Tạo lập Tịnh Độ

Khi tâm mình nhẹ nhàng, thảnh thơi và hạnh phúc thì ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh không thể xuất hiện.Những nẻo đường đen tối đó có thể phát hiện trong ta bất cứ lúc nào trong ngày nếu ta đánh mất niệm, định và tuệ. Địa ngục, quỷ đói hay là súc vật đang có mặt trong ta dưới hình thức của những hạt giống đen tối. Nếu ta không có chánh niệm, không có tu tập, thì ba nẻo đường xấu ác đó có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Bất cứ lúc nào ta nổi giận lên là lửa địa ngục bừng dậy đốt cháy ta.Địa ngục mà phát hiện thì Tịnh Độ tự nhiên biến mất.Điều này rất rõ.Bóng tối mà phát hiện thì ánh sáng không còn.Tịnh Độ cũng vậy.Khi địa ngục biến đi thì Tịnh Độ biểu hiện.Ở trong ta có hạt giống của Tịnh Độ, ở trong ta cũng có hạt giống của tam ác đạo, của ba nẻo về xấu ác.Nếu muốn có Tịnh Độ thì ta có thể làm cho Tịnh Độ biểu hiện trong hiện tại.Và nếu muốn có tam ác đạo, ta cũng có thể làm cho địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh biểu hiện trong hiện tại.Địa ngục là gì, chúng ta đã biết.Tại vì chúng ta đã từng ở dưới địa ngục.”Con đã từng cất tiếng kêu gào dưới ngục A tỳ mòn mỏi hư hao.” Mình đã từng ở địa ngục nên mình biết địa ngục nóng hay lạnh như thế nào rồi.Và khi mà chất liệu địa ngục ở trong ta không còn phát hiện thì ta có Tịnh Độ.

Ngày xưa mình cũng đã từng làm ma đói (ngạ quỷ). Mình đã từng làm ma đói chạy đi chỗ này chỗ khác để mong kiếm chác một chút tình thương, một chút hiểu biết, một nơi nương tựa.Hạt giống của ma đói nằm ngay trong tâm của ta chứ ở đâu.Khi nào khuynh hướng cô hồn lạc loài phiêu lãng trong ta phát khởi thì ma đói hiện ra và ta trở thành một con ma đói.Khi bị sự thèm khát vật dục trấn ngự, ta lại trở thành súc sanh.Ta trở thành một con thú vật, một con heo, một con bò, chỉ biết ăn, chỉ biết chạy theo tình dục… Nếu cõi Tịnh Độ biến mất trong đời sống của ta, đó là vì những hạt giống của địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh đang biểu hiện trong lời nói, hành động và sự suy nghĩ của ta.

Ước muốn cao nhất của đời tôi là gì? Tôi không muốn làm chùa lớn, không muốn đúc tượng lớn, không muốn có nhiều trương mục lớn trong một nhà băng, không muốn có bằng cấp tiến sĩ.Tôi không muốn làm Hội trưởng hội Phật học.Tôi không muốn làm Tăng Thống, không muốn làm giáo chủ.Tôi chỉ muốn kiến thiết một Tịnh Độ thôi!Xây dựng Tịnh Độ để mời những người dễ thương đến sống chung và làm chỗ nương tựa cho nhau.Trong tâm ta nếu có Tịnh Độ thì ta đi đâu Tịnh Độ cũng hiển bày.Những người có Tịnh Độ trong tâm là những người có phẩm chất nhân cách rất cao.Người nào có phẩm chất như vậy thì được gọi là “thượng thiện nhân” hay làcao đức.Vì những người này có tâm trí vượt khỏi danh lợi.Có một vị thượng thiện nhân là có một người dễ thương.Cõi Cực Lạc là nơi mà các bậc thượng thiện nhân lưu trú rất đông:”Chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ”.Đây không phải là một câu kinh ước mơ mà là một câu kinh chí nguyện, tại vì điều thích thú và hào hứng nhất của mình là lập được một đạo tràng để những người dễ thương trên thế gian quy tụ lại sống với nhau một cách rất hạnh phúc và để làm nơi nương tựa cho không biết bao nhiêu người khác.Vì vậy trong ước muốn của chúng ta cũng có hạt giống của Bụt A Di Đà.Hạt giống đó chính là ước muốn thành lập một trú xứ dễ thương, một hoàn cảnh thuận lợi cho sự tu học.Có nhiều vị thượng thiện nhân đến sống chung thì tự nhiên ta không cầu Tịnh Độ mà Tịnh Độ cũng vẫn hiển bày.Được ngồi gần bên một người dễ thương, mình cảm thấy sung sướng biết bao.Huống hồ là mình được bao bọc bởi biết bao nhiêu người dễ thương.Những người dễ thương ấy đến với nhau, tuy chưa làm gì hết mà cảnh trí đã là cảnh Tịnh Độ rồi, phải không? Những người không dễ thương ngồi bên nhau khoảng mười lăm phút thì không khí đã thấy ngột ngạt.Địa ngục hiện ra ngay khi những người không dễ thương tụ tập đông đảo đến ba bốn trăm người.Mình sẽ chết ngột.Vì vậy, cảnh Tịnh Độ và cảnh Địa ngục đều có thể phát hiện từ lòng mình.Cho nên mỗi người tu đều có sự thích thú và ước muốn thành lập một Tịnh Độ.Tịnh Độ tuy thế không phải là công trình của một người, dù người đó là một bậc Toàn Giác.Tịnh Độ là công trình của rất nhiều người, và những người đó được gọi là ‘‘thượng thiện nhân’’. Chúng ta thấy cõi Cực Lạc (Sukhavati) không phải là công trình riêng của một người, dù người ấy là Bụt A Di Đà.Cho nên ta đừng nghĩ với tư cách cá nhân ta có thể tạo lập được Tịnh Độ.Ta tạo lập Tịnh Độ bằng công sức Tăng thân.Nếu ta không dễ thương, không có khả năng lắng nghe, không có khả năng nói lời ái ngữ, không biết làm việc tập thể, nếu ta độc tài, thì ai mà tới cọng tác với ta?Như thế, làm sao ta có thể tạo ra được Tịnh Độ.Chúng ta phải tự hỏi rằng chúng ta đã là một vị bồ tát nhất sanh bổ xứ hay chưa?Trong lòng ta, ai cũng muốn thiết lập một trung tâm Tịnh Độ.Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng khi đứng ra làm chủ trung tâm ấy, ta sẽ không bị lệ thuộc vào sư anh này, vào sư chị kia, sư em nọ, và ta sẽ có toàn quyền quyết định.Ước muốn làm chủ Tịnh Độ là một ước muốn ngây thơ.Nếu mình không sống hạnh phúc được với sư anh, sư chị và sư em của mình, thì làm sao mình có thể thiết lập Tịnh Độ?Những người đến với mình sẽ bỏ mình và mình sẽ cô đơn.Mà một người cô đơn thì không bao giờ thiết lập được Tịnh Độ.Chúng ta chỉ cần nhìn chung quanh để thấy.Không phải người đó không có chí nguyện thiết lập Tịnh Độ.Chỉ tại người ấy chưa có đủ hạnh phúc, chưa có đủ sự bao dung, chưa có đủ khả năng lắng nghe, chưa có đủ khả năng nói lời ái ngữ, chưa có đủ khả năng làm việc chung; người ấy chỉ muốn người ta làm theo ý của mình.Những người như vậy không có khả năng thành lập Tịnh Độ, họ chưa phải là bồ tát nhất sanh bổ xứ.Ai có thể nói cho mình biết mình đã là bồ tát nhất sanh bổ xứ?Chúng ta không cần ai nói hết.Cứ nhìn vào tâm hành của chúng ta, là chúng ta biết ngay.Từ nay về sau, mỗi khi đại chúng tụng đến câu này, thì xin để tâm quán chiếu.Tịnh độ là một nơi quy tụ của các bậc thượng thiện nhân.Tịnh Độ không phải là công trình của một anh hùng cá nhân.

‘‘XáLợi Phất! Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy’’.

Câu kinh này có thể làm cho ta nản chí. Nhưng sẽ có những câu kinh khác làm cho chúng ta phấn khởi trở lại.Như câu chúng ta chỉ cần niệm Bụt một lần hoặc mười lầnlà đã đủ điều kiện để sinh về Tịnh Độ.Ta nên tin vào câu kinh này hay là tin vào câu kinh kia?Thật ra nếu ta hiểu được câu kinh này thì ta sẽ hiểu được những câu kinh kia, và nếu không hiểu được câu kinh này thì ta cũng không hiểu được những câu kinh kia.Hai câu không chống nhau mà bổ túc cho nhau.Hai câu kinh này là hai mặt cùng một thực tại.

‘‘Xá Lợi Phất, những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy.’’Phúc đức tức là những may mắn, những thiện duyên.Căn lành là những gốc rễ tốt đẹp.Trong lòng chúng ta nếu những gốc rễ ấy hiếm hoi thì chúng ta ít hy vọng được sanh về cõi đó.Căn là gốc rễ, nhưng cũng có khi được hiểu là hạt giống.Có những lúc chúng ta trồng cây bằng rễ, có những lúc chúng ta trồng bằng hạt.Trồng bằng hạt cũng lên, trồng bằng rễ cũng lên.Như hoa sen vậy.Ta trồng sen bằng hạt hay bằng củ thì sen cũng đều lên được.Vậy muốn sanh về cõi Cực Lạc ta phải có hạt hoặc là rễ của Tịnh Độ.Nghĩa là những hạt giống tốt đẹp mà ta đã gieo vào trong tâm thức của ta, như ta đã có lần đến chùa lạy Bụt, đã có lần bố thí cho một em bé mồ côi, đã có lần cúng dường cho một vị xuất gia, đã có lần đưa tay ra cứu một con kiến đang chết đuối.Tất cả những hành động đó đều là những hành động gieo trồng căn lành.Hay ta đã từng mở miệng đọc Namo Buddhàya.Tất cả những cử chỉ nho nhỏ đó đều là những căn lành đã gieo trồng.Điều này trong kinh Pháp Hoa có dạy:

‘‘Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng Nam mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo.’’

Giả dụ có một người tâm ý tán loạn mà bước vào trong chùa, hoặc bước vào trong tháp, rồi mở miệng niệm lên một câu ‘‘Nam mô Phật’’ thì cái đó đã là một nhân duyên có thể đưa đến sự kiện người đó thành Phật sau này.Tuy là một hạt giống rất nhỏ, một cái rễ rất nhỏ, nhưng hành động ấy đã được gieo trồng vào trong tâm, và thế nào ngày mai nó cũng sẽ trở thành những nhân duyên đưa mình đi đến với đạo và thành đạo.Nhất xưng Nam mô Phật.Nhất xưng là chỉ niệm một lần Namo Buddhaya thôi.Ấy vậy mà hạt giống đó sẽ đưa đẩy người kia đi đến cái nhân duyên thành Phật sau này.Đó chính là những căn lành, những phước đức.Câu kinh này nói rằng những người ít căn lành, ít phước đức thì ít có hy vọng sanh về cõi Tịnh Độ.Chúng ta biết tại Làng Mai, có những thiền sinh đến từ những nơi rất xa xôi, họ đến từ bên Nga, họ đến từ Na uy, Nam Phi, trong khi đó có những người sống ở Paris, chỉ cần một giờ đồng hồ là có thể bay tới, vậy mà suốt đời không bao giờ có cơ duyên bước đến Làng Mai.Tuy họ ở gần một bên mà họ cũng không biết sự có mặt của Làng Mai, vì vậy, họ không có được cơ duyên tham dự:

‘‘Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng’’

Có nhân, có duyên thì dù cách xa ngàn dặm cũng có thể gặp nhau, mà vô duyên thì ngồi đối diện nhau cũng chẳng gặp nhau được.Vậy sự khác biệt giữa hữu duyên và vô duyên là như thế nào?Sự khác biệt không phải do ở gần hay ở xa Tịnh Độ mà là chúng ta có nhân duyên hay không?Tôi mới nghe Thomas báo cáo là:‘‘Cho tới hôm nay đã có ba chục ngàn người Thụy Sĩ đi xem cuốn phim The Step of Mindfulness’’.Cuốn phim này kể lại chuyến hoằng pháp của tôi tại Ấn độ năm 1997. Tại sao họ không đi rạp chiếu phim khác, mà lại mua vé đi xem cuốn phim này.Có rất nhiều người sau khi xem phim đã đi mua hết những quyển sách của tôi về đọc và đã có nhiều người viết thư về xin tham dự khóa tu tại Làng Mai.Tại sao họ làm như vậy, khi họ chưa một lần đi chùa?Họ chỉ có dịp đi xem phim, thấy được quý thầy, quý sư cô và nghe những bài pháp thoại trong phim, thế mà những hạt giống tốt trong họ được tưới tẩm và khi về nhà, họ mong muốn được tu học.Vậy sang Tịnh Độ không khó khăn gì, nếu ta có chút nhân duyên.Chỉ cần ta biết rằng Tịnh Độ đang có mặt ở đó, và ta chỉ cần cầm điện thoại lên và nói:‘‘Allo!Tịnh Độ đó phải không?Tôi muốn được về tu học hai tuần’’.Sư chú hay sư cô sẽ trả lời:‘‘Dạ được, khóa tu mùa đông còn chỗ.’’Có khó khăn gì đâu?Ăn thua là có cái duyên hay không.Vô duyên thì có gần sát bên cũng không gặp, có duyên thì mấy ngàn cây số cũng gần.Chỉ cần một mảnh điện thư (e-mail), một tờ truyền chân (fax) hay một cú điện thoại là mình có thể bay sang Tịnh Độ.

Gió chim thuyết pháp

Sở dĩ ta gọi cõi ấy là cõi Cực Lạc là tại vì dân chúng ở đó có thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp thoại.Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta cũng nghe được pháp thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, v.v..Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như ở đây và cũng sẽ được học những điều y hệt như ta đang được học trên cõi Ta Bà này, nghĩa là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.Chúng ta biết rằng đức A Di Đà là một vị thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp. Đức Bụt Thích Ca dạy:

‘‘Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.’’

Bụt A Di Đà đang thuyết pháp và những con chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng mạng… cũng đang thuyết pháp và giọng hót của những loài chim đó rất hòa nhã. Những con chim này thay phiên nhau hót, một ngày sáu lần (trú dạ lục thời).Đó là công phu sáu thời.Ngày xưa trong sự tu tập người ta chia một ngày làm sáu phần gọi trú dạ lục thời.Trú là ban ngày, dạ là ban đêm.Khi hành trì phép sám hối của vua Trần Thái Tông thì chúng ta cũng sám hối sáu lần một ngày.Vua Trần Thái Tông sáng tác ra nghi thức sám hối này để tự hành trì, gọi là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, tức là khoa nghi để sám hối sáu lần trong một ngày.Chia sáu thời trong một ngày, đó là sự thực tập trong truyền thống. Những con chim này biết rằng dân chúng mỗi ngày đều thực tập sáu thời cho nên bắt đầu mỗi thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì ta nghe được tiếng pháp trong đó.Có thể khi chim hót thì đức A Di Đà ngừng thuyết pháp và khi đức A Di Đà thuyết pháp thì chim ngừng hót. Cũng có nghĩa là Bụt A Di Đà và cả các loài chim, cây và gió, khi mở miệng là chỉ thuyết pháp mà thôi.

