Dấu hỏi vây quanh kiếp người – Vũ Hoàng Chương

Có một bài thơ của Vũ Hoàng Chương có lẽ ít người biết đến. Đây là một trong những bài thất ngôn tứ tuyệt.

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”

Người miền Nam và miền Trung có lẽ chưa biết chữ “săng” này. Săng có nghĩa là hòm, là cái quan tài. “Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người” Nếu là con người thì có tư duy. Ở Tây phương, người ta thường ví con người là cây sậy biết suy tư. Cây sậy rất yếu đuối, dễ bị tai nạn, dễ bệnh, dễ chết nhưng nó có khả năng tư duy. Trừ  khi ta quá bận rộn lo làm ăn, còn lại ta thường đặt ra những câu hỏi như “ta từ đâu đến?” “Tại sao ta đến đây?” và “Sau này ta sẽ đi về đâu?” Những câu hỏi đó thường ám ảnh ta. Bao nhiêu nhà triết học, bao nhiêu nhà thơ cũng đã từng đặt ra  những câu hỏi như thế, nhưng vì họ làm việc bằng trí năng nên đã không tìm ra được câu trả lời thỏa đáng. Với người có suy tư và biết nhìn sâu thì đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi về thân phận con người. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi?” Rất nhiều những câu hỏi như vậy vây quanh chúng ta. Đi cũng bị chúng vây bủa, đứng cũng bị chúng vây bủa, và nằm ngủ cũng bị chúng bủa vây, vì con người là cây sậy biết tư duy. Những câu hỏi đó là những dấu hỏi  bám vào óc mình như những con sên. Vì theo thi sĩ hình ảnh dấu hỏi là hình ảnh của  những con sên. “Sên bò nát óc”. Trong não bộ của mình có những con sên hình dấu hỏi đang bò đi để tìm hiểu. Đó là hình ảnh của thi ca. Khi làm thơ chúng ta phải mượn hình ảnh chứ không được tuyên bố bằng những danh từ trừu trượng. Ví dụ khi buồn ta nói mây sám giăng trong hồn tôi chứ không được nói tôi buồn, nói tôi buồn thì không phải là thơ.

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi”.

Mẫu người tư duy thường đưa ra những câu hỏi rất dễ sợ, trong bộ não ta có những con sên đang bò suốt ngày đêm để tìm kiếm. “Sên bò nát óc máu thầm rơi”, nát óc là không tìm ra được câu trả lời. Đó là vấn đề sống chết của con người. Không phải nước mắt mà là máu, tức là chúng ta đã làm việc quá nhiều. “Máu thầm rơi”. Thấy được nỗi khổ niềm đau của con người, chúng ta muốn biết được sự thật, muốn tìm ra câu trả lời cho kiếp người, nhưng không tìm ra được, điều đó đã trở thành nỗi khổ niềm đau. Nỗi khổ niềm đau không phải chỉ của các nhà triết học, mà là của tất cả chúng ta. Và cứ như vậy mà ta sống hết ngày này qua ngày khác vẫn không tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi nát óc đó. Cho đến một ngày kia

“Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời”

Chết rồi nằm trong quan tài nhưng vẫn chưa có câu trả lời. Và dấu than đối lại với dấu hỏi. Dấu than không phải là hình con sên mà là hình của cây đinh đóng vào quan tài của  mình. “Đinh đóng vào săng tiếng trả lời”, xác của mình đã nằm trong quan tài rồi và người ta đã đóng lại. Tiếng “binh, binh” đó là tiếng trả lời. Nói tóm lại là không có tiếng trả lời cho những câu hỏi như vậy. “Tại sao ta có mặt ở đây? Ta từ đâu tới? Ta sẽ đi về đâu? Tại sao ta phải hứng chịu tất cả những hệ lụy của  kiếp người? Tại sao có quá nhiều đau khổ trong một kiếp người?” Và dụng cụ đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó chỉ là não bộ, là trí năng của mình. Siddhattha ngày xưa cũng đã từng đi tìm và ban đầu Siddhattha đi tìm bằng trí năng. Nhưng sau đó Siddhattha biết rằng không thể đi tới và tìm ra được câu trả lời bằng trí năng nên Siddhattha phải sử dụng cả con người của mình. Khi tu thiền chúng ta phải biết rằng ý thức không đủ để giải quyết vấn đề mà phải dùng cả tàng thức, cả thân và tâm của mình. Cho nên đi tìm câu trả lời bằng con đường của trí năng thì không thể đạt tới được, và cuối cùng chỉ có những cây đinh đóng vào săng mà thôi. Có một bài thơ trong thi phẩm Rừng Phong của Vũ Hoàng Chương là “Bài Ca Siêu Thoát”, nhưng không được siêu thoát lắm vì ông chưa tìm ra được câu trả lời mà cứ hy vọng rằng mình sẽ tìm ra và đã tìm ra.

“ Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mái chưa vừa”
Đôi lẽ có không mầu nhiệm,
Đêm đêm ta hỏi người xưa”

Tức là ta tư duy về vấn đề hữu thế và vô thế. Đây là đề tài để suy nghĩ, ta thực sự có mặt đây hay  ta đang không có mặt. Hầu hết nhà triết học nào cũng bắt đầu bằng câu hỏi này

“ Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mái chưa vừa”
Đôi lẽ có không mầu nhiệm,
Đêm đêm ta hỏi người xưa”

Người xưa là những người đã suy tư về vấn đề có và không. Người xưa đã cống hiến kết quả suy tư của mình trên những trang giấy trắng hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Hy Lạp, chữ La tinh và ta chong đèn lên mỗi đêm để đọc sách triết học, đọc sách người xưa, hy vọng tìm ra được câu trả lời.

“ Đôi lẽ có không mầu nhiệm,
Đêm đêm ta hỏi người xưa”

Ban ngày ta bận rộn, ban đêm chong đèn lên để tìm kiếm.

“ Đuốc kim cổ, đây lòng ta thành kính
Hội trầm luân cùng ý thức huyền vi
Mà sáu nẻo hôn mê còn chữa định
Ta về đâu, kìa ngươi đến làm chi”.

Đuốc kim cổ là bó đuốc ngày xưa và bây giờ dùng để soi sáng cho mình. Ta sử dụng với tất cả sự thành kính của ta. Cùng thuyền, cùng hội cùng trầm luân với nhau, và cùng có ý thức đi tìm lẽ huyền vi của cuộc đời.

“Mà sáu nẻo hôn mê còn chữa định
Ta về đâu, kìa ngươi đến làm chi”

Sáu nẻo hôn mê ở đây tác giả muốn nói đến sáu đường: thiên, nhân, Atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Sáu nẻo đều hôn mê hết chưa tìm thấy con đường. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không thấy đã đành mà con người cũng không thấy được con đường. Không những Atula mà chư thiên ở trong tam giới cũng chưa thấy được con đuờng. Ta chưa tìm ra được câu trả lời “ta sẽ đi về đâu” thì ngươi đến để làm chi? Ngươi sinh ra làm chi cho khổ?  Sinh ra làm chi để cho ta phải đặt câu hỏi

“Tại sao ta phải sinh ra?
ta sinh ra để làm gì ?
Ta sẽ đi về đâu?
Ta về đâu kìa ngươi đến làm chi”

Tức là có đến và đi. Sau khi có vấn đề “hữu và vô” thì có vấn đề khứ lai, đó là những đề tài của triết học. “Mà sáu nẻo hôn mê còn chữa định”chữa tức là chưa “ta về đâu, kìa ngươi đến làm chi”, câu hỏi đặt ra rất rõ ràng. Anh từ đâu tới và tôi sẽ đi về đâu? Tại sao chúng ta  phải có mặt ở đây?

“Phải chăng muôn kiếp nặng nề
Từ hư không tới lại về không hư”

Có phải mình từ hư không tới và mình sẽ trở về hư không hay không? Lần trước chúng ta cũng nghe Trịnh Công Sơn nói tương tự như vậy, mình từ hư không tới rồi mình sẽ trở về hư không. Đó là do mình chưa tiếp xúc được với tuệ giác đạo Bụt. Tuệ giác của đạo Bụt thì không có cái gì từ không mà trở thành có và cũng không có cái gì từ có mà trở thành không. Như đám mây, đám mây không phải từ không mà trở thành có và đám mây cũng không bao giờ từ có mà trở thành không. Vì vậy tuệ giác đạo Bụt vượt thoát Hữu. Nội câu này thôi cũng đã chứng tỏ rằng trong khi viết bài thơ này tác giả chưa tiếp xúc được với nguồn tuệ giác của đạo Bụt,

“Phải chăng muôn kiếp nặng nề
Từ hư không tới  lại về không hư
Lẽ nào mộng cả thôi ư,
Người ơi giọt bệ, chứa dư tan điền”

Ruộng dâu biến thành bãi biển. Rồi bãi biển trở thành đất liền. Đất liền trở thành ruộng dâu. Rồi ruộng dâu trở thành bãi biển. Đó là vô thường. Hôm nay thế này, ngày mai thế kia. Hôm nay có, ngày mai không. Hôm nay không, ngày mai có. Có phải là từ không trở thành có? Hôm nay ta có mặt ở đây nghĩa là ta có. Ngày mai ta không có mặt ở đây nữa có phải là từ có trở thành không?

“Sông ôm bóng nguyệt không mà có
Hay có mà không nhỉ gã say?
Người vừa ôm ấp trong tay
Nhạc dợn đêm nào vạn cổ
Sau trước cùng chung niềm tính mộ
Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”

Người mình ôm trong tay để khiêu vũ theo tiếng nhạc trên sàn gỗ bây giờ không còn nữa. Có phải sự thật người đó đã từng có mà bây giờ thành không hay không? Đó là câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời. Hồi còn trẻ tôi thích đọc thơ, những bài thơ của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… tôi đã đọc thuộc lòng. Bài thơ “Trước Cảnh Cao Rộng” nói lên tâm trạng của tác giả đứng trên bãi biển nhìn không gian mênh mông, bỗng cảm thấy con người mình quá bé nhỏ và không biết tại sao mình có mặt ở đây. Sự có mặt của một sinh vật nhỏ bé như mình có ý nghĩa gì không?

“ Tôi rộng trong ra bốn phía xa khơi
Cảnh mênh mông riêng có một mình tôi
Đang thơ thẫn với nỗi lòng bát ngát
Như kẻ bộ hành ngơ ngác
Lạc vào nơi đồng đất hoang vu
Ta mang theo một khối tình u
Tìm mà chẳng thấy lẽ uyên thâm trong tạo vật
Ngừng bước nản tôi trông mây, trông nước
Trông bầu xanh trong nét mặt u trầm.
Hỏi có nghe thấy tiếng ta chăng
Nghe thấy tiếng một tâm hồn đau khổ
Ta muốn biết lẽ nhiệm mầu trong vũ trụ
Nhưng than ôi, tạo vật vẫn làm thinh
Ngàn muôn năm giữ vẻ mặt vô tình
Và lãnh đạm cao siêu huyền bí”.

Trời đất rất vô tình lãnh đạm, cao siêu huyền bí. Đó là Thế Lữ. Còn Chế lan Viên thì sao? Ghê rợn hơn nữa. “Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng” tưởng tượng tâm hồn mình là một đáy giếng rất sâu, sâu thăm thẳm và có một ngôi sao mọc lên từ đó.

“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng
Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma.
Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta
Ý của ai trào lên trong đáy óc
Để bay đi theo tiếng cười nhịp khóc”
Những câu đó rất đau khổ.
“Biết làm sao giữ mãi ta đây
Thịt cứ chìu theo thú dục chua cay
Máu cứ nhảy theo nhịp cuồng kẻ khác
Mắt theo dõi tinh hoa bao màu sắc
Đau đớn thay cho đến cả linh hồn
Cứ đi tìm chán nản với u buồn
Để đỉnh sọ trơ vơ tràn ý thịt
Mà phải đâu  đã đến ngày tiêu diệt
Ai bảo dùm ta có có ta không?

Là học trò của Siddhattha chúng ta có cơ hội vì chúng ta biết rằng nếu ta đi tìm bằng con đường năng trí thì chúng ta sẽ thất bại.

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời”

Vì vậy khi đến chùa là ta đã có cơ hội, ta phải tìm cách tiếp xúc cho được phương pháp thực tập, để có thể cung cấp cho mình những câu trả lời, mà đừng đi tìm những tiện nghi nhỏ nhặt. Khi tới chùa nếu được gặp thầy, gặp bạn, thì phải nhớ mục đích mình tới chùa để làm gì. Không phải bỏ thời gian để nói chuyện này, chuyện nọ. Không khí ở chùa là không khí trong đó mình có thể đi tìm  những câu trả lời. Còn nếu mình để thì giờ để nói chuyện kinh tế, chính trị, chuyện công ăn việc làm, chuyện chùa này chùa khác thì uổng lắm. Khi được ngồi với các thầy, các sư cô, các đạo hữu đã tu học lâu hơn mình, thì phải biết lợi dụng các cơ hội đó mà học hỏi các phương pháp quán chiếu để trả lời các câu hỏi kia. Làm sao để có niệm, có định để rồi có tuệ? Vì chỉ có tuệ mới đưa đến câu trả lời, mới giải phóng mình ra khỏi vùng vô minh, hắc ám đã bao phủ mọi người.“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người” tức là màn vô minh.
Trong thi phẩm Rừng Phong xuất bản tại Sài Gòn năm 1954, có bài thơ “Nguyện cầu” in ở trang đầu tiên, như một bản tuyên ngôn của tác giả. Tập thơ này do Đinh Hùng trình bày, Đinh Hùng cũng là một thi sĩ. Khi đọc bài này ta có thể thấy được tâm trạng của Vũ Hoàng Chương 50 năm trước vẫn chưa thấy được đạo. “Ta còn để lại gì không?” Câu hỏi đặt ra là sau khi chết mình để lại gì cho cuộc đời. Các nhà tư tưởng, các nhà nghệ sĩ, các nhà chính trị muốn để lại sự nghiệp của mình cho đời. Vì người nào cũng có khuynh hướng, có ước muốn đi tìm cái bất tử. Tu theo đạo Lão, người ta muốn làm thế nào để thành trường sinh bất tử, và tu theo đạo Bụt người ta cũng muốn đạt đến cái vô sanh bất diệt. Và câu hỏi “Ta con để lại gì không?” cũng biểu lộ cái khuynh hướng và ước muốn đó.

“Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lỡ, này sông cát bồi”

Núi đá thì lỡ ra mà dòng sông thì cát bồi, có những con sông bị cát bồi dần dần thành dòng sông cạn.

“Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về”.

Tác giả đã sử dụng từ luân hồi của đạo Bụt nhưng thực chất tác giả chưa hiểu được luân hồi là gì, “U minh nẻo trước” tức là mình không thấy rõ con đường trước mặt. Và con đường trở về quê hương đích thực của mình cũng còn rất xa. Cho nên bài “Nguyện cầu” này cũng là một câu hỏi.“Lang thang từ độ luân hồi” có một giai đoạn nào đó mình bị đi luân hồi, trước đó mình rất an lành nhưng vì mắc phải lầm lỗi nào đó nên bị đày xuống trần gian “ U minh nẻo trước xa xôi dặm về”, phía trước thì u minh đen tối, phía sau con đường trở về thì mịt mờ, không biết đi đâu. Rất tội nghiệp! “Trông ra bến hoặc bờ mê”, nhìn ra thì thấy toàn là bến bờ mê hoặc, toàn là vô minh, không có gì sáng sủa, không có gì là sự thật cả. Trong danh từ  Phật học chữ “hoặc” có nghĩa là phiền não, đây là từ chuyên môn của đạo Bụt.

“Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương

Nghìn thu là nghìn năm, chỉ ngắn bằng nửa cái chớp, rất vô thường! “Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương” nghĩa là tuy nói bốn phương nhưng kỳ thực không đi xa được, nó cũng chỉ là một phương thôi. Điều mà thi sĩ thấy được là tính vô thường của thực tại. Tuy nhiên thi sĩ không đi xa hơn cái thấy vô thường đó, bởi vì trong sự tu học nếu biết đào sâu vào vô thường thì chúng ta mới tìm thấy vô ngã. Nhưng thi sĩ không được ai trao truyền những dụng cụ để đào sâu vào sự thật vô thường. Vì vậy thi sĩ chưa bao giờ khám phá được sự thật vô ngã. Có rất nhiều người nói đến vô thường. Heraclitus cũng nói đến vô thường, và đức Khổng Tử cũng nói đến vô thường. Heraclitus nói: “không ai có thể tắm hai lần dưới một dòng sông”. Đó là vô thường. Dòng sông phút sau không còn là dòng sông của phút trước nữa. Người tắm cũng vậy, người tắm xuống rồi lên lại là đã trở thành người khác rồi. Vì vậy trong câu nói đó chứa đựng tuệ giác vô thường. Còn đức Khổng Tử đứng trên bờ sông nhìn xuống thì than rằng “Cứ chảy mãi như thế này sao, ngày đêm không ngưng nghỉ”. Tức là ngài nói đến sự vô thường. Bụt cũng nói về vô thường, nhưng vô thường của Bụt khác, vô thường của Bụt không phải là lời than thở, mà là một phép quán. Ta phải sử dụng định vô thường, tam muội vô thường như là một dụng cụ, một cái cuốc để đào bới. Vì vậy vô thường không phải để thở than. Vô thường không phải là một triết thuyết, nó không mang tính chất triết học. Vô thường là một dụng cụ, là một phép quán, nhờ dụng cụ vô thường đó mà mình biết đào xới thực tại và nhờ thế mới phát hiện ra viên ngọc Vô ngã. Vô ngã sẽ trở thành một dụng cụ khác để đào xới và làm phát khởi sự thật tương tức, vô sinh bất diệt. Các thi sĩ, các nhà triết gia sử dụng trí năng của họ để suy tư. Nhưng ở đây không phải là vấn đề suy tư mà là vấn đề thực tập.

