Truyền thông với chính mình

Cô đơn là khổ đau của thời đại. Ngay khi ở trong một đám đông chúng ta vẫn cảm thấy cô đơn. Cùng nhau chúng ta cô đơn. Trong ta như có một sự trống vắng khiến ta không mấy thoải mái. Rồi ta tìm liên kết với người khác để che lấp trống vắng trong ta, nghĩ rằng nếu liên kết được với người khác thì ta không còn cảm giác cô đơn.

Công nghệ kỹ thuật cung cấp cho chúng ta nhiều phương tiện để liên kết. Nhưng ngay khi đang liên kết với người khác, ta vẫn cảm thấy cô đơn. Chúng ta theo dõi email, gửi tin nhắn, và cập nhật thông tin nhiều lần trong ngày. Chúng ta muốn chia sẻ, muốn nhận tin. Chúng ta có thể bỏ ra cả ngày để liên kết nhưng ta đâu có thể giảm bớt cô đơn.

Chúng ta đều đói thương yêu nhưng không biết chế tác thương yêu để được nuôi dưỡng. Khi cảm thấy trống trải, ta dùng kỹ thuật để che lấp sự trống trải. Nhưng chúng ta thất bại. Chúng ta có nào là “mạng xã hội”, nào là email, nào là hội thảo trên màn hình (video conferencing). Chúng ta đánh tin nhắn (texting), mạn đàm bằng máy vi tính (posting). Chúng ta có điện thoại cầm tay. Chúng ta có đủ thứ. Nhưng rõ ràng là truyền thông của chúng ta không khá thêm chút nào. Nhiều người có điện thoại cầm tay vì muốn liên kết với người khác. Nhưng không nên tin tưởng quá nhiều vào chiếc điện thoại ấy. Tôi không có điện thoại nhưng tôi không xa cách với thế giới bên ngoài. Trái lại tôi có nhiều thì giờ cho tôi và cho người khác. Chúng ta nghĩ rằng điện thoại cầm tay giúp ta liên kết. Nhưng nếu lời nói không phải là lời nói chân thật thì sử dụng điện thoại hay gửi tin nhắn (texting) không có nghĩa là ta đang truyền thông.

Chúng ta tin tưởng quá nhiều vào kỹ thuật truyền thông. Nhưng đằng sau các dụng cụ ấy ta có trí óc. Trí óc là dụng cụ truyền thông căn bản. Nếu trí óc ta tê liệt thì không một dụng cụ nào có thể thay thế giúp ta truyền thông với chính ta hay với người khác.

Truyền thông vào bên trong

Nhiều người trong chúng ta dành rất nhiều thì giờ để họp bàn, để gửi email nhưng ít khi có thì giờ để nhìn lại chính mình. Kết quả là ta không biết những gì đang xảy ra trong ta. Có thể là trong ta đang rối beng và như vậy thì làm sao ta có thể truyền thông với người khác?

Ta nghĩ rằng nhờ công cụ kỹ thuật mà ta có thể truyền thông. Nhưng đó là ảo tưởng. Trong cuộc sống hằng ngày ta đã bị tách rời khỏi ta. Chúng ta đi mà không biết là mình đang đi, không biết mình đang ở đâu, không ý thức là mình đang sống. Suốt cả ngày chúng ta đánh mất mình.

Dừng lại để trở về truyền thông với mình là một hành động cách mạng. Hãy ngồi xuống để chấm dứt tình trạng lạc lõng, xa cách với chính mình. Chỉ cần ngừng lại, ngồi xuống và thiết lập mối liên hệ với chính mình. Ta gọi đây là chánh niệm tỉnh thức. Chánh niệm là ý thức giây phút hiện tại. Không cần phải có iPhone hay máy vi tính. Chỉ cần ngồi xuống và theo dõi hơi thở. Chỉ trong vài giây là ta có thể thiết lập liên hệ lại với ta. Ta biết những gì đang xảy ra trong ta, trong thân thể ta, trong cảm thọ ta cũng như trong ý tưởng ta.

Vai trò của máy vi tính

Khi cảm thấy truyền thông khó khăn hay ngại người kia nghe không biết rõ thì cách tốt nhất là biên thư hay gửi email. Nếu ta viết một bức thư đầy hiểu biết và thương yêu thì ngay khi đang viết ta đã nuôi dưỡng ta. Lời lẽ trong thư sẽ nuôi dưỡng người nhận thư nhưng trước hết sẽ nuôi dưỡng ta. Thư hay email chưa gửi đi nhưng khi đang viết, lời lẽ trong thư sẽ nuôi dưỡng ta vì nó chứa đầy hiểu biết, thương yêu.

Nhất là khi mới bắt đầu tu tập, viết thư là một phương pháp khá dễ để thực tập truyền thông trong chánh niệm. Viết thư như thế có lợi cho sức khỏe. Áp dụng chánh niệm bằng việc viết thư, đánh tin nhắn, gửi email với lòng hiểu biết thương yêu thì những điều đó sẽ giúp xóa bỏ sợ hãi, hờn giận nơi người nhận.

Vậy cho nên khi sử dụng điện thoại hay máy vi tính thì phải nhớ rằng mục đích của điện thoại hay máy vi tính là để truyền thông với tâm thương yêu. Thường thường chúng ta hay hấp tấp gửi đi tin nhắn hay email. Viết xong là ta bấm ngay nút “gửi” (“send”) và thư đi trong nháy mắt. Nhưng không cần phải hấp tấp. Chúng ta dư thì giờ để thở vào, thở ra một hơi trước khi bấm nút “gửi” hay nhấc điện thoại. Làm như vậy ta có nhiều cơ hội để gửi đi nhiều truyền thông thương yêu hơn cho đời.

Về nhà

Bắt đầu thực tập chánh niệm là lên đường về nhà. Nhà là nơi ta không còn cô đơn, là nơi ấm cúng, dễ chịu, là nơi an toàn, thỏa thích. Chúng ta đã bỏ nhà đi xa khá lâu, nhà ta không ai chăm sóc.

Nhưng thật ra con đường về nhà đâu có xa. Nó ở ngay trong ta. Chỉ cần ngồi xuống, ta với ta, và chấp nhận tình trạng trước mắt. Có thể là nhà ta thật đang ngổn ngang, nhưng ta đành chấp nhận thôi vì ta đã bỏ nhà mà đi quá lâu. Và bây giờ ta đã về đến nhà. Với hơi thở vào ra, hơi thở chánh niệm, ta bắt đầu sắp xếp dọn dẹp lại căn nhà của ta.

Truyền thông với hơi thở

Đường về nhà bắt đầu với hơi thở. Nếu ta biết cách thở thì ta có thể học cách đi, cách ngồi, cách ăn, cách làm việc trong chánh niệm để nhờ đó mà ta bắt đầu biết rõ mình. Khi thở vào ta trở về với ta. Khi thở ra ta thư giãn. Khi ta đã có thể truyền thông với chính ta thì ta cũng có thể truyền thông với bên ngoài một cách sáng tỏ. “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm”.[1]

Hơi thở chánh niệm là một phương tiện truyền thông như đường dây điện thoại. Hơi thở chánh niệm nối kết tâm và thân, giúp ta ý thức cảm thọ trong ta. Chúng ta thở không ngưng nhưng ít khi chúng ta để ý đến hơi thở trừ khi ta bị nghẹt thở.

Với hơi thở chánh niệm, khi thở vào ta biết là ta đang thở vào. Ta chú ý vào hơi thở vào. Khi thở ra ta biết là ta đang thở ra. Ta chú ý vào hơi thở ra.

Để tự nhắc nhở ta có thể nói thầm:

“Thở vào tôi biết là tôi thở vào, Thở ra tôi biết là tôi thở ra.” 

“Hơi thở đang đi vào thân tôi, Hơi thở đang đi ra khỏi thân tôi.”

Hãy theo dõi suốt chiều dài của hơi thở vào, hơi thở ra. Lấy ví dụ hơi thở của anh dài bốn giây thì trong khi thở vào anh sẽ chú tâm hoàn toàn vào hơi thở, không gián đoạn. Trong khi thở ra anh cũng chú tâm vào hơi thở ra. Anh an trú nơi hơi thở vào, hơi thở ra. Anh không là gì khác. Anh là hơi thở vào của anh. Anh là hơi thở ra của anh.

Thở vào, thở ra như thế là thực tập để được tự do. Mỗi khi chú tâm vào hơi thở, ta buông bỏ tất cả, buông bỏ lo lắng tương lai, buông bỏ tiếc nuối quá khứ, ý thức được những cảm thọ của ta trong giây phút hiện tại. Cứ như thế suốt hai mươi bốn giờ một ngày ta theo hơi thở vào, ra. Luôn có mặt chăm sóc tự thân. Chỉ cần vài giây để thở là ta tự giải thoát.

Nhìn một người ta có thể nhận ra là người ấy đang thở trong chánh niệm. Người ấy bộc lộ phong thái tự do. Nếu tâm ta đầy sợ hãi, lo âu, tiếc nuối thì ta không có tự do, dầu cho ta ở địa vị nào trong xã hội, dầu cho ta giàu có đến đâu đi chăng nữa. Tự do thực sự chỉ có được khi ta không còn đau khổ và trở về với tự thân, khi ta “trở về nhà”. Tự do quý hóa không gì bằng. Tự do là nền tảng của hạnh phúc và có sẵn đó cho ta với từng hơi thở.

