Chắp tay – xá chào

Trong thiền viện hay trong các khóa tu, mỗi khi gặp nhau ta phải chắp hai tay trước ngực thành một búp sen để chào nhau. Cử chỉ này cần được làm trong chánh niệm: ta thấy rõ ta đang làm một búp sen để tặng người đối diện. Trong khi chắp tay ta trở thành tỉnh thức, và người được ta chào cũng trở nên tỉnh thức. Người này cũng phải chắp tay lại thành búp sen để đáp lễ. Tuyệt đối không nên chắp tay một cách máy móc. Chắp tay máy móc còn tệ hơn là không chắp tay. Gặp người khác, ta phải dừng lại, và phải chắp tay chào một cách cung kính như ta chắp tay chào Bụt vậy. Thái độ cung kính và tỉnh thức của ta, người ấy cũng sẽ chắp tay lại và trong tâm người ấy cũng sẽ phát sinh niềm cung kính và sự tỉnh thức. Một cái chắp tay như thế có thể đem tính Bụt trở về nơi hai con người cùng một lúc. Khi chắp tay thành búp sen ta thầm đọc bài kệ sau đây:

Sen búp xin tặng người

Một vị Bụt tương lai

 

 

Gặp một em bé ta cũng chắp tay cung kính như gặp một người lớn. Nếu ta chào em bé như thế, em bé sẽ biến đổi một cách lạ kỳ, và chính ta, nếu ta thực tập cách chào này cho nghiêm chỉnh ta cũng sẽ biến đổi. Ta không chào người vì bằng cấp, địa vị, trí thông minh hay nhan sắc của người ấy mà vì người ấy là một người, người ấy có khả năng tỉnh thức. Cái chào của ta có tính chất bình đẳng tuyệt đối. Chào được như thế, sau này ta sẽ có một cái nhìn rất lạ đối với mọi loài và mọi vật, kể từ sỏi đá cỏ cây côn trùng cho đến một đám mây bay.

Mỗi khi ta được trao một vật gì, như một tách trà, một trái lê hoặc một tờ giấy ta cũng nên chắp tay một cách cung kính trước khi đón nhận Cái chắp tay của ta, cũng giống như tiếng chuông có thể tạo ra sự tỉnh thức nơi ta và nơi người đối diện. Thiền tập là như thế: thắp sáng ý thức trong từng giây khắc của cuộc sống.

 

Điều gì xảy ra khi quơ dép có chánh niệm?

(Sư chú Chân Trời Tương Tức)

Bạn hiền ơi, có bao giờ bạn có một ước ao lạ lùng chưa? Chẳng hạn bạn có phép thần thông như bay trong không gian hoặc đi trên mặt nước. Có lẽ điều này chỉ có thể xuất hiện trong phim ảnh hay trong giấc mơ mà thôi. Tuy nhiên, ngày hôm nay, bạn sẽ khám phá và sở hữu phép thần thông một cách đơn giản và thực tế. Từ đó, bạn có thể có được một “THẦN thái chánh niệm, THÔNG suốt mọi chuyện”. Hơn thế nữa, bạn sẽ có dịp nhận diện và tiếp xúc những điều mầu nhiệm của cuộc sống bằng chính con người bạn mà không phải là ai khác.

Bạn có nhớ lần quơ dép gần đây nhất là lúc nào chứ? Có thể bạn nhớ hoặc không nhớ. Dù sao đi chăng nữa, hôm nay, bạn sẽ được chia sẻ một điều đáng nhớ khi quơ dép. Đó là ứng dụng thi kệ này vào trong cuộc sống để giúp bạn có được hạnh phúc hơn, bình an hơn. Bài thi kệ “Quơ dép” như sau:

“Đặt chân trên mặt đất

Là thể hiện thần thông

Từng bước chân tỉnh thức

Làm hiển lộ pháp thân”

 

 

Nếu như bạn được nhập vai trong phim “Tây Du Ký” thì bạn có muốn sở hữu 72 phép thần thông chứ? Phải chăng thần thông là khả năng biến hóa, bay lượn trên không trung hay đi xuyên qua mọi vật…? Đối với bài thi kệ này thì thần thông lại là khả năng đi trên mặt đất một cách tỉnh thức. Thần thông là khả năng nhận diện và tiếp xúc được với sự sống mầu nhiệm ngay bây giờ và ở đây. Bên cạnh đó, thần thông là một khả năng rất cụ thể, rất thực tế mà ai cũng có thể làm được. Và bạn cũng không cần tìm nó trong phim hay giấc mơ nữa vì thần thông đã có sẵn trong bạn rồi đó.

Bạn vẫn chưa tin ư? Được rồi, bây giờ mời bạn tham gia một thí nghiệm như sau. Đầu tiên, bạn hãy ngồi ngay ngắn trong tư thế vững chãi. Thở vào, bạn từ từ nhấc chân phải lên. Chú ý từng cảm giác xuất hiện nếu có. Rồi sau đó, thở ra, bạn từ từ hạ chân xuống sàn nhà. Chú ý sự xúc chạm của bàn chân với mặt sàn. Tốt lắm. Bây giờ, mời bạn đổi chân trái và làm tương tự như chân phải. Thở vào, đưa chân lên. Thở ra, hạ chân xuống. Bạn có thấy gì chứ? Một sự thoải mái hay nặng nề của đôi chân? Hoặc là cảm giác man mát ở lòng bàn chân. Dù bạn có thấy gì đi chăng nữa thì cũng xin chúc mừng bạn vì bạn vẫn còn đôi chân khỏe mạnh, vẫn có thể nhấc lên hạ xuống, đi lại thoải mái. Và nếu như bạn không có đôi chân bình thường để thực hiện thí nghiệm trên thì cũng vẫn tốt vì ít nhất bạn còn 2 tay để chống nạng bước đi. Có khi điều này còn tốt hơn so với những ai có đôi chân mà không chịu đi một cách tỉnh thức.

Đời như cơn mộng. Trong giấc mơ thì là mộng đã đành. Nhưng sống trong đời sống với mắt thấy tai nghe mà vẫn còn thấy mộng. Vì chẳng có gì là chắc thực. Con người cứ mải mê chạy theo những thứ ảo ảnh như tài, danh, sắc, thực, thuỳ rồi đâm ra tham lam, giận hờn, si mê. Bởi thế mà đau khổ cứ chồng chất, không có lối thoát. Sự thiếu hiểu biết là nền tảng cho khối khổ đau đó đã trầm luân bao nhiêu ngàn đời, ngàn kiếp. Con người cần được đánh thức sự hiểu biết và thương yêu trong mình. Tỉnh táo đón nhận mọi sự vật, hiện tượng như chúng đang là. Hoa là hoa. Chim là chim. Mình là mình mà không cần cố gắng trở thành một ai khác mới là đẹp, mới là tốt.

Nhưng để là hoa, để là chim, để là mình thì không thể tự nó có được. Mà nó cần nương vào những điều kiện, nhân duyên khác nhau mà tạo thành. Ví dụ để có hoa thì phải có nắng, phải có nước, phải có không khí… Nếu thiếu một trong những yếu tố đó thì hoa không thể biểu hiện và tồn tại. Thông thường mình nghĩ rằng mình là một thực thể tách biệt với mọi hiện tượng khác. Nhưng kỳ thực tất cả đang trong mình, làm nên mình. Khi mình gây khổ đau cho người khác thì mình cũng đã tự làm khổ đau mình rồi. Nó xảy ra ngay tức khắc chứ chẳng đợi một thời gian sau mới thấy. Nếu nói “Tôi không cần anh” thì đó là một lối suy nghĩ thiển cận và ngây thơ. Khi cùng trở về gia đình tâm linh thì điều đó lại trở nên quá dại dột và thiếu hiểu biết. Mộng nào còn hơn mộng này nữa chăng? Chính vì thế, mình cần “TỈNH táo chấp nhận – THỨC hạt hiểu thương”.

Bằng cách nào để có được sự tỉnh thức? Hãy bước từng bước chân có ý thức, có chánh niệm. Mỗi bước chân như thế sẽ nuôi dưỡng sự tỉnh thức. Lúc ấy, mình có cơ hội làm lắng dịu khổ đau để đi tới sự sáng suốt, minh mẫn và thấu hiểu rõ ràng hơn. Từng bước chân tỉnh thức nếu được duy trì thì bạn có thể làm phát khởi, thấy rõ pháp thân.

Vậy pháp thân là gì? Pháp thân là bản thể vạn hữu, là chân như. Hay nói một cách dễ hiểu hơn thì pháp thân là tất cả mọi hiện tượng như tiếng chim hót, tia nắng ấm, đám mây trắng, cành trúc xanh… Rõ ràng những mầu nhiệm ấy đang có đó nhưng mình còn đang rong ruổi chạy theo lo lắng, sợ hãi, buồn rầu… Nên mình đã đánh mất đi cơ hội thấy được sự mầu nhiệm của cuộc sống. Thường thì mình đi bằng đầu chứ chẳng phải bằng chân. Khi đi mình hay suy nghĩ này, suy nghĩ nọ, đi cho mau tới mà thôi. Nếu như bạn để tâm vào bước chân và hơi thở thì một lúc sau bạn sẽ cảm thấy tốt hơn nhiều. Tự nhiên mình cảm thấy khoẻ, thấy nhẹ. Ngoài ra, mình còn cảm thấy mọi chuyện hanh thông hơn với từng chân tỉnh thức. Bởi thế mà, “PHÁP khắp mọi nơi – THÂN chẳng trong ngoài”.

Khi nào mình nên ứng dụng thi kệ này? Mỗi khi quơ dép, đi thiền hành hoặc bước đi đâu đó mình đều có thể đọc thầm bài thi kệ. Ngày trước con chẳng để ý nhiều về quơ dép. Cứ vơ phải dép là đi luôn. Vào chùa thấy mọi người xếp dép ngay ngắn thì con cũng làm như vậy như thể là mình tuân thủ nội quy răm rắp. Nhưng kể từ khi, con biết và ứng dụng thi kệ Quơ dép thì mọi chuyện đã khác. Quơ dép không chỉ là quơ dép. Quơ dép là khả năng chánh niệm, là tỉnh thức, là thấu hiểu, là thương yêu. Bạn còn nhớ câu “Bình thường tâm thị đạo” chứ? Tức là thấy đạo từ những điều bình thường, nhỏ nhặt như việc quơ dép… Bạn không cần làm một điều gì đó cao siêu mầu nhiệm hoặc ép xác khổ hạnh mới thấy đạo. Mà chỉ cần bạn chú ý, quan sát, lắng nghe thì mọi chuyện, mọi thứ đều cho bạn những bài học ý nghĩa, giúp bạn vượt thoát khổ đau mà bạn đang có.

