Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy

Ở tiểu bang California của Hoa kỳ có một thanh niên đẹp trai, học giỏi, tốt nghiệp tại một trường đại học nổi tiếng và nhà cũng giàu có lắm. Anh ta có nhiều bạn gái, nhiều cô rất là xinh. Anh sống với mẹ và bà mẹ nhận ra rằng, anh ta chú ý đặc biệt tới một cô mà cô này không phải là người xinh nhất trong số các bạn gái của anh. Cô ta vừa không được trắng trẻo như những cô gái khác lại hơi thấp. Bà không biết tại sao con trai của bà lại đặc biệc chú ý tới cô ta?

Một hôm vui miệng bà ta hỏi con trai: Này con, mẹ thấy con có nhiều bạn gái rất xinh đẹp, dễ thương mà tại sao con lại đặc biệt chú ý tới cô gái đó. Nó đâu phải là đứa đẹp nhất, xinh nhất, nó hơi thấp và không được trắng lắm? Chàng trai này không có biết trả lời mẹ như thế nào vì anh chưa bao giờ tự đặt câu hỏi. Thương ai tự nhiên mình thương chứ đâu có tính toán vì sao mình thương đâu. Suy nghĩ một chút, anh ta tìm ra được câu trả lời: thưa mẹ tại vì cô này hiểu con.

Anh chàng là nhà khoa học nhưng anh lại thích làm thơ. Anh có làm được bốn năm chục bài thơ và tất nhiên rất thích các bài thơ ấy. Mỗi khi anh đem thơ ra để nói chuyện với các bạn, cô đó chính là người lắng nghe nhiều nhất và trong khi phát biểu cô ta chứng tỏ là người hiểu thơ của anh chàng rất nhiều, những người bạn khác nghe thơ của anh họ dửng dưng không chú ý gì lắm. Vì vậy nên anh ta đã để ý đặc biệt tới cô đó, dầu cô ta không phải là người xinh nhất.

Hiểu biết là nền tảng của thương yêu

Trong đạo Phật chúng ta được học rằng thương yêu được làm bằng hiểu biết. Khi không hiểu được một người thì mình không có thể nào thương người đó, yêu người đó sâu sắc được.

Danh từ chuyên môn của đạo Phật là từ bi và trí tuệ. Từ bi tức là thương và trí tuệ là hiểu biết. Giáo lý của đức Thế tôn rất đúng vì nếu không hiểu được người đó thì làm sao thương người đó đích thực được. Người đó dáng bề ngoài dễ thương nhưng trong lòng có thể có những điều không dễ thương, có những khó khăn, khổ đau, những bức xúc mà nếu không hiểu thì không thể nào thương được và mình sẽ sinh ra giận hờn trách móc, buộc tội lên án. Vì vậy cho nên hình dáng bên ngoài không phải là tất cả, mình cần phải hiểu thêm tâm hồn bên trong. Đức Thế tôn dạy rằng, không hiểu thì không thể nào thương được, hiểu là nền tảng của thương.

Chúng ta người nào cũng có nhu yếu được hiểu và được thương, nhiều người có cảm tưởng rằng trong đời chưa có ai hiểu mình được hết mà không hiểu mình thì làm sao thương được mình, cho nên chúng ta đói cái thương nhưng mà chúng ta cũng đói cái hiểu lắm. Có những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ lang thang trong cuộc đời, đi tìm một người hiểu được mình và từ đó có thể thương được mình nhưng chưa bao giờ có cơ hội tìm ra được một người như thế, vì vậy khi  gặp được một người có khả năng hiểu được mình thì rất may mắn. Khi mình nghĩ đến tình yêu, đến hôn nhân, mình phải đặc biệt chú ý đến điểm này của giáo lý của đạo Phật.

Nếu người không hiểu mình thì sẽ không thương mình được và sẽ làm mình đau khổ suốt đời. Chồng mà không hiểu được vợ thì chỉ làm khổ vợ thôi, làm sao mà làm cho vợ có hạnh phúc được? Nếu vợ không hiểu được chồng, không hiểu được những ước mơ, những khó khăn, những bức xúc, những nỗi khổ niềm đau của chồng thì người vợ đó làm sao chấp nhận và thương chồng được, vì vậy nên chúng ta phải nhớ một điều, thương được làm bằng cái hiểu. Nếu người cha không hiểu được người con thì càng thương chừng nào đứa con nó càng khổ chừng đó, cha nào mà không muốn thương con nhưng vì không hiểu được những khó khăn, bức xúc của con, cho nên càng thương lại càng làm cho con khổ.

Nhân danh tình thương mà người ta làm khổ nhau, đó là chuyện xảy ra trong đời sống hàng ngày. Tôi là một người vốn không ưa mùi sầu riêng. Một bữa nọ trên bàn Phật có một trái sầu riêng của ai dâng cúng. Tôi đang tụng kinh Pháp Hoa mà không chú tâm, không tập trung được vì mùi sầu riêng đó (hồi đó còn trẻ, mới hơn hai mươi tuổi thôi, tôi tụng kinh Pháp Hoa một mình) nên tôi lấy cái chuông úp trái sầu riêng lại và tụng cho xong phẩm kinh. Tụng xong tôi lạy ba lạy và giải phóng trái sầu riêng ra khỏi cái chuông. Quý vị vì thương tôi tụng kinh mệt mà mời tôi ăn vài múi sầu riêng thì chắc là tôi …chết, đó là thương nhưng mà không hiểu.

Vì vậy, không hiểu con thì không thể thương con được. Người cha phải tìm hiểu con mình: con ơi, con có nghĩ rằng bố hiểu được con không? Mình phải hỏi câu đó. Mình là mẹ cũng thế, mình phải có thì giờ để hỏi: Con ơi con có nghĩ rằng mẹ hiểu được con hay không. Nếu con thấy mẹ chưa hiểu được con thì xin con nói cho mẹ biết những  nỗi khổ niềm đau, những khó khăn của con để mẹ có thể hiểu và mẹ sẽ không làm khổ con như trong quá khứ? Đó là ngôn ngữ của tình thương. Nếu mình làm bố thì mình cũng phải thực tập như thế này: Con trai của bố ơi, này con gái của bố ơi, con trai của bố có nghĩ là bố hiểu được con hay không? Tình thương của bố có làm cho con ngột ngạt, khổ đau hay không? Nếu con nghĩ rằng bố chưa hiểu con thì con phải giúp bố, con nói cho bố nghe những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc của con để bố hiểu và bố sẽ không có áp đặt lên con những ý kiến của bố. Ngôn ngữ đó đích thực là ngôn ngữ của tình thương.

Mình cũng vậy, có khi mình giận hờn bố, mình trách móc bố, mình không nói ra nhưng mà mình có giận bố, giận mẹ. Cái đó cũng do mình không hiểu rõ bố và hiểu rõ mẹ. Mình phải giúp bố, giúp mẹ: Bố ơi, bố có nghĩ là con hiểu được bố hay không? Mẹ ơi, mẹ có nghĩ rằng con hiểu được mẹ hay không? Tại vì mẹ có những nỗi khổ niềm đau, những khó khăn mà chưa bao giờ con được nghe. Nếu mà mẹ nói cho con nghe những nỗi khổ niềm đau, khó khăn của mẹ thì có thể con không còn hành xử như trong quá khứ. Con đã lì lợm, phản ứng, tẩy chay, con đã lạnh lùng. Những cái đó xảy ra là vì con không hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc của mẹ. Mẹ nói cho con nghe đi để từ nay về sau nhờ hiểu được mẹ mà con sẽ không hành xử như thế.

Đó là một người con có hiếu, đó là ngôn ngữ của tình thương. Bố ơi, bố có nghĩ là con hiểu được bố hay không, có thể là con chưa hiểu được bố, bố có những ước vọng, những bức xúc, những khó khăn, khổ đau, lo buồn mà con chưa biết được, vì vậy cho nên con đã hành xử không khôn ngoan. Con đã lì lợm, bất chấp, con đã thách đố bố một cách im lặng và cái không dễ thương đó là do con không hiểu được bố. Vậy xin bố nói cho con nghe những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc của bố để con hiểu, từ nay về sau con sẽ không hành xử, sẽ không phản ứng như thế nữa.

Đó là lời nói của một người biết yêu thương. Mà cả hai bên đều phải cố gắng. Phía cha mẹ phải thế mà phía các con cũng thế, đối với bạn bè của mình, mình cũng hành xử như thế.

Gặp một người mà khi mình nói, người đó không có khả năng lắng nghe, người đó  cướp lời mình hay áp đặt lên mình ý kiến riêng của người đó thì mình biết rằng nếu mình kết hôn với người ấy, mình sẽ khổ suốt đời. Tại vì cô ấy hay anh ấy không có khả năng lắng nghe, không có khả năng hiểu được mình.

Đây là điều thầy muốn trao truyền cho các con. Đây là một phương châm trong liên hệ hàng ngày. Muốn tìm một người bạn hôn phối để sống lâu dài với nhau thì mình phải theo nguyên tắc có hiểu mới có thương. Nếu người kia không có khả năng hiểu được mình thì mình biết rằng dù người đó có bằng cấp cao, có gia tài kếch sù, người đó có sắc đẹp thì người đó cũng sẽ làm khổ mình suốt đời, phải nhớ điều đó. Vì khi mình lấy một người mà người đó lại làm khổ mình suốt đời tức là mình đi vào một cái ngục tù gọi là tù chung thân. Hôn nhân có thể là mở cửa thiên đường nhưng mà cũng có thể là mở cửa tù ngục. Hôn nhân là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm rất là lớn, vì vậy các bạn phải cẩn thận lắm mới được.

Nghe một tiếng chuông để mình suy gẫm về chuyện đó và ghi nhớ rằng không hiểu thì không thể nào thương.

Hạnh phúc và khổ đau không phải chỉ là vấn đề của cá nhân

Văn hóa Tây phương khác với văn hóa Á châu. Tôi đã từng hướng dẫn rất  nhiều thanh niên, thiếu nữ Tây phương và tôi hiểu được tâm trạng của họ. Người Tây phương trong thế kỷ thứ hai mươi đã tôn sùng chủ nghĩa cá nhân. Khi họ nói tới tình yêu, vấn đề hôn nhân, mình yêu ai mình lấy ai đó là vấn đề của riêng mình. Gia đình không có dính líu vào, không cần hỏi ý kiến bố mẹ, không cần hỏi ý kiến những người khác, hễ mình yêu ai là mình có toàn quyền tự do định đoạt. Nhưng đối với văn hóa Á châu, hôn nhân của một đứa con trong gia đình là vấn đề của đại gia đình và đại gia đình đều có quyền góp ý.

Ở tiểu bang Texas có một cô gái Việt nói tiếng Mỹ rất giỏi. Cô tốt nghiệp đại học rồi và đang yêu một người con trai ở thành phố Houston Texas. Cô có ý muốn lập gia đình với người đó, trong khi bố của cô lại để ý cho cô một người khác, đây là một gia đình Việt Nam chứ không phải là một gia đình Mỹ. Nếu là một gia đình Mỹ thì cô nàng toàn quyền nhưng mà đây là một gia đình Việt Nam thành ra phải hành xử cách khác. Bố chấm người này mà mình lại chấm một người khác nên giữa hai bố con có sự căng thẳng, bố làm áp lực để con gái bỏ anh chàng của mình để chấp nhận anh chàng của bố. Nếu là người Tây phương họ sẽ nói rằng: con lấy chồng cho con chứ đâu phải là con lấy chồng cho bố, đó là việc của riêng con hay là con lấy vợ cho con chứ đâu có phải con lấy vợ cho bố. Việc đó thuộc quyền của con. Đó là ngôn ngữ của người Tây Phương. Nhưng là người Á châu, người Việt Nam, mình không được nói như thế vì hôn nhân của một đứa con là vấn đề hạnh phúc của cả gia đình. Nếu đứa con khổ đau thì cả gia đình cũng không hạnh phúc gì, cho nên cả gia đình phải có ý kiến. Mình chấp nhận ý kiến của tất cả mọi người trong gia đình, kể cả những đứa em của mình, những đứa em còn bé tí nhưng có thể  chúng nó cũng có nhận xét hay.

Năm đó tôi về tiểu bang Texas để mở khóa tu cho đồng bào và tôi biết được câu chuyện căng thẳng giữa hai cha con nhà nọ. Tôi mới đưa ra một giải pháp là: bố mẹ cho phép mời anh chàng mà con gái đã chọn tới và ở chơi vào dịp cuối tuần. Đến chơi như một người khách, ở lại luôn đêm, cùng ăn cơm, uống trà, nghe nhạc, cùng đi dạo chung và để cho mọi người trong gia đình có cơ hội nhận xét. Từ những người lớn cho đến các em bé đều có quyền chơi chung với người con trai đó và có quyền nhận xét. Sống với nhau bốn mươi tám giờ đồng hồ, người con trai đó sẽ không  dấu được tung tích của mình đâu, người con trai đó khi nói, cười, ăn, mặc, khi chơi đùa sẽ lộ bản chất, tung tích của mình. Bốn mươi tám giờ chơi với nhau, tìm hiểu được nhau rất là nhiều. Đến tuần sau thì gia đình nên mời người con trai mà bố chọn và cô gái phải cho người con trai đó một cơ hội.

Vì khi mình chọn một người rồi thường thường mình cứ cho người đó là nhất number one và mình loại trừ tất cả những người khác, có thể là mình chủ quan. Cho nên người mà bố chấm, tuy là mình chưa yêu, mình chưa thích nhưng mình cũng phải cho người đó một cơ hội và mình cũng chấp nhận mời người đó tới cuối tuần, cũng ăn cơm, cũng đi dạo nghe nhạc, cũng sinh hoạt với tất cả gia đình trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Trong thời gian bốn mươi tám tiếng đồng hồ đó, tất cả mọi người đều có cơ hội để quán sát biết rõ bản chất của từng người, xem thử người đó có khả năng hiểu, có khả năng thương, có khả năng mang lại hạnh phúc cho con, cho chị mình hay không?

Gia đình đó là một gia đình Phật tử cho nên đã nghe lời thầy và đã thực tập như thế. Vậy nếu các bạn đang lâm vào tình trạng đó, nghĩa là mình đã chọn một người rồi nhưng mà bố mẹ chọn một người khác thì xin bố mẹ theo giải pháp này để mình có cơ hội tìm hiểu cả hai người, đôi khi mình đổi ý, biết đâu! Tại vì chúng ta ai cũng có  khuynh hướng chủ quan, tưởng rằng tri giác của mình là đúng nhưng mà tri giác của con người thường thường là sai lầm. Tri giác sai tức là nhận thức sai, nó sẽ làm cho mình khổ suốt đời. Tri giác sai lầm ở trong đạo Phật gọi là vọng tưởng. Tưởng là tri giác, vọng là sai lầm. Vọng tưởng điên đảo tức là ngược lại với sự thật, điên đảo là chổng đầu xuống, lộn ngược. Vì chúng ta là con người, chúng ta còn có những tri giác sai lầm, cho nên chúng ta đừng tin chắc lắm về tri giác của chúng ta, nhất là khi chúng ta có một ít đam mê.

Trong tình yêu có chất đam mê và khi đam mê thì mình không sáng suốt lắm. Các anh các chị phải nhớ điều đó, trong tình yêu nó có chất đam mê. Hễ mà đam mê thì thế nào cũng mất bớt sự sáng suốt, cho nên phải nhờ tới sự sáng suốt của những người khác, trong đó có bố, có mẹ, có thầy mình, có bạn mình, phải để thời gian ra nhiều mà quán sát, nhận xét. Đức Phật đã dạy về tình yêu rất sâu sắc. Thầy có viết một cuốn sách nói về tình yêu bằng tiếng Anh và đã được dịch ra ba bốn chục thứ tiếng trong đó có tiếng Việt. Đó là cuốn Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy. Nếu muốn đọc thì các bạn nên thỉnh cuốn đó.

Trong tình thương mà Bụt nói tới, có bốn yếu tố gọi là từ, bi, hỷ, xả. Mình thường hay nói về từ bi hỷ xả nhưng ít người trong chúng ta hiểu được bốn chữ đó.

Từ có nghĩa là hiến tặng hạnh phúc, làm cho người kia có hạnh phúc. Nếu tình thương không hiến tặng được hạnh phúc cho người kia, thì đó không phải là tình thương đích thực. Yêu người ta, thương người ta mà cứ làm cho người ta khổ thì đó không phải là tình yêu, không phải là tình thương. Trong liên hệ giữa mình với người kia nếu mình ngày nào cũng khổ hết thì mình biết rằng tuy có đam mê, tuy có tình yêu nhưng đó là tình yêu hệ lụy, nó sẽ đem tới khổ đau, cho nên mình phải sáng suốt. Nếu trong liên hệ yêu thương đó mà mình có hạnh phúc thật sự, mình không khổ, mình không khóc thì lúc đó mới có chất liệu từ vì từ có nghĩa là khả năng hiến tặng hạnh phúc. Nếu người kia không có khả năng hiến tặng hạnh phúc cho mình mà cứ làm cho mình khổ hoài thì đó không phải là tình yêu đích thực.

Bi tiếng phạn là karuna. Bi là khả năng lấy cái khổ ra khỏi người khác. Mình có những niềm đau nỗi khổ. Người kia hiểu được và có khả năng giúp mình hết khổ, đó gọi là bi. Người con trai đó, người con gái đó có khả năng lấy cái khổ của mình ra khỏi được hay không hay là mình đã khổ, người đó còn trút thêm cái khổ vào cho mình nữa thì tình yêu đó chưa phải là tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực là phải có từ, tức là khả năng đem hạnh phúc cho mình, phải có bi là khả năng làm cho mình bớt khổ.  Mình cũng vậy, khi thương ai thì phải làm sao cho người kia có hạnh phúc và người kia bớt khổ. Nếu không, thì mình không thật sự thương, mình chỉ mê thôi chứ không phải là thương, mình chỉ say đắm, đam mê mà chưa phải là thương. Muốn có từ, có bi, phải học mới được, phải có thì giờ để nhìn người kia, để thấy người kia có những nỗi khổ niềm đau nào và quán sát tìm hiểu xem những nỗi khổ niềm đau đó có gốc rễ từ đâu, khi biết được gốc rễ của những nỗi khổ, niềm đau đó mình mới có thể giúp người kia tháo gỡ ra được. Cái đó phải tu tập, phải quán chiếu, phải có thì giờ, tại vì yêu thương không phải chỉ là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là vấn đề hiến tặng, mình có gì để hiến tặng không, mình có từ để hiến tặng không, mình có bi để hiến tặng không? Nếu không, mình còn gì để cho nhau, nếu mình chỉ có khổ đau và tuyệt vọng thì mình có gì để hiến tặng cho người yêu của mình đâu? Nếu người yêu của mình không có từ, không có bi, không có sự tươi mát, không có hạnh phúc, không có khả năng hiến tặng hạnh phúc cho mình, không có khả năng làm cho mình bớt khổ thì người đó tuy gọi là người yêu nhưng kỳ thực không phải là người yêu đích thực.

Thương yêu ở trong đạo Phật là một sự thực tập chứ không phải là sự hưởng thụ mà thôi. Tu tập như vậy thì càng ngày mình càng hạnh phúc và người yêu của mình càng ngày càng hạnh phúc. Giữa mình và người mình yêu có thể cái hiểu còn ít, mình cũng có thể thực tập được: Này anh ơi, anh có nghĩ rằng là em đã hiểu được anh chưa, tình yêu của em có làm anh bị ngột ngạt không? Nếu em chưa hiểu anh thì xin anh nói cho em nghe những khổ đau, những bức xúc, những khó khăn của anh để em từ rày về sau có thể chấp nhận và thương yêu anh được. Đó là sự thực tập.

Nếu mình là người con trai thì mình cũng nói như thế: Này em, em có nghĩ rằng anh hiểu được em không? Anh có khả năng làm cho em bớt khổ, anh có khả năng hiến tặng niềm vui cho em hay không, em nói đi? Anh có những khuyết điểm nào, em có những nỗi khổ niềm đau nào mà anh chưa biết thì xin em nói để cho anh có thể hiểu được và sau khi hiểu rồi anh sẽ không còn tiếp tục làm khổ em. Tất cả những cái đó thuộc về giáo lý của Đức Thế tôn đã dạy và mình có thể đem ra để thực tập được. Nếu mình thực tập trong vòng ba tuần bốn tuần lễ thì mối liên hệ giữa mình với người kia sẽ thay đổi một cách rất là mầu nhiệm.

Từ là khả năng hiến tặng hạnh phúc chứ không phải là ước muốn, mình muốn người kia hạnh phúc nhưng mình không có khả năng thì mình càng thương, người kia càng khổ. Thương mà không hiểu được người mình thương thì mình làm cho người thương bị thương tích. Vì vậy hiểu là gốc của thương mà muốn hiểu thì phải có thì giờ để quán chiếu để hỏi han và tìm ra gốc rễ của những khổ đau, khó khăn của người kia, mình mới có thể tháo gỡ cho người đó.

Chúng tôi là những người xuất gia, chúng tôi cũng thực tập thương yêu. Nhờ thực tập mỗi ngày cho nên chúng tôi giúp tháo gỡ được cho rất nhiều người, những người cha, những người mẹ, những người con tới với những nỗi khổ niềm đau, giúp tháo gỡ cho họ rất nhiều, đã giúp cho vô số các cặp vợ chồng cha con, mẹ con hòa giải được với nhau và đó là nhờ tu. Tuy mình không phải là người xuất gia, mình là người tại gia nhưng vì là đệ tử của Đức Thế Tôn, mình là con của Bụt, vì vậy mình cần phải đi chùa, cần phải học hỏi và thực tập thương yêu, mình phải biết tháo gỡ những nỗi khổ niềm đau của mình. Nếu mình làm được cho mình rồi thì mình có thể tháo gỡ được những nỗi khổ niềm đau cho người kia, người mình yêu thương, nếu không thì sự tác hợp giữa hai người chỉ đem lại khổ đau suốt đời cho mình.

Có những bà mẹ khổ đau suốt đời và dặn con: Con ơi con đừng đi lấy chồng như mẹ nữa, khổ lắm con ơi. Nói như vậy tức là thú nhận một sự thất bại của đời mình. Có những ông chồng nói rằng nếu trước đây mà tôi không lấy bà thì tôi đâu có đến nỗi như bây giờ. Các bà thì nói rằng nếu ngày trước ông mà không cưới tui thì bây giờ tôi đâu phải khổ đau như thế này, thân thể tôi nó ra như thế này. Đó là tại vì không cẩn thận lúc ban đầu và không biết tu tập theo những phương pháp của Bụt dạy.

Chúng ta đã nói tới Từ, nói tới Bi, khả năng hiến tặng hạnh phúc, khả năng làm cho người kia bớt khổ. Nếu khả năng đó trong ta còn yếu kém thì chúng ta phải tu tập, nếu không chúng ta càng thương người kia thì càng làm cho người kia khổ. Tất cả đều phải bắt đầu từ mình, đừng có đòi hỏi người kia, bắt đầu từ mình trước. Nếu mình có khả năng hiến tặng niềm vui mỗi ngày, hạnh phúc mỗi ngày, nếu mỗi ngày mình có thể giúp người kia bớt khổ được một chút thì tình yêu của mình đúng là theo đường hướng của Đức Thế tôn dạy.

Yếu tố thứ ba là Hỷ, tiếng Phạn là modita, có nghĩa là niềm vui. Tình yêu chân thật là phải làm cho cả hai bên đều vui hết, yêu mà mỗi ngày hai người đều khóc hết, đó chưa phải là tình yêu, vì vậy dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui, càng yêu thì càng có niềm vui. Niềm vui đó lớn, mình có thể đem ra chia sẻ cho mọi người, tất cả gia đình đều hạnh phúc vì hai đứa có hạnh phúc, có niềm vui với nhau. Đó là một cuộc nhân duyên thành công.

Yếu tố thứ tư của tình yêu, theo Bụt dạy, là Xả. Xả nghĩa là không phân biệt kỳ thị. Khi mình yêu ai rồi thì mình với người đó là một. Hạnh phúc của người đó là hạnh phúc của mình, khó khăn người đó là khó khăn của mình, khổ đau của người đó là khổ đau của mình. Mình phải làm cái gì để giúp cho người đó bảo tồn được hạnh phúc đó, làm lớn cái hạnh phúc đó hoặc là chuyển hóa nỗi buồn, cơn giận đó. Không có thể nói rằng đó là vấn đề của em, em ráng chịu hay là đó là vấn đề của anh, anh ráng chịu. Không, khi  mình yêu nhau thì mình không còn là hai thực thể riêng biệt nữa mà mình là một. Hạnh phúc không còn là vấn đề cá nhân nữa, khổ đau không còn là vấn đề cá nhân nữa, nếu người kia khổ thì làm sao mình hạnh phúc được, nếu mình khổ thì người kia làm sao hạnh phúc được.

Cũng như khi bố khổ thì mẹ làm sao hạnh phúc, nếu cha khổ làm sao con có hạnh phúc, cho nên trong đạo Phật, quý vị phải ghi nhớ vấn đề này: Hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân, khổ đau cũng không phải là vấn đề cá nhân. Trong tình yêu, dầu là tình yêu giữa bố con, mẹ con hay vợ chồng thì cũng như thế. Khi mình thấy được mình với người kia chung một số phận, người kia khó khăn thì mình phải tìm cách giúp người kia, người kia có hạnh phúc thì mình được thừa hưởng. Còn mỗi người đi tìm cái hạnh phúc riêng của mình, ông ăn chả bà ăn nem thì đó không phải là tình yêu theo đường hướng của Bụt dạy. Hạnh phúc không phải là vấn đề riêng tư cá nhân, khổ đau cũng không phải là vấn đề riêng tư cá nhân.

Tương kính như tân

Trong tình yêu nam nữ, vấn đề thân và tâm rất  quan trọng. Mình phải giữ cho tâm mình trong sáng và thân mình trong sáng. Trong đạo Phật tâm với thân là nhất như nghĩa là một. Trong liên hệ yêu thương mình phải tôn trọng người kia và mình phải tôn trọng mình, người nào mà không biết kính trọng mình thì người đó không phải là người yêu đích thực của mình đâu. Một người mà coi thường mình, khinh khi mình thì không thể mang lại hạnh phúc cho mình, khi thương một ai thì mình phải kính trọng người đó, mình không coi thường người đó, mình phải quý trọng người đó, mình phải nói rằng em là một thực tại mầu nhiệm trong đời của anh, anh rất kính trọng em, cho nên anh không bao giờ dám phủ phàng, nặng tay, dám nói những lời làm cho em đau khổ. Tình yêu, nhất là trong truyền thống của Đông Phương là phải có sự kính trọng.

Ở trong văn hóa Việt Nam có cụm từ tương kính như tân là kính nhau như những người khách. Vợ chồng phải kính trọng nhau, khi thay áo không thay trước mặt người kia, phải thay ở một chỗ kín, không có những hành động thô lỗ trước mặt người kia, cái đó là kính Kính nhau như là người khách quý. Vợ chồng kính nhau như là những người khách, đó là truyền thống của ông bà mình, người kia phải kính trọng mình và kính trọng luôn thân thể của mình vì thân thể cũng là một phần của mình. Người Tây Phương không hiểu được điều đó.

Thân thể là đền thờ của tâm linh

Có nhiều người Tây phương không hiểu được văn hóa Á Đông, vì vậy nhiều khi họ bày tỏ tình thương bằng cách sờ lên đầu mình nhưng cái đầu của mình rất là linh thiêng, sờ như vậy là bất lịch sự. Quý vị có nhớ hồi mình còn ba tuổi, thường thường bố mẹ hay kêu ra để trình diện với khách, tại bố mẹ rất hãnh diện về đứa con của mình. Con lạy bác ạ, con chắp tay lại đi, cúi đầu xuống lạy bác ạ. Tất cả chúng ta đều đã phải trình diện như thế hồi chúng ta còn nhỏ. Có người hỏi con có thương bố mẹ không, mình trả lời rằng dạ con có thương bố mẹ ạ, con có yêu bố mẹ.-Thương yêu con để ở đâu ?-Thương yêu con để ở trên đầu. Đó là những câu nói mình học, mình trả lời cho khách mỗi khi bố mẹ có khách. Như vậy trong văn hóa Á Đông, cái đầu là chỗ mình thờ cha, thờ mẹ thờ ông bà, thờ Phật, nếu người khác không phải là bậc ông bà, cha mẹ thì không có quyền sờ trên đầu  mình.

Mỗi khi các thầy, các sư cô cầm một cuốn kinh, cần chào ai hoặc là phải làm cái gì đó chưa có chỗ để cuốn kinh thì các thầy, các sư cô hay đặt cuốn kinh trên đầu, để hai tay có thể làm được chuyện khác. Cái đầu của mình nó tôn quý như thế, trong thân thể của mình cũng có những vùng linh thiêng khác mà không phải bất cứ ai cũng chạm tới được, cũng sờ mó được.

Trong tâm mình cũng vậy, trong trái tim của mình có những vùng rất sâu kín. Có những nỗi khổ niềm đau, có những thao thức mà mình giữ kín, mình không muốn nói cho người ta nghe, chỉ khi nào mình gặp một người bạn hiểu mình, mình mới bộc lộ sâu kín nhất ở trong lòng của mình, đó là vùng sâu kín nhất, linh thiêng nhất trong lòng mình, đó là nói về tâm. Thân cũng vậy, thân có những vùng rất thiêng liêng, rất sâu kín mà không phải bất cứ một người con trai nào hay một người con gái nào có thể đụng chạm tới được, chỉ người mà mình nguyện sống suốt đời mới có thể có cơ hội đó thôi, có quyền đó thôi.

Điều đó cũng tương tự như ở kinh đô có Tử cấm thành tức là chỗ gia đình vua ở, không ai được bén mảng tới chỗ đó, những người nào không có phép mà đi vào vùng đó có thể bị chém đầu. Chúng ta cũng vậy, chúng ta có những vùng trong cơ thể như vùng cấm địa, cấm thành, người nào sổ sàng mà chạm vào thì những người đó đáng bị chém đầu. Người con gái, người con trai cũng phải giữ gìn giống hệt như vậy, không để cho họ đụng chạm đến thân thể của mình vì thân thể cũng là đền thờ của tâm linh.

Tây Phương trong thế kỷ thứ hai mươi, giới trẻ đã đi qua một  thời đại khủng hoảng là vì họ không thấy được nguyên tắc đó, họ không biết tôn trọng thân của họ và lớn lên họ có những cuộc phối hợp giữa hai thân thể mà không cần tình yêu. Mười lăm, mười sáu tuổi đã bắt đầu có những liên hệ tình dục với nhau mà không hề có tình yêu. Không hiểu, không thương mà vẫn có quan hệ sinh lý như thường, thật tội nghiệp cho những người đó, vì sau này họ không biết thế nào gọi là tình yêu. Tình yêu là một cái gì rất  thiêng liêng, rất quý báu, nếu không có tình yêu mà cho hai thân thể giao hợp lại với nhau thì cái đó Tây Phương gọi là empty sex, empty nghĩa là trống rỗng, sex tức là tình dục, tình dục trống rỗng không có tình yêu ở trong đó. Những người đó, những người trai trẻ đó, những cô thiếu nữ đó lớn lên sẽ không có hạnh phúc tội nghiệp lắm vì không biết tình yêu là gì, chỉ biết nhục dục mà thôi, vì vậy các cháu đừng sa vào vết chân đó, đừng bao giờ có những liên hệ thân xác mà không có tình yêu. Rất nguy hiểm, tội nghiệp, rất uổng cho một đời người, mình chỉ hiến tặng thân mình cho người mà mình yêu thật sự mình thương thật sự, mình đem hết cả cuộc đời mình, gắn bó mình vào nơi người đó mà thôi, mình phải theo đường hướng văn hóa và tâm linh của đất nước mình.

Chúng ta đã biết truyện Kiều, biết  cái ngày gia đình Thúy Kiều đi dự sinh nhật ở bên ngoại, Thúy Kiều lấy cớ nhức đầu ở nhà một mình để có dịp sang thăm người yêu. Kiều đã vượt hàng rào sang thăm Kim Trọng. Hai người ở bên nhau từ sáng tới chiều. Họ làm thơ, uống rượu, đánh đàn và họ thề bồi, cắt tóc chia đôi. Gần cuối, Kim Trọng nói lâu nay anh nghe nói em là một nghệ sĩ rất tài ba, đàn hay, sáng tác nhạc hay, ước muốn của anh đêm nay là em đàn cho anh nghe.  Thúy Kiều đã chiều Kim Trọng, lấy cây đàn nguyệt xuống. Thúy Kiều đã sáng tác một bản nhạc rất hay nhưng cũng rất đứt ruột, nghe rất là buồn. Thúy Kiều đàn lên, Kim Trọng thấy nó hay quá mà cũng đau buồn rất là nhiều. Dưới ánh đèn Kim Trọng thấy Thúy Kiều đẹp quá và anh chàng không còn giữ được lễ nghi, bắt đầu có tính cách lơi lả, chàng bắt đầu hơi phóng túng. Thúy Kiều đưa tay ngăn lại, nói rằng em phải ngăn anh tại vì hạnh phúc của hai đứa mình nó tùy thuộc vào sự hành xử này. Ngày xưa Tạ Côn là một sinh viên yêu một cô nàng thợ dệt cũng đã có một cử chỉ thiếu tôn trọng, cô nàng đã dùng cái thoi đó để liệng vào Tạ Côn. Sau đó anh chàng thành đạt, có danh có tiếng, có nhiều cô tới nhưng anh chàng đã nhớ người ngày xưa cô thợ dệt và chính cô thợ dệt đó là người anh chọn làm người bạn trăm năm của mình. Ngày hôm nay em cũng phải hành xử như cô thợ dệt, em không cho phép anh như vậy.

Như tuồng trên bộc trong dâu
Thì con người đó ai cầu làm chi.

Thúy Kiều cũng kể chuyện Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh ngày xưa ở chùa Đông Cửu. Quân Thụy là người con trai rất tài ba, đẹp trai và Thôi Oanh Oanh là một cô gái sắc nước hương trời. Họ yêu nhau nhưng họ đã không tự kềm chế được sự ham muốn của thể xác. Về sau Trương Quân Thụy không lấy Thôi Oanh Oanh mà đi cưới một người khác. Khi mình trao thân một cách dễ dàng cho người con trai như vậy thì người con trai bắt đầu coi thường mình, cho là mình quá dễ, vì vậy người con gái phải có bổn phận tự bảo hộ mình, đừng để cho người con trai khinh thường mình, phải làm như Thúy Kiều mới được.

Nghe Thúy Kiều nói như thế thì Kim Trọng rất kính nể và sau đó trong suốt mười lăm năm, Kim Trọng luôn luôn nhớ tới Thúy Kiều.

Trong liên hệ nam nữ, trong tình yêu chân thật, mình phải giữ thân mình cho đàng hoàng vì tương lai của mình liên hệ tới chuyện đó và đó là đạo đức Đông phương mà chúng tôi đã trao truyền cho nhiều thanh niên thiếu nữ Tây phương trong thời gian hành đạo bên ấy. Đã có nhiều thiếu nữ Tây phương hành xử theo phương pháp này và đã đạt được hạnh phúc. Trước đó thì không cẩn thận, không tôn trọng bản thân mình và sau đó thì học được phương pháp này, giữ mình, kính trọng mình thì người con trai cũng kính trọng mình, dù mình là con trai hay con gái, mình cũng phải làm như vậy. Hạnh phúc lứa đôi đó là nền tảng, các con của mình sau này nó có hạnh phúc hay không là do mình có hạnh phúc với nhau hay không. Món quà quý nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con là hạnh phúc của cha mẹ, nếu mà cha mẹ khổ đau thì cha mẹ đâu có gì trao truyền lại cho con đâu, cho nên mình phải có hạnh phúc với nhau. Do đó trong liên hệ lứa đôi mình phải giữ gìn cho cẩn thận, mình phải học theo cái phương pháp của Đức Thế Tôn dạy.

Thầy xin nhắc để cho các anh các chị nhớ mấy điều đó.

Trước hết là có hiểu thì mới có thương. Nếu người kia không hiểu mình được thì sẽ không  thương mình được, nếu mình không hiểu người kia thì mình cũng không thương người kia được và mình sẽ làm khổ người kia.

Thứ hai là trong tình yêu, hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhânkhổ đau cũng không phải là vấn đề cá nhân. Khi mình đã yêu rồi thì hạnh phúc của người kia là hạnh phúc của mình và khổ đau của người kia cũng là khổ đau của mình.

