Nhìn đời trong chiếc gương soi

(Trích từ sách Áo vách núi của sư cô Chân Đẳng Nghiêm)

Có lần con đi theo tăng thân Bích Nham đến chùa Hoa Nghiêm để hướng dẫn khoá tu. Ngày đầu tiên, quý thầy và quý sư cô đã đi thăm Washington D.C nhưng con không đi được. Hôm đó, con bị đau nhức trong người nên phải nằm dài trên cái túi ngủ.

Hết giờ này qua giờ khác, con chỉ nhìn vào đôi mắt của mình trong một chiếc gương soi nhỏ. Tất cả những kỉ niệm khi con còn ba, bốn tuổi đã lần lượt trở về và con đã thấy rõ được từng kỉ niệm một. “Ồ, đây là biến cố mình đã đi qua với sự tuyệt vọng, sợ hãi và lo âu”. Con nhận thấy con người chúng ta, dù khi còn là một đứa trẻ đã có những cảm xúc mạnh rất sớm. Dù không gọi tên được những cảm xúc ấy nhưng đứa trẻ vẫn cảm nhận được với tất cả con người của nó.

Con nằm với chiếc gương như vậy sáu tiếng đồng hồ và nhìn vào cả chuỗi dài cuộc đời với những kỉ niệm lần lượt trôi vào kí ức. Con chỉ buông thư, mỉm cười và nhận diện chúng một cách đơn thuần. Con thú thật, trước khi đi tu, nếu con gợi lên một kỉ niệm của thời thơ ấu thì nó có thể làm con tê liệt cả một tuần. Nhưng khi con nhìn vào cuộc đời mình với hơi thở chánh niệm và toàn thân buông thư như vậy, con đã hiểu trọn vẹn hơn về đời mình, hiểu hơn về những ngọn sóng lên xuống, những thành bại, vui buồn hay hạnh phúc, khổ đau.

Sau sáu giờ nhìn lại cuộc đời mình như vậy, con đi tập thể dục hơn một tiếng rưỡi nữa. Khi các sư cô trở về, con cảm thấy mình khoẻ hơn và vui vẻ ngồi chơi với các sư chị, sư em. Sự tu học cho con một thứ quyền lực để nhìn lại đời mình một cách trọn vẹn mà tài sắc và danh vọng không thể nào mang đến được. Năng lượng của niệm, định và tuệ cho con khả năng nhìn lại cuộc đời mình, có được sự chấp nhận, sự bình an đối với những gì đã, đang và sẽ xảy ra.

Mỗi người chúng ta dù còn trẻ hay đã lớn tuổi, ai cũng có những kỉ niệm, những kí ức về chính chúng ta, về cha me, ông bà tổ tiên và về biết bao người mình đã gặp, đã thương, đã từng ân oán. Khi có những căn bệnh mãn tính, cấp tính hoặc khi chúng ta sắp lìa đời, các kí ức sẽ cuồn cuộn đi lên và liệu chúng ta có cái khả năng để nhìn chúng hay không? Hồi còn làm trong các bệnh viện, con đã chứng kiến rất nhiều bệnh nhân khi gần chết đã tỏ ra rất sợ hãi và tuyệt vọng. Đó là vì những chuyện cần làm nhưng chưa được làm xong (unfinished buisiness) đã cùng kí ức cuồn cuộn trào lên trong tâm thức họ. Trong lúc cơ thể đã yếu đuối mong manh hoặc sắp chết, người ta có thể bị cuốn đi bởi những cơn bão của hối tiếc, sợ hãi và tuyệt vọng. Có những người có quá nhiều đau đớn và sợ hãi nên phải chích morphine cho hôn mê. Họ ra đi trong tình trạng lãng quên và mê man như vậy.

Trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta có khả năng nhìn vào gương soi để thấy được con người thật của mình để thương yêu, chấp nhận, trân quý; cũng như từ từ chăm sóc được những liên hệ tình cảm với cha mẹ, con cháu, bạn bè, với chính mình, học làm tri kỉ của chính mình thì khi những đợt sóng đó đi lên, chúng ta có thể buông thư và mỉm cười được.

Bài kệ 36

Hành tịnh trí độ thế

行 淨 致 度 世

Thiên nhân mạc bất lễ

天 人 莫 不 禮

Sống thanh tịnh, vượt thoát được thời gian,

Thì cả hai giới thiên nhân đều nghiêng mình kính nể.

Hành tịnh trí độ thế: Hành tịnh là sống nếp sống tịnh hạnh. Trí độ thế là vượt được thế gian. Thời gian và không gian không còn là nhà tù của mình nữa.

Thiên nhân mạc bất lễ: Hai giới trời và người đều kính nể.

