Bài kệ 3

Cơ vi đại bệnh

飢 為 大 病

Hành vi tối khổ

行 為 最 苦

Dĩ đế tri thử

已 諦 知 此

Nê hoàn tối lạc

泥 洹 最 樂

Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất.

Các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất.

Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu

Thì Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất.

Cơ vi đại bệnh: Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất. Ở trong thính chúng này chưa có vị nào đã từng trải qua một cơn đói thực sự đâu. Bảy tám giờ tối chưa được ăn chưa phải là đói. Nhịn ăn mười, mười lăm ngày để thanh lọc cơ thể, chưa gọi là đói. Phải đói cả mấy tháng trời không có ăn, đó mới thật là đói. Khi ấy mới thấm thía được nỗi thống khổ của cái đói.

Hành vi tối khổ: Các pháp hữu vi (các hành) là cái gây khổ đau nhiều nhất.

Hành tiếng Phạn là saṃskāra. Trước hết, hành có nghĩa là tất cả các pháp, các hiện tượng, tất cả pháp hữu vi như núi, sông, cây cỏ, đất đá, con người và thú vật. Các pháp nương vào nhau mà biểu hiện ra, gọi là hành. Các hành đều vô thường và vô ngã. Các pháp hữu vi là mặt trái của Niết bàn. Niết bàn là vô vi. Các pháp hữu vi vì có sinh có diệt, có qua có lại, có còn có mất nên gây nên nhiều khổ đau. Nhưng khi tiếp xúc thật sâu với các pháp hữu vi, chúng ta chạm tới Niết bàn. Chạm vào Niết bàn là chạm vào pháp vô vi (asaṃskṛta). Chạm vào cái vô vi, thì không còn lên xuống, sinh diệt nữa.

Sóng là một pháp hữu vi có lên, có xuống, có có, có không. Nhưng khi sóng biết trở về và tìm ra được mình là nước, biết rõ mình là một pháp vô vi rồi, thì nó hết sợ, lên cũng vui mà xuống cũng vui. Hành là các pháp hữu vi ngược lại với Niết bàn là một pháp vô vi. Thật ra các hành không phải là nguyên do của khổ đau. Nguyên do chính của khổ đau là nhận thức sai lầm của chúng ta về các hành: chúng vô thường và vô ngã mà chúng ta cứ tưởng chúng là thường, là ngã, cho nên chúng ta khổ. Nếu nhìn sâu vào bản chất của chúng và thấy được tự tánh Niết bàn vô vi trong chúng thì chúng không còn làm cho ta đau khổ nữa.

Ta tiếp xúc với Niết bàn bằng cách tiếp xúc với các pháp hữu vi, cũng như ta tiếp xúc với nước bằng cách tiếp xúc với sóng.

Dĩ đế tri thử: Lấy sự thật mà xét, thì

Nê hoàn tối lạc: Niết bàn là hạnh phúc lớn nhất.

Còn tám ngày nữa chúng ta sẽ mở cửa cho thiền sinh các nước tới. Chúng ta hãy sửa soạn trái tim của mình cho lớn để có đủ không gian thênh thang cho những người đến với chúng ta. Có thể có đến 4000 người tới trong vòng bốn tuần lễ. Chúng ta có bổn phận đem niềm vui và hạnh phúc cho họ. Muốn được như vậy, chúng ta phải biết đem hạnh phúc lại cho chúng ta trước. Anh chị em trong nhà phải nương tựa vào nhau, nắm tay nhau trong tình huynh đệ. Như thế, chúng ta có thể làm hạnh phúc cho rất nhiều người trong vòng một tháng của khóa tu mùa hè. Các sư anh, sư chị lớn nên kể chuyện cho các sư em nghe, nhất là những sư em nào chưa từng được tham dự khóa tu mùa hè ở Làng Mai, về những kinh nghiệm, những niềm vui, những công việc, những phương pháp làm hạnh phúc cho các bạn thiền sinh tới với mình. Khi có sự hòa thuận, có tình anh chị em, có hạnh phúc và niềm vui trong tăng thân, thì chúng ta có thể làm hạnh phúc cho người khác một cách rất dễ dàng. Đọc kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại tôi có cảm tưởng như đang đọc một bài thơ. Khi dịch xong kinh này, tôi thấy rất biết ơn chư Tổ đã ngồi đọc hết các kinh rồi lấy những lời Bụt dạy rải rác trong tất cả các kinh về chủ đề Niết bàn để gom lại thành một kinh. Trong kinh Pháp Cú bằng tiếng Pali không có phẩm Niết Bàn. Phẩm Niết Bàn này chỉ có trong kinh Pháp Cú Hán tạng.

Bài kệ 2

Vô bệnh tối lợi

無 病 最 利

Tri túc tối phú

知 足 最 富

Hậu vi tối hữu

厚 為 最 友

Nê hoàn tối khoái

泥 洹 最 快

Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất

Tri túc là cái giàu có to nhất

Trung thực là người bạn tốt nhất

Niết bàn là cái hạnh phúc cao nhất.

Vô bệnh tối lợi: Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất. Đây là để đối trị cái tư duy của những nhà doanh thương, lúc nào cũng lo nghĩ tới lợi nhuận. Câu kinh này Bụt nói cho những nhà doanh thương, nhưng cũng nói cho tất cả mọi người – những ai muốn có thật nhiều đồng ra đồng vào – một điều rất đơn giản: Sức khỏe là lợi tức lớn nhất. Đừng làm điều gì để hư hao sức khỏe của mình. Và phải học những phương pháp để giữ gìn sức khỏe.

Tri túc tối phú: Tri túc là cái giàu có to nhất.

Ai là người giàu nhất? Người đó không phải là người có nhiều cổ phần trong thị trường chứng khoán. Khi giá trị chứng khoán xuống, người đó cũng trở nên nghèo. Nhất là trong thời đại khủng hoảng kinh tế, hôm nay ta có thể giàu, nhưng ngày mai ta có thể không giàu nữa. Trong cái nhìn của người giác ngộ, tri túc là cái giàu có lớn nhất. Tri túc (saṃtusta) cũng là một yếu tố của Niết bàn. Ta biết từng đó đã là đủ cho ta. Ta đã có đủ điều kiện để có hạnh phúc, ta không cần thêm gì nữa. Tự nhiên ta trở thành người giàu nhất trên đời, vì ta biết thực tập tri túc. “Tôi có ba y và một bình bát, vậy là giàu quá rồi! Tôi có gốc cây, có cái võng, tôi giàu quá!” Kinh dạy những điều rất thực tế, không dạy ta mơ tưởng tới một thiên đường tương lai.

Hậu vi tối hữu: Trung thực là người bạn tốt nhất.

Hậu là dày. Người có hậu là người có tình, cái tình và cái nghĩa của người đó rất dày. Người đó rất trung thực, những người khác có thể nương tựa được.

Người bạn tốt nhất không phải là người có quyền hành để ta có thể dựa vào trong lúc khó khăn. Khi ta gặp tai nạn, có khi người đó không dám lên tiếng bênh vực, tại vì người đó sợ mất quyền. Người bạn thân thiết nhất không phải là người bạn giàu sang và có quyền hành. Trung thực chính là người bạn tốt nhất. Đây là một bài học rất thực tế.

Nê hoàn tối khoái: Niết bàn là hạnh phúc cao nhất.Khoái được dịch ra tiếng Anh là delight, là happiness. Đây là một kinh nghiệm. Người nói lên câu này đã được hưởng Niết bàn. Nếu những cái khác người đó đã nói đúng, thì cái này người đó cũng nói đúng.

Bài kệ 1

Nhẫn vi tối tự thủ

忍 為 最 自 守

Nê hoàn Phật xưng thượng

泥 洹 佛 稱 上

Xả gia bất phạm giới

捨 家 不 犯 戒

Tức tâm vô sở hại

息 心 無 所 害

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ.

Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất.

Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời phạm hạnh, không phạm giới,

Vị sa môn không gây thiệt hại cho bất cứ ai.

Trong chúng ta có tâm hành sợ hãi; chúng ta sợ những tai nạn, những mưu mô ác độc xâm phạm tới mình. Sống trong sự sợ hãi, chúng ta không thể nào có hạnh phúc. Ngay trong câu đầu, Bụt đã dạy cho chúng ta sống như thế nào để đừng sợ hãi và cảm thấy an toàn. Đó là bước đầu đi vào Niết bàn. Bởi vì Niết bàn trước hết là sự an ổn.

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ. Nhẫn là sự chấp nhận. Chấp nhận được rồi thì ta sẽ có sức mạnh để đi tới và vượt thắng. Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất. Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời sống phạm hạnh, đừng phạm giới. Biết cách làm lắng dịu tâm ý. Lúc đó, an ninh của mình sẽ lớn lên và ta bắt đầu nếm được cái an ổn của Niết bàn.

Ngoài đời, muốn làm giàu người ta đua nhau quảng cáo: “Có được chiếc xe hơi này quý vị sẽ là người hạnh phúc nhất”; “Máy tính của chúng tôi là loại máy tối tân chứa đựng cả một thiên đường, nó sẽ giúp quý vị biến cái không thể thành cái có thể…”

Niết bàn không phải là một hóa phẩm mà chúng ta đem đi bán. Mỗi tôn giáo cũng có thể bán một Thiên đường, một Tịnh độ, hay một Niết bàn. Nhưng Niết bàn có phải là một món hàng mà Bụt và chư Tổ muốn đem bán cho chúng ta hay không? Nó có phải là một cái giống như cái Thiên đường trên trần thế hay như một túp lều tranh có một trái tim vàng mà người ta tìm cách bán cho mình hay không? “Nếu ông theo đạo của tôi, nếu ông trở thành một thành phần trong tổ chức giáo hội của tôi, thì sau khi chết ông sẽ có Niết bàn, sẽ có Thiên quốc.” Niết bàn có phải là một món hàng như vậy hay không? Chúng ta thấy ngay một cách rõ ràng là không phải. Theo kinh Niết Bàn thì Niết bàn là cái đã có sẵn, ta không phải mua: Tôi không bán gì cho anh cả. Cái đó đã có sẵn. Nếu biết tiếp xúc, nếu có tự do, anh sẽ được hưởng cái đó. Như không khí tươi mát của buổi ban mai đã có sẵn, anh chỉ cần mở cửa sổ hoặc đi ra ngoài là anh có thể hưởng được. Chư Bụt, chư Tổ chỉ tìm cách giúp cho ta thấy mà thôi. Nếu khéo léo một chút, ta có thể bước ra và rong chơi ngay trong trời phương ngoại.

Thiên quốc hay Thiên đường trên trần thế là những cái thuộc về tương lai. Ta phải xuất tiền mua ngay bây giờ, nhưng trong tương lai hàng mới được giao. Niết bàn thì không như vậy. Niết bàn có thể có mặt liền ngay bây giờ, không cần đợi tương lai và cũng không cần phải quảng cáo.

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ. Bài kệ thứ nhất bắt đầu bằng chữ nhẫn. Chúng ta ngạc nhiên, tại sao kinh Niết Bàn lại bắt đầu bằng Nhẫn nhục ba la mật? Nhẫn, tiếng Phạn là ksānti, tiếng Việt là chịu đựng. Chữ chịu đựng rất hay! Chịu có nghĩa là có thể đồng ý được, có thể chấp nhận được mà không có khó khăn nhiều. Đựng có nghĩa là mang theo được, dung chứa được, đủ sức để tiếp nhận và dung chứa. Ví dụ, chúng ta có một cái thùng có thể chịu đựng được hai mươi lăm gói mì. Tâm của mình cũng vậy. Tùy tâm của mình nhỏ hay lớn mà nó có thể chịu đựng được nhiều hay ít. Chịu đựng được thì không đau khổ. Khi nghe chữ chịu đựng, có nhiều người hiểu theo nghĩa tiêu cực là phải cắn răng chịu đựng, nghĩa là trong sự chịu đựng này có khổ đau. Nhưng kỳ thực, hiểu theo đúng nghĩa của nó thì chữ chịu đựng có nghĩa là có khả năng chứa đựng được mà không cần phải cố gắng. Theo nguyên ngữ của chữ chịu đựng: chịu là đồng ý, đựng là có khả năng chứa đựng được. Tôi có thể mang anh, bỏ trọn anh vào trái tim của tôi mà không có vấn đề. Tại vì trái tim tôi đủ rộng, có đủ chỗ cho anh.

Nhẫn là một trong sáu sự thực tập đưa chúng ta đến bờ giải thoát gọi là Lục độ ba la mật. Trong kinh có một ví dụ rất hay về “chịu đựng”. Một hôm, Bụt cầm một nắm muối thả vào một bát nước, khuấy lên và nói: “Tôi vừa bỏ một nắm muối vào bát nước, bát nước này rất mặn không sao uống được. Nhưng nếu ta đem nắm muối ấy mà thả vào một dòng sông thì nó không đủ sức làm cho dòng sông mặn.” Dòng sông bao la, một nắm muối thả vào lòng nó không có nghĩa gì cả, nó có thể chịu đựng được nắm muối mà không có khổ đau gì. Kinh nói: Nước chịu và đựng rất giỏi. Nhưng đất, lửa và gió cũng có khả năng chịu và đựng rất giỏi. Đó là những lời Bụt đã dạy Rahula: “Con hãy tập được như đất. Con hãy tập được như gió. Con hãy tập được như nước. Con hãy tập được như lửa.” Đó là những lời Bụt dạy Rahula về nhẫn nhục ba la mật mà không cần sử dụng danh từ nhẫn.

Khi trái tim của ta lớn, thì dù có những khó khăn tới với ta, ta vẫn có thể chấp nhận được và chúng không đủ sức làm ta khổ. Còn nếu trái tim ta nhỏ xíu như hạt đậu phụng, thì bất cứ chuyện gì cũng có thể làm cho ta phiền lòng.

Nhẫn ở đây có nghĩa là làm cho trái tim ngày càng rộng lớn. Trái tim càng lớn thì sức dung chứa của nó càng nhiều và khổ đau càng nhỏ. Trái tim của Bụt là một trái tim không biên giới, gọi là Vô lượng tâm. Khi trái tim của ta lớn bằng trái tim của Bụt, thì không gì có thể làm cho mình bực tức, khổ đau được. Ai ta cũng có thể ôm được vào lòng. Đó gọi là nhẫn, là một cánh cửa mở ra để ta đi vào Niết bàn.

Nhẫn vi tối tự thủ: Thủ là bảo hộ. Tự thủ là tự mình bảo hộ cho mình. Tối là hay nhất. Câu này nghĩa là:

Nhẫn là phương pháp hay nhất để mình tự bảo hộ cho mình. Là học trò của Bụt, là người bạn đồng hành của Ngài, ta thử nhìn vào trái tim của mình để xem nó đã lớn chưa, hay còn nhỏ xíu. Nếu trái tim còn nhỏ xíu, ta sẽ còn nhiều đau khổ. Trái tim càng mở lớn chừng nào, thì ta càng có nhiều an lạc chừng đó.

Giữa hai câu này có sự so sánh: nếu nhẫn là phương pháp hay nhất để tự bảo hộ mình thì:

Nê hoàn Phật xưng thượng: Niết bàn là mục tiêu cao quí nhất đáng để cho ta đeo đuổi, là cái cao đẹp nhất mà ta có thể đạt tới được. Trong ta phải có cái ước muốn. Không muốn thì thôi, hễ muốn thì phải muốn cho nhiều mới được. Mới bốn giờ sáng, trời bên ngoài sao trăng rất đẹp, cây cối thức dậy rì rào, hương đêm rất thơm. Nếu muốn, ta chỉ cần tung mền, mặc áo đi ra ngoài là có thể hưởng được hương đêm tinh khiết. Niết bàn cũng vậy, nó là một cái rất dễ chịu. Hạnh phúc mà Niết bàn đem lại rất lớn. Muốn hưởng được Niết bàn, ta phải buông bỏ những hệ lụy tầm thường của cuộc đời. Một khi buông bỏ được những hệ lụy, thì tự nhiên Niết bàn có mặt. Cũng như khi buông bỏ cái mền ấm và sự lười biếng, ta mở tung cánh cửa bước ra ngoài, thì trăng sao, gió mát liền có mặt đó cho mình. Đừng muốn cái ít hơn. Đã muốn thì phải muốn cái gì thật đẹp, thật lớn. Cái đẹp nhất, lớn nhất đó là Niết bàn.

Ngay trong bài kệ mở đầu kinh đã rất hay: Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ. Tự do là đối tượng cao đẹp nhất để mình theo đuổi. Niết bàn chính là tự do.

Xả gia bất phạm giới: Những người xuất gia không phạm giới.

Tức tâm vô sở hại: Tức tâm là tiếng cổ dùng để dịch từ sa môn, có nghĩa là người đã biết làm lắng dịu tâm ý mình lại. Tức có nghĩa là làm cho lắng dịu, làm ngưng lại; chữ tức tương đương với chữ chỉ. Tâm mình có thể đang chạy theo những đam mê, hận thù, tâm mình có thể đang còn lo lắng sợ hãi; mình làm tâm êm dịu lại gọi là tức tâm. Một vị sa môn có thể làm được chuyện ấy.

Śamatha-vipaśyanā là thiền. Śamatha là chỉ, còn vipaśyanā là quán. Thiền, trước hết là làm ngưng lại, làm lắng dịu lại (thiền chỉ), để từ từ thấy rõ và đạt tới sự thật (thiền quán). Trong kinh Quán Niệm Hơi Thở, đức Thế Tôn đã dạy nhiều phương pháp để giúp mình dừng lại và làm lắng dịu thân tâm. Thân tâm đã lắng dịu, thì không có gì có thể làm hại hay xâm phạm tới mình được.

Vô sở hại tức là không gây đau khổ, không gây đổ vỡ, không tàn hại ai. Đó là bất hại (ahiṃsā), đó là vô hại, đó là non-injury, là non-violence. Vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, tại trung tâm lưu vực sông Hằng, có hai truyền thống tâm linh được thành lập, và cả hai đều chủ trương thực tập bất hại. Đó là giáo phái của những người Nirgranthas (không vướng bận thành lập), đứng đầu là Mahavira, cũng là Jina (người chiến thắng). Đó là Kỳ Na giáo. Giáo phái thứ hai là đạo Bụt, do Siddharta Gotama thành lập. Kỳ Na giáo vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở Ấn Độ, tuy không vượt qua được biên giới để trở thành một truyền thống quốc tế như đạo Bụt. Nhờ đạo Bụt giáo hóa mà nhiều quốc gia từ từ bỏ bớt được bạo động, như Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc, Tây Tạng, Cao Ly… Đó là nhờ sự thực tập “vô sở hại”.

Bình giảng

Dưới đây là kết tập lại những bài pháp thoại Thiền sư đã giảng trong hai khóa tu: Khóa tu mùa Xuân và Khóa tu mùa Đông, năm 2010, tại Làng Mai. Tất cả có đến mười bài pháp thoại. Sau khi giảng xong, Thiền sư cũng đã bắt đầu giảng một phẩm tương đương trong kinh Pháp Tập Yếu Tụng, cũng về chủ đề Niết bàn. Học xong phẩm Nê Hoàn trong kinh Pháp Cú, bạn có thể bắt đầu học phẩm Viên Tịch trong kinh Pháp Tập Yếu Tụng để có cơ hội so sánh đối chiếu hai kinh.

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê Hoàn là Niết bàn (Nirvāna, Nibbāna). Trong bản dịch, chúng ta có chữ trời phương ngoại. Trời phương ngoại là cái không gian vượt ra ngoài không gian, chữ Hán gọi là thiên ngoại thiên hay phương ngoại phương. Phương là không gian, phương ngoại là ngoài không gian, nghĩa là không gian nằm ngoài không gian. Chúng ta sống trong không gian này, tuy bao la nhưng vẫn còn tù túng, tại vì không gian và thời gian ở đây được kết hợp với nhau. Đây là không gian của sinh, của diệt, của còn, của mất, của trên, của dưới, của trước, của sau. Trong không gian đó chúng ta vẫn chưa cảm thấy thật sự thoải mái. Chúng ta học được trong đạo Bụt rằng không gian và thời gian mà trong đó chúng ta sống không hẳn là một thực tại khách quan nằm ngoài tâm thức mà là một sáng tạo phẩm của tâm thức. Phương ngoại là một không gian khác vượt thoát không gian và thời gian của tâm thức. Không gian này bao la hơn. Trong đó không có sinh, không có diệt, không có tới, không có đi, không có còn, không có mất. Ở trong không gian ấy chúng ta thấy thoải mái hơn nhiều. Ngoại là ngoài, phương ngoại là vượt thoát không gian. Ngoài trời còn có trời, ngoài không gian còn có không gian. Rong chơi trời phương ngoại là đi chơi trong thế giới không gian ngoài không gian. Trong thế giới đó không có ta và không có người, không có sự phân biệt kỳ thị. Không gian đó bao la vô cùng, gọi là Niết bàn. Thường thì chúng ta nói Niết bàn là một cái gì không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ và ý niệm. Chúng ta không thể nói gì về Niết bàn, không thể có khái niệm về Niết bàn. Nó nằm ngoài tư duy và ngôn ngữ của mình. Nói về Niết bàn là nói chỉ để mà chơi, tại vì Niết bàn không thể diễn tả được bằng ngôn từ và khái niệm. Thế nhưng, Bụt đã nói về Niết bàn và chư Tổ cũng đã từng nói về Niết bàn. Các ngài đã làm một chuyện tưởng chừng như không thể nào làm được. Vì thương nên các ngài đã ráng nói một chút về Niết bàn và biết rằng trong khi nói, người nói phải rất cẩn thận vì người nghe có thể nắm lấy và kẹt vào những gì mà mình đã nói ra. Người nói phải có nghệ thuật nói để giúp người nghe đừng kẹt vào những điều mình nói. Các Tổ đã tìm cách nói như thế nào cho khéo. Là người nghe, mình cũng phải nghe cho khéo, nếu không, thì mình sẽ bị kẹt ngay vào những điều Bụt và các Tổ nói. Người nói và người nghe đều phải có cố gắng. Khi học kinh Niết Bàn, chúng ta phải có thái độ như vậy. Đó là điều rất quan trọng!

Rong chơi có nghĩa là đi chơi, là không còn vướng bận gì nữa, tiếng Anh có thể dịch là “Enjoy your time, enjoy yourself.” Trời phương ngoại tiếng Anh có thể dịch là “the sky (or space) of the ultimate” Rong chơi trời phương ngoại là “Enjoy the sky (or space) of the ultimate.” Hãy thích thú rong chơi trong bản môn, tại vì trong đó không có sinh, không có diệt, không có lo lắng sầu khổ, không có có, cũng không có không. Rong chơi có nghĩa là không có chuyện gì phải làm, không có nơi nào phải đi tới, ta chỉ đi chơi vui thú. Tiếng Anh là to enjoy, nhưng trong chữ enjoy không có ý của cái không gian mà ta đang đi chơi. Tiếng Pháp có chữ flâner có nghĩa là chỉ đi chơi, không có mục đích nào cả. Trong kinh sử dụng hình ảnh của những con chim trở về với mây trời, tự do bay chơi và hình ảnh của những con nai cảm thấy thoải mái khi trở về đồng quê. Niết bàn, có nghĩa là rong chơi. Take time to enjoy where you are.

Chúng ta có thể học kinh này bằng thái độ của một nhà khoa học, hay thái độ của một tín đồ. Nhà khoa học cho rằng, học với thái độ của một tín đồ thì không thể nào khách quan được; vì hễ Thượng đế, chúa Jésus hay Bụt nói gì thì chúng ta phải nhất luật tin theo, mà không cần đặt câu hỏi. Như vậy là trái với tinh thần khoa học. Học với tư cách một tín đồ, một đệ tử, mới nhìn thì có vẻ không hay lắm. Nhưng xét cho kỹ, học với tư cách một tín đồ cũng có cái hay của nó. Trước hết, ta có niềm tin nơi thầy của ta. Khi có niềm tin, ta không hời hợt bác bỏ ngay cái mình chưa hiểu. Nếu nhìn bằng con mắt dò xét, nghi ngờ, đặt câu hỏi, có thể ta không thiết lập được liên hệ tốt với thầy, với người nói. Do đó, sự tiếp thu có thể yếu kém. Sự liên hệ thầy trò, liên hệ tín đồ có thể là một điều tốt. Cái hiểu không phải chỉ do trí năng mà thôi, đôi khi ta có thể hiểu bằng con tim của mình. Tâm của mình không chỉ là đầu óc, tâm của mình còn là trái tim nữa. Nhiều khi con tim có những tuệ giác, những lý luận của nó.

Trong đạo Bụt có nói đến khả năng quyết trạch, so sánh, đối chiếu gọi là tỷ lượng, trong đó có quy nạp (induction) và diễn dịch (deduction). Khoa học dùng tâm mình để quy nạp, diễn dịch. Ví dụ chúng ta nói: Tất cả loài sinh vật đều phải chết. Con người là một loài sinh vật, vì vậy con người cũng phải chết. Đó là lý luận, là tỷ lượng.

Ngoài ra, chúng ta có một khả năng nhận thức khác, không cần phải đi ngang qua lý luận, gọi là hiện lượng, tức là nhận thức trực tiếp (direct perception), không cần đi qua lý luận. Đây là một khả năng tuyệt vời, nhiều khi tự nhiên ta đạt tới sự thật mà không cần phân tích, suy nghĩ và lý luận. Trong sự giác ngộ, phần hiện lượng rất quan trọng, giác ngộ mà không cần phải đi ngang qua môi giới của suy luận. Đó là một loại trực giác (intuition).

Trong đạo Bụt ta cũng có nói tới một khả năng thứ ba gọi là thánh giáo lượng. Các bậc giác ngộ đã đi ngang qua những kinh nghiệm, họ đã thấy nên họ tìm cách chỉ lại cho chúng ta. Chúng ta chỉ cần nương trên tuệ giác của họ để tới cho mau mà khỏi phải lần mò đi tìm một mình. Đó gọi là thánh giáo lượng. Kinh là thánh giáo lượng, là những gì mà người đi trước đã đạt tới và tìm cách nói lại cho chúng ta. Nếu khéo léo, chúng ta có thể nương theo đó mà đạt được. Nhưng các ngài không đạt giúp cho ta mà các ngài chỉ có thể hướng dẫn để ta phải tự đạt lấy. Ví dụ, chúng ta chưa bao giờ ăn trái kiwi. Những người đã ăn nói với chúng ta rằng trái kiwi không giống trái cam, trái quít, nó nhỏ bằng quả trứng, vỏ có lông, vị của nó chua chua, ngọt ngọt… Người kia có ngồi nói như vậy cả ngày thì ta cũng không có được nhận thức trực tiếp về trái kiwi. Nhưng dù vậy, những gì người ấy nói cũng giúp mình rất nhiều. Ta biết trái kiwi không phải là trái cam hay trái quít và mình đỡ mất rất nhiều thì giờ. Khi thấy trái kiwi ta sẽ không ngồi lý luận nữa, ta lấy dao cắt ra ăn và đạt tới nhận thức trực tiếp. Trong khoa học cũng có thánh giáo lượng. Có những nhà khoa học đi trước đã tìm ra và người đi sau chỉ cần kiểm chứng, không cần phải mất công tìm tòi. Thánh giáo lượng ở đây rất cần thiết. Khoa học mà kỳ thị tôn giáo là một điều không đúng. Là một đệ tử, một tín đồ, chúng ta thừa hưởng thánh giáo lượng nhưng chúng ta cũng có thể lợi dụng được phương pháp của khoa học. Khoa học có thể giúp cho chúng ta rất nhiều. Ví dụ như trong kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại, nếu có phương pháp khoa học, chúng ta sẽ tìm ra được ý nào là ý của Bụt và ý nào là của chư Tổ đã thêm vào. Bụt nói, chư Tổ ghi lại bằng cái hiểu của mình, nên những câu ghi chép đó phản ảnh cái thấy của chư Tổ nhiều hơn là cái thấy của Bụt. Nếu có thái độ khoa học, ta có thể lọc ra ý của chư Tổ để nắm lấy ý của Bụt. Hơn nữa, có thể xảy ra đôi chút vụng về hay khuyết điểm trong khi trao truyền. Thí dụ, “Đường xưa mây trắng” mà ta nghe hấp tấp thành ra “Áo sơ mi trắng”.

Nhờ có phương pháp của khoa học nên chúng ta có thể lượm ra những sai lầm và phục hồi lại cái nghĩa cũ. Bây giờ ngành khảo cổ học và văn bản học có thể giúp được rất nhiều cho việc đó. Trong khi học chúng ta phải áp dụng thêm thái độ của nhà khoa học chứ không chỉ có thái độ của một tín đồ. Có thể trong kinh có những điều không ăn khớp với nhau. Không ăn khớp với nhau không hẳn là trái chống nhau.

Trong đạo Bụt có hai loại sự thật: sự thật tuyệt đối (chân đế) và sự thật tương đối (tục đế). Sự thật tuyệt đối còn được gọi là chân đế hay đệ nhất nghĩa đế. Những kinh diễn tả được sự thật tuyệt đối gọi là liễu nghĩa kinh. Còn sự thật nửa vời thì được gọi là sự thật tương đối. Những kinh Bụt dạy cho người sơ cơ (người mới học) diễn tả sự thật tương đối gọi là bất liễu nghĩa kinh, để giúp cho những người ấy dễ dàng hiểu được, rồi từ đó mới đi sâu hơn vào để tìm về sự thật tuyệt đối. Trong tục đế có sinh, có diệt, có có, có không; nhưng trong chân đế thì không có sinh, không có diệt, không có có, không có không. Đứng về phương diện hình thức thì hai cái chống đối nhau, nhưng trên phương diện nội dung thì cái này giúp đưa tới cái kia. Đôi khi thấy có sự mâu thuẫn trong kinh, chúng ta đừng ngạc nhiên, đừng cho là kinh nói không thống nhất.

Khi dựng lên kinh Niết Bàn, các Tổ đã lấy những lời Bụt nói về Niết bàn ở các kinh khác rồi tóm tắt lại. Có thể trong kinh có vài câu còn mang hương vị tục đế nên chúng ta phải hiểu rằng cái này không chống đối cái kia mà chỉ là bước thứ nhất để đưa tới bước thứ hai. Đó là tất cả những điều chư Tổ dặn dò, là người học Phật chúng ta phải rất cẩn thận.

Trong Phật học chúng ta có bốn nguyên tắc để căn cứ gọi là tứ y:

Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh: Chỉ căn cứ vào kinh liễu nghĩa và không căn cứ vào kinh không liễu nghĩa. Chúng ta có thể dùng kinh bất liễu nhưng đừng nên cho đó là kinh liễu nghĩa.