Không suy nghĩ và không nói năng

Hạnh phúc có được khi ta truyền thông với ta. Muốn vậy ta phải cất đi chiếc điện thoại. Khi đang trong buổi họp hay tham dự lễ ta hãy tắt điện thoại. Vì sao? Vì ta muốn truyền thông và tiếp nhận truyền thông.

Truyền thông với chính mình cũng vậy. Không thể nào truyền thông với mình bằng chiếc điện thoại. Chúng ta quen suy nghĩ, quen nói năng không ngừng nghỉ. Nếu muốn truyền thông với chính mình thì phải thực tập ngưng suy nghĩ, ngưng nói năng.

Không suy nghĩ là một thực tập rất quan trọng. Lẽ tất nhiên suy nghĩ hay nói năng có thể đem lại kết quả. Nhưng phần đông chúng ta bị mắc kẹt vì tâm trí bận về quá khứ, tương lai, vọng tưởng điên đảo, thị phi thắc mắc.

Vọng tưởng đến chớp nhoáng và ta bị kẹt vào vọng tưởng. Lời nói hay hành động của ta vì vọng tưởng mà trở nên nguy hiểm. Trong trường hợp này, tốt hơn là không nên nói gì hay làm gì cả. Vì vậy cho nên truyền thống thiền tập khuyên ta nên “cắt đứt con đường của lời nói và chữ nghĩa”. Phải cắt đứt lời nói và chữ nghĩa vì nếu tiếp tục sử dụng thì ta sẽ bị kẹt vào lời nói và chữ nghĩa của chính ta.

Thở hơi thở chánh niệm là thực tập ngưng suy nghĩ, ngưng nói năng. Không suy nghĩ, không nói năng thì không còn chướng ngại cho việc vui hưởng phút giây hiện tại. Ta có thể cảm thấy hạnh phúc khi ta thở hơi thở vào, ra, khi ngồi, khi đi, khi ăn sáng, khi tắm gội, khi chùi cầu, khi làm vườn. Khi ngưng nói năng, suy nghĩ và lắng nghe ta trong chánh niệm ta sẽ nhận ra rằng ta có thêm khả năng và cơ hội để được hạnh phúc.

Mặt khác, khi ngưng nói năng suy nghĩ và bắt đầu lắng nghe chính mình thì ta sẽ nhận ra những khổ đau của đời mình. Có thể thân ta đang bị đau nhức, căng thẳng. Có thể trong ta có những đau nhức, những lo sợ bị che lấp vì ta đang bận nói năng, suy nghĩ hay nhắn tin (texting).

Chánh niệm giúp ta lắng nghe niềm đau, nỗi khổ, lo sợ trong ta. Khi niềm đau, nỗi khổ trỗi dậy ta không nên trốn chạy; trái lại ta phải trở về để chăm sóc khổ đau trong ta. Ta không sợ bị tràn ngập bởi vì ta biết cách sử dụng hơi thở, bước đi để chế tác năng lượng chánh niệm để nhận diện và chăm sóc khổ đau. Nếu năng lượng chánh niệm trong ta khá mạnh nhờ thực tập bước đi, hơi thở thì ta sẽ không lo sợ khi đối diện với chính mình.

Tôi không cảm thấy chiếc điện thoại cầm tay là cần thiết bởi vì tôi đã mang theo trong tôi năng lượng chánh niệm như là thiên thần hộ mạng, luôn luôn có đó trong tôi, giúp tôi không còn lo sợ trước những niềm đau, nỗi khổ. Mang theo chánh niệm trong người quan trọng hơn mang theo chiếc điện thoại cầm tay. Anh có thể nghĩ rằng có chiếc điện thoại cầm tay trong người là an toàn. Nhưng sự thật là chánh niệm sẽ bảo hộ anh, giúp anh giảm bớt đau khổ, và hoàn thiện truyền thông hơn hẳn điện thoại cầm tay.

Hãy trở về

Giây phút tĩnh lặng khi ngừng suy nghĩ và nói năng tạo không gian để ta thực sự lắng nghe ta. Ta không phải xa lánh khổ đau. Ta không cần khỏa lấp những gì làm ta khó chịu. Trái lại ta phải có mặt cho ta, để hiểu, nhờ đó mà ta có thể chuyển hóa.

Hãy trở về nhà và lắng nghe. Nếu anh không truyền thông được với anh thì anh không thể truyền thông với ai khác. Hãy trở về, tiếp tục trở về, đem thương yêu mà truyền thông với chính mình. Đó là phép thực tập. Anh phải trở về và lắng nghe niềm hạnh phúc đang có lúc này. Anh phải trở về và lắng nghe khổ đau trong tâm và trong thân anh, và học cách ôm ấp, thoa dịu khổ đau.

Truyền thông với thân

Nếu luôn giữ tâm chánh niệm thì ta có thể tiếp tục thở trong chánh niệm trong khi hoạt động suốt ngày. Nhưng năng lượng chánh niệm sẽ mạnh hơn, có thêm năng lực chữa trị và giúp cho truyền thông được thành công hơn nếu ta tạm ngừng công việc và ngồi yên vài phút. Sau khi thủ tướng Nelson Mandela được phóng thích và đến thăm nước Pháp, một ký giả đã hỏi về điều mà ông muốn nhất. Thủ tướng Nelson Mandela trả lời: “Ngồi yên và chẳng làm gì cả”. Bởi vì kể từ ngày ra khỏi tù và chính thức tham gia chính trị, ông không có thì giờ rảnh để ngồi xuống trong thảnh thơi. Chúng ta nên dành thì giờ để ngồi yên, dầu chỉ vài phút, bởi vì ngồi yên là một niềm vui.

Lúc ta bứt rứt, loay hoay không biết phải làm gì là lúc mà ta nên ngồi xuống. Ngay cả khi ta cảm thấy bình an thì ngồi yên cũng là tốt, ngồi để nuôi dưỡng thói quen thực tập ngồi yên. Khi ngừng lại và ngồi xuống, ta theo dõi hơi thở vào ra trong niềm vui và mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn bởi vì giờ phút hiện tại đang có đó cho ta.

Phải thở thế nào để có được niềm vui. Khi ngồi xuống và thở trong chánh niệm thì thân và tâm sẽ truyền thông và gặp nhau. Đây là một phép lạ bởi vì thường thường thì tâm một nơi và thân một ngả. Tâm ta mãi lo toan tính cho dự án. Tâm ta mãi tiếc nuối quá khứ, lo lắng tương lai. Tâm ta xa cách thể xác.

Khi thở hơi thở chánh niệm thì thân và tâm hội ngộ. Không cần phải sử dụng kỹ thuật cao siêu, chỉ cần ngồi yên và thở trong chánh niệm là ta có thể đem tâm về với thân, thành phần chủ yếu của ngôi nhà của ta. Khi ngồi trước máy vi tính nhiều giờ ta có thể quên đi là ta đang có một thân người cho đến lúc rã rời mệt mỏi. Không nên đợi đến lúc đó mới dừng lại và trở về với thân mình.

Để tăng cường ý thức về sự liên kết giữa thân và tâm ta có thể đọc thầm câu kệ:

“Thở vào tôi ý thức thân tôi

Thở ra tôi thư giãn căng thẳng trong thân tôi.”

Thiền hành

Bước chân chánh niệm là một cách mầu nhiệm đem tâm về với thân. Bước chân chánh niệm còn cho ta cơ hội tiếp xúc với nguồn nuôi dưỡng và trị liệu bên ngoài ta: địa cầu. Bước một bước với ý thức trọn vẹn là ta đang tiếp xúc với mặt đất, với địa cầu thì không còn cách biệt giữa thân và tâm. Thân là hơi thở. Thân là bàn chân. Thân là buồng phổi. Và khi ta liên kết với bước chân, với hơi thở là ta đã về nhà.

Mỗi bước chân đem ta về nhà, về với bây giờ và ở đây, để ta có thể liên kết với ta, với thân, với cảm thọ của ta. Đây là một liên kết thật sự. Ta không cần có một thiết bị (device) nào để cho ta biết ta có bao nhiêu bạn (như Facebook), ta đã bước bao nhiêu bước, đốt bao nhiêu ca-lo-ri (calories).

Khi bước đi trong chánh niệm ta phối hợp mỗi bước chân với hơi thở, chú tâm vào bước chân đang in dấu trên mặt đất. Bước một bước ta ý thức ta đang bước đi một bước và chấm dứt hoàn toàn suy nghĩ. Khi suy nghĩ ta đánh mất ta. Ta không còn biết những gì đang xảy ra trong thân, trong cảm thọ, hay những gì đang xảy ra ngoài ta. Suy nghĩ khi đang đi không thực sự là đi.

Thay vào đó ta phải chú tâm vào hơi thở và bước chân. Ý thức rõ rệt bàn chân, cử động của bàn chân, và mặt đất mà ta đang dẫm lên. Khi chú tâm vào mỗi bước đi ta sẽ có tự do bởi vì đó là lúc tâm ta gắn liền với bước đi, không còn bị cuốn hút bởi chuyện quá khứ hay chuyện tương lai. Bước một bước ta được tự do một bước.

Trong khi bước ta có thể nói thầm “Đã về, đã tới”. Câu nói ấy không phải là một lời tuyên bố hay là để xác nhận ta đang thực tập. Câu nói ấy là thực chứng. Không cần chạy đi đâu hết, ta đã rong ruổi suốt đời. Bây giờ thì ta phải sống cho đàng hoàng.