Chúng ta phải học, phải nghiên cứu kinh Pháp Cú theo phương pháp sau:

Phải ý thức được Pháp Cú là những bài kệvề giáo pháp mà chư Tổ đã thu góp từ các kinh Bụt dạy và sắp xếp lại thành từng chủ đề. Có những bài kệ nói về Niết bàn, chư Tổ đã gom lại thành một chương gọi là Phẩm Nê Hoàn. Đó là lời Bụt dạy trong kinh dưới hình thức những bài kệ. Trong khi biên tập kinh Pháp Cú, chư Tổ đã thâu tóm những bài kệ đó lại thành những chủ đề. Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại (Nê Hoàn Phẩm) là một trong những chủ đề đó. Kinh Chiếc Lưới Ái Ân mà chúng ta đã học, cũng là một chủ đề. Trong khi thu góp các bài kệ để vào một chủ đề, chư Tổ cũng đã sắp xếp lại; nhưng đó chỉ là sắp xếp tạm thời. Khi học, chúng ta phải học với con mắt của nhà khoa học, có thể Bụt nói câu này ở môi trường này và nói câu kia ở môi trường kia, chứ không phải Bụt nói câu này rồi tiếp tục nói câu kia. Có sự liên hệ giữa câu này và câu kia, nhưng đó là do chư Tổ đã sắp xếp lại. Ta phải thấy trước và đừng cho là kinh này Bụt nói theo thứ tự từ đầu tới cuối. Kinh Pháp Cú có thể đã do tôn giả Pháp Cứu (Dharmatrāta), một vị luận sư nổi tiếng của học phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda), sưu tập.

Phải phân biệt hai loại kinh. Kinh liễu nghĩa và kinh chưa liễu nghĩa. Kinh liễu nghĩa là những kinh nói về chân lý tuyệt đối (paramārtha). Những kinh nói về chân lý tương đối là kinh chưa liễu nghĩa.

Có kinh nói mình phải thoát cõi sinh tử để đi vào cõi Niết bàn. Như vậy, kinh có hàm ý: Có sinh tử và có Niết bàn tách riêng ra khỏi sinh tử. Nhưng có kinh nói: Sinh tử chỉ là ý niệm; thật ra, không có sinh, cũng không có tử, như trong Tâm Kinh. Tâm Kinh là một kinh liễu nghĩa. Có kinh nói có bốn sự thật rõ ràng: Khổ, tập, diệt, đạo. Bốn sự thật là nền tảng của giáo lý đạo Bụt. Nhưng trong Tâm Kinh nói không khổ – tập – diệt – đạo, nhìn kỹ ta thấy khổ không thể tự có một mình. Khổ làm gì có nếu không có vui, vui làm gì có nếu không có khổ. Khổ, tập, diệt, đạo là bốn sự thật; nhưng sự thật này nằm trong ba sự thật kia, ta không thể tìm một sự thật ngoài ba sự thật còn lại. Không có từng sự thật khổ, tập, diệt, đạo nằm riêng rẽ nhau. Chúng ta thấy giống như hai giáo lý chống đối nhau; nhưng thật ra chúng không chống nhau, vì một giáo lý nói về chân lý không liễu nghĩa và giáo lý kia nói về chân lý liễu nghĩa.

Khi chư Tổ đưa các bài kệ chung vào một kinh, thì có bài kệ liễu nghĩa và có bài kệ không liễu nghĩa, nên có vẻ giống như bài kệ này chống đối bài kệ kia. Ta phải thấy được điều đó và đừng hỏi tại sao câu kệ này không phù hợp với câu kệ kia. Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại có 36 bài kệ. Là một học giả ta phải có khả năng thấy được bài kệ nào là liễu nghĩa và bài kệ nào là không liễu nghĩa. Kinh liễu nghĩa hay, mà kinh không liễu nghĩa cũng hay. Mỗi loại kinh có chức năng của nó. Có thể, ta phải bắt đầu bằng các kinh không liễu nghĩa, rồi từ từ ta đi tới kinh liễu nghĩa. Ta phải công nhận có bốn sự thật khổ – tập – diệt – đạo; khi nắm vững rồi, ta mới có thể vượt qua. Ngay từ đầu nếu ta nói không có khổ – tập – diệt – đạo thì rất khó.

Có những bài kệ có vẻ như không đi theo những bài kệ khác trong kinh và ta cho rằng trong kinh có sự bất nhất. Là học giả, ta biết đó là những bài kệ bất liễu nghĩa, nên không thể so sánh với những bài kệ liễu nghĩa; nhưng nhờ bất liễu nghĩa mà ta có thể đi tới liễu nghĩa. Ta phải có khả năng nhận diện những bài kệ không liễu nghĩa, nhưng những bài kệ ấy có vai trò giúp ta đi tới chỗ liễu nghĩa. Phải tìm cho ra. Một hành giả cũng là một học giả, một nhà nghiên cứu thông minh. Phải học hỏi theo tinh thần khoa học, chứ không phải người ta nói gì ta đều nghe theo không điều kiện.