Trong thiền Tào Động, Tào Động Tông là một trong năm tông phái thiền, có một thiền ngữ như thế này: “Tư lương cá bất tư lương để, bất tư lương để như hà tư lương, phi tư lương thị thiền chi yếu giả”. Tư lương đọc là tư lượng. Tư lượng tức là suy tư, tư duy. Lượng là đo là cân. Tư lượng tức là cân nhắc, đo lường. “Tư lương cá bất tư lương để” là suy tư cái không thể suy tư. Trong danh từ đạo Bụt có từ “Bất khả tư nghì ”, nghì là bàn luận. Cái gì không suy tư không bàn luận được? Cái gì mà nói ra là trật, không thể tư duy được? Cái gì mà mầu nhiệm vậy? Cái mà không thể suy tư, không thể tìm tới bằng con đường suy tư, không thể diễn tả bằng lời nói gọi là“ bất khả tư, bất khả nghì” Cái không thể suy tư làm sao mình suy tư được? Cái không thể tư lượng làm sao tư lượng được? Đó là hiệu lệnh của thiền Tào Động. Vì vậy con đường tư duy không đưa tới kết quả. Khi học tổ Lâm Tế ta nghe tổ dạy, mình cần phải đoạn cảnh, cần phải cắt đứt đường rày của tư duy, vì tư duy là cứ chạy quanh. “Sên bò nát óc máu thầm rơi”. Tư lượng về cái không thể tư lương là vô nghĩa vì cái không tư lương thì làm sao tư lương được. Vì vậy cái không tư duy là yếu chỉ của thiền Tông. Đó là trực giác, là Bát Nhã. Chỉ có cái đó mới khám phá, khơi mở, diễn bày sự thật mà thôi. Trí tuệ giác Bát Nhã không phải là tư duy. Ví dụ như quý vị đã từng ăn sầu riêng, bây giờ muốn giúp cho một người Tây Phương chưa bao giờ ăn sầu riêng, chưa biết sầu riêng là gì, quý vị giải thích sầu riêng là như thế này, sầu riêng là như thế kia, và dù quý vị có làm cho họ tư duy cách mấy đi nữa họ cũng không thể nào hiểu được về trái sầu riêng là gì. Sầu riêng là cái không thể tư duy được. Chỉ có một cách giúp họ là đút một miếng sầu riêng vào miệng họ. Cái đó gọi là trực giác. Phải chấm dứt tư duy để đi tìm trực giác. Vì vậy ngồi thiền không phải để tư duy, ngồi thiền là để sử dụng tuệ giác trực tiếp của mình.

Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lỡ, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nữa chớp bốn bề một phương

Đã thấy được tính vô thường nhưng không biết sử dụng vô thường như là một dụng cụ để đào bới, để tìm kiếm. Do đó tác giả chưa bao giờ khám phá được vô ngã mà vô ngã thực ra nằm sát ngay sau lưng vô thường. Thấy được vô thường là thấy được vô ngã. Các nhà triết học kia kể cả Khổng Tử, Heraclitus chưa thực sự thấy được vô thường. Vì thấy được vô thường sâu sắc thì thấy được vô ngã, vì vô thường là mặt khác của vô ngã. Vô thường là đứng về phương diện thời gian mà diễn bày, còn vô ngã là đứng về phương diện không gian mà nhìn nhận. Thực sự, thấy được vô thường thì thấy được vô ngã. Chưa thấy được vô ngã thì chưa thấy được vô thường.

“Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương
Ta vang cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Trong tư duy của thi sĩ vẫn còn có dấu tích của truyền thống Á đông. Những con người đặc biệt có tài năng, và hầu hết chúng ta cũng vậy đều có tư tưởng chúng ta là Trích Tiên, tức là vị tiên sống trên thượng giới nhưng vì bị lầm lỡ gì đó nên Ngọc Hoàng đày chúng ta xuống trần gian, và chúng ta phải sống bao nhiêu kiếp đó cho đến khi chuộc được lỗi lầm thì ngài cho trở về thượng giới. Và ta đang sống ở cảnh giới mà Tây Phương gọi là rơi xuống bị đọa đày, Adam và Eva bị rớt xuống trần gian. Thượng đế tạo ra hình ảnh vì không nghe lời thượng đế ăn trái cấm và đã cứu chuộc hơn 2500 năm mà vẫn chưa lên trở lại được. Trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta nghĩ rằng, ngày xưa chúng ta ở một nơi rất nhiệm mầu rất an ổn, không tư lượng, không lo lắng gì cả, tự nhiên bây giờ sinh ra làm một kiếp người, phải lo lắng quá nhiều, phải suy tư quá nhiều. Vì thế bây giờ ta mong ước trở lại chỗ ngày xưa, nơi mà ta hoàn toàn an ổn, không cần phải lo lắng cho tương lai hay hối hận gì về quá khứ. Không phải chỉ có các nhà triết học, các nhà thi sĩ mới có khuynh hướng như vậy mà tất cả chúng ta đều có cảm tưởng như thế. Nghĩa là chúng ta tới từ một chỗ rất yên ổn, rất an lành và chúng ta đang khổ đau vì bị luân hồi, vì bị làm một vị Trích Tiên ở hạ giới. Chúng ta nghĩ rằng khi ta đền hết tội thì ta sẽ được trở về nơi khung trời an lành của ta ngày xưa. Người nào cũng cho mình là một vị Trích tiên, một vị tiên bị đọa xuống trần gian.

“Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về”.

Đó là cái thấy của tác giả, cái thấy của chúng ta. Thật ra nếu nhìn sâu một chút chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đã từng sống qua cảm giác yên ổn đó rồi, đó là khoảng thời gian chúng ta ở chín tháng trong bụng mẹ, bụng mẹ là cung điện của người con (gọi là tử cung). Chúng ta ở đó yên lành không phải lo lắng gì cả, cái gì cũng có mẹ lo. Không cần phải lo ăn, lo uống, lo thở, không cần phải đối phó gì hết. Chín tháng trong bụng mẹ là hoàn toàn vô ưu. Siddhattha đã sinh ra dưới cây vô ưu. Nhưng dù sinh ra dưới cây vô ưu, Siddhattha cũng ưu tư rất nhiều. Ưu tư quá nhiều đến nỗi phải bỏ nhà, bỏ cung điện đi tu. Vì không thể trốn thoát được những câu hỏi đó nên phải đi tìm. Và cứ nghĩ rằng mình đi luân hồi mấy kiếp để trả nợ, đền hết tội rồi mới được trở về chỗ an lành đó. Tản Đà cũng có một bài thơ nói chuyện này, ngày xưa mình cũng là Trích Tiên ở trên thượng giới bị đày xuống trần gian làm thi sĩ rất cực. Bán một bài thơ được mấy chục đồng thôi, lại có khi bán không chạy và không có tiền để tiếp tục làm thơ nên phải đình bán. Đó là số kiếp của Tản Đà,   Nguyễn Khắc Hiếu. Có một đêm, Tản Đà mơ thấy chư thiên trên trời xuống mời lên đọc thơ cho thượng đế nghe. Sau khi đọc thơ, chư thiên và Ngọc Hoàng rất thích. Ngọc Hoàng nói rằng ngày xưa con cũng ở đây làm chư thiên, nhưng vì con lầm lỡ nên bị đày xuống trần gian. Con ráng truyền bá lý thuyết nhân bản, mai mốt đền được tội thì Ngọc Hoàng sẽ cho con trở về thượng giới. Đó là bài thơ của Tản Đà.

“Ta vang cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cách tay níu trời
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”

Ta không thuộc về thế giới này, ta là vị tiên, vì vậy ta không muốn dính vào những cát bụi, ganh tị, đố kỵ, tham lam. Ta không muốn dính vào hệ lụy đó. Ta muốn mai mốt ta sẽ trở về chỗ của ta trên kia. Đó là tư duy của vị Trích Tiên.
Bài thơ “Nguyện cầu” này nhớ về cõi mà mình đã ra đi và mình hoàn toàn không muốn dính líu, không muốn để lại sự nghiệp gì ở đây hết. “Ta còn để lại gì không?” Ta không còn thuộc về thế giới này nữa, ta thuộc về thế giới khác. Trong khi đó đạo Bụt nói rằng Niết Bàn và thế gian là một. Muốn đi tìm Niết Bàn phải đi tìm ngay trong thế gian. Ta Bà chứa đựng Tịnh Độ. Và Bồ Đề được tìm ngay trong phiền não. Điều này tác giả chưa tiếp xúc được, chưa có kiến thức Phật học, chưa có thực tập.

Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian

Ta đâu muốn có sự nghiệp gì ở cõi đời này. Ta không cần gì hết. Về trên kia ta để lại cái này cho các ngươi, muốn tranh dành bao nhiêu thì tranh dành.

“Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian
Một phen đã nến cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh năm”.

Một phen mà tôi không còn làm thơ nữa thì tôi không nghĩ rằng thơ tôi có người đọc hay không có người đọc. Tôi không bận tâm về điều đó. Đây là tuyên cáo của Vũ Hoàng Chương. Nhưng từ năm 1963 Vũ Hoàng Chương đã đổi khác.
Vũ Hoàng Chương sinh năm 1916 đậu tú tài Tây, sau đó học luật. Nhưng chán không thích luật nên bỏ học, làm phó giám đốc cho sở hỏa xa. Làm ở sở hỏa xa cũng chán nên ông đi về học toán. Học toán cũng không thích cuối cùng ông làm thơ. Năm 1945 ông tham gia kháng chiến, năm 1950 bỏ kháng chiến. Không tìm thấy hạnh phúc trong ngành luật, toán học, hỏa xa, kháng chiến. Nên năm 1951 ông di cư vào miềm Nam. Năm 1963 khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu cho nhân quyền Việt Nam thì Vũ Hoàng Chương xúc động vô cùng và ông đã viết bài thơ Lửa Từ Bi mà nhiều người Phật tử đã thuộc lòng. Hành động tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức đã làm chấn động tâm can Vũ Hoàng Chương, đã biến Vũ Hoàng Chương thành một con người khác và Vũ Hoàng Chương đã thấy rằng mục đích của con người là để xây dựng tình huynh đệ. Trong bài thơ Lửa Từ Bi có chữ tình huynh đệ. Tôi thích nhất là câu“ Ôi đích thực hôm nay trời có mặt” đó là giây phút hòa thượng tự thiêu. “Giờ là giờ hoàng đạo nguy nga” giờ hoàng đạo là 12 giờ trưa.

“ Ôi đích thực hôm nay trời có mặt
Giờ là giờ hoàng đạo nguy nga
Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt,
Nhìn nhau tình huynh đệ bao la”.

Chỉ khi nào có tình thương lớn người ta mới có hành động như vậy. Hành động hoàn toàn vị tha, hoàn toàn hy sinh cho sự sống, cho tình huynh đệ.

“Ngọc hay đá tượng chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre nào hiến bút ai ghi
Chỗ người ngồi một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét từ bi”

Hành động tự thiêu đó mục đích không phải để có danh, không phải là để lại cho đời một cái gì mà hoàn toàn là do từ bi, do tình huynh đệ, không cần người ta tạc hình thành ngọc thành đá, không cần ai ghi tên mình vào sử sách. Đó là hành động rất trong sáng, đó là tình huynh đệ. “Chỗ người ngồi một thiên thu tuyệt tác”, chỗ ngồi đó là một tác phẩm lớn, mình không thấy gì cả nhưng nhờ có con mắt tuệ nên ta thấy chỗ đó là cái ngai của Từ Bi.

“Rồi mai sau còn chi
Ngọc đá cũng thành tro
Lụa tre dần mục nát
Với thời gian lê vết máu qua đi”.

Tất cả những cái đó ngọc đá, lụa tre… sẽ qua đi chỉ còn một chữ ở lại mãi mãi đó là chữ Trái tim Bồ Tát .

“Còn trái tim Bồ Tát xuống tận ngục A Tỳ
Ôi ngọn lửa huyền vi
Thế giới ba ngàn phút giây ngơ ngát”
Tất cả địa cầu chấn động vì tình thương đó
“Từ cõi vô minh hướng về cõi cực lạc
Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác.
Và chí nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên với lời kinh tụng
Cho nhân loại thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.

“Tình huynh đệ ” được dùng lại lần thứ hai. Có thể nói bài thơ này thực chất là ca ngợi tình huynh đệ. Hòa thượng Thích Quảng Đức là biểu tượng của tình huynh đệ. Có tình huynh đệ là đời sống của mình có ý nghĩa. Cho nên nếu một ngày nào còn sống, còn xây dựng tình huynh đệ là ngày đó đời còn có ý nghĩa. Và bản chất của đạo Bụt là Từ Bi, Từ bi chính là tình huynh đệ. Vì chữ Maitri (Từ) bắt nguồn từ chữ Mitra mà ra, nghĩa là huynh đệ. Và chữ “Từ” dịch cho đúng là tình huynh đệ, tình anh em, tình chị em.

Từ cõi vô minh hướng về cõi cực lạc”. Đó là nhờ tình huynh đệ. Vừa mới sân si đó, vừa mới kỳ thị đó mà khi thấy được một hành động không kỳ thị thì tác giả lập tức chọc thủng được vô minh, thấy được cõi cực lạc. Tức là cõi của tình thương. “Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác” Tôi muốn ca ngợi Hòa thượng Quảng Đức, nhưng vần điệu thơ của tôi không đủ sức để ca ngợi hành động đẹp đẽ đó.

“Và chí nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên với lời kinh tụng
Cho nhân loại thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.

Từ đó trở về sau Vũ Hoàng Chương sử dụng thơ của mình để xây dựng tình huynh đệ.

Bài thơ này ra đời sau bài Lửa Từ Bi, tựa đề là Nổi Lửa Từ Bi. Bài này Vũ Hoàng Chương nói đến Đại Hùng Đại Lực của Từ Bi. Từ Bi có sức mạnh rất lớn, sức mạnh này sẽ thắng được lửa của bom, của  đạn.  Đứng đầu của một chế độ là ông vua,  ông chúa có khi gọi là Tổng Thống, ngôi chúa tức là vương vị, là ngai vàng, là ghế của Tổng Thống. Ngôi chúa thì có quyền hành, có quân đội, có cảnh sát, có công an. Nhưng cuối cùng cũng thua một ngôi khác, là ngôi chùa, ngôi chùa tượng trưng cho sức mạnh của tình thương. Tình thương, tình huynh đệ và lòng từ bi sẽ chiến thắng tất cả.

“Lẽ thường ngôi chúa dựng trên súng,
Sẽ tiêu tan dưới đạn
Chỉ còn lại tinh thần nhân bản
Vằng vặt dưới sông chót vót ngôi chùa
Cuộc tranh đấu vượt ra ngoài giới hạn tử sinh
Lửa tử sinh mầu nhiệm pháp vô biên.
Suối Hùng Lực mấy thu chẳng cạn
Nước cành dương tẩy xóa mọi oan khiên”.

Chỉ có Từ Bi mới đáp ứng được hận thù của sinh tử. Không phải vì tôi muốn sống mà tôi tranh đấu. Sống tôi cũng tranh đấu. Chết tôi cũng tranh đấu. Chết và sống chỉ là sự tiếp nối nhau. Chết để mà sống, sống để mà chết. Nên cuộc tranh đấu vượt ra ngoài giới hạn của tử sinh, của lo sợ.

“Lẽ thường ngôi chúa dựng trên súng,
Sẽ tiêu tan dưới đạn
Chỉ còn lại tinh thần nhân bản
Vằng vặt dưới sông chót vót ngôi chùa
Cuộc tranh đấu vượt ra ngoài giới hạn tử sinh
Lửa tử sinh mầu nhiệm pháp vô biên”

Đây là chân lý của Đông phương cũng như Tây phương, nếu dùng gươm mình sẽ chết vì gươm, dùng súng thì sẽ chết vì đạn. Đó là trường hợp của ngôi chúa, của những vị vua, tổng thống đã sử dụng bom đạn và chính mình sau này sẽ chết vì bom đạn.

“Lẽ thường ngôi chúa dựng trên súng,
Sẽ tiêu tan dưới đạn
Chỉ còn lại tinh thần nhân bản
Vằng vặt dưới sông chót vót ngôi chùa”

Trong bài thơ này Vũ Hoàng Chương đã sử dụng ngôi chúa và ngôi chùa. Nghĩa là nếu đất nước còn có ngôi chùa thì còn tình huynh đệ, còn đức Từ bi. Từ bi thế nào cũng vượt thắng, cũng hóa giải được hận thù. Súng đạn sẽ rơi xuống thành cát bụi, chúng ta  không cần phải lo lắng gì cả. Hãy tin ở hùng lực của Đại Từ, Đại Bi, của tình huynh đệ. Đó là niềm tin của Vũ Hoàng Chương. Từ năm 1953 cho đến 1967, tức là 15 năm Vũ Hoàng Chương đã làm ra những bài thơ rất anh hùng, rất can trường, rất vững mạnh, không như bài thơ trước.
“Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Biển vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh”.
Không còn những bài chán đời như vậy nữa. Vũ Hoàng Chương đã thức dậy tham dự vào cuộc tranh đấu. Tuy bị chế độ chính trị bạc đãi nhưng nhờ có đại hùng nên Vũ Hoàng Chương không còn đau khổ nữa. Khi chị Nhất Chi Mai tự thiêu, Vũ Hoàng Chương cũng có làm một bài thơ để ca ngợi, chị Nhất Chi Mai là một trong những người thọ giới tiếp hiện đầu tiên. Trước khi tự thiêu chị có viết cho thầy một bức thư “ Thầy ơi, thầy đừng lo chắc chắn sẽ có hòa bình”. Vũ Hoàng Chương rất cảm động và làm bài thơ ca ngợi Nhất Chi Mai.