Y pháp bất y nhân: Căn cứ vào pháp, đừng nên căn cứ vào người. Đôi khi có người tuy đã là giáo thọ nhưng sự thực tập của vị ấy không biểu lộ được pháp một cách hoàn mỹ. Có thể vị ấy giảng về uy nghi rất hay nhưng chính vị ấy lại thực tập uy nghi chưa hay gì mấy, thậm chí vị ấy còn hơi khó chịu, nhưng vì vị ấy nắm vững được giáo lý nên ta phải chịu khó nhẫn nại để học cho được giáo pháp mà vị ấy đang có. Nương vào pháp mà đừng nương vào người, nếu chê người thì ta sẽ mất pháp. Khi giảng về “y pháp bất y nhân” các Tổ dùng một hình ảnh rất vui: Trong một thùng rác có một viên ngọc. Nếu muốn có viên ngọc thì ta phải chịu thọc hai bàn tay vào thùng rác bẩn để lấy viên ngọc ra. Hồi còn sa di tôi đã được học phương pháp y pháp mà không y nhân, y vào kinh liễu nghĩa mà không y vào những kinh bất liễu nghĩa.

Y nghĩa bất y ngữ: Nương vào nghĩa lý của kinh mà đừng bị kẹt vào danh từ. Phải nghe và hiểu được ý nghĩa tiềm tàng trong lời nói.

Y trí bất y thức: Thức là nhận thức, là tâm thức của mình. Tâm thức đó có thể bị màn phiền não vô minh che lấp nên không thật trong sáng. Khi đã lấy đi được sự giận hờn, si mê, ganh tị thì ta có trí, sáng suốt hơn nhiều. Học hay nghiên cứu kinh bằng tâm thức còn mang nặng đam mê, giận hờn thì sẽ không đạt được. Vì vậy trong khi học kinh chúng ta phải dùng trí nhiều hơn dùng thức. Tâm thức thì còn mang nặng khuynh hướng phân biệt. Trí tuệ là trực giác có khả năng đưa ta tới sự giác ngộ, sự liễu ngộ rất nhanh chóng. Đó là bốn nguyên tắc nương tựa trong khi học kinh gọi là tứ y. Chúng ta đã nghe nói về phương pháp học hỏi, nghiên cứu. Người đời gọi là phương pháp học. Nắm vững được phương pháp chúng ta mới có thể đi sâu và đi xa. Bây giờ, chúng ta hãy đi vào bài kệ đầu.

“Có bùn mới có sen” từ 26.05-02.06.2023

Mỗi khi có những khoá tu dành riêng cho các vị doanh nhân, Sư Ông Làng Mai – Thiền sư Thích Nhất Hạnh thường hay khuyến khích họ về việc tạo dựng môi trường làm việc sao cho nơi đó có thể trở thành một đạo tràng tu học tập thể. Những pháp môn đơn giản, những thực tập nho nhỏ đều có thể đem áp dụng vào trong môi trường làm việc đầy những căng thẳng này.

“Trước khi họp, hãy cùng ngồi với nhau vài phút trong tĩnh lặng. Nếu mọi người đều đồng ý thì chúng ta có thể sử dụng chuông trong khi họp. Tiếng chuông sẽ nhắc mọi người trở về với hơi thở và tìm lại bình tĩnh. Nếu không ai muốn ngồi với nhau trong tĩnh lặng vài phút trước khi họp thì bạn vẫn có thể một mình tới phòng họp sớm hơn vài phút để thư giãn thân tâm và thở hơi thở chánh niệm. Có thể những người khác sẽ theo gương và đến cùng ngồi. Bạn không cần nói gì hay chứng tỏ cho người khác biết chủ ý của mình. Chỉ ngồi yên, thở như thế và cảm nhận ích lợi của phép thực tập. Để góp phần vào việc tạo dựng không khí của buổi họp cũng nên có vài lời nhắc nhở các thành viên trong buổi họp là nên tôn trọng ý kiến và lời phát biểu của người khác khi họp. Nếu ta chỉ muốn áp đặt ý muốn của mình lên người khác thì ta sẽ tạo căng thẳng và đau khổ trong sở làm. Vậy thì trong các buổi họp, ta nên mở rộng lòng và lắng nghe trải nghiệm cũng như tuệ giác của những người khác.

Nếu bạn có một ý kiến tuyệt vời và muốn chia sẻ ngay thì cũng không nên gạt bỏ ý kiến của người khác. Hãy mời mọi người trình bày ý kiến của mình. Hãy tin tưởng rằng ý kiến tốt đẹp nhất sẽ phát xuất từ tuệ giác của tập thể. Khi họp nên sử dụng lắng nghe và ái ngữ. Theo dõi hơi thở khi nghe. Mỗi người thay nhau nói và không nên ngắt lời người khác. Tránh tranh cãi. Phát biểu trải nghiệm của mình cho toàn thể nghe. Nếu có một câu hỏi hay một ưu tư thì trình bày ra với toàn thể. Có thể đây là một điều khó vì phương thức họp bàn mới mẻ này khác với lề lối họp bàn của quá khứ. Ta không cần thay đổi phương thức một cách đột ngột. Nếu tất cả mọi người đều cùng lắng nghe nhau mà không ngắt lời người khác thì rất tốt. Nhưng nếu chỉ có một mình bạn theo phương thức ấy và quyết tâm nói năng, lắng nghe với tâm yêu thương thì cũng đủ để tạo hậu quả tích cực.”

Đến với khoá tu “Có bùn mới có sen” diễn ra từ ngày 26.05 đến ngày 02.06.2023  tại xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, Pháp. Các vị doanh nhân người Việt đến từ Việt Nam đã có một tuần được trải nghiệm những thời khoá đi thiền, ngồi thiền, chấp tác… chung với nhau với nhiều niềm vui. Họ được lắng nghe thêm về pháp môn tu học qua những bài giảng của quý thầy, quý sư cô. Các vị thiền sinh cũng đã có dịp ngồi lại với nhau để chia sẻ, học hỏi thêm trong những buổi pháp đàm. Trong suốt khoá tu đã có rất nhiều những ánh mắt tươi sáng, bước chân thảnh thơi biểu hiện trên gương mặt mỗi người. Sau khoá tu đã có hơn 20 vị phát nguyện và tiếp nhận thọ trì Năm giới quý báu.

 

Giây phút nấu ăn – Giây phút hạnh phúc (từ 26.05-02.06.2023)

“Trong đời sống hằng ngày, nếu ta biết làm việc với ý thức và tình thương thì mọi công việc dù là rửa chén, quét nhà hay nấu ăn đều trở thành công phu tu tập. Nếu ta quét nhà trong thiền quán, đất ta quét là đất Bụt. Đó là cơ hội để cây tuệ giác nẩy mầm nơi tâm thức ta. Khi ta biết nấu ăn trong chánh niệm, nhà bếp sẽ trở thành ra thiền đường. Lúc ấy, an vui và hạnh phúc sẽ toả chiếu trong ta và xung quanh ta. Được nấu cơm nuôi sống tăng thân hay gia đình, đó là một hạnh phúc” (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Với chủ đề “Giây phút nấu ăn – Giây phút hạnh phúc”, khoá tu nấu ăn năm nay ở Xóm Mới đã có khoảng hơn 200 vị thiền sinh về tham dự. Các vị thiền sinh được học cách nấu những món ăn ngon, học cách chế tác niềm vui trong khi làm bếp và cả những sự thực tập cần thiết để tạo nên một đời sống lành mạnh, hạnh phúc cho bản thân.

Dưới đây là một vài khoảnh khắc được ghi lại, mời đại chúng xa gần cùng thưởng thức, cùng tận hưởng niềm vui từ khoá tu:

An lạc

Đời sống tâm linh

Nếu ta có một chút hiểu biết, thương yêu, an lạc cũng đã là quý rồi. Đó là vàng bạc châu báu của ta. Hôm nay ta có thể làm nhiều điều để làm tăng trưởng những phẩm chất ấy trong ta. Khi bước đi, nếu ta có khả năng bước được một bước chân an lạc, chế tác thêm sự vững chãi và tự do là ta đang phục vụ cho thế giới. Chỉ như thế ta mới có thể phụng sự được. Nếu ta không có những phẩm chất vững chãi, thảnh thơi, an lạc trong tự thân thì dù có làm gì lớn lao đi nữa ta cũng không thể phục vụ cho thế giới. Vấn đề không phải là phải làm gì mà là phẩm chất. Phẩm chất an lạc, vững chãi và hy vọng. Mỗi hành động của ta phải bắt nguồn từ đó. Bởi vì an lạc, vững chãi, tự do luôn luôn tìm đường đi của chúng, luôn luôn tìm hướng để hành động. Đó là đời sống tâm linh của ta.

Vấn đề cơ bản là chúng ta phải chế tác bình an và tập nhìn sâu. Trước hết ta phải làm cho thân tâm lắng dịu. Không có sự yên tĩnh và thanh tịnh thì những cảm xúc, giận dữ, tuyệt vọng sẽ không chịu đi và chúng ta sẽ không có khả năng nhìn thấy được thực tại. Làm lắng dịu và thanh tịnh thân tâm là bước thiền tập đầu tiên.

Bước thứ hai là nhìn sâu để hiểu. Nhờ có hiểu mới có thương. Từ nền tảng hiểu biết thương yêu này chúng ta sẽ hiểu được những gì nên làm và những gì không nên làm. Đó là thiền tập. Tất cả chúng ta, những nhà chính trị, quân đội, thương gia… phải thiền tập. Chúng ta phải thực tập cho thân tâm lắng dịu và nhìn sâu vào bản chất của sự vật. Mọi người sẽ yểm trợ ta làm điều này và chúng ta cùng yểm trợ cho nhau.

Hạt giống bạo động

Ta đừng nghĩ rằng hạt giống bạo động ở đâu đó xa lắc xa lơ. Hạt giống bạo động luôn có trong ta. Ta có thể nhận diện những hạt giống bạo động ấy trong tâm ta, qua những suy nghĩ, lời nói, hành động trong đời sống hằng ngày, qua cách hành xử, thái độ, qua những nỗi sợ hãi lo lắng của ta về bản thân và về những người khác. Tự thân của suy nghĩ cũng có thể bạo động. Suy nghĩ bạo động sẽ dẫn đến lời nói và hành động bạo động. Và như vậy những bạo động trong tâm ta sẽ biểu hiện ra trên thế giới.

Những cuộc chiến hằng ngày xảy ra trong tâm thức ta và trong gia đình ta liên quan đến những cuộc chiến giữa các sắc tộc và các quốc gia trên thế giới. Tin chắc mình biết rõ sự thật và những ai không có niềm tin giống mình là sai sẽ gây nên nhiều tổn hại. Khi ta tin chắc vào một điều gì đó và cho đó là chân lý tuyệt đối thì ta sẽ bị kẹt vào cái thấy riêng của ta. Chẳng hạn như nếu ta tin rằng đạo Bụt là con đường duy nhất đưa đến hạnh phúc thì có thể ta cũng đang hành động bạo động bằng cách kỳ thị và loại trừ những người theo các truyền thống tâm linh khác. Khi bị kẹt vào cái thấy của mình thì ta không thể thấy và hiểu được thực tại. Kẹt vào cái thấy của mình có thể rất nguy hiểm, nó ngăn cản ta không cho ta đạt đến cái cái thấy cao hơn, có nhiều tuệ giác sâu sắc hơn.

Chúng ta thường nghĩ rằng bạo động và chiến tranh là một hành động, một sự kiện có bắt đầu và kết thúc rõ ràng, nhưng nếu nhìn sâu vào bản chất của các cuộc chiến tranh, ta sẽ thấy rằng chiến tranh có xảy ra hay không thì những hạt giống của chiến tranh đã có rồi. Chúng ta không cần phải đợi đến lúc chiến tranh xảy ra mới thấy sự có mặt của chiến tranh. Khi quân đội rút quân trở về quê hương, ta có cảm tưởng chiến tranh kết thúc, nhưng điều đó có thể không đúng. Chiến tranh có thể vẫn còn đó. Tuy cuộc chiến đã kết thúc nhưng sự hận thù sợ hãi vẫn còn đó trong trái tim, tâm hồn của những người lính, công dân và đồng đội của họ. Khi cuộc chiến tranh xảy ra, nếu nhìn sâu ta sẽ nhận ra được nhiều mặt trong cuộc chiến đó như kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chủng tộc, hận thù dân tộc, bỏ mặc con cái, khai thác quá mức nguồn tài nguyên của thế giới. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng những hạt giống bình an, hiểu biết và thương yêu cũng đang có đó, nếu biết vun trồng tưới tẩm thì chúng sẽ lớn lên.

Nếu ta nhận ra được hạt giống bạo động cắm rễ trong ta qua cách nói năng, suy nghĩ, hành động hằng ngày thì ta có khả năng thức tỉnh và sống một cuộc sống mới. Ta có thể quyết tâm sống trong chánh niệm, trong bình an. Chiếu ánh sáng ý thức vào trong những gốc rễ của bạo động, ta có thể chấm dứt được cuộc chiến tranh từ khi mới bắt đầu chớm nở trong tâm. Chấm dứt được cuộc chiến tranh trong tâm thức, chắc chắn ta sẽ biết cách chấm dứt cuộc chiến tranh bên ngoài.

Đạo Bụt dấn thân

Ở Việt Nam, chúng ta đã bắt đầu phong trào đạo Bụt dấn thân. Chúng ta muốn đạo Bụt có mặt khắp nơi trong mỗi bước đi của sự sống, không phải chỉ có ở chùa mà còn ở trong xã hội, trong các trường học, trong gia đình, trong sở làm hay thậm chí trong cả giới chính trị, quân đội. Tình thương và sự hiểu biết cũng nên có mặt khắp nơi.

Rất nhiều người trong chúng ta rất háo hức làm việc cho hòa bình, nhưng lại không có bình an trong tâm. Ta kêu gọi hòa bình một cách giận dữ, và ta cũng la mắng giận dữ những người đang kêu gọi hòa bình như ta. Ngay cả những người dành trọn đời mình cho công việc hòa bình đôi khi cũng đấu tranh lẫn nhau. Nếu không có bình an trong tâm thì sẽ không có sự hòa hợp giữa những người làm công tác hòa bình. Và nếu không có sự hòa hợp thì sẽ không có hy vọng. Nếu chúng ta bị chia rẽ, nếu chúng ta đang ở trong tình trạng tuyệt vọng thì chúng ta không thể phục vụ được, không thể làm được bất cứ điều gì. Bình an phải được bắt đầu bằng chính tự thân mình bằng sự thực tập ngồi yên, đi thiền, chăm sóc thân thể, buông bỏ những căng thẳng trong thân thể và cảm thọ. Vì vậy, thiết lập thân tâm an lạc là nền tảng căn bản của việc làm hòa bình. Thiết lập bình an phải đến trước. Và công tác hòa bình sẽ đến sau dựa trên nền tảng căn bản đó.

Giây phút mà ta ngồi xuống, bắt đầu thở vào làm lắng dịu thân tâm thì bình an có mặt. Thở như vậy cũng giống như cầu nguyện. Khi có yếu tố bình an trong ta thì ta có thể truyền thông đến những người khác và ta có thể giúp người khác bình an như ta. Chúng ta cùng trở thành một cơ thể an lạc, một tăng thân an lạc. Sự thực tập có thể đem đến cho ta bình an ngay lập tức. Khi có bình an hơn, tươi vui hơn, ta có thể thành công hơn trong việc tiếp xúc và kêu gọi mọi người tham gia vào công việc kêu gọi hòa bình. Vì có bình an, nhìn bình an, nói bình an, hành động bình an nên ta có khả năng thuyết phục nhiều người tham gia vào công việc hòa giải và làm tăng tiến hòa bình.

Chúng ta không thể có bình an bằng cách thương thuyết và hoạch định. Chúng ta phải học cách thở, cách làm lắng dịu thân tâm và có khả năng giúp người khác cũng làm như vậy. Nếu trong ta không có yếu tố bình an, mọi người không có yếu tố bình an thì ta có làm cũng vô ích, không có hành động nào của ta có thể thực sự được coi là hành động hòa bình.

Chúng ta phải thực tập chế tác bình an trong xí nghiệp, sở làm, trong thành phố, trường học. Thầy cô giáo phải thực tập bình an và dạy cho học sinh cách thực tập chế tác bình an. Tổng thống hay chủ tịch của một nước, người đứng đầu của một đảng phái chính trị phải thực tập chế tác bình an, phải cầu nguyện cho sự bình an trong tự thân trước khi người ấy có thể kêu gọi những tổng thống, chủ tịch khác tham gia vào công tác hòa bình. Rất lý tưởng nếu mỗi cuộc hội nghị hòa bình có thể bắt đầu bằng sự thực tập thiền hành, thiền tọa. Và có người hướng dẫn thiền buông thư để lấy đi những căng thẳng, giận hờn, sợ hãi trong thân tâm. Đó là đưa con đường tâm linh vào đời sống chính trị và xã hội, là đạo Bụt nhập thế.

Cử chỉ anh hùng

Hiểu và thương là hai nguồn năng lượng rất mạnh mẽ, đối nghịch với sự thụ động và ngu dốt. Nếu ta nghĩ rằng từ bi là thụ động, là yếu đuối hay hèn nhát thì ta không biết hiểu thương đích thực nghĩa là gì. Nếu ta nghĩ rằng những người từ bi là không chống cự, đối kháng, không dám thách thức cho những bất công xã hội thì ta đã sai lầm rồi. Họ là những chiến binh, những anh hùng, nữ anh hùng mang lại rất nhiều chiến công. Khi hành động với lòng từ bi, bất bạo động là chúng ta đang hành động trên nền tảng của tuệ giác bất nhị, chúng ta phải rất mạnh mẽ. Chúng ta không hành động vì sự giận dữ, không trừng phạt hay đổ lỗi. Từ bi lớn lên liên tục trong ta, và ta có thể thành công trong việc đấu tranh chống lại những bất công xã hội. Ngài Mahatma Gandhi chính là người như thế. Ngài không có bất kỳ một thứ bom đạn, súng ống hay một đảng phái chính trị nào. Ngài chỉ hành động đơn giản dựa trên tuệ giác bất nhị, trên sức mạnh của tình thương mà không phải trên sự giận hờn.

Con người không phải là kẻ thù của ta. Kẻ thù của ta là vô minh, bạo động, bất công trong mình và trong người kia. Khi chúng ta được trang bị bằng từ bi và hiểu biết thì chúng ta không đấu tranh chống lại người khác mà chống lại khuynh hướng xâm chiếm, thống trị và bóc lột. Chúng ta không muốn giết người khác mà chúng ta cũng không để kẻ khác thống trị bóc lột ta và những người khác. Chúng ta phải bảo vệ chính mình. Ta không ngu dốt. Ta rất thông minh và có tuệ giác. Từ bi không có nghĩa là để cho người khác bạo động với chính họ và bạo động với ta. Từ bi nghĩa là thông minh sáng suốt. Hành động bất bạo động xuất phát từ tình thương chỉ có thể là hành động thông minh.

Bồ tát ngàn mắt ngàn tay

Trong những ngôi chùa ở các nước châu Á có tượng Bồ tát Quan Âm ngàn tay. Mỗi tay cầm một pháp khí đại diện cho những lĩnh vực hành động khác nhau mà qua đó Bồ tát có thể biểu hiện tình thương và trí tuệ của mình. Một tay Ngài cầm quyển kinh hay một quyển sách nói về khoa học chính trị, một tay Ngài cầm pháp khí như chuông khánh, tay khác cầm một dụng cụ âm nhạc. Hình ảnh của Bồ tát ngàn tay trong xã hội hiện đại có thể có một tay cầm máy vi tính. 

Có thể một trong những cánh tay của Bồ tát lại cầm súng. Chúng ta cũng có thể mang theo vũ trang mà vẫn làm một vị Bồ tát được. Ở các chùa Việt Nam, chúng ta thường thấy hình ảnh của hai vị Bồ tát. Bên tay trái là tượng một vị Bồ tát rất đôn hậu, luôn mỉm cười và rất thân thiện, trong khi bên phải là hình ảnh một vị Bồ tát rất dữ tợn đang vung vũ khí. Tên của vị Bồ tát này Diện Nhiên Vương, khuôn mặt Ngài đang bốc cháy, mắt Ngài cũng đang bốc cháy, lửa và khói bay ra từ miệng và mũi Ngài. Đây là hình ảnh của một vị Bồ tát đang thị hiện làm một người ác, rất hung dữ nhưng lại bảo hộ cho chúng ta. Vị Bồ tát này có khả năng giữ cho cô hồn không quậy phá. Khi cúng cô hồn, chúng ta niệm danh hiệu Ngài, xin Ngài đến giúp đỡ, bởi vì cô hồn rất ồn ào và lộn xộn. Chúng ta cần Bồ tát Diện Nhiên Vương, cần tính hung dữ của Ngài để giúp lập lại trật tự, bởi vì chỉ có Ngài mới có thể thuần hóa được những cô hồn hoang dại mà thôi.

Tuy nhiên, đặc tính trông có vẻ dữ tợn này cũng là biểu hiện của Bồ tát Quán Thế Âm, người mang nhiều hình thức khác nhau – như mẹ hiền Quán Thế Âm, Bồ tát Diện Nhiên Vương hay thậm chí là hình thức cô hồn – để hiểu hơn những người mà Ngài muốn đến giúp và có truyền thông tốt với họ. Một số biểu hiện này có thể không giống như những ý niệm thông thường chúng ta có về các vị Bồ tát. Nếu chỉ đi tìm Bồ tát Quán Thế Âm trong một hình dáng dễ thương, nhẹ nhàng, xinh đẹp thì có thể chúng ta đánh mất Ngài. Chúng ta phải nhìn sâu để nhận ra được Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm trong nhiều hình thức khác của Ngài. Nếu nhìn kỹ vào hình ảnh của Bồ tát ngàn tay, ta sẽ thấy rằng trong mỗi lòng bàn tay của Ngài có một con mắt. Con mắt tượng trưng cho sự hiểu biết, cho tuệ giác, đó là trí tuệ bát nhã. Chúng ta cần từ bi và trí tuệ để đi xa hơn trên con đường này. Trí tuệ đem đến tình thương, sự tử tế và lòng từ bi. Bồ tát Quán Thế Âm có rất nhiều tay bởi vì tình thương cần được bày tỏ qua nhiều hình thức, phương tiện và công cụ khác nhau. Đó là lý do mà trên mỗi cánh tay của Bồ tát lại cầm một công cụ khác nhau, và trong mỗi lòng bàn tay lại có một con mắt trí tuệ.

Cuộc cách mạng hòa bình

Có người sống suốt cuộc đời họ chỉ để tìm cách trả thù. Ước muốn này sẽ mang lại khổ đau lớn, không chỉ cho người kia mà còn cho chính họ nữa. Hận thù là ngọn lửa đốt cháy mọi tâm hồn và nó chỉ có thể được dịu đi bởi lòng từ bi. Lòng từ bi được tìm thấy ở đâu? Người ta có bán ngoài siêu thị không? Nếu có thì ta chỉ việc mua nó mang về nhà và ta có thể bán đi tất cả những hận thù bạo động trên thế giới một cách dễ dàng. Nhưng từ bi chỉ có thể được tạo dựng trong trái tim ta bằng sự thực tập của chính mình.

Bây giờ nước Mỹ đang bị bốc cháy bởi những sợ hãi, khổ đau và hận thù. Chỉ có cách duy nhất để làm lắng dịu nỗi khổ đau của ta là trở về với chính mình để tìm hiểu tại sao ta có quá nhiều bạo động như vậy. Cái gì đã khiến cho những người khủng bố có quá nhiều hận thù đến nỗi họ phải hy sinh cả tính mạng và tạo ra nhiều khổ đau cho những người khác đến như vậy? Chúng ta có thể thấy được những hận thù lớn của họ nhưng nằm bên dưới hận thù ấy là cái gì? Đó là bất công. Tất nhiên chúng ta phải tìm cách ngăn chặn những bạo động trong họ, thậm chí ta cũng có thể giam họ vào tù khi những hận thù của họ đang bốc cháy. Nhưng điều quan trọng là ta phải nhìn sâu và đặt câu hỏi: “Ta đã làm gì để đóng góp vào sự bất công trên thế giới?”

Đôi khi những người mình thương như con cái, cha mẹ, vợ chồng… đã nói hoặc làm điều gì đó thô lỗ khiến ta khổ đau và giận dữ. Ta nghĩ rằng chỉ có ta là khổ đau, còn người kia không khổ. Kỳ thực người kia cũng khổ đau. Nếu không khổ đau thì họ đã không nói, không hành xử giận dữ như vậy. Người ta thương không biết cách đi ra khỏi khổ đau. Vì vậy người ấy trút tất cả những hận thù và bạo động lên ta. Trách nhiệm của ta là tạo ra năng lượng từ bi để làm lắng dịu trái tim ta để có thể giúp đỡ người kia. Nếu ta trừng phạt người kia thì người kia chỉ khổ đau thêm thôi. Dùng bạo động để tiêu diệt bạo động chỉ tạo thêm bạo động, bất công và khổ đau, không chỉ cho người kia mà còn cho chính ta nữa. Tuệ giác này có trong mỗi chúng ta. Thở sâu, chúng ta có thể tiếp xúc được tuệ giác này. Nếu năng lượng từ bi và tuệ giác này trong người Mỹ được nuôi dưỡng, dù chỉ trong vòng một tuần thôi, sẽ làm giảm đi mức độ giận dữ và hận thù trong nước. Tất cả chúng ta nên thực tập cho thân tâm lắng dịu, định tĩnh, tưới tẩm hạt giống từ bi, tuệ giác đã có sẵn trong chúng ta và học hỏi nghệ thuật tiêu thụ chánh niệm. Làm được điều này, ta sẽ tạo ra được một cuộc cách mạng hòa bình đích thực, chỉ có loại cách mạng này mới có thể giúp chúng ta ra khỏi tình trạng khó khăn.

Nhãn hiệu

Chúng ta bị chia cách nhau bởi những nhãn hiệu và ngôn từ, như người Do Thái, người Palestine, người Phật tử, người Thiên Chúa và người Hồi giáo. Khi nghe những từ này gợi lên trong đầu ta một hình ảnh và ngay lập tức ta cảm thấy xa lạ với những người khác, với những nhóm khác. Chúng ta đã hình thành nên nhiều cách suy tư khiến chúng ta chia cách nhau, và làm cho nhau đau khổ. Vì thế điều quan trọng là ta phải khám phá ra nhân tính trong người kia và giúp người kia khám phá ra nhân tính trong mình. Là con người, chúng ta giống y chang như nhau. Nhưng nhiều lớp nhãn hiệu đã ngăn cản người kia không cho họ thấy được ta là một con người. Nghĩ rằng mình là Phật tử hay nhân danh mình là Phật tử có thể là một điều bất lợi, bởi vì nếu ta nhân danh Phật tử thì đó có thể là một chướng ngại không cho họ khám phá ra con người trong ta. Người Thiên Chúa, Do Thái giáo hay Hồi giáo cũng vậy. Đặc điểm này có thể là một phần quan trọng để nhận diện mình, phân biệt mình với người khác, nhưng đó không phải là toàn bộ con người mình. Người ta bị kẹt vào những hình ảnh, khái niệm này nên không thể nhận ra nhau là con người. Chúng ta phải lột đi tất cả những nhãn hiệu ấy để con người có thể được hiển lộ, đây đích thực là sự thực tập cho hòa bình. Bởi vì người ta quá kẹt vào nhãn hiệu và tên gọi nên điều quan trọng là chúng ta phải dùng ngôn ngữ hòa ái dịu dàng để nói với nhau về những vấn đề khác biệt và bất công.

Bất công gây nên khổ đau cho cả hai phía trong bất kỳ một cuộc tranh luận cá nhân nào. Điều quan trọng là chúng ta phải hiểu điều đó. Một khi hiểu biết và từ bi được nảy sinh trong trái tim ta thì độc tố giận hờn, bạo động, tuyệt vọng, hận thù sẽ được chuyển hóa. Con đường quá rõ ràng. Phương án giải quyết duy nhất là phải lấy độc tố ra khỏi người mình và đưa tuệ giác, từ bi vào. Sau đó chúng ta sẽ nhận ra nhau là con người. Đừng để mình bị lừa gạt bởi những tên gọi và những nhãn hiệu bên ngoài như đạo Bụt, đạo Do Thái, đạo Hồi, người thân Mỹ, người thân A-rập,… Đây là một quá trình giải thoát giác ngộ, thoát khỏi những khái niệm, vô minh, kỳ thị. Trái đất này rất xinh đẹp và đủ chỗ cho tất cả chúng ta, tại sao ta lại đi giết hại lẫn nhau. Nếu chúng ta có khả năng nhìn nhau là con người với những khổ đau riêng thì chúng ta sẽ không cam tâm bắn nhau. Chúng ta sẽ cùng nhau cộng tác để có cơ hội sống chung an lạc hòa bình.

Bao dung

Mỗi chúng ta phải tự đặt câu hỏi là trái tim mình lớn bao nhiêu? Làm thế nào để trái tim ta lớn lên mỗi ngày? Trái tim mình có đủ lớn để bao dung ôm hết mọi người không? Thực tập bao dung được dựa trên nền tảng hiểu biết, thương yêu và từ bi. Khi chúng ta thực tập nhìn sâu để hiểu được nỗi khổ đau thì giọt nước cam lộ sẽ ứa ra trong trái tim ta một cách tự nhiên. Từ bi có thể được tiếp tục lớn lên bất tận trong ta. Nhờ tập hiểu và tập nhìn sâu mà từ bi trong ta lớn lên mỗi ngày. Với tình thương và sự hiểu biết này chúng ta có thể ôm ấp, chấp nhận tất cả mọi người, mọi loài, chấp nhận được tất cả những gì đang xảy ra chung quanh mình.

