Niệm tâm từ: Nguyện cho mọi người không sợ hãi

Có thể khi đang sợ hãi, chúng ta không còn cởi mở, không mấy từ bi, hào phóng. Muốn thương ai trước phải biết thương mình. Trước phải chấp nhận bản thân, chấp nhận niềm vui hay đau khổ rồi từ đó mới có thể đem nguồn vui, hạnh phúc đến những người khác.

Metta có nghĩa là tâm từ bi. Chúng ta bắt đầu bằng một lời nguyện: “Xin nguyện cho tôi không sợ hãi.” Nhìn sâu vào bản thân để hiểu được mình, tiếp theo chúng ta hướng lời nguyện đến những người khác: “Xin nguyện cho mọi người (hoặc là người này, người kia) không sợ hãi”. Không nên nguyện như con vẹt. Phải dốc lòng chí tâm khi nguyện.

Khi thực tập chúng ta nên nghiệm xem ta được bình an, hạnh phúc, thảnh thơi tới đâu, chúng ta có đang lo lắng hay không. Ý thức và nhận diện như thế giúp ta hiểu rõ bản thân ta hơn, ta sẽ ý thức sợ hãi là chướng ngại cho hạnh phúc và hiểu rõ giá trị của tâm thương yêu chính mình và vun trồng tâm thương yêu đối với những người khác.

Thực tập niệm tâm từ

Bài thực tập này phỏng theo cuốn Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) của Luận sư Buddhaghosa, thế kỷ thứ năm sau kỷ nguyên.

Thực tập trong tư thế ngồi, yên tĩnh, theo dõi hơi thở trong khi đọc lời nguyện cho chính mình nghe:

“Xin nguyện cho tôi được bình an, hạnh phúc, tâm tư hiền hậu, thảnh thơi.”

“Xin nguyện cho tôi được an toàn, không tai nạn.”

“Xin nguyện cho tôi không sợ hãi, lo lắng, giận dữ, buồn phiền.”

Tư thế ngồi là tư thế tốt nhất để thực tập Tâm Từ. Ngồi thật yên, không bận tâm vì chuyện gì khác. Đây là cơ hội để quán chiếu tự thân, mở lòng thương yêu chính mình và trải lòng thương yêu đến mọi người, mọi loài.

Tiếp theo gửi lời nguyện đến những người khác.

“Xin nguyện cho chị được hạnh phúc, bình an và thảnh thơi.”

“Xin nguyện cho anh được hạnh phúc, bình an và thảnh thơi.”

“Xin nguyện cho tất cả mọi người được hạnh phúc, bình an và thảnh thơi.”

“Xin nguyện cho chị được an toàn, không tai nạn.”

“Xin nguyện cho anh được an toàn, không tai nạn.”

“Xin nguyện cho tất cả mọi người được an toàn, không tai nạn.”

“Xin nguyện cho chị không giận dữ, phiền não, sợ hãi và lo lắng.”

“Xin nguyện cho anh không giận dữ, phiền não, sợ hãi và lo lắng.”

“Xin nguyện cho tất cả mọi người không giận dữ, phiền não, sợ hãi và lo lắng.”

 Khi thực tập, trước hết ta hướng lời nguyện đến người ta thương. Tiếp theo đến người ta không thương, không ghét, và sau cùng đến những người đã gây cho ta đau khổ.

Để cho sự thực tập được cụ thể, bạn phải quán tưởng hình dung của bạn và của những người bạn đang hướng lời nguyện. Theo giáo lý đạo Bụt, con người được làm bằng năm yếu tố gọi là năm uẩn. Ngũ uẩn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Ta có thể nói rằng ta là người gác cổng và năm uẩn là năm vùng thuộc quyền kiểm soát của ta.

Bắt đầu thực tập Niệm Tâm Từ bằng cách nhìn sâu vào cơ thể. Tự hỏi: “Cơ thể ta bây giờ ra sao? Trong quá khứ nó ra sao và trong tương lai sẽ như thế nào?” Tiếp theo hướng đến người mà ta không thương, không ghét, rồi đến người ta ghét. Tưởng tượng trong trí hình dáng người ấy. Thở vào… thở ra… Ta quán tưởng dáng vóc, khuôn mặt, cách đi, cách ngồi, cách nói của người ấy. Quán tưởng từng bộ phận, tim, phổi, thận, mỗi chi tiết về người ấy. Dành thì giờ để quán tưởng. Luôn luôn giữ chánh niệm. Một khi đã quán tưởng ngũ uẩn một cách tường tận, hiểu biết và thương yêu sẽ có cơ hội biểu hiện và ta biết phải làm gì và không nên làm gì.

Hãy quán sát cảm thọ của ta, cảm thọ dễ chịu hay khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu (trung tính). Quán sát cảm thọ trôi qua như một dòng sông, mỗi cảm thọ là một giọt nước của dòng sông. Hành giả ngồi bên dòng sông cảm thọ, nhận diện những cảm thọ đang biểu hiện. Nhận diện những nguyên nhân trở ngại cho hạnh phúc và cách chuyển hóa. Thực tập tiếp xúc với những mầu nhiệm, tươi mát, trị liệu bên trong tự thân và cả bên ngoài vạn vật. Thực tập như thế sẽ giúp ta vững mạnh hơn, có thêm khả năng thương yêu chính bản thân và thương yêu những người khác.

Đức Thế Tôn dạy: “Người càng đau khổ càng có nhiều vọng tưởng”. Hầu hết tưởng của chúng ta là vọng tưởng. Trong bóng tối, sợi giây cũng khiến ta hoảng hốt, sợ hãi. Ta tưởng đó là con rắn. Hãy nhận diện những vọng tưởng đã gây đau khổ cho ta.

Niệm tâm từ giúp ta nhìn rõ sự việc với tâm bình thản, với nhận thức đúng đắn.

Sau khi quán sát cảm thọ, ta quán sát các tâm hành (mental formations), những ý nghĩ, suy tư đang gây ảnh hưởng cho hành động và ngôn ngữ của ta. Những tâm hành ấy có thể bắt nguồn từ trong tâm thức hay từ tâm thức cá nhân hay cũng có thể từ tâm thức cộng đồng của gia đình, tổ tiên hay xã hội. Sau cùng ta quán sát tâm thức. Theo giáo lý đạo Bụt, tâm thức giống như một thửa ruộng chứa đủ mọi hạt giống: hạt giống thương yêu, hạt giống từ bi, hạt giống vui mừng, lo sợ, hạt giống của bình an, giận dữ và hạt giống của chánh niệm. Tâm thức là kho chứa tất cả những hạt giống ấy, những hạt giống luôn luôn có khả năng biểu hiện lên trên tầng ý thức. Niệm tâm từ giúp đưa những hạt giống tích cực như mừng vui, thương yêu, lên tầng ý thức tạo thành một vùng năng lượng chuyển hóa năng lượng sợ hãi.

Thư giãn toàn thân để chuyển hóa sợ hãi và căng thẳng

Sợ hãi đưa đến bức xúc và căng thẳng. Để chữa trị, điều cần nhất là nghỉ ngơi. Một con thú khi bị thương thì tìm một chỗ để nghỉ ngơi hoàn toàn trong nhiều ngày, không đi tìm mồi hay bất cứ gì khác. Chúng chỉ nằm yên để tự chữa vết thương. Còn chúng ta, những con người, khi bị bức xúc hay căng thẳng chúng ta thường phải tìm đến thuốc. Ít khi chúng ta khôn ngoan hơn mà dừng lại. Chúng ta không biết tự giúp lấy mình.

Thư giãn toàn thân là một cơ hội để cơ thể nghỉ ngơi, chữa trị và phục hồi. Chúng ta thư giãn cơ thể và hướng sự chú ý và lân mẫn đến từng bộ phận, từng tế bào của cơ thể với nhiều ưu ái. Nên thực tập thư giãn toàn thân ít nhất một lần trong ngày, 20-30 phút hay lâu hơn. Ta có thể buông thư với tư thế nằm mỗi tối trước khi ngủ. Hoặc cũng có thể bất cứ thời điểm nào thích hợp trong ngày, trong bất cứ không gian nào không bị ai quấy rầy. Ta cũng có thể buông thư ở tư thế ngồi ngay tại văn phòng làm việc. Nếu nỗi lo sợ và căng thẳng quá lớn làm ta không thể đi vào giấc ngủ, thiền buông thư có thể giúp được rất nhiều.

Khi một nhóm cùng nhau thực tập thì sẽ có một người hướng dẫn cho cả nhóm. Cách thức hướng dẫn có thể thay đổi tùy lúc, tùy người hướng dẫn. Bạn cũng có thể thực tập khi đang đọc sách hay nghe nhạc.

Bài thực tập thư giãn toàn thân

Mời bạn nằm ngửa, hai cánh tay duỗi thẳng hai bên.

Thư giãn cơ thể… giữ cho cơ thể thoải mái…

Sống lưng áp sát xuống giường, hay nệm tập trên sàn nhà…

(Thở)

Chú ý vào hơi thở vào, hơi thở ra, ý thức thành bụng phồng lên theo hơi thở vào, xẹp xuống theo hơi thở ra.

(Thở) Phồng lên… lên… Xẹp xuống… xuống…

(Thở)

Thở vào… chú ý vào đôi mắt… Thở ra thư giãn đôi mắt… Đưa đôi mắt chìm xuống, vào trong ổ mắt… Thư giãn các bắp cơ quanh mắt.

Mắt đã cho ta thấy bao màu sắc, cảnh đẹp huy hoàng, cho ta thấy người ta thương…

Tiếp tục thư giãn đôi mắt. Biết ơn đôi mắt… Thở vào tôi ý thức đôi mắt còn tốt… Thở ra mỉm cười với đôi mắt…

Thở vào… chú ý tới cái miệng…

Thở ra… thư giãn miệng… Thư giãn các bắp cơ quanh miệng… Mỉm miệng cười… Tưởng tượng hoa nở ra trên môi…

(Thở)

Thở vào… chú ý tới các cơ bắp trên mặt…

Thở ra… thư giãn các cơ bắp trên mặt… Các cơ bắp mặt, má, cằm, cổ…

(Thở)

Thở vào… chú ý tới hai vai…

Thở ra… Thư giãn hai vai… Thả lỏng hai vai… Đôi vai đã từng nặng trĩu khổ nhọc… Gửi sự thương yêu, thân ái tới đôi vai…

(Thở)

Thở vào… chú ý tới hai cánh tay…

Thở ra… thư giãn hai cánh tay… Thả lỏng hai cánh tay trên…, hai cánh tay dưới…, hai cườm tay…, hai bàn tay…, các ngón tay…, nhẹ nhúc nhích các ngón tay…

(Thở)

Thở vào… chú ý tới trái tim…

Thở ra… thư giãn trái tim… Đã từ lâu ta không để tâm tới trái tim của ta… Ta bận hết việc này tới việc khác, ta lo lắng, căng thẳng.

(Thở)

Tim làm việc ngày đêm không ngừng nghỉ… Hãy ôm ấp trái tim ta bằng năng lượng chánh niệm, dịu dàng yêu thương…

“Thở vào tôi ý thức trái tim tôi… Thở ra tôi mỉm cười với trái tim tôi.”

(Thở)

Thở vào… chú ý hai chân…

Thở ra… thư giãn hai chân…, hai bắp đùi…, hai cẳng chân…, hai cườm chân…, ngón chân…

(Thở)

Thở vào, thở ra, toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng. Toàn thân nhẹ như ngỗng bơi trên mặt hồ… tự do như đám mây thong dong trên bầu trời… Không đi đâu cũng không cần đến…

(Thở)

Ý thức có mặt với hơi thở… với sự phồng lên, xẹp xuống của bụng.

*Nếu bạn đang thực tập buông thư trước lúc ngủ, hãy tiếp tục theo dõi hơi thở. Thở vào, thở ra…

*Nếu bạn đang thực tập buông thư trong ngày, đến đây, bạn tiếp tục theo dõi hơi thở, ý thức hai tay, hai chân… Cử động nhẹ tay chân… Từ từ ngồi dậy… Chậm rãi đứng dậy với ý thức trọn vẹn và tiếp tục cho sinh hoạt tiếp theo của mình.

Chuyển hóa gốc rễ sợ hãi trong tâm

Tám bài tập tiếp theo cũng là sự tiếp nối của tám bài tập đầu. Chúng giúp ta hiểu rõ hơn về tâm thức để có thể buông bỏ những vọng tưởng, tiếp xúc với tự tính của vạn vật và đạt tới sự không sợ hãi.

Bài tập thứ chín: Nhận diện tâm

Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta.

Ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta.

Bài tập thứ chín là ý thức về tâm ý và nhận diện thực trạng của tâm, (cũng giống như bài tập thứ ba là ý thức toàn thân, và bài tập thứ bảy là ý thức về cảm thọ.)

“Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta. Ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta.” 

Tâm thức cũng như một dòng sông mà mỗi ý nghĩ là một giọt nước của dòng sông. Chúng ta ngồi bên một bờ sông, quán sát từng ý nghĩ phát hiện và đi qua. Chỉ cần ghi nhận là có một ý nghĩ trỗi dậy, dừng lại trong chốc lát rồi biến đi. Không cần phải ôm chặt, tranh đấu hay gạt bỏ ý nghĩ ấy đi.

Khi sợ hãi, ta nói: “Thở vào tôi biết có tâm hành sợ trong tôi”. Với chánh niệm và định lực, chúng ta ghi nhận và ôm ấp để có dịp nhìn sâu vào tâm hành sợ hãi ấy. 

Bài tập thứ mười: Làm cho tâm hoan lạc

Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc.

Ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc.

Bài tập thứ mười là làm cho tâm ý hạnh phúc và thư giãn. Thực tập làm cho tâm ý hoan lạc là để tăng cường khả năng hoan lạc của tâm. Bài tập này cũng giống như những thực tập chế tác niềm hoan lạc trong các bài thực tập ở trên, có khác là thêm vào yếu tố tăng cường và hỗ trợ cho tâm.

Theo Tâm học của đạo Bụt, tâm có ít nhất là hai tầng hoạt động. Tầng ở dưới là tàng thức, cất giữ tất cả các hạt giống của tâm thức. Khi hạt giống của tâm thức được tưới tẩm hay tiếp xúc, hạt giống sẽ biểu hiện lên phần trên là tầng ý thức như là một tâm hành. Để cho tâm được hoan lạc, ta sử dụng thực tập gọi là “tưới tẩm có chọn lọc”. 

Thứ nhất, chúng ta để cho hạt giống tiêu cực nằm yên dưới tàng thức và không cho nó biểu hiện lên tầng ý thức. Thứ hai, nếu một hạt giống tiêu cực đã biểu hiện trên tầng ý thức (như là một tâm hành) thì ta đưa chúng trở xuống tầng tàng thức càng nhanh càng tốt để cho tâm hành tiêu cực thành hạt giống trở lại. Thứ ba là tìm cách đưa những hạt giống tích cực lên tầng ý thức. Thứ tư, khi hạt giống tích cực đã biểu hiện trên tầng ý thức thì tìm cách giữ tâm hành tích cực ở lại trên tầng ý thức càng lâu càng tốt. Phải tổ chức đời sống thế nào để cho những hạt giống tích cực được tưới tẩm nhiều lần trong ngày. Rất có thể bạn có nhiều hạt giống lành, tích cực chôn sâu trong tàng thức. Đây là một dịp để bạn cho các hạt giống tích cực ấy một cơ hội.