Thứ ba là thân tâm nhất như, khi mình yêu thương thì mình phải có cái sự kính trọng người kia, nếu không có sự kính trọng đó thì mình làm hư cuộc hôn nhân và tác hợp của mình.

Tôi nghĩ rằng bài giảng hôm nay cần được các thầy, các sư cô lặp lại cho thanh niên thiếu nữ ở Việt Nam biết. Ở Tây Phương chúng tôi đã từng giảng dạy như thế nhiều lần và nếu quý vị muốn thật sự thành công trong tình yêu của mình phải thực tập theo những lời căn dặn đó. Những yếu tố từ, bi, hỷ, xả đó, nếu mình sống và yêu cho đàng hoàng thì nó sẽ mỗi ngày mỗi lớn, khi  tới mức rất lớn rồi thì gọi là đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Đến mức đó, mình rất gần với Phật và chữ Hán gọi là tứ vô lượng tâm.

Tứ vô lượng tâm là bốn  yếu tố của tình thương mà không gì có thể đo được, không có biên giới. Vô lượng tức là không cân đo được, không có biên giới. Bốn yếu tố của tình thương không có biên giới, vì vậy tình thương trong đạo Phật gọi là tình thương không biên giới. Khi mình yêu một ai mà mình làm hạnh phúc được cho người đó thì mình có cơ hội mở rộng tình thương để sau này mình có thể yêu được nhiều người, tất cả mọi người mọi loài. Đó là tình yêu trong đạo Phật.

Tôi xin giới thiệu cho các bạn trẻ cũng như các cô chú, các cụ cuốn sách của tôi viết về tình yêu: Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy.

Nhân đây tôi có một bản thư pháp kính tặng thượng tọa trụ trì của tổ đình Trung Hậu. Xin kính mời thượng tọa trụ trì ra để tiếp nhận thư pháp của chúng tôi tự viết để làm kỷ niệm chuyến viếng thăm và sinh hoạt chung với các vị tôn đức, các thầy, các sư cô và các Phật tử của tổ đình đạo tràng Trung Hậu.

______________________

Ngày 06.05.2007
tại chùa Trung Hậu, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
Đặc biệt dành riêng cho các bạn trẻ.

Ý nghĩa của dòng tu Tiếp Hiện

pháp thoại được Thầy Làng Mai  giảng vào ngày 11.6.2010, tại Học Viện Ứng Dụng Châu Âu, Đức quốc,
trong khóa tu dành cho giới Tiếp Hiện

Chiều qua, tôi vừa dịch xong câu cuối của kinh Pháp Cú bằng chữ Hán. Ở đây nhiều vị đã từng đọc kinh Pháp Cú dịch từ tiếng Pali nhưng ít người được đọc kinh Pháp Cú dịch từ chữ Hán. Kinh Pháp Cú bằng chữ Hán trong Hán tạng phong phú hơn kinh Pháp Cú bằng tiếng Pali và nhiều hơn tới mười ba chương. Chương một nói về Vô Thường. Câu cuối cùng của kinh Pháp Cú trong Hán tạng viết như sau: “Hình như trên đầu tôi đã bắt đầu có tóc bạc. Hình như tuổi trẻ của tôi đã bị người ta ăn cắp. Hình như thiên sứ đã tới báo cho tôi biết điều đó và có thể tôi phải xuất gia sớm.” Đó là câu cuối của kinh Pháp Cú trong Hán tạng. Hay không? Ai bắt đầu có tóc bạc rồi giơ tay lên. Nếu chưa xuất gia thì nghĩ đến chuyện xuất gia đi. Nếu xuất gia rồi thì tự hỏi mình đã xuất gia thật hay chưa.

Chúng ta được sinh ra làm người trên trái đất này là một may mắn lớn. Chúng ta có dịp rong chơi trong cõi địa đàng và nếu chúng ta không biết rong chơi thì đó là một điều rất uổng phí. Chúng ta có một câu thư pháp bắt nguồn từ một câu thơ chữ Hán: “Kim sanh bất bả Di Đà niệm. Uổng tại nhân gian tẩu nhất tao.” Tôi đã dịch sang tiếng Việt như thế này: “Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ. Làm người một kiếp cũng như không.” Mục đích của mình sinh ra trên cõi đời này là để rong chơi. Rong chơi là quan trọng nhất. Và hình như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng thấy được điều đó, ông viết: “Một chiều đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa.” Phải đi chơi mới được. Chúng ta chỉ cần mở mắt và lắng tai là có thể tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm của sự sống. Chim hót, thông reo, hoa nở… Thiên đàng của chúng ta đang có đó, nhưng chúng ta đã để cho ai đó đánh cắp mất tuổi trẻ của chúng ta, để cho tóc ta bây giờ đã bạc. Chúng ta đã tiêu phí thời giờ của chúng ta một cách rất oan uổng. Vì vậy chúng ta phải thức dậy, phải tập sống những ngày còn lại của đời mình một cách sâu sắc. Nếu không thì rất là uổng. “Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ. Làm người một kiếp cũng như không”.

Trong Kinh Pháp Cú chữ Hán cũng bắt đầu bằng một câu rất hay: “Thức dậy, hãy mở lòng hoan hỷ và mỉm miệng cười.” Và mình đã có bài kệ:

Thức dậy miệng mỉm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời.

Năm đức Bổn Sư tám mươi tuổi, Ngài để hết thời gian để đi chơi. Ngài đi xuống miền Nam, đi lên miền Bắc, đi khắp nơi. Và đi tới đâu thì Ngài cũng tận hưởng phong cảnh, địa lý vùng đó. Ngài đi chơi nhưng cũng đi hoằng hóa. Đi hoằng hóa nhưng cũng là đi chơi. Ngài không bỏ phí thì giờ của Ngài. Ngài biết rằng thì giờ của Ngài còn ít cho nên Ngài trân quí những giây phút còn lại của đời mình. Và có thể nói, trong những năm cuối của Đức Thế Tôn, Ngài rong chơi rất nhiều.

Vua Ba Tư Nặc cũng sinh cùng năm với Đức Thế Tôn, năm đó vua cũng 80 tuổi. Vua thấy Bụt đi chơi nhiều quá nên Vua cũng nổi hứng đi chơi. Thấy Bụt đi chơi với các thầy, các sư cô, vua cũng đem theo một số tùy tùng đi chơi trong vương quốc của mình. Họ là hai người bạn thân thiết. Một người là pháp vương, một người là quốc vương. Hai người trong khi đi chơi đã có cơ hội gặp nhau và đó là buổi gặp gỡ cuối cùng giữa hai người bạn thân. Kinh điển đã ghi lại buổi gặp gỡ đó trong một kinh rất hay gọi là “Pháp Trang Nghiêm Kinh.” Nếu quý vị chưa đọc kinh đó thì nên đọc. Trong đó vua Ba Tư Nặc ca ngợi Đức Thế Tôn trước mặt thầy A Nan.

Thiền hành là một pháp môn rất quan trọng của Làng Mai. Thiền hành là đi từng bước chân cho có an lạc, cho có thảnh thơi. Thiền hành là một sự thực tập rong chơi. Chúng ta thường đi như bị ma đuổi. Chúng ta vừa đi vừa nói, nên không thưởng thức được những bước chân của mình. Cho nên, thực tập thiền hành là để học cách làm thế nào thưởng thức được từng bước chân.

Khi quý vị uống một ly trà thì quý vị có thể trân quý, nâng niu chén trà và hớp từng ngụm trà với tất cả hạnh phúc của mình. Những người không biết uống trà thì uống ừng ực, uống như uống coca cola. Uống như vậy gọi là “ngưu ẩm”, tức là bò uống. Còn người biết uống trà thì uống từng ngụm nhỏ, ngậm mà nghe chất trà nuốt xuống rất là ngọt. Và cố nhiên là có những chén trá nhỏ, nhưng khi nâng chén trà nhỏ đó uống thì trong đó có tình huynh đệ, có sự tỉnh thức, có sự tự do, có an lạc. Một chén trà như vậy làm tỉnh người, đem lại rất nhiều hạnh phúc. Cho nên, trong truyền thống của Làng Mai mới có thiền trà. Thiền trà tức là tập uống trà trong chánh niệm. Chỉ cần một chén trà thôi là có thể đem lại hạnh phúc và tình huynh đệ rất nhiều rồi. Có khi cả giờ đồng hồ chỉ cần uống một chén trà thôi.

Khi chúng ta uống trà như vậy, mà khi chúng ta ăn cơm cũng như vậy, chúng ta thưởng thức từng miếng cơm. Chúng ta ăn nhẹ nhàng, thong thả, thưởng thức hương vị từng lá rau thơm, từng miếng đậu hũ. Ăn như thế nào để có hạnh phúc, có tự do. Cách chúng ta ăn rất khác với những con lợn ăn trong chuồng của chúng. Chúng ta ý thức từng cọng rau, từng miếng đậu hũ… Ăn như thế nào để có an lạc, thoải mái, thảnh thơi, có tình huynh đệ. Mỗi ngày hai ba lần chúng ta có cơ hội thực tập như vậy. Ngồi và ăn cơm với nhau là một sự thực tập. Chúng ta không ăn hối hả cho mau xong. Chúng ta ăn như một sự thực tập và ăn cơm như thế nào cho có hạnh phúc, đó cũng là rong chơi. Cũng như khi mình có một ly kem thì mình phải ăn như thế nào để từng thìa kem đem lại sự thích thú và an lạc.

Bên Pháp có khi họ quảng cáo yaourt như thế này: “Yaourt này ngon lắm. Hãy ăn chầm chậm thôi để được lâu.” Kiếp người cũng vậy, phải sống cho từ tốn, phải ngậm mà nghe, phải thưởng thức từng giây phút một. Những giây phút mà cuộc đời cho chúng ta để sống, chúng ta phải trân quý, chúng ta phải sống cho sâu sắc, sống cho thảnh thơi. Mà muốn như vậy thì phải học, phải nương vào tăng thân, phải học từ từ mới làm được. Nếu không thì uổng phí một đời. Có ai ăn cắp tuổi trẻ của mình đâu. Tại vì mình không biết sống, không biết trân quý. Chính mình bỏ phí tuổi trẻ của mình đấy chứ. Bây giờ tóc mình đã bạc, sứ giả của thiên đình đã tới báo. Màu trắng trên đầu mình là một tiếng chuông chánh niệm. Nếu mình vẫn tiếp tục sống như vậy thì hình hài này sẽ tan rã rất mau. Cho nên phải tỉnh dậy, phải học sống như thế nào để sau này không tiếc nuối, sống như thế nào để mỗi giây phút của đời sống hàng ngày trở thành một huyền thoại cho con cháu. Tổ tiên mình ngày xưa đã sống được như vậy và bây giờ mình cũng phải sống được như vậy.

Trong khóa tu dành cho những người nói tiếng Đức vừa rồi, thiền sinh rất hạnh phúc. Họ rất trân quý thiền hành. Khi thấy tôi hai tay dắt tay hai em bé mà đi trên cỏ xanh với những bông hoa vàng tím, họ thấy rõ được đây là vườn địa đàng, không cần phải đi đâu nữa và mỗi bước chân là một lạc thú. Mình thưởng thức từng bước chân một, giống như mình đang thưởng thức từng ngụm trà hay thưởng thức từng thìa kem. “Đi đâu mà vội mà vàng. Mà vấp phải đá mà quàng phải dây.” Đi như thế nào để mỗi bước chân là một niềm an lạc, là một hạnh phúc. Vì vậy cho nên, pháp môn Làng Mai là đi không nói chuyện. Đi mà nói chuyện thì đâu còn thưởng thức được những bước chân nữa, cũng như vừa ăn vừa nói chuyện thì đâu thưởng thức được thức ăn.

Trong đại chúng có những người đi được như vậy, những người ấy thưởng thức được từng bước chân của mình. Những người đó không đánh mất tuổi trẻ, không đánh mất thiên đường của mình. Khi tôi thấy những người học trò của mình đi như vậy tôi rất hạnh phúc. Tôi nói: “Những người này có thể tiếp nối được mình, có thể tiếp nối được Bụt.” Bằng cách đi những bước chân như vậy, mình tiếp nối được sự nghiệp của Bụt, tiếp nối được sự nghiệp của chư Tổ, tiếp nối được sự nghiệp của Thầy. Chúng ta có thói quen đánh mất mình. Chúng ta vừa mới nghe hướng dẫn về thiền đi, hướng dẫn về im lặng. Nhưng vừa nghe xong, đi ra ngoài là chúng ta nói chuyện oang oang lên và đánh mất bước chân liền lập tức.

Trong khóa tu tiếng Đức diễn ra tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu tại Đức vào tháng 6.2010, số lượng thiền sinh lên tới hơn sáu trăm người. Các thầy các sư cô đã đem hết tấm lòng của mình ra để tổ chức khóa tu. Các thầy, các sư cô và các vị cư sĩ ở đây làm việc rất cần mẫn để phục vụ cho khóa tu, và đã được đền bù lại xứng đáng. Quý vị đã làm đủ thứ: nấu ăn, dọn dẹp, quét tước, đổ rác … bằng tình thương của mình. Chỉ cần niềm vui, hạnh phúc, nụ cười, sự chuyển hóa của thiền sinh là mình được đền bù rất xứng đáng. Khi thấy những người Đức tu tập có hạnh phúc, có chuyển hóa, các thầy các sư cô hạnh phúc lắm. Mình mong muốn người khác được hạnh phúc, nay ước muốn đó đã thành sự thật. Mình rất mong hạnh phúc cho mình, nhưng khi thấy người khác hạnh phúc thì mình còn hạnh phúc gấp bội. Cái mình nhận được lớn hơn cái mình cho đi rất nhiều.

Một khóa tu mà có nhiều người thực tập giỏi cùng tham dự thì khóa tu đó dễ thành công lắm. Bởi vì đó là cái vốn. Người thiền sinh mới tới nhìn sang bên trái thấy một người đi rất chánh niệm; nhìn sang bên phải thấy một người khác đi cũng rất chánh niệm, thảnh thơi, an lạc, nhìn phía trước thấy một người khác đi rất chánh niệm, thảnh thơi, an lạc, nhìn ra phía sau cũng có người đi từng bước thảnh thơi, an lạc. Trong hoàn cảnh đó thì người thiền sinh mới chỉ có thể đi tới thôi, không thể nào đi lui được, làm sao có thể đi đứng hấp tấp vội vàng trong khi những người khác đang đi rất chánh niệm? Do đó, khi mình tham dự vào một khóa tu thì mình phải đóng góp phần của mình vào cho khóa tu. Ngoài sự thực tập của mình, mình phải thưởng thức từng giây phút của khóa tu, phải thưởng thức từng hơi thở, thưởng thức từng bước chân, thưởng thức từng nụ cười và đó là sự cống hiến của mình cho bản thân và cho tất cả mọi người khác trong khóa tu.

Thầy Pháp Ấn có kể lại chuyện vị linh mục đã tới tham dự khóa tu. Vị đó hết sức ấn tượng tại vì thấy thiền sinh của mình đông như vậy mà rất im lặng, rất chăm chú, khi nghe giảng thì nghe hết lòng, khi pháp đàm thì pháp đàm hết lòng, khi ăn cơm thì ăn trong im lặng. Vị đó cũng ao ước con chiên trong giáo xứ của mình cũng làm được như vậy. Nói thế không có nghĩa là chúng ta đã giỏi. Chúng ta có thể làm hay hơn như thế. Chúng ta có thể đi thiền hành hay hơn. Chúng ta có thể hành trì phương pháp theo dõi hơi thở hay hơn. Chúng ta có thể sử dụng ái ngữ hay hơn. Chúng ta có thể thực tập im lặng hùng tráng hay hơn. Và mình phải công nhận những người Đức trong khóa tu vừa rồi đã thực tập hết lòng. Một phần họ được các thầy, các sư cô, các vị cư sĩ ở đây yểm trợ; một phần vì họ trân quý thì giờ mà họ có được để tu tập với mình trong năm ngày.

Mỗi người Tiếp Hiện, mỗi thành viên của dòng tu Tiếp Hiện phải là một cột trụ, phải là một nguồn cảm hứng. Mầu áo nâu tượng trưng cho sự khiêm cung. Khi chúng ta khoác lên mình chiếc áo màu nâu, chúng ta phải chứng minh được mình là một người khiêm cung. Màu áo nâu ở Việt Nam là màu của nông dân, là màu của khiêm nhường. Màu nâu cũng là màu của sức mạnh đại hùng, đại lực. Sức mạnh thầm lặng. Im lặng nhưng rất hùng tráng. Khi mình mặc lên chiếc áo nâu của người xuất gia, mình phải biểu trưng cho được tinh thần đó – một đức khiêm cung. Mình không cho mình hơn người, không cho mình là có quyền hơn những người khác. Mình có sức mạnh tâm linh và sức mạnh đó không ồn ào mà rất im lặng. Đó là ý nghĩa của màu nâu. Người cư sĩ Tiếp Hiện cũng vậy, khi mặc lên chiếc áo Tiếp Hiện cư sĩ màu nâu là cũng mang theo tinh thần đó. Mang theo tinh thần khiêm cung, mang theo sức mạnh của sự im lặng.
Ý nghĩa của chữ Tiếp Hiện:

Chữ Tiếp Hiện có nhiều nghĩa. Trước hết là chữ Tiếp, chữ tiếp có ba nghĩa:

– Nghĩa đầu tiên của chữ Tiếp là tiếp nhận. Mình tiếp nhận từ ai và tiếp nhận cái gì? Mình tiếp nhận từ tổ tiên những cái hay, cái đẹp, những tuệ giác và đức độ. Mình tiếp nhận từ tổ tiên tâm linh giáo pháp nhiệm mầu, hạt giống tuệ giác đó là vốn liếng. Vì vậy cho nên việc làm đầu tiên của người Tiếp Hiện là phải tiếp nhận cho được những cái hay, cái đẹp của tổ tiên trao lại. Ví dụ khi thầy ngồi thỉnh chuông mình có thể học cách thỉnh chuông của thầy. Ấy vậy mà xuất gia được hai, ba năm rồi mà mình thỉnh chuông vẫn chưa được. Tiếng chuông của mình còn chát hoặc bế tắc. Đó là do mình không chịu quan sát để tiếp nhận.

Người cư sĩ hay xuất sĩ cũng vậy, khi mình thực sự có mặt đó, khi mình được thân cận Thầy hoặc người anh, người chị trong đạo, thì mình có thể học hỏi rất nhiều, có thể tiếp nhận được rất mau chóng. Cách của Thầy đi, đứng, tiếp xử, đó là Thầy đang trao truyền cho mình, mình chỉ cần quán sát là tiếp nhận được. Mình tiếp nhận được từ Bụt, từ Tổ, từ Thầy, từ những người đi trước. Có khi những người tới sau mình nhưng họ đã tiếp nhận được trước mình và mình phải bắt chước những người đó, phải tiếp nhận, học hỏi từ cả những người nhỏ hơn mình.

Tiếp nhận ở đây là tiếp nhận một gia tài, gia tài này không phải là tiền bạc, châu báu, mà là gia tài chánh pháp. Mình hãy thử đặt câu hỏi là mình đã tiếp nhận được bao nhiêu? Thật sự là chư Tổ rất muốn cho, rất muốn trao truyền nhưng tại mình không chịu tiếp nhận hoặc không có khả năng tiếp nhận mà thôi. Cũng như nhà thơ Xuân Diệu đã nói rằng: “Cho rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu”, làm phụ lòng người cho. Thành ra sự học hỏi, sự hành trì là một quá trình tiếp nhận. Mình phải có mặt để tiếp nhận và khi đã tiếp nhận rồi thì mình mới tiếp nối được. Vì vậy cho nên nghĩa đầu tiên của Tiếp là tiếp nhận. Mình tiếp nhận rồi thì mình hành trì, sử dụng, nuôi dưỡng.

– Nghĩa thứ hai của chữ Tiếp là Tiếp Nối. Tiếp nối ai? Tiếp nối Bụt, tiếp nối Tổ, tiếp nối Thầy, tiếp nối Tổ Tiên. Một người con có hiếu thảo là một người con tiếp nối được chí hướng của cha ông. Một người học trò có hiếu là một người học trò có thể tiếp nối được sự nghiệp của Thầy. Và nếu mình muốn tiếp nối được thì mình phải tiếp nhận cho được. Tiếp nhận chí nguyện và sự hành trì từ chư Bụt, chư Tổ và từ Thầy.

– Nghĩa thứ ba của chữ Tiếp là tiếp xúc. Tiếp xúc với cái gì? Trước hết là tiếp xúc với hiện tại mầu nhiệm, sự sống mầu nhiệm đang có mặt trong mình và chung quanh mình. Nếu không thì uổng cả một đời người. Nhưng muốn tiếp xúc với sự sống thì mình phải có mặt đó mới tiếp xúc được. Tiếp xúc như vậy để được nuôi dưỡng, để được chuyển hóa, để được lớn dậy. Tiếp xúc đây cũng là tiếp xúc với những nỗi khổ niềm đau trong tự thân và nỗi khổ niềm đau có trong hoàn cảnh, gia đình và xã hội của mình. Một khi đã hiểu được những nỗi khổ, niềm đau của bản thân, của gia đình và xã hội rồi thì mình mới biết mình cần phải làm cái gì và không nên làm cái gì để có thể chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau đó. Một mặt là tiếp xúc với những mầu nhiệm để được nuôi dưỡng, thứ hai là tiếp xúc với những khổ đau để hiểu, để thương và để chuyển hóa. Chữ Tiếp có nghĩa như vậy.

Chữ Hiện có bốn nghĩa:

– Chữ hiện, trước hết có nghĩa là hiện tại. Cái gì đang có mặt là sự sống, cái gì đang có mặt là tịnh độ. Chữ hiện có khi còn dịch là kiến, nghĩa là thấy những gì đang xảy ra xung quanh.

– Nghĩa thứ hai của chữ hiện là hiện pháp, là những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Hiện còn có thể dịch là kiến pháp, là những gì mình đang trông thấy trong giây phút hiện tại. Cái mình đang trông thấy là tăng thân, là cây thông, là những cơn mưa, là mặt trời v.v… Tất cả những cái đó mình phải tiếp xúc được. Những khổ đau hiện thực trong cuộc sống là những cái mình đang thấy và mình phải tiếp xúc. Mình không ở trong tháp ngà của sự tưởng tượng, của sự lý luận, của chủ thuyết. Mình phải thực sự tiếp xúc với sự thật, với những mầu nhiệm của sự thật. Và nhờ mình có khả năng tiếp xúc với những gì đang thực sự xảy ra cho nên mình mới thực tập được cái gọi là Hiện Pháp Lạc Trú. Hiện Pháp Lạc Trú là pháp môn sống an lạc từng phút giây trong hiện tại.

– Nghĩa thứ ba của chữ hiện là thực hiện, là làm cho mong muốn trở thành ra cụ thể. Sự tu chứng của mình cũng là thực hiện. Ước mơ, chí nguyện của mình là đạt tới tự do. Mình không muốn sống một cuộc đời hệ lụy, nô lệ. Mình muốn có tự do, tại vì chỉ có tự do mới đem lại hạnh phúc thực sự. Cho nên mình muốn xé toang những tấm lưới của sự đam mê, thù hận, ghanh tị đang giam hãm mình. Những chiếc lưới ấy nó đang cuốn lấy mình và mình không muốn kẹt vào những chiếc lưới đó, mình muốn thoát ra. Những vị xuất gia thực tập như những con nai vượt thoát những bẫy sập, tung tăng chạy nhảy khắp bốn phương. Đó là lời khen ngợi của một vị thiên giả khi thấy các thầy, các sư cô rong chơi không bị vướng vào lưới này hay lưới khác. “Như nai thoát bẫy sập. Chạy nhảy chơi bốn phương.” Trong kinh Bụt nói như vậy.

Đây là một kinh rất ngắn trong A Hàm. Một mùa hè nọ, có một số các vị xuất sĩ an cư trong một khu rừng. Các vị ngồi thiền, pháp đàm, ăn cơm im lặng… rất hạnh phúc suốt ba tháng trời. Trong khu rừng đó có một số vị thiên giả cảm thấy rất hạnh phúc vì thừa hưởng được sự có mặt của các vị xuất sĩ. Nhưng sau ba tháng an cư, các vị xuất sĩ bỏ đi đâu hết, khu rừng trở nên vắng tanh, rất buồn. Có một vị thiên giả thấy vậy lấy làm buồn và ngồi khóc.

Một vị thiên giả khác hỏi: “Tại sao anh ngồi buồn khóc vậy?”

Vị thiên giả kia trả lời: “Tại vì ba tháng vừa qua có một số các vị xuất sĩ an cư ở đây, các vị ngồi thiền, pháp đàm, ăn cơm im lặng… rất bình an và vui quá. Vậy mà bây giờ các vị ấy bỏ đi đâu hết rồi. Họ đi đâu vậy?”

Vị thiên giả kia trả lời: “Họ đi Kosala, đi Vaisali, v.v… Họ là những con người tự do, như là những con nai thoát khỏi bẫy sập. Họ chạy nhảy tung tăng khắp bốn phương.Đệ tử của Bụt tự do, hạnh phúc như vậy đó.”

Kinh đó là một kinh rất ngắn, trong đó có các câu là:

“Như nai thoát bẫy sập
Chạy chơi khắp bốn phương
Tỳ kheo đệ tử Bụt
Thảnh thơi là như thế.”

Thực hiện không phải là xây cất một cơ sở. Dù là Viện Phật học ứng dụng Châu Âu cũng chưa phải là sự thực hiện quan trọng nhất. Thực hiện, đó là sự tu chứng. Cái chính của người tu là phải thực hiện sự tự do. Đó là chủ đích, là hướng đi của người xuất gia.

Là học trò của Bụt, dù là xuất sĩ hay cư sĩ, mình không muốn sống một cuộc đời hệ lụy, ràng buộc, mình muốn có tự do thì mình phải dụng công thực tập. Chính công phu thực tập hàng ngày đó là giá trị của vị hành giả. Nó giải phóng cho mình thoát khỏi những chiếc lưới của địa vị, danh lợi, tham ái. Cái mình đi tìm là sự giải thoát, tự do.

– Nghĩa thứ tư của chữ hiện là hiện đại hóa, tiếng Anh dịch là actualization. Nghĩa là những pháp môn phải khế cơ, khế lý, phải thích hợp với thời đại.

Chữ Tiếp Hiện có nghĩa là như vậy thì làm sao dịch ra tiếng Anh cho được. Thành ra khi dịch sang tiếng Anh mình tạm dịch là Order of Inter-being. Nếu ai không biết tiếng Việt thì phải tìm hiểu ý nghĩa của hai chữ này. Hai chữ này cũng có gốc Hán – Việt, biết được ý nghĩa hai chữ đó thì biết được bản chất của dòng tu Tiếp Hiện và biết được hướng hành trì của dòng tu Tiếp Hiện.

Với những ý niệm đó, mình có thể bắt đầu hiểu được thế nào là đạo Bụt đi vào cuộc đời, đạo Bụt nhập thế, tiếng Anh gọi là “Engaged Buddhism”, chứ không phải là đạo Phật của tu viện. Tu viện không phải là một thực tại bị cắt đứt khỏi cuộc đời. Tu viện phải được coi như là một vườn ươm để trồng những cây con. Và khi những cây con đó sống, nó lớn đủ mạnh thì mình sẽ đem ra trồng ở ngoài xã hội. Đạo Bụt có mặt là vì cuộc đời chứ không phải đạo Bụt có mặt vì đạo Bụt. Nếu không có cuộc đời thì không cần đạo Bụt. Sở dĩ có đạo Bụt là vì cuộc đời cần tới đạo Bụt. Cho nên tu viện, trung tâm tu học của mình phải được coi như một vườn ươm. Trong tu viện mình được che chở, mình có những điều kiện để lớn lên. Và khi những cây con đã lớn thì thế nào cũng phải đem ra trồng ngoài xã hội để phục vụ cho xã hội. Đó gọi là đạo Bụt đi vào cuộc đời. Vì vậy, ngay khi ở trong tu viện nó đã có ý đi vào cuộc đời rồi. Và việc học và tu trong tu viện chỉ là sự chuẩn bị để đi vào cuộc đời mà thôi.

Tiếp Hiện – cánh tay nối dài

Bên Trung Quốc không có chữ “Đạo Bụt nhập thế” nhưng có danh từ “Nhân gian Phật giáo”, nghĩa là Phật giáo trong nhân gian.  “Nhân gian” là cõi người ta. Trong truyện Kiều có câu : “Trăm năm trong cõi người ta.” Đạo Phật ngay trong xã hội. Danh từ “Nhân gian Phật giáo”  cũng là “Phật giáo nhập thế” mà thôi. Ngay từ năm 1930 trở đi, tức là khoảng 80 năm trước, ở Việt Nam đã bắt đầu có phong trào đạo Phật đi vào cuộc đời. Thời ấy, những tạp chí Phật giáo ở Việt Nam đã bắt đầu nói tới “Nhân gian Phật giáo”, “đạo Bụt đi vào cuộc đời”.

Khi Tôi lớn lên, khoảng 10 tuổi thì đã được ảnh hưởng loại Phật giáo đó. Mình đọc báo, đọc sách, biết rằng trong quá khứ đạo Bụt đã từng đóng một vai trò khá quan trọng trong việc đem lại hòa bình và bền vững cho đất nước. Mình học lịch sử thì thấy đời Lý, đời Trần đạo Bụt rất hưng thịnh. Từ trên xuống dưới, từ vua tới quan, cho đến người dân đều hành trì đạo Bụt. Đó là sức sống tinh thần, pháp thân của cả một dân tộc, sự thực tập của cả một dân tộc. Không những các vua quan đời Lý tu tập rất giỏi mà các vua đời Trần tu tập cũng rất giỏi. Vị vua đầu tiên đời Trần là Trần Thái Tông, tuy là một nhà chính trị, ông phải giải quyết biết bao nhiêu vấn đề trong triều, nhưng vẫn hành trì thiền tập và sám hối mỗi ngày sáu thời.

Năm 20 tuổi, vua Trần Thái Tông đã có chí khí tu tập rất lớn. Vua có niềm đau trong lòng. Vượt thoát niềm đau, vua quyết tâm tu tập và đã thành công. Vua học Phật rất giỏi, thực tập thiền quán và đã sáng tác ra những tác phẩm Phật học còn lưu truyền lại cho tới ngày nay. 43 công án thiền và tác phẩm “Lục thời sám hối khoa nghi” của vua chứng tỏ rằng trong cung tuy  làm chính trị nhưng vua vẫn dành thời gian để học Phật. Vua hành trì dâng hương, sám hối, ngồi thiền mỗi ngày sáu lần. Cứ sau hai giờ làm việc thì vua ngưng lại và thực tập hai mươi phút rồi tiếp tục làm công việc chính trị. Bây giờ tổng thống Obama có làm được như vậy không? Nếp sống tâm linh nó nuôi dưỡng mình, giúp mình vững mạnh để có thể làm một nhà chính trị giỏi. Thành ra bây giờ mình đừng nói: “Ôi, tôi bận công việc quá, làm gì có thì giờ ngồi thiền, làm gì có thì giờ đi thiền hành.” Một ông vua mà còn làm được như vậy, thế mà mình lại lấy cớ là công việc nhiều quá không có thì giờ để tu.

Đạo Bụt đi vào cuộc đời thật ra không phải là có từ năm 1930, mà nó có từ lâu lắm rồi, trong truyền thống của mình. Đó không phải là một tư trào mới và mình chỉ là sự tiếp nối thôi. Mình đã có những tác phẩm như là “Đạo Phật ngày nay”,  “Đạo Phật hiện đại hóa”, “Đạo Phật đi vào cuộc đời”… Và khi mình hiểu được ý nghĩa hai chữ : “Tiếp” và “Hiện” thì câu chuyện của thầy trò mình thành ra rất đơn giản: Từ Phật giáo nhập thế đi tới Phật giáo ứng dụng. Chỉ có chừng đó thôi.

Mình đã có chữ “Đạo Phật đi vào cuộc đời” (Engaged Buddhism) nay mình có thêm chữ “Đạo Phật ứng dụng” (Applied Buddhism). Chữ ‘ứng dụng’ được dùng ngoài đời như là Khoa học ứng dụng (Applied science), hoặc Toán học ứng dụng (Applied Mathematics). Chữ ứng dụng được sử dụng rất nhiều.

Khi nói về Tam Bảo, mình giảng cho mọi người hiểu thế nào là Bụt, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng thì mình cũng phải chỉ cho người ta cái cách áp dụng giáo lý Tam Bảo vào đời sống hàng ngày. Trong khóa tu tiếng Đức này, mình có một bài giảng về phương pháp ứng dụng giáo lý Tam Bảo. Làm thế nào để thực tập quy y Tam Bảo? Khi mình tụng: “Con về nương tựa Bụt” hay là “Buddha saranam gachami” thì những cái đó chưa phải là quy y. Những cái đó chỉ là tuyên bố quy y thôi. Mình phải chế tác cho được năng lượng Niệm, Định và Tuệ. Khi năng lượng đó bảo hộ cho mình thì mình mới đang được che chở bởi năng lượng của Tam Bảo, (Bụt, Pháp và Tăng).

Cũng như vậy, khi thực tập bài kệ
“Quay về nương tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt
Soi sáng xa gần.
Hơi thở là Pháp
Bảo hộ thân tâm
Năm uẩn là Tăng
Phối hợp tinh cần.”

Thì mình phải thực tập thở như thế nào để khi thở ra, thở vào mình chế tác được năng lượng Niệm, Định và Tuệ. Trong khi mình thở ra, thở vào như thế thì mình chế tác được năng lượng của Bụt, của Pháp và của Tăng. Trong lúc ấy mình thật sự đang được che chở bởi Tam Bảo. Rất an toàn ! Những lúc mình chới với, hụt hẫng, bức xúc, không biết làm gì thì đó là những lúc mà mình cần phải quy y, quay về nương náu với năng lượng Tam Bảo. Làm được như vậy thì mình mới thực sự là một người Tiếp Hiện. Mình phải làm sao để có một sự thực tập cho vững chãi.

Mỗi khi mình có những khó khăn, mình bị bức xúc hay chới với thì mình biết phải làm gì để lấy lại sự thăng bằng, sự thảnh thơi, sự vững chãi và một trong những phương pháp để thực hiện điều đó là quy y Tam Bảo. Quy y Tam Bảo là một sự thực tập chứ không phải là một lời tuyên bố, một đức tin. Khi mình đang lao đao, nếu nương tựa vào năng lượng của Tam Bảo là Niệm, Định, Tuệ thì mình sẽ vững chãi, sáng suốt trở lại. Trong lúc ấy, mình sẽ biết nên làm gì, không nên làm gì và mình đặt mình trong tình trạng an toàn. Đó là đạo Bụt ứng dụng.

Nếu mình nói về Tam Bảo hay cách mấy mà không ứng dụng được thì chưa phải là Phật học ứng dụng mà chỉ mới là Phật học lý thuyết. Ở tây phương hiện nay có nhiều trường đại học cấp bằng tiến sĩ Phật học, nhưng Phật học đó không phải là Phật học ứng dụng. Mình có thể giỏi tiếng Tây Tạng, tiếng Pali, Sanskrit, lão thông lý thuyết Tam Tạng kinh điển, nhưng đó mới chỉ là Phật học mà chưa phải là Phật học ứng dụng. Nếu những người có bằng cấp tiến sĩ Phật học khi gặp khó khăn, bức xúc mà không biết làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy thì Phật học đó nó không giúp được cho mình.

Khi mình giảng dạy Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần… Tất cả những giảng dạy đó đều phải áp dụng được vào đời sống hàng ngày, chứ không chỉ có lý thuyết. Chúng ta có thể giảng kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm rất hay, chúng ta có thể phân tích kinh Kim Cương rất giỏi nhưng những cái đó có thể chỉ là những cái nói để thỏa mãn trí năng.

Chúng ta phải đặt câu hỏi:

  • Áp dụng kinh Pháp Hoa như thế nào để giải quyết những vấn đề bức xúc, khổ đau, tuyệt vọng của mình?
  • Áp dụng kinh Kim Cương như thế nào?
  • Áp dụng giáo lý Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo như thế nào ?