Vừa mới hôm nào lửa Yến Phi
Bay lên nối cảnh lửa từ bi
Giờ đây là nỗi lòng dân Việt
Đau xé trời nam lửa Nhất Chi
Ba dịp cháy lên thông điệp đó
Đêm sao đêm cứ đặc như chì
Đốt cho bom đạn tan thành lệ
Đôi ngã sông sầu hãy nguyện đi”.

Nhất Chi Mai là người thứ ba tự thiêu. Người thứ hai là Đào Thị Yến Phi.
Mình tranh đấu cho hòa bình không phải bằng súng đạn mà bằng quyết tâm của lòng từ bi

“Hãy nguyện cho màu tang trở gió
Trên đầu thiếu phụ với cô nhi
Mẹ ơi tóc hãy làm giông tố
Màu tóc màu tang có khác gì.

Vành khăn tang trên đầu thiếu phụ, vành khăn tang trên đầu cô nhi.

“Trắng một vòng bao quanh trái đất.
Nối dài thông điệp lửa uy nghi”

Không chỉ có thiếu phụ và cô nhi đeo khăn tang mà cả trái đất đều có vành khăn tang.

“Sáng trưng hóa lạnh Bồ Câu trắng
Sẽ đốt thời gian mở lối về”.

Thế nên lửa Nhất Chi Mai giống như hỏa lệnh, một hiệu lệnh bằng lửa để cho chim Bồ Câu trở về. Đó là thông điệp của Vũ Hoàng Chương. Và từ đó về sau Vũ Hoàng Chương tập ngồi thiền, đi thiền hành và  ăn chay.

Đầu năm 1976, có một bữa nọ, năm sáu xe công an một lực lượng vũ trang hùng hậu đến vây quanh nhà Vũ Hoàng Chương. Tại sao chỉ có một thi sĩ ốm yếu trói gà cũng không chặt mà phải dùng tới năm sáu xe công an và một lực lượng vũ trang hùng hậu như thế. Vì họ rất sợ sức mạnh của tình thương, của tình huynh đệ, sẵn sàng chết bất cứ lúc nào cho lý tưởng hòa bình và tình huynh đệ. Khi Vũ Hoàng Chương nghe tiếng xe, tiếng công an đập cửa, Vũ Hoàng Chương bảo bà Chương đừng sợ hãi mà cũng đừng nói nói năng gì cả và ông leo lên sạp gỗ ngồi thiền, tập thở. Đó là phương pháp hay nhất để đối trị với công an. Họ đập cửa vào, lục soát quăng hết tất cả những tài liệu trong hộc tủ, trong tủ áo ra ngoài. Giấy tờ văng ra đầy hết nhưng Vũ Hoàng Chương vẫn ngồi thiền không nói một lời nào. Họ lục soát khắp nơi nhưng không tìm ra được một tài liệu nào chống đối cách mạng, hay chính quyền cả. Tuy thế họ vẫn có bản văn tuyên án cho là Vũ Hoàng Chương đã phản cách mạng, đã làm cái này cái kia, vì vậy hôm nay phải bị bắt đi cải tạo. Đọc xong họ hỏi Vũ Hoàng Chương, anh có nghe chưa ? Vũ Hoàng Chương nhúng vai một cái. Đó là những gì Vũ Hoàng Chương tiếp đón và trả lời cho công an và họ bắt Vũ Hoàng Chương đi học tập cải tạo. Khi tình trạng sức khỏe của Vũ Hoàng Chương đến mức nguy ngập họ mới cho về nhưng đã quá trể. Bà Vũ Hoàng Chương nấu một nồi bún bưng lên cho chồng ăn, nhưng không ăn được đành bỏ xuống. Đây là lời Sư cô Chân Không viết lại trong cuốn “Thử tìm dấu chân trên cát”. Chỉ một hôm sau khi được chính quyền phóng thích thì thi sĩ mất, ngày anh ấy về, chị Vũ Hoàng Chương nấu một nồi bún cho chồng nhưng anh chỉ lùa được vài cọng bún. Chị thuật lại rằng “Đầu năm 1976, ngày mà cán bộ, công an  đến bắt anh có đến năm sáu xe và một lực lượng vũ trang  hùng hậu vây quanh nhà. Biết trước cớ sự anh Vũ Hoàng Chương bảo chị yên lặng, rồi anh ngồi lên trong tư thế kiết già trong khi cán bộ và công an vào nhà, đập cửa lục soát không sót một ngõ ngách nào và quăng bừa bãi tất cả những đồ đạc lấy ra từ các tủ. Suốt thời gian họ lục soát anh vẫn ngồi bất động không nói năng gì. Cuối cùng khi người chỉ huy đọc bản cáo trạng, Vũ Hoàng Chương lắng nghe, nghe xong anh chỉ khẻ nhún vai. Họ bắt anh từ đó, và trong trại giam sức khỏe của anh đã tàn lụi dần. Có lẽ trong trại giam anh Vũ Hoàng Chương đã thiền tọa rất nhiều”. Được tin Vũ Hoàng Chương mất thầy Nhất Hạnh rất thương cảm và đã dùng nhiều từ ngữ từ trong thơ của Vũ Hoàng Chương để làm một bài thơ ca ngợi ông. Nếu quen thuộc với  thơ Vũ Hoàng Chương chúng ta sẽ nhận ra được tất cả những từ ngữ đó.

Đây là bài thơ thầy viết sau khi nghe Vũ Hoàng Chương mất.

“Đêm này dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn cứ luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tĩnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào cũng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn”.

Tuy Vũ Hoàng Chương đã mất nhưng anh vẫn còn đó với tinh thần bất khuất. Mình mời Sư cô Chân Không thắp nhang cho Vũ Hoàng Chương. Người đã tranh đấu không bằng súng bằng đạn, mà bằng những bài thơ từ bi của mình. Từ người say sưa, chán nản nhưng nhờ giọt nước cam lồ của Đức Thế Tôn đã trở thành người có đại hùng đại lực.

Ta để lại gì cho đời? – Vũ Hoàng Chương

Ta còn để lại gì không?

Ngày hôm qua có một số người trẻ đi tắm hồ đã chứng kiến cái chết của một em bé 19 tuổi. Em bị chết đuối. Cái chết có thể đến với ta, đến với người ta thương bất cứ lúc nào. Nếu không chuẩn bị chúng ta sẽ không có khả năng đối phó với những biến cố lớn đó. Chúng ta quá bận rộn, không có cơ hội học cách đón nhận và có thể mỉm cười khi cái chết đến với chúng ta. Chúng ta phải học hỏi và sống như thế nào để chấp nhận được cái chết của bản thân mình cũng như cái chết của người ta thương.

Chúng ta nên đặt câu hỏi là khi chết chúng ta để lại gì cho đời? Lúc 19 tuổi chết thì mình để lại gì? 25 tuổi chết thì để lại gì? 35 tuổi chết để lại gì? Và 60, 80 tuổi chết thì để lại gì? Câu hỏi đó rất hay. Ai để lại? Để lại cái gì? Và để lại cho ai? Nếu trả lời được những câu hỏi đó thì chúng ta hiểu được đạo Bụt. Hiểu được đạo Bụt chúng ta sẽ biết cách làm thế nào để sống cũng đẹp, mà chết cũng đẹp, và như thế ta vượt thoát được sự sợ hãi, lo lắng về cái chết và cái sống.

Tuệ giác của đạo Bụt là tuệ giác vô ngã. Vì vậy chúng ta phải đi tìm câu trả lời theo hướng vô ngã. Phần lớn người ta căn cứ trên ý niệm ngã để trả lời những câu hỏi này, cho nên họ không tìm ra được. Chúng ta nghĩ mình là một thực thể bất biến có một cái ngã tồn tại độc lập. Khi chết đi, cái ngã đó không còn nữa. Nhưng kỳ thực, chúng ta để lại sau lưng một cái gì đó, có thể xấu, có thể tốt, hoặc có thể không có nghĩa lý gì cả – không xấu cũng không tốt. Để lại cho ai? Có thể để lại cho con cháu ta, mà cũng có thể để lại cho đời.

Lúc còn trẻ thi sĩ Vũ Hoàng Chương ăn chơi say sưa nhưng khi lớn tuổi thì ông trở về tu học. Trong bài thơ “Nguyện cầu” đăng ở trang đầu của tập thơ Rừng Phong, có câu “Ta còn để lại gì không?”. Một câu hỏi rất trực tiếp. Tập thơ xuất bản vào khoảng năm 1954 – 1956 khi đất nước đang chia đôi, thi sĩ di cư từ miền Bắc vào miền Nam, làm nghề nhà giáo văn chương. Vũ Hoàng Chương lúc trẻ đã đi nhảy đầm, hút thuốc phiện và đã xuất bản tập thơ Say.

“Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không thấy nữa màu xanh hay sắc đỏ”.

Nhảy đầm trong khi say thì đâu còn thấy gì nữa. Và Vũ Hoàng Chương nổi tiếng bởi tập thơ Say đó. Nhưng trong cuộc tranh đấu  Phật giáo cho nhân quyền năm 1963 thì trong Vũ Hoàng Chương có sự chuyển đổi rất lớn. Hồi đó, Tổng thống của chúng ta là người Cơ Đốc giáo. Anh trai của Tổng thống làm Tổng Giám mục. Ông có ý muốn Thiên Chúa hóa đất nước Việt Nam. Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng có một người anh làm cố vấn chính trị cho mình là Ngô Đình Nhu. Trong sự nôn nóng muốn phát triển Thiên chúa giáo Việt Nam nên đã có những chính sách đàn áp Phật giáo. Một trong những điều quá rõ ràng là ngày Phật Đản không được công nhận là ngày nghỉ chính thức của toàn dân  như trước nữa. Trong một nước mà đa số là Phật giáo mà không cho nghỉ ngày Phật đản, thì cũng giống như ở Tây Phương, ngày Noel không được coi là ngày nghỉ của toàn dân vậy. Vì thế Phật tử bắt đầu phản đối. Khi Phật tử đứng dậy biểu tình phản đối thì họ dùng quân đội để đàn áp, bắt các thầy, các sư cô, và phật tử bỏ tù. Chính vì lý do đó nên phong trào tranh đấu vùng dậy. Một phong trào tranh đấu dân quyền không vụ lợi.

Tranh đấu không phải vì muốn tranh đoạt quyền hành hay muốn giành lấy chính quyền, mà tranh đấu để chống lại sự độc tài, vi phạm nhân quyền. Đó là cuộc tranh đấu của phật tử Việt Nam năm 1963-1964, là một cuộc tranh đấu rất thẳng thắn với một trái tim trong sáng. Trước tình hình đó, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có cảm hứng. Vì vậy với tư cách là một thi sĩ, ông đã làm những bài thơ phổ biến rất rộng rãi trong quần chúng và những bài thơ đó đã nung nấu tâm chí chiến đấu của toàn dân. Thi sĩ không tranh đấu bằng súng đạn hay bằng tổ chức chính trị mà bằng những bài thơ của mình. Những bài thơ của Vũ Hoàng Chương đem lại rất nhiều hào khí, cảm hứng cho dân chúng. Trong quá trình đóng góp vào cuộc tranh đấu, Vũ Hoàng Chương đã học hỏi và thực tập thêm nên đã có nhiều chuyển hóa.

Ví dụ như bài “Lửa từ bi” đã được làm ra sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Đó là vào năm 1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức ra ngồi ở ngã tư Phan Đình Phùng, đổ lên mình một thùng xăng, rồi châm lửa và nhập định. Ngài ngồi rất yên. Các nhà báo bao quanh rất đông. Hòa thượng Thích Quảng Đức tự đốt mình như vậy để báo động cho thế giới biết là ở Việt Nam đang có một chế độ độc tài và chúng tôi đang đau khổ. Mấy giờ đồng hồ sau, tất cả các báo chí, đài truyền hình trên thế giới đều đăng tin và hình Hòa thượng Thích Quảng Đức đang ngồi yên trong lửa đỏ. Đó là một thông điệp rất hùng hồn. Cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã làm cho phong trào tranh đấu nhân quyền lên cao, và quốc tế cũng bắt đầu yểm trợ ta. Sau đó chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ. Lửa Từ bi là bài thơ đầu tiên của Vũ Hoàng Chương đóng góp vào phong trào rất hay. Trong bài thơ đó Vũ Hoàng Chương không hề có ý niệm tưới tẩm hạt giống của căm thù. Trái lại bài thơ chỉ tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ.

“Ôi ngọn lửa huyền vi
Thế giới ba ngàn
Phút giây ngơ ngác
Từ cõi nhân gian hướng về cực lạc
Vần điệu thi nhân chỉ là rơm rác
Mà cũng chỉ nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên theo lời kinh tụng
Cho đất nước thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.

Bài “Nguyện cầu” được làm trước đó không lâu, nên bài thơ tuy hay vẫn chưa có tuệ giác của một người giác ngộ. Có dịp mình sẽ đọc thêm thơ của Vũ Hoàng Chương sau khi ông đã giác ngộ, đã hiểu Phật pháp. Hôm nay chúng ta chỉ đọc một bài thơ có liên hệ đến cái chết, đó là bài Nguyện cầu, mở đầu bằng câu“Ta còn để lại gì không”.

Ở Đông Phương ngày xưa, rất nhiều người, đặc biệt là những người có tài năng tin rằng mình là một vị tiên ở trên trời, vì phạm một lầm lỗi gì đó mà bị thượng đế đày xuống trần gian. Sau khi trả nợ dưới trần gian này rồi thì được trở về tiên giới lại. Thi sĩ Tản Đà – tác giả bài thơ “Thề non nước” cũng tin như vậy. Ngày xưa mình là nam tào hoặc bắc đẩu trên trời, vì uống trà không chánh niệm, nên đã làm rớt chén ngọc của Thượng đế và bị đày xuống nhân gian sống một, hai đời rồi mới được trở lên lại thượng giới.

Ta còn để lại gì không? Là câu đầu tiên của bài Nguyện Cầu được mở đầu trong tập thơ Rừng Phong. Đây là suy tư của một người chưa biết nhiều về đạo nhưng có kiến thức về văn hóa Á Đông. Nghĩ rằng mình có một cái ta và cái ta đó từ trên trời đi xuống. Trong thời gian sống ở hạ giới, mình làm chuyện này chuyện nọ, sau khi chết mình lên trên trời và sẽ để lại hạ giới một cái gì đó. Ta là ai? Là vị Trích tiên. Để lại cái gi? Ta để lại tác phẩm thơ văn. Để lại cho ai? Để lại cho cuộc đời này. Để lại rồi ta không để ý tới nữa, ta lên trên trời trở lại. Câu trả lời rất đơn giản. Ta là một vị Trích tiên, ta để lại công trình nghệ thuật cho cuộc đời, cho trần gian dưới này còn ta lên trời.

“ Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lở này sông cát bồi”.

Trong câu thứ hai, ta thấy tác giả tuy chưa học Phật sâu sắc nhưng đã thấy rõ là vạn vật vô thường. Đời sống của một vị Trích tiên dưới trần gian này tuy là một trăm năm, nhưng cũng vô thường, bay vèo qua như một giấc mộng. Ngày xưa núi rất cao nhưng đá đã lỡ. Sông thì sâu nhưng bị cát bồi nên sông cạn, “sông cạn đá mòn”.

Lang thang từ độ luân hồi

Lang thang từ độ luân hồi”. Chữ luân hồi ở đây được hiểu theo kiểu là có cái ngã bất biến. Ngày sanh xuống trần gian, gọi là luân hồi. “U minh nẻo trước xa xôi dặm về.” Đây là sự thực, tuy chưa có tuệ giác của đạo Bụt nhưng những yếu tố của tuệ giác đã có sẵn. Chính những yếu tố đó sau này sẽ làm ra tuệ giác. Đi lang thang trong cuộc đời nhưng không có con đường sống, trước mặt chỉ thấy mù mịt không có hướng đi. Trong văn Cảnh sách của Thiền sư Quy Sơn cũng có câu như vậy “Tiền lộ man man bất tri hà vãng” tức là con đường phía trước mờ mờ, ảo ảo không biết mình đang đi về đâu. Người chưa học đạo, chưa có con đường tâm linh thì luôn luôn thấy phía trước mình mờ mịt. Ví dụ như hôm qua có một em bé hỏi: “Con sống trong cuộc đời này để làm gì? Có ích lợi gì cho ai không? Cuộc sống có nghĩa lý gì không?” . Hỏi như thế là vì chưa thấy được con đường của mình.

Không những chỉ có những em bé mười chín, hai mươi tuổi chưa thấy con đường, mà người lớn bốn mươi, năm mươi tuổi vẫn chưa thấy con đường, vẫn không biết mình đang đi đâu, không biết con đường trước mặt mình là con đường nào, nên cứ đi vòng quanh cho đến lúc chết. Vì vậy kiến đạo rất quan trọng, kiến đạo là biết được mình đang đi đâu. Người nào biết mình đang đi đâu thì người đó có hạnh phúc. Không còn phải sợ hãi, không còn hoang mang nữa “đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ”. Vì vậy tất cả chúng ta đều phải kiến đạo, phải thấy được con đường mình đang đi. Không biết mình đang đi về đâu là mình vẫn còn đi trong bóng đêm. “Tiền lộ man man bất tri hà vãng.”