 

 

Để ứng dụng thi kệ Quơ dép này hàng ngày, bạn cần có phương pháp cụ thể, rõ ràng. Tuy điều này nhỏ nhưng nếu không thực hiện Đúng – Đủ – Đều thì cũng rất khó hình thành thói quen và kết quả tốt được. Đầu tiên, bạn hãy chọn một khoảng thời gian cố định trong ngày như mới ngủ dậy buổi sáng hay trước khi đi ngủ buổi tối. Tiếp theo, bạn nên chọn không gian yên tĩnh, thoáng đãng như vườn cây xanh hay thiền đường… Bạn có thể xỏ dép, xỏ giày hoặc chân không đều được, miễn là bạn bước đi một cách thoải mái. Thay vì theo thói quen trước khi quơ dép, bạn có thể thở vào, thở ra một hơi rồi đọc thầm bài thi kệ Quơ dép. Điều này giúp bạn ý thức vào hành động bạn đang làm, cụ thể ở đây là quơ dép. Nếu bạn đã làm được đến đây thì bạn cũng nên tự chúc mừng bản thân vì mình đã làm được một điều mà trước đây bạn chưa từng làm. Cứ duy trì điều này trong vòng 2-3 ngày hoặc 1 tuần, nếu bạn cảm thấy ổn thì bạn nên nâng cao sự thực tập của mình. 

Cùng với không gian và thời gian đó, trong mỗi bước đi, bạn đều đọc thầm bài thi kệ. 

Thở vào, bước một bước, đồng thời đọc thầm câu “Đặt chân trên mặt đất”. 

Thở ra, bước một bước, đồng thời đọc thầm câu “Là thể hiện thần thông”. 

Tiếp theo, thở vào, bước một bước, đọc thầm câu “Từng bước chân tỉnh thức”. 

Thở ra, bước một bước, đọc thầm câu “Làm hiển lộ pháp thân“.

 

         Rút gọn lại là

“Thở vào/một bước/mặt đất”

“Thở ra/một bước/thần thông”

“Thở vào/một bước/tỉnh thức”

“Thở ra/một bước/pháp thân”. 

 

Ban đầu, mình sử dụng phương pháp này để chuyên chú nhất tâm. Nhưng nếu thực tập một thời gian thì tự nhiên mình sẽ có những cái thấy riêng. Những bước chân sau này sẽ khác hẳn với những bước chân trước đây cả về hình thức và nội dung.

Chúc bạn thực tập Quơ dép có nhiều hoa trái tốt lành !



Thắt dây an toàn

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 20.07.2003 tại xóm Hạ, Làng Mai)

Làng Mai có một bài kệ để nhắc cho chúng ta là mỗi khi lên xe hơi phải buộc dây lưng lại và phải lái cho cẩn thận. Bài kệ đó như thế này:

 “Hai phần ba tai nạn
Xảy ra ở gần nhà
Biết vậy tôi cẩn trọng
Dù không đi đâu xa”
 

Khi mình đi ra chợ có mấy cây số, mình cần gì phải cột thắt dây lưng làm gì cho mất công và mình lái cũng không cẩn thận lắm. Mình nghĩ là chạy đường trường 5 giờ đồng hồ, 8 giờ đồng hồ mới cần phải thắt dây lưng đúng không? Nhưng mà kỳ thực khi người ta thống kê thì hai phần ba những tai nạn xảy đến cho mình trong những lúc mình đi những quãng đường rất ngắn. “Hai phần ba tai nạn, xảy ra tại gần nhà” đó là tiếng chuông chánh niệm “biết vậy tôi cẩn trọng, dù không đi đâu xa.” Rồi đi hai ba cây số cũng vậy, cũng phải thắt dây lưng lại và cũng phải lái cho thật đàng hoàng, đó là sự thực tập chánh niệm để bảo hộ cho cái thân của mình.

Khi chúng ta thực tập theo phương pháp Bụt dạy thì chúng ta cũng phải làm tương tự như vậy. Chúng ta phải thắt sợi dây lưng của chúng ta lại và sợi dây lưng này tức là “chánh niệm.” Sợi dây an toàn của chúng ta là chánh niệm. Nếu chúng ta có chánh niệm thì chúng ta tránh được rất nhiều tai nạn khi mình nói, khi mình cười, khi mình suy tư, khi mình hành động. Nếu mình có chánh niệm thì tai nạn nó ít xảy tới. Khi mình nói, mình biết rằng mình đang nói cái gì và nói điều đó có hại gì hay không? Tại vì khi nói chúng ta có thể làm tan nát hết tất cả. Chúng ta có thể gây ra sự xáo trộn trong gia đình, tạo ra sự khổ đau trong bản thân của chúng ta và gây ra những nỗi khổ niềm đau cho người khác. Nếu có chánh niệm chúng ta không có những cử chỉ gây ra đổ vỡ trong gia đình và trong đoàn thể của mình. Mỗi khi không có chánh niệm thì mình có thể làm những điều tạo ra sự bất hòa, tạo ra sự đổ vỡ. Vì vậy chánh niệm đích thực là sợi dây lưng an toàn của người tu và muốn có chánh nhiệm thì phải biết thực tập hơi thở và bước chân. Hơi thở và bước chân đích thực là hai sợi dây. Mỗi khi ta thở thì ta chú ý tới hơi thở, ta đừng để tâm phóng đi chỗ khác. Người nào mà biết chú ý tới hơi thở thì tâm luôn luôn ở với thân và khi tâm luôn luôn ở với thân thì tâm biết cái gì đang xảy ra, đó là chánh niệm.

Một sợi dây thứ hai nữa đó là bước chân của mình. Nếu mỗi khi bước đi, mình để ý vào từng bước chân của mình thì mỗi bước chân đó đều bước trong chánh niệm. Phần lớn chúng ta đi như bị ma đuổi, đi mà không biết là mình đang đi, đi như kẻ mộng du, cho nên tâm rong ruổi đi chỗ khác. Trái lại nếu mình biết bước từng bước chân trong chánh niệm thì tâm mình luôn luôn ở với thân và mình có sự an toàn. Bước chân chánh niệm cũng là một sợi dây an toàn thứ hai, theo kinh nghiệm của Thầy. Nếu tu mà không có biết nắm lấy hơi thở và nắm lấy bước chân thì khó có thể thành, khó có thể chuyển hóa được. Không phải lâu lâu mới nắm hơi thở một lần, lâu lâu mới nắm bước chân một lần. Nếu quyết tâm tu học để chuyển hóa thì phải suốt ngày nắm lấy hơi thở và suốt ngày nắm lấy bước chân.

 

Nguồn hình ảnh: Rob Walsh
Nguồn hình ảnh: Rob Walsh

 

Ở Làng Mai sự thực tập là như vậy đó, không phải chỉ khi nào ngồi thiền thì mình mới theo dõi hơi thở, không phải chỉ khi nào nấu ăn thì mình mới theo dõi hơi thở. Mỗi khi mình dọn dẹp thiền đường, tưới rau hay giặt áo, mình cũng phải theo dõi hơi thở. Nếu không theo dõi hơi thở tức là mình không có sợi dây an toàn buộc mình lại, đó gọi là thất niệm tức là không có chánh niệm. Người tu là người phải cột sợi dây an toàn vào 24 giờ đồng hồ một ngày và sợi dây an toàn thứ nhất là hơi thở; luôn luôn phải trở về hơi thở, hơi thở là pháp bảo hộ thân tâm. Nếu không có hơi thở thì cái tâm nó chạy đi chỗ khác và không còn ai, không còn cái gì để bảo hộ cho thân và tâm mình.

Sợi dây an toàn thứ hai là bước chân. Mỗi ngày chúng ta đi thiền hành với đại chúng một lần và những bước chân của chúng ta, bước nào cũng đi trong chánh niệm. Cái đó rất tốt nhưng chừng đó không đủ. Vì vậy cho nên suốt ngày mỗi khi cần di chuyển từ một chỗ này sang một chỗ khác dầu chỉ ba bước hay năm bước thì chúng ta cũng phải áp dụng phương pháp thiền đi, nghĩa là cột sợi dây chánh niệm đó lại. Bước nào cũng bước trong chánh niệm và bước nào cũng đi như người tỉnh thức mà không đi như bị ma đuổi, không đi như những người mộng du. Những người học trò giỏi của Thầy là những người làm được như vậy, có thể không thuyết pháp hay, không hiểu kinh điển. Những bước chân không có chánh niệm và hơi thở không có chánh niệm thì những người đó không phải là học trò giỏi của Thầy. Những người đó có thể làm máy vi tính rất giỏi, tổ chức khóa tu rất hay, tổ chức ngày Phật đản rất thành công nhưng không phải là đệ tử giỏi của Thầy. Đệ tử giỏi của Thầy là người suốt ngày nắm được hơi thở và nắm được bước chân. Khi mình nắm được hơi thở và nắm được bước chân thì chắc chắn thế nào cũng được chuyển hóa. Nắm được hơi thở, nắm được bước chân tức là luôn luôn có sợi dây an toàn. Không những mình sẽ được chuyển hóa, mà trong hiện tại mình biết nói những gì và không nên nói những gì, mình biết làm gì và không nên làm gì. Có những điều mình nói ra có thể tạo nên sự đổ vỡ trong lòng mình và trong lòng người kia; khi có chánh niệm thì mình sẽ không nói như vậy, mình sẽ không làm như vậy.

Hầu hết chúng ta thông minh, ta biết nhưng đến lúc sự việc xảy ra, mình vẫn cứ nói và làm hành động đó như thường. Ta gây ra đổ vỡ rồi ta bứt tóc, đánh ngực, ta nói: “Mình đã biết nói câu đó thì nó tan nát hết, mà tại sao mình cứ nói. Mình biết rằng làm hành động đó sẽ tan nát hết, tại sao mình cứ làm?”. Mình cúi xuống lạy Bụt và phát nguyện từ sau con sẽ không nói như vậy, sẽ không làm như vậy. Mình rất thành thật, mình rất thật lòng khi sống với Bụt. Nhưng 3-4 ngày sau hoặc là tháng sau, mình lại nói và hành xử trở lại giống hệt như vậy. Tại sao? Mình có dư thiện chí, mình có dư thông minh nhưng vì tập khí, thói quen của mình.