Cái đó mới gọi là Phật học ứng dụng. Vì vậy cho nên quan niệm Phật Học Ứng Dụng đến để bổ túc cho Phật Học Đi Vào Cuộc Đời. Việc học Phật của chúng ta ở trong nước cũng như ở các trường đại học đều rất từ chương, rất lý thuyết. Đó không phải là cái học mà Đức Thế Tôn gửi gắm. Chúng ta phải học Phật Học Ứng Dụng mới được. Học tới đâu thì phải hành tới đó. Là một vị giáo thọ thì thầy, thì sư cô phải cung cấp được Phật học ứng dụng cho những ai tới với mình. Và trong đời sống của mình thì mình phải làm một gương mẫu cho Phật học ứng dụng đó. Mình chỉ dạy cái mà mình đang làm.

Mình là một vị cư sĩ, mình là một vị giáo thọ tập sự hay đã được truyền đang giáo thọ thì mình cũng làm như vậy. Mình không học để khoa trương kiến thức Phật học của mình trong khi pháp đàm, trong khi nói pháp thoại. Mình chỉ nói và chỉ dạy những gì mà mình đang thực sự thực tập. Nếu mình dạy thiền hành thì mình phải thực tập thiền hành thành công tới một mức nào đó rồi mới nên dạy. Còn không thì đừng nên dạy, khoan dạy đã. Đó gọi là thân giáo. Dạy bằng sự sống của mình. Có những vị không thích nói pháp thoại nhưng những vị đó có thể là những giáo thọ rất giỏi vì các vị ấy trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, tiếp xúc, sống với đại chúng rất hài hòa, rất an lạc, rất cởi mở. Đó là những bài pháp thoại linh động. Đó là những viên ngọc quý trong tăng thân. Những người đó không phải chỉ giới hạn trong những vị xuất gia. Trong giới tại gia cũng có nhiều vị tu tập rất giỏi, rất tĩnh lặng, rất bác học. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có những người như vậy.  Các vị ấy là cư sĩ, nhưng cách các vị sống khiến cho các thầy, các sư cô cũng phải kính nể và xem đó như một vị thầy của mình. Cư sĩ Thiều Chửu, tác giả cuốn Hán – Việt từ điển , cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám… Họ là những người cư sĩ nhưng hành trì rất vững chãi. Họ lên pháp tòa và dạy kinh cho các thầy, các sư cô. Nhưng họ có đầy đủ sự khiêm cung. Cư sĩ Lê Đình Thám mỗi khi lên dạy các thầy, các sư cô thì luôn mặc áo tràng và đảnh lễ các thầy, các sư cô trước rồi mới lên dạy. Các thầy, các sư cô cũng rất cung kính đối với cư sĩ Lê Đình Thám.

Ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam đều có những vị cư sĩ như vậy. Và sự thật là các thầy, các sư cô rất cung kính đối với những vị cư sĩ này. Các vị ấy được cung kính không phải bởi vì các vị giàu, hay các vị có quyền năng gì mà các vị được cung kính bởi vì các vị có sự hành trì rất vững chãi. Các vị nói cái mà các vị làm.

Theo nguyên tắc không có chướng ngại nào, không có rào cản nào ngăn cách giới xuất gia và giới tại gia tu tập và làm việc chung với nhau. Vì chúng ta có sứ mạng đem Đạo Bụt đi vào cuộc đời, làm cho Đạo Bụt trở thành hiện thực, có thể ứng dụng được trong mọi trường hợp, cho nên chúng ta rất cần các vị giáo thọ. Vì vậy cho nên dòng tu Tiếp Hiện là một cánh tay nối dài của tăng thân xuất gia để đi vào cuộc đời. Cố nhiên là các thầy, các sư cô – những người xuất gia cũng đi vào cuộc đời nhưng số lượng các thầy, các sư cô không đủ. Ví dụ như ở Châu Âu, nước nào cũng muốn có khóa tu, ít nhất là mỗi năm phải có một khóa tu và nếu mình thỏa mãn nhu yếu đó của tất cả các nước Châu Âu thì ở làng Mai sẽ không có người tu trì, thực tập.

Vì vậy, mình cần có những tăng thân thường trú vững mạnh để làm  cơ sở. Tại Làng Mai, Tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, tại Bích  Nham, Lộc Uyển, Thái Lan, … hay các trung tâm khác phải luôn có một tứ chúng vững chãi thực tập quanh năm để làm vốn liếng và nếu gửi đi để tổ chức khóa tu ở các nơi khác thì chỉ một số người nào đó luân phiên đi thôi. Vì vậy, số lượng những người Tiếp Hiện xuất sĩ không đủ mà phải cần thêm rất nhiều những người Tiếp  Hiện cư sĩ. Những người Tiếp Hiện cư sĩ là cánh tay nối dài của tứ chúng để dang ra cho xã hội. Mình có nhu yếu có hàng ngàn vị cư sĩ Tiếp Hiện như vậy, để làm việc, để giáo hóa. Và cố nhiên mình không làm công việc của các vị giáo sư Phật học. Mình làm công việc tổ chức tu học và mình phải là mẫu mực của sự tu học. Mình phải nắm vững các pháp môn, nắm vững Phật học ứng dụng. Mình phải có hạnh phúc khi ngồi thiền, phải có hạnh phúc khi đi từng bước chân, phải có hạnh phúc khi thực tập im lặng hùng tráng. Mình phải có khả năng tổ chức một tăng thân tại địa phương và các thành viên trong tăng thân địa phương đó phải sống với nhau cho có hạnh phúc. Tăng thân phải có tình huynh đệ, gây được niềm tin cho người trong tỉnh, trong nước. Là người Tiếp Hiện mình phải làm cho được chuyện đó. Vấn đề không phải là có quyền hay không có quyền, vấn đề không phải mình là giáo thọ hay không phải là giáo thọ. Vấn đề là làm sao để tại cái vùng mình ở có một tăng thân tu tập có hạnh phúc, có tình huynh đệ, ở đó mọi người sống với nhau như anh chị em một nhà, không ai giành quyền hành để làm lớn, người nào cũng biết sử dụng ái ngữ và biết cách lắng nghe nhau. Tại mỗi quốc gia, mỗi thành phố mình đều phải có những tăng thân như thế. Mình phải làm như vậy ở Amsterdam, ở Paris, ở Frankfurt, ở Bruxelles, ở New York, v.v…  Ai sẽ làm chuyện đó ? Người Tiếp Hiện cư sĩ ! Các thầy và các sư cô sẽ yểm trợ, có khi đi chung, nhưng chính những người Tiếp Hiện cư sĩ phải làm chuyện đó.

Chiếc áo nâu của mình tượng trưng cho sự khiêm cung, tượng trưng cho sức mạnh im lặng. Mình phải xây dựng được một tăng thân tại chỗ, trong đó không có sự tranh giành địa vị, quyền lợi, trong đó có sự nhường nhịn, thương yêu. Chuyện đó là chuyện phải làm. Chuyện này là chuyện của người xuất gia đang làm và có thể làm hay hơn. Và chuyện này cũng phải là chuyện của tăng thân Tiếp Hiện cư sĩ đang làm và phải làm cho hay hơn. Nếu mình đoàn kết với nhau, hòa thuận với nhau, nếu có tình huynh đệ, có hạnh phúc thì tiếng thơm đồn xa và Thầy cũng được thơm lây. Thầy cũng có hạnh phúc thêm. Khi tăng thân Tiếp Hiện cư sĩ đã có hạnh phúc rồi thì làm việc chung với tăng thân xuất sĩ trong sự hòa điệu rất dễ. Người nào có tài năng, có đức độ thì thế nào tăng thân cũng nhận diện ra được và sẽ thỉnh cầu làm những công việc mà tăng thân rất cần người đó làm. Chúng ta có những vị giáo thọ cư sĩ, tập sự giáo thọ cư sĩ và rất nhiều vị cư sĩ rất giỏi khác nữa. Tôi không muốn nói tên của họ, nhưng họ khá im lặng. Họ mở những khóa tu, mở những ngày chánh niệm, giảng dạy rất hay. Họ không tạo ra những xung đột, mâu thuẫn và họ làm hạnh phúc cho rất nhiều người. Hy vọng là trong tương lai chúng ta sẽ có những khóa tu dài ngày cho người Tiếp Hiện để người Tiếp Hiện có thể bồi đắp được sự thực tập của mình, bồi đắp được chí hướng, bồi đắp được hạnh phúc và làm được bổn phận và trách nhiệm mà chư Bụt và chư Tổ giao phó. Chúng ta phải tiếp nhận cho được, phải thực hiện cho được chí nguyện đó. Chúng ta phải biến nó thành sự thật.

Nếu tăng thân ở tại địa phương ta vẫn còn ngổn ngang, chưa ngồi lại được, chưa thương yêu nhau được, chưa làm việc được với nhau thì chúng ta chưa thành công. Ai là người có trách nhiệm để làm cho tăng thân đó trở thành một tăng thân đẹp có tình huynh đệ, một tăng thân xứng đáng với tăng thân? – Chính mình! Chính mình là người Tiếp Hiện để làm chuyện đó, chính mình chịu trách nhiệm. Mình không thể nói tại vì người đó như thế đó, tại vì người kia như thế kia. Phải nói là tại vì mình tu chưa giỏi, tại mình chưa đủ khiêm cung, tại mình chưa đủ sức mạnh im lặng. Bên Bỉ cũng vậy mà ở bên Anh, Ý, Hà Lan, Mỹ, Pháp,… cũng vậy. Sứ mạng của chúng ta là tiếp nhận cho được, tiếp thu cho được, tiếp nối cho được và thực hiện cho được hoài bão của Bụt và Tổ. Dòng Tiếp Hiện có nhiều chuyện cần phải làm lắm. Mười bốn giới Tiếp Hiện cần phải tu chỉnh lại. Tất cả những cái hay, cái đẹp của Mười Bốn Giới Tiếp Hiện đã được tiếp thu vào Năm Giới nhưng những cái hay cái đẹp của Năm Giới chưa được Mười Bốn Giới Tiếp Hiện tiếp thu. Năm giới hiện giờ rất hay. Đó là công phu của tăng thân trong suốt hai năm trời. Và Mười Bốn Giới Tiếp Hiện có thể hay hơn. Nó đã hay rồi nhưng có thể hay hơn nữa. Ví dụ giới thứ tư là “tiếp xúc với khổ đau”.

“Ý thức rằng tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường thoát khổ, con nguyện không trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của cuộc sống. Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những khổ đau hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con biết rằng sự thật thứ tư là đạo đế chỉ hiển lộ khi nào con quán chiếu và thấy được tự tánh của sự thật thứ nhất là khổ đế, và con sẽ luôn luôn nhớ rằng mục đích của sự tu tập là chuyển hóa khổ đau trở thành an lạc.”

Đó là “tiếp”, tiếp xúc với khổ đau. Chúng ta có nhiều việc phải làm lắm và những công việc này cũng là tu, cũng như một phần của sự tu học. Chúng ta phải có một ủy ban nghiên cứu và tu chỉnh Mười Bốn Giới Tiếp Hiện. Người ta rất khen Mười Bốn giới Tiếp Hiện. Nhưng giới tướng Mười Bốn giới Tiếp Hiện có thể đầy đủ và hay hơn. Trong giới thứ tư, giáo lý Tứ Diệu Đế đã được đưa vào: nếu mình không hiểu được bản chất của khổ đau thì mình chưa thấy được con đường đi tới sự diệt trừ khổ đau. Nhưng trong giới này vẫn còn khiếm khuyết, trong giới nói:  “tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường thoát khổ”. Cái thiếu sót ở đây là có nói tới khổ đau nhưng không nói tới khổ đau của mình trước. Sự thật là khi mình hiểu được nỗi khổ niềm đau của mình, thì mình mới có thể thực sự hiểu được nỗi khổ niềm đau của người khác. Thiếu sót là ở chỗ đấy.

Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những khổ đau hiện thực khắp nơi trên thế giới.”

Ở đây chỉ nói tới việc tìm tới với những kẻ khổ đau để giúp đỡ họ, đồng thời tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về tình trạng khổ đau trên thế giới bằng những âm thanh, hình ảnh, tường thuật… Những việc này trên thế giới đã làm cả rồi. Nhưng việc nhận diện những khổ đau trong bản thân mình và quán chiếu vì sao mà những khổ đau đó có mặt thì trong giới chưa nói tới. Điểm yếu của con người hiện tại là trốn tránh khổ đau của chính mình. Mình có những nỗi khổ niềm đau nhưng mình không có can đảm để nhận diện, trở về để quán chiếu mà lại đi khỏa lấp niềm đau bằng cách tiêu thụ, bằng cách sử dụng âm nhạc, báo chí, tiểu thuyết và  internet. Mình sử dụng những thứ đó không phải vì mình thực sự cần, mà chỉ vì không muốn tiếp xúc với khổ đau trong tâm mình. Đó là vì mình đã không thực tập chữ “tiếp”. Mình muốn tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống nhưng mình cũng phải tiếp xúc với những khổ đau của bản thân. Mình phải tìm cho ra được gốc rễ của những nỗi khổ niềm đau trong chính mình. Và khi hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính mình rồi thì mình mới thấy được phương pháp diệt trừ. Cũng như hiểu được những khổ đau của mình rồi thì mình sẽ không làm cho người khác khổ đau nữa. Đây là điểm thiếu sót của giới này mà mình phải tu chỉnh lại. Cũng như thương yêu, nếu mình không thương được mình, không chăm sóc được cho mình thì làm sao mình thương yêu, chăm sóc được cho người khác. Phải hiểu mình trước, trước khi mình có thể hiểu được người khác. Phải thương mình trước khi mình có thể thương được người khác. Nếu không, cái thương đó sẽ đưa mình tới hầm hố.

Thầy đã nhờ một số vị nghiên cứu, đề nghị lập ra một đại hội Tiếp Hiện để tu chỉnh lại 14 Giới Tiếp Hiện, trong đó có sư cô Châu Nghiêm, sư cô Tùng Nghiêm, sư cô Định Nghiêm, thầy Pháp Lưu… Có những giới mà ta có thể gộp giới làm một để nhường không gian cho một giới mới. Những giới như là giới thứ : 1,2,3,5,11,14 đều có thể tu chỉnh lại và làm cho hay hơn. Như giới thứ nhất nói về thái độ cuồng tín, cố chấp đưa tới chiến tranh, khổ đau thì mình sẽ bổ xung thêm: vì có cái nhìn lưỡng nguyên, không có cái nhìn bất nhị nên có sự kỳ thị nguyên nhân đưa tới cuồng tín, cố chấp và thiếu bao dung.

Hiện giờ không những trong những lĩnh vực xã hội, trong lĩnh vực luân lý đạo đức mà cả trong lĩnh vực khoa học, thì vấn đề về cái nhìn lưỡng nguyên cũng là một trở ngại lớn. Sự tách biệt giữa Tâm và Vật như hai cái có mặt độc lập với nhau, sự phân biệt chủ thể và đối tượng là hai cái tách rời ra khỏi nhau. Điều đó không những trong chính trị, trong xã hội, trong tâm lý người ta bị kẹt mà ngay trong khoa học cũng bị kẹt. Vì vậy cho nên giới thứ nhất, mình phải đưa vào tuệ giác bất nhị. Tuệ giác bất nhị đánh tan được sự kỳ thị, sự cố chấp, sự phân biệt. Trong Năm Giới mình đã làm được chuyện này. Vì vậy, trong khi tu chỉnh Mười Bốn Giới, mình phải học hỏi thêm từ Năm Giới. Năm Giới hiện giờ rất hay. Thành ra, tất cả những gì có trong Năm Giới mà chưa có trong Mười Bốn Giới thì mình phải đưa vào Mười Bốn Giới. Mình đã đem những tinh hoa của 14 Giới bổ xung vào Năm Giới, thì mình cũng có thể đem những tinh hoa của Năm Giới mà bổ xung vào những chỗ còn thiều của 14 Giới. Năm giới hiện nay giống như Bồ Tát giới. Chỉ cần thực tập Năm giới thôi là đã có hạnh phúc rất nhiều rồi, đã có thể là một vị Bồ Tát rồi. Giới Tiếp Hiện ban đầu được thành lập là một hình thức của giới Bồ Tát. Trong truyền thống Việt Nam, khi các thầy, các sư cô nhận giới Ba La Đề Mộc Xoa là phải nhận thêm giới Bồ Tát. Nhưng nhận giới Tiếp Hiện thì không cần nhận giới Bồ Tát nữa, giới Tiếp Hiện rất hiện đại. Giới Tiếp Hiện được coi như giới Bồ Tát của chúng ta.

Trong 45 năm hành đạo và thuyết pháp, Bụt đã thay đổi rất nhiều phương pháp giảng dạy, và hành trì. Chúng ta cũng phải vậy. Bánh xe pháp mỗi ngày một đi tới. 30 năm lịch sử và hành đạo của làng Mai chứng tỏ rằng chúng ta luôn đi tới, luôn phát kiến những pháp môn mới, những cách giảng dạy mới có ích lợi hơn, có hiệu quả nhiều hơn. Vì vậy chúng ta không nên bằng lòng với giới tướng của Mười Bốn giới bây giờ. Chúng ta phải có một đại hội Tiếp Hiện để tu chỉnh, để phê duyệt sự tu chỉnh đó. Chúng ta có một ban nghiên cứu để tu chỉnh Mười Bốn Giới Tiếp Hiện nhưng tu chỉnh xong chúng ta phải có một đại hội Tiếp Hiện để chấp nhận. Và Mười Bốn giới Tiếp Hiện ít nhất phải hay bằng Năm Giới mới, hoặc hy vọng là hay hơn. Đây là công việc của mình. Đứng về phương diện khoa học kỹ thuật, mỗi năm người ta đều chế tạo ra những máy tính mới, những solfware mới. Đứng về phương diện sách giáo khoa cũng vậy, mỗi năm có những sách giáo khoa mới. Thì trong đạo Bụt mình cũng thế,  phải có những tiến bộ, phải đẩy bánh xe tiến hóa đi về phía trước thì đạo Bụt mới có thể đóng được vai trò lãnh đạo tâm linh. Những cái này dòng tu Tiếp Hiện phải biết. Mình phải biết mình đang đứng ở phía trước, phải đẩy bánh xe đi tới và chư Bụt, chư tổ đang trông chờ mình làm chuyện đó. Sáu người đầu tiên nhận giới Tiếp Hiện vào năm 1966, tới nay đã là bao nhiêu năm rồi? Qua thời gian, Giới Tiếp Hiện được tu chỉnh lại mấy lần và bây giờ nó cần phải được tu chỉnh một lần nữa.

Chúng ta có rất nhiều Phật sự phải làm và chúng ta phải làm những Phật sự đó trong tinh thần tu tập, coi đó như là đối tượng của sự tu học của mình chứ không phải là công việc và chúng ta phải có niềm vui khi làm những chuyện đó. Chúng ta phải có năng lượng, phải có sức sống của chánh pháp. Thầy tới tuổi này mà vẫn còn năng lượng. Thầy vẫn tiếp tục dịch kinh và Thầy nghĩ rằng càng ngày Thầy càng dịch kinh dễ hiểu hơn. Thầy có rất nhiều niềm vui trong khi dịch kinh, trong khi giảng dạy, trong khi thực tập, trong khi đi thiền hành, trong khi hướng dẫn cho những người tu tập. Vấn đề ở đây là vấn đề năng lượng. Nếu mình cảm thấy mình không có năng lượng là vì mình thiếu nguyện lực. Mình phải muốn làm cái gì đó cho quê hương, cho đất nước, ông bà, xã hội… Mình phải có lý tưởng. Phải có một nguyện lực. Phải có một niềm tin. Những người trong chúng ta – xuất gia hay tại gia – mà không thấy hăng hái lắm trong sự tu học, không chịu học, không chịu tu là những người đó thiếu sức sống của chánh pháp, thiếu nguyện lực, thiếu một khối lửa trong trái tim. Mỗi người Tiếp Hiện phải có một khối lửa trong trái tim, nó cung cấp sức sống, nó đẩy mình đi tới. Và khi mình đi tới như vậy thì mình có hạnh phúc. Dù là mình đang quét nhà cho đại chúng, đang nấu ăn cho đại chúng, tưới rau, dọn cầu tiêu… mình vẫn có hạnh phúc vì mình có một nguyện lực, có một chủ đích. Cái đó không phải là danh lợi, địa vị mà là tình thương lớn, để trở thành sự tiếp nối xứng đáng của Bụt, của Tổ, của Thầy.

Thầy Làng Mai giảng ngày 11.6.2010 tại Học Viện Ứng Dụng Châu Âu

Đoàn thanh niên Phật tử Âu châu

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 3.04.2008 chúng ta đang ở tại Xóm Mới, Làng Mai, Pháp Quốc.

Trong chuyến đi Ý vừa qua tăng thân có tổ chức buổi sinh hoạt cho những người trẻ tuổi thuộc thành phố Napoli. Có khoảng 500 thanh niên từ 16 tới 19 tuổi đã tụ họp tại một nhà hát, một  rạp xi nê tại thành phố để sinh hoạt với tăng đoàn và có một số thầy, cô giáo của các em cũng tới tham dự. Buổi sinh hoạt đó rất vui, rất hào hứng. Các em thanh niên đã đáp ứng một cách rất là nồng nhiệt, có rất nhiều hứng khởi, có rất nhiều niềm tin. Các em đã có cơ hội đặt những câu hỏi và phát biểu những cảm tưởng của mình.

Trong phần mở đầu, tôi có nói đến sự có mặt của những hạt giống giận hờn, khổ đau, bạo động trong tâm mỗi người nhưng cũng có những hạt giống của thương yêu, của niềm tin, của hạnh phúc trong mỗi người. Khi mình sống trong môi trường không thuận tiện, những hạt giống tốt thì không được tưới tẫm, còn những hạt giống xấu có cơ hội phát triển ngay trong khung cảnh của gia đình, học đường, xã hội. Vì vậy cho nên hạnh phúc của mình tùy thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh.

Trong trường mình học đủ thứ từ địa lý, toán học, lịch sử cho đến văn chương nhưng thầy giáo, cô giáo không dạy mình những phương pháp để đối trị với những giận hờn, bạo động trong tâm của mình. Vì vậy trong tương lai cần có những giảng dạy, huấn luyện như vậy tại học đường để cho người trẻ có cơ hội học hỏi phương pháp đối xử lại với năng lượng bạo động, buồn chán, bực bội và thèm khát ở trong con người của họ và đồng thời  cũng học được những phương pháp để nuôi lớn những hạt giống của tình thương, của hiểu biết, của niềm vui. Như vậy Bộ quốc gia giáo dục phải đào tạo ra một số các thầy, các cô biết dạy về thương yêu, biết dạy về chuyển hóa. Môn học đó chưa có.

Những tệ nạn xã hội đó đã xảy ra rất nhiều trong hoàn cảnh mới của chúng ta. Bạo động, ma túy, sự đổ nát của gia đình đã xảy ra quá nhiều cho nên đã có những tiếng chuông báo động. Ngay chính ở trên nước Pháp, người ta báo cáo rằng trong năm 2007, những người trẻ bỏ nhà ra đi, chỉ trong một năm thôi là 45.000 em, sáu phần trăm những em đó đã đi theo, đi gặp gỡ một người (ở trên mạng lưới) mà các em chưa bao giờ từng gặp.

Tổng thống Pháp Sarkozy đã đề nghị đưa vào trong lớp học một môn học mới gọi là công dân giáo dục, luân lý và đạo đức. Ngày xưa có môn đó nhưng lâu nay môn học đó không còn nữa. Các nhà giáo dục không biết là trong môn đó mình sẽ dạy cái gì? Công dân giáo dục dạy cái gì? Đạo đức dạy cái gì? Tại vì đạo đức đã bị thất truyền từ lâu lắm rồi.

Buổi sinh hoạt với các người trẻ tại thành phố Napoli đã gây cảm hứng cho các thầy và các sư cô rất nhiều, tại vì tuổi trẻ đã đáp ứng lại giáo lý của sự thực tập này bằng tất cả sự nhiệt tình của họ nên các thầy, các sư cô nghĩ là mình có thể làm được một cái gì.

Ngồi trên máy bay trở về Pháp, Thầy có ý định là mình nên lập một đoàn thanh niên. Một đoàn thanh niên sử dụng pháp môn của đạo Bụt để xây dựng một xã hội lành mạnh, một xã hội có tình thương. Chúng ta đã có thanh niên như vậy rãi rác khắp các nước và nếu chúng ta tổ chức được thì chúng ta có thể quy tụ được những thành phần cốt cán mà chúng ta đã đào tạo ra được. Chúng ta sẽ thành lập một đoàn thanh niên như vậy, mở thành một phong trào tại Âu Châu.

Ngày xưa vào những năm 1930 ở tại Huế, bác sĩ Lê Đình Thám, người có công rất lớn trong việc thành lập hội An Nam Phật Học, đã thành lập  đoàn thanh niên Phật tử, gọi là đoàn Phật Học Đức Dục. Đoàn Phật Học Đức Dục đã hoạt động và đã cho ra đời gia đình Phật Hóa Phổ, sau này trở thành gia đình Phật tử của Việt Nam. Cái tên đoàn Phật Học Đức Dục nghe cũng hay. Giáo dục gồm có : thể dục, trí dục và đức dục. Thể dục để có sức khỏe. Trí dục là đào tạo để có thêm hiểu biết, thêm trí tuệ. Đức dục đào tạo về phương diện đạo đức. Đức ở đây là đạo đức, là cái mà Tổng thống Sarkozy nói tới, tức là Công dân giáo dục và đạo đức (Instruction civique và Morale)  Đức dục là như vậy.

Đoàn Phật Học Đức Dục tức là đoàn thanh niên Phật tử thực tập và truyền bá những phương pháp tu tập để cho đức hạnh của con người ngày càng lớn. Ngồi trên máy bay, Thầy có suy nghĩ cái tên thích hợp với thời đại mình. Ngày xưa vào năm 1950, Thầy có thành lập một đoàn Thanh Niên Tăng Ni ở tại thành phố Sàigòn, gọi là đoàn Liên Lạc Văn Hóa Học Tăng, có Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết yểm trợ, cố vấn. Đến năm 1964, Thầy thành lập đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và bây giờ mình tìm tên nào cho nó phù hợp. Thầy cần các vị cộng tác để tìm ra cái tên như vậy.

Tại phi trường Rome, Thầy có nói chuyện với sư cô Gina và Thầy có đề nghị tên bằng tiếng Anh là Buddhist Youth for a Healthy and Compassionate Society. Ý là mình cần phải có một  đường lối, một đường hướng xây dựng xã hội lành mạnh. Tại vì xã hội mình có quá nhiều thác loạn, tật bệnh. Tiếng Pháp có chữ sain tức là lành mạnh, healthy là lành mạnh. Chữ healthy cũng hay, trong chữ healthy có chữ heal là làm cho nó lành, health là sức khỏe. Trong tiếng anh có chữ sane, sober.

Trong xã hội chúng ta quá nhiều bạo động, quá nhiều căm thù, rất là thiếu lòng thương. Lòng thương mình dùng chữ tình thương, chữ Love thì nó không rõ ràng. Compassion, từ bi, rất là đạo Phật, rất là rõ ràng. Chúng ta đối xử với nhau làm sao có chút từ bi trong đó, thành ra chữ Compassion rõ rất là rõ. Dịch ra tiếng Việt là đoàn Thanh Niên  Phật tử Âu Châu hoạt động, xây dựng cho một xã hội  lành mạnh và có từ bi… dài lòng thòng. Thành ra các thầy và các sư cô trẻ, các phật tử trẻ phải ngồi lại với nhau để tìm cho Thầy một cái tên cho rõ, cho gọn. Nhân tiện mình thành lập viện Phật Học Ứng Dụng Âu châu rồi mình thành lập luôn đoàn thanh niên đó. Mình đã có một số yếu tố có sẵn, mình gom lại, mình làm thôi.

Mình cần ngồi lại, giở tự điển ra, tìm những chữ thích hợp để đặt tên cho đoàn thanh niên đó. Thầy muốn là những thầy cô trẻ của mình và các thanh niên phật tử cư sĩ của mình ngồi lại để làm chuyện này cho Thầy, càng sớm càng tốt. Sở dĩ mình dùng chữ Âu Châu là tại vì Liên hợp Âu châu  là cái đang thành hình,  còn là một giấc mơ đang từ từ được thực hiện. European Union bắt đầu từ một buổi họp tại Rome, có  ước mơ là làm sao cho các nước Âu châu  tới với nhau  để làm thành một khối kinh tế và chính trị. Trên bước đường thành lập Cộng Đồng Âu Châu, có rất nhiều khó khăn, cho đến bây giờ thì quy ước, hiến pháp của Âu Châu cũng chưa được chấp nhận hoàn toàn. Âu châu là một giấc mơ đang được thực hiện từ từ và người ta đang còn thương Âu châu lắm, chưa ghét.

Ngày xưa Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là một giấc mơ rất  đẹp, được rất nhiều người, nhiều nước trên thế giới tin tưởng nhưng bây giờ hình ảnh của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ không còn đẹp bằng ngày xưa nữa. Có rất nhiều người họ ghét Hoa Kỳ nhưng mà Âu châu thì chưa. Âu Châu là một giấc mơ, giấc mơ đang thành hình và nhiều nước rất là mong ước được đi vào trong tổ chức Âu Châu. Các nước ngày xưa theo Liên bang Sô viết rất là mong ước được đi vào Âu châu. Giấc mơ Âu châu còn đẹp, chưa làm người ta bị vỡ mộng.

Thay vì để International Buddhist Youth (for Healthy and Compassion), mình để European Buddhist Youth (for Healthy and Compassion), để mình nương theo giấc mơ đó mình đi lên. Chừng nào người ta ghét Âu Châu rồi thì mình sẽ đổi tên, bây giờ người ta vẫn còn thương Âu Châu thì mình còn dùng tên Âu châu. Đó là lý do khiến cho Thầy đặt tên cho viện Phật học của mình là Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu mà không đặt là Quốc tế. Tại vì Âu Châu vẫn còn đẹp, giấc mơ Âu châu còn chưa bị hoen ố.

Hướng đạo sinh, họ chào như thế này (hình), là vì ba châm ngôn của họ là phụng thờ Tổ quốc, giúp ích mọi người và tuân theo luật đoàn:

 

 

 

 

 

 

 

Còn gia đình Phật tử chào như vầy (hình): Ấn Cát Tường:

 

 

 

 

 

 

 

Ngày xưa đảng Cộng sản Việt Nam khi lên cầm quyền thì đưa ra cách chào: nắm tay lại chào như thế này (hình). Bây giờ bỏ rồi.

 

 

 

 

 

 

 

Theo cái thấy của mình là thanh niên phải có lý tưởng mà lý tưởng này là lý tưởng thương yêu, mình phải làm sao cho cơ thể mình có sức khỏe và về tinh thần có từ bi. Mình có khổ đau, mình chuyển hóa được con người của mình. Mình có được niềm vui, hạnh phúc, lúc đó mình mới xây dựng được xã hội. Vì vậy cho nên căn bản thực tập của chúng ta là năm giới. Sư cô Trang Nghiêm (ngày hôm nay lấy vé máy bay đi về Việt Nam), có nói với Thầy là ngày mà Trang Nghiêm đọc được năm giới, Trang Nghiêm rất là thích, nói là: trên thế giới này nếu ai cũng thực tập năm giới thì chắc chắn trên thế gian này sẽ có hòa bình và hạnh phúc. Vì vậy cho nên năm giới là thực tập căn bản của đoàn thanh niên này và năm giới được diễn tả như sự thực tập của thương yêu, của tình thương. Chỉ có tình thương mới được biểu hiện một cách cụ thể bằng sự hành trì năm giới. Nếu mình có thể xây dựng xã hội, làm cho những tệ nạn xã hội, những bạo động, căm thù biến mất là cũng nhờ  thực tập năm giới.

Mỗi khóa tu của chúng ta tổ chức tại các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á có những lúc có năm trăm, sáu trăm người cùng quỳ xuống để thọ năm giới, đó là những hình ảnh tuyệt đẹp, rất là tuyệt vời. Năm giới là con đường thoát, trong đó mỗi giới đều là châm ngôn của sự bảo hộ sức khỏe của mình, nuôi dưỡng lòng từ bi và thiết lập lại được những liên hệ giữa mình với những người khác. Chúng ta có con đường, chúng ta có sự thực tập và thanh niên thực tập như vậy thì sẽ đem lại hạnh phúc cho chính bản thân, cho chính gia đình mình. Với tư lương đó, với vốn liếng đó thì sẽ đi vào cuộc đời sẽ xây dựng được xã hội lành mạnh, không có ốm đau, một xã hội có tình thương. Vì vậy mình làm sao trao truyền cho người thanh niên thời đại một lý tưởng.

Bây giờ có những tổ chức thanh niên  lo chuyện cứu trợ, xóa đói, giảm nghèo, công bằng xã hội, cách mạng nhiều rồi. Nhưng mà đoàn thể thanh niên lo làm đẹp cho cuộc đời bằng con đường đạo đức tinh thần thì mình chưa có nhiều. Các thầy, các sư cô và các bạn trẻ cư sĩ, đây là lúc mình nên ngồi lại với nhau để mình đặt viên đá nền tảng cho đoàn thanh niên Phật tử như vậy.

Thầy tức cười, mỗi khi Thầy nghĩ đoàn thanh niên này gặp nhau thì phải chào như thế nào, không lý, năm giới thì mình đưa năm ngón tay ra:

 

 

 

 

 

 

 

Ở Làng Mai, mình có Ấn gọi là Ấn an trú trong hiện tại như thế này cũng hay lắm. Trong những Ấn của Bụt, khi Bụt đưa tay như vầy  (hình) gọi là vô úy (abhaya), không sợ hãi.

 

 

 

 

 

 

 

Tăng thân khi nghe bài giảng này, dầu là ở Việt  Nam, Hoa Kỳ hay là các nước khác thì các thầy, các sư cô, các Phật tử phải ngồi lại để bắt đầu viết những bài nói về nhu yếu, về phương pháp tạo dựng cho đoàn thanh niên này tại các nước. Chiều nay sau khi xem xong phim Pompei (thành phố ở Ý) rồi, nếu có thì giờ, mình nên ngồi bàn tới chuyện này, ngồi pháp đàm trong lúc đề tài còn đang nóng hổi.

 

Thầy Làng Mai giảng ngày 03.04.2008

Doanh nhân và vấn đề bảo vệ sinh môi

Khoảng ba tuần trước tôi có tiếp một ký giả của báo The Guardian tại Thất Da Cóc. Vị ký giả này hỏi tôi về vấn đề sinh môi vì ông hay viết về vấn đề sinh môi cho tờ báo The Guardian:

“Tại sao các nhà doanh thương lớn không làm gì cả để cứu hộ sinh môi? Họ là những người có quyền lực, có nhiều tiền, nếu họ tham dự vào vấn đề bảo hộ sinh môi thì đỡ biết mấy. Cho tới bây giờ, các nhà doanh thương lớn đóng góp quá ít vào vấn đề bảo hộ sinh môi”.

Thay đổi quan niệm về hạnh phúc

Tôi trả lời rằng không phải là các nhà doanh thương không biết vấn đề đang xảy ra. Họ biết chúng ta đang ở trong tình trạng nguy ngập. Có thể là họ cũng đang muốn làm cái gì đó để giúp cho địa cầu và loài người thoát khỏi tình trạng hiểm nguy. Họ là những người thông minh và họ có đủ thông tin. Không phải là họ không muốn làm, nhưng có thể là họ đang bị kẹt vào tình trạng không thể làm được. Những nhà doanh thương cũng có những khó khăn, những khổ đau trong đời sống hằng ngày cũng như trong tâm lý của họ.

Tuy họ có nhiều tiền, nhiều quyền lực nhưng tiền bạc và quyền lực không giải quyết được những bức xúc, khổ đau, trăn trở của nhà doanh thương. Họ có những nỗi khổ niềm đau, họ lúng túng trong đó không ra được nên họ không làm được gì để giúp chúng ta. Họ biết rất rõ về tình trạng của sinh môi, nhưng họ bị kẹt trong thế của họ, trong những bức xúc, khổ đau và trong quan niệm của họ. Các nhà doanh thương thường xử sự theo quan niệm: Nếu có nhiều tiền bạc, quyền hành thì mình sẽ có nhiều phương tiện để có hạnh phúc và giúp đời. Ta làm giàu không phải cho riêng ta mà để có công ăn việc làm cho những người khác. Sự thành công của doanh nghiệp là một sự thành công chung, cung cấp được việc làm cho nhiều người, làm cho mình và làm cho người có hạnh phúc. Nhà doanh thương cũng có lý tưởng của họ.