Ở đây thi sĩ nói là “ U minh nẻo trước”, u minh là tối tăm, mù mịt, không biết mình đang đi về đâu. Có thể mai mốt bước xuống hố thẳm rồi bị chôn vùi trong đó. U minh nẻo trước là không có đuốc sáng, không có đèn pha, không có đạo sư. “Xa xôi dặm về”, về là về đâu? Về thiên giới, nơi mà mình đã rời bỏ kể từ ngày bị đày xuống trần gian. Biết bao giờ có thể trở về ngôi vị ngày xưa của mình? Vì Ngọc Hoàng đày xuống dưới này, nên phải sống cuộc đời đày đọa của con người. Phải sinh, lão, bệnh, tử, phải đi vòng quanh trong sáu nẻo hôn mê và trong ba giới. Đường trước mịt mờ cũng khổ mà đường về xa xôi càng khó. Cuộc đời một vị Trích tiên cũng chẳng sung sướng gì. Mình không phải là tiên nhưng cũng cảm thấy mỏi mệt như một vị Trích tiên. “U minh nẻo trước xa xôi dặm về”. Đường về xa lắc xa lơ, không biết bao giờ mới trở về nguyên quán? Nếu biết được con đường thì tốt biết mấy. Mình sẽ biết được còn bao lâu nữa thì trở về ngôi nhà của mình.

“Trông ra bến hoặc bờ mê”. Nhìn ra chỉ thấy bến bờ của sự mê hoặc. tức là vô minh, hoặc tức là phiền não. Bến hoặc tức là bến phiền não. Trông ra chỉ thấy bến bờ của phiền não, vô minh mà không thấy bờ giác.

Trong đạo Bụt có câu “ Khổ hải man man hồi đầu thị ngạn”. Nghĩa là biển khổ mênh mông nhưng nếu biết quay lại thì sẽ thấy bờ ngay, bờ đó là bờ giải thoát. Đó là kiến đạo. Biển khổ tuy mênh mông nhưng nếu biết hướng về bờ giác thì sự mênh mông đó sẽ tan biến, sẽ không còn mênh mông nữa, và bờ giác sẽ không cách xa ta. Vũ Hoàng Chương thấy được tất cả điều đó.

“Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương ”

Hai câu thơ này đã bắt đầu có yếu tố của tuệ giác. Trong một tích tắc, một sát na mà chứa đựng được cả thời gian vô cùng. Nghìn thu là một ngàn năm, ngàn năm đem đặt gọn vào trong một tích tắc gọi là nghìn thu nửa chớp. Nửa chớp chứ không phải một chớp, một chớp là còn dài. Đây là tinh thần của kinh Hoa Nghiêm. Khi xây dựng bản môn thì một tích tắc, một sát na cũng chứa đựng cả thời gian vô cùng. Trong giới thi văn, giới lãng mạn cũng dùng tuệ giác này nhưng không đúng lắm. “Tình trong giây phút mà thành thiên thu”. Nếu anh “fall in love”, nếu anh yêu chỉ một giây phút thôi nhưng anh sẽ khổ suốt đời. Thiên thu được chứa đựng trong một giây phút. Thành ra tuy trăm năm nhưng có nghĩa lý gì đâu, nó chỉ là một giấc mộng thôi. Một nghìn năm cũng vậy, chỉ dài bằng một nửa tia chớp. Ở đây ta thấy được giá trị của thời gian. Và không gian cũng thế “bốn bề một phương”, không gian mênh mông nhưng một phương cũng có thể  chứa đựng được cả bốn phương. Tuy trời đất bao la rộng lớn như vậy nhưng nhìn vào hạt bụi ta thấy hạt bụi chứa đựng tất cả đất trời trong đó. “Càn khôn tận thị mao đầu thượng” tức là tất cả trời đất càn khôn có thể đem đặt lên trên đầu một sợi lông. Đó là câu thơ của một thiền sư Việt Nam.

 

“Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”.
 

Ta có thể đem mặt trời, mặt trăng đặt vào trong một hạt cải. Đó là cách nói của thiền sư. Còn ngôn ngữ của thi sĩ thì “Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương”.

“Ta van cát bụi bên đường

Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này”.

Tác giả ý thức được mình là một vị Trích tiên, và không muốn vướng vào bất cứ một thứ gì ở cõi trần, dù  những thứ đó đẹp hay không đẹp, sạch hay không sạch. Nghĩ mình trong sạch và không muốn dính tới chuyện đời đó là cái nhìn rất tách biệt giữa mình và đời, đời là một chuyện, mình là một chuyện khác. Đó là do không thấy được mình là cuộc đời, cuộc đời là mình, do không có cái nhìn tương tức của đạo Bụt. Sợ bị vướng mắc dù là vướng mắc vào cái dơ hay cái sạch, đều là quan điểm nhị nguyên, nghĩ mình là một thực thể có thể tồn tại độc lập ngoài những cái dơ sạch của cuộc đời. Ai biết được rằng mình với cuộc đời không phải là hai cái khác nhau. “Ta van cát bụi bên đường”, chữ “van” ở đây là cầu xin, van xin. Trong sự cầu xin có ẩn chứa sự sợ hãi. Sợ bị đày đọa, bị bó buộc bởi những hệ lụy trong cuộc đời. Và vì thế mình muốn tách riêng ra khỏi cuộc đời.

Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này

Để ta tròn một kiếp say

Trong thời gian làm nghệ sĩ ở cõi trần ta chỉ muốn làm nghệ sĩ thôi. Sau đó ta sẽ đi, ta không muốn vướng mắc với các ngươi. Kiếp say là kiếp của thi sĩ, vì thi sĩ đã xuất bản tập thơ Say.

“Cao xanh liều một cánh tay níu trời”

Trời cao và xanh, chỗ đó là quê hương của ta. Chân ta đang dẫm lên cuộc đời ô trược, phiền não và ta không muốn dính vào đó. Ta muốn đưa tay lên cao với lấy trời xanh làm chỗ nương tựa để ta đừng bị hệ lụy và bó buộc vào cuộc đời này. Điều đó nghĩa là tịnh độ là một nơi nào khác, quê hương là một nơi nào khác, còn chỗ này là cõi tạm. Đó là quan điểm lưỡng nguyên của những người chưa thấy đạo.

“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời

Kể chi thua được cuộc đời”.

Đời là một cuộc tranh đấu, là một ván bài. Người nào cũng muốn thắng, không ai muốn thua cả. Ban đầu ta không muốn dính tới những chuyện được thua đó, nhưng rốt cuộc vẫn tham dự vào cuộc tranh đấu Phật giáo cho nhân quyền. Mình muốn coi cuộc đời là một cái gì không dính líu tới mình, mình chỉ bị bắt buộc ở đây thôi. Nên không muốn dấn thân vào những cuộc tranh chấp. Mình nghĩ mình khác, đời khác.

“ Nói chi thua được với đời

Ngại chi những tiếng ma cười đêm thâu”

Rất rùng rợn! “Ma cười đêm thâu”. Trong đêm đen có những con ma đang cười nói với mình. Đó là linh hồn của những người trong cuộc được thua đang mang nhiều đau khổ. Ta nghe tiếng cười của các loài ma quái. Tuy nói không muốn dính líu tới cuộc được thua, không muốn dính líu tới đời sống của các loài ma quái, nhưng ta bắt buộc phải sống chung với những người đang tranh đấu trong cuộc được thua đó. Lập trường của tác giả rất rõ là tôi không muốn dính líu tới cuộc đời này, cuộc đời này không phải là quê hương của tôi. Quê hương của tôi là tiên giới.

“Ngại chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu

Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”.

Ta làm thơ, viết nhạc chẳng qua đó là lời cầu nguyện chứ không phải ta tham dự vào cuộc tranh dành của quý vị. Ta không mua danh bán lợi, không tham dự vào cuộc được thua của quý vị. Ta làm thơ xuất bản, ngâm thơ, phổ nhạc là để cầu nguyện thôi. Mục đích của ta là cầu nguyện với quê hương của ta. Ta nhớ quê hương ngày đêm “ Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”. Đừng tưởng ta làm những bài thơ này để ca tụng cuộc đời, để mua danh bán lợi. Ta làm những bài thơ này để cầu nguyện trong khi nhớ quê hương.

Chúng ta có những người tu theo Tịnh độ, nhưng vì họ mới bắt đầu tu nên họ có quan niệm đây không phải là quê hương của mình. Ta bà là chốn mình phải phát tâm chán ghét và Tịnh độ là chốn mà mình phải phát tâm mong cầu. Tìm cầu một cái và chán ghét một cái. Tâm trạng này cũng giống như thi sĩ. Ta không đầu tư vào cõi Ta bà này mà ta đang đầu tư vào cõi Tịnh độ nên mỗi ngày ta đều niệm Bụt. Thay vì làm thơ ta niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Đó cũng là sự cầu nguyện của ta. Tu Tịnh độ theo kiểu này thì cũng không khác gì mấy với làm thơ.

Trong khi Làng Mai chúng ta tu Tịnh độ một cách khác, chúng ta nói “Tịnh độ là đây, đây là Tịnh độ”. Ta phải biến nơi này thành cõi Tịnh độ. Vì vậy không có thái độ chán ghét một cái và tìm cầu một cái khác. Chư Tổ cũng đã khẳng định với chúng ta rằng “Tịnh độ ở trong tâm con người” ( duy tâm tịnh độ) đó là chiều sâu của đạo Bụt. Các vị thiền sư cũng đã nói muốn tìm giải thoát thì phải tìm ngay trong cõi sinh tử, chứ không phải từ bỏ sinh tử mà có giải thoát. Muốn tìm nước thì phải tìm ngay trong những con sóng, nếu bỏ sóng đi làm sao có nước? Đó là cái thấy bất diệt mà lúc bấy giờ thi sĩ chưa có được.

“ Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về ngôi

Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”

Ta có một ngôi vị ở trên thiên giới, có thể là Nam tào hoặc Bắc đẩu. Nếu ta trở về thì những lời cầu nguyện đâu còn ích lợi gì nữa “Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian

Vì vậy “Một khi đã tắt cung đàn

Kể chi còn mất hơi tàn thanh âm

Chúng ta thấy thi sĩ là một nhạc sĩ. Cung đàn đó là cung đàn muôn điệu. Thơ cũng là cung đàn. Khi đã làm xong phận sự nghệ sĩ rồi thì ta trở về ngôi vị của ta. Ta không để ý những bài thơ ta làm, những cung đàn ta đã hiến tặng cho đời còn hay không. Câu trả lời của thi sĩ là tôi đâu cần để lại gì và đâu cần để lại cho ai đâu. Thơ của tôi còn hay mất, người ta thích hay không thích, chuyện đó tôi không quan tâm. Vì tôi đã sinh ra trong cuộc đời này như một nghệ sĩ thì tôi đóng vai trò người nghệ sĩ. Vậy thôi! Làm xong, tôi đi. Người ta thích hay không thích, thơ tôi còn được truyền tụng hay không, tôi không cần biết. Trả lời cho câu hỏi “để lại cho ai” là không để lại cho ai cả và tôi không để lại gì cả.Vì tôi bị đày xuống dưới trần gian này nên tôi phải sống cuộc đời của một nghệ sĩ, xong xuôi tôi trở về quê hương của tôi. Đó là câu trả lời, đó là cái thấy của thi sĩ.

Hai chữ có không mầu nhiệm

Mình là người tu, đã học giáo lý rồi mình thấy như thế nào?  Mình có phải là một cái ngã không? Khi sống với cuộc đời, cái ngã của mình có dính líu gì với cuộc đời không? Khi lìa đời có phải mình mang theo cái ngã của mình đi không? Mình có để lại gì không? Đó là những câu hỏi rất thực tế. Ví dụ cô Tám, anh Tám, cô Thái, cô Bảy, anh Thiều… khi họ đặt những câu hỏi này thì mình trả lời ra sao? Ta là ai? Ta đang làm gì ở đây? Ta muốn để lại gì không? Ta để lại cho ai? Những câu hỏi đó rất cần thiết cho tất cả chúng ta. Ta đã để lại gì? Những gì ta để lại có đẹp không, có giá trị nào không để đóng góp cho cuộc đời? Ta để lại cho con cháu ta, bạn bè ta hay để lại cho muôn đời sau?

Bây giờ chúng ta phải trở lại ba câu hỏi lúc ban đầu. Ta là ai? Ta để lại gì? Ta để lại cho ai? Trả lời được ba câu hỏi đó ta sẽ thấy khỏe nhẹ. Mỗi người phải tự đặt những câu hỏi đó cho mình. Sanh ra là sự biểu hiện. Chết đi là ẩn tàng. Có thể chúng ta nghĩ rằng trước khi sanh ra mình chưa có, và sau khi chết đi mình không còn nữa. Quan điểm đó gọi là đoạn kiến. Trước khi sanh mình chưa có, sau khi sanh mình bắt đầu có, rồi khi chết đi mình trở lại không có. Như vậy là mình bị kẹt vào cái thấy gọi là hữu vô, đoạn kiến.

Ví dụ điểm S là thời gian tôi bắt đầu sinh ra và tôi sẽ chết đi vào điểm T. Trước điểm S tôi không có, bắt đầu từ điểm S trở đi tôi có, sau điểm T tôi lại không có. Từ không trở thành có, từ trở thành không. Đó là quan điểm của rất nhiều người, trong đó có một số nhà khoa học. Trong bài thơ “Bài ca dị hóa” trong tập thơ Rừng phong, Vũ Hoàng Chương cũng có đặt câu hỏi đó và  đã bắt đầu thấy được vấn đề.

“Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mãi chưa vừa
Hai chữ có không mầu nhiệm

Đêm đêm ta hỏi người xưa”.

Tác giả chưa thỏa mãn được sự khao khát hiểu biết của mình nên thao thức muốn đi tìm kiếm về ý nghĩa của chữ “” và “không”. “Hai chữ có không mầu nhiệm. Đêm đêm ta hỏi người xưa” Người xưa tức là cổ nhân đã có kinh nghiệm, đã từng sống qua, đã từng có tuệ giác rồi. Tuệ giác đó đã được ghi chép lại trong kho tàng kinh sách của đạo Nho. Đêm đêm thắp đèn lên đọc sách của người xưa, xem kinh nghiệm của họ để giải quyết vấn đề “có – không”. Đó là bốn câu đầu của bài “Bài ca dị hóa”. Chúng ta cũng nên tìm đọc bài thơ đó cho vui. Trong bài đó cũng có mấy câu rất hay.

“Biển đông mờ mịt không mà có

Hay có mà không dị biểu ơi”

Có một câu mà mình phải nhớ là “Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”. Thấy em bé 19 tuổi chết đuối vì đi bơi hồ, ta tưởng là ngày hôm qua em có mà hôm nay tự nhiên không có. Đâu thể từ có mà trở thành không một cách dễ dàng như vậy được. Vì vậy đặt câu hỏi: Từ cái “không” có thể trở thành cái“có” được hay không? Hoặc từ cái “có”có thể trở thành cái “không” được hay không? Đó là câu hỏi rất thông minh. Nếu quan sát kỹ ta sẽ thấy được rằng không bao giờ từ “không” mà trở thành “” và cũng không bao giờ từ “” mà trở thành “không”.

Ví dụ đám mây bay trên trời có phải từ không trở thành có không? Đứng về phương diện khoa học mà xét thì đám mây không phải từ không mà trở thành có. Vì trước khi là đám mây thì nó đã là những cái khác rồi. Nó là hơi nóng, là nước hồ, nước sông… Vì vậy ta không thể nói rằng đám mây từ “không” mà trở thành “có”. Đám mây chẳng qua là sự tiếp tục mà thôi. Thế nên ý niệm về “không” và “” cần phải  được xét lại. Ngày hôm qua có mưa dông, nhìn lên trời ta không thấy đám mây nữa, như vậy đám mây có thể từ “có” trở thành “không” được không? Không thể nào được, đám mây không thể chết được, không thể nào trở thành không được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa, trở thành sông ngòi, ao hồ. Đám mây không thể trở thành “không” được. Thi sĩ đã đặt câu hỏi rất thông minh “đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay?” Chính nhờ câu hỏi đó mà sau này tác giả có thể thức tỉnh lại được, thấy được đạo lý vô sinh và bất diệt.

Chúng ta là những người có cơ hội tiếp xúc với giáo lý mầu nhiệm của đạo Bụt. Chúng ta có cơ hội ngồi thiền, đi thiền, tại sao ta không dùng thời gian đó để quán chiếu sâu sắc mà cứ tiếp tục làm nạn nhân cho sự sợ hãi, làm nạn nhân cho con người sai lầm về  ý niệm“có” và “không”. Em bé hôm qua hỏi sau khi chết thì điều gì sẽ xảy ra. Ta có thể trả lời cho bé không? Vì khi 12 tuổi, có thể mình cũng đã bắt đầu có những thắc mắc như vậy. Khi em bé thấy một con chim chết, không còn bay, không còn hót nữa, bé liên tưởng đến bản thân và đặt hỏi điều gì xảy ra khi mình chết? Có phải mình từ “có” trở thành “không” hay không? Ta phải đặt câu hỏi đó để quán chiếu. Tại sao em bé 12 tuổi có nhu yếu đó mà ta là người lớn lại không có nhu yếu đó? Tại sao ta lại để cho mình bận rộn suốt ngày từ chuyện này sang chuyện khác mà không có thời gian để quán chiếu? Chúng ta để cho những buồn vui nho nhỏ lôi kéo làm mất hết ngày, hết tháng, hết cả cuộc đời ta.

Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”. Một câu hỏi như vậy thôi, cũng đủ cho chúng ta thấy được bản chất vô sinh bất diệt của chúng ta mà vượt thoát sợ hãi. Chúng ta biết rằng hôm nay mình phải làm gì để hiến tặng cái đẹp nhất cho đời. Đức Thế Tôn đã chỉ cho ta một con đường, một phương pháp quán chiếu để đừng bị kẹt vào ý niệm sinh và tử, có và không, ngã và phi ngã.  Lúc đó thi sĩ Vũ Hoàng Chương nghĩ rằng mình có một cái ngã. Cái ngã đó có thể không dính líu gì đến cuộc đời. Nhưng khi quán chiếu sâu sắc ta thấy rằng cái gì cũng liên quan mật thiết với tất cả những cái khác mà không có một cái ngã tồn tại biệt lập.

