Mùa xuân đi gặp Thầy, gặp Tổ

Thầy Chân Phương Cần

Con kính bạch Thầy, 

Lâu rồi con mới lại viết thư cho Thầy sau nhiều lần lỡ hẹn. Năm 2013, con viết thư cho Thầy khi mới gia nhập tăng thân. Năm 2016, khi Thầy về Thái Lan dưỡng bệnh, lần đầu tiên con được gặp Thầy bằng xương bằng thịt sau bao năm “gặp” Thầy qua băng giảng, sách vở. Dù không còn nghe Thầy dạy dỗ trực tiếp, sự có mặt của Thầy cùng tăng thân đã nuôi dưỡng, trị liệu và đánh động con rất nhiều. Con đã có cơ hội đủ gần bên Thầy mà tận hưởng sự ngọt ngào, uy nghiêm của Thầy, cũng như ngắm Thầy từ xa để thấy Thầy ấm áp và hạnh phúc dường nào trong vòng tay tăng thân. 

Trong khoảng thời gian Thầy dưỡng bệnh, tăng thân đã tập hợp được rất nhiều lá thư đệ tử viết cho Thầy và biên tập thành hai tập Tay con trong tay Thầy. Con cũng có cơ hội tham gia ban biên tập của tập 2. Có huynh đệ hỏi con về lá thư con sẽ viết cho Thầy. Con đã lưỡng lự vì những nỗi niềm trong tự thân của mình. Sau mỗi lần “lỡ duyên” như vậy, con đều tìm về những tâm tư, hoài bão, lý tưởng mà Thầy gửi gắm qua sách vở, pháp thoại. Tuổi thơ trong chùa của con lớn lên nhờ những trang sách, lời văn, thi ca và bài giảng của Thầy. Rất nhiều những khó khăn con đi qua được là nhờ sự trao truyền đó của Thầy. Có lẽ con đã hơi “vướng mắc” Thầy qua những trang sách, băng giảng nên khi gặp Thầy bằng xương bằng thịt, con có chút bối rối. Lắm lúc con tự cười với chính mình về cái “vướng mắc” đó, dù cũng có nhiều kỷ niệm quý báu trong đời bên Thầy. 

Con là đứa rất ưa thích lịch sử. Mỗi lần đọc đến những trang sử của dân tộc hay đạo Phật Việt Nam, đặc biệt là qua ngòi bút của Thầy, con đều cảm thấy xúc động. Mỗi trang sách Thầy viết về lịch sử dân tộc hay lịch sử đạo Bụt đều bàng bạc tâm tình, lý tưởng, thấm đẫm tình quê hương và lý tưởng làm mới đạo Bụt. Hơn nữa, tuệ giác và sự hiểu biết của Thầy làm cho chú điệu nhỏ khi ấy là con như “chạm” vào quá khứ. Lịch sử như hiện ra trước sư chú không chỉ bằng những thông tin mà còn bằng sự thông suốt dễ hiểu, bằng cái nhìn nhẹ nhàng, từ bi của Thầy. Dĩ nhiên, có những trang sử dân tộc và đạo pháp mà Thầy là nhân vật không thể thiếu. Thầy là người viết về lịch sử nhưng cũng là người dựng nên những trang sử. 

Có những đêm đọc sách Thầy, con không khỏi xúc động rưng rưng vì thấy mình may mắn được sinh ra làm người, gặp Tam bảo và được gặp Thầy. Con chắp tay vì lòng biết ơn tràn dâng. Nhưng cũng có đôi lần, con chắp tay trước những trang sách của Thầy vì thấy mình nhỏ bé trước tuệ giác và những cái thấy khác biệt của Thầy. Những khi ấy, thật sự con chưa sẵn sàng, chưa đủ trưởng thành để đồng điệu với những cái thấy và tuệ giác của Thầy. Con chỉ biết cúi đầu. Con biết dù rất yêu mến và tôn kính Thầy nhưng những phần cũ kỹ lâu đời, bảo thủ và sợ thay đổi trong con còn nhiều. 