 

 

Đó gọi là tập khí, habit energy, là thói quen “ngựa theo lối cũ” và chỉ có một phương pháp để đối trị với nó, là chánh niệm. Nếu mình biết hơi thở chánh niệm, biết bước chân chánh niệm thì mỗi khi tập khí đó sắp lên,“trời ơi tập khí nó tới, nó đang đẩy tôi, nó xúi tôi nói cái đó nữa đây, nó xúi tôi làm cái đó nữa đây”. Nhưng mà kỳ này tôi không chịu xua nó đâu, đó là nhờ có chánh niệm. Chánh niệm là câu trả lời duy nhất. Thành ra muốn bẻ gãy vòng luẩn quẩn thì chỉ có chánh niệm. Chánh niệm không phải mình muốn là nó có liền. Chánh niệm cần phải thực tập, thực tập hơi thở và bước chân. Hơi thở và bước chân là hai sợi dây an toàn, cung cấp cho mình sự an ninh. Mỗi khi tập khí đó bắt đầu trồi lên và mình bắt đầu nói, bắt đầu làm những điều có thể gây tan vỡ thì chánh niệm có đó, phải không? Mình có khả năng không nói và không làm. Ba má nhiều khi gây lộn nhau cũng vì chuyện nhỏ xíu à. Má nói câu đó, ba phản ứng giống hệt như vậy rồi hai bên làm khổ nhau. Rồi hai ba tháng sau, má nói câu đó, ba phản ứng như vậy và hai bên làm khổ nhau. Không phải là má không biết, ba không biết; má biết rất rõ, hễ nói câu đó và phản ứng như vậy thì gia đình sẽ lục đục. Ba má biết rất rõ và không muốn làm như vậy mà vẫn cứ làm như thường. Và khi ba má làm khổ nhau thì đồng thời mình làm khổ con. Cho nên ba má phải thực tập hơi thở và bước chân.

Xin nhắc lại, mỗi ngày thực tập thiền đi một lần không đủ. Mỗi ngày thực tập một giờ đồng hồ, theo dõi hơi thở một giờ đồng hồ không đủ. Hăm ba giờ đồng hồ còn lại làm gì? Hăm ba giờ đồng hồ còn lại để cho thất niệm kéo mình đi và mình chỉ có chánh niệm một giờ đồng hồ thôi thì đâu có đủ. Cho nên trong một đạo tràng như là đạo tràng Mai Thôn, các thầy các sư cô và các phật tử thực tập hơi thở hăm bốn giờ một ngày, thực tập thiền hành hăm bốn giờ một ngày, nghĩa là mình phải thắt sợi dây an toàn suốt ngày. Ở chùa cũng vậy, ở Mai Thôn cũng vậy, ở Đình Quán cũng vậy, ở Từ Hiếu cũng vậy. Các thầy, các sư cô phải thực tập hăm bốn giờ đồng hồ một ngày mới chuyển hóa được, còn thực tập một giờ thì đâu có thấm thía gì, đó là vấn đề thứ nhất. Vấn đề thứ hai là tất cả mọi người đều phải thực tập chứ không phải chỉ một vài người thực tập. Ví dụ trong một đại chúng một trăm người mà chỉ có hai mươi người thực tập thiền hành, còn tám mươi người kia đi như bị ma đuổi thì hai mươi người này thực tập rất là khó. Tất cả mọi người đều thực tập đi thiền trong chánh niệm, người này nhắc người kia, thì chỉ trong vòng một tháng, hai tháng là không khí của đạo tràng đã thay đổi liền. Người nào cũng đi trong chánh niệm, không chỉ trong giờ thiền hành mà đi chánh niệm trong tất cả mọi trường hợp. Hễ mình di chuyển từ cư xá của mình tới nhà bếp là mình áp dụng phương pháp thiền đi hay từ phòng ở đi tới phòng rửa mặt, mình cũng áp dụng phương pháp thiền đi. Mỗi bước chân phải đi vào trong Tịnh độ, mỗi bước chân không thể nào bước ra khỏi Tịnh độ, phải quyết tâm như vậy thì mới có thể chuyển hóa được. Không phải chỉ một số người trong chúng quyết tâm như vậy là đủ, tất cả mọi người trong chúng đều phải làm như vậy thì mới tạo ra được năng lượng lớn bảo hộ cho cả chúng. Mình tu mà tu khơi khơi thì nó chỉ có hình thức và không đạt tới sự chuyển hóa và sự an toàn. Mình phải làm cho hết lòng, mình phát nguyện hễ mỗi khi bước một bước chân thì bước trong chánh niệm. Mỗi khi thở một hơi thở thì con nguyện rằng hơi thở đó nằm trong chánh niệm.

 

 Nguồn hình ảnh: Rob Walsh

Lời nguyện cầu cho tất cả những ai đang khổ đau vì chiến tranh và xung đột

 

 

Giờ phút này chúng con tập hợp tại đây như một gia đình tâm linh để cùng nhau chế tác và gửi năng lượng tâm linh và từ bi đến người dân Palestine, Do Thái và tất cả những ai đang bị kẹt trong hoàn cảnh chiến tranh và xung đột tại Trung Đông.

Chúng con cũng cầu nguyện cho người dân các nước Ukraina, Nga, Sudan và tất cả những ai đang đau khổ vì nạn chiến tranh. Hiện đang có hơn 100 cuộc xung đột vũ trang xảy ra trên thế giới, trong đó có những cuộc xung đột kéo dài hơn nửa thế kỷ.

Nguyện cho tất cả mọi người đều được an toàn. Mong cho ai cũng tìm được bình an trong chính tự thân dù hàng ngày phải sống trong sự hiểm nguy và gian khổ. Nguyện cho các nhà lãnh đạo thế giới của chúng ta thức tỉnh nhờ năng lượng của từ bi để cùng nhau tìm cách chấm dứt sự giết chóc và đau khổ vô biên do chiến tranh gây ra.

Mong sao chúng ta cùng nhau vun bồi sự cởi mở, tâm không phân biệt, không cố chấp vào quan điểm của mình để có thể chuyển hóa bạo động, cuồng tín, và giáo điều, là những gốc rễ của chiến tranh và xung đột.

Lạy đức Bồ tát Quan Thế Âm, trong giờ phút này, chúng con xin niệm danh hiệu của ngài. Chúng con nguyện học theo hạnh Bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Chúng con nguyện ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của thế giới rồi.

Thực tập: Làm lắng dịu cảm xúc và vận động thân thể

— Chân Pháp Ấn —

Thông thường khi chúng ta ngồi thiền để quán chiếu, tìm ra gốc rễ của những nỗi buồn phiền và vướng mắc trong ta thì trong vòng một hoặc hai phút, những hình ảnh sâu đậm từ thời thơ ấu sẽ đi lên. Điều quan trọng là chúng ta ý thức về cơ thể của mình trong những lúc ấy. Có thể cơ thể chúng ta bắt đầu run lên và chúng ta bật khóc – Chúng ta có thể khóc trong vòng vài phút hoặc thậm chí lâu hơn. Cảm xúc của ta cũng theo đó mà vơi nhẹ đi. Làm vơi nhẹ cảm xúc có công năng trị liệu rất lớn. Sau một hồi, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn và chúng ta thường đạt được những cái thấy (tuệ giác) quan trọng. Dần dần, chúng ta sẽ có nhiều tự do hơn.

Quá trình làm vơi nỗi khổ đau này rất hay. Khóc và buông bỏ mang lại rất nhiều sự trị liệu. Đó là điều mà chúng ta ai cũng mong đợi. Lần đầu tiên những hình ảnh thời thơ ấu đi lên, có thể ở mức độ thứ 10 trên thang đo từ 1 đến 10, với 10 là nấc thang mạnh nhất, lần kế đến có thể là 8, rồi kế nữa có thể là 6, 5, 4, 3, 2, 1. Và với nguồn năng lượng được phóng thích ra ngoài, chúng ta có khả năng nhìn sâu và đạt được sự hiểu biết, chính lúc này tình thương yêu đích thực được phát sinh. Chúng ta sẽ không còn tức giận nữa, chúng ta có thể hiểu và thực sự thương được người đã làm ta tổn thương.

Điều quan trọng là chúng ta không để mình kẹt vào quá trình này, quá trình buông bỏ và làm lắng dịu khổ đau, cũng không kẹt vào nỗi khổ đau đang đi lên. Chúng ta chỉ quan sát xem chúng đi lên như thế nào. Quá trình này phải được diễn ra một cách tự nhiên. Sự trị liệu đích thực sẽ xảy ra cùng với sự hiểu biết đích thực. Những nguồn năng lượng khổ đau, căng thẳng, nặng nề này có thể ăn sâu vào cơ thể ta, vào trong những cơ quan nội tạng của ta như thận, gan hoặc tim. Sau khi nguồn năng lượng này được phóng thích, cơ thể và các cơ quan nội tạng của ta sẽ bị mất thăng bằng, dễ bị tổn thương, do đó điều quan trọng là ta phải chăm sóc chúng và chuyển nguồn năng lượng này ra bên ngoài bằng một loại hình thể dục thể thao đều đặn nào đó, như thái cực quyền, khí công,… để giúp cơ thể được trị liệu.

Thực tập: Làm mới

Chúng ta có thể thực tập làm mới trong gia đình, trong tăng thân, với người mà ta đang truyền thông khó khăn. Chúng ta cũng có thể làm mới với chính mình. Ở Làng Mai, chúng tôi thực tập làm mới mỗi tuần. Mọi người ngồi lại với nhau thành một vòng tròn, ở giữa có một bình hoa tươi. Chúng ta theo dõi hơi thở trong khi chờ vị chủ tọa bắt đầu. Làm mới có ba bước: thứ nhất là tưới hoa, thứ hai là bày tỏ sự hối tiếc, thứ ba là nói lên những niềm đau và khó khăn của mình. Sự thực tập này giúp ngăn chặn tình trạng khổ đau chồng chất từ tuần này sang tuần khác và tạo ra một nguồn không khí hòa hợp, an toàn cho mọi người trong tăng thân.

