Bài kệ 23

Thị vi đệ nhất khoái

是 為 第 一 快

Thử đạo tịch vô thượng

此 道 寂 無 上

Thọ nhục tâm như địa

受 辱 心 如 地

Hành nhẫn như môn quắc

行 忍 如 門 閾

Đó là cái lạc thú đệ nhất

Con đường yên lặng (của ý niệm và ngôn từ) này không có gì cao hơn

Lúc bấy giờ mình có khả năng nhẫn chịu được, tâm mình cũng như đất

Và cái hành nhẫn cũng như một thành quách.

Thị vi đệ nhất khoái: Đó là cái khoái lạc lớn nhất.

Thử đạo tịch vô thượng: Vô thượng là không có gì cao hơn. Không có con đường nào cao hơn con đường đưa tới sự vắng lặng đó. Vắng lặng không có nghĩa là không có âm thanh, mà vắng lặng có nghĩa là những ý niệm về có- không, sinh-diệt đã rơi rụng. Thi sĩ Bùi Giáng có làm câu thơ: Ta bước qua từ ngữ rụng hai lần

Nhờ sự quán chiếu, những ý niệm nhưcó hay không, sinh hay diệt rơi rụng và thực tại được hiển bày ra. Thực tại (ultimate reality) không thể nào được diễn tả bằng các ý niệm có-không, sinh-diệt. Trong Như Thị Ngữ (Itivṛttaka) nói: Có một cái không sinh, không diệt, không tới, không đi, không này, không kia, không có, không không. Nếu không có cái không sinh, không diệt, không tới, không đi, không này, không kia, không có, không không đó, thì làm sao có nẻo thoát cho cái có sinh, có diệt, có tới, có đi, có này, có kia, có có, có không.

Ta bước qua, là bước qua ngưỡng cửa của sự nhận thức lưỡng nguyên.

Con đường tịch diệt này không có gì cao hơn. Chữ tịch diệt ở đây không phải là không còn gì nữa, mà có nghĩa là sự vắng mặt của những ý tưởng xôn xao như có và không, tôi và anh, trong và ngoài, chủ thể và đối tượng. Những ý tưởng xôn xao không còn, thì gọi là vắng lặng, là im lặng hùng tráng.

Thọ nhục tâm như địa: Khi nếm được hạnh phúc lớn đó, khi đi vào được trong không gian mênh mông của sự vắng mặt tất cả các ý niệm đó, thì tâm mình giống như đại địa có thể chịu đựng được tất cả. Nhẫn là có sức chịu đựng rất lớn.

Khi dạy thầy La Hầu La, Bụt đã nói: Con phải luyện cho tâm con giống như đất. Người ta có đổ xuống đất dầu thơm, những thức ăn rất ngon, hoặc phân hay nước tiểu, thì đất cũng chấp nhận tất cả. Đất có khả năng tiếp nhận và chuyển hóa rất hay, đất không kỳ thị; cái thơm ngon đất chấp nhận đã đành, mà cái hư thối đất cũng chấp nhận, đất không đau khổ và không kỳ thị.

Nếu nếm được cái lạc thú của Niết bàn, tâm ta rộng mở rồi, thì những gì trước kia ta không chấp nhận được, bây giờ ta có thể chấp nhận một cách dễ dàng. Tâm ta trở thành như đất (tâm như địa).

Hành nhẫn như môn quắc: Sự thực tập nhẫn nhục (kṣānti-pāramitā) trở nên vững chãi như một bức trường thành.

Bài kệ 22

Sở kiến bất phục khủng

所 見 不 復 恐

Vô ngôn ngôn vô nghi

無 言 言 無 疑

Đoạn hữu chi xạ tiễn

斷 有 之 射 箭

Cấu ngu vô sở ỷ

遘 愚 無 所 猗

Cái mình thấy không làm cho mình sợ hãi nữa

Không còn nghi ngờ gì nữa về ngôn từ hay không ngôn từ

Mũi tên bắn rơi được cái ý niệm có không rồi

Thì khi gặp kẻ ngu muội không cần diễn bày gì nữa cả.

Chúng ta hãy nhớ lại câu: Chim chóc ưa trở về mây trời, hươu nai ưa trở về đồng quê, còn các bậc chân nhân thì ưa trở về Niết bàn.

Niết bàn là nơi thảnh thơi, Niết bàn đang có mặt ở đây trong giây phút hiện tại. Tùy ta muốn chọn sự bận rộn, lo lắng, sợ hãi hay muốn chọn Niết bàn. Có hai cách để định nghĩa Niết bàn:

Định nghĩa đầu là sự vắng mặt của các phiền não như đam mê, hận thù, nghi kỵ, tại vì đam mê, hận thù, nghi kỵ là những ngọn lửa đốt cháy mình. Sự vắng mặt của đam mê, hận thù, nghi kỵ là sự mát mẻ. Định nghĩa đầu của Niết bàn là sự mát mẻ, sự tắt lửa. Khi ngọn lửa đam mê, hận thù đang cháy, thì ta không có Niết bàn. Nhưng khi ta thấy không có ngọn lửa đam mê và hận thù đang cháy thì đó là Niết bàn. Nirvāna trước hết có nghĩa là không bốc cháy.

Định nghĩa thứ hai của Niết bàn là sự vắng mặt của sự kỳ thị, của cái nhìn lưỡng nguyên. Dưới cái nhìn lưỡng nguyên, ta thấy có trong có ngoài, có ta có người, có chủ thể có đối tượng. Khi vượt thoát cái nhìn lưỡng nguyên, ta không còn thấy sự tách biệt giữa chủ thể và đối tượng, tâm và vật, ta và người. Không còn thấy sự kỳ thị và phân biệt, ta có rất nhiều tự do, tự do thênh thang, đó là Niết bàn. Thấy có ta và có người, ta so sánh ta thua người đó, hay hơn người đó, hoặc bằng người đó. Đó là ba loại mặc cảm: Mặc cảm thua người, mặc cảm hơn người và mặc cảm bằng người. Ba loại mặc cảm này đều dựa trên sự phân biệt giữa ta và người. Khi thấy rõ ta với người đó tương tức, ta có trong người đó và người đó có trong ta, thì ta không còn mặc cảm, dù là mặc cảm thua người, hơn người hay bằng người. Không còn cái thấy nhị nguyên, ta sẽ có rất nhiều không gian, có rất nhiều tự do. Đó là Niết bàn. Niết bàn có mặt trong giây phút hiện tại, ta không cần phải đi tìm ở một cõi xa xăm nào trong tương lai.