Là học trò của Thầy, con nghĩ một trong những điều khó nhất là dám “thay máu” tư duy, nhất là những tư duy, cảm xúc dựa trên cái thấy áp đặt và những khuôn mẫu lâu đời mà thiếu tuệ giác sinh động và cái nhìn cởi mở. Nhưng con biết Thầy rất từ bi, có rất nhiều kiên nhẫn để chờ đợi người học trò của mình trưởng thành. Buồn cười hơn nữa là sau mỗi lần “gặp gỡ” Thầy như vậy, con cảm giác được rong chơi trong tuệ giác của Thầy và trong vòng tay tăng thân. Con vẫn còn là một chú điệu nhỏ trong giáo pháp của Thầy và dù được Thầy dạy dỗ kỹ lưỡng nhưng Thầy vẫn từ bi cho con được hồn nhiên mà không hề bắt ép hay áp đặt. Gia tài đã ở đó, con chỉ cần thong dong trên đường vui cùng Thầy và tăng thân. 

Mùa xuân gặp Thầy, gặp Tổ 

Chủ đề lịch sử mà Thầy viết làm con đọc hoài không bao giờ chán đó là việc Thầy tìm ra Tổ sư Khương Tăng Hội là Sơ tổ Thiền tông Việt Nam và Trung Hoa. Thầy đã chạm đến những phần lịch sử bị lãng quên của Phật giáo Việt Nam và dám nói lên tiếng nói mà hơn 1000 năm qua chưa ai dám nói. Thầy đã nói bằng ngôn ngữ rất khoa học, phản biện, đầy đủ dẫn chứng nhưng vẫn giữ được sự tôn kính đối với những giá trị lâu đời của Phật giáo Việt Nam và Trung Hoa. Đó là bài học rõ ràng và ấn tượng nhất mà con học được từ Thầy trong việc nói lên quan điểm, cái thấy độc lập của mình một cách nghiêm túc, quyết đoán nhưng vẫn giữ sự tôn trọng, không chỉ trích tiêu cực đối với quan điểm đối lập. 

Trong câu chuyện của Tổ Tăng Hội, con cảm được phần tuệ giác, lý tưởng cũng như tâm tư tình cảm dạt dào của Thầy đối với dân tộc và Phật giáo Việt Nam. Giáo pháp hay con người của Tổ Tăng Hội là đại diện tiêu biểu cho bản sắc Phật giáo Việt Nam trong những thế kỷ đầu Tây lịch mà sau nhiều thế kỷ, Thầy đã khơi dậy bản sắc đó và tất cả đệ tử của Thầy được thừa hưởng. Nhờ đặt niềm tin vào Thầy mà con lại có cơ duyên gặp Tổ và giáo pháp của Tổ, có cơ hội thừa hưởng một dòng truyền thống thiền tập rất đặc thù của Việt Nam. Con không nghĩ mình lại “làm ăn có lãi” nhiều như thế khi “đầu tư” niềm tin vào Thầy! Con cũng đã nghe theo lời Thầy, tìm đọc thêm sử liệu, nghiên cứu thêm một vài phương diện khác và viết về Tổ Tăng Hội bằng ngôn ngữ và cái thấy của mình để nhiều người biết đến Tổ cũng như công trình lịch sử của Thầy[1].

Tháng 5 năm 2025, con có cơ hội cùng quý thầy quý sư cô và một số các vị Tiếp Hiện cư sĩ viếng thăm Phương Vân Am ngày xưa và thăm trường Viễn Đông Bác Cổ, phân khoa của trường Đại học Sorbonne tại Paris. Phương Vân Am là nơi Thầy viết những quyển sách như Trái tim mặt trời và đặc biệt là Việt Nam Phật giáo Sử luận I với tuyên bố Tổ Tăng Hội là Sơ tổ Thiền tông Việt Nam và Trung Hoa.

