Thiền sư Thích Nhất Hạnh được trao giải Hòa bình trên Trái đất

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người nổi tiếng trong việc xây dựng nhịp cầu tâm linh giữa Âu và Á, vừa được chọn trao giải “Hòa Bình trên Trái Ðất” (Pacem in Terris) năm 2015, một giải thưởng hàng năm của Thiên Chúa Giáo toàn cầu.

Giải thưởng “Pacem in Terris” do Ðức Giáo Hoàng John XXIII đề xướng từ năm 1963 với mục đích “vinh danh các nhân vật tạo được những thành tựu về Hòa Bình và Công Lý, không chỉ riêng cho đất nước của họ mà cho toàn thế giới”. Đã có sáu trong 42 người đạt giải thưởng Pacem in Terris nhận được giải Nobel Hòa Bình như Mục sư Martin Luther King, Mẹ Teresa, Tổng Giám mục Desmond Tutu, Mairead Corrigan Maguire, Adolfo Pérez Esquivel, và Lech Wałęsa.)

Theo đúng truyền thống, người được vinh danh sẽ đến Davenport, Iowa để nhận giải thưởng. Tuy nhiên, vì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh (thường được các thiền sinh tu tập với Người gọi một cách thân thương là “Thầy”) năm nay đã 89 tuổi, và đang dưỡng bệnh, Giám Mục Martin Amos đã đến tận tu viện Lộc Uyển (Deer Park Monastery) ở Nam California vào ngày 31/10/2015, để trao giải. Sư Cô Chân Không và thầy Pháp Đăng đã thay mặt Thiền sư nhận giải thưởng này, với sự hiện diện của 120 quý thầy, quý sư cô và 500 thiền sinh đang tham dự khóa tu tại tu viện Lộc Uyển, California.

Chứng thư mà Giám mục Martin Amos trao cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh có nội dung như sau:

“Giải thưởng Hòa Bình trên Trái Đất (Pacem in Terris) 2015 được trao cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và công lý.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhịp cầu nối liền các truyền thống tâm linh Á – Âu. Giáo lý chính yếu mà Thiền sư giảng dạy là: với sự thực tập chánh niệm, chúng ta có thể chế tác ra được nguồn năng lượng giúp chúng ta sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Trong phong trào Đạo Bụt Dấn thân (Engaged Buddhism) mà Thầy khởi xướng, năng lượng chánh niệm được sử dụng để nuôi dưỡng hiểu biết và bao dung đối với chính mình, đồng thời nuôi dưỡng hành động từ bi vì lợi ích của mọi người và của Trái Đất. Những nỗ lực của Thầy trong việc giúp xây dựng lại những ngôi làng bị chiến tranh tàn phá và cứu giúp các thuyền nhân Việt Nam đã minh chứng cho con đường của Đạo Bụt Dấn thân mà Thầy đã chọn.

Thầy đã sống đúng với những lời trong Thông điệp Hòa bình trên Trái đất (Pacem in Terris) của Ðức Giáo Hoàng John XXIII, là “một tia sáng rực rỡ, một suối nguồn của thương yêu và một chất men” cho tất cả huynh đệ của mình trên khắp thế giới.”

Giải thưởng “Hòa Bình trên Trái Ðất” được trao đúng dịp kỷ niệm 50 năm Mục Sư Martin Luther King nhận được giải này. Hai nhà lãnh đạo tôn giáo – Mục sư Martin Luther King và Thiền sư Thích Nhất Hạnh –  đã cùng chia sẻ lý tưởng tranh đấu cho hòa bình bằng phương tiện bất bạo động, gây ảnh hưởng lớn đến không khí chính trị vào những năm cuối thập niên 1960.

Đau buồn bởi cuộc chiến tranh đang xảy ra trên quê hương mình, và tìm thấy nơi Mục sư King một người bạn cùng lý tưởng tranh đấu cho hòa bình, Thầy đã viết thư cho Mục sư King vào năm 1965 để đề nghị Mục sư King công khai lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhà lãnh đạo phong trào Dân quyền Mỹ đã đáp lại lời kêu gọi của Thầy bằng bài diễn văn nổi tiếng năm 1967 tại Nhà thờ Riverside, thành phố New York, công khai phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Cũng đầu năm 1967, Mục sư King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình, và gọi Thầy là “một tông đồ của hòa bình và bất bạo động.”

Thầy được thế giới công nhận như là người sáng lập phong trào Đạo Bụt Dấn thân (Engaged Buddhism), đồng thời là người khởi xướng phong trào thực tập chánh niệm trong văn hóa Tây phương.

Sư Cô Chân Không và thầy Pháp Đăng thay mặt Thiền sư Thích Nhất Hạnh nhận giải thưởng Pacem in Terris

(Nguồn: The Catholic Messenger; Hình ảnh: Ron Forster)

Trái tim tôi bất ngờ được mở ra

Với tình thương, chúng ta có thể đối diện với bất cứ điều gì; nhưng nhiều người trong chúng ta chưa từng biết đến tình thương đích thực, vì vậy câu hỏi chúng ta cần đặt ra là: tình thương được sinh ra như thế nào. Khi chưa có khả năng làm được điều đó cho bản thân, sự trị liệu cho chính mình không thể xảy ra; và nếu chưa làm được bước ấy trước tiên, chúng ta cũng không thể giúp chữa lành người khác.”

Đó chính là những lời mở đầu của Thiền sư Thích Nhất Hạnh (hay Thầy, như mọi người vẫn quen gọi) khi Thầy phát biểu tại Thượng viện Anh (House of Lords) vào tuần trước. Có một làn sóng phấn khích lan ra trong khán phòng khi mọi người bỗng trở nên yên lặng và tất cả cùng đứng lên khi Thầy bước vào nghị trường.

Thầy nói chuyện tại Hạ Nghị Viện Vương Quốc Anh và Bắc Ireland, London, 27.03.2012

Sau khi những lời giới thiệu khá cảm động của  Lord Richard Laird, Thầy vẫn ngồi thật yên mấy phút và nét mặt không biểu hiện cảm xúc nào. Trong thoáng chốc, tôi e rằng Thầy không thích tới đây. Nhưng sau đó tôi đã nhận ra là Thầy cần  thời gian để trở về với chính mình và để bắt mạch cái thính chúng khá đặc biệt nầy.

Chế tác tình thương cho chính bản thân bắt đầu bằng hơi thở. Thầy nói tiếp: “Khi ta chú tâm và thở vào, có một phép lạ xảy ra. Ta  quay về với chính mình, ta nhận ra mình đang có một hình hài, và ta thấy có sự căng thẳng trong thân. Thở vào ta để ý đến sự căng thẳng trong thân, thở ra ta buông thư .”

Những lời của Thầy như đi thẳng vào tâm can ruột rà của tôi, những cơ bắp thật sâu trong tôi bỗng mở ra. Thường thì lộ trình đi từ cái đầu đến trái tim tôi khá dài và khá quanh co. Tôi lệ thuộc vào thùy trán (trí năng) quá nhiều để kiểm soát mọi việc. Nhưng hôm nay trái tim tôi  đột nhiên mở cửa. Tôi đã tìm thấy ngôi nhà đích thực— ít nhất là trái tim tôi cảm thấy mình đã về đến nhà.

“Khi ta thở trong chánh niệm, nhiều cơ hội mới có thể xảy ra. Chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều điều mà ta cần phải tri ân, những mầu nhiệm của sự sống đang nằm trong tầm tay ta. Đồng thời ta cũng tiếp xúc được với nỗi khổ niềm đau trong ta và ta sẽ không trốn tránh  chúng nữa. Sống trong chánh niệm tạo ra một năng lượng cho phép ta tách ra khỏi nỗi khổ để có thể ôm ấp nó, lắng nghe nó thật sâu và chăm sóc nó. Ta sẽ bắt đầu hiểu được nỗi khổ niềm đau của mình. Từ sự hiểu biết về khổ đau, lòng từ bi được phát sinh. Với từ bi, ta có thể chuyển hóa nỗi đau.

Thầy lại nói tiếp nhiều điều mà tôi đã nghe trước đó rồi nhưng tôi có cảm giác như chỉ mới nghe lần đầu. Tôi đã thay đổi.  Cuộc đời của tôi đã đi qua một giai đoạn khác. Những lời của Thầy đang chạm vào một con người mới mà những vết thương cũ đã được chữa lành và những khả năng mới đang được mở ra.

Nói về chánh niệm, viết về chánh niệm thật dễ nhưng bạn chỉ thấy được sức mạnh của nó khi bạn đứng trước những người như Thầy. Những những người đã sống với thực tập này, qua mọi thăng trầm của cuộc đời.

Tinh thần của ông thầy tu 86 tuổi mảnh khảnh mong manh này thật dũng mãnh. Sự hiện diện của cả con người Thầy khiến cho thông điệp của Thầy có một sức mạnh lớn lao. Tôi nhận ra rằng, khi đối diện với cái chết, điều quan trọng là liệu tôi có thể, dù chỉ một ngày, sống với lòng dũng cảm và sự liêm chính như thế hay không.

Quảng trường Trafalgar, London, 31.03.2012

Một người trong thính chúng đã hỏi Thầy là anh ta có thể làm được gì cho một người rất khổ đau đã nhất định đóng hết tất cả các phương cách trị liệu. Có thể cảm được niềm tuyệt vọng trong câu hỏi ấy nên rõ ràng đây là một câu hỏi rất thật, không bác học.

Thầy đã trả lời rằng ta phải hết sức thận trọng, đừng quá nhiệt tình muốn làm thay đổi người khác. Đôi khi cái mà người kia cần chỉ là sự hiện diện và sự kiên nhẫn của ta. Một người đã đóng tất cả những cánh cửa trái tim với thế giới bên ngoài như thế là một người đang đau khổ và mất niềm tin nơi tất cả mọi người.

Nếu ta yêu thương họ, có mặt cho họ một cách kiên trì, vững chãi, không đòi hỏi họ phải thay đổi, thì theo thời gian, họ có thể nhận ra tình thương của ta là thật; rằng họ có thể mở lòng mà vẫn cảm thấy an toàn.

Năm 2004, lần đầu tiên tôi đến Làng Mai, Pháp và tôi được giao trách nhiệm trở phân hữu cơ, xếp lại giấy đã sử dụng, ép dẹp các thùng cạc tông để đem đi chuyển hóa. Tôi học được rằng thật ra trên đời này không có gì là “tiêu cực” cả, rằng ngay cả những kinh nghiệm mà ta xem là xấu hổ và muốn quăng bỏ chúng đi lại giúp ta tỉnh thức và trở nên một con người thật hơn xưa.

Vào thời điểm đó, chánh niệm dường như là một khái niệm hơi bí ẩn, nhưng ngày nay nó đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong mọi gia đình. Pháp thực tập đơn giản này đã chỉ cho chúng ta một cách khác để đối diện với những bất trắc và buồn khổ mà ta gặp phải, và để sống hòa hợp cùng nhau.

 Hy vọng rằng chuyến đi này của Thầy ở Ái Nhĩ Lan sẽ làm cho ta thấy lại “những nhiệm mầu của sự sống” đang nằm trong tầm tay của ta ngay bây giờ và ở đây khi mà chúng ta chịu dừng lại, không rong ruổi nữa và cho phép tim ta có thêm không gian để thở.

(Bài viết của Tony Bates, Giám Đốc sáng lập Headstrong – Trung tâm lo cho sức khỏe tinh thần của người trẻ trong toàn quốc, trong chuyến hoằng pháp của Thầy Làng Mai tại Anh năm 2012)

Nguồn:  My heart suddenly unbuttoned (The Irish Times, Tuesday 10 April 2012)

Tình yêu dành cho đất mẹ không còn là ý niệm về môi trường

Thiền sư Nhất Hạnh lý giải vì sao chánh niệm và cách mạng tâm linh chứ không phải kinh tế là những nhân tố cần thiết cho quá trình bảo vệ thiên nhiên và làm giảm thiểu những biến đổi khí hậu bất thường.

(Dưới đây là bài phỏng vấn của Jo Confino cho Guardian Professional Network.
Theo guardian.co.uk thứ Hai, ngày 20 tháng 2 năm 2012.)

Thiền sư Nhất Hạnh nói rằng để đối phó với những thách thức của môi trường, chúng ta cần có một cuộc cách mạng tâm linh.

Thiền sư Nhất Hạnh có 70 năm kinh nghiệm thực tập thiền và chánh niệm. Từ Thầy tỏa ra một sự bình an và tĩnh lặng lạ thường. Đây là con người đang sống những gì mình nói, con người được giới Phật tử coi như một vị Bồ Tát, không ngừng tìm kiếm những cách thức tốt nhất để giúp người.

Ngay từ những ngày tháng trực tiếp sống và đối mặt với cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, vị Thầy hiện đã 86 tuổi này đã phát nguyện cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và hóa giải xung đột. Năm 1967, mục sư Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa Bình vì theo Mục sư “Những phát kiến cho hòa bình của Thích Nhất Hạnh, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những năm gần đây, Thầy không chỉ chú trọng tới việc hòa giải xung đột trong mối quan hệ giữa người với người, mà còn hướng sự quan tâm tới hành tinh xanh của chúng ta – nơi nương náu của mọi loài.

Thầy, như hàng ngàn thiền sinh và đệ tử vẫn gọi, thấy rằng vì đời sống thiếu ý nghĩa, thiếu sự liên hệ mật thiết với nhau mà chúng ta trở thành con nghiện của chủ nghĩa tiêu thụ. Chúng ta cần phải nhận ra và ứng phó với những áp lực mà chúng ta đang gây cho Trái đất nếu nhân loại muốn sống sót.