Đợt sóng khổ đau tại vì nó lên xuống, sinh diệt, tự so sánh mình với những đợt sóng khác và nó có mặc cảm. Nhưng khi đợt sóng biết rằng nó là nước thì nó không còn đau khổ vì chuyện lên xuống, ra vào, lớn nhỏ. Đợt sóng không cần phải đi tìm nước ở chỗ khác, tại vì chính nó đã là nước rồi. Nếu ta nghĩ Niết bàn là một thực tại ở ngoài mà ta cần phải đi tìm, thì ta vẫn còn kẹt trong cái thấy nhị nguyên. Đó không phải là Niết bàn, Niết bàn không có trong và ngoài, này và kia. Trong khóa tu ở Nottingham University vừa rồi, tôi nói với báo chí: Nếu Tây phương đặt Thượng đế trở lại vào đúng vị trí của Ngài thì mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp. Ta đặt Thượng đế sai chỗ, vì ta cho Thượng đế là một thực tại ở bên ngoài mà ta phải đối phó nên ta mới đưa thế giới tới sự khủng hoảng hiện nay.

Sở kiến bất phục khủng: Cái ta thấy, ta không còn sợ nữa. Sở kiến là cái ta thấy. Bất phục khủng là ta không còn sợ hãi nữa.

Vô ngôn ngôn vô nghi: Không còn nghi ngờ gì về vấn đề ngôn từ hay không ngôn từ nữa. Ngôn là cái có ngôn từ, vô ngôn là cái không có ngôn từ.

Đoạn hữu chi xạ tiễn: Mũi tên bắn rơi đượccái ý niệm có không. Tiễn là mũi tên. Đoạn là làm cho chấm dứt. Hữu là being in existence. Người hành giả giương cây cung, lắp một mũi tên, nhắm cái hữu (being) mà bắn một phát. Hữu rơi xuống, đồng thời vô cũng rơi xuống. Một nhà thần học nói: “Thượng đế là nền tảng của hiện hữu” (Paul Tillich). God is the ground of being. Trong tuệ giác của đạo Bụt, being là một ý niệm đối lại với ý niệm non-being. Nhà thần học này có khuynh hướng muốn liệt Thượng đế vào phía being. Ta có thể đặt câu hỏi: “Nếu Thượng đế là nền tảng của being (hữu thể) thì ai là nền tảng của non-being (vô thể)?” Người hành giả tu thiền lắp mũi tên vào cây cung, nhắm cái being mà bắn một phát. Nếu bắn rớt cái being xuống, thì cái non-being cũng rớt theo, tại vì đây là một cặp đối nghịch. Trong chân lý tuyệt đối, không có ý niệm being hay non-being, cho Thượng đế là being là sai, mà cho Thượng đế là non-being cũng sai. Thượng đế là cái tuyệt đối (ultimate) vượt thoát cả being và non- being, tại vì being và non-being vẫn còn nằm trong vòng lưỡng nguyên. Đặt Thượng đế vào being là đặt không đúng chỗ. Nói không có Thượng đế là sai, mà nói có Thượng đế cũng sai. Thượng đế vượt ra ngoài ý niệm có và không.

Niết bàn, trước hết là sự vắng mặt của những ngọn lửa và sau đó là sự vắng mặt của những cặp ý niệm đối lập nhau. Mục đích của người hành giả không phải là đi tìm cái non-being, mà là tìm sự vượt thoát cả being và non-being. Mục đích của người tu là đạt tới vô sinh (birthlessness). No-birth không có nghĩa là death, không lý ta tu chỉ để tìm cái chết? Khi ta lắp mũi tên vào cây cung và bắn rơi cái sinh, thì cái tử cũng rơi theo, đó gọi là bất tử (deathlessness). Một mũi tên bắn rơi hai lá cờ ảo tưởng.

Năm 1962, tôi xin xuất bản một tập thơ tại Sài Gòn có tên “Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện”, đó là những bài thơ nói về thao thức muốn chấm dứt chiến tranh, đạt tới hòa bình. Người ta gọi những bài thơ đó là phản chiến, nhưng sự thực thì không phải như thế. Khi đem lên kiểm duyệt, người ta bỏ hết, chỉ để còn lại ba bài. Có một bài nhan đề là “Một mũi tên rơi hai cờ huyễn tượng”, bắn một mũi tên làm rơi hai lá cờ nhị nguyên hữu và vô, sinh và diệt. Nhưng những người làm chính trị không hiểu được. Họ cho là mình vừa chống quốc gia, vừa chống cộng sản, đi theo phong trào trung lập, mà phong trào trung lập lúc đó đang bị cấm ở Việt Nam, vì bị cho là thân cộng. Những người trong ban kiểm duyệt của Bộ thông tin không thể nào hiểu được ý của bài thơ này: Với niệm lực và định lực, mình bắn rơi hai ý niệm, mình đang cổ vũ cho đường lối trung lập.

Khi mũi tên bắn rơi cái hữu, thì cái vô cũng rơi theo, lúc đó chúng ta có vô phân biệt trí (nirvikalpa-jñāna). Cái sinh-diệt rơi xuống rồi, thì không gian mở rộng với bao nhiêu là tự do, bao nhiêu là hạnh phúc.

Cấu ngu vô sở y: Vô sở y là không cần nói. Đối với người có thành kiến sâu dày, thì không làm sao nói được, ta không có nhu yếu cãi lộn nữa tại vì người ấy không thể hiểu.

Khi biết được Thượng đế là ai rồi, là gì rồi, thì anh không còn là nhà thần học nữa. Nghe người khác cãi nhau, ta chỉ ngồi cười, tại vì cãi nhau rằng có Thượng đế hay không có Thượng đế, có Niết bàn hay không có Niết bàn, chỉ tốn công vô ích.

Bài kệ 21

Bất một bất phục sinh

不 沒 不 復 生

Thị tế vi nê hoàn

是 際 為 泥 洹

Như thị tượng vô tượng

如 是 像 無 像

Khổ lạc vi dĩ giải

苦 樂 為 以 解

Nơi không có cái mất đi cũng không có cái còn sinh ra

Nơi ấy là Niết bàn.

Như thế thì vấn đề có đối tượng tri giác hay không có đối tượng tri giác

Và vấn đề bản chất của cái khổ và cái vui, mình đã hiểu thấu.