Chúng con đến thăm Phương Vân Am vào một ngày nắng đẹp. Vị chủ nhà tiếp đón niềm nở. Chú Thanh Hương từ bên Mỹ sang kể những câu chuyện về nếp sinh hoạt của Thầy lúc trước tại Phương Vân Am. Anh chị em chúng đi thăm ngọn đồi phía sau, tò mò đi tìm cây thông Thanh Từ và có cơ hội thưởng lãm khung cảnh “hàng vạn bông hoa ngoảnh nhìn về phương Đông chói sáng” trong bài hát Ý thức em mặt trời tỏ rạng mà Thầy sáng tác. 

Con ý thức rằng nhờ khung cảnh đẹp và thanh bình đó mà Thầy đã giữ được sự an tịnh, bình an, không bị đắm chìm trong nỗi khổ niềm đau khi phải lưu vong, khi nghe những tin tức đau thương ở quê nhà. Con nhớ tới câu chuyện bé Thủy trong sách Trái tim mặt trời: Bé Thủy sau một hồi chơi sau đồi rồi chạy về xin Thầy nước táo để uống giải khát và ngây ngô so sánh ly nước táo cũng đang “ngồi thiền” như Thầy để được lắng trong. Đó là những áng văn chương đẹp nhất, thi vị nhất mà trong đời con được đọc. Đẹp vì khung cảnh, vì cái cách Thầy dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện thiền học một cách tự nhiên và đầy thơ mộng. Dù trang sách Thầy kể thi vị và thơ mộng là thế nhưng con biết Thầy đã thực tập với rất nhiều khó khăn bên ngoài cũng như trong tự thân. Thầy đã từng nhập thất im lặng cả hai tháng tại Phương Vân Am khi nghe tin thầy Thanh Văn mất do tai nạn xe hơi. Cũng tại đây, Thầy được ăn bữa ăn cuối cùng với Hòa thượng Thiện Minh, một trong những người huynh đệ thân thiết nhất, trước khi Hòa thượng về lại Việt Nam và mất trong quá trình đấu tranh Phật giáo. 

Trời Tây hội ngộ

Thăm Phương Vân Am, con gặp Thầy qua nét đơn sơ, bình dị của nếp sống thanh bần lạc đạo đậm chất Việt Nam tại vùng ngoại ô nước Pháp. Khi thăm Sorbonne, con lại tiếp xúc với khung cảnh tri thức, văn hóa Tây phương mà Thầy đã học hỏi và khám phá. Thầy đã có mặt ở đây, học hỏi và cởi mở với văn hóa Tây phương nhưng cũng đồng thời tại chính ngôi trường này, Thầy đã hiểu sâu hơn về văn hóa Đông phương, về dòng chảy lịch sử tư tưởng Phật giáo nói chung cũng như Phật giáo Việt Nam qua những thành quả của các ngành văn bản học, khảo cổ học mà người Tây phương đã đạt được. Cũng chính nơi này, Thầy đã gặp được Tổ Tăng Hội bằng một cái nhìn uyên nguyên, tự do và chân thật nhất. Thầy cũng đã tiếp xúc với kinh An ban thủ ý (hay kinh Quán niệm hơi thở) và nhận ra mình là người hạnh phúc nhất trên thế giới. 

Chúng con được thầy phó hiệu trưởng cùng một vài vị giáo sư trong phân khoa Khoa học tôn giáo tiếp đón nồng hậu, dẫn đi thăm trường và phòng học mà Thầy từng đứng lớp cách đây hơn 50 năm. Điều đặc biệt là phòng học gần như vẫn còn giữ được nguyên vẹn: từ cái bàn, chiếc ghế, bảng viết phấn cho đến các kệ tủ đựng sách… Trường còn lưu giữ những thống kê về các tiết học lịch sử Phật giáo Việt Nam và những giờ thiền học mà Thầy hướng dẫn. Các vị giáo sư đã gửi tặng quý thầy, quý sư cô bản sao của các bản thống kê đó. 