Tuy nhiên quan niệm về hạnh phúc đó có thể là một chướng ngại, không phải vì có công ăn việc làm mà ta có hạnh phúc. Nhiều người, ví dụ như các thầy tu, không có công ăn việc làm, không có lương tiền, không có nhà riêng, xe riêng nhưng họ không khổ đau gì mấy. Nghĩ rằng công ăn việc làm là điều kiện của hạnh phúc là không đúng lắm. Chính các nhà doanh thương, dù có biết bao nhiêu là tiền bạc, quyền hành nhưng họ cũng vẫn đau khổ. Các nhà doanh thương phải thay đổi quan niệm về hạnh phúc của họ.

Làm thế nào để họ thay đổi? Anh phải viết một bài báo để các nhà doanh thương thay đổi quan niệm của họ nhưng viết một bài báo thôi cũng chưa đủ, chúng ta phải làm thế nào để các nhà doanh thương nếm được mùi vị của hạnh phúc. Chỉ khi nào nếm được mùi vị của hạnh phúc đích thực, họ mới đi theo con đường đó. Còn nếu ta nói rất hay về con đường hạnh phúc mà người kia chưa nếm được mùi vị  của hạnh phúc đó thì người kia cũng chưa bỏ được cái mà họ đang theo đuổi.

Chúa Jésus nói với những người đánh cá: “Các bạn đừng giăng lưới vớt cá nữa, hãy theo tôi, đi giăng lưới vớt người”. Chúa Jésus cho những người đánh cá một lý tưởng. Từ trước đến nay, người đánh cá nghĩ phải bắt nhiều cá mới có hạnh phúc. Jésus cho họ một lý tưởng mới: Giúp được nhiều người thì có hạnh phúc hơn. Và những người đánh cá đã bỏ nghề đánh cá để theo Chúa Kito. Lúc đó Chúa Kito còn rất trẻ nhưng đã có thể mở đường cho họ. Họ thấy rằng con đường này là con đường hạnh phúc và đã buông bỏ tất cả để được nhẹ nhàng mà giúp đỡ người khác.

Các nhà doanh thương cũng vậy, họ cứ tưởng có tiền, có quyền hành là có hạnh phúc và có thể giúp đời, trong khi họ không có hạnh phúc và những người được cho công ăn việc làm cũng không có hạnh phúc. Là một hành giả ta biết thế nào là có hạnh phúc chân thật. Chúng ta biết thở như thế nào để có hạnh phúc, có an bình trong khi thở. Chúng ta tới đây để học phương pháp đó. Ai cũng thở, nhưng chúng ta phải học cách thở như thế nào để thở vào ta có hạnh phúc và thở ra ta cũng có hạnh phúc. Thở vào, ta làm lắng dịu hình hài của mình, buông bỏ những căng thẳng trong thân mình. Ai cũng thở, nhưng là một hành giả thì chúng ta phải học thở như thế nào để trong khi thở vào ta thấy mình vẫn còn sống, mà sự sống là một cái gì mầu nhiệm. Chỉ cần thở vào, thở ra là ta có đủ hạnh phúc rồi. Ta không nói suông về hạnh phúc.

Tôi sợ nếu anh viết một bài nói về hạnh phúc thôi thì sẽ không giúp được cho người đó. Anh phải làm thế nào để người đó nếm được hạnh phúc. Từ bãi đậu xe tới văn phòng, nếu nhà doanh thương biết đi thiền hành thì ông sẽ ngưng mọi suy nghĩ; ông theo dõi hơi thở, để ý tới bước chân; ông đi như thế nào để mỗi bước có an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc; ông tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Chuyện này nhà doanh thương có thể làm được nếu ông học pháp môn chánh niệm.

Nếu anh (ký giả) làm cho nhà doanh thương nếm được sự thảnh thơi, an lạc đó thì họ mới bỏ con đường bây giờ của họ để tìm con đường khác, cũng như những người đánh cá đã bỏ nghề đánh cá để theo Chúa Jésus để đi giúp người. Chỉ khi nào nếm được mùi vị hạnh phúc thật sự, ta mới hiểu ra là có một cách sống khác hơn, khỏe hơn, nhẹ hơn, hạnh phúc hơn và ta có can đảm bỏ được lối sống hiện tại, trước nhất là bỏ được ý niệm về hạnh phúc của mình.

Có thể anh ta vẫn tiếp tục làm doanh nhân nhưng làm doanh nhân một cách khác. Là giám đốc một doanh nghiệp, nếu anh có hạnh phúc thì những người làm trong doanh nghiệp của anh cũng có hạnh phúc. Anh không chỉ trả lương cho họ mà anh còn làm gương mẫu cho họ. Là một nhà doanh thương có quyền hành nhưng tôi vẫn có hạnh phúc. Tôi có thì giờ để thở, để đi, để ngồi với những người thương, tôi có khả năng và làm hạnh phúc cho họ, tôi có khả năng xử lý những nỗi khổ niềm đau để được nhẹ nhàng. Tôi muốn các anh cũng được như vậy, các anh đi làm không phải chỉ để có lương mà các anh cũng phải có được hạnh phúc.

Các anh hãy tổ chức để mỗi ngày chúng ta có một giờ thiền buông thư. Tôi sẽ hướng dẫn thiền buông thư cho các anh tại vì tôi đã học được phương pháp này.

Chúng ta đã được thấy hình ảnh của một ông giám đốc một doanh nghiệp ngồi hướng dẫn thiền buông thư cho 600, 800 nhân viên của mình. Đó là một hình ảnh rất đẹp, đó là đạo Phật đi vào cuộc đời. Đồng ra đồng vào không phải là mối quan tâm đầu của ông giám đốc mà hạnh phúc của ông và hạnh phúc của những người làm với ông. Không hẳn là phải cạo đầu, mặc áo người tu thì ta mới tu được. Là một nhà doanh thương ta cũng có thể tu được. Trong thời đại của chúng ta người ta coi thì giờ là tiền bạc, vì vậy ngồi hai giờ đồng hồ không làm gì là liệng tiền ra cửa sổ. Thì giờ là để làm tiền, tại sao ta để hai giờ ra ngồi không không làm gì cả? Nếu đi rờ rờ từng bước thì tốn thời gian vô cùng. Tại sao phải ngưng suy nghĩ, ta phải suy nghĩ để tìm trăm phương ngàn kế làm thêm tiền. Như vậy là không có lợi đứng về phương diện kinh tế.

Anh (ký giả) phải viết bài như thế nào đề các nhà doanh thương có thể thay đổi được quan niệm sống của họ. Các thầy, các sư cô Làng Mai mỗi ngày ngồi thiền, đi chậm chậm như vậy nhưng họ làm việc rất nhiều. Họ tổ chức khóa tu này rồi tới khoa tu kia rất nhiều ở khắp nơi. Nhưng nếu không có những giờ ngồi thiền, những buổi thiền hành, những buổi làm mới, nếu không có những phương pháp chế tác hỷ và lạc, nếu không biết cách xử lý những nỗi khổ niềm đau của mình thì họ đã không làm được những công việc kia.

Câu trả lời là chúng ta phải làm sao cho các doanh nhân nếm được hạnh phúc thật sự thì họ mới thay đổi được sự suy tư và cách sống của họ. Họ vẫn có thể tiếp tục làm nghề doanh thương nhưng làm với một chiều hướng khác.

Sư cô Hiến Nghiêm và sư cô Trai Nghiêm chia sẻ về thực tập chánh niệm tại Salesforce, Tokyo – 2017

Mối quan tâm tối hậu

Trong thời của Bụt cũng có những nhà doanh thương tới thực tập. Trong số những doanh thương tới nghe Bụt thuyết pháp và tham dự ngày quán niệm có một người tên Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ông đã cúng dường khu vườn mua được của thái tử Jeta ở thủ đô Savatthi nước Kosala để làm một trung tâm tu học cho các thầy.

Anathapindika có rất nhiều hạnh phúc khi làm một nhà doanh thương. Khi yểm trợ cho Bụt và tăng đoàn, ông đã có rất nhiều hạnh phúc. Ông có gia đình, có con trai và con gái. Ta có thể nói đó là một nhà doanh thương gương mẫu. Ông rất giàu và rất hào phóng. Ông giúp những cô nhi, quả phụ, những người già cả, túng thiếu, cô độc không có ai để nương tựa. Vì vậy người ta đã đặt cho ông tên là Cấp Cô Độc, tức là cấp dưỡng cho những người cô độc, neo đơn. Ông có rất nhiều bạn doanh thương, mỗi khi bạn có khó khăn thì ông giúp cho họ. Một lần doanh nghiệp của ông bị phá sản nhưng ông không khổ. Các bạn bè ông tới giúp ông tạo dựng lại sự nghiệp. Ông được dân chúng thương yêu. Ta có thể gọi ông là một nhà doanh thương kiểu mẫu.

Qua những bài pháp của Đức Thế Tôn nói cho ông Cấp Cô Độc, ta biết rằng ngay trong thời Đức Thế Tôn, Ngài đã có những giáo lý rõ ràng, chuẩn xác để dạy giới cư sĩ, trong đó có giới doanh thương. Từ đầu khóa tu tới bây giờ ta chỉ học toàn những kinh dành cho các thầy, các sư cô. Những kinh dạy về giáo lý vô thường, vô ngã, Niết bàn, các cư sĩ rất ít được học. Khi dạy cho cư sĩ, Đức Thế Tôn dạy rất thực tế tại vì cư sĩ có mối quan tâm khác hơn mối quan tâm của người xuất sĩ. Người xuất sĩ bỏ hết sự nghiệp, gia đình để đi tìm cái tối hậu hơn. Đó là cái thảnh thơi hoàn toàn. Mối quan tâm của người xuất sĩ, ta có thể gọi là mối quan tâm tối hậu (ultimate concern).

Mối quan tâm của người đời là làm sao để có sức khỏe, để làm ăn thành công, trong gia đình không có xào xáo, làm sao để hạnh phúc và sự an ninh của mình được kéo dài, làm sao để mua bán không lỗ lã. Đó là những mối quan tâm thường nhật rất con người, nhưng không phải là mối quan tâm tối hậu. Mối quan tâm tối hậu là những câu hỏi như: Ta là ai? Ta sinh ra đời làm chi cho khổ như vậy? Ta có con đường thoát ra hay không? Ta có thể đạt tới sự thảnh thơi, tới Niết bàn hay không? Ta có thoát khỏi được thân phận luân hồi sinh tử hay không? Là người xuất gia, ta thường có mối quan tâm tối hậu đó. Biết được mối quan tâm của người cư sĩ, Đức Thế Tôn cho họ một thứ giáo lý khác. Trong những bài thuyết pháp Đức Thế Tôn dạy cho Anathapindika, ta biết rất rõ là có một giáo lý đặc biệt dành cho cư sĩ.

Bụt giáo hóa người cư sĩ bằng tuệ giác mà không phải bằng sự tín mộ

Đứng về phương diện những mối quan tâm thì ngay từ thời Bụt còn tại thế, Ngài đã cung cấp cho giới cư sĩ những sự thực tập rất căn bản. Có người cho rằng đạo Bụt là dành cho người xuất sĩ, còn cư sĩ thì chỉ cúng dường, yểm trợ để làm phước và thực tập tín mộ mà thôi. Điều này không đúng. Tín mộ là bhakti (devotion). Đọc kinh Bụt dạy cho ông Cấp Cô Độc, ta thấy rất rõ là người cư sĩ không chỉ thực tập tín mộ, Bụt dạy tự giác rất nhiều, còn tín mộ thì phát sinh ra sau này. Trong khóa tu này chúng ta sẽ học hai kinh dành cho cư sĩ. Hai kinh này là kinh Bụt giảng cho ông Cấp Cô Độc:

Kinh Người Áo Trắng

Hôm đó doanh thương Cấp Cô Độc tới thăm Bụt đem theo 500 nhà doanh thương. Ông tới thăm thầy Xá Lợi Phất trước. Giữa ông Cấp Cô Độc và thầy Xá Lợi Phất có một mối giao tình rất thân mật. Ngày ông từ trần chính thầy Xá Lợi Phất đã ngồi bên giường bệnh giúp cho ông ra đi một cách thoải mái, an lạc.

Ông Cấp Cô Độc lần đầu tiên gặp Bụt trong một chuyến đi giao dịch từ Sravasti tới Rajagaha. Hôm đó, Ông Cấp Cô Độc tới ở trọ nhà của người em dâu. Mỗi khi ông tới thì người ta tiếp đón niềm nở nhưng hôm đó thì người ta có vẻ lơ là với ông. Ông hỏi:

– Nhà có đám cưới hay sao mà sửa soạn đẹp vậy? Sao tôi lại bị bỏ lơ vậy?

Người em nói:

– Tụi em đang chuẩn bị để cúng dường Đức Thế Tôn, cúng dường Phật.

Nghe chữ Phật tự nhiên ông Cấp Cô Độc rúng động:

– Phật ở đâu, cho tôi đi thăm đi.

Ông Cấp Cô Độc cũng có mối quan tâm tối hậu. Ông đã giàu, đã thỏa mãn và ông muốn tìm một cái gì đẹp hơn.

Người em nói:

– Ngày mai Đức Thế Tôn và giáo đoàn sẽ tới đây  anh sẽ được gặp.

Nhưng tối đó ông Cấp Cô Độc không ngủ được, ông thức dậy và tìm đường tới chỗ Bụt ở tức vườn Trúc Lâm. Buổi sáng, khi còn sương mờ ông đã gặp được Đức Thế Tôn đang đi thiền hành. Hai người đã nói chuyện và ông đã trở thành một đệ tử rất thân thiết của Bụt. Chính ông đã mời Đức Thế Tôn về thành phố Sravasti và cúng dường sở đất mua được của thái tử Kỳ Đà để Đức Thế Tôn làm tu viện.

Ông xin Bụt cho phép một người đi với ông về xứ sở của ông để chuẩn bị cho Bụt tới viếng thăm và giáo hóa đất nước của ông. Và Bụt đã cho thầy Xá Lợi Phất đi tiền trạm để chuẩn bị cho chuyến du hành giáo hóa đầu tiên của Bụt tại thành phố Sravasti. Ông Cấp Cô Độc và thầy Xá Lợi Phất đã đi với nhau mấy tuần lễ từ thủ đô Rajagaha về thủ đô Sravasti nên họ đã nói chuyện nhiều với nhau và trở nên thân thiết.

Khi ông Cấp Cô Độc đem 500 doanh thương tới thì vào thăm thầy Xá Lợi Phất trước, rồi thầy mới dẫn mọi người vào gặp Bụt. Vì vậy trong kinh Người Áo Trắng thay vì nói “này ông Cấp Cô Độc” thì Bụt nói “này thầy Xá Lợi Phất”. Ý của Bụt là thầy Xá Lợi Phất phải giáo hóa người cư sĩ theo chiều hướng này (Này Xá Lợi Phất, thầy nên dạy giới cư sĩ thực tập theo phương pháp này), tại vì thầy Xá Lợi Phất được coi như cánh tay phải của Đức Thế Tôn. Thầy tổ chức sự tu học cho người cư sĩ và cho các thầy, các sư cô trong giáo đoàn xuất sĩ. Trong kinh thay vì gọi thẳng tên của nhà doanh thương thì Bụt gọi tên của thầy Xá Lợi Phất. Bụt nói:

Những người áo trắng không cần phải đi tìm cầu hạnh phúc trong tương lai. Họ có thể có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại nếu họ thực tập theo những điều tôi chỉ dẫn.

Vì vậy cụm từ “hiện pháp lạc trú”, sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, (drshtādharmasukhavihara) xuất hiện sáu lần trong kinh. Ở thế kỷ của chúng ta, nhà doanh thương đi tìm hạnh phúc trong sự thành công của mình. Bụt dạy nhà doanh thương phải làm việc như thế nào để có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Bụt muốn gửi gắm cho thầy Xá Lợi Phất phương pháp giáo hóa người cư sĩ, phải nói với họ là họ không cần phải tìm hạnh phúc trong tương lai. Điều này rất quan trọng, tại vì trong một kinh ngắn như kinh Người Áo Trắng mà cụm từ “hiện pháp lạc trú” được lặp lại sáu lần. Trong nhiều chùa, người xuất sĩ cũng như người cư sĩ đều không được học giáo lý quan trọng đó mà cứ đi tìm Niết bàn và giải thoát trong tương lai. Người ta đi tìm cái đích, còn con đường là một cái khác.

Bụt đưa ra hai phương pháp thực tập:

  • Thực tập bốn phép tùy niệm

Nếu một người áo trắng thực tập năm giới và bốn phép tùy niệm thì người đó sẽ có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Trong kinh Đức Thế Tôn đã dùng danh từ thánh đệ tử 聖 弟, tức vị đệ tử có chất thánh (the aryan disciple). Không phải chỉ có người xuất gia mà người cư sĩ cũng có chất liệu linh thiêng, thánh thiện trong mình. Nếu ta thực tập theo năm giới và bốn phéo tùy niệm thì ta có chất liệu thánh trong con người của mình, ngay trong thời còn tại thế Bụt đã dạy như vậy rồi. Không phải chỉ có Đức giáo hoàng, Đức Dalai Lama hay các thầy các sư cô mới có chất thánh mà người cư sĩ cũng có chất thánh nếu người cư sĩ biết thực tập năm giới và bốn phép tùy niệm, tại vì năm giới bảo đảm sự tự do và an ninh của con người. Nếu đã từng thọ năm giới và sống theo năm giới thì chúng ta biết rằng năm giới bảo hộ cho ta và cho ta rất nhiều tự do, hạnh phúc. Hạnh phúc và tự do đó ta không cần phải đi tìm trong tương lai, nó có thể có ngay trong giây phút hiện tại.

Hơn nữa, nếu người thánh đệ tử áo trắng thực tập bốn phép tùy niệm tức niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới thì sẽ làm tăng thêm chất thánh trong mình và người đó có hạnh phúc ngay lập tức. Cách giải thích của Bụt không có chút mê tín nào. Khi tâm ta chuyên chú vào những đối tượng cao đẹp như Bụt, Pháp và Tăng thì tâm của ta sẽ nhẹ nhàng, thư thái, hạnh phúc. Ta không suy nghĩ tới những chuyện tiêu cực, khổ đau, đam mê, giận hờn. Bốn phép tùy niệm tịnh hóa thân và tâm của mình.

Xin các thầy, các sư cô, các Phật tử cư sĩ đọc kinh Người áo Trắng cho biết phương pháp Bụt dùng để giáo hóa người cư sĩ. Bụt giáo hóa người cư sĩ bằng tuệ giác mà không phải bằng sự tín mộ. Một tôn giáo làm sao lớn mạnh và sống còn nếu chỉ có người xuất gia mà không có người cư sĩ? Người cư sĩ cũng có thể thực tập một cách sâu sắc.

Kinh giáo hóa người bệnh

Kinh kể lại giờ phút sắp chết của ông Cấp Cô Độc. Trong kinh chúng ta thấy một điều rất hay: Khi ông Cấp Cô Độc sắp từ trần thì thầy Xá Lợi Phất và thầy A Nan ngồi một bên. Thầy Xá Lợi Phất đã khôn ngoan dạy cho ông Cấp Cô Độc một sự thật không nằm trên bình diện của sự thật tương đối mà thuộc về bình diện của thắng nghĩa đế. Đó là sự thật không sinh không diệt, không tới không đi, không có không không, không còn không mất. Chỉ với tuệ giác đó thì người chết mới có thể ra đi nhẹ nhàng, thoải mái. Thầy Xá Lợi Phất đã khôn khéo cung cấp cho ông Cấp Cô Độc một bài thiền tập hướng dẫn. Trong vòng 30 phút ông Cấp Cô Độc đã tiếp thu được và thực tập thành công. Thầy Xá Lợi Phất đã hướng dẫn như thế nào để ông Cấp Cô Độc mở lòng ra, thấy được tự tánh không sinh không diệt, không có không không và ông được giải thoát ngay trong giây phút đó. Nước mắt của ông chảy ròng ròng. Thấy ông khóc thầy A Nan tưởng rằng ông còn tiếc nuối điều gì nên hỏi:

– Cư sĩ, tại sao ông khóc, ông còn tiếc nuối gì không?
– Tôi không tiếc nuối gì cả.
– Ông thực tập không thành công sao?
– Thưa thầy, tôi thực tập rất thành công.
– Vậy tại sao ông khóc?
– Thưa thầy, tôi khóc tại vì tôi cảm động quá. Tôi phụng sự đức Như Lai và tăng đoàn trên 30 năm nay mà chưa bao giờ tôi được nghe giáo lý thâm diệu, mầu nhiệm như vậy. Giáo lý không sinh không diệt, không có không không, không còn không mất làm cho tôi hoàn toàn không còn sợ hãi nữa.

Thầy A Nan ngây thơ nói: Cư sĩ, ông không biết chứ giáo lý này chúng tôi nghe hầu như mỗi ngày.

Trong ba tháng của mùa An Cư, trong buổi giảng tôi luôn luôn bắt đầu bằng những pháp môn thực tập trên bình diện của thế tục đế, rồi còn thì giờ tôi mới từ từ đi xuống bình diện của thắng nghĩa đế. Ngày xưa các thầy cũng dạy cho cư sĩ những phép thực tập đáp lại mối quan tâm thường nhật của họ. Nhưng đến khi họ chết thì những phép thực tập đó không đủ để giúp cho họ.

Sau khi nghe thầy A Nan nói như vậy, ông Cấp Cô Độc nói:

Bạch thầy A Nan, xin thầy về thưa lại với Đức Thế Tôn rằng những cư sĩ áo trắng như chúng con phần lớn đều rất bận rộn, họ có những mối quan tâm rất thường nhật. Nhưng cũng có một số chúng con có thể có khả năng tiếp nhận và thực tập được giáo lý vi diệu này. Sau khi thành công trong sự nghiệp chúng con cũng muốn được học giáo lý mà các thầy đã học. Người cư sĩ chúng con cũng có mối quan tâm tối hậu, tại vì chúng con rất cần nó trong lúc đi vào tình trạng sắp lìa đời. Chúng con cũng muốn biết mình sẽ đi về đâu.

Tăng thân Làng Mai hướng dẫn thiền hành tại Salesforce, Mỹ, năm 2016

Vượt thoát trầm luân

Tây phương có chữ “Religion”, nghĩa là Tôn giáo và ở Đông phương thì có chữ “Đạo”. Đạo nghĩa là con đường, con đường đưa tới sự giải thoát, chấm dứt khổ đau. Chúng ta có thể giới thiệu về đạo Bụt như là một con đường hơn là một tôn giáo.

Người giảng dạy đạo Bụt, theo nguyên tắc phải là một người đã biết đường. Nếu mình không biết đường thì làm sao mình chỉ đường cho người khác? Người giảng dạy đạo Bụt không phải là một giáo sư triết học, trao truyền những kiến thức Phật học. Pháp sư – người giảng dạy đạo Bụt phải là một người đã có con đường, đang đi trên con đường đó và người ấy phải thành tựu một phần nào đó trên đường đi của mình thì mới có khả năng chỉ đường cho người khác. Vị ấy phải căn cứ trên kinh nghiệm của chính mình để hướng dẫn, chỉ bày cho người khác.

Cách đây 25 năm, có một người Anh tới Làng, vị này học Bụt cũng nhiều và có ý muốn trở thành một vị giáo thọ (Dharma teacher). Ông ta mới hỏi tôi: “Bạch Thầy, chừng nào thì mình biết là mình có thể trở thành một vị giáo thọ?” (When do we know we can be a Dharma teacher?). Tôi nhìn ông ta và nói: “Khi nào anh có hạnh phúc” (When you are happy). Nếu mình không có hạnh phúc thì mình không thể làm giáo thọ được, vì mình không có gì để hiến tặng cho người khác. Hạnh phúc này là hạnh phúc đạt được do sự tu tập đem lại. Khi nào mình thực tập và giải tỏa được những khổ đau, khó khăn của chính mình, mình có thể mỉm cười hạnh phúc thì lúc đó mình biết là mình có thể giúp đời, có thể đưa đường chỉ lối cho người khác.

Làm Giáo thọ tức là bản thân phải có một mức độ hạnh phúc làm hành trang, vốn liếng. Nếu một người không có hạnh phúc thì dầu kiến thức Phật học có bao nhiêu đi nữa cũng không thể nào gọi là một vị giáo thọ. Vậy nên hạnh phúc chính là nền tảng.

Con đường của đạo Bụt là con đường giúp chúng ta dừng lại, chấm dứt được sự chìm đắm và trôi lăn trong biển khổ. Những điều mình học và đem ra thực tập phải có tác dụng giúp mình dừng lại sự chìm đắm và trôi lăn. Chìm đắm tức là Trầm và trôi lăn là Luân. Trầm là chìm xuống, chìm sâu trong biển khổ. Khổ ví như là một cái biển, cho nên chúng ta hay có danh từ biển khổ. Nếu mình không khéo léo thì mình chìm xuống đáy biển và không trồi lên được. Vậy cho nên chúng ta học và thực tập để làm sao đừng bị chìm xuống, nếu lỡ có bị chìm thì phải biết cách nổi lên trở lại. Và người dạy cho mình, người ấy phải nổi, người ấy mà cũng chìm thì làm sao giúp cho mình nổi lên được?

Ở Việt Nam có cửa biển rất rộng, gọi là cửa biển Thần Phù tại miền Trung. Ở đó, nếu những người chèo thuyền không khéo thì thuyền của họ sẽ bị chìm, cho nên mới có câu ca dao rất nổi tiếng, đó là:

Lênh đênh trên biển Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Chữ “Phù” có nghĩa là nổi, Phù Vân là mây nổi. Tất cả đều là tu hết, nhưng có người tu khéo và người tu không khéo. Người tu khéo thì nổi, người tu vụng thì chìm chứ không phải hễ tu là được. Phải tu cho khéo. Vì vậy cho nên tu là một nghệ thuật, tu không phải là lao tác mệt nhọc.

Có những người bơi giỏi, họ muốn chìm xuống để kiếm cái gì dưới đáy, đó gọi là lặn. Lúc ấy là vì họ muốn và họ có khả năng, họ hoàn toàn tự chủ được, muốn nổi thì nổi, muốn chìm thì chìm. Những người tu thành công cũng vậy, nhiều khi phải chìm xuống để vớt người khác rồi đưa người ấy cùng nổi lên. Người tu phải học được nghệ thuật đó, đôi khi mình cũng phải chìm với người ta. Đây là mình cố ý muốn chìm để giúp đời chứ không phải là mình bị chìm. Trong một ngày mình có thể chìm nhiều lần. Ai trong chúng ta cũng đã có kinh nghiệm đó rồi. Có ngày chúng ta chìm hai, ba lần, chìm sâu xuống, rất khổ sở và tu tập là để nổi lên trở lại.

Có những phương pháp mà Bụt đã trao truyền, nếu nắm được thì mình nổi lên dễ dàng. Trong bài tựa của Thiền sư Tăng Hội viết cho kinh An Ban Thủ Ý, câu đầu Tổ đã nói: “An Ban là đại thừa của các vị Bụt, dùng để cứu độ chúng sinh đang lênh đênh chìm nổi”. Ngài biết chúng sanh phần lớn là chìm rồi nổi, chìm rồi nổi, rồi chìm nữa, rồi nổi nữa. Và vì vậy, An Ban tức là phương pháp thở, là một trong những phương pháp rất hay để giúp cho khi bị chìm xuống thì mình có thể nổi lên trở lại. Nếu học và nắm được phương pháp thở thì khi bị chìm xuống mình có thể nổi lên trở lại. Hoặc là khi mình đang nổi mà không muốn bị chìm thì phải nắm lấy An Ban để thực tập thì sẽ không chìm. Kinh An Ban Thủ Ý là một trong những kinh rất quý, là phương pháp thở trong chánh niệm, giúp mình nắm vững tay chèo để đừng bị chìm xuống. Nhiều lúc mình chìm xuống quá sâu và mình có cảm tưởng rằng không bao giờ có thể nổi lên lại được. Lúc đó, nếu mình có “An Ban Thủ Ý” ở trong lòng, lôi ra thực tập thì sẽ nổi lên lại được. Cho nên tới chùa thì phải học cho được những bí quyết, những pháp môn, nắm cho vững để gặp những lúc chìm xuống thì tự biết cách để mà đạp một cái là nổi lên trở lại.

Chữ “luân” có nghĩa là lăn, là quay tròn. Lăn mà không ngừng lại được, gọi là trôi lăn. Trầm là chìm, luân là trôi lăn. Nếu cố ‎ ý lăn theo để cứu độ người thì lại khác, đây là mình bị cuốn theo, bị trôi lăn trong cuộc đời. Một mặt thì chìm, chìm nghỉm, một mặt thì trôi, trôi lăn long lóc, đó là ý nghĩa hai chữ trầm luân.

Trầm luân đó còn nói về tâm. Khổ là do tâm của mình cứ chìm đắm và trôi lăn. Khi chìm, nếu biết phương pháp thở thì mình sẽ nổi lên được; khi lăn mà biết phương pháp thì sẽ dừng lại được sự trôi lăn. Trong một ngày mình có thể chìm nhiều lần, có thể lăn nhiều lần, nếu nhìn cho kỹ thì sẽ thấy được nguyên nhân từ đâu mà mình bị chìm. Chìm là tại vì có một sức mạnh nào đó nhấn mình xuống, đó chính là tập khí. Đôi khi chỉ nghe hay thấy một điều gì là tự nhiên mình không làm chủ được mình, lại không có phương pháp để tự vệ nên mình bị chìm nghỉm. Vì điều mà mình nghe hay thấy đó đã đánh động vào thói quen, tập khí, khổ đau trong mình. Do mình không có pháp thuật, không có pháp lực nên dễ dàng bị chúng kéo đi dù không muốn chút nào. Nếu có một phương pháp thực tập thì khi bị những âm thanh, hình ảnh kéo đi mình liền rút pháp môn ra áp dụng thì sóng gió không thể nhấn chìm được. Người Phật tử tới chùa phải thực tập và phải nắm cho được điều ấy.

Đó là chuyện chìm, còn chuyện lăn. Không phải tự nhiên mình lăn mà phải có một động lực nào đó kéo mình lăn. Cũng như trong trường hợp chìm, nếu mình lăn là do mình thấy một điều gì hay nghe một điều gì và cái thấy cái nghe đó nó đánh động vào năng lượng tập khí ở trong mình tự nhiên mình lăn không ngừng lại được, cứ lăn long lóc trong ba cõi. Khi ấy, nếu tới chùa học được một vài pháp môn, một vài bí quyết thì trong những lúc trôi lăn như vậy mình lôi bí quyết đó ra sử dụng thì mình chấm dứt được sự trôi lăn. Cho nên khi tới chùa gặp các thầy, các sư cô phải hỏi cho được, phải học cho được những phương pháp đó. Và nếu thầy hay sư cô là những người đã từng chìm đắm, đã từng lăn lóc và đã tìm ra được phương pháp để dừng lại, để nổi lên thì thầy và sư cô đó đúng là một vị pháp sư có thể chỉ cho mình những phương pháp để đừng chìm đắm và đừng lăn lóc.

Nếu mình là một vị cư sĩ mà thực tập giỏi thì mình cũng có thể làm pháp sư được. Khi nhìn lại sự chìm đắm và trôi lăn của mình và tìm ra cách vượt thoát thì mình cũng có thể giúp được cho những người khác. Chúng ta có những vị giáo thọ cư sĩ, những vị ấy cũng có thể làm được những việc mà các vị giáo thọ xuất gia đang làm. Vì vậy cho nên mình tới trung tâm tu học thì phải tới với một quyết tâm, không phải tới để đi nghỉ mát bảy ngày hay là mười bốn ngày. Phải tới với một quyết tâm nắm bằng được một pháp môn nào đó. Đừng có về tay không. Đó là tư lương, vốn liếng, là phương tiện để giữ cho mình đừng có chìm và đừng có trôi. Chuyện chìmtrôi đó xảy ra hàng ngày, nó xảy ra nhiều lần, có khi nó xảy ra luôn hai mươi bốn tiếng đồng hồ trong một ngày và làm cho người đó rất đau khổ rồi làm khổ những người khác.

Trong đạo Bụt có hai pháp môn: một pháp môn là Chỉ, tức là dừng lại, đừng để cho nó chìm xuống thêm, đừng để cho nó lăn thêm, dừng lại để đứng dậy. Và một pháp môn là Quán, tức là nhìn sâu. Chỉ và Quán, hai cái nương vào nhau. Chỉ làm cho quán thành công quán giúp cho chỉ xảy ra mau hơn. Vì vậy cho nên chỉ phải có quán. Hai cái giống như hai cánh của một con chim, nếu chim mà có đủ hai cánh thì bay rất dễ. Người nào vừa tu chỉ lại vừa tu quán thì chỉ cũng thành công mà quán cũng thành công. Nhờ chỉ mà mình có thể quán được và nhờ quán cho nên mình chỉ rất dễ. Nhờ dừng lại cho nên mới nhìn sâu được gốc rễ vấn đề và nhờ nhìn sâu cho nên dừng lại rất mau. Hai cái nương vào nhau chứ không phải cái này có trước rồi cái này có sau. Đức Thế Tôn từng dạy: Như chim có hai cánh, người tu phải có chỉ quán.

Khi đi thiền hành, tức là mình đi từng bước một trong chánh niệm. Khi ấy mình có thể vừa thực tập chỉ và vừa thực tập quán. Ở trong một bước chân có thể có hai cái: chỉquán. Nếu mình không biết tu thì mình đi như bị ma đuổi, sống trong trôi lăn và chìm đắm. Tuy cũng đi như người khác nhưng mình bị những lo lắng, buồn phiền lôi đi, bị khổ đau nhấn chìm. Những người kia họ đang đi thiền hành, họ có ý thức với bước chân và hơi thở của họ nên họ làm chủ được tâm mình và không bị lặn ngụp trong trầm luân. Đi thiền hành là một phương pháp để giữ cho mình đừng bị chìm đắm, đừng bị trôi lăn.

Vừa qua ở bên Đức, tôi có chỉ cho các thầy, các sư cô và phật tử bên đó một bài kệ mới để đi thiền hành, bài kệ rất dễ:

Con đi cho Bụt
Đi như đi chơi
Đi cho hạnh phúc
Đi cho thảnh thơi.

Bụt không bao giờ đi hấp tấp, vội vàng, không bao giờ đi trong lo lắng, sầu khổ, mỗi bước chân của Ngài luôn có an lạc. Còn mình đi thì muốn tới cho mau để làm cái gì đó, vì vậy khi đi, mình bị trôi lăn. Cho nên, đã nhận Bụt là Thầy tức là muốn tiếp nối sự nghiệp của Ngài thì mình phải bước được những bước chân như ngày xưa Ngài đã bước, tức là mỗi bước chân phải tỏa chiếu bình an.

Nếu sư chị nhờ mình đi lấy cuốn kinh thì mình có quyền sử dụng phương pháp thiền hành để đi, đâu cần phải vội vàng? Mình có quyền bước từng bước thảnh thơi mỗi khi cần đi. Trừ khi sư chị nói: “Bây giờ em phải chạy giùm vì cái này gấp lắm” thì mình nói: “Ok” và mình chạy, nhưng vừa chạy vừa có chánh niệm thì cũng được, chứ còn theo nguyên tắc thì mình có quyền đi từng bước thảnh thơi để lấy cuốn kinh và lấy được rồi thì trở về cũng bước thảnh thơi. Tại vì mình đi tu là để thực tập chứ đâu phải để lấy cuốn kinh! Trong khi đi như vậy là mình có chỉ và có quán. Đi như thế nào, dầu cho đi vào nhà bếp, phòng ăn, phòng tắm cũng phải đi giống như mình đi chơi vậy.

Mỗi bước chân là hạnh phúc
Mỗi bước chân là trị liệu
Mỗi bước chân là an lạc
Mỗi bước chân là thảnh thơi.

Đi như đi chơi, tức là như đi tản bộ vậy thôi. Đi vì công việc thật nhưng công việc không thể kéo mình trôi lăn được, người tu khác với người không tu ở chỗ đó. Người tu cũng đi nhưng mà người tu phải đi cho thảnh thơi, an lạc. Bước chân vào Thiền viện rồi thì phải đi như vậy. Dù là người xuất gia, hay người tại gia đã vào Thiền viện là phải thực tập. Đã tới Tu viện rồi mà vẫn đi như bị ma đuổi thì tới làm gì? Mỗi bước chân dù vào nhà tắm, lên thiền đường, hay vào nhà bếp đều có thể đi như Bụt. Mỗi bước chân mình ở trong chùa, trong Thiền viện phải là một bước chân hạnh phúc, một bước chân thảnh thơi, vô ưu. Nếu trong khi đi mà không có hạnh phúc thì làm sao trở thành giáo thọ được?