Bài tập thứ mười một: Thu nhiếp tâm ý vào định

Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định.

Ta đang thở ra và thu nhiếp tâm ý ta vào định. 

Tâm định có khả năng giải trừ phiền não, cũng như tia sáng mặt trời khi được tập trung vào một điểm có thể đốt cháy một tờ giấy. Định lực cũng có thể “đốt cháy” sợ hãi, phiền giận, vọng tưởng, tuyệt vọng, để chỉ còn lại tuệ giác.

Một trong những loại định là định vô ngã, nghĩa là không có một thực thể riêng biệt và thường hằng. Mặc dầu ý niệm về vô ngã hợp lý và không có gì khó hiểu, chúng ta thường không suy nghĩ theo chiều hướng đó. Vì vậy, chúng ta phải thực tập nhìn sâu vào vạn sự vạn vật để thấy được tự tính không vốn có của chúng.

Các nhà khoa học cho biết vật thể phần lớn được cấu tạo bằng không gian. Khối lượng vật chất của một bông hoa hay một cái bàn hầu như là không có gì cả. Vật chất của một cái bàn gom lại chỉ nhỏ hơn một hạt cát. Chúng ta biết sự thật là như vậy, nhưng trong đời sống hằng ngày, chúng ta vẫn thấy cái bàn là một vật to lớn và chắc nịch. Khi một nhà khoa học nghiên cứu sự vật (elementary particles) dưới ánh sáng của vật lý quang tử, họ phải thực tập quên đi thói quen nhìn sự vật tách rời nhau. Khi đó, họ mới có thể hiểu được sự vận hành chân thật của vật chất. Các nhà khoa học mà phải thực tập thì chúng ta cũng phải thực tập để nhìn sâu vào bản chất của sự vật trong đời sống hằng ngày. 

Định lực là khả năng duy trì tuệ giác lâu dài. Đó không phải chỉ là một tia sáng thoáng qua. Vì nếu như vậy thì nó không đủ khả năng giải phóng cho bạn. Thế cho nên, trong cuộc sống hằng ngày ta phải luôn nhớ giữ mãi trong tâm ý niệm về vô ngã, không và vô thường. Khi nhìn bất cứ vật gì, người, vật, cỏ cây, đất đá ta phải nhìn thấy tự tính trống rỗng của vạn sự vạn vật. Nhờ đó mà ta đạt đến tuệ giác có thể giải phóng chính ta. Điều này khác hẳn với việc bàn luận về ý nghĩa của tính không. Ta phải thực sự thấy bản chất về tính không của ta và của những thứ khác. Mỗi khi đã đạt được tuệ giác ấy, ta sẽ không còn sợ hãi, nô lệ, là nạn nhân của chia rẽ, kỳ thị vì ta đã thấy rõ tự tính tương tức của vạn vật. Dù là một vị Bụt, một cá nhân hay một thân cây bạn cũng nhận ra tự tính không và tương tức. Bạn sẽ thấy “cái một chứa đựng cái tất cả”. 

Bài tập thứ mười hai: Cởi trói cho tâm ý được giải thoát tự do

Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do.

Ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do.

Bài tập thứ mười hai giúp ta giải phóng những phiền não và cởi mở cho tâm ý. Tâm ta luôn bị vướng mắc bởi phiền não, sợ hãi, giận dỗi, buồn phiền, kỳ thị. Chúng ta đã thực tập ghi nhận và ôm ấp phiền não, nhưng để được thực sự giải thoát, chúng ta cần sử dụng định lực để giải tỏa khỏi mọi ràng buộc. 

Có nhiều loại định mà ta có thể thực tập. Một là “định vô thường”. Chúng ta có ý niệm về vô thường, chấp nhận và đồng ý là có vô thường. Ý niệm vô thường sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn sự vật và hành xử trong đời sống hằng ngày. Mặc dầu chúng ta trong lý trí biết rằng người thương của ta sẽ là vô thường nhưng chúng ta sống và hành xử như là người ta thương luôn luôn như thế và ta cũng luôn luôn như thế. Tuy nhiên sự vật luôn luôn thay đổi, như một dòng sông. Khi gặp một ai ta có thể nhìn người ấy như là người của hai mươi năm trước mà không thể tiếp xúc với người của hôm nay, của hiện tại mặc dầu người ấy, hôm nay đã có những quan niệm khác, suy nghĩ khác. Cho nên thiền tập về vô thường là để sống được với tự tính vô thường chứ không phải chỉ tiếp xúc bằng ý niệm. Chúng ta cần định vô thường chứ không phải ý niệm vô thường. Ý niệm về vô thường không giải thoát được chúng ta. Chính tuệ giác về vô thường mới cởi trói cho chúng ta. 

Tuệ giác khác với ý niệm nhưng khi mới bắt đầu thực tập chúng ta dùng giáo lý ý niệm về vô thường để đi đến tuệ giác vô thường. Cũng như que diêm và ngọn lửa của que diêm. Que diêm không phải ngọn lửa nhưng que diêm có thể tạo ra ngọn lửa. Và khi ta có ngọn lửa thì ngọn lửa sẽ đốt cháy que diêm. Khi chúng ta đã có tuệ giác thì tuệ giác sẽ đốt cháy ý niệm. Ta cần tuệ giác vô thường để đạt giải thoát. 

Với bốn bài tập ở trên, chúng ta đã đi sâu vào bản chất của đối tượng của tâm, nghĩa là cách chúng ta nhận thức về vạn sự, vạn vật. Những phép thực tập về định ấy giúp ta có một nhận thức đúng đắn về thực tại thế giới. Nhiều người trong chúng ta thường bị kẹt trong ý niệm cho rằng tâm thức là ở bên trong chúng ta và vạn sự, vạn vật là ở ngoài ta. Chúng ta tin rằng tâm thức ở tại đây và vươn ra để tìm hiểu thế giới ngoài kia. Nhưng khi nhìn sự vật dưới ánh sáng tương tức chúng ta nhận ra rằng tâm thức và đối tượng của tâm thức không thể tách rời nhau. Cũng như phải và trái, cái này không thể có mặt nếu không có cái kia. 

Khi nhìn vào bất cứ một vật gì, một bông hoa hay một cây viết, đối tượng của tâm thức và chủ thể của tâm thức luôn biểu hiện cùng một lúc. Nhận thức luôn luôn là nhận thức một cái gì. Chánh niệm luôn luôn là chánh niệm về một cái gì. Suy nghĩ luôn luôn là suy nghĩ về một việc gì. Tóm lại, vật thể và chủ thể luôn luôn biểu hiện cùng một lúc.

Bài tập thứ mười ba: Quán chiếu về vô thường

Ta đang thở vào và quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp.

Ta đang thở ra và quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp.

Bài tập thứ mười ba là thực tập về định vô thường như đã trình bày qua các ví dụ ở trên, sẽ giải phóng tâm thức. Định vô thường là một loại định. Nếu thực tập định vô thường rốt ráo chúng ta cũng sẽ thành công cùng lúc trong những định khác. Đi sâu vào định vô thường, chúng ta sẽ khám phá ra vô ngã, không và tương tức. Cho nên định vô thường là biểu trưng của tất cả các định khác. Trong khi thực tập hơi thở vào thở ra và luôn luôn chú tâm vào định vô thường chúng ta sẽ thực chứng được bản tính của thực tại. Đối tượng của quán chiếu có thể là bất cứ cái gì, một bông hoa, một hòn sỏi, người ta thương, người ta ghét, cũng có thể là chính bản thân ta với buồn đau giận ghét. Bất cứ gì cũng có thể là đối tượng của quán chiếu, của thiền tập. 

Bài tập thứ mười bốn: Quán chiếu vô dục

Ta đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. Ta đang thở ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.

Bài tập thứ mười bốn hướng về quán chiếu không tham cầu, không tham đắm. Giữa tàng thức và ý thức có một tầng thứ ba của tâm thức gọi là mạt-na thức. Mạt-na thức phát xuất từ tàng thức và là nền tảng của ý thức. Mạt-na chứa đầy vọng tưởng và có xu hướng chấp chặt, là phần của tâm thức luôn tìm khoái lạc, bất chấp hiểm nguy. Chính mạt-na là nơi cất giữ bao nhiêu sợ hãi, dục vọng. Quán chiếu vô thường giúp chuyển hóa vọng tưởng của mạt-na thành tuệ giác. Quán chiếu sâu sắc vào tham cầu để nhận cho ra bản tính của nó. Đối tượng của tham cầu của ta có thể là một vật hay một người nào đó có thể tàn hoại thân xác, tâm thức. Quán chiếu cho sâu về những gì mà ta ham muốn, mà ta tiêu thụ là một thực tập vô cùng quan trọng. Những gì ta đem vào thân và tâm ta sẽ nuôi lớn tham cầu sợ hãi và bạo động trong ta. 

Bài tập thứ mười lăm: Quán chiếu vô sinh, niết bàn

Ta đang thở vào và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.

Ta đang thở ra và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.

Với hơi thở thứ bảy này chúng ta quán chiếu tính chất không sinh không diệt của vạn pháp, sự chấm dứt của tất cả mọi ý niệm, từ đó ta có thể cảm nhận tính tương tức của vạn vật, và ý thức rằng ta chỉ là một thành phần của toàn thể vũ trụ. Tự tính của vạn vật vượt thoát mọi ý niệm, kể cả những ý niệm về sinh và tử, đến và đi, có và không. Quán chiếu vô thường, vô ngã, tính không, không sinh không diệt đưa đến giải thoát. Ý niệm có sinh, có diệt là nguồn gốc của lo âu, phiền muộn. Chứng nghiệm tự tính của vạn vật không sinh, không diệt giúp ta thoát khỏi sợ hãi, lo âu.

Bài tập thứ mười sáu: Quán chiếu buông bỏ.

Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ.

Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ.

Bài tập này giúp ta nhìn sâu và buông bỏ ham muốn, giận ghét và sợ hãi. Đồng thời cũng giúp ta cảm nhận thực tính của vạn vật, đạt tuệ giác giải thoát, không sợ hãi, phiền não. Ta buông bỏ ý niệm, vọng tưởng để được tự do. Niết bàn có nghĩa là tắt ngấm, là dập tắt ngọn lửa. Theo giáo lý đạo Bụt, Niết bàn là sự chấm dứt của mọi phiền não do vọng tưởng gây nên. Niết bàn không phải là một nơi chốn để mình tìm tới hay một cái gì thuộc về tương lai. Niết bàn là bản chất của vạn vật, là tự tính vốn có của chúng. Niết bàn có đó ngay bây giờ và ở đây. Có thể ta đang ở trong Niết bàn, ta là Niết bàn, như đợt sóng cũng là nước.

Thực tính của chúng ta là không trước không sau, không sống không chết. Nếu ta tiếp xúc được với thực tính của ta thì ta không còn sợ hãi, giận hờn, phiền não. Nếu ta có một người thân mới từ trần thì phải tìm cách thấy được người ấy dưới một biểu hiện mới. Người ấy không chết được mà tiếp tục dưới những hình tướng khác. Nhìn với tuệ giác ấy ta có thể nhìn ra người ấy xung quanh ta và ngay trong ta. Và ta có thể tiếp tục “nói chuyện” với người ấy.

Bài tập này giúp ta từ bỏ vọng tưởng, tiếp xúc với bản chất của vạn sự, vạn vật và đạt tới tự do lớn.

Chúng ta cần tiếp tục thực tập, học hỏi, bàn luận để cho sự hiểu biết càng thêm sâu sắc. An trú trong hiện tại, ta sẽ để tâm chiêm nghiệm sự sống sâu sắc hơn và sẽ có cơ hội khám phá nhiều điều kỳ diệu. Điều này không có nghĩa là ta chìm đắm trong suy tư mà ta sẽ quán sát được bản chất vốn có của thực tại và chứng nghiệm được bản tính chân như của chúng.

Chúng ta đang sống với nhiều lo sợ, sợ quá khứ, sợ tương lai, sợ cho cái ngã của bản thân mình. Tám bài tập này cùng với tám bài tập ở phần trên cho ta tuệ giác, và giúp ta cảm nhận trong bình diện bản môn và giải phóng chúng ta khỏi những sợ hãi. Khi chúng ta có thể chia sẻ với người khác tuệ giác của chúng ta là chúng ta đang hiến tặng cho người ấy một món quà vô cùng quý giá, món quà của sự không sợ hãi.

Thực tập để giải tỏa sợ hãi khỏi cơ thể và cảm thọ

Tám bài tập chánh niệm đơn giản

Thực tập hơi thở chánh niệm giúp ta trải nghiệm niềm vui và an bình. Khi chú ý vào hơi thở, ta thực sự có mặt mà không bị cuốn theo những suy nghĩ về quá khứ hoặc tương lai, ta chấm dứt được mọi suy nghĩ. Sự thực là khi hoang mang suy nghĩ, ta hoàn toàn không có mặt. Descartes nói: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại”, nhưng sự thật là “Tôi tư duy nên tôi không thực sự ở đây”.

Khi chú ý đến hơi thở vào, chúng ta không suy nghĩ về hơi thở vào; mà ta đang trải nghiệm trực tiếp. Chúng ta sống với hơi thở vào. Hơi thở vào không phải là một suy nghĩ; nó là một sự thực. “Thở vào, tôi tận hưởng hơi thở vào của tôi”. Khi chúng ta thở trong chánh niệm như vậy, chúng ta có thể thấy được nhiều thứ. Chúng ta có thể chạm vào phép mầu của cuộc sống, bởi khi thở chánh niệm, chúng ta nhận ra là mình đang sống. Được sống là một điều tuyệt vời. Có mặt bây giờ và ở đây, hít thở, là một phép mầu. Được sống là một trong những phép mầu vĩ đại nhất. Người bố, người mẹ đang ôm đứa con vừa mới chào đời rất dễ hiểu được điều này. Những người đang hấp hối trên giường bệnh lại càng cảm nhận rõ ràng giá trị nhiệm mầu của những hơi thở. Được sống, được hít thở, được bước đi trên hành tinh này, là một điều tuyệt diệu. Chúng ta không mở những buổi tiệc rượu sành điệu để ăn mừng sự sống; chúng ta có thể ăn mừng trong mỗi phút giây bằng hơi thở và bước chân. Với chánh niệm và chánh định, chúng ta có thể tiếp xúc và sống mỗi giây phút như một phép mầu, ngay bây giờ và hôm nay.

Năng lượng chánh niệm có thể được tạo ra bất kỳ lúc nào, bất cứ ở đâu. Với nguồn năng lượng được chế tác từ hơi thở và bước chân chánh niệm, ta dễ dàng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống, từ đó đem lại hạnh phúc cho ta. Phép thực tập hơi thở rất cụ thể và đơn giản. Khi thở vào và thực sự chú ý đến hơi thở vào, bạn sẽ có thay đổi ngay lập tức. Bạn có mặt và tiếp xúc thực tại nhiều hơn. Khi thiền hành, bạn đi chánh niệm để tiếp xúc sâu hơn với thực tại.