Chung quanh ta cũng đang có rất nhiều loại chim.Nếu sống trong chánh niệm và tâm có định thì chúng ta cũng có thể nghe trong tiếng gió và tiếng chim có tiếng nói pháp. Tiếng nói pháp này có thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Bụt A Di Đà hay là của những con chim ở cõi Cực Lạc. Nếu có niệm và định thì tất cả những gì chúng ta thấy và nghe trong đời sống hàng ngày đều là những bài pháp thoại.Một chiếc lá rụng, một bông hoa nở, một con chim bay ngang hay một tiếng chim hót đều là những bài thuyết pháp và người đang nói pháp là Bụt Tỳ Lô Giá Na, tức là Bụt pháp thân.

Chúng ta phân biệt ra ba thân của Bụt, tức là pháp thân, báo thân và hóa thân.Pháp thân là bản thể trong sáng bất sinh bất diệt.Báo thân là thân tướng tốt đẹp của những người đã tu học, đã tạo ra rất nhiều công đức.Và hóa thân hay ứng thân là cái thân bình thường của ta.Đức Thích Ca cũng có một thân như vậy, gọi là ứng thân hay hóa thân. Khi đức Bụt Thích Ca ngồi ở trên núi Thứu mà thuyết pháp thì đó là ứng thân Bụt hay hóa thân Bụt đang thuyết pháp. Ứ­ng thân thì có khi ngủ, có khi thức dậy, có khi đi tắm, có khi đi ăn cơm. Còn pháp thân của Bụt thì lúc nào cũng có mặt để thuyết pháp.Vì vậy, nếu có chánh niệm thì chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào trong tiếng gió, tiếng chim, trong khi cành trúc lay, bông hoa nở và người đang thuyết pháp là pháp thân của Bụt.­ Ứng thân hay hóa thân của Bụt thì chỉ nói tiếng người, còn pháp thân có thể nói tiếng chim, tiếng hoa, tiếng gió và tất cả mọi thứ tiếng. Đoạn kinh này cho chúng ta biết rằng nếu có niệm và định thì chúng ta có thể nghe pháp trong khi chim hót, thông reo và hoa nở. Pháp chúng ta đang nghe đó là pháp nguyên thỉ, nghĩa là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc… và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Kinh đại thừa này chuyên chở giáo lý nguyên thỉ.Trong cõi Cực Lạc, dân chúng thực tập pháp môn nào? Thực tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Ta là thiền sinh giỏi thì đừng đợi đến giờ pháp thoại mới nghe thuyết pháp mà phải biết nghe pháp trong khi nhìn hoa nở, trong khi nghe thông reo, chim hót và khi ngắm trúc lay.Pháp thân của Bụt chưa bao giờ ngừng thuyết pháp. Trong bài Trường ca Avril, tôi có viết một câu: ‘‘Bông hoa vẫn chưa ngưng lời hát ca.’’Câu này cũng có nghĩa như vậy: pháp thân của Bụt vẫn đang thuyết pháp. Ở Việt Nam, trong thời chiến tranh Việt-Pháp, có một thi sĩ trẻ tên là Quách Thoại.Quách Thoại cùng với Trụ Vũ đã từng sống ở chùa Giác Nguyên.Quách Thoại chết trẻ, để lại một bài thơ rất hay là bài Bông Thược Dược:

“Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.”

Bông thược dược đứng ở ngoài hàng rào và đang mỉm cười một cách mầu nhiệm. Có thể nhiều thiền sư cũng không làm thơ hay bằng thi sĩ trẻ này.Tại vì trong giây phút đó, thi sĩ may mắn tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của bông hoa thược dược, thấy bông hoa thược dược là biểu hiện nhiệm mầu của pháp thân Bụt. Thấy bông hoa thược dược chưa bao giờ ngưng hát ca, chưa bao giờ ngưng thuyết pháp.

‘‘Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.’’

Đứng trước một sự biểu hiện nhiệm mầu như vậy, tiếp xúc được với pháp thân của Bụt thì thái độ của ta chỉ là sụp lạy và cúi đầu trước bông hoa thôi. Tại vì bông hoa đó là pháp thân của Bụt.Năm 1966, trong khi đi diễn thuyết bên Úc, tôi có tá túc tại một tu viện Thiên Chúa giáo. Tôi đang ngồi ở ngoài sân cỏ thì có một bà sơ đem ra cho tôi một chén nước trà. Rồi bà rút lui để đi thỉnh chuông.Tôi ngồi yên trên bãi cỏ uống trà và làm được bài thơ Tiếng Gọi sau đây:

‘‘Sáng hôm nay,
tới đây
Chén trà nóng
Bãi cỏ xanh
Bỗng dưng hiện bóng hình Em ngày trước
Bàn tay gió
Dáng vẫy gọi
Một chồi non xanh mướt
Nụ hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.’’

Ngồi đó và an trú trong giây phút hiện tại, nên tôi thấy được một chồi cây xanh đang vẫy tay chào gọi. Đó là biểu tượng của pháp thân.Và khi thấy được sự mầu nhiệm đó rồi, ta nhận thấy rằng bất cứ nụ hoa nào, hạt sỏi và ngọn lá nào cũng đang thuyết pháp và đang thuyết pháp đại thừa, thuyết kinh Pháp Hoa.

Bàn tay gió
Dáng vẫy gọi
Một chồi non xanh mướt
Nụ hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.

Bài thơ này, cũng như bài thơ của Quách Thoại, nói tới sự kiện pháp thân của Bụt hiện đang thuyết pháp. Nếu chúng ta chăm chú, sống có giới và có định thì chúng ta tiếp xúc được với pháp thân và được liên tục nghe thuyết pháp, chứ không phải cần bỏ băng giảng vào trong máy bấm nút rồi mới được nghe. Chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào.Đọc đoạn kinh này, ta phải thấy được rằng ở cõi Cực Lạc, không những Bụt A Di Đà đang thuyết pháp mà chim chóc, hoa lá đều thuyết pháp cả.Và ta có thể thấy rằng Bụt A Di Đà cũng như chim chóc ở đây đều là biểu hiện của pháp thân. Chúng ta hãy cùng đọc lại:

‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như hạc trắng, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng… Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần… Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.’’

Một điều cần để ý là ở ngay đây, trong giây phút hiện tại, chúng ta cũng có thể thừa hưởng được những tiện nghi của cõi Cực Lạc.Nghĩa là ở đây chúng ta cũng có thông reo, hoa nở và cũng có đức A Di Đà.Những yếu tố hấp dẫn được nói đến trong kinh A Di Đà chúng ta đều đang có đủ.Chúng ta không cần đi đâu hết, không cần đợi tới sau khi chết rồi mới đi vào thế giới Cực Lạc.

‘‘Xá Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo. Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.’’

Bên nước Cực Lạc dân chúng không cần dùng máy video cassette, chỉ dùng chim thôi.Ở đây, chúng ta ngồi trong phòng và mở video cassette ra nghe pháp được, nhưng ra ngoài đi thiền hành, lắng nghe tiếng chim, tiếng suối, nghe thông reo hay nhìn hoa nở ta cũng có thể nghe thuyết pháp. Không có ngọn lá nào, hạt sỏi hay nụ hoa nào mà không đang thuyết pháp cả.Đứng về phương diện tích môn thì những con chim đó, những bông hoa, cành trúc và những đám mây đó đều có sinh diệt và luân hồi.Nhưng đứng về phương diện pháp thân thì tất cả đều là biểu hiện của pháp thân mầu nhiệm.Trong đạo Bụt đại thừa, tất cả những mầu nhiệm trong vũ trụ như trời xanh, mây trắng, trúc tím và hoa vàng đều là biểu hiện của pháp thân. Chúng ta hãy luôn luôn ý thức điều này.

‘‘Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân.’’

(Trúc biếc, hoa vàng đều không phải là những cái gì bên ngoài.Trăng sáng, mây bay đều là biểu hiện của pháp thân.) Nhìn từ phương diện nghiệp thì tất cả đều do nghiệp báo mà hiện thành.Nhưng nhìn từ phía của pháp thân thì ta thấy tất cả đều là biểu hiện của pháp thân.Những con chim kia cũng vậy, về phương diện nghiệp báo thì thấy chúng là sản phẩm của nghiệp báo.Đứng về phương diện pháp thân thì chúng lại là biểu hiện mầu nhiệm của pháp thân, không sinh cũng không diệt.Có khi ta tự hỏi là không biết vì nghiệp báo nào mà ta phải sinh ra ở trên cõi đời này cho khổ?Những con chim, con ruồi, con muỗi, con nai và con cá kia do nghiệp báo nào mà phải sinh ra làm thân con chim, con ruồi, con muỗi, con nai hay con cá?Đó là câu hỏi từ phương diện nghiệp báo. Cũng những cảnh tượng đó, mà nếu ta bi lụy, sầu đau, nghi ngờ và giận hờn thì đó là biểu hiện cái quả của nghiệp báo. Còn nếu tâm ta nhẹ nhàng, an lạc và giải thoát thì tất cả những cái đó trở thành biểu hiện của pháp thân mầu nhiệm.Tất cả đều do nhận thức nơi ta.Những con chim này không hẳn là khác với những con chim mà mình thấy và nghe mỗi ngày.Đúng là những con chim đó, nhưng nếu tâm ta trong sáng, nhẹ nhàng, không có ganh tỵ, sợ hãi và kỳ thị, thì tự nhiên chúng trở thành những con bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng… ở cõi Cực Lạc.Còn nếu tâm hồn ta đen tối, lo lắng, sợ hãi và kỳ thị thì chúng trở thành những con chim của nghiệp báo, của vô minh và khổ đau.Thực vậy, chúng ta muốn tiếp xúc với loài chim nào (chim của đức Bụt A Di Đà biểu hiện hay là chim của nghiệp báo) là tùy chúng ta.Ví dụ tiếng điện thoại hay tiếng chuông đồng hồ.Tiếng điện thoại có thể làm ta bực bội và lo âu, đó là tiếng điện thoại của nghiệp báo, của phiền não.Nhưng nếu ta làm như ở Làng Mai, tiếp nhận tiếng điện thoại là một tiếng chuông chánh niệm thì khi tiếng điện thoại reo lên, ta biết nhiếp tâm vào hơi thở, mỉm cười và làm cho thân tâm an lạc, thì tiếng điện thoại đó là do uy lực của đức A Di Đà sáng tác.Tiếng điện thoại có thể làm cho ta hồi hộp, lo lắng và sầu đau, mà cũng có thể làm cho ta có chánh niệm, giải thoát và tự do.Tùy theo cách tiếp nhận của ta.Tiếng chuông nhà thờ hay tiếng chuông chùa cũng vậy, có thể ta đang nghe tiếng chuông mà vẫn tiếp tục buồn tủi, khổ đau và giận hờn.Nhưng nếu biết phương pháp biến hóa của đức A Di Đà, thì ta cũng có thể chế tác ra được những tiếng chuông có bản chất thanh thoát và nhẹ nhàng.Khi nghe những tiếng chuông ấy tất cả các phiền não đều tan thành mây khói, bởi vì ta biết trở về với hơi thở và đem chất liệu của sự thảnh thơi và vững chãi đi vào trong tâm hồn ta.Vì vậy, tiếng chuông hay tiếng điện thoại cũng là sáng tạo phẩm của đức A Di Đà, của đức Thích Ca và của tăng thân.Ta cần sử dụng những âm thanh đó cho cuộc đời bớt khổ.Khi gặp nhau, chúng ta chắp tay lại thành búp sen để xá chào thì cử chỉ chắp tay đó không phải chỉ là lễ phép mà là sự thực tập chánh niệm.‘‘Sen búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai.’’ Khi thở vào, ta làm nên một đóa sen búp bằng hai bàn tay; khi thở ra, ta xá xuống người trước mặt. Trong thời gian làm như thế ta có an lạc và hạnh phúc.Vì vậy, chắp tay búp sen cũng là sáng tạo phẩm của Bụt A Di Đà, của Bụt Thích Ca, hay của tăng thân có mục đích đem lại an lạc và hạnh phúc cho tăng thân.Nếu chắp tay giống như một cái máy, không có niệm, không có định, không có tuệ, không có an lạc gì hết thì sự chắp tay ấy không đưa tới một an lạc nào.Vì ở đây, ta nghe trong tiếng chim có tiếng thuyết pháp, nên ta cũng biết rằng ta không cần đi đâu hết.Chỉ cần an trú trong hiện tại với tâm có niệm và có định là ta nghe được tiếng chuông mầu nhiệm, và tiếng chim đang thuyết pháp.Những tiếng chim hót ởcõi Cực Lạc, ởđây mình cũng có. Học kinh A Di Đà,ta phải thấy rõ điều này.

Đạo tràng lý tưởng

‘‘Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là bồ tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng, không thể dùng toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.’’

Trong kinh này, Bụt liên tiếp đưa ra những hình ảnh rất tích cực về nước Cực Lạc, và sau khi đưa ra những hình ảnh tích cực kia Bụt lại nói: ‘‘Còn nữa… này nữa…’’ Trong nguyên văn là: ‘‘Phục thứ Xá Lợi Phất!’’. Chúng ta dịch là ‘‘Này nữa Xá Lợi Phất!”.”Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển.’’ Bất thối chuyển có nghĩa là không còn bị sa đọa trở lại.Thối là đi lui; hễ sinh sang nước đó rồi thì chỉ đi tới thôi, không còn đi lui, không rơi rụng trở lại nữa, nghĩa là không rơi rụng trở lại trong cõi đau khổ, chìm đắm và hệ lụy.Tại sao? Tại vì có một cái gì giống như một cái lưới đã được giăng ra làm cho mình có muốn rơi xuống cũng không rơi xuống nữa. Cái lưới đó là cái lưới gì mà giữ cho ta không sa đọa trở lại?Đức Thế Tôn sẽ cho chúng ta biết trong một đoạn kinh tiếp theo.

Bất thối chuyển nghĩa là không còn sa đọa trở lại. Những người nào sinh về cõi Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển.Và trong số đó có nhiều vị bồ tát đã là nhất sanh bổ xứ.Bồ tát nhất sanh bổ xứ là bồ tát sẵn sàng được sinh ra một lần cuối để thành Phật.Muốn cõi nào thì đi về cõi đó để thành Bụt.Đức Thích Ca Mâu Ni trước khi sanh đã là bồ tát nhất sanh bổ xứ, sinh ra lần chót ở cõi Ta Bà và thành Bụt ở đây.Số lượng các vị này, tức là các vị bồ tát nhất sanh bổ xứ, đông đảo vô cùng, không thể nào dùng toán học để kiểm đếm được.Ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.A Tăng Kỳ có nghĩa là vô số. Chữ Atức là vô và Tăng Kỳ là số.

‘‘Xá Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi, khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy.’’

Đó là lời gởi gắm, nhắn nhủ và khuyên bảo của đức Thế Tôn.Đức Thế Tôn khuyên rằng:Nếu quý vị được nghe nói đến cõi Cực Lạc thì nên phát tâm sanh về cõi đó. Và Thế Tôn đưa ra một lý do rất chính đáng:

‘‘Tại sao? Tại vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.’’