Phần lớn trong xã hội, chúng ta đều đi như bị ma đuổi. Chúng ta hấp tấp đi về tương lai để tìm hạnh phúc, tìm danh lợi, tìm cái gì đó và đánh mất sự sống. Sự sống trên trái đất này rất ngắn nhưng mọi người chưa biết sống sâu sắc trong từng giây phút để có hạnh phúc.

Thảnh thơi tức là tự do. Có một cái gì đó trói buộc mình, làm cho mình không có thảnh thơi, tự do, đó là sự lo lắng. Mình có những dự án, mình muốn thành công nên bị nó hút hồn, khiến cho đứng ngồi không yên mà ăn ngủ cũng không yên, lúc nào cũng bất an, như ngồi trên đống lửa. Chính cái đó nó trói buộc, không cho mình thảnh thơi.

Ngày xưa Bụt đi rất nhiều, gần hai chục nước trên thế giới. Ngài không có máy bay, ô-tô như mình bây giờ. Ngài chỉ đi bộ nhưng Ngài đi rất thảnh thơi, không có gì vướng bận. Mình là học trò của Ngài thì cũng phải học được cách đi thảnh thơi như vậy. Mỗi bước chân an lạc là mình đã đóng góp được phẩm chất tu học cho trung tâm của mình.

Có thể thở vào rồi bước 2 bước “Con đi”, thở ra “cho Bụt”. Câu tiếp theo, thở vào bước hai bước “đi như”, thở ra “đi chơi”. Sự nghiệp của Bụt có được tiếp nối hay không là do mình. Mình phải đi như đi chơi. Phối hợp hơi thở với bước chân như thế nào để có thể sử dụng được bài kệ này. Có khi mình thở vào một hơi bước 4 bước, thở vào “Con đi cho Bụt”,  rồi thở ra bước 4 bước “Đi như đi chơi”. Nếu hơi thở chưa dài thì mình làm 2 bước thôi. “Con đi” là thở vào và “cho Bụt” là thở ra.

Tiếng chuông và phương pháp nghe chuông chánh niệm cũng là một phương pháp rất hay. Khi đang trôi lăn, chìm đắm, được nghe một tiếng chuông trở về với hơi thở. Nếu hơi thở của mình vững chãi, có ý thức thì hơi thở đó là chánh pháp, nó bảo hộ thân tâm mình, không để cho tâm bị trôi lăn. Mới thực tập thì hơi khó khăn nhưng khi thực tập quen rồi thì không cần cố gắng nữa. Khi nghe một tiếng chuông thì tự động tâm mình dừng lại và chấm dứt trôi lăn.

Thực tập thành công được với tiếng chuông thì sau này với những âm thanh khác như tiếng chuông đồng hồ, tiếng chuông điện thoại mình cũng có thể thực tập được. Với bài thực tập này, mình không nhất thiết phải thực tập câu đầu rồi tới câu thứ hai. Nếu mình thích câu đầu thì mình thực tập câu đầu miết cũng đủ rồi “Con đi cho Bụt”, “Con đi cho Bụt” đây. Và khi mình đã vững rồi thì mình có thể thực tập câu thứ hai “Đi như đi chơi”. Và mình thấy rõ ràng là mình đang đi chơi thật. Lúc đó mình đang tiếp nối Bụt. Đi mà cứ suy nghĩ tới chuyện nọ chuyện kia là chưa được. Đừng  suy nghĩ miên man. Khi đi mình có hạnh phúc hay không tự mình biết, có hạnh phúc tức là mình tiếp nối được Bụt, điều này không cần ai phải nói cho mình. Ngay trong lúc ấy mình có thể vừa thiền chỉ vừa thiền quán.

Và đây là bài kệ thứ hai:

Con đi như Bụt
Con đang rong chơi
Con đang hạnh phúc
Con đang thảnh thơi.

Con phải giống cha. Ban đầu thì mình nói “Con đi cho Bụt”, đi đó là vì tình thương mà đi. Bây giờ mình đi giống hệt Bụt “Con đi như Bụt”. Câu thứ hai: “Con đang rong chơi”. Rong chơi không phải là chuyện dễ, phải có tự do mới rong chơi được. Nếu mình vướng bận thì không thể rong chơi. Tới chùa là để học cách rong chơi. Rong chơi một ngày, rong chơi hai ngày. Rong chơi được thì không còn lo lắng, không còn sầu khổ, tật bệnh tiêu trừ. Rong chơi là phương pháp trị bệnh rất là hay. Con đang rong chơi. Trong thời gian tại thế Bụt rong chơi khắp chốn vì Ngài rong chơi được nên Ngài độ được rất nhiều người. Nếu Ngài không rong chơi thì làm sao Ngài độ được đời? Mình phải giải thoát. Mình phải thảnh thơi thì mình mới độ được người. Phải luôn tự hỏi ta có đang rong chơi hay không, hay ta đang bận bịu với những lo toan, đang bận tâm theo đuổi một dự án?

Con đang hạnh phúc
Con đang thảnh thơi.

Đây không phải là tự kỷ ám thị mà là sự thật. Mình đang có hạnh phúc thật và tự do thật. Khi thấy mình đang hạnh phúc, đang thảnh thơi thì đúng là mình thành công. Phải biết buông bỏ buồn phiền thì mới hạnh phúc, thảnh thơi. Vấn đề là phải buông nó ra. Trong gia đình hay trong Tăng thân chúng ta phải giúp đỡ nhau làm chuyện này. Thấy ai buông được khổ đau của họ thì mình phải mừng cho người ấy. Khi ta rong chơi thì rửa nồi cũng là rong chơi, quét nhà cũng là rong chơi. Phải sắp đặt cho khéo để giờ phút nào, công tác gì cũng có thể rong chơi được. Làm việc gì cũng là tu. Nấu cơm, giặt áo, quét thiền đường, tưới rau, chùi cầu tiêu đều có thể làm trong tinh thần rong chơi. “Con đi như Bụt”Bụt thấy không, con đang rong chơi đây nè, con đang hạnh phúc đây nè, đâu đến nỗi tệ lắm đâu. Con đang thảnh thơi đây nè, con buông được mà, con là học trò của Ngài mà. Giống như bài đầu, mình cứ chọn câu nào thích mà thực tập thôi, không hẳn là câu này đến câu kia.

Từ những thực tập ấy mà hạnh phúc của mình ngày càng lớn. Những bệnh tật trong thân hay trong tâm có thể được trị liệu bằng cách đi thiền hành. Hiện pháp tức là giây phút hiện tại, lạc cư là sống an lạc, sống an lạc ngay trong giây phút hiện tại chính là phương thuốc diệu kỳ nhất để trị chứng bệnh bận rộn của nhân loại bây giờ. Ngày nay người ta không có khả năng “hiện pháp lạc cư”.

Giáo lý của Đức Thế Tôn rất sáng sủa, dễ hiểu và có thể đem ra áp dụng được trong mọi lúc, mọi nơi. Các nhà Phật học đã biến nó thành một môn học rất rắc rối, rất khó, càng học mình càng rối. Vì vậy cho nên trong bao nhiêu năm qua Thầy đã cố gắng lấy lại được tính sáng sủa, đơn giản và thực dụng của giáo lý. Chỉ nội bài này, nếu mình nghe và đem ra áp dụng thì đã có thể thay đổi được tình trạng trong một vài ngày, mình có thể dừng lại được sự chìm đắm và trôi lăn. Khi dừng lại được rồi thì mình có thể nhìn vấn đề một cách sâu sắc, vì vậy mà khám phá ra được nhiều điều.

Nhìn sâu chừng nào thì thảnh thơi chừng đó. Tuệ giác mà mình đạt được khi nhìn sâu nó giải phóng cho mình khỏi những bức màn vô minh. Khi có hạnh phúc rồi thì mình biết rằng mình có thể giúp đời được. Hạnh phúc đó được làm bằng thảnh thơi chứ không phải được làm bằng danh lợi hay tiền bạc. Và chỉ cần thực tập chừng đó thôi cũng đem lại hạnh phúc rất nhiều rồi. Trái banh Thầy liệng cho quý vị, bây giờ nó nằm ở dưới chân quý vị, chơi cho hay, chơi cho giỏi, hạnh phúc sẽ rất lớn.

 

 


Phiêntả pháp thoại Sư ông Làng Mai

Ý nghĩa ngày Phật Đản

Có những nước Á Châu như nước Srilanca, vào ngày Phật Đản không có ai bị đói bụng hết. Tại vì nhà nào cũng để mâm cơm ở trước cửa và bất cứ ai đói bụng cũng đều được mời ăn cơm đó. Trong ngày Phật Đản không có ai bị đói vì nhà nào cũng cúng dường cơm, chùa nào cũng cúng dường cơm. Đây là một truyền thống có từ mấy ngàn năm trước, từ thời Đức Thế Tôn.

Tại thành phố Huế ở Việt Nam, vào ngày Phật Đản không ai giết một con gà, một con vịt. Ngày đó tất cả mọi người đều ăn chay, khi ra chợ những người bán hàng cũng chỉ bán đồ chay thôi. Đó là một ngày không sát sinh. Trong ngày Phật Đản và từ trước đó, nhiều người đã thả chim, thả cá tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho nhiều loài hữu tình. Đó là cách thực tập từ bi để báo ơn Bụt. Ngày này, chúng ta thực tập từ bi bằng nhiều cách: Không sát sinh mà lại phóng sinh, không trừng phạt mà lại tha thứ. Ngày Phật Đản là một cơ hội để cho các nhà cầm quyền có cơ hội phóng thích tù nhân.

Có một người sinh cách đây 2600 năm mà cách sống của người ấy vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội loài người, người đó phải có một nhân cách rất vĩ đại. Chính vì vậy cho nên chúng ta xưng tụng người đó là Đức Từ Bi. Những người Phật tử sống ở châu Âu và châu Mỹ đã chấp nhận ngày Giáng Sinh là một ngày lễ của người Phật tử. Đối với người Phật tử thì không khó khăn gì để chấp nhận đức Kitô là một vị Bồ Tát. Vì vậy người Phật tử sẵn sàng để ăn Noel. Thay vì giết một con gà lôi (gà tây) để ăn Noel thì người Phật tử ở phương Tây lại ăn chay để khỏi phải sát sinh. Nếu người Phật tử cứ thực tập như vậy một hồi thì ở châu Âu và châu Mỹ người ta sẽ chuyển hướng, họ cũng sẽ không giết một con gà lôi mỗi khi ngày Giáng Sinh tới.

Ở Việt Nam, ngày này Phật tử làm lễ đài rất lớn, có những xe hoa được trang hoàng công phu. Nhưng phải làm sao để đừng bị tốn kém, đừng phung phí, vì thiểu dục vốn là một truyền thống của Phật giáo. So với lễ Noel thì lễ Phật Đản ít tốn kém hơn nhiều. Nếu quý vị Phật tử ở các nước châu Âu, châu Mỹ mà làm  lễ Noel cho đàng hoàng theo tinh thần Phật Đản thì sẽ gieo được những hạt giống tốt. Các thân hữu Kitô sau này cũng sẽ chịu ảnh hưởng và sẽ tôn trọng sinh mạng của các loài cầm thú và cỏ cây.

Chúng ta là những người con Bụt, đã quy y, tức là đã quay về nương tựa Bụt. Nhưng từ nhỏ tới lớn chúng ta đã có nhiều quan niệm về Bụt khác nhau, cái quan niệm về Bụt của chúng ta cứ thay đổi hoài. Khi còn là một em bé, quan niệm về Bụt của chúng ta khác. Lớn lên, tìm hiểu, đọc sách về Bụt thì quan niệm của chúng ta về Ngài lại khác hơn. Theo năm tháng, ý niệm của chúng ta về Bụt ngày một thay đổi. Nếu tu tập tinh tấn thì tới một ngày nào đó chúng ta có một ý niệm về Bụt rất gần với sự thật. Ví dụ mình tu hành sáu mươi năm, hay sáu mươi lăm năm thì mình có thể trải qua bẩy mươi hay tám mươi cái quan niệm về Bụt. Nhưng nhờ sự tu chứng, mình sẽ đi qua một cái ý niệm về Bụt sát với sự thật hơn. Nếu mình có một quan niệm về Bụt thì có thể quan niệm đó chưa gần với sự thật lắm đâu. Chúng ta phải sẵn sàng để buông bỏ cái ý niệm đó đi.

Trong cơ đốc giáo cũng như Phật giáo, người ta nghĩ đến đức Kitô hay đức Thích Ca với những tư liệu mà người ta có được trong Thánh Kinh và trong Kinh Bụt, rồi dựa vào những tư liệu đó mỗi người có một ý niệm về Chúa hay về Bụt cho riêng mình.

Cái đó cũng đúng thôi, nếu chúng ta thực tập cho sâu sắc thì chúng ta biết rằng Bụt cũng vô thường mà Chúa cũng vô thường. Vô thường đây không có nghĩa là sau khi chết không còn nữa, vô thường đây có nghĩa là sau khi chết thì vẫn tiếp tục, nhưng tiếp tục dưới hình thức khác. Cho nên đi tìm Chúa, đi tìm Bụt là trách vụ của người tu học. Mà tìm Bụt ở đâu? Tìm Chúa ở đâu? Bụt và Chúa có phải là những thực tại nằm ngoài chúng ta không? Đó là vấn đề cần phải đặt ra.

Chúng ta có một hình ảnh về đức Thích Ca qua những tư liệu mà chúng ta thu nhập được từ kinh điển. Đó là hình ảnh một vị thái tử thành Ca Tỳ La Vệ, lớn lên trong nhung lụa, tới khi trưởng thành thì bỏ nhà đi xuất gia, tu khổ hạnh, sau đó thành đạo và đi thuyết pháp bốn mươi chín năm. Đó là hình ảnh về đức Thích Ca của chúng ta. Khi tạc tượng hay vẽ hình thì chúng ta căn cứ trên dữ liệu đó. Ta phải biết rằng đó chỉ là hình ảnh đầu của đức Thích Ca mà thôi, sau khi ngài nhập diệt thì hình ảnh đó trở nên khác. Cho nên mình phải thực tập như thế nào để đừng bị dính mắc vào hình ảnh của Bụt mà mình đã tạo dựng ra từ những tư liệu mà mình đã sử dụng trong kinh điển.

Ban đầu thì đó là sự thật, chúng ta cần có một hình ảnh, và những hình ảnh đó mình tìm thấy được trong kinh điển. Chúng ta cần cái hình ảnh, nhưng nếu chúng ta bị vướng mắc vào cái hình ảnh đó và nghĩ rằng Bụt bây giờ cũng vẫn như xưa thì chúng ta sai lầm. Nếu cứ tưởng rằng Bụt bây giờ vẫn giống như Bụt của hai ngàn sáu trăm năm trước. Rằng sau khi chết tướng của Ngài không thay đổi, Ngài vẫn đang ở đâu đó trên trời hay dưới biển thì chúng ta lầm to. Chúng ta bị rơi vào một cái kiến chấp gọi là thường kiến. Còn nếu nói rằng: Sau khi chết Bụt không còn nữa thì đó là rơi vào đoạn kiến. Mà rơi vào đoạn kiến hay thường kiến thì cũng đều sai lầm cả.

Vậy thì chúng ta phải đi tìm Bụt như thế nào để thấy được Bụt, để tiếp xúc được với Bụt như là một thực tại mà không phải là một ý niệm. Nếu quý vị tới từ truyền thống Cơ Đốc Giáo thì quý vị cũng biết như vậy. Nếu mình đi tìm Bụt như thế nào thì mình cũng đi tìm Chúa như thế. Nếu mình kẹt vào ý niệm thường thì mình không tìm được Bụt được Chúa, mình kẹt vào ý niệm đoạn thì mình cũng không tìm thấy Chúa, thấy Bụt. Cái ý niệm đó nó giam hãm mình.

Trong cuốn Sám Pháp Địa Xúc, đoạn đầu chúng ta quán Bụt như một vị thái tử, có vợ, có con rồi đi xuất gia và thành đạo. Nhưng phần tiếp theo của cuốn sách, chúng ta đã đi khá hơn, chúng ta đã thấy được sự tiếp nối của Bụt sau khi thành đạo. Thấy được hình ảnh giáo đoàn của Ngài, và sau nữa thấy được hình ảnh của Bụt khi Ngài già yếu. Đó chính là một phương pháp hành trì gọi là quán Bụt, tức là nhìn sâu để thấy được Bụt. Ban đầu thì mình có thể nương vào những hình ảnh của Bụt mà mình có được từ những tư liệu trong kinh điển. Nhưng sau đó mình phải đi xa hơn. Mình phải thấy cái hình ảnh ban đầu đó nó vô thường, và mình phải tìm thấy sự tiếp nối của Bụt một cách rõ ràng, chắc chắn mà đừng nương vào những tưởng tượng.

Bụt là một con người mà không phải là một vị thần linh

Đọc kinh điển chúng ta thấy rất rõ Bụt là một con người mà không phải là một vị thần linh. Nếu chúng ta nghĩ Bụt là một vị thần linh không hề thay đổi thì chúng ta lạc vào tà kiến. Chúng ta biết rằng không phải khi hình hài của chúng ta tan rã thì chúng ta mới bắt đầu tiếp tục mà chúng ta tiếp tục ngay trong khi hình hài này còn nguyên vẹn chưa bị tan rã.

Tại Làng Mai chúng ta đã từng nghe nhiều lần câu nói: “trong từng giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động”. Không có giây phút nào mà chúng ta không chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động. Những tư duy, ngôn ngữ hành động đó mang chữ ký của chúng ta, đó là ba nghiệp. Đó là sự nối tiếp rất đích thực, rất cụ thể của mỗi chúng ta.

Bụt cũng vậy, Bụt cũng có sự tiếp nối bằng những tư duy, ngôn ngữ và hành động của Ngài. Đọc trong kinh chúng ta thấy được những tư duy của Bụt. Những tư duy của Ngài được ghi chép lại, được diễn tả bằng một cái cách nào đó, một ngôn ngữ nào đó. Nếu chúng ta thông minh một chút, chúng ta không bị mắc kẹt thì chúng ta có thể tiếp xúc được với cái tư duy của Bụt. Những tư duy của Bụt được gọi là Chánh Tư Duy. Tức là những tư duy đi theo Chánh Kiến. Chánh Kiến là tuệ giác về vô thường, vô ngã, tương tức, bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Có những tư tưởng ghi chép trong kinh có thể chưa phản chiếu được cái tuệ giác thâm sâu đó (tuệ giác vô thường, vô ngã, vô khứ, vô lai, vô sinh bất diệt). Nhưng nó cũng có thể là những tư duy của Bụt tại vì tư duy cũng có nhiều cấp bậc. Có những người chưa thể đi sâu vào sự quán chiếu thì cần cái tư duy đơn giản hơn để bám víu vào mà đi tới.

Ví dụ khi chúng ta niệm Bụt thì Đức Thế Tôn là thầy của chúng ta. Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu; là bậc đã hiểu thấu thế gian; là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người; là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân; là bậc tỉnh thức toàn vẹn; là bậc đáng tôn sùng và quý trọng nhất trên đời. Đó là những quan niệm về Bụt. Đó là những đức tính của Bụt, là những danh hiệu mà người ta nói về Ngài. Nhưng nếu ta quan niệm về Bụt như vậy thì Bụt trở thành một cái ngã, một thực tại nằm ngoài ta và ta phải cầu nguyện vì ta không có những cái đó. Như thế thì chúng ta chưa đi sâu lắm. Đó chưa phải là tư duy đi đôi với tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức.

Trong khi chúng ta chắp tay lại quán tưởng thì chúng ta nói rằng: “Bụt ơi! Con biết rằng Ngài và con là hai thực tại, nhưng không phải riêng biệt. Con thấy rõ ràng là Ngài có trong con và con cũng có trong Ngài. Tại vì Ngài và con đều có tính cách tương tức, cho nên sự cảm thông giữa con với Ngài trở thành sâu sắc. Đó là một phép quán tưởng trước khi lạy để mình có thể tiếp xúc được với tự thân của Bụt chứ không phải với cái ý niệm về Bụt. “Năng lễ sở lễ tính không tịch” tức là chủ thể lạy (mình) và đối tượng lạy (Bụt) bản chất đều là không. Không tức là không có một cái ngã riêng biệt mà cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này. Bụt có trong ta và ta có trong Bụt. Lễ Bụt như vậy sẽ đánh tan được cái ý niệm Bụt là một thực tại riêng biệt nằm ngoài mình và mình phải đi cầu xin, tìm kiếm.

Các bạn theo truyền thống Cơ Đốc Giáo cũng có thể cầu nguyện với Chúa Giêsu như vậy. Nếu các bạn thấy Chúa như là một thực tại hoàn toàn khác biệt nằm bên ngoài mình thì các bạn không tiếp xúc được với thực tại hiện tiền. Hôm trước có một vị linh mục Công Giáo đặt câu hỏi như sau:

“Tại sao trong đạo Bụt không thiết lập một biểu tượng ở ngoài mình để cầu nguyện? Cầu nguyện như vậy mới có ý nghĩ chứ.”

Vị linh mục ấy đã hỏi tôi như vậy. Ý ông ta là cầu nguyện thì phải có đối tượng. Cầu nguyện phải là cầu nguyện với ai. Tôi đã trả lời rằng: Mình có thể nói chuyện với em bé 5 tuổi ở trong mình hay không? Em bé 5 tuổi cũng là mình, em bé 5 tuổi bị thương rất nặng, nhưng vì mình bận rộn quá nên không có thời gian đoái hoài tới. Bây giờ mình đã biết quay trở về để nhận diện em bé 5 tuổi trong mình. Khi mình muốn nói chuyện với em bé thì liền nói chuyện được ngay chứ sao không. Em bé đó với mình là một hay hai? Mình có thể so sánh bức ảnh của mình khi lên năm và một bức ảnh mới nhất của mình trong hiện tại và hỏi: em bé năm tuổi là tôi ấy với tôi đã trưởng thành là một hay là hai? Theo tuệ giác của đạo Bụt thì hai con người ấy không phải một cũng không phải hai. Em bé nhỏ xíu đó không giống mình bây giờ. Em bé đó với mình không phải là một (vì không giống nhau), nhưng mà cũng không phải là hai (vì mình là sự tiếp nối của em bé). Mình có thể nói chuyện với em bé rằng: “Em bé ơi tôi biết là em bé đang còn đó, em bé đã từng bị thương tích, đã từng bị khổ đau, em bé cần tới tôi, em bé cần sự nuôi dưỡng và trị liệu. Nhưng mà tôi bận rộn quá, tôi ít có thì giờ trở về với em bé, nói chuyện với em bé.” Đó là nói chuyện, đó là một sự cầu nguyện. Em bé đó không cần phải là một thực tại ngoài ta. Cho nên sự cầu nguyện là như vậy.

Khi cầu nguyện Bụt hay Chúa cũng vậy. Ta không hẳn phải có một đấng hoàn toàn ở ngoài ta thì mới cầu nguyện được. Vì vậy cho nên trong đạo Bụt mỗi khi mình chắp tay lạy Bụt thì phải cẩn thận. Đừng coi Bụt là một vị thần linh có ở ngoài mình. Câu quán tưởng “năng lễ sỡ lễ tánh không tịch” rất hay. Người lạy và người được lạy đều có tính cách tương tức, người này có trong người kia vì vậy cho nên sự cảm thông mới có thể có được và có một cách sâu sắc. Lạy Bụt như vậy không phải là một sự cầu xin, không phải là một quỵ lụy. Lạy Bụt như vậy là để tiếp xúc với Bụt, mà Bụt này không phải là một thực tại nằm ở ngoài mình, Bụt này cũng chính là mình.

Mỗi khi ta chế tác được một chánh tư duy, một tư tưởng mà biểu lộ được tuệ giác vô thường, vô ngã, từ bi, trí tuệ và tương tức thì ta là Bụt. Khi ta chế tác một tư tưởng hận thù, kỳ thị, hay ganh tỵ thì ta không phải là Bụt. Khi ta nói ra được lời nói có yêu thương, có tha thứ, gây được niềm tin cho người thì ta là Bụt. Khi ta nói một câu dữ dằn, ác độc, chua cay thì ta không phải là Bụt. Vì Bụt cũng ở trong ta mà ma cũng ở trong ta. Và sự thực tập là làm thế nào để ta có nhiều cơ hội chế tác ra chánh tư duy. Những tư duy có từ bi, có hiểu biết, có thương yêu mà không có kỳ thị, ganh tỵ; làm sao để mỗi giây phút ta nói ra được lời thương yêu; làm sao để mỗi giây phút có được một hành động chăm sóc, bảo vệ thì mình là Bụt rồi, đi kiếm Bụt đâu nữa! Cho nên tổ Lâm Tế mới nói: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”. Khi ta chế tác ra được một chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp tức là mình đã là Bụt rồi tại sao phải đi tìm đâu xa xôi. Vì vậy cho nên Bụt tại tâm là rất đúng.

Ta thấy rõ ràng là ta tìm thấy Bụt ngay trong tự tâm của mình, mà ta cũng tìm thấy Bụt ở trong tăng thân của mình. Tăng thân của mình là gì? Tăng thân là một đoàn thể đang thực tập để có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tăng thân của ta có thể không hoàn hảo, nó còn có lên xuống, còn khổ đau, còn hờn giận… Nhưng tất cả mọi người trong tăng thân đều có ý chí muốn tu học. Cho nên người nào tu giỏi thì có thể mỗi ngày chế tác ra được nhiều chánh tư duy, nhiều chánh ngữ và nhiều chánh nghiệp. Người ấy đang đại diện cho Bụt, đang tiếp nối Bụt, đang cống hiến chất Bụt cho tất cả những người khác trong tăng thân. Đó là Bụt. Những người xuất sĩ nam hay xuất sĩ nữ, những người tại gia nam hay tại gia nữ. Người nào mà thực tập chánh niệm hay chánh định; người nào mà nhìn sâu để có một cái thấy biểu lộ được tính vô thường, vô ngã, tương tức, không kỳ thị và chế tác được những tư duy có chất từ, chất bi, chất hỷ, chất xả thì người đó là một sự tiếp nối của Bụt. Bụt không ở đâu xa, Bụt rất rõ ràng và cụ thể và mình có thể tiếp xúc với Bụt bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Mỗi khi có những khó khăn, những buồn khổ kéo tới thì mình nói: “Bụt ơi! Con biết Ngài có đó, con muốn tiếp xúc với Ngài để cho con khỏe nhẹ”.

Với phương pháp theo dõi hơi thở và bước chân, ta ôm ấp được những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Bụt cũng vậy, khi nào có những nỗi khổ niềm đau thì Ngài biết trở về với hơi thở. Và hơi thở đó giúp cho Bụt ôm ấp và lìa bỏ được những nỗi khổ niềm đau của mình.

Quý vị cũng vậy, mỗi khi quý vị có một sự bất an trong lòng, có một chướng ngại làm cho mình không có hạnh phúc thì cách hay nhất là trở về hơi thở. Hơi thở giúp mình chạm được vào nỗi khổ niềm đau, chạm được vào cái cảm giác bất an, mông lung của mình để ôm ấp và chuyển hóa. Không những mình tiếp xúc được bằng hơi thở mà mình còn có thể tiếp xúc được bằng bước chân. Rất là hay.

Bụt cũng có thể có những khó khăn, khó khăn của Bụt cũng có thể đến từ bên trong hoặc từ bên ngoài. Nhưng mỗi khi có khó khăn tới thì Bụt biết tiếp xúc với những khó khăn ấy và mỉm cười với chúng rồi tìm cách chuyển hóa chúng. Nếu khi những khổ đau tìm tới với ta mà ta biết sử dụng hơi thở và bước chân để chạm vào và xoa dịu những khổ đau ấy thì ta cũng đang là một vị Bụt. Còn nếu khổ đau tới với ta mà ta không biết thực tập thì ta không phải là Bụt. Bụt có mặt 24 giờ đồng hồ trong một ngày.

Thế nên trong ngày lễ Phật Đản, chúng ta có cơ hội quán chiếu để thấy rằng có thể tiếp xúc với Bụt một cách rất cụ thể. Tôi nghĩ rằng nếu thấy được Bụt như vậy rồi thì Bụt không còn là một cái gì mơ hồ nữa, không còn là một đấng thần linh ở trên mây nữa. Chúng ta là đệ tử của thiền sư Lâm Tế thì chúng ta phải nhớ lời này: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”.

Chúng ta là sự tiếp nối của Bụt

Mỗi chúng ta đều có khả năng ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của mình và giúp cho người khác ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của họ. Chúng ta đang làm công việc của Bụt, chúng ta đang là sự tiếp nối của Bụt.

Mỗi chúng ta đều có khả năng chế tác ra những tư duy lành, những ngôn ngữ lành và những hành động lành đó là chúng ta đang nối tiếp sự nghiệp của Bụt – sự nghiệp thương yêu, sự nghiệp hiểu biết, sự nghiệp từ bi. Ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều đó.

Thông thường, Bụt ở đâu thì quốc độ của Ngài ở đó. Ngài đi tới đâu cũng mang theo quốc độ của mình. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng là Bụt, chúng ta là sự tiếp nối của Ngài nên chúng ta cũng phải có cõi Bụt quanh mình. Ví dụ ta ngồi nhìn ra cửa sổ thấy mùa xuân vẫn còn đang phơi phới, cỏ cây xanh mướt, hoa đua nhau khoe sắc thắm, ta thấy những thứ đó rất mầu nhiệm. Tiếp xúc được với những màu nhiệm đó thì ta thấy cuộc đời này đẹp đẽ quá. Ta có thể ngồi trên một góc cỏ nhìn ngắm mọi thứ trong tâm trạng không có đau buồn. Ta ngắm một cái lá sen, ngắm một cái lá tre trong bình an thì lúc đó ta là Bụt.
Nếu bị giam hãm trong những cơn buồn giận, ta không tiếp xúc được với những  mầu nhiệm của thiên nhiên thì ta không phải là Bụt, ta đang không có cõi Bụt bao quanh. Bụt ở đâu thì cõi Bụt ở đó. Khi ta có an lạc, hạnh phúc thì quang cảnh xung quanh cũng có an lạc, hạnh phúc. Khi một sư anh, sư chị hay sư em không dễ thương mà mình ôm được cái không dễ thương đó, mình nhìn sư anh, sư chị, sư em của mình với con mắt từ bi thì mình là Bụt và sư anh, sư chị, sư em ấy là cõi Bụt của mình. Nhìn bằng con mắt từ bi thì mình khỏe và cõi của mình trở thành cõi tịnh độ. Nhìn bằng con mắt đau buồn trách móc thì mình không phải là Bụt và cõi xung quanh của mình không phải là cõi Bụt. Đó là sự thực tập của chúng ta. Một tăng thân được thiết lập ra là để tiếp nối Bụt.

Một người thực tập cũng là sự tiếp nối của Bụt. Nhưng nếu được sống trong tăng thân, được cùng tăng thân thực tập thì chúng ta sẽ được che chở, được yểm trợ nhiều hơn. Vì vậy tu tập mà có tăng thân thì dễ dàng hơn rất nhiều. Nương vào anh, vào chị, vào em, và vào những người bạn đồng tu để mỗi giây phút mình có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Khi chế tác ra được ba cái đó thì trong người mình có Bụt và xung quanh mình là cõi Bụt. Còn khi chế tác ra những chất liệu ngược lại thì trong người mình không có Bụt và xung quanh mình cũng không có cõi Bụt.

Chúng ta có thể đã từng nghĩ rằng các chương trình sinh hoạt tại Làng Mai khá dày đặc: Buổi sáng phải thức dậy sớm đi ngồi thiền, phải ăn sáng, làm việc, đi thiền hành, ăn trưa, rồi đi theo các lớp học, rồi ăn chiều, rồi lại ngồi thiền tụng kinh vào buổi tối. Vừa kết thúc khóa tu hai mươi mốt ngày đã sang  khóa tu mùa hè, rồi đi Ý, đi Đức, đi Đông Nam Á… Giống như không có thì giờ để chơi. Chúng ta có cảm tưởng như là chúng ta bị một sức ép phải đi theo. Chúng ta cảm thấy chúng ta không có đủ không gian. Khi chúng ta cảm thấy mình bị ép theo thời khóa, chúng ta cảm thấy mình thiếu không gian, thì trong chúng ta lúc ấy không có Bụt, không có tăng thân và hoàn cảnh xung quanh ta cũng không phải là cõi Bụt.

Ở đời có những người rất thích hát. Họ không có phải là người tu nhưng buổi sáng thức dậy họ muốn hát một bài. Trong khi xả nước tắm, họ vừa tắm vừa hát. Nhưng có những người khác khi thức dậy không hát được, lúc tắm họ cũng không hát được, tại vì họ bị kéo đi bởi hàng trăm thứ lo toan, dự tính trong lòng. Thường thì đó đều là những lo toan không đáng có như tại sao mình cứ phải dậy sớm đi làm? Không biết hôm nay ở công ty ra sao? Chết rồi, tí nữa phải nhớ đi đổ xăng v.v… Cùng thức dậy vào buổi sáng nhưng hai người này khác nhau: một người thì có niềm vui trong lòng do biết an trú, một người thì không có niềm vui do bị những lo toan kéo đi. Khi ta có niềm vui trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Bụt. Khi có phiền não trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Ta Bà.

Trong tu viện, mỗi sáng ta đều thức dậy đi ngồi thiền. Ngồi thiền làm cái gì? Ngồi thiền tức là khỏi làm gì hết, lúc ấy không có ai sai mình phải làm cái này hay làm cái kia. Chỉ ngồi yên thôi thì sướng biết bao nhiêu. Thử hỏi trên thế gian này có biết bao nhiêu người thức dậy được ngồi yên trong vòng nửa giờ hay một giờ? Được ngồi thiền rất yên vào buổi sáng giống như có tiếng hát trong lòng và ngồi thiền không phải là một cái áp lệnh nữa, mà là một niềm vui. Khi ngồi thiền mình có thể tiếp xúc được với Thầy, với sư anh, sư chị hoặc sư em đang ngồi chung với mình và mình được nuôi dưỡng. Cũng như có người khi thức dậy mở cửa sổ ra là có thể hát được. Ta cũng vậy. Khi thức dậy ta thấy được ngồi thiền, được đi thiền hành là một niềm vui. Ngồi thiền và đi thiền hành đó không phải là công việc, không phải là một áp lực, không phải là lao tác cực nhọc  mà mình phải trả nợ như là một người công dân.

Ở bên ngoài đa phần mọi người đều rất bận rộn không có cả thời gian để ngồi yên, trong khi đó tại tu viện, mỗi ngày chúng ta đều được ngồi yên không phải làm gì cả, đó là những cơ hội rất quý. Thế nhưng có lúc ta lại cảm thấy đó là một sự lao tác mệt nhọc, cảm thấy bị ép buộc. Khi ngồi thiền hay đi thiền hành mà ta biết cách an trú trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở thì ta có an lạc, thảnh thơi. Lúc ấy ngồi thiền như là ngồi chơi, đi thiền hành như là đi chơi và xung quanh ta là cõi Bụt. Còn khi ngồi thiền hay đi thiền hành với tâm trạng bị ép uổng thì rất tội nghiệp và rất uổng.

Trong cùng một khung cảnh nhưng có người thì thảnh thơi, thư thái, có người lại cảm thấy gò bó, cảm thấy không có không gian, không có thời gian để sống cho mình. Có những người thấy rất hạnh phúc được ngồi thiền, được đi thiền hành, được nấu cơm cho đại chúng, được tổ chức và hướng dẫn khóa tu v.v… Trong khi đó lại có những người cảm thấy phải ngồi thiền, phải đi thiền hành, phải tổ chức khóa tu. Đối với những người ấy thì ngồi thiền, thiền hành không phải để sống cho mình, quét nhà, làm vườn không phải để sống cho mình. Cho nên tất cả là tùy theo cách mình nhìn. Cũng giống như ở ngoài, có nhưng người họ rất thích đi làm vì họ yêu nghề. Lại có những người rất ngao ngán khi thức dậy thấy có một ngày làm việc trước mặt.

Thiền Sư Lâm Tế có nói với chúng ta rằng: “Quý vị đừng có tưởng tượng quá, đừng có nghĩ rằng cung trời Đâu Suất và đức Di Lặc ở trên mây. Quý vị đừng đi tìm báo thân, pháp thân, ứng thân và cũng đừng đi tìm Tịnh Độ, mất thời gian lắm. Quý vị chính là Bụt là Bồ Tát đó, nếu quý vị nhận ra được đời sống là những cái nhiệm mầu”.