Có những bài kệ nói về không dơ, không sạch. Trong Niết bàn không có ý niệm dơ và sạch, trong và ngoài, đến và đi, khổ và lạc. Trong khi đó, có những bài kệ nói: Thân là bất tịnh, thì tại sao lại tìm hạnh phúc ở chỗ dơ bẩn? Theo nguyên tắc của kinh liễu nghĩa, không có gì là tịnh hay bất tịnh. Chúng ta có hai con đường để đi tới, vì vậy trước tiên chúng ta phải đọc từ đầu tới cuối, thấy được bài kệ nào là liễu nghĩa và bài kệ nào chưa liễu nghĩa nhưng cũng có công năng đưa tới liễu nghĩa.

Bốn bài kệ đầu xưng tán Niết bàn, bài kệ thứ nhất nói Niết bàn là cái cao nhất (Nê Hoàn là tối thượng), bài kệ thứ hai nói Niết bàn là tối khoái, bài kệ thứ ba thì dùng chữ tối lạc và bài thứ tư dùng chữ tối an. Bốn bài kệ này có mục đích cho Niết bàn là cái quan trọng nhất. Bài kệ thứ năm hàm ý: Tuy Niết bàn có đó, nhưng mình phải biết cách mới có thể đi vào. Sự thật là như vậy: Tịnh độ, Niết bàn, tình thương, hạnh phúc có đó, nhưng có người loay hoay mãi cũng không đi vào được. Ta phải biết cách đi vào, vì vậy cho nên ta phải cần thực tập. Bài thứ sáu là một hình ảnh rất thi ca, tôi cho đây là bài kệ đẹp nhất trong kinh:

Hươu nai nương đồng quê

Chim chóc nương trời mây

Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện

Các bậc chân nhân nương vào Niết bàn để sống thảnh thơi

Niết bàn có đó, Niết bàn không phải là chuyện tương lai. Nirvāna, trong ngôn ngữ nhân gian, có nghĩa là mát lạnh, là trạng thái không bốc cháy. Những phiền não như đam mê, giận hờn, thù hận bốc cháy làm ta khổ đau. Khi ngọn lửa phiền não tắt thì ta thấy mát, đó là Niết bàn. Định nghĩa đầu tiên của Niết bàn là sự vắng mặt của ngọn lửa phiền não (extinction of fire). Nhưng ngọn lửa phiền não cháy được là nhờ nhiên liệu (fuel), nhiên liệu là sự u mê của mình, tức những nhận thức sai lầm của mình. Ta thấy có sinh, diệt, trong, ngoài, ta và người. Cái thấy lưỡng nguyên đó cần phải lấy đi, ngọn lửa mới tắt. Định nghĩa thứ hai của Niết bàn là sự tắt ngấm của những tri giác sai lầm (extinction of wrong perceptions), những ý niệm như tôi và anh là hai thực tại riêng biệt, thân và tâm là hai cái hoàn toàn khác nhau, chủ thể và đối tượng là hai cái tách rời nhau, sinh và diệt, có và không là những cái chống đối nhau. Những ý niệm đó nhen cho ngọn lửa cháy lên, nên chúng ta phải dập tắt mọi ý niệm.

Bài kệ thứ sáu cho ta thấy Niết bàn là cái gì đang có mặt cho mình, chứ không phải là cái ta đi tìm cầu trong tương lai ở một không gian khác; cũng như đợt sóng đã là nước và nó không cần đi tìm nước ở một nơi khác. Đợt sóng đau khổ, vì không biết mình là nước, nó sợ hãi những lúc lên xuống, lúc bắt đầu, khi chung cục. Biết mình là nước rồi thì lên cũng vui, mà xuống cũng vui; có cũng vui, không cũng vui; cao cũng vui, thấp cũng vui. Niết bàn là cái đã có sẵn, ta chỉ cần tiếp xúc. Đợt sóng quá bận rộn, nó không tiếp xúc được với bản chất của nó là nước nên nó đau khổ.

Hai định nghĩa về Niết bàn được lặp lại nhiều lần trong nhiều bài kệ. Ý niệm về ngã, mình có cái ta riêng và người kia có cái ta riêng, đưa tới sự so sánh hơn người, thua người hay bằng người và tạo ra sự đau khổ. Trong các bài kệ được coi là liễu nghĩa có bài kệ nói về sự vắng mặt của các phiền não và có bài kệ nói về sự vắng mặt của các ý niệm sai lầm. Chúng ta phải đọc lại kinh và nhận diện bài kệ nào nói về sự vắng mặt của phiền não và bài kệ nào nói về sự vắng mặt của những ý niệm. Cuối cùng, ta thấy có những chỉ dẫn rất cụ thể để đi vào Niết bàn. Nhận diện được và trở về Niết bàn trong đời sống hàng ngày như chim trở về trời, cá trở về sông, hươu nai trở về đồng quê. Ta phải tìm về Niết bàn trong đời sống hàng ngày, nhưng làm sao đi về được Niết bàn? Có những bài kệ khác dạy cách đi về Niết bàn như sống đời phạm hạnh, giữ giới, quán thân bất tịnh.