Bất một bất phục sinh: Bất một, là không biến mất, không từ có trở thành không, tại vì có và không cũng chỉ là những ý niệm; chúng ta vượt thoát có và không. Bất phục sinh, là không hẳn mình phải sinh trở lại, tại vì không sinh cũng không diệt.

Thị tế vi Niết bàn: Tế là cõi. Cõi không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, đó là Niết bàn. This domain is Nirvāna. Niết bàn đang có mặt cho ta, tùy ta có muốn hay không muốn thôi; cũng như trời mây lúc nào cũng có đó cho chim muông và đồng quê lúc nào cũng có đó cho huơu nai, tùy chúng muốn chọn hay không mà thôi.

Như thị tượng vô tượng;

Khổ lạc vi dĩ giải

Như thế thì có đối tượng của tri giác hay không có đối tượng của tri giác (Như thị tượng vô tượng), đối tượng của tri giác có thể là mặt trời, mặt trăng hay con người, thì bản chất của cái vui và cái khổ, ta đã hiểu thấu (Khổ lạc vi dĩ giải). Chữ 以 này có thể bị chép sai, đúng ra là chữ 已, có nghĩa là đã.

Khổ và vui thường được căn cứ trên các ý niệm của ta, như ý niệm có và không, sinh và diệt. Khi những ý niệm có đối tượng hay không có đối tượng không còn nữa, thì không gian của Niết bàn hiển hiện. Lúc đó, ta hiểu thấu được bản chất của khổ và vui, ta không còn bị cuốn hút, bị hạn chế, bị trói buộc bởi khổ và vui.

Khóa tu mùa Đông sắp tới, chúng ta sẽ tiếp tục học hết Phẩm Nê Hoàn và học một số các kinh khác, có thể chúng ta sẽ được học bản dịch mới của “Ba mươi bài tụng Duy Biểu”, có thể ta sẽ được học 44 bài kệ về chân lý tuyệt đối trong Du-Già Sư Địa Luận, có thể chúng ta sẽ tiếp tục học những kinh rất hay trong Pháp Cú Kinh chữ Hán.

Chúng ta may mắn được ở chung với nhau ba tháng, được ngồi thiền chung, đi thiền chung, học kinh chung, pháp đàm chung rất hạnh phúc. Xin đại chúng chuẩn bị ngày mai làm lễ Đối thú an cư, xác định nghiêm mật giới trường, đừng ra khỏi giới trường trong ba tháng an cư, ngoại trừ trường hợp tăng thân sai mình đi làm công việc. Đây là cơ hội rất tốt và rất hiếm, ở đời không biết có bao nhiêu người mong ước có được cơ hội tham dự khóa tu ba tháng. Ngay cả nhiều thầy, nhiều sư cô bên Mỹ, hay ở Âu châu cũng ít có cơ hội được an cư. Chúng ta có cơ hội này, chúng ta phải dâng lên niềm cảm tạ của ta đối với đức Thế Tôn và các vị tổ sư. Nếu đức Thế Tôn không chế ra truyền thống An cư thì có thể thầy và nhiều vị giáo thọ cũng phải đi dạy chỗ này chỗ khác. Nhờ có khóa An cư mà thầy trò được ở lại luôn ba tháng với nhau và thầy rất hạnh phúc. Hạnh phúc có đó, Niết bàn có đó. Niết bàn là sự vắng mặt của các ngọn lửa đốt cháy. Chúng ta học cách dập lửa, học từ các sư anh, sư chị của mình. Nếu có tri giác sai lầm nào làm mình đau khổ như nỗi buồn, sự cô đơn, tủi thân, thì ta phải nhờ sư anh, sư chị giúp ta tháo bỏ tri giác sai lầm đó; tháo bỏ được thì tự nhiên ta sẽ có Niết bàn. Niết bàn là công chuyện hàng ngày của mình. Nirvāna is our daily business.

Bài kệ 20

Diệc vô nhật nguyệt tưởng

亦 無 日 月 想

Vô vãng vô sở huyền

無 往 無 所 懸

Ngã dĩ vô vãng phản

我 已 無 往 反

Bất khứ nhi bất lai

不 去 而 不 來

Cũng không có ý niệm về mặt trời và mặt trăng đang có mặt

Không đi cũng không ở lại

Không có một cái ngã để đi và để về

Thì không có cái đi và cái về.

Diệc vô nhật nguyệt tưởng: Không có tri giác về mặt trời, mặt trăng nữa. Bụt đang nói đến các nhà thiên văn học. Chúng ta tưởng tượng có những thiên hà (galaxy), những thế giới, những ngôi sao cách xa mình hàng ngàn, hàng triệu năm ánh sáng và ta nghĩ tất cả đều nằm trong không gian ngoài tâm thức ta. Khi đạt tới cái thấy bất nhị, Niết bàn, thì ta không còn kẹt vào tri giác về mặt trăng, mặt trời nữa.

Vô vãng vô sở huyền: Không cần đi cũng không ở lại.

Ngã dĩ vô vãng phản: Khi cái ngã đã không có (ngã dĩ vô) thì làm gì còn chuyện đi hay chuyện về (vô vãng phản). Vãng là đi, phản là trở về.

Bất khứ nhi bất lai: Không có khứ cũng không có lai. Người ta đặt cho đức Thế Tôn là Như Lai, có nghĩa là không từ đâu tới và cũng không cần đi về đâu (Tùng vô sở lai, diệc vô sở khứ, thị cố danh Như Lai). Không phải chỉ có đức Thế Tôn mà chúng ta cũng vậy, bản chất của chúng ta là không tới cũng không đi.

Bài kệ 19

Vô hữu hư không nhập

無 有 虛 空 入

Vô chư nhập dụng nhập

無 諸 入 用 入

Vô tưởng bất tưởng nhập

無 想 不 想 入

Vô kim thế hậu thế

無 今 世 後 世

Không đi vào cõi hư không

Không có cái nơi đi vào để đi vào

Không đi vào cõi tưởng hay cõi vô tưởng

Không đi vào đời này hay đời sau.

Vô hữu hư không nhập: Trong thiền định, có thể ta đi vào cõi hư không vô biên (infinity of space), tức không vô biên xứ. Không vô biên xứ là một trạng thái thiền định. Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ là bốn đối tượng của vô sắc định. Cõi vô tưởng (phi tưởng xứ) là cõi không còn tri giác.

Vô hữu hư không nhập: Không có cái cõi gọi là không vô biên xứ để mình đi vào, tại vì không có người để đi vào cõi đó.