Ta để lại chính ta trong cuộc đời này

Chúng ta thường có ý nghĩ rằng mình để lại cho đời một đứa con. Ví dụ như chú Thư và chị Hạnh Hương để lại Bảo Tích; và rồi mình hỏi anh chị để lại cho ai? Để lại cái gì? Để lại Bảo Tích. Để lại cho Sư Ông. Nhưng sự thực là mình để lại chính mình. Con của mình chính là sự tiếp nối của chính mình. Quý vị không cần phải làm đám cưới mới có con. Chúng ta có con trong từng giây từng phút. Mỗi giây phút ta đều suy nghĩ, tư duy. Những tư tưởng của chúng ta có thể là hận thù, độc hại, oán hờn, đen tối… và như thế mỗi giây phút hằng ngày ta đều để lại những thứ đó. Tuy nhiên ta cũng có thể để lại những tư tưởng đẹp đẽ như những ý tưởng tràn đầy lòng yêu thương và sự hiểu biết đó gọi là chánh tư duy, là tặng phẩm ta hiến tặng cho đời. Nói là hiến tặng cho đời nhưng sự thực là hiến tặng cho ta.

Những tư tưởng mà ta phát ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày là ý nghiệp của ta, là sự tiếp nối của ta, là con của ta. Đó chính là chúng ta. Những câu nói mà mình phát ra cũng là những hiến tặng của chúng ta trong giây phút hiện tại. Nó là con của chúng ta và nó sẽ tiếp nối ta đi về tương lai. Những hành động trong đời sống hằng ngày của mình cũng vậy, nếu là sát, đạo, dâm thì hành động đó là sự tiếp nối xấu xa của chúng ta. Đó cũng là quà tặng của ta cho chính ta và cho cuộc đời. Vì vậy trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, ta đều hiến tặng những hành động của thân, khẩu, ý. Đó là con, là gia tài của ta, ta không thể nào tránh thoát được.

Trong kinh cũng có dạy là khi chết chúng ta đem theo tất cả những nghiệp thân, khẩu, ý của mình. Đó là sự tiếp nối của mình. Những nghiệp đó nếu đẹp thì ta đem theo cái đẹp, nếu xấu thì ta đem theo cái xấu. Những điều ta suy tư, nói năng và hành động không mất đi đâu cả, chúng tiếp nối ta dài dài. Sau khi chết ta không đem theo gia sản, danh vọng, quyền hành hay địa vị… mà đem theo tất cả nghiệp của ta. Khi chết, tôi sẽ không đem theo được gì hết ngoài những nghiệp của ta. Nghiệp đó có thể là nghiệp tốt hoặc nghiệp xấu. Vì vậy những gì mình đang suy tư, nói năng, hành động là gia tài mà sau này mình sẽ đem theo. Đó là mình. Bảo Tích chẳng qua chỉ là một trong những thứ mình hiến tặng thôi, mình còn hiến tặng những thứ khác nữa trong đời sống hằng ngày. Vì ngày nào mình cũng tư duy, nói năng, hành động. Đó là tác phẩm của mình, là con của mình, là chính mình.

Khi tôi dạy cho một sư cô hay một sư chú, tôi trao truyền cho sư cô, sư chú đó những gì mà tôi nghĩ là đẹp nhất, hay nhất của tôi. Tức là tôi hiến tặng chính tôi, tôi để lại chính tôi cho cuộc đời. Tôi không nói như thi sĩ là không muốn dính líu gì tới cuộc đời. Vì cuộc đời là chính mình. Tất cả những gì mình nói, làm, suy nghĩ đều là để đầu tư vào tương lai. Mình thấy được sư cô, sư chú là sự tiếp nối của mình. Vì vậy trong giây phút hiện tại mình phải làm thế nào để những gì mình để lại là những cái đẹp, lành và tốt. Mình không muốn để lại những cái gì xấu xa, hận thù, nhỏ mọn, đen tối. Nếu lỡ trong quá khứ chúng ta đã để lại những điều tiêu cực xấu xa, đen tối, hận thù và chúng đã lên đường rồi làm sao ta chạy theo kịp để sửa nó, để kéo nó về?

Lời nói một khi đã phát ra thì xe bốn ngựa cũng không chạy theo kịp để đem nó về lại cho mình “tứ mã nan truy”. Vì vậy ta phải cẩn thận. Một tư tưởng đã phóng đi, thì dù máy bay trực thăng cũng không đuổi kịp để kéo nó lại.Vì vậy ta phải cẩn thận trong từng giây, từng phút đối với tư duy, ngôn ngữ, hành động của ta. Làm thế nào để ta có thể cải biến được nghiệp xưa? Chúng ta có một nẻo thoát. Cũng giống như ta fax cho người bạn một tờ fax, trong bản fax đó vì tư duy sai lầm, nên mình đã lên án, la mắng, trách móc người bạn đó, và mình biết rằng tờ fax đó sẽ gây ra những đổ vỡ trong lòng mình và bạn. Vì vậy mình viết một tờ fax thứ hai để xin lỗi, để trung hòa tờ fax ban đầu. Mình nói rằng trong giây phút hấp tấp, giận dỗi, mình đã phát ra những tư tưởng, lời nói như vậy, mình rất xấu hổ, mình xin bạn tha thứ cho mình. Tờ fax thứ hai sẽ trung hòa hóa được trình trạng trong quá khứ của mình, mình có thể chuyển đổi nghiệp bằng cách đó.

Trong chúng ta ai mà không có những lầm lỗi trong quá khứ; ta đã nghĩ, nói, làm những điều không có giá trị, những điều không có chất liệu của hiểu biết và thương yêu. Tuy nhiên chúng ta vẫn đang còn đây, chúng ta có cơ hội và có khả năng làm mới trở lại. Khi làm mới chúng ta có thể chuyển đổi được tất cả. Hay như vậy đó! Đạo Bụt mở ra cho chúng ta những hướng đi rất mầu nhiệm. Chúng ta có thể ôm được quá khứ, có thể thay đổi được quá khứ bằng cách hành xử của chúng ta trong giây phút hiện tại. Bắt đầu quán chiếu là ta đã thấy được vấn đề “ta là ai?” “Ta đã để lại gì?”

Ta có thể nói ta là cuộc đời, ta được làm bằng những yếu tố không phải là ta; ta được làm bằng tổ tiên, cha mẹ, ông bà, đất nước, giáo dục, kinh tế, xã hội. Ta là như vậy. Rất khoa học. Ở đây không mang tính chất siêu hình. Khi nhìn vào bản thân với con mắt quán chiếu ta thấy được rằng ta là sự tiếp nối của cha mẹ, tổ tiên, ông bà, của nền văn hóa dân tộc, văn hóa thế giới, của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội… Ta có thể thay đổi ta, để có thể cống hiến cho tương lai những cái đẹp hơn mà ta đã tiếp nhận. Ta có thể làm hay hơn cha mẹ, tổ tiên. Đó là nhờ Pháp của Bụt. Cha mẹ, tổ tiên trong ta sẽ rất hài lòng về ta. Đó là câu trả lời cho câu hỏi đầu “ta là ai?” Không phải siêu hình gì cả, rất rõ ràng và khoa học. Ta là cha mẹ, tổ tiên, ông bà, xã hội. Ta có thể chuyển hóa ta để làm cho ông bà, cha mẹ, và tổ tiên ta đẹp hơn.

Câu hỏi thứ hai “ta để lại gì ?” Câu trả lời là không nên kẹt vào lưỡng nguyên, có người để lại và vật để lại. Người để lại và vật để lại là một, ta để lại chính ta trong cuộc đời này. Cũng như chúng ta nói cha mẹ trao truyền hình hài này cho mình. Cha mẹ là người trao truyền, hình hài này là vật trao truyền và mình là người tiếp nhận hình hài này. Trong sự trao truyền có ba yếu tố: người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp nhận sự trao truyền. Đức Thế Tôn đã dạy rất rõ ràng là ba yếu tố đó không có thực thể riêng biệt. Khi nhìn sâu vào vật trao truyền ta thấy người trao truyền là cha mẹ. Cha mẹ trao tuyền chính con người cha mẹ cho mình, vì trong mỗi tế bào cơ thể mình ta thấy được sự có mặt của cha mẹ với tất cả khổ đau và hạnh phúc của cha mẹ. “Ta còn để lại gì không?". Có. Ta để lại ta một cách toàn vẹn với tất cả thân, khẩu, ý của ta. Ta trao lại cho Bảo Tích nhưng ta cũng trao lại cho cuộc đời. Bảo Tích cũng là ta, cuộc đời cũng là ta. Thành ra người trao truyền và vật trao truyền không phải là hai thực thể cách biệt, người tiếp nhận trao truyền cũng đồng thời là vật trao truyền và người trao truyền. Bảo Tích là chú Thư, là chị Hạnh Hương, là ông nội, ông ngoại… Đó là sự tiếp nối.

Trao truyền cũng cần phải có nghệ thuật. Làm thế nào để ta chỉ trao truyền những cái đẹp mà đừng trao truyền những cái xấu. Như thế chúng ta sẽ có một tương lai tươi sáng. Vì vậy khi thấy được giáo lý Tam luân không tịch này thì ta bắt đầu trả lời đúng câu hỏi mà ta nêu ra lúc đầu: Ta là ai? Ta trao truyền gì? Ai là người tiếp nhận sự trao truyền? Ta thấy ba cái đó không phải là ba cái tách biệt nhau. Thấy được điều đó, ta sẽ vượt thoát ý niệm ta từ “không” mà trở thành “có” và từ “có” trở thành “không”.

Ta thấy bài này là một lời mời mọc. Nếu giảng hết bài này thì không đủ thời gian đi thiền hành, đi picnic nên mình phải chấm dứt tại đây. Đây là sự mời mọc để quý vị đặt lại ba câu hỏi. Nếu đặt được ba câu hỏi này rồi thì con đường trước mặt mình rất xán lạn. Quý vị biết mình phải làm gì ngày hôm nay và không còn có cảm giác là con đường phía trước mờ mờ, ảo ảo và mình không biết đi về đâu. Con mắt mình được mở ra và mình biết sống như thế nào cho có nghệ thuật, có hạnh phúc để mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình có thể hiến tặng được cho mình, cho tổ tiên, cho con cháu mình những gì đẹp nhất mà mình có thể hiến tặng dưới ba dạng tư duy (chánh tư duy), lời nói (chánh ngữ) và hành động (chánh nghiệp). Đó là ba then chốt của con đường Bát chánh đạo.

Ngắt một cành hoa làm bút yêu thương

Vũ Hoàng Chương bị đi học tập cải tạo, phải can thiệp lắm mới được thả ra. Khi thả ra thì ông rất ốm yếu, sức khỏe không còn nữa. Từ Pháp chúng tôi đã gởi thuốc, quà cho bà Vũ Hoàng Chương để có thể nuôi ông trong trại học tập cải tạo. Tất cả chúng ta – những người Phật tử, từng tham dự trong cuộc tranh đấu chống lại chế độ độc tài để khơi mở, bồi dưỡng tình huynh đệ, đều thấy rằng Vũ Hoàng Chương với tư cách một thi sĩ đã đóng góp rất nhiều cho cuộc tranh đấu đó. Những lời thơ ông nói ra thấm nhuần Phật Pháp và không mang chất liệu của hận thù.

Nếu có cơ hội mình sẽ đọc thêm vài bài nữa của Vũ Hoàng Chương. Khi nghe tin Vũ Hoàng Chương mất, Thầy có làm một bài thơ, Thầy dùng những danh từ trong thơ của Vũ Hoàng Chương để ca ngợi Vũ Hoàng Chương giờ phút chót đã thấy được đạo, biết được con đường trở về, đã để lại cho đời rất nhiều cái đẹp, biết ngắt một cành hoa làm bút yêu thương viết lên những bài thơ tràn đầy tính chất bất bạo động và lòng thương yêu:

 

“Đêm này dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn cứ luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tĩnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào cũng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn”.

Thông điệp thương yêu của NS. Trịnh Công Sơn

Phiên tả từ pháp thoại của Thầy Làng Mai ngày 01-02-2004 tại tu viện Lộc Uyển


 

Hôm nay chúng ta sẽ được nghe quý thầy, quý sư cô hát nhạc Trịnh Công Sơn. Bây giờ mời đại chúng nghe Sư cô Chân Không hát bài Nắng Thủy Tinh.

“Màu nắng hay là màu mắt em, mùa thu mưa bay cho tay mềm, chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm, rồi có hôm nào mây bay lên (…) ngàn cây thắp nến nến hai hàng, để nắng đi vào trong mắt em”.

Mẹ - TCSTrịnh Công Sơn sinh năm Kỷ Mão, 1939. Thân phụ là một người yêu nước, đã tham gia kháng chiến chống Pháp nên đã bị cầm tù nhiều năm ở Lao Thừa Phủ, vì vậy Trịnh Công Sơn được tiếp nhận hạt giống yêu nước và dũng cảm từ ba mình.

Sở dĩ Trịnh Công Sơn dám nói những gì mình nghĩ qua những bài hát ông sáng tác là nhờ Trịnh Công Sơn có sự can đảm, có lòng yêu nước, yêu dân. Có nhiều người cũng có cùng cảm nghĩ như Trịnh Công Sơn nhưng không dám nói ra. Thế nên có những bài hát của ông được gọi là phản chiến, phản chiến nhưng kỳ thực không phải là phản chiến. Những lời nói của ông là những lời nói rất trung thực. Thấy những người anh em của mình, anh em miền Nam cũng như miền Bắc, chết mỗi ngày, Trịnh Công Sơn rất đau khổ nên đã nói ra sự thực đó.

Yêu nước, yêu dân, can đảm, đó là những hạt giống chúng ta có thể nhận thấy trong Trịnh Công Sơn. Trong mỗi con người chúng ta cũng vậy, cũng có hạt giống yêu nước thương dân. Vì vậy nghe Trịnh Công Sơn, chúng ta có cảm nhận như Trịnh Công Sơn đang nói dùm cho ta.

Mẹ của Trịnh Công Sơn là một người mẹ kiểu mẫu, một phật tử rất thuần thành, đi chùa thường xuyên, có lòng từ bi rất lớn, đã chịu đựng bao nhiêu khó khăn, gian khổ để nuôi con. Thân phụ của Trịnh Công Sơn bị tai nạn mất năm Trịnh Công Sơn mới 15 tuổi,  bà phải một mình vừa làm cha, vừa làm mẹ nuôi tám đứa con. Đã có rất nhiều người đàn bà đi ngang qua cuộc đời của Trịnh Công Sơn, nhưng không có ai ở lâu với Trịnh Công Sơn cả, chỉ có một người duy nhất ở lâu với Trịnh Công Sơn đó là mẹ ông. Trịnh Công Sơn luôn luôn quay về nương tựa mẹ, một tình mẫu tử rất bền bỉ. Lớn rồi mà vẫn thấy mình là đứa con nít cần có mẹ. “Mẹ bỏ con đi, mẹ bỏ con bơ vơ một mình”. Trịnh Công Sơn có lần than thở, có lần ký thác tâm sự của mình rằng đứng trước một xác chết, một thây người vừa ngã xuống vì súng đạn, Trịnh Công Sơn không nghĩ đó là ta hay địch, cộng sản hay quốc gia. Trịnh Công Sơn chỉ biết đó là một người đồng bào, một người anh em vừa mới chết, là nạn nhân của một cuộc chiến tranh thảm khốc vô nghĩa. Đây là nguyên văn của Trịnh Công Sơn:

“Khi tôi đứng bên một xác người, tôi không nghĩ đó là ta hay là địch, mà đó là một thân phận chịu đựng sự vô nghĩa của chiến tranh”.

Thấy người nào chết cũng thương hết vì người nào cũng là đồng bào của mình. Hát và nói ra như vậy rất nguy hiểm. Chúng tôi cũng đã làm những bài thơ như vậy,  những bài thơ nói về kháng chiến, nói về sự vô lý của chiến tranh và nói rằng anh em một nhà không nên bôi mặt đá nhau. Những bài thơ đó được xuất bản trước những bản nhạc của Trịnh Công Sơn vài năm, được đăng trên các tờ báo Hải Triều Âm và Thiện Mỹ nhưng người ta gọi đó là thơ phản chiến. “Anh nhân danh ai, em nhân danh ai, mà giết nhau?” và tôi kêu gọi hai bên đều trở về quỳ dưới chân mẹ sám hối. Những bài thơ đó, nếu quý vị muốn đọc lại thì tìm trong cuốn “Thơ Từng Ôm Và Mặt Trời Từng Hạt”.

Mẹ của Trịnh Công Sơn đã trao cho Trịnh Công Sơn những hạt giống rất lành và rất đẹp, đầy tình người, đầy tình thương yêu. Trịnh Công Sơn là người thực tập giới thứ nhất rất tốt, bởi vì nhận thức của Trịnh Công Sơn về sinh mạng con người rất phù hợp với nhận thức của Đức Thế Tôn. Trịnh Công Sơn nói rằng không ai có quyền quyết định sinh mạng của con người, không ai có quyền cho người này chết hay người kia sống. Tôi xin đọc nguyên văn của Trịnh Công Sơn để quý vị có thể thấy rõ điều này:

“Chúng ta là một con người, chúng ta không phải là thượng đế, chúng ta không có quyền định đoạt số phận của người khác. Ta không thể nói người này đáng được sống, người kia đáng giết. Mình không có quyền cho phép ai chết cả, ngay cả giải quyết số phận của một ngọn cỏ cũng phải suy nghĩ, ngắt đi một bông hoa bên vệ đường cũng phải suy tư, huống chi số phận con người quá lớn và chúng ta không có quyền quyết định số phận con người”.