Ông già Noel rất cần thiết cho mình. Khi lớn lên, ta nhận ra rằng không có ông già Noel; nhưng lúc còn nhỏ, ta rất hạnh phúc tin rằng vào buổi sáng thức dậy thì sẽ thấy có quà của ông già Noel trong chiếc vớ. Trong lúc ngủ, ông già Noel vào nhà bằng cách chui xuống theo ống khói. Ba má cũng giả bộ tin theo, để làm cho con cháu hạnh phúc: “Con ngủ đi! Nếu con không ngủ, ông già Noel sẽ không tới!Ba mẹ không tin, nhưng nuôi dưỡng niềm tin đó để làm hạnh phúc cho con cháu. Trẻ con lớn lên biết ba má nói dối, nhưng đến khi làm ba má, chúng cũng lại nói dối với con cháu. Ông già Noel là một sự nói dối trường kỳ từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ta đi vào chùa lạy Phật, má nói với ta trong chùa có Phật. Chỉ có vào chùa mới gặp được Phật, ta đem nào nhang, nào đèn, nào chuối, nào cam lên chùa cúng Phật. Chỗ ta đi tìm Phật là trong chùa; nhưng khi lớn lên, ta thấy không đúng như vậy. Trong chùa, chỉ có tượng Phật, ta tìm ra sự thật rằng Phật là ở trong lòng. Những người có tu, sớm muộn gì cũng tìm ra sự thật Phật không phải ở trong chùa. Chư Tổ và những người tu đều nói Phật tức tâm, Phật ở trong tâm, còn Phật ở trên bàn thờ trong chùa là một cách nói dối giống như nói có ông già Noel.

Khi chết, ta đi về Tây phương và gặp Bụt ở đó, hay ta lên thiên đường ngồi dưới chân Thượng đế, đó là một thứ ông già Noel. Nếu tu học đàng hoàng, ta biết Bụt có ngay trong tâm mình bây giờ và ở đây. Trong đạo Bụt, có những người tu tập, thực chứng được điều đó và cho chuyện Phật ở Tây phương, hay Bụt trên bàn thờ chỉ là chuyện ông già Noel. Họ thấy rất rõ Bụt và Tịnh độ đang có mặt ngay trong giây phút hiện tại, trong con người của mình. Những nhà tu thần bí tìm ra Chúa không phải ở trên trời, mà có ngay ở đây trong tâm hồn của mình và Thiên quốc cũng có mặt ngay bây giờ.

Chúng ta ở Làng Mai, đã lặp lại nhiều lần: The Pure Land is here and now and Amitabha Buddha is your own nature. Chư Tổ cũng có nói: Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ. Ý niệm nước Cực lạc và Bụt Di Đà ở phía Tây, chết rồi ta mới sang bên đó… cũng có thể xem như là chuyện ông già Noel cho những người mới bắt đầu. Nếu tu đàng hoàng, ta không cần phải chết rồi mới đi qua bên đó. Đức Di Đà và cõi Cực lạc có thực trong phút giây hiện tại. Niết bàn không phải là cõi rất xa mà ta chỉ tới được sau khi chết, Niết bàn là cái đang có bây giờ và ở đây. Niết bàn là tự tánh của ta, ta phải đặt Niết bàn đúng chỗ ở đây bây giờ. Trong kinh Tạp A Hàm có dùng danh từ “Hiện pháp Niết bàn” (Dṛṣṭa-dharma-nirvāna), tức Niết bàn trong giây phút hiện tại. Ta không muốn là trẻ con, bị lừa bởi chuyện ông già Noel, ta phải bước thêm một bước để thấy Niết bàn đó đang có mặt trong giây phút hiện tại, như trời mây đang có mặt cho chim, đồng quê đang có mặt cho hươu, dòng sông đang có mặt cho cá. Niết bàn đang có mặt cho ta, ta phải biết cách trở về Niết bàn trong sự sống hàng ngày.

Khi thở hay bước đi trong chánh niệm thì năng lượng của niệm – định – tuệ mở cửa cho mình bước vào cõi không sinh diệt, không phiền não. Sinh diệt chỉ là những ý niệm của mình. Thượng đế có thể được nhận thức như tự tánh bất sinh bất diệt, mát mẻ, không phiền não, đang có mặt cho mình ngay bây giờ. Thay vì đọc theo kiểu ông già Noel: “My Father’s in heaven” ta có thể đọc “My Father’s right in us”. Chữ Father là một ý niệm; tên Vô lượng thọ, Vô lượng quang của Bụt cũng chỉ là một cái tên; Allah hay God đều là những cái tên. Cái quan trọng là bản chất, là cái vô sinh bất diệt, mát mẻ, không phiền não đang có mặt cho ta.