Vô chư nhập dụng nhập: Không có những nơi đi vào để ta đi vào. Đi vào, hàm chứa chủ thể đi vào và đối tượng đi vào và khi thấy còn một chủ thể đi vào và một đối tượng đi vào hiện hữu độc lập với nhau, thì chưa thấy được sự thật. Biết được mình là ai rồi, ta vượt thoát được ý niệm về chủ thể và đối tượng riêng biệt. Không có người đi vào thì không còn lo lắng về chỗ mình sắp đi vào.

Vô tưởng bất tưởng nhập: Không đi vào cõi tưởng (cõi có tri giác) hay cõi phi tưởng (cõi không có tri giác).

Vô kim thế hậu thế: Không còn có đời này và đời sau, không còn sự phân biệt giữa hiện tại và tương lai, tức là đã vượt thoát thời gian.

Niết bàn là sự tự do, không bị hạn chế bởi thời gian và không gian. Vì vậy có Big Bang hay không có Big Bang, không phải là chuyện quan trọng. Không có bắt đầu, không có chung cục, không có nơi này, không có nơi kia, không có sự co lại hay phình ra. Hiện nay, có lý thuyết cho rằng vũ trụ đang giãn ra do Big Bang, rồi tới một lúc nào đó vũ trụ sẽ co lại.

Đối với Niết bàn, không có tương lai, không có quá khứ, không có thời gian, không có sự co lại, không có sự giãn ra. Kinh Niết Bàn không phải là kinh nói về chuyện siêu hình, kinh Niết Bàn rất thực tế, liên hệ tới sự sống hàng ngày. Chúng ta phải học kinh Niết Bàn như vậy, vì Phật học của chúng ta là Phật học ứng dụng. Ý nghĩa đầu tiên của chữ Niết bàn là sự mát lạnh. Định nghĩa thứ nhất của Niết bàn là sự vắng mặt của nóng bức, vì đam mê, sợ hãi, hận thù có khả năng đốt cháy; mà khi có sự đốt cháy thì không có Niết bàn. Niết bàn là chấm dứt sự đốt cháy (extinction).

Trong tâm học Phật giáo có tâm hành tham (đam mê), tâm hành sân (hận thù). Khi đam mê và hận thù bừng cháy lên thì có sức nóng đốt cháy và không có Niết bàn. Nhưng trong tâm học đạo Phật cũng có tâm hành vô tham, vô sân. Có những giây phút mà ta không bị ngọn lửa của đam mê, hận thù đốt cháy. Niết bàn có mặt khi những tâm hành vô tham, vô sân biểu hiện. Niết bàn không phải là cái gì quá xa vời mà ta tưởng tượng ra trong thế giới siêu hình. Niết bàn không phải là đối tượng của siêu hình học. Niết bàn là đối tượng của sự thực tập hàng ngày: Khi có tham, có sân là không có Niết bàn; khi có vô tham, vô sân là có Niết bàn. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có những giây phút có Niết bàn và những giây phút không có Niết bàn, tùy theo ý chúng ta chọn, cũng như con chim muốn chui vào trong lồng hay muốn trở về trời mây, cũng như con nai chọn vào ở trong sở thú hay chọn trở về đồng quê. Ta chọn đi về không gian của tự do, tươi mát hay không là tùy ta.

Định nghĩa đầu tiên của chữ Niết bàn là chấm dứt sự đốt cháy, là làm nguội xuống. Chúng ta có một vị Bồ tát tên là Thanh Lương Địa (the Bodhisattva of earth cooling). Chúng ta rất cần vị Bồ tát này, chúng ta phải gọi Ngài về lập tức tại vì chúng ta đang ở trong giai đoạn hâm nóng toàn cầu (global warming). Thanh lương là không có sự đốt cháy. Làm thế nào để Bồ tát Thanh Lương Địa có mặt trong từng giây phút của đời sống hàng ngày, tức là ta có Niết bàn. Niết bàn không phải là cái gì quá xa vời phải tu 10, 20 năm mới có.

Niết bàn, trước hết là sự vắng mặt của những ngọn lửa đang đốt cháy, ngọn lửa của tham, sân, nghi ngờ. Định nghĩa thứ hai của Niết bàn là sự vắng mặt của tri giác sai lầm, của cái nhìn nhị nguyên. Thấy có cái tâm hiện hữu ngoài vật, có cái trong đối lập với cái ngoài, có cái ta và có cái người, có chủ thể tồn tại độc lập ngoài đối tượng, là cái thấy nhị nguyên, cái thấy đó gây ra đau khổ và những nhận thức sai lầm. Niết bàn là sự vắng mặt của phiền não chướng và sở tri chướng. Phiền não chướng (kleśa- āvaraṇa) là tham, sân, si, mạn, nghi. Sở tri chướng (jñeya- avāraņa) là những cái kẹt về nhận thức. Đó là những nhận thức sai lạc: thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Đạt tới vô ngã là đạt tới Niết bàn.

Khi vượt khỏi cái nhìn nhị nguyên “có hiện tại và tương lai”, vượt thoát được thời gian, thì không còn kỳ thị, phân biệt. Lúc đó, những câu hỏi về nguyên ủy của vũ trụ như vũ trụ do ai sáng tạo ra, khi vũ trụ tiêu diệt thì sẽ có gì, hoặc những ý niệm về các cặp đối lập như có-không, còn-mất, tới-đi không còn nữa và Niết bàn có mặt. Ta không còn lo lắng (vô ưu) nữa và sự rong chơi được thỏa mãn một trăm phần trăm.

Bài kệ 18

Chư khổ pháp dĩ tận

諸 苦 法 已 盡

Hành diệt trạm nhiên an

行 滅 湛 然 安

Tỳ-kheo ngô dĩ tri

比 丘 吾 已 知

Vô phục chư nhập địa

無 復 諸 入 地

Nếu khổ đau đã hết và các hành đã lắng dịu

Thì hạnh phúc sẽ có mặt một cách lặng lẽ, và sẽ có bình an

Này các vị Tỳ-kheo, tôi đã thực chứng điều này

Cho nên tôi không cần phải đi tìm vào một cõi nào nữa.

Chư khổ pháp dĩ tận: Chư khổ pháp là những hiện tượng đem tới khổ đau như vô minh, buồn giận, đam mê, lo lắng, u sầu, sợ hãi. Dĩ tận là đã hết. Khi những pháp khổ đau đã hết.