Điều mà đạo Bụt có thể đóng góp cho nhân loại là nhận diện những khổ đau ta đang gánh chịu và một con đường thoát khổ là trực tiếp đối diện, mà không phải tìm cách trốn tránh hay khỏa lấp bằng những  công việc, mua sắm, giải trí hay chăm chút làm đẹp. Những ham muốn về danh vọng, giàu sang, quyền lực và tình dục chỉ có tác dụng tạo nên ảo giác về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc đích thực, kết cục chỉ làm trầm trọng thêm những cảm giác trống trải, xa cách.

Thầy lấy ví dụ câu chuyện của một tỷ phú, điều hành một trong những tập đoàn lớn nhất Hoa Kỳ. Ông này tới tham dự một khóa tu với Thầy, kể về những khổ đau, lo lắng và nghi ngờ của ông. Ông nghĩ rằng mọi người đến với ông chỉ vì muốn lợi dụng, nên ông chẳng có ai để làm bạn.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Làng Mai –  một trung tâm thiền tập của Thầy gần Bordeaux, Thầy đã chỉ rõ tại sao chúng ta lại cần một cuộc cách mạng tâm linh khi phải đối mặt với vô số thách thức về tình trạng môi trường hiện nay.

Trong khi các chuyên gia khác chỉ tập trung nói về sự phức tạp và khó khăn của vấn đề, như sự hủy diệt của hệ sinh thái, nạn tuyệt chủng của hàng triệu loài sinh vật, thì Thầy nhìn xuyên suốt được vấn đề hóc búa này, và chỉ cần một “lát dao bén” của Thầy là có thể tháo gỡ được.

Vượt thoát ý niệm “môi trường”

Thầy nói rằng chúng ta phải vượt thoát ý niệm về môi trường, vì điều này khiến mọi người có cảm tưởng bản thân mình và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt và trái đất phải phục vụ cho con người.

Chỉ khi ta công nhận con người và hành tinh này hoàn toàn là một và đồng nhất thì mới thay đổi được tình trạng.

Thầy nói: “Bạn đang mang Mẹ Đất trong bạn. Mẹ Đất không ở bên ngoài. Mẹ Đất không chỉ là môi trường. Mẹ Đất là bạn. Nhìn bằng tuệ giác tương tức đó, chúng ta mới có thể thực sự truyền thông với Mẹ Đất, đó là hình thức cầu nguyện tối ưu nhất. Trong mối tương quan này, bạn có đủ tình thương, sức mạnh và sự thức tỉnh để thay đổi cuộc sống của bạn. Thay đổi, không chỉ là thay đổi những yếu tố bên ngoài ta.

Trước hết, chúng ta cần có chánh kiến – cái thấy đúng – để vượt thoát mọi ý niệm, kể cả ý niệm về có và không, về tạo hóa và tạo vật, về tâm và vật. Tuệ giác này rất cần cho sự chuyển hóa và chữa lành. Chúng ta sợ hãi, xa cách, hận thù, sân giận là do cái thấy sai lầm cho rằng chúng ta và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt, Trái Đất chỉ là môi trường. Chúng ta coi mình là tâm điểm và muốn làm điều gì đó cho Trái Đất để chúng ta có thể sống sót. Đó là cái thấy nhị nguyên.

Vì vậy để cứu lấy Đất Mẹ, bạn hãy thở vào, ý thức về cơ thể bạn và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng bạn là Trái Đất, và tâm thức bạn cũng là tâm thức của Trái Đất. Không chặt phá rừng, không làm ô nhiễm nguồn nước – chừng ấy chưa đủ.”

Đặt cho thiên nhiên một giá trị kinh tế là chưa đủ

Mùa xuân này Thầy sẽ tới nước Anh để hướng dẫn một khóa tu 5 ngày và một ngày hội thảo về chánh niệm trong lĩnh vực giáo dục. Thầy nói hiện nay trong giới kinh tế và kinh doanh xuất hiện trào lưu cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ hành tinh là đặt cho môi trường thiên nhiên một giá trị kinh tế, như vậy thì chẳng khác nào băng bột lên một vết thương.

“Tôi không nghĩ là biện pháp đó đem lại hiệu quả. Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của chúng ta.

Muốn thay đổi tận gốc thì thay vì đặt lên cho những khu rừng và thảm san hô những trị giá nào đó, ta phải thương yêu Đất Mẹ trở lại. “Trái Đất không thể được miêu tả bằng vật chất hay tinh thần. Vật chất và tinh thần chỉ là khái niệm. Thực chất chúng là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không chỉ là vật chất, bởi vì trong nó có chứa cái thấy biết của nó. Một hạt bụi không chỉ là vật chất bởi từng nguyên tử trong hạt bụi đều là một thực thể sống và có trí thông minh. Khi ta nhận ra những đức hạnh, tài năng và vẻ đẹp của Mẹ Đất, thì trong ta sẽ nảy sinh một cái gì đó. Cái đó là sự tương quan mật thiết giữa ta với Đất Mẹ, là tình thương của ta dành cho Đất Mẹ. Chúng ta muốn được kết nối, muốn tương quan, muốn được là một, đó là ý nghĩa của tình thương. Khi thương một người nào đó, ta muốn nói ta cần người đó, ta muốn nương tựa vào người đó. Ta làm tất cả vì lợi ích của Đất Mẹ và Đất Mẹ sẽ làm tất cả cho sự an vui của chúng ta”

Trong giới kinh doanh, Thầy lấy ví dụ  của Yvon Chouinard, người sáng lập và sở hữu của công ty may mặc Patagonia. Ông đã kết hợp giữa việc phát triển kinh doanh thành công với sự thực tập chánh niệm và từ bi. Thầy khẳng định: “Làm giàu theo cách không tàn phá, đề cao công bằng xã hội, làm tăng sự hiểu biết, giảm thiểu khổ đau đang tồn tại quanh ta là điều ta có thể thực hiện được. Nhìn cho sâu, ta thấy ngay trong thế giới kinh doanh ta có thể mang lại nhiều hạnh phúc cho ta và cho người khác. Và như vậy thì công việc của ta có ý nghĩa.”

Thầy, người đã viết hơn 100 cuốn sách, chỉ ra rằng sở dĩ ta đánh mất sự tương quan mật thiết với nhịp điệu tự nhiên của Đất Mẹ là do rất nhiều căn bệnh thời đại gây ra và thậm chí là do ta đổ lỗi cho Đất Mẹ một cách vô thức mà ta không hề hay biết, cũng giống như ta hay đổ lỗi cho những khổ đau bất hạnh của ta là do cha mẹ gây ra.

Trong bài viết Lời Khấn Nguyện Đất Mẹ mới đây, Thầy viết “Trong chúng con, có những người oán hận Mẹ vì mẹ đã sinh ra họ và làm họ khổ, đó là bởi vì họ chưa có khả năng hiểu được Mẹ và chưa biết trân quí Mẹ.”

Chánh niệm giúp ta thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa ta và Đất Mẹ

Thầy đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng tỏ chánh niệm có thể giúp loài người tiếp lập lại mối tương quan mật thiết giữa mình với Đất Mẹ bằng cách sống chậm lại và trân quí tất cả những món quà mà Đất Mẹ hiến tặng cho ta.

“Rất nhiều người đau khổ cùng cực mà không biết là mình đang đau khổ. Họ cố gắng che đậy nỗi khổ đau bằng cách bận rộn. Nhiều người ốm đau bệnh tật chỉ vì họ xa lánh Đất Mẹ. Thực tập chánh niệm giúp chúng ta tiếp xúc được với Đất Mẹ trong ta và sự thực tập này có thể giúp chữa lành bệnh tật. Quá trình trị liệu, chữa lành cho con người phải được tiến hành đồng thời với việc chữa lành cho Đất Mẹ. Đây là tuệ giác và ai cũng có thể thực tập được. Sự giác ngộ này đưa tới sự thức tỉnh cộng đồng. Trong Đạo Phật, thiền là một sự thức tỉnh, thức tỉnh một sự kiện là trái đất đang lâm nguy, mọi loài sinh vật đang trong tình trạng nguy kịch.”

Thầy lấy một ví dụ rất đơn giản và bình dị, là việc uống một ly trà cũng có thể giúp chuyển hóa cuộc đời một con người nếu người đó thực sự để hết tâm ý vào việc uống trà.

“Khi có chánh niệm, tôi thưởng thức ly trà sâu sắc hơn.” Thầy nói và rót cho mình một ly trà rồi chậm rãi nhấp ngụm đầu tiên. “Tôi có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, không bị cuốn đi bởi sợ hãi, buồn đau, dự án, quá khứ và tương lai. Tôi có mặt cho sự sống. Khi ta uống trà, giây phút uống trà là giây phút mầu nhiệm. Ta không cần nhiều quyền lực, danh vọng hay tiền bạc để có thể hạnh phúc. Chánh niệm có thể giúp ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi giây phút đều là giây phút hạnh phúc. Chúng ta hãy thực tập để những người khác theo đó cùng thực tập theo. Chúng ta hãy dành ra vài phút để thực chứng sự thực này.”

Cần phải xử lý cơn giận trong tự thân trước khi muốn trở thành một nhà hoạt động xã hội hiệu quả

Trong hàng thập kỷ qua, Thầy đã dày công phát triển dòng Đạo Bụt Dấn Thân mà nền tảng là sự thực tập 5 nguyên tắc đạo đức – 5 phép thực tập chánh niệm hay còn gọi là 5 Giới – rất rõ ràng và quan trọng đối với việc giải quyết công bằng xã hội.

Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh, nếu các nhà hoạt động xã hội và môi trường muốn làm việc có hiệu quả, trước tiên họ phải xử lý cơn giận trong họ. Chỉ khi nào phát khởi được tình thương và lòng từ bi đối với chính bản thân mình, ta mới có khả năng đối phó với những lực lượng mà ta qui trách nhiệm đang làm ô nhiễm biển và chặt phá rừng.

“Trong Đạo Bụt có nói về hành động cộng đồng. Khi có một điều gì đó sai lầm đang diễn ra trên thế giới, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là chuyện của người khác, người khác làm mà không phải là ta. Nhưng qua cách sống hàng ngày của ta, ta cũng đang góp một phần vào sai lầm ấy. Nếu ta có khả năng hiểu ra sự thật này, rằng không chỉ ta đang khổ mà người khác cũng đang khổ thì đó đã là một tuệ giác.

Khi thấy ai đó đang khổ, ta không muốn trừng phạt hay lên án người đó, mà ta muốn giúp người đó bớt khổ. Nhưng nếu chính ta đang đầy sợ hãi, giận hờn, vô minh và đau khổ thì ta làm sao giúp được người khác? Khi có hạnh phúc, ta nhẹ nhàng hơn, tươi cười hơn, ai cũng dễ chịu khi ở gần ta và ta có khả năng giúp đỡ người khác. Những nhà hoạt động và tranh đấu cần phải thực tập tâm linh để có khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc, xử lý khổ đau và giúp người bớt khổ, như vậy công việc phụng sự thế giới của họ mới có hiệu quả. Nếu trong ta còn đầy giận dữ và bất mãn thì ta không thể làm được gì cả.”

Tiếp xúc Bản môn

Điểm chính trong bài giảng của Thầy là, trong khi sống và sinh hoạt trong thế giới tích môn (thế giới phân biệt, lưỡng nguyên), ta cần hiểu rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc vào việc nhận diện và tiếp xúc với “bản môn”. Điều này rất quan trọng. “Nếu ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với tích môn – một chiếc lá, một bông hoa, một viên sỏi, một tia nắng, một con chim, ngọn núi, dòng sông và chính thân thể ta – thì khi đó ta cũng đang tiếp xúc được với bản môn. Bản môn không thể được diễn tả là con người hay phi con người, là vật chất hay tinh thần, chủ thể nhận thức hay đối tượng nhận thức. Ta chỉ có thể nói rằng nó luôn luôn tỏa sáng và tự tỏa sáng. Tiếp xúc với bản môn, ta cảm thấy hạnh phúc, thoải mái như con chim tự do trên bầu trời, như con nai được tự do trên đồng cỏ. Ta biết rằng ta không cần phải tìm kiếm bản môn ở ngoài ta, bản môn luôn có trong ta và trong mỗi phút giây.

Trong khi tin rằng có một phương cách tạo ra mối tương quan mật thiết hơn giữa loài người và trái đất, Thầy cũng thấy được một hiểm họa thực sự đang xảy ra là con người vẫn tiếp tục lối sống tàn hoại và nền văn minh này sẽ tới ngày sụp đổ.

Thầy nói tất cả những gì chúng ta cần làm là thấy được rằng chúng ta không làm chủ được trước những phản ứng của thiên nhiên đối với những loài sinh vật khác. “Khi nhu yếu sinh tồn bị thay thế bởi lòng tham lam và ngạo mạn thì bạo động sẽ phát sinh và luôn đưa tới những hủy diệt không đáng có. Chúng ta đã học bài học rằng gây bạo lực cho con người và cho những loài sinh vật khác chính là ta đang gây bạo lực với chính ta, còn khi ta biết bảo hộ mọi loài thì ta cũng đang bảo hộ chính ta.”

Lạc quan trước nguy cơ thảm họa

Trong thần thoại Hy Lạp, khi Pandora mở hộp quà, tất cả tai họa được thoát ra ngoài và tràn xuống trái đất. Chỉ có một thứ còn sót lại, đó là “hy vọng”.

Thầy rất rõ ràng khi khẳng định duy trì niềm lạc quan là điều rất cần thiết nếu chúng ta muốn tìm một con đường thoát khỏi nguy cơ hủy diệt do khí hậu thay đổi thất thường, mà điều này sẽ dẫn đến những biến động tiêu cực lớn lao của xã hội.

Tuy nhiên, Thầy không ngây thơ để không nhận ra rằng những lực lượng hùng mạnh vẫn đang tiếp tục không ngừng trừng phạt chúng ta và đẩy loài người tới bờ vực thẳm.