Kinh này có tên Rong Chơi Trời Phương Ngoại. Nếu đang bị ngọn lửa phiền não đốt cháy, hay đang bị những kỳ thị, những tri giác sai lầm làm cho sợ hãi, lo lắng, buồn phiền, thì ta không có Niết bàn. Con đường đi vào Niết bàn là con đường rũ bỏ những phiền não, kỳ thị đó. Nhân loại cần phải bước thêm bước nữa, không thể bám mãi vào các ông già Noel. Thượng đế không thể được diễn tả bằng ý niệm có và không, trong và ngoài, ta và người. Bất cứ một ý niệm nào cũng không thể diễn tả được Thượng đế; cũng như không có ý niệm nào có thể diễn tả được Niết bàn, vì Niết bàn là sự dập tắt tất cả những ý niệm, trong đó có ý niệm ta và người, sanh và diệt, có và không. Rất buồn cười khi nói có Thượng đế hay không có Thượng đế. Thượng đế không thể được diễn tả bằng ý niệm có hay không. Thượng đế hay Niết bàn vượt khỏi ý niệm có không.

Tây phương hiện nay có hiện tượng gọi là double belonging, tức là vừa theo đạo Chúa vừa theo đạo Bụt, mà không có sự mâu thuẫn, giằng co. Có nhiều vị linh mục đang sống và thực tập như thế, trong đó có thượng tọa Thích Chân Pháp Đệ của mình, và linh mục Paul F.Knitter, tác giả cuốn sách Without Buddha, I could not be a Christian (Nếu không có Bụt thì tôi đã không thể làm một người tín hữu Cơ đốc). Truyền thống này giúp làm sáng thêm truyền thống kia và ngược lại. Nhân ngày lễ Noel, xin quý vị quán chiếu về đề tài này. Đây là vấn đề văn hóa. Theo được con đường này, chúng ta chấm dứt được kỳ thị, chia rẽ, đem lại sự đoàn kết và hòa bình cho thế giới.

Bài kệ 35

Khí cấu hành thanh tịnh

棄 垢 行 清 淨

Khả dĩ hoạch đại an

可 以 獲 大 安

Y tuệ dĩ khước tà

依 慧 以 却 邪

Bất thọ lậu đắc tận

不 受 漏 得 盡

Buông bỏ được cấu uế, đi trên đường thanh tịnh

Thì có thể đạt tới cái an tĩnh lớn

Nương tuệ giác, bỏ tà kiến

Không tiếp nhận gì nữa thì đạt được tới trạng thái lậu tận.

Khí cấu hành thanh tịnh: Buông bỏ, trừ diệt những nhiễm ô, hành động cho trong sạch, sống một nếp sống thanh tịnh, trì giới.

Khả dĩ hoạch đại an: Có khả năng đạt tới an ổn lớn.

Y tuệ dĩ khước tà: Chữ tuệ có thể được hiểu là các bậc có trí tuệ lớn tức chư Bụt và chư Bồ tát. Ta đừng chung đụng với những người thiếu đạo đức, không có trí tuệ mà phải nương vào những bậc thức giả (y tuệ) để từ bỏ những sai quấy (dĩ khước tà).

Bất thọ lậu đắc tận: Bất thọ là không tiếp nhận. Lậu là rỉ ra, hữu lậu là còn đi quanh quẩn trong vòng luân hồi, lậu đắc tận là không còn phiền não. Lậu tận thông là phép thần thông diệt được tất cả những phiền não trong quá khứ. Không tiếp nhận những cái tiêu cực thì những phiền não không còn.

Bài kệ 34

Hình hủ tiêu vi mạt

形 腐 銷 為 沫

Tuệ kiến xả bất tham

慧 見 捨 不 貪

Quán thân vi khổ khí

觀 身 為 苦 器

Sinh lão bệnh vô thống

生 老 病 無 痛

Hình hài này một khi đã hủy hoại sẽ trở thành tro bụi

Kẻ có tuệ biết buông bỏ không bám víu

Quán chiếu thấy được thân này là một công cụ mang toàn hệ lụy

Thì sinh, lão, bệnh, tử sẽ không còn là chuyện đau buồn.

Hình hủ tiêu vi mạt: Chữ tiêu có bộ kim 金 , tức chất kim loại, tiêu là nấu cho chảy ra.

Thân hình của mình thế nào cũng phải hư nát, tiêu hoại, trở thành bụi. Thánh Kinh nói: Hình hài này do cát bụi làm ra và nó sẽ trở về cát bụi.

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi

(Trịnh Công Sơn)

Tuệ kiến xả bất tham: Người có trí tuệ thấy như vậy nên không bám víu, không tham tiếc thân xác này.

Quán thân như khổ khí: Quán chiếu thấy thân thể mình là một công cụ mang theo nhiều hệ lụy. Thấy được thật tướng của hình hài, ta không còn bị kẹt vào nó.

Sinh lão bệnh vô thống: Sinh, lão, bệnh, tử không còn là sự lo sợ nữa. Ta sợ sinh, lão, bệnh, tử tại vì ta còn bị kẹt quá nhiều vào hình hài này. Nếu thấy được ta không chỉ là hình hài này thì lo sợ sẽ không còn nữa.

