận. Mỗi khi tâm thức mình si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình si mê. Mỗi khi tâm thức mình không si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không si mê. Mỗi khi tâm thức mình có thu nhiếp, vị ấy ý thức rằng tâm thức có thu nhiếp. Mỗi khi tâm thức mình tán loạn, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình tán loạn. Mỗi khi tâm thức mình trở thành khoáng đạt, vị ấy ý rằng tâm thức mình trở thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức mình trở nên hạn hẹp, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình có định. Mỗi khi tâm thức mình không có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không có định. Mỗi khi tâm thức mình giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình giải thoát. Mỗi khi tâm thức mình không giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không giải thoát.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm tâm thức nơi tâm thức: hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài tâm thức ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi tâm thức, hoặc quán niệm quá trình hủy diệt nơi tâm thức. Hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn hủy diệt nơi tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm: “Có tâm thức đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của tâm thức đó, và như vậy, vị ấy sống một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm tâm thức nơi tâm thức là như thế đó, thưa quí vị”.


V

Này các vị khất sĩ! Vị khất sĩ an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức như thế nào?

Trước hết vị ấy quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức về năm hiện tượng ngăn che. Nhưng quán niệm bằng cách nào?

  1. Khi có ái dục, vị khất sĩ ý thức rằng mình có ái dục. Khi không có ái dục, vị ấy ý thức rằng mình không có ái dục. Khi một niệm ái dục chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã sinh đang được khử diệt, vị ấy ý thức được khử diệt và không còn tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được về điều đó.
  2. Khi có sân hận, vị khất sĩ ý thức rằng mình có sân hận. Khi không có sân hận, vị ấy ý thức rằng mình không có sân hận. Khi một niệm sân hận chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã sanh khởi đang được khử diệt ấy, vị ấy ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một sân hận đã được khử diệt và không còn có thể tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được về điều đó.
  3. Khi có mê muội và buồn ngủ, vị khất sĩ ý thức rằng mình có mê muội và buồn ngủ. Khi không có mê muội và buồn ngủ, vị ấy ý thức rằng mình không có mê muội và buồn ngủ. Khi sự mê muội và buồn ngủ chưa phát sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi sự mê muội và buồn ngủ đã sanh khởi đang được khử diệt, vị ấy ý thức được sự khử diệt ấy. Khi sự mê muội và buồn ngủ đã được khử diệt và không còn có thể tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được về điều đó.
  4. Khi giao động bất an (giao) và hối hận (hối), vị khất sĩ ý thức rằng mình có giao động bất an và hối hận. Khi không có giao động bất an và hối hận, vị ấy ý thức rằng mình không có giao động bất an và hối hận. Khi giao động bất an và hối hận chưa phát sanh mà nay khởi sanh, vị ấy ý thức được sanh khởi ấy. Khi giao động bất an và hối hận đã sinh đang được khử diệt, vị ấy ý thức được sự khử diệt và không còn tái sinh nữa, vị ấy cũng ý thức được điều đó.
  5. Khi có nghi ngờ, vị khất sĩ ý thức rằng mình đang có nghi ngờ. Khi không có nghi ngờ, vị ấy ý thức rằng mình không có nghi ngờ. Khi nghi ngờ chưa sanh khởi mà nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi đó. Khi nghi ngờ đã phát sanh và đang được khử diệt, vị ấy ý thức được sự khử diệt đó. Khi nghi ngờ đã được khử diệt và không còn tái sinh, vị ấy ý thức được điều đó.

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài đối tượng tâm thức ấy, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy sống trong sự thường trực quán niệm quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm: “có đối tượng tâm thức đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức đó, và như vậy, vị ấy sống một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Vị khất sĩ quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa quý vị”.

Tiếp đó vị khất sĩ quán niệm về năm nhóm tụ hợp (năm thủ uẩn) còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?

Vị khất sĩ quán chiếu như sau: “đây là hình thể vật chất (sắc), đây là sự phát sinh của hình thể vật chất, và đây là sự huỷ diệt của hình thể vật chất. Đây là cảm thọ (thọ), đây là sự phát sinh của cảm thọ, và đây là sự huỷ diệt của cảm thọ. Đây là tri giác (tưởng), đây là sự phát sinh của tri giác, và đây là sự huỷ diệt của tri giác. Đây là tâm tư (hành), đây là sự phát sinh của tâm tư và đây là sự huỷ diệt của tâm tư. Đây là nhận thức (thức), đây là sự phát sinh của nhận thức, và đây là sự huỷ diệt của nhận thức.

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài năm nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài. Vị ấy sống trong quán niệm quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình hủy diệt của năm nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, như đối tượng tâm thức nơi đối tương tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm: “có năm nhóm tụ hợp đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của năm nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm về năm nhóm tụ hợp còn nằm dưới ảnh hưởng của sự bám víu như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như vậy đó, thưa quý vị”

Tiếp đến, vị khất sĩ quán niệm về sáu giác quan và sáu loại đối tượng, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức.

Quán niệm như thế nào?

Vị khất sĩ quán niệm về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc và về những nội kết tạo nên do mắt và hình sắc. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt. Vị ấy ý thức về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh và về những nội kết tạo nên do tai và âm thanh. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt. Vị ấy ý thức về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về mũi và đối tượng của mũi là mùi hương và về những nội kết tạo nên do mũi và mùi hương. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang khử diệt và những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm và về những nội kết tạo nên do lưỡi và vị nếm. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh được khử diệt và về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về thân và đối tượng của thân là xúc chạm và về những nội kết tạo nên do thân và xúc chạm. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh hay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt và về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Vị khất sĩ ý thức về đối tượng của ý là pháp trần và về những nội kết tạo nên do ý và pháp trần. Vị ấy ý thức về những nội kết chưa sanh nay đang phát sanh, về những nội kết đã phát sanh nay đang được khử diệt và về những nội kết đã được khử diệt và không còn tái sanh nữa.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm về sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc là quán niệm bên trong, hoặc là quán niệm bên ngoài, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức, hoặc cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức. Hoặc vị ấy quán niệm: “ có sáu loại đối tượng của tâm thức đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm về sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng  như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa quý vị”.

Tiếp đó, vị khất sĩ quán niệm về bảy yếu tố của sự ngộ đạo như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức.

Quán niệm như thế nào?

  1. Khi có yếu tố chánh niệm (niệm), vị khất sĩ ý thức là mình có chánh niệm. Vị ấy quán chiếu rằng: tâm mình có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, vị ấy ý thức là mình không có chánh niệm. Vị ấy ý thức về chánh niệm chưa sanh nay đang phát sanh, về chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn.
  2. Khi có yếu tố quán chiếu (trạch pháp), vị khất sĩ ý thức là mình đang có sự quán chiếu. Vị ấy quán chiếu rằng: tâm mình đang có sự quán chiếu. Khi không có sự quán chiếu, vị ấy ý thức là mình không có sự quán chiếu. Vị ấy ý thức về một tác dụng quán chiếu chưa phát sanh nay đang phát sanh, về một tác dụng quán chiếu đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn.
  3. Khi có yếu tố tinh chuyên (tinh tiến), vị khất sĩ ý thức là mình đang có sự tinh chuyên, quán chiếu rằng: tâm mình đang tinh chuyên. Khi không có sự tinh chuyên, vị ấy ý thức là tâm mình không tinh chuyên. Vị ấy có ý thức về một sự tinh chuyên chưa phát sanh nay đang phát sanh, về một sự tinh chuyên đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.
  4. Khi có yếu tố an vui (hỷ), vị khất sĩ ý thức là mình đang có an vui, quán chiếu rằng: tâm mình đang an vui. Khi không có an vui, vị ấy ý thức là tâm mình không an vui. Vị ấy ý thức về niềm an vui chưa phát sanh nay đang phát sanh, về niềm an vui đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.
  5. Khi có yếu tố nhẹ nhõm (khinh an), vị khất sĩ ý thức là mình có nhẹ nhõm, quán chiếu rằng: tâm mình đang nhẹ nhõm. Khi không có nhẹ nhõm, vị ấy ý thức là mình không có nhẹ nhõm. Vị ấy ý thức về sự nhẹ nhõm chưa phát sanh nay đang phát sanh, về sự nhẹ nhõm đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.
  6. Khi có yếu tố định (định), vị khất sĩ ý thức là mình có định, quán chiếu rằng: tâm mình đang có định. Khi không có định, vị ấy ý thức là tâm mình không có định. Vị ấy ý thức về định tâm chưa phát sanh nay đang phát sanh, về định tâm đã phát sanh nay đang đi đến thành tựu viên mãn.
  7. Khi có yếu tố buông thả (hành xả), vị khất sĩ ý thức là mình có buông thả, quán chiếu rằng: tâm mình có buông thả. Khi không có buông thả, vị ấy ý thức là mình không có buông thả. Vị ấy ý thức về sự buông thả chưa phát sanh nay đang phát sanh, về sự buông thả đã phát sanh nay đang được thành tựu viên mãn.

“Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm về bảy yếu tố của sự ngộ đạo như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy sống trong sự thường trực quán niệm quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức ấy, hoặc quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy, hoặc cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy. Hoặc quán niệm: “có bảy yếu tố của sự ngộ đạo đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm về bảy yếu tố của sự ngộ đạo như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa quý vị”

Tiếp đó, vị khất sĩ quán niệm bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức.

Quán niệm như thế nào?

Khi sự kiện là khổ đau, vị khất sĩ quán niệm: đây là khổ đau. Khi sự kiện là nguyên nhân tạo thành khổ đau, vị ấy quán niệm: đây là nguyên nhân tạo thành khổ đau. Khi sự kiện là khổ đau có thể được chấm dứt, vị ấy quán chiếu:  khổ đau có thể được chấm dứt. Khi sự kiện là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán niệm: có con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.

Cứ như thế, vị khất sĩ an trú trong sự quán niệm về bốn sự thật cao quý như là đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Vị ấy an trú trong sự quán niệm quá trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức ấy, hoặc quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy, hoặc quán niệm cả quá trình sinh khởi lẫn quá trình huỷ diệt nơi đối tượng tâm thức ấy. Hoặc vị ấy quán niệm: “Có bốn sự thật cao quý đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức đó, và như vậy, vị ấy an trú một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức là như thế đó, thưa quý vị”


VI

Này quí vị khất sĩ! Vị khất sĩ nào thực hành bốn phép quán niệm như trên trong bảy năm. Người ấy có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay ở đây và trong kiếp này, hoặc nếu còn dư báo thì cũng đạt được quả vị không còn trở lại.

Này quí vị khất sĩ! Đừng nói gì tới bảy năm. Kẻ nào thực hành bốn phép quán niệm này trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm, thì cũng có thể đạt được quả vị chánh trí, ngay ở đây và trong kiếp này, hoặc nếu còn dư báo thì cũng đạt được quả vị không còn trở lại.

Này quý vị khất sĩ! Đừng nói gì tới một năm. Kẻ nào thực hành bốn phép quán niệm trong bảy tháng, hoặc sáu tháng, hoặc năm tháng, hoặc bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng hay nửa tháng thì cũng có thể đạt được quả vị chánh trí ngay ở đây và trong kiếp này, hoặc nếu còn dư báo thì cũng đạt được quả vị không còn trở lại

Này các vị khất sĩ! Đừng nói gì đến nữa tháng. Kẻ nào thực hành bốn phép quán niệm như thế trong một tuần, kẻ ấy cũng có thể đạt được quả vị chánh trí ngay ở đây và trong đời này, hoặc nếu còn dư báo thì cũng đạt được quả vị không còn trở lại.

Chính vì lý do đó mà tôi đã nói rằng: đây là con đường duy nhất để có thể giúp chúng sanh thực hiện thanh tịnh, vượt thắng phiền não, tiêu diệt khổ ưu, đạt tới chánh đạo và chứng nhập niết bàn, con đường của bốn phép an trú trong quán niệm. Đức Thế Tôn đã dạy như thế. Các vị khất sĩ hoan hỷ ghi nhận và làm theo lời người.

Mười giáo của tông Hoa Nghiêm

Thập giáo

 

Mười giáo (Thập giáo) là một tư liệu trình bày tiến trình diễn biến của tư tưởng Phật giáo ngay từ đầu cho đến bây giờ, tức là lịch sử phát triển của tư tưởng Phật giáo. Học về Hoa Nghiêm thì chúng ta phải biết sơ qua về Thập giáo. Trong Thập giáo, chủ trương đầu là:

1. Ngã pháp câu hữu

Có một trường phái đạo Bụt cho là pháp có mà ngã cũng có. Người ta lấy làm lạ, tại sao trong đạo Bụt lại có một trường phái chủ trương pháp có thật mà ngã cũng có thật? Trong khi Đức Thế Tôn nói không có ngã, mà có một trường phái khá mạnh chủ trương là có ngã. Trường phái đó ban đầu gọi là Vātsīputrīya, sau đó trở thành Sammitīya, tiếng Việt gọi là Độc Tử Bộ.

Một trường phái đạo Bụt mà chủ trương có ngã thì có làm cho chúng ta ngạc nhiên không? Đó có phải là Phật tử hay là một thứ ngoại đạo? Có nhiều người cho phái này là ngoại đạo chứ không phải là đạo Bụt. Ngoại đạo là tīthakara. Có người lên án giáo đoàn này không phải là đạo Bụt thật sự. Nó là ngoại đạo. Tại vì nó chủ trương có ngã trong khi Bụt dạy vô ngã.

Khi thầy Huyền Trang qua Ấn Độ vào thế kỷ thứ bảy thì thầy thấy giáo phái này rất đông. Theo hồi ký của thầy Huyền Trang, hồi đó ở Ấn Độ có 260 ngàn thầy tất cả, mà số người theo Độc Tử Bộ là 66 ngàn thầy.

Có người nói họ cũng là Phật tử, cũng giải thoát, cũng giác ngộ được nên chúng ta phải tìm hiểu coi họ chủ trương gì? Họ chủ trương có ngã, có con người. Họ đem bằng chứng trong kinh Bụt dạy ra. Ví dụ như trong kinh Tăng Chi Bộ (Ekottarāgama, Ekottarānikāya) 1.22, Đức Thế Tôn có nói: “Này các vị tỳ kheo, có một người khi xuất hiện ở trên đời thì đem lại hạnh phúc cho rất nhiều người. Người ấy là ai? Người ấy là Đức Thế Tôn, là bậc A-La-Hán, là bậc Chánh đẳng chánh giác”. Trong kinh nói rõ ràng là có pudgala, có người, có ngã, có Đức Thế Tôn. Trong Tăng Nhất A Hàm, phẩm thứ tám, kinh thứ hai cũng nói: “Nhược hữu nhất nhân xuất hiện ư thế, đại nhiêu ích nhân, an ổn chúng sanh. Vân hà vi nhất nhân? Sở vị Như Lai, A-La-Hán Tam miệu tam bồ đề ”. Câu đó có nghĩa là có một con người xuất hiện trên thế gian, đem lại rất nhiều lợi ích cho nhân gian, đem lại rất nhiều an ổn. Người ấy là ai? Người ấy là Đức Như Lai. Pudgalavāda, là thuyết chủ trương có con người, có ngã.

Các tông phái, khi đưa ra chủ trương của mình thì luôn luôn trích kinh ra để nói. Đức Thế Tôn nói như vậy thì chúng tôi đưa ra giảng dạy chứ không phải chúng tôi nói chuyện ở trên trời! Phái Độc Tử Bộ cũng trích kinh ra, sau đó trích thêm một kinh nữa gọi là kinh Trọng đảm tức là kinh Gánh nặng. Trong kinh Đức Thế Tôn nói: Có một gánh nặng và có một người đang mang gánh nặng mà đi. Khi người đó ý thức mình đang mang gánh nặng khổ lắm thì người đó dừng lại, đặt gánh nặng xuống và giải thoát. Đó là kinh Tạp A Hàm, quyển thứ ba, kinh thứ bảy mươi ba. Bhara là gánh nặng. Trọng là nặng, đảm là gánh, trọng đảm là gánh nặng. Bharahara là người mang gánh nặng (đảm giả). Chữ đảm cũng có thể đọc là đam hay đởm. Nâng gánh nặng lên vai gọi là thủ đảm (bharadāna). Ách bên đàng, quàng lên cổ mà đi. Chúng ta đi tu để đừng có dại, ách bên đàng, quàng lên cổ mà đi. Phải đi như một con người tự do, đừng gánh nặng, đừng có rước vào thân mà khổ! Khi giác ngộ, buông gánh xuống thì gọi là xả đảm (bharanikkhepana). Kinh này rất nổi tiếng.

Các vị trong Độc Tử Bộ chủ trương có ngã nói: “Rõ ràng là Đức Thế Tôn nói có cái ta dại dột, khi không ách giữa đàng mang lên cổ. Gánh nặng đó là năm thủ uẩn và ta khổ đau vì gánh nặng đó. Bây giờ muốn giải thoát thì đặt gánh đó xuống, ta bỏ gánh nặng đi thì trở nên một con người giải thoát. Rõ ràng là có gánh nặng và phải có con người gánh cái gánh đó”.

Đó là lý luận. Tất cả các bộ phái, khi đưa ra một chủ trương thì luôn luôn muốn chứng minh mình là đúng. Họ có hai cách để chứng minh, hoặc trích kinh ra (kinh chứng) hoặc lấy giáo lý ra (giáo chứng) mà chứng minh. Sau khi dùng kinh chứng rồi thì phải dùng lý chứng tức là dùng lý luận để chứng minh.

Khi một tông phái chủ trương một điều gì, nói điều đó là đích thực Phật giáo thì phái trích kinh ra. Trích kinh ra rồi thì dùng lý luận để yểm trợ cho điều đó. Độc Tử Bộ cũng làm như vậy. Trong kinh, Bụt có nói, “người gánh nặng” và “gánh nặng” khác nhau. Nếu không có người gánh thì không lẽ cái gánh tự gánh lấy nó hay sao? Chuyện đó vô lý, vì vậy phải có người để gánh nặng. Độc Tử Bộ một mặt dùng kinh chứng (trích kinh) và một mặt dùng lý chứng.

Người ta có rất nhiều lý do để chứng minh tại sao phải có con người. Nếu không có con người thì làm sao chứng minh được luật quả báo? Ai gây ra báo và ai chịu quả báo nếu không có con người? Nói chứng đạo thì phải có con người mới chứng đạo được! Nếu không có con người thì ai chứng đạo? Nếu thực tập từ bi thì phải có người “thương” và người “được thương”! Có người “được thương” mà không có người “thương” thì làm sao thương? Nói không có ngã, không có người rất khó! Lý luận có ngã rất là hấp dẫn, nó phù hợp với nhận thức thông thường của con người. Vì vậy trong số 260 ngàn thầy mà có hơn 60 ngàn thầy theo.

Chúng ta thấy cũng dễ hiểu. Trước đó, người ta quá giáo điều, người ta kẹt cứng vào những điều Bụt dạy. Đôi khi nó trở nên cứng gắt rất là khó chịu! Bụt dạy cái gì thì kẹt cứng vào cái đó và người ta nói một cách rất khó chấp nhận. Họ đi quá đà! Ví dụ như có một thầy ngồi và có một vị đi ngang qua hỏi: “Bạch thầy, thầy có thấy một người đàn bà vừa mới đi ngang qua đây không?”. Thầy đó trả lời: “Tôi đâu có thấy người nào đi qua đâu! Tôi chỉ thấy có một tụ hợp của xương, da, thịt, móng tay v.v.. đi ngang qua đây thôi”. Tức là thầy đó cố ý nói, thầy không thấy người nào hết, chỉ thấy những duyên mà thôi.

Thái độ giáo điều, cố chấp làm cho người ta đánh mất nội dung, tinh thần của đạo Phật. Khi kẹt vào hình thức, vào giáo điều quá thì người ta rất là khó chịu, đó là những người bảo thủ. Vì vậy cho nên có sự phản ứng lại và sự phản ứng này rất được quần chúng tán thưởng.

Nhưng có người nói, nếu các anh trích kinh ra như vậy thì chúng tôi cũng có thể trích kinh ra để chứng minh Đức Thế Tôn nói là không có ngã. Anh trích được hai, ba đoạn thì tôi cũng trích được hai, ba chục đoạn nói không có ngã. Trong Câu Xá Luận của ngài Thế Thân, chương chót là chương dành hoàn toàn để đánh phá thuyết có ngã. Đứng về phương diện kinh Trọng đảm thì thầy trả lời như thế này: “Anh nói là có một gánh nặng và phải có một người để gánh nó. Nếu không có người gánh thì không có lý cái gánh nó tự gánh nó sao? Tại sao không được ? Cái gánh nó tự gánh nó được!” Thầy phân tích: Khi nhìn kỹ trong tâm hành của mình thì mình thấy những tâm sở như tham, xả v.v… Mình chỉ thấy như thế thôi. Có khi tâm sở tham biểu hiện ra và có chủ thể và đối tượng của tâm sở đó. Tham là tham cái gì? Có chủ thể và đối tượng của cái tham. Khi có tâm sở buông xả thì cũng có chủ thể và đối tượng của buông xả. Mình thấy rõ ràng là chỉ có những tâm hành thôi, vướng mắc là một tâm hành mà buông xả cũng là một tâm hành. Rốt cuộc chỉ có những tâm hành, chỉ có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chứ không có người gánh sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không cần phải có người đứng riêng để gánh cái đó. Chính cái đó, giải thoát cũng nó mà phiền trược cũng nó. Nhìn vào chỉ thấy những tâm hành đó thôi. Mình tưởng tượng có một cái ngã đứng ở ngoài thì không đúng.