Trong cuốn sách nổi tiếng viết về môi trường, cuốn Hướng Đi Của Đạo Bụt Cho Hòa Bình và Môi Sinh (The World We Have), Thầy viết: “Chúng ta đã tạo nên một hệ thống xã hội mà ta không làm chủ được. Ta để cho tiện nghi vật chất làm chủ đời mình. Để áp lực đè nặng và biến mình thành nạn nhân, nô lệ”.

Chúng ta tạo nên một xã hội mà người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng thêm túng quẫn. Ta chỉ biết chăm chút lo cho riêng mình, và chỉ thấy những cái lợi trước mắt mà quên đi những hậu quả về sau, chúng ta ít khi để tâm đến số phận của người khác, đến tương lai của hành tinh mẹ của chúng ta. Chúng ta có khác gì những con gà đang bị nhốt trong chuồng và đang giành xé nhau một vài hạt bắp mà không biết rằng lát nữa mình sẽ bị giết làm thịt.

Xem Video Jo Confino phỏng vấn Thầy

______________________________________________

dịch từ: Beyond environment: falling back in love with Mother Earth

Trò chuyện với Thầy Nhất Hạnh về cuốn sách SAVOR

World-renowned Buddhist master Thich Nhat Hanh has teamed up with nutritionist Dr. Lilian Cheung to change the way we eat with their book Savor: Mindful Eating, Mindful Living. Get his take on the root of our weight problems, what he eats every day and how to change your own eating habits forever.

ead more:

Nếu đã có cuốn sách này trong tay thì bạn có thể ngồi xuống trong tĩnh lặng, lần dở chậm rãi từng trang một và khám phá thực đơn Thầy dùng mỗi ngày. Bạn cũng có thể cùng Thầy nhìn sâu vào tình trạng béo phì – một vấn nạn về sức khỏe của thế giới Tây Phương và được Thầy hướng dẫn những phương thức để đổi thay những thói tật ăn uống không lành mạnh.

Thay Nhat Hanh.jpgThưa Thầy, vì sao trong thời điểm này Thầy lại chọn viết về đề tài tiêu thụ thực phẩm trong mối liên hệ với nếp sống chánh niệm ?

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Nhìn vào thực trạng ở mức độ toàn cầu, chúng ta có thể nhận thấy rằng số lượng người mắc chứng béo phì (thừa cân) lại đông đảo hơn so với số người đói và thiếu ăn (không tiêu thụ đủ lượng dinh dưỡng cần thiết). Những nhà khoa học đã cảnh báo rằng nếu chúng ta không đồng lòng chung sức chuyển ngược lại tình trạng béo phì đang ngày một leo thang thì những người trẻ trong tương lai sẽ có vòng đời ngắn hơn so với thế hệ đi trước.

Hơn nữa, chứng béo phì sẽ làm gia tăng nguy cơ mắc phải những căn bệnh gây nguy hiểm đến tính mạng. Thực trạng này không những gây ra khổ đau cho thân tâm của mỗi cá nhân hay gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự lành mạnh của thân tâm xã hội và thế giới. Gốc rễ của vấn đề nằm ngay trong những gì chúng ta tiêu thụ mỗi ngày. Đó không chỉ là thức ăn mà còn là những gì ta thấy, nghe, xúc chạm… và cả môi trường ta đang sống. Giáo lý của Đạo Bụt có thể cống hiến rất nhiều phương pháp để có thể chuyển hóa triệu chứng béo phì. Việc thực tập sống trong chánh niệm sẽ có thể thiết lập lại mối liên hệ giữa thân và tâm và môi trường xung quanh. Phương pháp này chính là chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa, đem đến cho chúng ta có một góc nhìn chân thật về tình trạng thừa cân và giúp mọi người có thể kiểm soát được trọng lượng cơ thể mình. Và chúng ta sẽ không cần phải mất nhiều thời gian đợi chờ. Cơ hội đạt được sự cân bằng, niềm vui và sự bình an trong thân và tâm luôn có ngay đây, ngay bây giờ, ngay trong giây phút hiện tại.

Việc “Ăn uống trong tỉnh thức” đóng vai trò như thế nào trong đời sống của Thầy?

Khi có thể sống chậm lại, tận hưởng mỗi bữa ăn, vui trong niềm vui khi nhận ra mình vẫn còn sống, vẫn còn mạnh khỏe, chúng tôi thấy mình tiếp xúc với đời sống ở một mức độ rất sâu sắc. Tôi rất ưa thích được ngồi ăn trong thinh lặng và tận hưởng từng miếng nhai, ý thức về sự hiện hữu của những người thương chung quanh (tăng thân), ý thức về tất cả những công phu lao tác và tình thương đã có mặt trong chén cơm của mình. Khi ăn theo một cách thức như vậy, không những thể chất vật lý của tôi mà còn phần tinh thần, phần tâm linh cũng đều được nuôi dưỡng. Cách tôi dùng bữa ảnh hưởng đến mọi công tác của tôi trong ngày. Nếu tôi có thể thực tập nhìn sâu vào thức ăn và xem thời khắc đó quan trọng như một buổi công phu thiền định – thiền hành hay thiền tọa – thì tôi nhận ra mình có thể tiếp nhận muôn vàn những tặng phẩm của đất trời. Tất cả hoa trái này tôi sẽ không bao giờ thu hái được nếu thân và tâm tôi không đồng thời có mặt trong khi ăn. Bởi vì trong lúc ăn nếu tâm tôi ngập tràn trong lo lắng, phiền muộn và những bản dự án hay kế hoạch thì khi đó tôi chỉ đang ăn những căng thẳng và sợ hãi. Và điều này sẽ gây ra những thương tổn cho thân và tâm. Vì vậy cho nên, khi ăn chúng tôi thường sử dụng bài kệ sau đây để thực tập:

Ăn cơm nơi tích môn
Nuôi sống cả tổ tiên
Mở đường cho con cháu
Cùng tìm hướng đi lên.

Ăn cơm nơi tích môn
Nhai đều như nhịp thở
Nhiệm mầu ta nuôi nhau
Từ bi nguyền cứu độ.

Bài kệ trên giúp chúng tôi ghi nhớ về việc thực tập chế tác năng lượng chánh niệm trong khi ăn. Nếu năng lượng chánh niệm, năng lượng tỉnh thức đó có mặt một cách sâu dày thì chúng tôi có thể tiếp xúc với tổ tiên ông bà cũng như các thế hệ tương lai. Đồng thời thời gian ăn cũng trở thành những khoảnh khắc lắng đọng giúp chúng tôi ý thức hơn về những hạt giống lành thiện trong chiều sâu tâm thức mà tổ tiên đã trao truyền và tìm ra cách thức để dưỡng nuôi, phát triển và tiếp tục truyền trao những hạt giống đó cho những thế hệ con cháu về sau.

 

Xin Thầy cho biết về thực đơn hằng ngày ở Đạo Tràng Mai Thôn?

Chúng tôi áp dụng một chế độ ăn chay bổ dưỡng (không dùng bất kỳ sản phẩm nào từ động vật bao gồm cả trứng, sữa). Phần lớn những gì chúng tôi tiêu thụ là ngũ cốc hữu cơ. Bữa sáng sẽ là cháo yến mạch, bánh mì tự làm, đậu hạt tự trồng tại làng, trái cây và đôi khi là các món bún, phở hay xôi. Bữa trưa chúng tôi dùng cơm, rau xào, đậu phụ, các loại đậu xào, canh, rau củ hay salad và một ít đồ ngọt tráng miệng. Món tráng miệng theo kiểu Việt Nam sẽ là chè với các loại đậu và theo kiểu Tây Phương sẽ là bánh ngọt chay. Buổi tối chúng tôi ăn nhẹ với cơm, canh và một ít rau quả.

 

savorbookcover.jpgThưa Thầy, những trạng thái tâm lý sẽ ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của chúng ta như thế nào?

Trong tác phẩm “Savor”, chúng tôi trình bày rất sâu và rất kỹ về bản chất của những cảm thọ và ảnh hưởng của chúng đối với hành vi tiêu thụ thực phẩm. Về cơ bản, khi có một nhân tố kích thích từ bên ngoài, chúng ta sẽ có một phản ứng từ bên trong. Đó cũng là lúc một cảm giác, cảm xúc (cảm thọ) đã biểu hiện trên bình diện ý thức. Cảm thọ đó có thể mang tính chất tích cực như yêu thương, mừng vui, hy vọng,… hoặc mang tính tiêu cực như sợ hãi, giận hờn, lo lắng, phiền muộn, khổ đau… Đối với nhiều người, cảm xúc thường có mối liên hệ chặt chẽ với việc tiêu thụ thức ăn, mặc dù mức độ hay là bản chất của sự vướng mắc đó có thể khác nhau ở mỗi người. Có người có xu hướng ăn nhiều hơn khi vui trong khi một số thì lại ăn ít hơn. Tuy vậy, vấn đề ở đây là nếu chúng ta không dành thì giờ để nhìn sâu vào những cảm giác ưa thích hay thèm khát trong khi ta ăn uống thì những hành vi đó sẽ phát triển và trở thành những thói quen tiêu thụ gây ra tật bệnh cho chính chúng ta. Vì vậy cho nên để duy trì một thân thể khang kiện, chúng ta cần sử dụng năng lượng chánh niệm để nhìn sâu và ý thức một cách rõ ràng về ảnh hưởng của những cảm thọ đối với cách chúng ta ăn uống hằng ngày. Đồng thời, năng lượng tỉnh thức này cũng sẽ giúp chúng ta dần thiết lập được những thói quen lành mạnh và tích cực trong vấn đề tiêu thụ thực phẩm.

 

Thưa Thầy, vì sao Thầy lại cho rằng người Mỹ nói riêng đang phải vật lộn với vấn đề kiểm soát trọng lượng cơ thể của họ?

So với phần còn lại của thế giới, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một lãnh thổ trù phú và thịnh vượng. Những nguồn thức ăn và đồ uống không tốt cho sức khỏe được đáp ứng một cách dễ dàng với số lượng lớn. Những quảng cáo thương mại cho những sản phẩm này tấn công tới tấp mọi giác quan người tiêu dùng. Họ luôn bị khơi gợi, kích thích tiêu thụ những loại thực phẩm không lành mạnh như là nước giải khát chứa nhiều đường tinh chế, các món tráng miệng chứa nhiều đường và chất béo bão hòa. Bên cạnh đó, tình trạng cơ khí hóa những ngành công nghệ hiện đại, nền văn hóa đề cao quá đáng vai trò của xe hơi cá nhân (trong khi mà nhiều quốc gia ở Âu Châu đã từ lâu luôn ủng hộ, khuyến khích sử dụng những phương tiện giao thông công cộng) đã khiến cho người dân Mỹ Quốc ít vận động hơn. Quá trình đốt cháy calories bị dang dở dẫn đến tình trạng dư thừa một lượng lớn các chất béo trong cơ thể. Tất cả những nhân tố trên đã dẫn đến hệ quả: béo phí đã là một vấn nạn mang tầm quốc gia. Hơn thế nữa, chúng ta đang sống trong bối cảnh mà khoảng cách về địa lý ngày càng trở nên thu hẹp tỉ lệ nghịch với sự phát triển của truyền hình, máy tính cá nhân, điện thoại di động. Và người trẻ ngày nay đã cố gắng tận dùng tất cả những thành quả khoa học công nghệ để quản lý cùng một lúc nhiều công việc khác nhau. Với một đường hướng tổ chức như vậy, làm sao người ta có thể sống sâu sắc trong từng giây từng phút đời sống mình. Cách sống này đi ngược lại với lối sống chánh niệm. Ta không thể có thời giờ và điều kiện để nhìn sâu vào những vật phẩm ta ăn, những công tác ta làm mỗi ngày để có thể biết đâu là những cách thức đúng đắn để duy trì một thể trọng khỏe mạnh.

 

Xin Thầy cho biết năng lượng chánh niệm giữ vai trò như thế nào trong nếp sống thường nhật của Thầy?

Chánh niệm có nghĩa là ta biết được, ý thức được những gì đang diễn ra ngay bây giờ và ở đây, ngay trong giây phút hiện tại. Và khi ta sống với “cái biết”, với “cái ý thức” đó một cách thường trực thì cuộc đời ta trở nên đẹp hơn, ý nghĩa hơn. Khi tôi ý thức từng hơi thở vào ra và buông thư toàn thân, tôi có thể tiếp xúc được với niềm vui được sống, được hiện hữu. Tôi cũng có thể tiếp xúc được với tình trạng thân thể mình. Và khi thấy rằng mình vẫn đang mạnh khỏe, lòng tôi đầy tràn niềm biết ơn. Cũng chính nhờ năng lượng của sự Hay Biết này, tôi có thể nhận ra vẻ đẹp của trời xanh trong mát, thấy được nụ cười của hoa, nghe ra tiếng chim đang ca hót. Và tôi còn có thể tiếp xúc với gốc rễ khổ đau của cá nhân mình. Tôi ôm ấp chúng bằng tình thương và sự dịu dàng chứ không phải bằng sự bạo động, đè nén hay là trốn chạy. Bởi vì tôi có thể có mặt thật sự cho chính tôi nên tôi cũng có mặt thật sự cho những người thương xung quanh. Lắng nghe họ với tất cả ý thức một cách sâu sắc và hồi đáp bằng những lời nói yêu thương, truyền trao niềm tin yêu và hy vọng. Bằng cách thức như vậy, tôi có thể buổi sáng cho người niềm vui, buổi chiều giúp người bớt khổ.

 

Nếu trong ngày Thầy chỉ được lựa chọn một phương pháp để thực tập nếp sống chánh niệm thì đó sẽ là…?