Có sáu đạo thần quang tức là sáu thức khiến cho mình có thể tiếp xúc được với tất cả những cái mầu nhiệm đó. Cung trời Đâu Suất của đức Bụt Di Lặc, hay cõi Tịnh Độ hay tam giới có mặt hiện tiền để mình có thể tiếp xúc liền ngay được. Tam giới là tam giới của mình chứ đâu nữa? Người ta lặp đi lặp lại một cách máy móc câu: “Tôi tu học để mau thoát khỏi tam giới”. Tổ Lâm Tế nói: “Đừng nói rằng quý vị đi tu là để thoát khỏi tam giới (cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc). Thoát khỏi tam giới thì quý vị đi đâu. Ở ngay trong tam giới này đã có đủ Bụt, Pháp, Tăng, có Tịnh Độ, cõi Bụt, có đủ hết”. Khi tâm mình có ham muốn thì tức là mình đang ở trong cõi dục. Khi tâm có từ bi, hiểu biết thì mình đang ở trong cõi bồ tát, cõi Bụt.

Chúng ta đã có cơ hội được nghe những lời giảng, những lời khai thị rất nhiệm mầu của chư Tổ. Và chúng ta có cơ hội để được sống thật sâu sắc những giây phút của đời sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể tiếp nối sự nghiệp của chư Bụt. Chư Bụt rất gần chúng ta để được tiếp nối một cách đẹp đẽ.

Con đường của Bụt

(Trích trong pháp thoại ngày 20.11.2008 của Sư Ông Làng Mai)

Trong mùa an cư, chúng ta cần thực tập cho nghiêm chỉnh. Đừng đi ra khỏi giới trường. Làm thế nào để mỗi giây phút của mùa an cư trở thành sự thực tập –Sự thực tập chung của tăng thân và mỗi cá nhân. Mình phải biết tận dụng thời gian này, phải hạ quyết tâm để chuyển hóa những khó khăn nơi bản thân. Cơ hội được tu tập chung với tăng thân sẽ cho mình nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển hóa, để chế tác hạnh phúc hơn khi tu tập một mình. Năng lượng tập thể của tăng thân có thể giúp mình bước được những bước rất dài trong sự chuyển hóa. Bởi khi ta nương vào năng lượng tập thể của tăng thân thì niệm lực và định lực nơi ta sẽ mạnh mẽ hơn. Nhiều vị xuất gia đều ý thức được sự cần thiết của ba tháng an cư, nhưng vì Phật sự đa đoan, dù có cố gắng mấy, các vị ấy cũng chỉ an cư được có mấy tuần.

Quê Hương Đích Thực

Sự thực tập an cư miên mật được thể hiện qua việc hành trì giới luật và uy nghi. Và sự thực tập chánh niệm cũng là sự thực tập giới. Thầy đã và đang thực tập như vậy. Trong lúc vặn nước rửa mặt, Thầy tiếp xúc được với nước chảy ra từ vòi rất mát. Thầy ý thức được nó đến từ nguồn suối cao hoặc từ lòng đất sâu, và lòng biết ơn trong thầy luôn tràn đầy. Hành động chải răng cũng cho ta cơ hội để thực tập. Nếu mỗi giây mỗi phút của việc chải răng, mình  đều an trú được trong giây phút hiện tại thì mỗi giây mỗi phút ấy mang về cho chính mình thật nhiều hạnh phúc. Hạnh phúc hay không hạnh phúc đều tùy nơi mình. Nghe chuông cũng là cơ hội cho mình tiếp xúc với hạnh phúc. Tiếng chuông giúp mình dừng lại –Dừng sự rong ruổi về quá khứ, dừng sự rong ruổi về tương lai. Dừng lại để nhận ra quê hương đích thực của mình đang ở đâu. Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe. Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.

Trong bài thơ Quê Hương, nhà thơ Đỗ Trung Quân có định nghĩa quê hương là chùm khế ngọt, đường đi học,…Nhưng quê hương của chúng ta –Những người con thực tập theo con đường tỉnh thức của Bụt –khác với quê hương được định nghĩa như trên. Quê hương của chúng ta không phải chỉ ở nơi kỷ niệm, không phải chỉ là cái thiên đường ngày xưa. Chùm khế ngọt hay con đường đi học thân quen đã thuộc về quá khứ. Do vậy, cái quê hương được nói đến trong bài thơ trên chỉ là một ý niệm, mà không phải là thực tại. Có thể thời ấu thơ, mình được trèo hái những chùm khế ngọt đong đưa trong gió, được thả diều trong những buổi trưa hè, được đi học mỗi ngày trên con đường thân quen hay bắt bướm ven vệ đường…Mình có thể có hạnh phúc với những giây phút ấy thật. Nhưng có thể mình chưa có ý thức. Bởi có hạnh phúc là một chuyện, mà ý thức rằng mình đang có hạnh phúc lại là chuyện khác. Có may mắn là một chuyện, mà ý thức được rằng, mình đang có may mắn là một chuyện khác. Sự ý thức về những hạnh phúc, những may mắn của chính mình rất quan trọng, bởi nó chính là chánh niệm.

Khi nghe tiếng chuông,  mình trở về với hơi thở, và ý thức được sự có mặt thực sự của mình cho sự sống mầu nhiệm xung quanh như trời xanh, mây trắng, hoa vàng, cây táo, cây sồi,…Tất cả những thứ ấy là quê hương của mình, chứ không phải chỉ là chùm khế ngọt, con đò nhỏ,…của quá khứ đã đi qua. Quê hương đích thực của mình chính là sự sống diễn ra trong giây phút hiện tại. Và mình sẽ cảm thấy thoải mái ở bất kỳ nơi đâu, nếu mình có mặt được, tiếp xúc được với sự sống. Đừng để những cơ hội đẹp được tiếp xúc với quê hương đi qua trong hời hợt, trong quên lãng. Những người biết thực tập là những người luôn biết tận dụng những cơ hội như vậy. Và ba tháng an cư đang là cơ hội của tất cả chúng ta.

Con Đường Của Bụt

Con đường của Bụt là chủ đề của khoá tu an cư kiết đông năm nay. Đây là con đường Bụt đã đi, và chúng ta đang đi theo sự hướng dẫn của Ngài. Con đường ấy sẽ giúp chúng ta chuyển hóa những khổ đau, đem lại hạnh phúc cho mình và cho người. Có thể nhiều người sẽ thắc mắc, tại sao chúng ta cần học lại về con đường của Bụt trong khi nó đã được đề cập rất rõ ràng trong kinh luật luận? Lý do thật đơn giản, vì thế giới đang đi tới một trật tự mới –Một trật tự toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, giáo dục… Và tất yếu, nền luân lý đạo đức cũng không thể nào ra khỏi quỹ đạo này. Một trật tự toàn cầu cần có một nền đạo đức được chấp nhận của toàn thể nhân loại. Bởi vì, mỗi châu, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi nhóm dân có nền văn hóa, nền đạo đức với những giá trị và tiêu chuẩn riêng. Trong xu thế toàn cầu hóa, chúng ta cần đi tới sự công nhận những giá trị chung. Và những người tu tập theo đạo Bụt cần phải nói lên tiếng nói từ trái tim của mình để cống hiến cho nền đạo đức toàn cầu hóa này. Cụ thể, mình sẽ đem ra đóng góp gì?

Năm 1993, tại Chicago, một hội nghị thượng đỉnh về vấn đề đạo đức toàn cầu đã được diễn ra. Trong hội nghị này, một văn bản chuyên môn về đạo đức toàn cầu đã được một nhà thần học người Đức đưa ra. Khi đọc những tài liệu này, có thể tuệ giác của chúng ta sẽ được xúc chạm, và những cái thấy đó sẽ được đem đóng góp cho nền đạo đức toàn cầu.

Trong tiếng Việt, có chữ đạo đức, luân lý. Chữ luân lý dùng để dịch cho chữ morality, và chữ đạo đức cũng có thể dịch là morality hay ethic. Chữ luân lý là một từ Hán việt. Luân là cách hành xử giữa người với người sao cho trọn vẹn, sao cho có hạnh phúc, và vắng mặt sự khổ đau. Có một từ liên quan đến chữ luân mà chúng ta cũng rất hay dùng là nhân luân. Nó có nghĩa là đạo đức của con người. Chữ là những nguyên tắc, luật lệ căn bản cho những hành động. Luân lý có thể là cách nói tắt của luân thường đạo lý. Chữ thường có nghĩa là chung –Những nguyên tắc hành xử giữa con người với con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, và được mọi người chấp nhận. Đạo là con đường. Và ở đây ngoài nghĩa trên còn có thêm một nghĩa nữa là lý luận. Như vậy, luân thường đạo lý có thể hiểu là những nguyên tắc luân lý đưa tới một con đường bằng những lối hành xử giữa con người và con người, và được chấp nhận bởi tất cả mọi người. Đây là quan điểm của người Á Đông. Người Á Đông còn quan niệm về đạo đức như sau: Đạo là con đường, đức là những tính tốt như sự thành thật, lòng nhân từ…Do vậy, đạo đức có thể hiểu là con đường hay đức hạnh.  Những đức hạnh mang lại cho mình những con đường. Con đường giúp mình tránh những đau khổ, và không làm cho người khác đau khổ. Con đường làm cho mình có hạnh phúc, và giúp cho người khác có hạnh phúc.

Khi đức Thế Tôn thành đạo, ngài cũng nghĩ đến con đường. Thành đạo có nghĩa là sự giác ngộ hoàn toàn, là sự giải thoát. Chữ thành đạo này không chỉ có nghĩa là con đường, mà nó còn có nghĩa là thấy chân lý, là thấy được sự thật, là sự thực hiện được sự thật, là một tuệ giác lớn. Đạo là tuệ giác và cũng là con đường để đi đến tuệ giác đó.

Tôn giáo cũng có thể dịch là tông giáo. Tông là truyền thống, tông phái. Chữ tôn giáo theo cách hiểu của Tây phương có dính líu tới Thượng Đế và niềm tin nơi đấng Thượng Đế. Nhưng tôn giáo không hẳn cần phải có niềm tin nơi một đấng hay một truyền thống nào đó. Chữ giáo có nghĩ là dạy. Có khi tôn giáo cũng được dịch là đạo –Đạo ở đây chỉ có nghĩa là con đường. Nếu dùng chữ đạo để dịch cho chữ religion thì chưa chính xác. Vì chữ religion có hàm chứa yếu tố đấng tạo hoá, mà chữ đạo không hàm chứa nghĩa về một đấng tạo hóa.

Trong đạo Bụt, ý niệm về con đường rất rõ. Bài giảng đầu tiên của đức Thế Tôn hướng về năm người bạn đã từng tu khổ hạnh với Người –Năm anh em ông Kiều Trần Như –đã đặt nền tảng cho một nền đạo đức. Bài giảng đó còn được gọi là Chuyển Pháp Luân Kinh. Trong bài giảng này, Ngài đề cập đến bốn sự thật mầu nhiệm và con đường của tám sự hành trì chân chính. Cụ thể, Ngài nói về khổ đau của con người, và cách chuyển hoá khổ đau đó. Chuyển Pháp Luân Kinh có thể là căn bản cho nền đạo đức Phật giáo. Nó rất thực tế. Nó không là triết học mà là đạo đức học.

Khổ Đế Và Tập Đế

Tứ Diệu Đế là bốn sự thật cao quý mầu nhiệm, hay còn gọi là Tứ Thánh Đế – Bốn sự thật thánh thiện, cũng có thể gọi là Tứ Chân Đế – Chân là chân thật không giả dối. Sự thật thứ nhất (khổ đế) công nhận có những khổ đau hiện diện trong cuộc đời. Ngay lời dạy đầu tiên của Ngài, mình có thể nhận thấy đức Thế Tôn rất thực tế. Ngài không dùng thời gian để nói về những vấn đề siêu hình không ích lợi cho đời sống của con người như vấn đề vũ trụ vạn hữu, ai đã tạo ra thế giới này. Ngài đưa chúng ta về với hiện trạng của bản thân chúng ta và hiện trạng của xã hội. Điều này rất cần thiết với mỗi chúng ta. Bởi muốn giải quyết những bức xúc, những khó khăn của chính mình cần phải biết nhìn lại mình, nhận diện những khổ đau đang có mặt và nguyên nhân dẫn đến những khổ đau đó. Nhiều người khi nghe ngài giảng, khổ đau là một sự thật, nên tìm đủ cách để chứng minh : tất cả đều là khổ. Lấy hết thời giờ của mình để chứng minh tất cả điều là khổ, sinh khổ, già khổ, bệnh khổ và chết cũng khổ. Từ cách hiểu như vậy đã dẫn đến sự phân chia khổ đau thành ba loại : khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.

Khổ khổ là tự thân vốn là khổ, đau răng là khổ, mất người thương là khổ.
Hành khổ: hành là hiện tượng, tất cả các hiện tượng do nhân duyên tập hợp lại gọi là hành, thí dụ bông hoa là một hành, vì bông hoa được tạo nên từ rất nhiều nguyên nhân. Trong kinh nói chư hành vô thường, đây là một sự thật. Không có cái hành hay sự vật nào mà không vô thường. Không những cái đau răng của mình là vô thường mà cái răng của mình cũng vô thường. Đau răng cũng khổ mà không đau răng cũng khổ, hễ có răng là có khổ. Răng đau cũng khổ rồi mà răng chưa đau cũng khổ vì trước sau gì thì nó cũng đau. Ý tưởng này hơi cưỡng ép. Nếu các hành là khổ thì đâu có cái gì là không khổ đâu?
Thứ 3 là hoại khổ, cái gì cũng tàn hoại hết, nó tàn hoại là khổ mà chưa tàn hoại cũng khổ như thường.
Người mà giản nhưng điều này chỉ muốn chứng tỏ lời Bụt là đúng, rằng tất cả đều là khổ. Nhưng Bụt không hề nói như vậy. Bụt chỉ nói là cái khổ đang có mặt và chúng ta phải tìm cách giải quyết những cái khổ.  Đừng nên hiểu lời Bụt dạy theo cách quá giáo điều. Hiểu như thế thì rất tội cho Bụt. Do đó, khi giảng dạy về sự thật thứ nhất, chúng ta nên tránh cách hiểu : tất cả là khổ. Nên hiểu: tất cả là vô thường hay vô ngã thì đúng hơn.

Trong xã hội khi sinh ra một đứa con thì đó là một niềm vui, tới ngày sinh nhật thì mình ăn mừng sinh nhật và hát bài happy birthday. Nếu nói sanh ra là khổ thì sao lại hát bài happy birthday to you, hay ăn mừng sinh nhật ? Nói già cũng khổ, nhưng đối với thầy, thầy thấy già rất vui, thầy già nên thầy biết. Người già thì trong người không có những năng lượng quá bồng bột, không có những bức xúc của tuổi trẻ. Già rất đằm, có thể sống sâu sắc được, già hay lắm đấy.

Khi còn trẻ, mình như một dòng suối nhảy múa trên núi, mình thao thức muốn đi ra biển càng sớm càng tốt. Nhưng khi dòng suối chảy đến đồng bằng, và hòa vào dòng sông thì tự nhiên nó sẽ chảy chậm lại. Khi đi chậm lại, mình sẽ thấy mây trời hiện ra trong lòng của mình. Đâu phải làm dòng suối mới vui, làm dòng sông cũng vui vậy. Và tuổi già cũng có rất nhiều điều kiện để mình sống vui phải không? Trong cuộc đời, ai mà không một lần bệnh. Nếu nói không biết bệnh là gì thì hơi xa rời thực tế. Còn nhỏ mà bị không bệnh thì lớn lên hệ thống miễn dịch sẽ rất yếu, và mình có thể sẽ chết bất cứ lúc nào. Nhờ có những cảm sốt vặt vãnh khi còn nhỏ nên khi trưởng thành hệ thống miễn dịch mới mạnh mẽ chống đỡ được với những con vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập. Cho nên bệnh không hẳn là điều tiêu cực. Vì không bệnh, tham dục sẽ nổi lên. Bệnh có thể là trợ duyên cho sự tu tập của mình. Còn vấn đề chết thì sao? Nếu không có chết thì làm sao có sống được. Nếu già không chết, lấy chỗ đâu cho con cháu sống? Thử tưởng tượng nếu trên trái đất toàn những ông bà già măn trăm, sáu trăm tuổi chống gậy lọm khọm vừa đi vừa ho sù sụ thì chán chết. Trong cơ thể, nếu không có tế bào chết đi thì những tế bào mới không thể sinh ra được. Cho nên cái chết rất cần thiết cho mình. Nếu mình chết với tuệ giác là chết mà không chết thì sự tái sinh của mình không phải là khổ

Những người thực tập theo lời Bụt dạy cần phải uyển chuyển, khéo léo để sự hiểu và vận dụng giáo lý của Ngài phù hợp với hoàn cảnh sống.  Ngày xưa không có hiện tượng hâm nóng địa cầu,
Không có nhiều căng thẳng, nhiều người bị bệnh tâm thần như ngày nay. Cũng không có nhiều bạo động và khủng bố, không có sự khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lối sống của người xưa không gây tàn hại môi trương khốc liệt như ngày nay, Cũng không có nhiều chiến tranh giữa các tôn giáo. Đây là những nỗi khổ có thật của thời đại, những khổ đế mà mình phải nhận diện. Vấn đề ở đây không phải đi tìm kiếm cái khổ mà là gọi đúng tên cái khổ đó. Mình biết khổ là có thật để tìm đường chuyển hoá.

Sự thật thứ hai là Tập Đế, tập đế là nguyên nhân dẫn tới khổ đau. Muốn thấy được con đường thoát khổ thì phải thấy được những gốc rễ của khổ đau. Muốn chuyển hoá tình trạng hâm nóng địa cầu thì mình phải thấy nguyên nhân từ đâu dẫn tới chuyện hâm nóng địa cầu ? Cách mình tiêu thụ hằng ngày, sử dụng xe hơi, nuôi xúc vật để ăn thịt, phá hủy rừng cây… Tất cả những cái đó đều góp phần làm nóng địa cầu. Và chỉ khi biết rõ những nguyên nhân dẫn đến cái khổ, ta mới có thể chuyển hóa cái khổ hiệu quả được. Cái thấy này là một sự đóng góp rất thực tế cho nền văn hóa toàn cầu.

Rõ ràng, chủ trương của Đạo Bụt không đòi hỏi phải có đức tin nơi một ai, không cần tin Bụt, không cần tin Thượng Đế, chỉ cần biết dựa vào tuệ giác của chính mình để chấp nhận sự có mặt của khổ đau, tìm ra nguyên của khổ đau, và chuyển hóa khổ đau nơi mình và cuộc đời.

Cửa giải thoát

Nghiệp

Trong đạo Phật thường nói ý là căn bản của hành động và lời nói. Khi suy nghĩ điều thiện thì lời nói sẽ lành và hành động khắc đẹp. Nghiệp là một thói quen, có tất thảy ba nghiệp: nghiệp thân, nghiệp khẩu và nghiệp ý. Nghiệp có thể là nghiệp nhân, nguyên nhân của hành động, nhưng cũng có thể là nghiệp quả, kết quả của hành động. Nghiệp nhân giống như là hạt giống, nghiệp quả ví như là quả. Khi tư duy (khởi tâm) thì nó trở thành một năng lượng, và năng lượng đó chỉ mới là hạt giống. Nhưng hạt giống thì thế nào cũng sẽ thành cây và kết trái.

Khi mình khởi tâm từ bi thì xung quanh mình là cả một thế giới từ bi. Khi mình khởi tâm muốn giết chóc hay muốn trả thù thì lập tức bên mình là cả một thế giới thù hận. Cho nên phải rất chánh niệm gìn giữ ba nghiệp thân, khẩu và ý, đừng để cho những nghiệp xấu dẫn đi. Chỉ cần mình khởi lên một tâm ý thôi thì quả báo đã được hình thành ngay trong giờ phút ấy rồi. Tuy mình không thấy nhưng tâm niệm ấy đã đi tới người kia và đang ảnh hưởng lên người kia. Có nhiều cái mắt thường chúng ta không nhìn thấy nhưng nếu có ai đó biết chỉ cho chúng ta thì ta lại không tin. Trong không khí không có gì, nhưng trong không khí có hơi nước, hơi nước mình không thấy nhưng nó có hơi nước. Tư duy của mình mình không thấy nhưng nó đang hoạt động. Nó là một năng lượng, nó có mặt và nó đang lên đường. Khi mình có một tư duy rất từ bi, mình thương được người hay làm khó làm dễ mình, thì lúc phát khởi tình thương năng lượng ấy đã lên đường rồi. Tư duy cho đúng thì tâm tư của mình sẽ chuyển đổi được thế giới.

Khi chúng ta tư duy thì lời nói chính là kết quả của tư duy ấy, và hành động chỉ là kết quả chót cùng. Một tư duy thiện sẽ đem nhiều ánh sáng đến cho thế giới. Còn tư duy mà bất thiện thì nó sẽ có hại cho thế giới. Cho nên thế giới này có phẩm chất nhiều hay không là do sự đóng góp của mình. Mình sinh ra ở thế giới này thì mình là nghiệp quả của thế giới này. Và mình đang ở đây là do những nghiệp thân, khẩu và ý mà mình đã gây ra trong quá khứ nên mình sinh ra trong thế giới này.

Gieo gió thì gặp bão. Gió là nghiệp nhân, bão là nghiệp quả. Chúng ta biết đóa hoa là biểu hiện của một quả báo. Nói tới “quả báo” người ta hay nghĩ rằng đó là một kết quả xấu, nhưng thực ra không phải vậy. Quả báo của một người làm vườn giỏi là có được những chậu hoa rất đẹp. Nhưng nụ hoa đó không chỉ do một mình người làm vườn tạo ra mà có cả triệu nguyên nhân khác nữa: có nắng, có mưa, có phân bón… có rất nhiều thứ mới tạo ra được bông hoa đó. Dù là đóa hoa, cái bàn, hay cái đèn cũng vậy, cả tôi cũng vậy mà bạn cũng vậy. Sự biểu hiện này là do vô số nhân duyên, có hàng triệu nguyên nhân tới với nhau để giúp cho bông hoa biểu hiện. Trải qua trùng trùng duyên khởi mới tới được một nghiệp quả. Khi nhìn một đóa hoa mình tiếp xúc được với hàng triệu nguyên nhân. Các nguyên nhân tới từ người, từ cầm thú, cỏ cây, thế giới đất đá… Nếu có ai đem tới cho mình một đóa hoa, mình cám ơn người ấy không thì chưa đủ vì đóa hoa đó có mặt ở đây là do vô lượng nguyên nhân.

Những bạo động trong xã hội mà chúng ta đang thấy là kết quả của bao nhiêu tuyệt vọng bao nhiêu tức tối và bực bội đã tích tụ lại. Những chuyện đó mình tưởng là không dính líu gì tới mình, nhưng thật sự là mình cũng có phần trách nhiệm trong đó. Cách mình ăn uống, cách mình hành xử với chính mình cũng tạo nên những nguyên nhân phụ, nguyên nhân xa để đưa tới sự việc này. Do đó, mình có thể chuyển đổi thế giới bằng cách thay đổi lối tư duy, nói năng và hành động của mình. Phải thấy tất cả những gì xảy ra cũng từ cả một cộng đồng.

Trong mỗi một con người đều có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Biệt nghiệp là những gì của riêng mình, như tên tuổi là riêng mình, mình là con của ông đó, bà đó, mình sống tại đó. Nhưng mình cũng có cộng nghiệp và gần nhất là gia đình mình. Cộng nghiệp lớn nhất là của xã hội, đất nước và địa cầu của mình. Một triết gia nói “ Con người là tổng thể của tất cả hành động của người đó ”. Tuệ giác có từ khăp muôn phương, không phải chỉ đạo Phật mới có tuệ giác. Những câu rất hay trong thánh kinh, cũng là tuệ giác. Nhìn kỹ và nhìn sâu để thấy hàng triệu nguyên nhân đến với nhau. Khi chúng ta chết thì chúng ta không thể nào trở thành hư vô được. Có một người hỏi tôi là chồng cô ấy đã chết và bây giờ đã đi đâu? Tôi trả lời: một đám mây không thể nào chết được, đám mây có thể thành mưa, thành tuyết, thành nước đá. Người thương của mình khi chết đi cũng chỉ là biến dạng thôi, biến dạng thành nhiều hình thức khác, phải thật thông minh, chăm chú ta mới tìm ra được người đó. Sự tan rã xác thân không phải là sự tan rã của người ấy. Người đó có rất nhiều năng lượng đang biểu hiện cùng khắp. Tư duy được chế tác ra mỗi ngày, mình có mặt trong thân thể mình nhưng mình cũng đang có mặt khắp nơi trên thế giới.

Trong quả báo có y báo và chánh báo. Chánh báo là mình và y báo là hoàn cảnh và môi trường xung quanh, y báo gần nhất là gia đình, làng xóm, xã hội và dân tộc mình. Chính mình cũng tạo ra môi trường của mình. Tại sao mình chọn chỗ này mà không chọn chỗ khác, đi tu chỗ này mà không đi tu chỗ khác? Mình tự chọn y báo cho mình, mình thấy tu chỗ này gần gũi với mình hơn. Trong mình có chánh báo, là sự lựa chọn của mình và y báo là môi trường mình tu. Mình nghĩ tất cả sự sống của mình gói trọn trong thân ngũ uẩn này, nếu trái tim này ngừng đập thì mình sẽ chết liền. Nhưng nhìn chung quanh sẽ thấy mình có những trái tim khác, tuy nó không nằm trong thân thể mình nhưng nó cũng là mình. Mặt trời là trái tim thứ hai, nếu không có mặt trời thì sẽ không có nắng, và cỏ cây cũng không mọc được, và không có mặt trời thì ta cũng không sống được. Lá phổi rất quan trọng với chúng ta nhưng không có rừng cây thì không có dưỡng khí, nếu không có dưỡng khí thì chẳng ai sống được. Khi ấy lá phổi, trái tim của mình dù có tốt đến mấy cũng chết thôi. Đừng tưởng rằng mình chỉ có một trái tim, mình có nhiều trái tim lắm.

Phá vỡ thế nhị nguyên

Có một chướng ngại rất khó vượt qua mà Bụt gọi là Nhị Nguyên. Nhị nguyên là khuynh hướng phân biệt của chúng ta giữa chủ thể và đối tượng.

Ta cứ tưởng chủ thể không dính níu gì tới đối tượng, nhưng nhìn kỹ thì chủ thể và đối tượng chỉ là một. Mình cứ nghĩ mình là chủ thể và Làng Mai là đối tượng, là cái bên ngoài. Nhưng phải có chủ thể thì mới có đối tượng, cho nên chủ thể và đối tượng là hai mặt của một đồng tiền. Không có đối tượng thì không có chủ thể và ngược lại, không có chủ thể thì không có đối tượng, hai cái tương tức với nhau.

Chúng ta nghĩ mình có một tri giác riêng biệt và bông hoa nằm ngoài tri giác của mình. Khi mình tới với bông hoa thì mình biết đấy là bông hoa. Con mắt chạm phải bông hoa sinh ra cái thấy. Cái thấy (chủ thể) và cái bị thấy (đối tượng) là hai mặt của một thực tại. Thực tại là thấy bông hoa, con mắt thấy bông hoa sinh ra nhãn thức. Ví dụ mình nói tới một tri giác, khi tri giác thì phải là tri giác cái gì, tri giác về bông hoa, mình tưởng bông hoa nó như vậy, tưởng về Làng Mai như vậy. Mình ráng phân biệt nụ hoa và người ngắm hoa. Vật thể được nhìn và chủ thể nhìn. Một cái tưởng có thể kéo dài chừng một sát na, đơn vị nhỏ nhất của một giây. Trong sát na đó chúng ta có một cái bóng về cái hoa. Thí dụ như trong đêm tối, có một người cầm một bó nhang đang cháy và quay nhiều vòng, thì mình có thể thấy được rất nhiều hình dạng của bó nhang. Nhiều điểm sáng liên tiếp nhau tạo ra một vòng tròn. Nhưng thật ra nó không phải là một vòng tròn. Một triết gia nói là hình ảnh của mình chỉ là một chuỗi dài của những tri giác. Mình mới hé thấy một chút về sự thật thì mình chắc mẻm nó là như vậy. Trong vật lý điện tử nói: “khi mình nhìn sâu vào những điểm nhỏ thì mình có thể thấy được cái tâm của mình ở trong đó”. Cái tâm mình bây giờ như vậy, nhưng chút nữa nó đã khác rồi.

Khi người cha, người mẹ nhìn con cái của mình thì phải thấy con mình là mình và phải thấy được cả cháu nội, cháu ngoại mình trong con của mình nữa chứ không phải chỉ thấy có con không thôi. Người con ngược lại phải thấy bố mẹ, ông bà, tổ tiên mình đang có trong mình. Sự tan rã của thân này không phải là sự tan rã của sự sống, nó có thể là một bước tiến mới, nó thể là một sự bắt đầu cho một cái gì đó rất thâm sâu và đẹp đẽ. Quả báo của mình giống như là một ngân hàng nếu mình tư duy thiện thì ngân hàng của mình đầy những quả báo lành, nếu mình tư duy bất thiện thì ngân hàng của mình đầy những quả báo xấu. Không có cái gì mất đi hết, nó chỉ biểu hiện từ hình thái này qua hình thái khác. Hơi nước bốc lên từ biển cả, sông hồ rồi gặp khí lạnh trên cao nó ngưng tụ lại thành một đám mây và khi đám mây nặng đám mây rơi xuống thành những cơn mưa và làm giọt nước trở lại.

Cá nhân và tập thể tương tức với nhau, không có tập thể thì không có cá nhân. Không có cá nhân thì không có tập thể. Lúc giận có thể mình hay nói “ Cuộc sống của con không dính líu gì tới ba má hết ” Nhưng cuộc sống của mình dính líu chặt chẽ với  những người mình thương. Mình nghĩ thần kinh thị giác chỉ là của riêng tôi thôi không dính gì tới người ngồi kế bên, nhưng nếu mình đi chung xe với 4 hoặc 5 người thì thần kinh thị giác của mình có liên can với 5 người kia. Khi cái xe đằng trước nhào tới mà người lái xe không phản ứng kịp và bị cái xe kia tông thì tất cả những người trên xe đều chết. Cái gì cũng có cá nhân và tập thể hết. Có những tập thể liên hệ ít và có những tập thể liên hệ nhiều. Những điều mình làm đều dính với nhau. Mình làm ở đây nhưng chỗ kia cũng bị ảnh hưởng. Khi tư duy thì mình tư duy cho cả thế giới chứ không phải cho riêng mình. Khi tha thứ được, thương được thì mình là người có hạnh phúc trước. Dù người đó có đối xử với mình như thế nào thì mình cứ vẫn thương. Có trách nhiệm với mình không thôi chưa đủ mà phải có trách nhiệm cả với thế giới.

Cho dù thân này có tàn hoại thì sự sống của mình vẫn tiếp tục, vẫn rất đẹp đẽ. Vì mình có khả năng sống với những gì Bụt dạy, sống với những tư duy hiền, tư duy biết điều, tư duy từ bi, đừng để cho những tư duy hận thù hay bạo động xâm phạm. Khi có chánh niệm thì sẽ có những tư tưởng từ bi. Ai cũng có Phật tính, đó là khả năng chánh niệm, tỉnh thức sâu sắc. Mình có quyền chế tác ra những tư tưởng từ bi. Tuy đang thực tập cho mình nhưng người khác cũng sẽ được hưởng lợi lạc từ sự thực tập ấy. Có những lúc mình đi không có chánh niệm và mình nói: thôi con sẽ đi cho Thầy, con đi bằng bàn chân của Thầy, đi với sự tỉnh táo thảnh thơi. Làm như vậy thì những vết thương trong lòng sẽ tự chữa lành. Đánh răng súc miệng cũng làm trong chánh niệm với niềm hạnh phúc là mình đang được sống.

Trong mỗi phút giây của đời sống mình phải tập như là đang ăn mừng sự sống. Nếu đợi trái tim ngừng đập rồi mới biết ăn mừng sự sống thì đã quá muộn. Cho nên phải ăn mừng sự sống ngay bây giờ. Vui mừng vì mình còn đôi mắt để thấy được những sắc màu kỳ diệu, có đôi chân khỏe để bước được nhưng bước thảnh thơi mà không cần phải ngồi trên xe lăn. Mình thực  tập để tiếp xúc với sự sống từng phút từng giây. Không ai có thể tới siêu thị để mua niềm vui và sự hiểu biết được mà phải tự mình nhìn sâu để tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc xung quanh. Muốn như thế thì lúc nào cũng phải đem thân về với tâm, an trú trong phút giây hiện tại và nở một nụ cười. Mình có thể nhìn người kia bằng con mắt từ bi. Bất cứ trong trường hợp nào mình cũng có thể nhìn lại để tạo ra một nguồn năng lượng lành và từ bi cho mình và những người xung quanh. Với những người đang có khó khăn với mình, mình cũng có thể gởi năng lượng lành tới người đó liền bây giờ chứ không cần gặp người đó mới gởi. Mỗi người là một nữ hoàng, là một quốc vương, chúng ta phải có khả năng xử lý vương quốc của chính mình. Đừng để cho những giận hờn, bực bội nhào tới tấn công, phải làm chủ lấy thân tâm và nhất định chỉ đi về hướng tốt lành thôi.

Bụt đã ngồi hàng giờ tại cội Bồ Đề và Ngài đang ngắm cái tánh không của mỗi người mỗi vật. “Không” ở đây không phải là không có gì hết, không phải là hư vô. Không có nghĩ là không có một thực thể riêng biệt, một sự kiện riêng biệt. Một thiền sư nổi tiếng ở thế kỷ thứ 2 là Long Thọ, ngài đã nói là nhờ không mà tất cả mọi sự mọi việc đều thực hiện được. Nhờ cái hoa không có cái ta riêng biệt nên nó nhận được ánh nắng mặt trời, đất và người làm vườn…, cho nên nó mới biểu hiện được thành một bông hoa. Nhờ tánh không của mọi sự mọi vật mà bạn mới biểu hiện được cũng như tôi mới biểt hiện được. Để cho cái ly này đầy thì trước hết nó phải có mặt. Ta phải biết phân biệt giữa chữ “hư vô” và “không thấy”. Không thấy không có nghĩ là không hiện hữu.

Trong đời sống vợ chồng mình phải tiếp xúc được với cái tánh không của đời sống lứa đôi. Khổ đau của mình hay của người kia không còn là cái riêng tư nữa. Hạnh phúc của mình phải là hạnh phúc của người kia. Tuyệt vọng của người kia cũng là tuyệt vọng của mình. Phải thấy được sự tương tức đó. Có một câu kệ là “năng lễ sở lễ tánh không tịch”, tức là người lạy và người được lạy đều có tánh không. Khi đứng trước Bụt mình “không” mà Bụt cũng “không” nghĩa là mình không có một thực thể riêng biệt mà Bụt cũng không có một thực thể riêng biệt,  nhờ vậy nên mình với Bụt mới tương tức. Con với Bụt là một cho nên mới “cảm ứng đạo giao nan tư nghì”. Nếu mình là mình người kia chỉ là người kia, không có tánh không thì mình sẽ không có truyền thông được với nhau.

Muốn có được truyền thông thì phải bỏ cái nhị nguyên. Nếu mình chưa thấy được tánh không của mình, của người khác hay của mặt trời, mình nói mặt trời ơi, nắng ơi, mặt trời và nắng là không cho nên nắng mới đi vào trong tôi được. Nếu như tôi có cái ta riêng biệt và chặn cùng hết thì nắng và mặt trời đâu vào được trong tôi. Mình phải thấy được sự hiện diện của người thương. Đừng để người đó mất đi thì mình mới thấy được người đó đang ở trong lòng mình. Mẹ mới mất nhưng mình cũng thấy rõ là mẹ đang ở trong mình, ba cũng đang ở trong mình. Nếu như con chỉ là con, mẹ chỉ là mẹ thì làm sao con cảm nhận được mẹ trong con? Mình cũng có thể nói với Bụt là: Con có trong Bụt và Bụt đang trong con. Nhận diện tính cách không của mình và nhận diện tính không trong Bụt. Tính không là một trong ba cánh cửa giải thoát : Không, vô tướng, vô tác. Đi qua được hai cánh cửa đó (không và vô tướng) thì thân tâm sẽ rất nhẹ nhàng. “Bồ Tát quán tự tại khi quán chiếu thâm sâu bát nhã ba la mật, tức diệu pháp trí độ bỗng soi thấy năm uẩn đều không có tự tánh, ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn”. Nhờ thấy được tánh không mà mình vượt thoát buồn lo, giận hờn.