Trong kinh có rất nhiều câu hay nhưng câu này là câu hay nhất.Không phải là sinh về nước đó thì có vàng, bạc, ao, hồ, gió, các loại chim, các hàng cây hay các thứ đẹp đẽ khác mà bởi vì một lý do rất quan trọng.Nước này có một cảnh tượng rất đẹp: đó là nơi tụ họp của rất nhiều người dễ thương, rất nhiều bậc cao đức.Đó là lý do số một để chúng ta sinh về. Tại vì sinh về chỗ đó thì ta sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều người dễ thương.Tuy Bụt Thích Ca không nói rõ nhưng chúng ta biết rằng Bụt A Di Đà là một người có khả năng rất lớn trong việc xây dựng tăng thân.Nếu đức Bụt A Di Đà không dễ thương thì đâu có ai muốn đến cõi đó để cộng tác và sống chung với Ngài.Vì đức A Di Đà dễ thương quá chừng, cho nên hầu hết tất cả những người dễ thương đều quy tụ về bên đó.Chìa khóa của sự thành công là quy tụ được những người dễ thương, những bậc thượng thiện nhân, về chỗ mình ở.Câu hội nhất xứlà đến cùng ở chung một chỗ.Chúng ta người nào cũng muốn được như đức Bụt A Di Đà.Khi chúng ta thiết lập một đạo tràng, một quê hương tịnh độ thì ta cũng muốn rằng tất cả những người dễ thương trên thế giới đều quy tụ về trú xứ đó để cùng cộng tác với chúng ta.Và ta biết trước rằng nếu ta độc tài, khó chịu và không biết sử dụng ái ngữ thì các bậc thiện nhân sẽ không tới.Vì vậy ta biết rằng đức Bụt A Di Đà là một người rất dễ thương, nghe tới đức Bụt A Di Đà và cõi nước của ngài ai cũng muốn đi tới để được cùng sống và gần gũi với những người dễ thương nhất trên đời.

‘‘Xá Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi, khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao? Tại vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.’’

Thiện nhân là những người có trái tim rất rộng, có những hạt giống rất lành trong tâm thức, chỉ muốn nghĩ điều lành, nói điều lành và làm điều lành thôi. Thiện nghĩa là tốt lành.Nhân phẩm của các vị thiện nhân là nhân phẩm cao đẹp cho nên gọi là thiện nhân cao đức.Trong cõi này, ta chỉ nghĩ tới những điều thiện thôi và tư tưởng của ta là tư tưởng thiện.Vì sao vậy?Vì hoàn cảnh chung quanh có nhiều điều kiện để tưới tẩm và đánh động tới những hạt giống lành ở trong ta.Ví dụ, khi nghe tiếng chim hót, thì được nhắc nhở những giáo lý Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần,… khi nghe tiếng gió reo qua đọt thông thì ta cũng được nghe pháp; sống giữa những người biết đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh niệm thì ta cũng được đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh niệm và tâm tư ta luôn luôn nghĩ đến điều thiện.

Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa nghĩ điều lành, buổi tối nghĩ điều lành, ta có một niềm vui. Sở dĩ tâm ý ta luôn luôn tương ứng với điều lành là do hoàn cảnh chung quanh rất thuận tiện.Chung quanh ta toàn là những người lành.Và tất cả những gì ta thấy và nghe ở chung quanh cũng đều có tác dụng tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp ở trong ta, gọi là ý lành. Miệng lành, tức là những lời ta nói ra đều là lành.Ta không còn chửi mắng, vu khống, thêu dệt hay nói xấu.Vì mọi người đang học tập chánh pháp, do đó không ai có cơ hội để nghĩ và nói tới những điều không lành.Mỗi lời nói của ta đều có tác dụng làm cho êm dịu tâm tư và ban phát hạnh phúc cho những người ở chung quanh.Ở cõi Tịnh Độ không có ác ngữ mà chỉ có thiện ngữ.Và thân ta cũng vậy.Tất cả mọi người đều thực tập với tư cách của các vị bồ tát.Vì vậy nơi cõi Tịnh Độ, không có sự giết chóc lẫn nhau và không có sự ăn cắp. Ở cõi Tịnh Độ không có sát, đạo và dâm.Vì ở bên đó có những niềm vui rất lớn.Ở Tịnh Độ dân chúng thực tập giới cho nên không ăn thịt, không uống rượu và không sử dụng những thứ kích thích.Vì vậy người ta không phạm giới dâm dục, không phạm giới sát sanh, cũng không phạm giới trộm cắp.Những con người bên đó đều có lý tưởng cao vời, ai cũng muốn những chuyện đẹp thôi, tức là muốn thành lập Tịnh Độ.Sau khi đã ở Tịnh Độ với Bụt A Di Đà thì ta cũng muốn đi xây dựng một Tịnh Độ theo mô thức của nước Bụt A Di Đà.Tại vì ta là một vị bồ tát nhất sanh bổ xứ.Ta muốn về Việt Nam để làm Tịnh Độ, ta muốn về Phi Luật Tân để làm Tịnh Độ, ta muốn về Mỹ để làm Tịnh Độ…

‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.Xá Lợi Phất! Nước Cực Lạc được tô điểm bằng những cái đẹp như thế.’’

Trong đoạn kinh này ta thấy có danh từ nước tám công đức.Tám công đức đó là: trong trẻo sạch sẽ, thanh tịnh mát mẻ, có vị ngon ngọt, nhẹ nhàng mềm mại, thuần nhị mượt mà, yên ổn điều hòa, uống vào thì trừ được vô lượng quá hoạn như đói khát …, uống xong thì chắc chắn có thể trưởng dưỡng được các căn.

“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Bụt ấy, người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy có thói quen buổi sáng lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi cúng dường các vị Bụt đang cư trú ở vô số các cõi Bụt khác. Đến giờ cơm trưa, mọi người đều về kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.”

Chúng ta không biết những tiếng nhạc từ hư không vọng xuống là nhạc gì?Thiên nhạc.Chúng ta biết rằng mỗi buổi sáng thức dậy ở Xóm Thượng, Xóm Hạ hay Xóm Mới, nếu tâm hồn ta thanh tịnh thì ta sẽ thấy đất trời rất thơm.Tuy là im lặng nhưng như có âm nhạc ở trong không gian, rất thanh thoát và nhẹ nhàng.Tất cả những mùi hương, những âm điệu đó đều ở trong tâm ta thoát ra. Chúng ta không nhất thiết phải mua hoa ở chợ.Hoa đã có sẵn.Nếu chúng ta biết nhìn và thưởng thức thì sẽ thấy bất cứ cành hay lá nào cũng đều là hoa cả và những người cắm hoa giỏi không cần phải đi ra mua hoa ở chợ.Trong đoạn kinh này, ta nghe nói tới hoa, tới nhạc, tới chuyện đi thăm các vị Bụt để cúng dường, tới chuyện ăn cơm trưa và đi kinh hành, chúng ta tự hỏi: Ai nấu cơm?Nếu ăn cơm thì thế nào tám giờ sau cũng phải đi cầu.Ở Tịnh Độ có cầu tiêu hay không?Đó là những câu hỏi rất thực tế.Chùa Bảo Liên ở Hương Cảng ngày xưa có treo bốn câu thơ:

“Hữu độ tức phi tịnh
Ngôn thuyên hà sở vi?
Phật thuyết nguyên vô ngã
Thiền sư vấn thị thùy?”

Hữu độ tức phi tịnh tức là nếu đã có một cõi nước thì làm sao mà cõi nước đó tịnh được? Hễ có ăn cơm thì thế nào cũng phải đi đại tiện, có uống nước thì thế nào cũng có đi tiểu tiện.Trên Tịnh Độ cũng có phân và rác, nghĩa là không tịnh theo cách ta đã tưởng tượng.

“Hữu độ tức phi tịnh
Ngôn thuyên hà sở vi”

Dịch là:
Có độ là không tịnh
Lời nói dùng làm gì?

Sự diễn tả của lời nói là để làm gì?Hễ nói tới cõi nước thì không thể có tịnh được.Có cõi thì thế nào cũng có người, có người thì thế nào cũng có sự tiêu thụ, có sự tiêu thụ thì thế nào cũng có phân rác, thành ra không thể nào có độ mà không có bất tịnh.Có độ là không có tịnh.Lời nói của mình được dùng để làm gì?Mở miệng ra là bị mắc kẹt:

“Phật thuyết ngôn vô ngã
Thiền sư vấn thị thùy?’’

Dịch là:
Bụt đã dạy vô ngã
Thiền sư là ai kia?

Bụt đã dạy rằng chúng ta vốn không có ngã.Vậy thì người được gọi là thiền sư đó là ai vậy? Tại sao đã vô ngã rồi mà còn có cái ông gọi là thiền sư ?Thiền sư đó có phải là một cái ngã không? Ngôn từ ta nói ra là có thể bị mắc kẹt.Đứng về phương diện Tịnh cũng vậy, mà đứng về phương diện Thiền cũng vậy.Ta đang còn kẹt vào ngôn từ. Hễ nói tới độ là không nói tới tịnh được, hễ nói tới vô ngã thì từ ngữ thiền sư không thể nêu lên.Thiền sư là một cái ngã.Do đó, khi đọc kinh ta phải quán chiếu.Có thể ta phải ăn cơm, uống nước, đi đại tiện, đi tiểu tiện, nấu cơm và rửa bát.Ăn cơm thì phải dùng bát đĩa, có bát đĩa thì thế nào cũng phải rửa bát đĩa.Mà rửa bát đĩa có dùng tới xà phòng không?Và thức ăn ở trên Tịnh Độ có dầu mỡ hay không?Tịnh hay không tịnh là tùy theo nhận thức của chúng ta.Ban đầu chúng ta đã nói tới tịnh là sự vắng mặt của ô nhiễm.Ô nhiễm của sự bận rộn, của tiền bạc, của quyền hành, của sự ganh tỵ, của sự lo lắng hay của sự sợ hãi.Ô nhiễm là những cái phân rác.Nếu biết cách chúng ta sẽ chuyển được phân rác thành ra hoa quả và rau trái để sử dụng hàng ngày.Vì vậy tịnh ở đây có nghĩa là không bị ô nhiễm bởi phiền não và danh lợi chứ không phải là vì có cầu tiêu, nhà tắm, có nấu ăn và chén bát cần rửa.

Ở đạo tràng Mai thôn, chúng ta phải đặt những câu hỏi như vậy.Đạo tràng Mai thôn có phải là một cõi Tịnh Độ hay không?Nếu sống trong một khung cảnh mà ta thấy có an ninh, có hiểu biết, có thương yêu và có khả năng chuyển hóa được những khổ đau, sợ hãi và vướng mắc thì ta biết rằng đó là khung cảnh của Tịnh Độ.Còn nếu ta không thấy những yếu tố an ninh, thương yêu, hạnh phúc và hòa điệu trong đó thì ta biết rằng đó không phải là một cõi Tịnh Độ mà là một Uế độ.Ta cũng thấy rằng ta có khả năng đóng góp hay phá hoại khung cảnh đó. Tịnh Độ là một nhu yếu rất lớn của tất cả mọi người trong xã hội chúng ta. Vì vậy, đọc kinh A Di Đà là một cơ hội để quán chiếu nhu yếu ấy và khám phá ra khả năng tạo dựng Tịnh Độ của mỗi chúng ta.Tại vì mỗi chúng ta đều là một vị Bụt A Di Đà tương lai, mỗi chúng ta đều có hoài bão muốn thiết lập Tịnh Độ cho chính ta và những người thân cận với ta.

“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng… Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần… Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.’’

Trong đoạn văn này chúng ta thấy Bụt nhắc lại pháp môn trì niệm.Trì niệm là một pháp môn thực tập có từ hồi Bụt còn tại thế.Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí và niệm Thiên.Theo giáo lý của kinh A Di Đà, những người thường trú ở thế giới Cực Lạc cũng thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng là để tiếp xúc được với Tam Bảo và khi tiếp xúc được với năng lượng của Tam Bảo thì ta được sống trong sự an ninh, vững chãi và thảnh thơi.Thử tưởng tượng những người ở trong cõi Cực Lạc mà không thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng: cõi Cực Lạc sẽ không còn là cõi Cực Lạc nữa.Tại sao?Tại vì ở đó sẽ không còn sự an ninh, vững chãi và thảnh thơi.

Tích môn bản môn

“Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Đức Bụt kia tại sao có tên gọi là A Di Đà?”

‘‘Xá Lợi Phất! Bởi vì đức Bụt ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không bao giờ bị ngăn cách. Vì vậy, nên ngài được gọi là A Di Đà.’’

A Di Đà là ánh sáng vô lượng, cũng vì vậy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói:

‘‘Di Đà đích thực pháp thân ta
Nam, Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa’’

Khi đốt lên một cây đèn nến hay một cây đèn dầu, ta sẽ có ánh sáng, nhưng ánh sáng đó không vô lượng.Tại sao vậy?Tại vì nến sẽ hết, dầu sẽ hết và theo đó ánh sáng sẽ hết. Nhưng đức A Di Đà là một nguồn ánh sáng vô tận.Một vị bồ tát, một vị giác ngộ, một vị Bụt luôn luôn từ cơ thể phóng ra ánh sáng.Đó là ánh sáng của chánh niệm.Ánh sáng của các vị Bụt đi rất xa, đi xa lắm.Phóng ra ánh sáng đó để làm gì?Để soi đường và giúp người ta đừng bước sa vào hầm hố của khổ đau.

Chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ có Bụt và các vị Bồ tát mới có thể phát ra ánh sáng này.Người nào trong chúng ta cũng có thể phát ra ánh sáng đó, ánh sáng của chánh niệm.Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi hay thuyết pháp, ánh sáng của chánh niệm tỏa chiếu đi rất xa.Khi người ta tới chơi hay tới thăm viếng mà thấy chúng ta đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh niệm, họ cũng thấy ánh sáng trong thân ta đang chiếu ra.Khi một tia sáng này của ta chạm vào một người khác thì người ấy cũng cảm động và cũng muốn được đi, đứng và làm việc ung dung như vậy.Các thầy, các sư cô, các sư chú và các đạo hữu ở đây người nào cũng có thể phát ra ánh sáng từ thân thể, từ tâm hồn của mình.Tất cả chúng ta đều có khả năng phát ra ánh sáng chánh niệm, và chỉ có sự thực tập chánh niệm mới làm phát ra ánh sáng đó.Chánh niệm đưa đến chánh định, chánh định đưa đến trí tuệ.Đó là những viên ngọc lưu ly có thể chiếu ra ánh sáng.Chúng ta đừng có mặc cảm.Chúng ta cũng có thể phóng quang được như đức A Di Đà, tuy ánh sáng của ta chưa đi xa bằng, nhưng chúng ta đã có thể phóng ra được.Nếu mỗi ngày ta đều thực tập thì ánh sáng càng ngày càng được phóng xa.Ánh sáng đó có thể được phát ra dưới nhiều hình thức.Ở trên thế giới bây giờ có biết bao nhiêu người đang tu tập theo pháp môn của Làng Mai.Hàng triệu người đọc sách, nghe băng và tiếp xúc với các vị giáo thọ ở Làng Mai.Vì vậy ánh sáng của chúng ta đã đi rất xa, và chúng ta cũng đang tham dự vào công nghiệp của đức A Di Đà tức là phát ra ánh sáng.Phát ra ánh sáng là điều chúng ta làm được và làm được ngay ngày hôm nay.Hễ bước một bước chân có chánh niệm thì có ánh sáng lóe ra liền.Ta phải hiểu ánh sáng là như vậy.Và ánh sáng của đức A Di Đà là vô lượng.Đó là định nghĩa đầu của chữ Amitabha: ánh sáng vô lượng.Bây giờ ta đi đến định nghĩa thứ hai:

‘‘Hơn nữa, Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Bụt ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài tới vô lượng vô biên kiếp a tăng kỳ, vì vậy, danh hiệu của ngài là A Di Đà’’

A tăng kỳ có nghĩa là vô lượng, vô số.Đứng về phương diện tích môn thì chúng ta có sanh có diệt.Kẹt vào ý niệm thọ mạng, ta nghĩ rằng ta chỉ bắt đầu có mặt từ năm đó và sẽ trở thành không có mặt từ năm kia.Nhưng theo giáo lý đạo Bụt thì bản chất của chúng ta là không sanh và không diệt.Đứng về phương diện bản môn thì thọ mạng của ta cũng vô lượng như thọ mạng của đức Thế Tôn và của đức A Di Đà.Nhìn cho kỹ ta thấy tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ đều như vậy.Một bông hoa hay một chiếc lá cũng có thọ mạng vô lượng.Nhìn cạn cợt thì ta thấy chiếc lá có sinh và có diệt; nhìn sâu thì chúng ta thấy sinh diệt chỉ là cái bên ngoài.Bản chất của một chiếc lá là vô sinh bất diệt, bản chất của chúng ta cũng như vậy.Ánh sáng của đức A Di Đà là vô lượng nên thọ mạng của ngài cũng là vô lượng.Ánh sáng của cái đèn dầu có khi tắt, nhưng ánh sáng của đức A Di Đà không bao giờ tắt.Vì sao?Vì thọ mạng của đức A Di Đà là vô lượng.Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng có thể tham dự vào thọ mạng vô lượng của đức A Di Đà. Bởi vì chúng ta cũng có bản chất bất sanh và bất diệt.Niệm Bụt cho sâu sắc, quán chiếu về đức A Di Đà cho sâu sắc, ta tiếp xúc được với bản môn, với tính vô sinh bất diệt của chính ta, và đó là thành quả cao nhất của sự thực tập.Ta thấy được rằng bản chất của ta cũng là bản chất vô lượng thọ.