Hơi thở có ý thức. Hơi thở luôn có đó cho tôi. Và khi tôi ý thức về hơi thở thì cũng là lúc tôi đang sống, đang hiện hữu. Tôi có thể thực tập hơi thở có ý thức bất kể nơi đâu, bất cứ thời gian nào, trong mọi trạng huống. Thậm chí ngay cả khi mang mầm bệnh, tôi cũng có thể nằm trên giường, nương theo hơi thở và khởi lên ý thức về thân và tâm. Lúc bấy giờ, tôi sẽ dùng năng lượng của sự Hay Biết để xoa dịu, chữa lành những đau nhức đang có mặt trong tôi. Khi thực tập phương pháp Hơi Thở Có Ý Thức, tôi thấy mình được nuôi dưỡng rất nhiều.

 

Theo ý kiến của Thầy, làm sao để những tuệ giác của khoa học và đời sống chánh niệm (Đạo Bụt) có thể đi đôi với nhau và tạo nên những tác động đối với việc tiêu thụ thực phẩm hiện nay?

Những kiến thức của Khoa học và một đời sống chánh niệm có thể bổ sung cho nhau trong việc giúp đỡ mọi người có được một đường lối tiêu thụ đúng đắn và duy trì một thể trạng mạnh khỏe và an lành. Trước tiên, chúng ta cần phải xác định đâu là nguồn thực phẩm mà chúng ta thật sự cần. Lúc bấy giờ, chúng ta cần phải nương tựa vào những lời khuyên từ những công trình nghiên cứu khoa học để có một quyết định độc lập. Ta không nên để mình bị ảnh hưởng bởi thói quen ăn uống của một ngôi sao nổi tiếng nào đó hay một công thức ăn uống tân thời đang được đám đông cổ xúy, tung hô. Một khi ta đã biết cần phải ăn gì thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Ăn như thế nào? Ta phải ăn như thế nào để có thể không những nếm được hương vị của thực phẩm mà còn nếm được tuệ giác Tương Tức (sự liên hệ giữa ta với tất cả sự sống xung quanh mình)? Việc thực tập Thiền Ăn (ăn trong chánh niệm) sẽ chính là lời giải. Nếu có sự thực tập kiên trì, miên mật chúng ta sẽ khám phá được rằng sự bình an và niềm phúc lạc là một điều có thật và vẫn luôn có đó trong ta. Nếu ta thực tập thành công, thì ta có thể tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc đó. Hơn thế nữa, khi đó ta còn có khả năng nhìn thấy được khuôn mặt thật, hình tướng thật sự của mình.

 

Mong Thầy có thể giải thích thêm về những ích lợi mà năng lượng chánh niệm có thể mang lại cho mỗi cá nhân nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung?

Sự hiện hữu của mỗi người chúng ta đều có mối liên hệ qua lại với nhau. Khi bạn xúc chạm vào “cái một”, bạn cũng đồng thời xúc chạm vào “cái tất cả”. Tất cả gì những chúng ta tạo tác (bằng lời nói, hành động hay tư duy) cũng đều có ảnh hưởng đến người khác. Vì vậy cho nên, chúng ta phải học cách sống trong tỉnh thức, trong chánh niệm để có thể tiếp xúc với năng lượng bình an nơi tự thân mình. Sự bình an trong thân tâm thế giới khởi nguồn từ đâu nếu không phải là từ sự bình an trong thân tâm mỗi một cá thể. Nếu mọi người đều sống trong chánh niệm, trong tỉnh thức thì tất cả chúng ta sẽ đều hưởng được lợi ích. Năng lượng bình an khi đó không còn thuộc về một cá nhân đơn lẻ mà đã trở thành nguồn năng lượng tập thể (tâm thức cộng đồng). Và chính nguồn năng lượng lớn lao đó sẽ quay trở lại trị liệu và chuyển hóa một cách tích cực những tật bệnh đang có mặt trong những gia đình, tổ chức, đoàn thể, quốc gia và các thế hệ tương lai.

 

Theo: http://www.oprah.com/spirit/A-Conversation-with-Thich-Nhat-Hanh-About-Savor/1
Chuyển ngữ từ tiếng Anh: Dạ Lai Hương

Thiền và nghệ thuật bảo vệ hành tinh

Trong một cuộc phỏng vấn hiếm có, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cảnh báo về nguy cơ hủy diệt nền văn minh hiện nay bởi sự thay đổi khí hậu và để đảo ngược lại quá trình đó, ta cần phải khôi phục niềm tin tâm linh.

Đây không hẳn là buổi đi bộ truyền thống ở miền quê nước Anh khi vị thiền sư Việt Nam 84 tuổi – Thích Nhất Hạnh dẫn gần một ngàn người thiền hành qua những ngọn đồi uốn lượn của Nottinghamshire. Đoàn người im lặng đi như một con rắn khổng lồ đang lướt qua cánh rừng và vườn táo im mát. Mọi người được dạy tiếp xúc sâu sắc với mỗi bước chân đặt trên mặt đất  để duy trì chánh niệm ngay trong giây phút hiện tại. Thầy, như mọi người thường gọi Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, rời con đường đang thiền hành bước vào đồng cỏ xanh tốt và tĩnh tọa. Nơi Thầy tỏa ra một sự bình ankỳ lạ, đó là hoa trái của 68 năm thực tập.

thich-nhat-nhat-hanh-walking-meditation-jpg Mặc dù có hàng trăm ngàn đệ tử trên toàn thế giới và được tôn sùng như Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng công chúng ít biết đến Thầy. Bởi Thầy đã chọn cách tránh xa ánh sáng chói lòa của người nổi tiếng để tập trung vào việc xây dựng Tăng thân trên khắp thế giới – những Tăng thân có thể đưa lời Thầy dạy vào thực tế cuộc sống. Có nhiều tu viện ở Pháp, Mỹ và Đức cũng như những Tăng thân như thế trên toàn thế giới, như ở Anh đã có tới hơn 20 mươi Tăng thân.
Thầy đang tìm cách chấn hưng lại con đường tâm linh. Một con đường có thể thay thế cuộc sống tiêu thụ hiện nay giúp con người  trở về lối sống đơn giản và hiền hòa hơn. Lối sống này dựa trên sự tôn trọng thương yêu nhau và đồng thời cũng tôn trọng môi trường xung quanh.
Hiếm khi cho phỏng vấn nhưng khi nhận thấy thế giới đang đối mặt với những thách thức lớn, tuổi càng ngày càng cao, sức khỏe càng ngày càng yếu ,Thầy muốn dùng tất cả thời gian và năng lượng còn lại của mình  làm những gì Thầy có thể để giúp xã hội và bảo vệ hành tinh thân yêu này.
Ở tuổi 84 rồi, mà Thầy vẫn có chương trình giảng dạy khá dày. Sau buổi pháp thoại cho hàng ngàn người ở London’s Hammersmith Apollo, Thầy đến Nottingham cho khóa tu 5 ngày, rồi đi hoằng pháp 3 tháng ở Châu Á, sau đó Thầy về lại Làng Mai- nơi Thầy đã sống hơn 40 năm kể từ khi bị biệt xứ, để an cư kiết đông 3 tháng.
Thầy, một tác giả với hơn 85 đầu sách, đặc biệt quan tâm đến sự thay đổi khí hậu. Cuốn “Thế giới chúng ta đang có” ( The World we have) mới xuất bản gần đây của Thầy hiện đang là sách bàn chạy nhất.

Khỏa lấp bằng sự tiêu thụ quá mức

Trong cuốn “Thế giới chúng ta đang có” ( The World we have), Thầy viết: “Đất mẹ trong tình trạng như hiện nay là hậu quả của việc sản xuất và tiêu thụ không chánh niệm. Chúng ta tiêu thụ để quên đi những lo lắng và muộn phiền của mình. Khỏa lấp bằng việc tiêu thụ quá mức không phải là cách.”
Trong cuộc phỏng vấn duy nhất tại Anh, Thầy kêu gọi những nhà báo hãy đóng vai trò của họ trong việc ngăn chặn sự hủy diệt nền văn minh này. Đồng thời, Thầy cũng kêu gọi những người có thẩm quyền hãy chuyển đầu tư cho lợi nhuận sang việc đầu tư cho một xã hội lành mạnh.
Thầy nói rằng giải pháp cho vấn đề hâm nóng Trái Đất dựa vào sự thành tựu công nghệ là một cái thấy sai lầm. Khoa học quan trọng thật nhưng làm việc với cái gốc của những hành xử gây tàn phá của mình còn quan trọng hơn. “ Sự khủng hoảng tâm linh ở phương Tây là nguyên nhân của những khổ đau hiện nay. Bởi cái nhìn nhị nguyên mà ta cho rằng Chúa và nước Nước Chúa ở ngoài mình, ở trong tương lai – Ta không biết rằng tính Chúa nằm ngay trong mỗi chúng ta. Ta cần phải đặt Chúa về lại đúng vị trí, trong bản thân mình. Điều đó cũng giống như khi sóng biết rằng nước không ở ngoài nó.”

“ Những gì ta tiếp xúc hằng ngày, kể cả thân thể này, đều là phép lạ. Chỉ cần đặt Nước Chúa về đúng vị trí, thì chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Nếu  thức tỉnh được điều này thì ta không cần phải chạy theo những thứ mình tin rằng nó cần thiết cho hạnh phúc của mình như danh vọng, quyền lực và sắc dục. Một khi dừng việc tạo ra tuyệt vọng và giận hờn, ta sẽ giúp cho  bầu khí quyển lành mạnh trở lại.”
“Có thể có đủ công nghệ để cứu hành tinh này nhưng điều đó  thôi thì chưa đủ  bởi vì loài người chưa thực sự sẵn sàng. Đó là lý do tại sao chúng ta cần tập trung vào khía cạnh còn lại của vấn đề. Sự ô nhiễm môi trường không phải là do khí CO2 mà môi trường bị nhiễm độc bởi cách chúng ta sống; có quá nhiều người đang trở nên bệnh hoạn, nhiều đứa trẻ phải đối mặt với bạo động, tuyệt vọng và  tự tử.

Ô nhiễm tâm linh

“ Chúng ta nên nói nhiều hơn về vấn đề ô nhiễm tâm linh. Khi chúng ta ngồi lại với nhau và lắng nghe chuông, ta làm lắng dịu thân và tâm mình. Chúng ta cùng tạo ra một năng lượng lành và bình an thẩm thấu trong mỗi người. Điều tương tự cũng xảy ra với năng lượng tiêu cực. Khi tạo tác năng lượng  sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng ta tạo ra một bầu khí quyển và môi trường tàn phá tất cả chúng ta. Ta chưa nghĩ thấu đáo về điều này mà chỉ nghĩ về môi trường vật lý.
Cách sống của chúng ta là nguyên nhân. Ta tìm kiếm hạnh phúc và chạy theo hạnh phúc theo cái cách tạo ra giận hờn, sợ hãi và kỳ thị. Chính vì vậy, khi tham dự một khóa tu, bạn có cơ hội nhìn sâu vào gốc rễ sự ô nhiễm này- sự ô nhiễm được tạo ra bởi năng lượng không lành mạnh.
“Làm sao ta có thể thay đổi được bầu khí quyển để có năng lượng chuyển hóa và trị liệu cho chính mình và cho con cháu mình? Khi đến khóa tu, trẻ em thư giãn được bởi vì người lớn đến đây cũng thư giãn. Ở đây, trong khóa tu này, cùng với nhau, ta tạo ra một môi trường lành mạnh và đó chính là năng lượng tập thể.”

Chủ nghĩa Tư Bản – một bệnh dịch

Thầy nói chủ nghĩa tư bản như một căn bệnh hiện đang lan ra toàn thế giới, mang theo ngọn gió toàn cầu hóa: “Chúng ta xây dựng một hệ thống mà không thể kiểm soát được. Nó thống trị ta, ta trở thành những nạn nhân và nô lệ của nó”
Thầy thấy những nước đã từng là quê hương của đạo Bụt như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, đang đi theo chủ nghĩa tiêu thụ như phương Tây: “Sức cuốn hút của khoa học và công nghệ khiến người ta từ bỏ những giá trị văn hóa đã từng là nền tảng căn bản cho nếp sống tâm linh của họ trong quá khứ”. “Bởi học đòi theo những nước phương Tây nên họ bắt đầu có những khổ đau tương tự. Khủng hoảng trên thế giới tăng lên và gốc của vấn đề chính là quá trình toàn cầu hóa. Họ cũng mất luôn cái nhìn bất nhị. Nhiều Phật tử cho rằng Bụt ở ngoài mình và chỉ khi nào chết đi mới đến được cõi Tịnh Độ.
“ Trong quá khứ, có nhiều người không giàu nhưng họ cảm thấy thỏa mãn với đời sống của họ, họ cười và hạnh phúc cả ngày. Nhưng khi có nguời bắt đầu giàu lên, nhiều người  nhìn vào những người đó và tự hỏi tại sao tôi không có một cuộc sống như vậy- một căn nhà đẹp, xe đẹp, một khu vườn đẹp và rồi họ từ bỏ những giá trị tốt đẹp vốn có của mình để lao theo vật chất.”

Bên cạnh niềm tin về sự chuyển hóa có thể xảy ra, Thầy cũng chấp nhận khả năng nền văn minh này sẽ biến mất. Thầy đề cập đến nguyên tắc tâm linh “buông bỏ’- chỉ khi nào mình thực sự buông bỏ cái ý “muốn” cứu hành tinh này khoát khỏi việc thay đổi khí hậu thì khi ấy nó lại có thể sẽ thay đổi được tình trạng hiện nay.