Trong tám giáo của thầy Khuy Cơ đưa ra và mười giáo của thầy Pháp tạng đưa ra thì bắt đầu là giáo “có ngã, có pháp”. Nhưng chủ trương của Độc Tử Bộ không đơn sơ mà rất sâu. Độc Tử Bộ chủ trương ngã không phải là uẩn mà cũng không nằm ngoài uẩn, tại vì Độc Tử Bộ cũng muốn trung thành với giáo lý vô ngã. Giáo lý vô ngã chủ trương uẩn không phải là năm nhóm hợp sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm nhóm đó là gánh nặng, là thủ uẩn (thủ là vướng mắc) trong đó có thân (sắc). Vậy thì ngã là cái gì?

Trước hết là chủ trương: năm uẩn này là ngã. Hình thức đầu tiên của sự chấp ngã là cho rằng, ta là năm uẩn. Về điều đó Bụt nói rất rõ: Năm uẩn không phải là ta. Độc Tử Bộ nói: Tôi không chủ trương năm uẩn đó là ngã tại vì năm uẩn sinh diệt còn ngã thì không sinh diệt. Tôi theo đúng lời Bụt dạy, tôi không cho năm uẩn này là ngã, tôi không đồng nhất ngã với uẩn.

Cái chấp thứ hai: ngã nằm ngoài uẩn, ngã hoàn toàn độc lập với uẩn, ngã khác và uẩn khác. Đức Thế Tôn bác bỏ cả hai: Ngã không phải là uẩn, ngã cũng không phải có ngoài uẩn. Bông hồng không phải là các duyên làm ra bông hồng nhưng bông hồng cũng không có ngoài nhân duyên làm ra nó. Độc Tử Bộ đưa ra một lý thuyết: Phi tức phi ly uẩn ngã. Nghĩa là một cái ngã không phải là uẩn mà cũng không lìa uẩn mà có. It’s not the skandhas but it’s not completely independent of the skandhas. Phi tức (uẩn) có nghĩa không phải là uẩn, phi ly (uẩn) có nghĩa không phải rời uẩn (not entirely separated from).

Trong khi có những tông phái chia các pháp ra làm hai loại, pháp hữu vi (conditioned dharmas) và pháp vô vi (unconditioned dharmas), thì Độc Tử Bộ (Vātsīputrīya) đưa ra một phạm trù thứ ba của các pháp. Phạm trù thứ ba đó không nằm trong hữu vi và vô vi (phi nhị tụ). Cái ngã nói trên nằm trong tụ thứ ba. Nó không phải là hữu vi cũng không phải là vô vi; nó không phải là uẩn cũng không hoàn toàn nằm ngoài uẩn; nó có một sự liên hệ gì đó với uẩn nhưng nó không phải là uẩn. Cũng giống như lửa và củi, lửa không phải là củi nhưng lửa có liên hệ với củi. Nếu không có củi thì lửa không cháy được. Độc Tử Bộ nói rất hay! Ngã giống như lửa, và uẩn (thân mình) cũng như củi. Lửa có liên hệ nào đó với củi, với nhiên liệu. Nó không phải hoàn toàn là củi nhưng không hoàn toàn rời củi mà có, nó phi tức phi ly (không phải là nó cũng không phải không phải là nó). Tức là identical, ly là totally different.

Vì vậy Độc Tử Bộ đưa ra thuyết tam tụ. Có những pháp hữu vi như là hoa hồng, đám mây; các pháp vô vi như hư không, không sinh không diệt. Ngã không phải hữu vi, cũng không phải vô vi. Nó không phải là thân hình này tại vì thân hình này tiêu diệt, sinh diệt trong từng giây phút. Ngã thì không như vậy, ngã không phải uẩn cũng không tách rời ra uẩn. Nó phi tức phi ly uẩn, nó có liên hệ rất đặc biệt với uẩn.

Trong Trung Luận, thầy Long Thọ có một chương nói về nhiên khả nhiên (lửa và củi), rất hay.

Nếu quí vị muốn đọc những lời qua lại của Độc Tử Bộ và ngài Thế Thân thì nên đọc chương chót của Câu Xá Luận.

Độc Tử Bộ cũng chế ra giáo lý gọi là ngũ pháp tạng, tức là năm nhóm sự vật: quá khứ tạng (những cái dồn chứa lại thành ra quá khứ), vị lai tạng (những cái dồn chứa về vị lai), hiện tại tạng (những cái đang xảy ra trong hiện tại), vô vi tạng (những cái không phải pháp hữu vi) và bất khả thuyết tạng. Cái ngã nói đây nằm trong tạng thứ năm là bất khả thuyết tạng. Cái ngã rất mầu nhiệm, nó có liên hệ tới quá khứ, vị lai, hiện tại và vô vi nhưng nó không ở trong bốn tạng đó. Nó nằm trong tạng thứ năm là bất khả thuyết tạng.

Triết học của Độc Tử Bộ sâu lắm. Độc Tử Bộ cũng muốn chứng tỏ là mình trung thành với Đức Thế Tôn tức mình không bị kẹt vào hai kiến chấp, ngã là uẩn và ngã là ngoài uẩn. Độc Tử Bộ đưa ra một lý thuyết: Cái ngã đó không là uẩn mà cũng không là ngoài uẩn. Không thể nói về nó được nhưng sự thật là có một cái ngã. Người ta, ai cũng thấy gần gũi với lý thuyết đó vì ai cũng cảm thấy hình như là có cái ngã. Nếu không có ngã thì làm sao tu hành thành công được? Làm sao thương yêu hay ghét bỏ được? Nếu không có ngã thì làm sao tu chứng được? Nếu không có ngã thì làm sao giải thích được quả báo? Vì vậy cho nên giáo lý này rất là hấp dẫn tuy rằng có người nói đây là ngoại đạo (tīthakara), không phải là Phật tử vì họ chủ trương có ngã.

Trước hết, chúng ta phải coi đây là một phản ứng đối lại với giáo điều quá cứng của Thượng Tọa Bộ. Thượng Tọa Bộ làm sinh ra Độc Tử Bộ tại vì Thượng Tọa Bộ quá cứng ngắt. Bây giờ chúng ta thấy có nhiều thầy cũng cứng ngắt, rất khó chịu. Từ cách giảng dạy đến cách thực tập, nó cứng ngắt, không có sự sống trong đó. Mình hiểu Độc Tử Bộ là một phong trào phản ứng lại thái độ cố chấp, giáo điều, cứng ngắt của một số vị tôn túc trong Thượng Tọa Bộ. Độc Tử Bộ ra đời sớm hơn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Độc Tử Bộ cũng sử dụng kinh điển, cũng cố gắng trung thực với Đức Thế Tôn, cũng không chấp nhận ngã như Đức Thế Tôn dạy, không chấp nhận cái ta đồng nhất với hình hài này, cảm thọ này. Độc Tử Bộ không chủ trương có cái ta độc lập ngoài uẩn. Cái ta đứng ở địa vị trung dung. Nó không phải là uẩn cũng không phải là không phải uẩn, gọi là phi tức phi ly uẩn ngã.

Đây là một điều mà quí vị phải tâm tâm niệm niệm: Trong lịch sử đạo Bụt có hai khuynh hướng rất mạnh, hai ước vọng có thể gọi là cám dỗ (temptation). Nó rất là con người và nó có thể làm cho đạo Bụt bị biến hình, cho nên mình phải thường xuyên chống lại hai khuynh hướng đó.

Khuynh hướng thứ nhất là:

1- Thần thánh hóa Bụt.

Đức Thế Tôn vốn là một con người như tất cả chúng ta. Nhưng luôn luôn chúng ta có khuynh hướng muốn tôn thờ, sùng bái, tuyệt đối hóa ngài. Đôi khi có một tông phái cho Đức Thế Tôn là pháp vô vi, thân thể ngài là vô vi, cảm thọ ngài là vô vi, nước tiểu ngài cũng vô vi mà phân ngài cũng vô vi, thanh tịnh. Đức Thế Tôn không có sanh, không có diệt, cái sinh diệt đó chỉ là biến hóa, ứng thân của ngài mà thôi, Đức Thế Tôn không dính gì tới cuộc đời ô trọc này. Họ tước đoạt quyền làm người của Đức Thế Tôn.

Trong khi đó Đức Thế Tôn trước hết là một con người, ngài không nói ngài là một thần linh. Từ một con người mà ngài thành Bụt và thành Bụt rồi ngài vẫn là một con người. Ngài vẫn đi, đứng, nói, cười. Khuynh hướng muốn tuyệt đối hóa, thần thánh hóa đã làm biến hình Đức Thế Tôn.

Điều này cũng dễ hiểu. Khi thương một người thì chúng ta hay tuyệt đối hóa người yêu của mình: “Người đó sao mà đẹp từ trong ra ngoài, hiền từ trong ra ngoài!” Khi thương thầy thì ta cũng có thể nói như vậy. Nhất là khi thầy chết rồi thì tha hồ mà thần thánh hóa thầy! Người ta thương, ta luôn luôn muốn thần thánh hóa, tuyệt đối hóa. Nếu thương Bụt thì nói Bụt là the perfect one. Trí tuệ của Bụt là cao tột, không thể cao hơn được nữa, vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ta không tiếc lời, có bao nhiêu lời hay, ý đẹp ta đều dùng hết. Khi có người yêu cũng vậy, có bao nhiêu chữ, bao nhiêu danh từ tốt đẹp, ta đều dùng để làm một bài thơ ca ngợi người yêu. “Ở đời làm gì có một người như vậy? Người mình yêu là người duy nhất trên đời, đẹp từ trong ra ngoài, hiền từ trong ra ngoài”.

Khuynh hướng của con người là như vậy, cho nên chúng ta cũng đối xử với Đức Bổn Sư của mình như vậy. Ta muốn tuyệt đối hóa và thần hóa đối tượng sùng phụng của mình. Chúng ta tước đoạt quyền làm người của Đức Thế Tôn. Điều đó luôn luôn xảy ra trong lịch sử 2500 năm của Phật giáo. Những người thấy được thì tìm cách ngăn chận lại. Nhưng ngăn chận thì rất là khó!

Cuốn “Đường xua mây trắng” là một trong những cố gắng của tôi để phục hồi lại quyền làm người của Bụt. Trong “Đường xưa mây trắng” tôi nói về Đức Thế Tôn như một con người với những khó khăn, những khổ đau của con người. Khi đọc “Đường xưa mây trắng” người ta cảm thấy gần gủi với Đức Thế Tôn tại vì Đức Thế Tôn là một con người. Nhưng khi “Đường xưa mây trắng “ được đem ra làm phim thì không có dễ dàng như vậy. Ông giám đốc hãng phim muốn phim này phải được sự yểm trợ trên khắp thế giới. Nhưng có những truyền thống Phật giáo không chấp nhận Bụt là một con người, như là truyền thống Tây Tạng. Vì vậy đang có những cố gắng để làm Bụt trở thành ra một vị thần linh trên trời. Nếu người ta theo đúng “Đường xưa mây trắng”, làm phim theo tinh thần của tác giả thì Bụt sẽ hiện ra như một con người. Còn nếu vì muốn thành công trên phương diện tài chánh mà người ta đem quan điểm có tính cách thần linh để tuyệt đối hóa Bụt thì chủ ý của tác giả “Đường xưa mây trắng” bị đánh mất. Vì vậy sắp đến tháng tư năm 2008 rồi mà cuốn phim chưa đi tới đâu hết. Có một sự dằn co, có khuynh hướng muốn diễn tả Bụt khác hơn là một con người.

Chúng ta làm ăn sao đó mà bây giờ Bụt quá xa cách với ta. Bụt ở đâu chứ không phải ở đây. Trong khi đó, các vị giáo sư, các vị thiền sư, các giáo thọ nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo luôn kéo ta về với thực tế. Như thiền sư Lâm Tế chẳng hạn, thiền sư nói: “Bụt ở đâu? Bụt chính là anh đó!” Ngài đưa ra lý thuyết gọi là bất nhị. Bụt và chúng sanh không phải là hai cái tách rời nhau. Trong lịch sử đạo Bụt luôn luôn có những bậc giác ngộ, những người thấu hiểu được chân lý của đạo Bụt và cố gắng, giữ gìn, tranh đấu để Bụt còn là con người, khỏi phải bị biến thành một vị thần linh sáng tạo ra vũ trụ. Khuynh hướng thứ nhất đó rất là mạnh trong con người. Nếu chúng ta không cẩn thận thì mai này Bụt sẽ trở thành Thượng đế tạo ra mọi vật. Hình ảnh của Bụt Tỳ lô giá na rất gần với hình ảnh của tạo hóa. Hình ảnh của pháp thân, của báo thân là như vậy. Đó là cám dỗ (temptation) thứ nhất. Cám dỗ thứ hai là

2- Đi tìm một cái ngã.

Bụt dạy vô ngã. Khó thấy, khó nhận, khó thực tập quá! Muốn thực tập cho dễ thì ít nhất phải có người, có ngã mới tu được. Không có ngã thì ai tu? Có gánh nặng mà không có người gánh, không lẽ gánh nặng tự gánh nó sao? Vì vậy trong lịch sử 2500 của Phật giáo luôn luôn có cố gắng tìm ra một cái ngã. Trong tất cả các tông phái Phật giáo, một mặt người ta muốn trung thành với giáo lý đạo Bụt, một mặt lại muốn đi tìm một cái gì đó tương đương với cái ngã để cho dễ hiểu, dễ tu.

Đại thừa có A lại gia thức mà mình đã học trong Dị Bộ Tông Luân Luận năm ngoái; Độc Tử Bộ có phi tức phi ly uẩn ngã; Hữu Bộ có tự tha tương tục, quan niệm về đắc, về mạng căn; Kinh Lượng Bộ có quan niệm về căn biên uẩn, về nhất vị uẩn, về tế ý thức; Đại Chúng Bộ có căn bản thức (mūlavijnāna); Chánh Lượng Bộ có quả báo thức; Thượng Tọa Bộ (Theravāda) có hữu phần thức. Tất cả những cái đó đều mang màu sắc của một cái ngã. Giáo lý vô ngã rất khó hiểu, khó tu, nhưng đó là giáo lý đúng mức nên tất cả các tông phái đều âm thầm đi tìm một cái tương đương với ngã và gọi nó dưới một cái tên khác, như Pháp Tướng Tông gọi nó là A lại gia thức. Đó là cám dỗ thứ hai.

Hai khuynh hướng đó, hai cám dỗ đó rất mạnh. Chúng ta muốn dễ thương với Đức Thế Tôn, muốn duy trì giáo lý nguyên thỉ thì phải đóng góp vào việc chận đứng lại cái đà muốn thần thánh hóa Bụt và tìm một cái trá hình cho cái ngã. Bài thực tập thiền đi của mình:

Chỉ có thở, chỉ có đi
Không người thở, không người đi

rất đúng theo tinh thần Đạo Bụt Nguyên Thỉ.

Chúng ta ôn lại:

Trường phái đầu tiên là trường phái Ngã pháp câu hữu. Trường phái này chấp nhận sự hiện hữu của ngã và pháp. Đạo Bụt Đại Thừa không công nhận sự hiện hữu của ngã và pháp, ngã không có mà pháp cũng không có. Trong khi đó, có những tông phái Phật giáo chủ trương, ngã có mà pháp cũng có. Vậy thì những người chủ trương Ngã pháp câu hữu có phải là Phật tử hay không? Họ có cơ hội giải thoát hay không, vì họ chủ trương ngược lại với những điều Đức Thế Tôn nói.

Khi nghiên cứu về giáo lý và sự hành trì của những tông phái này, chúng ta thấy rằng họ không ngây thơ, họ rất là sâu! Họ có trích dẫn kinh điển đàng hoàng. Họ trích kinh và dùng lý luận để chứng minh. Tông phái nào cũng phải sử dụng hai phương pháp kinh chứng và lý chứng (demonstration by sutras and demonstration by reasons).

Tất cả những tông phái chủ trương có ngã, có pháp được gom lại chung và gọi là Bố Đặc Già La phái (Pudgalavāda). Bố đặc già la là ngã, là người. Phái đầu tiên được thành lập là Độc Tử Bộ (Vātsīputrīya).

Từ ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, khoảng một 140 năm sau đó, giáo đoàn chia làm hai phái là Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Thượng Tọa Bộ tượng trưng cho giới bảo thủ. Đại Chúng Bộ đông hơn, tượng trưng cho giới cấp tiến. Khoảng 200 năm sau ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, từ Thượng Toạ Bộ có sự phát sinh của phái Độc Tử Bộ (Vātsīputrīya), phái này xuất hiện rất sớm.

Thầy Huyền Trang khi qua Ấn Độ tu tập, thấy số lượng các thầy chủ trương có ngã và có pháp rất đông đảo, có 66 ngàn thầy trong tổng số 260 ngàn thầy. Từ Độc Tử Bộ sinh ra những bộ phái khác. Sau này, Độc Tử Bộ được gọi là Sammitiyā, tức là Chánh Lượng Bộ.

Chúng ta đã duyệt qua chủ trương của phái này. Ta thấy các thầy cũng dẫn chứng kinh điển rất hùng hồn, các thầy lý luận rất vững chãi. Các thầy nói: Nếu không có ngã thì ai tu, ai chứng? Nếu không có ngã thì ai giải thoát, ai tạo nghiệp và ai chịu quả báo? Nếu không có ngã thì từ bi hỷ xả đâu có ý nghĩa gì? Ai thương? Ai được thương? Vì vậy, không có ngã thì chẳng làm ăn gì được cả. Giáo lý đó cũng rất hấp dẫn, nó đáp ứng lại được cái nhu cầu bình thường của con người, cái nhận thức thông thường của con người, cho nên có nhiều người theo, nhiều người công nhận. Thành ra không thể cho họ là ngoại đạo (tīthakara), vì họ cũng chủ trương là họ theo Bụt.

Họ nói trong giáo lý, Bụt bác hai quan điểm về ngã. Quan niệm thứ nhất là: ngã tức là uẩn. Đây là quan niệm của phàm phu, tức là người không có tu. Phàm phu cho rằng: uẩn là ngã, ta là cái thân này, ta là cảm thọ này, ta là tâm hành này, ta là nhận thức này, ta là tri giác này. Đó là cái chấp của những người phàm phu. Độc Tử Bộ không chấp nhận điều đó. Phái này rất trung thành với Bụt, không chấp nhận quan niệm: cái ta đó là uẩn.

Phái này cũng không chấp nhận quan niệm thứ hai là: cái ta đó hoàn toàn có ngoài uẩn. Các uẩn như sắc, thọ, tưởng biến chuyển, tiêu diệt. Nhưng cái ta không biến chuyển, không tiêu diệt, vì vậy người ta cho rằng cái ta có ngoài uẩn. Phái chủ trương “có ta” này nói: Chúng tôi rất trung thành với Đức Thế Tôn, không chấp nhận quan điểm “ngã là uẩn”. Chúng tôi cũng không chấp nhận quan điểm “ngã là một cái gì có ngoài uẩn”. Chúng tôi chỉ chủ trương “ngã là một cái gì không phải là uẩn cũng không phải là rời khỏi uẩn”, tức là phi tức phi ly uẩn ngã. Nó có sự liên hệ nào đó với uẩn nhưng không phải là uẩn, giống như lửa và củi. Ngã đối với uẩn cũng như lửa đối với củi. Lửa không phải là củi nhưng lửa có sự liên hệ nào đó với củi (a certain kind of relationship with fuel). Lửa đốt được nhưng không thể nói lửa là củi hay lửa không phải là củi. Nếu không phải là củi thì tại sao nó đốt cháy củi được?

Các cụ đàm luận rất hay! Mời quí vị đọc chương cuối của Câu Xá Luận của ngài Thế Thân, trong đó có nói về điều này. Trường phái thứ hai là:

 

2. Ngã vô pháp hữu

Ngã vô pháp hữu là không có ngã nhưng có pháp. Đại diện cho trường phái này là Hữu Bộ (Sarvāstivāda). Sarva là tất cả, asti là có, sarvasti là tất cả đều có hết, vad là chủ thuyết. Chữ vad tương đương với chữ isme như boudhisme, idéalisme, communisme. Sarvāstivāda là chủ thuyết nói rằng tất cả đều có.

Đứng về phương diện thời gian thì hiện tại có đã đành rồi mà quá khứ, tương lai cũng đang có. Tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu. Tam thế thật hữu có nghĩa là ba thời hay ba đời đều đang có thật. Pháp thể hằng hữu có nghĩa là thể tánh của các pháp luôn luôn có. Tông phái này chủ trương một Thực tại luận (realism). Thời gian và không gian là những cái có thật. Không phải chỉ có hiện tại là có thật thì quá khứ không có nữa, mà quá khứ cũng đang có. Tương lai cũng đang có thật chứ không phải sẽ có.