Bây giờ và ở đây là ngôi nhà mà ta phải trở về, là nơi mà biết bao nhiêu mầu nhiệm của sự sống sẵn có, là nơi mà tấm thân mầu nhiệm của ta sẵn có. Ta không thể trở về với bây giờ và ở đây nếu ta không đầu tư toàn thân và tâm ta vào hiện tại. Nếu không về được một trăm phần trăm thì phải dừng lại, không bước thêm một bước nào nữa. Dừng lại và theo dõi hơi thở cho đến khi ta chắc một trăm phần trăm là ta đã về. Khi đó ta có thể mỉm cười đắc thắng. Nên đi như thế chỉ khi nào ta đi thiền hành một mình. Đi thiền hành với nhiều người mà dừng lại như thế e sẽ gây ứ đọng.

Anh không cần một ứng dụng (app) hay một người khác nhắc cho anh biết là anh đã về. Anh biết là anh đã về vì anh nhận ra rằng anh cảm thấy thoải mái. Khi đi từ bãi đậu xe tới văn phòng hãy đi như thế nào để mỗi bước chân đưa ta trở về. Thức tỉnh và liên kết với mình trong từng bước chân. Bất cứ là đi đâu chúng ta cũng có thể đi như một người tự do trên địa cầu này, thưởng thức từng bước chân đi.

Mỗi bước chân chánh niệm đem ta về tiếp xúc với thân ta và thân của địa cầu. Những bước chân ấy có thể cứu chúng ta ra khỏi tình trạng cô độc, cách biệt.

Đi trên mặt đất chữa trị tâm trạng lạc loài

Nhiều người trong chúng ta sống một cuộc sống tách rời khỏi địa cầu và khỏi tấm thân mình. Chúng ta sống riêng rẽ, cách biệt. Chúng ta, những con người, có khi rất mực cô đơn. Chúng ta không chỉ sống cách biệt với địa cầu, cách biệt người này với người kia mà còn cách biệt với cả chính mình. Cả ngày có khi ta quên đi là ta có một tấm thân. Nhưng khi ta bắt đầu thực tập hơi thở chánh niệm và lắng nghe thân mình là ta cũng bắt đầu nhìn sâu và thấy rằng chung quanh ta có địa cầu. Ta tiếp xúc với mặt đất và không còn cảm thấy cách biệt, lạc loài khỏi thân ta và khỏi địa cầu.

Chúng ta thường nghĩ rằng quả địa cầu là “môi trường” quanh ta. Nhưng nếu nhìn cho sâu ta sẽ thấy rằng địa cầu là một thực thể sống động, đầy mầu nhiệm. Nhiều khi, trong cô đơn, ta quên đi rằng ta có thể liên kết trực tiếp với đất mẹ.

Tiếp xúc khổ đau

Khi thở hơi thở chánh niệm và lắng nghe thân thể, ta bắt đầu ý thức cảm thọ khổ đau mà ta đã từng bỏ quên. Ta ôm giữ những cảm thọ ấy trong thân cũng như trong tâm ta. Khổ đau trong ta từng kêu gọi sự chú ý của ta nhưng ta đã phí biết bao thì giờ và sức lực, nhắm mắt làm lơ.

Khi thở hơi thở chánh niệm, những cảm thọ cô đơn, buồn bã, sợ hãi, lo âu trong ta sẽ có cơ hội trỗi dậy. Trong trường hợp ấy ta không cần phải hành động gì ngay mà chỉ cần tiếp tục hơi thở chánh niệm vào, ra. Ta không xua đuổi lo sợ, ta không xua đuổi hờn giận. Ta chỉ nhận diện và chấp nhận. Những cảm thọ ấy chẳng khác gì em bé đang níu chéo áo ta. Hãy bồng em bé lên một cách dịu dàng. Ghi nhận cảm thọ mà không phán xét, không xua đuổi, ôm ấp cảm thọ trong chánh niệm là hành động trở về nhà.

Khổ đau của tổ tiên

Trong khổ đau của ta có khổ đau của cha mẹ, tổ tiên ta. Cha mẹ, tổ tiên ta đã không có cơ may thực tập chánh niệm, vì thế mà không chuyển hóa được khổ đau của mình và đã trao truyền khổ đau đó cho ta. Nếu ta hiểu biết và chuyển hóa những khổ đau của cha mẹ, tổ tiên thì chúng ta chữa trị cho cha mẹ, tổ tiên và đồng thời cũng chữa trị cho chính ta.

Khổ đau của ta phản ảnh khổ đau của thế giới. Kỳ thị, bóc lột, nghèo đói, và sợ hãi gây nên khổ đau chung quanh ta. Khổ đau của ta cũng phản ảnh khổ đau của những người khác. Ta có ý muốn tìm cách làm vơi bớt khổ đau trên thế giới. Nhưng nếu không hiểu rõ thực chất của khổ đau thì ta không thể thực hiện ý nguyện ấy được. Nếu hiểu rõ khổ đau của chính ta thì ta có thể hiểu rõ dễ dàng khổ đau của những người khác và của thế giới. Chúng ta có thể có thiện chí muốn làm một việc hay đóng một vai trò để giúp cho thế giới bớt khổ đau. Tuy nhiên, nếu chúng ta không trở về với khổ đau của chính mình, ghi nhận đau khổ của chính mình thì chúng ta không thể giúp gì được.

Lắng nghe sâu

Khổ đau trong ta và chung quanh ta có thể làm ta choáng ngợp. Thường thường ta không muốn đối diện khổ đau vì ta không mấy thoải mái khi đối diện chúng. Thị trường đầy rẫy những phương tiện giúp ta trốn tránh khổ đau. Chúng ta tiêu thụ để lãng quên và che lấp khổ đau trong ta. Dù không đói, chúng ta vẫn ăn. Dù cho chương trình tivi không mấy hấp dẫn, chúng ta không có can đảm tắt máy bởi vì nếu chúng ta tắt tivi thì chúng ta phải trở về đối diện với khổ đau trong ta. Ta tiêu thụ không phải vì nhu cầu mà vì sợ phải đối diện khổ đau trong mình.

Nhưng có một cách giúp ta đối diện khổ đau mà không bị choáng ngợp. Chúng ta tránh né khổ đau bởi vì chúng ta không ý thức rằng khổ đau cũng có ích. Chúng ta cần tới khổ đau. Trở về để lắng nghe và thấu hiểu khổ đau, ta phát khởi từ bi và thương yêu. Nếu để thì giờ lắng nghe khổ đau thì có thể hiểu được khổ đau. Khổ đau sẽ triền miên nếu không được giải tỏa và chấp nhận. Nếu không thấu hiểu và chuyển hóa khổ đau thì ta mang hoài khổ đau, không chỉ khổ đau của riêng ta mà cả khổ đau của tổ tiên. Tiếp xúc với những khổ đau do tổ tiên trao truyền giúp ta thấu hiểu khổ đau của chính chúng ta. Hiểu thấu khổ đau đưa đến từ bi. Thương yêu sẽ phát hiện và lập tức ta bớt khổ. Nếu biết rõ tính chất và gốc rễ của khổ đau, con đường giải thoát khổ đau sẽ hiện rõ trước mắt. Biết rằng có con đường thoát, ta nhẹ nhõm và không còn sợ hãi.

Khổ đau đem lại hạnh phúc

Hiểu được khổ đau luôn luôn đưa tới từ bi. Nếu không hiểu được khổ đau thì không hiểu được hạnh phúc. Nếu biết cách chăm sóc khổ đau thì sẽ biết cách chăm sóc hạnh phúc. Cần có khổ đau để nuôi lớn hạnh phúc. Vì sự thật là khổ đau đi liền với hạnh phúc. Khi hiểu rõ khổ đau ta sẽ hiểu rõ thế nào là hạnh phúc. Nếu ta biết cách xử lý khổ đau thì ta sẽ biết cách xử lý hạnh phúc và chế tác hạnh phúc.

Sen phải cắm rễ xuống bùn mới mọc. Từ bi phát khởi từ hiểu biết khổ đau. Tất cả chúng ta phải học cách ôm ấp khổ đau, lắng nghe khổ đau và quán chiếu tính chất của nỗi khổ niềm đau trong mình. Nhờ đó ta chế tác được năng lượng thương yêu và từ bi. Một khi năng lượng thương yêu phát khởi trong ta thì tức khắc ta sẽ bớt đau khổ. Khi đã bớt đau khổ, thì ta có thể hiểu rõ đau khổ của người khác và của thế gian. Từ đó sự truyền thông của chúng ta với người khác là do ý muốn hiểu biết khổ đau của người khác chứ không phải do ý muốn chứng minh hành động của ta hay ý muốn tìm được một chút thỏa mãn trong lòng. Ý nguyện giúp đỡ là ý nguyện duy nhất.

Hiểu rõ khổ đau của mình giúp hiểu rõ người khác

Tôi có biết một bà ở Washington D.C. có ý định tự tử vì bà ta không biết làm thế nào để thoát khỏi khổ đau. Bà không còn hy vọng vì gặp khó khăn khi sống với chồng và ba người con. Có một người bạn muốn cho bà ta nghe một bài pháp thoại của tôi. Bà từ chối vì bà là người theo Công giáo và bà nghĩ rằng nghe một bài pháp thoại Phật giáo là trái với Đức tin.

Vào đêm dự định tự tử, bà ta gọi điện thoại cho cô bạn để giã từ. Cô bạn bèn nói, “Trước khi chị tự kết liễu đời mình, mời chị đến đây với tôi để chia tay. Kêu taxi và đến đây”. Khi bà ta tới, cô bạn yêu cầu bà ta, như làm ơn, ngồi nghe bài pháp thoại ghi âm “Trước khi quyết định tự tử”. Bà ta miễn cưỡng nhận lời để vừa lòng bạn mình.