Bài kệ 33

Khổ đa nhi lạc thiểu

苦 多 而 樂 少

Cửu khổng vô nhất tịnh

九 孔 無 一 淨

Tuệ dĩ nguy mậu an

慧 以 危 貿 安

Khí y thoát chúng nạn

棄 猗 脫 眾 難

Hình hài này đem lại khổ lụy nhiều mà an vui ít

Trong chín kẽ hở, không một kẻ hở nào thanh khiết

Người có trí tuệ biết bỏ nguy, giữ an

Chấm dứt ba hoa, trút được mọi khổ nạn.

Khổ đa nhi lạc thiểu: Chúng ta nói tới hình hài, hình hài đem lại ít an lạc mà nhiều đau nhức.

Cửu khổng vô nhất tịnh: Cửu khổng là chín lỗ: hai lỗ tai, hai mắt, hai lỗ mũi, miệng, hai lỗ phía dưới. Chín lỗ thường tiết ra những chất không thơm, không sạch. Đây là bất tịnh quán, quán thân bất tịnh.

Tuệ dĩ nguy mậu an: Tuệ là những người thông minh có trí tuệ, người thức giả. Mậu là trao đổi (mậu dịch), đổi nguy lấy an.

Khí y thoát chúng nạn: Khí là buông bỏ. Trong đời có những phù phiếm, ba hoa vô ích. Ta buông bỏ tất cả, chấm dứt ba hoa và do đó thoát được mọi khổ nạn (thoát chúng nạn).

Bài kệ 32

Yếu tại vô thức tưởng

要 在 無 識 想

Kết giải vi thanh tịnh

結 解 為 清 淨

Thượng trí yếm hủ thân

上 智 饜 腐 身

Nguy thúy phi thật chân

危 脆 非 實 真

Quan trọng nhất là đừng bám vào tri giác phân biệt

Khi cả hai cái cột và mở đều đã thanh tịnh

Thì bậc thượng trí không còn bị kẹt vào cái hình hài dễ tan vỡ này

Và thấy nó là một cái gì không chắc thật

Yếu tại vô thức tưởng: Tưởng là tri giác. Trong nhận thức của mình có tri giác, tri giác đó có thể sai lầm. Những tri giác như sinh-diệt, có-không, ta-người, bạn- thù gây ra chia rẽ, kỳ thị và tạo ra hận thù, sợ hãi. Quan trọng nhất là vượt thoát những tri giác đó.

Kết giải vi thanh tịnh: Kết là buộc lại, giải là mở ra. Cột và mở, tuy vậy mà không chống đối nhau, không còn sự phân biệt giữa cột và mở, thì có sự thanh tịnh. Bàn tay mình có thể nắm lại, hay xòe ra, nhưng nắm hay xòe cũng là bàn tay. Ta phải thấy được bàn tay, không phải vì nó nắm lại mà ta muốn tiêu diệt bàn tay. Người kia có thể là thiện hay ác, nhưng vẫn là con người. Ta phải làm thế nào để giúp người đó trở thành thiện, chứ không nên tiêu diệt người đó. Đó là cái thấy của Bụt. Kẻ thù ta không phải là con người, kẻ thù ta là cuồng tín, tị hiềm, kỳ thị, sợ hãi, đam mê. Ta thoát khỏi nắm và mở, nắm là bàn tay mà mở cũng là bàn tay. Thấy được như vậy thì ta khỏe, ta không còn hận thù, khổ đau nữa.

Thượng trí yếm hủ thân: Hủ là nát ra. Bậc có trí tuệ lớn không còn kẹt vào hình hài dễ tan vỡ này, không cho hình hài này là mình.

Thân này không phải là tôi

Tôi không bị kẹt vào nơi thân ấy

Tôi là sự sống thênh thang

Tôi chưa bao giờ từng sinh

Cũng chưa bao giờ từng diệt

Chúng ta có hình hài, tư tưởng, lời nói. Những gì chúng ta tạo tác ra hàng ngày như tư tưởng, lời nói và hành động đã và đang lên đường. Ta không chỉ có mặt trong hình hài này, mà ta còn có mặt ở ngoài hình hài, ta có trong ba mẹ, trong con cháu, trong thế giới. Hình hài này sẽ tan rã. Thấy mình chỉ là hình hài này là một tà kiến. Những tư tưởng, lời nói, hành động mình chế tác ra đang tiếp tục mình. Người thượng trí thấy hình hài này không phải mình, mình lớn hơn hình hài này rất nhiều. Mai mốt hình hài này sẽ hủ nát, nhưng ta vẫn tiếp tục và ta phải tiếp tục cho đẹp. Muốn tiếp tục cho đẹp thì thân, khẩu, ý phải đi theo hướng hiểu và thương, phải có giới, định và tuệ.

Nguy thúy phi thật chân: Thấy nó là một cái gì không chắc thật. Hình hài này dễ tan vỡ, dễ bị tai nạn.