Cách thở và cách nhìn của bạn quyết định mức độ tiếp xúc sâu sắc với thực tại của bạn.

Sau đây là một số bài thiền tập chánh niệm đơn giản có thể áp dụng bất cứ khi nào bạn sợ hãi. Bài 1 đến 4 là để chăm sóc cơ thể; bài 5 đến 8 là để chăm sóc cảm xúc.

Bài tập thứ nhất: Nhận diện hơi thở

Thở vào, tôi biết đây là hơi thở vào. Thở ra, tôi biết đây là hơi thở ra.

Bài tập đầu tiên vô cùng đơn giản, nhưng mang lại lợi ích vô cùng lớn: nhận diện sự có mặt thật sự của sự sống trong mình và xung quanh mình. Bạn không chỉ là cơ thể này mà còn là môi trường bạn đang sống cùng. Thực tập đơn giản nhưng có thể mang đến niềm vui và hạnh phúc.

Chúng ta nhận diện hơi thở vào là hơi thở vào và hơi thở ra là hơi thở ra. Rất dễ. Khi làm thế, chúng ta mang sự chú ý đến hơi thở vào và hơi thở ra. Chúng ta buông bỏ suy nghĩ; chúng ta buông bỏ quá khứ, tương lai. Chúng ta chỉ ở cùng hơi thở và chúng ta tự do. Hơi thở vào trở thành đối tượng duy nhất của sự chú ý và nhận thức. Chúng ta có thể vui chỉ bằng việc thở. 

Bài tập thứ hai: Đi theo hơi thở

Thở vào một hơi dài hoặc một hơi ngắn, hành giả biết rằng hơi thở của mình dài hay ngắn.

Thở ra một hơi dài hoặc một hơi ngắn, hành giả biết hơi thở của mình dài hay ngắn.

Thở vào, tôi theo dõi hơi thở vào của tôi từ đầu cho tới cuối. Thở ra, tôi theo dõi hơi thở ra của tôi từ đầu cho tới cuối. Hơi thở vào có thể dài hai giây, năm giây hay là lâu hơn. Ta theo dõi toàn hơi thở từ đầu đến cuối, không gián đoạn và tận hưởng niềm vui khi thở suốt chiều dài hơi thở. Nhờ đó định lực sẽ trở nên mạnh hơn. Đây là một cách để thực tập nuôi lớn định lực. Chánh niệm mang sẵn năng lượng của định và từ định mà tuệ giác phát sinh.

Như vậy, bài tập thứ nhất là để nhận diện hơi thở vào và hơi thở ra. Bài tập thứ hai là để theo dõi suốt chiều dài của hơi thở vào và hơi thở ra.

Bài tập thứ ba: Ý thức toàn thân

Thở vào, ý thức toàn thân.

Thở ra, tôi biết hình hài tôi có đó.

Trong suốt chiều dài của hơi thở, tôi ý thức sự có mặt của thân thể tôi. Có nghĩa là tôi đem tâm trở về với thân tạo nên sự hợp nhất của tâm và thân để thực sự có mặt, thân tâm hợp nhất. Đem tâm về lại với thân là mục đích của bài tập thứ ba này. “Thở vào, tôi ý thức toàn thân tôi”. Đây là một cử chỉ hòa hợp hòa giải giữa thân và tâm.

Có thể rằng bạn đã ruồng bỏ thân thể của bạn đã từ lâu. Bạn đã không chăm sóc thân bạn khi ăn uống, khi làm việc. Đây chính là lúc mà bạn trở về với thân bạn, chăm sóc và hòa giải với thân bạn. “Thở vào, tôi ý thức toàn thân tôi”. Và chúng ta biết rõ rằng khi thở như thế, ta thực sự có mặt, thực sự sống và có được cái gì để cống hiến cho người khác. Bạn đang lưu tâm đến bản thân bạn và đang lưu tâm tới những người khác.

Bài tập thứ tư: Buông thư toàn thân

Tôi đang thở vào và làm cho toàn thân tôi an tịnh.

Tôi đang thở ra và làm cho toàn thân tôi an tịnh.

 “Thở vào tôi ý thức những căng thẳng và đau nhức trong thân thể tôi. Thở ra, tôi làm cho thân tôi an tịnh”. Khi thân tâm hợp nhất, ta có thể nhận diện những gì đang xảy ra trong thân, những căng thẳng, đau nhức của thân. Có thể đó là một cơn đau kinh niên mà bạn cứ để cho nó kéo dài, càng ngày càng trầm trọng. Bây giờ bạn đã trở về với thân bạn và bạn có cơ hội để giảm bớt căng thẳng và đau nhức ấy. 

Bài tập thứ ba là để nhận diện sự tồn tại của cơ thể trong khi bài tập thứ tư là để giải tỏa căng thẳng. “Thở vào, tôi ý thức những căng thẳng và đau nhức trong thân thể tôi. Thở ra, tôi an tịnh toàn thân, giúp những căng thẳng và đau nhức vơi nhẹ.” Căng thẳng càng bớt thì đau nhức càng giảm.

Tóm lại, trong bốn bài tập trên đây, chúng ta học cách xử lý hơi thở và thân thể. “Tôi không phải chỉ có suy tư và dự án. Tôi còn có một thân thể. Tôi muốn chăm sóc và xử lý tốt thân thể tôi. Hơi thở là một phần của thân thể tôi.” Và theo nguyên lý tương tức, khi ý thức về những căng thẳng, đau nhức trong tôi, đồng thời tôi cũng tiếp xúc với cảm thọ của tôi. Căng thẳng và đau nhức đưa đến cảm thọ tiêu cực, gây đau khổ. Từ đó ta thực tập buông xả để giảm bớt căng thẳng và đau nhức.

Trong bốn bài tập tiếp theo dưới đây, chúng ta đi vào lĩnh vực của cảm thọ.

Bài tập thứ năm: Chế tác mừng vui

Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui.

Ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui.

Bài tập thứ năm là để tạo nên cảm thọ dễ chịu, vui thích. Thực tập chánh niệm có thể đem đến cảm thọ dễ chịu, vui thích. Trong đạo Bụt, chúng ta nói tới thực tập như là để giải tỏa niềm đau nhưng chúng ta cũng nói tới thực tập như là để tạo tác niềm vui. Một hành giả phải biết cách vừa bồi đắp hạnh phúc, vừa chăm sóc đau khổ.

Bài tập thứ sáu: Chế tác hạnh phúc

Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc.

Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc.

Mỗi chúng ta phải có khả năng chế tác sự mừng vui, phải có khả năng chế tác hạnh phúc. Nếu anh chưa có khả năng chế tác niềm vui cho anh thì anh thực tập chưa giỏi. Nếu chị chưa có khả năng chế tác hạnh phúc cho chị thì chị thực tập vẫn chưa giỏi. Chúng ta rất cần những giây phút có sự mừng vui, cần những giây phút có hạnh phúc để được nuôi dưỡng. Tại vì chúng ta có những nỗi đau cần phải được ôm ấp và chuyển hóa.

Bài tập thứ bảy: Nhận diện cảm thọ

Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta.

Ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta.

Bài tập thứ bảy là để chăm sóc đau khổ. Chúng ta thực tập để được hạnh phúc trước khi thực tập mà chăm sóc đau khổ là có lý do. Chúng ta cần có một vài niềm vui, hạnh phúc để thêm sức mạnh mà chăm sóc những đau nhức, phiền não.

“Thở vào, tôi nhận diện cảm thọ vui thích trong tôi”. Thường chúng ta nói tới ba loại cảm thọ: cảm thọ tích cực mừng vui, cảm thọ tiêu cực đau khổ và cảm thọ trung tính không buồn không vui. Theo tôi, còn có một loại cảm thọ thứ tư. Đó là cảm thọ “buồn vui lẫn lộn”.

Hai bài tập thứ năm và thứ sáu thuộc về cảm thọ tích cực, mừng vui. Chúng ta có thể nhận diện một cảm thọ mừng vui (hỷ) nhưng cũng có thể tạo ra cảm thọ mừng vui. Một hành giả có chánh niệm sẽ có khả năng nhận diện hay chế tác cảm thọ vui thích, hạnh phúc. Với chánh niệm và định lực, chúng ta luôn luôn có thể chế tác hạnh phúc.

Điều kiện của hạnh phúc

Giây phút hiện tại có sẵn rất nhiều điều kiện của hạnh phúc. Bạn có thể lấy một tờ giấy và liệt kê chúng xuống. Khởi đầu bạn nghĩ rằng chẳng có bao nhiêu. Nhưng rồi bạn sẽ khám phá ra rằng cả hai mặt của tờ giấy cũng không đủ.

Nếu nhìn vào bản thân và xung quanh, ta có thể tìm ra nhiều điều kiện của hạnh phúc sẵn có, hàng trăm, hàng ngàn. Ví dụ đôi mắt là một điều kiện của hạnh phúc. Khi mắt còn tốt thì chỉ cần mở mắt ra là thấy thiên đường của muôn màu muôn sắc. Khi mắt đã mờ hay mù lòa ta mới cảm nhận là có được đôi mắt còn tốt là một điều kỳ diệu. Hãy cảm ơn đôi mắt còn tốt của bạn. Nhờ đôi mắt mà bạn hưởng được cảnh đẹp của thiên đường trần gian. Nếu bạn tỉnh thức và tiếp xúc với đôi mắt còn tốt thì bạn không thể không cảm thấy hạnh phúc.

Còn có vô số điều kiện của hạnh phúc như thế trong cuộc sống. Trái tim của bạn là một ví dụ. Ý thức là trái tim của bạn đang vận hành tốt. “Thở vào, tôi ý thức về trái tim tôi và tôi rất hạnh phúc”. Khi làm việc, bạn còn có cơ hội để tạm nghỉ nhưng trái tim thì phải luôn làm việc không ngừng hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Có được một trái tim lành mạnh phục vụ bạn, đó là một điều kỳ diệu. Nhiều người có trái tim không mấy lành mạnh luôn luôn lo lắng bị tai biến tim hay triệu chứng khẩn cấp gì khác. Có một trái tim lành mạnh là không có gì hơn trong đời. Cho nên mời bạn thở và cảm nhận sự có mặt của một trái tim tốt trong cơ thể. “Thở vào, tôi ý thức về trái tim tôi. Thở ra, tôi mỉm cười với trái tim tôi và thầm cảm ơn trái tim tôi”. Bạn đã tiếp xúc với một điều kiện hạnh phúc của bạn. Và bạn có thể tiếp xúc với hàng trăm điều kiện hạnh phúc trong bạn và xung quanh bạn.

Với năng lượng của niệm và định, bạn luôn luôn có thể chế tác hạnh phúc. Điều cần thiết là trở về với tự thân để có thể tiếp xúc với những điều kiện của hạnh phúc đang có sẵn. Một người sống có chánh niệm luôn luôn chế tác cảm thọ hạnh phúc cho mình bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào.

Nếu có khả năng chế tác hạnh phúc thì cũng có khả năng làm vơi bớt khổ đau. Một người không thực tập sẽ không biết cách đối trị cảm thọ tiêu cực, đau khổ. Nhưng nếu có thực tập, khi có cảm thọ tiêu cực, đau khổ, chúng ta không phải là nạn nhân. Chúng ta biết phải làm gì. Mỗi khi có cảm thọ tích cực hay tiêu cực, chúng ta chỉ ghi nhận sự có mặt của cảm thọ ấy một cách vô tư. Ngay cả với một cảm thọ tích cực, dễ chịu, chúng ta cũng chỉ cần ghi nhận. Không nên bị cảm thọ ám ảnh, không nên ôm giữ cảm thọ ấy mãi. Chúng ta chỉ thực tập ghi nhận có mặt cảm thọ đang khởi dậy.

Không nên chấp chặt, cũng không nên xua đuổi cảm thọ. Chỉ cần ghi nhận sự hiện diện của cảm thọ. Chúng ta giữ tâm tự do, ngay khi có cảm thọ đau buồn. Cảm thọ chỉ là cảm thọ. Chúng ta có nhiều hơn là cảm thọ. Không nên để cho cảm thọ đau buồn cuốn ta đi. Ngay đối với một cảm thọ tích cực cũng vậy. Chúng ta chỉ thực tập ghi nhận đơn thuần.

Nhận diện và ôm ấp đau khổ

Bài tập thứ bảy chú trọng việc ghi nhận cảm thọ tiêu cực hay buồn phiền. “Thở vào, tôi biết là có cảm thọ đau buồn trong tôi. Thở ra, tôi an tịnh cảm thọ đau buồn trong tôi.” Đau buồn là một loại năng lượng và nếu không thực tập thì dễ bị đau buồn trấn ngự. Chúng ta trở thành nạn nhân của cảm thọ đau buồn, một cảm giác đau nhức của cơ thể hay một cảm xúc trong tâm. Có những cảm xúc rất lớn, một vùng năng lượng phát hiện từ sâu thẳm của tâm thức.

Mỗi khi có một cảm thọ đau buồn trỗi dậy, hành giả phải biết cách xử lý. Phương pháp mà Đức Thế Tôn đưa ra là tiếp xúc với hạt giống chánh niệm trong ta. Có thể là bằng hơi thở hay bước chân chánh niệm để chế tác ra một vùng năng lượng thứ hai của cảm thọ đau buồn. Cho nên thực tập hơi thở và bước chân để chế tác năng lượng chánh niệm và năng lượng định là rất quan trọng. Chính năng lượng niệm và định ấy sẽ giúp ta đối trị năng lượng của cảm thọ đau buồn. Vùng năng lượng thứ hai của chánh niệm và thiền định sẽ ôm ấp vùng năng lượng thứ nhất của khổ đau. “Xin chào nỗi lo sợ của ta! Xin chào sự giận hờn của ta! Xin chào buồn phiền của ta. Ta biết các ngươi có đó và ta sẽ săn sóc cho các ngươi.”

Chúng ta có năng lượng của đau buồn nhưng cũng có năng lượng của chánh niệm và chánh định. Khi năng lượng tích cực ôm ấp năng lượng tiêu cực thì bạn sẽ có kết quả như ảnh hưởng của tia nắng ấm ban mai. Sáng sớm đóa sen còn khép lại. Khi mặt trời mọc, tia nắng ấm chiếu vào các cánh hoa, các quang tử (photons) sẽ thấm nhập vào hoa và đóa sen sẽ bừng nở. Một hiện tượng tương tự khi chúng ta thực tập ôm ấp cảm thọ đau buồn. Những lượng tử (particles) của năng lượng niệm và định sẽ thấm nhập – như những quang tử – vào vùng năng lượng tiêu cực của buồn đau và hóa giải buồn đau. Lấy ví dụ một căn phòng bị lạnh mùa đông, chúng ta bật lên lò sưởi ấm. Hơi ấm lò sưởi không tống khứ hơi lạnh ra ngoài. Hơi ấm của lò sưởi ôm ấp và thâm nhập hơi lạnh và làm cho hơi lạnh ấm dần. Không có bạo động, không có đấu tranh. Đó là điều mà một hành giả phải làm. Niệm và định ôm ấp niềm đau.