Sau khi nghe xong bài pháp thoại, bà tò mò và quyết định ghi tên tham dự một khóa tu về chánh niệm. Sau khóa tu, bà bắt đầu lắng nghe khổ đau của mình. Trước kia, bà đã nghĩ rằng cách duy nhất để chấm dứt khổ đau là tự tử. Khó mà lắng nghe khổ đau của chính mình. Nhưng bà đã học được phép trở về với hơi thở, với khổ đau của mình. Bà khám phá ra rằng mình đã tạo ra rất nhiều nhận thức sai lầm và ôm ấp rất nhiều hờn giận. Bà nghĩ rằng chồng bà và cả nhà đã làm cho bà đau khổ. Nhưng bây giờ bà đã thấy rằng bà cũng có trách nhiệm về khổ đau của bà. Bà nghĩ rằng chồng bà không đau khổ, chồng bà chỉ làm cho bà đau khổ. Nhưng bây giờ hiểu biết của bà đã thay đổi và bà đã có thể nhận ra rằng chồng bà cũng đau khổ. Đây là một thành tựu đáng kể. Mỗi khi thấy được khổ đau của mình thì có thể thấy được khổ đau của người khác, có thể thấy trách nhiệm của mình, là mình đã gây nên đau khổ cho mình và cho người khác.

Vào cái đêm hôm bà về nhà, bà đã đến ngồi gần chồng và nói với ông: “Em biết anh đã đau khổ rất nhiều trong những năm qua. Em đã không giúp được anh. Vì vậy tình trạng càng trở nên tồi tệ. Em không cố ý làm cho anh đau khổ. Chỉ vì em không hiểu rõ anh. Em đã không thấy khổ đau trong anh. Anh hãy nói những khổ đau của anh cho em nghe đi. Hãy giúp em hiểu anh”. Bà ta đã có thể sử dụng ái ngữ để nói chuyện với chồng bà. Và ông ta đã khóc như một đứa bé vì trước đây bà chưa bao giờ nói với ông những lời thương yêu như vậy. Mối tình giữa hai người rất đẹp lúc ban đầu nhưng dần dần nó đã đầy những giận hờn tranh cãi và thiếu truyền thông chân thật. Đêm hôm đó là đêm bắt đầu cho sự hòa giải giữa hai người. Hai tuần lễ sau, hai vợ chồng và mấy người con đã đến kể cho tôi nghe câu chuyện này.

Thương yêu chính mình là nền tảng của từ bi

Ta thường nghĩ rằng ta biết rất rõ, hiểu rất rõ người ta thương, nhưng không hẳn là như thế. Nếu ta không biết rõ khổ đau của ta thì làm sao ta có thể hiểu rõ khổ đau của một người khác? Không nên tin chắc là ta đã hiểu hết những gì liên quan đến người kia. Ta phải tự hỏi, “Tôi đã hiểu rõ tôi chưa? Tôi đã hiểu rõ khổ đau và nguồn gốc khổ đau của tôi chưa?”

Một khi ta đã có ít nhiều hiểu biết và tuệ giác về khổ đau của chính ta thì ta mới có thể hiểu biết và truyền thông với người khác. Nếu anh không chấp nhận được anh – nếu anh ghét bỏ anh, oán giận anh – thì làm sao anh có thể thương yêu một người khác và truyền đạt thương yêu đến người ấy?

Hiểu mình là tối thiết để hiểu người khác. Thương mình là tối thiết để thương người khác. Khi đã hiểu rõ khổ đau của mình thì ta sẽ bớt khổ và có thể hiểu rõ hơn khổ đau của người khác. Khi đã biết một người đang đau khổ và thấy rõ nguồn gốc của đau khổ nơi người ấy thì ta khởi tâm từ bi. Ta không còn ý muốn trừng phạt hay trách móc. Ta có thể lắng nghe và nói lời ái ngữ với tâm hiểu và thương. Và người nghe ta sẽ cảm thấy thoải mái vì những lời đầy hiểu và thương của ta.

Trở về quán chiếu tự thân để hiểu rõ khổ đau và gốc rễ của khổ đau là bước khởi đầu. Chỉ khi ta đã hiểu rõ khổ đau và gốc rễ khổ đau của ta thì ta mới có thể truyền thông với người khác và giúp họ bớt khổ. Liên hệ giữa ta và những người khác tùy thuộc khả năng hiểu rõ khổ đau và ước vọng nơi ta và nơi những người ấy. Khi ta thực sự trở về nhà, với chính ta và lắng nghe mình là ta có thể vui sống từng giây phút còn lại của cuộc đời. Ta có thể vui sống từng giây phút. Ta có thể truyền thông một cách tốt đẹp nhờ hơi thở chánh niệm, ta bắt đầu hiểu rõ mình, hiểu rõ khổ đau của ta, và hiểu rõ hạnh phúc của ta. Ta biết cách xử lý khổ đau và từ đó biết cách chế tác hạnh phúc. Và nếu bạn thực sự hạnh phúc thì ai ai cũng được lợi lạc từ hạnh phúc của bạn. Thế giới này đang cần những người hạnh phúc.

[1] Nguyên văn: “The way out is in”.

Thức ăn thiết yếu

Không gì có thể sống sót nếu không có thức ăn. Ta thường nghĩ rằng ta được nuôi dưỡng nhờ những thức ăn được đưa vào cơ thể bằng miệng, nhưng những gì ta tiêu thụ bằng mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân cũng là thức ăn. Chuyện trò giữa ta với người khác cũng là thức ăn. Khi ta nói một điều gì mà nuôi dưỡng ta hay khích lệ người khác là ta nuôi lớn thương yêu và từ bi. Khi ta nói hay làm điều gì mà tạo căng thẳng hay sân hận là ta đang nuôi lớn bạo lực và khổ đau.

Chúng ta có thể xem truyền thông như là những thức ăn hay những phẩm vật mà ta tiêu thụ. Tất cả những gì ta “ăn” vào đều có tác dụng hoặc chữa trị hoặc đầu độc. Ta có đang tiêu thụ hay cống hiến những thức ăn lành mạnh và giúp ta lớn mạnh hay không?

Chúng ta thường tiếp nhận truyền thông từ những người chung quanh hay từ những gì ta đọc. Có những truyền thông độc hại có thể đem đến sự bực mình, bất an, kỳ thị, mặc cảm.

Mạng Internet là một sản phẩm tiêu thụ, chỉ trong vòng năm phút ngắn ngủi ta tiếp nhận không biết bao nhiêu là thức ăn vừa chữa trị, nhưng cũng vừa độc hại. Điều này không có nghĩa là ta không nên sử dụng mạng Internet, tuy nhiên chúng ta phải ý thức về những gì ta đọc, những gì ta xem. Sử dụng mạng Internet trong vòng một hai giờ ta có thể bị cuốn hút và đánh mất mình. Cũng giống như ăn khoai tây chiên (french fries). Ta không nên ăn french fries suốt ngày cũng như không nên ngồi trước máy vi tính suốt ngày. Vài cọng khoai tây chiên hay vài giờ sử dụng máy vi tính là đủ.

Những gì ta đọc hay viết có thể có tác dụng chữa trị. Vì vậy ta phải ý thức về những gì ta tiêu thụ. Khi viết một bức thư hay gửi đi một email mà lời lẽ đầy hiểu biết và thương yêu là ta đang nuôi dưỡng ta. Chỉ cần vài hàng ngắn ngủi cũng đủ để nuôi dưỡng ta và người nhận thư hay email của ta.

Tiêu thụ trong chánh niệm

Làm thế nào để biết truyền thông nào là lành mạnh, truyền thông nào là độc hại? Năng lượng chánh niệm là yếu tố cần thiết cho truyền thông lành mạnh. Muốn có chánh niệm ta phải buông bỏ óc phán xét, ý thức sự có mặt của hơi thở, thân thể, hoàn toàn chú ý đến những gì trong ta và chung quanh ta. Nhờ chánh niệm mà ta ý thức được rằng ý nghĩ của ta là lành mạnh hay không lành mạnh, là có từ bi hay không có từ bi.

Chuyện trò là một loại thực phẩm. Vì cô đơn cho nên ta muốn chuyện trò. Nhưng khi chuyện trò với người khác, những lời người ấy nói có thể chứa đầy độc tố sân hận, giận dữ, và bất an. Khi ta nghe tức là ta đang tiêu thụ những độc tố đó, ta đưa độc tố vào tâm, vào thân. Vì vậy cho nên chánh niệm khi nói và khi nghe rất quan trọng.

Khó mà tránh được chuyện trò độc hại, nhất là tại sở làm. Cho nên phải cẩn thận, chung quanh ta đầy rẫy độc tố! Ta cần đủ tỉnh thức để không đau khổ vì bị độc tố xâm nhập. Phải sử dụng năng lượng, từ bi để tự bảo vệ, để khi nghe thay vì tiêu thụ độc tố ta tích cực phát tâm từ bi. Năng lượng từ bi sẽ bảo vệ ta và giúp người khác bớt đau khổ.

Những gì ta hay người chung quanh ta nói năng, suy nghĩ, hành động sẽ xâm nhập vào tâm thức ta. Đây là một hình thức tiêu thụ. Vì vậy khi đọc sách hay khi nghe ai nói ta phải cẩn thận, đừng để độc tố tàn hại sức khỏe, gây đau khổ cho ta, cho người khác hay cho cả một tập thể.