Thông thường trong một cuộc xung đột, ta nghĩ rằng nếu những người bên kia, những người chống đối ta, những người tin những điều khác ta không còn nữa thì ta mới có hạnh phúc bình an. Cái suy nghĩ đó khiến ta tàn phá và hoại diệt phía bên kia để đẩy những con người kia ra khỏi cộng đồng, xã hội của ta. Nhưng nhìn sâu, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta khổ đau, họ cũng khổ đau. Nếu ta thực sự muốn sống an toàn, hạnh phúc thì chúng ta phải tạo ra một cơ hội cho những người bên kia cũng được sống như vậy. Nếu ta biết cách làm cho phía bên kia đi vào trái tim ta, nếu ta có ước muốn đó thì không những ta bớt khổ ngay mà ta còn tạo ra được những cơ hội sống an toàn và hòa bình. Khi có ước muốn thực tập bao dung thì chúng ta sẽ dễ dàng đặt câu hỏi: “Chúng tôi có thể làm gì để giúp quý vị được sống trong an toàn? Xin quý vị hãy nói cho chúng tôi biết”. Chúng ta phải bày tỏ những quan tâm của chúng ta cho vấn đề an ninh của họ, cho những nhu yếu được sống trong an toàn, xây dựng lại đất nước, củng cố xã hội. Khi chúng ta có khả năng giải quyết những vấn đề xung đột bằng cách này thì tình hình được chuyển hóa rất nhanh chóng. Nền tảng cho sự chuyển hóa, yếu tố đầu tiên phải làm là thay đổi ngay trong chính trái tim mình. Chúng ta mở rộng trái tim để ôm ấp phía bên kia, chúng ta muốn cho phía bên kia cơ hội sống trong bình an giống như chúng ta.

Xã hội và đất nước nào còn bị giam mình trong những cuộc xung đột, nếu thực sự muốn tìm cách sống bình an thì cần phải thực tập bao dung. Chúng ta có khả năng chấp nhận sự thực là phía bên kia cũng cần một nơi để sống, cần những yếu tố an ninh an ổn để có thể đảm bảo cho một xã hội bình an, thịnh vượng không? Nhìn sâu vào tình trạng của phía bên kia chúng ta hiểu được rằng họ cũng giống như chúng ta, họ cũng chỉ muốn có một nơi an ninh hòa bình để sống. Hiểu được những khổ đau và hy vọng của ta, ta sẽ hiểu được những khổ đau và hy vọng của nhóm người khác. Chúng ta biết rằng nếu bên kia không có an toàn và hạnh phúc thì chúng ta cũng sẽ không có an toàn và hạnh phúc. Đó là tương tức. Với tuệ giác này, chúng ta có khả năng mở rộng trái tim ra để ôm lấy phía bên kia. 

Hòa giải

Sự an lạc và tình thương yêu luôn luôn đi đôi với sự hiểu biết và không kỳ thị. Có kỳ thị là còn phân biệt, còn phe phái. Chỉ có con mắt thương yêu mới nhìn được thực tại từ mọi quan điểm. Người biết thương yêu có thể nhìn thấy mình có mặt nơi mọi người, và vì có thể nhìn từ mọi quan điểm cho nên có thể vượt được mọi quan điểm để thiết lập được loại hành động phù hợp nhất với đại bi tâm. Ý nghĩa cao cả nhất của hai từ Hòa giải là ở chỗ đó. Hòa giải không phải là thỏa hiệp với sự mê vọng và tàn ác; trái lại, hòa giải là chống đối thường trực với mọi hình thức mê vọng và tàn ác nhưng với tâm đại bi và cái nhìn siêu việt phe phái. Phần đông trong chúng ta đều theo phe phái, phân biệt chính, tà tốt xấu căn cứ trên những dự kiện ít ỏi mà ta thu lượm được, hoặc trực tiếp hoặc qua các hoạt động tuyên truyền. Chúng ta thường cần một sự bất bình trong lòng mới hành động mạnh mẽ được, nhưng bất bình không đủ. Thế giới chúng ta không thiếu những người dấn thân hoạt động. Chỉ thiếu những người có nhận thức rộng rãi để có thể thương yêu, có thể từ bỏ phe phái mà ôm trọn được cả thực tại nhân loại trong lòng như một gà mẹ ấp ủ tất cả các con gà con của mình dưới hai cánh xòe rộng. Thực tập về duyên sinh là một trong những phương tiện đi vào nhận thức ấy. Có nhận thức ấy rồi ta sẽ không còn dễ dãi vung thanh gươm phân biệt lên để chia cắt thực tại nữa. Ta sẽ vượt được ranh giới phe phái, thoát khỏi bức tường chánh tà, tốt xấu, thấy được phương tiện và cứu cánh chỉ là một. Ta hãy quan sát cho đến khi nào ta có thể thấy rằng khuôn mặt nào trên xe buýt cũng có thể là khuôn mặt ta, thân hình con trẻ gầy gò nào ở Uganda cũng là thân hình ta, cho đến khi nào ta có thể đói, có thể đau trong cơ thể của mọi loài thì ta thực hiện được cái thấy vô phân biệt và đại bi tâm.

Những đứa con của trái đất

Chúng ta đều là con của trái đất, một ngày nào đó ta cũng phải trở về với đất. Đất Mẹ đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, và cuối cùng sẽ đưa ta trở về với Mẹ. Sự sống là vô thường. Cỏ cây cũng như ta, được đất Mẹ sinh ra, sống được một thời gian rồi cũng trở về lại với đất Mẹ. Khi cây cỏ tan hủy, chúng trở thành phân bón cho rau trái trong vườn. Rau tươi và phân xanh là những phần của một thực tại. Không có cái này thì sẽ không có cái kia. Sau một thời gian chừng vài tháng, phân xanh lại trở thành hoa quả thơm ngon. Cây xanh và đất Mẹ nương vào nhau mà hiện hữu. Nếu cây cỏ xanh tươi thì đất Mẹ cũng xanh tươi, nếu cây cỏ cằn cỗi thì đất Mẹ cũng cằn cỗi. Ta cũng đóng góp một phần vào việc đó.

Rất nhiều sinh vật trên trái đất đã yêu thương ta một cách vô điều kiện. Tiếng chim hót thánh thót cho ta biết bao niềm vui; dòng nước trong xanh, cây cối xanh mát, không khí trong lành đã tỏ lòng thương yêu ta rất mực mà không hề đòi hỏi ta một điều gì cả. Ta rất cần tình thương đó của vạn vật nhưng ta vẫn tiếp tục hủy hoại phẩm chất của không khí, nguồn nước và cây xanh. Ta cần phải cố gắng hết sức mình để hạn chế tối đa việc gây tổn hại các loài sinh vật khác. Khi làm vườn, ta nên học cách trồng những loại cây giúp ngăn ngừa sâu bọ bên cạnh những loại hoa quả, ngăn ngừa cả nai và thỏ vào phá vườn mà không làm chúng bị tổn thương. Thay vì dùng thuốc trừ sâu làm bằng các chất hóa học, ta có thể dùng thuốc trừ sâu làm bằng những chất liệu thiên nhiên để bảo vệ các loài chim và ong mật. Ta nên luôn tìm cách giảm bớt khổ đau gây ra cho các loài sinh vật khác. Giết hại động vật, tàn phá cây cối và làm ô nhiễm không khí tức là làm hại chính ta. Ta nên học cách thương yêu không điều kiện đối với mọi loài chúng sanh trên trái đất để chúng có cơ hội vui hưởng trọn vẹn đời sống của chúng.

Cây sồi cần được là cây sồi một cách trọn vẹn. Nếu cây sồi không còn là cây sồi thì tất cả chúng ta sẽ gặp rắc rối. Trong những kiếp trước ta đã từng là đá cuội, là mây trời hay cây cỏ. Cũng có thể ta đã là một cây sồi. Không phải chỉ có đạo Bụt mới nói như vậy mà các nhà khoa học cũng đã xác nhận như thế. Loài người chúng ta mới xuất hiện đây thôi. Trước khi là người, chúng ta đã từng là cây cỏ. Chúng ta phải nhớ quá khứ của mình, nhớ lại những kiếp xa xưa để học bài học khiêm cung từ cây sồi.

Nền sinh thái học của chúng ta phải có chiều sâu và chiều rộng. Tâm thức của ta rất dễ bị ô nhiễm. Ti vi, phim ảnh, sách báo là những phương tiện để học hỏi nhưng cũng dễ trở thành những hình thức đầu độc. Chúng có thể gieo trồng những hạt giống lo âu, giận hờn, sợ hãi và làm ô nhiễm tâm thức ta. Những thứ này cũng có khả năng tàn hại ta như ta đã tàn hại môi trường qua phương thức nuôi trồng bằng chất hóa học, chặt phá cây rừng và làm ô nhiễm nước sông. Chúng ta cần phải học cách chăm sóc giữ gìn sự lành mạnh của trái đất cũng như chăm sóc giữ gìn sự lành mạnh của tâm thức ta, không thì đời sống của ta sẽ dần dần bị mọi thứ bạo động xâm chiếm.

Ta thường cho rằng loài người là giống thông minh, nhưng khi so sánh mình với các loài phong lan hay các loài ốc sên, ta thấy mình chưa thông minh gì lắm. Hoa phong lan biết nở ra những đóa hoa với những đường nét vô cùng tinh xảo và tuyệt mỹ, con ốc sên cũng vậy, biết làm cho mình một cái vỏ ốc thật vừa vặn xinh đẹp. Trước những sáng tạo đầy thẩm mỹ của hoa phong lan cũng như của con ốc sên, ta muốn cúi đầu bái phục; ta cũng muốn chắp tay tỏ lòng ngưỡng mộ cung kính trước các loài bướm đầy màu sắc rực rỡ, trước cây hoa mộc lan đang nở hoa thật diễm lệ, sáng rực cả một góc trời. Khi ta biết kính trọng các loài khác, ta cũng làm lớn mạnh những đức tính cao quý trong ta.

Nghệ thuật

Bằng cách sống của mình, bằng cách sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật chúng ta có thể đóng góp vào công việc thức tỉnh cộng đồng của dân tộc ta. Các vị Bồ tát là những người tỉnh thức và có ước muốn giúp người khác tỉnh thức. Các nhà nghệ thuật, diễn viên, nhà làm phim, người viết tiểu thuyết cũng có thể có cảm hứng trở thành một vị Bồ tát, giúp mọi người tỉnh thức, giúp mọi người tiếp xúc được với hạt giống an vui hạnh phúc và chuyển hóa những hạt giống kỳ thị, sợ hãi, tham lam. Các nghệ sĩ có khả năng làm được tất cả những điều này. Nếu có ước muốn đó, ta sẽ có rất nhiều niềm vui và năng lượng, danh vọng quyền hành sẽ không hấp dẫn được ta. Không có gì có thể so sánh được với niềm vui này, niềm vui biết được cuộc sống của ta trên trái đất này rất tốt đẹp và hữu ích.  

Một ngày nọ ở thành phố New York tôi gặp một học giả Phật giáo và kể cho cô ấy nghe về việc thực tập chánh niệm trong lúc trồng rau. Tôi rất thích trồng xà lách, cà chua và những thứ rau quả khác. Tôi thích ra vườn mỗi ngày. Cô ấy nói: “Thầy không nên trồng rau, thầy nên để thì giờ để viết sách làm thơ. Thơ của thầy rất hay. Ai cũng có thể trồng rau nhưng không phải ai cũng làm thơ hay như thầy”. Tôi nói với cô: “Nếu tôi không trồng rau thì tôi cũng không làm thơ được”.

Khi tôi trồng rau hay tưới vườn, tôi không nghĩ tới chuyện viết sách hay làm thơ. Tôi tập trung tâm ý hoàn toàn vào việc trồng rau và tưới vườn. Tôi tận hưởng từng giây phút và làm trong trạng thái không suy nghĩ. Dừng suy nghĩ rất có lợi. Tác phẩm nghệ thuật của ta được thai nghén trong chiều sâu tâm thức ngay cả khi ta không suy tư về nó. Giây phút ta làm ra nó chỉ là giây phút sinh, giây phút ta cho ‘đứa con’ ra đời. Đối với tôi, phải có giây phút ta cho đứa con trong ta lớn lên để ta có thể làm một cách hay nhất, và kiệt tác của ta có thể chứa đựng tuệ giác, hiểu biết và từ bi.

Công việc nghệ thuật có thể giúp người ta hiểu được bản chất khổ đau của họ, có khả năng chuyển hóa những thứ tiêu cực và làm lớn mạnh những điều tích cực trong họ. Viết sách, làm phim, sáng tác một tác phẩm nghệ thuật có thể là một hành động thương yêu. Hành động thương yêu đó nuôi dưỡng ta và nuôi dưỡng người khác. Nếu ta hạnh phúc, nếu ta biết cách sống sâu sắc mỗi giây, phút của đời sống hằng ngày thì hiểu biết, thương yêu, an vui sẽ đến với ta. Tác phẩm của ta sẽ phản ảnh được tuệ giác này và ta có thể chia sẻ cho người khác.

Công việc hòa bình

Cuộc sống đầy rẫy khổ đau nhưng cuộc sống cũng tràn đầy những mầu nhiệm như trời xanh, mây trắng, nắng ấm, ánh mắt trẻ thơ… Cuộc sống không chỉ có khổ đau, chúng ta phải biết tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Bất cứ lúc nào, những mầu nhiệm ấy cũng có mặt khắp nơi trong ta và chung quanh ta.

Nếu tự thân ta không có hạnh phúc, bình an thì chúng ta không thể hiến tặng hạnh phúc và bình an cho ai được, kể cả những người ta thương, những người ta cùng chung sống trong một mái ấm gia đình. Có bình an, hạnh phúc thì chúng ta sẽ mỉm cười và nở ra như một bông hoa, khi đó, mọi người chung quanh ta, từ gia đình cho đến xã hội, ai cũng được thừa hưởng. Chúng ta có cần cố gắng để hạnh phúc không? Có cần cố gắng để thưởng thức vẻ đẹp của trời xanh không? Có cần phải thực tập để có thể tận hưởng được vẻ đẹp đó không? Không. Chúng ta chỉ tận hưởng thôi. Mỗi giây, mỗi phút của đời sống hằng ngày đều có thể như thế cả. Bất cứ lúc nào, ở đâu, chúng ta cũng có khả năng thưởng thức nắng ấm, thưởng thức sự có mặt của nhau, hay thưởng thức hơi thở của chính mình. Chúng ta không cần phải đến Trung Quốc để ngắm trời xanh. Không cần phải đi về tương lai để thưởng thức hơi thở. Chúng ta có thể tiếp xúc với chúng ngay bây giờ. Nếu chúng ta chỉ để ý đến khổ đau thôi thì rất tội nghiệp.

Chúng ta quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để nhìn mặt những người ta thương, kể cả những người trong gia đình ta. Ta cũng không có thời gian để nhìn lại chính mình. Xã hội đã tạo ra một lối sống mà ngay cả khi có thời gian rảnh rỗi, ta cũng không biết cách trở về tiếp xúc với bản thân. Ta đánh mất thời gian quý giá của ta bằng cả triệu cách: mở ti vi ra xem, nhấc điện thoại lên gọi, nổ máy xe đi đâu đó… Chúng ta không quen đối diện với chính mình, chúng ta chán ghét bản thân và muốn chạy trốn khỏi bản thân.

Thiền là ý thức những gì đang xảy ra trong thân thể, cảm thọ, tâm hành và thế giới. Mỗi ngày có hàng ngàn trẻ em chết đói. Những nước siêu cường quốc có đủ vũ khí hạt nhân để tiêu diệt hành tinh của chúng ta nhiều lần. Tuy nhiên mặt trời mọc sáng nay rất đẹp, những đóa  hồng nở ven tường sáng nay là một mầu nhiệm. Cuộc sống đáng sợ nhưng cuộc sống cũng mầu nhiệm. Thiền tập là tiếp xúc với cả hai mặt. Đừng nghĩ rằng chúng ta phải trang nghiêm mới thực tập được. Kỳ thực, thực tập giỏi, chúng ta phải cười nhiều.

Gần đây, khi đang ngồi với một nhóm trẻ, thấy Jim cười rất đẹp, tôi nói: “Jim, con cười đẹp lắm!”. Em trả lời: “Cám ơn Thầy”. Tôi nói: “Con không cần phải cám ơn Thầy. Ngược lại Thầy phải cám ơn con. Bởi vì nhờ nụ cười của con mà sự sống đẹp hơn. Vì vậy thay vì nói cám ơn, con có thể nói: “Đâu có gì đâu thưa Thầy, tự nhiên thôi mà!”

Nếu em bé mỉm cười được, nếu người lớn mỉm cười được thì điều đó rất quan trọng và đáng quý. Nếu trong đời sống hằng ngày ta có thể mỉm cười, ta có khả năng bình an và hạnh phúc thì không những ta mà tất cả mọi người đều được thừa hưởng. Đó là nền tảng căn bản nhất của công việc chế tác hòa bình. Khi thấy Jim cười, tôi rất hạnh phúc. Nếu cậu bé ý thức rằng cậu đang làm cho người khác hạnh phúc thì cậu có thể nói: “Bạn quá tuyệt vời”.

Năm Giới Tân Tu

Năm giới tức là năm phép thực tập chánh niệm, biểu hiện được một cách cụ thể giáo lý Tứ đế và Bát chánh đạo, con đường của Bụt, con đường của hiểu biết và thương yêu đích thực có khả năng đưa tới trị liệu, chuyển hóa và hạnh phúc cho bản thân và cho thế giới. Năm giới mang theo tuệ giác Tương tức, tức là Chánh kiến, có khả năng tháo bỏ mọi cuồng tín, cố chấp, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng. Sống và thực tập theo Năm giới là chúng ta đã đi vào con đường mà các vị Bồ tát đang đi. Năm giới này đại diện cho cái thấy của đạo Bụt về một nền tâm linh và đạo đức toàn cầu. Biết rằng đang được đi trên con đường của Bụt, chúng ta không còn lý do gì để lo lắng cho hiện tại và sợ hãi cho tương lai.

Đây là Giới Thứ Nhất: Bảo Vệ Sự Sống

Ý thức được những khổ đau do sự giết hại gây ra, con nguyện thực tập nuôi dưỡng tuệ giác Tương tức và lòng Từ bi, để có thể bảo vệ sự sống của mọi người, của mọi loài và môi trường sống. Con nguyện không giết hại, không để kẻ khác giết hại và không tán thành bất cứ một hành động giết hại nào, trên thế giới, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con. Thấy được rằng tất cả những bạo động do sợ hãi, hận thù, tham vọng và cuồng tín gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị; con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị, không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trên thế giới.

Đây là Giới Thứ Hai: Hạnh Phúc Chân Thật

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập chia sẻ thời giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trên cả ba phương diện tư duy, nói năng, và hành động trong đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy được hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con biết hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, trong khi đó đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con ý thức được hạnh phúc chân thực phát sinh từ cách nhìn của con mà không phải từ bên ngoài đem tới. Thực tập tri túc giúp con sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Con nguyện thực tập Chánh mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi người, mọi loài và để chuyển ngược lại quá trình hâm nóng địa cầu.

Đây là Giới Thứ Ba: Tình Thương Đích Thực

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con nguyện thực tập theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình và xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau. Những liên hệ tình dục do sự thèm khát gây nên luôn mang tới những hệ lụy, và đổ vỡ cho con và cho người khác. Con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức lâu dài. Con sẽ làm mọi cách để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và nguyện nuôi lớn các đức Từ, Bi, Hỉ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực, làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ vô lượng tâm, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong tương lai.

Đây là Giới Thứ Tư: Lắng nghe và ái ngữ

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con nguyện học hạnh Ái ngữ và Lắng nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người, làm vơi bớt nỗi khổ đau của người. Con nguyện tìm cách đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc và tôn giáo. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói gì khi cơn giận đang có mặt trong con. Con nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của cơn giận ấy, để nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang giận. Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe sâu để có thể giúp người kia thay đổi và vượt thoát những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh tinh tấn để nuôi dưỡng khả năng hiểu biết, thương yêu, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con, để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

Đây là Giới Thứ Năm: Nuôi Dưỡng và Trị Liệu

Ý thức được những khổ đau do sự tiêu thụ thiếu chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, nuôi dưỡng sức khỏe cơ thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực để tránh tiêu thụ những thực phẩm độc hại. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và chuyện trò. Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con mà không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ; không để lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong xã hội, và trong môi trường sống.

Cảm xúc và các mối quan hệ

Em bé bị thương

Trong mỗi chúng ta, ai cũng có một em bé bị thương bên trong. Khi còn nhỏ tất cả chúng ta đều trải qua những giai đoạn khó khăn và khổ đau nên mang theo trong lòng nhiều thương tích. Để bảo vệ và phòng hộ cho chính mình, không muốn cho những khổ đau ấy xảy ra trong tương lai, ta có khuynh hướng quên đi những khổ đau thời thơ ấu. Mỗi lần tiếp xúc với những khổ đau như thế ta có cảm tưởng là ta không thể chịu nỗi và ta muốn nhận chìm những cảm thọ, những ký ức này xuống dưới vùng vô thức. Và ta không dám đối diện với em bé này đã nhiều năm rồi.

Tuy nhiên, không phải vì ta không muốn để ý tới nó mà nó không có. Đứa trẻ bị thương luôn luôn có đó, muốn sự chú ý của ta. Đứa bé lên tiếng: “Em đây nè, em đây nè, chị không thể tránh em. Chị không thể chạy trốn em”. Chúng ta muốn chấm dứt khổ đau bằng cách gởi em bé đó vào một nơi sâu kín nhất trong ta, càng sâu càng tốt. Nhưng chạy trốn không có nghĩa là hết khổ mà chỉ là kéo dài nỗi khổ ra hơn.

Ý thức được là ta đã bỏ quên em bé bị thương, ta sẽ cảm thấy thương xót nó và bắt đầu chú ý tới nó, chế tác năng lượng chánh niệm bằng cách ngồi thiền, đi thiền, thực tập hơi thở ý thức. Với hơi thở và bước chân ý thức, ta có thể chế tác ra năng lượng chánh niệm và trở về với nguồn tỉnh thức, tuệ giác trong mỗi tế bào cơ thể ta. Năng lượng chánh niệm sẽ ôm ấp, trị liệu ta và trị liệu em bé bị thương trong ta.

Chức năng đầu tiên của chánh niệm là nhận diện mà không phải là đấu tranh. Ta có thể dừng lại bất cứ lúc nào và ý thức về em bé bên trong. Khi nhận diện được em bé bị thương, điều đầu tiên ta cần làm là chào nó. Chỉ cần như vậy thôi. Có thể đứa bé đó đang rất buồn. Nếu ý thức được điều đó, ta có thể thở vào và nói: “Thở vào tôi biết là nỗi buồn đang có đó. Xin chào nỗi buồn. Thở ra, tôi sẽ chăm sóc em đàng hoàng”.

Khi nhận diện được em bé bị thương bên trong rồi thì chức năng thứ hai của chánh niệm là ôm ấp nó. Sự thực tập này rất thú vị. Thay vì đấu tranh chống lại những cảm xúc, ta trở về chăm sóc chúng đàng hoàng. Chánh niệm mang đến cho nó một người bạn, người bạn đó là định. Nhận diện và ôm ấp em bé bên trong một cách nhẹ nhàng sẽ làm vơi đi nỗi khổ niềm đau. Tuy những khó khăn còn đó nhưng ta sẽ không khổ đau nhiều nữa.

Sau khi nhận diện và ôm ấp em bé bên trong, chức năng thứ ba của chánh niệm là làm lắng dịu và làm vơi đi nỗi khổ niềm đau. Ôm ấp em bé một cách nhẹ nhàng ta có thể làm lắng dịu những cảm xúc khó chịu và ta bắt đầu thấy dễ chịu. Ôm ấp những cảm xúc mạnh bằng niệm và định, ta sẽ có khả năng thấy được gốc rễ của những tâm hành này, biết được những nỗi khổ niềm đau của ta từ đâu đến. Hiểu được gốc rễ của chúng thì khổ đau sẽ giảm bớt. Vì vậy chánh niệm là nhận diện, ôm ấp và làm vơi nỗi khổ đau.

Năng lượng chánh niệm chứa trong nó năng lượng chánh định và tuệ giác. Định giúp ta tập trung vào một đối tượng. Sự tập trung giúp cho cái thấy của ta trở nên rõ ràng và sáng tỏ, ta sẽ đạt được một tuệ giác. Tuệ giác luôn có sức mạnh giải thoát. Nếu ta biết cách duy trì chánh niệm thì định lực sẽ phát sinh. Nếu biết cách duy trì định lực thì tuệ giác cũng sẽ phát sinh. Năng lượng chánh niệm có khả năng giúp ta nhìn sâu và đạt được tuệ giác, có tuệ giác thì ta sẽ chuyển hóa khổ đau một cách dễ dàng.

Như lý tác ý

Nếu ta bị lạm dụng khi còn là một em bé bảy tuổi, thì ta cứ mang theo trong mình hình ảnh em bé bảy tuổi đầy thương tích và sợ hãi đó. Khi nghe điều gì gợi cho ta nhớ lại những khổ đau ấy thì tự động ta trở về sống với hình ảnh ngày xưa. Nhiều thứ ta thấy, ta nghe, ta đang gặp phải trong hiện tại làm cho ta nhớ lại những khổ đau quá khứ ấy.

Thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh quá khứ có thể làm cho ta sợ hãi, giận dữ và thất vọng. Ta gọi đó là phi như lý tác ý, bởi vì nó làm cho ta không an trú được trong giây phút hiện tại mà chìm đắm trong những khổ đau của quá khứ. Điều quan trọng là bất cứ lúc nào tâm ta hướng về nơi ấy, hướng về những hình ảnh quá khứ ấy thì ta phải tìm cách xử lý những nỗi buồn, nỗi sợ hãi và nỗi khổ đau đang phát khởi trong ta.

Tiếng chuông chánh niệm nhắc ta dừng lại những suy nghĩ, nói năng để trở về với hơi thở vào ra. Tiếng chuông chánh niệm có thể đưa ta ra khỏi hình ảnh khổ đau để tận hưởng hơi thở vào ra của mình một cách sâu lắng, để làm lắng dịu thân tâm và mỉm cười. Khi khổ đau phát khởi, ta trở về với hơi thở và nói với mình rằng: “Thở vào tôi biết là khổ đau đang có trong tôi”. Sự thực tập của ta là nhận diện và ôm ấp những cảm xúc để làm chủ chính mình. Nếu thực tập tốt thì ta có khả năng đi xa hơn. Với năng lượng niệm và định, ta có khả năng trở về với hình ảnh quá khứ để biết được nguyên nhân nào làm cho nó phát sinh: Sở dĩ tôi đang có tâm hành, cảm xúc này là bởi vì tôi đã tiếp xúc với những thứ kia.

Nhiều người trong chúng ta không có khả năng thoát ra khỏi thế giới của hình ảnh. Với năng lượng chánh niệm, ta nhận ra được khổ đau của quá khứ chỉ là hình ảnh, nó không có thật. Trong khi đó cuộc sống với tất cả những mầu nhiệm luôn luôn có đó và ta có thể sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, ý thức được như vậy là ta có thể thay đổi được toàn bộ tình trạng.

Mũi tên thứ hai

Chúng ta đã đánh mất khả năng nghỉ ngơi, đã lo lắng quá nhiều và không để cho cơ thể mình trị liệu. Cho dù có đi nghỉ hè vài tuần đi nữa, ta cũng không biết cách nghỉ ngơi. Những lo lắng, căng thẳng, sợ hãi làm cho tình trạng sức khỏe ta càng tệ hại thêm. Thiền tập có khả năng giúp ta buông thư những căng thẳng, ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn và có công năng trị liệu rất lớn. Vì vậy điều quan trọng là ta phải học lại nghệ thuật nghỉ ngơi và buông thư.

Khi ta có bình an thì những yếu tố của thân và tâm làm việc với nhau rất hòa hợp. Đó là mấu chốt làm nên sức khỏe. Những thành phần khác của cơ thể sẽ đến với nhau và làm việc một cách hài hòa. Những hóa chất trong cơ thể cũng được tiết ra đúng với liều lượng ta cần. Ta sẽ không tạo ra quá nhiều hóa chất như hoóc-môn adrenaline[1].

Đức Bụt thường nói về mũi tên thứ hai. Khi bị mũi tên bắn vào người, ta rất đau đớn. Nếu mũi tên thứ hai bắn trúng ngay vào chỗ đau đó thì nỗi đau sẽ lớn gấp mười lần. Đức Bụt dạy khi có những nỗi đau trong thân hoặc trong tâm, ta theo dõi hơi thở vào ra, nhận diện sự có mặt của chúng mà đừng thổi phồng tầm quan trọng của chúng lên. Nếu ta lo lắng, sợ hãi, chống đối, giận dữ nỗi đau của ta thì ta đã làm cho nỗi đau ấy tăng lên gấp mười lần hoặc hơn nữa. Nỗi lo lắng là mũi tên thứ hai. Chúng ta phải bảo vệ bản thân mình, đừng để cho mũi tên thứ hai bắn vào vì mũi tên thứ hai cũng từ mình mà ra.

Hạt giống

Mục đích của thiền tập là nhìn sâu vào lòng sự vật để thấy rõ gốc rễ, cội nguồn của chúng. Bất cứ một hành động nào ta làm, nếu nhìn sâu vào, ta cũng nhận ra được hạt giống của nó. Hạt giống đó có thể là do ông bà tổ tiên ta trao truyền lại. Bất kể ta làm gì, tổ tiên ta cũng đều làm với ta. Ba, ông bà nội, cố nội cùng làm với ta; mẹ, ông bà ngoại, cố ngoại cùng làm với ta. Tất cả tổ tiên ta đều có mặt đó trong mỗi tế bào cơ thể ta. Có những hạt giống được gieo trồng trong suốt dòng sinh mạng của ta, nhưng cũng có những hạt giống đã được gieo trồng trước khi hình hài này biểu hiện.

Đôi khi ta làm những điều mà chính ta không muốn nhưng ta vẫn cứ làm. Tập khí lôi kéo, thúc đẩy ta, khiến ta làm những điều không ý thức. Đôi khi ta làm mà không biết là ta đang làm. Thậm chí có khi ta không muốn làm mà ta vẫn cứ làm. Có khi ta nói: “Tôi không muốn làm điều này, nhưng nó mạnh hơn tôi và nó đẩy tôi đi”. Đó là hạt giống, là tập khí có thể do nhiều thế hệ trong quá khứ trao truyền lại.

Chúng ta được thừa hưởng rất nhiều từ ông bà tổ tiên ta. Nhờ chánh niệm, ta ý thức được những tập khí mà các thế hệ đi trước trao truyền lại. Chúng ta có thể thấy được rằng cha, mẹ, ông, bà ta cũng có những yếu kém tương tự như ta. Chúng ta ý thức mà không lên án, phán xét, không đổ lỗi là những tập khí này do ông bà tổ tiên tạo nên. Ta có thể mỉm cười với những vụng về yếu kém và tập khí của ta. Nhờ có ý thức, ta có thể chọn lựa để có thể hành động bằng cách khác. Chúng ta có thể kết thúc vòng luân hồi khổ đau ngay bây giờ.