Chúng ta luôn bắt đầu bằng phương pháp tưới hoa. Khi có ai đó đã sẵn sàng làm mới, người ấy chắp tay lên, những người khác cũng chắp tay đáp lại tỏ ý là đã sẵn sàng lắng nghe và người ấy có thể chia sẻ. Sau đó người ấy đứng dậy, từ từ đi đến bình hoa, nâng bình hoa lên và trở về chỗ ngồi của mình. Khi nói, những lời nói của người ấy chứa đựng sự tươi mát, đẹp đẽ của những bông hoa trước mặt người ấy. Trong suốt thời gian tưới hoa, người ấy công nhận những phẩm chất hiền thiện, quý giá của những người khác. Đây không phải là một sự tâng bốc hay dua nịnh mà đó là một sự thật. Mỗi người ai cũng có những điểm tốt, điểm mạnh, chỉ cần ý thức là ta có thể thấy được những điều đó. Không ai được cắt ngang lời người đang chia sẻ (người đang giữ bình hoa). Mọi người phải thực tập lắng nghe sâu và cho phép người ấy có đủ thời gian để nói ra những gì người ấy cần nói. Khi nói xong, người ấy đứng dậy, từ từ mang bình hoa trả lại giữa vòng tròn.

Chúng ta không nên xem thường bước tưới hoa đầu tiên này. Khi thật sự công nhận những phẩm chất tốt đẹp của người khác thì chúng ta dễ dàng buông bỏ những trách móc, giận hờn trong ta. Tự nhiên ta sẽ mềm ra, cái nhìn của ta cũng trở nên thoáng rộng và bao dung hơn. Ta có khả năng ôm ấp, chấp nhận được tất cả những gì đang xảy ra. Khi không còn bị kẹt vào những tri giác sai lầm, bực dọc và phán xét, chúng ta có thể dễ dàng tìm ra phương cách hòa giải với những người khác trong tăng thân hoặc trong gia đình. Điểm chính yếu của sự thực tập này là khôi phục lại tình thương và sự hiểu biết của mọi người trong tăng thân.

Bước thứ hai của phần làm mới là xin lỗi người mà ta đã làm tổn thương. Đôi khi chỉ cần một câu nói thiếu cẩn trọng, thiếu chánh niệm là ta đã làm cho người khác bị tổn thương rồi. Buổi làm mới là một cơ hội giúp ta nhớ lại những lỗi lầm của mình trong tuần để chuyển hóa và làm mới trở lại.

Bước thứ ba, chúng ta dùng lời ái ngữ để nói cho người kia biết là người kia đã làm ta tổn thương. Chúng ta nói ra sự thật mà không làm tổn hại nhau vì chúng ta muốn trị liệu cho tăng thân chứ không phải muốn phá hoại tăng thân. Lắng nghe sâu là một phần quan trọng của sự thực tập này. Khi ngồi trong vòng tròn mà tất cả mọi người đều đang thực tập lắng nghe sâu thì những lời nói của ta sẽ trở nên dễ thương hơn, có tính chất xây dựng hơn. Chúng ta không tranh cãi hay đổ lỗi.

Trong buổi làm mới, phần thực tập lắng nghe sâu bằng tâm từ bi rất quan trọng. Chúng ta lắng nghe những khó khăn và niềm đau của người khác với tinh thần tự nguyện để làm vơi bớt nỗi khổ đau của họ mà không phải để phê phán hay tranh cãi. Chúng ta lắng nghe với tất cả sự chú tâm của mình. Cho dù người kia có nói điều gì không đúng sự thật, chúng ta cũng vẫn tiếp tục lắng nghe để người kia có thể nói hết những niềm đau nỗi khổ trong lòng, giúp họ vơi bớt những căng thẳng. Nếu chúng ta trả lời lại hoặc chỉnh sửa họ thì sự thực tập sẽ không mang lại kết quả tốt đẹp. Chúng ta chỉ lắng nghe thôi. Nếu cần cho người kia biết những tri giác của họ không đúng thì chúng ta có thể đợi vài ngày sau và nói một cách kín đáo, trầm tĩnh. Rồi những buổi làm mới kế tiếp, có thể chính người kia tự sửa đổi những sai lầm ấy mà chúng ta không cần phải nói gì cả. Chúng ta có thể kết thúc buổi làm mới bằng một bài hát, hay nắm tay nhau và cùng thở với nhau trong vài phút.

Thực tập: Mẩu giấy nhắn tin

Khi có một ai đó làm chúng ta buồn khổ hoặc tức giận, chúng ta cần phải cho người đó biết trong vòng 24 giờ đồng hồ. Nếu vì quá buồn tủi, khổ đau mà chúng ta không có khả năng nói với người ấy bằng ngôn ngữ yêu thương thì chúng ta có thể viết một mẩu nhắn tin đưa cho người ấy trước khi 24 giờ trôi qua.

“Mẩu giấy nhắn tin” như sau:

Ngày:

Giờ:

Anh (chị,………) thương mến

Sáng nay (chiều nay) anh đã nói những điều làm cho em rất giận và em rất khổ đau. Em muốn anh biết điều này. Anh đã nói: ‘… ’

Xin anh hãy cùng em nhìn lại những gì anh đã nói và chúng ta cùng ngồi lại với nhau một cách cởi mở, bình tĩnh để hiểu rõ hơn vấn đề này vào tối thứ sáu.

Em của anh,……………

Ngay bây giờ không hạnh phúc lắm.

Thực tập: Năm cái lạy

Thiền lạy giúp chúng ta trở về với Đất Mẹ, trở về với gốc rễ tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng ta để nhận ra rằng chúng ta không bao giờ đơn độc một mình, trái lại chúng ta được kết nối với tổ tiên tâm linh, huyết thống và đất đai của chúng ta. Chúng ta tiếp xúc với Đất Mẹ để buông bỏ ý niệm ta là một cái ngã riêng biệt và nhắc nhở ta nhớ rằng chúng ta cũng là Đất Mẹ, một phần của sự sống.

Khi lạy xuống, chúng ta hít vào tất cả sức mạnh, sự vững chãi của Đất Mẹ, của tổ tiên huyết thống, tâm linh và tổ tiên đất đai. Và chúng ta thở ra những nỗi khổ niềm đau của chúng ta, những tâm hành giận dữ, hận thù, sợ hãi, thiếu thốn và sầu muộn.

Lạy thứ nhất

Trở về kính lạy, liệt vị tiền nhân, dòng họ tổ tiên, gia đình huyết thống, hai bên nội ngoại.

Con thấy cha mẹ mà xương thịt và sự sống đang có mặt và lưu nhuận trong từng tế bào và mạch máu của con. Qua cha con và mẹ con, con thấy ông bà, bên nội cũng như bên ngoại, đã và đang đi vào con với tất cả mọi năng lượng, mọi trông chờ, mọi ước mơ, cũng như tất cả trí tuệ và kinh nghiệm của tổ tiên trải qua bao nhiêu thế hệ. Con mang trong con sự sống, dòng máu, kinh nghiệm, tuệ giác, hạnh phúc và khổ đau của các thế hệ tổ tiên. Những yếu kém, những tồn tại và những khổ đau truyền lại, con đang tu tập để chuyển hóa. Những năng lượng của trí tuệ, của kinh nghiệm và của thương yêu mà liệt vị truyền đạt lại, con đang mở rộng trái tim con và xương thịt con để mà tiếp nhận. Con có gốc rễ nơi cha, nơi mẹ, nơi ông bà, tổ tiên. Con chỉ là sự nối tiếp của tổ tiên và dòng họ. Xin cha mẹ, ông bà và tổ tiên hỗ trợ cho con, che chở cho con, truyền thêm năng lượng cho con. Con biết rằng con cháu ở đâu thì tổ tiên ở đó; con biết cha mẹ nào, ông bà nào cũng thương yêu, đùm bọc và hộ trì cho con cho cháu, dù khi sinh tiền có lúc gặp phải khó khăn hay rủi ro mà không bộc lộ được niềm thương yêu và sự đùm bọc đó. Con thấy cha ông của con, từ Lạc Long Quân qua các vua Hùng và biết bao nhiêu thế hệ những người khai sáng đất nước, mở rộng cõi bờ, gìn giữ núi sông và un đúc nên nếp sống Việt Nam có thủy, có chung, có nhân, có hậu. Con là sự tiếp nối của liệt vị. Con cúi rạp mình xuống để đón nhận năng lượng của dòng họ và tổ tiên của gia đình huyết thống con. Xin tổ tiên phù hộ độ trì cho con.

Lạy thứ hai

Trở về kính lạy, Bụt và tổ sư, gia đình tâm linh qua nhiều thế hệ.

Con thấy thầy con, con thấy sư ông của con, người đã dạy cho con biết hiểu, biết thương, biết thở, biết cười, biết tha thứ, biết sống trong giây phút hiện tại. Con thấy, qua thầy của con, qua sư ông của con, con tiếp xúc được với các thế hệ thánh tăng qua các thời đại: các vị tổ sư Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Vạn Hạnh, Đại Đăng, Tuệ Trung, Trúc Lâm, Pháp Loa, Huyền Quang, Nguyên Thiều, Liễu Quán; con tiếp xúc được với các vị Bồ tát và với Bụt Thích Ca Mâu Ni, người đã khai sáng gia đình tâm linh của con, đã có từ 2600 năm nay. Con biết Bụt là thầy con mà cũng là tổ tiên tâm linh của con. Con thấy trong con có chất liệu nuôi dưỡng của Bụt, của tổ, của các thế hệ cao tăng và năng lượng của liệt vị đã và đang đi vào trong con, đã và đang làm ra sự bình yên, an lạc, hiểu biết và thương yêu trong con. Con biết Bụt đã giáo hóa cho gia đình huyết thống của con, đã làm đẹp, làm lành nếp sống đất nước của con và của dân tộc con. Bụt đã làm cho dân tộc con trở nên một dân tộc thuần từ và văn minh, điều này con thấy rõ trong nền văn minh Lý Trần. Con biết nếu không có Bụt, có tổ, có thầy thì con không biết tu tỉnh và thực tập an lạc cho con và cho gia đình con. Con mở rộng trái tim và xương thịt con để tiếp nhận kinh nghiệm, tuệ giác, tình thương, sự che chở và năng lượng từ bi của Bụt và của các thế hệ thánh tăng, gia đình tâm linh của con. Con là sự tiếp nối của Bụt và của các thế hệ tổ tiên tâm linh của con. Xin Bụt và chư tổ, xin sư ông và thầy truyền cho con nguồn năng lượng thương yêu, an lạc và sự vững chãi của liệt vị. Con nguyện tu tập để chuyển hóa và để truyền về cho thế hệ tương lai năng lượng của Bụt, của tổ và của thầy.