Bài kệ 31

Thị độ sinh tử ngạn

是 度 生 死 岸

Khổ tận nhi vô hoạn

苦 盡 而 無 患

Đạo pháp vô thân sơ

道 法 無 親 疎

Chánh bất vấn doanh cường

正 不 問 羸 強

Đó là con đường vượt qua bờ sinh tử

Đưa tới chỗ chấm dứt khổ đau hoạn nạn

Trong đạo pháp, không còn sự phân biệt thân sơ

Không còn hỏi ai có thế lực nhiều, ai không có thế lực.

Thị độ sinh tử ngạn: Đó là đi qua được bờ sinh tử.

Khổ tận nhi vô hoạn: Chấm dứt khổ đau, không còn tai họa. Tận là chấm dứt, hoạn là tai nạn.

Đi vào con đường danh lợi, quyền bính có rất nhiều tai họa. Hoạn đồ hiểm trở.

Đạo pháp vô thân sơ: Trong đạo pháp, không còn phân biệt thân và sơ, không kết bè kết phái, không lập đảng riêng, người nào cũng là huynh đệ của mình, nghèo cũng như giàu, có quyền thế cũng như không có quyền thế. Ta không đứng về phía người giàu để áp chế người nghèo, mà cũng không đứng về phía người nghèo để tranh đấu với người giàu; vì ta thấy cả hai bên đều khổ, mỗi bên khổ theo kiểu của họ. Trong đạo pháp, phải có sự bình đẳng; ta thương người không phải đồng bào như thương người đồng bào, ta thương những người theo các truyền thống khác như thương những người cùng chung truyền thống. Đó gọi là xả (equanimity), không phân biệt thân sơ.

Chánh bất vấn doanh cường: Doanh là nhiều, là hơn. Không còn hỏi ai là người thắng kẻ bại, không cần phân biệt người mạnh kẻ yếu. Người thắng, kẻ bại ta đều thương. Ta thương các thầy, các sư cô Bát Nhã đã đành và ta còn thương luôn cả những người đánh phá Bát Nhã. Ta thương những người yếu đuối bị đàn áp, bóc lột và ta cũng thương luôn những người dùng bạo lực để đàn áp, bóc lột. Ai cũng có những khổ đau của họ và ta muốn giúp hết tất cả. Đó là đạo pháp.

Bài kệ 30

Diệt ác cực ác tế

滅 惡 極 惡 際

Dị như điểu thệ không

易 如 鳥 逝 空

Nhược dĩ giải pháp cú

若 已 解 法 句

Chí tâm thể đạo hành

至 心 體 道 行

Diệt phiền não, thoát ra khỏi thế giới hệ lụy

Dễ như con chim cất cánh bay lên không trung

Nếu hiểu được pháp cú này

Thì hãy đem hết lòng mà đi tới trên con đường đạo.

Diệt ác cực ác tế: Diệt là chuyển hóa, làm cho không còn. Ác là những gì đi ngược lại với giới luật, những hành động, lời nói, tư tưởng tạo ra khổ đau. Tế là biên giới, lĩnh vực. Cực ác tế là đi ra khỏi biên giới của cái ác. Đó không phải là chuyện khó, khi ta có khả năng buông bỏ được đam mê, hận thù và vọng niệm thì ta ra khỏi lĩnh vực của phiền não.

Dị như điểu thệ không: Dễ dàng như con chim tung cánh bay lên không gian.

Nhược dĩ giải pháp cú: Nếu hiểu được pháp cú này. Pháp cú là Dharmapada, câu nói của giáo pháp.

Chí tâm thể đạo hành: Hiểu được ý nghĩa củapháp cú, ta sẽ đem hết tâm để đi trên con đường đạo.

Bài kệ 29

Hành tịnh vô hà uế

行 淨 無 瑕 穢

Tự tri độ thế an

自 知 度 世 安

Đạo vụ tiên viễn dục

道 務 先 遠 欲

Tảo phục Phật giáo giới

早 服 佛 教 戒

Sống phạm hạnh, không một vết nhơ

Tự biết mình, vượt thời gian, đạt an ổn

Trong nếp sống tu tập, trước hết là xa lánh ái dục

Phải tự trang bị mình bằng giới luật của Bụt ngay từ bây giờ.

Hành tịnh vô hà uế: Hành là thực tập, là nếp sống. Hà uế là tì vết, vết nhơ. Tịnh hạnh là nếp sống trong sáng, thanh tịnh, thánh thiện (holy life). Chất thánh thiện, ta có thể nhận diện được; có niệm, có định, có tuệ là có chất thánh. Niệm, định, tuệ cũng là giới, định, tuệ, vì niệm cũng là giới. Chánh niệm là giữ giới, chúng ta gọi năm giới là năm phép thực tập chánh niệm.

Người cư sĩ giữ được năm giới là có chất thánh. Trong kinh Thánh Đệ Tử nói, người xuất gia giữ 250 giới và người tại gia giữ năm giới đều là thánh đệ tử, vì trong người họ có chất liệu của sự thánh thiện. Sự thánh thiện không phải do Đức giáo hoàng hay một người khác ban cho mình, mà do sự thực tập đem lại. Khi có niệm, định, tuệ và giới, tự nhiên ta có chất thánh. Hành tịnh là sống nếp sống tịnh hạnh, nếp sống tịnh hạnh là nếp sống có giới; đối với người tại gia là không tà dâm còn đối với xuất gia là bất dâm.