Khi tới Làng Mai, chúng ta nghe đọc đoạn kinh: “Đừng tìm về quá khứ. Đừng tưởng tới tương lai. Quá khứ đã không còn. Tương lai thì chưa tới. Kẻ thức giả an trú trong giờ phút hiện tại”, thì chúng ta có khuynh hướng cho rằng giáo lý của Làng Mai công nhận chỉ có hiện tại là có thật, quá khứ và tương lai không có, khuyên người ta đừng chìm đắm trong quá khứ hay trong tương lai và an trú trong hiện tại. Giống như là Làng Mai theo chủ thuyết của Đại Chúng Bộ.

Đại Chúng Bộ (Mahāsānghika) nói, chỉ có hiện tại là có còn quá khứ và tương lai không có. Đại Chúng Bộ là tông phái chủ trương chỉ có hiện tại, không có quá khứ, không có tương lai. Hiện tại hữu thể, quá vị vô thể: Quá khứ và vị lai không có, trong khi hiện tại thì có. Đó là chủ trương của Đại Chúng Bộ. Có nhiều bộ phái khác cũng chủ trương như vậy.

Trong khi đó giáo lý của Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) nói là hiện tại có đó mà quá khứ, vị lai cũng đang có. Trước hết, các thầy chứng minh bằng cách trích trong kinh ra. Trong kinh có nói: “Này các vị tỳ kheo, thế nào là sắc? Tất cả các sắc, thô hay tế, dễ chịu hay không dễ chịu, là quá khứ hay vị lai đều có thể gọi là sắc.”. Như vậy, Đức Thế Tôn công nhận là có sắc, và có sắc trong quá khứ và trong tương lai. Trong kinh có những câu như vậy. Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikāya) nói: “Này các vị tỳ kheo, sắc là gì? Tất cả các sắc, hoặc quá khứ hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc xa, hoặc gần, tất cả đều gọi là sắc, thọ cũng vậy.”. Câu kinh đó trong Trung Bộ Kinh chứng tỏ là có sắc. Không những có sắc trong hiện tại mà còn có sắc trong quá khứ và trong tương lai. Các thầy trích kinh đàng hoàng gọi là kinh chứng. Các thầy trích trong Tạp A Hàm (thuộc về Hán tạng) câu này: “Nếu sắc trong quá khứ không có thì tôi đâu có khuyên các đệ tử của tôi đừng có vướng vào sắc quá khứ, tại vì có những vị đệ tử đang mơ tưởng, đang nhớ tưởng sắc quá khứ. Nếu sắc quá khứ không có thì tôi đâu có cần khuyên quí vị đừng nghĩ tới sắc quá khứ đó. Sắc tương lai nếu không có thì tôi đâu có khuyên đệ tử đừng cầu mong sắc tương lai. Tại vì có những đệ tử của tôi mơ tưởng, cầu mong nên sắc tương lai nó có.”. Câu đó trong Tạp A Hàm chứng tỏ rằng sắc có, nó không chỉ có trong hiện tại mà còn có trong quá khứ và trong tương lai. Vì thế, nên chúng tôi (Hữu Bộ) chủ trương tam thế thật hữu, tức là ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai) đều có.

Họ còn trích thêm một câu nữa, Đức Thế Tôn dạy rõ ràng: “Khi con mắt chạm với sắc trần thì mới sinh ra cái thấy.”. Rõ ràng có con mắt là căn, có sắc trần là sắc. Vậy các pháp có là đúng. Các thầy trích dẫn không biết bao nhiêu là kinh để chứng minh rằng các pháp là có.

Các thầy chủ trương ngã không đã đành rồi, không có vấn đề gì về điều này. Ai cũng công nhận các thầy trung thành với Đức Thế Tôn (ngã vô). Nhưng các thầy nói pháp hữu thì còn phải xét lại. Vì vậy, các thầy dùng kinh chứng và lý chứng để chứng minh chủ trương của mình là đúng. Chúng ta thấy những lý luận này cũng sâu lắm chứ không phải tầm thường. Tuy bên ngoài nó có vẻ như là một réalisme vulgaire, nhưng kỳ thực nó rất là sâu.

Bây giờ, tôi mời quí vị ngồi trên xe hơi hay xe lửa để đi. Thay vì nhìn phía trước hay phía sau thì quí vị nhìn qua phía ngang. Chúng ta nhìn thấy gì? Chúng ta thấy hiện tại. Cái ta nhìn thấy qua cửa sổ là hiện tại. Ta đang thấy cái hiện tại. Nhưng cái hiện tại làm gì có nếu cái tương lai không có? Phía trước khoảng hai, ba chục cây số đã có sẵn đó rồi. Từ từ xe tới đó thì ta thấy là hiện tại, nói tương lai chưa có thì làm sao có hiện tại bây giờ. Tương lai có sẵn đó rồi nhưng chúng ta chưa thấy, xe hơi phải tới chỗ đó rồi ta mới thấy được. Tương lai có rồi, nhưng tại ta chưa thấy nên ta nói nó không có. Khi lái xe, chúng ta chỉ thấy được vài cây số trước mặt. Ta không thể nói vài cây số trước mặt là có, còn vài trăm cây số xa hơn là không có. Tưong lai có sẵn đó rồi, tại ta chưa thấy đó thôi. Lý luận như vậy cũng khá hay! Ở đây, chúng ta dùng hình ảnh ngược lại là tương lai đi về hiện tại. Sau khi phát hiện thành hiện tại rồi thì nó đi về quá khứ. Nó còn đó chứ không phải không còn. Quá khứ không mất đi đâu hết, nó còn y nguyên đó. Cái quá khứ này, nó sẽ làm chất liệu để chế tác ra tương lai.

Để cho dễ hiểu thì tôi dùng ví dụ của phim ảnh. Đây là một cuộn phim và đây là chỗ chiếu phim. Phim đi ra từ một chỗ (chỗ đó tượng trưng cho tương lai) rồi đi vô một chỗ (chỗ đó tượng trưng cho hiện tại) và mình thấy hiện tại hiện ra trên màn ảnh. Khi nó đi lướt qua trên màn ảnh rồi thì nó đi về quá khứ. Quá khứ đó, sau khi đã nhồi nặn, đã chín rồi thì trở thành tương lai.

Tùy theo cách ta xử lý hiện tại mà ta có tương lai tới, rồi nó biến hình trở thành quá khứ. Tất cả những thân nghiệp, ý nghiệp, khẩu nghiệp của mình đi theo dòng này để rồi ngày mai nó trở thành tương lai. Tương lai hiện ra cho mình hưởng. Rồi mình xử lý hiện tại như thế nào đó, mình thay đổi hiện tại đó để có một quá khứ đẹp hơn. Nhờ chất liệu của cái quá khứ đó mà mình làm lại một tương lai mới. Đây là đường của thời gian. Tương lai chạy tới hiện tại và hiện tại đi về tương lai và nó chạy như vậy. Không phải chỉ hiện tại đang có mà quá khứ và tương lai cũng đang có.

Sự khác biệt giữa cuốn phim và cuộc đời là: Cuốn phim có chạy bao nhiêu vòng thì cũng chừng đó hình ảnh, còn con người thì điều khiển, xử lý được quá khứ và hiện tại. Con người có thể thay đổi được tương lai khi nó thành hiện tại. Tùy cách tiếp xử mà ta có thể thay đổi được nghiệp của mình. Ta tạo ra nghiệp lành, nghiệp tốt để sau này tương lai được đẹp. Xử lý hiện tại khéo léo để cho hiện tại trở thành quá khứ. Quá khứ là trương mục tiết kiệm (bank account) chứ quá khứ không phải là không có. Tất cả những gì ta nói, ta làm, ta nghĩ, là những năng lượng ta chế tác ra. Nó đi qua nhưng nó không mất. Nó còn đó dưới tính chất nghiệp (karma). Đó là trương mục ngân hàng của ta. Ta bỏ vào trong đó nghiệp của ta. Nếu ta xử sự khéo léo thì ta bỏ vào trương mục những cái rất tốt. Còn nếu ta sát, đạo, dâm, vọng, thì trong ngân hàng của ta chỉ toàn là rắn độc, chất độc mà thôi. Rồi sau này nó thành ra tương lai thì ta lãnh đủ.

Chủ trương “quá khứ cũng có, tương lai cũng có, hiện tại cũng có” cũng được chấp nhận một cách dễ dàng. Ví dụ buổi tối, đi trên bờ sông, chúng ta không thấy có sương mù. Nhưng vào buổi sáng, đi trên bờ sông Garonne thì ta thấy sương mù đầy hết. Sương mù đó từ đâu mà ra? Nó không phải từ trên trời đi xuống đâu, nó nằm trong không khí. Buổi chiều trời ấm nhưng có hơi nước trong không khí. Hơi nước đi ngang qua mặt nước, tới đêm mặt nước lạnh nên hơi nước thành sương mù. Sương mù không phải từ không mà trở thành có, nó từ hơi nước đã có sẵn từ chiều hôm qua mà trở thành có. Lúc đó ta không thấy có sương mù nhưng hơi nước đã có sẵn đó rồi. Chúng ta không thấy quá khứ nhưng kỳ thực, nó có đó. Trong hiện tại, có những cái ta không thấy, nhưng ta không thể nói là nó không có được. Buổi sáng, đi trên bờ sông Garonne, ta thấy có sương mù trên sông thì ta biết rằng nó là sự tiếp nối của hơi nước ngày hôm qua. Hơi nước, ta không thấy được vì nó là một loại khí (gas). Khi trở thành sương mù thì nó được làm bằng những hạt nước li ti nên ta thấy được. Cái mà ta không thấy được, ta đừng nói nó là không có. Tương lai ta chưa thấy được, ta đừng nói nó không có. Quá khứ ta không thấy nữa, ta đừng nói nó không có. Quá khứ, tương lai vẫn có đó. Nếu không có quá khứ và tương lai thì làm gì có hiện tại? Lý luận này rất sắc bén!

Có một tông phái gọi là Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka), ban đầu, cũng theo Đại Chúng Bộ chủ trương chỉ có hiện tại, không có quá khứ và không có tương lai. Hiện thế hữu thể, quá vị vô thể. Quá vị vô thể có nghĩa là quá khứ, vị lai không có. Nhưng trải qua thời gian 100 năm sau, những người của phái đó chuyển qua ý kiến của Hữu Bộ, chủ trương Tam thế thật hữu, có nghĩa là các vị bị chinh phục bởi các thầy bên Hữu Bộ. Hóa Địa Bộ có sơ kỳ và hậu kỳ của nó. Sơ kỳ, chủ trương chỉ có hiện tại, không có quá khứ, vị lai. Nhưng con cháu sau đó chủ trương có quá khứ, có tương lai. Họ chịu ảnh hưởng của Hữu Bộ.

Hữu Bộ (Sarvāstivāda) là một tông phái khá lớn. Sau thời kỳ của vua A Dục, họ đã dời lên miền Bắc, ở vùng Ca thiếp di la tức là Kashmir và lập căn cứ ở đó trong khoảng một ngàn năm. Các thầy của tông phái này đã sáng tác ra không biết bao nhiêu tác phẩm về Luận tạng, trong đó có một bộ luận vĩ đại là Tỳ Bà Sa Luận (Vibhāsāśāstra). Pháp thể hằng hữu, tam thế thật hữu nghĩa là các pháp luôn luôn có và ba đời đều có thật. Bộ luận Tỳ Bà Sa là công trình tập thể của rất nhiều vị đại luận sư, trong đó có thầy Thế Hữu (Vasumitra).

Sau này có thầy Thế Thân tới xin học. Ban đầu phái Hữu Bộ không chấp nhận, vì họ nghi thầy không phải thuộc truyền thống của họ. Nhưng rốt cuộc họ cũng chấp thuận. Khi học xong, thầy sáng tác bộ Câu Xá Luận (Abhidharmakośa-sāstra), diễn bày giáo lý của Hữu Bộ rất tuyệt vời, và nó trở thành một tập đại thành (summary) của giáo lý Hữu Bộ. Nhưng thầy cũng bị ảnh hưởng giáo lý của các bộ phái khác, nhất là của Kinh Lượng Bộ, cho nên Câu Xá Luận không hoàn toàn đi theo Hữu Bộ mà bị ảnh hưởng của Kinh Lượng Bộ rất nhiều.

Đứng về phương diện quá khứ, vị lai và hiện tại, có chủ trương cho rằng tuy nói là ba thời nhưng kỳ thực là chỉ có một. Chủ trương này, ban đầu có thầy Pháp Cứu (Dharmatrāta), thầy nói rằng ba thời tuy là ba nhưng kỳ thực nó là một. Khi nó đứng ở đây thì gọi là tương lai, nó đứng chỗ này thì gọi là hiện tại, còn đứng chỗ kia thì gọi là quá khứ. Nó là một, đồng thể, giống như vàng. Vàng có thể làm ra bông tai hoặc kiềng đeo cổ hoặc nhẫn đeo tay, nhưng rốt cuộc nó chỉ là vàng. Bản chất của quá khứ, hiện tại và vị lai là một, thời gian chỉ là một. Phân biệt quá khứ, hiện tại và vị lai là tạm chia ra làm ba loại mà thôi.

Luận sư thứ hai là thầy Diệu Âm (Ghosaka), thầy cũng nói ba thời là một, chỉ có tướng là khác nhau. Thầy Diệu Âm dùng một ví dụ rất là buồn cười. Ví dụ như anh chàng Thomas yêu một cô nàng, cô đó tên là Elisabeth. Anh gọi cô là “mon amour” (my love), làm cho người ta hiểu là tình yêu của anh chỉ là Elisabeth thôi. Sau này, Elisabeth không còn yêu anh hay anh không còn yêu cô ta. Nhưng anh vẫn còn yêu được cô khác, như cô Julia chẳng hạn. Bây giờ người yêu của anh mang một hình dáng khác, nhưng tình yêu của anh vẫn là tình yêu. Không phải khi anh yêu Elisabeth rồi thì tình yêu của anh chỉ là Elisabeth thôi.

Thầy thứ ba là thầy Thế Hữu (Vasumitra). Thầy định nghĩa ba thời theo vị (vị trí). Ví dụ như là con số 1. Chúng ta có số hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị. Nếu ta để con số 1 đó ở hàng đơn vị thì nó chỉ là số 1, ở hàng chục thì nó là số 10, ở hàng trăm thì nó sẽ trở thành số 100. Cũng vậy, ba thời đó là một, nhưng đứng trên phương diện vị trí mà nói thì nó là quá khứ, là hiện tại, là vị lai. Lý luận này, thầy Thế Thân cho là hay nhất, tuy nhiên thầy cũng không công nhận lý luận đó.

Thứ tư là thầy Giác Thiên (Buddhadeva). Thầy chủ trương đãi (đối đãi), có nghĩa là sự liên hệ (relationship). Thầy nói rằng, quá khứ, hiện tại và vị lai thật ra chỉ là một. Chúng ta chia ra như vậy là không đúng.

Thầy Giác Thiên dùng danh từ một người con gái, một người đàn bà hay một người phụ nữ. Ví dụ, mình là người phụ nữ đó. Đối với mẹ, mình là con gái; đối với chồng , mình là vợ; đối với con của mình thì mình là mẹ. Cũng một người phụ nữ đó, nhưng có khi được gọi là con gái, có khi được gọi là vợ, có khi được gọi là mẹ. Vậy thì ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai, tuy được gọi bằng những tên khác nhau nhưng chỉ là một thực thể.

Làng Mai nói: Nếu chúng ta an trú trong hiện tại và tiếp xúc với hiện tại cho sâu sắc, ta có thể sờ mó được quá khứ và tương lai trong hiện tại. Làng Mai nói tam thế tương tức, có nghĩa là quá khứ, hiện tại và vị lai là nhau. Một cái ôm lấy hai cái kia theo tinh thần Hoa Nghiêm. Những đau xót, lỗi lầm, những vết thương của quá khứ vẫn còn trong hiện tại. Nếu chúng ta tu, ta biết quán chiếu, ôm ấp, quản lý cái hiện tại cho hay thì những đau xót, lỗi lầm trong quá khứ đều được chữa lành hết. Quá khứ, hiện tại và vị lai ôm nhau, tiếp xúc được với một cái là tiếp xúc được cả ba cái.

Làng Mai ban đầu nói, quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa tới, chỉ có hiện tại cho mình sống. Làng Mai nói như vậy là cho những người mới thực tập. Kỳ thực, Làng Mai không phủ nhận sự có mặt của quá khứ và tương lai. Chúng ta đã có thể sống cái tương lai đây này.

Chúng ta tạm dịch như vầy cho dễ hiểu:

Chữ đối đãi của thầy Giác Thiên, gọi là relationship; chữ vị trí của thầy Thế Hữu, gọi là position; chữ hình dáng của thầy Diệu Âm, gọi là mark; chữ loại của thầy Pháp Cứu, gọi là species.

Hôm nay chúng ta sẽ đi thiền hành chung, ta đi theo tinh thần của bài giảng hôm nay. Làm sao trong khi đi, mình mời ba mẹ cùng đi với mình, anh chị cùng đi với mình, tổ tiên, thầy cùng đi với mình. Muốn cho dễ thì ban đầu ta mời một người trước, sau mời hai người, rồi mời tất cả cùng đi với mình. Chúng ta thấy hàng triệu cái chân đưa ra một lần và dẫm xuống một lần, rất là mầu nhiệm. Đi làm sao để có thể mang theo tất cả tổ tiên, dòng họ, đất nước mà đi, đừng đi một mình. Chuyện đó là chuyện ta làm được.

Trong chuyến về thăm quê hương vừa rồi, tôi đã thực tập đi như vậy. Tại Trai Đàn Chẩn Tế ở Sàigòn, Huế, Sóc Sơn, tôi đã đi như vậy. Tôi để cho sáu, bảy triệu đồng bào đi bằng chân của tôi. Khi thở vào, tôi nói: “Hãy dùng chân của tôi mà đi, hỡi sáu triệu đồng bào đã chết trong chiến tranh. Cuộc đời rất là mầu nhiệm. Những mầu nhiệm của đất trời đang còn đó. Quí vị cũng đang còn đó, quí vị không mất đi đâu hết! Quí vị hãy dùng chân của tôi mà đi”. Mỗi bước chân như vậy là tôi đi cho sáu, bảy triệu đồng bào đã chết trong chiến tranh, kể cả chiến sĩ của hai bên, những thường dân, những em bé, những thiếu phụ bị bom đạn làm cho tan nát hình hài. Tôi đi trong tình thương, trong ý thức như vậy. Một lúc sau là tôi đi cho tám mươi hai triệu đồng bào đang còn sống, cũng đang có những lo lắng, những buồn khổ.

Chúng ta có thể đi cho tất cả mọi người, đi cho quê hương, cho đồng bào, cho dân tộc. Tôi biết rằng những nỗi oan, những khổ đau sau chiến tranh chất chứa rất là to lớn. Đất nước chưa có cơ hội nào để chữa trị oan ức, khổ đau đó. Cho nên Trai Đàn Chẩn Tế là một cơ hội để chúng ta tới với nhau, cùng khóc với nhau, cùng ôm lấy nhau, cùng thực tập với nhau. Chúng ta ngồi thiền, đi thiền hành cho tất cả. Ban kinh sư phải tán tụng, cúng bái. Vì vậy, tôi biết tôi phải yểm trợ cho ban kinh sư rất nhiều. Tôi phải ngồi thiền, đi thiền cho vững để đưa năng lượng cho các thầy, để các thầy làm cho thành công. Mỗi bước chân, tôi đi cho đồng bào đã chết. Mỗi bước chân, tôi đi cho đồng bào đang còn sống. Mỗi bước chân như vậy đưa tới sự trị liệu, sự nuôi dưỡng cho chính bản thân tôi và cho đồng bào tôi. Đi như vậy là chúng ta làm cho Trai Đàn Chẩn Tế có phẩm chất, chứ không phải chỉ có những nghi lễ bên ngoài mà thôi. Có thể tại vì vậy cho nên sau mỗi Trai Đàn Chẩn Tế là trời đổ mưa rào rào rất là thấm nhuận giống như là trời đất cảm động vì năng lượng đó.

Chúng ta có duyên tới với nhau tại đạo tràng Mai Thôn. Chúng ta thực tập ngồi thiền, ngồi cho cha mẹ, ông bà, cho đất nước, cho quê hương, nhân loại. Ngồi cho lắng dịu xuống, cho mọi người đều có cơ hội tiếp xúc được với sự sống mầu nhiệm trong giây phút hiện tại. Chúng ta quá bận rộn, lo làm nhiều chuyện quá! Chúng ta không có thì giờ để sống cho mình, sống cho cha mẹ, cho tổ tiên, cho quê hương, cho người thân thuộc. Có dịp tới Làng Mai, chúng ta nên tập đi như vậy, tập ngồi như vậy. Ta thoát ra khỏi cái hình hài nhỏ bé của riêng ta. Ta biết rằng, theo giáo lý Hoa Nghiêm, cái hình hài này tuy nhỏ bé nhưng nó chứa đựng cả vũ trụ, chứa đựng cả muôn loài. Tất cả thế hệ tổ tiên đều có mặt trong ta. Ta đi là đi cho tất cả, ngồi là ngồi cho tất cả, thở là thở cho tất cả. Đó đúng là cái thấy mầu nhiệm của giáo lý Hoa Nghiêm.