Chúng con chăm chú lắng nghe các vị giáo sư chia sẻ hoạt động của phân khoa tôn giáo, về những đóng góp của Thầy. Sư cô Định Nghiêm còn kể về tình bạn giữa Thầy và giáo sư Paul Demiéville – vị giáo sư nổi tiếng và lỗi lạc của trường và về những hoạt động của Thầy tại trường. Sư cô tiết lộ chi tiết Thầy được đặc cách để đọc những đoạn băng lưu trữ tài liệu Phật giáo tại thư viện quốc gia Paris và thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ nhờ sự tin tưởng của giáo sư Paul đối với Thầy. 

Con đã thở thật sâu, thật chậm để quán chiếu về sự có mặt của Thầy nơi đây, đi từng bước thiền hành trên những hành lang, trong khuôn viên của trường như Thầy đã từng đi hơn nửa thế kỷ trước. Sự có mặt của một nhóm quý thầy, quý sư cô và cư sĩ trong màu áo nâu giữa không gian đại học Tây phương đã gợi lên những tò mò trong đôi mắt của rất nhiều bạn sinh viên trẻ. Con mỉm cười và thầm nghĩ, có lẽ ngày xưa khi mới đến đây, Thầy cũng từng bắt gặp những ánh mắt với sự tò mò như thế. Con ý thức là mình may mắn bởi Thầy đã trao truyền trọn vẹn cho đệ tử những gì tinh túy nhất mà Thầy đã học và khám phá tại Sorbonne. Những khám phá này đã giúp Thầy hiểu giáo pháp có tính khoa học, nhất quán và đồng thời là nền tảng cho tất cả những tuệ giác về sau của Thầy. Con thật sự xúc động và biết ơn vì thấy mình thật may mắn: lớn lên trong sự thích thú với băng giảng, sách vở của Thầy, một lòng đi cùng tăng thân để rồi có cơ hội đặt chân đến nơi mà Thầy đã có những khám phá sâu sắc về Phật học lẫn lịch sử Phật giáo Việt Nam. 

Thầy đã gặp lại Tổ Tăng Hội tại trời Tây, trong khung cảnh học thuật của tinh thần cởi mở, tư duy độc lập. Thầy bôn ba nơi xứ người bao nhiêu năm để có cơ duyên được gặp Tổ và kinh Quán niệm hơi thởrồi tiếp tục mang thiền học của Tổ đi hoằng hóa khắp thế giới. Con tin rằng đã có sự sắp đặt của tổ tiên tâm linh để Thầy được gặp Tổ Tăng Hội tại trời Tây mà không phải tại Á Đông. Là người có lý tưởng thay đổi, tư duy sáng tạo và độc lập, Thầy cần một môi trường tương tự tại châu Âu để nhìn lại cội nguồn lịch sử Phật giáo Việt Nam bằng con mắt cởi mở, độc lập và chân thật nhất mà hoàn toàn không bị lệ thuộc vào những tư duy bảo thủ, áp đặt.

Sau khi gặp gỡ các vị giáo sư của trường, chúng con nán lại chụp hình tại phòng học mà Thầy đã đứng lớp. Chúng con ngồi xuống bàn học như những cô cậu học trò nhỏ của Thầy. Trái ngược với sự đón tiếp có phần lịch sự và trang trọng của các vị giáo sư, chúng con ngồi chơi tinh nghịch tự nhiên như Thầy đang có mặt ở đó. Sư cô Đoan Nghiêm viết ba chữ Duy Biểu Học bằng chữ Hán lên tấm bảng mà 50 năm trước Thầy đã viết. Anh chị em chúng con mỗi người viết lên bảng những điều mình tâm đắc nhất về Thầy. Con đã viết bốn chữ Thiền sư Tăng Hội như để kỷ niệm cuộc hội ngộ của Thầy và Tổ Tăng Hội cách đây 50 năm. Con cảm thấy niềm biết ơn tràn dâng vì được sinh ra là người Việt, gặp Thầy, cùng Thầy đi ngược lại thời gian quá khứ để gặp Tổ, cùng Tổ thong dong trên đường vui cùng Tăng thân. 