Vô Sinh Bất Diệt

Khi ngọn lửa cháy thì nó sẽ nuốt que diêm của tôi, điều này cũng đúng với tuệ giác về không. Ý niệm về không không thể cứu mình được, chỉ khi nào sống được với tánh không thì mới thoát khỏi ràng buộc hệ lụy. Phải tự tu, tự sống mới thấy được. Pháp của Bụt ví như một chiếc bè qua sông nhưng đừng để bị kẹt vào chiếc bè. Bức tượng Bụt có thể rất đẹp nhưng ta đừng để bị kẹt vào tượng Bụt.

Mình có thể sống với ý niệm về không. Cái bè không phải là bờ sông bên kia, cái bè chỉ là phương tiện đưa mình qua bờ. Và cái bè đó chính là cái ý niệm về không. Lắng nghe lời Bụt, lời Thầy cho sâu sắc, hết lòng thì tự khắc tàng thức của mình sẽ làm việc. Khái niệm không phải là sự sống.

Nhiều người biết rõ khái niệm về vô thường, nhiều khi họ còn giảng giải hùng hồn về vô thường nhưng không sống được với vô thường, vẫn hành xử như sự vật là thường. Nếu mình thương người này thì mình thương tuyệt đối, mình ghét người này thì mình ghét tuyệt đối giống như là người này xấu hoài xấu mãi vậy. Tốt hay xấu là do nhiều điều kiện đưa đến. Người này hôm nay như vậy nhưng ngày mai họ lại khác, cho nên mình đừng nên đóng khung họ lại mà phải sử dụng lưỡi kiếm vô thường để đừng bị kẹt. Biết được điều này thì mình phải làm cho người xung quanh hạnh phúc ngay lập tức. Mẹ không sống đời với mình, thầy cũng không sống cả đời với mình. Phải sử dụng cánh cửa vô thường để trân quý từng phút giâu khi được sống bên thầy, khi đang còn đầy đủ cả cha lẫn mẹ. Đó chính là tu. Mình phải làm cho cha mẹ, những người xung quanh có hạnh phúc ngay bây giờ. Em mình có thể đang mạnh khỏe nhưng biết đâu ngày mai nó bị xe đụng thì sao? ‎

Ý niệm về vô thường không phải là tuệ giác về vô thường. Phải sống được với ý niệm vô thường thì mới gọi là có tuệ giác vô thường. Khi bị bệnh thì chỉ cần biết là mình bệnh thôi, đừng để bị kẹt vào căn bệnh, đừng có khổ đau dằn vặt là tại sao hôm qua tôi đang khỏe mạnh mà hôm nay tôi lại như vậy. Vô thường thôi chứ có gì đâu, hôm qua mình khỏe thì hôm nay mình bệnh, hôm nay mình bệnh thì ngày mai mình cũng có thể khỏe, vô thường mà.

Có danh từ Niết Bàn. Niết Bàn là sự tắt ngấm mọi ‎ý niệm, để mình sống được với thực tại. Trái cam là một ý niệm, nhưng khi ăn trái cam vào thì nó là một sự thật. Đừng bị kẹt vào ý niệm vô thường, mình chưa có tuệ giác về vô thường, nên đôi khi mình bị kẹt vào ý niệm vô thường. Vô thường là một pháp, dùng pháp để giải thoát mình chứ đừng dùng pháp để nhốt mình vào một cái kẹt khác. Trong Kinh Kim Cương có nói “pháp mà còn bỏ huống là cái không phải pháp ”. Cả hai đều phải buông thì mình mới thâm nhập được vào pháp đó. Niết Bàn là sự tắt ngấm của những khái niệm. Khái niệm sinh ra và chết đi cũng là khái niệm, nhưng không có gì sinh ra và cũng không có cái gì chết đi hết.

Trong cuộc đời có những khái niệm làm cho mình rất khổ, khái niệm là tri giác, tri giác là cái thấy. Khi chúng ta nhìn sự vật thì chúng ta không thấy hết mà chỉ thấy được một phần của thực tại nên chúng ta khổ. Không có gì đến từ hư không hết. Tờ giấy không tới từ hư không, tờ giấy tới từ rất nhiều điều kiện: cây trong rừng, cây có từ mưa và từ nắng. Sự xuất hiện của cây và lá không phải tới từ sự sinh ra mà là sự tiếp nối của những sự sinh ra đó. Khi nhìn sâu vào tờ giấy mình thấy được kiếp trước và tương lai của nó. “Này tờ giấy của tôi ơi, em đang có mặt trong cuộc đời này, kiếp trước của em là nắng, là đất, là mưa, là cây. Bây giờ em biểu hiện thành một tờ giấy. Sự biểu hiện của em bây giờ là để tiếp nối đường đi thôi bởi vì mình không thể nào từ hư vô mà hiện hữu được”. Hư vô sẽ không thể trở thành hiện hữu. Không hiện hữu hay hiện hữu cũng là một khái niệm.

Khi tôi vẽ một đường thẳng và tôi chấm vào một điểm gọi điểm đó là năm tôi sinh. Mình nghĩ trước cái điểm sinh ra mình chưa là gì cả. Tới chỗ mình chết mình cũng nghĩ tới đây là hết. Nếu nghĩ rằng trước khi sinh ra ta là hư vô và sau khi chết đi ta cũng là hư vô thì đó là cái nhìn rất cạn, cái thấy ấy gọi là cái thấy nhị nguyên. Trước khi biểu hiện thành tờ giấy thì tờ giấy đó không phải tới từ hư vô mà tới từ rừng cây, từ nắng, từ mưa, từ đất, tới từ người nghĩ ra cách nghiền cây thành bột để làm giấy, cha mẹ của người công nhân làm giấy và hàng triệu nhân duyên khác nữa. Trải qua trùng trùng duyên khởi tờ giấu mới có mặt ở đây. Cho nên, thay vì nói “mừng ngày sinh nhật của bạn” thì mình nói, “mừng ngày tiếp nối đường đi của bạn”. Nếu điểm sinh ra là một điểm tiếp nối đường đi thì sự chết đi cũng chỉ là một sự tiếp nối đường đi. Khi thấy đám mây tiếp nối thành cơn mưa thì mình nói” “chào em, em nhớ tiếp nối đường đi cho giỏi nhé”. Ý niệm về sinh ra không áp dụng vào thực tại được. Nhìn sâu sẽ thấy rằng mình chỉ là một sự tiếp nối thôi. Bản chất của mình là không sinh không chết. Khi thấy được và sống được với cái thấy ấy thì mình không còn sợ hãi và đau buồn nữa. Mình không sợ rằng đang hiện hữu bỗng trở thành hư vô và cũng sẽ không còn sợ chết nữa.

Khi đủ điều kiện thì tôi sinh, khi không đủ điều kiện thì tôi cũng chấp nhận để trở thành cái khác. Mình cũng có thể lấy đi những ý niệm về hiện hữu và không hiện hữu. Ví dụ ta có một bao diêm. Nhìn bao diêm ta chưa thấy ngọn lửa, nên cứ tưởng rằng ngọn lửa không có mặt, nhưng thật ra nó đã có mặt sẵn đó rồi, chỉ cần thêm một nhân duyên là quẹt que diêm vào vỏ bao là ngọn lửa xuất hiện. Cho nên khi thấy bao diêm ta có thể nói: “Ngọn lửa ơi, ta biết em đang ở đó”. Khi ngọn lửa đang cháy mà bị tắt thì ta biết rằng vì những điều kiện mất đi nên ngọn lửa ẩn tàng chứ ngọn lửa không chết. Khi nhân duyên đầy đủ thì nó biểu hiện, khi điều kiện không đủ thì nó ẩn tàng, ẩn tàng nhưng vẫn còn đó.

Thượng đế là căn nguyên của sự sống là nền tảng của sự sống. Nếu thượng đế là nền tảng của hiện hữu thì ai là nền tảng của không hiện hữu? Nền tảng của Như Lai vượt trên những ý niệm. Như Lai là không từ đâu tới và cũng không đi về đâu. Nếu thượng đế được giải thích về cả hai mặt hiện hữu và không hiện hữu thì mới tương đương với Như Lai. Khái niệm hiện hữu không hiện hữu không diễn tả thực tại được và mình cũng không thể diễn tả thượng đế hiện hữu hay không hiện hữu. Đừng bỏ thượng đế và Như Lai vào trong hộp, mình phải giải phóng hết những ý niệm để thực sống và nếm được thực tại. Hiện hữu hay không hiện hữu không phải là vấn đề. Nhân duyên tới đâu thì tôi biểu hiện như vậy, khi nhân duyên không đủ thì tôi không biểu hiện dưới dạng khác. Mình không kẹt vào cái nào hết, tôi không đi về đâu hết. Thực tại của tôi là không đến không đi, không sinh không diệt. Đừng tả Như Lai theo kiểu đến và đi.

Đừng có ngồi đó khen hay mà không thực tập, ta phải thực tập để cho cái khái niệm về không đó đi được vào trong mình. Mình sống từng phút từng giây trong đời sống của mình như là không để mình tiếp xúc được với cái thực tại rất là không của mình. Và thực tại rất là không của người không dễ thương kia. Tại điều kiện nó như vậy nên người kia mới như vậy, tại điều kiện như vậy nên mình mới như vậy. Mình không có gì để tự hãnh diện, hay xem nhẹ người kia, hoặc đề cao người kia hết. Mình giải thoát khỏi những ý niệm rất cạn.

Vô Tướng

Cánh cửa giải thoát thứ hai là vô tướng. Đừng bị kẹt vào tướng. Nhìn sâu để tiếp xúc với cái tính chân thật của sự vật vốn là không, không có cái ta riêng biệt, vì không có cái ta riêng biệt nên những điều kiện mới có thể vào – ra được. Bị vướng mắc vào đám mây, cho nên khi đám mây mất mình khóc rất nhiều. Mình bị kẹt vào hình tướng nên khi mẹ mất mình khổ bởi vì mẹ không còn biểu hiện ra trong hình tướng này nữa. Mình đang kẹt vào cái hiện hữu và không hiện hữu. Phải biết là người đó chỉ ẩn tàng thôi và sẽ biểu hiện ra dưới những hình thái khác. Đừng để bị lường gạt bởi những cái nhìn cạn cợt của mình. Người thương của mình đang có mặt trong những hình thái mới. Người kia đã mất nhưng mình cũng biết là người đó vẫn còn có trong mình và mình nói “ anh ơi em biết anh vẫn đang còn có đó cho em và em nghe anh còn sống rất nhiều trong em” mình phải cảm nhận được người thương của mình trong mình.

Vô Tác

Đừng có để một cái gì trước mặt rồi chạy theo dù là quả vị Bụt, tại vì quả vị Bụt đang có trong mình và đang ở đây, tại mình không khám phá thôi. Nếu như mình muốn sinh vào cõi Tịnh Độ thì đừng có chạy đi tìm Tịnh Độ vì cõi tịnh độ đang có mặt bây giờ và ở đây. Nếu muốn thành Phật thì mình đã và đang thành Phật. Mình đã là cái người mà mình muốn chạy theo. Như là hoa sen, nó đã đủ đẹp rồi, nó không cần trở thành một bông cúc. Nếu có đủ niệm định và tuệ thì hạnh phúc, niềm vui ở cõi Tịnh Độ đang có mặt với chúng ta. Bầu trời xanh, tiếng chim hót là tịnh độ. Chúng ta có thể rong chơi trong cõi tịnh ấy.

Có thể dùng bùn để chế tác ra hoa sen, dùng những cái rủi ro trong cuộc đời để làm nên hạnh phúc. Hãy học cách dừng lại mà đừng tiếp tục chạy, chạy sẽ chỉ gây nên tàn phá mà thôi. Nếu bước một bước và mình dừng lại được với giây phút hiện tại thì mình đang thực tập vô tác. Tiếp xúc bây giờ và ở đây thì mình sẽ tiếp xúc ngay với Tịnh Độ. Cõi Tịnh Độ lúc nào cũng có mặt cho mình, chỉ tại mình cứ mải mê chạy theo hết cái này tới cái kia nên không có mặt cho cõi tịnh mà thôi. Hạnh phúc là cái có thể sờ mó được mà không cần chạy theo. Không cần có thêm một điều kiện nào nữa để đạt hạnh phúc.

Trong thánh kinh có câu truyện kể về một người nông dân khám phá ra trong một thửa ruộng nhỏ có một kho tàng. Trở về nhà ông bán hết tất cả những mảnh ruộng của mình đi bởi vì ông đã có cả một kho tàng rồi. Cái kho tàng đó chính là cõi Tịnh Độ của mình. Nếu mình có khó khăn thì mình sẽ dùng chính cái bùn đó để làm nên bông sen. Tu tập là tập dừng lại. Đừng đợi tới khi chết mới về cõi Tịnh Độ, phải thấy là cõi Tịnh Độ đang có mặt ở đây. Mình có thể bước vào cõi Tịnh Độ bằng chánh niệm. Một phút chứa đựng cả thiên thu. Cõi tịnh độ là một cái gì đó rất thật, rất rõ ràng không phải chỉ là ý niệm. Mỗi bước chân có ý thức mình có thể đi trong cõi Tịnh. Tu tập như vầy thì chúng ta sẽ chữa lành những buồn khổ của chúng ta và đồng thời cũng chữa lành quả địa cầu này. Bụt vốn là một người rất đơn giản nên những điều Ngài dạy cũng rất đơn giản, không rắc rối mà thật thâm sâu.

Chúng ta là một gia đình tâm linh. Tăng thân của chúng ta có mặt cùng khắp, và tình huynh đệ là cái gì đó có thật. Những lời dạy của Bụt là những điều Bụt đã trao truyền để làm tỉnh dậy đức Bụt trong lòng ta. Phải tu nếu không sẽ uổng lắm.

Gìn giữ cho nhau

Kính thưa Tổng Thống,
Kính thưa các vị chức sắc tôn giáo và quý vị nhân sĩ có mặt hôm nay tại hội nghị Thượng Đỉnh,

Tôi còn nhớ vào những năm sáu mươi, thanh niên Mỹ khi xuống đường để đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam thường hay hô lớn khẩu hiệu ‘Make love, not war’ (Chỉ nên làm tình mà không nên làm chiến tranh). Hồi đó tôi đã từng suy ngẫm nhiều về khẩu hiệu này. Tình mà họ nói đây là thứ tình gì? Có phải là tình yêu chân thực không hay chỉ là sự đi kiếm tìm nhục dục? Nếu chỉ là sự đi kiếm tìm nhục dục thì tình ấy cũng là một thứ chiến tranh. Tôi cũng còn nhớ là vào năm 1971, trong trận chiến giành độc lập cho Bangaladesh, 200.000 người phụ nữ Bangaladesh đã bị quân lính hiếp dâm, và 40.000 người trong số đó đã có thai. Như vậy người ta đã vừa làm tình vừa làm chiến tranh, và tình ở đây đồng nghĩa với chiến tranh vì tình ở đây có nghĩa là bách hại, tàn phá, gây khổ đau và chết chóc.

Tình thương chân thật (true love), theo chúng tôi, luôn luôn có mang theo trong nó yếu tố chánh niệm, khả năng bảo hộ và ý thức trách nhiệm. Tình yêu này có năng lực của tự giác, hiểu biết và từ bi. Tất cả các nhà thờ, giáo đường và chùa viện của các tôn giáo đều phải có bổn phận dạy cho tín đồ của mình thứ tình yêu chân thực ấy, dạy như thế nào để cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể thực tập được. Trong truyền thống đạo Bụt, giới thứ ba của Năm Giới dạy rằng ta không thể có liên hệ sinh lý với những người không phải là vợ hay chồng của ta, rằng ta phải bảo hộ cho ta và cho kẻ khác, và phải có ý thức về những khổ đau mà ta có thể mang lại cho ta và cho kẻ khác vì hành động dâm dục không có tinh thần trách nhiệm của mình. Nếu không giữ giới này, ta tự hủy hoại đời ta và hủy hoại đời của những người ta thương và cũng đồng thời hủy hoại cả xã hội.

Thương yêu có chánh niệm mới đích thực là thương yêu. Ta có thể thực tập chánh niệm ngay trong ngày hôm nay và sự thực tập này đem tới cho ta một sự bảo hộ có liền trong tức khắc. Tất cả mọi thành phần của tăng thân hoặc của giáo xứ đều phải thực tập chánh niệm về sự liên hệ sắc dục, nghĩa là giữ giới thứ ba. Làm được như thế ta lập tức bảo hộ được bản thân ta, gia đình ta, giáo xứ của ta và xã hội của ta. Vai trò của người lãnh đạo tôn giáo, vai trò của người tu sĩ, người giáo sĩ và người mục sư là phải tự bảo hộ lấy thân mạng mình và giáo xứ của mình. Nếu không làm được như thế thì làm sao họ có thể giúp được những giới khác và những đoàn thể khác trong xã hội? Khi mới ngồi vào máy bay, chiêu đãi viên luôn luôn nhắc chúng ta là trong trường hợp thiếu dưỡng khí ta phải tự mang mặt nạ dưỡng khí cho ta trước đã rồi mới nên giúp những người khác làm như thế. Về vấn đề bệnh SIDA cũng vậy. Bản thân ta, gia đình ta và giáo xứ ta phải là đối tượng đầu của sự thực tập bảo hộ. Yếu tố tỉnh thức và giác ngộ phải có mặt, phải được chế tác trong tăng thân và đoàn thể tu học của chúng ta trước. Tất cả trẻ em và người lớn trong tăng thân và đoàn thể tu học của ta phải được học hỏi về những sự thật liên hệ tới bệnh SIDA và cách thức nhiễm độc của vi khuẩn HIV. Tất cả đều phải thấy được những khổ đau mà chứng bệnh này gây ra cho cá nhân, gia đình, đoàn thể và xã hội, khi ta không biết thực tập giữ gìn cho ta và cho mọi người.

Chánh niệm là năng lượng giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra. Những gì đang xảy ra là những niềm đau nỗi khổ do bệnh SIDA gây nên, lớn lao và tràn ngập đến nỗi không bút mực nào có thể tả được. Trong năm 2000 này đã có trên 5 triệu người chết vì bệnh SIDA và hàng triệu người đã bị vi khuẩn HIV nhiễm độc. Các thành phần của giáo xứ hoặc tăng thân có bổn phận phải đánh thức giáo xứ và tăng thân dậy để tất cả đều thấy được hiểm họa lớn lao có một không hai này. Ý thức về khổ đau đang có mặt, đó là sự thật thứ nhất của bốn sự thật mầu nhiệm gọi là Tứ Diệu Đế. Trong suốt 45 năm giáo hóa, Bụt thường nhắc lại câu nói này: ”Tôi chỉ dạy về khổ đau và sự chuyển hóa khổ đau thôi.” Chỉ khi nào nhận diện được khổ đau ta mới có thể nhìn sâu vào tự tính của khổ đau và khám phá ra những nguyên nhân đã đưa tới khổ đau ấy. Có thể là chỉ cần một, hai hoặc ba tuần lễ để học hỏi và quán chiếu về khổ đau và nguyên do của khổ đau thì cọng đồng tu học của ta, giáo xứ của ta sẽ bừng tỉnh dậy về sự thật bi đát của hiểm họa SIDA và vi khuẩn HIV đang xảy ra trong cọng đồng và trên thế giới. Khi tất cả tăng thân hoặc giáo xứ của ta đều ý thức được rõ ràng về thực tại khổ đau và những nguyên nhân của khổ đau thì mọi người sẽ biết nên làm gì và không nên làm gì để tự bảo vệ cho cả tăng thân hoặc giáo xứ của mình. Hành động cho kịp và thích ứng thì ta có thể chuyển hóa khổ đau thành an lạc và giải thoát.

Trong cuộc sống hàng ngày vì chỉ biết tiêu thụ trong thất niệm nên chúng ta đã góp phần tạo ra những khổ đau trong hiện tại. Đức Thế Tôn nói: ”Không có gì có thể sống sót được nếu không có thức ăn.” Tình thương không sống được nếu không có thức ăn. Khổ đau cũng không sống được nếu không có thức ăn. Vì vậy nếu ta biết nhìn sâu vào bản chất của khổ đau ta và nhận diện được nguồn thực phẩm mà ta đã sử dụng để nuôi nấng nó, thì chúng ta đã bắt đầu đi vào con đường giải thoát và trị liệu. Những sản phẩm ta tiêu thụ hàng ngày để giải trí đã là một nguồn suối sâu dày của khổ đau. Phim ảnh, truyền hình, quảng cáo và sách báo, v.v.. đã cung cấp cho ta và cho con em ta những loại thức ăn mà mỗi chúng ta tiêu thụ hàng ngày qua sáu căn là mắt, tai, miệng, lưỡi, thân và ý. Những hình ảnh và âm thanh kia hàng ngày xâm chiếm và tràn ngập giác quan và tâm thức ta, và phần lớn đều có tác dụng tưới tẩm những hạt giống thèm khát, tuyệt vọng, bạo động và căm thù trong ta và trong giới trẻ. Con em chúng ta đã bị đầu độc quá nhiều bởi những độc tố ấy. Biết bao nhiêu tuổi trẻ đã chết đuối trong biển ma túy, nghiện ngập và dục tình. Vì vậy nếu ta biết thực tập chánh niệm trong khi tiêu thụ các sản phẩm gọi là văn hóa ấy thì ta có thể chấm dứt được tình trạng bị đầu độc của thân và tâm ta.

Trong đạo Bụt có sự thực tập Năm Giới để hướng dẫn cho ta nhận diện được những thực phẩm nào mà chúng ta sắp tiêu thụ. Nhờ chánh niệm ta có thể thấy được độc tố trong các loại thực phẩm gọi là đoàn thực, xúc thực, và tư niệm thực để chúng ta có thể khước từ không tiêu thụ chúng, không đưa những độc tố ấy vào trong thân tâm ta. Chúng ta phải thực tập để chỉ tiêu thụ những thực phẩm lành mạnh có thể nuôi dưỡng thân và tâm ta. Tại các chùa, nhà thờ và thánh đường, mọi người phải có cơ hội tiếp nhận những giáo lý và những phép thực tập chánh niệm như thế. Thành phần nào của tăng thân và của giáo xứ cũng phải được hướng dẫn học hỏi và thực tập chánh niệm trong việc tiêu thụ. Để thực tập cho dễ thành công, mỗi người phải nương vào đoàn thể tu học của mình. Có nương vào tăng thân ta mới có đủ sự hướng dẫn, soi sáng và yểm trợ để có đủ năng lượng mà thực tập.

Tái lập truyền thông

Thực tập chánh niệm cũng giúp ta thiết lập lại được truyền thông với những người trong gia đình và quyến thuộc. Hạnh phúc chỉ có thể có mặt khi có hòa khí. Nếu ta không biết thực tập các phép lắng nghe và ái ngữ thì ta không thể tái lập được truyền thông giữa cha mẹ con cái và anh chị em. Khổ đau có thể đã phát sinh vì thế, và do đó cá nhân mới đi tìm sự khuây khỏa và lãng quên trong sắc dục, hút xách, rượu nồng và ma túy. Thảm trạng HIV / SIDA có liên hệ mật thiết đến vấn đề truyền thông trong gia đình, bởi vì thiếu sự truyền thông cho nên người ta mới đi tìm đến với sắc dục và ma túy. Mà sắc dục và ma túy là hai nguyên do chính đưa tới nhiễm độc HIV/ SIDA . Số người bị bệnh SIDA vì sử dụng kim chích ma túy rất nhiều, những chiếc kim này đã được những người có bệnh SIDA sử dụng trước đó. Trưởng giả Duy Ma Cật nói: Tại vì chúng sanh bệnh nên tôi bệnh. Khi cả thế giới bị thảm họa SIDA tàn phá, và hàng chục triệu người đang rên siết dưới gánh nặng của khổ đau vì tuyệt vọng thì ta không thể làm ngơ. Chỉ kêu gọi chính quyền và các tổ chức thiện nguyện thì chưa đủ.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo phải bắt đầu xây dựng tăng thân, cọng đồng và giáo xứ của họ bằng cách là phải thực tập những điều mà chính mình đang hô hào, kêu gọi và giảng dạy. Các vị giám mục, mục sư, linh mục và trú trì phải đứng lên làm gương cho cọng đồng của họ bằng sự tu tập của chính mình. Phải tái lập được sự truyền thông ngay trong chính cộng đồng tôn giáo của mình, phải hòa giải được với tất cả mọi thành phần của tăng thân – trong phạm vi giáo xứ, trong phạm vi gia đình và giữa những cộng đồng với những chủng tộc khác biệt trong mỗi thành phố. Sự thực tập này rất quan trọng. Khi cộng đồng đã có sự hài hòa, có sự học hỏi và quán chiếu về những khổ đau và những nguyên nhân gây ra khổ đau trong phạm vi hiểm họa SIDA thì mới có thể thành công. Nếu đoàn thể tôn giáo của ta đã có giác ngộ và hiểu biết về tình trạng hiểm họa, thì cái hiểu tự nhiên đưa tới cái thương. Chính yếu tố hiểu và thương này sẽ đem lại rất nhiều an ủi cho các nạn nhân của bệnh HIV và SIDA . Chúng ta biết rõ rằng thuốc men không đủ để đối phó với hiểm họa. Những người bị nhiễm độc HIV và có bệnh SIDA thường bị kỳ thị, hắt hủi, sống trơ trọi ngoài lề gia đình và xã hội. Tăng thân hoặc giáo xứ phải cung cấp tình thương và sự hiểu biết cho họ, thì sự chữa trị mới có thể thành công. Nếu không thực sự có hiểu và có thương thì ta sẽ không làm được gì cụ thể để giúp những người đang khổ đau, dù ta có rất nhiều tài năng và thiện chí.

Dựng lại tăng thân

Sự thực tập chánh niệm chỉ thành công lớn trong phạm vi tăng thân, nghĩa là trong một đoàn thể mà ai cũng nguyện sống trong tỉnh thức và trong tinh thần hòa hợp. Có nhiều cái ta không làm được khi ta làm một mình, nhưng cùng với tăng thân thì ta lại làm được. Sống với tăng thân, ta thực tập đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, thực tập thiền tọa, thiền hành và ăn cơm im lặng rất dễ dàng. Chúng ta cũng thực tập tiêu thụ trong chánh niệm một cách rất dễ dàng, tại vì tăng thân luôn luôn có đó để soi sáng cho ta và yểm trợ cho ta thực tập. Theo tôi thì xây dựng tăng thân là công trình cấp thiết và đáng giá nhất của thời đại chúng ta.

Trong truyền thống đạo Bụt, sau khi tiếp nhận Năm Giới, cứ mỗi nửa tháng người ta lại tập họp với nhau tại chùa để tụng giới và dự pháp đàm về Năm Giới để chia sẻ kinh nghiệm thực tập và tìm thêm những cách thức hữu hiệu hơn nữa để áp dụng Năm Giới vào đời sống hàng ngày. Vị giáo thọ hay trú trì thường tham dự trọn buổi pháp đàm, đóng góp tuệ giác và kinh nghiệm của mình và hướng dẫn cho tín đồ bằng kinh nghiệm tu tập của mình. Nếu có cá nhân nào trong tăng thân gặp khó khăn thì tăng thân có đó để yểm trợ cho người ấy. Một tăng thân đích thực là một tăng thân có mang trong nó sự có mặt của Phật thân và Pháp thân. Điều này cũng tất nhiên phải đúng trong các truyền thống tôn giáo khác. Tăng thân với tăng nhãn (mắt Tăng) của mình, nhờ sự thực tập và quán chiếu, sẽ có thể hiểu được tình trạng khó khăn của ta và chỉ bày cho ta phương thức dẫn ta ra khỏi tình trạng ấy, giúp cho ta tự bảo hộ ta, bảo hộ gia đình và xã hội của ta.

Ngày nay, tuổi trẻ bỏ nhà thờ rất nhiều, tại vì nhà thờ không cung cấp cho họ những giáo lý và thực tập thích hợp với hoàn cảnh của họ. Nhà thờ không đáp ứng được với những nhu cầu có thật của tuổi trẻ. Làm mới lại giáo hội bằng cách giảng dạy những gì thích hợp và cung cấp những phép hành trì thích hợp với tuổi trẻ, đó là cách duy nhất để đưa tuổi trẻ trở về lại với giáo hội. Ta phải làm mới giáo hội và đoàn thể của ta lại bằng sự thực tập xây dựng tăng thân. Xây dựng tăng thân trên nền tảng thực tập chánh niệm – vì chánh niệm sẽ đem tới hiểu biết, thương yêu và năng lượng bảo hộ và hòa giải. Người lãnh đạo giáo hội, dù xuất gia hay tại gia, đều phải tự mình thực tập trước đã. Chúng ta phải dạy bằng thân giáo của mình. Giới trẻ sẽ không tin ta nếu ta không sống theo điều ta dạy. Vấn đề then chốt của HIV và SIDA là vấn đề hành xử, vấn đề giữ giới. Đó là thực tập chánh niệm. Nếu ai cũng có tăng thân để bảo hộ và soi sáng cho mình để mình có thể biết mình đang hành xử như thế nào thì mình sẽ không còn mang lại khổ đau cho chính bản thân và cho gia đình và xã hội mình nữa.

Đi vào Tịnh Độ

Tôi thường nhắc nhở các giới đệ tử của tôi rằng năng lượng chánh niệm chế tác do sự thực tập hàng ngày cũng tương đương với năng lượng của Thánh linh. Mỗi chúng ta đều có hạt giống chánh niệm trong tâm. Nếu ta biết thực tập thở trong chánh niệm, đi đứng trong chánh niệm, nằm ngồi, làm việc và tiêu thụ trong chánh niệm, thì hạt giống ấy sẽ trở thành một nguồn năng lượng sinh động trong ta, bảo hộ ta, giúp ta hiểu, thương và hành động đúng theo chánh pháp. Đối với người Cơ Đốc và Do Thái, điều này tương đương với sự sống hàng ngày đặt trong sự có mặt của Thượng Đế. Tôi đã chỉ dạy cho rất nhiều người bị bệnh nan y, giúp cho họ tập đi trong Tịnh Độ hay trong nước Chúa mỗi ngày. Nếu ta biết trở về với hơi thở chánh niệm và thực hiện được trạng thái thân tâm nhất như thì ta sẽ không còn bị ràng buộc bởi quá khứ và tương lai vì ta sẽ có khả năng bước ngay vào Tịnh Độ hay là vào nước Chúa trong giây phút hiện tại, và tiếp xúc được với tất cả những nhiệm mầu có mặt trong ấy. Nếu ta có thảnh thơi và tự do, thì Tịnh Độ có mặt ngay trong giờ phút này.

Tự do đây không phải là tự do chính trị; đó là sự giải thoát khỏi mọi lo lắng, đau buồn, sợ hãi và nuối tiếc. Thiết lập được thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại là ta có thể bước ngay được vào Tịnh Độ hay là trong nước Chúa. Riêng tôi, ngày nào tôi cũng thực tập đi trong Tịnh Độ. Dù tôi đang ở trong một nhà ga hay tại một phi trường, dù tôi đang ở trên Vạn Lý Trường Thành hoặc bên sườn núi Thứu, tôi đều có cơ hội bước đi thảnh thơi trong Tịnh Độ. Tịnh Độ hoặc nước Chúa là nơi mà chánh niệm, hiểu biết, thảnh thơi và từ bi có mặt. Đó là định nghĩa Tịnh Độ của tôi. Trong chúng ta ai cũng có khả năng chánh niệm, ai cũng có khả năng an trú trong hiện tại. Ta chỉ cần thực tập để khả năng ấy hiển lộ và lớn lên. An trú trong hiện tại, ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm trong ta và quanh ta. Đôi mắt của quý vị là một mầu nhiệm. Trái tim của quý vị là một mầu nhiệm. Trời xanh là một mầu nhiệm. Tiếng chim hót là một mầu nhiệm. Nếu quý vị có mặt được cho những mầu nhiệm ấy thì những mầu nhiệm ấy sẽ có mặt được cho quý vị. Tất cả những mầu nhiệm của Tịnh Độ đang có mặt cho quý vị ngay trong giờ phút này. Chỉ sợ quý vị không có mặt cho những mầu nhiệm ấy mà thôi. Nước Chúa đang có mặt trong khoảnh khắc này đây và tại ngay đây. Câu hỏi cần hỏi là quý vị đang có mặt cho nước Chúa hay không mà thôi. Nếu thực tập giỏi quý vị sẽ thấy Tịnh Độ có mặt trong từng tế bào của cơ thể quý vị. Không gian vô cùng và thời gian vô tận đang có trong từng tế bào. Và quý vị có thể bước đi thảnh thơi trong từng tế bào của cơ thể quý vị. Đây là giáo lý mầu nhiệm của kinh Hoa Nghiêm.

Khi chánh niệm của ta vững mạnh, khi ta tiếp xúc được năng lượng của Thánh linh, ta sẽ có thể đi tới kiến tánh, nghĩa là thấy được tự tánh của chúng ta. Kinh Pháp Hoa dạy rằng thực tại có thể được tiếp xúc qua bản môn hoặc tích môn. Về phía tích môn, ta thấy có sinh có diệt, có còn có mất, có tới có đi. Về phía bản môn, ta thấy tự tính của ta là vô khứ vô lai, bất sinh bất diệt, không còn không mất. Trong Phật giáo, bản môn là tự tính, là niết bàn – Trong Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, ta có thể gọi đó là Thượng Đế. Nếu quý vị là tín hữu Ki-tô giáo, thì chắc chắn quý vị không thể nói rằng Chúa Ki-tô chỉ bắt đầu hiện hữu sau khi được sinh ra trong máng lừa và không còn hiện hữu nữa sau khi bị đóng đinh trên cây thập tự. Không! Tự tính của Chúa Ki-tô là vô sinh bất diệt. Sinh diệt không thể động tới Ki-tô. Đạo Bụt ưa sử dụng danh từ biểu hiện hơn là danh từ tạo sinh. Nếu ta quán chiếu về tự tính của tạo sinh qua tuệ giác biểu hiện ta sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ.

Xin mời quý vị nhìn vào hộp diêm trong tay tôi đây và cho tôi biết quý vị có thấy ngọn lửa có mặt hay không. Dù ngọn lửa chưa biểu hiện, quý vị cũng không thể nói rằng nó không có mặt. Nó đang có mặt trong những điều kiện sẽ làm cho nó biểu hiện. Tất cả mọi điều kiện làm cho ngọn lửa biểu hiện đã đầy đủ, chỉ thiếu một điều kiện chót, đó là một động tác của bàn tay tôi, động tác quẹt que diêm vào vỏ hộp diêm. Ngọn lửa ơi, ngươi hãy biểu hiện đi. Tôi đang quẹt diêm đây. Ngọn lửa đã biểu hiện rồi. Nó không phải là một sự tạo sinh (creation). Nó chỉ là một sự biểu hiện (manifestation). Sự giáng sinh của Chúa Ki-tô là một biểu hiện, không phải là một sự tạo sinh. Nếu thấy được điều này quý vị có thể tiếp xúc được với Ki-tô trong bất cứ giờ phút nào, bởi vì trong bản môn, Chúa Ki-tô là vô sinh bất diệt. Trong đạo Bụt, người ta thấy rằng không những Bụt Thích Ca và Chúa Ki-tô mới có tự tính vô sinh bất diệt mà tất cả chúng ta cũng như tất cả mọi hạt sõi và mọi chiếc lá đều có tự tính vô sinh bất diệt ấy. Nếu ta thực tập tiếp xúc được với tự tính không sinh diệt của ta thì ta sẽ vượt thoát được sự sợ hãi và mọi vọng tưởng điên đảo khác. Ta có thể sống an lạc vui tươi, dù hình hài ta chỉ còn tiếp tục biểu hiện trong vài tháng hoặc vài năm.