Có thể trong quá khứ ta đã từng làm những điều mà ta đã được trao truyền ngoài ý muốn và ta đổ lỗi cho chính mình. Ta xem mình như là một bản ngã biệt lập, đầy những yếu kém. Nhưng với sự thức tỉnh, ta có thể bắt đầu chuyển hóa và buông bỏ những tập khí này. Với sự thực tập chánh niệm ta nhận ra rằng ta đang hành động theo tập khí. Đó là ý thức đầu tiên mà chánh niệm đem đến. Sau đó nếu ta thích thú thì chánh niệm và chánh định sẽ giúp ta nhìn sâu và tìm ra gốc rễ của những hành động ấy.

Hành động đó có thể bắt nguồn từ những chuyện xảy ra hôm qua hay từ 300 năm về trước mà gốc rễ của nó còn nằm sâu trong ông bà tổ tiên ta. Một khi ý thức được hành động của mình, ta biết được hành động ấy có đem lại lợi lạc hay không, nếu nó không lợi lạc thì ta quyết định không lặp lại nữa. Ý thức được tập khí và chú tâm hơn về những suy nghĩ, lời nói và hành động, ta có thể chuyển hóa chúng, không những cho bản thân mà còn cho cả ông bà tổ tiên. Chúng ta thực tập không chỉ cho riêng ta mà còn cho cả ông bà tổ tiên, con cháu và cho cả thế giới.

Nếu ta có khả năng mỉm cười với những bất trắc thì ta phải trân quý nó. Nếu ta làm được như thế thì tổ tiên ta cũng có khả năng mỉm cười với những khó khăn bất trắc trong họ. Nếu một người có thể giữ được bình tĩnh và mỉm cười được với những khó khăn bất trắc, thì thế giới sẽ có một cơ hội tốt hơn cho hòa bình. Điều chính yếu là ý thức được những hành động của ta. Chánh niệm sẽ giúp ta hiểu được hành động ấy từ đâu đến.

Nội kết và bế tắc

Áp đặt, xua đuổi hay phủ nhận nỗi đau trong thân tâm chỉ làm cho nỗi khổ đau ấy lớn mạnh hơn. Nỗi khổ đau của ta cũng chính là ta, hay nói chính xác hơn là một phần của ta. Phủ nhận nó tức là phủ nhận chính mình. Ngay khi ta chấp nhận được cảm thọ này thì ta bắt đầu có bình an hơn, và nỗi đau cũng bắt đầu giảm đi. Mỉm cười với nỗi đau là cách hay nhất, thông minh nhất và đẹp nhất mà ta có thể làm. Không có cách nào hay hơn cả.

Mỗi khi ta nhận diện được khổ thọ và làm quen với nó thì ta bắt đầu tiếp xúc được với chính mình. Từ từ chúng ta nhìn sâu vào bản chất và gốc rễ của nỗi đau. Sợ hãi, bất an, giận dữ, buồn rầu, ganh tị và vướng mắc làm ngăn chặn những cảm thọ và suy tư của ta, chúng ta cần thời gian và cơ hội để nhận diện chúng và nhìn sâu vào chúng. Hơi thở chánh niệm giúp ta đi qua được những nỗi đau. Chánh niệm là nhận diện sự có mặt của các cảm thọ, chấp nhận chúng, làm cho chúng lắng dịu và tiếp tục quan sát cho đến khi thấy được bản chất của khối nội kết. Chánh niệm là con đường duy nhất để chuyển hóa. Tất cả những hạt giống khổ đau đều có mặt trong ta; nếu ta sống trong thất niệm, lãng quên thì những hạt giống ấy sẽ bị tưới tẩm mỗi ngày. Chúng sẽ lớn mạnh lên và khối nội kết sẽ trở nên vững chắc hơn. Tuy nhiên, hơi thở ý thức sẽ chuyển hóa được những nội kết khổ đau ấy.

Nội kết cũng có thể được xem như những thứ ràng buộc, những nút thắt của những khối khổ đau nằm sâu trong tâm thức ta. Những nút thắt được tạo ra khi ta phản ứng lại những gì người khác nói và làm, hoặc khi ta đè nén những suy tư và cảm thọ. Ta có thể nhận diện được những ràng buộc đang cột chặt ta qua những khổ đau hoặc những tâm hành làm ta nghiện ngập không thể dừng lại được, như giận dữ, hận thù, tự hào, nghi ngờ, buồn rầu, vướng mắc. Chúng được tôi luyện bởi sự vô minh, thiếu hiểu biết, bởi những nhận thức sai lầm về bản thân và thực tại. Bằng sự thực tập chánh niệm, ta có thể nhận diện, chuyển hóa những cảm xúc và khổ đau khi chúng mới phát khởi để chúng không trở thành những khối nội kết. Khi không phản ứng lại những lời nói và hành động của người khác thì ta có khả năng giữ cho tâm mình được bình an định tĩnh, không tạo nên những nội kết, ràng buộc, ta sẽ nếm trải được niềm vui và hạnh phúc lớn hơn. Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cũng được thừa hưởng từ sự hiểu biết và thương yêu lớn ấy.

Vượt qua những cảm xúc mạnh

Cảm xúc mạnh giống như một cơn bão. Nếu nhìn vào một cái cây đang trong cơn bão ta thấy ngọn cây oằn oại, rất mong manh, có thể gãy đổ bất cứ lúc nào. Ta sợ cơn bão sẽ làm ngã gãy cây. Nhưng nếu nhìn xuống thân cây, ta sẽ nhận ra rằng những cái rễ của nó đã cắm sâu vào lòng đất và cái cây đó có thể chịu đựng được qua cơn bão. Chúng ta cũng là một cái cây. Trong khi cơn bão cảm xúc đi lên, ta đừng chú tâm lên đầu hoặc lên tim vì chúng như phần ngọn của cây. Ta phải rời khỏi trái tim, con mắt của cơn bão và trở về với thân cây. Thân cây của ta là ở vùng đan điền (cách dưới rốn một cm). Tập trung ở đan điền và chỉ chú tâm vào sự phồng lên xẹp xuống của bụng. Tiếp tục theo dõi hơi thở, ta sẽ đi qua được cơn bão cảm xúc.

Điều quan trọng là ta phải hiểu được rằng cảm xúc chỉ đi lên, ở lại một lúc rồi ra đi. Khi cơn bão tới, nó ở lại một thời gian rồi sau đó cũng đi qua. Vào giây phút khó khăn này phải nhớ rằng ta giàu có hơn cảm xúc của ta nhiều lắm. Điều này rất đơn giản ai cũng biết, tuy nhiên ta cần phải nhắc đi nhắc lại rằng ta giàu có hơn cảm xúc của ta nhiều. Nhiều người khổ đau là vì họ không biết đối diện với cảm xúc.

Chúng ta không nên đợi cho cảm xúc xuất hiện rồi mới thực tập, vì như thế chúng ta sẽ bị cơn bão cuốn đi. Chúng ta phải luyện tập ngay bây giờ, ngay khi cảm xúc chưa xuất hiện. Chúng ta có thể ngồi hay nằm và thực tập hơi thở chánh niệm, sử dụng sự phồng xẹp của bụng làm đối tượng chú tâm của mình. Thực tập như vậy mỗi ngày mười phút thì nội trong hai mươi ngày là ta sẽ biết cách xử lý khi có cảm xúc mạnh đi lên. Sau mười hay hai mươi phút cảm xúc sẽ đi qua và ta sẽ được an toàn, không bị cơn bão cuốn đi.

Chăm sóc cơn giận

Cơn giận có sức mạnh đốt cháy và hủy diệt. Nếu không biết cách thực tập chánh niệm, ta sẽ bị cơn giận thiêu đốt và hủy hoại. Ta khổ đau và những người chung quanh ta cũng khổ đau. Vì vậy khi thấy cơn giận đi lên, ta phải làm gì ngay lập tức. Điều quan trọng là ta nên hành động mà không nên phản ứng. Chúng ta hành động bằng cách mời hạt giống chánh niệm lên. Chúng ta thở vào thở ra, bước những bước chân ý thức, chế tác năng lượng chánh niệm để chăm sóc cơn giận.

Giả sử như một người mẹ đang làm việc trong phòng khách và nghe con mình khóc. Người mẹ dừng công việc, đi vào phòng ẵm em bé lên và ôm nó một cách dịu dàng. Khi năng lượng của cơn giận phát khởi ta cũng làm y như vậy. Cơn giận của ta là em bé bị ốm. Ta phải chăm sóc nó, cho nó lắng dịu.

Người hành giả biết rằng cơn giận không phải là kẻ thù của mình, cơn giận là đứa bé đang đau khổ. Ta phải chăm sóc đứa bé, sử dụng năng lượng chánh niệm để ôm ấp cơn giận bằng cách nhẹ nhàng nhất. Người ấy có thể nói: “Thở vào, tôi biết cơn giận đang có trong tôi. Thở ra, tôi ôm ấp cơn giận một cách bình yên”.

Khi thở như vậy, ta có hai nguồn năng lượng: năng lượng giận và năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm được tiếp tục chế tác bởi hơi thở ý thức và bước chân thiền hành sẽ lan vào vùng năng lượng giận.

Vào mùa hè, nếu đi vào một căn phòng quá nóng thì ta mở cửa sổ hoặc mở máy quạt hay máy điều hòa nhiệt độ lên. Không khí lạnh không cần phải đuổi khí nóng ra ngoài. Hơi lạnh chỉ đi vào nhẹ nhàng ôm lấy hơi nóng. Mười lăm phút sau không khí sẽ khác. Khi đưa chánh niệm vào cơn giận cũng vậy. Không có sự đấu tranh trong sự thực tập này. Cơn giận không phải là kẻ thù của ta, nó chính là ta. Chúng ta không nên bạo lực với chính mình. Đừng nói rằng chánh niệm là thiện còn cơn giận là ác, cái thiện phải chống lại cái ác. Trong các phương pháp thực tập chánh niệm không có đấu trường để chiến thắng. Giả sử ta đang có một cơn giận rất mạnh mà ta có cảm giác là nó không nguôi thì ta phải rất kiên nhẫn. Bằng cách chế tác năng lượng chánh niệm và ôm ấp cơn giận một cách nhẹ nhàng, ta sẽ thấy lắng dịu.

Tiêu thụ chánh niệm

Để quên đi khối khổ đau, buồn phiền, sợ hãi và bạo động ta tìm cách tiêu thụ và đánh mất mình trong sự tiêu thụ đó. Tại sao ta phải bật ti vi lên? Tại sao ta phải xem ti vi khi chương trình chẳng có gì thú vị? Ta xem bởi vì ta muốn khỏa lấp nỗi đau buồn, sợ hãi và giận dữ bằng một thứ gì đó. Ta không muốn chúng đi lên, vì vậy ta đè nén chúng bằng cách tiêu thụ.

Có những nỗi cô đơn, sợ hãi và trầm cảm trong ta mà ta không muốn đối diện, vì vậy ta cầm tờ báo lên, mở radio, bật ti vi, nhấc điện thoại hay xách xe chạy. Ta làm mọi thứ để tránh chạm trán với chính mình. Tiêu thụ như thế là một cách trốn chạy; và những sản phẩm ta tiêu thụ tiếp tục mang độc tố của bạo động, sợ hãi, giận hờn vào ta. Đàn áp những cảm thọ khổ đau, đè nén những suy tư tiêu cực, ta tạo ra những bế tắc trong tâm, làm cho chúng không lưu thông được. Như thế, ta tạo nên triệu chứng trầm cảm và bệnh tâm thần.

Khi máu huyết không lưu thông tốt thì ta có những đau nhức trong thân thể như đau đầu, đau lưng, đôi khi đau khắp cả mình mẩy. Tập thể dục, xoa bóp cho máu huyết lưu thông tốt, ta cũng làm cho những triệu chứng đau nhức trong cơ thể biến mất. Tâm thức ta cũng vậy. Nếu ta ngăn chặn những suy tư tiêu cực bằng cách tiêu thụ thì ta cũng làm cho tâm ta bị bế tắc, không lưu thông được, và như vậy những triệu chứng của các bệnh tâm thần sẽ xuất hiện. Vì thế điều quan trọng là không nên đè nén hay đàn áp, hãy cho phép những nỗi sợ hãi, đau khổ, buồn chán đi lên.

Và ta chỉ có thể làm được điều này khi đã sẵn sàng, hoặc khi những nỗi khổ đau bị tràn ngập. Ta có thể mời những suy tư tiêu cực lên cùng với năng lượng chánh niệm được chế tác qua sự thực tập của chúng ta. Năng lượng chánh niệm có mặt đó để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa. Nếu ta có thực tập, nếu ta biết cách ngồi, thì năng lượng của niệm định trong ta sẽ đủ mạnh để làm công việc nhận diện, ôm ấp và làm cho khổ đau lắng dịu. Sau khi được ôm ấp bởi năng lượng chánh niệm và có sự lắng dịu thì năng lượng của sự sợ hãi, giận hờn, trầm cảm trong ta sẽ yếu đi.

Năng lượng thương yêu

Tất cả chúng ta đều sợ rằng nhu yếu thương và được thương của ta không được thỏa mãn. Nỗi sợ cô đơn luôn có đó trong mỗi chúng ta. Ta phải nhận diện nỗi sợ hãi và nhu yếu đó. Phải nhìn sâu vào chúng. Thương yêu là biết an ủi vỗ về, biết hiến tặng sự hiểu biết và cảm thông. Hiểu là suối nguồn của thương yêu. Ta sẽ cảm thấy đau khổ nếu không ai hiểu ta. Và khi người đó không hiểu ta nghĩa là người đó không thể thương ta. Không có sự hiểu biết thì tình thương cũng không thể có mặt. Sự thật là ta cần hiểu, cần thương. Và ta đi tìm người có thể cung cấp cho ta cả hai thứ ấy.

Giá như ai đó hiểu và thương mình. Giá như người đó đang ở đâu đó. Nhưng chúng ta phải đặt lại câu hỏi: “Ta có khả năng hiểu và thương người kia không? Ta có khả năng chế tác hiểu biết và thương yêu mà chính ta cũng cần không? Bởi vì nếu ta không có khả năng chế tác năng lượng hiểu biết thì ta không làm được gì cả.

Giáo pháp của Bụt nhằm giúp ta chế tác năng lượng hiểu và thương. Nếu ta có khả năng chế tác nguồn năng lượng này thì trước tiên nó sẽ giúp ta thỏa mãn nhu yếu được thương. Sau đó với khả năng hiểu và thương ta có thể ôm ấp người kia. Ta có thể làm cho người kia hạnh phúc khi chính ta hạnh phúc. Hạnh phúc tạo ra thêm hạnh phúc, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu.

Vì vậy vấn đề không phải là làm thế nào để được thương và được hiểu, mà là ta có khả năng chế tác được tình thương và thấu hiểu được chính mình hay không. Nếu làm được điều đó ta sẽ thấy sung sướng, bởi vì nguồn năng lượng này làm ta thỏa mãn và làm cho những người xung quanh ta cũng thỏa mãn. Đó là tình thương của Bụt. Tình thương chân thật là như vậy. Thực ra, thương một người là cơ hội để học thương tất cả mọi người. Nếu ta có khả năng hiểu và thương thì ta có thể làm ngay bây giờ không cần phải chờ đợi. Nếu ta thành công trong lĩnh vực này thì nỗi sợ hãi, lo lắng của ta biến mất, ta sẽ thấy sung sướng ngay.

Hiểu

Đôi khi ta tin rằng hành động của ta phát xuất từ tình thương, nhưng nếu hành động ấy không dựa trên nền tảng của hiểu thì nó sẽ mang lại khổ đau. Ta muốn làm cho ai đó hạnh phúc và ta tin chắc rằng ta làm điều đó vì tình thương, nhưng hành động của ta có thể làm cho người kia khổ đau rất nhiều. Cho dù ta tin rằng hành động của ta xuất phát từ tình thương thì ta cũng gây cho con ta, vợ ta, chồng ta, bạn ta hay đồng nghiệp của ta khổ đau trầm trọng, bởi vì ta không đủ hiểu người đó. Vì vậy ta cần có con mắt hiểu biết, cần có tuệ giác để làm công cụ thương yêu một cách hiệu quả.

Nếu ta không hiểu được khó khăn, khổ đau, không hiểu được ước muốn sâu sắc của người kia thì ta không thể thương được người đó. Vì vậy điều quan trọng là ta phải kiểm tra lại với người kia và xin người kia giúp đỡ. Người cha phải hỏi con: “Cha có hiểu con đủ không? Cha có làm cho con khổ vì sự thiếu hiểu biết của cha không?”

Người mẹ cũng phải có khả năng hỏi con mình: “Con có nghĩ là mẹ hiểu con không? Con nói cho mẹ nghe để mẹ có thể thương con đúng cách”. Đó là ngôn ngữ của yêu thương. Nếu mình thành thật thì con mình sẽ nói cho mình nghe những khổ đau của chúng. Và khi hiểu được nỗi khổ đau của chúng, ta sẽ không làm những điều gây khổ đau cho con mình nữa, những điều mà ta tin chắc là ta làm chỉ vì hạnh phúc và sự an sinh của chúng. Hiểu sâu là bản chất của thương yêu. Cánh tay của Bồ tát là biểu trưng cho hành động nhưng hành động của chúng ta phải được hướng dẫn kỹ càng bằng con mắt hiểu biết.

Bốn câu thần chú

Trong đạo Bụt có nói về thần chú. Thần chú là một phép thần, một khi phát ra là có thể thay đổi được toàn bộ tình trạng, tâm thức, cơ thể hoặc một con người. Nhưng thần chú phải được nói ra trong trạng thái định tĩnh, trạng thái mà trong đó thân và tâm hoàn toàn hợp nhất. Những gì ta nói trong trạng thái này sẽ trở thành thần chú.

Vì vậy tôi sẽ giới thiệu cho quý vị bốn câu thần chú rất linh nghiệm, không phải bằng tiếng Sanskrit, tiếng Tây tạng hay tiếng Anh mà bằng tiếng Việt.

Câu thần chú thứ nhất là: “Em yêu, anh có mặt đây cho em”. (Hay: “Mẹ ơi, con có mặt đây cho mẹ”). Có thể tối nay ta thực tập thở chánh niệm trong vài phút để đưa thân tâm về lại với nhau, rồi đến gần người ta thương, ta nhìn vào mắt người kia bằng niệm định và bắt đầu nói lên câu thần chú: “Em yêu, anh thật sự có mặt đây cho em”. (Hay: “Mẹ ơi, con thật sự có mặt đây cho mẹ”). Ta phải nói câu này bằng cả thân tâm, sau đó ta sẽ thấy sự chuyển hóa.

Có mặt là bước đầu tiên. Công nhận sự có mặt của người kia là bước thứ hai. Thương là công nhận, được thương là được người kia công nhận. Nếu ta thương một ai đó mà ta không biết hoặc cứ lờ đi sự có mặt của người ấy thì đó không phải là tình thương chân thật. Có thể ta không muốn bỏ mặc hay thờ ơ với người ấy nhưng cách ta làm, ta nói, ta nhìn không biểu hiện được ước muốn công nhận sự có mặt của người kia. Khi được ai đó thương, ta muốn người kia công nhận sự có mặt của ta. Đây là một sự thực tập rất quan trọng. Ta có thể làm tất cả những gì cần thiết để có thể làm được điều này: Nhận diện sự có mặt của người thương vài lần trong ngày.

Để đạt được mục đích này, ta cũng cần thực tập thân tâm hợp nhất. Thực tập thở vào thở ra năm, bảy lần, rồi đến gần người kia, nhìn vào người kia, mỉm cười và bắt đầu câu thần chú thứ hai: “Em yêu, anh biết em có đó nên anh rất hạnh phúc”. (Hoặc: “Mẹ ơi, con biết mẹ có đó nên con rất hạnh phúc”). Nếu ta thực tập như vậy với niệm định hùng hậu, ta sẽ thấy người kia nở ra ngay như một đóa hoa. Được thương là được công nhận. Ta có thể thực tập như thế vài lần trong ngày, điều này không khó. Đây đích thực là thiền tập.

Câu thần chú thứ ba thường được dùng trong những trường hợp người thương của ta khổ đau. Sống có chánh niệm, ta biết được những gì đang xảy ra cho ta trong giây phút hiện tại. Vì vậy ta cũng dễ dàng thấy được khi người thương của ta khổ đau. Ngay lúc đó ta đến với người kia, với thân tâm hợp nhất và định tĩnh, ta phát ra câu thần chú thứ ba: “Em yêu, anh biết em đang khổ đau và anh đang có mặt đây cho em”. (Hoặc: “Mẹ, con biết mẹ đang khổ đau nên con có mặt đây cho mẹ”). Bởi vì khi khổ đau, ta rất cần sự có mặt của người ta thương. Khi ta khổ mà người ta thương không biết ta đang khổ thì ta càng khổ hơn. Vì vậy điều ta có thể làm ngay lập tức là có mặt thật sự cho người ta thương và nói lên câu thần chú với tất cả chánh niệm của mình: “Em yêu, anh biết em đang khổ nên anh có mặt cho em đây”. Chưa làm gì mà người kia đã thấy bớt khổ rồi. Sự có mặt của mình là một phép lạ. Hiểu được nỗi khổ của người kia là một phép lạ và chúng ta có thể hiến tặng phép lạ cho người ta thương ngay lập tức.

Câu thần chú thứ tư khó thực tập hơn. Câu này thực tập khi chính ta đau khổ và ta nghĩ rằng nỗi khổ của ta do chính người ta thương nhất trên đời tạo ra. Nếu như một ai khác nói hay làm điều đó với mình thì chắc mình sẽ ít khổ hơn. Nhưng đằng này chính người mình thương nhất trên đời nói điều đó với mình, làm điều đó với mình, vì vậy mà mình khổ hơn. Mình tổn thương nặng nề vì nỗi khổ đau của mình do người mình thương nhất gây nên. Mình muốn chạy vào phòng đóng cửa lại, một mình mình khóc, một mình mình hay. Mình không muốn đến với người kia để cầu cứu sự giúp đỡ. Chính cái tự ái này là một chướng ngại.

Theo lời Bụt dạy, trong tình thương chân thật không có chỗ cho sự tự ái. Mỗi khi khổ đau, ta phải tới với người kia để cầu cứu sự giúp đỡ. Đó là tình thương chân thật. Đừng để tự ái chia cách mình. Nếu ta nghĩ rằng tình thương của ta dành cho người kia là tình thương chân thật thì ta phải vượt qua tự ái, phải luôn luôn tới với người kia. Chính vì vậy mà tôi phát minh ra câu thần chú này. Thực tập để đưa thân tâm về lại với nhau trước khi tới với người đó nói câu thần chú thứ tư: “Em yêu, anh đang khổ, và anh cần em giúp đỡ”. (Hoặc: “Mẹ ơi, con đang khổ và con cần mẹ giúp con”).

Truyền thông chánh niệm

Ngày nay truyền thông giữa người với người, giữa những cá nhân, gia đình và quốc gia đã trở nên rất khó khăn. Tuy nhiên có những phương pháp cụ thể để tự rèn luyện cách truyền thông bất bạo động, để tình thương trong mỗi người được đánh thức, để chúng ta có thể hiểu nhau, thông cảm cho nhau.

Nói lời ái ngữ và lắng nghe sâu là những thực tập tinh yếu cho việc truyền thông bất bạo động. Truyền thông chánh niệm nghĩa là ý thức những gì ta đang nói và sử dụng ngôn ngữ hòa ái, có ý thức, là lắng nghe người khác một cách sâu sắc để hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng ta có thể dùng phương pháp này trong bất kỳ lúc nào, ở đâu, trong tình huống nào.

Để cho cơ thể khỏe mạnh, trái tim ta phải bơm máu liên tục. Để cho mối quan hệ của ta lành mạnh, ta cũng cần truyền thông chánh niệm liên tục. Tuy nhiên nhiều người thấy khó để truyền thông có hiệu quả, bởi vì họ có quá nhiều tuyệt vọng và giận hờn. Cho dù khi đến với người kia, ta có thiện chí muốn lắng nghe hết lòng nhưng nếu ta không có khả năng sử dụng ái ngữ, định tĩnh thì không có hy vọng người kia sẽ nghe ta và hiểu những gì ta nói. Có thể ta có chủ tâm dùng ái ngữ và định tĩnh nhưng thường khi bắt đầu nói thì nỗi khổ đau, tuyệt vọng và sợ hãi đi lên. Mặc dù với thiện chí tốt nhất, ta cũng bắt đầu phàn nàn, đổ lỗi và phê phán gắt gao. Lời nói của ta bắt đầu phát ra một năng lượng khiến người kia chống lại ta, bởi vì họ không thể chịu nổi những gì ta đang nói. Truyền thông giữa ta và người kia bị đổ vỡ. Khi tình hình như thế xảy ra, ta phải học đi học lại cách truyền thông. Điều quan trọng là làm thế nào để học cách lắng nghe sâu và sử dụng ái ngữ? Để làm được điều này trước tiên ta phải chăm sóc nỗi đau và cơn giận của chính ta. Bằng cách thực tập hơi thở chánh niệm và bước chân thiền hành, ta làm lớn mạnh nguồn năng lượng chánh niệm trong ta. Ta cần tập luyện trong vòng vài tuần hay thậm chí vài tháng để có thể vượt qua nỗi đau và sử dụng ngôn ngữ từ ái. Khi chánh niệm hùng hậu, ta sẽ dễ dàng nhìn sâu hơn vào tình trạng của ta để làm phát khởi hiểu biết và thương yêu.

Khả năng lắng nghe sâu cũng vậy. Nếu ta không có khả năng ôm ấp, chuyển hóa niềm đau, hờn giận của chính ta thì sẽ khó để lắng nghe niềm đau của người khác, đặc biệt là khi lời nói của người kia đầy phán xét tiêu cực, đầy tri giác sai lầm và mang tính đổ lỗi. Trong thâm tâm ta, ta biết rằng ta nên lắng nghe và ta đã cố gắng hết sức nhưng thường thì sau vài phút ta không còn nghe nổi nữa cho dù là thêm một lời. Ta thấy quá đầy. Cho dù ta đã phát nguyện là bất kể lời nói có khiêu khích cách mấy, có quyết đoán không đúng ta vẫn ngồi yên lắng nghe bằng tâm từ bi nhưng ta không thể làm được điều đó. Thiện chí của ta biến mất bởi vì ta không thể xử lý được nỗi đau đang lớn lên trong ta.

Tuy nhiên, nếu ta có khả năng lắng nghe thì chỉ trong vòng một giờ người kia sẽ bớt khổ đi nhiều. Lắng nghe với tâm cởi mở, ta sẽ có khả năng làm cho tình thương sống dậy. Ta sẽ hiến tặng cho người kia cơ hội để bày tỏ những khổ đau của họ.

Lắng nghe như thế đòi hỏi phải có sự tập luyện. Thực tập hơi thở chánh niệm và bước chân thiền hành có thể chuyển hóa hạt giống giận dữ và bực bội trong ta, cho phép trái tim ta mở rộng để lắng nghe người khác bằng tình thương và lòng bi mẫn.

Con người đích thực

Thông thường trong đời sống gia đình, người ta phải thương lượng thỏa hiệp để có bình an. Người ta mua một ít bình an để có thể cầm cự qua ngày. Nếu ta cũng sống như vậy thì ta không phải là một bậc đại nhân, mà chỉ là một cái bát nứt, không thể chứa được một bát cháo. Nếu muốn trở thành một pháp khí lớn ta phải quyết tâm không để cho người khác lừa gạt mình.

Thiền sư Lâm Tế đã khuyên chúng ta nhiều lần  phải làm chủ hoàn cảnh của mình. Điều đó không có nghĩa là ta phải đấu tranh hay đàn áp người kia. Giả sử ta có một người bạn rất dễ nổi giận, ta nghĩ người đó đang có vấn đề và ta tìm cách đè cơn giận của người kia xuống. Ta có thể nghĩ rằng vì người kia lên giọng nên ta phải lên giọng. Hoặc, ta có thể làm chủ chính mình trong tình huống này, thương những khó khăn của người kia. Đôi khi người đó không phải là con người trong hiện tại, mà là con người trong quá khứ nhưng ta nghĩ đó là nguyên nhân chính của vấn đề. Ta nói rằng ta hành xử như vậy là vì ba mẹ ta hay ai đó đã hành xử với ta như thế khi ta còn nhỏ. Nhưng mỗi người đều có một nghiệp lực riêng và mỗi người đều là người thầy trong chính hoàn cảnh hiện tại của mình, mà không phải nô lệ cho quá khứ hay hiện tại của người khác.

Con người đích thực không đi tìm người thầy bên ngoài. Ta phải có trách nhiệm cho vận mệnh của ta, ta phải có trách nhiệm cho lời nói, suy nghĩ, hành động của ta. Chánh niệm giúp ta làm được điều này. Ta sẽ nhận ra: “Tôi đang suy nghĩ như vậy, tôi có trách nhiệm cho những suy nghĩ của tôi. Tôi đã nói như vậy, tôi có trách nhiệm cho những lời nói của tôi. Tôi làm như vậy và tôi có trách nhiệm cho hành động của tôi”. Ta phải biết rằng mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ đều mang theo chữ ký của mình. Chúng ta phải có trách nhiệm cho nó, phải có trách nhiệm với chính tự thân mình. Cho dù ở đâu, đứng hay ngồi thì ta cũng là một con người tự do. Ta vẫn là ta. Ta là người thầy cho chính mình. Chúng ta chỉ cần sống với tám chữ: “Dù ở đâu cũng làm người đích thực” là đủ để làm học trò của thiền sư Lâm Tế, xứng đáng là sự tiếp nối của Ngài. Hãy viết tám chữ này treo lên đâu đó để nhắc nhở mình.

Tri giác sai lầm

Có một người đàn ông bỏ nhà đi rất lâu. Trước khi đi, vợ ông có thai nhưng ông không biết. Khi ông ta trở về thì vợ sinh con. Ông ta nghi ngờ đứa con này không phải của ông, và tin rằng nó là con hàng xóm, người thường qua giúp việc cho gia đình ông. Ông ta nhìn đứa bé một cách nghi ngờ và ghét nó. Nhìn mặt đứa bé là ông thấy mặt người hàng xóm. Một ngày nọ người anh của ông đến thăm, thấy cậu bé, người anh thốt lên: “Nó giống mày như đúc, như một khuôn đúc ra vậy”. Chuyến viếng thăm của người anh là một sự kiện hạnh phúc, giúp người cha buông bỏ được tri giác sai lầm. Chính tri giác sai lầm này đã thống trị, làm khổ người vợ 12 năm. Nó làm cho người cha khổ đau cùng cực, làm cho người vợ điêu đứng và tất nhiên cũng làm cho cậu bé khổ đau vì sự hận thù.