Thảm họa xảy ra

“Không có sự thức tỉnh tập thể, thảm họa sẽ xảy ra.”, Thầy cảnh báo như vậy. “Văn minh nhân loại đã bị hủy diệt nhiều lần và nền văn minh này cũng không ngoại lệ. Nó có thể bị hủy diệt. Và rồi sự sống sẽ dần dần hồi phục sau hàng triệu năm sau. Vũ trụ hoạt động rất khẩn trương nhưng thời gian địa chất thì khác hẳn.”
“Nếu thiền quán về điều đó thì bạn sẽ không lo lắng quá đến nỗi trở nên hóa cuồng. Bạn chấp nhận được rằng nền văn minh này có thể sẽ trở thành tro bụi và sự sống sẽ bắt đầu lại vài ngàn năm sau đó. Điều tương tự cũng từng xảy ra trong lịch sử hành tinh này rồi. Khi có bình an trong tâm và chấp nhận sự thực, bạn sẽ đủ bình tĩnh để làm một cái gì đó. Nếu không bạn sẽ bị tuyệt vọng cuốn đi và không còn hy vọng làm được gì nữa.
Giống như khi một người mắc bệnh ung thư hoặc Sida ( AIDS), họ biết rằng chỉ còn sống một năm hay 6 tháng nữa. Họ khổ đau và phản kháng. Nhưng nếu họ chấp nhận sự thật mình sẽ chết và tận hưởng mỗi phút giây có được, tình trạng có thể thay đổi, bệnh tật từ từ biến mất. Điều đó đã xảy ra với nhiều người”.

Thầy nói, những Tăng thân tiếp hiện đang được xây dựng trên khắp thế giới đã cho thấy ta có thể “sống đơn giản và hạnh phúc, để có thời gian thương yêu và giúp đỡ những người xung quanh. Đó là lý do chúng tôi tin rằng nếu có nhiều tăng thân như thế trên khắp thế giới, chúng ta có thể thức tỉnh mọi người rằng con người có thể từ bỏ được những nhu yếu vật chất. Nếu cùng tạo ra một sự thức tỉnh chung, chúng ta có thể giải quyết được vấn đề hâm nóng địa cầu. Cùng với nhau, chúng ta tạo nên sự tỉnh thức đó.”

Một vị Bụt chưa đủ

Thầy dừng lại một chút rồi nói tiếp một cách nhỏ nhẹ: “một vị Bụt chưa đủ, ta cần nhiều vị Bụt”.
Thầy sống một cuộc đời phi thường. Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Thầy suýt chết vài lần vì giúp những người dân đang khổ đau do bom đạn. Khi đến Mỹ, Thầy thuyết phục mục sư Martin Luther King công khai phản đối chiến tranh và Thầy là nguồn cảm hứng cho phong trào  hòa bình. Vào năm 1968, mục sư King đề cử Thầy cho giải Nobel hòa bình. Trong thập niên sau đó, nhiều tháng Thầy lênh đênh trên biển Đông Dương tìm cách cứu những người tị nạn Việt Nam và Cam-pu-chia trên những chiếc thuyền quá tải. Những năm gần đây, Thầy mở khóa tu 2 ngày cho thành viên quốc hội Mỹ và những khóa tu hòa giải cho người Israel và Palestin tại Làng Mai.

Những giáo lý Thầy dạy dựa trên sự  thực tập theo dõi hơi thở và thiền hành để an trú trong giây phút hiện tại, không đắm mình trong quá khứ hay lo lắng cho tương lai.
Thầy nói, trong mỗi người đều có những hạt giống thương yêu và hiểu biết cũng như những hạt giống giận hờn và kỳ thị. Cuộc sống của chúng ta như thế nào phụ thuộc vào cách chúng ta chọn những hạt giống nào để tuới. Để giúp tạo nên 1 nền đạo đức toàn cầu mới và duy trì những hạt giống tốt, những học trò Tiếp Hiện của Thầy đã chắt lọc những tinh hoa đạo Bụt về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo thành năm nguyên tắc cốt lõi – Năm giới.

Năm giới, được làm mới vào năm ngoái (2009) để phù hợp với tình trạng thế giới đang thay đổi một cách nhanh chóng. Năm giới không phải là những nguyên tắc buộc chúng ta phải theo mà đó là hướng để chúng ta vươn tới. Bên cạnh kêu gọi chúng ta tiêu thụ trong chánh niệm, Năm giới còn khuyến khích ta chấm dứt thói tà dâm cũng như quyết tâm “không uống rượu, không sử dụng ma túy hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phẩm nào có chứa độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu (Internet), phim ảnh, truyền thanh truyền hình, sách báo và chuyện trò chứa đựng nội dung thiếu lành mạnh”.

_____________

Zen and the art of protecting the planet

 

 

In a rare interview, zen buddhist master Thich Nhat Hanh
warns of the threat to civilisation from climate change and the spiritual revival that is needed to avert catastrophe

Jo Confino

guardian.co.uk, Thursday 26 August 2010 18.16 BST.

    Thông điệp mùa Vu Lan

    Được biết, sau khi tác phẩm ra đời, Thiền sư đã phát động phong trào cài hoa hồng để tưởng niệm về công ơn mẹ. Xin Thiền sư cho biết lần đầu tiên phong trào này được phát động là vào mùa Vu Lan năm nào, tại đâu? Thiền sư có gặp sự trở ngại nào chăng khi đưa ra một nét văn hóa tuy đẹp đẽ song cũng rất mới lạ này?

    Tôi không hề có ý định phát động phong trào Cài Hoa Hồng để tưởng niệm về công ơn mẹ. Phong trào ấy tự động phát khởi một cách tự nhiên mà thôi. Điều đó cũng làm cho tôi ngạc nhiên. Hồi đó, năm 1962, sau chín tháng nghiên cứu về khoa Tỷ Giáo Tôn Giáo tại Princeton University, tôi về nghỉ hè tại Camp Ockanickon ở Medford thuộc tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ. Ban ngày tôi chơi và nói chuyện với thanh thiếu niên về Văn Hóa Việt Nam và đi chèo thuyền trên hồ, ban đêm tôi viết văn. Tôi đã viết đoản văn Bông Hồng Cài Áo trong một căn lều gỗ người trẻ dành cho tôi. Viết xong tôi gửi cho các vị đệ tử của tôi trong đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn do tôi hướng dẫn.

    Bài này gửi qua chị Trương thị Nhiên. Chị Nhiên và đoàn Sinh Viên Phật Tử đọc xong rất cảm động nên quyết định đem chia sẻ cho mọi người. Họ bàn nhau chép tay ba trăm bản làm quà tặng cho những bạn bè của họ trong các phân khoa Đại Học Sài Gòn. Mỗi bản chép tay đều có gắn thêm một chiếc hoa màu hồng cho người còn mẹ hay màu trắng cho người mất mẹ, hay mất mẹ. Rằm tháng bảy năm ấy họ họp nhau lại tại Chùa Xá Lợi, làm Lễ Bông Hồng Cài Áo lần đầu tiên. Anh Tôn Thất Chiểu, một thành viên của đoàn Sinh Viên Phật Tử đã gửi cho Hòa Thượng Thích Đức Tâm, hồi đó đang làm chủ bút cho nguyệt san Liên Hoa của Giáo Hội Tăng Già Trung Phần. Tập San Liên Hoa đã đăng nguyên bài dưới tựa đề là Nhìn Kỹ Mẹ. Hòa Thượng Trí Thủ, bổn sư của Hòa Thượng Đức Tâm, đọc được đoản văn trên nguyệt san Liên Hoa đã khóc vì cảm động.

    Sau đó Bông Hồng Cài Áo được in ra nhiều lần, một số các chùa bắt đầu tổ chức Lễ Bông Hồng Cào Áo. Từ đó, Lễ Bông Hồng Cài Áo đã trở thành một truyền thống. Tôi không nghĩ là đã có những trở ngại trong khi phong trào được lan rộng. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối ra mắt độc giả bằng quyển Bông Hồng Cài Áo, in khổ ốm dài để có thể bỏ vào bì thư gửi tặng bạn bè trong ngày Vu Lan. Quyển sách nhỏ này đã phải tái bản nhiều lần. Năm 1965 đoàn Cải Lương Thanh Nga đã dựng và trình diễn vở tuồng Bông Hồng Cài Áo và có mời tôi tham dự.

    Tại trong nước cũng như tại ngoại quốc, đoản văn Bông Hồng Cài Áo đã được dịch và in ra nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Trung Hoa, Nga, Thái Lan và tiếng Lào.

    Theo Thiền sư, giữa Ngày lễ của Mẹ trong văn hóa Nhật và ngày Vu Lan Báo hiếu trong văn hóa Việt Nam có những nét tương đồng và khác biệt nào?

    Lễ Bông Hồng Cài Áo tổ chức tại Làng Mai mỗi mùa Hè kể từ năm 1983 đã làm theo tinh thần Việt Nam, khác truyền thống Nhật. Lễ này không những để vinh danh người Mẹ mà cũng để tưởng nhớ và vinh danh người Cha nữa. Mỗi người được cài hai chiếc hoa hồng, một dành cho Mẹ và một dành cho Cha. Chiếc hoa dành cho Cha nằm hơi cao lên một chút để phân biệt với hoa cho Mẹ. Và anh sẽ cài một hoa hồng cho Cha khi Cha còn sống, một hoa hồng cho Mẹ khi Mẹ còn sống.

     

    Không ít người thắc mắc tại sao Thiền sư lại chọn hoa hồng mà không phải là loài hoa nào khác? Phải chăng đơn thuần chỉ vì hoa hồng là loài hoa biểu trưng cho tình yêu?

    Mình nên hiểu chữ hồng trong bông hồng là đỏ. Cài hoa hồng thì cài hoa hồng đỏ. Cài hoa khác như hoa cẩm chướng thì cẩm chướng màu cũng đỏ, không nhất thiết là phải có hoa hồng (rose). Và khi Mẹ không còn, Cha không còn thì được cài hoa trắng. Các đệ tử người Hoa của tôi khi làm lễ Bông Hồng Cài Áo đầu tiên tại Đài Loan năm 1995 thì họ dùng hoa cẩm chướng màu đỏ và trắng cho buổi Lễ Cài Hoa tưởng nhớ Mẹ Cha. Mẹ Cha còn thì cài hoa cẩm chướng màu hồng. Mẹ Cha mất thì cài hoa cẩm chướng màu trắng. Bất cứ hoa gì cũng được kể cả hoa lan.

    Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành công ca khúc Bông Hồng Cài Áo từ bài văn của Thiền sư, góp phần đưa nghi thức cài hoa hồng vào sâu trong đời sống văn hóa dân tộc. Xin cho Thiền sư cho biết cảm nhận mình của khi nghe bài hát ấy – lần đầu tiên cũng như bây giờ?

    Phạm Thế Mỹ làm Bài Bông Hồng Cài Áo rất dễ dàng và tự nhiên như thở vào thở ra , tự nhiên như bước chân đi dạo, tự nhiên như khi nâng chén trà lên uống. Tôi không thấy tôi và nhạc sĩ là hai người khác nhau khi nghe ca khúc Bông Hồng Cài Áo, trước kia cũng vậy và bây giờ cũng vậy.

    Là một người rất quan tâm đến giới trẻ Việt Nam nói riêng và giới trẻ trên toàn thế giới nói chung, Thiền sư có nhắn nhủ điều gì với các bạn trẻ nhân mùa Vu lan năm nay?

    Ngày Lễ Bông Hồng Cài Áo không phải chỉ để tưởng nhớ công ơn Mẹ Cha. Các bạn phải biết thực tập nhìn sâu, tức là thực tập thiền quán trong ngày ấy. Phải thấy được những tài năng, đức hạnh và nét đẹp nào mà mình đã tiếp nhận từ Cha và từ Mẹ. Rồi thấy được Cha và Mẹ không phải là những thực tại có ngoài mình mà đang có ngay trong mình. Mình là sự tiếp nối của Cha, mình là sự tiếp nối của Mẹ. Và mình mang Mẹ, mang Cha đi về tương lai. Phải biết mỉm cười cho Mẹ, thở cho Cha và bước đi cho cả hai. Sự tiếp nối đẹp đẽ của Cha Mẹ nơi mình là biểu hiện cụ thể nhất cho lòng Hiếu.

    Nếu bạn lỡ có những khó khăn với Cha hay Mẹ thì đừng nghĩ cạn là Mẹ không thương, Cha không thương. Có thể những vụng về trong quá khứ về phía Cha Mẹ đã tạo ra những lớp khổ đau đè nặng và làm khuất lấp tình thương ấy. Mình biết nếu có gì xảy ra cho mình thì Cha Mẹ sẽ khóc hết nước mắt.. Và nếu có gì xảy ra cho Mẹ hay cho Cha thì mình cũng sẽ khóc hết nước mắt. Phải thấy rằng các vị đã có nhiều khổ đau và khó khăn mà chưa đủ khả năng chuyển hóa nên đã tự làm khổ mình và làm khổ lây đến các con. Mình cũng vậy. Mình đã khổ đau vì hiểu lầm, vì bực tức, và do đó đã lỡ nói những lời không dễ thương, có những phản ứng không đẹp đẽ với Cha và với Mẹ. Bên nào cũng chịu một phần trách nhiệm.

    Thấy được cái khổ của Cha, của Mẹ, mình tìm cách giúp Cha và giúp Mẹ. Mình phải biết nói lời hối lỗi đã không giúp được Mẹ Cha mà còn làm cho Cha Mẹ khổ đau thêm. Sử dụng pháp lắng nghe và ái ngữ để tái lập được truyền thông, để dựng lại thâm tình, đó là điều mình có thể làm được. Tôi có nhiều vị đệ tử đã làm được việc đó, người Việt cũng như người ngoại quốc.