Lạy thứ ba

Trở về kính lạy, liệt vị tiền nhân, khai sáng đất này, sông núi khí thiêng, hằng ngày che chở.

Con thấy con đang đứng trên đất nước này và tiếp nhận công ơn tạo lập của tiền nhân đất nước này, trước hết là các vua Hùng, rồi các vị khai sáng các triều Tiền Lê, Tiền Lý, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn cùng với các thế hệ tổ tiên và biết bao nhiêu người có tên tuổi và không có tên tuổi đã đem tài trí, sự kiên nhẫn và sức chịu đựng để làm cho đất nước này trở thành nơi nương náu của mấy mươi dân tộc; đã lập nên trường học, nhà thương, xây dựng cầu cống, đường sá, chợ búa, đã thiết lập nên xã hội có luật pháp, có khoa học làm cho mức sống được nâng cao. Con tiếp xúc được với những thế hệ tổ tiên ngày xưa đã sinh sống trên đất nước này và đã biết sống an lành với mọi loài và với thiên nhiên. Con sống ở đây, học hòa hợp với thiên nhiên, với con người, và con cảm thấy năng lượng của đất nước này đi vào trong con, yểm trợ con, chấp nhận con. Con xin nguyện tiếp tục giữ gìn và làm tiếp nối những dòng năng lượng ấy. Con xin nguyện góp phần chuyển hóa những bạo động thù hằn và vô minh còn tồn tại trong xã hội này. Xin phù hộ độ trì cho chúng con.

Lạy thứ tư

Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì cho người con thương.

Những nguồn năng lượng vô biên mà con vừa tiếp nhận được, con xin truyền gửi cho cha con, cho mẹ con, cho những người con thương yêu: những người đã từng khổ đau, đã từng lo lắng, đã từng buồn khổ vì con, vì những vụng về và dại dột của con trong quá khứ, và cũng đã từng lo lắng buồn khổ vì hoàn cảnh khó khăn và không may của các vị. Con xin truyền gửi nguồn năng lượng ấy để nguyện cầu và tiếp sức cho cha con, cho mẹ con, cho anh chị em của con, cho tâm hồn họ lắng dịu lại, cho khổ đau trong lòng (những) người ấy được chuyển hóa, cho (những) người ấy nở được nụ cười, cho (những) người ấy cảm nhận được niềm vui sống, cho (những) người ấy được nhẹ nhàng trong thân thể và an lạc trong tâm hồn. Con hết lòng cầu mong cho (những) người ấy có hạnh phúc và an lạc. Con biết nếu (những) người ấy có an lạc thì con cũng có an lạc. Con cảm thấy trong lòng con không có oán hận trách móc (những) người ấy một mảy may nào. Con lạy tổ tiên, ông bà trong gia đình huyết thống và trong gia đình tâm linh của con phù hộ độ trì cho người con thương, cho những người mà con đã nguyện thương yêu và chăm sóc. Con thấy con không còn là một cái ta riêng biệt mà con đã trở thành một với những người con thương.

Lạy thứ năm

Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì người làm khổ con.

Con mở rộng lòng ra để truyền đi năng lượng hiểu biết và lòng xót thương của con tới những người đã làm con khổ đau và điêu đứng. Con biết người ấy cũng đã đi qua nhiều khổ đau, đã chứa chấp quá nhiều cay đắng và bực bội trong trái tim nên đã làm vung vãi những khổ đau và bực bội của người ấy lên con. Con biết những người ấy không được may mắn, có thể là từ hồi còn bé thơ đã thiếu sự chăm sóc và thương yêu, đã bị cuộc đời dằn vặt và ngược đãi bao nhiêu lần. Con biết những người như người ấy chưa được may mắn được học, được tu, đã chứa chấp những tri giác sai lầm về cuộc đời và về con, nên đã làm khổ con và làm khổ những người con thương. Con xin gia đình huyết thống và gia đình tâm linh của con truyền năng lượng cho (những) người ấy, để trái tim của họ được tiếp nhận giọt nước cam lộ mà nở ra được như một bông hoa. Con chỉ cầu mong cho người ấy được chuyển hóa để người ấy tìm ra được niềm vui sống, để không còn giữ tâm thù hận mà tự làm khổ mình và làm khổ người. Con biết vì những người ấy khổ mà không tự chủ được nên đã làm khổ con và làm khổ những người con thương. Con cũng cầu mong cho tất cả những ai đã làm cho gia đình con khổ, dân tộc con điêu đứng, kể cả những kẻ xâm lăng, cướp nước, những người hải tặc, những kẻ ích kỷ, dối trá và tàn bạo được nhờ ơn Bụt, ơn tổ, ơn tiền nhân mà cải hóa. Con thấy họ khổ và nỗi khổ ấy đang kéo dài qua nhiều thế hệ và con không muốn giữ tâm niệm sân hận, oán thù. Con không muốn cho họ khổ. Con có gốc rễ nơi tổ tiên, nơi giòng họ huyết thống và giòng họ tâm linh; trái tim con đã nở ra như một đóa hoa, con xin buông bỏ tất cả mọi hiềm hận, một lòng cầu nguyện cho kẻ đã làm khổ con, làm khổ gia đình và dân tộc con được thoát khỏi vòng tai nạn và đớn đau, để họ có thể thấy được ánh sáng của niềm vui sống và an lạc như con. Tâm con không còn mang một mảy may trách móc và oán thù. Con xin truyền đạt năng lượng của con cho tất cả những người ấy. Lạy Bụt, lạy tổ, lạy ông bà chứng minh cho con.

Thực tập: Viết thư

— Glen Schneider —

Đây là sự thực tập kết hợp của cả hai loại thực tập: viết thư cho em bé và lắng nghe em bé trong mình muốn nói gì. Khi thực tập bài tập này, chúng ta nên hỏi: “Em cảm thấy như thế nào?” mà không phải ôn lại chi tiết về những gì đã xảy ra khi mình còn là một đứa trẻ. Và chúng ta cũng nên hỏi em: “Bây giờ trưởng thành rồi em muốn điều gì?”.

Kế đó chúng ta viết một bức thư mà ta nghĩ là em bé trong ta muốn viết. Đó có thể là một danh sách dài thậm thượt khiến ta thực sự bận rộn. Một vài thứ mà em bé trong tôi muốn có là một con thú nhồi bông để ngủ với nó, một cây kem đá có hương vị cam, một bữa ăn tối có gà nướng, được gặp lại người anh họ mình yêu quý mà đã hơn ba mươi năm rồi không gặp. Chỉ cần đặt bút xuống và ghi xuống bất cứ ý nào hiện ra trong ta. Đừng bận tâm về câu cú văn chương, chỉ cần viết ra thôi. Điểm mấu chốt ở đây là thiết lập sự truyền thông. Tôi đã viết hầu như tất cả những thứ mà em bé trong tôi yêu cầu, và từ khi làm được điều này tôi cảm thấy an ổn và hạnh phúc hơn. Cách thực tập này thực sự rất sâu sắc.

Thực tập: Mười sáu phép quán niệm hơi thở

Quán niệm hơi thở là phương pháp thực tập do chính đức Bụt trực tiếp giảng dạy. Mười sáu phép quán niệm hơi thở là những phương pháp thực tập chăm sóc thân thể, cảm thọ, tâm thức (những tâm hành), và đối tượng của tâm thức (những tri giác).

Những lời Bụt dạy về 16 phép quán niệm hơi thở rất hữu dụng cho sự thực tập hằng ngày của chúng ta, giúp ta xử lý nỗi khổ niềm đau một cách hiệu quả. Bất cứ khi nào ta khổ đau mà không biết cách xử lý, không biết phải làm gì thì ta áp dụng 16 phép quán niệm hơi thở.

Bốn hơi thở đầu: Quán chiếu về thân thể

Hơi thở đầu tiên là nhận diện hơi thở vào là hơi thở vào, hơi thở ra là hơi thở ra.

“Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào.
Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra.”

Sự thực tập hết sức đơn giản nhưng mang lại hiệu quả rất lớn. Khi ta chú tâm vào hơi thở vào và nhận diện nó, ta sẽ buông bỏ được quá khứ và tương lai một cách tự nhiên. Ta sẽ quay về được với giây phút hiện tại. Ta bắt đầu chế tác ra năng lượng của niệm, định và đạt được tự do ở một mức độ nào đó.

Hơi thở thứ hai là theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra từ đầu cho đến cuối.

“Thở vào, tôi theo dõi hơi thở vào của tôi từ đầu cho đến cuối.
Thở ra, tôi theo dõi hơi thở ra của tôi từ đầu cho đến cuối.”

Chúng ta duy trì niệm và định của mình trong suốt thời gian thở vào và thở ra. Chúng ta không nói: “Thở vào – ôi chết, tôi quên đóng cửa…” Không có một thứ gì xen vào làm gián đoạn trong khi ta theo dõi hơi thở vào ra, như thế chúng ta sẽ phát triển được nguồn định lực. Đây gọi là theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra.

Trong một vài văn bản khác gọi là nhận diện chiều dài của hơi thở.

“Thở vào một hơi ngắn, tôi biết tôi đang thở vào một hơi ngắn.
Thở ra một hơi ngắn, tôi biết tôi đang thở ra một hơi ngắn.
Thở vào một hơi dài, tôi biết tôi đang thở vào một hơi dài.
Thở ra một hơi dài, tôi biết tôi đang thở ra một hơi dài.”

Chúng ta không cố ép hơi thở phải dài hơn hoặc ngắn hơn. Chúng ta thở một cách tự nhiên. Ý thức về hơi thở, hơi thở của ta tự động sẽ trở nên sâu hơn, đều đặn hơn, nhẹ nhàng và bình an hơn. Nhờ sự chú tâm mà phẩm chất của hơi thở được nâng cao.

Hơi thở thứ ba là đưa tâm trở về với thân.

“Thở vào, tôi ý thức về toàn thân tôi.
Thở ra, tôi ý thức về toàn thân tôi.”