Ta luôn hành động dựa trên những tri giác sai lầm. Ta không nên tin chắc vào bất kỳ một tri giác nào của mình. Khi nhìn cảnh mặt trời lặn, có thể ta tin rằng ta đang thấy mặt trời thực, nhưng nhà khoa học cho ta biết rằng mặt trời mà ta thấy là mặt trời của cách đây tám phút. Từ một khoảng cách xa như thế ánh nắng mặt trời phải mất tám phút để đến trái đất của chúng ta. Khi nhìn một vì sao ta cũng nghĩ là vì sao đang ở đó, nhưng ngôi sao kia có thể đã biến mất cách đây một, hai hay mười ngàn năm rồi.

Ta phải cẩn thận với tri giác của ta nếu không ta sẽ khổ đau. Ta có thể viết xuống tờ giấy câu “có chắc không?” treo lên trong phòng. Trong các bệnh viện và các phòng khám y khoa, người ta cũng bắt đầu treo những câu như: “Dù chắc chắn rồi vẫn phải kiểm tra lại”. Đây là một lời cảnh báo rằng nếu không tìm ra bệnh sớm thì sẽ khó để điều trị. Các bác sĩ y khoa không nghĩ đến các tâm hành. Họ nghĩ đến căn bệnh chưa phát hiện. Nhưng chúng ta cũng có thể sử dụng khẩu hiệu này: “Dù chắc chắn rồi vẫn phải kiểm tra lại”. Ta đã làm cho tự thân khổ đau. Ta đã xây nên địa ngục cho chính mình và cho những người thương bởi tri giác sai lầm. Ta có chắc về tri giác của ta không?

Có những người khổ đau mười, hai mươi năm vì tri giác sai lầm. Họ nghĩ rằng người kia đã phản bội họ, thù ghét họ cho dù người kia chỉ không đáp lại thiện chí của họ. Là nạn nhân của tri giác sai lầm, ta sẽ làm cho chính ta và những người chung quanh khổ đau rất nhiều.

Khi giận dữ hoặc khổ đau, ta phải trở về kiểm tra lại nội dung và bản chất tri giác của ta. Nếu ta có khả năng lấy đi tri giác sai lầm thì hạnh phúc an vui sẽ được phục hồi, ta sẽ có khả năng thương lại người kia.

Buông bỏ

Buông bỏ nghĩa là buông bỏ cái gì đó. Cái đó có thể là đối tượng của tâm thức do ta tạo nên: một ý niệm, một cảm thọ, một mong muốn hay một niềm tin. Kẹt vào ý niệm đó có thể gây nên nhiều khổ đau và hệ lụy. Chúng ta muốn buông bỏ nó đi nhưng buông như thế nào? Chỉ muốn thôi thì không đủ. Trước tiên ta phải nhận diện nó như một cái gì có thật. Ta phải nhìn sâu vào bản chất của chúng và xem thử chúng từ đâu đến, bởi vì những ý niệm này được phát sinh từ những cảm thọ, cảm xúc và những kinh nghiệm quá khứ của ta, từ những điều mà ta đã thấy và đã nghe. Với năng lượng chánh niệm, chánh định ta có thể nhìn sâu và khám phá ra gốc rễ của những ý niệm, cảm thọ, cảm xúc, mong muốn này. Chánh niệm và chánh định đưa đến tuệ giác. Tuệ giác giúp ta buông bỏ đối tượng của tâm thức.

Giả sử ta có một ý niệm về hạnh phúc, về những điều kiện làm nên hạnh phúc của ta. Ý niệm này có gốc rễ trong ta và trong môi trường ta sống. Nó cho ta biết những điều kiện nào ta cần để có hạnh phúc. Ta ôm ấp ý niệm này mười, hai mươi năm và bây giờ ta nhận ra rằng chính ý niệm này làm ta đau khổ. Có thể trong đó có yếu tố của vô minh, tham lam và giận dữ. Những yếu tố này là bản chất của khổ đau. Mặt khác ta biết rằng ta cũng có những yếu tố khác như niềm vui, sự buông bỏ hay tình thương đích thực. Nhận ra những yếu tố này cho ta những giây phút hạnh phúc đích thực. Khi ta chế tác được những giây phút hạnh phúc đích thực thì việc buông bỏ những đối tượng tham đắm trở nên dễ dàng hơn, bởi vì ta có tuệ giác, rằng những đối tượng tham đắm này không làm ta hạnh phúc.

Rất nhiều người muốn buông bỏ nhưng họ không làm được vì họ chưa đủ tuệ giác, họ chưa thấy được những thứ khác, những cánh cửa khác mang tới cho họ hạnh phúc an vui. Sợ hãi là một yếu tố ngăn cản ta buông bỏ. Ta sợ rằng nếu buông bỏ thì ta không còn gì để bám víu. Buông bỏ là một sự thực tập, là một nghệ thuật. Một khi ta đủ mạnh, đủ quyết tâm thì ta sẽ buông bỏ những phiền não dễ dàng.

Mặc cảm tự ti

Nhiều người có ý niệm rằng họ không giỏi gì cả, họ không thể thành công như những người khác. Vì vậy họ không thể hạnh phúc. Họ ganh tị với những thành đạt và địa vị của người khác, trong khi họ tự cho họ là thất bại vì không có những thành công như những người khác.

Ta phải giúp cho những người có tư tưởng như thế. Ta phải tới với người đó và nói: “Anh không nên có mặc cảm tự ti. Tôi thấy trong anh có những hạt giống rất tốt có thể được phát triển và làm cho anh trở thành bậc đại nhân. Nếu nhìn sâu và tiếp xúc với những hạt giống hiền thiện trong anh, anh sẽ có khả năng vượt qua mặc cảm vô dụng và biểu hiện bản chất thật của anh”. Thiền sư Quy Sơn có viết: “Kẻ kia đã là đấng trượng phu thì tại sao ta lại không? Đừng nên có mặc cảm tư ti mà chùn bước chịu thua”. 

Những từ này đánh thức chúng ta. Trong xã hội hiện đại, các nhà tâm lý trị liệu báo cáo rằng nhiều người khổ đau vì mặc cảm tự ti. Họ thấy họ không có giá trị, không có gì để hiến tặng; và họ rơi vào trạng thái trầm cảm, không còn sinh hoạt bình thường, không còn khả năng chăm sóc cho bản thân hay cho gia đình. Các nhà tâm lý, trị liệu, chăm bệnh, thầy giáo, cô giáo, các nhà lãnh đạo tâm linh, những ai gần gũi với những người này phải có bổn phận giúp họ thấy được thực chất của họ rõ ràng hơn để họ có thể giải phóng chính họ ra khỏi sự vô minh, rằng họ là vô dụng. Nếu ta biết bạn ta, những người trong gia đình coi họ là vô dụng, bất lực, không có khả năng làm những điều hay ho, có ý nghĩa; và những độc ảnh tiêu cực này lấy đi hạnh phúc của người đó thì ta phải giúp người đó lấy đi cái mặc cảm này.

Ta cũng phải thực tập để không tạo thêm những mặc cảm vô dụng nơi người khác. Trong đời sống hằng ngày, có khi ta nôn nóng, bực bội, vì thế ta đã nói những điều chỉ trích, phán xét, khó nghe, đặc biệt liên quan đến con cái ta. Khi chúng bị nhiều áp lực vì công việc, học hành, bố mẹ thường mắc sai lầm là nói những điều gắt gỏng, không dễ thương, hay đổ lỗi trong những lúc căng thẳng bực bội. Đất tâm của đứa bé còn rất non nớt, tươi mới vì vậy nếu ta gieo những hạt giống tiêu cực như thế vào con ta thì ta sẽ hủy diệt khả năng hạnh phúc của chúng. Vì vậy phụ huynh, thầy cô giáo, anh chị em, bạn bè, tất cả phải rất thận trọng. Ta phải thực tập chánh niệm để tránh gieo vào tâm thức của con em, học sinh, những người trong gia đình, bạn bè… những hạt giống tiêu cực.

Trị liệu quá khứ

Hiện tại của ta là hiện tại của tất cả tổ tiên ta. Họ vẫn còn sống trong ta. Mỗi khi ta cười là tất cả các thế hệ tổ tiên, con cháu và tất cả các thế hệ tương lai cũng đang mỉm cười. Chúng ta không chỉ thực tập cho bản thân mình mà cho tất cả mọi người, cho tất cả các dòng sinh mạng. Nếu ta đã gây nên những lầm lỗi làm cho người thương của ta khổ đau mà người đó không còn sống nữa thì ta cũng đừng tuyệt vọng. Ta có thể trị liệu vết thương trong chính tự thân mình. Người mà ta nghĩ đã qua đời thực ra vẫn còn sống trong ta. Ta có thể làm cho người kia mỉm cười. Giả sử khi bà ta còn sống, vì thất niệm ta đã nói những điều khiến cho bà đau khổ và ta vẫn còn ân hận. Thì hãy ngồi xuống, thở những hơi thở chánh niệm, quán tưởng bà đang ngồi với mình và nói: “Bà ơi, con xin lỗi bà, con sẽ không bao giờ nói những điều như thế nữa với bà hay với bất cứ người nào con thương”. Nếu ta thành tâm, định tĩnh và nói ra những lời chánh niệm, ta sẽ thấy bà trong ta mỉm cười và vết thương được trị liệu. Lỗi lầm là do những vụng về, thất niệm trong tâm gây ra nên cũng từ tâm mà chuyển hóa. Đó là lời Bụt dạy.

Cho dù ta nghĩ rằng quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, nhưng nếu nhìn sâu ta sẽ thấy được thực tại lớn hơn thế. Quá khứ nằm trong hiện tại vì hiện tại được làm bằng quá khứ. Theo giáo lý này thì nếu ta thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại và tiếp xúc được với hiện tại sâu sắc, ta cũng tiếp xúc được với quá khứ và có khả năng sửa chữa quá khứ. Đây là giáo lý và là một sự thực tập rất mầu nhiệm. Ta không cần phải mang vết thương suốt đời. Tất cả chúng ta ai cũng có khi thất niệm. Dù ta đã gây nên những lỗi lầm trong quá khứ, nhưng điều đó không có nghĩa là ta phải luôn mang theo tội lỗi ấy mà không chuyển hóa được. Tiếp xúc sâu sắc với hiện tại, ta tiếp xúc được với quá khứ. Chăm sóc hiện tại ta sẽ sửa chữa được quá khứ. Thực tập làm mới là thực tập của tâm. Một khi đã nhận ra những lỗi lầm ta đã gây ra trong quá khứ, ta quyết tâm không bao giờ lặp lại nữa. Vết thương được trị liệu. Đó là một sự thực tập mầu nhiệm.

Đi với ba mẹ

Khi đi, ta đi cho ai? Ta có thể đi để đến một nơi nào đó, nhưng ta cũng có thể đi như một sự thiền tập. Chúng ta có thể đi cho ba mẹ, ông bà. Ba mẹ, ông bà ta có thể không biết cách đi thiền hành. Tổ tiên của ta có thể sống cả đời mà không có cơ hội bước đi những bước chân an lạc hạnh phúc, không biết thiết lập thân tâm trong giây phút hiện tại. Đó là một điều đáng tiếc mà ta không nên lặp lại.

Tất cả tổ tiên và các thế hệ tương lai đang có mặt trong ta. Giải thoát không phải là vấn đề cá nhân. Một khi tổ tiên trong ta còn khổ đau thì ta không thể hạnh phúc được và ta sẽ trao truyền khổ đau ấy cho con cháu ta.

Đã đến lúc ta phải giải phóng cho tổ tiên ta và cho các thế hệ tương lai bằng cách giải phóng chính mình. Nếu ta có thể bước được một bước chân tự do hạnh phúc, tiếp xúc được với đất Mẹ một cách chánh niệm thì ta có thể bước được một trăm bước hạnh phúc tự do. Ta đi cho ta, cho các thế hệ tổ tiên và cho con cháu ta. Tất cả chúng ta đều trở về và cùng nhau tìm lại hạnh phúc bình an.

Khi bước đi, ta quán tưởng mẹ ta cũng đang bước với ta. Điều này không có gì khó cả vì ta biết rằng chân ta là sự tiếp nối của bàn chân mẹ. Thực tập sâu sắc ta sẽ thấy được mẹ có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Cơ thể ta cũng là sự tiếp nối của cơ thể mẹ. Khi bước một bước, ta có thể nói: “Mẹ ơi, đi với con mẹ nhé”. Tự nhiên ta cảm được mẹ trong ta đang bước với ta. Có thể trong suốt cuộc đời của mẹ, mẹ không có nhiều cơ hội để bước đi trong giây phút hiện tại để tiếp xúc với đất Mẹ như ta. Từ từ tình thương và lòng từ bi trong ta phát khởi. Đó là nhờ ta thấy được mẹ đang bước với ta. Đây không phải tưởng tượng mà là một thực tại.

Ta có thể mời ba cùng đi với ta. Ta có thể mời người thương cùng đi với ta ngay bây giờ, ở đây. Ta có thể mời người ấy đi với mình mà không cần có con người bằng xương bằng thịt của họ ở đó. Ta là sự tiếp nối của tổ tiên ta. Tổ tiên ta hoàn toàn có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Khi ta bước một bước chân an lạc thì ta biết rằng tất cả tổ tiên ta cũng đang bước bước chân ấy với ta. Hàng triệu bước chân cùng bước một lần. Với kỹ thuật phim ảnh người ta có thể tạo ra hình ảnh đó. Hàng ngàn bước chân đang cùng bước một lần. Tâm ta cũng có thể làm được điều ấy. Tâm ta có thể thấy được hàng ngàn, hàng triệu bước chân của tổ tiên ta đang cùng bước với ta. Sự thực tập quán tưởng này sẽ phá tan đi ý niệm mình là một cái ngã riêng biệt. Ta đi và tổ tiên ta cũng đi.

Ta có thể đi bằng đôi chân của mẹ. Mẹ thật tội nghiệp, mẹ không có nhiều cơ hội để đi như vậy. Ta có thể nói với mẹ: “Mẹ ơi, mời mẹ đi với con”. Và ta có thể đi với mẹ, trái tim ta sẽ ngập tràn tình thương. Ta giải thoát cho ta và đồng thời giải thoát cho mẹ, bởi vì sự thật là mẹ có trong ta, trong mỗi tế bào cơ thể ta. Ba ta cũng hoàn toàn có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Ta có thể nói với ba: “Ba ơi, mời ba đi với con”. Tức thì ta bước đi bằng đôi chân của ba. Rất lý thú và bổ ích. Điều này không khó. Ta không cần phải gồng mình hay đấu tranh để làm chuyện này. Ta chỉ cần ý thức và mọi chuyện sẽ xảy ra rất mầu nhiệm. Ta cũng có thể ngồi cho mẹ. Có rất nhiều người mẹ không có cơ hội để ngồi yên mà không làm gì cả. Đây là một công việc rất quan trọng. Chúng ta chỉ ngồi và thở cho có chánh niệm, đó là điều mà ta có thể làm cho mẹ, cho dù mẹ ta đã qua đời hay còn sống với ta, cho dù mẹ ở xa ta hay gần ta, ta cũng có thể làm được điều ấy. Sau khi có thể đi cho người thương, ta có thể đi cho những người đã làm ta điêu đứng. Đi cho những người đã công kích ta, những người đã tàn phá nhà cửa, đất nước và dân tộc ta. Những người này đã không hạnh phúc. Họ không đủ tình thương cho chính họ và cho những người chung quanh. Họ làm cho đời sống của ta, của gia đình và của dân tộc ta trở nên nghèo nàn khốn đốn. Và đến lúc ta có thể đi cho họ. Đi như thế ta trở thành Bụt, trở thành Bồ tát tràn đầy tình thương và cảm thông, đầy từ bi và hiểu biết.


[1] Chất hoóc-môn tiết ra từ tuyến thượng thận, làm tăng huyết áp, tim đập nhanh và hoạt động như một tác nhân truyền tín hiệu thần kinh khi cơ thể bị căng thẳng hay gặp nguy hiểm.

Giác ngộ

Tương tức

Nếu là một nhà thơ, ta sẽ thấy được đám mây đang trôi nổi trong tờ giấy này. Không có mây thì sẽ không có mưa, không có mưa thì cây sẽ không lớn lên được. Và không có cây thì ta không thể làm nên giấy. Đám mây là tinh hoa của tờ giấy. Nếu đám mây không có thì tờ giấy cũng không. Vì vậy ta có thể nói mây và giấy tương tức.

Tương tức dịch ra tiếng Anh là interbeing, chưa có trong từ điển tiếng Anh. Nhưng nếu ta kết hợp tiếp đầu ngữ inter (là nhau, trong nhau) với động từ to be (có) thì ta có một từ mới là interbeing (có trong nhau, tương tức). Nếu nhìn sâu hơn nữa vào tờ giấy, ta sẽ thấy mặt trời trong đó. Nếu không có mặt trời thì rừng cây không thể lớn lên được. Thực ra nếu không có mặt trời thì không có gì có thể tồn tại. Vì vậy ta biết mặt trời cũng có mặt trong tờ giấy. Tờ giấy và mặt trời tương tức. Nếu tiếp tục nhìn, ta sẽ thấy được người tiều phu đốn cây mang về xưởng máy để chế tạo ra giấy. Ta cũng thấy được những hạt lúa trong đó. Ta biết được người tiều phu không thể sống được nếu không có cơm ăn hằng ngày. Vì vậy hạt lúa làm thành cơm cũng có mặt trong tờ giấy. Cha mẹ người tiều phu cũng có mặt trong đó. Nhìn như thế ta sẽ thấy nếu không có những thứ ấy thì tờ giấy cũng không biểu hiện được.

Nhìn sâu hơn một chút ta cũng thấy ta trong đó. Điều này cũng không khó lắm vì khi nhìn vào tờ giấy ta thấy tờ giấy cũng là một phần của tâm thức ta. Tâm thức bạn cũng có trong đó mà tâm thức tôi cũng có trong đó. Vì vậy ta có thể nói mọi thứ đều có trong tờ giấy. Ta không thể chỉ ra bất cứ thứ gì mà không có trong tờ giấy: thời gian, không gian, đất mẹ, cơn mưa, những chất khoáng trong lòng đất, mặt trời, đám mây, dòng sông và hơi nóng. Tất cả cùng tồn tại với tờ giấy. Vì vậy ta nên đưa từ interbeing (tương tức) vào từ điển tiếng Anh. Có là có trong nhau (tương tức). Ta không thể có một mình ta. Ta tương tức với tất cả những thứ khác. Tờ giấy này có vì tất cả những yếu tố khác có.

Giả sử ta trả một trong những yếu tố làm ra giấy về lại nguồn gốc của nó, như trả ánh nắng mặt trời về cho mặt trời thì cái gì sẽ xảy ra? Ta nghĩ tờ giấy có tồn tại được không? Không. Không có ánh nắng mặt trời thì không có gì có thể tồn tại được. Nếu trả ông tiều phu về cho mẹ của tiều phu thì giấy cũng không có. Thực tế, giấy được làm bằng những yếu tố không phải giấy. Nếu ta trả những yếu tố không phải giấy về với nguồn gốc của nó thì giấy cũng không có. Không có những yếu tố không phải giấy như tâm thức, người tiều phu, ánh nắng mặt trời… thì cũng không có tờ giấy. Mỏng như tờ giấy mà nó cũng chứa đựng cả toàn thể vũ trụ.  

Bụt

Bụt không phải là Thượng đế, không phải là trời thần. Ngài là một con người như chúng ta, cũng khổ đau như chúng ta. Nếu chúng ta đến với Bụt với một trái tim rộng mở thì Ngài sẽ nhìn thấy chúng ta, hai mắt Ngài chứa đầy lòng từ bi và nói với ta rằng: “Bởi vì tim con có nhiều khổ đau nên con có thể đi vào tim ta”.

Cư sĩ Vimalakirti nói: “Vì thế gian bệnh nên ta bệnh, vì con người khổ đau nên ta phải khổ đau”. Đức Bụt cũng tuyên bố như vậy. Đừng nói rằng vì ta có quá nhiều khổ đau nên ta không thể đến với Bụt. Đúng ra là vì trong tim ta có những niềm đau nỗi khổ nên ta mới có thể truyền thông với Bụt. Khổ đau của tôi và khổ đau của bạn là điều kiện căn bản để ta đi vào trái tim của Bụt và để Bụt đi vào trái tim ta.

Trong suốt 45 năm hành đạo đức Bụt cứ lặp đi lặp lại câu: “Trong suốt 45 năm hành đạo ta chỉ nói về khổ đau và con đường chuyển hóa khổ đau”. Khi ta nhận diện được những khổ đau của ta thì đức Bụt trong ta sẽ nhìn thấy chúng, sẽ khám phá ra những nguyên nhân dẫn đến những nỗi khổ đau ấy và đưa ra những hành động để có thể chuyển hóa khổ đau thành an vui, hạnh phúc và giải thoát. Khổ đau là phương tiện mà Bụt thường dùng để giải phóng cho mình và đó cũng là phương tiện mà ta có thể sử dụng để được giải thoát tự do. 

Biển khổ rất mênh mông, nhưng nếu quay đầu lại thì ta sẽ thấy bờ. Hạt giống khổ đau trong ta có thể rất mạnh, nhưng đừng đợi đến khi hết khổ đau rồi mới hạnh phúc. Khi một cái cây trong vườn bị bệnh ta phải chăm sóc nó, nhưng đừng quên những cây khỏe mạnh còn lại. Cho dù trong tâm ta có những nỗi khổ niềm đau, ta cũng có thể tận hưởng những mầu nhiệm của sự sống, mặt trời lặn rất đẹp, nụ cười của trẻ thơ rất hồn nhiên, cây cối rất xanh tươi và nhiều bông hoa rất diễm tuyệt. Cuộc sống đâu phải chỉ có khổ đau. Đừng giam mình trong những nỗi khổ đau ấy.

Nếu ta đã từng đói thì ta biết rằng có được một bát cơm đầy là một điều hết sức mầu nhiệm. Nếu ta đã từng khổ đau vì rét thì ta thấy có được một tấm chăn hay một chiếc áo ấm quý hóa biết chừng nào. Nếu ta đã từng khổ đau, ta sẽ trân quý những yếu tố tạo nên thiên đường đang có mặt quanh ta. Đừng trốn chạy khổ đau, mà cũng đừng quên thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống vì mình và vì lợi ích của nhiều người.

Tôi lớn lên trong thời kỳ chiến tranh, chung quanh tôi luôn có sự hủy diệt: trẻ em, người lớn, của cải, toàn bộ đất nước. Là một người trẻ tôi khổ đau cùng cực. Những vết thương chiến tranh trong tôi vẫn chưa được chữa lành. Có những đêm tôi thức trắng để ôm ấp đất nước, dân tộc tôi, ôm ấp hành tinh xanh với hơi thở chánh niệm. Một khi cánh cửa ý thức mở rộng thì ta không thể đóng lại được.

Không có khổ đau ta không thể lớn lên được. Không có khổ đau ta không thể có hạnh phúc an vui. Xin đừng chạy trốn khổ đau. Hãy ôm ấp nó và trân quý nó. Hãy đến với Bụt, ngồi với Bụt và bày tỏ những khổ đau cho Bụt. Ngài sẽ nhìn ta bằng con mắt chánh niệm từ bi, chỉ cho ta cách ôm ấp khổ đau và nhìn sâu vào nó. Bằng tình thương và sự hiểu biết chúng ta sẽ có khả năng trị liệu những vết thương trong trái tim và những vết thương trên thế giới. Đức Bụt gọi khổ đau là sự thật cao quý, bởi vì khổ đau có khả năng chỉ cho ta con đường giải thoát giác ngộ. Hãy ôm ấp khổ đau và để nó chỉ cho ta con đường đi đến an lạc.

Vô thường

Đức Bụt dạy tất cả mọi thứ như: đóa hoa, cái bàn, ngọn núi, chế độ chính trị, sắc thân, cảm thọ, tri giác, tâm hành, nhận thức… đều vô thường. Ta không thể tìm thấy bất cứ một thứ gì thường hằng. Hoa vô thường, nó sẽ tàn phai và thối rữa nhưng điều đó không ngăn cản ta yêu thích hoa. Kỳ thực ta có thể yêu hoa hơn vì ta biết cách trân quý khi nó còn sống. Nếu ta thấy được hoa là vô thường thì khi nó héo tàn ta không khổ đau. Vô thường không phải là một ý niệm. Đó là một sự thực tập giúp ta tiếp xúc được với thực tại.

Khi nghiên cứu học hỏi về vô thường ta phải đặt câu hỏi: “Lời dạy này có dính líu gì đến đời sống hằng ngày, những khó khăn và khổ đau của ta không?” Nếu ta hiểu vô thường như là một triết lý thì đó không phải là lời Bụt dạy. Mỗi khi nhìn hay lắng nghe, ta phải thấy được đối tượng mà ta đang nhìn, đang nghe là vô thường. Chúng ta phải nuôi dưỡng tuệ giác vô thường suốt ngày.

Nhìn sâu vào vô thường ta thấy rằng sự vật sở dĩ thay đổi là vì nhân duyên của nó thay đổi. Nhìn sâu vào vô ngã ta thấy được một cái tồn tại là nhờ những cái khác tồn tại. Ta thấy rằng những thứ khác đều làm nhân duyên cho nó tồn tại. Tất cả những thứ khác có trong nó.

Đứng về phương diện thời gian ta nói là vô thường, đứng về phương diện không gian ta nói là vô ngã. Tất cả mọi thứ không thể giữ nguyên trạng thái của nó trong hai giây liên tục, vì vậy mà không có gì có thể được gọi là một cái ngã thường tại. Trước khi bước vào phòng này thì ta đã khác rồi, tâm cũng khác mà thân cũng khác. Nhìn sâu vào vô thường ta thấy được vô ngã. Nhìn sâu vào vô ngã ta thấy được vô thường. Ta không thể nói: “Tôi có thể chấp nhận được vô thường, còn vô ngã thì khó quá. Tôi không thể chấp nhận được”. Thực ra chúng chỉ là một.

Hiểu được vô thường cho ta tự tin, an vui và hy vọng. Vô thường không nhất thiết phải đưa đến khổ đau. Không có vô thường thì sự sống không thể tồn tại được. Không có vô thường làm sao con gái ta có thể lớn lên thành một cô thiếu nữ xinh đẹp? Không có vô thường thì những chế độ áp bức chính trị không bao giờ thay đổi. Ta nghĩ rằng vô thường làm cho ta khổ đau. Đức Bụt đưa ra hình ảnh con chó bị người ta liệng cục đá, nó giận cục đá và quay lại sủa cục đá. Không phải vô thường làm cho ta khổ đau, cái làm cho ta khổ đau là trong khi sự vật vô thường mà ta cứ muốn nó thường, muốn nó không thay đổi.

Ta phải học cách trân quý giá trị của vô thường. Nếu ta đang khỏe mạnh và ý thức về vô thường, ta sẽ chăm sóc ta đàng hoàng hơn. Ý thức rằng những người thương của ta là vô thường, ta sẽ trân quý hơn người ta thương. Vô thường dạy cho ta biết tôn trọng và trân quý mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, cũng như trân quý những thứ quý giá trong ta và chung quanh ta. Thực tập về vô thường, chúng ta sẽ tươi mát và dễ thương hơn.

Nhìn sâu là một cách sống đáng quý. Ta có thể thực tập hơi thở ý thức để tiếp xúc sâu sắc với sự vật và hiểu được tự tính vô thường của chúng. Sự thực tập này giúp ta thôi không phàn nàn đời là vô thường không có gì đáng sống. Nhờ vô thường mà có sự chuyển hóa, đổi thay. Chúng ta nên học cách nói: “Cám ơn vô thường, vô thường vạn tuế”. Nhờ vô thường mà ta có thể chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc, an vui.

Nhìn sâu thấy rõ

Tiếp xúc với sự sống trong giây phút hiện tại, ta có thể thấy được tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật. Vô thường và vô ngã không phải là những mặt tiêu cực của sự sống mà là nền tảng vững chắc của sự sống. Vô thường là sự chuyển biến liên tục của sự vật. Không có vô thường thì cũng không có sự sống. Vô ngã là sự tương quan tương duyên của vạn vật. Không có sự tương quan tương duyên này thì không có gì có thể tồn tại được. Không có mặt trời, đám mây, đất mẹ thì hoa tulip không thể có được. Chúng ta thường thấy buồn về vô thường và vô ngã bởi vì chúng ta quên đi sự thật rằng không có vô thường, vô ngã thì sự sống không thể tồn tại. Ý thức về vô thường, vô ngã không lấy đi niềm vui sống của chúng ta. Trái lại chúng cho ta thêm sự vững chãi, tự do, giúp ta sống một nếp sống lành mạnh. Chỉ vì người ta không thấy được tính vô thường, vô ngã của vạn vật nên mới khổ đau. Họ cho những gì vô thường là thường, những gì vô ngã là ngã.

Nhìn sâu vào đóa hoa hồng ta có thể thấy được tính vô thường của nó rất rõ ràng. Đồng thời ta cũng thấy được những cái đẹp và trân quý những giá trị của nó. Vì thấy được sự vô thường mong manh nên ta thấy hoa đẹp hơn, quý hơn. Càng mong manh thì càng đẹp và càng quý, như cầu vồng, hoàng hôn, sao băng, hoa quỳnh nở vào ban đêm… Nhìn mặt trời mọc trên núi Thứu, nhìn thành phố Vaisali, nhìn cánh đồng lúa chín vàng, đức Bụt cũng thấy được vẻ đẹp của chúng và Ngài đã nói điều ấy với thầy Anan.

Nhìn sâu vào tính vô thường của sự vật, thấy được những đổi thay và sự tan biến của chúng, đức Bụt không khổ đau hay thất vọng. Chúng ta cũng vậy, bằng cách quán chiếu sâu sắc, hiểu được tính vô thường, vô ngã của vạn vật, chúng ta có thể vượt thắng được những cơn khổ đau, tuyệt vọng và thấy được những giá trị mầu nhiệm của cuộc sống hằng ngày. Một ly nước trong, một làn gió mát, một bước chân thanh thản nhẹ nhàng… tất cả những thứ ấy là những mầu nhiệm của sự sống cho dù chúng là vô thường, vô ngã.