Tri kỷ của Tổ, tri kỷ của Thầy

Sau khi hoàn thành những bài viết về Tổ Tăng Hội, con cảm nhận được sâu hơn tâm tình của Thầy đối với Tổ. Thầy đã học hỏi và hành trì, xiển dương hết lòng với tư cách một người đệ tử, một người học trò và với tư cách một người con Việt mang nặng tình quê hương. Đồng thời, Thầy cũng học hỏi và thực tập theo Tổ với tâm thế của một tri kỷ đầy sự tri âm, đồng cảm. Nhìn vào cách Thầy hướng dẫn và triển khai giáo lý, pháp môn chánh niệm từ di sản của Tổ trao truyền, con thấy Thầy đã hiểu Tổ một cách sâu sắc. Nhờ tình tri kỷ này mà Thầy đã sáng tạo, đổi mới và chế tác ra nhiều pháp môn tu học để tiếp tục mang Tổ đi về tương lai.

Giây phút nhận diện Thầy là tri kỷ của Tổ, con có cảm giác tình thầy trò giữa Thầy và con đã trở nên sâu sắc và rộng lớn như cánh chim trời bay. Con đã chia sẻ cái thấy này với vài huynh đệ và ai cũng nhận diện ra Thầy là tri kỷ của Bụt và Thầy cũng là tri kỷ của Tổ Tăng Hội. Càng quán chiếu về tình tri kỷ đó, một câu hỏi đi lên trong con: Con có phải là tri kỷ của Thầy không? Những pháp môn tu học, những giáo lý và công trình dựng xây Tăng thân mà Thầy đã trao truyền, con sẽ tiếp nối Thầy đủ sâu, đủ rộng hay không? Con có đủ khả năng hiểu và chơi cuộc chơi mà Thầy đã tạo dựng cho anh chị em chúng con không? Con có đủ bản lĩnh để sáng tạo mà không sợ là không làm giống Thầy hay không? Có huynh đệ tâm sự rằng phải là tri kỷ của Thầy thì mới có thể đi qua nhiều chặng đường thăng trầm cùng tăng thân.   

Thầy ơi, 

Con không sao kể hết những mầu nhiệm khi được tu học với Thầy và tăng thân. Con đã ứng dụng cái thấy tri kỷ đó để nhìn lại gốc rễ tâm linh cũng như gốc rễ huyết thống của mình. Con đã tập nhìn thầy Bổn sư Quảng Hạnh và Sư Ông Đồng Từ của con bằng cái nhìn của một tri kỷ. Tất cả chư vị đều đang có mặt trong bản thân con. Cái nhìn tri kỷ giúp con vượt thắng những tiếc nuối, mặc cảm và thừa hưởng rất nhiều hạt giống thiện lành mà chư vị trao truyền cho con. Con cũng tập nhìn về gia đình huyết thống bằng cái nhìn tri kỷ đó để tập hiểu và tập thương.  

Nhưng đó chưa phải là tất cả cái đẹp trong mối tình thầy trò giữa Thầy và con. Ngay từ giây phút đầu tiên biết đến Thầy và sau tất cả năm tháng cùng tăng thân, con nhận ra con đã luôn luôn được là con trong suốt quá trình học hỏi và lớn lên trong giáo pháp của Thầy. Thầy không hề bắt con phải giống Thầy. Thầy luôn cho con những khoảng không gian để được nghiêm túc với con người và tư duy của mình. Trong sách hay băng giảng của Thầy, Thầy luôn để lại cho người đệ tử một khoảng trời để con là chính mình. Thầy vĩ đại không phải chỉ vì tài năng xuất sắc, biện thuyết vô ngại, mà bởi vì Thầy có thể giúp cho người học trò được là chính mình mà không phải trở nên một bản sao của Thầy. 

Nhờ là tri kỷ của Thầy mà con có đủ tự do để được là chính mình và tiếp tục cùng huynh đệ mang Thầy đi về tương lai. 

Con của Thầy,

Chân Phương Cần 


[1] Xin đọc các bài viết về Tổ Tăng Hội trong tập san Giếng Nước Thơm Trong tập 4 và 6