    Có những người trẻ dại dột đã đi tự tử. Đó là một hành động tuyệt vọng, nhưng cũng là một hành động trừng phạt. Trừng phạt người đã làm mình khổ, trong trường hợp này, đó là những vị sinh thành ra mình. Ta sinh ra đời để thương yêu, không phải để trừng phạt. Chết như thế là một sự thất bại. Nếu bạn là Phật tử, bạn phải biết giáo pháp đức Thế Tôn có công năng chuyển rác thành hoa, biến phiền não thành bồ đề, dựng lại tình thâm từ xác chết hận thù. Cha Mẹ là Bụt đó, đừng đi tìm Bụt nơi nào khác. Ngày hôm nay bạn nói được câu gì, làm được cử chỉ gì để Mẹ vui, để Cha vui thì làm ngay đi, đừng để tới ngày mai, sợ rằng muộn quá. Đọc Bông Hồng Cài Áo để nhớ điều đó. Tôi chúc bạn một ngày Vu Lan thật ngọt ngào, thật hạnh phúc, thực tập thành công.

    Nếu bạn được cài bông trắng, nên quán chiếu là Cha hoặc Mẹ vẫn còn còn trong bạn và có mặt trong từng tế bào của cơ thể bạn. Đưa bàn tay lên nhìn, bạn sẽ thấy bàn tay ấy của bạn mà cũng là bàn tay của Cha, của Mẹ. Trong bàn tay bạn, có bàn tay của Cha, của Mẹ. Bạn hãy đưa bàn tay ấy đặt lên trán và sẽ thấy, đó là bàn tay của Mẹ hay của Cha đang đặt trên trán bạn. Thật là nhiệm mầu.

    Ta hãy tôn vinh Mẹ, tôn vinh Cha trong trái tim. Bụt dạy: Vào thời không có Bụt ra đời thì thờ Cha thờ Mẹ cũng là thờ Bụt. Đây là điều tôi muốn nói với các bạn trẻ ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

    Nguồn cảm hứng từ nghệ thuật thư pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

    (Được BBT chuyển ngữ từ bài viết “Thich Nhat Hanh’s Live, Meditative Calligraphy will Absolutely Inspire You” đăng trên tờ Huffington Post – một trong những tờ báo lớn của New York, ngày 13/9/2013)

    Xuất gia từ năm 1949, Thiền sư Thích Nhất Hạnh – vị Thiền sư người Việt thường được gọi một cách thương kính là Thầy – luôn được mọi người kính ngưỡng bởi những đóng góp của Thầy cho sự nghiệp hòa bình, cho con đường hiểu biết và thương yêu.

    Chánh niệm là nền tảng của những pháp môn thực tập mà Thầy giảng dạy: Thầy cho rằng an trú trong giây phút hiện tại – mà không phải là ở tương lai hoặc trong quá khứ – chính là con đường duy nhất để đạt được sự bình an chân thật.

    Mặc dù khá bận rộn với lịch trình của các khóa tu, chưa kể thời gian viết lách và cho ấn hành nhiều tác phẩm có giá trị cũng như những nỗ lực cứu giúp người nghèo đói ở các nước thuộc thế giới thứ ba thông qua hoạt động của Làng Mai, một trung tâm thiền tập do Thầy sáng lập, Thiền sư Thích Nhất Hạnh vẫn dành thời gian để tổ chức một cuộc triễn lãm thư pháp tại ABC Home, thành phố New York (từ ngày 6/9 đến 31/12/2013).

    Cuộc triễn lãm với chủ đề “Thiền Thư pháp: Nghệ thuật chánh niệm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh” đã bắt đầu vào ngày 6/9 vừa qua, trong đó trưng bày 88 tác phẩm thư pháp nổi tiếng nhất của Thầy. Những tác phẩm thư pháp này hiện đang được đấu giá và 60% số tiền thu được từ các cuộc đấu giá này sẽ được dành để yểm trợ cho những công việc của Thầy, cho các tu viện và các thầy, các sư cô Làng Mai cũng như cho những dự án mà Làng Mai đang yểm trợ.

    Thich Nhat Hanh calligraphy exhibit at ABC Home -New York

    Thầy viết thư pháp

    Vào đêm khai mạc cuộc triễn lãm, Thầy đã tặng cho các vị khách tham dự hôm đó một cơ hội hiếm có, đó là được trực tiếp xem Thầy viết thư pháp.  Năm tác phẩm thư pháp được viết trực tiếp hôm đó cũng được đem ra đấu giá. “Viết thư pháp cũng là thiền tập,” Thầy chia sẻ trong một cuộc họp báo. “Trong những bức thư pháp mà tôi viết có mực, có trà, có hơi thở, và có năng lượng của niệm, của định. Những dòng thư pháp này có tác dụng nhắc nhở mọi người trở về với chánh niệm, trở về với sự tỉnh thức.”

    Những bức thư pháp của Thầy chỉ nhìn thôi cũng đủ thấy đẹp rồi, nhưng được tận mắt chứng kiến Thầy viết thư pháp thì quả thật là tuyệt vời – đó là chia sẻ của một người có mặt trong buổi hôm đó.

    “Trước sự chứng kiến của mọi người, Thầy bắt đầu cầm bút viết những dòng thư pháp như Con đã về, Con đã tới, mỗi cử động của Thầy đều là một nghi lễ. Dõi theo những cử động đầy chánh niệm của Thầy khi viết thư pháp, dường như tất cả chúng tôi – những người có mặt hôm đó – không thể nào không cảm nhận rõ ràng sự có mặt của một vị thầy với năng lượng định tĩnh và tràn đầy hỷ lạc.” Agapi Stassinopoulos, người phụ trách trang blog của Huffington Post và tác giả của cuốn sách Unbinding the Heart chia sẻ.

    Stassinopoulos chia sẻ thêm rằng cô được chứng kiến cảnh mọi người xúc động như thế nào khi được nhìn Thầy viết thư pháp trong buổi hôm đó: “Khi đưa mắt nhìn mọi người trong khán phòng, tôi có thể thấy rõ rằng ai cũng đang nhìn Thầy bằng con mắt thán phục đến sững sờ. Từ nơi Thầy toát ra một sự tĩnh lặng thoát tục. Chúng tôi đều cảm nhận rõ rằng trước mặt chúng tôi là một vị thiền sư và năng lượng định tĩnh đó chính là phép mầu mà Thầy để lại trong lòng mỗi chúng tôi.”

    Xem thêm: Giác ngộ trong từng nét bút

    Một vài hình ảnh của buổi triển lãm thư pháp tại New York:

    Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (14).png

    Cắt băng khai mạc buổi triển lãm

    Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (12).png

     

     

    Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (1).jpg

     

    Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (2).jpg

     

    Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (6).jpg




    Người cha của Chánh niệm

    Thich Nhat Hanh speaks at the Royal Festival Hall, South Bank, London 29.03.2012

    THÍCH NHẤT HẠNH, vị thiền sư 86 tuổi, hiện đang ở Ireland sẽ giúp chúng ta chuyển hóa thân tâm, làm đẹp đời sống của chính chúng ta bằng những phương pháp đơn giản có thể thực hành được trong đời sống hằng ngày.

    Tối ngày mai, có ít nhất là 2000 người  trên cùng khắp Ireland sẽ tụ họp về Convention Center ở Dublin để lắng nghe Thiền sư Thich Nhất Hạnh – vị thiền sư người Việt Nam, 86 tuổi, người mà đã thành công lớn trong việc khơi dậy niềm hứng khởi tu tập Thiền Chánh Niệm trong đời sống của cả thế giới người Tây Phương.

    Trong 30 năm gần đây, ông thầy tu vốn là một nhà hoạt động cho hòa bình, một nhà văn, một Thiền sư (mà các đệ tử vẫn thân thương gọi người là Thầy – tiếng  Việt Nam chỉ có nghĩa là thầy dạy học, thầy dạy tu – từ trung tâm tu học của người là Làng Mai đã đi thuyết giảng rất nhiều nơi trên các nước Âu Châu, Bắc Mỹ Châu và rất nhiều nước vùng Đông Nam Á.

    Thông điệp của Thầy rất  đơn giản nhưng khi thực tập thì kết quả lại sâu sắc, thâm trầm. Chỉ cần chú tâm trở về hoàn toàn với  hơi thở và đem tâm chú ý đơn thuần vào những hành động hằng ngày, chúng ta có thể từ từ chuyển hóa và trị liệu nhiều vết thương trong ta và những người khác bằng lòng từ và tâm thương yêu.

    Qua những cuốn sách của Thiền sư (Thầy đã viết hơn 100 quyển sách), Thầy đã dùng nhiều cách thiền quán, những bài tập, những câu chuyện thực tập và chuyển hóa thật của một số thiền sinh và những góp ý của Thầy để giúp người đọc đạt được sư bình an mà Thầy vẫn nhắc nhở để chúng ta nhớ là sự bình an đó đang có sẵn nơi ta trong bất cứ lúc nào. Tăng thân xuất sĩ ở Làng Mai là một mẫu mực cho sự thực tập chánh niệm. Họ có thể chào đón hướng dẫn tu tập cho một ngàn người mỗi tuần trong suốt bốn tuần mùa Hè. Cô Josephine Lynch chia sẻ rằng: “Thiền sư đã thực sự sống với những gì Thầy dạy. Thức ăn ở đó hoàn toàn không có thịt cá mà cũng không có trứng, không có sữa và những thực phẩm làm từ sữa như phô mai, sữa chua. Các xóm ở Làng Mai đang cố gắng có một ngày không dùng xe hơi trong tuần. Trẻ em, gia đình và cách sống cộng đồng là trung tâm của những sinh hoạt tại Làng Mai. Vì thế những khóa tu ở đây không có được sự im lặng nhiều như những khóa tu khác“. Cô Josephine Lynch là người dạy chánh niệm ở vùng này và cũng là thành viên nhóm tu chánh niệm tại Ireland. Cô cũng là người thỉnh Thầy về dạy ở Ireland.

    Thiền sư sinh năm 1926, xuất gia lúc 16 tuổi và tám năm sau đã cùng thành lập chùa Ứng Quang, sau đó trở thành Phật Học Đường Ấn Quang, Phật Học Viện hàng đầu rất nổi tiếng tại Miền Nam Việt Nam về học Phật.

    Năm 1961 Thầy đi Hoa Kỳ và dạy học về Tôn Giáo Tỷ Giáo (so sánh về các tôn giáo) ở đại học Princeton và đại học Columbia New York. Đến  năm 1963 Thầy trở về lại Việt Nam để hướng dẫn phong trào tranh đấu bất bạo động cho hòa bình Việt Nam.  Năm 1964 thiền sư thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đào tạo người Phật tử đi về thôn quê xây trường học, bệnh xá  và những hợp tác xã về nông nghiệp, chăn nuôi và giúp tái thiết và xây dựng lại những thôn làng bị tàn phá trong do chiến tranh.

    Thầy cũng đã thành lập nhà xuất bản để in nhiều sách kêu gọi hòa giải giữa hai phe lâm chiến và cũng là chủ bút tuần báo Hải Triều Âm, tiếng nói chính thức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 1966  Người đi Hoa Kỳ để kêu gọi ngưng chiến  tại Việt Nam.

    Vì những công tác xây dựng và  tình thương lớn ấy mà Martin Luther Jr đã đề nghị thiền sư cho Giải Nobel Hòa Bình năm 1967.

    Thiền Sư trở lại Pháp khi có cuộc hòa đàm tại đây và đã làm Trưởng Phái Đoàn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Parí. Sau khi Hòa Ước được ký kết năm 1973, thiền sư vẫn bị từ chối cấp thị thực để trở về nước Việt Nam phụng sự. Năm 1975 Thầy lui về cư trú tại Phương Vân Am, thiền quán, làm vườn, đóng sách và đi dạy thiền khắp nơi trên thế giới.

    Chính tại một khóa tu dạy tại Hoa Kỳ mà  Tiến sĩ  người Hoa Kỳ John Kabat- Zinn đã  học thiền chánh niệm với Thiền sư đã nhận ra rằng ta có thể dùng Thiền Chánh Niệm để trị liệu những bệnh trầm kha kéo lâu ngày và khó trị . Tiến Sĩ John Kabat-Zinn đã chế tác Tám Tuần Trị Giảm Stress và đã từ đó lan truyền khắp nơi về cách trị liệu bằng chánh niệm này.

    Một trong những cuốn sách rất nổi tiếng của Thiền sư và được biết nhiều nhất là quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức trong sách nầy thiền sư đã chia sẻ rằng Chánh Niệm đã cứu sống Thầy bằng cách nào khi Thầy bị trầm cảm khá nặng sau cái chết của mẹ Thầy. Một cuốn sách thứ hai cũng khá nổi tiếng là An Lạc Từng Bước Chân (do Đức Đạt Lai La Ma đề tựa) thiền sư đã viết :”Gốc rễ của chiến tranh nằm sâu trong cách sống hằng ngày của chúng ta- cách chúng ta phát triển kỹ nghệ, xây dựng xã hội và tiêu thụ. Chúng ta không thể đổ tội cho một phía, phía này hay phía kia. Chúng ta phải tập vượt lên trên khuynh hướng muốn theo phe”

    Thiền sư được mời trở về Việt Nam năm 2005, sau 40 năm bị lưu đày.

    Một thiền giả người  Hoa Kỳ đã diễn tả thiền sư Nhất Hạnh như là nơi giao thoa của một đám mây, một con ốc sên và một phiến sắt nặng- một sự hiện diện thật sự cho đời sống tâm linh”.

    Nữ tu Công Giáo Stanilaus Kennedy, người sáng lập Trung Tâm The Sanctuary and Focus ở Ái Nhĩ Lan đã  diễn tả Thiền sư  như  “Người Cha của Chánh Niệm“.