Trong đời sống hằng ngày, thường thì thân chúng ta ở đây nhưng tâm chúng ta lại đang rong ruổi ở một nơi nào khác. Tâm của chúng ta có thể bị kẹt vào quá khứ, tương lai, hay những dự án, lo lắng, buồn phiền, giận dữ. Ta đang ở đây nhưng thật sự ta không có mặt ở đây. Ta không có mặt cho bản thân cũng như không có mặt cho những người khác. Cho nên sự thực tập của ta là trở về với hơi thở.

Hơi thở là chiếc cầu kết nối thân và tâm. Chúng ta chỉ cần chú ý đến hơi thở, tâm ta sẽ trở về với thân một cách tự nhiên. Ta gọi là “thân tâm hợp nhất”. Hơi thở của chúng ta sẽ trở nên lắng dịu hơn, và thân tâm của chúng ta sẽ được hưởng nhiều lợi lạc từ đó. Đây là sự thực tập chế tác an lạc. Chúng ta thiết lập thân tâm trong cái bây giờ ở đây, thật sự có mặt để sống với giây phút hiện tại, ý thức là mình đang còn sống và đang tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Chỉ cần thực tập đơn giản như vậy thôi là chúng ta đã thấy được phép lạ rồi, đó là khả năng sống sâu sắc trong mỗi khoảnh khắc của đời sống hằng ngày.

Chúng ta trở về với thân thể, ý thức là ta đang có một thân thể và chăm sóc nó. Có thể chúng ta đã bỏ bê hay đối xử tệ bạc với thân thể ta. Bây giờ chúng ta ôm ấp thân thể bằng năng lượng chánh niệm và ý thức về tất cả những gì mà thân thể ta cần được quan tâm. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng cách chúng ta sống đã tạo ra những căng thẳng, đau nhức, mệt mỏi tích tụ trong thân thể ta một thời gian khá dài.

Hơi thở thứ tư là làm lắng dịu những căng thẳng nơi thân thể

“Thở vào, tôi làm cho toàn thân an tịnh.
Thở ra, tôi làm cho toàn thân an tịnh.”

Chúng ta có thể để cho những căng thẳng trong thân thể ta được lắng dịu khi ngồi thiền, đi thiền, hay khi nằm nghỉ.“Thở vào, tôi ý thức về toàn thân tôi; Thở ra, tôi làm cho toàn thân an tịnh”. Chúng ta có thể học hỏi những phương pháp buông thư và có thể thực tập thành công ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên sự thực tập căn bản để thực sự buông thư căng thẳng là buông bỏ quá khứ và tương lai để trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại và ý thức là ta đang còn sống, chúng ta đã có đủ những điều kiện hạnh phúc rồi. Chúng ta phải quán chiếu và thực tập cho được điều này.

Chúng ta phải nắm thật vững và thực tập thành thục bốn hơi thở đầu, vì đây là điều tối thiểu chúng ta cần phải làm. Chánh niệm về hơi thở là trở về với tự thân và chế tác năng lượng của sự có mặt đích thực của chúng ta, với năng lượng này chúng ta ôm ấp thân thể, làm cho thân thể được thư giãn và an tịnh. Buông thư thân thể cũng có khả năng làm cho tâm ý được buông thư. Nếu chúng ta không thành công trong việc buông thư thân thể thì khó để thành công trong việc buông thư tâm ý.

Bốn hơi thở tiếp theo: quán chiếu về cảm thọ

Với bốn hơi thở kế tiếp này chúng ta đi sang lĩnh vực cảm thọ. Một khi chúng ta đã thành công trong việc làm lắng dịu và buông thư thân thể, chúng ta có thể quay sang lĩnh vực cảm thọ.

Hơi thở thứ năm là chế tác niềm vui (hỷ)

“Thở vào, tôi cảm thấy mừng vui.
Thở ra, tôi cảm thấy mừng vui.”

Là một hành giả, chúng ta phải có khả năng đem niềm vui đến cho tự thân ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Càng có chánh niệm và chánh định, chúng ta càng có hạnh phúc an vui.

Sự thực tập đầu tiên để mang đến niềm vui là buông bỏ (ly sinh hỷ lạc). Để có được niềm vui, chúng ta phải có khả năng buông bỏ. Chúng ta thường nghĩ rằng niềm vui là cái ở bên ngoài ta, ta phải chạy theo để đạt cho được. Nhưng nếu ta biết cách nhận diện những khó khăn, chướng ngại đang có mặt trong ta và buông bỏ chúng thì niềm vui sẽ đến với chúng ta một cách rất tự nhiên.

Hơi thở thứ sáu là chế tác hạnh phúc, an lạc.

“Thở vào, tôi cảm thấy an lạc.
Thở ra, tôi cảm thấy an lạc.”

Thực tập những bài tập này có thể mang đến cho chúng ta hạnh phúc, an lạc. Thực tập chánh niệm và làm lắng dịu những căng thẳng là suối nguồn của hạnh phúc. Chánh niệm giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà ta đang có sẵn. Vì vậy mang lại niềm an vui và hạnh phúc là điều rất dễ dàng. Chúng ta có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi.

Trong truyền thống nhà thiền, thiền tập được xem như là một loại thức ăn, ‘thiền duyệt vi thực’, nghĩa là niềm an vui hạnh phúc của thiền tập là thức ăn hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể được nuôi dưỡng và trị liệu bằng thiền tập.

Hơi thở thứ bảy là xử lý khổ đau và những cảm xúc đang có mặt trong ta.

“Thở vào, tôi ý thức về những hoạt động tâm ý trong tôi.
Thở ra, tôi ý thức về những hoạt động tâm ý trong tôi.”

Bài tập này giúp chúng ta học cách xử lý năng lượng đau khổ, buồn rầu, sợ hãi, tức giận trong ta. Chúng ta thực tập hơi thở chánh niệm, đi thiền hành để chế tác năng lượng niệm và định. Với năng lượng niệm định này, chúng ta có thể nhận diện và ôm ấp những cảm thọ khổ đau đang có mặt trong ta. Chúng ta không nên khỏa lấp nỗi khổ niềm đau của mình, trái lại ta phải chăm sóc nó. Chạy trốn hay đè nén khổ đau là chúng ta đang đối xử bạo động với bản thân mình. Chánh niệm cũng là mình mà khổ đau cũng chính là mình. Chúng ta không nên đánh nhau với chính mình. Đây là tuệ giác bất nhị.

Khi chúng ta tránh né, không chịu trở về với bản thân mình là chúng ta đang cho phép những nỗi khổ đau trong ta lớn lên. Phương pháp mà Bụt đề nghị là trở về chăm sóc. Chúng ta cần một ít niệm định. Chúng ta phải có khả năng chế tác niệm định để chúng ta đủ vững chãi mà không bị ngụp lặn trong những nỗi khổ niềm đau của mình, và với năng lượng niệm định chúng ta có thể tự tin trở về với bản thân và nhận diện những cảm thọ khổ đau ấy. “Thở vào, tôi nhận diện những cảm thọ khổ đau đang có trong tôi. Thở ra, tôi ôm ấp những cảm thọ khổ đau trong tôi”. Đây là sự thực tập đích thực. Là một hành giả, ta phải có khả năng nhận diện nỗi khổ đau của mình và ôm ấp nó một cách nhẹ nhàng như một bà mẹ đang ôm ấp đứa con của mình. Thỉnh thoảng trong khi thực tập ta gặp một vài khó khăn nào đó, đặc biệt là lúc mới bắt đầu. Tuy nhiên, năng lượng tập thể của tăng thân sẽ giúp chúng ta đi qua những khó khăn đó.

Hơi thở thứ tám là buông bỏ căng thẳng và làm lắng dịu cảm xúc.

“Thở vào, tôi làm cho những hoạt động tâm ý trong tôi được an tịnh.
Thở ra, tôi làm cho những hoạt động tâm ý trong tôi được an tịnh.”

Với hơi thở thứ bảy và thứ tám, chúng ta sử dụng chánh niệm để ôm ấp và làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trong ta. Bài tập này cũng tương tự như thực tập về lĩnh vực thân thể. Chúng ta trở về với những cảm thọ, nhận diện và ôm ấp chúng một cách nhẹ nhàng. “Thở vào, tôi ý thức về những cảm thọ khổ đau trong tôi. Thở ra, tôi làm lắng dịu những cảm thọ khổ đau trong tôi”. Với những bước chân thiền hành và hơi thở chánh niệm liên tục, chúng ta có thể ôm ấp và xoa dịu những cảm thọ khổ đau của ta. Sau đó, nhờ thực tập nhìn sâu, chúng ta sẽ khám phá ra được bản chất của những phiền não mà ta đang có, giúp ta đạt được tuệ giác và vượt thoát những phiền não đó. Tuy nhiên, chỉ cần ôm ấp nỗi khổ niềm đau một cách chánh niệm dịu dàng, thì nỗi khổ niềm đau của ta cũng đã vơi nhẹ đi phần nào.

Bốn hơi thở kế tiếp: quán chiếu về tâm thức

Với hơi thở thứ chín, chúng ta đi đến những tâm hành khác. Cảm thọ chỉ là một trong những tâm hành thôi. Hành (saṃskāra) là một thuật ngữ chỉ cho nhiều điều kiện kết hợp lại với nhau để cho một sự vật hay một hiện tượng biểu hiện. Những hiện tượng tồn tại trong tâm ý gọi là tâm hành. Có những tâm hành thiện và cũng có những tâm hành bất thiện.

Hơi thở thứ chín là ý thức về tâm ý và nhận diện tình trạng tâm ý của chúng ta, cũng giống như bài tập hơi thở thứ ba là ý thức về thân thể và hơi thở thứ bảy là ý thức về cảm thọ.

Thở vào, tôi ý thức về tâm ý trong tôi.
Thở ra, tôi ý thức về tâm ý trong tôi.

Chúng ta ý thức hơn về tất cả những tâm hành đang biểu hiện trong ta. “Thở vào, tôi ý thức về những tâm hành đang có trong tôi”. Tâm thức là một dòng sông và mỗi tâm hành là một giọt nước trong dòng sống ấy. Chúng ta ngồi trên bờ sông và quan sát sự đến đi của mỗi tâm hành. Chúng ta không cần phải đánh nhau, không cần phải nắm bắt hay xua đuổi những tâm hành của mình. Chúng ta chỉ cần điềm tĩnh nhận diện chúng, mỉm cười với chúng, bất kể là chúng dễ chịu hay khó chịu. Khi cơn giận xuất hiện trong ta, ta thực tập: “Thở vào, tôi biết tâm hành giận dữ đang có trong tôi”. Khi có tâm hành nghi kỵ trong ta, chúng ta cũng thở vào và nhận diện tâm hành nghi kỵ đang có trong ta. Chúng ta là người thực tập đồng thời cũng là người quan sát. Chúng ta cần niệm và định để nhận diện tất cả các tâm hành. Kế đó, chúng ta có thể nhìn sâu vào bản chất của các tâm hành ấy.