Để ví dụ, Bụt có đưa ra hình ảnh của một con bò bị bệnh da lở loét. Bò bị côn trùng bốn phía tấn công. Vì không còn da cho nên bò không thể tự bảo vệ. Cũng như thế, chánh niệm là lớp da bảo bọc con người. Không có chánh niệm, những độc tố bên ngoài sẽ xâm nhập thân và tâm.

Ngay cả khi lái xe ta cũng đang tiêu thụ. Những tấm biển quảng cáo đập vào mắt ta bắt ta tiêu thụ. Những âm thanh ta nghe, những lời ta nói,… tất cả đều có thể là sản phẩm của tiêu thụ độc hại. Ta phải tự vệ bằng cách tiêu thụ cho có chánh niệm. Chánh niệm khi truyền thông là một phần của việc tự vệ. Truyền thông như thế nào để thể hiện bình an, từ bi và thêm vui cho người.

Quan hệ không thể sống sót nếu không có thức ăn lành mạnh

Nhiều người đau khổ vì truyền thông khó khăn. Ta có cảm tưởng bị hiểu lầm, nhất là bởi người ta thương. Khi tạo dựng mối quan hệ chúng ta cung cấp “thức ăn” cho nhau. Vì vậy chúng ta phải chọn lựa thức ăn cho người kia, thức ăn có thể giúp cho quan hệ lớn mạnh. Tình yêu, thù ghét, khổ đau, tất cả đều cần thức ăn để tồn tại. Ta mãi đau khổ là vì ta tiếp tục cung cấp thức ăn cho khổ đau. Mỗi khi ta nói lời thiếu chánh niệm là ta cung cấp thức ăn cho khổ đau trong ta.

Nhờ chánh niệm, ta có thể nhìn sâu vào bản chất của khổ đau để thấy rõ thức ăn nào đã nuôi sống nó. Khi biết được nguồn gốc của thức ăn thì ta có thể cắt đứt nguồn cung cấp này và nhờ đó mà đau khổ được giải tỏa.

Nhiều khi một quan hệ tình cảm bắt đầu tốt đẹp nhưng dần dần rồi cũng tàn phai bởi vì ta không biết nuôi dưỡng. Truyền thông có thể giúp cho tình yêu sống lại. Mỗi ý nghĩ trong óc, trong tim ta – người Trung Quốc nói là “trong bụng” – đều nuôi dưỡng quan hệ của chúng ta. Nghi ngờ, phiền giận, sợ hãi, bực bội không nuôi dưỡng ta và người ta thương. Nếu quan hệ của ta gặp khó khăn thì vì ta đã nuôi tình yêu bằng trách móc, hờn giận mà không phải bằng yêu thương.

Tại một khóa tu ở Làng Mai Pháp quốc, trong bài pháp thoại nói về cách sử dụng truyền thông để nuôi dưỡng người thương, tôi có ví dụ mối quan hệ như một bông hoa cần được tưới tẩm để lớn mạnh. Tôi để ý thấy một bà ngồi ở hàng đầu khóc suốt bài pháp thoại.

Sau pháp thoại, tôi đến gặp chồng bà ấy và nói nhỏ: “Này anh, bông hoa của anh cần được tưới tẩm đấy”. Ông chồng cũng đang tham dự khóa tu và cũng biết sử dụng ái ngữ, nhưng đôi khi ông cần một ai đó, chẳng hạn như một người bạn, nhắc lại. Hôm đó, sau giờ cơm trưa ông chồng lái xe đưa bà vợ về nhà. Chỉ trong một giờ ngắn ngủi ông đã áp dụng nghệ thuật tưới hoa.

Khi về tới nhà bà vợ như thay đổi hoàn toàn, nét mặt trở nên vui tươi, hạnh phúc. Các con họ đều ngạc nhiên vì hồi sáng, trước khi đi ông bà có vẻ buồn bực, khó chịu. Cho nên chỉ trong một giờ ta có thể thay đổi người kia và thay đổi chính ta bằng cách sử dụng phép thực tập tưới tẩm những hạt giống tốt. Đây là áp dụng chánh niệm cụ thể; đây không phải là lý thuyết.

Truyền thông với tính chất nuôi dưỡng và chữa trị là thức ăn cho việc duy trì các mối quan hệ. Đôi khi chỉ vì một câu nói độc ác mà người kia đau khổ nhiều năm và ta đau khổ nhiều năm. Vì nóng giận hay vì sợ hãi mà ai đó có thể nói một lời cay độc hay tàn hại. Lời cay độc tàn hại đó sẽ ở lại trong tâm ta rất lâu và dần dần giết chết quan hệ giữa ta và người ấy.

Nhưng chúng ta có cách giải độc: thương yêu trong chánh niệm và truyền thông. Tình yêu, lòng kính trọng, tình bạn, tất cả đều cần có thức ăn nuôi dưỡng mới sống còn. Với chánh niệm trong ý nghĩ, lời nói và hành động, ta sẽ nuôi dưỡng quan hệ và giúp quan hệ lớn mạnh.

Mỗi người đều có tính Bụt trong lòng

(Trích từ sách Đạo Phật của tuổi trẻ)

Từ thế kỷ đầu cho đến thế kỷ thứ 14, tức là 1400 năm, chúng ta đã gọi Buddha là Bụt. Các nước Đông Nam Á chung quanh ta cũng gọi Buddha là Bụt. Gọi đúng là Butha, mà gọi tắt là Bụt. Chữ ‘tha’ phía sau không đọc rõ. Gotama đọc là Gotam. Nhật Bản vẫn còn gọi Buddha là Bụt. Đến thế kỷ thứ 14 khi bị phương Bắc đô hộ, chúng ta đã bắt đầu phát âm theo người Trung Hoa. Người Trung Hoa phát âm là Fó mà ta đọc là ‘Phật’, nhưng trước đó ta đã sử dụng danh từ ‘Bụt’. Như vậy từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 20 ta mới dùng tới danh từ ‘Phật’, chỉ mới 500 năm thôi. Trước đó trong suốt 1400 năm ta dùng danh từ Bụt và bây giờ thì ta trở về gốc, việc này không có gì mới mẻ hết. Tất cả các nước đều gọi Buddha là Bụt thì ta gọi Buddha là Bụt cũng hợp lý thôi. Chữ Buddha có nghĩa là tỉnh thức, không mê ngủ, không lãng quên. Chữ Buddha cũng có nghĩa là Biết. Vì vậy chữ Buddha không có nghĩa là tên của một người. Đó chỉ là một danh hiệu. Chúng ta biết rằng đức Bổn Sư của chúng ta tên là Shakya Muni, tức là ông thầy tu dòng họ Shakya. Hồi còn trẻ Bụt tên là Siddhatta Gotama. Gotama là tên dòng họ, dòng họ Gotama Shakya. Và vì Bụt là một người tỉnh thức, luôn luôn có chánh niệm, luôn luôn có hiểu biết, luôn luôn có thương yêu cho nên chúng ta gọi Gotama Shakya là Bụt. Đức Thế Tôn có nói rằng trước khi Ngài ra đời đã có những vị Bụt khác, những vị Bụt quá khứ, và sau khi Ngài nhập diệt trên thế gian sẽ có những vị Bụt tương lai như là Bụt Di Lặc. Vì vậy Bụt không phải là tên của một người mà là danh hiệu của một người tỉnh thức, có đầy đủ hiểu biết và thương yêu. Khi chúng ta nói chuyện với người Bắc Mỹ, chúng ta phải nói cho họ biết Bụt không phải là một vị thần linh, Bụt là một con người như chúng ta. Đức Thế Tôn là một con người như chúng ta, đã từng đau khổ lúc còn trẻ. Ngài đã tìm ra được con đường thoát khổ và đã trao truyền lại cho chúng ta. Vì vậy chúng ta phải nhớ là đừng biến Đức Thế Tôn thành một vị thần linh mà phải khám phá ra cho được đức tính con người, đức tính nhân bản của Ngài.

 

 

Đức Thế Tôn đã nói rằng mỗi người đều có tính Bụt trong lòng và nếu thực tập cho giỏi thì cũng có thể tỉnh thức, cũng có thể có hạnh phúc, cũng có thể có thương yêu được. Tính Bụt đó được gọi là Phật tính. Tiếng Anh là Buddhahood hay Buddha nature. Nếu chúng ta biết tu tập, tính Bụt đó sẽ biểu hiện ra và chúng ta sẽ có đầy hạnh phúc, đầy hiểu biết, đầy thương yêu và đầy tỉnh thức. Buddha là người tỉnh thức, người biết an trú trong phút giây hiện tại. Người biết cái gì đang xảy ra cho mình và cho hoàn cảnh xung quanh mình. Nếu ta có thực tập thì ta cũng có thể tỉnh thức được. Thực tập hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm và ăn cơm trong chánh niệm, ta cũng sẽ có chất tỉnh thức như Bụt. Tuy nhiên lâu lâu ta mới tỉnh thức một lần rồi lại bị sa vào thất niệm, quên lãng; vì vậy ta không phải là Bụt toàn thời gian, mà chỉ là Bụt bán thời gian. Năng lượng giúp cho ta duy trì sự tỉnh thức được gọi là chánh niệm (Mindfulness). Chánh niệm là gì? Ta phải nói cho bạn ta biết chánh niệm là năng lượng giúp cho ta có mặt trong giây phút hiện tại. Ta phải nhớ như vậy. Vì trong đời sống hàng ngày, có thể thân ta ngồi đây nhưng tâm ta lại ở chỗ khác; hoặc chìm đắm trong thương tiếc quá khứ, hoặc băn khoăn, lo sợ về tương lai, hoặc bị cái giận, cái buồn, cái phiền, cái ganh ghét kéo đi. Thân không ở chung với tâm và vì vậy ta không thật sự có mặt cho cuộc đời. Có vẻ dường như ta đang có mặt đó nhưng kỳ thực ta đang rong ruổi nơi nào khác.