Chúng ta tiếp tục xét về ý niệm mười tông trong giáo lý Hoa Nghiêm.

1- Ngã pháp câu hữu. Đại diện là Độc Tử Bộ. Độc Tử Bộ chủ trương cái ta là cái có thật và sự vật, thế giới hiện tượng cũng là những cái có thật. Tuy chủ trương có ta và có tất cả các pháp, nhưng Độ Tử Bộ vẫn được nhìn nhận là một tông phái của đạo Bụt.

2- Ngã vô pháp hữu. Đại diện là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Tông phái này chủ trương tất cả mọi hiện tượng đều là có thật. Quá khứ, vị lai và hiện tại đều là những gì thật có. Chỉ có một cái không có, đó là cái ngã. Tông phái này rất tin tưởng mình theo đúng đường hướng Đức Thế Tôn chỉ dạy.

Chúng ta có nói đến hai sự quyến rủ lớn trong lịch sử tư tưởng đạo Bụt. Khuynh hướng lớn thứ nhất là muốn thần thánh hóa Đức Thế Tôn, muốn biến Đức Thế Tôn thành một vị thần linh gần như là một đấng tạo hóa. Khuynh hướng thứ hai là, tuy Đức Thế Tôn dạy là không có ngã, nhưng chúng ta thấy rất khó hiểu, khó áp dụng, cho nên ta âm thầm đi tìm một cái, không gọi là ngã, nhưng tương đương với cái ngã. Chúng ta dùng một danh từ khác cho cái ngã và nói rằng: Chúng tôi cũng tin như Đức Thế Tôn, không cho là có ngã, nhưng có một cái gì đó và cái đó rất là quan trọng. Cái đó là một cái ngã trá hình. Đó là khuynh hướng thứ hai. Trong lịch sử 2600 năm của đạo Bụt thì hai khuynh hướng đó càng ngày càng mạnh. Nếu đạo Bụt có bị biến hình là do hai khuynh hướng, một là thần thánh hóa con người của Đức Thế Tôn, hai là đi tìm một ý niệm để thay thế ý niệm ngã.

Các vị chủ trương Ngã pháp câu hữu, đại diện là Độc Tử Bộ (Vātsīputrīya), nói: “Chúng tôi theo đúng lời dạy của Đức Thế Tôn. Chúng tôi không công nhận năm uẩn này là ngã và chúng tôi cũng không công nhận năm uẩn này là ngoài ngã. Chúng tôi chủ trương có một cái ngã không phải uẩn mà cũng không lìa uẩn mà có. Đó là phi tức phi ly uẩn ngã.” Nó là ngã, nhưng không phải là hai cái ngã mà Đức Thế Tôn đã bài bác: ngã là năm uẩnngã là ngoài năm uẩn.  Cái ngã mà Độc Tử Bộ chủ trương có liên hệ tới năm uẩn nhưng không phải là năm uẩn. Giống như lửa với củi. Lửa không phải là củi, nhưng lửa cũng không phải ngoài củi, lửa có một liên hệ nào đó với củi. Vì thế Độc Tử Bộ gọi cái ngã đó là phi tức phi ly uẩn ngã.

Các vị cố gắng đi tìm một cái gì đó, tại vì nếu không có cái đó thì khó mà ăn nói. Nói là tu, mà ai tu? Nói là chứng, mà ai chứng? Nói là nghiệp, mà ai gây nghiệp? Nói là quả báo, mà ai thọ quả báo? Nói là ăn, mà ai ăn? Nói là ngồi, mà ai ngồi? Vì thế rất cần một cái ngã để nói ai ngồi, ai ăn, ai nói, cho nên người ta âm thầm đi tìm một cái tương đương với ngã.

Ngã vô pháp hữu, đại diện là Hữu Bộ (Sarvāstivāda) thì cảm thấy thoải mái hơn. Họ chủ trương không có ngã, họ thấy gần với Đức Bụt. Hữu Bộ công kích Độc Tử Bộ rất nhiều, cho tông phái này là ngoại đạo, không phải đạo Bụt. Hữu Bộ chủ trương các pháp có thật nhưng các pháp là sát na sinh diệt. Sát na là một đơn vị thời gian rất ngắn, ngắn hơn một giây.

Các nhà khoa học bây giờ chia một giây ra làm một ngàn phần gọi là millisecond, đếm bằng millisecond. Hữu Bộ chủ trương sự vật chỉ có mặt trong một giây lát rất là ngắn gọi là sát na (có thể một sát na ngắn hơn một millisecond). Nó sinh rồi diệt liền lập tức, nó không có thì giờ ở lại. Nhưng giữa cái sinh và cái diệt có một sự liên hệ. Vì vậy tuy không chủ trương là có ngã nhưng Hữu Bộ chủ trương một cái gọi là tương tục (continuity, continuation), tự tương tục và tha tương tục. Có những dòng tương tục như dòng sông. Dòng sông Seine là một tương tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên, tất cả những giọt nước trong dòng sông luôn luôn chuyển biến. Bề ngoài mình thấy như có một dòng sông nhưng kỳ thực không có dòng sông trường cửu, chỉ có một sự tương tục thôi.

Người xưa đã nói là không có ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông. Khi nghe câu đó, tôi có một tư tưởng rất ngộ: Khi mình tắm trong một dòng sông thì dòng sông biến chuyển trong từng giây phút, còn người tắm thì hình như không có biến chuyển. Người tắm vẫn là người tắm cho nên đòi tắm hai hay ba, bốn lần trong dòng sông. Người tắm khi xuống sông đi lên thì đã thành một người khác rồi. Đứng về hai phương diện, sông để tắm và người tắm, thì chúng ta có thể nói: Dòng sông không bao giờ đón chào được một người xuống tắm hai lần. Một người xuống tắm, đi lên rồi đi xuống lại thì đã trở thành người khác rồi, không còn là một người nữa. Cho nên câu nói của người xưa, không ai tắm hai lần trong một dòng sông cũng còn cái gì khúc mắc trong đó. Chính là người tắm cũng không còn là người tắm nữa, người tắm cũng chuyển biến như dòng sông. Người tắm là dòng sông. Dòng sông là một sự tương tục và người tắm cũng là một sự tương tục, tự tương tục và tha tương tục. Nó đi rất gần với ý niệm về ngã. Tự tương tục (svasamtana) là một cái ngã trá hình. Đây là dòng sông Seine, kia là dòng sông Loire, và kia là dòng sông Garonne, giống như có ba dòng sông khác nhau, nhưng nhìn kỹ thì dòng sông nào cũng biến chuyển trong từng giây phút. Có thể nói là một sự tương tục, nhưng Hữu Bộ tìm cách tránh, nói sự tương tục này chuyển biến trong từng phút giây, để vẫn trung thành được với ý niệm vô ngã.

Cái đặc sắc của Hữu Bộ là sáng chế ra những pháp không phải tâm cũng không phải vật, gọi là tâm bất tương ưng hành pháp (citta-viprayukta-dharma). Những tâm sở như tham, sân, si, mạn, nghi, kiến là tương ưng với tâm. Những pháp như là đắc (prapti), mạng căn, thế tốc hay tốc độ (vitesse) không phải là sắc cũng không phải là tâm, nó thuộc về tâm bất tương ưng. Bất tương ưng có nghĩa là không đi đôi với, không cộng tác với.

Khi có quan niệm về đắc thì phải có người đắc. Ví dụ ta chưa có cái đó, bây giờ ta có cái đó; ta chưa đậu bằng đó, bây giờ ta đậu bằng đó; ta chưa chứng quả đó, bây giờ ta chứng quả đó; ta chứng rồi thì ta không mất được nữa; ta đậu rồi thì ta không thể hỏng được nữa. Cái đó rất sát với ý niệm về ngã, nhất là ý niệm về mạng căn. Mạng căn là một pháp nằm trong tâm bất tương ưng hành pháp. Mạng căn là đời sống của một người. Đời sống có một thời gian nào đó, đó là thọ mạng của một người. Mạng căn đi rất gần với cái ngã.

Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka) đưa ra một uẩn, gọi là Cùng sinh tử uẩn. Đây cũng là một cái ngã trá hình. Cùng sinh tử uẩn là một cái uẩn (aggregate) có mặt hoài cho tới khi nào ta thoát ly sinh tử thì nó mới hết. The aggregate that lasts until the end of samsāra. Có một cái uẩn không phải là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, và nó có mặt đó tới khi nào chấm dứt sinh tử thì nó mới hết. Đó không phải là ngã thì là cái gì? Cùng sinh tử uẩn, tiếng Phạn là samsāra-kotinisthā-skandha. Samsāra là sinh tử, skandha là uẩn, kotinisthā là cùng, là đi tới đó, tới chỗ tột cùng. C’est une sorte d’agrégat qui dure jusqu’à la fin du samsāra.

Về phía Thượng Tọa Bộ (Sthaviravāda), ban đầu có đưa ra ý niệm gọi là Tế ý thức. Thượng Tọa Bộ là gốc gác của Hữu Bộ. Tế ý thức là một ý thức rất sâu kính, rất vi tế, giống như tiềm thức (subconsciousness). Vì vậy, chúng ta thấy khuynh hướng muốn đi tìm một cái tương đương với ngã rất mạnh trong tất cả các bộ phái.

Sau này chi mạt của Thượng Tọa Bộ, mà bây giờ mình gọi là Theravāda, đưa ra một ý niệm khác tương đương với A lại gia thức gọi là Hữu phần thức (life continuum), tiếng Phạn là Bhāvanga-vijñāna.

Bên Đại Chúng Bộ (Mahāsānghika) đưa ra một cái gọi là Căn bản thức (Mūlavijñāna). Đây cũng là một cái ngã.

Chúng ta chỉ đưa ra một vài thí dụ để chứng minh rằng, trong Phật giáo, để cho sự giảng dạy và hành trì được dễ dàng, người ta luôn luôn đi tìm một cái tương đương với ngã để giải thích giáo lý.

Sau này, từ Hữu Bộ sinh ra một bộ phái gọi là Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika). Kinh Lượng Bộ có đưa ra ý niệm về chủng tử, về huân tập và về nhất vị uẩn, tiếng Phạn là eka-rasa-skandha. Những ý niệm về chủng tử, về huân tập, đưa tới ý niệm về A lại gia. Nó đi tiên phong cho giáo lý Duy Thức. Điều đó chứng tỏ rằng khuynh hướng muốn đi tìm một cái tương đương với ngã rất là mạnh trong các bộ phái đạo Bụt.

Khoa học nhận thức (cognitive science) cũng như khoa học thần kinh cũng thao thức đi tìm cái ngã, đi tìm consciousness. Câu hỏi trong khoa thần kinh não bộ là, các tế bào óc, các tế bào thần kinh hoạt động như thế nào mà sản xuất ra được tâm thức, ý thức? Người ta coi tâm thức như là một sản phẩm của hệ thần kinh, của não bộ. Người ta dùng những kỹ thuật gọi là hình ảnh (imaging) để dò coi những phần nào ở não bộ làm phát sinh ra những tâm hành nào, những phần nào của não bộ đóng vai trò nào trong nhận thức. Đi tìm một hồi thì người ta không thấy có phần nào là chủ thể, là đại bản doanh (headquarter) có thể gọi là trung tâm điều khiển. Khoa học thần kinh não bộ đã bắt đầu thấy các tế bào trong não bộ làm việc chung với nhau, liên hệ với nhau, đồng bộ (synchronize) với nhau và làm phát hiện ra những tâm hành (mental formations): vui, buồn, sợ, ghét, lo lắng, sầu khổ. Nhưng đi tìm một ông chủ, một cái ngã thì khoa học không tìm ra được. Khoa học nói rằng, các tế bào thần kinh não bộ giống như một dàn nhạc (orchestra) mà không cần phải có một vị nhạc trưởng cầm đôi đũa để điều khiển. Bây giờ các nhà khoa học thấy, đi tìm một cái ngã trong cơ thể là một chuyện không thể nào làm được.Tuy nhiên cái cảm giác là có một cái ngã rất rõ trong mỗi người.

Chúng ta đã từng lấy ví dụ những con ong trong một bầy ong. Một tổ ong được làm bằng những con ong cá nhân, mỗi con ong có ruột, có chân, có cánh riêng. Ấy vậy mà khi hành động thì tất cả con ong hành động như một cơ thể. Chúng ta có cảm tưởng như là có một trung tâm chỉ huy các con ong. Nó làm rất hay!

Cũng như khi ta thấy một đàn cá mấy ngàn con đang bơi lội dưới biển. Đàn cá bơi lội như có một sự điều khiển, trong khi đó toàn là những con cá cá nhân. Nó đang bơi về một hướng, vậy mà khi xoay trở lại một cái thì tất cả đều xoay đồng bộ mà không có con nào đụng vào con nào, giống như có một lực lượng nào, một cái ngã nào điều khiển vậy. Cảm tưởng đó rất là rõ rệt khi chúng ta thấy đàn cá bơi lội.

Những tế bào trong cơ thể của ta cũng vậy. Nó làm việc chung với nhau để làm phát hiện ra những cái như hơi thở có ý thức. Hơi thở có ý thức trở lại nhận diện, ôm ấp, nâng niu những tế bào đó. Các tế bào trong cơ thể của mình làm việc đồng bộ giống như một dàn nhạc mà không cần có một nhạc trưởng. Các nhà khoa học bắt đầu thấy được tính vô ngã của cơ thể, của não bộ, của vạn vật.

Theo tinh thần và phương pháp của đạo Bụt thì chúng ta dùng tâm của mình để quan sát. Trước hết, chúng ta quan sát tâm của chúng ta. Chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy những tâm hành. Trong truyền thống của Duy Thức Tông có khoảng 51 tâm hành, trong đó có tâm hành tham, sân, si, mạn, nghi, tàm, quý, có tình thương, có sự tha thứ, có niềm vui… Chúng ta thấy những tâm hành nối đuôi nhau mà phát hiện trong ta. Cái mà chúng ta thấy là những tâm hành, chúng ta không thấy có cái ngã. Ví dụ khi ta có một tâm hành bực bội. Vì mình là một người tu nên sau tâm hành bực bội đó thì có một tâm hành thứ hai đến và ôm ấp tâm hành bực bội đó, gọi là tâm hành chánh niệm. Chánh niệm cũng chỉ là một tâm hành. Sau khi có tâm hành chánh niệm soi sáng, ta mỉm cười tha thứ, thì đó là tâm hành hoan hỷ, tha thứ. Ta thấy có tâm hành này nối tiếp tâm hành kia chứ không có người điều khiển các tâm hành cho nó nổi dậy. Khi chúng ta suy nghĩ, thì suy nghĩ cũng là một tâm hành, gọi là tâm hành tầm (vitarka). Tâm hành tầm cũng phát khởi như vậy, không cần phải có một người nói: “Mày phải phát khởi! Mày phải suy nghĩ cái này, cái kia!” Vì vậy những tâm hành đó nương trên những điều kiện này hay điều kiện khác mà phát hiện, mà không cần phải có một cái ngã sai khiến. Vì vậy cho nên lần trước chúng ta nói, không cần phải có người tư duy. Thought without the thinker is possible.

Tại Làng Mai, chúng ta hay nói đến cách chúng ta nói năng và suy nghĩ. Ví dụ như chúng ta nói: Gió thổi! Mây bay! Tôi buồn! Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn! Khi nói gió thổi thì mình thấy có động tác gọi là thổi. Mà phải có cái gì thổi mới được! Nó phải có chủ từ, và chủ từ đó là cái ngã. Phải có gió thì mới thổi được, ta suy tư như vậy. Nếu như lý luận thì chúng ta thấy rằng, có gió sẵn đó, có khi nó thổi, có khi nó không thổi. Cái thổi và cái không thổi có ngoài gió; gió có riêng, và có khi nó thổi, có khi nó không thổi. Nhưng chúng ta biết rất rõ ràng là nếu gió mà không thổi thì gió đâu phải là gió, chúng ta không thể gọi nó là gió được, chúng ta gọi nó là không khí. Khi nói: “Gió thổi.”, thì đứng về phương diện văn phạm, ngôn ngữ, là sai. Gió thì phải thổi, nếu không thổi thì không gọi là gió được. Vì vậy gió tức là thổi. Làng Mai có bài thực tập thiền hành:

Chỉ có thở, chỉ có đi
Không người thở, không người đi

Cái mà chúng ta nhận thấy là có hơi thở đang ra vào và có những bước chân đang xảy ra. Sự thật là chúng ta có thể chứng nhận, có cái thở đang xảy ra và có cái đi đang xảy ra. Nhưng chúng ta không thể chứng nhận rằng có một người đang thở và đang đi. Chúng ta thấy rõ ràng là mình muốn tìm gió ngoài cái thổi thì không có được. Cũng như bông hoa mà ta muốn tìm ngoài những điều kiện làm ra bông hoa thì không thể nào có được. Hoa là nở hoặc là búp, ngoài nở và búp thì không thể nào có bông hoa được. Mây bay hay mưa rơi cũng vậy. Nếu mưa mà không rơi thì đâu phải là mưa nữa, nó là đám mây. Vì vậy cho nên không hẳn phải có một chủ thể có mặt riêng biệt rồi mới có hành động. Hành động đó chính là chủ thể. Cái mà ta gọi là cái ta chỉ là một danh từ, một tên gọi (appellation).

“Tôi buồn”, cái mà chúng ta thấy được là tâm hành buồn. Tâm hành buồn tự phát khởi, nó ở lại một thời gian rồi tan biến. Không cần có “cái tôi” vào mới buồn được.. Cũng như tâm hành tư duy, “ tôi tư duy ” (I think). Chúng ta nghĩ là, nếu không có “tôi” (I) thì không bao giờ có “tư duy” (think) được cả. Kỳ thực, nhìn kỹ thì chỉ có “tư duy”, không cần phải có “tôi”. It’s absolutly possible to think without the thinker. Chúng ta có thể giải thích được nhân quả, nghiệp báo, chứng đắc trên cơ bản đó. Nhưng mà nó khó cho số đông mà thôi.

Đạo Bụt rất gần với Hiện tượng luận (Phénoménologie). Khi quán chiếu, ta căn cứ trên đối tượng quán chiếu của mình thôi. Chúng ta không phải đi tìm xa, có cái gì thì ta nói có cái đó thôi. Nó có như thế nào thì ta nói có như thế đó. Ví dụ như có một tâm hành gọi là “buồn”, nó có gốc rễ của nó, có nguyên nhân, có điều kiện tạo ra tâm hành buồn. Chỉ có vậy thôi, không có cái ta làm chủ thể cho tâm hành đó. Khoa học bây giờ không tìm ra được cái ta. Phải công nhận những gì đang có là có và những gì không có là không có, tinh thần đó rất là khoa học.

Bây giờ chúng ta tạm đi qua tông thứ ba, gọi là Pháp vô khứ lai.

3. Pháp vô khứ lai

Pháp vô khứ lai có nghĩa là các pháp không đi cũng không tới. Đại diện của tư tưởng này là Đại Chúng Bộ (Mahāsānghika). Đại Chúng Bộ chủ trương hiện tại có mà quá khứ, vị lai thì không có. Vì vậy cho nên các pháp không từ đâu tới mà cũng không đi về đâu. Chỉ có các pháp hữu vi và vô vi trong giây phút hiện tại, còn các pháp quá khứ và tương lai kể cả thể, tướng và dụng của nó đều là không có. Tông thứ tư gọi là Hiện thông giả thật.

4. Hiện thông giả thật

Đại diện cho phái này là Thuyết Giả Bộ (Prajñaptivāda). Phái này cũng chủ trương không có quá khứ và vị lai. Hiện thông giả thật, nghĩa là các pháp trong hiện tại có hai loại: giả và thật. Những gì có thật và những gì không có thật? Prajñapti có nghĩa là giả danh.

Phái này chủ trương rằng năm uẩn là có thật, còn thập nhị xứ và thập bát giới là giả. Bản chất của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức) là có thật. Nhưng những cái nó làm biểu hiện ra như thập nhị xứ và thập bát giới đều là giả. Cũng như những điều kiện làm ra bông hoa là thật, còn bông hoa là giả. Năm uẩn của mình là thật, còn cái ta của mình, ông Nguyễn văn A, bà Trần thị B là giả.

Thập nhị xứ là sáu căn và sáu trần. Thập bát giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Đó là những biểu hiện từ trên căn bản của năm uẩn. Chỉ có năm uẩn là có thật còn những biểu hiện kia, những hình tướng kia đều là giả. Chúng ta thấy rõ ràng, tư tưởng Đại Thừa đã được hàm chứa, được tượng hình trong các bộ phái đạo Bụt Tiểu Thừa. Đạo Bụt Đại Thừa thừa hưởng tất cả những tư tưởng đó.