Hai định nghĩa về đức A Di Đà như vậy là vô lượng quang (ánh sáng vô lượng) và vô lượng thọ (tức là thọ mạng vô lượng).Không phải chỉ có đức A Di Đà mới có bản môn mầu nhiệm, mới có bản chất bất sanh bất diệt, mà tất cả chúng ta cũng đều có bản chất bất sanh bất diệt.Vì vậy chúng ta có thể tham dự đời đời vào công việc chế tác ánh sáng của đức A Di Đà và ánh sáng đó sẽ có mặt liên tục không bao giờ chấm dứt.

‘‘Xá Lợi Phất! Từ khi Bụt A Di Đà thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất, số đệ tử Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của đức Bụt ấy nhiều vô lượng không thể đếm được bằng toán học. Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế.’’

Trên phương diện tích môn, từ khi đức Bụt A Di Đà thiết lập ra cõi Cực Lạc chỉ có mười kiếp thôi và Bụt A Di Đà đang biểu hiện như một Hóa thân.Và chúng ta thấy rằng tuy Hóa thân hay ­ng thân của đức A Di Đà mới thiết lập cõi Cực Lạc được mười kiếp, nhưng số đệ tử Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của Ngài nhiều vô lượng không thể đếm được bằng toán học.Không thể dùng điện toán để đếm.Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế. Nghĩa là đức A Di Đà có đệ tử về phía Thanh Văn và cũng có đệ tử về phía Bồ tát.Dân chúng Tịnh Độ gồm những người tu theo đạo Bụt nguyên thỉ và những người tu theo đạo Bụt phát triển.Ở bên nào cũng đông đến nỗi các nhà toán học cũng không thể nào đếm hết được.

‘‘Này Xá Lợi Phất! Nước Bụt kia đã được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.’’

Những công đức đẹp đẽ như thế là những điều chúng ta đã được nghe trong những đoạn kinh vừa qua, như các hàng cây, các hồ sen có nước tám công đức, âm nhạc trên không, dân chúng có thì giờ để đi hái hoa cúng dường các vị Bụt, nấu cơm, ăn cơm, đi kinh hành, nghe chim hót, nghe thông reo, nghe thuyết pháp và dân chúng ở nước Cực Lạc rất đông.Tất cả những cái đó đều là những công đức và những cái đẹp mầu nhiệm của cõi Cực Lạc.

Diệu dụng pháp thân

‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất!Ở nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi Cực Lạc.’’

Câu kinh này nói về y báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc. Y báo là môi trường và hoàn cảnh tương hợp với chánh báo. Chánh báo chính là bản thân đức Bụt A Di Đà. Y báo bao gồm cả nhân dân và cõi nước. Y báo và chánh báo trang nghiêm của cõi Tịnh Độ là do bản nguyện của đức Bụt A Di Đà và nhân dân của cõi nước ấy tạo nên. Cũng vậy, y báo và chánh báo của cõi Ta Bà đều do nghiệp lực cộng đồng của chúng sanh ở cõi này tạo tác ra. Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục.Nhân dân cõi này luôn luôn lao mình vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Độ biến mất, không còn nữa.

Tại sao Bụt Thích Ca nói ở cõi Tịnh Độ không có mặt ba con đường ác?Một mặt thì Bụt A Di Đà thuyết pháp, một mặt thì chim chóc nhắc nhở và giúp mình đi về nẻo hướng thượng, thì làm sao mà có tam ác đạo được?Chỉ trừ khi nào ta chán Tịnh Độ và muốn bỏ đi.Điều này là do ta mà ra.Tâm ta bất an.Bất an nên không an trú được.Ta đã sinh về Tịnh Độ với một ít hành trang phiền não; còn giận, còn ganh, còn được muốn biệt đãi.Sinh về Tịnh Độ rồi, ta thấy Bụt A Di Đà không dễ thương như ta đã tưởng.Cái mặt ngài cứ lầm lầm lì lì, không chú ý nhiều tới ta.Ngoài những giờ thuyết pháp, ăn cơm và đi thiền hành với dân chúng, Ngài chỉ bàn chuyện với các vị Bồ Tát lớn.Các vị Bồ tát lớn cũng thế, họ để ý tới ta ít quá, vì họ suốt ngày bận rộn hướng dẫn cho những người vừa được vãng sinh tới.Số người vãng sinh qua Tịnh Độ hàng ngày sao mà đông quá, các vị Bồ tát phải lo cho họ, nên không còn thì giờ để chú ý tới ta.Không được biệt đãi, ta chán, ta ghét, ta ganh tỵ và ta muốn bỏ đi.Ta tới tuyên bố với Bụt A Di Đà như thế.Đức Bụt A Di Đà sẽ nói: ‘‘Tội nghiệp cho con.Con không muốn ở đây, con lại muốn trở về bên đó.Ở đây thì con có Tăng thân, có Bụt, có chim, có hồ sen, có đủ điều kiện để giữ cho con đừng đi thối lui.Nhưng nếu lòng trần của con đã biểu hiện và con muốn trở về với cõi Ta Bà thì con sẽ đánh mất Tịnh Độ và Tăng thân này.’’

Tăng thân là một môi trường có khả năng hiến tặng cho ta sự an ninh. Tăng thân với hai vòng tay vững chãi giữ ta lại trên con đường giới, định và tuệ. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với Tăng thân. Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân.Cõi Tịnh Độ là một trong những Tăng thân quý báu nhất.

Khi đi vào bếp nấu cơm, ta cũng có thể tu chánh niệm được.Đến phiên ta nấu cơm cho đại chúng, ta vào bếp, thắp một cây hương, dâng hương, rồi bắt đầu nấu cơm.Trong suốt thời gian một giờ rưỡi hay hai giờ làm việc dưới bếp, ta biết thực tập theo dõi hơi thở, biết là ta đang xắt gọt, rửa nồi hay xào nấu, v.vv..trong chánh niệm.Do đó ta vẫn còn đang an trú trong cõi nước Cực Lạc. Còn nếu không biết tu thì ta vừa làm vừa giận, vừa làm vừa buồn, vừa ganh, vừa làm vừa nói xấu người khác, thì tuy cũng là khung cảnh ấy nhưng đó lại là cõi Ta Bà.Nếu ta có giới, định và tuệ, tức là có sự thực tập, thì nhà bếp là Tịnh Độ chứ không phải là Ta Bà.Tất cả đều tùy nơi ta.

Bất cứ một cái gì ta thấy được và tiếp xúc được đều có thể biến thành pháp khí.Cái chổi hay cái nồi cũng là pháp khí, cái gì cũng có thể trở thành một điều kiện thuận lợi cho sự tu học của ta.Đó là tài năng của đức A Di Đà. Tài năng của đức A Di Đà là sử dụng tất cả những gì đang có mặt để đưa dân chúng của mình đi lên trong sự tu học. Tài năng của Tăng thân cũng vậy, từ chuyện nấu nướng, dọn dẹp, làm vườn, cho đến việc chăm sóc cây cảnh, tất cả những cái đó đều trở thành phương tiện tu học. Chúng ta phải sử dụng tất cả những yếu tố kia để đi tới trên con đường tu tập và chuyển hóa.

Trong một cõi Tịnh Độ, người ta cũng có nấu cơm, ăn uống, đi hái hoa cúng Bụt, nghe kinh và đi thiền hành; mọi người thảnh thơi và an lạc trong khi làm những việc ấy.Cõi ta đang ở cũng vậy thôi.Không cần phải qua bên đó ta mới làm được những chuyện kia.Ngay bây giờ ta cũng có thể làm được những chuyện mà bên ấy người ta đang làm, tức là hái hoa, cúng Bụt, tụng kinh, nghe kinh, rửa chén, ăn cơm, đi kinh hành…Cõi Tịnh Độ đang có mặt cho chúng ta.Chỉ có một điều đáng hỏi là chúng ta đang có mặt cho cõi Tịnh Độ hay không mà thôi.

Trong khung cảnh Tăng thân, mỗi khi chúng ta rửa nồi, pha trà, đi tắm hay làm vườn, mỗi hành động và mỗi bước chân của chúng ta đều phải trở thành một lời thuyết pháp.Bước đi một bước, đó là một bài thuyết pháp; nâng chén trà lên để uống cũng trở thành một bài thuyết pháp.Bởi vì trong khi nâng chén trà lên ta có sự vững chãi, thảnh thơi và ung dung.Uống trà như vậy là thuyết pháp. Ăn cơm như thế nào để có hạnh phúc và an lạc trong khi ăn, thì ăn cơm cũng là thuyết pháp.Nhìn vào ta, người khác thấy một vị Bồ tát đang sống trong Tịnh Độ.Điều này không phải đợi tới ngày mai ta mới làm được.Ta phải làm được ngay ngày hôm nay.Làm được một ngày là ta đã đi đến Tịnh Độ được một ngày.

Vì muốn làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của Ngài, đức A Di Đà đã sáng tạo ra các loài chim mầu nhiệm. Cũng vậy, muốn cho pháp môn và giáo lý của đức Bổn Sư được thấm nhuần trong Tăng thân, chúng ta cũng phải sáng tạo như thế.Mỗi cử chỉ, lời nói và ý tưởng của ta đều phải trở nên một phương tiện để thuyết pháp.Ta phải tham dự vào sự nghiệp của Pháp thân, vì Pháp thân là thân của Pháp, thân luôn luôn biểu hiện Pháp.Một bài thuyết pháp của ­ng thân hay Hóa thân có thể dài tới một giờ rưỡi hay là hai giờ.Nhưng thế nào ­ng thân cũng phải dừng lại để nghỉ ngơi, để ăn cơm.Còn Pháp thân thì khác, pháp thân thuyết pháp liên tục không ngừng.Thuyết pháp bằng chim, bằng mây, bằng gió, bằng bước chân hay bằng hơi thở.Vì vậy chúng ta phải tham dự vào sự nghiệp của Pháp thân.Chúng ta thuyết pháp bằng đời sống hàng ngày của chúng ta.Ta thuyết pháp bằng hai bàn tay, bằng hai bàn chân, bằng cái miệng trong khi ăn hoặc khi nói và bằng hai con mắt trong khi nhìn.Bổn phận của người sống trong Tịnh Độ là phải tham dự vào sự nghiệp của Pháp thân.Nghĩa là phải thuyết pháp bằng đời sống hàng ngày của mình.

Ngày xưa thánh Ghandhi có nói rằng: ‘‘Đời sống của tôi là bức thông điệp của tôi’’(My life is my message). Thông điệp không được viết trên giấy mà được viết bằng đời sống hàng ngày.Một bài thuyết pháp cũng vậy, không phải chỉ làm bằng ngôn ngữ và danh từ.Bài thuyết pháp còn được làm bằng bước chân, hơi thở, động tác và cái nhìn của ta.Tham dự vào sự nghiệp của Pháp thân là điều chúng ta có thể làm được hàng ngày.Nhìn vào cách ta đi, đứng và tiếp xử hàng ngày tự nhiên người ta sinh lòng kính ngưỡng và phát tâm tu tập.Như vậy, ta đã là một phần của đức Bụt Di Đà.

Xá Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.

Hiện tượng này ở đâu cũng có.Mỗi khi có gió đi ngang các hàng cây tùng hay các hàng cây phong thì âm thanh cũng mầu nhiệm vô cùng.Trong kinh không nói tới mưa, nhưng tiếng mưa cũng êm đềm dễ chịu lắm.Những cơn mưa có khi rạt rào, có khi êm đềm làm cho tâm hồn ta dịu lại và ta nghe trong tiếng mưa có âm nhạc của chư thiên, có tiếng thuyết pháp.Nếu nhìn kỹ cõi Ta Bà với tất cả niệm và định, ta sẽ thấy cõi Ta Bà này đẹp lắm.Tôi nghĩ rằng cõi Tịnh Độ có đẹp cách mấy thì cũng chỉ đẹp bằng cõi Ta Bà mà thôi.Tất cả những gì ta thấy ở cõi Tịnh Độ thì bên này ta cũng có thể thấy được cả.Chúng ta đã từng nghe các vị tổ sư nói: ‘‘Tịnh Độ ở trong tâm mình.’’Trong tâm mình có sự nhẹ nhàng, có sự cởi mở, có sự thanh thoát thì tự nhiên nhìn cái gì cũng thấy là Tịnh Độ cả.

‘‘Mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu…’’

Chúng ta nghĩ rằng ở tiệm kim hoàn mới có những hạt châu báu, nhưng kỳ thực những hạt sương long lanh trên ngọn cỏ cũng đẹp và còn đẹp hơn cả kim hoàn nữa là khác.Và hay nhất là không có ai muốn ăn cắp hoặc chiếm hữu.Tại vì ở đâu cũng có và chúng đẹp vô cùng.Nói rằng những hàng cây bên đó làm bằng châu báu, nhưng những hàng cây làm bằng châu báu thì làm sao đẹp bằng những hàng cây thật.Trên bàn Bụt, thỉnh thoảng ta dâng cúng những hoa sen làm bằng gỗ, bằng bạc, bằng ngọc hay bằng vàng nhưng những bông sen dâng lên trên bàn Bụt làm bằng vàng hay bằng ngọc thì không thể đẹp bằng những bông sen thật.Những gì nhiệm mầu đã tả trong kinh A Di Đà đều có đủ ở nơi ta ở, chỉ cần ta có tâm hồn thanh thoát và an lạc là có thể thấy hết tất cả.