Đó là giới thứ nhất, bảo vệ sinh mạng. Lời nói này là lời nói của Bụt, của Đức Thế Tôn. Trịnh Công Sơn đã đại diện Đức Thế Tôn để nói lên điều này. Vì vậy Trịnh Công Sơn không tham dự vào cuộc chiến, đó cũng là chuyện đương nhiên. Hạt giống của nhân ái, của từ bi mà mẹ nhạc sĩ đã trao cho nhạc sĩ được thấy rất rõ trong những bài hát của Trịnh Công Sơn. Những bài hát chuyên chở lòng nhân ái và tình người đó, chúng ta có thể hát để tưới tẩm hạt giống từ bi và để làm tan rã những chất liệu hận thù trong ta. Những bài hát củaTrịnh Công Sơn nói về tình người giống như những bài kinh mà ta có thể tụng được. Tôi bắt đầu thương Trịnh Công Sơn khi nghe Khánh Ly hát bài Tình ca của người mất trí.

“Tôi có người yêu chết trận Plei-me
Tôi có người  yêu ở chiến khu "Đ"
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới
Tôi có người yêu chết trận Chu Prong
Tôi có người yêu bỏ xác trôi sông
Chết ngoài ruộng đồng
Chết rừng mịt mùng mình cháy như than…”

Người yêu, người thiếu nữ đó là ai? Là bất cứ người nào. Họ là người Nam. Họ là người Trung, tất cả đều là người yêu của tôi và họ chết thì tôi điên. Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam và tình yêu này là tình yêu đối với một người, mà cũng là tình yêu chung cho cả dân tộc. Nghe bài này chúng ta thấy rất rõ, rằng người yêu trong bài hát đó là tất cả những người con trai Việt Nam, những người con trai sinh ra ở miền Bắc, những người con trai sinh ra ở miền Nam, và những người con trai sinh ra ở miền Trung. Vì cuộc chiến tương tàn mà những người này phải chết, thế nên ta thương hết tất cả những người này, vì tất cả là người yêu của mình.

Thiền là chánh niệm, chánh niệm là khả năng nhận biết những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Có những người muốn làm lợi trên chiến tranh, có những người muốn bưng bít sự thật đang xảy ra, sự thật đang xảy ra là anh em một nhà đang giết nhau, thảm kịch đang xảy ra cho đất nước, mà chúng ta không được phép nói lên. Khi Trịnh Công Sơn hát lên và nói lên niềm đau đó của dân tộc, của  người trẻ tức là Trịnh Công Sơn đang thực tập thiền, “anh có biết, chị có biết những gì đang thực sự xảy ra không?” Đó là những chuyện ta đang giết nhau. Chúng ta đang chết vì một cuộc chiến tranh, chiến tranh vì ý thức hệ với vũ khí của ngoại ban. Lời hát đó một mặt nói lên được lòng yêu nước, yêu dân, một mặt nói lên được sự can trường của nhạc sĩ, nói lên được lòng từ bi và ý nguyện bảo vệ sự sống, bảo vệ giống nòi. Đó là hạt giống tốt mà Trịnh Công Sơn đã tiếp nhận từ ba và từ mẹ.

Nếu biết ơn Trịnh Công Sơn đã viết cho mình những bài ca rất đẹp đó thì mình phải biết ơn ba mẹ Trịnh Công Sơn. Bởi vì chúng ta, người nào cũng có cội nguồn, gốc rễ và cội nguồn, gốc rễ của chúng ta là ba mẹ, ông bà chúng ta. Chúng ta thấy rằng tình yêu trong bản tình ca đó, không phải là một cá nhân, mà cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã ngã gục trong chiến tranh ý thức hệ, rất tàn ác. Năm 15 tuổi, thân phụ Trịnh Công Sơn bị tai nạn chết, tất cả mọi người đều lên chùa Phổ Quang để làm lễ cầu siêu, thầy trụ trì chùa Phổ Quang hồi đó là hòa thượng Chánh Pháp. Hòa thượng là một vị kinh sư nổi tiếng ở Huế, tụng kinh rất hay, âm nhạc Phật Giáo rất giỏi. Có nhiều ngày, vì nỗi đau mất cha, Trịnh Công Sơn đã ở luôn trong chùa từ sáng đến tối. Ở lại chùa nghe kinh, kệ và gần gũi quý thầy cho niềm đau lắng xuống. Chùa Phổ Quang ở gần Bến Ngự và nhà của Trịnh Công Sơn cũng ở gần đó, nên Trịnh Công Sơn thường thích qua chùa.

Trịnh Công Sơn cũng đã quy y với Hòa thượng chùa Phổ Quang với pháp danh là Nguyên Thọ. Nguyên là suối nguồn, Thọ là  trao truyền, được trao truyền từ suối nguồn. Trao truyền cái gì? Trao truyền lòng nhân ái, từ bi và dũng cảm. Nếu không thấy được gốc rễ của Trịnh Công Sơn thì chúng ta chưa thấy Trịnh Công Sơn một cách sâu sắc. Bổn sư của Trịnh Công Sơn là Hòa thượng Chánh Pháp. Hòa thượng là người quen của thầy Nhất Hạnh. Làng Mai chúng ta cũng có một cuốn băng tụng kinh của Hòa thượng tụng với sư anh của thầy Nhất Hạnh là Thượng tọa Chí Niệm ở chùa Linh Mụ và trong cuốn băng ấy có cả công phu sáng mà hầu hết quý thầy, quý sư cô Làng Mai đều đã được nghe. Tiếng của hai thầy rất hay. Chắc chắn Trịnh Công Sơn đã nghe quý thầy tụng rất nhiều lần, và âm nhạc của kinh kệ đã đi vào trong máu huyết củaTrịnh Công Sơn, cho nên sau này âm nhạc của Trịnh Công Sơn có âm hưởng của kinh kệ.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người bạn rất thân của Trịnh Công Sơn kể lại rằng Trịnh Công Sơn cũng hay tới Chùa Hiếu Quang. Quý vị có biết chùa Hiếu Quang là chùa nào không? Chùa Hiếu Quang là chùa có vị kinh sư rất giỏi mà tiếng tụng kinh của ngài có thể nói là hay bậc nhất ở Huế, đó là một trong ba vị kinh sư nổi tiếng nhất ở Huế, có giọng tụng cao nhất. Bây giờ ta cũng đang có cuộn băng những bài xướng, tán, tụng và  hô canh của hòa thượng Hiếu Quang. Trịnh Công Sơn cũng đã được nghe hòa Thượng Hiếu Quang tán tụng.

Hôm qua Ni sư Như Minh có điện thoại về Huế, thượng tọa Phước Toàn và thượng tọa Hải Ấn cho biết vào khoảng năm 1955 đến 1958 Trịnh Công Sơn đi chùa rất nhiều. Nhiều khi ở luôn trong chùa và ngủ lại qua đêm. Thường là lên chùa Hiếu Quang và chùa Phổ Quang. Lúc đó hòa thượng Hiếu Quang có mở một lớp dạy tán tụng tại chùa Phổ Quang và Trịnh Công Sơn đã tham dự vào lớp học đó, đã học tụng kinh và học tán với hòa thượng Hiếu Quang và Bổn sư của mình. Theo thượng tọa Huệ Ấn, đương kim trụ trì chùa Phổ Quang, là đệ tử thầy Chánh Pháp, cho biết tuy thầy Huệ Ấn là người xuất gia nhưng là em của Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn tuy là cư sĩ nhưng là anh đồng sư của thầy Huệ Ấn vì Trịnh Công Sơn quy y trước.

Trịnh Công Sơn thông minh và có năng khiếu tán tụng. Trong khi cùng học chung với các sư chú khác, các sư chú tán chưa được thì Trịnh Công Sơn đã tán được rồi, Trịnh Công Sơn học rất mau. Vì thế ta biết rằng Trịnh Công Sơn nắm được kỹ thuật tán tụng từ trong nhà chùa. Thượng tọa Chân Thức (ngày xưa là thị giả của đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết) Thượng tọa Phước Toàn, Thượng tọa Huệ Ấn cũng đã từng chơi với Trịnh Công Sơn. Điều này chứng tỏ Trịnh Công Sơn đã được nuôi dưỡng nhiều ngày, nhiều năm trong không khí thiền môn và cũng đã nghe âm nhạc Phật giáo rất nhiều.

Có rất nhiều bản nhạc của Trịnh Công Sơn vừa có thể hát được vừa có thể tụng được. Giữa âm nhạc của nhà chùa và âm nhạc Trịnh Công Sơn có một sự tiếp nối rất lạ kỳ. Chúng ta sẽ nghe tụng bài “Quy y Phật” bằng chữ Hán, rồi nghe tụng bài “quay về nương tựa” bằng tiếng Việt và sau đó nghe tụng bài “Đại bác ru đêm”, ta sẽ thấy được đều đó. Hôm nay Trịnh Công Sơn đang có mặt với chúng ta, đang tu với chúng ta, đang nghe pháp thoại với chúng ta.

“Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người  phu quét đường dừng chổi đứng nghe,
Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy
Đại bác qua đây con thơ buồn tủi
Nửa đêm sáng chói, hỏa châu trên núi
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe
Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình
Hầm trú tang hoang ôi da thịt vàng
Từng đêm trông sáng, làm mát quê hương
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe
Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng
Đại bác như kinh không mang lời nguyền
Trẻ thơ quên sống từng đêm nghe ngóng
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe .
Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng
Đại bác nghe quen như câu dạo buồn
Trẻ thơ chưa lớn để thấy quê hương .
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt nam cháy đỏ cuối thôn.
Hàng vạn chuyến xe claymore, lựu đạn ,
Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành
Từng vùng thịt xương có mẹ có em”.

Trong truyền thống đạo Bụt, chúng ta được học rằng, trong tâm thức có nhiều hạt giống. Chúng ta có hạt giống của thương yêu, của tha thứ, của hy vọng, nhưng chúng ta cũng có những hạt giống của giận hờn, của tuyệt vọng, của khổ đau. Những bài kinh có tác dụng tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp, hạt giống hiểu biết, hạt giống thương yêu. Một số bài hát của Trịnh Công Sơn cũng có tác dụng tưới tẩm những hạt giống hiểu biết và thương yêu trong ta và những bài hát đó người tu có thể hát được.

Trịnh Công Sơn có rất nhiều tuệ giác của đạo Bụt. Nghe cho kỹ, chúng ta có thể nhận diện được tuệ giác đó trong nhạc Trịnh Công Sơn. Ở Làng Mai chúng ta thực tập an trú trong giây phút hiện tại, không để tâm buồn khổ về những chuyện quá khứ, không để tâm lo lắng về những sợ hãi trong tương lai. Bụt dạy chúng ta trở về giây phút hiện tại để sống với giây phút đó cho sâu sắc. Giáo lý đó gọi là hiện pháp lạc trú. Trong giây phút hiện tại có đủ những mầu nhiệm của sự sống, nếu chúng ta biết trở về với sự sống hiện tại thì chúng ta có thể tiếp xúc được với sự sống và chúng ta được nuôi dưỡng bằng sự sống đó. Nhờ vậy chúng ta có đủ bình an và vững chãi để chuyển hóa được những nỗi khổ, niềm đau trong ta. Trịnh Công Sơn cũng có được tuệ giác này. Tuệ giác của hiện pháp lạc trú. Đức thế Tôn luôn luôn khuyên chúng ta trở về sống với giây phút hiện tại mà đừng đi tìm hạnh phúc ở tương lai. Hạnh phúc đã có mặt sẵn trong giây phút hiện tại rồi.

Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo, phóng viên hỏi Trịnh Công Sơn thế nào về chủ nghĩa hiện sinh, Trịnh Công Sơn nói: “hiện sinh chân chính không phải là xấu”. Hiện sinh có nghĩa là phải để ý tới giây phút hiện tại. Hiện là bây giờ, sinh là sự sống, sự sống trong giây phút hiện tại. Trịnh Công Sơn nói rằng“ Bụt là nhà hiện sinh” vì Ngài khuyên chúng ta trở về sống với giây phút hiện tại, và Bụt Thích Ca là bậc thượng thừa, bậc thượng thừa của chủ nghĩa hiện sinh. Đây là nguyên văn của Trịnh Công Sơn:

“Hiện sinh chân chính đâu phải là xấu, mình cho rằng bậc thượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật. Tại vì Phật dạy ta phải thức tỉnh trong từng sát na của cuộc sống”.

Trịnh Công Sơn đã đưa ra ví dụ là khi tôi và anh uống một ly bia , thì chúng ta hãy hưởng trọn vẹn sự sung sướng của ly bia, hoặc khi ăn cơm mình hãy tập trung vào chén cơm và thức ăn đưa vào miệng. Tức là ăn cơm có chánh niệm, có ý thức; nghĩa là khi ăn chỉ nghĩ đến chuyện ăn thôi mà đừng nghĩ đến chuyện khác. Thực tình, khi con người tỉnh thức trong từng sát na một thì chủ nghĩa hiện sinh không còn là gì cả. Sống nếp sống tỉnh thức trong từng giây phút là điều Trịnh Công Sơn hướng tới. Người này sống bình tĩnh trong từng sát na chứ không sống vội vàng. Chúng ta thấy rằng Trịnh Công Sơn đã nắm được giáo lý hiện pháp lạc trú.

Có điều, Trịnh Công Sơn không có tăng thân cho nên Trịnh Công Sơn không được bảo hộ và sống đúng theo tuệ giác này. Mặc dù có tuệ giác nhưng bạn bè cứ mời đi uống rượu, mời đi chơi hằng ngày thì làm sao sống được với tuệ giác ấy. Chúng ta thật may mắn là chúng ta làm được những gì mà Trịnh Công Sơn muốn làm. Ông đã đưa được tuệ giác này vào trong bài hát “ Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”.

“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Tôi nhặt gió trời, mời em giữ lấy
Để mắt em cười tựa lá bay.
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời,
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi.
Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi
Đường đến anh em, đường đến bạn bè
Tôi đợi em về, bàn chân quen quá
Thảm lá me vàng lại bước qua.
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Cùng với anh em tìm đến mọi người
Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát
Để thấy tiếng cười rộn rã bay.
Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi
Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời,
Tôi chọn nắng đầy, chọn cơn mưa tới
Để lá reo mừng tựa vẫy tay.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên,
Nhìn rõ quê hương và nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.”

Nếu sống được như tuệ giác của bài hát này thì chúng ta có khả năng mang lại hạnh phúc cho rất nhiều người. Cho nên có thể nói Trịnh Công Sơn đã kiến đạo, kiến đạo tức là thấy đạo, thấy con đường để trở về sống sâu sắc từng giây từng phút của cuộc sống hằng ngày. Kiến đạo rồi ta phải tu đạo nữa thì mới chứng đạo được. Muốn tu đạo, phải có tăng thân, có bạn đồng hành cùng có chung tuệ giác với mình. Ba bốn người, năm sáu người bạn quyết tâm sống theo cái thấy này thì chúng ta có hạnh phúc rất rộng lớn và có thể làm chỗ nương tựa cho  nhiều người. Cho nên nếu có khả năng, có điều kiện may mắn, chúng ta nên thành lập một nhóm gồm những người bạn cùng chung tuệ giác, để cùng nâng đỡ nhau, cùng nhau sống theo tuệ giác ấy. Nhóm người đó gọi là tăng thân.

Tăng thân là yếu tố căn bản che chở, bảo hộ, giúp mình có thể sống được với tuệ giác của mình. Mình phải nương vào tăng thân, vào nhóm người đó để có thể sống vui vẻ, hạnh phúc và khi nương vào nhóm người đó thì gọi là quy y Tăng, hay nương tựa Tăng. Trong chúng ta, người nào có tăng thân để nương tựa thì người đó có cơ hội rất lớn để sống với cái thấy của mình. Vì kiến đạo là mới thấy đạo thôi, còn muốn chứng được đạo thì phải tu đạo. Chúng ta rất tiếc là Trịnh Công Sơn không có tăng thân. Có lần Vĩnh Trinh than phiền với bạn: “Anh ơi, anh khuyên anh của em dùm một chút, ảnh uống rượu nhiều quá, sáng giờ là ba chai rồi đó”. Những người kia không khuyên được vì họ cũng là những người uống rượu. Do đó mình cần phải có tăng thân để dìu dắt, nâng đỡ và bảo hộ cho mình. Cho nên quý vị nào có tuệ giác, muốn sống đúng theo tuệ giác của mình, sống vững chãi, thảnh thơi và làm chỗ nương tựa cho người khác thì phải có tăng thân để quay về nương tựa. Người nào chưa có tăng thân thì người đó vẫn mồ côi như thường.

Trịnh Công Sơn có nhiều bạn bè rất nổi tiếng, và tài ba của Trịnh Công Sơn rất được nhiều người thán phục, nhưng Trịnh Công Sơn vẫn cô đơn. Trịnh Công Sơn cũng than thở là có những giờ phút Trịnh Công Sơn rất đau khổ. Dù dưới sân khấu có hàng ngàn thính chúng vỗ tay tán dương, nhưng trên này Trịnh Công Sơn vẫn đau khổ như thường. Thỉnh thoảng Trịnh Công Sơn cũng thấy rằng mình cần rút lui để có sự tĩnh lặng, nhưng Trịnh Công Sơn chưa được học phương pháp thiền tọa, thiền hành, cho nên nhiều khi ông cảm thấy rất cô đơn. Trong tuyển tập những bài ca “không năm tháng” do nhà xuất bản Âm Nhạc ấn hành năm 1998, có một bài của Trịnh Công Sơn mà tôi đọc thấy rất thương. Bài đó nói lên những giây phút đau khổ nhất của Trịnh Công Sơn, những giây phút ấy thường rơi vào trước giấc ngủ.

Tôi thường rơi vào một cơn hôn mê trước giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hốt hoảng thấy mình lơ lững giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thế vồ chụp lấy tôi mỗi đêm khi quanh tôi mọi người đã ngủ yên và tôi đau đớn nhận ra rằng có lẽ cuộc đời đã cho ta lắm ngày bất hạnh”.