Hơi thở thứ mười là làm cho tâm ý được hoan lạc, hạnh phúc.

“Thở vào, tôi làm cho tâm ý tôi được hoan lạc.
Thở ra, tôi làm cho tâm ý tôi được hoan lạc.”

Chúng ta làm cho tâm ý hoan lạc, hạnh phúc là để cho tâm ý lớn mạnh, vững chãi, can trường và đầy sinh lực. Khi chúng ta giúp cho tâm có nhiều an lạc, nhiều năng lượng thì tâm sẽ cho ta sức mạnh để ôm ấp và nhìn sâu vào những khó khăn của chúng ta. Nếu biết được cách vận hành của tâm thì chúng ta sẽ dễ dàng thực tập hơi thở thứ mười hơn. Thực tập tứ chánh cần cũng giúp ta ý thức về tâm ý và cho phép những hạt giống tiêu cực trong ta có cơ hội nghỉ ngơi.

Sự thực tập đầu tiên của tứ chánh cần là để cho những hạt giống tiêu cực ngủ yên trong tàng thức và không cho chúng cơ hội biểu hiện. Nếu chúng biểu hiện thường xuyên, chúng sẽ lớn mạnh hơn. Sự thực tập thứ hai là khi hạt giống tiêu cực biểu hiện, chúng ta giúp nó trở về tàng thức càng sớm càng tốt. Nếu nó biểu hiện quá lâu, chúng ta sẽ khổ đau, và gốc rễ của hạt giống đó sẽ trở nên mạnh mẽ, kiên cố hơn. Sự thực tập thứ ba là thay thế tâm hành tiêu cực bằng tâm hành tích cực. Chúng ta chuyển sự chú tâm của ta đến một đối tượng khác. Ta gọi đó là “thay chốt”. Khi cái chốt nối hai thanh gỗ đã bị mục nát, người thợ mộc sẽ đóng một cái chốt mới vào cái lỗ nối hai thanh gỗ ấy để đẩy cái chốt cũ ra. Cũng như thế, ta phải tưới tẩm hạt giống tốt thường xuyên. Sự thực tập thứ tư là khi một tâm hành tốt biểu hiện, chúng ta cố gắng duy trì càng lâu càng tốt. Giống như khi có một người bạn thân quý đến thăm làm cho cả nhà vui vẻ thì ta muốn mời người ấy ở lại chơi lâu hơn. Chúng ta cũng có thể giúp người khác thay đổi những tâm hành của họ. Nếu những suy nghĩ tối tăm, giận dữ, sợ hãi biểu hiện nơi người đó, chúng ta có thể thực tập tưới tẩm những hạt giống tốt nơi họ để những hạt giống tốt biểu hiện, thay thế cho những tâm hành tiêu cực kia. Chúng ta gọi sự thực tập này là “tưới tẩm có chọn lọc”. Chúng ta có thể tổ chức đời sống của mình như thế nào để những hạt giống tích cực được chạm đến và được tưới tẩm vài lần trong ngày.

Hơi thở thứ mười một là thu nhiếp tâm ý vào định để đạt được tuệ giác.

“Thở vào, tôi thu nhiếp tâm ý tôi vào định.
Thở ra, tôi thu nhiếp tâm ý tôi vào định.”

Định có sức mạnh đốt cháy phiền não. Giống như cái thấu kính hội tụ khi chiếu ánh sáng mặt trời vào đủ lâu thì nó có thể đốt cháy mảnh giấy. Khi định có khả năng đốt cháy hết mọi phiền não thì trí tuệ phát sinh. Bụt dạy cho chúng ta rất nhiều cách thực tập để chế tác định. Vô thường, vô ngã, tánh không là các loại định mà chúng ta có thể thực tập hằng ngày. Ví dụ như bất cứ điều gì ta tiếp xúc trong ngày, có thể là một người bạn, một bông hoa hay một đám mây, chúng ta có thể thực tập để thấy được tự tính vô thường, vô ngã và tương tức trong ấy.

Hơi thở thứ mười hai là cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do.

“Thở vào, tôi cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do.
Thở ra, tôi cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do.”

Chúng ta cần sức mạnh của định để cắt đứt những khối phiền não như buồn rầu, sợ hãi, giận dữ, phân biệt đang ràng buộc, cột chặt tâm ý ta. Giáo lý vô thường cũng chỉ là một ý niệm, tuy nhiên ta có thể sử dụng nó như một phương tiện để làm phát khởi tuệ giác vô thường. Que diêm có thể tạo ra lửa. Và khi có lửa thì ngọn lửa sẽ đốt cháy que diêm. Cái mà chúng ta cần để đạt được giải thoát tự do là tuệ giác vô thường. Khi đã có tuệ giác rồi thì tuệ giác sẽ đốt cháy ý niệm. Chúng ta thực tập định vô thường là để làm phát khởi tuệ giác vô thường. Trong khi ngồi thiền, đi thiền hay làm những công việc hằng ngày, chúng ta định tâm trên tự tính vô thường. Định (samadhi) có nghĩa là duy trì ý thức liên tục từ giây phút này sang giây phút khác, càng lâu càng tốt. Chỉ có định mới có khả năng mang đến tuệ giác và giúp ta giải thoát tự do.

Giả sử ta sắp sửa cãi nhau với một ai đó. Và nỗi đau khổ đang khởi phát trong ta, tâm ta không được tự do. Định về vô thường sẽ giải phóng cho ta và cho người kia ra khỏi sự tức giận. “Thở vào, trong ba trăm năm nữa, tôi đâu và người thương của tôi đâu?”. Chỉ cần một hơi thở vào là ta đã có thể tiếp xúc được với thực tại vô thường. “Thở vào tôi biết tôi vẫn còn sống và người kia vẫn còn sống”. Khi chúng ta mở mắt ra, điều duy nhất mà chúng ta muốn làm là ôm lấy người kia vào lòng. “Thở vào, bạn vẫn còn sống đây, tôi rất hạnh phúc”. Đó là sự giải thoát nhờ tuệ giác vô thường. Nếu chúng ta ở trong tuệ giác vô thường, chúng ta sẽ ứng xử với người kia đầy trí tuệ. Chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì có thể để người kia hạnh phúc. Chúng ta không đợi ngày mai mới thực hiện, bởi vì ngày mai có thể sẽ quá muộn. Nhiều người đã phải khóc rất nhiều khi người thương của mình qua đời. Đó là do họ đã không hành xử tốt với người thương của họ khi người thương của họ còn sống. Chính mặc cảm tội lỗi ấy làm cho họ đau khổ. Sở dĩ như vậy là bởi vì họ đã không có tuệ giác vô thường. Vô thường là một loại định mà chúng ta có thể thực tập.

Bốn hơi thở cuối cùng: quán chiếu về đối tượng tâm ý (tri giác)

Bây giờ chúng ta bước sang một lĩnh vực khác, đó là đối tượng của tâm ý. Trong đạo Bụt, thế giới và tất cả mọi hiện tượng đều được coi là những đối tượng của tâm ý chứ không phải là những thực tại khách quan nằm ngoài ta. Chúng ta thường bị kẹt vào cái ý niệm rằng có một thế giới khách quan bên ngoài ta và có một cái thức bên trong ta muốn cố gắng hiểu về cái thế giới khách quan bên ngoài đó; chính điều này đã ảnh hưởng đến tri giác của chúng ta. Dưới ánh sáng của tương tức thì chủ thể và đối tượng không thể tồn tại biệt lập. Khi chúng ta nhận thức về một thứ gì đó thì đối tượng nhận thức luôn luôn biểu hiện đồng thời với chủ thể nhận thức. Ý thức luôn có nghĩa là ý thức về một cái gì đó.

Hơi thở thứ mười ba là quán chiếu về tính vô thường.

“Thở vào, tôi quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp.
Thở ra, tôi quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp.”

Chúng ta đã đồng ý rằng mọi vật đều vô thường, nhưng chúng ta vẫn sống và hành xử như thể chúng ta mãi mãi thường hằng, bất biến, không hề thay đổi, vẫn mãi như chúng ta bây giờ. Thực tế là mọi thứ đang thay đổi trong từng giây từng phút. Khi chúng ta ở với một người nào đó, hay ngồi chơi với ai đó, có thể chúng ta đang tiếp xúc với người đó cách đây hai mươi năm. Chúng ta không có khả năng tiếp xúc với người đó ngay trong giây phút hiện tại. Người đó thực chất bây giờ đã có những suy nghĩ khác và cảm xúc khác, không còn như xưa nữa. Chúng ta không thực sự tiếp xúc được với sự thật vô thường. Cho nên chúng ta phải sử dụng ý thức để quán chiếu về vô thường. Định về vô thường sẽ mang đến tuệ giác vô thường, và tuệ giác này sẽ giải phóng cho chúng ta được tự do.

Vô thường chính là một loại định. Đi sâu vào vô thường chúng ta sẽ khám phá ra vô ngã, tánh không và tương tức. Vì thế vô thường đại diện cho tất cả các định. Trong khi thở vào chúng ta duy trì định vô thường, khi thở ra chúng ta cũng duy trì định vô thường cho đến khi chúng ta chọc thủng được màn vô minh và tiếp xúc được với trái tim thực tại. Đối tượng quán sát của chúng ta có thể là một bông hoa, một hòn sỏi, người thương của ta, hay là người ta ghét bỏ, hoặc cũng có thể là những nỗi khổ đau buồn tủi của ta. Tất cả đều có thể là đối tượng để ta quán chiếu, và ta phải tiếp xúc được với tự tính vô thường bên trong mỗi đối tượng đó.

Hơi thở thứ mười bốn là quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.

“Thở vào, tôi quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.
Thở ra, tôi quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.”