    Nữ tu đã nói rằng: “Thiền sư thực sự muốn làm mới đạo Bụt và kêu gọi cách tu rất thực tiễn gọi là Đạo Bụt Dấn Thân và dạy ta sử dụng tuệ giác nhìn sâu để thấy thật rõ mọi việc để áp dụng đời sống hằng ngày và làm vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Thầy là người tỉnh thức và có thao thức rất sâu sắc để giúp đời. Tuy đã thấy rõ Chánh Niệm là vượt cao hơn tôn giáo nhưng người luôn kính trọng các tôn giáo khác”.

    Trong 10 năm qua thiền sư đã thành lập hai thiền viện tại Hoa Kỳ (Tu Viện Lộc Uyển ở California và Tu viện Bích  Nham ở New York), Viện Phật Học Ứng Dụng châu Á (HongKong) và Viện Phật Học Ứng Dụng châu Âu ở Đức quốc. Sau khi thuyết giảng ở Dublin thiền sư sẽ hướng dẫn một khoá tu ở Killarney cho hơn 800 người. Và Thầy sẽ về Làng Mai hướng dẫn khóa tu cho khoa học gia suốt 21 ngày, từ 1 đến 21 tháng sáu dương lịch.

    Sau khóa tu Mùa Hè ở Làng Mai Thiền sư lại đi dạy tiếp ở Đức quốc, Hà Lan và Ý. Lúc sau này Thầy ít khi chịu cho báo chí phỏng vấn nhưng qua những cuốn sách, những khóa tu, những giáo thọ xuất của Thầy và những thiền sinh đã trực tiếp thực tập chánh niệm với Thầy, thông điệp của Thầy đã tiếp tục có âm hưởng lớn tới những vị trong và ngoài cộng đồng tu học.

    CHÚNG TA LỚN HƠN CƠN GIẬN CỦA CHÚNG TA

    Ngay trong giây phút mà ta cảm thấy như ta hoàn toàn tràn ngập bởi cơn giận dữ thì nằm sâu trong ta vẫn còn lòng thương. Khả năng nói lời cảm thông hiểu biết, tha thứ vẫn còn đó. Ta phải tin điều đó. Chúng ta lớn hơn cơn giận dữ ấy, chúng ta lớn hơn nỗi khổ niềm đau kia. Ta phải luôn nhớ rằng chúng ta có khả năng hiểu, thương và tha thứ trong ta dù tình trạng có bế tắc cách mấy ta cũng phải nên nhớ điều đó để nhất định tìm cách thương thuyết để đưa đến sự giải quyết thỏa đáng” .

    – from Taming the Tiger Within – meditations on Transforming Difficult Emotions by Thich Nhat Hanh from his books, No Death, No Fear; Anger and Going Home (Penguin, 2004)

    Chuyển ngữ từ
    The Irish Times
    – Tuesday, April 10, 2012

    The father of mindfulness

    SYLVIA THOMPSON

    Ông thầy tu của cả mọi thời

    Hình ảnh quen thuộc và đại chúng mà mọi người thường biết về Thiền Sư Thích Nhất Hạnh không nói lên được những thành tựu mà thầy đã thực hiện như một bậc đạo sư, như một học giả và như một chiến sĩ xả thân cho hòa bình và công bằng xã hội.

    Thiền Sư Thích Nhất Hạnh thường được các thiền sinh tu tập với người gọi một cách thân thương “Thầy”. Thầy là một đạo sư trực thuộc một truyền thống đạo sư, gồm nhiều thế hệ đạo sư đã thành đạt. Năm mười sáu tuổi, thầy đi xuất gia ở một thiền viện ngoại ô thành phố Huế. Thầy bổn sư của thầy thuộc thế hệ thứ 41 dòng thiền Lâm Tế. Thầy Thích Nhất Hạnh thuộc thế hệ thứ 42 dòng Lâm Tế và cũng là thế hệ thứ 8 phái Liễu Quán, một phái thiền tiến bộ có ảnh hưởng lớn ở miền Trung Việt Nam.

    Phật Giáo Việt Nam có một lịch sử chuộng tinh thần dung hợp, Thầy đã là một nhân tố rất tích cực cổ xúy sự kết hợp nhiều truyền thống khác nhau về một mối. Nhận thức của Thầy được xiển dương rõ ràng trong dòng thiền Tiếp Hiện, gồm vừa tu sĩ vừa cư sĩ do thầy thành lập từ năm 1966. Dòng Thiền này không chấp nhận thái độ giáo điều, trong sự tu tập cũng như trong hành động. Dòng thiền này tìm đủ mọi cách có thể để làm sống dậy và nuôi dưỡng tinh thần từ bi và hiểu biểu biết thâm sâu trong sự sống hằng ngày. Người thực tập theo dòng Tiếp Hiện xem tinh thần từ bi và hiểu biết thâm sâu quan trọng hơn bất cứ tổ chức, cơ cấu hay truyền thống Phật Giáo nào.

    Các thầy, các sư cô và các anh chị trong dòng Tu Tiếp Hiện thực tập cần mẫn 14 giới Tiếp Hiện – thường gọi 14 cách tu tập chánh niệm mà Thiền Sư đã biên soạn năm 1966. Mười bốn giới này được thai nghén và chế tác trong thời gian chiến tranh Việt Nam và kinh nghiệm đã trải qua trong chiến tranh của thiền sư đã là cột trụ cho sự phát triển những phép tu tập do Thầy hướng dẫn cho những thiền sinh đến với Thầy. Trong bốn mươi năm đầu của đời Thầy, đất nước Việt Nam hoàn toàn đắm chìm trong cuộc tranh chấp bằng vũ khí, trước nhất là chống đối sự chiếm đóng của quân đội Nhật, rồi cuộc chiến giành độc lập để thoát khỏi ách đô hộ của người Pháp và cuối cùng là cuộc chiến Việt Nam có sự can thiệp của Hoa Kỳ. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đi Hoa Kỳ vào cuối năm 1961 để nghiên cứu về tôn giáo tỷ giáo và sau đó được mời dạy tại Đại Học Princeton và Columbia, New York Hoa Kỳ, trong lúc đó có sự căng thẳng lớn giữa chính quyền Thiên Chúa Giáo Ngô Đình Diệm và Phật Giáo Việt Nam. Đến năm 1964, theo lời yêu cầu của những bạn đồng lý tưởng Thầy gấp rút trở về lại Việt Nam trong lúc chiến tranh đang có mòi lan rộng. Cũng năm nầy, Thầy thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội nhằm huấn luyện tu sĩ và cư sĩ trẻ dấn thân đối phó với sự nghèo đói, thất học và thiếu tổ chức ở nông thôn, xây dựng lại những thôn làng bị chiến tranh tàn phá, định cư những nạn nhân chiến cuộc, lập trường học, trạm y tế cho những vùng nông thôn xa ở Việt Nam. Vào giữa năm 1970, trường Thanh niên Phụng Sự Xã Hội có gần mười ngàn người vừa tác viên, vừa trợ tác viên, vừa cảm tình viên tự nguyện đến hợp tác.

    Thiền Sư Nhất Hạnh quả là người lãnh đạo của Đạo Bụt Dấn Thân ở Việt Nam và đã đem Đạo Bụt Dấn Thân này qua phương Tây nhưng Thầy luôn khiêm cung và bảo rằng Thầy chỉ theo gương của vua Trần Nhân Tông của thế kỷ 13. Ông vua này, sau khi nhường ngôi cho con, đã đi tu và thành lập Thiền Phái Trúc Lâm, cho đến bây giờ thiền phái này vẫn còn thịnh hành ở Việt Nam.

    Giữa năm 1966 Thầy rời Việt Nam và đã trực tiếp gửi cho chính quyền Hoa Thịnh Đốn tuyên ngôn kêu gọi hòa bình. Đi thuyết giảng khắp bắc Mỹ châu, Âu châu, Úc châu và Á châu, Thầy trình bày tình trạng thảm khốc do chiến tranh gây ra ở Việt Nam. Đó cũng là lần thầy gặp tu sĩ Thomas Merton, dòng Trappist Công giáo. Linh mục đã gọi thầy là “người anh em của tôi” và đó cũng là năm Thầy gặp Mục Sư Martin Luther King Jr. . Tiến Sĩ Martin Luther King đã đề nghị trao giải Nobel Hòa Bình cho Thầy năm 1967 và trong bức thư gửi hội đồng giám khảo giải Nobel người viết: “Tôi chưa thấy người nào xứng đáng nhận giải Nobel Hòa Bình bằng ông thầy tu Việt Nam tao nhã này. Những cái thấy của ông, nếu đem thực hiện sẽ xây được cả thành quách lớn cho hòa bình”. Nhưng Giải Nobel Hòa Bình chưa bao giờ tới tay Thầy và những công tác cho hòa bình của Thầy đã khiến cho cả hai phía chiến tranh đều từ chối quyền trở về nước của Thầy, trước là Việt Nam Cọng Hòa rồi sau đó là chính quyền Cộng Sản.

    Gần phân nửa đời, ông thầy tu tám mươi tuổi Thích Nhất Hạnh đã bị sống lưu đày ở phương Tây. Ban đầu thầy lập văn phòng ở Paris cho đến giữa năm 1975. Sau đó Thầy về Phương Vân Am (nông trại khoai lang) ở một thời gian gần như ẩn tu, chỉ làm vườn, thiền quán và viết lách. Sư cô Chân Không, người học trò trưởng từng phụ tá cho Thầy trên 30 năm đã diển tả thời gian này như là thời gian khó khăn nhất cho Thiền Sư bởi vì không thể viết lách và giảng dạy cho hằng triệu độc giả đang còn ở trong nước. Hàng ngàn đệ tử của Thầy và hàng trăm công trình văn hóa, xã hội mà thầy hướng dẫn đều đang nằm trong đất nưóc Việt Nam, trong khi đó thì Thầy lại bị lưu đày ở phương Tây. Nhưng thiền sinh Tây Phương bắt đầu tìm đến với Thầy và cùng với Thầy giúp đỡ bao nhiêu người tị nạn đã trốn khỏi đất nước Việt Nam vào thời hậu chiến tranh, vừa độc tài vừa nghèo đói. Cuối năm 1982 Phương Vân Am đã trở nên quá nhỏ đối với số người tìm đến muốn học đạo với Thầy. Phương Vân Am phải dời về Làng Mai với cơ sở rộng rãi hơn, tọa lạc ở miền tây nam tỉnh Dordogne, Lot & Garonne và Gironde, và chính nơi đây Thầy vẫn còn định cư cho tới bây giờ.

    Ông thầy tu này rất ít khi rảnh rang. Trong 30 năm qua Thầy không ngớt hướng dẫn các khóa tu tập, trị liệu cho cựu chiến binh Hoa Kỳ của trận chiến Việt Nam, chữa bệnh tâm thần cho họ, hướng dẫn tu tập cho những người làm việc xã hội, cho những người làm việc cho hòa bình, cho tù nhân, cho công an cảnh sát, cho người Palestine và người Do Thái, cho thương gia, cho dân biểu quốc hội và cho mọi thành phần trong xã hội. Là một tác giả sáng tác rất nhiều sách, Thầy đã viết hơn 60 cuốn sách gồm cả những cuốn giáo khoa căn bản về chánh niệm. Thầy cũng là tác giả những sách rất uyên bác về lịch sử Phật Giáo Việt Nam, về A Tì Đàm, Duy Thức Học…( Triết Học Phật giáo và Tâm lý học Phật giáo) về Giới Luật (Giới Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni tân tu) về Phật Giáo Tịnh Độ. Thầy đã thành lập những trung tâm tu học rất lớn ở tiểu bang California và tiểu bang Vermont cùng hằng trăm tăng thân tu tập khắp bắc Mỹ châu, hằng trăm tăng thân ở Âu châu, Úc châu và Á châu với tên là Cộng Đồng Tu Tập Chánh Niệm.

    Đầu năm 2005, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh được về nước sau gần 40 năm lưu đày với một phần nhỏ gia đình tâm linh của Thầy gồm 100 tu sĩ và 90 cận sự nam và nữ thuộc trên bốn mươi quốc gia. Đúng như mọi người vẫn chờ đợi, Thầy mời các đệ tử Tây Phương cùng đi với Thầy trong chuyến hành hương ba tháng đó. Thầy nói: “Tôi mong các bạn cùng đi Việt Nam với tôi để có thể hiến tặng cho Việt Nam năng lượng thực tập cao nhất của các bạn về niệm, về định và về tuệ. Đó là phẩm vật quý nhất mà tôi có thể cúng dường cho tổ tiên và cho đất nước tôi sau 39 năm vắng mặt”. Và cũng đúng như mọi người chờ đợi, rất nhiều sinh hoạt của Thầy, ví dụ trong đó có những khóa tu cho tăng ni kéo dài cả tuần lễ, và trong thời gian này, lần đầu tiên quý thầy và quý sư cô đã có dịp ngồi lại với nhau để chia sẻ sự tu học. Và đã khai thông được tình trạng ứ đọng, đem các phe chống đối đến ngồi lại với nhau để cùng sinh hoạt và tụng giới chung.