Bài tập thứ tám: Ôm lấy niềm đau

Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh.

Ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh.

Bài tập thứ tám làm an tịnh và giải tỏa căng thẳng của cảm thọ đau buồn bằng cách ôm ấp, xoa dịu và làm vơi nhẹ cảm thọ. “Thở vào, tôi an tịnh tâm hành của tôi. Thở ra, tôi an tịnh tâm hành của tôi.” Bài tập này cũng giống như thực tập an tịnh thân thể. Đầu tiên chúng ta ghi nhận sự hiện diện của thân thể, sau đó làm an tịnh thân thể. Ở đây, chúng ta cũng làm như vậy với tâm hành, ghi nhận cảm thọ và an tịnh cảm thọ.

Chúng ta ôm ấp cảm thọ một cách êm ái, không bạo lực, làm vơi nhẹ cảm thọ. Chỉ một vài phút là có kết quả. Là hành giả, ta phải có khả năng ghi nhận, ôm ấp và an tịnh khổ đau của chúng ta. Nếu mới bắt đầu thực tập, không đủ vững chãi để ghi nhận và ôm ấp khổ đau ta nên nhờ một người bạn giúp đỡ.

Một hạt giống trong chiều sâu tâm thức phát hiện lên tầng ý thức, ở lại đấy một thời gian rồi sẽ trở xuống lại nguồn gốc (a-lại-gia thức) dưới dạng một hạt giống. Tuy nhiên, nếu được nhận diện và ôm ấp bằng chánh niệm thì sẽ yếu đi. Vậy thì bạn đã biết phải làm gì để chăm sóc niềm đau, nỗi khổ của bạn. Mỗi khi khổ đau trỗi dậy, hãy để cho nó biểu hiện, không nên đè nén. Hãy có mặt và hết lòng chăm sóc chúng. Khi chúng ta thực tập chế tác năng lượng chánh niệm bằng hơi thở và bước chân ý thức, nỗi sợ và niềm đau của chúng ta sẽ được ôm ấp và trị liệu. Sau một khoảng thời gian thực tập, bạn sẽ cảm nhận hạt giống của niềm đau và sợ hãi trở về chỗ cũ (ở tầng dưới là a-lại-gia thức) dưới dạng hạt giống và bạn biết rằng bạn sẽ làm gì khi nó biểu hiện lên trở lại. Niềm đau, nỗi sợ kinh niên của bạn sẽ yếu dần. Càng thực tập, chúng ta càng đối xử êm dịu với niềm đau, nỗi sợ, và những nỗi lo sợ càng ngày càng xa dần chúng ta. Sống một đời sống không sợ hãi trong hiện tại là một điều có thể được. Khi không có lo sợ, ta sẽ có khả năng nhận rõ những mối liên hệ giữa ta với mọi người xung quanh. Khi không có lo sợ, ta sẽ có nhiều cơ hội để hiểu và thương. Không lo sợ, chúng ta thực sự tự do!

Đối nghịch của sợ hãi

Khi tôi gặp tiến sĩ Martin Luther King Jr. vào năm 1966 trong thời gian chiến tranh Việt Nam, một trong những chủ đề chúng tôi đã thảo luận là tầm quan trọng của việc xây dựng cộng đồng – hay trong đạo Bụt, chúng tôi gọi là tăng thân. Tiến sĩ King biết rằng việc xây dựng cộng đồng là rất quan trọng. Ông nhận thức được rằng, nếu không có một cộng đồng thì sẽ khó có thể đạt thành quả. Tình huynh đệ (brotherhood) vững chắc cho ta sức mạnh khi ta sợ hãi, tuyệt vọng, và giúp duy trì tình yêu và lòng từ bi. Tình huynh đệ có thể hàn gắn và chuyển hóa cuộc đời chúng ta. Tiến sĩ King dành nhiều thời gian để xây dựng một cộng đồng mà ông gọi là “cộng đồng yêu quý (the beloved community)”.

Cộng đồng yêu quý hay còn gọi là tăng thân, là một tập thể của những người cùng thực tập để chế tác chánh niệm, thiền định và tuệ giác, để cùng cảm thấy được ôm ấp và hỗ trợ bởi năng lượng tập thể của sự thực tập. Thông thường, cảm giác cô đơn và bị xa cách sẽ nuôi dưỡng lo sợ và làm cho nỗi lo sợ càng thêm trầm trọng. Trong tăng thân, nếu có những người thực tập vững chãi thì họ có thể ngồi cùng chúng ta, chia sẻ với chúng ta năng lượng chánh niệm của họ. Chúng ta có thể nhờ họ giúp: “Anh ơi, chị ơi, tôi cần sự có mặt của mọi người. Tôi rất đau khổ và một mình tôi không thể ôm ấp niềm đau, nỗi khổ của tôi. Xin hãy giúp tôi”. Cùng nhau thực tập hơi thở và với năng lượng chánh niệm của cả tăng thân, ta có thể thấy rõ, ôm ấp, và chuyển hóa khổ đau đó. Ta là một phần của dòng sông tăng thân, mà không phải là những giọt nước cô độc. Chúng ta sẽ cùng nhau ra đến đại dương.

Một tăng thân có đoàn kết và bình an là một tăng thân đích thực. Với sự yểm trợ của tăng thân, thực tập trở nên dễ dàng và cuộc sống chung cũng sẽ trở nên dễ dàng. Thân nhân hay bạn bè đều có thể tạo thành tăng thân của bạn. Bất kỳ cộng đồng nào yểm trợ chúng ta đều là tăng thân. Xây dựng tăng thân nghĩa là xây dựng sự an toàn, hỗ trợ và hạnh phúc.

Lắng nghe sâu và ái ngữ

Khi truyền thông bị cắt đứt, tất cả đều đau khổ. Khi không ai lắng nghe hay hiểu mình, chúng ta giống như những quả bom chờ phát nổ. Lắng nghe với tâm từ bi đưa đến hàn gắn. Đôi khi chỉ mười phút lắng nghe sâu cũng đủ để mang lại chuyển hóa và nụ cười. 

Nhiều người trong chúng ta đã đánh mất khả năng lắng nghe và sử dụng ái ngữ. Không ai còn khả năng lắng nghe người khác. Vì vậy chúng ta cảm thấy rất cô đơn ở ngay chính trong gia đình. Chúng ta đi gặp bác sĩ tâm lý và hy vọng rằng họ có thể lắng nghe chúng ta. Nhưng nhiều bác sĩ cũng đau khổ sâu sắc bên trong. Đôi khi họ không thể lắng nghe sâu như họ muốn. Vì vậy, nếu yêu ai đó, chúng ta cần rèn luyện khả năng lắng nghe sâu.

Chúng ta cũng cần rèn luyện ái ngữ. Chúng ta đã đánh mất khả năng nói một cách bình tĩnh. Chúng ta dễ dàng bị kích động. Mỗi khi mở miệng, chúng ta luôn nói lời cay đắng. Chúng ta đánh mất khả năng nói lời từ ái. Thiếu khả năng này, chúng ta không thể khôi phục sự hòa hợp, tình yêu và hạnh phúc.

Trong đạo Bụt có các vị Bồ tát. Bồ tát là những bậc trí tuệ và từ bi nguyện ở lại thế gian để làm vơi bớt nỗi khổ của mọi người. Bồ tát Quán Thế Âm có khả năng lắng nghe với từ bi và sự có mặt tuyệt vời. Ngài có thể lắng nghe và thấu hiểu âm thanh của thế giới, tiếng than khóc thống khổ.

Phải thực tập thở ra thở vào trong chánh niệm để nuôi dưỡng tâm từ bi. Phải lắng nghe mà không khuyên răn hay phán xét. Hãy tự nhủ: “Mình đang lắng nghe chỉ vì mình muốn làm vơi bớt nỗi khổ của người ấy”. Đây gọi là lắng nghe với tâm từ bi. Luôn luôn mở rộng lòng từ bi trong khi lắng nghe. Đó là nghệ thuật. Nếu đang nghe mà cơn giận hoặc sự bực bội nổi lên thì không thể tiếp tục lắng nghe sâu. Phải thực tập làm sao mà mỗi lần cơn giận hoặc sự bực bội nổi lên thì bạn có thể thở vào thở ra trong chánh niệm và tiếp tục giữ lòng từ bi. Dù đối phương có nói gì, dù cách anh ta phán xét có nhiều bất công, dù anh ta lên án hay đổ lỗi, thì bạn vẫn tiếp tục ngồi yên, tiếp tục thở vào thở ra.

Nếu bạn không cảm thấy thoải mái, thấy mình không thể tiếp tục lắng nghe sâu với tâm từ bi thì hãy nói cho đối phương biết. “Anh ơi, mấy hôm nữa mình tiếp tục được không? Em cần làm mới bản thân trước. Em cần thực tập để có thể lắng nghe anh một cách tốt nhất.” Rồi tiếp tục thực tập thiền hành, theo dõi hơi thở chánh niệm, ngồi thiền để phục hồi khả năng lắng nghe với tâm từ bi.

Thiền hành cùng tăng thân

Thiền hành cùng với tăng thân là một thực tập tuyệt vời. Khi cùng nhau thiền hành, chúng ta cảm thấy mình được năng lượng tập thể nâng đỡ. Nên bắt đầu thiền hành cùng một nhóm để được hỗ trợ. Bạn có thể mời một người bạn đi với bạn hoặc bạn có thể cầm tay một em bé và dẫn bé cùng đi.

Để thực tập chánh niệm trong khi đi một mình, bạn có thể ký giao kèo với chiếc cầu thang: Bạn cam kết rằng bạn sẽ luôn lên xuống cầu thang trong chánh niệm, đi những bước rất vững chãi. Nếu trong lúc đi, bạn nhận thấy có một bước đi không thể hiện sự có mặt đích thực của mình thì bạn bước xuống và đi lại. Nếu bạn có thể thành công với chiếc cầu thang đó thì dù đi đâu, bạn cũng có thể an trú trong giây phút hiện tại. Bạn cũng có thể ký giao kèo với một quãng đường nào đó, như là từ bàn làm việc tới nhà vệ sinh, và phát nguyện rằng bạn sẽ đi quãng đường đó với từng bước chân vững chãi và chánh niệm; nếu không, bạn sẽ quay về và đi lại. Đây là một cách tuyệt vời để học cách sống sâu sắc trong từng khoảnh khắc của cuộc đời mà không bị năng lượng thói quen cuốn đi. Hãy bước đi bằng chân, không phải bằng đầu. Hãy chú ý vào đôi chân và bước đi. Hãy bước làm sao để niềm vui và cuộc sống thực sự biểu hiện ngay bây giờ và ở đây.

Khi thiền hành thành một nhóm, chúng ta chế tác năng lượng chánh niệm và an bình tập thể, để nuôi dưỡng và trị liệu.

Chánh niệm tập thể

Chúng ta có thể tiếp tục cải thiện chất lượng của thực tập bằng cách thường xuyên liên hệ với tăng thân. Định lực và chánh niệm tập thể của tăng thân sẽ giúp ích cho ta rất nhiều. Khi mới bắt đầu thực tập, chánh niệm và định lực của ta có thể không đủ mạnh để nhận ra và ôm ấp đau khổ, phiền muộn và sợ hãi. Nếu có tăng thân yểm trợ, ta sẽ dễ thành công hơn.

Khi đau khổ, ta có thể đến gặp tăng thân và nói: “Các bạn ơi, đây là nỗi đau, tuyệt vọng, cơn giận của tôi; nó quá lớn đối với tôi. Xin hãy giúp tôi.” Chúng ta mời tăng thân ôm ấp, nâng đỡ chúng ta bằng năng lượng chánh niệm và định lực mạnh mẽ của tập thể; đột nhiên, chúng ta sẽ cảm thấy có thể ôm ấp khổ đau, sợ hãi của mình. Ngồi cùng tăng thân, thực tập thở vào thở ra trong chánh niệm, giúp giải tỏa khổ đau và bắt đầu được chuyển hóa, chữa trị. Sự có mặt của một tăng thân trong cuộc đời của hành giả rất quan trọng, vì vậy, là hành giả, chúng ta phải luôn nghĩ cách xây dựng một tăng thân nơi mình sống.

Trong truyền thống đạo Bụt, chúng ta có từ pháp thân. Ngoài hình hài vật lý, nếu chúng ta có thực tập tâm linh thì chúng ta cũng có một hình hài khác, đó là pháp thân. Với pháp thân, chúng ta có thể đương đầu với khó khăn và đau khổ, nếu pháp thân vững mạnh, chúng ta có thể giúp được nhiều người khác.

Pháp có thể hiểu là những lời dạy khôn ngoan. Có pháp nói, pháp viết và có cả pháp sinh động. Khi chúng ta thực tập thở chánh niệm hay thực tập thiền hành, dù chúng ta không nói gì hay không lắng nghe pháp thoại, thì chúng ta cũng đang là hiện thân của pháp sinh động. Khi nhìn một người anh em hay chị em bước đi trong chánh niệm và tận hưởng từng bước chân chánh niệm thì ta có thể thấy rằng người đó đang là hiện thân của pháp sinh động. Lan tỏa an bình, hạnh phúc và sức sống ra khắp xung quanh chính là cái mà ta gọi là pháp sinh động (living dharma).

Tăng thân của Đức Thế Tôn

Sau khi giác ngộ dưới gốc cây bồ đề việc đầu tiên của Bụt là tìm cách xây dựng một tăng thân. Bụt, cũng như mục sư Martin Luther King của thế kỷ 21, biết rằng nếu không có tăng thân thì sẽ không thể thực hiện được ước mơ và hoàn thành sự nghiệp của một vị Bụt. Nếu không có một cộng đồng, hay một tăng thân, một vị Bụt không thể làm được gì. Giống như nhạc công mà không có nhạc cụ thì không thể làm được gì. Bụt xây dựng tăng đoàn rất giỏi. Sau khi thành đạo Ngài đã nhanh chóng xây dựng một tăng đoàn gồm 1.250 vị khất sĩ. Một việc không mấy dễ nhưng Ngài đã học hỏi kinh nghiệm để xây dựng. Chúng ta cũng có thể học hỏi để xây dựng một tăng đoàn.

Tất cả chúng ta đều ý thức rằng có khổ, khổ bên trong và khổ bên ngoài. Chúng ta muốn làm một cái gì đó để vơi đi nỗi khổ. Nhưng đôi khi ta cảm thấy bất lực vì nỗi khổ vượt quá khả năng của ta. Ta mệt mỏi và phiền muộn. Đức Thế Tôn khi còn trẻ, Ngài cũng đã như vậy. Ngài nhìn đâu cũng thấy khổ. Ngay cả một vị vua như vua cha của Ngài cũng chẳng thể thực hiện được gì nhiều. Vì vậy Ngài quyết định không nối ngôi làm vua. Ngài tìm cách khác. Động lực thúc đẩy Ngài tìm đường tu hành chính là khát vọng sâu xa làm vơi bớt nỗi khổ của chúng sinh.