Chúng ta đã biết thức thứ bảy, mạt na, luôn luôn đi tìm cầu dục lạc và không thấy được những hiểm nguy của việc tìm cầu dục lạc. Quán chiếu về vô thường sẽ giúp cho thức mạt na chuyển hóa. Chúng ta nhìn sâu vào đối tượng tham muốn để thấy được bản chất đích thực của nó. Đối tượng mà ta đang tham muốn có thể làm hủy hoại thân tâm của chúng ta. Ý thức về những thứ ta đang tham muốn và những thứ ta đang tiêu thụ là một sự thực tập rất quan trọng.

Bụt dạy chúng ta về bốn loại thức ăn mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Đầu tiên là tư niệm thực, là ước muốn lớn lao nhất đời ta, cho ta sinh lực để sống. Chúng ta phải nhìn vào bản chất của những ước muốn ta đang mong cầu để thấy được liệu nó có thực sự tốt cho chúng ta hay không. Mong ước của chúng ta có thể là việc đi tìm kiếm dục lạc, điều này có thể rất nguy hiểm. Mong ước của ta cũng có thể là mong muốn trả thù và trừng phạt. Những ước muốn bất thiện này về bản chất chúng tạo nên rất nhiều tri giác sai lầm. Chúng ta cần phải nhìn sâu để nhận diện được những ước muốn như thế phát xuất từ những nỗi sợ hãi, lo lắng, giận hờn, nghi kỵ,… trong ta.

Tất Đạt Đa cũng được hung đúc bởi một ước muốn, một tâm nguyện. Thái tử nhìn thấy những nỗi đau khổ trong vương quốc và ngài hiểu được rằng sức mạnh chính trị không đủ để giải quyết những nỗi đau khổ đó. Vì vậy thái tử đã đi tìm một con đường khác để chuyển hóa tự thân và giúp cho người khác chuyển hóa. Chúng ta gọi ước muốn đó là tâm giác ngộ hay sơ tâm. Chúng ta nên có những ước muốn mạnh mẽ để duy trì sơ tâm của chúng ta. Chính tâm giác ngộ đem lại cho ta sức mạnh và năng lượng để tiếp tục thực tập.

Loại thức ăn thứ hai là thức thực. Đây là nguồn năng lượng tập thể hay tâm thức tập thể. Những cá nhân trong cùng một nhóm có khuynh hướng tạo ra cùng một loại năng lượng. Khi chúng ta đến với nhau để thực tập niệm, định và từ bi là chúng ta cùng nhau chế tác ra nguồn năng lượng hiền thiện tập thể, có công năng nuôi dưỡng và trị liệu. Cho nên xây dựng tăng thân sẽ mang lại sự trị liệu rất lớn lao cho thế giới.

Nếu ta ở trong một nhóm người đang giận dữ thì năng lượng tiêu cực của họ sẽ đi vào ta. Ban đầu có thể ta không giống như họ. Nhưng nếu ta ở đủ lâu, dần dần năng lượng tập thể của nhóm người đó sẽ đi vào ta, đến một lúc nào đó ta sẽ giống họ dù có khi ta không nhận ra được điều này. Cho nên thấy được mình có đang ở trong một môi trường tốt hay không là điều vô cùng quan trọng. Chúng ta cần một môi trường an toàn có năng lượng tập thể lành mạnh cho chính bản thân và cho con cháu chúng ta.

Loại thức ăn thứ ba là xúc thực, là những gì chúng ta tiêu thụ qua mắt, tai, mũi, thân, ý như âm nhạc, phim ảnh, quảng cáo, các cuộc chuyện trò,… Khi chúng ta đọc một bài báo, xem một bộ phim, hay một chương trình có chứa đựng bạo động và giận dữ thì những bạo động và giận dữ đó sẽ đi vào ta. Vì vậy ta phải chọn lọc những gì ta tiêu thụ và những gì không nên tiêu thụ.

Các nhà tâm lý trị liệu cần phải rất thận trọng. Vì nhà tâm lý trị liệu phải lắng nghe rất nhiều loại đau khổ và giận dữ của người khác. Nên ta cần phải thực tập vững mạnh để duy trì sức khỏe và sự vững chãi của ta, nếu không ta sẽ bệnh hoạn. Ta đang cố gắng giúp đỡ nhưng có thể ta bị những nguồn năng lượng tiêu cực của khách hàng hằng ngày xâm chiếm ta.

Mỗi nhà tâm lý trị liệu đều phải xây dựng một tăng thân. Có tăng thân, ta được bảo hộ, được nuôi dưỡng mỗi khi ta đến với tăng thân. Nếu không, ta sẽ bị kiệt sức và ta không thể tiếp tục giúp đời được.

Bụt đã dành rất nhiều thì giờ cho việc xây dựng tăng thân, và chúng ta cũng nên làm như vậy. Chúng ta có thể tìm những yếu tố chung quanh ta để xây dựng tăng thân, để được bảo hộ, để được nuôi dưỡng và duy trì sự thực tập của mình. Nếu không, sau vài tháng chúng ta sẽ đánh mất sự thực tập. Và xúc thực, những thứ mà chúng ta tiêu thụ qua mắt, tai, mũi, thân, ý sẽ thẩm thấu vào ta. Tiêu thụ có chánh niệm là sự thực tập bảo hộ cho tự thân, cho gia đình và cho xã hội. Đó là con đường trị liệu, ngăn chặn sự tàn phá hành tinh xanh của chúng ta.

Loại thức ăn thứ tư là đoàn thực, là thức ăn chúng ta đưa vào cơ thể bằng đường miệng. Chúng ta chỉ nên ăn những loại thức ăn có tác dụng đem lại an lạc, hòa bình và sức khỏe cho thân tâm. Chúng ta ăn như thế nào để có thể duy trì lòng từ bi trong trái tim mình. Làm được điều này, chúng ta có thể cứu lấy hành tinh xanh của chúng ta và đảm bảo cho con cháu chúng ta một tương lai tươi sáng.

Hơi thở thứ mười lăm: quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.

“Thở vào, tôi quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.
Thở ra, tôi quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.”

Không sinh diệt là tự thân của thực tại, là sự đoạn diệt hết tất cả các ý niệm, là niết bàn (Nirvana). Tự thân của thực tại vượt thoát tất cả mọi ý niệm, bao gồm ý niệm sinh-diệt, có-không. Đây chính là trái tim của thiền tập, nỗ lực sau cùng để đạt đến tự do. Quán chiếu về vô thường, vô ngã, tánh không, không sinh không diệt có thể đưa đến sự giải thoát. Ý niệm về sinh diệt có thể là nguồn gốc của những phiền não, khổ đau, lo lắng và sợ hãi. Chỉ có tuệ giác không sinh không diệt mới giúp ta vượt thoát khỏi lo âu và sợ hãi.

Hơi thở thứ mười sáu: quán chiếu về niết bàn.

“Thở vào, tôi quán chiếu về sự buông bỏ.
Thở ra, tôi quán chiếu về sự buông bỏ.”

Hơi thở này giúp chúng ta buông bỏ tất cả mọi ý niệm để đạt được tự do giải thoát. Buông bỏ sẽ giúp ta tiếp xúc được với bản chất chân thực của thực tại. Tuệ giác thâm sâu này sẽ giúp ta thoát khỏi sự sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng. Từ Niết bàn có nghĩa là dập tắt. Niết bàn không phải là một nơi chốn để chúng ta đi đến, niết bàn cũng không phải là điều mà chúng ta đạt được ở tương lai. Niết bàn là tự thân của thực tại. Niết bàn có mặt ngay bây giờ và ở đây.

Con sóng trên đại dương được hình thành từ nước, nhưng đôi khi nó quên nó là nước. Con sóng thì có bắt đầu, có kết thúc, có lên, có xuống, có thể cao hơn, thấp hơn, mạnh hơn hay yếu hơn những con sóng khác. Nhưng nếu con sóng kia bị kẹt vào những ý niệm về bắt đầu-kết thúc, lên-xuống hay mạnh hơn- yếu hơn những cơn sóng khác thì nó sẽ đau khổ. Nếu nó biết nó đã là nước rồi thì tình trạng sẽ thay đổi ngay tức khắc. Biết mình là nước, con sóng không còn tâm phân biệt bắt đầu-kết thúc, lên-xuống hay mạnh- yếu nữa. Đi lên nó cũng vui mà đi xuống nó cũng vui, là con sóng này nó cũng vui mà con sóng kia nó cũng vui, không phân biệt kỳ thị, không sợ hãi. Nó không cần phải đi tìm nước. Vì nó đã là nước ngay trong giây phút hiện tại rồi.

Tự tánh của chúng ta là không khởi đầu, không kết thúc, không sinh, không diệt. Nếu chúng ta biết cách tiếp xúc với tự tánh của chúng ta, chúng ta sẽ không còn sợ hãi, giận dữ, tuyệt vọng nữa. Tự tánh của chúng ta chính là tự tánh niết bàn. Từ vô thỉ chúng ta đã là niết bàn rồi.

Chúng ta thường nghĩ rằng “chết” là từ cái có thình lình chúng ta trở thành cái không, từ một người đột nhiên ta biến mất không còn là ai cả. Chúng ta nên biết rằng một đám mây không thể nào chết được. Đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, thành dòng sông, thành tách trà hay ly nước ép trái cây ta uống hằng ngày. Đám mây không thể chết được. Tự tánh của đám mây là tự tánh không sinh không diệt. Vì vậy, nếu người thân của chúng ta vừa mới qua đời, chúng ta phải tìm họ trong những hình thái biểu hiện mới. Người đó không thể chết được, người đó tiếp tục trong nhiều hình thái khác nhau. Nhìn bằng con mặt của Bụt, chúng ta có thể nhận ra người đó ở trong ta và chung quanh ta. “Em ơi, tôi biết em vẫn ở đây trong những hình thái mới”. Trước khi sinh ra, chúng ta đã tồn tại trong tử cung của mẹ rồi. Trước đó nữa, chúng ta cũng đã tồn tại một nửa trong cha ta và một nửa trong mẹ ta. Không có một cái gì từ không mà trở thành có. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta luôn có trong hình thức này hay hình thức khác. Bản chất của chúng ta là tự tánh không sinh không diệt. Niết bàn có nghĩa là sự đoạn diệt tất cả mọi ý niệm, bao gồm ý niệm về sinh-diệt, có-không. Hơi thở thứ mười sáu này giúp ta buông bỏ tất cả mọi ý niệm để đạt được tự do giải thoát hoàn toàn.