Có nhà phê bình nói rằng người tình đầu tiên và cuối cùng của Trịnh Công Sơn là cô đơn, dù Trịnh Công Sơn có nhiều người bạn biết thưởng thức và công nhận tài ba của ông. Chúng ta phải tìm hiểu tại sao Trịnh Công Sơn không giải tỏa được niềm cô đơn đó. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng tình yêu không bằng tình bạn, trong tình yêu không có cái vĩnh cữu. Nói cái tuyệt đối trong tình yêu chẳng qua là phóng đại cho lãng mạn lên thôi, thực sự không có sự tuyệt đối trong tình yêu. Tình yêu sinh ra rồi chết đi, tình yêu đôi khi tạo cho mình những nỗi thất vọng, có khi dẫn đến tuyệt vọng. Trịnh Công Sơn có viết một câu rất ngộ nghĩnh:

“Với tôi trong tình yêu không có sự bất tử, người ta chỉ muốn lãng mạn hóa nó mà thôi. Nhưng tuy như vậy trong sự bất tử có thể có tình yêu.

trinh cong son“Trong tình yêu không có sự bất tử, nhưng trong sự bất tử lại có tình yêu”. Đọc tới đây tôi hiểu liền lập tức. Người yêu đích thực của mình là người có khả năng tháo gỡ được cho mình ra khỏi trình trạng tuyệt vọng, khó khăn. Khi thấy được tính chất đó trong người yêu thì mình biết là trong tình yêu có sự bất tử.

Trịnh Công Sơn nói rằng: “may thay trong đời người ngoài tình yêu còn có tình bạn”. Nói đến Trịnh Công Sơn, chúng ta không thể không nói đến tình yêu. Nhưng Trịnh Công Sơn được nuôi dưỡng bằng tình bạn nhiều hơn và Trịnh Công Sơn có nói rằng sở dĩ Trịnh Công Sơn có viết những bài tình ca hay là nhờ mình bị phụ tình. Đây là lời của Trịnh Công Sơn chứ không phải do tôi đặt ra. “ Cái may ở đời là bị phụ tình”.

Nếu Trịnh Công Sơn không bị cô Diễm cho leo cây thì Trịnh Công Sơn đâu viết được bài “Diễm xưa”, cho nên mình phải cám ơn cô Diễm và những cô khác nữa. Trong chúng ta ai cũng có hạt giống của tình thương yêu, ai cũng khao khát muốn yêu và muốn được yêu. Trong chúng ta lại có những người đã từng bị phụ bạc cho nên bài hát của Trịnh Công Sơn đã ru nỗi niềm đó trong lòng chúng ta, “ Ru ta ngậm ngùi”. Trịnh Công Sơn nói gì về tình bạn? “Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu”. Có một chỗ nào đó Trịnh Công Sơn nói: “Tôi với Khanh Ly giống như hai người bạn trai, chia cho nhau những dĩa cơm, những miếng bánh”. Trịnh Công Sơn được nuôi bằng tình bạn chứ không phải tình yêu. Tình yêu chỉ giúp cho Trịnh Công Sơn viết thành những ca khúc mà thôi. “Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu”.

Trong đạo Bụt chữ Từ Bi là thương yêu bắt nguồn từ chữ Maitri và Karuna (tiếng Phạn). Maitri là Từ, Karuna là Bi. Mà Maitri có nguồn gốc từ Mitra, có nghĩa là bạn. Người yêu của mình phải là bạn mình, phải hiểu mình và mình phải hiểu người đó. Hai người đi như một đôi bạn thì mình mới có hạnh phúc. Nếu hai người không hiểu nhau, không có sự thông cảm nhau, nếu tôi không thể hiểu em, em không thể hiểu tôi thì cái đó có thể tạm gọi là tình yêu, nhưng trong đó không có tình bạn, mà không có tình bạn thì không phải là tình yêu đích thực. Vì vậy ai đang yêu thì nên đặt câu hỏi: “Trong tình yêu này có tình bạn không?” Nếu không có tình bạn thì tình yêu này chưa phải là tình yêu đích thực.

“Tình bạn có bộ mặt thật hơn tình yêu, trong tình bạn sự bội bạc có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu, vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và phục sinh lại một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.”

Tình bạn có công năng cứu chữa. Đúng vậy! Một người bạn có thể cứu chữa cho ta mặc dù đã có lúc ta có rất nhiều lầm lỡ. Dù ta đã sa vào hầm hố của khổ đau, người bạn của ta cũng có thể kéo ta ra khỏi hầm hố đó. Có khi mình nằm trong vực sâu đen tối và người bạn đó tới thả một chiếc thang dài xuống cho ta leo lên vùng chan hòa ánh sáng để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối, tiếng chim. Khả năng cứu chữa đó là tình bạn. Và Đức Bụt Thích Ca cũng có tình bạn, tình bạn rất lớn, tình bạn đó có khả năng cứu chúng ta ra khỏi những trạng huống khó khăn tuyệt vọng. Nếu học theo được tình bạn này thì chúng ta là sự nối tiếp của Đức Thế Tôn, và chúng ta có khả năng đưa cách tay của tình bạn ra để cứu giúp những người khác. Những giờ phút có thể nói là hạnh phúc nhất của Trịnh Công Sơn là giờ phút ngồi với bạn, vì ngồi như vậy thì không cần phải đối phó, không cần phải nói gì, không cần phải làm gì hết. Sự có mặt của bạn bên mình đem đến cho ta sự an ủi, không cần phải giữ gìn, không cần phải đối phó. Nếu anh có một người bạn như vậy thì quá quý. Trịnh Công Sơn có một số người bạn như vậy nhưng sao anh lại cô đơn? Vì giây phút đó ít quá, Trịnh Công Sơn đã nói như thế này:

“Trong âm nhạc có những dấu lặng, tức dấu nghỉ không có âm thanh, nếu không có những dấu lặng đó thì là một tai họa. Âm nhạc mà không có khoảng cách im lặng thì chẳng qua đó là sự rối loạn mà thôi”.

Trịnh Công Sơn nói, khi ngồi bên cạnh một người bạn yên lặng không nói gì hết cũng giống như một dấu lặng trong âm nhạc. Không nói gì mà hay hơn nói. Đoạn đó rất hay, tôi muốn đọc lại cho quý vị nghe:

“Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta sự thoải mái, thảnh thơi tựa hồ như là niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng câu chuyện gắng gượng và nhạt nhẽo”.

Trịnh Công Sơn đã có những giây phút đó, giây phút ngồi với  bạn mà không cần làm gì cả, chỉ để được nuôi dưỡng bằng tình bạn. Tất cả chúng ta đều rất cần tình bạn như vậy. Sự ồn ào làm cho Trịnh Công Sơn mệt mỏi dù sự ồn ào đó là để tán thưởng hay ca ngợi mình, cho nên Trịnh Công Sơn rất cần những giờ phút yên lặng. Tuy nhiên Trịnh Công Sơn chưa học được cách ngồi một mình để hưởng sự yên lặng, nên Trịnh Công Sơn cần một người bạn ở bên cạnh, để cảm thấy mình hưởng được sự yên lặng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã học ngồi thiền, nhưng ngồi thiền một mình chưa thấy vui lắm. Ngồi thiền thì đâu được nói chuyện thế mà ngồi ba bốn người vẫn vui hơn. Có phải như vậy không?

Trong khi ta ngồi yên như thế, sự có mặt của nhau nuôi dưỡng được tất cả mọi người trong đó. Có một lần ở tu viện Cấp Cô Độc, trong khi các thầy đang chuẩn bị khóa an cư mùa mưa, thì có khoảng ba bốn trăm thầy từ Kosambi tới. Gặp lại các huynh đệ mừng quá, nên các thầy nói chuyện rất ồn ào. Ngồi trong phòng nghe ồn, Bụt hỏi thầy Xá Lợi Phất: “Có chuyện gì mà ồn như cái chợ vậy? Thầy xá Lợi Phất trả lời: “Có một số huynh đệ từ Kosambi tới; gặp nhau, mừng quá nên họ cười nói ồn ào, mất hết uy nghi, xin Đức Thế Tôn tha lỗi cho họ. Đức Thế Tôn bảo: “Không được, làm ồn như thế thì phải đi chỗ khác tu học, không thể ở đây, tôi không thể ở chung với những người ồn ào như vậy.” Ta thấy trong lòng đức Thế Tôn chủ yếu muốn dạy cho những người đó nên Đức Thế Tôn nói không thể ở đây, phải đi chổ khác tu học. Sau đó thầy Xá Lợi Phất ra báo tin cho các huynh đệ là “Đức Thế Tôn không muốn cho quý vị ở đây, vì từ đầu giờ vào đây quý vị ồn quá làm mất không khí thanh tịnh của nhà thiền.” Nghe thế quý thầy yên lặng, quyết định đi tới một địa phương khác gần đó để an cư.

Trong suốt mùa an cư đó, các thầy nhớ lời Bụt dạy không nói chuyện, không cười giỡn, người nào cũng hạ thủ công phu, cho nên cuối mùa an cư  họ chuyển hóa rất nhiều, mặt người nào cũng sáng rực ra, nụ cười nào cũng rất tươi tắn. Sau mùa an cư họ muốn đến cám ơn Đức Thế Tôn đã quở trách họ và nhờ lời quở trách đó mà họ tinh tấn hơn, nên đã thành công trong tu tập. Thầy Xá Lợi Phất vào thưa với Bụt: “Bạch Đức Thế Tôn, các thầy đã an cư xong rồi và họ muốn vào chào Đức Thế Tôn”. Đức Thế Tôn cho quý thầy vào. Lúc đó khoảng 7 giờ chiều. Đức Thế Tôn chắp tay chào các thầy. Ba trăm thầy đó với hai trăm thầy ở địa phương cùng ngồi với Đức Thế Tôn trong thiền đường rất lớn. Thầy trò ngồi với nhau như vậy từ 7 giờ tối cho tới 12 giờ khuya. Ngồi yên lặng không nói gì hết.

Thầy Anan, thị giả của Bụt, tới gần Bụt và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, gần tới nửa đêm rồi, Đức Thế Tôn có dạy gì cho các thầy không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên và thầy trò ngồi yên như thế cho tới 3 giờ sáng. Ngồi yên bên nhau, không nói gì hết, thầy Anan lại nóng ruột nên đến bạch với Đức Thế Tôn một lần nữa:“ Ba giờ sáng rồi, Ngài có muốn khai thị cho các thầy điều gì không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên với các thầy cho đến 5 giờ sáng. Lúc này thầy Anan tới “Bạch Đức Thế Tôn, trời rạng đông rồi, Ngài có muốn nói gì với các thầy không?” Đức Thế Tôn nói: “Thầy muốn tôi nói gì nữa. Thầy trò ngồi với nhau như vậy chưa đủ hay sao.”

Thầy trò huynh đệ ngồi với nhau, thấy được và trân quý sự có mặt của nhau là một hạnh phúc rất lớn, rất được nuôi dưỡng. Tuy không có âm thanh nhưng giá trị bằng 10 lần âm thanh. Trong tác phẩm “Tỳ Bà Hành” cũng có một câu nói tương tự “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Người nữ đó đàn tỳ bà, có lúc nàng im bặt và trong thời gian im lặng đó, giữa hai nốt nhạc rất hùng hồn, rất thấm thía. Còn hay hơn có âm thanh nữa.“Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là bây giờ, vô thanh là không có âm thanh. Không có âm thanh mà hay hơn là có âm thanh. Trịnh Công Sơn đã thấy được điều đó. Ngồi với bạn bè không cần nói năng gì, chỉ cần có sự thông cảm và hưởng sự có mặt của nhau là đủ rồi. Tôi nghĩ sự an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giờ phút ngồi với bạn bè. Nhưng nếu bạn không biết ngồi chỉ biết uống rượu thôi thì những giây phút đó không còn quý nữa.

Chúng ta nghe lại bài Tình ca của người mất trí”

Tôi có người yêu, chết trận Pleime
Tôi có người yêu ở chiến khu Đ
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới

Tôi có người yêu chết trận Chu Prong
Tôi có người yêu bỏ xác trôi sông
Chết ngoài ruộng đồng chết rừng mịt mù
Chết lạnh lùng mình cháy như than

Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam
Ngày gió lớn tôi đi môi gọi thầm
Gọi tên anh tên Việt Nam
Gần nhau trong tiếng nói da vàng.

Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam
Ngày mới lớn tai nghe quen đạn mìn
Thừa đôi tay dư làn môi
Từ nay tôi quên hết tiếng người

Tôi có người yêu, chết trận A Sao
Tôi có người yêu nằm chết cong queo
Chết vào lòng đèo, chết cạnh gầm cầu
Chết nghẹn ngào mình không manh áo

Tôi có người yêu, chết trận Ba Gia
Tôi có người yêu vừa chết đêm qua
Chết thật tình cờ chết chẳng hẹn hò
Không hận thù nằm chết như mơ.‎

Trịnh Công Sơn bị ám ảnh bởi cái chết. Chúng ta và nhiều người khác cũng thế. Vì sống trong hoàn cảnh đó, chúng ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu bạn bè, bao nhiêu người trẻ, bao nhiêu đồng bào của mình chết. Trịnh Công Sơn là người rất yêu đời và không muốn chết, nhưng ông biết rất rõ rằng một ngày nào đó mình sẽ chết. Có lần một ký giả phỏng vấn ông: “Nhạc sĩ có dự án nào cho tương lai không? Những ngày sắp tới, nhạc sĩ sẽ làm gì?” Trịnh Công Sơn trả lời: “ Sắp tới tôi phải làm việc nhiều hơn để lẫn trốn sự ám ảnh về cái chết”. Cái chết ám ảnh nhạc sĩ và ông nghĩ rằng để đừng bị cái chết làm ám ảnh mãi thì phải làm việc thật nhiều. Và Trịnh Công Sơn nghĩ rằng mình có sứ mạng là phải chuyển tới những người thương, những người hâm mộ mình một thông điệp, thông điệp của tình thương, của lòng nhân ái. Đó là lời nguyện của Trịnh Công Sơn.

Nếu lời nguyện của Đức Bồ Tát Địa Tạng là đi vào địa ngục để cứu độ chúng sanh, lời nguyện của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm là lắng nghe tiếng kêu đau thương của muôn loài để tìm tới cứu khổ, thì lời nguyện của Trịnh Công Sơn là gởi tới những thính giả của mình thông điệp của tình yêu thương, tức là tưới tẩm hạt giống thương yêu và tha thứ nơi mọi người. Trong cuộc đời mà ai cũng được dẫn đạo bằng hướng đi như vậy thì thật là quý hóa. Tuy Trịnh Công Sơn đã được tiếp nhận hạt giống thương yêu từ mẹ, từ chùa nhưng chưa có cơ hội học hỏi và thực tập về phương pháp thiền quán để có thể tiếp xúc được với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Vì vậy cho nên Trịnh Công Sơn chưa vượt thoát được nỗi ám ảnh của cái chết.

Tôi không bị ám ảnh bởi cái chết vì tôi có tuệ giác về sống chết, tôi đã thiền quán và tôi đã tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt của mình. Quý vị hãy nhìn lên đám mây trên bầu trời. Đám mây đó chiều nay hoặc ngày mai sẽ biến thành mưa. Đám mây đó từ đâu mà có? Có phải từ không mà trở thành hay không? – Không. Đám mây đó từ nước ao hồ, sông biển do sức nóng mặt trời bốc hơi lên ngưng tụ mà thành. Đám mây không phải từ không mà trở thành . Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng, chúng ta từ hư vô tới và chúng ta sẽ trở về hư vô. Nói như vậy tức là chưa có tuệ giác của người tu thiền. Chúng ta không phải từ hư vô tới và chúng ta cũng không đi về hư vô.

Trong Thánh Kinh có nói chúng ta từ hạt bụi tới và chúng ta sẽ trở về cát bụi. Trịnh Công Sơn cũng có cùng quan điểm đó “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Hạt bụi không phải hư vô, hạt bụi cũng không đủ để hóa kiếp thân tôi. Nhiều nhân, nhiều duyên kết hợp lại tôi mới biểu hiện, chứ một nhân, một duyên thì tôi không thể nào biểu hiện được. Theo đạo Cơ Đốc thì Thượng Đế là nhân và là nhân duy nhất để có hiện hữu, nhưng trong đạo Bụt ý niệm về nguyên nhân duy nhất là vô lý. Không có cái gì có thể phát sinh ra từ một nhân duy nhất. Ví dụ như bông hoa này, phải có hạt giống của hoa, phải có đất, có phân, có ánh sáng mặt trời, phải có đám mây biến thành nước mưa… tức là nhiều nhân, nhiều duyên mới có thể làm cho bông hoa biểu hiện được. Thành ra ý niệm một nguyên nhân duy nhất không phù hợp với sự thật. Sự thật là đa nhân đa duyên “trùng trùng duyên khởi”.

Rất tiếc là Trịnh Công Sơn trong những năm tháng đó đã không có cơ hội lên chùa để học hỏi thêm về thiền quán. Trịnh Công Sơn có gởi cho tôi một tập nhạc đề là “Tặng thầy Nhất Hạnh”. Bây giờ tôi vẫn còn giữ. Tôi cũng có viết thư cho Trịnh Công Sơn yêu cầu Trịnh Công Sơn phổ nhạc dùm một số bài kinh. Vì tôi biết rằng nếu Trịnh Công Sơn phổ nhạc những bài kinh này thì Phật tử đọc, tụng, hát sẽ hay lắm, sẽ được nhiều lợi lạc. Thế nhưng thư của tôi bi thất lạc, đến khi Trịnh Công Sơn nhận được thư đó thì ông đã bị bệnh nặng nên không làm được. Thật đáng buồn! Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn đang còn đó. Trịnh Công Sơn đang nghe lời tôi nói, mai mốt Trịnh Công Sơn sẽ sáng tác những bài thơ, bài nhạc, bài kinh theo tinh thần của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn đang ở đây, đang ở trong quý vị. Trong số các thượng tọa, ni sư từ Việt Nam sang có Trịnh Công Sơn trong đó. Đừng tưởng Trịnh Công Sơn chết rồi. Trịnh Công Sơn đang sống hùng mạnh hơn bao giờ hết. Đám mây kia không phải từ hư vô tới và nó cũng không phải trở thành hư vô. Mai mốt nó sẽ biến thành mưa. Nó chỉ biến đổi hình thức thôi.