Các vị xuất gia cũng như các cư sĩ cũng có động lực như Bụt, muốn vơi bớt nỗi khổ của mình và của thế giới. Nỗi khổ bên trong phản ánh nỗi khổ bên ngoài thế giới. Nếu hiểu được nỗi khổ của mình, ta sẽ hiểu được nỗi khổ của thế giới; nếu chuyển hóa được nỗi khổ của mình, ta có thể giúp chuyển hóa nỗi khổ của thế giới. Và đây chính là điều Đức Thế Tôn đã làm.

Khi tôi còn là một thầy tu trẻ, trong suốt những năm tháng chiến tranh, Việt Nam đã chịu vô cùng thống khổ: hàng triệu người chết – không chỉ binh lính mà cả thường dân, không chỉ người lớn mà cả trẻ em. Khổ đau tràn ngập khắp nơi. Chúng tôi muốn tìm cách giúp kết thúc chiến tranh. Tôi thấy rất rõ rằng nếu chỉ một mình thì chẳng làm được bao nhiêu, phải tập hợp lại thành một tăng thân thì may ra đạt được kết quả.

Ai cũng thấy như vậy. Hành tinh của chúng ta có quá nhiều hiểm nguy, có quá nhiều bạo lực và đau khổ. Nếu để mặc bất lực trấn ngự, bạn sẽ phát điên. Bạn muốn hành động – trước để sống sót và sau để vơi bớt khổ đau. Và cũng như Bụt, chúng ta thấy rằng nếu không có tăng thân, thì chẳng thể làm được gì nhiều. Vì vậy chúng ta tụ họp lại và cùng tăng thân vượt qua mọi thăng trầm, vì chúng ta biết rằng chẳng có cách nào để thoát khỏi tình huống này ngoài việc hoạt động cùng với tăng thân.

So với khổ đau trên thế giới, khổ đau của cá nhân chẳng là bao. Nhận ra như vậy nỗi khổ của riêng ta sẽ được giải tỏa. Khi liên hệ với nỗi khổ của thế giới, ta bớt cô đơn và nỗi khổ của ta sẽ dần tan biến. Một tăng thân có cùng chung một khát vọng, một năng lượng, một ý chí. Nhờ vậy mà có thể đạt được nhiều thành quả. Tôi tin rằng vị Bụt của tương lai sẽ không phải là một cá nhân mà là một tăng thân. Chỉ có một vị Bụt thì không đủ. Phải có một tăng thân.

Chúng ta phải đến với nhau để nuôi dưỡng niềm vui và tình nhân loại. Cùng nhau làm việc, cùng cười, cùng hát, chúng ta xây đắp hạnh phúc, cải thiện thân tâm và nuôi dưỡng khát vọng. Khát vọng càng lớn chúng ta càng có khả năng đối mặt với khó khăn và cùng nhau giúp vơi bớt nỗi khổ trên thế giới.

Chúng ta có được rất nhiều niềm vui khi cùng nhau làm việc như một tăng thân. Niềm vui kết hợp chúng ta và giúp chúng ta kết hợp thế giới. Không có niềm vui từ tình huynh đệ này, chúng ta không thể đi xa. Lòng từ ái không khác tình huynh đệ, hiểu và thương. Nó không phải tình yêu lứa đôi. Tình yêu lứa đôi không đủ. Tình yêu lứa đôi chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Tình huynh đệ là một tình yêu bền vững, nâng đỡ ta và giúp ta thực hiện ước nguyện của đời mình.

Phải ý thức rằng nếu không có tăng thân, không cùng sống trong chân tình, thì không thể giúp chuyển hóa sợ hãi và đau khổ của thế gian. Chúng ta nên thực tập hơi thở để giải tỏa căng thẳng và ôm ấp khổ đau. Khi có cảm giác sợ hãi, tức giận, hay tuyệt vọng, chúng ta phải biết cách thực tập lắng nghe sâu, lắng nghe từ bi và ái ngữ để phục hồi truyền thông. Thực tập giúp chúng ta chuyển hóa đau khổ trong bản thân, trong gia đình, trong cộng đồng và trong thế giới. Nhưng không dễ thực tập nếu không có tăng thân.

Xây dựng tăng thân

Điều đầu tiên cần làm là tìm hiểu hiện trạng và tìm ra những thành viên để xây dựng tăng thân. Phải bắt đầu giống như Đức Thế Tôn. Không đợi khóa tu sau hay kỳ nghỉ hè sau, chúng ta phải tham gia một tăng thân hoặc xây dựng một tăng thân ngay bây giờ. Rồi chúng ta có thể tiếp tục thực tập đi trong chánh niệm, ngồi, thở, nghe chuông trong chánh niệm. Xây dựng tăng thân là một việc rất quan trọng và cao cả. Mỗi người chúng ta nên để tâm xây dựng tăng thân càng sớm càng tốt, một tăng thân đích thực, một cộng đồng có thể chế tác tình huynh đệ, sự an bình và năng lượng chánh niệm.

Nếu không có tăng thân ở gần hay thích hợp thì hãy xây dựng một tăng thân trong nhà bạn, trong thành phố của bạn, và tạo ra một nơi nương tựa cho bạn, con cái, bạn bè, gia đình bạn. Năng lượng tập thể mạnh hơn năng lượng cá nhân và nếu bạn biết cách lợi dụng năng lượng này, bạn sẽ đủ sức mạnh để điều phục cảm xúc và không bị đau khổ nhấn chìm.

Khi ném một hòn đá xuống sông hòn đá dù rất nhỏ cũng chìm. Nhưng một con thuyền có thể chở nhiều tảng đá nặng. Cũng vậy, chỉ một mình, bạn sẽ chìm xuống dòng sông đau khổ, nhưng nếu có một tăng thân nâng đỡ và ôm ấp, thì bạn sẽ thoát nạn. Nhiều người đã được lợi lạc rất lớn từ năng lượng tập thể của tăng thân. Nếu thấy rằng tăng thân là vô cùng quý giá và cần thiết cho sự thực tập thì hãy hết sức cố gắng tìm đến một nhóm người (một tăng thân) để cùng thực tập và mọi người đều sẽ được lợi lạc. Tăng thân ấy là thuyền cứu mạng của bạn.

Nếu thực tập tốt, bạn trở thành nơi nương tựa cho chính mình và những người thân yêu. Nếu bạn biến gia đình bạn thành một tăng thân thì những người khác có thể đến và nương tựa nơi gia đình bạn. Nếu bạn có thể tập hợp một vài gia đình, tạo thành một tăng thân, và nếu nhóm bạn thực tập tốt, nó trở thành nơi nương tựa cho nhiều người khác. Ở trong tăng thân, chúng ta như những giọt nước của một dòng sông. Tăng thân ôm ấp và chuyên chở, nhận diện và chuyển hóa khổ đau.

Biến nỗi sợ thành tình yêu

Chúng ta sợ nhiều thứ – sợ chết, sợ mất đi người thân yêu, sợ thay đổi, sợ cô đơn. Thực tập chánh niệm giúp ta bình an, không lo sợ, trọn vẹn hạnh phúc và giải thoát ngay bây giờ và ở đây. 

Buồn bã, sợ hãi và phiền muộn giống như những cọng rác. Những thứ rác này là một phần của cuộc sống thực tại và ta phải nhìn sâu vào bản chất của chúng. Ta thực tập để biến chế rác. Không nên vứt đi bất cứ gì. Điều phải làm là học nghệ thuật biến rác thành hoa. Theo giáo lý của đạo Bụt, tất cả những tạo tác của tâm trí – từ bi, tình yêu, sợ hãi, buồn bã, và tuyệt vọng – về bản chất đều có tính hữu cơ, nghĩa là có thể chuyển hóa. Chúng ta không phải sợ vì chúng luôn luôn có thể chuyển hóa. Chỉ cần nở nụ cười và thở hơi thở chánh niệm là ta có thể bắt đầu chuyển hóa nỗi sợ. 

Khi cảm thấy sợ hãi, bực bội, hay phiền muộn, ta ghi nhận là chúng có mặt và thực tập những linh chú dưới đây. Linh chú là một câu nói có năng lực siêu nhiên, khi được nói lên có thể thay đổi toàn bộ tình hình. Nó có thể thay đổi chúng ta và thay đổi người khác. Nhưng câu nói có năng lực siêu nhiên này phải được nói ra khi tâm trí tập trung, khi thân và tâm hợp nhất. Khi thân tâm hợp nhất thì điều gì nói ra đều trở thành linh chú. 

Tôi xin chia sẻ bốn linh chú này để giúp bạn thực tập quay về, thực tập thực sự có mặt cho bản thân và những người thân yêu, giải phóng nỗi sợ, trau dồi tình yêu đích thực, và phục hồi truyền thông. Những linh chú này rất hiệu quả trong việc tưới tẩm hạt giống bên trong ta và bên trong những người thương, cũng như chuyển hóa sợ hãi, đau khổ và cô đơn.

Linh chú hiến tặng sự có mặt

Món quà quý giá nhất mà bạn có thể trao cho người thương là sự có mặt đích thực. Vì vậy, linh chú đầu tiên rất đơn giản: “Em ơi, tôi đang có mặt đây cho em”. 

Trong cuộc sống hằng ngày, phần lớn chúng ta có rất ít thời gian để xây đắp yêu thương. Chúng ta quá bận rộn. Khi ăn sáng, ta không dành được một vài phút để nhìn người thân. Chúng ta ăn nhanh trong khi suy nghĩ về những việc khác, có lúc còn cầm một tờ báo chắn mất khuôn mặt của mọi người. Đến tối về nhà, chúng ta quá mệt mỏi và không thể nhìn người thân.

Khi yêu ai thì điều tuyệt vời nhất là hiến tặng sự có mặt của mình. Làm sao ta có thể yêu thương nếu ta không có mặt ở đó? Hãy trở lại tự thân, nhìn vào mắt người thương trước mặt và nói: “Em ơi, em biết gì không? Anh đang có mặt đây cho em”. Ta hiến tặng cho người ta thương sự có mặt của ta. Không nên bận tâm với quá khứ hay tương lai, hãy có mặt cho người ta thương. Phải nói linh chú này bằng cả tâm và thân, khi đó ta sẽ thấy sự chuyển hóa.

Linh chú công nhận người thương

Linh chú thứ hai là “Em ơi, tôi biết là em ở đó và tôi rất hạnh phúc”.

Có mặt là bước đầu tiên và công nhận sự có mặt của đối phương là bước thứ hai. Do có mặt trọn vẹn nên ta nhận ra rằng sự có mặt của người thương là vô cùng quý giá. Hãy ôm ấp người thương bằng chánh niệm và người đó sẽ bung nở như một bông hoa. Được thương nghĩa là phải được công nhận sự có mặt.

Hai linh chú đầu tiên có thể mang lại hạnh phúc ngay lập tức, dù cho người bạn thương không ở đó. Bạn có thể gọi điện thoại hay gửi thư điện tử để nói với họ: “Em ơi, tôi biết là em ở đó và tôi rất hạnh phúc”. Đây là thiền tập đích thực. Trong phép thiền này có thương yêu, từ bi, niềm vui, và tự do – bốn yếu tố của tình yêu đích thực theo lời dạy của Đức Thế Tôn.

Linh chú làm vơi bớt khổ đau

Thực tập linh chú thứ ba khi người bạn thương đau khổ: “Em ơi, tôi biết em đang đau khổ, vì vậy mà tôi có mặt ở đây cho em”.

Cho dù chưa giúp được gì nhưng sự có mặt chân tình cũng đã làm vơi bớt khổ đau rồi. Vì khi đau khổ, ai cũng rất cần sự có mặt của người thương bên mình. Nếu đau khổ mà người ta thương lờ đi thì không gì đau khổ hơn. Nên điều ta có thể làm là – ngay lập tức – biểu lộ sự có mặt đích thực của mình và nói lên câu linh chú trong chánh niệm: “Em ơi, tôi biết em đang đau khổ, vì vậy mà tôi có mặt đây cho em”. Chỉ vậy thôi là người ta thương đã bớt khổ đi rồi.

Có mặt là một phép mầu, hiểu nỗi khổ, niềm đau của người ta thương là một phép mầu và ta có thể hiến tặng phép mầu này bất cứ lúc nào. Hãy cố gắng có mặt, vì chính bạn, vì sự sống, vì người bạn thương. Hãy công nhận sự có mặt của những người sống cùng bạn và cố gắng có mặt khi họ đau khổ, bởi sự có mặt của bạn vô cùng quý giá đối với họ.

Linh chú khi cần được giúp đỡ

Linh chú thứ tư khó hơn một chút: “Em ơi, anh đang khổ, xin hãy giúp anh”.

Linh chú này được sử dụng khi ta đau khổ và tin rằng người ta thương đã làm ta khổ. Nếu là do một người khác thì ta đã không đau khổ như thế. Nhưng đây là người mà ta thương nhất, nên ta vô cùng đau khổ và ta quyết không muốn tìm đến người đó để xin giúp đỡ. Ta vào phòng, khóa cửa lại và khóc một mình. Vì tự ái ta không muốn hòa giải và hàn gắn. Nhưng theo giáo lý đạo Bụt, tình yêu đích thực không có lòng tự ái.

Khi người ta thương làm ta đau khổ, ta phải đến gặp và nhờ người đó giúp đỡ. Đây là tình yêu đích thực. Đừng để lòng tự ái tạo chia rẽ. Phải vượt qua tự ái. Phải gặp người đó. Đây là mục đích của linh chú thứ tư. Hãy thực tập với chính mình trước, để cho thân tâm hợp nhất rồi mới đến gặp người đã làm ta khổ và nói: “Em ơi, anh đang khổ, xin hãy giúp anh”. Việc này vừa rất dễ lại vừa rất khó.

Bắt đầu từ bản thân

Bốn linh chú trên có tác dụng loại bỏ sợ hãi, nghi ngờ và xa cách. Chúng không phức tạp hay khó hiểu. Và chúng ta không phải nói bằng tiếng Sanskrit hay tiếng Trung – nói tiếng Việt là được. Nên học thuộc lòng và phải có can đảm, trí tuệ, cùng niềm vui để thực tập. Thực tập chánh niệm, hay thiền định, tức là quay trở về với bản thân để khôi phục bình an và hòa hợp. Năng lượng chánh niệm giúp ta thực tập bốn linh chú trên, đồng thời cũng giúp cho niệm, định và tuệ. Nếu quay trở về với bản thân để khôi phục bình an và hòa hợp thì việc giúp người kia cũng như khôi phục truyền thông sẽ dễ hơn nhiều. Chăm sóc tự thân, thiết lập tâm bình an là điều kiện cơ bản để giúp người khác không tạo khổ đau cho chính mình và cho người khác. Một khi bạn biết cách gỡ bom bên trong bạn thì bạn sẽ biết cách giúp bạn của mình gỡ bom bên trong họ. Ít nhất bạn cần có một chút bình tĩnh, an vui, và từ bi. Được như thế là nhờ thực tập chánh niệm hằng ngày, không chỉ thực tập trong thiền đường mà còn thực tập trong bếp, trong vườn, khi nói điện thoại, lái xe hay rửa bát. Mỗi ngày, trong tất cả các hoạt động thường ngày hãy thực tập có mặt với những mầu nhiệm của đất trời. 