 

 

Khi uống nước mà ta biết là ta đang uống nước, ta hoàn toàn để tâm vào chuyện uống nước trong suốt thời gian uống thì lúc đó là uống nước có chánh niệm. Còn khi uống nước mà tâm ý ta để ở chỗ khác thì lúc đó gọi là uống nước không có chánh niệm, hoặc là uống thất niệm, có nghĩa là đánh mất chánh niệm. Khi thở, ta để hết tâm vào chuyện thở thì đó là thở có chánh niệm. Thở có chánh niệm, uống có chánh niệm, đi có chánh niệm thì trong khi làm như vậy ta chế tác được năng lượng chánh niệm. Và nếu đang giận hờn mà ta chế tác được năng lượng chánh niệm thì năng lượng đó sẽ ôm lấy năng lượng của sự giận hờn trong ta. Năng lượng đó là năng lượng của Bụt ở trong ta. Người nào cũng có thể uống nước trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm. Người có thực tập thì duy trì chánh niệm được lâu hơn, nhưng người chưa thực tập thì mới đi được hai bước là đã quên, mới uống có chánh niệm được một giây là đã lo suy nghĩ: “Trời ơi, hồi nãy mình quên lấy đồ ở ngoài trời vô; bây giờ trời mưa thì làm sao?” Khi tâm ta bị tán loạn đi, chánh niệm không có mặt được lâu dài. Chánh niệm là gì? Đó là khả năng có thể an trú được trong giây phút hiện tại, có thể ở yên trong giây phút hiện tại, có thể biết được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Chánh niệm là năng lượng giúp cho ta có mặt tại đây để biết những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Đó là định nghĩa đầu của chánh niệm. Người tu là người chế tác ra năng lượng chánh niệm hàng ngày. Khi đi, các thầy và các sư cô tập đi trong chánh niệm; khi thở họ tập thở trong chánh niệm; khi ngồi, khi nấu cơm, khi rửa bát cũng vậy, họ cũng theo dõi hơi thở để chế tác năng lượng chánh niệm chứ không phải họ chỉ ngồi trong thiền đường để tu mà thôi. Ở trong nhà bếp, ở ngoài vườn rau cũng vậy, họ vừa làm, vừa thở, vừa thực tập chánh niệm. Chánh niệm càng nhiều, càng mạnh thì càng dễ có khả năng đối phó với những giận hờn, thất vọng, sợ hãi của ta vì chánh niệm là năng lượng của Bụt ở trong lòng ta.

 

Ra mắt Trung tâm y tế chánh niệm vì sức khỏe cộng đồng Thích Nhất Hạnh tại Trường y tế công cộng Chan T.H. Đại học Harvard

Vào ngày 26.04.2023, Trường y tế công cộng Chan T.H. của Đại học Harvard đã chính thức khai trương Trung tâm chánh niệm vì sức khỏe cộng đồng Thích Nhất Hạnh. 

 

Thich Nhat Hahn Center logo

 

Trung tâm được thành lập với 25 triệu đô la từ một nhà tài trợ ẩn danh, một trong những khoản quyên góp lớn nhất cho trường. Sứ mệnh của trung tâm là giúp cho mọi người trên thế giới sống có mục đích, chan hòa và vui tươi qua việc thực tập chánh niệm; theo đuổi các phương pháp dựa trên bằng chứng để cải thiện sức khỏe và hạnh phúc thông qua chánh niệm, và giáo dục, rèn luyện quảng đại quần chúng trong chánh niệm. Hai lĩnh vực trọng tâm được nhấn mạnh là dinh dưỡng và môi trường.

“Chúng tôi rất vui mừng được thành lập trung tâm mang tính đột phá này tại Trường y tế công cộng Chan của Đại Học Harvard,” Michelle A. Williams, trưởng khoa cho biết “trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng, chúng tôi làm việc ở quy mô đại chúng — chúng tôi mong muốn tiếp cận và nâng cao tinh thần cho toàn bộ cộng đồng. Trung tâm chánh niệm vì sức khỏe cộng đồng Thích Nhất Hạnh sẽ hoạt động trên tinh thần đó.”

Trung tâm chánh niệm trong sức khỏe cộng đồng được đặt tên Thích Nhất Hạnh để vinh danh Thiền Sư Thích Nhất Hạnh (1926-2022), người là một Thiền Sư, nhà lãnh đạo tinh thần toàn cầu, học giả và nhà hoạt động vì hòa bình được kính trọng trên khắp thế giới vì những lời dạy tiên phong của ông về chánh niệm, đạo đức toàn cầu và hòa bình.

Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã truyền bá một cách không mệt mỏi các nguyên tắc bất bạo động, từ bi và đoàn kết, làm việc cùng với các nhà hoạt động xã hội như Tiến sĩ Martin Luther King, Jr., người đã đề cử Thầy cho giải Nobel khi cuộc chiến đang hồi khốc liệt. Đồng thời trên chính quê hương Việt Nam, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã thực hiện các nguyên tắc của mình bằng cách thành lập một tổ chức cứu trợ thiện nguyện, được gọi là Trường thanh niên phụng sự xã hội. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã dành cả cuộc đời của mình để phụng sự cho hòa bình và công bằng xã hội, đào tạo thế hệ phật tử dấn thân tiếp nối và xây dựng các cộng đồng lành mạnh sống trong chánh niệm.

Chánh niệm là có mặt trọn vẹn trong từng khoảnh khắc. Đó là một cách tiếp cận cuộc sống cổ xưa của Phật giáo dạy chúng ta hiện diện ở đây và bây giờ – nhận thức được những gì đang diễn ra bên trong và xung quanh chúng ta từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, mà không phán xét. Nó có thể được sử dụng để giảm căng thẳng, nâng cao nhận thức về bản thân và chế tác sự chấp nhận và mang lại sự kiện khương.

Tính đến đầu năm 2023 đã có gần 25.000 nghiên cứu về chánh niệm trong các ấn phẩm được bình duyệt bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, lĩnh vực này còn khá non trẻ và các nhà nghiên cứu của trung tâm Thích Nhất Hạnh nhận thấy cần có thêm các công cụ khoa học để đánh giá tác động và trị liệu của các phương pháp chánh niệm đối với sức khỏe và thể chất.

Trung tâm đã lên kế hoạch cho một số sáng kiến nghiên cứu, bao gồm:

• “Chăm sóc tương lai của chính mình”(Minding Our Future): tập trung vào việc phát triển các chương trình liên ngành, dựa trên bằng chứng cụ thể để giúp mọi người sống lành mạnh khi có tuổi. Một hướng nghiên cứu sẽ xem xét cách thực hành chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày, bao gồm thiết kế có chánh niệm về không gian ăn uống, thực đơn và chia sẻ trải nghiệm về thực phẩm. Tất cả những điều này có thể góp phần giúp sống lâu, sống khỏe.

• “Ăn uống, đi lại và sống chánh niệm,” một chương trình giảng dạy kết hợp các bài học về dinh dưỡng, hoạt động thể chất và chánh niệm để giúp người trẻ thiết lập các thói quen lành mạnh và chánh niệm, có lợi cho sức khỏe tự thân và sức khỏe của hành tinh.

• Một chương trình nghiên cứu và giáo dục về ăn uống có chánh niệm tại Harvard và bên ngoài Harvard. “Tôi rất vui vì trung tâm mới này sẽ có các nghiên cứu khoa học về chánh niệm trong bối cảnh sức khỏe cộng đồng.

Chúng tôi rất mong được có một trung tâm nghiên cứu nghiêm túc và hợp tác với các đồng nghiệp trên khắp thế giới để thúc đẩy khoa học về chánh niệm,” Walter Willett, giáo sư dịch tễ học và dinh dưỡng kiêm giám đốc trung tâm cho biết.

Lilian Cheung, giám đốc nghiên cứu và thực hành chánh niệm tại khoa dinh dưỡng, đã gặp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh vào năm 1997 tại một khóa tu chánh niệm và sau đó là đồng tác giả của cuốn sách với ông, “Hương vị: Ăn uống chánh niệm, cuộc sống chánh niệm.” (Savour)

Bà Cheung nói “Qua nhiều năm, tôi bắt đầu quan tâm sâu sắc đến việc tìm hiểu cách áp dụng sự thực tập chánh niệm vào lĩnh vực y tế công cộng, nhằm ngăn ngừa bệnh tật và nâng cao sức khỏe ở quy mô toàn dân. Đó chính xác là những gì Trung tâm này sẽ làm.” Bà cũng cho biết thêm rằng bà hy vọng Trung tâm sẽ truyền cảm hứng cho mọi người trên toàn thế giới trong việc thực tập chánh niệm.

Có trụ sở tại khoa dinh dưỡng. Trung tâm sẽ thực hiện phương pháp hợp tác để thúc đẩy sứ mệnh của mình bằng cách làm việc với các đồng nghiệp trong các khoa khác, trong cả trường Đại học và các cộng đồng chánh niệm toàn cầu. Hiện trung tâm đang tuyển dụng thêm giảng viên.