Cuộc sống khổ đau, nhưng cuộc sống cũng mầu nhiệm. Già, bệnh, chết, tai nạn, đói khổ, thất nghiệp và những thảm họa thiên nhiên là những thứ ta không thể tránh được trong cuộc sống. Nhưng nếu ta có tuệ giác sâu sắc, tâm ta không vướng bận thì ta có thể chấp nhận được chúng một cách bình thản và như vậy khổ đau đã giảm đi rất nhiều. Điều này không có nghĩa là ta nhắm mắt trước khổ đau. Bằng cách tiếp xúc với khổ đau, ta làm phát khởi tình thương và nuôi dưỡng được đại bi tâm. Khổ đau trở thành yếu tố nuôi dưỡng cho nên ta không sợ khổ đau. Khi trái tim ta ngập tràn từ bi, ta sẽ tìm mọi cách để làm vơi đi khổ đau của kẻ khác.

Sở dĩ loài người có những tiến bộ, đó là nhờ trái tim thương yêu. Chúng ta cần học hỏi cách quán chiếu sâu sắc vì lợi ích của người khác từ những người có tình thương lớn. Rồi người khác có thể học hỏi từ ta cách sống trong giây phút hiện tại và hiểu được tính vô thường, vô ngã của vạn vật. Tuệ giác này sẽ làm vơi nhẹ khổ đau.

Sợ hãi những bất trắc xảy ra làm cho con người sống trong sự lo lắng, héo hon. Không ai có thể biết và lường trước được những rủi ro có thể xảy ra cho ta và cho người thương của ta, nhưng nếu ta học cách sống tỉnh thức, sống sâu sắc trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, đối xử với những người chung quanh ta nhẹ nhàng, cảm thông thì ta không có gì tiếc nuối khi có chuyện không may xảy đến cho ta và cho người kia. Sống trong giây phút hiện tại, ta có khả năng tiếp xúc với những yếu tố tươi mát, lành mạnh và mầu nhiệm của sự sống, giúp ta có khả năng trị liệu những vết thương trong ta. Mỗi ngày ta trở nên mầu nhiệm hơn, tươi mát hơn và lành mạnh hơn.

Vô đắc

Không có gì để làm, không có gì để chứng, không có chương trình dự án để theo đuổi, đó là giáo lý về vô tác (có khi gọi là vô nguyện hay vô đắc), một trong ba cánh cửa đi vào giải thoát. Hoa hồng có cần làm gì không? Không, mục đích của hoa hồng là làm hoa hồng. Mục đích của mình là làm chính mình. Chúng ta không cần phải trở thành một người khác. Ta như thế đã là quá tuyệt vời rồi. Lời Bụt dạy cho phép ta là ta, tự do thênh thang, tận hưởng trời xanh mây trắng và tất cả những gì tươi mát có công năng trị liệu trong giây phút hiện tại.

Ta không cần phải đặt ra mục tiêu phía trước để chạy theo. Ta đã có tất cả những gì ta muốn tìm kiếm. Ta đã là cái ta muốn trở thành rồi. Ta đã là một đức Bụt rồi, tại sao ta không nắm tay một đức Bụt khác mà đi thiền hành? Đây là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka sutra). Tất cả những điều kiện hạnh phúc đã có sẵn. Chúng ta không cần phải chạy theo, không cần phải cố gắng, không cần phải tìm kiếm, không cần phải đấu tranh. Ta chỉ cần là ta. Có mặt trong giây phút hiện tại, ngay nơi này là thiền tập sâu sắc nhất. Nhiều người không thể tin được việc đi mà không có mục đích, đi chỉ để đi mà không cần tới. Người ta nghĩ rằng phải cố gắng tranh đua mới là chuyện bình thường và thiết yếu. Thử thực tập vô nguyện (aimlessness) trong vòng năm phút, ta sẽ thấy mình hạnh phúc đến chừng nào trong năm phút ấy.

Tâm kinh Bát Nhã nói rằng “không trí cũng không đắc”. Thiền tập không phải để đạt được giải thoát giác ngộ, bởi vì giác ngộ đã có trong ta rồi. Ta không cần phải đi tìm đâu nữa. Ta không cần phải có một mục đích. Không phải ta thực tập để đạt được một địa vị cao hơn. Thực tập vô nguyện ta thấy ta không thiếu gì cả. Ta đã là cái ta muốn trở thành rồi. Cái cố gắng của ta là dừng lại. Trong giây phút hiện tại này, chỉ cần nhìn tia nắng xuyên qua cửa sổ hay nghe tiếng mưa rơi là ta đã có bình an rồi. Ta không cần phải chạy theo gì nữa cả. Ta có thể tận hưởng hạnh phúc trong mỗi giây phút. Người ta thường hay nói vào Niết bàn hay nhập Niết bàn, nhưng ta đã ở trong Niết bàn rồi. Đâu cần phải vào nữa. Vô nguyện và Niết bàn là một.

Vượt thoát sinh tử

Chính ý niệm sinh tử lấy đi hạnh phúc an vui của ta trong đời sống hằng ngày. Thiền tập là giải phóng ta ra khỏi nỗi sợ hãi phát sinh từ ý niệm sinh tử ấy. Đó là công dụng của thiền, giúp ta thấy được thực tại một cách sâu sắc. Tiếp xúc được với tính tương tức là tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt.

Ý niệm về diệt và về không rất nguy hiểm, làm người ta khổ đau rất nhiều. Theo lời Bụt dạy thì KHÔNG chỉ là một ý niệm, không thể áp dụng cho thực tại. Đức Bụt nói rằng: “Khi nhân duyên đầy đủ thì sự vật xuất hiện, khi nhân duyên thiếu vắng thì sự vật ẩn tàng”. Chúng không sinh cũng không diệt, chỉ là biểu hiện. Những ý niệm như sinh diệt, có không, không thể áp dụng cho thực tại. Con sóng biết mình là nước nên nó vượt thoát sinh tử, vượt thoát CÓ – KHÔNG. Sóng là sóng.

Người ta dùng từ chân như để mô tả thực tại. Nhưng ngôn từ và ý niệm thì không thể dùng để diễn bày thực tại. Niết bàn hay thực tại tối hậu không thể diễn bày vì nó vượt thoát tất cả mọi ý niệm. Niết bàn là sự đoạn diệt mọi ý niệm. Hầu hết những khổ đau của ta đều phát xuất từ ý niệm. Nếu ta vượt thoát được ý niệm thì lo lắng sợ hãi sẽ biến mất. Niết bàn hay thực tại tối hậu là bản chất của vô sinh bất diệt. Nó hoàn toàn tự do. Ta cần phải tiếp xúc sâu sắc với thực tại để buông bỏ những sợ hãi xuất phát từ ý niệm sinh tử.

Ta sợ cái không. Ta nghĩ rằng ta là một ai đó, là một cái gì đó. Hôm nay ta còn là ta, và ta sợ rằng một ngày nào đó ta không còn nữa. Nhưng không thể từ có mà trở thành không. Đức Bụt nói bằng một ngôn ngữ rất đơn giản là: “Cái này có vì cái kia có”. Điều này nói lên sự biểu hiện của tất cả mọi hiện tượng dựa trên nguyên lý căn bản của duyên sinh. Khi điều kiện đầy đủ thì nó biểu hiện. Thấy nó biểu hiện ta gọi là có, điều đó không đúng. Cũng vậy, khi nó chưa biểu hiện ta không thấy, ta gọi nó là không cũng không đúng. Đơn giản chỉ là biểu hiện và không biểu hiện.

Không phải vì ta không thấy mà ta nói nó không có. Ở Làng vào tháng Tư ta không thấy hoa hướng dương, nhưng không phải vì vậy mà ta nói hoa hướng dương không có. Hoa hướng dương đang ẩn tàng trong lòng đất, chúng chỉ thiếu một điều kiện để biểu hiện, đó là nắng ấm. Ta nói hoa hướng dương không có là không đúng.

Vậy thì chết là gì? Chết đơn giản là dừng lại của sự biểu hiện để tiếp tục biểu hiện lại dưới một hình thái khác. Vào mùa đông ta không thấy chuồn chuồn, bươm bướm. Ta nghĩ chúng đã chết rồi. Nhưng khi mùa xuân đến bỗng nhiên ta thấy chuồn chuồn và bươm bướm xuất hiện. Vì vậy mà những cái ta không thấy ta không thể nói là không có và những cái ta thấy ta cũng không thể nói là có.

Có và không chỉ là những ý niệm. Căn cứ trên nhận thức của ta chỉ có biểu và vô biểu. Nếu nhận thức và tuệ giác ta đủ sâu thì ta vượt thoát được những ý niệm có không, sinh diệt. Đây là mức độ cao nhất của giáo lý đạo Bụt. Chúng ta đang đi tìm cách thoát khổ, nhưng cách thoát khổ hay nhất là tiếp xúc được tính vô sinh bất diệt.

Tịnh độ

Tất cả chúng ta đều biết rằng những mầu nhiệm của sự sống luôn có đó cho ta như trời xanh, mây trắng, dòng sông, cơn mưa, đóa hoa, chim chóc, cây cỏ, trẻ thơ… Hôm qua đi thiền hành tôi thấy hai đóa hoa tím trên cỏ. Chúng rất lành lặn, nhỏ nhắn, xinh xắn và đẹp đẽ. Tôi hái tặng cho hai thượng tọa từ Việt Nam mới qua. Tôi nói với hai vị: “Hoa này chỉ có ở Tịnh độ thôi”. Tôi nghĩ là hai vị hiểu được thông điệp của tôi. Bởi vì nếu có chánh niệm, có khả năng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống thì Tịnh độ đang có mặt cho ta ở đây và bây giờ.

Kỳ thực thì cõi Tịnh độ luôn có đó. Vấn đề là ta có thật sự có mặt cho cõi Tịnh độ hay không? Có mặt cho cõi Tịnh độ không khó lắm. Chỉ cần ta nhìn, bước đi và tiếp xúc bằng chánh niệm. Ta có thể nói Tịnh độ có mặt 24 giờ mỗi ngày cho ta, miễn là ta luôn thắp sáng chánh niệm trong mình.

Ta có khuynh hướng nghĩ rằng đây là một cõi đầy rẫy khổ đau và ta muốn tìm tới một nơi không có khổ đau. Định nghĩa của tôi về cõi Tịnh độ không phải là nơi không có khổ đau vì khổ đau và hạnh phúc tương tức nhau. Hạnh phúc chỉ được nhận diện trong bối cảnh khổ đau. Vì vậy ta cần khổ đau để nhận diện hạnh phúc. Nhìn sâu hơn một chút ta thấy hạnh phúc không thể có được nếu không có hiểu biết và thương yêu. Người hạnh phúc là người có nhiều hiểu biết và thương yêu. Không có hiểu và thương ta không thể tới được với ai cả, hoàn toàn cô lập, lẻ loi và cô đơn. Nhìn và quan sát quanh ta, ta sẽ thấy rõ là những ai có đầy hiểu biết và thương yêu là những người hạnh phúc, họ không đau khổ. Để thực sự hạnh phúc ta phải vun trồng hiểu biết và thương yêu. Nhưng nếu khổ đau không có thì ta cũng không thể vun trồng hiểu và thương. Bằng cách tiếp xúc với khổ đau mà hiểu biết và thương yêu phát khởi. Ta hãy tưởng tượng đến một nơi không có khổ đau, làm sao con cái ta có cơ hội để phát khởi hiểu biết và chế tác thương yêu?

Bằng cách tiếp xúc với khổ đau mà ta có thể học hỏi được cách chế tác hiểu biết và thương yêu. Nếu cõi Tịnh độ không có khổ đau thì ở đó cũng không có hiểu và thương, không có hiểu và thương thì ta cũng không thể gọi là Tịnh độ. Điều này rất đơn giản và rõ ràng. Vì vậy mà định nghĩa của tôi về nước Chúa hay cõi Tịnh độ của Bụt là một nơi có nhiều cơ hội cho ta học hiểu và học thương. Có nhiều hiểu và thương thì ta không còn sợ khổ nữa.

Cũng giống như một người làm vườn bằng phương thức hữu cơ giỏi thì ta không còn sợ rác nữa bởi vì ta biết cách chuyển rác thành hoa. Đó là cái nhìn bất nhị. Đóa hoa mà tôi hái tặng cho hai vị thượng tọa hôm qua là những mầu nhiệm. Nếu không có chánh niệm thì ta không thể tiếp xúc với chúng. Những mầu nhiệm của sự sống luôn có mặt đó trong giây phút hiện tại trong ta và chung quanh ta. Bộ não ta cũng là một mầu nhiệm. Hai mắt ta cũng mầu nhiệm. Trái tim ta cũng mầu nhiệm. Tất cả những tế bào trong cơ thể ta cũng mầu nhiệm. Mọi thứ chung quanh ta đều mầu nhiệm. Tất cả những thứ ấy đều thuộc về cõi Tịnh độ nhưng ta hoàn toàn lãng quên. Ta kẹt vào những lo lắng, sợ hãi, bất an, tuyệt vọng, ganh tỵ và ta đánh mất cõi Tịnh độ.

Tích môn và bản môn

Có hai thế giới. Thế giới mà ta đang nhìn thấy, tiếp xúc và sống với trong đời sống hàng ngày là thế giới tích môn. Một thế giới khác vượt thoát thời gian và không gian là thế giới bản môn. Tất cả mọi hiện tượng đều thuộc về hai thế giới này. Khi nhìn con sóng trên mặt đại dương ta thấy được hình tướng con sóng. Ta định vị con sóng trong thời gian và không gian. Không gian và thời gian không phải là hai thực thể tách biệt. Không gian được làm bằng thời gian và thời gian được làm bằng không gian. Nhìn con sóng theo cái nhìn tích môn, ta thấy nó có bắt đầu, có kết thúc, có sinh, có diệt. Con sóng có thể cao, thấp, dài, ngắn, đẹp, xấu. Ta có thể mô tả con sóng bằng nhiều tính từ khác nhau. Ý niệm về sinh diệt, cao thấp, bắt đầu chung cuộc, đến đi, có không có thể áp dụng cho con sóng trong thế giới tích môn.

Ta cũng vậy, cũng được mô tả bằng những ý niệm này. Khi nhìn vào tích môn ta thấy ta có và ta không có. Ta sinh ra rồi sau đó ta lại chết đi. Ta có bắt đầu và có kết thúc. Ta đến từ một nơi nào đó và ta sẽ đi về một nơi nào khác. Đó là tích môn. Tất cả chúng ta đều thuộc về thế giới tích môn. Bụt Thích Ca Mâu Ni cũng thuộc về tích môn, Ngài là một con người, cũng được sinh ra ở Kapilavastu, nhập diệt ở Kushinagar, và đã hành đạo trong suốt 80 năm.

Tuy nhiên, tất cả chúng sinh, tất cả vạn vật cũng đều thuộc về thế giới bản môn, thế giới không bị ràng buộc, giới hạn bởi những ý niệm không gian và thời gian, sinh diệt, đến đi. Con sóng là con sóng nhưng đồng thời nó cũng là nước. Con sóng không cần chết đi mới trở thành nước. Nó đã là nước trong giây phút hiện tại rồi. Chúng ta không thể nói nước có hoặc không, đến và đi. Nước luôn luôn là nước. Khi nói về sóng ta cần những ý niệm để mô tả như con sóng đi lên và biến mất. Nó đến từ đâu đó và nó sẽ đi về đâu đó. Con sóng có bắt đầu, có kế thúc, có cao thấp, có đẹp xấu, có sinh diệt. Tuy nhiên, tất cả những khác biệt này không thể áp dụng để mô tả cho con sóng trong thế giới bản môn vì bản chất của nó là nước. Kỳ thực, ta không thể tách rời con sóng ra khỏi thế giới bản môn.

Cho dù ta thường nhìn nhận sự vật trong thế giới tích môn nhưng ta cũng có thể tiếp xúc được với bản môn. Vì vậy sự thực tập của ta giống như con sóng. Khi sống đời sống của con sóng trong tích môn ta nhận ra rằng ta cũng là nước và đang sống đời sống của nước. Đó là tinh yếu của sự thực tập. Nếu ta hiểu được tự tính không đến không đi, không có không không, không sinh không diệt, ta sẽ không sợ hãi và có khả năng an trú trong bản môn, trong Niết bàn, bây giờ ở đây. Ta không cần chết đi để vào Niết bàn. Khi chúng ta thâm nhập được tự tánh của chính mình thì chúng ta đã ở trong Niết bàn rồi. Chúng ta sống trong tích môn nhưng đồng thời ta cũng sống trong bản môn như Bụt vậy.

Trốn tìm

Một ngày nọ khi đi thiền hành ở xóm Thượng, tôi thấy mình sắp giẫm lên một chiếc lá vàng. Lúc đó là mùa thu, tất cả những chiếc lá đều chuyển màu, rất đẹp. Khi thấy chiếc lá vàng xinh đẹp tôi không muốn giẫm lên nó, nên hơi ngập ngừng. Nhưng rồi tôi lại mỉm cười và nghĩ: “Chiếc lá này chỉ giả bộ vàng, giả bộ rụng thôi”.

Đứng về phương diện tích môn, chiếc lá sinh ra trên cành cây từ một nụ xanh tươi vào mùa xuân. Nó ở trên cành suốt mấy tháng, rồi mùa thu nó đổi màu và một ngày khi gió lạnh thổi đến thì nó rơi xuống đất. Nhưng nhìn sâu vào thế giới bản môn, ta có thể thấy được chiếc lá chỉ giả bộ sinh ra, giả bộ ở trên cây mấy tháng, rồi giả bộ chết. Giáo lý duyên sinh và vô ngã cho ta thấy được tự tánh không sinh không diệt của tất cả mọi hiện tượng. Một ngày khác chiếc lá sẽ giả bộ sinh ra trở lại trên một cành cây khác. Thực ra nó chỉ đang chơi trò trốn tìm với ta.

Chúng ta cũng đang chơi trò trốn tìm với người khác. Không phải chỉ có Bụt mới giả bộ sinh và giả bộ nhập Niết bàn. Ta cũng vậy, cũng giả bộ sinh, giả bộ sống rồi giả bộ chết. Có thể ta nghĩ rằng mẹ ta đã qua đời và không còn ở với ta nữa. Nhưng sự ra đi của mẹ chỉ là giả bộ thôi, rồi một ngày nào đó, khi nhân duyên đầy đủ thì mẹ sẽ xuất hiện trở lại dưới một hình thái khác. Nếu có đủ tuệ giác ta sẽ nhận ra mẹ trong những hình thái mới. Ta phải nhìn sâu vào người thương của ta để nhận ra tự tính của họ. Chúng ta thương thầy, thương ba, thương mẹ, thương anh, thương chị, thương con, khi những người thương của ta qua đời ta thấy buồn khổ, tiếc nuối, ta nghĩ rằng ta mất người đó. Nhưng trong bản môn thì không có gì mất đi cả. Tự tính của người thương là không sinh không diệt. Nếu có khả năng tiếp xúc với bản môn, ta sẽ mỉm cười với chiếc lá vàng, và cũng  mỉm cười được với tất cả những đổi thay đang diễn ra trong đời sống này.

Không sợ hãi

Nhìn sâu vào nỗi sợ hãi, ta thấy ẩn chứa trong đó cái ước muốn thường hằng. Ta sợ sự đổi thay. Sự giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của ta phát sinh từ tri giác sai lầm, từ ý niệm có không, đến đi, lên xuống. Nếu quán chiếu sâu sắc ta sẽ thấy được những ý niệm này không thể áp dụng cho thực tại. Ta có thể tiếp xúc được với tự tính của ta, tiếp xúc được với bản môn, điều này sẽ đưa tới sự không sợ hãi. Tin tưởng vào tuệ giác vô sinh bất diệt, ta sẽ hạnh phúc an vui trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.

Hãy quán chiếu về đám mây đang bay trên bầu trời. Đám mây không muốn thay đổi. Nó sợ chết, nó sợ tan biến trở thành số không nên nó khổ đau. Nhưng nếu quán chiếu sâu sắc, đám mây sẽ thấy nó không thể chết được. Đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành băng, nhưng đám mây không thể biến mất. Không thể được. Khi đám mây thấy được tự tánh vô sinh bất diệt thì nó không còn sợ hãi nữa. Nó hiểu rằng trở thành đám mây đang bay trên trời cũng mầu nhiệm mà trở thành mưa, thành tuyết rơi xuống đất cũng mầu nhiệm không kém. Vì vậy nó không còn là nạn nhân của nỗi sợ hãi nữa, bởi vì nó quán chiếu và tiếp xúc được với tính bất diệt. Không có gì có thể chết đi được. Ta không thể từ có mà trở thành không. Sự sống là một quá trình thay đổi. Không thay đổi thì sự sống không thể tồn tại. Một khi chúng ta hân hoan chấp nhận được điều này thì sợ hãi không còn nữa. Đó là quán chiếu.

Thiền sư

Mục đích của sự thực tập là trở về ngôi nhà đích thực để nhận ra tự tính của mình. Ta phải sống như thế nào để chánh niệm luôn được thắp sáng trong giây phút hiện tại, chiếu ánh sáng vào mỗi hành động, ta có thể thấy được tự tính của mình. Khi đi ngang qua cây tùng trước sân ta phải thấy được nó. Nếu không thấy được cây tùng trước sân làm sao ta mong thấy được tự tính của ta?

Thiền sư là người đã giác ngộ, là người luôn thấy được thực tại sống động, là người sau khi bị đánh mất mình trong những khái niệm đã trở về ngôi nhà đích thực, thấy được cây tùng trước sân và thấy được tự tính của mình. Vì thế mà người ấy cũng không muốn để cho đệ tử mình lang thang trong thế giới ý niệm, lãng phí thời gian, lãng phí sự tỉnh thức và lãng phí đời sống của mình. Người thầy luôn thấy thương đệ tử mỗi khi đệ tử đặt ra những câu hỏi về lý thuyết Phật giáo như pháp thân, như lai, hoặc những điều tương tự. Người đệ tử này vẫn còn tìm kiếm thực tại qua khái niệm. Vì vậy thiền sư tìm cách hay nhất để đưa học trò mình thoát khỏi thế giới khái niệm để sống với thực tại. Hãy nhìn cây tùng trước sân! Hãy nhìn cây tùng trước sân!

Một ngày nọ có một thầy hỏi Ngài Triệu Châu, nói cho ông ta nghe về thiền. Ngài Triệu Châu hỏi: “Con ăn sáng chưa?” – “Thưa thầy con ăn sáng rồi”. – “Vậy thì đi rửa bát đi”.

“Đi rửa bát đi” cũng giống như nói “Đi sống với sự sống đang có thật đi”. Thay vì giải thích cho học trò nghe về thiền, người thầy mở cửa và mời học trò đi vào thực tại. “Đi rửa bát đi”. Câu này không có gì huyền bí cả. Rất đơn giản, rõ ràng và trực tiếp. Không có gì bí ẩn, khó hiểu, cũng không mang nghĩa biểu tượng. Nó nói lên một sự thật rất cụ thể.

Ba cánh cửa giải thoát

Có một công án thiền rất nổi tiếng: “Bộ mặt thật trước khi ta sinh ra là gì?” Quán chiếu điều này giúp ta nhận ra tính vô sinh bất diệt của thực tại và của chính mình. Nhà khoa học Pháp thế kỷ 18 Antoine-Laurent Lavoisier nói rằng: “Không có gì sinh ra mà cũng không có gì chết đi”. Không những Phật tử mà nhà khoa học cũng nhìn sâu vào thực tại để khám phá ra sự thực này. Tâm kinh cũng nói: “Không sinh cũng không diệt, không bớt cũng không thêm”. Nếu ta chưa từng sinh ra thì làm sao ta chết đi được? Khi không thấy rõ thực tại thì ta có khuynh hướng một là nắm bắt hai là chán ghét.

Ta thường nắm bắt sự sống và chạy trốn cái chết. Nhưng theo lời Bụt dạy thì từ vô thỉ tất cả vạn pháp đều ở trong Niết bàn. Vậy tại sao ta nắm bắt một thứ và trốn chạy thứ khác. Trong bản môn không có khởi đầu và không có chung cuộc. Ta nghĩ là có một cái để cho ta đạt đến và cái đó nằm ngoài ta, nhưng mọi thứ đã có sẵn rồi. Vượt thoát được ý niệm trong và ngoài, ta biết rằng đối tượng mà ta muốn đạt được đó đã có trong ta. Ta không cần phải đi tìm kiếm ở đâu cả, trong không gian cũng như trong thời gian. Nó đã có sẵn trong giây phút hiện tại. Quán chiếu về vô đắc rất quan trọng. Đối tượng ta muốn đạt được là ta đã đạt rồi. Ta không cần phải đạt thêm bất cứ một thứ gì nữa. Ta đã có rồi, ta đã là cái ta muốn trở thành rồi.

Giáo lý vô đắc phát sinh từ giáo lý vô nguyện. Giáo lý về Ba cánh cửa giải thoát có trong tất cả các trường phái Phật giáo. Cánh cửa giải thoát thứ nhất là không. Mọi thứ đều không. Nhưng không là không cái gì? Không có một cái ngã biệt lập. Bông hoa có đầy đủ mọi thứ trong vũ trụ như mặt trời, đám mây, không khí, không gian… Nhưng nó không có một cái ngã riêng biệt. Đó là ý nghĩa của không. Chúng ta có thể sử dụng giáo lý này làm chìa khóa để mở tung cánh cửa đi vào thực tại.

Cánh cửa giải thoát thứ hai là vô tướng. Nếu ta thấy hoa chỉ là hoa mà không thấy được mặt trời, đám mây, đất mẹ, thời gian và không gian… trong đó thì ta bị kẹt vào hình tướng của hoa. Khi tiếp xúc được tính tương tức của hoa thì ta thực sự thấy được hoa. Nếu ta thấy một người mà không thấy được tổ tiên, văn hóa, môi trường, xã hội và sự giáo dục của người ấy thì ta thật sự không thấy được người ấy. Ta chỉ thấy được hình tướng bên ngoài của một cái ngã biệt lập của người ấy thôi. Nếu nhìn người ấy cho sâu sắc ta sẽ thấy được toàn thể vũ trụ, và ta sẽ không bị lừa gạt bởi hình tướng bên ngoài. Đó gọi là vô tướng.

Cánh cửa giải thoát thứ ba là vô tác. Ta đã là cái ta muốn trở thành rồi. Ta không cần phải trở thành một cái khác, một người khác. Tất cả những gì ta làm là phải thực sự là ta. Ta không cần phải chạy theo cái gì cả. Ta đã chứa đựng cả vũ trụ rồi. Đơn giản, ta chỉ cần trở về với chính mình để tiếp xúc với nguồn an lạc, hạnh phúc đã có trong ta và chung quanh ta. Ta đã về, ta đã tới. Không có gì để làm. Đây là chiếc chìa khóa thứ ba để mở tung cánh cửa thực tại. Vô tác và vô đắc là sự thực tập rất thâm sâu.

Phiền não chính là bồ đề. Chúng ta có thể cưỡi trên sóng sinh tử mà đi. Chúng ta có thể an nhiên ngồi trên thuyền từ trên biển vô minh với một nụ cười vô úy. Dưới ánh sáng tương tức, ta có thể thấy hoa trong rác và thấy rác trong hoa. Chính trên nền tảng phiền não, khổ đau mà ta có thể quán chiếu để đạt được giác ngộ và an lạc. Cũng giống như nhờ bùn mà ta có thể trồng sen.

Những vị Bồ tát đã chứng nhập được vô sinh bất diệt nên ngày đêm an lành, không còn sợ hãi nữa. Với sự tự do đó, họ có khả năng làm được rất nhiều thứ để giúp những người đang đau khổ. Ta có thể trở thành Bụt trong thế giới khổ đau, phiền não này. Khi đạt được giải thoát tự do ta có thể an nhiên cởi trên sóng sinh tử mà đi để giúp cho những người đang còn chìm trong biển khổ.

Người vô sự

Thiền sư Lâm Tế đã phát kiến ra từ người vô sự, là người không bận rộn, không cần phải làm gì và không cần đi đâu nữa. Đây là một con người lý tưởng. Trong đạo Bụt Nguyên thủy, con người lý tưởng là A la hán, là người đạt đến giải thoát giác ngộ. Trong đạo Bụt Đại thừa, con người lý tưởng là Bồ tát, là người có tình thương lớn, luôn luôn cứu giúp người trên con đường giải thoát giác ngộ. Theo thiền sư Lâm Tế, người vô sự là người không cần tìm cầu hay nắm bắt bất cứ thứ gì kể cả tìm cầu Bụt. Con người này đã thật sự dừng lại, không còn kẹt vào bất kỳ một học thuyết hay một giáo lý nào. Người vô sự là con người chân thật trong mỗi chúng ta.

Đây là giáo lý căn bản và thiết yếu của thiền sư Lâm Tế. Khi có khả năng dừng lại và thực sự sống với giây phút hiện tại, ta tiếp xúc được với những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Chúng ta không bị quá khứ, tương lai lôi kéo, không bị chìm đắm trong những suy nghĩ, cảm xúc, ý niệm hay dự án, kế hoạch. Thông thường ta nghĩ rằng ý niệm ta có về cái gì đó sẽ là cái đó. Ví dụ như ý niệm về Bụt là Bụt. Tuy nhiên ý niệm của ta về Bụt có thể chỉ là ý niệm mà không phải là Bụt. Ta nghĩ đức Bụt là một con người được sinh ra, lớn lên, đi xuất gia, thành đạo và nhập diệt. Nếu đi tìm một đức Bụt như thế thì chúng ta chỉ đi tìm cái hình bóng của Bụt, đi tìm một con ma Bụt. Và như vậy thì ý niệm của ta về Bụt có thể là một chướng ngại cho ta. 

Thiền sư Lâm Tế nói rằng gặp Bụt chém Bụt. Khi ta thấy một cái gì, ta phải chặt đứt hết tất cả những ý niệm, những quan điểm của ta; kể cả những ý niệm về Bụt và giáo pháp của Ngài. Giáo pháp của Bụt không phải là những quyển kinh nằm trong tủ hay trên kệ cao trong chùa, mà là những phương thuốc để trị bệnh. Giáo pháp của Bụt là phương tiện quyện xảo giúp ta thoát ra khỏi vô minh, tham đắm, giận hờn và chuyển hóa tập khí đi tìm những gì ngoài ta để nương tựa mà không tin vào con người thật của chính mình.