Bầu trời xanh trên đám mây

Trong xã hội chúng ta đang sống, có quá nhiều sợ hãi, đau khổ, bạo lực, tuyệt vọng và hoang mang. Nhưng cũng có bầu trời xanh tuyệt đẹp. Đôi khi màu xanh của bầu trời hiển lộ trọn vẹn; đôi khi, chỉ hiển lộ một nửa; có lúc chỉ có vài đốm và có lúc thì chẳng có gì. Bão, mây và sương mù che khuất bầu trời xanh. Thiên đàng có thể bị đám mây của vô minh hoặc cơn bão của giận dữ, của bạo lực, sợ hãi che khuất. Nhưng nhờ chánh niệm ta có thể nhận ra rằng ngay cả khi sương mù, âm u hay bão tố dày đặc thì bầu trời xanh vẫn luôn có đó, phía trên những đám mây. Ý thức như thế chúng ta sẽ không bị chìm ngập vì tuyệt vọng.

Theo Thánh kinh Hebrew, khi rao giảng tại xứ Judea, Thánh John đã khuyên mọi người sám hối vì “Nước Chúa đang đến gần”. Tôi hiểu sám hối có nghĩa là dừng lại. Ngài muốn chúng ta dừng lại bạo lực, thèm khát và thù hận. Sám hối lại có nghĩa là thức tỉnh và nhận ra rằng nỗi sợ, cơn giận, thèm khát đang che khuất bầu trời xanh. Sám hối cũng có nghĩa là bắt đầu lại. Chúng ta thừa nhận sai trái của mình và tắm mình trong suối nguồn tâm linh mát lành để thương yêu người hàng xóm như yêu thương chính chúng ta. Chúng ta cam kết buông bỏ oán giận, thù ghét và ngã mạn. Chúng ta bắt đầu lại với một tâm thức tươi mới, một trái tim tươi mới, quyết tâm sống tốt hơn. Sau khi được Thánh John rửa tội, Chúa Jesus cũng đã dạy như thế. Giáo lý này hoàn toàn phù hợp với giáo lý đạo Bụt.

Nếu biết cách chuyển hóa tuyệt vọng, bạo lực và sợ hãi thì bầu trời xanh bao la của tự do sẽ hiển lộ. Trong khoảnh khắc hiện tại ta có thể tìm thấy tất cả, Tịnh Độ, Nước Chúa và Phật tính. Chúng ta có thể tiếp xúc Nước Chúa ngay tại đây, bằng mắt, bằng chân, tay và bằng tâm trí. Khi không bị xao lãng, khi thân và tâm hợp nhất, thì chỉ cần bước một bước là bạn vào được Nước Chúa. Khi có chánh niệm, khi có tự do thì bất cứ gì dù là ngọn lá sồi hay bông tuyết, đều ở trong Nước Chúa. Tiếng chim hót hay tiếng gió xào xạc, tất cả đều thuộc về Nước Chúa.

Điều kiện cơ bản để tiếp xúc với Nước Chúa là tự do, là không sợ hãi, không tuyệt vọng, không giận dữ, và không ham muốn. Chánh niệm giúp ta thấy có đám mây, sương mù, và cơn bão. Nhưng nó cũng giúp ta thấy có bầu trời xanh phía trên đám mây, sương mù và cơn bão. Chúng ta có đủ thông minh, can đảm, và vững chãi để giúp bầu trời xanh hiển lộ.

Có người hỏi tôi: “Tôi có thể làm gì để giúp Nước Chúa hiển hộ?” Đây là một câu hỏi rất thực tế. Không khác gì khi hỏi: “Tôi có thể làm gì để giảm bớt bạo lực, sợ hãi đang tràn ngập cộng đồng và xã hội?”, một câu hỏi của nhiều người.

Bước một bước trong bình an, vững chãi và tự do là xóa tan bầu trời tuyệt vọng. Hàng trăm người cùng đi trong chánh niệm, cùng chế tác năng lượng vững chãi, bình an, tự do, và hạnh phúc là góp phần xây dựng xã hội. Nhìn người khác bằng đôi mắt từ bi, cười với người khác trong cảm thông là giúp cho Nước Chúa hiển lộ. Thở vào thở ra trong chánh niệm là giúp cho Tịnh Độ hiển lộ. Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi khoảnh khắc chúng ta đều có thể giúp cho Nước Chúa hiển lộ, cho cõi Tịnh Độ hiển lộ. Đừng chìm đắm trong tuyệt vọng. Bạn có thể cống hiến mỗi giây, mỗi phút cho cuộc sống.

Một tăng thân, nhờ thực tập chánh niệm và từ bi, sẽ hoạt động vô cùng hữu hiệu. Là một thành phần của tăng thân, ta có được nhiều niềm vui và có thể thoát khỏi tuyệt vọng. Tuyệt vọng là một căn bệnh lớn của thế kỷ. Một mình đơn độc ta dễ bị thương tích và sợ hãi. Một cá nhân là một giọt nước và sẽ bốc hơi trước khi tới biển cả, trong khi đó một tăng thân như là một dòng sông chắc chắn sẽ ra đến biển cả. Có tăng thân đi cùng, hỗ trợ và nhắc ta rằng bầu trời xanh vẫn có đó, ta sẽ không bao giờ mất niềm tin và sẽ không còn sợ hãi. Dù là người lãnh đạo chính trị hay lãnh đạo kinh doanh, dù là công nhân, giáo viên, hay là cha mẹ, ta đều có thể tự nhắc rằng bầu trời xanh luôn có đó cho ta. Tất cả chúng ta cần một cộng đồng, một tăng thân để khỏi bị chôn vùi trong tuyệt vọng.

Tăng thân là một cơ thể

Xây dựng tăng thân là việc quan trọng nhất của thế kỷ. Chúng ta đã đau khổ như là những cá nhân. Vì chủ nghĩa cá nhân mà gia đình tan vỡ, mà xã hội phân chia. Để cho thế kỷ hai mươi mốt này là một thế kỷ của tâm linh, chúng ta phải học theo tinh thần “đồng sự”. Phải cùng nhau cộng tác, cùng nhau chia sẻ ý tưởng và khát khao sâu kín. Phải học cách xem tăng thân như là cơ thể của chính mình. Chúng ta cần có nhau để thực tập vững chãi, tự do, và từ bi, để nhắc nhau rằng luôn luôn còn có hy vọng.

Cùng thực tập với tăng thân, cùng ngồi thiền, chúng ta sẽ có sức mạnh. Ngoài đời, người ta chế tác thực phẩm, vật dụng, công nghệ, cùng nhiều thứ khác. Trong tăng thân, chúng ta cũng chế tác. Chúng ta chế tác năng lượng bình an, chánh niệm. Muốn mua thực phẩm hay vật dụng, ta chỉ cần ra siêu thị. Nhưng để chế tác năng lượng chánh niệm, chúng ta cần một tăng thân cùng đi, cùng ngồi, cùng sống vui vẻ và bình an. 

Để được như thế, ta cần thực tập. Mời bạn để tâm suy nghĩ kỹ về việc phải xem thực tập chánh niệm như một cách tuyệt vời để cung cấp thực phẩm tâm linh cho bản thân và cộng đồng. Bạn có thể nuôi dưỡng thế giới bằng nguồn năng lượng đó. Khi bạn thấy rằng thực tập chánh niệm nuôi dưỡng thế giới, bạn sẽ cảm thấy vui, bởi bạn đã thực sự sống và có mặt cho sự sống.

Truyền thông giúp ta được an toàn

Nếu muốn an toàn, chúng ta phải xây dựng. Ta xây dựng an toàn bằng những gì? Pháo đài, bom đạn, vũ khí không xóa tan được nỗi sợ hãi; trái lại còn làm tăng sợ hãi. Nước Mỹ có quân đội hùng mạnh và vũ khí tối tân nhất trên thế giới, nhưng người Mỹ không cảm thấy an toàn. Họ rất sợ hãi và cảm thấy mong manh. Vì vậy chắc hẳn phải có một cách nào khác – một nơi nương tựa để thực sự cảm thấy an toàn. Phải học cách xây dựng an toàn bằng hơi thở chánh niệm, bước chân, lời nói, hành động chánh niệm và nỗ lực thiết lập truyền thông.

Bạn không thể cảm thấy an toàn nếu không thiết lập truyền thông tốt với những người xung quanh. Bạn không thể cảm thấy an toàn khi người khác nhìn bạn một cách thiếu thân thiện, thiếu từ bi. Cách bạn nói, cách bạn ngồi, cách bạn đi chứng tỏ cho đối phương thấy rằng họ sẽ an lòng khi gần bạn vì bạn đến với họ trong hòa bình. Bạn tạo ra lòng tin. Phong thái bình an và từ bi của bạn giúp đối phương cảm thấy an toàn và sẽ đến với bạn với tâm từ bi hiểu biết, và bạn sẽ cảm thấy an toàn hơn. An toàn không phải là một vấn đề cá nhân. Giúp người khác cảm thấy an toàn là cách tốt nhất để bảo đảm sự an toàn của mình.

Đất nước của bạn an toàn vì bạn giúp những nước khác cảm thấy an toàn khi liên hệ với nước bạn. Muốn an toàn, nước Mỹ phải chăm lo cho sự an toàn của cả các quốc gia khác. Nếu muốn an toàn, nước Anh phải nghĩ đến sự an toàn của những nhóm người khác. Bất kỳ ai cũng có thể là nạn nhân của bạo lực và khủng bố. Chẳng nước nào là ngoại lệ. Rõ ràng là cảnh sát, quân đội, hay vũ khí cũng không thể thực sự bảo đảm an toàn. Có lẽ điều đầu tiên mà ta phải làm là nói: “Này bạn ơi, tôi ý thức bạn muốn sống bình an. Tôi cũng muốn sống bình an, vậy thì tại sao chúng ta không cùng nhau hợp tác?” Đây là một việc rất đơn giản – ấy vậy mà chúng ta vẫn chưa làm được.

Truyền thông là một thực tập. Chúng ta sống trong một thời điểm có quá nhiều phương tiện truyền thông – thư điện tử, điện thoại, tin nhắn, Twitter, Facebook – song vẫn còn quá khó để cá nhân, hội đoàn và quốc gia truyền thông với nhau. Dường như chúng ta không thể sử dụng lời nói nên cuối cùng chúng ta dùng bom đạn. Khi không thể truyền thông bằng lời nói và phải dùng đến bom đạn, nghĩa là chúng ta đã tuyệt vọng.

Chúng ta phải học cách truyền thông. Nếu ta chứng tỏ cho đối phương thấy rằng họ không có gì phải sợ thì cả hai bên có thể bắt đầu tin tưởng lẫn nhau. Ở các nước châu Á, mọi người thường chào nhau bằng cách cúi đầu và chắp tay lại thành búp sen. Ở phương Tây, khi gặp nhau, mọi người thường bắt tay. Tôi biết được rằng phong tục này bắt nguồn từ thời Trung cổ, lúc mà mọi người còn nỗi sợ với nhau. Mỗi lần gặp nhau, họ muốn cho thấy rằng họ không mang theo vũ khí.

Giờ đây chúng ta phải hành động như họ. Bằng hành động, chúng ta nói: “Bạn thân mến, tôi không có vũ khí, bạn thấy không? Bạn có thể tự mình kiểm soát. Tôi vô hại.” Đây là một cách thực tập để xây dựng lòng tin. Với lòng tin và truyền thông, đối thoại có thể bắt đầu. Kể từ sau sự kiện 11/9 ở Mĩ, chúng ta đã chi hàng tỷ đô la nhưng chỉ tạo thêm bạo lực, thù ghét, và sợ hãi. Chúng ta không loại bỏ được sợ hãi, thù ghét, và oán giận, dù là ở bên ngoài như các vụ khủng bố, hay, quan trọng nhất, ở bên trong tâm trí chúng ta. Đây là lúc cần phải quán chiếu và tìm ra một phương thức tốt hơn để tạo lập hòa bình cho bản thân và thế giới. Chỉ khi thực tập lắng nghe sâu và truyền thông cởi mở, chúng ta mới có thể loại bỏ nhận thức sai lầm, nền tảng của sợ hãi, thù ghét, và bạo lực. Không thể nào loại bỏ nhận thức sai lầm bằng một khẩu súng.

Chuyển hóa nỗi sợ xung quanh ta

Nhiều người thường hành động vì sợ hãi, sợ quá khứ hoặc sợ hiện tại. Họ gieo rắc hạt giống sợ hãi đó cho những người xung quanh và cả cho xã hội. Họ tạo nên một “văn hóa sợ hãi”. Khi nỗi sợ xuất hiện khiến cho ta bực bội, lo lắng; trước nhất, ta cần ghi nhận nỗi sợ đó. Nhận diện và ôm ấp thay vì để cho lo sợ khống chế. Khi mà mọi người xung quanh đều lo sợ và hành động theo lo sợ thì ai cũng khao khát được bình an.

Đôi khi, chúng ta ưa cười nhạo khi người khác lo sợ vì họ nhắc ta nhớ đến nỗi sợ của chính ta. Chúng ta đã được dạy rằng hãy nhắm mắt làm ngơ với nỗi sợ. Làm thế nào để có thể buông bỏ lo sợ, làm chủ cơn giận và xua tan bạo lực trong ta? Thực tập chánh niệm và nhìn sâu là câu trả lời.

Sợ khủng bố

Ngày nay, đi máy bay, chúng ta thấy ai cũng khả nghi. Ta sợ rằng ai đó có thể là tên khủng bố. Bất kỳ ai cũng có thể mang bom hoặc chất nổ.

Hành khách phải đi qua máy quét điện tử. Người này sợ người kia và sợ tất cả mọi thứ. Kể cả khi mặc áo nhà sư như tôi, bạn cũng sẽ bị quét hoặc khám xét, không trừ ai. Bầu không khí sợ hãi ngày càng lan tỏa. Chúng ta không biết cách xử lý nỗi khổ ấy. Có quá ít người biết cách buông bỏ lo sợ.

Chúng ta muốn trả thù, muốn trừng phạt những người làm chúng ta khổ. Ta nghĩ khi làm vậy ta sẽ bớt khổ. Khi mang chất nổ lên máy bay hoặc xe buýt để tất cả đều chết, kẻ khủng bố chỉ muốn trừng phạt. Ý muốn đó phát sinh ra từ đau khổ của chính anh ta. Vì không biết cách xử lý nỗi khổ, anh ta đã giải tỏa nỗi khổ bằng cách trừng phạt người khác.

Đức Thế Tôn nói: “Ta đã nhìn sâu vào trong tâm ý của những người không có hạnh phúc và ta đã thấy một mũi dao nhọn được che giấu dưới những niềm thống khổ của họ. Vì chính họ không thấy mũi dao nhọn ấy trong tâm cho nên họ khó có khả năng chịu đựng được niềm đau.” 