Hành diệt trạm nhiên an: Tất cả các hành trở thành vắng lặng. Chữ diệt phải được hiểu là vắng lặng, lắng dịu, không còn xôn xao. Chữ diệt ở đây không có nghĩa diệt và sinh, có hay không có. Chữ diệt trong Niết bàn, có nghĩa là vắng lặng, là lắng dịu, là mát mẻ và an ổn. Hành là tất cả những hiện tượng như sông núi, mặt trăng, mặt trời, con người, chim muông, cây cỏ, đất đá, thân thể của chúng ta… Hành là saṃskāra, tiếng Anh là formations. Bông hoa là một hành, được tập hợp bởi những yếu tố như đất, nước, lửa, gió, sức nóng và người làm vườn. Cái bàn cũng là một hành, trái núi là một hành, ngôi sao kia là một hành. Đó là những hành vật lý (physical formations). Hình hài của chúng ta cũng là một hành, gọi là hành sinh lý (physiological formation). Cái giận, cái buồn, cái vui của chúng ta cũng là những hành, gọi là hành tâm lý (mental formations). Tất cả hành có thể có tác dụng gây đau khổ nếu ta bị dính vào chúng, nếu ta có cái thấy sai lạc về chúng.

Chúng ta không biết được bản chất của các hành, chúng là vô thường mà ta tưởng là thường, là vô ngã mà ta tưởng là ngã. Chính cái thấy sai lạc đó đưa tới đau khổ, chứ không phải các hành làm cho ta đau khổ. Hình hài của chúng ta làm cho ta đau khổ, tại vì ta có một quan niệm sai lầm về hình hài của mình. Đối tượng đam mê mà ta chạy theo kia không làm cho ta đau khổ, mà chính tại vì ta có một cái nhìn sai lạc về nó nên ta bị dính vào nó. Ta có vọng tưởng về đối tượng đam mê, nên ta có dục tưởng. Dục là sự đam mê, và chính vì có dục tưởng cho nên ta khổ, chứ không phải đối tượng đam mê làm cho ta khổ. Danh lợi không làm cho ta khổ, nhưng cái thấy của ta về danh lợi làm cho ta khổ.

Cái ví dụ về con chó bị anh chàng liệng cục đá lại chạy theo sủa cục đá rất hay. Cục đá, thật ra, đâu có tội tình gì, nguyên do làm cho con chó đau khổ là anh chàng liệng cục đá. Con chó vô minh tưởng cục đá là kẻ thù của nó. Khi đau khổ, chúng ta nghĩ rằng thế giới này hay hình hài, năm uẩn này làm cho mình đau khổ. Thật ra, chỉ vì ta có nhận thức sai lầm về thế giới, về năm uẩn, nên ta mới đau khổ.

Hành diệt, có nghĩa là những cái thấy sai lầm của chúng ta về hành không còn nữa và các hành, tuy là còn đó, nhưng không còn làm cho mình đau khổ nữa. Những cái thấy thì ta vẫn còn thấy, những cái nghe thì ta vẫn còn nghe, những cái suy nghĩ thì ta vẫn còn suy nghĩ; nhưng cái thấy, cái nghe, cái suy nghĩ của ta không còn sai lạc nữa và ta không còn đau khổ nữa. Trạm nhiên, có nghĩa là rất yên tĩnh. Khi tri giác sai lầm không còn, thì có sự vắng lặng, có sự thanh tịnh, an bình. Sự an bình đó là Niết bàn. Nếu khổ đau đã hết và các hành đã lắng dịu thì hạnh phúc sẽ có mặt một cách lặng lẽ và sẽ có bình an.

Tỳ kheo ngô dĩ tri: Ngô là cái ngã. Dĩ tri là đã biết. Ngày xưa, có khi người ta dịch “vô ngã” là vô ngô.

Ta chưa biết ta là ai! Trong Thiền tông thường có câu hỏi: “Anh là ai?” (Who are you?) Đó là một công án. Một công án khác cũng rất phổ thông, nổi tiếng ở Trung Quốc là câu hỏi: “Niệm Phật thị thùy?” (Who is the one that invokes the Buddha’s name?). Niệm Phật thị thùy có nghĩa là: Ai là người đang niệm Phật? Công án này là một câu hỏi: Anh là người đang niệm Phật, nhưng anh là ai? Người đang niệm Phật đó là ai? Anh đã biết anh là ai chưa? Ta tu để nhìn sâu và để biết ta là ai. Nhưng trong công án này có một lỗ hổng và nhiều người không thành đạt được công án này, tại vì họ không biết lấp lỗ hổng đó. Lỗ hổng nằm ở chỗ ta hỏi người niệm Phật là ai như thể ta đã biết Phật là ai rồi. Có Phật và có người niệm Phật. Thật ra, chúng ta cũng chưa biết Phật là ai? “Who is the Buddha whose name you invoke?” Tôi đề nghị công án thứ hai: “Phật thị thùy?”(Who is the Buddha?) Trong công án “Niệm Phật thị thùy?” ta muốn biết người niệm Phật là ai và ta tưởng ta đã biết Phật là ai rồi.

Khi ta biết ta là ai, thì ta cũng biết Bụt là ai và khi ta biết Bụt là ai, thì ta cũng biết ta là ai. Hai câu hỏi “Niệm Phật thị thùy?” và “Phật thị thùy?” là một. Chúng ta đã học một bài kệ rất hay:

Bụt đang thở, Bụt đang đi

Mình đang thở, mình đang đi

Ngoài chuyện thở và chuyện đi, có một người thở và đi. Ta nghĩ phải có một chủ thể, thì hành động mới xảy ra được. Nhưng trong tuệ giác vô ngã, thì có hành mà không cần phải có hành giả, có tác mà không cần có tác giả. Khi nói “gió thổi”, ta nghĩ có “gió” và có “một người thổi”, nhưng sự thật là chỉ có gió (wind) mà không có người thổi (blower). Nếu không có thổi (blowing), thì không có gió (wind). Gió mà không thổi, thì không phải là gió; hễ có gió là có thổi. Chúng ta chỉ cần gió mà không cần một người đứng ngoài để thổi, cũng như niệm Phật là niệm Phật, mà không cần có người niệm Phật. Chỉ có chuyện niệm Phật đang xảy ra, vì niệm là một tâm hành. Trong tâm hành niệm có năng niệm và sở niệm, niệm luôn là niệm cái gì, ví dụ như niệm hơi thở, niệm bước chân hay niệm Bụt. Có chủ thể niệm và đối tượng niệm, nhưng cả chủ thể và đối tượng đều nằm trong niệm, vì không thể nào có chủ thể mà không có đối tượng. Bụt có dạy, nơi nào có chủ thể thì nơi đó có đối tượng và nơi nào có đối tượng thì nơi đó có chủ thể. Chủ thể và đối tượng đi đôi với nhau. Không thể có chủ thể niệm đứng riêng, rồi ta đem chủ thể đó đến đối tượng niệm như là ta đem cây thước tới đo cái bàn rồi đo cái ghế. Tâm của ta gồm cả chủ thể và đối tượng, nếu cho tâm chỉ là chủ thể thì đó là một sự sai lạc căn bản mà chính khoa học bây giờ cũng chưa thoát ra khỏi. Khoa học nghĩ rằng, có một cái tâm bên trong và cái tâm đó vươn ra để nắm bắt thế giới bên ngoài. Khoa học kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên, cho tâm và vật là hai cái riêng biệt. Chỉ một số rất ít nhà khoa học đang tìm cách vượt khỏi chướng ngại đó, còn phần lớn vẫn còn kẹt vào trong cái thấy lưỡng nguyên, tức cho rằng tâm tồn tại độc lập ngoài vật.

Người niệm Phật là ai, có nghĩa là người niệm là một thực tại riêng biệt và Phật được niệm là một thực tại riêng biệt. Thấy mình và Phật là hai thực tại riêng biệt là một cái thấy sai lầm. Niệm là một tâm hành, hễ là tâm hành thì phải có đối tượng và chủ thể. Khi niệm Phật xảy ra, thì năng niệm và sở niệm đều có mặt trong niệm; chúng ta không cần có một người đứng ngoài để làm chuyện niệm, cũng như có gió mà không cần một người đứng ngoài để thổi. Đây là phương diện của tâm học sâu sắc.

Bài tập của chúng ta rất hay, ban đầu ta tưởng Bụt và mình là hai thực thể:

Bụt đang thở, Bụt đang đi

Con đang thở, con đang đi

Nhưng sau đó, ta tìm ra được:

Bụt là thở, Bụt là đi

Con là thở, con là đi

Ngoài cái thở và đi không có Bụt, không có con. Con và Bụt nằm ngay trong cái thở, cái đi. Khi Bụt thở thì hơi thở rất có phẩm chất; vì hơi thở có phẩm chất, nên chúng ta thấy có Bụt trong hơi thở.

Tỳ kheo ngô dĩ tri: Này các vị Tỳ kheo, tôi đã biết rồi. Tôi đã thực chứng điều này rồi.

Vô phục chư nhập địa: Tôi đã biết mình là ai rồi, thì không cần có một cõi để đi vào, dù cõi ấy là Niết bàn.

Ta nghĩ khi chết rồi, ta sẽ đi vào một cõi nào đó,ta sẽ xuống địa ngục hay lên thiên đường, ta lên cõi trời này, cõi trời kia hay vào Tịnh độ. Đó là cái thấy nhị nguyên: có một người và người đó sẽ đi vào cõi này hay cõi kia. Nhưng khi hiểu được vô ngã, không còn đi, không còn tới thì ta không còn lo lắng ta sẽ đi về đâu nữa, tại vì sẽ không có chuyện đi, chuyện tới.

Trong bài kệ này, Niết bàn được diễn tả rất cụ thể và sâu sắc. Nếu ta đã biết mình là ai rồi, thì ta không còn phải lo lắng sau này mình sẽ đi vào cõi nào: Tịnh độ, Thiên đường hay Cực lạc thế giới.

Bài kệ 17

Tùng thực nhân duyên hữu

從 食 因 緣 有

Tùng thực trí ưu lạc

從 食 致 憂 樂

Nhi thử yếu diệt giả

而 此 要 滅 者

Vô phục niệm hành tích

無 復 念 行 迹

Cái gì cũng do thức ăn mà tồn tại

Ngay cả cái buồn, cái vui cũng phải cần thức ăn mới có

Nếu cái chất liệu thiết yếu ấy không còn

Thì không còn dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện.

Tùng thực nhân duyên hữu: Do nhân duyên thực phẩm mà có hữu, có vô. Hữu (abhāva) và vô (abhāva) có nguyên do của nó, đó là bốn loại thực phẩm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Từ những nguồn thực phẩm khác nhau mà có sự lo lắng hay hạnh phúc. Thực phẩm nuôi hữu vô là vô minh cho nên mới thấy hành là những thực tại riêng biệt có ngã có pháp.

Tùng thực trí ưu lạc: Ngay cả cái buồn, cái vui cũng do thức ăn mà sinh ra.

Nhi thử yếu diệt giả: Nếu chất liệu ấy khôngcòn, nếu cắt đứt nguồn thực phẩm đó thì,

Vô phục niệm hành tích: Không có dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện được. Tích là dấu vết. Vọng niệm về các hành, thấy các hành là ngã là pháp thì ta bị ràng buộc. Nếu thấy được bản chất các hành là duyên sinh, vô ngã, tương tức, thì ta có giải thoát, thấy được Niết bàn.

Khi bị trầm cảm, ta biết không phải tự nhiên mà ta bị trầm cảm, mà là do ta đã sử dụng, đã nuôi mình bằng loại thực phẩm đưa tới sự trầm cảm. Khi ta quán chiếu, tìm ra được nguyên do của sự trầm cảm chính là nguồn thực phẩm không lành mạnh đó và quyết tâm chấm dứt không sử dụng loại thực phẩm đó nữa, thì trầm cảm sẽ tan biến, không còn lưu lại dấu vết nào cả.

Kinh này, tuy có đề tài là Niết bàn, nhưng thật sự không đi vào tư duy siêu hình. Kinh có giáo lý rất thực tiễn để chúng ta có thể chứng nghiệm được.

Bài kệ 16

Tắc sinh hữu đắc yếu

則 生 有 得 要

Tùng sinh hữu dĩ khởi

從 生 有 已 起

Tác hành trí tử sinh

作 行 致 死 生

Vi khai vi pháp quả

為 開 為 法 果

Vì hữu nên mới phải có sinh

Và vì sinh cho nên hữu lại tiếp tục

Có tác, có hành, thì có tử, có sinh

Đó là cánh cửa sinh tử mở ra, để đưa đến sự phát khởi của các pháp.