Tuệ giác không có trong kinh điển hay trong pháp thoại. Chúng ta không thể đi tìm giải thoát giác ngộ trong quá trình nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Đi tìm giải thoát giác ngộ trong kinh điển cũng giống như hy vọng tìm nước trong mớ xương khô. Trở về với giây phút hiện tại, sử dụng cái tâm thanh tịnh, trong sáng đang có ngay bây giờ ở đây, ta có thể đạt được giải thoát giác ngộ, giống như Bụt và các vị đệ tử của Bụt đã sống với thực tại ngay trong giây phút hiện tại. Người mà không có gì để làm là người có chủ quyền. Người đó không cho mình là quan trọng và không cần lưu lại gì cho mai sau. Con người chân thật là con người năng động, sống trong môi trường này nhưng không bị vướng bận bởi môi trường này, ung dung, tự tại. Mặc dù tất cả mọi hiện tượng đều đi qua quá trình thành trụ hoại diệt, thì con người chân thật cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn phiền, hạnh phúc, thương yêu, hận thù. Người ấy ý thức như một con người bình thường cho dù đang đứng, đang đi, đang nằm hay đang ngồi. Người ấy không đóng vai thiền sư. Đây là điều mà thiền sư Lâm Tế muốn nói: “Dù đang ở đâu cũng nắm lấy chủ quyền của mình và sử dụng chỗ đó như chỗ ngồi tỉnh thức”.

Nụ cười của Bồ tát

Các vị Bồ tát cũng sống trong thế giới của chúng ta – thế giới sinh, diệt, thường, ngã. Nhưng nhờ quán chiếu về vô thường, vô ngã mà các vị Bồ tát tiếp xúc được với bản môn, vượt thoát được sợ hãi về ý niệm có không, một khác, đến đi, sinh diệt. Họ an nhiên cưỡi trên sóng sinh tử mà đi, tự do, không vướng bận. Họ có khả năng sống trong thế giới của sóng nhưng vẫn an trú vững chãi trong tự tính của nước.

Trong kinh Pháp Hoa (Lotus sutra) cụm từ cưỡi trên sóng sinh tử mà đi thường được dùng để mô tả các vị Bồ tát. Các vị Bồ tát Quán Âm, Phổ Hiền, Dược Vương và Diệu Âm đã chứng minh được điều ấy trong đời sống này. Đây là thế giới hành động. Trong thế giới đau khổ, các vị Bồ tát vẫn có thể mỉm cười với lòng từ bi và đức vô úy, bởi vì họ có khả năng nhìn bằng cái nhìn bất nhị giữa phiền não và bồ đề, tiếp xúc được với Niết bàn. Giáo pháp của Bụt có nói về ba loại bố thí, đó là tài thí, pháp thí và vô úy thí (không sợ hãi). Trong đó vô úy thí là lớn nhất. Bởi vì các vị Bồ tát đã vượt thoát được sợ hãi nên có khả năng giúp được rất nhiều người. Không có gì quý hơn đức vô úy. Đó là món quà lớn nhất mà ta có thể hiến tặng cho người ta thương. Nhưng nếu ta không có thì ta không thể hiến tặng được. Thực tập và tiếp xúc được với bản môn ta cũng có thể mỉm một nụ cười vô úy như các vị Bồ tát. Cũng giống như các vị Bồ tát, ta không cần phải chạy trốn phiền não. Ta không cần phải đến một nơi nào khác để đạt được giải thoát giác ngộ.

Phiền não và giác ngộ là một. Khi tâm ta vô minh, mê mờ thì ta phiền não; khi tâm ta chân thật, trong sáng thì phiền não không còn, chỉ có giải thoát giác ngộ. Chúng ta không còn sợ sinh tử nữa bởi vì ta tiếp xúc được với tính tương tức. Những ai làm việc giúp những người hấp hối cần phải thực tập vô úy và vững chãi để giúp họ ra đi được bình an. Nếu ta biết cách tiếp xúc với bản môn, tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt thì ta vượt thắng được tất cả mọi sợ hãi. Khi ngồi với người hấp hối ta có thể gây được nguồn cảm hứng, bình an cho họ. Vô úy là sự thực tập lớn nhất trong đạo Bụt. Để vượt thoát tất cả những nỗi sợ hãi, ta phải tiếp xúc với chính mình và nhìn bằng con mắt từ bi.

Tâm kinh Bát Nhã nói: “Bồ tát Quán Tự Tại khi quán chiếu thâm sâu Bát Nhã Ba La Mật, tức diệu pháp trí độ, bỗng soi thấy năm uẩn đều không có tự tánh. Thực chứng điều ấy xong, Ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn”. Ngài tiếp nhận được nguồn năng lượng vô úy nên có khả năng giúp được cho nhiều người. Một khi thấy được phiền não tức bồ đề, chúng ta có thể cưỡi trên sóng sinh tử mà đi.

Người làm vườn không đuổi theo hoa mà cũng không chạy trốn rác. Người ấy chấp nhận cả hai, chăm sóc cả hai. Người ấy không vướng mắc vào hoa mà cũng không chán ghét rác. Bởi vì người ấy thấy được cả hai hoa và rác tương tức. Người ấy bình an với hoa mà cũng bình an với rác. Một vị Bồ tát xử lý phiền não và bồ đề cũng giống như người làm vườn thiện xảo xử lý hoa và rác, không phân biệt. Người đó biết cách chuyển hóa, vì vậy người ấy không còn sợ hãi nữa. Đó là tinh thần của Bụt.

Chánh đạo

Khi thấy mình đang đi đúng đường là ta có hạnh phúc. Ta không cần phải đến đích mới hạnh phúc. Đúng đường ở đây ẩn ý cho những phương cách cụ thể mà ta sống trong mỗi giây, mỗi phút. Trong giáo lý đạo Bụt có Bát chánh đạo. Đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Chúng ta có thể sống với Bát chánh đạo trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Điều đó không những làm cho bản thân hạnh phúc mà còn giúp cho những người chung quanh ta hạnh phúc. Thực tập Bát chánh đạo ta sẽ trở nên an vui, tươi mát và có nhiều từ bi.

Hãy nhìn cái cây trước sân. Cái cây không cần phải làm gì cả. Nó đứng đó, hùng hồn, tươi mát, xinh đẹp; và tất cả mọi người đều được thừa hưởng. Đó là một sự mầu nhiệm. Nếu cái cây không còn là cái cây nữa thì tất cả chúng ta đều lâm nguy. Cái cây chỉ cần là cái cây đích thực thì ta có niềm vui và hy vọng. Vì vậy nếu ta có khả năng thực sự là ta thì ta đã làm rồi. Hành dựa trên vô hành. Hành động là sự có mặt.

Có những người làm rất nhiều nhưng lại gây nhiều khổ đau cho người khác. Càng cố giúp thì càng làm cho người khác khổ đau cho dù họ có thiện chí tốt. Bởi vì họ không đủ bình an và hạnh phúc. Tốt hơn là đừng nên cố gắng nhiều quá mà chỉ cần ngồi đó, chỉ cần là mình. Tức thì bình an và từ bi có mặt. Trên nền tảng đó, tất cả những gì ta nói, ta làm đều mang lại kết quả tốt đẹp. Nếu ta có khả năng làm cho một ai đó vơi đi nỗi khổ, niềm đau, nếu ta có khả năng làm cho ai đó mỉm cười, ta sẽ thấy ta xứng đáng và hạnh phúc. Thấy mình có ích cho xã hội đó là một nguồn hạnh phúc. Có được con đường và bước đi hạnh phúc trên con đường này, ta không cần phải trở thành một người khác. Ta đã đạt được cái mà ta cần rồi. Nếu ta đặt ra một mục đích phía trước thì ta sẽ chạy suốt đời, và hạnh phúc không bao giờ có được. Hạnh phúc chỉ có được khi ta có khả năng dừng lại, trân quý giây phút hiện tại và trân quý chính bản thân mình. Ta không cần phải trở thành một người khác. Ta đã là một mầu nhiệm của sự sống rồi.

Chánh niệm

Những mầu nhiệm của sự sống

Khi ngồi cạnh một dòng suối, ta thấy sung sướng được nghe tiếng suối reo, được thấy dòng nước lấp lánh đang chảy, được ngắm nhìn những hòn sỏi bóng loáng và những cây xanh bên bờ suối. Ta với suối là một, ta hưởng được sự tươi mát, trong sáng và thanh tịnh của dòng suối. Nhưng rồi chỉ trong chốc lát, ta lại chán dòng suối vì tâm ta không an, trái tim ta nặng nề, lo lắng, bận rộn, suy nghĩ miên man về những thứ khác. Và ta không còn là một với dòng suối nữa.

Nếu ngồi trong một khu rừng yên tĩnh mà tâm ta bận rộn, ruổi rong về phố thị thì rừng có cũng như không. Khi ta sống bên cạnh một em bé hay một người bạn hiền thì sự tươi mát và thân thiện của người đó làm cho ta thấy khỏe khoắn, thư giãn. Ta được hưởng sự tươi mát và thân thiện đó. Ta là đứa trẻ, ta là người bạn. Nhưng nếu ta không an, tâm ta bận rộn không có mặt ở đó thì đứa bé và người bạn đó có cũng như không. Ta phải ý thức về sự quý giá của đứa bé hay của người bạn để thưởng thức sự có mặt của họ, để bồi đắp và nuôi dưỡng họ, để họ mãi là niềm hạnh phúc của ta. Nếu dại dột và thất niệm ta sẽ trở nên bất mãn, đòi hỏi quá đáng hoặc la mắng cãi cọ với họ thì ta sẽ mất họ. Đợi khi họ đi rồi ta mới nhận ra sự quý giá của họ và thấy tiếc nuối, thì khi đó đã quá trễ, có thương tiếc cũng vô ích.

Sự sống chung quanh ta tràn đầy những mầu nhiệm như ly nước trong, tia nắng ấm, con bươm bướm, chiếc lá, nụ hoa, tiếng cười hay giọt mưa… Nếu sống trong tỉnh thức, ta sẽ dễ dàng nhận ra được những mầu nhiệm ấy đang có mặt khắp nơi. Trong ta cũng có vô số những mầu nhiệm. Đôi mắt ta có thể thấy được cả hàng ngàn sắc màu và hình ảnh, tai ta có thể nghe được tiếng ong hoặc tiếng sấm, óc ta có thể suy tưởng được từ một hạt bụi cho đến một thiên hà, trái tim ta thổn thức theo được nhịp tim của biết bao nhiêu loài sinh vật khác. Những lúc mệt mỏi hoặc chán nản vì những căng thẳng và áp lực của cuộc sống, có thể ta không thấy được những mầu nhiệm ấy, tuy nhiên chúng luôn luôn có đó cho ta.

Ta hãy nhìn cây táo trước sân nhà, nó là một thực tại mầu nhiệm. Hãy để ý, lân mẫn và chăm sóc nó, ta sẽ hưởng được sự mầu nhiệm ấy. Mới có một tuần mà nó tươi tốt hẳn lên, những chiếc lá xanh hơn và bóng hơn. Những người chung quanh ta cũng vậy. Nhờ có tỉnh thức mà ta để tâm nhiều hơn, thương yêu hơn và thông cảm hơn. Phong thái của ta không những nuôi dưỡng và làm đẹp cho ta mà còn nuôi dưỡng và làm đẹp cho những người chung quanh. Một người sống trong chánh niệm, bình an thì không những cả nhà được nhờ mà có thể làm thay đổi cả xã hội.

Tâm ta tạo ra mọi thứ. Đỉnh núi tuyết lấp lánh hùng vĩ kia, khi ta ngắm nó thì ta với nó là một. Nó tồn tại hay không tùy thuộc vào ý thức của ta. Khi tâm ta có mặt thì dù ta nhắm mắt lại đỉnh núi tuyết ấy cũng còn đó. Khi ngồi thiền, tuy có đóng bớt những cánh cửa giác quan lại, ta vẫn cảm nghe được sự có mặt của toàn thể vũ trụ. Tại sao? Tại vì tâm ta đang có mặt. Ta nhắm mắt lại cũng chỉ để thấy rõ hơn. Hình ảnh và âm thanh của thế giới không phải là kẻ thù của ta. Kẻ thù của ta là thất niệm, là sự vắng mặt của tâm, vắng mặt của chánh niệm.

Ngôi nhà đích thực

Ngôi nhà đích thực của ta là ở đây, ngay bây giờ, không giới hạn bởi thời gian, không gian, quốc gia hay chủng tộc. Ngôi nhà đích thực không phải là một ý niệm trừu tượng, mà là cái ta có thể tiếp xúc được, chạm được và sống được trong mỗi phút giây. Với năng lượng chánh niệm, chánh định, năng lượng tỉnh thức của Bụt, ta có thể tìm thấy ngôi nhà đích thực của ta ngay trong giây phút hiện tại khi thân và tâm ta thư giãn hoàn toàn. Không ai có thể lấy ngôi nhà đó đi được.

Ngừng nói chuyện và suy tư, trở về theo dõi hơi thở vào ra thật sâu, ta sẽ thấy thoải mái dễ chịu trong ngôi nhà đích thực của mình và ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống. Đây là con đường mà đức Bụt đã chỉ dạy cho chúng ta. Khi thở vào, ta đưa thân và tâm về lại với nhau và trở thành một với thân tâm. Thiết lập thân tâm trong niệm và định, ta bước một bước. Nếu ta bước được một bước trong chánh niệm thì ta cũng sẽ bước được những bước khác và những bước khác nữa trong chánh niệm. Ta có một tuệ giác, một cái thấy đây là ngôi nhà đích thực của ta, ta đang còn sống, ta đang có mặt hoàn toàn và ta đang tiếp xúc với sự sống rất rõ ràng. Ngôi nhà đích thực của ta là thực tại vững chắc mà ta có thể tiếp xúc được bằng đôi chân, đôi tay và bằng tâm thức của ta.

Đó là nền tảng cho ta tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình và nhận ra ngôi nhà đích thực trong giây phút hiện tại. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm và định. Thở một hơi thở chánh niệm hay bước một bước chân ý thức là ta có thể đưa tâm trở về với thân. Trong đời sống hằng ngày, thân và tâm ta thường đi hai hướng khác nhau. Chúng ta thường ở trong trạng thái xao lãng, tán loạn. Thân thì ở một nơi mà tâm lại ở một nẻo. Thân ta thì đang mặc áo mà tâm ta lại bận rộn lo nghĩ về quá khứ hoặc tương lai. Tuy nhiên giữa thân và tâm có một cái gắn liền với nhau, đó là hơi thở. Ngay khi trở về với hơi thở ý thức, thở cho nhẹ nhàng thư thái thì thân và tâm hợp nhất với nhau rất nhanh. Trong khi thở vào, đừng nghĩ ngợi gì cả, chỉ tập trung tâm ý vào hơi thở vào. Đầu tư hoàn toàn con người mình vào hơi thở vào. Ta trở thành một với hơi thở vào. Và như vậy là ta có định. Định trên hơi thở vào sẽ đưa thân tâm về lại với nhau. Chỉ trong vòng một giây thôi là ta có thể làm được điều ấy. Tự nhiên ta thấy ta có mặt hoàn toàn và thật sự đang sống.

Định

Định làm phát sinh hỷ lạc. Khi uống trà thì giá trị của ly trà phụ thuộc vào định lực của ta. Chúng ta phải uống trà với một trăm phần trăm con người mình. Niềm vui thật sự là uống trà trong định. Khi đi, nếu chúng ta có định lực một trăm phần trăm thì niềm vui của ta sẽ lớn hơn rất nhiều. Chúng ta phải đầu tư một trăm phần trăm thân tâm của mình trong khi bước đi. Chúng ta sẽ chứng nghiệm được đang còn sống và bước đi trên hành tinh này là những điều mầu nhiệm.

Thiền sư Lâm Tế nói rằng: “Phép lạ là đi trên mặt đất mà không phải đi trên mặt nước hay đi trên than hồng”. Phép lạ là đi trên mặt đất, tại sao ta không thực hiện phép lạ bằng cách đi? Một bước chân chánh niệm có thể đưa ta về với an lạc/chính mình/thiện lànhcõi Tịnh độ. Điều này chúng ta có thể làm được. Chúng ta có thể làm ngay ngày hôm nay. Cuộc sống quá đỗi quý giá chúng ta không nên đánh mất mình trong những ý niệm, giận hờn hay tuyệt vọng. Chúng ta phải đánh thức sự sống mầu nhiệm. Chúng ta phải sống cho trọn vẹn, cho thật sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. 

Khi nâng ly trà trên tay, ta phải có mặt một trăm phần trăm. Một hơi thở vào sâu, một hơi thở ra nhẹ và thân tâm hợp nhất là ta có thể làm được điều ấy. Ý thức là mình đang còn sống. Chỉ mất mười hay mười lăm giây thôi, tự nhiên ly trà hiển lộ cho ta với tất cả những mầu nhiệm, ý vị, thanh tao của nó.

Khi cầm một quyển sách hay mở cửa, tôi luôn đầu tư một trăm phần trăm con người tôi vào đó. Điều này tôi học được khi thầy tôi dạy tôi cách dâng hương. Cây hương rất nhỏ và rất nhẹ, nhưng khi nào cũng cầm bằng hai tay. Khi dâng hương chúng ta phải đầu tư một trăm phần trăm con người mình vào hai bàn tay và vào hai ngón tay. Năng lượng chánh niệm phải có mặt ở đó. Chúng ta có thể xem việc dâng hương là một nghi lễ nhưng đúng thực đó là một hành động ý thức, là một định lực. Chúng ta dâng hương cho Bụt, nhưng Bụt có thật sự cần hương không? Thật ra chúng ta đang dâng lên sự bình an, hỷ lạc và định lực của ta cho Bụt.

Tự do

Điều kiện căn bản của hạnh phúc là tự do. Nếu trong tâm ta có điều gì đó khiến ta cứ suy nghĩ hoài rồi kẹt vào nó thì ta không có tự do. Nếu kẹt vào những buồn giận trong hiện tại hay nuối tiếc về quá khứ, hoặc lo lắng về tương lai thì ta không thực sự có tự do để thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt ngay bây giờ và ở đây. Trời xanh, mây trắng, hoa vàng, chim chóc, những cái cây vững chãi xinh đẹp, những khuôn mặt dễ thương của trẻ con có thể nuôi dưỡng và trị liệu ta trong giây phút hiện tại.

Nhiều người trong xã hội không có hạnh phúc, cho dù những điều kiện hạnh phúc luôn có đó. Tập khí luôn đẩy họ đi, làm cho họ phải vội vã, ngăn không cho họ hạnh phúc trong cái bây giờ, ở đây. Chỉ cần một chút luyện tập là ta có thể học cách nhận diện tập khí mỗi khi nó trồi lên. Tại sao ta phải chờ đợi để có hạnh phúc? Khi đi ta đi như thế nào mà mỗi bước chân đưa tới sự nuôi dưỡng và trị liệu. Điều này không khó, chúng ta có thể làm được.

Cho dù chúng ta là một thương gia đang đi qua lại trong văn phòng, hay một đại biểu quốc hội đi qua lại trong trụ sở quốc hội, hay một cảnh sát đang thi hành nhiệm vụ trên đường, chúng ta cũng có thể luôn bước đi trong chánh niệm và thưởng thức từng bước chân của mình. Nếu biết được nghệ thuật đi trong chánh niệm thì chúng ta hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại bây giờ, ở đây. Chúng ta có mặt cho sự sống và sự sống có mặt cho chúng ta.

Trong chúng ta ai cũng có khuynh hướng chạy. Ta chạy suốt đời và bây giờ cũng vẫn tiếp tục chạy, chạy về tương lai. Ta đã tiếp nhận tập khí này từ cha mẹ ông bà và tổ tiên ta. Ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có ở tương lai, hạnh phúc đang đợi ta ở đó. Khi biết cách nhận diện tập khí chạy, ta có thể sử dụng hơi thở chánh niệm, mỉm cười với tập khí và nói: “Xin chào người bạn cũ, tôi biết là bạn đang ở đó”. Thì ta sẽ có tự do vượt thoát khỏi tập khí. Ta không cần phải đấu tranh với nó. Trong sự thực tập không có sự đấu tranh. Chỉ cần nhận diện và ý thức những gì đang xảy ra. Khi tập khí chạy xuất hiện, ta chỉ mỉm cười và trở về với hơi thở chánh niệm thì tập khí sẽ không còn ràng buộc sai khiến ta nữa, ta tiếp tục thưởng thức hơi thở vào ra và tận hưởng giây phút hiện tại.

Nghỉ ngơi

Này các bạn, giả sử có một người nào đó ném viên sỏi lên trời và viên sỏi rơi xuống dòng sông. Sau khi viên sỏi chạm được mặt nước thì nó từ từ chìm xuống dòng sông. Nó rơi xuống dưới đáy sông mà không cần một nỗ lực nào cả. Khi viên sỏi rơi xuống đáy sông thì nó tiếp tục nghỉ ngơi. Nó để cho dòng nước đi qua nó.

Viên sỏi đến được đáy sông bằng con đường ngắn nhất bởi vì nó cho phép nó rơi mà không cần một cố gắng nào. Khi ngồi thiền ta cũng cho phép mình nghỉ ngơi như viên sỏi vậy. Ta thả lỏng cơ thể và để cho mình rơi xuống một cách tự nhiên trong tư thế ngồi, trong tư thế nghỉ ngơi mà không cần cố gắng. Nghỉ ngơi là một pháp môn thực tập rất quan trọng. Chúng ta phải học cho được nghệ thuật này.

Nghỉ ngơi là bước đầu của thiền tập. Thân và tâm ta cần được nghỉ ngơi. Ta phải cho phép chúng nghỉ. Vấn đề là nhiều người không biết cách nghỉ ngơi. Chúng ta luôn luôn cố gắng đấu tranh và đấu tranh đã trở thành một tập khí. Ta ngồi không yên, lăng xăng hết chuyện này đến chuyện khác, đấu tranh suốt đời. Ngay cả trong khi ngủ ta cũng vẫn đấu tranh. Điều quan trọng là ta phải nhận ra ta đang có tập khí đấu tranh. Ta phải có khả năng nhận diện khi chúng biểu hiện, bởi vì nếu ta nhận diện được tập khí thì tập khí sẽ giảm bớt cường độ và không còn khả năng đẩy ta đi nữa.

Thiền tập trước hết là có mặt, có mặt cho cái bồ đoàn (gối ngồi), có mặt cho con đường thiền hành. Ăn cũng là thiền nếu ta thật sự có mặt một trăm phần trăm cho thức ăn. Cái cốt yếu là có mặt. Vì thế khi tập thiền đừng cố gắng gì hết. Cho phép mình nghỉ ngơi giống như viên sỏi. Viên sỏi nghỉ ngơi dưới đáy sông và không cần phải làm gì cả. Khi đi ta cũng nghỉ ngơi, khi ngồi ta cũng nghỉ ngơi.

Nếu ta cố gắng, ép mình trong khi ngồi thiền hay đi thiền thì ta đang không thực tập đúng cách. Đức Bụt nói rằng: “Tu vô tu tu”. Thực tập cái không thực tập. Điều này rất có ý nghĩa. Không cần cố gắng gì cả. Bỏ hết mọi cố gắng nỗ lực. Cho phép mình là mình, cho phép mình nghỉ ngơi.

Khi ngồi thiền trên chiếc bồ đoàn tôi thấy rất thích thú dễ chịu. Tôi không cố gắng một tí nào. Tôi chỉ cho phép mình có mặt và nghỉ ngơi. Vì không cố gắng nên tôi không thấy mệt mỏi khi ngồi thiền. Vì không cố gắng nên tất cả các cơ bắp của tôi được buông thư. Nếu ta cố gắng trong suốt buổi ngồi thiền, ta sẽ đau vai, đau lưng ngay. Nếu cho phép mình nghỉ ngơi trên chiếc bồ đoàn thì ta có thể ngồi rất lâu và mỗi phút là một sự nhẹ nhàng, tươi mát, có công năng nuôi dưỡng và trị liệu.

Chúng ta ngồi thiền không phải để giải thoát giác ngộ. Không. Ngồi thiền trước hết là để cho vui. Đi thiền trước hết là để đi cho vui. Ăn cũng để ăn cho vui. Nghệ thuật là phải có mặt một trăm phần trăm.

Phải có mặt thật sự. Có mặt một trăm phần trăm con người mình trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đó là yếu chỉ của thiền. Mỗi người trong chúng ta đều biết rằng chúng ta có thể làm được điều đó, vì vậy chúng ta phải luyện tập để sống sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đó là lý do tại sao tôi muốn định nghĩa chánh niệm là một nguồn năng lượng giúp ta có mặt một trăm phần trăm. Nguồn năng lượng đó là nguồn năng lượng của sự có mặt đích thực. Thở vào chúng ta lặp lại: ở đây, ở đây. Thở ra: bây giờ, bây giờ. Từ ngữ tuy khác nhau nhưng nội dung thì giống nhau. Tôi đã về ở đây. Tôi đã về ngay bây giờ. Tôi đã tới ở đây. Tôi đã tới ngay bây giờ.

Thực tập như vậy là chúng ta đang thực tập dừng lại. Dừng lại (chỉ) là thiền tập căn bản của đạo Bụt. Chúng ta dừng lại việc chạy đi hoang, dừng lại những cố gắng, đấu tranh. Chúng ta cho phép mình nghỉ ngơi để làm lắng dịu và trị liệu những đau nhức trong thân tâm.

Sự có mặt đích thực

Phép lạ của chánh niệm trước hết là sự có mặt. Sự có mặt đích thực rất quan trọng. Có mặt cho chính mình và có mặt cho người mình thương. Làm sao ta có thể thương được nếu ta không có mặt. Điều kiện căn bản của thương yêu là sự có mặt. Đó là điều tiên quyết, rõ ràng. May mắn cho ta là sự thực tập này không khó lắm. Chỉ cần thở và buông bỏ những suy nghĩ, kế hoạch là ta đã có thể có mặt. Trở về với chính mình, tập trung tâm ý vào hơi thở và mỉm cười. Thân tâm hợp nhất và sống cho trọn vẹn. Đó là một phép lạ.

Có những người quanh ta đang sống mà như đã chết. Họ nhai đi nhai lại quá khứ, sợ hãi tương lai và bị kẹt vào những giận hờn, ganh tỵ trong hiện tại. Họ không thực sự sống được, họ giống như những thi thể đang di động. Với con mắt chánh niệm ta có thể nhận ra được họ, họ đi như những thây ma, dở sống dở chết. Chúng ta thấy thương cho những người ấy. Họ không biết rằng cuộc sống chỉ có được trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây.

Chúng ta phải tập sống trở lại. Đây là sự thực tập hằng ngày của chúng ta. Với một hơi thở vào là ta đã có thể đưa tâm trở về với thân, sống được với cái bây giờ và ở đây. Hạnh phúc và bình an là điều mà ta có thể đạt được. Ta phải có ước hẹn với sự sống ngay bây giờ và ở đây.

Chúng ta phải trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc sâu sắc với sự sống. Tất cả chúng ta đều có khả năng bước đi trong cõi Tịnh độ. Ta đã có tất cả những gì ta cần: đôi chân, buồng phổi, đôi mắt và một cái tâm. Với một ít thực tập ta có thể chế tác được năng lượng chánh niệm, giống như thắp lên một ngọn đèn. Một khi đã thật sự sống, thì bước đi một bước là ta đã đi vào được cõi Tịnh độ.

Cõi Tịnh độ không chỉ là ý niệm. Cõi Tịnh độ là một thực tại sống động mà ta có thể tiếp xúc được trong đời sống hằng ngày. Nếu không vào được cõi Tịnh độ ngay bây giờ thì trong tương lai ta cũng sẽ không bao giờ vào được. Tất cả chúng ta đều có khả năng vào được đó, không chỉ bằng tâm mà bằng đôi chân của ta. Năng lượng chánh niệm giúp ta làm được điều này. Với một bước chân chánh niệm là ta có thể tiếp xúc được với cõi Tịnh độ bây giờ và ở đây.

Hơi thở chánh niệm

Hơi thở chánh niệm giúp ta duy trì sự có mặt trong giây phút hiện tại. Chúng ta không nên điều khiển hơi thở. Hơi thở là một cái gì rất tự nhiên như không khí, ánh sáng. Chúng ta phải để cho nó tự nhiên mà đừng can thiệp vào. Điều chúng ta có thể làm là thắp lên một ngọn đèn ý thức để chiếu rọi vào hơi thở. Chúng ta chế tác năng lượng chánh niệm để chiếu sáng vào tất cả những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại.

Khi thở vào, ta có thể nói: “Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào”. Thực tập như vậy, năng lượng chánh niệm sẽ ôm lấy hơi thở vào, giống như ánh sáng mặt trời ôm lấy những ngọn lá cành cây. Ánh sáng chánh niệm có mặt ôm lấy hơi thở, rất nhẹ nhàng, không bạo động, không can thiệp. Khi thở ra, ta có thể nói: “Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra”.

Tôi chăm sóc hơi thở của tôi như một em bé nhỏ yếu ốm. Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào. Tôi để cho hơi thở đi vào một cách tự nhiên. Tôi vui mừng hân hoan là hơi thở tôi còn đó. Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra. Tôi mỉm cười với hơi thở ra. Thực tập như vậy, ta có thể đạt được niềm vui lớn, và nếu tiếp tục thêm một phút, ta sẽ thấy hơi thở của ta đã khác đi rồi. Sau một phút thực tập hơi thở chánh niệm mà không kỳ thị thì phẩm chất của hơi thở sẽ được tăng tiến. Hơi thở trở nên lắng dịu hơn và dài hơn, sự hài hòa nhẹ nhàng từ hơi thở sẽ thấm vào thân thể và tâm thức ta.

Chúng ta thử thực tập như thế trong khi ta có niềm vui, chẳng hạn như khi ta ngắm mặt trời lặn và tiếp xúc với những cái đẹp của thiên nhiên. Tôi đang thở vào, thật hạnh phúc! Tôi đang thở ra, mặt trời rất đẹp. Tiếp tục như thế trong vài phút. Tiếp xúc với những cái đẹp của thiên nhiên làm cho sự sống đẹp hơn, thực hơn. Càng có chánh niệm và chánh định ta càng tiếp xúc sâu sắc với mặt trời lặn. Hạnh phúc của ta tăng lên gấp mười, hai mươi lần. Ngắm nhìn chiếc lá, nụ hoa hay lắng nghe tiếng chim hót bằng năng lượng chánh niệm, ta sẽ tiếp xúc với chúng sâu sắc hơn. Sau một phút thực tập niềm vui của ta sẽ tăng trưởng, hơi thở của ta sẽ sâu lắng, nhẹ nhàng, thư thái hơn. Chính cái nhẹ nhàng, sâu lắng này ảnh hưởng lên thân thể ta.