Ông Harvey Fineberg, đồng chủ tịch hội đồng quản trị và chủ tịch của trung tâm, quỹ Gordon và Betty Moore, cho biết: “Trường Harvard Chan có truyền thống xuất sắc trong lĩnh vực khoa học sinh học, định lượng, chính sách và xã hội liên quan đến sức khỏe dân số. “Thật thú vị khi thấy cam kết mở rộng nghiên cứu và giáo dục về sự giao thoa giữa hạnh phúc cá nhân và sức khỏe cộng đồng. Việc thành lập trung tâm chánh niệm về sức khỏe cộng đồng Thích Nhất Hạnh phản ánh cách tiếp cận toàn diện của trường nhằm nâng cao sức khỏe, và tôi tin rằng nó sẽ có nhiều đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này.”

Trung tâm sẽ tổ chức lễ ra mắt bằng một hội nghị chuyên đề khai mạc vào ngày 26 tháng 4. Sự kiện kéo dài một ngày sẽ quy tụ các học giả hàng đầu, những người thực hành chánh niệm và các vị đệ tử xuất sĩ của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh để tôn vinh cuộc đời của Thiền Sư và khám phá bằng chứng khoa học ủng hộ giá trị của chánh niệm để cải thiện hạnh phúc.

 



Bốn trong 34 vị xuất sĩ Làng Mai từ các trung tâm khác nhau tham dự ngày khánh thành: Sư cô Chân Không , Thầy Pháp Ấn, Thầy Pháp Lưu và
Sư cô Hiến Nghiêm (Ảnh: đăng lại từ trang https://www.eventcreate.com/e/tnhcenteformindfulnessinpublichealth)

Nguồn thông tin: https://news.harvard.edu/gazette/story/2023/04/harvard-chan-school-opens-thich-nhat-hanh-center-for-mindfulness/

Mùa xuân có gì trong đôi mắt bạn?

Đôi mắt của bạn là những gì rất mầu nhiệm. Chỉ cần mở mắt ra là bạn có thể thấy được bao nhiêu là màu sắc. Bầu trời xanh rất đẹp, cũng như cảnh hoàng hôn đỏ rực, của tia nắng, bông hoa… là tất cả những gì mà Đất Mẹ hiến tặng và mời bạn tiếp xúc. Và những cái mầu nhiệm đó không những ở xung quanh bạn mà có ở ngay trong bạn. Sự kiện bạn có một đôi mắt là một phép lạ. 

Xin mời các bạn hãy cùng ngắm nhìn mùa Xuân ở Làng nhé. 

 

 

 

 

Chương trình hoằng pháp của Sư cô Chân không tại Mỹ 2023

 

 

Sau khoá tu tiếng Pháp ở Làng, ngày 15/04 sư cô Chân Không sẽ bay qua Mỹ. Sư cô sẽ có những chuyến viếng thăm đặc biệt đến Đại học Harvard, Tu viện Blue Cliff ở New York, Tu viện Lộc Uyển ở California và Tu viện Magnolia Grove ở Mississippi từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2023. Tình thương của sư cô giúp xoa dịu khổ đau và những niềm hạnh phúc sư cô chia sẻ tiếp tục chạm đến trái tim của nhiều người. Quý thầy, quý sư cô thương mời các vị cư sĩ, thân hữu tham gia trong những sự kiện đặc biệt này với sự có mặt của sư cô Chân Không.

Sư cô Chân Không sinh năm 1938 tại Bến Tre, miền Nam Việt Nam. Lúc còn là trẻ, Sư cô đã bắt đầu công tác xã hội tại các khu nhà ổ chuột của thành phố. Sau khi gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh vào năm 1959, Sư cô đã giúp Thiền sư thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, đào tạo hàng ngàn tác viên trẻ, mang viện trợ đến những ngôi làng xa xôi bị chiến tranh tàn phá.

Năm 1969, Sư cô đã tổ chức cho Phái đoàn Phật giáo Hòa bình có buổi Diễn thuyết Hòa bình tại Paris.

Những năm 1970, Sư cô hỗ trợ Thiền sư trong các chuyến đi vận động kêu gọi hòa bình, đồng thời giúp chỉ đạo các nỗ lực nhân đạo khẩn cấp để giải cứu thuyền nhân Việt Nam, và cũng là lãnh đạo của các chương trình bảo trợ cho hơn 14.000 trẻ mồ côi tại Việt Nam.

Từ những năm 1980, Sư cô Chân Không đã giúp Thiền sư thành lập Tu viện Làng Mai ở miền Tây Nam nước Pháp, và hiện là Ni Trưởng của Tăng thân Làng Mai Quốc tế.

New York –  Compassion in Action

Khởi đầu chuyến hoằng pháp, Sư cô sẽ cho pháp thoại trong Ngày Quán niệm ở Tu viện Bích Nham vào 16.04.2023. Nếu bạn không có cơ hội tham dự trực tiếp có thể nghe bài giảng qua zoom.

Sau đó, Sư cô sẽ giảng pháp thoại công cộng với chủ đề Compassion in action ở Union Theological Seminary, thành phố New York vào 18.04.2023. Đây là sự kiện được tổ chức bởi Hội Chủng viện Thần học Hoa Kỳ (Union Theological Seminary – gọi tắt là Union) và quý thầy, quý sư cô Tu viện Bích Nham.

Năm 2017, Hội Chủng viện Thần học Hoa Kỳ (Union Theological Seminary – gọi tắt là UTS) tại New York khai giảng đã đưa Chương trình Thích Nhất Hạnh với Đạo Bụt dấn thân ( Thich Nhat Hanh Program for Engaged Buddhism) vào chương trình Thạc sỹ Thần học về đạo Bụt và Tinh thần Dấn thân Liên tôn giáo (Master of Divinity in Buddhism and Interreligious Engagement).

 Tiếp sau đó, Sư cô sẽ tham dự cùng đại chúng trong khoá tu Tiếp hiện từ 19-23.04.2023 với chủ đề The Art of Compassion ( Nghệ thuật của lòng từ bi).

Tu viện Mộc Lan – Learning True Love

 Từ ngày 03-07/05/2023, tại tu viện Mộc Lan sẽ diễn ra khoá tu với chủ đề Learning true love.

Trong khóa tu này, chúng ta có cơ hội thực tập chánh niệm, nghe pháp thoại, thiền ăn, thiền đi, thiền buông thư, thiền chấp tác, chia sẻ pháp đàm cũng như nhiều điều hơn nữa từ Sư Cô Chân Không và các vị xuất sĩ của tu viện Mộc Lan.

Khoá tu này có chương trình dành cho trẻ em (6-12 tuổi) và chương trình dành cho thanh thiếu niên (13-17 tuổi). Cả hai chương trình đưa sự thực tập đến với giới trẻ, bao gồm một số trò chơi, âm nhạc, thiền hướng dẫn ngắn và thiền ăn phổ biến cho trẻ em.

Lễ Vesak (Phật đản) cũng được cử hành vào ngày cuối cùng của khóa tu (Chủ nhật, ngày 7 tháng 5). Quý thầy, quý sư cô thương mời bạn tham gia cho ngày đặc biệt này. Đó là ngày để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đến Bụt, vị thầy tâm linh đã dạy cho chúng ta nghệ thuật sống chánh niệm và an lạc trong giây phút hiện tại.

Tu viện Lộc Uyển

Ngày 14.05.2023, tại tu viện Lộc Uyển sẽ diễn ra ngày quán niệm với sự có mặt của Sư cô Chân Không. Xin xem thông tin chi tiết tại đây: Ngày quán niệm tại tu viện Lộc Uyển 

 

 

Tản mạn mùa xuân

( Sư cô Chân Trăng Mai Thôn )

Buổi sáng. Nhìn qua cửa sổ thấy bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Mùa xuân, bãi cỏ xanh đầy hoa bồ công anh vàng và hoa cúc trắng, trải đầy như một sự hào phóng của đất Mẹ. Tôi khoác thêm áo, bước ra vườn, nhủ thầm nắng đẹp như thế này mà ở trong nhà rồi sau đó phải uống vitamin D thì vô lý quá.

Sáng sớm chưa có bước chân nào khuấy động sự tinh khôi. Sương đầy lối cỏ. Sương trên đầu ngọn cỏ, mong manh và tinh khiết. Chợt có tiếng thì thầm: “Thương yêu muôn đời vẫn hạt sương trong”. Sáng nay tôi mới nghe pháp thoại của Thầy. Tình thương thật đẹp, nếu đó là một tình thương không phân biệt và không điều kiện. Như giọt sương trong, như nắng sớm, như mưa rơi. Trên cỏ úa vàng hay trên chồi non óng biếc, đều cũng như nhau. Tôi mơ mình có một tình thương như thế. Để khi cần thì tôi vẫn có thể đưa hai bàn tay cho người ta nghiến nát*. Cỏ mời gọi bước chân, sương tưới hạt mầm chánh niệm. Tôi đi trên hoa trắng hoa vàng, trên cỏ biếc, thấy tịnh độ hiện tiền, thấy ngoài giọt sương trong, mình không cần tìm cầu gì nữa. Buổi mai mùa xuân tĩnh lặng, gió gọi hơi thở tôi mầu nhiệm, hoa tím dại nở trên từng bước chân. Tôi thầm gọi bước chân Thầy.