Tôi đã giảng dạy và huấn luyện cho nhiều bệnh nhân bị ung thư, SIDA và nhiều chứng bệnh nan y khác thực tập và sống trong tinh thần này. Nhiều vị đã có thể sống an lạc những giờ phút còn lại của sắc thân họ, và thọ mạng của nhiều vị đã được kéo dài. Có vị khi mới tới nói rằng bác sĩ của họ nói rằng họ chỉ còn sống được chừng ba tháng, nhưng nhờ thực tập, họ đã sống được tới mười lăm hoặc hai mươi năm. Tôi rất mong các nhà thờ, các thánh đường và các chùa viện cung cấp được giáo lý và sự thực tập tiếp xúc bản môn này cho những người bị HIV và SIDA và cho cả bất cứ ai, để mọi người có thể cùng được hưởng lợi lạc. Mỗi người tín đồ hoặc đạo hữu trong giáo xứ và tăng thân phải có cơ duyên thực tập để tiếp xúc được với tự tính bất sinh bất diệt của mình trong đời sống thường nhật. Tiếp xúc được thì ta sẽ có tuệ giác và năng lượng vô úy. Ta sẽ không còn sợ hãi và sầu đau nữa. Ta cũng như một đợt sóng, khi biết tự tính của mình là nước rồi thì không còn sợ hãi sự lên xuống ra vào nữa.

Khi đã có được chất liệu vô úy, ta sẽ trở thành pháp khí, sẽ có năng lượng độ đời và giúp người như các vị bồ tát. Tất cả những ai đã bị HIV và SIDA cũng có thể trở nên những vị bồ tát tự giúp mình và giúp người thức tỉnh để tự bảo hộ mình, bảo hộ người, giúp người vượt thoát sợ hãi, thực hiện trị liệu và kéo dài thọ mạng. Cuộc chiến Việt Nam đã làm tổn hại không biết bao nhiêu sinh mạng. Hai mươi năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, những người sống sót sau cuộc chiến vẫn còn mang đầy thương tích, nhất là cựu chiến binh. Tôi đã từng tổ chức các khóa tu cho cựu chiến binh Hoa Kỳ. Tôi khuyến khích họ phát nguyện bồ tát, đứng lên giáo hóa cho quần chúng biết thế nào là chiến tranh và những khổ đau cùng cực mà chiến tranh đem lại cho cả người lớn và trẻ em. Tôi nói rằng họ là những ngọn lửa trên đầu cây đèn nến: họ đã biết ngọn lửa chiến tranh tàn bạo đến mức nào. Nhưng ngọn lửa ấy có thể soi sáng cho nhân loại. Họ có thể làm nhân chứng và có thể xác định với quần chúng rằng cái mà ta thật sự muốn chính là hòa bình, là tình huynh đệ mà không phải là chiến tranh.

Mỗi người cựu chiến binh có thể trở nên một vị bồ tát đi làm công việc tỉnh thức nhân loại. Ta phải thấy rõ được rằng một cuộc chiến tranh như thế sẽ không nên bao giờ xảy ra trong tương lai. Nếu làm được việc này, thì cuộc đời họ sẽ trở nên một cuộc đời có ý nghĩa, và họ sẽ có thể thực hiện được sự trị liệu cho bản thân một cách mau chóng và đem lại nguồn vui sống cho chính họ và gia đình họ. Những ai là nạn nhân của HIV và SIDA cũng thế. Một khi đã phát được tâm bồ đề, nguyện đứng lên thức tỉnh mọi người và chỉ hướng cho mọi người để ai cũng có thể tự bảo hộ mà đừng sa vào hiểm nạn SIDA, thì những người bị HIV / SIDA sẽ thấy cuộc đời của mình có ý nghĩa, sẽ có một năng lượng lớn trong tâm, sẽ tìm lại được niềm vui sống, sẽ được trị liệu mau chóng và sẽ có thể kéo dài thêm thọ mạng.

Đưa Thánh Linh trở về

Thưa Tổng Thống, thưa quý vị,

Những điều tôi vừa nói không phải đã được trích dẫn từ kinh sách mà từ kinh nghiệm sống và thực tập của tôi. Đem áp dụng được thì ta có thể bảo hộ lập tức cho ta, cho gia đình ta, cho cọng đồng và xã hội ta. Ta có thể chế tác được chất liệu hiểu và thương để có thể giúp cho những ai đã rủi ro vướng vào tai nạn HIV và SIDA được có nhiều cơ hội hơn mà đi tới trên con đường bình phục. Ta có thể thực tập và tiếp xúc với Tịnh Độ và nước Chúa ngay trong ngày hôm nay. Ta có thể bắt đầu công việc chữa trị cho ta và cho thế giới bắt đầu ngay từ giờ phút này. Bất cứ trong truyền thống tâm linh và tôn giáo nào ta cũng có thể thực tập chánh niệm, ái ngữ, lắng nghe, chế tác hiểu biết, từ bi và chất liệu vô úy. Nếu tu tập mà không chế tác được những hoa trái ấy, thì ta tu tập làm gì? Phép tu của ta có hữu hiệu không? Ta phải tự hỏi mình và hỏi nhau. Nếu đường lối giảng dạy và thực tập của ta không mang đến kết quả thì ta phải thay đổi. Ta phải thực tập thế nào để chế tác cho được niệm, định, tuệ, từ bi và vô úy. Ta phải thực tập như thế nào để Thánh linh có mặt trở lại trong giáo đoàn và giáo xứ. Xây dựng tăng thân là con đường giúp ta ra khỏi tình trạng nguy nan hiện tại. Xây dựng tăng thân để có nơi nương tựa cho ta, cho gia đình ta và xã hội ta là công trình đáng giá nhất của thế kỷ thứ hai mươi mốt. Tăng thân là nơi nương tựa đích thực, vì Chân Tăng luôn luôn mang theo trong lòng nó Chân Phật và Chân Pháp.

Xin mời quý vị an trú thảnh thơi trong hơi thở và bước chân trong những ngày hội nghị Thượng Đỉnh, trong lúc chúng ta đang được tập họp như một tăng thân. Và xin cảm ơn liệt vị đã chăm chú lắng nghe.

Bài thuyết giảng bằng tiếng Anh

 

Address to the World Summit on HIV & AIDS at The White House, December 1, 2000

On December 1, 2000, Thich Nhat Hanh gave this Dharma talk at the White House in Washington, D.C., during a conference on AIDS. Thay is deeply aware of the suffering caused by AIDS, and offered teachings to encourage those present to respond to that suffering and to conduct themselves in ways that would bring relief to themselves, their families, and society.


Immediate Protection

By Thich Nhat Hanh

In the 1960s, American young people marched in the streets, shouting “Make love, not war.” I reflected deeply on this. What kind of love were they speaking of? Was it true love? If it were true love, it would be the opposite of war. If it were only craving, one could not call it “true love.” Making love out of craving is making war at the same time. In 1971, during the war for Bangladesh independence, soldiers raped 250,000 women; ten percent of these women became pregnant. These soldiers made love and war simultaneously. That kind of love is not true love.

True love contains the elements of mindfulness, protection, and responsibility. It carries the energy of enlightenment, understanding, and compassion. A church has to dispense the teaching on true love to all members of the church and to the children. In the Buddhist teaching, detailed in the third Mindfulness Training, a sexual relationship should not take place without true love and a long-tenn commitment. We must be aware of the suffering we bring upon ourselves and others when we engage in unmindful sexual activities. We destroy ourselves. We destroy our beloved. We destroy our society.

Mindfulness in the act of loving is true love. This practice of mindfulness can take place today and serve as our immediate protection. All church members should begin today the practice of mindful sexual behaviors. This is what I call immediate protection for ourselves, our community, and our society. The role of church leaders, in my belief, is to first protect themselves and their own community. If not, they cannot help protect others. When we are on an airplane, the attendant reminds us that if there is not enough oxygen, we must put on our own oxygen mask before we help another person. Similarly, our self, our own family, and religious community should be the first target of our practice and action. The elements of awakening and enlightenment need to take place immediately in our own religious community.

Children and adults should be well-informed about the problems of HIV infection and AIDS. They should be aware of the suffering that can be brought upon the individual, as well as the family, community, and society, through unmindful sexual activities. Mindfulness is the energy that helps us to know what is going on. What is going on now is a tremendous amount of suffering. In the year 2000, more than five million people died of AIDS; many still weep over this loss. Members of the church must wake the church up to the reality of suffering.

The awareness of suffering is the first of the Four Noble Truths emphasized by the Buddha. Next, every member of the church and of the temple has to be aware of the roots of the suffering. This is the second Noble Truth. During the forty-five years of his teaching, the Buddha continued to repeat his statement: “I teach only suffering and the transformation of suffering.” Only when we recognize and acknowledge our suffering, can we look deeply into it and discover what has brought it about. It may take one week, two weeks, or three weeks of intense activities before the whole community, the whole church, or the Sangha will wake up to the tragedies of HIV and AIDS in its own community, as well as in the world at large. When the church and all its members are aware of the reality of suffering and its root causes, we will know what to do and what not to do for protection to be possible. The appropriate course of action can transform our suffering into peace, joy, and liberation.

Daily unmindful consumption in our society has contributed greatly to the present suffering. The Buddha said, “Nothing can survive without food.” Love cannot survive without food; neither can suffering. Consequently, if we know to look deeply into the nature of our suffering and to recognize the kind of nutriments that have fed and perpetuated it, we are already on the path of emanci- pation. Entertainment in the media is a deep source of suffering. Movies, television programs, advertise- ments, books, and magazines expose us and our children to a kind of unwholesome nutriment, which we ingest every day via our sense organs, namely eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. All of us are subject to invasions of these images, sounds, smells, tastes, and ideas. Unfortunately, these sorts of sounds, sights, and ideas in the media often water the seeds of craving, despair, and violence in our children and in us. There are so many items in the realms of entertainment that have destroyed us and our children. Many are drowned in alcohol, drugs, and sex. Therefore, to be mindful of what we consume-both edible foods and cultural items-is vital. The Fifth Mindfulness Training guides us to look at each nutriment we are about to ingest. If we see that something is toxic, we can refuse to look at it, listen to it, taste it, touch it, or allow it to penetrate into our body and our consciousness. We must practice to ingest only what is nourishing to our bodies and minds. The church has to offer this teaching and practice to all its members. The practice of protecting ourselves and our family is difficult, because the seeds of craving, violence, and anger are so powerful within us. We need the support of the Sangha. With the support of the Sangha, we can practice mindful consumption much more easily. Mindful consumption can bring us joy, peace, understanding, and compassion. We become what we consume.

Mindfulness also plays a critical role in relationships and communication. Relationships in the family are only possible if we know how to listen to each other with calm and loving kindness, if we know how to address each other with loving speech. Without the practice of loving speech and rnindfullistening, the communication between members of the family becomes tenuous. Suffering may result from this lack of communication. Many lose themselves in forget- fulness, and take refuge in sex, alcohol, violence, and tobacco. The problems of HIV infection and AIDS are intricately linked to these issues of poor relation- ship in the family and reckless consumption of sex and drugs. The layman Vimalakirti said, “Because the world is sick, I am sick. Because people suffer, I have to suffer.” The Buddha also made this state- ment. We live in this world not as separated, individual cells, but as an organism. When the whole world is devastated by the pandemics of HIV infection and AIDS, and many fellow humans are in desperate situations, our sense of responsibility and compassion should be heightened. We should not only call for help from the government and other organizations. Religious leaders need to take active roles in rebuilding our communities and reorganizing our churches by the embodiment of their own practice. The practice should aim to restore the communication between church members, between family members, and between ethnic groups. Com- munication will bring harmony and understanding. Once understanding is there in the church and the community, compassion will be born.

We know that with diseases, medical therapy alone is inadequate. We know that many people with lllV and AIDS are alienated from their own families and society. The church can offer understanding and compassion to people who suffer. They will no longer be lonely and cut off, because they will see that understanding is there, awakening is there, and compassion is there, not as abstract terms or ideas, but as realities. To me, that is the basic practice of the Sangha; that is the basic practice of the church. Without understanding and compassion, we will not be able to help anyone, no matter how talented and well-intentioned we are. Without understanding and compassion, it is difficult for healing to take place.

Thus, the practice of mindfulness should take place in the context of a Sangha-a community of people who strive to live in harmony and awareness. There are many things that we cannot do alone. However, with the presence and support of members of the community, these things can become easier for us to achieve. For example, when we have the Sangha to support us and shine light on us, we can have more success in the practices of sitting meditation, walking mediation, mindful eating, and mindful consumption. To me, Sangha building is the most noble task of our time.

In the Buddhist tradition, after we have received the Five Mindfulness Trainings, we come together every fortnight and recite them. After the recitation, we gather in a circle to have a Dharma discussion, learning more about these Five Trainings. We also discuss and share our personal experiences, in order to find better ways to apply the teaching and the practice of these trainings into our daily life. The Dharma teacher, the priest, or the monk attends the entire discussion session, contributes and guides the Sangha with his or her experiences and insights. If an individual in the Sangha has difficulties, the whole Sangha is available to support that person.

A true Sangha is a community that carries within herself the presence of the Buddha and the presence of the Dharma. The living Sangha always embodies the living Buddha and the living Dharma. The same must be true with other traditions. The Sangha, with her Sangha eyes, through the practice of mindfulness and deep looking, will be able to understand our situations and prescribe the appropriate course of practice for the protection of ourselves, our families, and society.

Today, many young people are leaving the church because the church does not offer them the appropriate teaching and the appropriate practice. The church does not respond to their real needs. Renewing the church by dispensing the appropriate teachings and practices is the only way to bring young people back to the church. We need to renew our church, rebuild our communities, and build Sanghas. This is the most basic and important practice. Again, in order to carry out this task, church leaders, whether clergy or laity, should embody the teaching and the practice. Young people do not only listen to our verbal messages. They observe our actions. Thus, we teach not with our sermons or our Dharma talks alone, but we teach through our behavior and our way of life.

Some people contract H N or AIDS from blood transfusions, but often, the issue of HIV infection and AIDS is an issue of behavior. If mindfulness practice is there, and each person has the Sangha to help him or her be mindful, then we should be able to avoid bringing suffering upon ourselves, our families, our communities, and our society.

I often tell my students and others that the energy of mindfulness, generated by the practice in daily
life, is equivalent to the Holy Spirit. The seed of mindfulness is there in each one of us. Once we know how to touch the seed of mindfulness in us through the practices of mindful breathing, mindful walking, mindful thinking and consuming, then it will become a living source of energy in us. Mindfulness always brings about concentration, insight, understanding, and compassion. The practice brings back the energy of awakening and generates the energy of God in our daily life. I have trained people with terminal illness to walk in the Kingdom of God every day. If you know how to dwell in the here and the now, and invest 100% of yourself into your in-breath and out- breath, you become free of the past and of the future. You can touch the wonders of life right in the present moment. The Kingdom of God is available in the here and the now, if you are a free person. This is not political freedom that I am talking about. This is freedom from worries and fear, freedom from the past and the future. If you can establish yourself in the here and the now, you have the basic condition for touching the Kingdom of God. There is not one day that I do not walk in the Kingdom of God. Even when I walk in the railway station, along the Great Wall, or at the airport, I always allow myself the opportunity to walk in the Kingdom of God. My definition of the Kingdom of God is where stability is, mindfulness is, understanding is, and compassion is.

Each person has the energy of mindfulness within. Each person has the capacity of dwelling in the here and the now. Once you are fully in the present moment, you touch all the wonders of life that are available within you and around you. Your eyes are wonders of life. Your heart is a wonder of life. The blue sky is a wonder of life. The songs of the birds are wonders o f life. I f you are available to life, then life will be available to you. All the wonders of the Kingdom of God are available to you today, at this very moment. The Kingdom of God is now or never. Thus the question becomes, are you available to the Kingdom of God? The Kingdom of God can be touched in every cell of your body.

Infinite time and space are available in it, and if you train yourself, it will be possible for you to walk in the Kingdom of God in every cell of your body.

When we are able to touch the Holy Spirit through the energy of mindfulness, we will also be able to have a deeper understanding of our true nature. The Buddha taught that there are two dimen- sions to reality. The first is the Historical Dimension, which we perceive and experience chronologically from birth to death. The second is the Ultimate Dimension, where our true nature is revealed. In Buddhism, we may call the ultimate reality “Nirvana,” or “Suchness.” In Christianity, we may call it “God.” If you are a Christian, you know that the birth of Jesus does not mean the beginning of Jesus. You cannot say that Jesus only begins to be on that day. If we look deeply into the nature of Jesus Christ, we find that his nature is the nature of no-birth and no- death. Birth and death cannot affect him. He is free from birth and death. In Buddhism, we often talk in terms of manifestations rather than creation.

If you look deeply into the notion of creation in terms of manifestation, you may discover many interesting things. I have a box of matches here with me, and I would like to invite you to practice looking deeply into this box of matches, to see whether or not the flame is there. You cannot characterize the flame as nonbeing or nonexistent. The flame is always there. The conditions for the manifestation of the flame are already there. It needs only one more condition. By looking deeply, I can already see the presence of the flame in the box, and I can calIon it and make it manifest. “Dear flame, manifest your- self!” I strike the match on the box, and there, the flame manifests herself. It is not a creation. It is only a manifestation.

The birth of Jesus Christ is a manifestation, and the death of Jesus Christ on the cross is also a manifestation. If we know this, we will be able to touch the Living Christ. In the Buddhist teaching, not only the Buddha has the nature of no-birth and no- death, but every one of us, every leaf, every pebble, and every cloud has this nature. Our true nature is the nature of no-birth and no-death.

I have learned from my practice that only by touching the Ultimate Reality in us can we transcend fear. I have offered this teaching and practice to numerous people with terminal illness. Many of them have been able to enjoy the time that is left for them to live with joy and peace, and their lives have been prolonged. In certain cases, the doctors told them that they had just three months or so to live, but they took up the practice and they lived fifteen to twenty more years. My wish is that the church will dispense teaching and practice on how to touch our Ultimate Reality to people who have been struck with the mvI AIDS, and also to those who have not. We should be able to help members of our community live in such a way that we can all touch Nirvana, that we can all touch the Ultimate Dimension within us in our daily lives. With the learning and the practice, we will be able to touch our true nature of no-birth and no-death. That is the only way to remove fear. Once the wave realizes that her nature-her ground of being-is water, she will transcend all fear of birth and death, being and nonbeing. We can help the people who do not have much time to live, so that they are able to live deeply with joy and solidity for the rest of their lives.

Once we can establish ourselves in the here and the now, and the fear of death is removed, we become the instruments of peace, of God, of Nirvana. We become bodhisattvas-enlightened beings working to free others from their suffering. Those of us who have been struck with mvIAIDS can become bodhisattvas, helping ourselves and other people, and acquire that energy of healing called bodhicitta, or the mind of love.

During the Vietnam War, numerous Vietnamese and American soldiers and civilians died, and many who survived were deeply affected. Twenty-five years later, the survivors continue to be devastated by this war. I have offered a number of retreats to American war veterans. I tell them that they can become bodhisattvas because they already know what the suffering of war is about. I advise them that they should play the role of the flame on the tip of the candle. It is hot, but it will help create the awareness, the realization, that war is what we do not want. We want the opposite. We want true love. Each person can transform into a bodhisattva, creating the awareness in his or her own people, so that we will never have a war like this one again. You life will have a new meaning and the energy of true love will guide you.

The Fourth Noble Truth is the path to end suffering and attain well-being. This path you have chosen to end suffering-your own and others’- is the bodhisattva path. Not only can you transcend the suffering of the past, but you bring joy and peace to yourself and your beloved ones, because you are helping to awaken people in your own community and society. The war veterans can practice creating awareness and waking people up, and the people who have been struck by mv and AIDS can do likewise. Once motivated by the desire to work for true love, we can engage our daily lives in the activities that awaken and embrace others as well as ourselves. The work of a bodhisattva will help our healing process to take place very quickly. Our lives may become longer and of deeper quality than the lives of many who do not have mv or AIDS.

Everything I have said comes from the experience of my own practice. I do not tell you things that I have read in books. It is possible for us to install immediate protection today, for ourselves, our families, and our communities. It is possible to provide understanding and compassion to those who suffer, so that everyone has the appropriate opportu- nities and conditions to heal. It is possible to experi- ence the Kingdom of God in the here and the now. It is possible to help the world heal as we are healing ourselves. Whatever our religious background, we must practice in such a way that we bring forth understanding, compassion, true love, and non-fear, so that possibilities become actualities. I f our practice does not yield these flowers and fruits, it is not true practice. We must have the courage to ask ourselves: “Is our practice correct? Do we generate understand- ing, awakening, and compassion every day?” If we do not, we have to change our way of teaching and our way of practicing.

To me, the Holy Spirit is the energy of God, representing the energy of mindfulness, of awakening to the reality of suffering. W e have to bring the Holy Spirit back to our religious communities in order for people to have true faith and direction. I sincerely believe that Sangha building is the way. It is the most noble task of the twenty-first century. Not only church leaders, but health professionals, gays and lesbians, schoolteachers, and members of different ethnicity should build Sanghas. Please reflect on this. The practice of Sangha building is the practice of giving humanity a refuge, because a true Sangha always carries within herself the true Buddha and the true Dharma. When the Holy Spirit manifests in our church, God is with us.

Enjoy your breath, enjoy your steps, while we are still together as a Sangha.

Nguyên Lý Căn Bản Của Đạo Phật

 

Phần tinh-ba nhất của con người là tư-tưởng. Con người có thể tự-hào rằng mình hơn vạn-vật ở chỗ biết suy tưởng. "Người là một cây sậy biết suy tưởng", câu nói ấy vừa thú nhận sự yếu đuối của con người trước vũ trụ mà cũng lại vừa đề cao khả năng bất-diệt của con người trước vũ-trụ.

Đứng trước vạn tượng bao la, và nhìn lại bản thân mình, con người khát khao được hiểu biết. Hiểu biết để được thỏa mãn, và hiểu biết để sống cho đáng sống. Chính khuynh hướng muốn tìm hiểu ấy đã làm nẩy sinh ra triết học.
Nhân loại ngày nay đã hiểu biết tới đâu? Triết học đã vạch ra được con đường tiến của con người chưa? Đã giải quyết được những nỗi thắc mắc lớn lao của con người về cuộc sống, về vũ trụ và về bản thân của con người chưa?

Đó là những câu hỏi mà chính những con người có khả năng suy tưởng nhất cũng phải ngậm ngùi mỗi khi nghĩ đến. Người ta băn khoăn tự hỏi tri thức con người có đủ khả năng để đạt đến sự thực hay không. Nếu không thì con người còn suy tưởng làm chi. Thà rằng cứ ù ù cạc cạc mà sống trong cuộc đời, bởi vì sự suy tưởng vô vọng ở đây chỉ làm cho con người thêm đau khổ.

Nhưng con người không thể không suy tưởng. Sống là suy tưởng, và vì thế, dù triết học là một môn học không hư, viển vông, vô ích thì triết học cũng còn phải tồn tại mãi mãi; bởi vì khi con người còn suy tưởng đến những vấn đề căn bản của kiếp người thì triết học vẫn còn. Ba nghìn năm lịch sử của triết học hình như đã nói với ta như thế.

Vào buổi rạng đông của triết học, con người rất tin tưởng ở khả năng tri thức của mình. Nhưng cùng với những triết gia hoài nghi, lòng tin ấy mất dần, mất dần… Càng đi sâu vào sự suy tưởng, con người càng cảm thấy rõ ràng cái bất lực của tri thức nhân loại! Con người lại càng bi quan hơn nữa khi thấy bên cạnh cái tri thức yếu đuối và hèn kém ấy, còn có một tâm hồn nặng trĩu những ước vọng đen tối, xấu xa. Chính những mờ tối, cố chấp và chủ quan này đã dự phần vào việc che lấp phần khách quan đáng quý mà tri thức cần phải đầy đủ.

Với những vốn liếng nghèo nàn như vậy mà con người đã dám hy vọng có thể tìm ra chân lý. Đã thế lại còn muốn bay xa, rất xa trong cõi siêu hình. Càng xa càng hay. Cần gì đến thực nghiệm! Thái độ "duy lý" cũng đã đủ để đảm bảo rồi! Vướng vào thực nghiệm làm sao mà bay xa đuợc! Và như thế, con người tha hồ tự do kiến tạo những giấc mộng siêu hình.

Nói "những giấc mộng siêu hình" rất đúng, vì chính những kiến tạo duy lý của con người về siêu hình đều do những động lực rất chủ quan của con người sắp đặt: phần lý trí nhiều lầm lạc và thành kiến, phần tình cảm nhiều mờ ám, thiên lệch, cho nên giấc mộng của tôi không phải là giấc mộng của ngài, và loài người có đến muôn ngàn giấc mộng… Đã có ai công nhận của ai là đúng đâu.

Đức Phật lúc đương thời đã nhận thấy cái vô ích của những giấc mộng siêu hình. Ngài không muốn cho các đệ tử Ngài đắm chìm trong những suy tưởng siêu hình, những vọng tưởng sai lầm của tri thức và tình cảm chủ quan. Vấn đề trọng đại mà Ngài đặt ra cho đệ tử là phải tiêu diệt ngay phần mê mờ thiên lệch nằm trong tri thức và tình cảm của mỗi người, nghĩa là phải tu hành để tự giải thoát khỏi vô minh triền phược. Diệt trừ được phần mê vọng là đạt đến tất cả. Chưa diệt trừ được phần mê vọng thì dù có suy tưởng ngàn kiếp đến các vấn đề siêu hình cũng vẫn không đi đến một kết quả tốt đẹp nào. Phương pháp của đức Phật là phương pháp thực hiện, không phải là phương pháp suy tưởng. Đạo Phật là một đạo sống chứ không phải là môn học siêu hình.

Một hôm đức Phật cầm trong tay một nắm lá "sinsapa" và nói với các vị đệ tử xuất gia: "Các con nghĩ sao? Lá trong tay ta nhiều hơn hay là lá trong rừng này nhiều hơn?" – "Bạch đức Thế Tôn, những ngọn lá Ngài cầm trong tay thì ít mà lá trong rừng thì quá nhiều" – "Cũng như thế đó, này các con, những cái ta biết thì rất nhiều, nhưng những cái ta đem ra dạy các con thì rất ít. Tại sao ta không đem tất cả ra để dạy các con? Bởi vì những cái ấy không có lợi gì cho các con cả. Chúng không giúp gì cho sự giải-thoát cho nên ta không đem ra dạy. Ta dạy những gì? Ta dạy về sự khổ, nguyên nhân cái khổ, sự diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Những thứ ấy có ích lợi, vì chúng có thể đưa các con đến chỗ giải thoát" (Samyutta).

Ta thấy rõ ràng đạo Phật là một con đường và là một con đường duy nhất đưa đến chỗ diệt khổ. Đạo Phật chỉ là một lối sống, một lối thực hành, không phải là một thuyết lý vô ích, một "hý luận". Bởi vì đạo Phật nhận thấy cái cần thiết của sự diệt trừ mê vọng. Đức Phật nói: " Này các thầy tỳ kheo, đừng nghĩ vớ vẩn rằng thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, hữu cùng hay vô cùng. Dù cho thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, dù cho nó hữu cùng hay vô cùng thì điều mà chúng ta phải nhận là hiện hữu ở đời này, là những khổ đau: sinh, lão, bệnh, tử" (Anguttara).

Vậy đạo Phật chủ trương dẹp bỏ tất cả các lý luận vọng tưởng, cấm trí óc phiêu lưu vào trong những thế giới suy tưởng siêu hình mà đạo Phật quyết chắc rằng chỉ là những vọng tưởng hư ngụy và vô ích. Đạo Phật kéo con người trở về với thực nghiệm. Thực nghiệm này là một thực nghiệm bao la rộng rãi. Đó là sự nhận thức cái "khổ" ở đời.

"Khổ" là một chân lý thực-nghiệm. Không những chỉ sinh lão bệnh tử mới là khổ. Còn bao nhiêu cái khổ khác, lặt vặt hơn, nhưng phiền toái hơn, và dày vò con người thường xuyên hơn. "Nhận thức cái khổ" không phải chỉ là xác nhận cảm giác khổ thọ là thực hữu. Nhận thức cái khổ – dukkha – nghĩa là phải nhận chân một cách rõ rệt và sâu xa tính cách vô thường vô ngã chống đối nhau của vạn sự, vạn vật. Rộng rãi hơn, nhận thức cái khổ tức là biết mình sống đau khổ trong một thế giới khổ đau với một nghiệp báo không tốt đẹp. Tất cả những giáo lý Phật dạy đều hướng về chủ đích làm cho con người có ý thức về cái khổ, và nhận chân được cái khổ theo định nghĩa rộng rãi như trên. Con người trước tiên phải thực nghiệm một cách sâu xa và rộng rãi cái "khổ" ấy, cái sự thực Vô Thường, Vô Ngã, Bất Tịnh và Mâu Thuẫn ấy. Có thực nghiệm như thế rồi, con người mới đặt vấn đề cần thiết: tìm nguyên do của sự khổ và phương pháp diệt khổ.

Kẻ nào chỉ có ý thức nông cạn về cái khổ thì không thể tìm đến nguyên nhân của cái khổ được. Khi con người đã chứng nghiệm một cách đầy đủ và sâu xa cái khổ Vô Thường, Vô Ngã, Bất Tịnh và Mâu Thuẫn, con người sẽ tìm đến nguyên nhân của cái khổ một cách dễ dàng. Đã có chân lý thứ nhất là Khổ đế, thì có chân lý thứ hai là Tập đế, nguyên nhân sự khổ. Đức Phật bảo rằng nguyên nhân sự khổ là mê vọng, ác nghiệp, là ái nhiễm, và con người cũng nhận thấy như thế. Nguyên nhân của sự khổ cũng như sự khổ, không phải là một kết quả do những suy tưởng siêu hình đem lại mà là một chân lý có thể thực nghiệm. Ai cũng có thể thực nghiệm chân lý ấy cả. Kinh nghiệm sống dạy cho con người chân lý ấy. Đức Phật muốn cho con người có ý thức rõ rệt về chân lý ấy. Giáo điển đạo Phật đã thuyết minh rõ ràng về chân lý ấy.

Vậy Khổ-đế và Tập-đế là những điều thực nghiệm rộng rãi và đầy đủ dùng làm nền tảng cho phương pháp đạo Phật. Đứng trước những chân lý thực nghiệm ấy, con người cố nhiên phải nhận thấy con đường của mình: giải thoát diệt khổ.

Nếu nguyên nhân của đau khổ là dục vọng thì diệt-trừ dục-vọng tức là diệt trừ đau khổ. Đó là một điều quá giản lược mà không ai không thấy. Cuộc đời là khổ. Và nguyên nhân của cái khổ ấy là dục vọng. Tiêu diệt được dục vọng tức là tiêu diệt được cuộc đời đau khổ. Vậy, theo đạo Phật, cuộc đời khổ đau, con người phải tiêu diệt cuộc đời khổ đau ấy để tiến đến Niết-bàn.

Đừng vội la lên rằng: như thế thì đạo Phật là quá ư tiêu cực, là chủ trương đừng sống, là chủ trương xa lánh cuộc đời, là chủ trương biến tất cả thành hư vô. Dục vọng là nguyên nhân của sự khổ đau, là gốc của sinh, lão, bệnh, tử và ngàn muôn khổ thọ khác. Nhưng con người không phải chỉ có dục vọng mà thôi. Con người còn có những gì thanh thoát cao siêu hơn dục vọng, như lòng từ bi, như trí tuệ… Vậy tiêu diệt dục vọng chỉ là tiêu diệt cuộc đời khổ đau; nói một cách khác hơn, là tiêu diệt phần khổ đau của cuộc đời. Phần dục vọng bị tiêu diệt, nhưng còn phần tinh ba cao khiết sẽ ra sao? Phần tinh ba cao khiết này, khi dục vọng tiêu diệt, cố nhiên sẽ được thực hiện toàn vẹn. Không lẽ sự thực hiện toàn vẹn của phần này lại đưa đến một kết quả hư vô?

Vậy khi dục vọng tiêu diệt, phần xấu xa của cuộc đời (vô thường – khổ đau – vô ngã – bất tịnh) bị tiêu diệt, nhưng phần tốt đẹp của cuộc đời (thường – lạc – ngã – tịnh) phải được thực hiện toàn vẹn, vì ở con người, phần tinh ba cao khiết đã được thực hiện toàn vẹn. Vậy Niết bàn không phải là hư vô, mà là sự thực hiện toàn vẹn của những gì cao khiết nhất, thanh tịnh và nhiệm mầu nhất.

Sống trong cuộc đời vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ đau với bao nhiêu thăng trầm sinh tử, mà không thấy có vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ đau với bao nhiêu thăng trầm sinh tử ấy: đó là Niết-bàn.

Đạt đến chỗ diệt trừ dục vọng, con người được giải thoát, hoàn toàn tự do, không còn bị nô lệ cho một thứ gì nữa. Vấn đề Giải Thoát chỉ là vấn đề thay đổi nhận thức. Dục vọng tiêu diệt, bi trí thực hiện, tức thì nhận thức biến đổi. Vô thường, khổ đau, vô ngã, bất tịnh, trước nhận thức giải thoát, biến thành Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Sinh tử triền phược là ở đấy. Niết bàn giải thoát cũng ở đấy. Và Niết bàn không rời sinh tử, "Niết bàn, sinh tử thị không hoa".

Có mặt xấu của cuộc đời là sinh tử, thì cũng có mặt đẹp của cuộc đời là Niết bàn. Đó là chân lý thứ ba.
Nhưng để diệt trừ dục vọng, đạt tới Niết bàn, con người cần phải có một đường lối, một phương pháp. Đạo Phật là đường lối ấy, là phương pháp ấy.

Đường lối diệt dục cần phải rất rõ ràng, và phải khởi đầu từ bờ Mê, nghĩa là phải để cho con người khổ đau có thể đạt được những bước đầu tiên, khó khăn và ngượng ngập. Pháp môn tuy nhiều vô lượng, song được bao hàm trong mấy điều giản lược thiết yếu: Tam học và Bát chính đạo.

Tam-học: giới, định, tuệ. Chủ động của những nghiệp quả xấu xa, là các hành vi, ngôn ngữ và ý nghĩ mê vọng. Các "vọng nghiệp" này lại còn giúp sức cho dục vọng phát triển. Vậy công việc trước tiên là phải đình chỉ chúng lại. "Giới" chính là sự đình chỉ ấy. Không làm, không nói và không nghĩ những nghiệp nhân mê vọng tức là không chịu tuân theo sự sai sử của dục vọng. Đó là công tác cách mạng đầu tiên. Có thành công trong bước đầu kháng cự và bất phục tùng này, con người mới hy vọng tiến đến giai đoạn tiêu diệt dục vọng.

Trì giới tức là không chịu rót thêm dầu trong ngọn đèn dục vọng. Tuy thế, ngọn đèn vẫn cháy mạnh. Cho nên, con người phải dùng thêm những biện pháp tích cực để làm yếu dần sức cháy kia và cuối cùng, tiêu diệt được ngọn lửa đèn.

Do công năng trì giới, ý chí càng lúc càng mạnh. Hành giả sẽ thực hành phép tập trung tư tưởng, dùng lực lượng thiền định để cắt xén dần những rễ dây chằng chịt của dục vọng và trải qua nhiều công phu, có thể lay chuyển và xô ngã được cội rễ của nó.

Dục vọng càng bị tiêu diệt, trí tuệ càng thêm tăng trưởng. Trí tuệ càng tăng trưởng thì sức phá trừ dục vọng càng thêm mãnh liệt. Cứ thế hành giả tiến dần đến chỗ tiêu diệt hoàn toàn những mầm mống vi tế nhất của cội nguồn đau khổ. "Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ" là câu nói tóm tắt của tam-học vậy.

Nhưng công phu tam học cần được thành lập trên những kiến thức chân chính – chính kiến (vue juste). Nghĩa là cần thấu hiểu và chứng nghiệm triệt để bốn sự thực căn bản (gọi là Tứ Đế) để có thể tránh khỏi những nhận thức sai lầm, những tà kiến trái chân lý. Phải theo lời Phật dạy để biết xử dụng pháp tập trung tư tưởng và pháp thiền quán đúng theo chính pháp, chính định và chính tư duy. Chỉ tưởng niệm những điều đúng chánh pháp, chánh niệm. Phải siêng năng theo con đường chánh – chánh tinh tấn. Phải có một phương tiện sinh tồn chân chánh – chánh mạng. Phải hành động và nói năng đúng theo chánh pháp – chánh nghiệp và chánh ngữ. Đó là bát chính đạo.

Con đường tuy gay go nhưng là con đường duy nhất. Tất cả các hệ thống giáo lý phong phú của đạo Phật chỉ có một mục đích duy nhất là trình bày phương pháp và đường lối giải thoát, ngoài ra không hề có nhằm mục đích giải quyết những thắc mắc siêu hình. Người nào nhìn đạo Phật như một khoa học siêu hình chính người đó đã không hiểu đạo Phật.