    _____________________
    Bài của Andrea McQuillin
    Sư cô Khiết Nghiêm chuyển ngữ từ Shambala, Sun Mars 2006, trang 56

    Đông Phương Học thực chất và hướng đi

     

    essays-and-commentaries-on-engaged-buddhism-jpgTạp chí Human Architecture (Kiến Trúc Con Người) ở Hoa Kỳ vừa ra một số đặc biệt về tư tưởng tương tức (Interbeing) và Đạo Bụt Đi Vào Cuộc Đời (Engaged Buddhism) của Thiền Sư Nhất Hạnh, với tiêu đề Hình tượng Xã Hội của Thích Nhất Hạnh, khảo luận và phê bình về Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời (Thích Nhất Hạnh’s Sociological Imagination, Essays and Commentaries on Engaged Buddhism). Số báo đặc biệt này được ra mắt vào Mùa Hạ 2008, Bộ VI, số 3. Chủ bút của tờ báo là M.H.Tamdgidi, giáo sư Xã hội học tại Trường Đại Học University of Massachusetts ở Boston, Ma. Mở đầu số báo có bài giới thiệu của Giáo Sư Winston Langley, quyền Viện Trưởng Viện Đại Học Boston, giáo sư Chính Trị Học. Tư tưởng chỉ đạo của số đặc biệt này có liên quan mật thiết với Khoa Đông Phương Học (Orientalism). Có những người không tin là Tây Phương có khả năng hiểu được Đông Phương, dù là đã có hơn 200 năm Đông Phương Học. Họ nghĩ là người Tây Phương có cái nhìn quá nhị nguyên và có sẵn cái óc kỳ thị vì vậy hai trăm năm nghiên cứu về Đông Phương cũng vẫn không giúp cho người Tây Phương cởi bỏ được cái thành kiến là Đông Phương thấp kém hơn (inferior) Tây Phương về mọi phương diện . Edward Said, Giáo Sư Đại Học Columbia ở New York, năm 1978 (1)có viết một cuốn sách với tựa đề Đông Phương Học(Orientalism), và cuốn sách này đã gây sóng gió trong giới tư tưởng và triết học Phương Tây. Ông viết : « Khoa Đông Phương Học đại khái xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ  18 … như môt thể cách Tây Phương nhằm thay đổi cấu trúc của Đông Phương và thống trị Đông Phương » (Orientalism emerged roughly in the late 18th century… as  a Western Style for dominating, restructuring and having authority over Orient » Bị ảnh hưởng của Đông Phương Học, những nhà Xã Hội Học nổi tiếng như  Karl Marx và Max Weber cũng đã có một cái nhìn méo mó về Đông Phương . Khi nói đến cách thức sản xuất của Châu Á (the Asiatic Modes of Prodution) Marx cũng đã bị ảnh hưởng bởi cái nhìn không thấu triệt của Đông Phương Học và đã phát biểu theo những giả định của Đông Phương Học. Ông nói rằng cách thức sản xuất ở Á Châu bị chi phối bởi những con người không có tự do cá nhân, những con người hoàn toàn bị ràng buộc với gia đình và xã hội, rằng con người cá nhân mà không được làm cá nhân, chỉ có thể được tìm thấy trong xã hội Trung Quốc thời xưa (the non-individuated  individuel was to be found in Ancient China), và do cách thức sản xuất cũng như do những con người như thế mà « hầu như là không thể có cơ hội nào thay đổi được xã hội trong cách thức sản xuất ấy » (there was very little social change of anykind in societies with an Asiatic Mode of Production) Phương thức sản xuất của Đông Phương tạo ra những chế độ trung ương tập quyền nghiêm khắc, những vị bạo chúa tự xưng mình là con trời, thiên tử, có quyền hạn tuyệt đối trên người dân. Giáo Sư Tamdgiti viết : Với cái thấy duy vật, trần tục, vô thần và chống tôn giáo và với ảnh hưởng của Đông Phương Học, cái nhìn mác xít về Đồng Phương và về Châu Á không cho người ta thấy được những giá trị thành tựu trí thức của nền Văn Hóa Phương Đông được ần chứa tiềm tàng trong hình thức đạo học của nền văn hóa này.

    So sánh hai nền văn hóa, họ có khuynh hướng cho rằng Đông Phương thì giỏi chịu đựng khổ hạnh còn Tây Phương thì biết tranh đấu để chiến thắng, Đông Phương thì tìm cách xoa dịu khổ đau và xa lánh cuộc đời còn Tây Phương thì sử dụng trí tuệ để làm chủ và thay đổi thế giới. Max Weber trong khi nghiên cứu các đạo Tin Lành, Do Thái và Phật giáo, đã bị ảnh hưởng lề thói tư duy của Đông Phương Học khá nhiều, cho rằng có một khác biệt bản thể (ontological difference) giữa các nền kinh tế Đông Phương và Tây Phương. Đạo Bụt có khuynh hướng thụ động, bất cần, muốn rút ra, trong khi lề lối suy tư của Tây Phương là thật tế, hữu hiệu và năng động. Ví dụ trong khi Tây Phương cho sự chấp nhận chịu đựng là yếu kém và thụ động thì Đạo Phật lại cho đó là một thái độ đại hùng, vô úy, chỉ có thể đạt được với quán chiếu sâu sắc.  Khi gặp khó khăn với đoàn thể hoặc với nhà cầm quyền thì người theo Đạo Phật có khuynh hướnh  « rút lui » để thiền quán và tìm sự an ủi. Thiền quán chỉ là thụ động và chấp nhận.  Giáo sư Langley,Viện trưởng Viện Đại Học Massachusetts, trong bài viết Thích Nhất Hạnh của Châu Á (Asia’s Thích Nhất Hạnh) đã viết: Á Châu có những tuệ giác triết học, đạo đức, xã hội, kinh tế và ý thức hệ rất thực tiễn có thể giải đáp được cho những vấn đề lớn lao của xã hội mà con người đang phải đương đầu, những tuệ giác ấy được dựa trên nguyên tắc tương quan tương duyên. Tu thân cũng quan trọng như tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Ta không có hy vọng thay đổi và chuyển hóa những điều kiện đang đe dọa và làm cho xuống cấp con người cũng như môi trường của con người, nếu ta không biết tự tu, tu với nhau, và trong tinh thần tương tức. Giáo Sư cũng nói rằng Á Châu từ nay không cần bận tâm về những cái mũ giả định mà Tây Phương đã đội vào cho mình lâu nay như thụ động, tiêu cực, v..v…nữa mà có thể, với những thành quả đạt được trong lĩnh vực giải phóng, đi vào ngay trong lãnh thổ của những người đã dán danh hiệu cho mình lâu nay, để  giúp lãnh đạo cho việc chữa trị tập thể. Những người như Mahatma Gandhi và Thích Nhất Hạnh không hề có mặc cảm, họ đã chứng tỏ một cách hùng hồn là tư tưởng đạo học Đông Phương có khả năng giải phóng và thay đổi xã hội. Và ta có thể nói tới những phương thức giải phóng của Á Châu (the Asiatic Modes of Liberation…).

    Tập san được chia làm bốn phần, bắt đầu bằng bài giới thiệu của Giáo Sư Viện Trưởng. Phần đầu có vài bài pháp thoại mới, vài lá thư và một bài thơ của Thích Nhất Hạnh có chủ đề Đạo Phật Vào Đời – có liên hệ tới các vấn đề chiến tranh, xung đột, môi trường, kỹ nghệ thực phẩm, tiêu thụ và lịch sử phong trào Đạo Phật Vào Đời. Phần thứ hai gồm những bài nghiên cứu và áp dụng quan điểm Đạo Phật Nhập Thế  của Thích Nhất Hạnh vào Khoa Học Xã Hội, khai thác sự trùng hợp giữa tư tưởng của thầy với triết lý thực dụng (Pragmatism) của William James, với tư tưởng Môi Trường sâu (Deep Ecology) của Arne Naess,  với triết lý xã hội, hình tượng xã hội và phân tích ý thức hệ . Phần thứ ba là bảy bài nghiên cứu áp dụng tư tưởng Thích Nhất Hạnh trong các trường hợp như giải quyết xung đột chính trị quốc tế, đem chánh niệm và thiền tập vào học đường, đem chánh niệm và ý thức tâm linh vào lãnh vực giữ trật tự an ninh trong các thành phố Hoa Kỳ, áp dụng chánh niệm và thiền quán để trị liệu trong trường hợp những người bị ám ảnh vì chiến tranh, đem ý niệm Đạo Phật Vào Đời vào lý thuyết kinh tế  và  vào guồng máy kinh tế, tư duy về Đạo Phật vào Đời để tìm ra những phương thuật hữu hiệu đối phó được với cuộc khủng hoảng sinh môi và hâm nóng địa cầu, và sau hết là dùng tư tưởng đạo Phật vào đời để đối trị với những thương đau , mất mát và bất hạnh trong gia đinh.Phần thứ tư đăng một bài tiêu biểu cho lối tư duy Tây Phương không hiểu thấu được cái tinh hoa của tinh thần đạo học Đông Phương do một vị giáo sư tuy đang giảng dạy về Tư Tưởng Thích Nhất Hạnh nhưng không thực sự nắm được tư tưởng Thích Nhất Hạnh và tiếp theo là một bài của Sư Cô Tùng Nghiêm soi sáng lại cho bài nói trên.

    Sau đây xin mời các bạn đọc bài giới thiệu tập san của Giáo Sư Langley

    Thích Nhất Hạnh, người của Châu Á
    Những phương thức Á Đông nhằm giải phóng con người và xã hội

    Tại Tây phương, nhất là tại Tây phương, và cả ở những vùng khác trên thế giới đã chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Tây phương, danh từ Đông phương thường mang một ý nghĩa tiêu cực và thua kém. Tây phương đã nhìn và đã gọi  lục địa Châu Á và người Châu Á với tiêu chuẩn của nền nhân bản Tây phương, cho văn hóa Đông phương là thấp kém và con người Đông phương thiếu tự do.

    Cố học giả Edward Said, tác giả cuốn Đông Phương Học, đã nói lên với rất nhiều can đảm rằng những ý niệm và từ ngữ mà Tây Phương sử dụng để miêu tả Đông Phương chứa đựng nhiều mâu thuẩn, úp mở và lúng túng. Ông đã sử dụng nhiều năm tháng của cuộc đời ông để vạch trần bộ mặt của cái gọi là Đông Phương Học, đã đưa ra những đề tài phản bác đường lối nghiên cứu ấy và đã tạo rất nhiều không gian và cơ hội để chúng ta có thể vạch lại hướng đi cho một nền Đông Phương Học đứng đắn.

    Tuy cuốn sách đã đạt tới những thành tựu lớn lao, nhưng tác giả vẫn chưa thiết lập ra được những tiêu chuẩn để các dân tộc trên thế giới có thể tạo dựng một tương lai chung. Nhưng nói về những phương thức của Á Đông nhằm giải phóng con nguười và xã hội (The Asiatic Modes of Liberation), thì ta đã có thể bắt đầu bằng những quy tắc tìm thấy trong Đạo Phật Nhập Thế (Engaged Buddhism).

    Tôi hiểu giải phóng ở đây có nghĩa là những hành động và những quá trình giải phóng, trong lĩnh vực sự sống và hành sử cá nhân, ý nghĩa cuộc đời, tuệ giác và liên hệ giữa con người và con người. Á Châu có những nguồn tuệ giác thực tiễn trong các lĩnh vực triết học, đạo học, xã hội, kinh tế và ý thức hệ, có khả năng đối phó và giải quyết được những vấn đề lớn nhất của nhân loại hiện nay. Những tuệ giác ấy đã dựa trên nền tảng tương quan tương duyên giữa vạn vật. Những đạo lý tu tập để chuyển hóa tự thân cũng quan trọng ngang bằng những nguyên tắc nhằm giải quyết các vấn đề triết học và kinh tế . Công cuộc giải phóng xã hội không thể tách rời ra khỏi công cuộc giải phóng bản thân con người. Những nguyên lý như tương tức, tương dung, tương duyên, vô ngã, cái ta riêng biệt và cái ta cộng đồng… không phải là chỉ để giải thích về vũ trụ vạn hữu mà còn là những phép tu tập chuyển hóa và hoàn thiện bản thân. Chúng cũng là những hành động rất cần thiết cho sự hoàn thành bổn phận, tranh đấu cho nhân quyền và hoàn tất trách vụ của mình đối với xã hội.

    Những phương thức Á Châu nhằm giải phóng con người và xã hội còn nói lên rằng ta không thể nào thay đổi và chuyển hóa tình trạng đang đe dọa và làm xuống cấp con người và trái đất nếu ta không biết cách tu tập để chuyển hóa bản thân, chuyển hóa cọng đồng và chuyển hóa mối liên hệ giữa con người và con người. Nó cũng nói lên rằng  Đông Phương chẳng cần phải chua chát, cay cú hay bận tâm khi nghe Tây Phương dùng những danh từ và khái niệm có tính cách chê bai, bóp méo và coi thường Đông Phương, mà trái lại, với những thành quả đã đạt được, Đông Phương có thể đi ngay vào trong mảnh đất Tây Phương và giúp cho Tây Phương chuyển hóa và giải phóng. Sự có mặt lịch sử của Mahatma Gandhi là một ví dụ, không thể nào lầm lẫn được. Và thầy Nhất Hạnh nữa, khi thầy dạy chúng ta : trong khi đi tìm phương cách cứu vãn địa cầu, cả nạn nhân cũng như kẻ gây ra tai nạn không ai có cơ hội sống còn nếu còn có ý muốn loại trừ nhau.

    Những bài khảo cứu trong tập san này đều có chủ ý đi về hướng chấp nhận nhau, ôm lấy nhau, gạn lọc tâm ý mình và thực hiện con người toàn vẹn. Và tập san nầy đã thành công trong việc vinh danh cuộc đời và sự nghiệp giảng dạy của thầy Nhất Hạnh, trong đó có chủ trương đem đạo Phật đi vào cuộc đời.

    _______________________
    Tác giả Winston Langley là giáo sư chính Chính Trị Học tại trường Đại Học Massasuchetts. Ông cũng dạy về nhiều môn khác như Luật Lệ Quốc Tế và Nhân Quyền. Ông hiện là Quyền Viện Trưởng Viện Đại Học Massasuchetts . Trong các tác phẩm đã ra đời của Ông, ta có thể kể : Women ‘ Rights  in the US : A Documentary History  và Human Rights : The Major Global Instruments.