Ở cõi Tịnh Độ, khi có gió đi qua các hàng cây và các màn lưới châu báu thì có những âm thanh vi diệu, có âm nhạc và có lời thuyết pháp. Và khi được nghe những âm thanh như vậy thì có cơ hội để dân chúng nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Ở đây chúng ta cũng có thể làm y hệt như vậy.Chúng ta có tiếng chuông đại hồng, tiếng chuông gia trì, tiếng chuông báo chúng, tiếng đồng hồ và tiếng điện thoại.Chúng ta có những tiếng xướng kệ của các sư chú và các sư cô, có những hình ảnh đi ra đi vào của thiền sinh trong chánh niệm.Tất cả những cái đó đều là những phương tiện để nhắc ta trở về với sự niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Tiếng mưa, tiếng gió, tiếng chim ta cũng có.Quả thật là không cần đi đâu hết, ở đây ta cũng có đủ tất cả những gì diễn tả trong kinh A Di Đà.

Khổ vui tương tức

Vào thời Lý – Trần, Thiền tông ở Việt Nam rất vững chãi.Đời Trần, pháp môn Niệm Phật đã trở thành quan trọng.Tuệ Trung thượng sĩ và vua Trần Thái Tông đã tu thiền.Nhưng hai người đã bắt đầu thấy được sự quan trọng của pháp môn Tịnh Độ.Cho nên Trần Thái Tông đã nói về Tịnh Độ và Tuệ Trung thượng sĩ cũng đã nói về đức A Di Đà.

Chúng ta hãy nghe tổ tiên của chúng ta nói về Tịnh Độ.Trước hết, vua Trần Thái Tông, trong tác phẩm Khóa Hư Lục – đây là một tác phẩm của vua Trần Thái Tông viết về Thiền – đã viết:

“Niệm Phật là do tâm phát khởi, tâm phát khởi về nẻo Thiện thì đó là thiện niệm, thiện niệm đã phát khởi thì thiện nghiệp sẽ đền bồi.Tâm phát khởi về nẻo Ác thì đó là ác niệm, ác niệm đã sinh thì ác nghiệp sẽ ứng nghiệm.Như kính hiện ảnh, như bóng theo hình.Cho nên Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:Ai mà vô niệm, ai mà vô sanh?’’

Đó là ý niệm căn bản về sự thực tập.Vua Trần Thái Tông nói tất cả đều do tâm.Nếu tâm niệm mình Thiện thì hành động của mình và nếp sống của mình sẽ là Thiện và mình sẽ được đền bồi bởi điều Thiện.Và nếu tâm mình khởi ác niệm thì con người mình và hành động của mình sẽ là Ác.Ác nghiệp đưa tới những hậu quả không có hạnh phúc.Và vì vậy, khi tâm mình lấy đức A Di Đà và Tịnh Độ làm đối tượng, thì Niệm đó thành ra Thiện Niệm, mà có Thiện Niệm là có sự đi lên, tức là có hạnh phúc.

Chúng ta hãy nghe vua nói tiếp:”Nay hành giả muốn khởi Chánh niệm để dứt Tam nghiệp thì cũng cần mượn công phu Niệm Phật.Vì sao?Vì niệm Phật là dứt trừ được Tam nghiệp.Khi niệm Phật, thân ngồi ngay thẳng, không hành tà đạo, đó là dứt thân nghiệp.Miệng tụng chân ngôn (tức là danh hiệu Bụt), không nói lời tà ngữ, đó là dứt trừ khẩu nghiệp.Ý duy trì tinh tấn mà không khởi tà niệm, đó là dứt trừ ý nghiệp.”Đây là những giải thích rất đơn giản của vua Trần Thái Tông.Khi niệm Bụt, thân mình ngồi ngay thẳng, không làm những tà nghiệp, miệng mình không nói những lời ác độc, ganh tỵ thì cái đó cũng gọi là thiện niệm của thân và khẩu nghiệp.Ý của mình không nghĩ đến chuyện ganh đua, sợ hãi, tham đắm và vì vậy, ý nghiệp của mình cũng thiện.Thân, khẩu, ý đều hướng về nẻo thiện, đó là kết quả của sự niệm Bụt.  Và như vậy theo vua Trần Thái Tông, niệm Bụt cũng là một hình thức của sự tập Thiền.Tại vì trong khi tập Thiền, thân khẩu ý đi vào đường chính.Vua lại nói:”Tuy nhiên, có ba trình độ trí giả.Đối với bậc thượng trí, tâm chính là Phật, không cần thêm gì vào, chủ thể niệm và đối tượng niệm là một, không phải là hai thực thể tách rời nhau.Đối tượng và chủ thể niệm vốn bản nhiên thanh tịnh.Vì thế nên nói rằng như như bất động là Phật thân.Pháp thân và thân ta không phải là hai hình tướng khác nhau, nó tịch nhiên thường tồn, vượt ngoài mọi tư duy, nên gọi là Phật đang sống.’’

Ở đây, vua Trần Thái Tông nói về ba căn trí hay ba trình độ Niệm Bụt.Đối với bậc thượng trí – bậc cao nhất, thì Bụt không phải là một thực thể ở ngoài, mà nằm ngay trong tâm mình.”Đối với bậc thượng trí, tâm chính là Bụt, không cần thêm gì vào, chủ thể niệm và đối tượng niệm là một không phải là hai thực thể tách rời nhau.’’Năng niệm và sở niệm là một, tất cả đều ở trong tâm, và đối với bậc thượng trí, Tịnh Độ là Duy tâm Tịnh Độ, và A Di Đà là bản thể vắng lặng, trong suốt của tự tâm.

Tổ tiên của chúng ta đã thấy được như thế.Nếu niệm Phật mà niệm theo kiểu thượng thừa đó, thì Phật không phải là một thực tại bên ngoài nữa mà Phật ở trong tâm.Năng niệm và sở niệm (chủ thể Niệm Bụt và đối tượng là Bụt) không chia cách.Tuệ Trung thượng sĩ, tên là Trần Quốc Tung, anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo, cũng đã làm một bài kệ bốn câu như sau:

Di Đà vốn thật pháp thân ta
Nam, Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa
Trăng thu ngự giữa trời cao rộng
Đêm lặng trùng dương rạng chiếu xa.

Vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung thượng sĩ là hai cây đuốc sáng của Thiền học đời Trần.Cả hai đều có nói về Tịnh Độ và cái thấy của họ rất chín chắn.Đối với những vị này, đức A Di Đà cũng như cõi Tịnh Độ không phải là những thực tại nằm ngoài không gian mà là một thực tại nằm ngay trong tâm.Và đức A Di Đà, trước hết đối với Tuệ Trung thượng sĩ, là pháp thân của chính ta:

Tâm nội Di Đà tử mạc khu
Đông, Tây, Nam, Bắc pháp thân chu
Trường không chỉ kiến cô luân nguyệt
Sát hải trừng trừng dạ mạn thu.

Pháp thân (Dharmakaya) là pháp thân của chính mình.Tất cả chúng ta, người nào cũng có nhục thân và người nào cũng có Pháp thân.Pháp thân của chúng ta là đức A Di Đà.Đó là một thực tại, không phải là một ý niệm, nó nằm trong không gian, nó có trong thời gian.Nếu nó là Pháp thân của chính ta, thì nó không phải chỉ có mặt ở phương Tây thôi, mà còn có mặt ở phương Nam, phương Bắc và phương Đông nữa – “Nam, Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa”.Đây là vượt thoát ý niệm “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ”.”Tây” là một ý niệm.Nếu đức A Di Đà là Pháp thân của mình rồi, thì đâu có phải “cõi Tịnh Độ chỉ nằm ở phía Tây”.Nó cũng nằm ở phía Nam, phía Bắc, phía Đông, nó nằm ngay trong tâm mình – cùng khắp chói lòa.Nghĩa là chỗ nào cũng có mặt Ngài.A Di Đà là ánh sáng – là vô lượng quang, là vô lượng thọ, nên cõi Tịnh Độ cũng có khi gọi là “Thường tịch quang” – cõi Tịnh Độ thường tịch quang luôn luôn có ánh sáng, ánh sáng đó không bao giờ bị ngưng lại, luôn luôn chiếu sáng, nên Bụt cũng gọi là Vô lượng quang hoặc Vô lượng thọ.Chân tâm của mình là pháp thân của mình, nó vắng lặng, nghĩa là không bị ràng buộc bởi những ý niệm và danh từ .Tịch ở đây nghĩa là sự im lặng của tất cả mọi ngôn từ và ý niệm.Và chỉ có ánh sáng thường trực nên gọi là Thường tịch quang.Vậy thì đức A Di Đà, cũng như cõi Tịnh Độ, là ánh sáng chiếu soi cùng khắp.Ánh sáng là Pháp thân của mình.Đây là lời tuyên bố của Tuệ Trung thượng sĩ về A Di Đà và cõi Tịnh Độ:‘‘Phật A Di Đà và cõi Tịnh Độ là ánh sáng của pháp thân, không bị ngăn cách bởi không gian và thời gian.’’Và cả hai câu sau đây là hai câu của thi sĩ muốn dùng hình ảnh trăng và biển để làm cho rõ thêm.Thi sĩ phải dùng hình ảnh làm cho rõ lên điều mình muốn nói:

Trăng thu ngự giữa trời cao rộng
Đêm lặng trùng dương rạng chiếu xa.

Trên kia có trăng và dưới này có biển lớn.Đi tới đâu ta cũng thấy bóng trăng chiếu xuống.Đứng tại nơi này cũng thấy bóng trăng, đi tới một trăm cây số nhìn xuống cũng còn thấy bóng trăng.Bóng trăng ở khắp nơi, nghĩa là ánh sáng của trăng thu này không bị ngăn cách bởi không gian và thời gian, giống như pháp thân A Di Đà trong ta luôn luôn có mặt không chỉ ở phương Tây mà ở khắp nơi.Trùng dương là biển rộng.Vì biển lặng nên mình thấy trăng thu có mặt khắp nơi.Đó là hình ảnh mà thi sĩ dùng để diễn tả cái pháp thân A Di Đà của ta.Đó là quan niệm về A Di Đà và Tịnh Độ của bậc thượng trí.

Bây giờ ta hãy nói đến quan niệm của bậc trung trí.Chúng ta trở về với lời tuyên bố của vua Trần Thái Tông: “Đối với bậc trung trí, tất cả đều cần mượn đến phương pháp Niệm Phật, chuyên tâm tinh cần, niệm trước nối tiếp niệm sau, không vong thất, gián đoạn, tự tâm thành ra thuần thiện.Thiện niệm được hiện thì ác niệm liền tiêu, ác niệm đã tiêu thì chỉ còn lại thiện niệm.Dùng thiện niệm để ý thức đến sự có mặt của khái niệm và dùng khái niệm để diệt trừ khái niệm.Khái niệm đã diệt, tất nhiên hành giả trở về với chánh đạo.Khi mạng chung thì ta đạt tới niềm vui Niết bàn.Thường, Lạc, Ngã, Tịnh vốn chính là chất liệu Niết bàn của Bụt vậy.”

Đối với bậc thượng trí, A Di Đà là Pháp thân của mình và Tịnh Độ cũng nằm trong Pháp thân đó.Đối với bậc trung trí thì hành giả phải thực tập tinh chuyên niệm Bụt, niệm trước nối tiếp niệm sau không vong thất, không gián đoạn.Và niệm Bụt trước hết là niệm cái tâm của mình, trở về với tâm mình trong giây phút hiện tại.Bụt A Di Đà và cõi Tịnh Độ là đối tượng của Niệm.Mình phải mượn hình ảnh của Bụt A Di Đà, hình ảnh của ánh sáng, hình ảnh của một cõi không ô nhiễm bởi danh lợi, sân si, phiền não làm đối tượng của Niệm.Vì niệm bao giờ cũng phải niệm một cái gì.Niệm là nhớ.Niệm có chủ thể niệm và đối tượng niệm.Và niệm đó phải là niệm liên tục.Đối với bậc thượng căn, thượng trí thì không cần niệm.Tại vì A Di Đà vốn là pháp thân của mình, cõi Tịnh Độ vốn là pháp thân của mình.Nhưng đối với bậc trung trí chưa thấy được A Di Đà là tâm của mình, thì cần phải thực tập niệm để trở về với giây phút hiện tại, và đối tượng của giây phút hiện tại là đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ.Bậc trung trí luôn luôn nổ lực để duy trì chánh niệm để chánh niệm có mặt liên tục.Nhờ sự thực tập liên tục đó mà một ngày kia, khi đã được thuần thục, ta sẽ đạt tới chỗ vô niệm – nghĩa là không còn niệm nữa mà A Di Đà và cõi Tịnh Độ vẫn hiện tiền.Bậc trung trí luôn luôn duy trì thiện niệm, do đó ác niệm không sanh.Tại vì khi mà đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ còn tiếp tục có mặt trên ý thức của mình thì những phiền não không có môi trường và cơ hội để sinh khởi.Thiện niệm miên mật ngăn được tà niệm, đó là sự thực tập của bậc trung trí.

“Đối với bậc trung trí, cần mượn đến phương pháp Niệm Phật, chuyên tâm tinh cần niệm trước nối tiếp niệm sau không vong thất, gián đoạn, khiến tự tâm thành ra thuần thiện, đưa hành giả trở về với chánh đạo”.Lúc đó hành giả từ nơi niệm trở về với vô niệm nghĩa là không cần phải niệm nữa mà ánh sáng của Bụt A Di Đà vẫn hiện ra ở nơi tâm mình.

“Đối với bậc hạ trí, miệng phải chuyên niệm lời Bụt, tâm phải mong thấy tướng Bụt và phải nguyện sanh về nước Bụt.Ngày đêm siêng năng tu hành không thối chuyển, sau khi mạng chung, tùy thiện niệm của mình mà sanh về nước Bụt.Sau đó, được nghe chánh pháp do chư Phật giảng dạy mà cũng chứng được quả vị Bồ đề.Đây là sự thực hành Tịnh Độ của bậc hạ trí.”

Hạ trí thì dùng cả thân, khẩu, ý để niệm Bụt nghĩa là phải niệm Bụt bằng miệng và tâm phải mong thấy tướng Bụt.Vì sao?Bậc hạ trí chưa có trí tuệ lớn để có thể thấy được đức A Di Đà và Tịnh Độ chính là pháp thân của mình.Bậc hạ trí nghĩ rằng đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ là ở phương Tây và phải sử dụng danh hiệu “Nam mô Bụt A Di Đà” hoặc “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Đà Phật”.Họ phải sử dụng âm thanh niệm Bụt, phải nương vào hình ảnh của Bụt để có thể quán tưởng.Tại vì người sơ cơ cần có những hình ảnh và âm thanh làm điều kiện để duy trì chánh niệm.Và đối tượng của chánh niệm là Bụt A Di Đà và cõi Tịnh Độ ở phương Tây.

Như vậy, bậc thượng trí tu theo thượng trí, bậc trung trí tu theo trung trí, bậc hạ trí tu theo hạ trí, tu tập theo bậc nào thì có lợi ích theo bậc đó.Do đó kinh A Di Đà đáp ứng được cho cả ba trình độ tu tập, cho nên mình đừng bắt buộc người khác phải thực tập Tịnh Độ giống hệt như mình.Đây là điều hết sức tế nhị.Mình không có quyền nói rằng phương pháp thực tập của tôi mới đúng, còn phương pháp thực tập của anh là sai.Ta phải biết rằng mọi phương pháp tu tập chỉ là phương tiện đưa người thực hành đi tới với Tịnh Độ, hay đi tới với sự an toàn và hạnh phúc.Và mỗi người đi tới với Tịnh Độ tùy theo căn trí của mình.Căn trí đã khác nhau, người thì bắt đầu từ chỗ này, người thì bắt đầu từ chỗ kia.Vì vậy, nhận thức của mình về sự thực tập Tịnh Độ phải là một nhận thức rộng rãi mới được.Đạo Bụt có tám mươi bốn ngàn pháp môn; nếu may mắn thì mình tìm ra được một trong các pháp môn ấy và sự thực tập đem lại cho mình hạnh phúc.