Tắc sinh hữu đắc yếu: Đắc yếu là đạt tới chỗ thiết yếu. Vì có sinh nên hữu mới có chân đứng. Có quan niệm về sinh diệt cho nên mới có quan niệm về hữu vô.

Tùng sinh hữu dĩ khởi: Có ý niệm về sinh (diệt) nên ý niệm về hữu (vô) mới khởi ra.

Tác hành trí tử sinh: Những ý niệm về công việc (tác) và những ý niệm về hình thành (hành) cũng đem tới ý niệm sinh tử (saṃsāra). Tác là động tác và hành là sự hình thành của các pháp hữu vi.

Vi khai vi pháp quả: Và mở cửa ra cho tất cả các pháp.

Vì ý niệm hữu vô nên phải có ý niệm sinh diệt, và vì có ý niệm sinh diệt nên ý niệm hữu vô mới được khởi ra. Các pháp biểu hiện ra từ tâm ý phân biệt và vì phân biệt có ngã, có pháp, có tác, có hành cho nên có đau khổ, nên gọi là pháp quả.

Bài kệ 15

Sinh hữu tác hành giả

生 有 作 行 者

Thị vi bất đắc yếu

是 為 不 得 要

Nhược dĩ giải bất sinh

若 已 解 不 生

Bất hữu bất tác hành

不 有 不 作 行

Thấy có sinh, có hữu, có tác, có hành

Là chưa đạt tới chỗ thiết yếu

Nếu hiểu được thế nào là bất sinh (bất diệt)

Thì không thấy còn hữu (và vô) và cũng không còn thấy có tạo tác và hình thành.

Sinh hữu tác hành giả

Thị vi bất đắc yếu

Còn thấy có sinh, có hữu, có người làm, có người thực tập thì chưa đạt tới chỗ thiết yếu, tức là chưa đạt tới cái thấy sâu sắc nhất.

Nhược dĩ giải bất sinh

Bất hữu bất tác hành

Khi hiểu được không có sinh (và không có tử) thì sẽ thấy không còn hữu (và không còn vô), không còn tác và không còn hành. Tác là hành động, là tạo tác. Hành là các hiện tượng tâm lý và vật lý mà mình cho là có bản chất tồn tại thực sự, có mặt một cách độc lập, cái này nằm ngoài cái kia. Đó là những hình ảnh sáng tạo của tâm thức, không phải là bản chất thực sự của các hành. Bản chất thực sự của các hành là duyên khởi, là tương tức, là y tha khởi, là viên thành thật.

Bài kệ 14

Phù duy vô niệm giả

夫 唯 無 念 者

Vi năng đắc tự trí

為 能 得 自 致

Vô sinh vô phục hữu

無 生 無 復 有

Vô tác vô hành xứ

無 作 無 行 處

Chỉ khi đạt được vô niệm

Mới có thể tới được Niết bàn

Nếu đã là vô sinh diệt thì không còn hữu vô nữa

Lúc ấy không còn thấy sự tạo tác, cũng không còn thấy sự hình thành

Phù duy vô niệm giả: Chỉ có những người đạt được vô niệm. Vô niệm là không còn ý niệm (conceptualization), như ý niệm về sinh, diệt, có, không, cái này, cái kia. Vô niệm là một giáo lý rất cao siêu, muốn đạt tới chỗ thấy và hiểu được thực tế, thì phải buông bỏ tất cả mọi ý niệm sinh-diệt, có-không, còn-mất. Duy là chỉ có, giả là người.

Vi năng đắc tự trí: Mới có thể có khả năng đạt tới chỗ đó. Tự là tự mình.

Chỉ có những người đạt được vô niệm mới có khả năng tự mình đạt tới chỗ đó. Chỗ đó là Niết bàn.

Vô sinh vô phục hữu: Nếu không còn sinh thì không còn hữu. Sinh là birth, là arising. Chúng ta có thể hiểu chữ sinh là được sinh ra, tiếng Phạn là jāti. Vô sinh là unborn, non-being. Chữ sinh đại diện cho nhiều khái niệm khác, tại vì sinh đi đôi với diệt, vô sinh đi đôi với vô diệt. Hữu là existence, tiếng Phạn là abhāva. Vô hữu là abhava. Không sinh, không diệt, không có, không không, không tới (vô lai), không đi (vô khứ), không một (vô nhất), không khác (vô dị), đó là những ý niệm chúng ta phải vượt thắng, vượt thắng được thì gọi là vô niệm. Chữ vô sinh đại diện cho tất cả những cái vô. Nó là Niết bàn, tại vì Niết bàn là thể tánh không sinh, không diệt, không tới, không đi, không có, không không, không còn, không mất. Đạt tới vô sinh là đạt tới Niết bàn, không còn sinh diệt, khứ lai, nhất dị. Hữu không còn thì vô cũng không còn, tại vì hữu-vô là một cặp đối nghịch. Có người sợ chết vì họ sợ trở thành hư vô, nhưng có người lại sợ sống, sợ phải sống hết đời này sang đời khác. Nhiều người trong chúng ta ước có thuốc trường sinh để được sống hoài không chết. Trong lịch sử văn học Tây phương và Đông phương, đều có nói tới những người đi tìm thuốc trường sinh. Nhưng có người trong chúng ta lại rất sợ sống hoài. Nếu bị một quan tòa lên án: “Anh phải sống hoài, không bao giờ được chết” thì chúng ta có bằng lòng không? Có người thèm hữu (abhāva), nhưng có người thèm vô (abhāva), như những người tự tử chẳng hạn. Nhưng abhāva hay abhāva đều là những ý niệm. Niết bàn vượt thoát being và non-being, nếu tiếp xúc được Niết bàn thì thoát khỏi hữu và vô.

Vô tác vô hành xứ: Không có chỗ để tác và hành. Tác là tạo tác (action), hành là hình thành.

Làng Mai có một bài kệ được sử dụng khi thực tập thiền thở, thiền đi, thiền ngồi rất hay. Bài kệ bắt đầu bằng nhận thức lưỡng nguyên:

Để Bụt thở, để Bụt đi

Mình khỏi thở, mình khỏi đi

Tại vì trong ta có tính làm biếng, thấy thực tập hơi khó nên ta để Bụt làm. Là học trò, là con của Bụt, đã từng nghe giáo lý và đã từng thực tập nên ta hiểu có Bụt trong mỗi tế bào của ta. Bụt ở trong ta chứ không phải ở ngoài ta. Ta làm biếng nên ta để Bụt thở, để Bụt đi, ta khỏi thở, ta khỏi đi. Bụt rất siêng năng nên khi được mời thì Bụt thở, Bụt đi ngay, nhờ đó ta có cơ hội được thở, được đi.