Nỗi sợ bị chôn sâu trong trái tim, con dao sắc được giấu dưới nhiều lớp. Con dao sắc đó khiến bạn hành xử không tốt đẹp. Bạn không nhìn thấy con dao hay mũi tên ở trong trái tim bạn, nhưng nó khiến bạn gây đau khổ cho người khác.

Bạn có thể học cách nhận ra con dao bên trong bạn. Một khi đã phát hiện và loại bỏ con dao trong tim bạn thì bạn có thể giúp người khác tìm ra và loại bỏ con dao trong tim họ. Nỗi đau do con dao đó gây ra đã tồn tại một thời gian dài. Nếu cứ ôm giữ nó thì nỗi đau sẽ tiếp tục đến mức bạn muốn trừng phạt những người bạn nghĩ là đã gây nên đau khổ cho bạn.

Một cuộc cách mạng của từ bi

Chúng ta đều mang trong lòng nỗi sợ ban sơ, nhưng không chỉ lo sợ như là một cá nhân. Nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới cũng đang đầy sợ hãi, đau khổ và thù hận. Để dịu đi nỗi khổ, chúng ta phải quay trở về với tự thân để hiểu tại sao ta lại bị mắc kẹt trong quá nhiều bạo lực và sợ hãi. Nguyên nhân nào khiến cho những kẻ khủng bố thù ghét đến mức sẵn sàng hy sinh mạng sống để làm cho người khác đau khổ? Vì có sự bất công. Tất nhiên chúng ta phải tìm cách chấm dứt bạo lực, phải tách riêng những người gây nguy hiểm cho người khác. Nhưng chúng ta cũng cần nêu lên câu hỏi: “Chúng ta chịu trách nhiệm gì cho những bất công trên thế giới?”

Chúng ta không thích sợ hãi. Thông thường, nếu ta ôm chặt nỗi sợ thì nỗi sợ sẽ biến thành cơn giận. Ta giận rằng mình sợ. Ta giận tất cả những người hoặc những thứ đã gây nên nỗi sợ cho ta. Một số người dành cả đời để trả thù những người hoặc những thứ mà họ nghĩ đã gây nên đau khổ cho họ. Động lực này chỉ có thể mang đến đau khổ, không chỉ cho người khác mà còn cho chính họ.

Thù ghét, giận dữ, và sợ hãi là những ngọn lửa bùng cháy mà chỉ có lòng từ bi mới dập tắt được. Nhưng tìm từ bi ở đâu? Từ bi không có bán ở siêu thị. Từ bi được tạo ra bằng sự thực tập.

Đôi khi người ta thương – con cái, vợ chồng, hoặc bố mẹ – đã nói hoặc làm những điều khiến chúng ta bị tổn thương. Ta nghĩ chỉ mình mới khổ. Nhưng người kia cũng đang khổ. Nếu người đó không khổ thì đã không gây tổn thương cho ta. Người ta thương đã không biết cách chuyển hóa nỗi khổ của mình và đổ tất cả sợ hãi và giận dữ lên ta. Chúng ta cần tạo ra năng lượng từ bi. Năng lượng từ bi trước tiên sẽ làm dịu trái tim ta và sau đó giúp người khác. Nếu chúng ta trừng phạt người kia, người đó sẽ chỉ càng thêm đau khổ và vòng luẩn quẩn sẽ tiếp diễn.

Dùng bạo lực để đáp trả bạo lực chỉ tạo thêm bạo lực, bất công, và đau khổ – không chỉ cho những người ta muốn trừng phạt mà cho cả chính ta. Tuệ giác này có sẵn trong mỗi chúng ta. Khi thở sâu, chúng ta có thể chạm vào hạt giống tuệ giác này trong ta. Tôi tin rằng nếu ta nuôi dưỡng năng lượng tuệ giác và từ bi trong tất cả mọi người dù chỉ một tuần cũng có thể giảm mức độ sợ hãi, giận dữ và thù ghét trên thế giới. Tôi kêu gọi tất cả hãy thực tập bình tĩnh và tập trung tâm trí, tưới tẩm hạt giống trí tuệ và từ bi vốn đã có sẵn trong ta, đồng thời học nghệ thuật tiêu thụ chánh niệm. Được như thế thì chúng ta sẽ tạo ra một cuộc cách mạng hòa bình đích thực. Một cuộc cách mạng duy nhất có thể giúp chúng ta thoát khỏi tình thế khó khăn hiện nay.

Hạt giống khủng bố

“Khủng bố” ở khắp mọi nơi, không chỉ là những người làm nổ tung xe buýt hoặc khu chợ. Khi cư xử bạo lực và giận dữ, thì ta cũng không khác gì những kẻ khủng bố mà ta coi là ác quỷ, vì ta cũng đang mang trong trái tim con dao của giận dữ, tàn bạo. Vì thiếu chánh niệm, chúng ta đã nói những lời làm tổn thương, gây đau khổ cho người khác. Đây cũng là một dạng khủng bố. Nhiều người nói những lời tổn thương với trẻ em. Con dao thương tổn đó có thể sẽ xoáy sâu vào trái tim những đứa trẻ suốt cả cuộc đời còn lại. Trong gia đình, trong xã hội, trên hành tinh này, cứ mỗi ngày trôi qua chúng ta đã tạo thêm biết bao người với con dao trong tim. Kết quả là họ đã áp đặt khổ đau và giận dữ của họ lên gia đình, xã hội, và thế giới của họ.

Lắng nghe với tâm từ bi

Phần nhiều nỗi khổ của chúng ta là do nhận thức sai lầm. Chúng ta phải loại bỏ nhận thức sai lầm. “Tôi thấy anh ấy hoặc cô ấy làm điều này, điều nọ.” Nhưng có thể sự thật không phải như thế. Có nhiều điều đằng sau mà tôi không biết. Tôi cần lắng nghe anh ấy hoặc cô ấy nhiều hơn, để hiểu rõ hơn.” Những người mà ta nghĩ là đã gây nên đau khổ cho ta cũng có thể có nhận thức sai lầm về ta. Khi cố gắng lắng nghe câu chuyện từ cả hai phía thì bạn sẽ hiểu rõ và bớt gây tổn thương cho nhau.

Việc đầu tiên là thừa nhận rằng những gì mà ta tưởng tượng, và nghĩ là đã xảy ra, có thể là không chính xác. Hãy thực tập hơi thở chánh niệm và thiền hành cho đến khi bình tĩnh và yên lắng để nhận rõ những gì đã xảy ra.

Việc thứ hai là nói với người đã gây tổn thương cho ta rằng ta đang khổ và ý thức rằng nỗi khổ của ta có thể do nhận thức sai lầm. Thay vì buộc tội, ta có thể yêu cầu người ấy giúp ta giải thích để ta hiểu được tại sao mà họ đã nói hoặc làm những điều đó.

Việc thứ ba rất khó, có lẽ là khó nhất. Chúng ta cần lắng nghe thật cẩn thận câu trả lời của đối phương để thực sự hiểu và cố gắng sửa lại nhận thức của mình. Nhờ đó, ta có thể thấy rằng ta là nạn nhân của nhận thức sai lầm của chính ta. Và rất có thể người kia cũng là nạn nhân của nhận thức sai lầm của ta.

Lắng nghe sâu và nói lời ái ngữ giúp ích rất nhiều. Nhờ lắng nghe sâu và nói lời ái ngữ chúng ta có thể tạo truyền thông tốt đẹp và hiểu được sự thật. Nếu thật tâm muốn tìm hiểu, biết lắng nghe sâu và nói lời ái ngữ, ta sẽ tạo cảm thông cũng như hiểu rõ tâm ý người khác. Từ đó ta có thể khám phá ra rằng họ cũng có những nhận thức sai lầm. Sau khi lắng nghe họ hết lòng, ta có thể giúp họ chuyển đổi nhận thức sai lầm của chính họ. Xử lý như thế, chúng ta có cơ hội chuyển hóa nỗi sợ và cơn giận của ta và tạo cơ hội cho mối quan hệ được sâu sắc và chân thật hơn.

Trái tim là một nhịp cầu

Khi không còn bị căm giận và nghi kỵ chế ngự thì trái tim bạn trở thành một nhịp cầu nối kết. Nếu bạn cởi bỏ tâm chấp chặt, ham muốn, và sợ hãi thì bạn có thể nhìn thấy bến bờ bên kia, bến bờ giải thoát. Chúng ta phải hành động với lòng từ ái vì khi bị thù ghét và giận dữ trấn ngự ta không thể giải quyết bất cứ gì. Không thể nào loại bỏ bạo lực và sợ hãi bằng thù ghét và giận dữ. Chỉ bằng từ bi và yêu thương mà ta có thể loại bỏ bạo lực và sợ hãi.

Trước hết hãy nói: “Bạn thân mến, có một con dao sắc trong tim tôi. Tôi muốn lấy nó ra.”

Nếu người kia nhận lời, muốn lắng nghe và bắt đầu chia sẻ thì bạn hãy sẵn sàng lắng nghe sâu với tâm từ bi. Hãy lắng nghe trong chánh niệm và tập trung. Khao khát duy nhất của bạn là cho đối phương một cơ hội để giãi bày. Lắng nghe sâu, với tâm từ là giúp người kia có cơ hội nói ra những điều mà họ chưa bao giờ có cơ hội hoặc can đảm để nói, bởi vì chưa từng có ai lắng nghe họ một cách sâu sắc. 

Ban đầu, lời nói của họ có thể lên án, nói lời cay đắng và đổ lỗi. Hãy cố gắng tiếp tục ngồi yên và lắng nghe. Lắng nghe như vậy là cho họ cơ hội hàn gắn khổ đau và chuyển đổi nhận thức sai lầm. Nếu chen ngang, phủ nhận, hoặc cãi lại, bạn sẽ cắt đứt truyền thông và hòa giải. Lắng nghe sâu cả khi lời họ chứa đầy nhận thức sai lầm và bất công. Lắng nghe người khác sâu sắc, bạn không chỉ nhận ra nhận thức sai lầm của người ấy mà còn nhận ra nhận thức sai lầm của bạn về chính bản thân bạn và về người kia. Khi đôi bên đã bình tĩnh và người kia đã cảm thấy tin tưởng bạn hơn, bạn có thể chậm rãi và khéo léo giải thích nhận thức sai lầm của họ. Bằng ái ngữ, bạn chỉ cho họ biết là họ đã hiểu lầm bạn hoặc hiểu lầm tình huống như thế nào. Bằng ái ngữ, bạn cũng có thể giúp người kia hiểu những khó khăn của bạn. Bạn và người kia có thể giúp nhau giải tỏa nhận thức sai lầm vốn là nguồn cơn của tất cả giận dữ, thù ghét và bạo lực.

Nối lại truyền thông

Mục đích của lắng nghe sâu và nói lời ái ngữ là để nối lại truyền thông. Khi truyền thông đã được nối lại thì mọi vấn đề, kể cả hòa bình và hòa giải có thể giải quyết. Tôi đã thấy nhiều cặp vợ chồng thành công trong việc thực tập lắng nghe sâu và nói lời ái ngữ để hàn gắn quan hệ khó khăn hay đổ vỡ. Nhờ thực tập lắng nghe sâu với tâm từ bi và nói lời ái ngữ, nhiều cặp cha con, mẹ con, vợ chồng đã khôi phục lại hòa bình và hạnh phúc. Các nhà lãnh đạo của các quốc gia cũng có thể hòa giải bằng lắng nghe từ bi và nói lời ái ngữ. Trong một tình huống khó khăn, chúng ta không phải là bên duy nhất chịu khổ đau. Đối phương cũng khổ đau và chúng ta chịu trách nhiệm một phần nào đó về nỗi khổ của họ. Khi nhận ra điều này, chúng ta có thể nhìn vào đối phương bằng đôi mắt từ bi, để cho cảm thông bừng nở. Khi có cảm thông thì tình huống thay đổi và truyền thông tái lập. Bất kỳ tiến bộ thật sự nào về hòa giải đều phải bắt đầu từ chính chúng ta, hay trong tập thể, trong dân tộc chúng ta. Không nên tiếp tục đổ lỗi cho đối phương. Chúng ta phải biết hòa giải tự thân trước khi giúp cho bất kỳ một ai khác được hòa giải.

Bình yên trong cơn bão

Mỗi khi cảm thấy sợ hãi, giận dữ, hay ghen tị chúng ta có thể chăm sóc những năng lượng tiêu cực ấy mà không nhất thiết phải tạo bất kỳ mâu thuẫn nào bên trong ta. Chỉ nên nỗ lực chăm sóc và chuyển hóa. Không nên sử dụng bạo lực để trấn áp nỗi khổ, niềm đau và lo sợ.

Những cảm xúc mạnh như nỗi sợ hãi hay tuyệt vọng có thể áp đảo chúng ta. Nhưng nhờ thực tập, nhờ chánh niệm, ta có thể ôm ấp những cảm xúc ấy trong ta. Nếu ngày nào chúng ta cũng thực tập tưới tẩm hạt giống chánh niệm khi đi, khi ngồi, khi thở, khi cười là chúng ta đang chế tác năng lượng chánh niệm. Bất cứ khi nào cần năng lượng chánh niệm, ta chỉ cần chạm vào hạt giống đó thì ngay lập tức năng lượng chánh niệm sẽ phát khởi và ôm ấp cảm xúc của ta. Chỉ cần thành công một lần là ta sẽ có thêm bình an và lần sau, khi cảm xúc mạnh xuất hiện, ta sẽ bớt sợ hãi.

Gặp lúc lo sợ

Giả sử bạn có niềm đau, nỗi khổ, hoặc lo sợ ở sâu trong lòng. Nhiều người trong chúng ta không dám nhìn thẳng vào khối khổ đau nằm sâu trong lòng mình. Bạn tìm bận rộn để ngăn chặn những vị khách bạn không ưa ấy. Bạn tìm đến những vị khách khác như đọc sách, xem tivi, nghe nhạc. Bạn tìm mọi cách để che lấp sự trống trải và lo lắng. Đó chỉ là sự đè nén.

Phần lớn chúng ta có xu hướng muốn “bế quan tỏa cảng”. Ta không đủ sức để đối diện, để mời những đau khổ, sợ hãi lên chơi, nên ta lại đi mang vào đủ mọi thứ để lấp đầy tâm trí ta. Lúc nào quanh ta cũng sẵn có quá nhiều thứ giúp ta xao nhãng, để ta giải trí – đặc biệt là tivi. Tivi có thể xem như là một loại ma túy. Khi nỗi khổ quá lớn, khó mà chịu đựng, ta bật tivi lên để tìm quên lãng. Hình ảnh và âm thanh của tivi lấp đầy phòng khách. Ngay cả khi chương trình chẳng có gì thú vị chúng ta cũng không có can đảm tắt tivi. Tại sao? Tại vì thà xem những chương trình không thú vị hay thậm chí nhàm chán còn hơn là trở về với mình và ôm ấp niềm đau, nỗi khổ.

Tìm xao nhãng là thói quen của nhiều người. Trong khi đó có một số khác đã chọn cách sống trong một “khu vực không tivi”, kiểu như “khu vực không hút thuốc” hay “không uống rượu”. 