Ta hãy cẩn thận đừng nói chỉ có pháp môn của ta mới đúng còn các pháp môn khác là không đúng.Nói như vậy là không hợp với tinh thần đạo Bụt.Vì vậy giáo lý Tịnh Độ có thể nói là một hình thức thực tập của Thiền.Tịnh có thể là Thiền mà Thiền cũng có nghĩa là Tịnh.Đứng về phương diện Thiền ta có thể thấy rằng Tịnh Độ là một thực tại có mặt ngay trong giây phút hiện tại.Khi mình bước đi những bước chân vững chãi và thảnh thơi, khi hơi thở của mình đưa lại sự vững chãi, thảnh thơi và đem lại an lạc thì Tịnh Độ hiện tiền ngay trong giây phút này.Vì vậy, mình không thấy sự khác biệt giữa Thiền và Tịnh.Khi sử dụng âm thanh để niệm Bụt, sử dụng hình ảnh để quán chiếu về Bụt mà ta có được một ít năng lượng Chánh niệm và Tam muội thì lúc đó Thiền đang có mặt trong ta.Như vậy Thiền và Tịnh chỉ khác nhau ở danh từ mà không khác nhau ở bản chất.Ta cần có cái nhìn tương tức như thế khi đi vào kinh văn:

“Đây là những điều tôi đã được nghe Bụt nói vào một thời Người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây của Thái tử Kỳ Đà.”Đó là lời của Thầy A Nan.”Hồi đó cùng ở bên Bụt có một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ, trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Bụt mà ai cũng biết đến như các thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà.”

Tất cả những tên gọi này chúng ta đều có tiếng Phạn ở trong bản tiếng Anh.Nếu có thể được, thì quý vị hãy tìm hiểu về từng người, tại vì trong kinh có ghi chép về từng vị.Chúng ta nghe tên quý vị nhưng chúng ta cũng phải biết sơ lược công hạnh của sự thực tập, cũng như bản tính của từng người.Hiện nay, chúng ta đã có những cuốn sách nói về quý thầy, và khi đọc những cuốn sách đó, chúng ta có một ít nhận thức về tánh tình, sự hành trì và trí tuệ của từng người.Sự hiểu biết như vậy là rất quý!

“Lại cũng có mặt các vị Bồ tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Đa, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị Bồ tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt.”

Tất cả những danh từ đó, chung và riêng, chúng ta có thể học hiểu thêm từ những tác phẩm chú giải.

“Lúc bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo:Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy, có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.”

Chúng ta biết rằng kinh này thuộc về loại kinh “vô vấn tự thuyết” nghĩa là tuy không có ai hỏi cả mà Bụt tự nhiên nói ra.Bụt Thích Ca giới thiệu đức A Di Đà và cõi nước Cực Lạc nằm về phía Tây.Nằm về phía Tây, nghĩa là lúc đó Bụt ngồi tại tu viện Cấp Cô Độc và Ngài chỉ về phía Tây của Ngài.Nếu lúc ấy ta ngồi ở bên kia bán cầu thì Tịnh Độ lại nằm ở phương Đông của ta.Chỉ điều đó thôi cũng đủ cho chúng ta thấy rằng ý niệm Tây, Đông là không quan trọng.

Bây giờ chúng ta hãy tìm đọc câu kinh định nghĩa về Cực Lạc:”Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao gọi là Cực Lạc?Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.”Nếu ta hiểu được câu kinh này thì ta khỏi cần học thêm kinh nào nữa hết.Câu kinh ấy trong văn hệ chữ Hán như sau:”Kỳ độ chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc.”Đây là định nghĩa về Cực Lạc.Chúng sanh ở trong cõi nước đó không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ hạnh phúc mà thôi.Vì vậy, cõi đó gọi là cõi Cực Lạc.Câu kinh này có thể được xếp loại vào các kinh văn “bất liễu nghĩa”.Bất liễu nghĩa là chưa đạt tới cứu cánh.Tôi còn nhớ ngày xưa ở Phật học đường Báo Quốc có một học tăng tên là Viên Giác, bổn sư của Thầy Tịnh Từ, viện trưởng tu viện Kim Sơn bây giờ.Hồi đó là mùa thi lên lớp.Sau khi làm bài rồi thì đến lượt thi vấn đáp.Thầy Viên Giác được gọi tên, các học tăng khác ngồi dưới.Hôm đó thi kinh A Di Đà.Các thầy giáo thọ còn hỏi lại:Cực Lạc nghĩa là gì?Thầy Viên Giác hơi có tự ái, tại vì cho rằng mình đã học lên trung học rồi mà các thầy giáo thọ còn bắt mình định nghĩa thế nào là Cực Lạc.Thầy Viên Giác không vui và thầy nói liều:‘‘Cực là cực khổ, Lạc là hạnh phúc.’’Chữ “Cực” có nghĩa là rất; Cực Lạc là rất sung sướng chứ không phải là cực khổ và sung sướng.Vì tự ái nên thầy đã trả lời như vậy, chứ không phải là thầy không hiểu nghĩa chữ Cực lạc.Các thầy giáo thọ đều thấy điều đó, nên ai cũng cười.

Khi đọc câu kinh này, mình thấy được lòng từ bi của đức Thế Tôn.Vì sao? Vì trong chúng ta, ai cũng muốn trốn chạy khổ đau, tìm tới một cõi không có khổ đau.Phần lớn chúng ta đều là những người nhát gan, đều là những người yếu đuối, chúng ta ai cũng sợ đau khổ, chúng ta ai cũng chạy trốn đau khổ, ai cũng muốn đi tìm tới một cõi không có khổ đau.Đó là tính người.Bụt thấy được điều đó,nên Bụt nói:”Có một cõi không có khổ đau, chỉ toàn là hạnh phúc.” Nghe như thế, chúng ta tỉnh người ra và vễnh hai tai lên nghe.Thi sĩ Chế Lan Viên viết như thế này:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh
Những ưu sầu, đau khổ với buồn lo.”

Thi sĩ ưu sầu, đau khổ, buồn lo nhiều quá đi, nên bây giờ muốn đi tới một vì sao, xa bao nhiêu cũng được, nơi mà ông có thể trốn chạy được những ưu sầu, đau khổ và buồn lo ấy trong cuộc sống hiện tại.

Tội nghiệp cho thi sĩ quá!Trong khi đó, với sự quán chiếu của tương tức, không thể có cái gọi là vui mà không đi theo cái gọi là khổ.Cũng như vậy, không thể nào có cái rác nào mà lại không thể biến thành hoa, cũng không thể nào có cái hoa nào mà lại không biến thành rác.Cũng như cái bên phải và bên trái.Nếu không có bên phải thì làm gì có bên trái, nếu không có bên trái thì làm gì có bên phải.Cái khổ với cái vui cũng vậy thôi.Mình đi tìm một cõi mà trong đó chỉ có cái vui mà không có khổ, đó có phải là một không tưởng không?Ở đây, đức Thế Tôn có muốn hiến tặng cho chúng ta một cái không tưởng hay không?Nếu chúng ta không biết đói là gì, thì khi ăn cơm chúng ta sẽ không có hạnh phúc.Sở dĩ ăn cơm mà có hạnh phúc là vì chúng ta đã biết đói là gì.Hãy tưởng tượng một người chưa bao giờ biết đói.Người đó có ăn cái gì đi nữa, thì cũng không có hạnh phúc.Những người chưa bao giờ bị rét thì không thấy được cái hạnh phúc của người được mặc áo ấm, hoặc những người chưa bao giờ nếm mùi địa ngục thì không thể nào thấy được giá trị của Thiên đường.Rõ ràng là nếu chúng ta không biết khổ là gì thì chúng ta không thể nào biết vui là gì.Vì vậy, một cõi không có khổ mà chỉ có vui là một cõi hoàn toàn không tưởng.”Dân chúng trong nước đó không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.”Câu đó có phải là một câu kinh “liễu nghĩa” hay không, hay là một câu kinh quyền nghĩa?Cho nên câu kinh này là một câu kinh có thể làm cho chúng ta mất ngủ.

Chúng ta có thể đi sâu vào câu kinh này để giải thích rằng cái Lạc của cõi Tịnh Độ không phải là cái Lạc tương đối mà là cái Lạc tuyệt đối, vượt thoát ra khỏi cái vui khổ tầm thường, nhưng điều đó cũng chỉ nằm trong phạm vi triết học và lý luận.Cũng như nói là:”Thiên hạ đua nhau nói khổ vui, có chi là khổ, có chi vui” rồi kết luận:”thà rằng đừng khổ cũng đừng vui.”Đừng khổ, đừng vui mới là cái vui tuyệt đối, nói như vậy cũng chỉ là lý thuyết thôi.Sự thật có những người trong chúng ta rất sợ đau khổ, có những người nghĩ rằng có thể chạy trốn đau khổ, đi tìm tới một chỗ không có đau khổ.Ta biết họ đang khao khát như vậy, nên ta mới thiết lập phương tiện để hiến tặng cho họ một tia hy vọng, nói rằng có một cõi không có đau khổ mà chỉ thuần là hạnh phúc thôi, đó là cõi Cực lạc.

Sư em Kính Nghiêm có một đứa em gái tên là Ánh, mười hai tuổi.Nó tới Làng Mai và tuyên bố một câu động trời:”Con muốn sống ở một nơi mà buổi sáng có hạnh phúc, buổi trưa có hạnh phúc, buổi chiều có hạnh phúc.”Theo ý nó thì chỉ có Làng Mai mới được như vậy thôi.Nếu ở lâu tại Làng Mai chừng ba, bốn tháng thì nó sẽ biếthạnh phúc ở chỗ là tuy mình có đau khổ nhưng nếu mình biết chuyển hóa đau khổ thì hạnh phúc sẽ có mặt.Cái khổ ở bên cạnh nhắc mình nhận diện ra hạnh phúc cũng ở bên cạnh.Nếu không có cái khổ đó thì mình không biết được là hạnh phúc đang có mặt.Do đó cõi Cực Lạc của chúng ta, nếu quả thực là một cõi Cực Lạc đúng theo nghĩa của nó, thì phải có những dấu hiệu của khổ đau để người ta được nhắc nhở rằng:Anh đang được hạnh phúc.Có rất nhiều người đang ở Thiên đường nhưng không biết là họ đang ở Thiên đường, tại vì họ không biết hoặc chưa biết khổ đau là gì.

Xin đại chúng hãy tổ chức pháp đàm về câu kinh này.Đọc câu kinh này, trước hết ta thấy được lòng từ bi của Bụt.Bụt thấy rằng con người yếu đuối, con người đau khổ, con người muốn chạy trốn khổ đau và Bụt nói rằng có một cõi, nơi ấy chỉ có hạnh phúc thôi, không có đau khổ.Đây là một Hóa Thành (a magic city) – một thành phố do nhà ảo thuật biến hiện ra để cho đoàn người, sau bao nhiêu ngày đi mệt mỏi, có một chỗ để mà nghỉ ngơi.Sau thời gian nghỉ ngơi, đoàn người đó có khả năng lên đường trở lại – đây là một hình ảnh trong kinh Pháp Hoa.Một đoàn người đang đi kiếm châu báu.Sau bao nhiêu tuần lễ trèo non, lặn suối, đoàn người đó mệt nhoài và trong tâm có người muốn thoái lui.Vị Đạo sư – người dẫn đường – nói rằng:”Các người cố gắng đi, gần đây có một thành phố.Nếu chúng ta đi thêm bốn, năm giờ nữa thì chúng ta sẽ tới thành phố đó thì chúng ta sẽ được nghỉ ngơi, ăn uống, tắm rửa.Khi nghe như vậy, đoàn người có năng lượng thêm và họ đi thêm được bốn, năm giờ.Sau đó, người lãnh đạo dùng phép thần thông của mình biến hiện ra một thành phố gọi là Hóa Thành.Hóa tức là biến hiện.Tất cả những người kia thấy thành phố liền tìm nơi đi rửa chân, rửa mặt, tắm rửa, ăn uống, nằm ngủ.Sáng mai thức dậy, thì thành phố đó biến mất, vì thành phố đó chỉ là một hóa thành.

Tôn giáo, nói chung, có mục đích là để an ủi con người, để làm dịu bớt những đau khổ của cuộc sống, hứa hẹn một nếp sống ít đau khổ, nhiều an lạc.Vì vậy tôn giáo hay cống hiến cho chúng ta một cái gọi là Thiên đường và cho chúng ta nuôi một niềm hy vọng.Đạo Bụt cũng có thể được diễn tả như là một tôn giáo, nhưng sự thật đạo Bụt không phải chỉ là một tôn giáo.Đạo Bụt còn là một nền đạo đức có nhiệm vụ đáp ứng lại những nhu yếu đích thực của con người.Và bản hoài của đức Thế Tôn là đưa ra những biện pháp cụ thể, giúp con người chuyển hóa khổ đau, đạt được an lạc.Đó là cái chính.Nhưng con người còn có những nhu yếu khác, nhu yếu bám víu vào một niềm tin, nhu yếu chạy trốn khổ đau.Có những người không đủ khả năng tu tập để chuyển hóa khổ đau, họ chỉ muốn chạy trốn khổ đau để tìm tới an lạc thôi.Vì vậy, đạo Bụt cũng phải tạo tác ra những phương tiện và những câu giải đáp cho những người đó.Đạo Bụt không phải dành riêng cho bất cứ ai.Bậc thượng căn, thượng trí không bị bỏ đã đành; bậc trung căn, trung trí không bị bỏ đã đành, mà bậc hạ căn, hạ trí cũng không bị bỏ.Cho nên chúng ta có thể hiểu được câu kinh này.Chúng ta thấy được lòng từ bi bao la của đức Thế Tôn trong câu kinh này.Ban đầu chúng ta nói câu kinh này không phải là một câu kinh liễu nghĩa, tại vì nếu là liễu nghĩa thì nó phải chứa đựng tuệ giác tương tức, nghĩa là không có cái này thì không có cái kia.Nếu chúng ta nhìn sâu hơn nữa vào những nhu yếu của con người, những nhu yếu đa dạng của con người, thì chúng ta có thể hiểu được câu kinh này và câu kinh có thể được nhận thức là liễu nghĩa.

Tịnh nhiễm do tâm

Trong Đạo Bụt nguyên thỉ có kinh Đại Thiện Kiến Vương.Kinh này cũng có trong tạng Pali.Đọc kinh này, ta thấy khung cảnh rất giống khung cảnh kinh A Di Đà ở trong truyền thống Bắc Phạn.Trong kinh này cũng có nói đến “Thất trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ,…”và ‘‘hoa sen lớn như bánh xe’’.Cảnh tượng giống hệt như cảnh Tịnh Độ ở kinh A Di Đà.