Trong khoa tâm lý trị liệu ngoài đời, người ta cũng băn khoăn về vấn đề ngã rất nhiều. Có những người đã từng học Phật, rất muốn đem giáo lý đạo Bụt vào trong khoa tâm lý trị liệu. Nhưng họ có những khó khăn vì trong khoa tâm lý trị liệu, người ta cho rằng, phải có cái ngã cho vững chắc thì lúc đó mới khỏi bệnh. Đạo Bụt nói vô ngã, vậy làm sao hòa giải được đạo Bụt và khoa tâm lý trị liệu? “Đạo Bụt nói vô ngã, nhưng bây giờ người ta bệnh thì phải giúp cho cái ngã của họ vững lại trước. Khi cái ngã vững mạnh rồi thì mới thực tập vô ngã.”. Nói như vậy mà nghe được?

Sáng hôm nay, chúng ta có đọc một bài quán nguyện là chúng ta hãy mời tăng thân thở như là một cơ thể. Tăng thân gồm có nhiều cá nhân, nhưng sự thực tập của chúng ta là làm sao để tất cả các cá nhân cùng thở đồng bộ, tất cả đều trở thành một cơ thể (organism). Tất cả những tế bào trong cơ thể là những tế bào riêng biệt, nhưng nó tới với nhau, cộng tác với nhau để làm thành một cơ thể có tính cách một. Đàn ong cũng vậy. Tất cả các con ong hành xử như thế nào mà ta thấy có một sự nhịp nhàng, có hòa điệu, có tính cách một cơ thể.

Tăng thân cũng vậy. Tăng thân thở như một cơ thể, nghe như một cơ thể, thực tập như một cơ thể, trôi như một dòng sông, vượt thoát ý niệm về một cái ngã mơ hồ và vượt thoát được ba loại mặc cảm là tự tôn (hơn người), tự ti (thua người) và bằng người.

Theo đạo Bụt, ta bị bệnh là tại vì ta có mặc cảm. Tại sao ta có mặc cảm? Tại vì tin có cái ngã, rồi ta đem cái ngã đó so sánh với những cái ngã khác. Nếu không tin có ngã, rồi đem cái ngã đó so sánh với những cái ngã khác thì làm gì có mặc cảm? Nếu không tin có ngã thì không có mặc cảm tự ti, mặc cảm tự tôn và mặc cảm bằng người. Đạo Bụt nói có ba loại mặc cảm, nhưng ngoài đời họ nói chỉ có hai loại mặc cảm là tự tôn và tự ti.

Theo các nhà tâm lý trị liệu mặc cảm tự ti (low self-estime) là một cái bệnh. Vì vậy các nhà tâm lý trị liệu chữa trị bằng cách làm cho người bệnh bỏ cái mặc cảm tự ti đi, làm cho cái ngã của người đó mạnh lên một chút, tin vào mình một chút thì sẽ bớt bệnh. Đó là nguyên tắc trị liệu được chấp nhận ở ngoài đời.

Đối với đạo Bụt, mặc cảm tự tôn (high self-estime) cũng là bệnh. Những người tự phụ, tự hào, cho mình hơn người, những người đó rất là khó chịu. Những người đó gây đau khổ cho mình và cho người rất nhiều. Trong đạo Bụt, mặc cảm tự tôn cũng là bệnh. Đạo Bụt còn đi xa hơn, mặc cảm bằng người cũng là bệnh.

Nhìn vào bàn tay mình, ta thấy có năm ngón, có ngón dài, ngón ngắn, ngón được đeo nhẫn, ngón không được đeo nhẫn. Nhưng năm ngón tay không có mặc cảm. Ngón này không có mặc cảm, tại sao tôi nhỏ hơn ngón kia, tại sao tôi đứng út còn anh đứng đầu, tại sao tôi không được đeo nhẫn như anh. Ngón nhỏ không có mặc cảm tự ti tại vì nó không thấy nó là một cái ngã riêng. Nó thấy nó là một phần của bàn tay. Nó thấy nó là bàn tay. Nó thấy ngón đeo nhẫn là nó mà ngón giữa, ngón đầu cũng là nó. Nó có tuệ giác gọi là vô ngã. Vì vậy cho nên nó hạnh phúc vô cùng. Nó không có bệnh, không có bệnh tự ti, không có bệnh tự tôn và cũng không có bệnh bằng người khác.

Sự thật là khi nào chúng ta tin có một cái ngã, rồi đem cái ngã này so sánh với cái ngã kia thì ta mới có mặc cảm, hoặc tự ti, hoặc tự tôn, hoặc bằng người. Nếu thấy được vô ngã thì ta thoát hết tất cả bệnh. Trong đạo Bụt, cách trị liệu mặc cảm là thoát được ý niệm về ngã (I am). Cái “ngã” là cái rất nguy hiểm.

Sáng nay, trong khi ngồi thiền chúng ta thực tập: Thở vào, tôi thấy sự có mặt của tất cả tổ tiên của tôi trong từng tế bào cơ thể tôi. Thở ra, tôi thấy các tổ tiên của tôi trong từng tế bào của tôi đang mỉm cười với tôi. Thực tập như vậy để thấy mình không phải là cái ngã riêng, mình chẳng qua là sự tiếp nối của tổ tiên thôi. Mình là tổ tiên của mình. Đó là một trong những cách thực tập, một phương pháp gọi là quán tưởng (visualiser), quán chiếu (le regard profond) để thấy rõ ràng ta là cái gì? Ta là một hợp thể. Ta được làm bằng tổ tiên, dòng họ, đất nước, văn hóa, cơm gạo, giáo dục. Ngoài những cái đó làm gì có cái ta riêng biệt? Mình chính là tổ tiên mình, mình chính là dân tộc mình, mình chính là nền giáo dục, nền kinh tế của đất nước mình.

Cũng giống như ngón út, nó không phải là một thực tại cách biệt với những ngón khác. Nó với ngón đeo nhẫn cũng là một, nó với ngón giữa cũng là một. Nó không có sự có mặt riêng biệt. Quán chiếu về vô ngã là phương pháp trị bệnh sâu sắc nhất, hợp lý nhất. Khi chúng ta có cái thấy về vô ngã rồi thì cái chết, cái sống, cái còn, cái mất, không có động gì tới ta được và ta không còn lo sợ nữa.

Thật ra cái chết, cái sống đang xảy ra trong từng giây từng phút. Nhìn vào cơ thể của mình, chúng ta thấy có những tế bào đang chết, có những tế bào đã chết. Khi chúng ta gãi thì có rất nhiều tế bào, có hàng ngàn tế bào chết rơi xuống đất, những tế bào đó ngày xưa là tế bào sống. Luôn luôn có những tế bào chết đi để cho những tế bào khác sinh khởi. Sinh diệt xảy ra trong từng phút giây. Cái diệt của tế bào này có thể là điều kiện cho cái sinh của tế bào khác và luôn luôn tiếp nối nhau.

Khi nhìn lá mùa thu rụng xuống, chúng ta thấy giống như là lá chết. Nhưng nhìn từ khía cạnh khác thì ta thấy lá đang hiến tặng đất. Cây nhờ đất mà sống và tiếp nhận nơi đất rất nhiều. Nhưng tới mùa thu thì cây trả lại cho đất rất nhiều. Bao nhiêu lá rụng để cho đất màu mỡ thêm và đất màu mỡ đó sẽ nuôi cây trong tương lai. Cái chết, cái sống đó không đụng tới cây vì vậy lá không phải chết mà lá chín, lá chín rụng xuống. Mình thấy mình là tờ lá, mình đã nuôi cây trong suốt thời kỳ mình còn ở trên cành, bây giờ rụng xuống, mình vẫn tiếp tục nuôi cây. Cái chết của tờ lá không động tới được tờ lá.

Tất cả các vấn đề còn kẹt của khoa học, của triết học, của nhân sinh đều có thể giải quyết được bằng tuệ giác vô ngã. Rất là hay! Không có vấn đề gì mà không giải quyết được bằng tuệ giác vô ngã. Các nhà khoa học đang hé thấy lý vô ngã, có điều là không áp dụng được vào đời sống hằng ngày của họ. Nếu áp dụng được cái thấy vô ngã trong sự tìm hiểu của họ thì họ sẽ không còn đau khổ nữa. Họ cũng chứng đạo được như những người biết tu tập, quán chiếu.

Trong bài thực tập của chúng ta:

Để Bụt thở, để Bụt đi
Mình khỏi thở, mình khỏi đi

Ta bắt đầu bằng sự công nhận có Bụt, có mình, có ngã, có đi, giống như chủ trương của Độc Tử Bộ. Thở khác, đi khác, Bụt khác, ta khác, cái này nằm ngoài cái kia. Nhất là khi ta làm biếng, thở mãi, đi hoài thấy mệt. Đây là phương tiện quyền xảo. Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi. Ta có thể thấy Bụt là một phần của ta, cái phần hay của ta. Trong chúng ta có hai phần, phần dở thì làm biếng, phần hay là Bụt. Ta để Bụt thở, để Bụt đi. Khi để Bụt thở thì Bụt thở rất là hay, khi để cho Bụt đi thì Bụt đi rất là hay. Ta có cảm tưởng là ta khỏi làm gì hết và ta được hưởng phẩm chất của hơi thở và bước chân đó. Câu thứ hai là:

Bụt đang thở, Bụt đang đi

Mình được thở, mình được đi

Hai câu đó tạo ra một cái gì rất mầu nhiệm, rất dễ chịu. Anh chàng làm biếng không làm gì hết mà bây giờ được hưởng phẩm chất của hơi thở, của bước chân. Bụt không thở thì thôi, ngài thở thì thở rất hay. Bụt không đi thì thôi, khi đi ngài đi rất an lành. Cứ để Bụt thở, để Bụt đi, mình chỉ theo hưởng thôi, mình được thở, mình được đi. Nhưng khi tới câu thứ ba thì sự tình khác hẳn:

Bụt là thở, Bụt là đi
Mình là thở, mình là đi

Đến bài kệ thứ ba này thì ta đi thẳng vào trong tuệ giác vô ngã. Làm gì có Bụt riêng ngoài hơi thở thần diệu đó. Chính nhờ hơi thở nhẹ nhàng, êm dịu, chính nhờ bước chân thanh thản, vững chãi, thảnh thơi mà ta nhận diện được đó là Bụt. Ngoài hơi thở kia, ngoài bước chân kia thì tìm Bụt không có. Cái có thật là hơi thở rất đẹp, là bước chân rất vững. Ta nhận diện được sự có mặt của Bụt trong hơi thở đó, trong bước chân đó.

Sau khi nhận diện được mình là hơi thở, mình là bước chân, không có cái mình ngoài hơi thở và bước chân thì mình đi tới sự khẳng định:

Chỉ có thở, chỉ có đi
Không người thở, không người đi

Hai câu đó rất rõ ràng, rất trung thực với giáo lý nguyên thỉ của Bụt. Chỉ có thở, chỉ có đi (đủ mầu nhiệm rồi), không người thở, không người đi. Tại vì cái thởcái đi có thật, còn cái Bụt cái mình là những giả danh. Nó là mười hai xứ, là mười tám giới. Tất cả đều sinh khởi, đều biểu hiện trên căn bản của năm uẩn. Chỉ có ngũ uẩn là có thiệt còn mười hai xứ, mười tám giới đều là những biểu hiện, những giả danh. Danh từ Bụt, danh từ mình đều là như vậy. Bông hoa đẹp tuyệt vời đó giống như Bụt, giống như mình, giống như cái ngã, nó có đó nhưng nó là giả danh. Ngoài những yếu tố làm thành bông hoa thì không thể nào có bông hoa. Nhìn vào bông hoa, mình thấy có cái thật và có cái giả. Bông hoa là cái giả, những điều kiện đưa tới sự biểu hiện của bông hoa là cái thật. Đó là chủ trương của tông phái thứ tư là Hiện thông giả thật. Tức là chỉ có hiện tại đang có mà thôi. Các pháp hiển bày trong hiện tại, có cái là giả, có cái là thật. Cái thật là năm uẩn, cái thật là nhân duyên. Cái giả là những tướng. Tướng gì? Tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tướng tôi, tướng anh, tướng người…, những tướng đó khác nhau. Đó gọi là giả. Chúng ta đi tới tông thứ năm là:

5. Tục vọng chân thật

Tục vọng chân thật nghĩa là đứng về phương diện sự thật tương đối thì tất cả sự vật đều là hư vọng, nhưng đứng về phương diện sự thật tuyệt đối thì tất cả mọi vật đều có thật. Trong đạo Bụt, chúng ta thấy có hai loại sự thật hay hai loại chân lý: một sự thật tương đối, gọi là tục đế (samvrti-satya) và một sự thật tuyệt đối, gọi là chân đế (paramārtha-satya).

Ví dụ như chúng ta đang ngồi đây và nghĩ rằng: phía này ở trên (above) còn phía kia ở dưới (below). Nhưng sự thật đó chỉ là sự thật tương đối thôi. Những người Việt Nam ngồi thiền bên kia bán cầu thì đang ngồi trút ngược lại. Họ gọi là phía dưới cái mà ta cho là phía trên, và gọi là phía trên cái mà ta cho là phía dưới. Quả địa cầu tròn, người ngồi ở đây thì cho cái này là trên, cái kia là dưới còn người ngồi bên kia thì cho cái này là dưới, cái kia là trên. Sự thật đó là sự thật tương đối. Chúng ta có thể bị đánh lừa bởi nhận thức, bởi cảm giác của mình. Bởi vậy cho nên những cái thuộc về sự thật tương đối (conventional) chỉ là vọng. Vọng là sai lầm, là không có thật. Sự thật là vũ trụ không cần có trên, có dưới. Trên, dưới là trên, dưới cái gì?

Cũng như vào buổi sáng chúng ta thấy đám mây sanh ra, giống như nó từ chỗ không mà trở thành có. Khi đám mây biến thành mưa, nó không còn nữa thì ta nói là đám mây chết đi. Cái sinh và cái diệt của đám mây chỉ là một sự thật tương đối (tục đế). Nhìn kỹ, đám mây không có sinh, không có diệt. Tại vì trước khi là đám mây, nó đã là hơi nước, nó đã có rồi. Có rồi thì đâu cần sanh ra nữa. Sanh ra có nghĩa là từ chưa có mà sanh ra. Ở đây, nó đã có dưới một hình thức khác. Trong không khí ta thở có hơi nước, và khi hơi nước gặp phải một luồng khí lạnh thì trở thành sương mù hay thành mây. Nó không phải từ không mà trở thành có, nó đã có sẵn rồi nhưng ta không thấy được đó thôi. Bây giờ nó hiện ra thì đó chẳng qua chỉ là một sự tiếp nối thôi. Vậy thì đám mây mà ta thấy có sinh có diệt đó là hư vọng, là chân lý tương đối. Sự thật là đám mây không có sinh không có diệt, đó là chân lý tuyệt đối.

Bản thân của chúng ta cũng vậy. Bản thân của ta dường như là có sinh ra và có chết đi. Ta sống với sự thật đó và ta đau khổ vì sự thật đó. Nhưng nếu ta tiếp xúc được với sự thật thứ hai nằm sâu hơn thì ta thấy mình không sinh cũng không diệt. Người thương của ta mà ta tưởng đã chết đi rồi cũng không mất đi đâu hết. Người đó đang có mặt một cách khác. Cũng như đám mây không có mặt như một đám mây nhưng nó đang có mặt dưới dạng một dòng suối, vì đám mây không bao giờ từ có mà trở thành không và cũng không bao giờ từ không mà trở thành có.

Những ý niệm như sinh ra, diệt đi, có trở thành không, không trở thành có… những ý niệm đó thuộc về thế giới gọi là sự thật tương đối hay tục đế. Những cái thuộc về sự thật tương đối mà mình thấy đó là hư vọng, không có thật (illusoire). Chỉ khi nào mình tiếp xúc được với chân đế (paramarthā) của sự vật thì nó mới là thật thôi. Đó là chủ trương Tục vọng Chân thật. Đây là chủ trương của một trong mười bộ phái và được đại diện bởi phái Thuyết Xuất Thế Bộ, tiếng Pali là Lokuttaravāda.

Đi sâu vào chủ thuyết của Thuyết Xuất Thế Bộ ta thấy gì? Ta thấy dường như tông phái này chia giáo lý Tứ Đế (bốn sự thật) đó ra làm hai nhóm: khổ đế và tập đế thuộc về vọng, diệt đế và đạo đế thuộc về chân. Những phiền não, khổ đau, luân hồi, tất cả đều do vô minh mà ra. Sống trong thế giới này là sống trong thế giới của hư vọng, thế giới không có thật, gọi là tục vọng. Nhưng khi sang “diệt”, tức là Niết Bàn, thì không sinh, không diệt, không tới, không đi, không có, không không, không còn, không mất, và con đường đi tới cái thấy đó gọi là thế giới của chân thật hay chân đế. Họ chia tứ đế làm hai: thế giới của hư vọng (tục đế) và thế giới của chân thật (chân đế). Đây là một cái thấy.

Cái thấy thứ hai là thuyết Tục vọng Chân thật đi tiên phong cho những tư tưởng Đại Thừa sau này. Khi tâm mình là vọng tâm thì đối tượng của vọng tâm là cảnh giới hư vọng. Vọng tâm là nương vào sự thật gọi là tương đối như có trên, có dưới, có trong, có ngoài, có chết, có sống, có trước, có sau. Khi vọng tâm được lọc thành ra chân tâm thì đối tượng của nó từ cảnh giới hư vọng biến thành cảnh giới chân thật hay là chân như.

Đứng về phương diện nhận thức thì có hai loại. Nhận thức sai lầm gọi là vọng tâm và khi có nhận thức sai lầm thì những gì ta nghe, ta thấy, ta sờ mó đều là giả hết. Chúng ta cũng thấy đám mây như người ta vậy nhưng đám mây của ta là giả. Người kia có trí tuệ, có tuệ giác, cũng thấy đám mây nhưng đám mây của ông ta là thiệt. Vọng tâm sinh ra vọng cảm, chân tâm sinh ra chân cảm.

Có thể ta đang sống trong một giấc mơ. Chúng ta thấy có người tới giết mình, ta thấy con dao. Người đó đè ta, đạp chân lên ngực ta, đưa dao vào cổ ta. Ta tin là có thật rõ ràng, và ta lo lắng, ta sợ hãi, ta buồn khổ tiếp tục. Kỳ thực đó chỉ là một giấc mơ. Cho nên ta phải tự hỏi là ta đang sống trong giấc mơ hay trong sự thật, và làm thế nào để thức dậy. Thức dậy được thì những đau khổ, phiền não, sợ hãi đó sẽ hết, và ta đi vào thế giới của hiện thực. Vì vậy cho nên đạo Bụt được gọi là đạo tỉnh thức. Đạo tỉnh thức (The Teaching of Awakening) là con đường giúp cho ta tỉnh dậy, đừng tiếp tục có những giấc mơ đầy những đau buồn, sợ hãi, lo lắng, tuyệt vọng.

Tuy là chỉ có bốn chữ Tục vọng Chân thật (nếu là tục đế thì gọi là vọng, nếu là chân đế thì gọi là thật) nhưng nó có rất nhiều những tư tưởng căn bản uyên áo mà sau này Đại Thừa sẽ sử dụng.

Chủ thuyết này dường như chống đối với chủ thuyết Ngã vô Pháp hữu của Hữu Bộ. Hữu Bộ nói tất cả pháp đều có, quá khứ, hiện tại, vị lai đều có thật. Thuyết Tục vọng Chân thật của Thuyết Xuất Thế Bộ nói: Các pháp đứng về phương diện tục đế thì không có, là hư vọng. Nhưng đứng về phương diện chân đế thì nó có thật. Chủ thuyết thứ sáu là:

6. Chư pháp đản danh

Chư pháp đản danh, nghĩa là các pháp chỉ có danh từ thôi chứ không có thật. Bộ phái chủ trương giáo lý này là Nhất Thuyết Bộ (Ekavyāvahārika). Chỉ có danh từ thôi là duy danh (nāmamātra), chủ nghĩa duy danh. Có chế độ mà ngưòi ta nói độc lập, phồn thịnh, giàu sang, hạnh phúc nhưng nó chỉ có danh từ thôi, trong khi đó thì dân vẫn đói, vẫn nghèo, vẫn khổ. Chỉ có ăn danh từ mà, gọi là duy danh chủ nghĩa. Có danh mà không có thật.

Chúng ta thấy, Thuyết Xuất Thế Bộ trái chống với thuyết Chư pháp đản danh của Nhất Thuyết Bộ, vì họ chủ trương: chư pháp nếu nhìn trên phương diện tục đế thì không có thật, nhưng đứng về phương diện chân đế thì nó có thật.

Có một điều chúng ta phải ghi nhớ trong khi học về giáo lý của những tông phái này là mình đừng để bị lừa bởi những chủ thuyết khác nhau, rồi chọn cái này là đúng, cái kia là sai. Các tông phái đều cùng nói một chuyện, nhưng họ nói một cách khác nhau. Người thì nhấn mạnh khía cạnh này, người thì nhấn mạnh khía cạnh khác. Giáo lý nào cũng có pháp môn tu học và cũng thành công hết.