Tôi biết một gia đình tối nào cũng xem tivi. Một hôm, họ đi ra chợ và mua về một tượng Bụt. Họ mua tượng để trang trí nhưng ngôi nhà quá nhỏ, không có chỗ đặt tượng. Họ bèn đặt tượng lên mặt trên tivi vì ở đó sạch sẽ và trang trọng. Tình cờ tôi ghé qua nhà ngay sau khi họ đặt tượng. Tôi liền nói: “Các bạn thân mến, bức tượng và tivi không hợp với nhau đâu. Tượng Bụt và tivi khác nhau như Bắc Nam hai cực. Tượng đức Bụt gọi ta trở về với tự thân còn tivi đưa ta rời khỏi chính mình.”

Thở bụng

Có vài phương pháp đơn giản để chăm sóc cảm xúc mạnh. Một phương pháp là thở bụng. Khi bị cảm xúc mạnh như sợ hãi hay tức giận, chúng ta thực tập đưa chú ý xuống bụng. Lúc này, ở lại trong tâm trí là không an toàn. Cảm xúc mạnh giống như cơn bão. Đứng ngay giữa tâm bão vô cùng nguy hiểm. Song phần lớn chúng ta khi bực tức, giận dữ lại đứng ngay giữa cơn bão cảm xúc và ta liền bị nhấn chìm. Thay vào đó, chúng ta phải hoàn toàn chú ý vào sự phồng xẹp của bụng.

Vượt qua cơn bão

Hãy nhìn một cội cây trong cơn bão, cành lá bị quăng quật dữ dội. Bạn có cảm tưởng cội cây sẽ không đứng vững. Bạn cũng như thế, khi bị một cảm xúc mạnh, như cội cây kia, bạn dễ bị tổn thương. Bạn có thể bị hủy diệt. Nhưng nếu chú ý vào thân cây và gốc cây, bạn sẽ thấy có điều khác biệt. Bạn thấy rằng thân cây vững chắc và bám rễ vào lòng đất nên không bị bão thổi bay. 

Dù đứng hay ngồi, chúng ta cũng giống như một cội cây. Khi bão cảm xúc kéo đến, không nên ở trong vòng chịu ảnh hưởng mạnh của bão, tức là khu vực não bộ hoặc thành ngực. Đừng ở đó, quá nguy hiểm. Hãy đưa chú ý xuống vùng rốn – nơi đó chính là thân cây và gốc cây, phần vững chắc nhất – và thực tập hơi thở chánh niệm. Hãy ghi nhận bụng phồng lên xẹp xuống. Trong một tư thế vững chãi, như tư thế ngồi, thì kết quả tốt hơn nhiều. Chỉ thở thôi, đừng nghĩ gì cả. Hãy thở theo phồng xẹp của bụng. Thực tập như vậy trong 10 hoặc 15 phút, cảm xúc mạnh sẽ đi qua.

Cảm xúc chỉ là cảm xúc

Thiền có hai khía cạnh: một là dừng lại để bình tĩnh, hai là nhìn sâu để chuyển hóa. Khi có đủ năng lượng chánh niệm, ta có thể nhìn sâu vào bất kỳ cảm xúc nào và khám phá ra thực chất của cảm xúc. Nhờ đó cảm xúc sẽ được chuyển hóa.

Tất nhiên, cảm xúc đã bám rễ sâu trong ta. Chúng quá mạnh và ta nghĩ rằng ta sẽ không sống nổi nếu để mặc chúng hoành hành. Chúng ta phủ nhận và đè nén cảm xúc cho đến khi chúng bùng nổ và gây tổn thương chính ta cũng như người khác. Nhưng cảm xúc chỉ là cảm xúc. Nó đến, ở lại một lúc, rồi đi. Tại sao ta lại gây tổn thương cho mình cũng như người khác chỉ vì một cảm xúc? Trong ta còn có rất nhiều thứ khác ngoài cảm xúc.

Nếu biết thực tập nhìn sâu, chúng ta sẽ có thể nhận ra và xóa bỏ nguyên nhân của cảm xúc gây đau khổ. Chỉ riêng việc thực tập ôm ấp cảm xúc cũng đã rất hữu ích. Khi cảm xúc bùng phát, nếu biết cách tìm nơi an trú, nếu biết cách theo dõi hơi thở và chú ý vào sự phồng xẹp của bụng trong mười lăm hay hai mươi phút, thì cơn bão sẽ đi qua và ta biết được rằng ta có thể vượt qua cảm xúc, ta sẽ tìm lại bình an vững chắc của tâm trí. Thực tập như thế ta không còn sợ hãi nữa. Khi một cảm xúc mạnh lại bùng phát, ta sẽ ứng phó dễ dàng hơn, biết rằng ta có thể vượt qua.

Nếu biết cách thư giãn, khi cảm xúc mạnh đến, chúng ta sẽ không trao truyền nỗi sợ hãi cho con cái cũng như những thế hệ tương lai. Ôm giữ lo sợ, đè nén lo sợ thì sẽ có lúc lo sợ bùng phát. Rồi lo sợ sẽ lây lan cho những người trẻ xung quanh. Họ sẽ thâm nhập và lan tỏa lo sợ. Nhưng nếu biết cách xử lý lo sợ, chúng ta sẽ có khả năng giúp đỡ người thân và những người trẻ xung quanh. Chúng ta có thể nói với họ: “Em yêu, hít thở với anh nào. Hãy chú ý đến sự phồng lên xẹp xuống của bụng.” Thấy bạn có thực tập họ sẵn sàng nghe lời. Nhờ sự hiện diện của bạn, nhờ năng lượng chánh niệm, vững chãi của bạn, nên con bạn, vợ bạn sẽ có thể vượt thoát cơn bão của cảm xúc. Khi chia sẻ lại cho những người trẻ cách vượt qua cơn bão cảm xúc, khuôn mặt bạn hẳn là phải bình an và trầm tĩnh. Một khi người trẻ đã biết làm chủ cảm xúc của mình, họ đang sở hữu một kỹ năng vô giá có thể cứu mạng họ trong tương lai.

Thực tập dừng lại

Phương pháp thiền tập do Đức Thế Tôn giảng dạy gồm hai phần: dừng lại và nhìn sâu (chỉ và quán). Bước thứ nhất của thiền tập là dừng lại. Hầu hết chúng ta từ khi sinh ra, chúng ta luôn luôn rong ruổi không ngừng nghỉ. Đó là một tập khí sâu đậm mà tổ tiên đã truyền lại cho ta: luôn luôn căng thẳng, dễ bị cuốn đi bởi những thứ quanh mình và hoàn toàn không có mặt một cách bình an cho giây phút hiện tại. Chúng ta quen nhìn sự vật một cách hời hợt, bị cuốn đi bởi những tri giác sai lầm và từ đó cảm thọ tiêu cực biểu hiện làm cho ta hành xử một cách lệch lạc và cuộc sống của chúng ta cũng trở nên khổ sở hơn.

Chúng ta phải huấn luyện mình dừng lại. Dừng lại sự rong ruổi. Ngay cả những khi ta được bình an, không có gì phải lo lắng, sợ hãi, chúng ta vẫn theo đuổi hết dự án này tới dự án khác hay suy tư hết việc này tới việc khác, không phút nào yên nghỉ. Vậy cho nên ngay những lúc được bình yên và vô sự thì hãy thực tập thư giãn, thực tập dừng lại để trở về với những mầu nhiệm của hiện tại.

Khi tâm được an thì trí sẽ sáng. Nếu dừng lại thật sự thì bạn không cần phải thực tập nhìn sâu bởi vì ngay khi bạn dừng lại là bạn đã nhìn sâu rồi. Dừng lại và nhìn sâu là một, là hai mặt của một tâm thức. Chú tâm vào một việc gì quan trọng tức là sử dụng định lực. Khi có định lực là có dừng lại và nhìn sâu.

Khi dừng lại và tiếp xúc với những gì tốt đẹp, ta sẽ trở nên thoải mái, sáng suốt và vui tươi. Sự thực tập chính là thức ăn nuôi dưỡng ta và giúp ta nuôi dưỡng những người khác bằng phong thái sáng suốt, nụ cười và niềm vui.

Có thể rằng bạn đang gặp nhiều khó khăn nhưng nếu nhìn cho sâu, bạn sẽ thấy rất nhiều niềm vui còn đó cho bạn. Vậy thì không nên rong ruổi tìm kiếm. Hãy trở về với phút giây hiện tại để chế tác định lực, nhờ đó giúp ta có thể tiếp xúc với sự vật một cách sâu sắc và sáng suốt hơn. Đây là một phép thực tập rất đơn giản mà quan trọng.

Hãy an trú thảnh thơi với hơi thở vào ra trong giây phút hiện tại. Nếu cảm xúc quá mạnh và hơi thở không đủ giúp ta dừng lại và thư giãn thì hãy đi ra ngoài thiền hành. Chú tâm vào từng bước chân giúp ta dừng lại. Đừng để cho tâm trí bị lôi cuốn vì suy tư, phán xét, phiền muộn và cảm xúc nặng nề. Hãy trở về với phút giây hiện tại, thư giãn và dừng lại. Ngay cả lúc không có cảm xúc quá mạnh thì cũng nên thực tập để khi gặp việc cần giải quyết bạn cũng có thể ngồi yên và nhìn sâu để tìm ra giải pháp.

Nhờ thực tập, bạn có thể thư giãn và làm giảm đi những đau nhức trong cơ thể. Bạn có thể nhận diện những cảm giác đau buồn trong bạn và biết cách ôm ấp, chăm sóc những khổ thọ ấy. Bạn có thể chế tác niềm vui bất cứ khi nào bạn muốn.

Nếu thực tập giỏi, bạn sẽ không sợ những chướng ngại và khó khăn. Bạn có thể thích ứng với những khó khăn mà bạn gặp. Nếu thực tập giỏi, bạn không có gì để lo sợ, bởi vì bạn đã có con đường. Khi biết cách làm chủ cơ thể, cảm thọ, tri giác thì không có gì để lo lắng nữa.

Dù là khi đi, đứng, hay ngồi thiền, bạn đều có thể sử dụng hơi thở để giúp bạn dừng lại. Khi bạn dừng lại là bạn làm chủ thân và tâm. Bạn không để những tập khí cuốn bạn đi trong những suy tư về quá khứ hay những kế hoạch cho tương lai. Ngồi thiền không phải là đấu tranh. Bạn buông xuống hết mọi thứ.

Khi một ý tưởng dấy lên, bạn nói “xin chào”, rồi ngay tức khắc giã từ. Đừng chống cự, đừng để một bãi chiến trường trong đầu bạn. Đừng nói: “Ôi, bậy quá, tôi suy nghĩ lung tung quá.” Không cần phải tự trách mình như thế. Chỉ cần cất tiếng chào (Hi!) và tức khắc từ giã (Bye). Buông thư và thả trôi mọi thứ. Đem tâm trí về với hiện tại, an trú trong ý thức minh mẫn về cơ thể của mình. Cũng giống bạn ngâm những hạt đậu xanh trong chậu nước, nước sẽ từ từ thấm vào hạt đậu. Hạt đậu sẽ nở. Hiện tượng ấy cũng xảy ra tương tự cho bạn. Buông thả sẽ làm cho căng thẳng tan biến từ từ, từ từ. Bạn sẽ thư giãn hơn, bình an hơn. Phép thực tập là chỉ cần đem thân về hợp nhất với tâm trong giờ phút hiện tại.

Khi đi, thường thường thân bạn một nơi và tâm bạn một ngả. Bạn tiếp tục trở về với phút giây hiện tại. Thân tâm hợp nhất có ảnh hưởng rất sâu đậm. Bạn sẽ cảm nhận sự vật thông suốt hơn, bình an hơn. Nếu có một ý nghĩ tiêu cực đến lúc đó thì bạn chỉ gửi lời chào (hello), ghi nhận mà không phán xét. Ý nghĩ tiêu cực ấy có thể đến từ cha mẹ bạn hay từ một ai đó. Hãy buông xả và mỉm cười. Hãy thực tập để luôn luôn có một cơ thể trong chánh niệm. Khi ngồi thì biết là mình đang ngồi, hoàn toàn ý thức rằng mình đang ở trong tư thế ngồi. Mỗi bước chân đặt trên mặt đất là một bước chân của bình an, an nhiên, vững chãi.

Thiền tập là nuôi dưỡng

Thiền tập mang lại hạnh phúc ngay tức khắc. Bạn sẽ không còn bị lo âu, sợ hãi, hay bị những dự án cuốn bạn đi. Trở về với giây phút hiện tại, tiếp xúc với cảm thọ vui tươi còn đó trong bạn thì bạn sẽ đạt được niềm vui của thiền tập, niềm vui khi thực tập theo giáo lý của Đức Thế Tôn. Niềm vui khi thiền tập cũng giống như thức ăn hằng ngày (Thiền Duyệt Vi Thực). Không có thức ăn hằng ngày ấy, không có niềm vui mỗi ngày, bạn sẽ khô héo như một bông hoa tàn phai. Khi bạn trở về và có mặt một cách trọn vẹn thì bạn sẽ tiếp xúc liền với những yếu tố tích cực còn đó trong bạn, tâm trí bạn sẽ vui tươi. Hãy tặng cho mình một nụ cười, bạn sẽ rạng rỡ và tươi mát ra. Vậy thì không nên gạt bỏ thức ăn đặc biệt đó vì đó chính là nguồn vui của sự thiền tập.

Thân tâm nhất như

Khi tâm trí bạn buông xả thì cơ thể bạn sẽ thư giãn bởi vì thân và tâm là hai mặt của một thực tại. Nếu tâm trí bạn căng thẳng, gặp nhiều khó khăn, cơ thể bạn cũng sẽ bị ảnh hưởng không ít.

Nhờ dừng lại, dù là đang đi thiền hay ngồi thiền, bạn có thể làm chủ được hoàn cảnh. Thân tâm bạn là do bạn nắm quyền tự chủ; đừng để những lo lắng, sợ hãi, dằn vặt cuốn bạn đi. Khi bị cuốn đi bởi những lo lắng sợ hãi, bạn sẽ giống như một vị quốc vương bị tước hết quyền hành. Thực tập là giành lấy quyền tự chủ. Khi bạn đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm, bạn đang nắm chủ quyền trong tay mình.

An trú trong hiện tại giúp bạn thấy rõ những gì làm bạn đau khổ, những gì làm bạn hạnh phúc.Với năng lượng của định và tuệ, bạn sẽ suy tư, hành động và nói năng sáng suốt hơn.

Chúng ta biết rằng người thương của chúng ta đều vô thường, nhưng trong cuộc sống hằng ngày mình luôn coi họ là thường, sẽ có mặt với chúng ta mãi mãi. Ý thức được như vậy, chúng ta sẽ đối xử với họ một cách yêu thương hơn vì một mai nào đó họ sẽ ra đi. Nhờ ý thức đó, chúng ta có thể hiểu sâu thêm về những khổ đau bên trong mình. Thay vì đổ lỗi cho người khác, chúng ta có thể nhìn lại mình và những vụng về của tự thân đã góp phần gây khó khăn cho người kia.