 

 

Chiếc cầu tre bắc ngang hồ sen hình bán nguyệt mời mọc. Tôi bỏ dép bước lên cầu. Thoáng đâu đây hình ảnh mùa Bụt đản sanh năm nào khi chiếc cầu còn là cầu gỗ. Chuẩn bị cho ngày đản Bụt nó đã được mặc áo mới bằng tre. Chiếc cầu gỗ được đóng lớp tre xanh mướt, đón bước chân Thầy và tăng thân lên tắm Bụt sơ sinh. Năm tháng qua đi, áo tre xanh thành áo tre nâu, rồi bây giờ là một màu xám bạc, đây đó lốm đốm mốc đen. Tôi ngạc nhiên trước sự bền bỉ của chiếc áo tre. Tôi thán phục. Tre cũ nhưng sạch sẽ và chắc chắn. Thật là mầu nhiệm.

Hồ mùa này vẫn còn vương vài lá sen tàn của mùa sen năm ngoái. Nước trong vắt nên có thể thấy rất rõ những đám rêu xanh, những chú cá con tung tăng bơi lội và cả những con nòng nọc đủ các “thế hệ”. Đứa mới có hai chân, đứa đã có đủ bốn chân. Đại chúng chưa vào thời khóa, chưa chấp tác, nên chưa cho nước vào, hồ còn nông lắm. Các cư dân của hồ sen bình thản sinh hoạt thời khóa hàng ngày của chúng. Thiên nhiên thật mầu nhiệm, các loài sinh vật thật là thông minh. Các bậc cha mẹ cá và nhái xanh đã tính toán thời gian rất chính xác. Chúng đã tính sao cho khi mùa xuân vừa đến thì trứng cũng vừa nở ra những con cá con và những con nòng nọc để chúng tung tăng bơi lội trong cái hồ vừa tan đá. Mấy nhóc con này thật là ngây thơ, chúng đâu có biết gì chắc vì chưa có kinh nghiệm. Chúng nó bơi thật sát mặt nước, nhởn nhơ không hề lo sợ. Nhiều đứa lên chỗ nước cạn chỗ có đá để phơi nắng. Đôi lúc tôi đưa bàn tay lên sửa lại cái mũ, bóng tay tôi phản chiếu trên mặt nước làm chúng giật mình, quẫy đuôi một phát làm cả vùng nước xao động. Thì ra chúng nó vẫn “thấy” tôi. Sau đó thì mọi việc trở lại bình thường.

 

 

Ngồi đây, tôi có thể nhìn thấy thiền đường Trăng Rằm, thấy khu nhà Mây Thong Dong mà tầng trên đã được dùng làm nơi triển lãm sách và các pháp khí Thầy dùng trong mấy mươi năm hoằng pháp của Người. Thấy bãi cỏ xanh phía hông thiền đường nối dài đến tháp chuông rồi dẫn thẳng qua đồi mận, thấy rừng bạch dương của hàng xóm. Mùa xuân, cỏ mướt xanh, hoa tím, hoa vàng, hoa trắng, chồi non. Gió reo vui, trời xanh, chim hót. Một thoáng bâng khuâng. Những ngọn cỏ non mơn mởn của mùa xuân này, chắc chúng cũng là những ngọn cỏ của mùa xuân năm cũ. Những ngọn cỏ đã từng đón bước chân thầy trò trong bao lần Thầy dẫn đại chúng đi thiền hành. Đếm bao nhiêu cho xuể. Những ngọn cỏ không bao giờ bỏ cuộc dù mưa dù nắng. Mùa hè, chúng xơ xác. Mùa đông, có khi chúng khô cằn, héo hắt, hầu như biến mất làm lộ ra mặt đất đông cứng trong cái lạnh mà ẩm ướt của mùa đông miền Tây Nam nước Pháp. Rồi mùa xuân chúng lại xuất đầu lộ diện. Sức mạnh tiềm tàng, sức sống dẻo dai của cỏ. Lại làm xanh mặt đất, lại lả lướt khi gió đùa. Tôi nghiêng mình trước chúng, cũng như tôi đã ao ước được có khả năng đưa hai bàn tay mình ra hết lần này đến lần khác *. Như Thầy tôi.  

Vừa qua trong khóa tu xuất sĩ chúng tôi đã được xem một phim tài liệu có tên là “One life” (“Sống còn nơi hoang dã”). Gây ấn tượng nhất cho tôi là một con mực đỏ khổng lồ. Nó đã chuẩn bị cho đàn hậu thế bằng cách đánh đổi cả tánh mạng của nó. Hình ảnh thật cảm động. Suốt sáu tháng ròng rã, nó hoàn toàn không ăn một chút gì, chỉ tập trung thổi nước lên trứng không ngừng. Màu đỏ của nó dần phai nhạt đi. Đến khi trứng nở thì nó cũng mỏi mòn và chết. Bỗng dưng tôi thấy mình là một con mực non mới nở, đang bơi lội tung tăng theo đàn trong dòng nước mùa xuân ấm áp. Con mực mẹ đầy dũng khí đâu rồi? Con mực mẹ nhạt màu dần, nhưng vẫn đầy dũng khí, vẫn tiếp tục thổi nước và không bao giờ bỏ cuộc. Màu đỏ trên mình những con mực non, những cánh hoa đỏ nở bừng, lan toả.

Mùa xuân. Tôi lại tập nhìn và thưởng thức bằng đôi mắt của Thầy, đi bằng những bước chân Thầy, thở bằng lá phổi của Thầy, như bao nhiêu người thương Thầy, sống những lời dạy của Thầy, đang làm, đã làm và tiếp tục làm. Tôi đưa tay lên dụi mắt. Có phải tôi đang hoa mắt không? Không phải, màu đỏ trên con mực mẹ vẫn còn đang đỏ thắm, lan ra khắp đại dương mênh mông. 

 

 

 

 

 

 

Chùm thơ Ướp nắng đầy

 

Ướp nắng đầy

Một mình một cốc một rừng cây
Hương thơm thanh thoát thoảng đâu đây
Lắng nghe âm hưởng của trời đất
Nghe tiếng càn khôn réo gọi mây
Thong dong mây xuống hôn lòng đất
Nhả khói chan hòa khắp đó đây
Không gian thắm đượm niềm vui sướng
An yên sâu lắng ướp nắng đầy.

Tâm yên

Một mình một cốc một ông trăng
Thả hết nằm yên ngắm chị Hằng
Trời đất an bình thanh tịnh quá
Lòng mình nhờ thế hết lăng xăng
Sự đời lên xuống từ tâm hiện
Biết thế không cần phải nói năng
Quảy túi trở về bên cốc ấy
Tâm yên biển lặng cánh chim bằng.

Tâm tự khai

Một sáng mùa xuân một nhánh mai
Quan Âm an tĩnh ngự trên đài
Mỉm cười chan chứa tình thương lớn
Hiểu hết nhân quần cõi trần ai
Giọt nước thanh lương Ngài rảy xuống
Làm cho mát mẻ khắp muôn loài
Trang nghiêm thân tướng con gìn giữ
Theo gót chân Ngài tâm tự khai.

 

Nêu gương khi lãnh đạo

(Trích sách Nghệ thuật thiết lập truyền thông- Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

 

 

Mấy năm trước đây, khi tôi tới Ấn Độ, tôi có gặp ông K. R. Narayanan khi ông còn là Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ. Chúng tôi bàn việc sử dụng thực tập lắng nghe và ái ngữ tại các cuộc bàn thảo trong Quốc hội. Tôi nói rằng mọi môi trường làm việc, kể cả môi trường chính trị, đều có thể trở thành một môi trường xây dựng trên hiểu biết và thương yêu. Xây dựng được một môi trường lành mạnh và nuôi dưỡng cho một tập thể làm việc là tạo nên một môi trường khuôn mẫu xây dựng cho thế giới.

Sử dụng chánh niệm và ái ngữ trong môi trường làm việc là cống hiến tinh hoa của chúng ta. Phối hợp với tuệ giác và kinh nghiệm, chúng ta có thể đi đến những quyết định sáng suốt nhất. Nếu không có khả năng lắng nghe đồng nghiệp bằng tấm lòng rộng mở mà chỉ chấp nhận và hỗ trợ những ý kiến quen thuộc mà ta đồng ý thì ta sẽ gây hại cho môi trường làm việc. Dù ở vào địa vị nào trong khi làm việc, ta cũng có thể nêu gương bằng cách học hạnh lắng nghe tất cả mọi người bằng chú ý và lưu tâm một cách bình đẳng.

Nhiều môi trường làm việc thường tạo ra lắm bức xúc. Chúng ta phải tổ chức thế nào để có cơ hội thực tập hơi thở chánh niệm. Hơi thở chánh niệm là bước khởi đầu của truyền thông trong chánh niệm bởi vì hơi thở chánh niệm giúp cho thân và tâm thư giãn, thoải mái nơi sở làm là chúng ta đã bắt đầu truyền thông có hiệu lực. 

Ông Narayanan và tôi đã thảo luận về phương thức đưa ra thực tập chánh niệm vào trong Quốc hội Ấn để giảm thiểu bức xúc. Nếu Quốc hội Ấn đã làm được như vậy thì ta cũng có thể làm được trong sở làm của ta. Bạn có thể tổ chức để các đồng nghiệp cùng thực tập hơi thở chánh niệm trước các buổi họp để cho sự truyền thông trong khi họp có hiệu quả hơn và ít bức xúc hơn hay không? 

Cho dù bạn không thể tổ chức để đồng nghiệp cùng thực tập nhưng chỉ với hơi thở của chính bạn cũng đủ để cải thiện sự truyền thông khi làm việc. Đôi khi sự truyền thông trong sở làm có thể là rất mực khó khăn, nhưng chỉ một hơi thở chánh niệm cũng đã làm cho tình hình khả quan hơn rồi.