Ví dụ Hữu Bộ chủ trương Ngã vô pháp hữu trong khi Độc Tử Bộ chủ trương Ngã pháp câu hữu thì giống như nó chống nhau như là mặt trời mặt trăng vậy. Nhưng nhìn kỹ thì thấy bên nào cũng hay lắm chứ không phải là thuyết ngã pháp thông thường, vì vậy người ta cũng tu và cũng chứng được. Chúng ta đừng nói rằng: “Anh chủ trương như vậy là trật rồi. Tu theo kiểu của anh thì không thể nào chứng đạo được”.

Đứng về phương diện lý thuyết chúng ta hay có khuynh hướng như vậy. Tông phái đạo Bụt nào cũng có sự thật trong đó, chỉ khác nhau ở chỗ nhấn mạnh mà thôi. Tôi nhấn mạnh chỗ này, anh nhấn mạnh chỗ kia. Chúng ta thấy như là chống nhau nhưng thực ra không phải như vậy. Ta phải nhớ điều này. Đừng kỳ thị, đừng chọn lựa! Trước sau nó cũng chỉ là lý thuyết thôi, điều quan trọng là sự thực tập.

Hôm Noël chúng ta đã nói về chủ đề Quê hương, tức là True home. Gọi là quê hương tại vì ai cũng muốn về căn nhà đích thực của mình. Trong bài kệ nghe chuông chúng ta đọc: Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông mầu nhiệm đưa về quê hương. This wonderful sound brings me back to my true home. Ai cũng ước mong tìm ra được quê hương đích thực của mình. Khi ta về nhà, về tới cái nhà của chính mình rồi thì ta thấy thoải mái và không muốn đi đâu nữa. Trong buổi pháp thoại đêm Noël chúng ta có nói, true home, quê hương đích thực của mình không hẳn nằm trong không gian. Không phải là ta đi xe hơi hay máy bay mới về tới nhà, đó không phải là quê hương đích thực. Cố nhiên là khi xa nhà thì ta thiếu thốn những tiện nghi mà ta đã quen. Đi lâu quá cũng mệt và ta mong trở về nhà. Trở về rồi thì ta hạnh phúc lắm, ta nói: Home, sweet home. Nhưng mà ở đâu được vài ba tuần thì ta hết hạnh phúc và ta muốn đi nữa. Như vậy, cái mà ta gọi là home, sweet home chưa phải là true home, có phải không vậy? Nếu là true home thì tại sao muốn đi nữa? True home không nằm trong không gian, trong thời gian, nó là phi cục bộ tức là non local, non local là danh từ khoa học bây giờ.

Chúng ta tu tập cũng là để tìm ra true home của mình, quê hương đích thực của mình. Trong khi đi tìm quê hương đích thực thì ta có cảm tưởng là ta đã tìm ra được ta rồi, bây giờ ta chỉ cần tìm ra quê hương thôi. Kỳ thực, ta chưa tìm ra được ta. Nếu ta đã tìm ra được ta rồi thì ta khỏi phải cần tìm quê hương. Hai cái là một. Tại ta chưa biết ta là ai nên không bao giờ ta có một quê hương đích thực được hết. Ta vẫn làm thân cùng tử (aprodigal son). Ta vẫn đi vòng vòng, đi kiếm quê hương. Ai là người đi kiếm quê hương? Ta là ai, ta chưa biết? Vì vậy ta đi tìm ta, tìm ra được mình thì ta tự nhiên có quê hương.

Phạm Duy, trong một bài nhạc, có viết câu: “Trăng ơi im lặng suốt đời. Mà sao ta lại đứng ngồi không yên?”. Rất là tội! Đó là nói ra sự thật con người chúng ta. Chúng ta chưa tìm ra được con người của chúng ta. Chúng ta chưa biết chúng ta là ai, chúng ta còn thao thức đi tìm. Chúng ta nghĩ là cái mình tìm đó, nó ở ngoài kia, mình không có nó nên mình thao thức đi tìm. Sáu mươi, bảy mươi, tám mươi tuổi rồi mà vẫn không tìm ra được. Chỉ cần nghe hát vài câu thì ta biết tâm trạng của người nghệ sĩ: “Trăng ơi im lặng suốt đời. Mà sao ta lại đứng ngồi không yên?”. Đứng ngồi không yên là tại vì chưa tìm ra được quê hương đích thực của mình.

Khi đến Làng Mai thầy chỉ cho ta cách đi quê hương đích thực của mình. Thầy nói rằng: Quê hương đích thực của mình nằm trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Nghe nói cũng dễ quá! Ta có cảm tưởng ta có thể làm được nhưng cứ loay hoay hoài vẫn chưa làm được.

Hãy tưởng tượng ta là một em bé thường đi với mẹ trên hè phố, ngang qua một tiệm bánh. Nhìn vô thấy nhiều cái bánh hấp dẫn quá! Ước gì có một bữa đó, tất cả mọi người đều đi vắng hết, mình một mình vô trong tiệm bánh đó và mình muốn ăn cái nào thì ăn. Đó là ý muốn của một đứa con nít. Nhưng hãy tưởng tượng, ta cho phép em bé đi vào trong đó và muốn chọn ăn cái nào thì ăn, thì em bé chưa chắc có khả năng ăn hết những cái bánh đó. Nó thấy nhiều quá, không biết ăn cái gì? Rất là khó! Nếu có má đi theo nói: ”Con muốn ăn cái nào, má mua cho con hai cái”, thì rất dễ. Mua hai cái đó về ăn rất là ngon. Nhưng nếu đứng trước một sự thật là muốn ăn cái nào cũng được hết thì không biết cô (chú) bé đó làm thế nào? Nó rất bối rối, không biết phải làm gì? Nó không có sự yên tĩnh, không có khả năng ăn bánh ngon nữa. Nhất là khi em bé đi vô tiệm bánh với hai, ba đứa khác. Lúc đó có sự ganh tị: “Chà, mình phải tìm ra cái bánh ngon ăn trước, không thôi nó ăn trước của mình”. Từ đó sinh ra chuyện đánh nhau, ganh tị nhau trước khi mấy đứa được ăn bánh. Có xảy ra chuyện như vậy.

Trong kinh có nói tới chuyện một anh chàng ngốc, một anh khờ, anh ta khát nước. May mắn quá, anh tới một dòng sông, anh nói:”Nước sao mà nhiều quá! Làm sao tôi uống cho nổi?”. Rốt cuộc thì anh không uống nước và anh chết khát bên dòng sông. Ta chê trách anh chàng đó! Nhưng nhìn kỹ lại bản thân của ta thì ta cũng không khôn hơn anh chàng đó bao nhiêu.

Đến Làng Mai, thầy dạy cho mình bài hát: “Thức dậy hôm nay, em thấy trời xanh. Chắp tay, em cám ơn đời mầu nhiệm, cho em hai mươi bốn giờ tinh khôi, cho em bầu trời bao la…”; rồi mỗi buổi sáng thức dậy, ta phải thực tập đọc bài kệ:

Thức dậy miệng mỉm cười
Hai mươi bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn

Hai mươi bốn giờ tinh khôi đó có khác gì một tiệm bánh đâu? Có biết bao nhiêu là bánh ngon. Thức dậy, trước mặt mình có hai mươi bốn giờ để sống. Toàn là những sự sống mầu nhiệm trình bày trước mặt mình: chim hót, thông reo, hoa nở. Bao nhiêu là giây, bao nhiêu là giờ, hai mươi bốn giờ lận, đâu phải ít. Nếu biết như vậy thì ta sống hai mươi bốn giờ đó rất là hạnh phúc giống như cậu bé đi vô tiệm bánh, muốn ăn gì thì ăn. Một bài kệ thôi, thức dậy ta phải đọc: Thức dậy miệng mỉm cười. Tại sao miệng mỉm cười? Tại vì thấy mình đang còn sống. Trước mặt ta có hai mươi bốn giờ tinh khôi để sống và để tiếp xúc với biết bao nhiêu là mầu nhiệm của sự sống. Người nào trong chúng ta thức dậy mà không có được hai mươi bốn giờ? Chúng ta đều bình đẳng, ai thức dậy cũng có hai mươi bốn giờ tinh khô. Nhưng chúng ta có biết quản lý hai mưoi bốn giờ tinh khôi đâu! Chúng ta có biết sống, có biết thưởng thức từng giây phút của hai mươi bốn giờ tinh khôi không? Thường thường chúng ta làm hư hai mươi bốn giờ này tới hai mươi bốn giờ khác vì những vụng về, tham lam, dại dột của chúng ta.

Tới Làng Mai, Thầy và tăng thân hiến tặng cho mình cái quí nhất có thể hiến tặng được tức là Tịnh độ hiện tiền (Kingdom of God). Có món quà nào lớn hơn Tịnh độ hiện tiền không? Cõi mầu nhiệm với tất cả những hiện tượng mầu nhiệm đó, chỉ cần có chánh niệm thôi là ta sống được từng giờ, từng phút hạnh phúc. Cái mà ta đi tìm là nó đó (this is it). Cái mà anh đi tìm, nó nằm sờ sờ đó. Cái quê hương đích thực mà anh đi tìm là cái đó, là cái nớ, anh có thể sờ mó, tiếp xúc ngay trong giây phút hiện tại. Thức dậy một cái là ta có thể làm được rồi. Nhưng tại sao ta không làm? Chúng ta hành xử như một em bé đi vào trong tiệm bánh, thấy có nhiều bánh quá không biết ăn cái nào, rốt cuộc nó khóc đi ra. Tại vì không có mẹ, mẹ nói: “Con chỉ ăn được một cái thôi!”. Mẹ cho ta ăn một cái thì ta có thể hạnh phúc được. Còn nhiều cái quá, ta ăn không nổi, ta không có khả năng có hạnh phúc để ăn. Sự thật là như vậy.

Chúng ta sinh ra trên trái đất này, trên cuộc đời này với bao nhiêu là sự mầu nhiệm. Trong bản thân ta đầy những mầu nhiệm, xung quanh ta đầy những mầu nhiệm, nhưng ta than khóc, buồn khổ, lo lắng, ganh tị, có phải là ta dại không? Nhận thức của ta là nhận thức hư vọng nên thế giới của ta là thế giới khổ đau. Cho nên phải cần có một nhận thức sâu sắc, phải có nhận thức về vô thường. Phải thấy được sự thật không phải qua cái lo lắng, buồn khổ, thèm khát của mình. Phải thấy được sự thật bằng chân tâm của mình thì lúc đó hạnh phúc có thật và quê hương đích thực của mình có thật. Tây phương cũng đã có câu: Connais toi toi même. Mình phải biết tự mình. Ta còn chưa biết ta là ai!

Hôm trước, trong bài pháp thoại, chúng ta có nói một câu: Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông. Tại vì sao? Tại vì dòng sông liên tục biến chuyển. Ta xuống tắm, đi lên rồi đi xuống thì đã là dòng sông khác rồi, nước mà ta tắm đã trôi đi rồi. Sự thật dòng sông là vô thường. Dòng sông có tên của nó, nó có tên Mississipi, có tên Garonne, có tên Seine, nó tồn tại. Nhưng kỳ thực bản chất của dòng sông thay đổi trong từng phút, từng giây, chỉ có cái tên là tồn tại. Có tông phái chủ trương: Chỉ có tên thôi, sự thật nó là ảo vọng hết. Mình nói sông Seine như là nó đã có từ hàng ngàn năm rồi, hàng trăm ngàn năm rồi. Cái tồn tại là cái tên của sông Seine, còn nước của sông Seine thì mỗi giờ, mỗi phút đều khác. Chủ trương của tông phái Nhất Thuyết Bộ cũng đúng: Chỉ có tên thôi (nāmamātra). Chủ nghĩa duy danh là chỉ có tên thôi, không có thật.

Dòng sông đã như vậy rồi mà người tắm, người xuống sông tắm cũng là duy danh. Người tắm cũng là một dòng sông. Có năm dòng sông: Dòng sông sắc (thân thể), dòng sông cảm thọ, dòng sông tri giác, dòng sông tâm hành, dòng sông nhận thức. Có năm dòng sông trong ta, năm dòng sông của ta cũng biến chuyển từng giây, từng phút. Vì vậy cho nên dòng sông biến chuyển mà người xuống tắm trong dòng sông cũng biến chuyển. Dòng sông có thể than phiền: Ông đó không bao giờ xuống tắm trong lòng tôi đến hai lần. Tại vì ông đó cũng biến chuyển, ông xuống tắm được một lần thôi. Khi lên thì đã thành người khác rồi, ông xuống thì đâu còn là người đó nữa. Sự thật là dòng sông cũng vậy mà người xuống tắm cũng vậy, phải thấy được hai cái. Đừng nói mình là người xuống tắm thì mình vẫn là mình, chỉ có dòng sông thay đổi thôi, điều đó không đúng.

Ở đây cũng vậy, trong chúng ta có người đi tìm quê hương, ta tưởng ta không có quê hương. Chúng ta nghĩ, mình thì đã có rồi, mình chỉ cần đi tìm quê hương thôi. Quê hương là cái mà chúng ta cần tìm còn chúng ta thì chúng ta tìm ra được rồi. Cái đó sai! Chúng ta chưa tìm ra được chúng ta, chúng ta phải làm như người xưa nói: Connais toi toi même. Mình chưa biết mình là ai đâu! Khi mình chưa biết mình là ai thì làm sao mình tìm ra quê hương? Quê hương của ai?

Ngày hôm qua, tôi đi thiền hành một mình. Trước hết, tôi đi cho ba tôi, mỗi bước chân đều đi cho ba hết. Quí vị có khi nào đi thiền hành cho ba chưa? Để cho ba đi bằng hai chân của mình. Tội nghiệp, ngày xưa ba đâu có thì giờ nhiều, không bước đi được những bước đã về, đã tới, thảnh thơi. Cho nên bây giờ, mình đi cho ba, chân này cũng là chân của ba. Đứng về phương diện di truyền thì chân này cũng là chân của ba. Mình đi bằng chân của ba mà mình không biết. Bây giờ mình để cho ba đi bằng chân của mình. Có một buổi nào, quí vị đi thiền hành, dành trọn một buổi đi cho ba, tội nghiệp ba! Phải đi như thế nào để ba trong từng tế bào của cơ thể mình có được thảnh thơi, có được hạnh phúc. Đó là có hiếu, chứ không phải làm cỗ cúng ê hề mới gọi là hiếu. Ba đang có mặt trong mỗi tế bào của cơ thể mình. Nếu mình đi được những bước thảnh thơi, đã về, đã tới thì ba trong từng tế bào cơ thể cũng thảnh thơi, đã về, đã tới. Dành một buổi đi cho ba thôi. Ba ơi! Ba đi bằng hai chân con đi! Mà chân này cũng là chân ba đó! Tự nhiên mình thấy rõ ràng mình là ba. Trước đó mình nói: Mình là mình, ba là ba. Sự thật, nếu mình đang trên con đường đi tìm mình thì mình phải quán chiếu theo lời Bụt dạy: mình là ba, mình là ông nội, mình là mẹ, mình là bà ngoại. Đó là con đường đi tìm mình, tại vì trong đạo Bụt có danh từ tương tức (inter-être). Mình là mình, nhưng kỳ thực mình cũng là ba, là mẹ, là ông nội, là bà ngoại. Khi thấy rõ như vậy rồi thì mình biết mình là ai. Muốn biết mình là ai thì phải quán chiếu duyên sinh.

Giáo lý Hoa Nghiêm đã phát triển giáo lý về duyên sinh tới mức tuyệt hảo. Khi thực tập theo Hoa Nghiêm, chúng ta phải thực tập quán chiếu duyên sinh.

Đi thiền hành cho cha, mình làm cha sống dậy, mình thấy mình là cha, và mình thoát ra khỏi cái vỏ bản ngã mà mình bị giam hãm trong đời sống hằng ngày.

Rồi mình để một buổi thiền hành trọn vẹn cho mẹ. Tội nghiệp mẹ! Mẹ lo lắng, tất tả ngược xuôi suốt ngày nuôi chồng, lo cho con, chưa có cơ hội nào đi được thảnh thơi như mình. Mình ngày nào cũng được đi thiền hành, được thầy dặn đi đâu cũng đi theo kiểu thiền hành, mỗi bước phải về, mỗi bước phải tới, cho rã ra những lo lắng, buồn khổ. Mình đi cho mẹ đi! Tội nghiệp mẹ! Mẹ có mặt trong từng tế bào cơ thể mình. Đi cho mẹ đi! Đi bằng tất cả thương yêu, đó là có hiếu! Mẹ đâu phải chỉ ở ngoài, mẹ ở trong mình nữa. Đi cho mẹ một buổi đi, chỉ đi cho mẹ thôi, bước nào cũng thấy mẹ đang đi. Mẹ thấy hạnh phúc nhờ mình tu, nhờ mình đi cho nên mẹ được đi. Trong sự liên hệ đó, mình bắt đầu thấy được mình rõ ràng hơn. Mình thoát ra khỏi ý niệm về cái ta rất là nhỏ hẹp. Trước đó mình nói: Mẹ là mẹ, mình là mình. Bây giờ mình thấy được sự tương tức: Mẹ là mình, mình là mẹ.

Thật ra, nếu đọc Thánh kinh cho kỹ ta cũng thấy có giáo lý tương tức. Nhưng trong đạo Bụt giáo lý tương tức được diễn bày rất rõ ràng. Ngày hôm qua, tôi đi cho em trai của tôi, em trai của tôi đã mất. Ngày xưa, hai anh em đi chơi với nhau rất vui. Tôi nhớ lại và nói: “Em đi bằng hai chân của anh đi!” Và tôi đi cho em trai, thấy rõ ràng là mình không phải là cái ta bé nhỏ. Ta có thể đi cho thầy A Nan, thầy Xá Lợi Phất, đi cho Đức Thế Tôn. Và ta vì tình thương mà đi, đi bằng tuệ giác. Đi như vậy thì tuệ giác càng ngày càng sáng.

Hồi còn bé, có khi ta làm biếng ăn. Mẹ ta hay chị ta đôi khi phải dụ ta: “Con ăn một miếng cho ba!”. Thôi được! Ta không muốn ăn, nhưng ta cũng ăn một miếng cho ba. Rồi họ dụ tiếp: “Con ăn một miếng cho má!”. Ta mở miệng ra ăn một miếng cho má. Tại vì thương mà ăn, chứ ta đâu có muốn ăn.

Bây giờ đi thiền hành cũng vậy. Ta đâu có muốn đi thiền hành. Bây giờ ta đi cho ba, vì thương ba mà ta đi thiền hành. Ai ngờ trong khi đi, ba được hạnh phúc thì ta cũng được hạnh phúc. Để Bụt thở, để Bụt đi, mình được thở, mình được đi, có hay không? Câu trả lời của Bụt rất đơn giản. Đi tìm mình là như vậy. Phải quán chiếu để thấy tất cả những yếu tố, những nhân duyên tụ hợp lại để cho mình phát hiện. Thấy được cái đó là thấy được mình. Còn trước khi thấy được cái đó thì mình chỉ là một giả danh mà thôi, một giả danh như sông Seine, sông Garonne. Tưởng tượng một cái ta riêng biệt, độc lập ngoài những điều kiện, những duyên khởi là rõ ràng bị kẹt vào cái ngã. Cái ngã đó là vọng. Sở dĩ mình là vọng là tại vì mình nhìn bằng con mắt tục đế. Vì mình nhìn bằng con mắt tục đế nên thế giới của mình là thế giới vọng, thế giới của mình vẫn là một giấc mơ. Vì là giấc mơ nên không có gì là thật hết. Những khổ đau, những hạnh phúc của mình đều không có thật. Những lo lắng, sầu khổ đều là giả hết, đó là giấc mơ.

Muốn thoát ra khỏi chân lý tương đối đó, ra khỏi nhận thức cạn cợt đó thì phải quán duyên khởi để có được nhận thức đúng đắn về duyên sinh. Khi nhận thức đứng đắn rồi thì sự thật hiển lộ, mình tỉnh dậy, giấc mơ chấm dứt. Còn chúng ta, dù ít nhiều gì cũng đang xoay sở, cựa quậy, vùng vẫy trong giấc mơ của chúng ta. Có khi quí vị đang nằm mơ thấy ác mộng và đang vùng vẫy để thoát ra, có thể mình đang ở trong giấc mơ. Muốn thoát khỏi giấc mơ thì phải quán chiếu, quán chiếu duyên sinh thì tự nhiên cái tục thành cái chân, vọng tâm trở thành chân tâm. Ta thấy rõ ràng là cái mình muốn tìm nằm sờ sờ đó (this is it).

Ngũ giáo, thập tông là những chủ trương của tông Hoa Nghiêm, đó là cách tông Hoa Nghiêm nhìn và phân tích các hệ thống giáo lý trong đạo Bụt.