Tự tri độ thế an: Tự tri là biết mình là ai. Biết mình là ai là một chuyện rất khó, đôi khi ta tưởng ta biết, nhưng kỳ thực ta chưa biết mình là ai.

Ta biết ta là một vị đại sứ, ta đại diện cho cả một dòng họ, một đất nước, một lịch sử. Ta có tổ tiên, đất nước, dòng họ, ta không phải là một cá nhân biệt lập, ta không phải là một cái ta riêng biệt, ta là một vị đại sứ cho cả một dòng họ. Ta phải thấy ta như vậy trước khi người khác thấy được ta như vậy. Họ phải nghiêng mình chào vị đại sứ với tất cả sự kính phục. Tự biết mình là ai phải do sự quán chiếu, do niệm – định – tuệ mới đạt được.

Thế là thời gian, tam thế là quá khứ, hiện tại và vị lai. Độ thế là vượt thoát được thời gian, tiếp xúc được kiếp ngoại và phương ngoại. Làng Mai ở Thái Lan có một thiền đường tên là Trời Phương Ngoại. Trời phương ngoại là không gian nằm ngoài không gian (space outside the space). Không gian ta thấy đây và thời gian làm bằng năm tháng, không đủ rộng rãi cho mình. Ta cần một không gian và một thời gian khác, không gian đó là phương ngoại phương 方 外 方 , một không gian nằm ngoài không gian thường. Thời gian làm bằng giờ phút và năm tháng hơi chật hẹp đối với mình, ta cần vượt thoát thời gian, gọi là thời ngoại thời. Độ thế, có nghĩa là vượt thoát được thời gian.

Tự biết mình là ai, vượt thoát được thời gian, đạt tới sự an ổn.

Đạo vụ tiên viễn dục: Đạo là con đường. Cái cần phải thực tập trước hết để đạt tới thời gian thênh thang của Niết bàn, là phải thoát ra khỏi vòng đam mê, còn đam mê thì còn bị giam hãm trong thời gian và không gian.

Tảo phục Phật giáo giới: Phục là mặc vào, là trang bị. Ta phải sớm trang bị mình bằng những giới luật Bụt đã dạy. Chuyện đầu tiên là phải giữ giới, người cư sĩ phải giữ 5 giới, 14 giới còn người xuất sĩ phải giữ 10 giới, 250 giới, 380 giới, 14 giới. Không có giới là không có niệm – định – tuệ, không có niệm – định – tuệ thì không tiếp xúc được với tự do, với Nê hoàn. Giới là điều kiện căn bản của tự do. Người ta nói thọ giới là mất tự do, nhưng sự thật thì ngược lại, chính nhờ giới mà ta có tự do. Ví dụ như khi uống rượu hay sử dụng ma túy, ta mất tự do. Chính nhờ ta giữ giới không uống rượu và không sử dụng ma túy, nên ta có tự do. Người bị sa vào vòng rượu chè, ma túy thì không còn chút tự do nào. Giới là căn bản của tự do, mỗi giới là một lĩnh vực của giải thoát. Giữ giới không uống rượu, ta có tự do này, giữ giới không sát sanh thì có tự do khác. Biệt biệt giải thoát, có nhiều khía cạnh giải thoát khác nhau và mỗi giới cho mình một không gian của giải thoát.

Muốn thật sự đi trên con đường đạo, phải xa lìa dục và phải sớm trang bị cho mình bằng những giới luật Bụt dạy.

Bài kệ 28

Đô khí như diệt độ

都 棄 如 滅 度

Chúng đạo trung tư thắng

眾 道 中 斯 勝

Phật dĩ hiện đế pháp

佛 以 現 諦 法

Trí dũng năng phụng trì

智 勇 能 奉 持

Buông bỏ hết, đã qua bờ diệt độ

Trong các con đường, đây là con đường đẹp nhất

Bụt đã diễn bày pháp chân đế

Kẻ có trí và có dũng có thể làm theo.

Đô khí như diệt độ: Đô là tất cả (together), khí là buông bỏ (letting go), buông bỏ tất cả để đi tới phía bên kia, chỗ mà mọi phiền não đều bị tiêu diệt.

Chúng đạo trung tu thắng: Chúng đạo trung là trong tất cả con đường. Trong tất cả các con đường, con đường tới Niết bàn là con đường đẹp nhất.

Phật dĩ hiện đế pháp: Đế là sự thật. Bụt đã diễn bày pháp chân đế. Đức Thế Tôn đã vì ta trình bày giáo pháp về “Bốn sự thật”. Ngài đã hiến tặng cho ta một con đường, một giáo pháp về “Bốn sự thật”.

Trí dũng năng phụng trì: Là kẻ trí, là kẻ có dũng cảm thì phải có khả năng phụng trì theo. Phụng trì, là tiếp nhận và hành trì theo.