Hồi đó Bụt sắp tịch, thầy trò đang đi lên miền Bắc.Có lẽ Bụt muốn trở về thành Ca Tỳ La Vệ để nhập diệt, nhưng khi tới được thành Câu Thi Na thì Bụt nghĩ rằng mình nhập diệt nơi đây cũng được.Đây chỉ là một thành phố nhỏ.Thầy A Nan yêu cầu Ngài đừng nhập diệt ở đây, đợi tới một thành phố nào thật đẹp mới nên nhập diệt.Đó là chiến thuật của Thầy A Nan.Thầy muốn Bụt chậm nhập diệt giờ phút nào thì quý giờ phút đó.Thầy A Nan thưa:”Bạch Đức Thế Tôn, thành phố Kusinagara này nhỏ xíu, phần nhiều nhà cửa được làm bằng nền đất tường vôi.Đức Thế Tôn đừng nhập diệt ở đây.Đức Thế Tôn, xin Ngài đợi đến một thành phố nào lớn hơn và đẹp hơn rồi hãy nhập diệt.”Bụt cười và nói:”Thầy đừng tưởng rằng thành phố này không đẹp.Ngày xưa, thành phố này đã từng là một Tịnh Độ.Ta đã từng ở thành phố ấy.”Và Đức Thế Tôn tả cho Thầy A Nan nghe về những nét đẹp đẽ, phồn vinh và hạnh phúc của quốc độ Câu Thi Vương ngày xưa của vua Đại Thiện Kiến.Những điều này đã được ghi chép trong kinh Đại Thiện Kiến Vương – Kinh số 68 của bộ Trung A Hàm.Quý vị sẽ thấy là trong kinh A Di Đà cũng có những chi tiết giống hệt kinh Đại Thiện Kiến Vương.

Trong tạng Pali, kinh này tên là Mahàssudarsana, nằm trong Trường bộ số 17.Kinh có ghi lời thưa của thầy A Nan:”Bạch đức Thế Tôn, có những thành phố lớn khác như thành Vương Xá, Xá Vệ, Ba La Nại,… Tại sao đức Thế Tôn không nhập diệt nơi các thành phố ấy mà Ngài lại quyết định nhập diệt ở nơi thành phố nhỏ hẹp này – một thành phố nhỏ hẹp nhất trong các thành phố?”

Đức Thế Tôn nói:”Này A Nan, Thầy đừng nói rằng đây là một thành phố nhỏ hẹp.Thuở quá khứ, thành Câu Thi Na này có tên là Câu Thi Vương, giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc.A Nan, thành Câu Thi Vương dài mười hai do diên, rộng bảy do diên.Ở đây, người ta đã dựng lên các tháp cao bằng một người, hai, ba, bốn cho đến bảy người.Này A Nan, thành Câu Thi Vương ở bên ngoài có bảy lớp hàng rào bao bọc, rào được xây bằng gạch với bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh; bảy lớp hào thì được rãi bằng cát với bốn lớp châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

Này A Nan, Câu Thi Vương được bao bọc bởi bảy lớp tường thành. Ở ngoài các lớp tường thành ấy, cũng được xây dựng bằng bốn lớp châu báu vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.Này A Nan, thành Câu Thi Na cũng được bao bọc bởi bảy lớp cây đa la.Các cây ấy được dựng bằng bốn lớp châu báu; cây đa la bằng vàng thì hoa, lá, trái bằng bạc; cây đa la bằng bạc thì hoa, lá, trái bằng vàng; cây đa la bằng thủy tinh thì hoa, lá, trái bằng lưu ly và hoa, lá, trái bằng thủy tinh thì cây đa la bằng lưu ly.

Này A Nan, khoảng giữa cây đa la có đào những ao hoa. Trong các ao ấy có trồng các loại thủy hoa như hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hoa sen trắng, hoa sen hồng.Bờ ao hoa ấy có đắp bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.Ở đây, ao hồ trải cát bằng bốn loại châu báu vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh.Trong các ao ấy, có thềm cấp bằng bốn loại châu báu vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.Này A Nan, các ao ấy được màn che ở dưới, có chuông lắc ở giữa, bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh; chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng và chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc. “

Nói tóm lại, ở trong kinh này, ta thấy có những chi tiết về những vẻ đẹp của Tịnh Độ.Các vị Tổ sư đã có nhiều tác phẩm chú giải kinh A Di Đà và nhiều tác phẩm diễn giải rất sâu sắc.Chúng ta có thể thừa hưởng được những bộ sách diễn giải đó.

Ở Làng Mai, chúng ta hãy học hỏi và thực tập kinh A Di Đà theo phương pháp thiền quán hiện pháp lạc trú để đừng bị chìm đắm, dù là chìm đắm trong những lý thuyết thậm thâm vi diệu.Chúng ta học hỏi và áp dụng kinh A Di Đà trong đời sống tu tập hàng ngày của chúng ta, học hỏi và thực tập như thế nào để có hạnh phúc, an lạc, vững chãi và thảnh thơi, để Đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ có thể có mặt trong đời sống hàng ngày của chúng ta.Vì vậy, trong những buổi giảng về kinh A Di Đà, tôi sẽ không sử dụng những tác phẩm diễn giảng của các vị Tổ sư đi trước.Chúng ta hãy học kinh A Di Đà bằng nhãn quan mới, chúng ta nhìn giáo lý của kinh A Di Đà bằng cách nhìn của đạo Bụt nguyên thỉ.

Ta nên biết rằng niềm ao ước sâu xa nhất của con người là tìm ra được môi trường sống có an ninh, tình thương và sự hiểu biết.Tất cả chúng ta đều mong ước có một môi trường như vậy.Các đức Bồ tát, các đức Thế Tôn cũng thấy được ước muốn của chúng ta và của mọi loài chúng sanh.Cho nên, bất cứ ai mà thực tập một cách thông minh và vững chãi đều nghĩ tới sự thành lập những môi trường như vậy, để mình tự nuôi dưỡng mình, và để mình có thể nuôi dưỡng những người khác.Vì vậy ý hướng thành lập Tịnh Độ là tâm niệm của tất cả những người tu học.Trong chúng ta, người đã tu lâu năm hay người mới tu cũng vậy, ai cũng ao ước thiết tha là làm thế nào để lập ra một khung cảnh trong đó chúng ta được sống có thầy, có bạn, có an ninh, được che chở, được thương yêu và có điều kiện đi tới trên con đường thành tựu đạo nghiệp và chuyển hóa khổ đau.

Kinh A Di Đà cũng nằm trong viễn tượng đó.Đức A Di Đà là người đã từng tu học và cũng đã có ước vọng đó, nên Ngài đã tạo ra một khung cảnh có an toàn, có tình thương, có những điều kiện để thực tập.Người chủ trương Tịnh Độ là Bụt A Di Đà, khung cảnh có tên là Cực Lạc.Chúng ta, ai cũng ôm ấp ước muốn ấy.Chúng ta cũng muốn lập ra một khung cảnh để an trú, để có nơi đón tiếp những người bạn của mình, những người thương của mình, mời họ đến đó để cùng chung sống, cùng tu học, cùng hưởng được sự có mặt của vững chãi, thảnh thơi,tình thương và sự an lạc.Tuy nuôi dưỡng tâm niệm đó, nhưng có khi chúng ta không có nhiều may mắn.Chúng ta chỉ lập ra được một cơ sở, rồi chúng ta bị mắc kẹt và chạy theo cơ sở ấy.Chúng ta mất hết thì giờ để xây dựng cơ sở, nhưng chúng ta lại không tạo ra được một nội dung cho cơ sở đó.Nghĩa là tạo ra được sự an lạc, hòa hợp và thanh tịnh của một Tăng thân.Nếu ta không tạo được một khung cảnh có nội dung như vậy, thì ta chỉ là người làm nô lệ cho khung cảnh mà thôi.Chúng ta phải chạy kiếm tiền để tiếp tục duy trì và phát triển cái vỏ của những cơ sở ấy, rốt cuộc ta không có thì giờ để chăm sóc cho bản thân ta và cho những người đến với ta.Từ khởi điểm thì bản nguyện ta cũng cùng bản chất với bản nguyện của đức A Di Đà, nhưng sau đó chúng ta bị lầm lạc – lầm lạc đi sang một nẻo khác, đó là nẻo làm chùa.Việc làm chùa khiến chúng ta trở thành một người bận rộn nhất trên đời.Ta mất hết thảnh thơi, mất hết an lạc và bản hoài ban đầu của ta, ta không thực hiện được.Xây dựng và kiến thiết Tịnh Độ là hoài bão của tất cả chúng ta.Nhưng ta phải khéo léo lắm mới xây dựng được một Tịnh Độ, nếu không, ta sẽ đánh mất bản thân của ta.Trú xứ ta xây dựng phải có chất liệu an tịnh ta mới gọi nó là Tịnh Độ được.Khung cảnh mà chúng ta muốn tạo lập ra phải có chất liệu “Tịnh” của nó.Tịnh tức là không có sự ô nhiễm.Sự ô nhiễm nào?Trước hết, ta gọi tên nó là sự bận rộn.Chúng ta bận rộn quá, bận rộn về chuyện đi cúng, làm đám và xây cất.Chúng ta đâu có thì giờ để tu học, đâu có thì giờ chăm sóc cho nhau, đâu có thì giờ thương nhau.Có sự bận rộn là không có tịnh, tức là nhiễm.Cõi của ta là Uế độ, không phải Tịnh Độ.Chúng ta để tiền bạc thống trị chúng ta, chúng ta để tiền bạc và quyền lực của nó chi phối chúng ta.Ở trong khung cảnh đó, người nào cũng muốn làm lớn, cũng muốn có uy quyền với những người khác, người nào cũng muốn có tiền bạc.Cõi đó đâu còn là cõi Tịnh Độ nữa.Vì trong khung cảnh đó, ta chỉ thấy có sự ganh tỵ, giận hờn và sợ hãi.Tất cả các yếu tố ấy đều là bất tịnh.Những gì làm ô nhiễm môi trường thì ta gọi là bất tịnh.Ban đầu thì tâm chúng ta rất tốt; ta muốn tạo ra một cõi Tịnh Độ.Nhưng vì thiếu khéo léo, thiếu chánh niệm mà chúng ta đã tạo ra một cõi Uế độ.Bận rộn là yếu tố làm hư hoại sinh môi của chúng ta, làm ô nhiễm môi trường sống của chúng ta.Ô nhiễm tiếng Pháp là pollution.Khi tới một đạo tràng, như Đạo tràng Làng Mai, chúng ta thử hỏi Đạo tràng Mai Thôn có ô nhiễm không?Nơi đó có chuyện tranh giành quyền bính không?Người ta có suốt ngày lo chuyện tiền bạc, người ta có bận rộn về chuyện tổ chức quá không?Người ta có thì giờ để tu học, người ta có thì giờ để thương nhau, để chăm sóc cho nhau không?Người ta có ganh tỵ, giận hờn và sợ hãi nhau không?Người ta có sống an lạc không?Tất cả những câu hỏi đó ta có thể trả lời được.Nhờ sự tu tập, nhờ sự quyết tâm của ta mà ta giữ được khung cảnh thanh tịnh – khung cảnh của sự không ô nhiễm.Đó là Tịnh Độ.Cõi của ta có thể là Tịnh Độ hay Uế độ, điều đó tùy thuộc theo tâm niệm của những người sống ở trong cõi đó.Chúng ta có quyền và có khả năng tạo ra một Tịnh Độ để sống với nhau, chăm sóc nhau, thương yêu nhau, giúp cho nhau tu học và chuyển hóa.Chúng ta cũng có quyền tạo ra một Uế độ, trong đó sự giành giật, sự ganh tỵ, sự sợ hãi, tiền bạc và quyền lực đóng vai trò then chốt.

Khi đọc kinh A Di Đà, ta nghe nói cõi Tịnh Độ (Sukhavati) là do đức A Di Đà sáng tạo ra bằng bốn mươi tám nguyện lực của ngài.Kinh A Di Đà có nói về dân chúng của Tịnh Độ, và về sinh hoạt hàng ngày của những người trong cõi Tịnh Độ.Sáng sớm, những người trong nước có thì giờlấy lẵng vải đi nhặt hoa trên trời rơi xuống để đem cúng dường các vị Bụt và Bồ tát ở các cõi nước khác.Họ đi bằng thần thông, nên sau khi viếng thăm và cúng dường hoa cho các vị Bụt và các vị Bồ tát ở nước khác rồi mà về vẫn còn dư thì giờ để ăn trưa.Ăn trưa xong thì đi thiền hành.

Những điều mình ưa thích nhất trong kinh, mình có thể kể ra.Mỗi khi có gió nhẹ thổi qua, các hàng cây xao động.Từ trong tiếng xao động của lá cành, nếu lắng tai, mình có thể nghe được tiếng thuyết pháp về Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát thánh đạo phần và Tứ thánh đế.Và bay liệng giữa hư không có những loài chim mầu nhiệm.Khi mình lắng nghe tiếng hót của các loài chim ấy, mình cũng nghe được pháp âm của các đức Như Lai.Kinh không nói đến một cách trực tiếp hay đầy đủ về phần đóng góp của dân chúng mà chỉ nói đến thần lực của đức A Di Đà trong việc tạo ra một cõi Tịnh Độ.Thật ra, trong một khung cảnh sinh hoạt, tất cả những người tham dự đều có bổn phận đóng góp.Nếu mình biết sống an lạc và thảnh thơi như những người đang sống ở Tịnh Độ, có thì giờ lắng nghe tiếng gió trong cây, nghe tiếng chim, đi nhặt hoa cúng dường, ăn cơm và đi kinh hành, tức là mình đã đóng góp được vào việc kiến thiết Tịnh Độ rồi.

Dầu đức A Di Đà có thảnh thơi cách mấy, có vững chãi cách mấy, có thương yêu cách mấy, mà những người vãng sinh về cõi A Di Đà vẫn còn bận rộn, vẫn còn tập quán bước đi như bước trên than hồng, vẫn chưa nói được với nhau những lời ái ngữ thì cõi đó chưa thể gọi là một cõi Tịnh Độ được cả.Hãy tưởng tượng trong cõi Tịnh Độ có một người đang đi như bị ma đuổi, hãy tưởng tượng trong cõi Tịnh Độ có một người đang nói với người khác bằng giọng trách móc, chua chát.Cõi Tịnh Độ tan biến liền lập tức.Tịnh Độ là một sáng tạo phẩm cộng đồng của đức A Di Đà và của dân chúng trong nước đó.Vì vậy, tịnh hay không tịnh, tịnh nhiều hay tịnh ít, điều đó không phải chỉ do đức A Di Đà mà còn do dân chúng trong cõi ấy nữa.Khung cảnh mà ta tạo ra ở Âu châu, ở Việt Nam hay ở Hoa Kỳ để cho một số người về tu học cũng vậy, không phải chỉ là sáng tạo phẩm của người đứng ra thành lập mà là sáng tạo phẩm chung của tất cả những người đã tới bằng bước chân thảnh thơi, bằng nụ cười hiền hậu, bằng cái nhìn bao dung, bằng lời nói ái ngữ của họ.Như thế là mình cùng chung sức tạo ra một cõi Tịnh Độ, trong đó mọi người được sống an ninh trong tình thương và sự hiểu biết.Cho nên Tịnh Độ phải là một sáng tạo phẩm cộng đồng mà không phải chỉ là sáng tạo phẩm của một người, dầu người đó là một người có nhân cách vĩ đại như đức Bụt A Di Đà.Ta hãy tưởng tượng một người chưa biết đi thiền hành, bây giờ sanh sang bên kia và tiếp tục chạy như bị ma đuổi.Đức A Di Đà sẽ gọi người ấy đến và nói: “Con hãy tới đây, Thầy dạy cho con cách đi thiền hành”.Cố nhiên bên Tịnh Độ có rất nhiều vị giáo thọ, và đức A Di Đà có thể dặn dò các vị giáo thọ kiên nhẫn dạy phép thiền hành, phép theo dỏi hơi thở và ăn cơm chánh niệm cho những người vừa mới sanh về cõi Tịnh Độ.Một ngày có không biết bao nhiêu là người sanh về Tịnh Độ, nhiều lắm, mà chắc chắn là đức A Di Đà có đủ số giáo thọ để lo dạy dỗ và hướng dẫn cho họ.