Trong Kim Sư Tử Chương chỉ có ngũ giáo nhưng chúng ta học thêm thập tông. Thập tông cũng là chủ trương của tông Hoa Nghiêm. Năm giáo tức mười tông, năm giáo là sự tóm tắt của mười tông. Mười tông của tông Hoa Nghiêm mô phỏng theo tám tông của thầy Khuy Cơ. Thầy Khuy Cơ là đệ tử của thầy Đường Huyền Trang. Thầy Khuy Cơ đã giúp thầy Huyền Trang thiết lập ra một tông phái gọi là Pháp Tướng Tông. Pháp Tướng Tông chủ trương có tám tông. Thầy Pháp Tạng đã căn cứ trên tám tông đó để lập ra mười tông và khi mười tông được thành lập rồi thì tóm tắt lại thành ra năm giáo. Bây giờ chúng ta ôn lại sáu tông phái đầu:

– Trước hết là Pháp ngã câu hữu tông tức là một tông phái chủ trương có ngã và có pháp. Độc Tử Bộ (Vātsīputrīya) là một trong những bộ phái ngày xưa chủ trương có ngã và có pháp. Tuy chủ trương có ngã, có pháp nhưng đó cũng là giáo lý của đạo Phật.

– Thứ hai là Pháp hữu ngã vô tông. Đại diện cho tông thứ hai này là Tát Bà Đa Bộ tức Hữu Bộ hay Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda).

– Tông thứ ba là Pháp vô khứ lai tông. Tông phái này chủ trương tất cả các pháp trong hiện tại có thực thể còn các pháp trong quá khứ và các pháp trong vị lai không có thực thể. Họ đối kháng với Hữu Bộ là tông phái cho rằng, các pháp trong quá khứ hay trong tương lai cũng có thật như trong hiện tại. Đây là chủ trương của Đại Chúng Bộ (Mahāsānghika).

– Thứ tư là Hiện thông giả thật tông, chủ trương các pháp trong hiện tại có cái giả và có cái thật. Tông phái này không những chủ trương các pháp trong quá khứ và vị lai không có thực thể mà còn chủ trương thêm rằng, ngay cả trong hiện tại, các pháp cũng có cái thật và cái giả. Các pháp được chia ra làm năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới, trong đó chỉ năm uẩn là có thiệt. Mười hai xứ và mười tám giới là các pháp sở y, sở duyên, tích tụ, chúng là giả, không có thật. Đây là chủ trương của Thuyết Giả Bộ (Prajñaptivāda). Ngày xưa có thầy Harivarman (Ha Lê Bạt Ma) là tác giả của Thành Thật Luận, và giáo lý của Thành Thật Luận đại diện cho tông phái Hiện thông giả thật.

– Thứ năm là Tục vọng chân thật tông. Tông phái này chủ trương các pháp thuộc về tục đế (samvrti) đều là hư vọng, duy chỉ có các pháp thuộc về chân đế (paramārtha) là có thật. Như vậy các pháp có loại thế gian và có loại xuất thế gian. Tông phái đại diện cho Tục vọng chân thật tông là Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravāda).

– Thứ sáu là Chư pháp đản danh tông. Chư pháp đản danh tức là các pháp không thật có, nó chỉ có danh từ, chỉ có tên gọi. Các pháp thật sự không có thực chất. Tông phái này chủ trương: Các pháp thế gian và xuất thế gian, các pháp hữu lậu và vô lậu, đều là không có thực thể. Bộ phái chủ trương giáo lý này là Nhất Thuyết Bộ.

Tông Hoa Nghiêm chủ trương có năm loại giáo lý và mười tông phái, chúng ta đang học về mười tông phái đó. Sáu tông phái đầu thuộc về truyền thống Tiểu Thừa, truyền thống Đạo Bụt Bộ Phái. Bốn tông còn lại thuộc về truyền thống giáo lý Đại Thừa. Tại sao đưa ra ý niệm ngũ giáo rồi mà còn đưa ra ý niệm thập tông? Tại vì nương trên nền văn học kinh điển thì tông Hoa Nghiêm chia thành năm giáo, nhưng đứng về phương diện lý luận, triết học, hệ thống hóa, gọi là lý chứng, thì tông Hoa Nghiêm chia thành mười tông. Sang tông thứ bảy là:

7. Nhất thiết giai không

Nhất thiết giai không nghĩa là các pháp đều không. Chúng ta bắt đầu đi vào trong thế giới của Đại Thừa. Kinh luận làm nền tảng cho tông phái này là các kinh Bát Nhã và giáo lý về không (śūnyata). Tông phái này chủ trương tất cả vạn pháp đều là không. Không này không phải là không đối với có mà là siêu việt ra khỏi có và không, không này vượt thoát vọng tâm, nên gọi là chân không (true emptiness).

Tông Hoa Nghiêm cũng như những truyền thống khác liệt giáo lý này vào hàng Đại thừa thỉ giáo. Thỉ là bắt đầu. Đại thừa thỉ giáo tức là giáo lý đại thừa lúc bắt đầu. Giáo thứ nhất trong năm giáo là Thanh văn giáo, được đại diện cho sáu tông phái đầu tiên. Tông Nhất Thiết Giai Không được liệt vào giáo thứ hai trong năm giáo, tức là Đại thừa thỉ giáo.

8. Chân đức bất không

Trong tự điển, người ta định nghĩa Chân đức bất không như thế này: Tất cả vạn pháp rốt cuộc quy về chân như, và chân như đó khi bị phiền não che lấp thì được gọi là Như Lai Tạng (tathāgatagarbha), (the matrix of tathāgata). Như lai tạng đó có tính chân thật, không phải là hư vọng, không phải là không có, nên gọi là chân đức.

Giáo lý Đại thừa bắt đầu bằng sự khẳng định là không có pháp nào thật cả, tất cả đều là chân không. Nhưng đó là giáo lý Đại thừa lúc ban đầu. Khi giáo lý Đại thừa chín muồi thì gọi là Chân đức bất không, chủ trương rằng: Bản thể các pháp là chân như. Khi chân như bị phiền não che lấp thì nó là Như Lai Tạng, bản chất của nó là có thật. Tông phái này nói về Như Lai Tạng, nói về bất không, giống như để chữa lại cái không cho người đi lạc vào ý niệm không của Đại thừa thỉ giáo.

Ban đầu mới nghe không, chúng ta có khuynh hướng coi các pháp như là không có. Chữ không ở đây có nghĩa là vượt ra khỏi có-không tầm thường. Tuy nói không vượt ra khỏi ý niệm có-không, nhưng người ta vẫn bị ám ảnh bởi cái không. Cho nên giáo lý Như Lai Tạng làm giáo lý không chín muồi và đưa ra ý niệm bất không. Không không phải là không có gì hết, không phải là không trơn, không trợt. Nó là chân không, là chân như, là Như lai tạng, như vậy nó là bất không. Đó là Đại thừa chung giáo, tương đương với giáo thứ ba của ngũ giáo.

Chúng ta đang nói tới sự liên hệ giữa thập tông và ngũ giáo. Sáu tông đầu tương đương với Thanh văn giáo. Tông thứ bảy tương đương với Đại thừa thỉ giáo. Tông thứ tám tương đương với Đại thừa chung giáo, tức là Đại thừa lúc chín muồi.

9. Tướng tưởng câu tuyệt

Tướng là đối tượng của nhận thức. Chúng ta nhận thấy bông hoa, bông hoa là tướng, là đối tượng của nhận thức. Nhận thức bao giờ cũng là nhận thức cái gì? Chủ thể nhận thức là tâm (tưởng) và đối tượng nhận thức là bông hoa (tướng). Tướng là đối tượng nhận thức (object), tưởng là chủ thể nhận thức (subject).

Người không học, không tu thì nghĩ chủ thể nhận thức đứng ngoài đối tượng nhận thức. Bây giờ những nhà khoa học đi sâu hơn, họ thấy giữa hai cái có một sự liên hệ rất mật thiết.

Trong đạo Bụt, ngay từ ban đầu các sư cô, sư chú đã được học rất rõ, tưởng (nhận thức) gồm có hai phần: kiến phầntướng phấn. Kiến phần là chủ thể, tướng phần là nhận thức. Tướng không nằm ngoài mà nằm trong nhận thức. Tướng và kiến biểu hiện ra cùng một lúc. Cái này nương cái kia mà biểu hiện, cái kia nương cái này mà biểu hiện. Kiến phần và tướng phần nương nhau mà hiện thân. Tướng với tưởng không phải là hai cái, tướng là một phần của tưởng, đừng nên tìm tướng ngoài tưởng. Khi vô trong chùa, cái chúng ta học đầu tiên là tri giác: Đối tượng của tri giác nằm trong tri giác. Chủ thể tri giác và đối tượng tri giác hiện ra một lần.

Cũng như ăn, không bao giờ nói ăn mà không có thức ăn. Ăn là ăn cái gì? Nếu không có gì để ăn thì làm sao chuyện ăn xảy ra được? Ăn có nghĩa là người ăn và thức ăn cùng có một lần. Trước đó không có người ăn, khi ăn thì hiện ra người ăn và thức ăn. Trước khi ăn thì làm gì có người ăn?

Cây viết này có tay phải và tay trái, phải trái hiện ra cùng một lúc. Để cây viết đứng thì có trên dưới, trên dưới đồng thời phát hiện. Để cây viết ngang lại thì có phải trái, phải trái đồng thời phát hiện. Hai cái nương nhau mà có, không thể nào có một cái mà không có cái kia. Hể có phải là có trái, hể có trái là có phải.

Tướng và tưởng là như vậy. Không thể nào có tâm nhận thức có mặt độc lập ngoài đối tượng nhận thức. Không thể nào có đối tượng nhận thức tồn tại độc lập đối với tâm nhận thức. Đó là abc trong tâm lý học Phật giáo. Tưởng với tướng nương nhau mà biểu hiện cùng một lần, giống như mấy cọng sậy nương nhau mà đứng vững được.

Trong giáo lý Tướng tưởng câu tuyệt, chúng ta thấy rõ ràng không có sự phân biệt giữa đối tượng và chủ thể. Đứng về phương diện đó thì chúng ta không thể nói được gì nữa, nó siêu việt ngôn ngữ. Không thể suy nghĩ được gọi là bất khả tư, không thể nói năng được gọi là bất khả nghị. Bất khả tư nghì tượng trưng cho giáo lý bất nhị (non duality) mà kinh Duy Ma Cật thường nói đến. Đó là sự im lặng sấm sét, tuy là im lặng nhưng hùng hồn vô cùng. Nó siêu việt vấn đề chủ thể và đối tượng. Nó rất Thiền! Trong Ngũ giáo gọi là Đại thừa đốn giáo. Đốn có nghĩa là ngay lập tức, không cần thời gian, một thoáng thôi là đạt tới ngay lập tức (a sudden enlightenment). Trong thời Đường, Thiền Tông rất thịnh hành. Thầy Pháp Tạng nghĩ tới Thiền tông như là một hình thức của đốn giáo. Những kinh điển tượng trưng cho giáo lý bất nhị (non duality) này được đại diện bởi kinh Duy Ma Cật.

Tông phái thứ chín tương đương với giáo thứ tư gọi là đốn giáo. Chủ quan và khách quan không phải là hai cái riêng biệt. Tưởng và tướng không tách rời nhau. Không nói được, không nghĩ được, không quan niệm được về cái đó, đó gọi là đốn giáo.

10. Viên minh cụ đức

Viên minh cụ đức có nghĩa là tất cả các pháp, pháp nào cũng có đầy đủ công đức. Cái một chứa cái tất cả, cái tất cả không làm ngăn ngại cho cái một. Tất cả các hiện tượng đều có liên hệ trùng trùng duyên khởi. Đó là giáo lý nhất thừa của tông Hoa Nghiêm, gọi là Nhất thừa viên giáo.

Bây giờ chúng ta lấy văn bản ra đọc. Theo nguyên tắc, chúng ta đọc tới đâu là phải hiểu tới đó.

 

12. Luận ngũ giáo

.XІІ. Luận ngũ giáo
Luận bàn về năm giáo

______________________

Ngu pháp thanh văn giáo
Nhất, sư tử duy thị nhân duyên chi pháp, niệm niệm sinh diệt. Thật vô sư tử tướng khả đắc. Danh Ngu Pháp Thanh Văn Giáo.

Giáo thứ nhất: Ngu pháp thanh văn giáo
Sư tử tuy là một pháp do nhân duyên sinh khởi và đi qua sinh diệt trong từng phút giây, nhưng thật ra không có tướng sư tử để nắm bắt. Cái này tương đương với giáo lý (thiển cận) của thanh văn.

 

Con sư tử là một vật do nhân duyên làm phát hiện.

Nhân duyên chi pháp tức là một pháp của nhân duyên, do các nhân và các duyên làm biểu hiện ra.

Niệm niệm sinh diệt tức là thay đổi, biến chuyển trong từng giây. Thật ra thì không thể nắm bắt được tướng của nó, không có tướng sư tử có thể nắm bắt được. Đó gọi là giáo lý của hàng thanh văn đang còn chưa hiểu được bản chất các pháp. Ngu pháp thanh văn tức là hàng thanh văn còn chưa hiểu được bản chất các pháp.

Trường phái giáo lý này được đại diện bởi một bộ phái tên là Hữu Bộ. Hữu Bộ là một trong hai mươi bộ phái đạo Bụt được thành lập sau khi Bụt nhập diệt. Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt được khoảng một 140 năm, đạo Bụt chia ra thành nhiều phái. Từ hai phái phân ra thành hai mươi phái. Hữu Bộ là một trong những phái đó. Hữu Bộ hay nói cho đúng hơn là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương rằng tất cả đều có, nhất thiết hữu là tất cả đều có, tiếng Phạn là Sarvāstivada (vad là thuyết, asti là hữu, sarva là nhất thiết).

Tông phái này chủ trương một giáo lý có thể gọi là Thực tại luận (realism), chủ trương rằng “quá khứ có, hiện tại có, tương lai cũng có”. Nhất thiết hữu tức là tất cả đều có (sarva là tất cả, asti là có, vad là chủ trương). Chúng ta biết Hữu Bộ phát sinh từ Thượng Tọa Bộ. Sau khi Bụt nhập diệt chừng 140 năm sau thì có sự phân phái, chia làm hai ngành: bảo thủ và tiến bộ. Ngành bảo thủ là Thượng Tọa Bộ, ngành tiến bộ là Đại Chúng Bộ. Đại Chúng Bộ (Mahāsānghika) đông hơn Thượng Tọa Bộ (Sthaviravāda). Hữu Bộ là hậu duệ của Thượng Tọa Bộ. Chúng ta biết sơ như vậy thôi, sau này chúng ta sẽ học tiếp.

Hữu Bộ chủ trương tất cả đều có, không phải có như một toàn thể mà tất cả có khắp nơi khắp chốn trong thời gian và không gian, cho nên có khi gọi là Phiếm thực tại luận (panrealism). Phiếm thực tại là một danh từ triết học dùng để mô tả giáo lý của Hữu Bộ. Phiếm là nhiều cái và bao trùm hết.

Hữu Bộ chủ trương tất cả đều do duyên sinh (điều đó đúng với truyền thống đạo Phật) và nó sinh diệt trong từng giây phút. Giáo lý của Hữu Bộ giữ rất vững giáo lý sát na sinh diệt tức là sinh và diệt trong từng giây phút. Nó có, nhưng sinh diệt trong từng giây phút cho nên giáo lý này rất trung thực với giáo lý vô thường, thay đổi từng giây, từng phút. Nó có, nhưng không có tính cách chắc thực. Các pháp đều do duyên sinh và sát na sinh diệt. Giáo lý này cũng chính thống, không phản lại giáo lý nguyên thỉ của đạo Bụt.

Sư tử thị nhân duyên chi pháp, niệm niệm sinh diệt. Thật vô sư tử tướng khả đắc: Sư tử tuy là một pháp do nhân duyên sinh khởi và đi qua sinh diệt trong từng phút giây nhưng thật ra không có tướng sư tử để nắm bắt. Đó là nói về vô ngã, cũng có ý nói không có tự tướng trong đó. Không có tự tướng có nghĩa là vô ngã. Những điểm chủ trương của Hũu Bộ phù hợp với giáo lý căn bản của đạo Bụt tức duyên sinh, vô thường, vô ngã. Nhưng Hữu Bộ chủ trương rằng “có”, tuy là có một cách duyên sinh, vô thường, vô ngã nhưng vẫn “có” nên tông Hoa Nghiêm cho rằng cái thấy của Hữu Bộ là cái thấy của thanh văn, chưa được sâu sắc lắm, chưa thấy được bản chất các pháp. Hữu Bộ vẫn dùng chữ hữu, tức là có, điều đó chưa đúng. Bản chất của các pháp là không.

Tiểu thừa là Thanh văn thừa, Đại thừa là Bồ tát thừa. Nói các pháp là có nhưng có với tính cách duyên sinh, vô thường, vô ngã là khá rồi. Nhưng tông Hoa Nghiêm cho đây là giáo lý thanh văn, chưa phải là giáo lý đại thừa nên kết luận đó là cái thấy đang còn cạn. Các vị thanh văn chưa thấy được bản chất các pháp, nên gọi là ngu pháp thanh văn. Ngu pháp là chưa hiểu thấu được các pháp.

Trong bản tiếng Việt, chúng ta sửa lại một chút:

Sư tử tuy là một pháp do nhân duyên sinh khởi và đi qua sinh diệt trong từng phút giây, nhưng thật ra không có tướng sư tử có thể nắm bắt. Cái này là cái thấy của các vị thanh văn chưa hiểu được thật sự bản chất của các pháp. Bản chất các pháp là không mà các thầy nói là có.

 

Đại thừa thỉ giáo

Nhị, tức thử duyên sinh chi pháp, danh vô tự tính, triệt để duy không, danh Đại Thừa Thỉ Giáo.

Giáo thứ hai: Đại thừa thỉ giáo

Các pháp do duyên sinh (mà có) ấy đều không có tự tính, triệt để là Không, đó là thỉ giáo đại thừa (giáo lý đại thừa lúc ban đầu, sơ kỳ đại thừa).

Đây nói về giáo lý của Bát nhã, giáo lý của Tam Luận Tông mà đặc trưng là duyên sinh, là vô tự tính, là không có sự có mặt riêng biệt (no self-nature). Chữ tự tính rắc rối, khó và trừu tượng. Tự tính là svabhāva (self-nature). Chúng ta đừng để bị lạc vào thế giới trừu tượng. Tự tính là sự có mặt riêng biệt.

Như hoa hồng do các duyên mà sinh ra, mà biểu hiện ra. Có hạt hoa hồng, có đất, có nước, có mặt trời, có phân, tất cả những điều kiện đó làm ra hoa hồng thì hoa hồng là do duyên sinh. Tất cả mọi người đều đồng ý là hoa hồng do duyên sinh.

Giáo thứ nhất nói hoa hồng tuy là do duyên sinh nhưng mà hoa hồng có. Giáo thứ hai nói hoa hồng vì do duyên sinh nên hoa không thể có mặt riêng biệt ngoài những duyên (they don’t have a separated, an independent existence). Ngoài duyên thì hoa không có, nên nói hoa không có tự tánh. Tự tánh là cái ta riêng. Bây giờ, mỗi khi nghe nói không có tự tánh thì chúng ta tạm hiểu là không thể có sự có mặt riêng biệt được.

Nhìn vào trong con người của chúng ta, chúng ta thấy tổ tiên, cha mẹ, ông bà, đất nước, cơm gạo, văn hóa, giáo dục… Ngoài những cái đó thì làm gì có ta? Ta là tất cả những cái đó. Nếu đi tìm ta ngoài những cái đó thì không có. Đó chẳng qua là cái hiểu sâu về vô ngã. Vô tự tính có nghĩa là vô ngã. Không có tự tánh là không có cái ta riêng ra ngoài. Mình chỉ là nhân duyên, tất cả nhân duyên làm ra mình. Mình không phải là cái gì có ngoài nhân duyên. Cái có đó là cái có giả, thật ra nó là không (chân không). Đây là sự phát triển đầu tiên của giáo lý Đại thừa: Các pháp không có tự tánh, các pháp là không. Nhưng Đại thừa này chỉ là Đại thừa buổi ban đầu, chưa sâu lắm cho nên chúng ta có giáo thứ ba.

Đại thừa chung giáo

Tam, tuy phục triệt để duy không bất ngại, hữu huyễn uyển nhiên. Duyên sinh giả hữu, nhị tướng song tồn. Danh Đại Thừa Chung Giáo.

Giáo thứ ba: Đại thừa chung giáo

Tuy các pháp triệt để là Không nhưng điều đó không làm trở ngại cho các pháp như huyễn. Hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có thể có mặt song hành với nhau. Cái đó gọi là chung giáo Đại thừa.

Tuy các pháp là không nhưng các pháp vẫn có. Nếu bỏ những cái mình cho là không thì không còn gì nữa. Không, không có nghĩa là hoàn toàn không có gì. Không đây không phải là đoạn không. Không có nghĩa là không có tự tánh riêng biệt.

Ở đây đi thêm một bước nữa: Tuy các pháp triệt để là không nhưng điều đó không làm trở ngại cho các pháp như huyễn. Hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có thể có mặt song hành với nhau. Các pháp là duyên sinh nhưng các pháp là có, và chúng ta chỉ cần nhớ là nó có một cách hư giả. Nếu nói các pháp hoàn toàn là không là không đúng. Bông hoa có chứ không phải không, nhưng nó không có ngoài những duyên sinh ra nó. Nhớ được như vậy thì thấy được tính cách giả hữu của bông hoa và ta không bị vướng vào đó.

Hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có mặt song hành với nhau, không chống đối nhau. Trước đó thì nói là không để đối với hữu, bây giờ không với hữu hòa giải với nhau. Đó là Đại thừa chung giáo (Đại thừa lúc kết cuộc), mà đại diện là kinh Lăng Già, Luận Khởi Tín, và tư tưởng Như Lai Tạng.

Ban đầu nói các pháp là có, bước thứ hai nói các pháp là không, tới giai đoạn thứ ba nói tuy các pháp là không nhưng không phải là trống rỗng. Không này vượt thoát có và không thường tình. Cái không này vẫn đi đôi tuyệt hảo với cái giả hữu. Ngoài giả hữu, đi tìm không không được! Ngoài tướng sư tử, đi tìm vàng không được! Tuy sư tử là giả nhưng sư tử đồng thời là vàng. Đây là sư tử vàng, nếu bỏ sư tử đi thì chúng ta bỏ vàng luôn. Đèn nến này làm bằng sáp. Hình tướng nến là giả hữu mà sáp là có thật. Bỏ đèn cầy đi thì cũng không có sáp, bỏ sáp đi cũng không có đèn cầy. Hai cái đó không chống nhau, nó có thể đi đôi với nhau. Ở đây có sự hòa giải giữa hữukhông.

Duyên sinh giả hữu nhị tướng song tồn: Hai tướng duyên sinh và giả hữu tồn tại bên nhau được.

Tuy phục triệt để duy không bất ngại, hữu huyễn uyển nhiên: Tuy các pháp triệt để là không nhưng nó không ngăn ngại ta thấy các huyễn hữu đang có mặt.
Các pháp là có, nhưng có một cách giả tạo, gọi là huyễn hữu.

Đại thừa đốn giáo

Tứ, tức thử nhị tướng, hỗ đoạt lưỡng vong. Tình ngụy bất tồn, các vô hữu lực. Không hữu song mẫn, danh ngôn tuyệt lộ. Thê tâm vô ký, danh Đại Thừa Đốn Giáo.

Giáo thứ tư: Đại thừa đốn giáo

Hai tướng duyên sinh và giả hữu ấy tương đoạt và tương vong (trừ khử nhau và tiêu diệt nhau) làm cho cả tình thức và ngụy tướng không cái nào còn lại. Cả hai đều mất hết năng lực, cả Không và hữu đều tiêu vong, con đường danh từ và ngôn thuyết bị cắt đứt, tâm không còn nơi nương tựa và nắm bắt. Đó là đốn giáo đại thừa (giáo lý đại thừa đốn ngộ).

Đốn là con đường tắt, đi rất mau, không trải qua nhiều thời gian. Đoạn này nhắm tới Thiền. Hai tướng duyên sinh và giả hữu tương ấy đoạt và tương vong (trừ khử nhau và tiêu diệt nhau). Hai tướng đó đi đôi với nhau. Nhưng nhìn vào cái này mình không thấy cái kia và nhìn vào cái kia mình không thấy cái này. Duyên sinh tức là không không tức là giả hữu. Những danh từ và ý niệm đó có thể trở thành chướng ngại. Nếu chúng ta bị kẹt vào danh từ thì ta cứ quanh quẩn mãi không ra được. Cho nên phải có con đường siêu việt danh từ và trực tiếp kinh nghiệm thực tế thì chúng ta mới vượt thoát được tình thức và ngụy tướng.

Tình thức là những nhận thức sai lầm, mang nặng những vọng tình của con người. Chúng ta đem tình thức nhìn thế gian nên không thấy được thế gian. Còn chư Bụt và chư tổ sư không đem tình thức mà đem tuệ giác để nhìn thế gian cho nên thấy được thế gian. Đem tình thức mà nhìn thì những cái mà ta thấy là những ngụy tướng, không phải là sự thật. Ngụy tướng là những tướng giả dối. Biết được như vậy thì ta vượt thoát được cả tình thức và ngụy tướng. Lúc đó, ta không kẹt vào danh từ cũng không kẹt vào danh từ không (hữu vô nhị vong). Vì vậy cho nên con đường danh từ và ngôn thuyết bị cắt đứt (ngôn ngữ đạo đoạn).

Ta nên biết rằng trong thời đại của thầy Pháp Tạng, Thiền tông đang được thịnh hành rất lớn. Thiền tông chủ trương: Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, tức là con đường ngôn ngữ bị cắt đứt, không nói được nữa. Những danh từ như là có, không, diệu hữu, chân không và những ý niệm như là có-không không còn có năng lực bó buộc. Cả khônghữu đều tiêu vong (hữu vô nhị vong). Thiền là trực tiếp tâm truyền tâm. Đường đi nẻo về của ý thức không còn nữa (tâm hành xứ diệt). Giống như xe lửa chạy trên đường rầy, bây giờ lấy đường rầy ra thì xe lửa hết đi được. Con đường của ngôn ngữ, của ý niệm bị cắt đứt rồi! Đó là chủ trương của Thiền.

Thiền nói: Các anh nói có rồi nói không. Nói vừa có vừa không rồi nói không có cũng không không. Tôi muốn vượt ra khỏi mọi cái đó ! Đó là gọi là Đại thừa đốn giáo. Đốn có nghĩa là không phải đi qua con đường của trạch pháp (investigation of dharmas).

Nhất thừa viên giáo

Ngũ, tức thử tình tận thể lộ chi pháp, hỗn thành nhất khối. Phồn hưng đại dụng, khởi tất toàn chân. Vạn tượng phân nhiên, xâm nhi bất tạp. Nhất thiết tức nhất, nhất tức nhất thiết. Nhân quả lịch nhiên, lực dụng tương thâu. Quyền thư tự tại, danh Nhất thừa viên giáo.

Giáo thứ năm: Nhất thừa viên giáo

Khi tình thức không còn và thể tính đã hiển lộ thì tất cả trở thành một khối hỗn độn bất phân. Đại dụng được trưng bày (với tất cả những chi tiết mầu nhiệm của nó) và nơi nào đại dụng được trưng bày như thế thì cái toàn chân cũng được hiển lộ. Muôn vàn hiện tượng được trình bày một cách giàu có, các hiện tượng tham dự vào nhau mà vẫn không đánh mất cá tính của chúng. Cái tất cả cũng là cái một (cái tất cả nằm trong cái một), cả hai đều là vô tính. Cái một cũng là cái tất cả (cái một nằm trong cái tất cả), nhân quả hiển nhiên (rõ ràng). Lực và dụng của cái này và cái kia thu nhiếp nhau, và sự co duỗi (contraction and expansion) của chúng xảy ra một cách tự tại. Đó gọi là viên giáo của nhất thừa (giáo lý tròn đầy của Phật thừa).

Viên giáo tức là giáo lý tròn đầy, không thể đi xa hơn được nữa (the Rounded Doctrine). Những ý nói trong phần năm này chúng ta đã học rồi như tương tức, tương nhập, châu biến hàm dung v.v…

Hoa Nghiêm Tông thừa hưởng giáo lý và sự thực tập của các tông phái khác như là Tam Luận Tông và Thiên Thai Tông. Tam Luận Tông là một tông phái được thành lập trên cơ bản của ba bộ luận là Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận. Thiên Thai Tông được thành lập căn cứ trên giáo lý Bát Nhã rất nhiều và cũng có giáo lý của Pháp Hoa. Nói đến Thiên Thai Tông thì phải nhớ đến Trung Luận và kinh Pháp Hoa. Phương pháp của Thiên Thai Tông với ba phép quán: quán Không, quán Giả và quán Trung. Chúng ta sẽ có cơ hội đi sâu vào ba phép quán đó. Ba phép quán đó viên dung, tức là cái này nằm trong cái kia chứ không phải là bước thứ nhất rồi tới bước thứ hai, bước thứ ba.

Ngoài sự ảnh hưởng của Tam Luận Tông, Thiên Thai Tông và Thiền Tông, Hoa Nghiêm Tông cũng bị ảnh hưởng rất nhiều của Pháp Tướng Tông (Duy Thức Tông). Chúng ta biết thầy Huyền Trang qua Ấn Độ và ở đó tới mười lăm năm. Ngài đã học được rất nhiều kinh điển và thu thập được rất nhiều giáo lý Duy Thức. Khi về nước, ngài có sáng tác một bộ sách gọi là Thành Duy Thức Luận. Ngài dịch rất nhiều kinh và nhiều bộ luận. Chữ Thành có nghĩa là Tập đại thành tức là gom lại hết. Trong khi ngài ở tu viện Nalanda, tiểu bang Bihar thì một trong mười vị đại luận sư của Duy Thức còn sống, đó là thầy Giới Hiền (Sīlabhadra). Thầy Giới Hiền lúc đó cả trăm tuổi rồi. Thầy Huyền Trang được trực tiếp học với thầy Giới Hiền. Thầy Giới Hiền kể lại những luận chứng, những giáo lý và quan điểm của những đại luận sư khác của Duy Thức. Các vị đó có nhận xét riêng, cái thấy riêng về Duy Thức.

Trong Thành Duy Thức Luận, thầy Huyền Trang có ghi lại ý kiến của mười vị đại luận sư. Tuy nói là ý của mười vị đại luận sư nhưng ý của thầy Hộ Pháp (trước thầy Giới Hiền) bao trùm rất nhiều. Tác phẩm Thành Duy Thức bây giờ vẫn còn và đã được dịch ra tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta có thể tham cứu. Có nhiều bản giải thích Thành Duy Thức Luận như bản Thành Duy Thức Luận thuật ký.

Thầy Huyền Trang có một người đệ tử rất giỏi là thầy Khuy Cơ. Chính thầy Khuy Cơ đứng lên thành lập một tông phái mới gọi là Duy Thức Tông hay Pháp Tướng Duy Thức Tông. Thầy Khuy Cơ có đưa ra một tài liệu trình bày, liệt kê diễn tiến của tư tưởng Phật giáo. Thay vì đưa ra danh sách năm giáo thì thầy đưa ra danh sách tám giáo, tám khuynh hướng giáo lý trong lịch sử tư tưởng đạo Bụt.

Thầy Pháp Tạng đã nghiên cứu tư liệu của thầy Khuy Cơ và đưa ra năm giáo cho vắn tắt. Nhưng Hoa Nghiêm Tông cũng có trình bày mười giáo. Chúng ta đã học năm giáo, bây giờ chúng ta học mười giáo của tông Hoa Nghiêm.

11. Hành tam quán

.XІ. Hành tam quán
Thực tập ba quán

_______________

Tam quán của Hoa Nghiêm là: chân không quán, lý sự vô ngại quán và châu biến hàm dung quán.

Chân Không quán

Các pháp không có thật tính tức là không có mặt độc lập ngoài duyên khởi. Các pháp không có thật tính cho nên sắc chính là Không. Nhưng cái Không này không phải là đoạn không và do đó cả Sắc và Không đều vô ngại. Đó là Không quán.

Điều này là cái chúng ta có thể làm được. Ví dụ khi nhìn vào một bông hoa ta thấy các duyên tới với nhau để làm ra hoa. Nếu ta bị kẹt vào hoa như một thực tại riêng biệt thì ta sẽ khổ đau. Vì vậy khi nhìn một bông hoa tuy rằng hoa có đó nhưng nó không thể nào có mặt ngoài những duyên làm ra hoa. Khi lấy hạt giống, thời gian, không gian, đất hay mưa ra thì hoa không còn là hoa nữa. Ta chỉ cần nhớ như vậy thôi chứ không có nghĩa là không có hoa. Bông hoa rõ ràng có ở đó nhưng mà có theo kiểu duyên sinh. Vì vậy cho nên gọi là chân không. Không ở đây không có nghĩa là không có, nó có sờ sờ đó, nhưng nó không có như một thực tại độc lập, bền bỉ, riêng biệt. Bông hoa đó là sắc và sắc đó là không. Không không có nghĩa là không có (đoạn không) mà là chân không. Nó vừa là không, vừa là sắc. Tôi là không mà tôi cũng là sắc nên gọi là sắc không vô ngại. Thấy như vậy thì an ổn, còn thấy nó như một thực tại có riêng ở ngoài là ta bị kẹt.

Hôm trước chúng ta có đưa ra ví dụ một đàn ong gồm những con ong cá biệt đến với nhau. Khi đàn ong làm việc, người ta thấy chúng hành xử nhịp nhàng giống như trong một cơ thể. Cũng như những tế bào trong cơ thể của mình. Trong cơ thể mình có hàng tỷ tỷ tế bào khác nhau, đủ loại, nhưng khi những tế bào làm việc chung thì giống như có một chủ thể, một cái ngã mà thôi.

Một đàn cá ngàn con lội dưới nước. Toàn là những con cá cá biệt nhưng lội rất tài tình. Khi cần chuyển sang trái hay sang phải thì tất cả đều chuyển mình giống như có một cái ngã, một ông chủ điều khiển vậy. Điều đó có chứ không phải không! Bông hoa cũng vậy, nó có chứ không phải không. Nhưng ta đừng để bị kẹt vì ngoài những con cá kia thì không có đàn cá đâu!

Những con ong đó đều là những con ong cá nhân, nhưng khi nó làm việc chung thì thấy rõ ràng nó như là một cơ thể. Những tế bào trong cơ thể ta, mỗi cái có vị trí của nó, nhưng nó làm việc làm sao mà ta có cảm tưởng là có một cái ngã, một cái sắc. Cái sắc đó ta không nên bị kẹt vào. Ta biết nó không có một sự có mặt độc lập ngoài những yếu tố làm nên nó. Có một cái ngã, có một ông đó, một bà đó, một cô đó nhưng cái có đó là cái có ảo (virtuel), và ta gọi tên được (nominal, une existence nominale). Ta gọi là hoa hồng, là Hélène, là Jacques. Nhưng ngoài những yếu tố làm ra như ông bà, tổ tiên, cha mẹ, cơm áo, sự giáo dục thì không có cái đó. Bản chất của là chân không.

Không phải đợi đến khi tàn rụi rồi thì bông hoa mới là không. Nó là không ngay trong giây phút này. Đương thể tiện thị. Đương thể là ngay bây giờ. Ngay bây giờ nó đã là không rồi. Nó vừa là sắc vừa là không. Sắckhông không chống đối nhau. Đó gọi là Không quán. Không quán giúp ta không bị kẹt vào cái không đối với cái có, cho ta thấy được mối liên hệ sắc-không rõ hơn. Sắc với không là một; thọ, tưởng, hành và thức cũng vậy.

 

Lý sự vô ngại quán

Thể và tướng nương nhau cũng như vàng và sư tử nương nhau mà thành lập, mà biến hoại, mà tương tức, mà tương phi. Cả hai đều dung nhau vô ngại, đó gọi là lý sự vô ngại quán.

Quán chân không tức là quán sắc và không vô ngại. Quán thứ hai là quán sự. Thể (lý) và tướng (sự) nương nhau mà thành lập. Nếu không có sự thì không có lý. Nếu không có hiện tượng thì không có bản thể mà không có bản thể thì không có hiện tượng. Hai cái nương nhau mà thành lập như tay phải và tay trái; hai cái nương nhau mà biến hoại, mà tương tức tương phi.

Tuy cùng có một thành tướng, cùng ở trong một cái tổng tướng là hoa, nhưng đám mây vẫn còn là đám mây, cơn mưa vẫn còn là cơn mưa. Khi những cái đó tới với nhau để làm thành một tổng tướng thì nó là nhau. Nhưng trong khi là nhau, nó vẫn còn quyền được là nó. Mình tới với nhau làm thành tăng thân, nhưng trong tăng thân, mình vẫn còn được là mình. Đó là tương tức,là nhau.

Tương phikhông là nhau. Nghĩa là mình vẫn được là mình. Thể và tướng, hai cái luôn luôn nương nhau hoặc để thành lập, hoặc để biến hoại, hoặc để tương tức, hoặc để tương phi, nhưng luôn luôn dung nhau vô ngại. Cái này không làm chướng ngại cái kia. Đó là phần thứ hai của tam quán gọi là lý sự vô ngại quán.

Châu biến hàm dung quán

Cái lớn và cái bé tương dung (hàm chứa nhau), cái một và cái nhiều tương tức (là nhau, tôi là anh và anh là tôi), sự biến nhiếp vô ngại và sự giao tham tự tại, đó là châu biến hàm dung quán.

Cái một ở trong cái nhiều, cái nhiều ở trong cái một. The whole is integral in the part, the part is integral in the whole. Cái lớn nằm trong cái bé, cái bé nằm trong cái lớn. Cái một và cái nhiều là nhau. Phần thứ ba của ba phép quán nằm trên bình diện sự sự vô ngại pháp giới.

Châu hay chu có nghĩa là khắp hết, không có chỗ nào không có. Châu biến là chỗ nào cũng có mặt. Cái này ôm lấy được tất cả cái kia, cái kia ôm lấy được tất cả cái này. Hàm là ôm lấy, dung là chứa đựng. Cái này ôm lấy cái kia, cái kia ôm lấy cái này. Điều này tương đương với cái mà David Bohm gọi là the implicated order tức là trật tự nội nhiếp. Nhìn vào một cái thì thấy được tất cả các cái, tại vì cái một chứa đựng cái tất cả. Cái lớn chứa đựng cái bé và cái bé chứa đựng cái lớn.

Mình thêm vào hai chương nên Kim Sư Tử Chương có đến mười hai mục. Thầy Pháp Tạng muốn cái gì cũng mười cho tròn, cho đẹp. Vì vậy khi viết Hoa Nghiêm Bách Nghĩa Hải thầy đưa ra mười chương và mỗi chương có mười đoạn. Mười chương nhân mười đoạn nên thành một trăm đoạn vì vậy nên gọi là bách môn. Huyền môn mới có mười cánh cửa, còn bách môn thầy Pháp Tạng làm tới một trăm cánh cửa.

Chúng ta quay lại phần “Luận bàn về năm giáo”. Mục “Luận bàn về năm giáo” mất thì giờ nhiều tại vì khi nói về năm giáo thì phải nói về mười tông. Chúng ta có cơ hội nhìn lại sự phát triển của tư tưởng Phật giáo.

10. Nhập Niết Bàn

.X. Nhập Niết Bàn
Thể nhập được niết bàn

____________________

 

Nhập Niết Bàn
Kiến sư tử dữ kim nhị tướng câu tận, phiền não bất sinh. Hảo xú hiện tiền, tâm am như hải. Vọng tưởng đô tận vô chư bức bách, xuất triền ly chướng, vĩnh xả khổ nguyên, danh nhập Niết Bàn.

Thể nhập được Niết Bàn
Khi nhìn mà thấy được cả hai tướng sư tử lẫn vàng đều không còn nữa thì phiền não không còn sinh khởi. Dù cái đẹp hay cái xấu đang được trình bày trước mắt thì tâm mình cũng đã an như biển (lớn). Các vọng tưởng đã hết thì không còn gì bức bách được ta nữa. Ta ra khỏi được trần lụy và chướng ngại, vĩnh viễn bỏ lại nguồn gốc của khổ đau, đó gọi là
thể nhập được Niết Bàn.

 

Khi nhìn mà thấy được cả hai tướng sư tử lẫn vàng đều không còn nữa thì phiền não không còn sinh khởi. Mới nhìn, ta thấy vàng và sư tử khác nhau. Nhưng khi nhìn kỹ, ta thấy hai tướng đó không phải là hai tướng riêng biệt. Ta không phân biệt tổng tướng và biệt tướng, thành tướng và hoại tướng. Ta không bị tướng đánh lừa nữa thì phiền não không còn sinh khởi.

Dù cái đẹp hay cái xấu đang được trình bày trước mắt thì tâm mình cũng đã an như biển lớn. Khi đó ta thấy được bản chất không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt, không xấu cũng không đẹp. Vì vậy tâm ta an, không chạy theo một cái và ruồng bỏ cái khác. Cái gì cũng mầu nhiệm, chủ thể mầu nhiệm, đối tượng cũng mầu nhiệm. Chủ thể và đối tượng không phải là hai cái tách riêng với nhau.

Các vọng tưởng đã hết thì không còn gì bức bách ta được nữa. Ta đã ra khỏi được trần lụy và chướng ngại, vĩnh viễn bỏ lại nguồn gốc của khổ đau, đó gọi là thể nhập được Niết Bàn (vọng tưởng đô tận vô chư bức bách). Bức bách là ép buộc.

Xuất triền ly chướng. Chướng là chướng ngại, ra khỏi những ràng buộc và rời bỏ những chướng ngại. Vĩnh xả khổ nguyên là vĩnh viễn buông bỏ, thoát khỏi nguồn gốc của khổ đau. Đó gọi là nhập Niết Bàn. Nhập Niết Bàn là do cái thấy của mình chứ không phải do hai chân mình đi vô. Chúng ta không cần phải đi đâu hết, chỉ cần thấy mà thôi.

Bây giờ chúng ta thêm vào một chương nữa là chương Thực tập ba quán. Tông Hoa Nghiêm có pháp môn tam quán tại vì nếu đưa ra một tác phẩm mà không đưa ra phương pháp quán tưởng cụ thể thì hơi thiếu. Tôi đề nghị thêm hai chương nên mười thành mười hai chương.