Hơi thở chánh niệm là chiếc cầu đưa thân và tâm về lại với nhau. Nếu qua hơi thở chánh niệm, ta chế tác được sự hài hòa, sâu lắng, tĩnh lặng thì những yếu tố ấy sẽ thấm vào thân tâm ta. Kỳ thực, những gì ảnh hưởng đến tâm sẽ ảnh hưởng đến thân và ngược lại. Nếu chúng ta chế tác được bình an trong hơi thở thì sự bình an này sẽ thấm vào thân tâm ta. Nếu đã từng tập thiền thì ta sẽ khám phá ra được điều này. Nếu ta đã từng ôm ấp hơi thở vào và hơi thở ra một cách nhẹ nhàng thì chúng cũng trở lại ôm ấp thân tâm ta. Bình an ‘lây lan’. Hạnh phúc cũng ‘lây lan’. Bởi vì khi thiền tập thì ba yếu tố thân, tâm và hơi thở trở thành một.

Khi thở vào, ta tôn trọng hơi thở vào. Thắp lên ngọn đèn chánh niệm để chiếu rọi vào hơi thở vào. “Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào”. Rất đơn giản. Nếu hơi thở vào ngắn, ta ý thức là hơi thở vào ngắn. Thế thôi. Ta không cần đánh giá. Chỉ nhận diện đơn thuần: hơi thở của tôi ngắn và tôi biết là hơi thở của tôi ngắn. Đừng cố gắng kéo cho nó dài ra. Hãy để cho nó ngắn. Và khi hơi thở vào của ta dài, ta nói: “Hơi thở vào của tôi dài”.

Chúng ta tôn trọng hơi thở vào ra, tôn trọng hình hài và tâm thức ta. Hơi thở vào đang đi vào, hơi thở ra đang đi ra. Vào, ra. Giống như chơi vậy, nhưng đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Trong suốt quá trình thực tập, không có một sự căng thẳng nào. Ta hoàn toàn có mặt cho sự sống. Và nếu ta có mặt cho sự sống thì sự sống cũng có mặt cho ta. Rất đơn giản.

Đi như Bụt đi

Thiền hành là một pháp môn quan trọng trong đạo Bụt, là một sự thực tập tâm linh rất sâu sắc. Khi bước đi Bụt không cần phải cố gắng. Bụt chỉ đi thôi. Bụt không cần cố gắng, bởi vì khi đi Bụt tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của cuộc sống trong tự thân và chung quanh Ngài. Đây là cách thực tập hay nhất, không mang tính hình thức. Chúng ta hãy thử đi như vậy, đi để mà đi, không cần gắng sức, không cần đấu tranh, nhưng đó là một sự thực tập rất thâm sâu. Đức Bụt nói: “Sự thực tập của tôi là tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng”.

Nhiều người trong chúng ta khó chấp nhận được ý tưởng thực tập không cần cố gắng mà có thể thong dong, thoải mái trong chánh niệm. Đó là do ta không đi bằng hai chân của mình. Có khi chân ta đi, nhưng tâm ta thì lại đang ở một nơi nào khác. Ta không đi hết thân tâm của mình. Ta thấy thân và tâm là hai cái riêng biệt, có khi thân đi một đường mà tâm thì kéo ta đi về một nẻo khác.

Trong khi đó đối với Bụt, thân và tâm là hai mặt của một thực tại. Đi, đơn giản chỉ là đặt bàn chân này tiếp nối bàn chân kia. Nhưng thường không biết cách đi thì người ta thấy mệt mỏi và chán nản. Khi hiểu được sự liên hệ mật thiết giữa thân và tâm, ta sẽ đi được như Bụt, ta sẽ cảm thấy rất thoải mái và thú vị.

Ta có thể bước một bước, tiếp xúc sâu sắc với mặt đất và thiết lập thân tâm trong giây phút hiện tại. Đã về đã tới, bây giờ ở đây. Ta không cần cố gắng gì cả. Chân ta tiếp xúc với mặt đất một cách chánh niệm. Ta đã thật sự “về” với giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Tự nhiên ta có tự do, không bị ràng buộc bởi bất cứ một dự án, lo lắng, mong chờ nào. Ta hoàn toàn có mặt, ý thức mình đang còn sống và đang tiếp xúc với mặt đất.

Khi đi thiền một mình, ta có thể thử thực tập như sau: Thở vào, bước một bước và chú tâm hoàn toàn vào lòng bàn chân của mình. Nếu ta chưa “về” được một trăm phần trăm thì đừng bước thêm bước nào nữa cả. Ta có thể lãng phí thì giờ nếu làm vậy. Khi nào chắc chắn mình đã về được hoàn toàn với giây phút hiện tại bây giờ và ở đây, tiếp xúc được với thực tại một cách sâu sắc thì ta hãy mỉm cười và bước đi bước kế tiếp. Đi như vậy, ta sẽ in lên mặt đất sự vững chãi, thảnh thơi và niềm an vui của ta. Bàn chân ta như một con dấu của vị quốc vương. Khi đóng dấu lên một tờ giấy nào, con dấu sẽ làm cho tờ giấy đó trở nên quan trọng. Con dấu làm nên một dấu ấn. Nhìn vào dấu chân của ta, ta thấy gì? Ta thấy dấu ấn của tự do, dấu ấn của vững chãi, dấu ấn của hạnh phúc, dấu ấn của sự sống.

Ta có khả năng bước được một bước như thế bởi vì trong ta có Bụt, có Phật tánh, có khả năng ý thức những gì đang xảy ra. Cái đang xảy ra là: “Tôi đang còn sống, tôi đang bước đi”. Là con người có ý thức, chúng ta phải có khả năng làm được điều này. Trong mỗi chúng ta ai cũng có Bụt trong tự thân mình, chúng ta hãy để cho Bụt đi.

Tiếp xúc với đất Mẹ

Trong truyền thống đạo Bụt, chúng ta thực tập “Sám Pháp địa xúc” mỗi ngày. Sự thực tập này giúp ta rất nhiều. Dù không phải Phật tử nhưng nếu ta thực tập phương pháp này cũng mang lại nhiều kết quả tốt đẹp. Khi nào thấy bất an, thiếu tự tin hoặc giận hờn, khổ đau ta có thể quỳ xuống và tiếp xúc sâu sắc với đất Mẹ bằng đôi tay của mình. Tiếp xúc với đất Mẹ như thể đất Mẹ là cái ta yêu quý nhất trên đời, là người bạn thân thiết nhất của ta.

Đất đã có đó từ lâu lắm rồi. Đất là Mẹ của tất cả chúng ta. Đất Mẹ biết hết tất cả mọi thứ. Trước khi thành đạo, Bụt còn nghi ngờ và sợ hãi, Bụt đã bắt ấn địa xúc, đặt tay lên mặt đất và xin đất làm chứng cho Ngài. Đất xuất hiện như một bà Mẹ xinh đẹp. Trên đôi tay của Mẹ mang theo nhiều hoa trái, bướm chim và nhiều loài cầm thú khác nhau để hiến tặng cho Bụt. Những nghi ngờ và sợ hãi của Bụt tan biến ngay. Khi nào có khổ đau, hãy trở về với đất Mẹ và xin đất Mẹ giúp đỡ. Tiếp xúc với đất Mẹ thật sâu sắc giống như Bụt, thì tự nhiên ta thấy đất Mẹ xuất hiện với nhiều hoa trái, cây cối, chim chóc, động vật và các loài sinh vật khác mà Mẹ đã sinh ra. Đất Mẹ hiến tặng tất cả những thứ ấy cho ta. Ta có nhiều cơ hội hạnh phúc hơn là ta tưởng. Đất Mẹ cho ta tình thương và sự kiên nhẫn. Đất Mẹ rất kiên trì và nhẫn nại. Đất Mẹ hiểu được nỗi khổ của ta, đất Mẹ sẽ giúp ta và bảo hộ cho ta. Khi ta chết, đất Mẹ cũng đón ta trở về trong vòng tay của Mẹ.

Trở về với đất Mẹ chúng ta rất an toàn. Đất Mẹ luôn luôn có đó với tất cả những mầu nhiệm như cây xanh, hoa cỏ, ong bướm và ánh nắng mặt trời. Bất cứ lúc nào mệt mỏi hay khổ đau, thực tập địa xúc sẽ giúp ta trị liệu và phục hồi lại sự tươi mát an vui của mình.

Sống chánh niệm

Khi ăn sáng cho dù ăn rất ít, ta cũng ăn như thế nào để có tự do và thảnh thơi. Trong khi ăn, đừng nghĩ đến tương lai, đừng nghĩ đến những chuyện ta sẽ phải làm. Sự thực tập của ta là chỉ ăn sáng thôi. Buổi ăn sáng có mặt cho ta. Ta phải có mặt cho buổi ăn sáng. Chúng ta phải nhai mỗi miếng thức ăn cho vui vẻ và thảnh thơi.

Khi cầm miếng bánh mì trên tay, tôi nhìn nó và thỉnh thoảng mỉm cười với nó. Miếng bánh mì là sứ giả của vũ trụ, hiến tặng chất dinh dưỡng cho ta và nuôi nấng ta. Nhìn sâu vào miếng bánh mì, ta thấy mặt trời, đám mây và đất Mẹ. Không có mặt trời thì lúa mì không thể lên được. Không có mây thì sẽ không có mưa và như vậy thì lúa cũng không thể lên được. Không có đất Mẹ thì không có gì có thể tồn tại được. Vì vậy miếng bánh mì ta cầm trong tay là một mầu nhiệm của sự sống. Nó có đó cho ta. Ta phải có mặt cho nó.

Ta ăn với niềm biết ơn. Khi đưa miếng bánh mì vào miệng ta chỉ nhai bánh mì mà đừng nhai dự án, kế hoạch, lo lắng, sợ hãi và giận hờn. Đó là sự thực tập chánh niệm. Nhai trong chánh niệm, ta biết rằng ta đang nhai bánh mì, đang nhai thực phẩm mầu nhiệm của sự sống. Điều này đem đến cho ta nhiều tự do và an vui. Mỗi miếng thức ăn ta đều ăn như thế. Đừng để mình bị lọt ra khỏi bữa ăn sáng.

Khi đánh răng, ta để ra bao nhiêu thời gian cho việc đánh răng? Ít nhất là một phút, có thể là hai phút. Đánh răng như thế nào để có thảnh thơi, an lạc và tự do, đừng để mình bị lôi kéo bởi những chuyện mình sẽ làm sau đó. “Tôi đang đứng đây, đang đánh răng và vẫn còn răng để đánh. Tôi có kem đánh răng và bàn chải đánh răng. Tôi đang còn sống, đang có tự do và đang đánh răng rất thảnh thơi”. Đừng để cho mình trở thành nô lệ của quá khứ hoặc tương lai. Đây là sự thực tập tự do. Và nếu tự do có mặt thì ta đánh răng rất thoải mái thảnh thơi. Đừng để bị lôi kéo bởi những suy nghĩ và sợ hãi.

Ở Mỹ người ta gọi nhà vệ sinh là phòng nghỉ (restroom). Thật thú vị. Ta có thấy mình được nghỉ ngơi khi vào nhà vệ sinh không? Ở Pháp người ta gọi nhà vệ sinh là phòng dễ chịu (la cabine d’aisance). Aisance nghĩa là dễ chịu. Ta có thấy dễ chịu khi vào đó không? Có thấy thoải mái không? Khi dùng nhà vệ sinh, ta phải thấy thoải mái dễ chịu và tận hưởng thời gian trong nhà vệ sinh. Khi đi tiểu tôi cho phép mình có mặt hoàn toàn cho việc đi tiểu. Nếu có tự do thì đi tiểu rất thích thú dễ chịu. Ta đầu tư một trăm phần trăm thân tâm vào việc đi tiểu. Điều đó có thể đem đến cho ta nhiều tự do và an vui.

Khi lái xe, thay vì nghĩ tới nơi đến, ta tận hưởng từng giây phút trong khi lái xe. Trước khi cho pháp thoại tôi không bận tâm, lo lắng về vấn đề: “Các bạn sẽ hỏi tôi những câu hỏi gì và tôi sẽ phải trả lời như thế nào?” Tôi không lo lắng cho vấn đề đó một chút nào cả. Từ phòng đến thiền đường, tôi đi rất thảnh thơi và thưởng thức sâu sắc từng bước chân của mình. Khi đến, tôi thấy rất tươi mát và sẵn sàng trả lời cho những câu hỏi được đặt ra. Chúng ta có thể sống chánh niệm trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.

Trị vì năm uẩn

Mỗi người trong chúng ta đều có chủ quyền về lãnh thổ năm uẩn của chính mình. Năm uẩn là sắc (thân thể), thọ, tưởng, hành và thức. Sự thực tập của ta là nhìn sâu vào năm uẩn để khám phá ra tự tính của ta, khám phá ra bản chất của khổ đau, hạnh phúc, an lạc và sợ hãi trong ta.

Nếu từ bỏ lãnh thổ của chính mình thì ta không phải là những nhà trị vì có trách nhiệm. Ta không thực tập đàng hoàng, thay vì trở về chăm sóc lãnh thổ của mình ta lại chạy trốn và để cho những xung đột, bất ổn, rối loạn xâm chiếm. Ta sợ trở về lãnh thổ của chính mình để đối diện với những khó khăn và khổ đau. Bất cứ lúc nào có 15 phút hay một, hai giờ rảnh rỗi là ta có tập khí mở ti vi lên coi, đọc báo, nghe nhạc, chuyện trò hay gọi điện thoại để quên đi nỗi khổ đau đang có trong ta, và ta chạy trốn thực tại năm uẩn đã làm nên con người mình: “Tôi khổ đau quá, tôi có quá nhiều vấn đề, tôi không muốn trở về đó nữa”. Chúng ta phải trở về với thân thể và thiết lập lại trật tự của nó. Đức Bụt đã dạy cho ta những phương pháp thực tập rất cụ thể. Ngài dạy rất rõ rằng: để thanh lọc và chuyển hóa những yếu tố trong mình ta phải vun trồng chánh niệm. Chánh niệm sẽ cho ta sức mạnh để trở về với tự thân.

Chánh niệm là một cái gì rất cụ thể mà ta có thể chế tác và vun trồng. Khi ta đi trong ý thức thì những bước chân bình an vững chãi làm ra năng lượng chánh niệm và đưa ta trở về giây phút hiện tại. Khi ta ngồi theo dõi hơi thở, ý thức hơi thở vào ra là ta đang chế tác năng lượng chánh niệm. Ăn cơm trong chánh niệm, ta đầu tư một trăm phần trăm vào giây phút hiện tại, ý thức về thức ăn và những người đang cùng ngồi ăn với ta. Ta có thể chế tác chánh niệm trong khi đi, khi thở, khi làm việc, khi rửa bát, khi giặt áo… Thực tập vài ngày như thế sẽ làm tăng trưởng nguồn năng lượng chánh niệm trong ta. Chính nguồn năng lượng này giúp ta, bảo hộ ta, cho ta can đảm để trở về với chính mình, để hiểu chính mình và ôm ấp những gì đang có trong lãnh thổ của mình.

Có những nỗi khổ đau thật sự, những cảm xúc mạnh, những tư tưởng phiền muộn, những nhận thức sai lầm làm cho ta giận dữ, bực bội, lo lắng, bất an và sợ hãi. Bằng năng lượng chánh niệm ta có mặt cho những cảm thọ, tâm hành khó ở này mà không chạy trốn. Ta có thể ôm ấp chúng như cách một người mẹ ôm lấy đứa con thơ và nói với chúng: “Con ơi, mẹ đang có mặt đây cho con, mẹ đã trở về, mẹ sẽ chăm sóc con”. Chúng ta có thể thực tập như thế với tất cả những cảm xúc, cảm thọ và tri giác của ta.

Khi mới bắt đầu thực tập đạo Bụt, chúng ta tập làm một đức Bụt bán phần (part-time Buddha), từ từ ta trở thành đức Bụt toàn phần (full-time Buddha). Đôi khi ta rơi xuống làm đức Bụt bán phần trở lại, nhưng với sự thực tập đều đặn ta sẽ trở lại làm đức Bụt toàn phần. Phật tính ở trong tầm với của ta, vì ta cũng là một con người như Bụt. Chúng ta có thể trở thành Bụt bất cứ lúc nào ta muốn. Đức Bụt luôn có đó cho ta ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ ở đây và bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Là một đức Bụt bán phần, có thể ta không có nhiều truyền thông tốt, nhưng khi trở thành đức Bụt toàn phần thì ta có hạnh phúc và truyền thông tốt với mọi người dù bất kỳ khó khăn nào xảy ra.

Thành Bụt không khó lắm. Bụt là một người giác ngộ, có khả năng thương yêu và tha thứ. Ta thấy thỉnh thoảng ta cũng có những khả năng ấy. Vì vậy ta hãy làm Bụt. Khi ngồi, ta để cho Bụt trong ta ngồi. Khi đi ta để cho Bụt trong ta đi. Làm gì cũng làm cho thoải mái, thong thả, thảnh thơi. Hãy tận hưởng sự thực tập của mình. Nếu ta không làm Bụt thì ai sẽ làm Bụt?

Tập khí

Có một câu chuyện thiền kể về một anh chàng đang cưỡi ngựa. Anh ta phi ngựa rất nhanh như thể anh đi đâu quan trọng lắm. Một người đàn ông đứng bên lề đường thấy vậy liền hỏi lớn: “Anh đi đâu vậy?”. Anh ta trả lời: “Tôi không biết. Hỏi con ngựa.” Có thể ta cười anh ta, nhưng đó cũng là câu chuyện của ta. Ta đang cưỡi ngựa mà không biết mình đang đi đâu. Và ta không thể dừng lại được. Con ngựa là tập khí của ta đang lôi kéo ta đi, còn ta thì yếu thế, bất lực. Ta luôn chạy, và chạy đã trở thành tập khí của ta. Lúc nào ta cũng đấu tranh kể cả trong khi ngủ. Ta đấu tranh với chính mình và rồi đấu tranh với người khác.

Ta phải học nghệ thuật dừng lại. Dừng lại những suy nghĩ, dừng lại những tập khí, dừng lại những thất niệm và dừng lại những cảm xúc mạnh đang thống trị ta. Khi cơn bão cảm xúc đi lên, ta bất an, đứng ngồi không yên. Ta mở ti vi lên, rồi lại tắt ti vi. Ta cầm quyển sách lên rồi lại bỏ sách xuống. Làm sao ta có thể dừng lại tình trạng bực bội, bất an này? Làm sao ta có thể dừng lại được những nỗi sợ hãi, thất vọng, giận hờn và tham lam? Ta có thể dừng lại bằng hơi thở chánh niệm, bằng lời nói ái ngữ, bằng nụ cười ý thức và bằng cách nhìn sâu. Khi có chánh niệm, tiếp xúc sâu sắc với giây phút hiện tại thì luôn luôn sản sinh ra hoa trái hiểu biết, chấp nhận và thương yêu, khiến cho ta có ước muốn làm vơi đi nỗi khổ đau và đem niềm vui đến cho người.

Tuy nhiên tập khí thường mạnh hơn ước muốn. Ta không muốn nói và làm những điều ấy nhưng rồi ta vẫn nói vẫn làm, sau đó ta lại cảm thấy hối hận. Ta làm cho mình, cho người khác khổ, và gây nên nhiều tổn hại cho nhau. Ta nguyện lần sau sẽ không lặp lại nữa, nhưng lần sau ta vẫn làm y như vậy. Tại sao? Tại vì tập khí đẩy ta, khiến ta làm.

Chúng ta cần năng lượng chánh niệm để nhận diện tập khí và có mặt cho nó để dừng lại quá trình phá hoại này. Nhờ chánh niệm mà ta có khả năng nhận diện tập khí khi chúng phát khởi. “Xin chào tập khí, tôi biết em ở đó”. Chỉ cần ta mỉm cười là cường độ của nó sẽ giảm xuống. Chánh niệm là một năng lượng cho phép ta nhận diện tập khí và ngăn ngừa không cho nó hoành hành ta.

Thất niệm là ngược lại. Uống trà mà ta không biết là ta đang uống trà. Ngồi với người thương mà ta không ý thức là người thương đang ở bên cạnh ta. Ta đi mà không thực sự đi. Ta mơ mơ màng màng, đang ở đâu đâu, nghĩ về quá khứ, mơ tưởng tương lai. Con ngựa tập khí lôi kéo ta và giam hãm ta. Ta phải biểu con ngựa dừng lại và giành lại tự do của mình. Ta cần chiếu ánh sáng chánh niệm vào những gì ta đang làm để cho bóng tối của thất niệm tan đi.

Bóng tối trở thành ánh sáng

Hãy quán chiếu những chuyển biến đang xảy ra trong tâm dưới ánh sáng ý thức. Ngay cả hơi thở của ta cũng thay đổi và trở thành không hai (bất nhị, tôi không muốn nói là một) với người đang quán chiếu. Suy nghĩ và cảm thọ cũng vậy, khi ta quán chiếu về chúng, chúng sẽ được chuyển hóa ngay. Khi ta không phán xét hoặc đè nén thì chúng trở nên gắn bó không thể tách rời được với cái tâm đang quán chiếu.

Có những lúc ta thấy bực bội bất an và cái bực bội bất an đó cứ ở hoài trong ta không chịu đi. Đừng phê phán hay đàn áp nó, hãy ngồi yên theo dõi hơi thở, mỉm một nụ cười trầm lặng và chiếu ánh sáng ý thức vào cái bực bội bất an đó. Bởi vì nó cũng chính là ta. Nó xuất hiện, ở lại một thời gian, rồi sau đó nó sẽ biến mất, rất tự nhiên. Đừng vội vàng đi tìm hiểu nguyên nhân, cũng đừng cố xua đuổi nó. Chỉ chiếu ánh sáng vào nó. Từ từ nó sẽ đổi thay, nó sẽ hòa vào, liên hệ mật thiết và hợp nhất với người đang quán chiếu. Bất kỳ một trạng thái tâm lý nào nếu ta chiếu rọi ánh sáng ý thức vào thì nó cũng được nhẹ nhàng ra và mang màu sắc của tâm người đang quán chiếu.

Trong khi thiền tập hãy giữ cho ý thức luôn được chiếu sáng thường trực. Giống như mặt trời đang chiếu sáng vào mỗi lá cây, ngọn cỏ; ý thức chánh niệm cũng soi tỏ mọi suy tư, cảm thọ. Soi tỏ để nhận diện, ý thức sự sinh khởi, tồn tại và hủy diệt mà không phán xét, không đánh giá, không mời mọc và cũng không xua đuổi. Điều quan trọng là ta không coi ý thức chánh niệm là phe chánh, là đồng minh của ta, đem đến để đàn áp phe tà, kẻ thù của ta, những suy nghĩ phóng túng. Đừng biến tâm mình thành một bãi chiến trường. Đừng để cho chiến tranh xảy ra. Tất cả những cảm thọ: vui buồn, giận hờn, thù hận… đều là ta. Ý thức chánh niệm giống như một người anh, người chị lớn, có mặt đó để hướng dẫn và khai sáng cho ta, rất nhẹ nhàng, ân cần và chu đáo. Chánh niệm là sự có mặt rất sáng suốt và bao dung, không bạo động, không kỳ thị. Chỉ nhận diện những suy nghĩ và cảm thọ, không phê phán, không phân loại chánh tà, tốt xấu để dàn trận đánh nhau. Sự xung đột giữa tốt và xấu thường được so sánh với sự xung đột giữa ánh sáng và bóng tối, nhưng nếu nhìn một cách khác ta sẽ thấy khi ánh sáng chiếu vào thì bóng tối biến mất. Bóng tối không chạy đi đâu cả, nó hòa vào ánh sáng, hợp nhất với ánh sáng và trở thành ánh sáng.

Thiền tập không phải là đi đánh giặc, không phải đấu tranh với những rắc rối trong lòng. Thiền nghĩa là quán chiếu, là quan sát. Nụ cười của ta là để chứng minh cho điều ấy. Nó minh chứng rằng ta đang rất nhẹ nhàng với chính mình, mặt trời ý thức đang chiếu rọi lên ta làm cho ta có chủ quyền trong mọi tình huống. Ta là ta, ta đạt tới một mức độ an lạc nào đó. Chính sự an lạc này làm cho trẻ con muốn đến gần ta.

Ngày quán niệm

Ta nên thực tập chánh niệm từng ngày từng giờ. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Vì vậy mỗi người nên cố gắng sắp xếp, dành một ngày trọn vẹn cho sự thực tập này. Cố nhiên, theo nguyên tắc thì ngày nào cũng là ngày của mình, giờ nào cũng là giờ của mình, ngày nào cũng là ngày chánh niệm, giờ nào cũng là giờ chánh niệm, tuy nhiên rất ít người làm được điều đó. Ta nghĩ rằng gia đình, sở làm, xã hội đã cướp hết thời gian của ta. Vì vậy ta nên dành mỗi tuần một ngày cho mình.

Nếu ta chọn thứ Bảy thì phải trọn vẹn ngày thứ Bảy, ngày mà ta có thể làm chủ hoàn toàn. Ngày thứ Bảy sẽ là ngày tạo cho ta có thói quen chánh niệm. Những người làm công tác hòa bình hay phụng sự tăng thân, cho dù là công việc có cấp bách cỡ nào cũng có quyền có một ngày như thế. Bởi vì không có ngày này ta sẽ đánh mất mình mau chóng trong cuộc sống nhiều lo toan bận rộn, và như vậy những đóng góp của ta sẽ nhanh chóng trở thành vô hiệu hóa. Bất kỳ ngày nào được chọn, cũng được xem là ngày quán niệm.

Chúng ta nghĩ ra cách nào đó để nhắc nhở mình khi thức dậy, rằng hôm nay là ngày quán niệm. Ta có thể treo cái gì đó lên trần nhà, hoặc lên tường. Có thể là từ chánh niệm, hoặc là một cành thông… bất cứ thứ gì có thể nhắc ta nhớ rằng hôm nay là ngày quán niệm khi ta mới mở mắt. Hôm nay là ngày của ta. Hãy nhớ điều đó. Có thể ta nở một nụ cười để khẳng định ta đang hoàn toàn có chánh niệm, nụ cười sẽ nuôi dưỡng chánh niệm trong ta.

Khi còn nằm trên giường, ta bắt đầu theo dõi hơi thở ý thức, nhẹ nhàng và sâu lắng. Rồi từ từ ngồi dậy (thay vì ngồi dậy ngay như bình thường), ý thức vào mỗi động tác của ta. Thức dậy, ta đi đánh răng, rửa mặt… làm tất cả những công việc ấy một cách thong thả, nhẹ nhàng, thảnh thơi và tĩnh lặng. Mỗi thao tác đều được làm trong chánh niệm. Theo dõi hơi thở, nắm lấy nó, đừng để cho suy nghĩ lôi kéo ta đi. Đo bước chân bằng hơi thở nhẹ sâu và duy trì nụ cười trên môi.

Để ra ít nhất nửa giờ để tắm. Tắm thong thả và chánh niệm để khi tắm xong ta thấy nhẹ nhàng, tươi mát và sảng khoái. Sau đó ta có thể làm công việc nhà như rửa bát, quét dọn, lau bàn, hút bụi, chùi nhà bếp, xếp sách lên kệ… Bất cứ công việc nào ta cũng làm thong thả, thoải mái và chánh niệm. Đừng làm cho mau xong. Nhất quyết làm cho thảnh thơi với tất cả sự chú tâm của mình. Làm một cách thích thú, vui tươi và trở thành một với nó. Nếu không thì ngày quán niệm không có giá trị gì cả. Cảm giác mệt mỏi, chán nản sẽ sớm biến mất nếu ta làm trong chánh niệm. Hãy lấy gương của các vị thiền sư, bất kỳ công việc nào quý Ngài cũng làm thong thả, đều đặn và hết lòng.

Những người mới bắt đầu thực tập thì cách hay nhất là duy trì im lặng hùng tráng suốt ngày. Điều này không có nghĩa là ngày quán niệm thì ta không được nói chuyện. Ta có thể nói, thậm chí ta còn hát nữa, nhưng nếu ta nói hoặc hát thì phải nói và hát trong chánh niệm và cũng nên hạn chế tối đa. Tất nhiên ta cũng có thể vừa hát vừa thực tập chánh niệm nếu ta ý thức được là ta đang hát. Cũng nên ý thức là khi hát hoặc nói ta sẽ dễ bị mất chánh niệm hơn nếu như sự thực tập của ta còn yếu.

Khi ăn trưa, ta chuẩn bị bữa ăn trưa của ta cho đàng hoàng. Nấu ăn và rửa bát trong chánh niệm. Buổi sáng sau khi dọn dẹp nhà cửa hoặc buổi chiều sau khi làm vườn, ngắm mây hay hái hoa… ta pha một bình trà và ngồi xuống uống trà trong chánh niệm. Cho mình có đủ thời gian để uống trà. Đừng uống trà như những người uống vội tách cà phê giữa giờ nghỉ giải lao. Uống trà cung kính và chậm rãi như trái đất đang quay vậy, đều đặn, khoan thai, không vội vã cho những gì sắp tới. Sống hết lòng với giây phút hiện tại. Chỉ có giây phút này là giây phút đáng sống. Đừng vướng bận đến tương lai. Đừng lo lắng cho những gì phải làm. Đừng nghĩ đến chuyện đứng dậy đi làm cái gì đó.

Buổi tối, ta có thể đọc kinh, đọc sách, viết thư cho bạn, hoặc làm bất cứ điều gì ta thích ngoài những công việc thông thường trong tuần. Bất cứ điều gì ta làm cũng làm trong chánh niệm. Buổi tối ta nên ăn nhẹ để có thể ngồi thiền nhẹ nhàng, thoải mái hơn. Ta có thể đi bách bộ để hưởng không khí trong lành, theo dõi hơi thở và đo chiều dài hơi thở bằng bước chân của ta. Sau đó đi về phòng ngủ trong chánh niệm. Ngày quán niệm như thế rất quan trọng. Ảnh hưởng của nó không thể lường được. Chỉ sau ba tháng thực tập ngày quán niệm một tuần một lần, cuộc sống của ta sẽ đổi thay đáng kể. Ngày quán niệm sẽ ảnh hưởng đến những ngày khác trong tuần khiến ta sống cả bảy ngày trong chánh niệm. Tôi tin chắc là các bạn thấy ngày quán niệm rất quan trọng.