Nói như vậy để làm gì?Nói như vậy là để chúng ta thấy rằng:dù đang ở trong cõi Ta Bà, chưa sinh về cõi Tịnh Độ, nhưng nếu chúng ta đi được từng bước vững chãi và thảnh thơi, nếu chúng ta biết sử dụng ái ngữ, biết thương yêu nhau và đùm bọc cho nhau, thì Tịnh Độ đã có thể có mặt ngay tại đây rồi, và chuyện gia nhập vào cõi Tịnh Độ của đức A Di Đà trở thành một chuyện rất dễ.Vì nếu ngay ở đây ta đã được có Tịnh Độ rồi thì đi đâu cũng là Tịnh Độ cả.Mình không thể lấy Tịnh Độ ra khỏi con người của mình được, mình ở đâu là Tịnh Độ ở đó, vì Tịnh Độ ở ngay trong tâm mình.Và vì đã quyết tâm thực hiện Tịnh Độ cho mình và cho người, nên đi tới đâu là ta có Tịnh Độ ở đó. Tịnh Độ là sáng tạo phẩm cộng động của mình với những người tham dự.Và càng thực tập, ta càng thấy rõ ràng rằng đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ là những sáng tạo phẩm của Tâm.

Vài chi tiết – kinh A Di Đà

Thứ nhất, trong Đạo Bụt nguyên thỉ, phương pháp Niệm Bụt đã là một phương pháp rất quan trọng.Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí và niệm Thiên đều là những phương pháp thực tập có ngay trong thời Bụt tại thế.Phương pháp này được gọi là Tùy niệm, và ngay trong thời Bụt tại thế đã có nhiều người Phật tử thực tập Niệm Bụt.Đức Thế Tôn có vững chãi, có thảnh thơi, có từ bi, có hỷ xả, và mỗi khi nhớ tới đức Thế Tôn thì tự nhiên mình thấy trong người khỏe, có được tính vững chãi, tính thảnh thơi của đức Thế Tôn.Cho nên thời bấy giờ có nhiều người niệm Bụt.Người ta thường chắp tay và đọc: “Namo tassa bhagavato arahato sammà sambuddhassa” (Kính lạy đức Thế Tôn, bậc ­ng cúng, bậc Chánh biến tri).Bhagavato: Thế Tôn, Arahat: ­ng cúng, và Chánh biến tri là Sammà Sambuddhassa. Và sau đó, người ta tụng mười danh hiệu của đức Thế Tôn:‘‘Đức Như Lai là bậc ­ng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Bụt, Thế Tôn.Trong trang 203 của quyển “Thiền Môn Nhật Tụng năm 2.000”, quý vị sẽ thấy có bài “Xưng Tán Tam Bảo”, bên trái là tiếng Hán Việt và bên phải là tiếng Pali.)

Họ đọc mười danh hiệu của đức Như Lai và họ hiểu được mười danh hiệu đó.Mỗi danh hiệu tượng trưng cho một đức tính, một năng lượng của Như Lai.Khi đọc lên các danh hiệu đó thì ta đã thấm được một ít năng lượng và thấy trong người có thêm vững chãi và thảnh thơi.Tiếng Pali: “Iti pi so Bhagavà: Araham, Sammà-sambuddho, Vijjà-carana-sampanno, Sugato, Lokavidu, Anuttaro purisà-damma-sàrathi, Satthadeva manussànam, Buddho, Bhagàvati.”Ngày xưa, người ta niệm Bụt như vậy, và niệm Bụt là để có sự vững chãi, thảnh thơi, an lạc. Người ta còn niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới…Vì thế, niệm Bụt là một pháp môn chính thống ở trong truyền thống Phật giáo ngay từ ban đầu.Theo nguyên tắc của pháp môn niệm Bụt thì trước hết hành giả phải nghĩ rằng Bụt là một thực tại ngoài mình.Ngài đang cư trú ở tu viện Kỳ Viên hay trên núi Thứu.Khi niệm Bụt như vậy, tự nhiên mình tiếp xúc được với sự thảnh thơi và vững chãi, với chất liệu Từ, Bi, Hỷ và Xả trong con người của mình.Khi ta bắt đầu thực tập Niệm Bụt, thì Bụt là một thực tại ở ngoài, nhưng từ từ Bụt trở thành một thực tại vừa ở trong, vừaở ngoài.Tại vì trong tâm thức của ta cũng có những hạt giống của vững chãi và thảnh thơi, của Từ, Bi, Hỷ, Xả, của ­ng cúng, của Chánh biến tri, của Minh hạnh túc… như Bụt.Khi ta niệm Bụt như vậy, ta tiếp xúc được vừa với thực tại của Bụt ở ngoài và vừa với thực tại của Bụt ở trong tâm.Nếu ta giỏi thì ta nhận thức ra rất sớm rằng Bụt luôn luôn có mặt trong tâm ta.Nhờ đó nên khi Đức Thế Tôn qua đời, ta không còn than khóc nữa.Ta biết rằng Bụt luôn luôn ở trong ta.Ngài không bao giờ mất.Nguyên tắc chỉ đơn giản như vậy thôi.

Đối với người vừa mới thực tập niệm Bụt thì Bụt là một thực tại ở ngoài.Nếu người ấy thực tập cho sâu sắc thì Bụt trở nên một thực tại ở trong tâm.Và vì vậy, dù Bụt ở Tịnh Độ hay Bụt ở ngoài Tịnh Độ thì Ngài vẫn có mặt trong tâm ta và trong tâm của ta vẫn thường có Tịnh Độ. Các thầy sau này đã nói rằng Bụt A Di Đà có mặt trong tâm mình và Tịnh Độ cũng có mặt ngay ở trong tâm mình.Đó gọi là “Duy tâm Tịnh Độ”.Ý niệm – Tịnh Độ là một thực tại ở ngoài, nằm về phương Tây – đó chẳng qua chỉ là ý niệm ban đầu.Nếu thực tập giỏi thì ta sẽ thấy sâu hơn rằng Bụt A Di Đà và cõi Tịnh Độ không phải chỉ nằm ở phương Tây mà còn nằm ở trong tâm mình và ở cả mọi phương.Như vậy, cả người thực tập giỏi lẫn người thực tập chưa giỏi đều đạt tới kết quả, nhưng đối với người tu tập giỏi thì kết quả rất lớn, còn người tu tập chưa giỏi thì kết quả chỉ vừa vừa.

Thiết lập Tịnh Độ

Kinh A Di Đà là một kinh Đại thừa, thuộc về nền Phật giáo phát triển.Đạo Bụt giống như một cây đại thọ và cũng là một thực tại sinh động.Bất kỳ một cái gì đang sống cũng phải lớn lên.Một cây đang sống thì ngày nào cũng cho thêm cành, lá; cành dài ra thêm, lá mọc nhiều thêm.Có cành mới, lá mới, hoa mới và trái mới thì cây đạo Bụt mới là một thực tại linh động, một cái gì đang sống.Vì vậy, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, đạo Bụt phải phát triển thêm.Đạo Bụt Đại Thừa là những hoa trái phát triển từ cội nguồn Phật giáo nguyên thỉ.

Mình không muốn Đạo Bụt là một cái xác khô nằm trong Bảo tàng viện mà là một thực tại sống động, mỗi ngày đều có thêm sức sống.Và vì vậy, mình phải chấp nhận rằng cây Phật giáo mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm phải có thêm cành mới, lá mới.Đạo Bụt phát triển không ngừng nhưng vẫn là Đạo Bụt như thường.

Kinh A Di Đà hiện giờ đang được đọc tụng ở khắp các chùa, dầu là chùa Thiền tông, vì kinh A Di Đà trình bày một giáo lý rất dễ thực tập.Những người không có căn trí lớn, những người không đủ Niệm, Định, Tuệ cũng có thể thực tập được kinh A Di Đà.Nói như vậy, không có nghĩa là những người có căn trí lớn thì không thực tập được.Tại vì kinh A Di Đà có thể được hiểu rất sâu, cũng có thể được hiểu rất cạn.Người hiểu sâu cũng có thể thực tập, người hiểu cạn cũng có thể thực tập.Vì vậy chúng ta cũng phải học kinh A Di Đà bằng một nhận thức hết sức cởi mở, bởi vì kinh A Di Đà là một giáo pháp có tính cách phổ biến.Người đại căn thực tập cũng được mà người căn trí nhỏ hẹp thực tập cũng được.Khi người có đại căn niệm “Nam mô A Di Đà Phật” hay là “Nam mô Bụt A Di Đà” thì sở kiến và sở đắc rất lớn lao.Khi người có căn trí nhỏ hẹp niệm câu “Nam mô A Di Đà Phật” thì tuy người ấy cũngcó sở kiến và sở đắc nhưng có thể sở kiến và sở đắc ấy nhỏ bé hơn.Niệm Bụt, ta có thể đạt tới Niệm, Định và Tuệ rất cao.Ta cũng có thể niệm Bụt mặc dù năng lượng Niệm, Định và Tuệ chưa hùng hậu.Hiệu quả của câu niệm Bụt có thể lớn hay nhỏ.Đó là do cách hành trì của chúng ta.Hiệu quả lớn hay nhỏ là do Niệm và Định vững chãi nhiều hay ít.

Kết thúc

Đây là lúc chúng ta nên nói vài câu để ôn lại và kết thúc khóa học kinh Pháp Hoa.

Sở dĩ trong khi học kinh Pháp Hoa chúng ta đã có được những giờ phút an lạc, vui mừng, một phần đó cũng là nhờ chúng ta đã học qua những kinh khác.  Nếu chỉ đọc riêng kinh Pháp Hoa, chưa chắc chúng ta đã thấy được cái giá trị của kinh Pháp Hoa.  Vì vậy vị nào chưa được học những kinh đi trước kinh Pháp Hoa, thì hãy nên học những kinh đó.  Sau khi học những kinh như Bảo tích, Bát Nhã, Hoa Nghiêm, và Duy Ma, thì quí vị sẽ thấy được cái địa vị của kinh Pháp Hoa trong khu vườn lộng lẫy của các tác phẩm Đại Thừa.
Chúng ta đã nghe và hiểu tại sao kinh Pháp Hoa được gọi là Vua của tất cả các kinh.

Đứng về phương diện luận lý thì kinh Pháp Hoa không có những nét đanh thép và hùng biện như kinh Duy Ma.  Nhưng đứng về phương diện nghệ thuật thì kinh Pháp Hoa vượt hẳn kinh Duy Ma.  Những nghệ thuật sắp đặt các màn, các cảnh của kinh Duy Ma, kinh Pháp Hoa thừa hưởng được hết, và còn đi xa hơn vậy nữa.  Những hình ảnh được trình bày trong kinh Pháp Hoa rất giàu có, và tất cả những tư tưởng uyên áo, đặc thù của kinh Pháp Hoa đều đựợc trình bày qua hình ảnh, qua các bức tranh.  Đó là một điểm rất đặc thù.
Kinh Pháp Hoa còn có tính cách thực tiễn, thỏa mãn được nhu cầu của quảng đại quần chúng, vì vậy mà giới nào cũng có thể hành trì, không phải chỉ dành cho giới trí thức.  Chỉ một Phẩm Phổ Môn là đủ cho chúng ta thấy được điều đó.  Giới bình dân cũng có thể hành trì được kinh Phổ Môn, và giới trí thức thượng thặng cũng hành trì được kinh Phổ Môn.  Đó là một điều đặc sắc khác của kinh Pháp Hoa.

Kinh Pháp Hoa lại có một ngôn từ rất hòa nhã.  Kinh có tư cách của một người cha hiền, của một bà mẹ từ bi, mở hai vòng tay lớn để ôm tất cả các con vào lòng, không phân biệt đứa này là con ruột, đứa kia là con nuôi, đứa này là thông minh, và đứa kia ít thông minh hơn.  Tới với kinh Pháp Hoa cũng như trở về ngôi nhà của cha mẹ, tuy không nhiều lời nhưng ta thấy hết được tất cả những ấm cúng, những cánh cửa rộng mở, và hai cánh tay từ hòa, tiếp đón nồng hậu của một bà mẹ, của một ông cha.
Kinh Pháp Hoa phải đợi đến mấy trăm năm mới xuất hiện, và là một bông hoa tuyệt vời trong vườn kinh điển của đạo Bụt Đại Thừa.
Đã có những tông phái đạo Bụt chịu ảnh hưởng sâu đậm của kinh Pháp Hoa, và thay vì thực tập phương pháp niệm Bụt, họ đã can đảm chế tác ra phương pháp niệm Pháp, Nam mô Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, thay vì Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm hay Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni.  Điều đó cho chúng ta thấy người khởi xướng là một người can đảm.  Người ấy chỉ rõ cho ta thấy rằng Pháp do Bụt mà có, trong Pháp có Bụt, vì vậy mà niệm Pháp cũng có công đức và hiệu năng giống như niệm Bụt.
Khi tụng đọc Phẩm Phổ Môn chúng ta thấy rằng phương pháp niệm Bụt trong kinh Pháp Hoa là một phương pháp rất mầu nhiệm và quan trọng.  Cúng dường Pháp tức là cúng dường Bụt, và cúng dường Bụt tức là cúng dường Pháp.  Con người có thể thiết lập được sự thông cảm với một con người khác dễ dàng hơn, cho nên liên hệ của mình đối với Pháp không thể nào dễ dàng như liên hệ của mình đối với Bụt.  Vì vậy mà phương pháp niệm Bụt dầu sao cũng dễ thành công hơn phương pháp niệm Pháp.  Nam mô đức Bồ Tát Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm, Nam mô đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền, Nam mô đức Bồ Tát Diệu Âm, Nam mô đức Bồ Tát Dược Vương, Nam mô đức Bồ Tát Thường Bất Khinh v.v… niệm như thế thấy quen thuộc với chúng ta hơn.  Đó là những hình tượng của các vị Bồ Tát xuất hiện trong Hạnh môn, và khi niệm danh hiệu các Ngài, chúng ta thấy mình thâu nhiếp dễ dàng được tinh lực của các Ngài.

Chúng ta cũng thấy rằng kinh Pháp Hoa tuyên thuyết  hai thông điệp chính: (i) Tất cả chúng sanh đều có thể thành Bụt, và (ii) Chỉ có một con đường tu học duy nhất là Phật thừa.  Tam thừa chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sanh buổi ban đầu.  Cái chủ đích quan trọng nhất của chư Bụt là hướng dẫn chúng sanh đi vào con đường Phật thừa, tức là con đường Khai, Thị, Ngộ, Nhập cái tri kiến của Bụt.  Vì vậy mà triết lý này được gọi là Khai tam hiển nhất, hay là Hội tam quy nhất, nghĩa là gom cả ba cái lại để đưa về một cái. Điều đó làm cho kinh Pháp Hoa trở thành Diệu Pháp.