Tôi đã thực tập theo bài này bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn thấy hay.

Để Bụt thở, để Bụt ngồi

Mình khỏi thở, mình khỏi ngồi.

Để Bụt thở, để Bụt rong chơi

Mình khỏi thở, mình khỏi rong chơi.

Để Bụt thở, để Bụt nghỉ ngơi

Mình khỏi thở, mình khỏi nghỉ ngơi.

Có thì giờ nghỉ mà chúng ta không chịu nghỉ, nhiều khi đã lên giường rồi mà vẫn còn tranh đấu. Vì vậy, khi Bụt thở, Bụt nghỉ ngơi, thì ta được thở, được nghỉ ngơi.

Bụt đang thở, Bụt đang rong chơi

Mình được thở, mình được rong chơi

Đó là bài kệ hay nhất, dễ nhất và hạnh phúc nhất để thực tập.

Bụt đang thở, Bụt đang ngồi

Mình được thở, mình được ngồi

Bụt đang thở, Bụt đang nghỉ ngơi

Mình được thở, mình được nghỉ ngơi

Bài kệ này tôi thực tập luôn luôn thành công, không lần nào mà không thành công.

Bụt là hơi thở, Bụt là rong chơi

Mình là hơi thở, mình là rong chơi

Chúng ta bắt đầu đi sang tuệ giác vô ngã. Ban đầu, chúng ta tưởng Bụt là một thực tại riêng và thở là một thực tại riêng, có một người tên là Bụt và có một động tác tên là thở, có một người tên là mình và có một người đang thực tập. Nhưng bây giờ, ta thấy rõ khi Bụt thở, thì hơi thở này rất có phẩm chất, hơi thở rất có chánh niệm, rất thoải mái. Chúng ta thấy được Bụt trong hơi thở đó chứ không cần phải tìm Bụt ở ngoài. Không có chủ thể thở, chỉ có động tác thở (there is only the breathing, there is no breather). Khi chúng ta để Bụt thở, thì Bụt thở rất hay, rất có phẩm chất và chính trong phẩm chất của hơi thở mà chúng ta nhận diện ra Bụt, ngoài hơi thở không có Bụt. Nói có một người thở và có một hơi thở là không đúng. Bụt là ai? Bụt là đi, Bụt là thở, Bụt là ngồi. Chúng ta phải nhận ra Bụt nơi hơi thở, nơi dáng ngồi đó tại vì nếu là một người khác thì sẽ không thở, không ngồi được như vậy. Ngoài hơi thở và dáng ngồi, không có một chủ thể Bụt riêng. Có động tác thở, rong chơi hay nghỉ ngơi; nhưng không cần phải có một chủ thể để thở, để rong chơi hay nghỉ ngơi.

Chúng ta nói: Mưa rơi! Gió thổi! Mưa thì phải rơi, mưa mà không rơi thì không thể gọi là mưa, gió mà không thổi thì không thể gọi là gió. Có mưa mà không cần có chủ thể mưa. Khi xem tuồng múa rối, chúng ta thấy các con rối cử động; nhưng phía sau đó có bàn tay của người nghệ sĩ tác động vào. Còn ở đây, không có người ở phía sau, không có chủ thể đứng ở ngoài để thổi, gió chính là thổi và cũng không có một người đứng ở trên để thả mưa xuống, mưa chính là rơi.

Bụt là thở, Bụt là đi

Mình là thở, mình là đi

Trong khi thực tập, ta tiếp xúc được với sự thật là chỉ có thở, chỉ có đi và phẩm chất của hơi thở, của bước chân rất cao. Ta sẽ không tìm được Bụt ngoài hơi thở và bước chân đó. Lúc bắt đầu, ta và Bụt là hai thực thể khác nhau, nhưng khi tới câu kệ này, thì ta và Bụt trở thành một, chỉ có động tác mà không có người làm động tác. Đó gọi là vô tác.

Chỉ có hơi thở, chỉ có rong chơi

Không ai đang thở, không ai rong chơi

Chúng ta không cần có một chủ thể đứng ở ngoài, đó là vô ngã. Vô ngã tức là Niết bàn, đạt được vô ngã là đạt được Niết bàn. Bài tập này tuy đơn sơ, nhưng đem lại rất nhiều hạnh phúc và giúp ta tiếp xúc được với vô sinh.

Trong khóa tu dành cho xuất sĩ tại Pak Chong, Thái Lan, có một số các thầy Nam tông tới tham dự. Các thầy không tu theo Tịnh độ như các Phật tử Việt Nam. Nếu ta nói: “Mỗi bước chân đi vào Tịnh độ” thì các thầy sẽ không hiểu, nên chúng ta đã đổi lại là: “Mỗi bước chân đi vào vô sinh”. Vô sinh là Niết bàn.

Sự đi đang diễn ra nhưng không có người đi, người đi không tách ra được khỏi sự đi. Ngoài chuyện thở và chuyện đi, không có người thở và người đi. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương “không có ngã, chỉ có pháp”, tức không có người thở nhưng có cái thở, không có người đi nhưng có cái đi, không có người ngồi nhưng có cái ngồi, không có người rong chơi nhưng có cái rong chơi. Đó gọi là Ngã không pháp hữu.

Khi đạt tới cái thấy đó, thì không có tác, không có hành, không có hữu cũng không có vô.

Chỉ có thở nhẹ, chỉ có rong chơi

Không ai thở nhẹ, không ai rong chơi

Chúng ta không cần có một chủ thể đứng ngoài, có tác nghiệp mà không cần tác giả. Có cái thở, cái đi đang xảy ra, nhưng không có một cái ta núp đằng sau để điều khiển cái thở và cái đi. Có sự suy nghĩ, tư duy đang xảy ra, nhưng không có người suy nghĩ núp phía sau.

An khi thở nhẹ, lạc trong rong chơi

An là thở nhẹ, lạc là rong chơi

An và lạc là những cái có thật. Có thể có an, có lạc, có thở nhẹ và rong chơi mà không cần phải có một chủ thể núp phía sau như những bàn tay điều khiển con rối. Bài kệ này đơn sơ nhưng rất sâu sắc.

Đạt tới vô sinh thì không còn có hữu, nghĩa là không còn có vô, không có tác giả, tác nghiệp và cũng không có hành động và tạo tác.