Bây giờ xin quý vị quán chiếu với tôi: giả dụ 2/3 đám mây kia gặp khí lạnh trở thành mưa, rơi xuống, một phần biến thành dòng, thành khe, một phần đi vào trong ruộng lúa xanh tươi. Đứng trên cao, đám mây kia nhìn xuống và nhận ra mình đang ở dưới đó. Một phần của mình biến thành ruộng lúa xanh tươi, một phần biến thành dòng suối. Rồi đám mây nói:“Chào em, tôi biết em là tôi, em là sự tiếp nối của tôi”. Như vậy đám mây kia đâu chết, khi không còn hình thức của đám mây nữa thì nó biến thành một hình thức khác, hình thức của dòng suối hay hình thức của đám mạ xanh tươi. Thế nên trong đạo Bụt nói bản tánh của chúng ta là “vô sinh bất diệt”, chúng ta chỉ thay đổi hình thức thôi. Tự tánh của đám mây cũng vô sinh bất diệt. Trịnh Công Sơn cũng vô sinh bất diệt.

Nếu ta có con mắt của Bụt, nếu ta có con mắt của thầy thì ta có thể thấy Trịnh Công Sơn có mặt một cách rất đích thực ngay trong thính chúng này. Quý vị có thấy được Trịnh Công Sơn trong trái tim mình hay không? Ngày hôm qua thầy nghe thầy Thông Hội hát nhạc Trịnh Công Sơn. Người ta thường hỏi: “Sau khi chết ta sẽ đi về đâu?” Câu hỏi đó làm tốn rất nhiều bút mực và nước bọt để giải thích. Thông thường muốn trả lời câu hỏi đó phải trả lời một câu hỏi khác là “Trong giây phút hiện tại chúng ta đang đi về đâu?” Chúng ta tưởng rằng sau khi thân xác này tàn hoại chúng ta mới đi, nhưng kỳ thực bây giờ chúng ta đang đi, chúng ta đang trở thành một cái khác.

Hãy tưởng tượng Trịnh Công Sơn lúc 5 tuổi và Trịnh Công Sơn lúc 25 tuổi, hai người rất khác nhau, và khi Trịnh Công Sơn 45 tuổi thì lại khác nữa. Chúng ta chuyển biến, sinh diệt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đứng về phương diện năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ta so sánh ta trước khi vào đây và ta bây giờ là đã có sự khác nhau rồi. Bao nhiêu sinh diệt, bao nhiêu biến chuyển đã đi qua trong chúng ta và chúng ta luôn luôn được tiếp nối. Nước mưa tiếp nối đám mây, sương mù cũng tiếp nối đám mây. Khi chúng ta nâng một tách trà lên để uống, nếu có chánh niệm, có tuệ giác của Bụt, thì chúng ta thấy rằng mây đang nằm đây trong ly trà này. Thay vì đang uống nước chúng ta đang uống mây. Đây là một sự thật rất khoa học. Nó không phải chỉ là thi ca mà thôi.

Tôi đang uống mây và đám mây chiều nay có thể trở thành một bài thơ, hay ngày mai mây trở thành bài pháp thoại. Mây biến hóa vô cùng. Cho nên ta phải có khả năng nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn dưới những hình thái biểu hiện khác của Trịnh Công Sơn. Thế nên ta không thể nói Trịnh Công Sơn chết được. Vì sự thực không có cái gì chết đi cũng không có cái gì sanh ra. Chết nghĩa là từ trở thành không, Trịnh Công Sơn không phải từ có trở thành không. Đã không có từ không mà trở thành thì cũng không thể nào từ mà trở thành không được. Nếu quý vị vừa mới mất một người thân mà quý vị tưởng người thân đó không còn nữa là quý vị lầm. Người thân đó bây giờ đang biểu hiện dưới một hình thức khác. Nhìn cho kỹ ta sẽ thấy được người thân của mình và ta nói: “Chào em, chị rất hạnh phúc nhận ra em dưới một hình thức mới”. Đó là diệu dụng của thiền quán.

Trong những năm 80, 90 nếu Trịnh Công Sơn có được tuệ giác đó thì Trịnh Công Sơn sẽ không bị ám ảnh bởi cái chết, vì Trịnh Công Sơn biết rõ mình không bao giờ chết cả. Trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình đã hiến tặng những lời nói, những lời ca, những tư duy và những hành động của mình cho đời và đó là sự tiếp nối của mình. Đó gọi là ba nghiệp. Ba nghiệp là thân, khẩu, ý. Cũng như cây đèn cầy, khi được thắp sáng lên thì trong mỗi giây phút nó đều hiến tặng ánh sáng, sức nóng và hương thơm. Con người cũng vậy, trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta đã hiến tặng tư duy, lời nói và hành động của ta. Nếu tư duy của ta đầy tham, sân, si thì những hiến tặng của ta sẽ không có giá trị, chúng sẽ làm hư xấu cuộc đời, như thế chúng ta sẽ không có sự tiếp nối đẹp đẽ. Còn nếu tư duy của ta có lòng thương yêu, có lòng nhân ái, có tha thứ, bao dung thì sự tiếp nối của ta sẽ đẹp đẽ.

Trịnh Công Sơn đã hiến tặng tư duy của mình qua nhiều hình thái khác nhau. Hình thái mà ta dễ thấy nhất là những ca khúc của ông. Trịnh Công Sơn đã cống hiến những ngôn từ, hành động, cử chỉ biết thương yêu, chăm sóc, biết tha thứ, bao dung. Có lần ngồi chơi với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một quán cà phê ở Huế, cô bé bán quán bưng tới cho Trịnh Công Sơn một ly cà phê, nhưng vô tình, bé làm đổ hết ly cà phê vào chiếc áo vest của Trịnh Công Sơn, bé sợ xanh mặt, bà chủ tới la bé rất dữ dội. Cô bé sợ quá co rúm người lại. Rất tội nghiệp! Trịnh Công Sơn thấy vậy thương quá, liền nói: “Không phải nó làm đổ đâu, chính tôi làm đổ đó”. Và Trịnh Công Sơn móc túi lấy tiền ra trả cho ly cà phê ấy để cho bà chủ đừng la bé. Sau khi trả tiền Trịnh Công Sơn đứng dậy, nháy mắt cô bé đó rồi ra đi. Đó là một hành động biểu dương lòng tốt của tình thương trong Trịnh Công Sơn. Những cái đó không bao giờ mất đi cả. Đó là nghiệp. Chúng ta đừng hiểu nghiệp là xấu. Nghiệp có thể xấu mà cũng có thể là tốt. Nghiệp xấu gọi là ác nghiệp, nghiệp tốt gọi là thiện nghiệp.

Trịnh Công Sơn đã làm ra những thiện nghiệp và những thiện nghiệp ấy đang tiếp tục đi về tương lai. Chúng ta có thể nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn qua những thiện nghiệp mà Trịnh Công Sơn đã tạo tác ra qua những tư duy, lời nói và hành động của ông. Trịnh Công Sơn chưa bao giờ giết người. Trịnh Công Sơn không kỳ thị, Trịnh Công Sơn có can đảm dám nói ra sự thật, yêu nước, yêu dân. Ba mẹ Trịnh Công Sơn phải hãnh diện về điều đó.

Quý vị đã nghe và đã thấy Trịnh Công Sơn có mặt trong mình và bây giờ tôi muốn chia sẻ để quý vị thấy mình cũng có mặt trong Trịnh Công Sơn. Có một lần Trịnh Công Sơn được nhà báo hỏi: “Anh có bao giờ hình dung ra thân xác và tâm hồn mình lúc ở bờ bên kia chưa?”“Chưa! Đó là tại do lười biếng mà ra.” Do không chịu quán chiếu. Mình có tự do, có thiền đường mà không chịu tham khảo đề tài sống chết, để rồi mai mốt khi nằm trên giường không biết mình đi về đâu. Trịnh Công Sơn công nhận mình làm biếng, không chịu giành thời gian để quán chiếu sâu sắc về vấn đề sinh tử. Các cô, các chú có thấy mình có trong Trịnh Công Sơn không?

Trịnh Công Sơn nói: “… Vì do lười biếng mà ra cả, mình không bao giờ chuẩn bị trước cho mình cái gì hết cho những ngày sắp tới, như thể là khi muốn về Huế là cứ bỏ đồ đạc vào vali mà đi thôi”. Ra Huế thiếu gì thì tính sau. Điều đó rất con người. Và ta thấy sự lười biếng đó nằm trong tất cả chúng ta. Chúng ta giãi đãi, làm biếng, như thể là mình sẽ sống cả ngàn năm và mình có cả ngàn năm để thiền quán, nhưng kỳ thực chúng ta không biết mình sống được bao lâu. Vì vậy chúng ta phải tinh tiến và phải làm thay cho Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn chưa làm được thì mình phải làm cho Trịnh Công Sơn. Thầy cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn, các thầy, các sư cô cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn. Quý vị cũng phải làm cho Trịnh Công Sơn. Chúng ta phải đưa Trịnh Công Sơn đi tới. Bởi vì Trịnh Công Sơn không phải là Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn là quý vị. Khi người ta hỏi Trịnh Công Sơn: “Không biết có cõi nào mà sau khi chết mình đi về hay không?” Thì Trịnh Công Sơn trả lời:

Nếu có một sự tiếp nối ở một cõi khác, một thế giới khác thì chắc là vui lắm. Và tôi nghĩ nếu thực sự có một cõi khác với cõi đời này thì tôi hy vọng chúng ta sẽ được rong chơi mãi mãi”.

Rong chơi là từ của Trịnh Công Sơn. Mình ở trên cuộc đời này là để rong chơi, và nếu hết cuộc đời này có một cõi khác, mình cũng sẽ tiếp tục rong chơi. Đó là hy vọng. Cõi đó gọi là thiên quốc hay thiên đường. Nhưng nếu Trịnh Công Sơn nhưng nếu biết quán chiếu sâu hơn thì sẽ thấy được rằng thân xác này chẳng qua là sự chấm dứt của một giai đoạn biểu hiện và mình sẽ được biểu hiện lại dưới một hình thức khác trong giai đoạn kế tiếp. Đám mây khi không còn là hình thức của đám mây nữa thì nó tiếp tục làm con suối hay làm tảng băng. Làm mây bay trên trời cũng vui mà làm mưa rơi xuống ruộng đồng cũng vui. Tại sao phải sợ?

Trịnh Công Sơn có thể rong chơi mãi mãi trên thế gian nầy mà không cần phải giả định có một thế giới khác hay có một cõi nào khác nữa. Không có cái gì tự nhiên mà có, cũng không có cái gì từ có trở thành không. Trịnh Công Sơn là một thực tại. Trịnh Công Sơn là mãi mãi. Trịnh Công Sơn tha hồ rong chơi, nếu không dưới hình thức của một người Huế, thì dưới hình thức của người Thụy Sĩ. Làm người Huế cũng vui mà làm người Thụy Sĩ cũng vui. Làm một bông hoa thủy tiên cũng hay, làm một bông sen cũng hay. Hình thức nào của sự sống cũng đẹp cả.

Khi Trịnh Công Sơn thấy được điều đó thì Trịnh Công Sơn sẽ thấy được tự tánh của mình là vô sinh bất diệt, mình có thể rong chơi mãi mãi hoài hoài. Mong rằng các thầy, các sư cô, các sư chú, các đạo hữu nắm được chân lý này và thấy được tự tánh vô sinh bất diệt của mình. Cho nên đối với tôi, Trịnh Công Sơn chưa  bao giờ chết. Nếu thắp một nén hương cho Trịnh Công Sơn thì chúng ta không nên thắp bằng sự tiếc thương mà thắp bằng ý thức là Trịnh Công Sơn đang còn đó với mình và mình có thể mang Trịnh Công Sơn đi về tương lai, để Trịnh Công Sơn có thể tiếp tục sứ mạng của mình, sứ mạng chuyên chở thông điệp thương yêu. Chúng ta hãy cùng hát với nhau bài “Nối vòng tay lớn” để tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ, của hy vọng và của tình thương yêu trong ta.

Lời mai đây cao ngút Trường Sơn – nhạc Phạm Duy

I. TÌM NHAU

Bụt là người. Và vì vậy cho nên một người có thể trở thành Bụt. Đây là điều rất là quan trọng. Bài Tìm Nhau này nói về việc chúng ta đi tìm chúng ta. Và nếu chúng ta tìm được chúng ta, chúng ta biết chúng ta là ai rồi thì chúng ta cũng tìm ra được Bụt. Đây là một bài thiền quán.

 

Con đã tìm ra Thế Tôn
Con đã tìm ra con

 

Khi mình tìm ra được mình thì đồng thời mình tìm ra được Thế Tôn. Trong cuộc sống bận rộn có thể mình không có thì giờ để đi tìm, để biết mình là ai. Nếu mình chưa tìm được mình thì làm sao mình tìm được Bụt? Đây là một sự thực tập thiền quán.

 

II. BẾP LỬA HỒNG

 

Kính thưa đại chúng hôm nay là ngày ba mươi Tết (thật ra là hăm chín Tết do năm nay không có ba mươi). Bây giờ là 15h30’ chiều (giờ nước Pháp). Chỉ 2h30’ nữa Việt Nam đón giao thừa. Buổi bình thơ này là một buổi thực tập cho chúng ta có cơ hội nhìn trở lại. Có thể là trong năm chúng ta bận rộn. Và chúng ta không có thì giờ để nhìn lại chính chúng ta và cách sống của chúng ta. Giờ cuối năm là giờ linh thiêng. Chúng ta cần phải buông bỏ hết. Ngồi yên để nhìn lại, để chúng ta có một cơ hội sẽ làm hay hơn trong năm tới. Đề tài của chiều hôm nay là Bếp Lửa Hồng.

 

Bếp Lửa Hồng tượng trưng cho sự đoàn tụ, cho sự ấm áp, cho tình thương, cho hạnh phúc. Bếp lửa đó nằm ở đâu? Nó nằm ở đây (Pháp) hay ở bên nhà (Việt Nam)? Có những người trong chúng ta thật sự không có một bếp lửa. Nghĩ tới nhà thì chúng ta không có hạnh phúc. Tại vì chúng ta không có một bếp lửa hồng. Chúng ta chưa thật sự có một bếp lửa. Có thể trong gia đình còn có đủ mẹ cha và anh chị. Nhưng mà liệu tối hôm nay mọi người có nhìn mặt nhau được hay không, có nói chuyện với nhau được hay không? Có đủ tình thương không? Có đủ hạnh phúc không?

 

Bếp lửa là một hình ảnh rất là thân quen. Chúng ta ai nấy đều mong muốn có một bếp lửa hồng, có một cái tổ ấm. Chính người xuất gia cũng vậy. Chúng ta cũng mong muốn có một chỗ ấm áp, ngồi chung với nhau trong tình huynh đệ. Huống hồ những người ở ngoài đời cuộc sống bận rộn, đi ngang qua bao khổ đau thì họ rất mong ước có một chỗ quay về để có thể cảm thấy ấm áp và hạnh phúc. Chúng ta đã hiểu rằng, chúng ta đã biết rằng nếu không có hiểu nhau thì chúng ta không thể thương nhau, chấp nhận nhau được. Mà trong đạo Bụt, Đức Thế Tôn dạy rất rõ. Nếu mình không hiểu được mình và thương được mình thì mình không thể hiểu được và thương được người khác, dù người đó là bố của mình, mẹ của mình hay là anh chị em của mình hay là người đồng bào của mình. Vì vậy cho nên từ Hiểu và từ Thương rất quan trọng.

 

Chất lửa phải từ trong trái tim đi ra. Đạo Bụt dạy chúng ta làm ra lửa, làm ra tình thương, làm ra sự hiểu biết. Và khi chúng ta học giáo lý đạo Bụt thì chúng ta có thể chế tác được lửa, ngọn lửa ở trong trái tim của chúng ta. Đó là ngọn lửa của thương yêu, của hạnh phúc. Và nếu chúng ta có ngọn lửa đó rồi thì chúng ta mới châm cho trái tim của những người khác.

 

Gánh nước đêm ba mươi

 

Đối với văn hoá Việt Nam, hình ảnh ngọn lửa đi đôi với hình ảnh của gánh nước. Gánh nước đêm ba mươi. Có nhiều địa phương ở Việt Nam, đêm ba mươi gánh nước là một nghi lễ. Dù cho mấy cái chum, cái lu trong nhà đầy rồi thì mình vẫn phải đi gánh nước ở giếng như thường. Và đêm ba mươi người ta gặp nhau ngoài giếng, gánh một gánh cuối cùng và người ta kể chuyện cho nhau nghe. Người ta nói hy vọng của nhau đối với năm mới sắp tới. Do đó gánh nước đêm ba mươi trở thành một đề tài thi ca.

 

Nếu chúng ta sinh ra trong thời đại mới này thì chúng ta nên biết là ở trong nhà ngày xưa có người em gái, người mẹ đi ra giếng gánh cho đầy chum, đầy lu, đầy vại. Đó là chuyện phải làm trong ngày Tết. Cũng như Tây Phương người ta đổ xăng, đổ dầu cho đầy. Lu nước, chum nước tượng trưng cho những tiện nghi về vật chất. Nếu trong nhà đầy nước thì có nghĩa là chúng ta có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc, chúng ta có lương bổng đàng hoàng. Chúng ta có ruộng vườn, trâu bò, ao cá. Vì vậy tối ba mươi thế nào cũng phải có những chum nước đầy, vại nước đầy. Điều này người nào làm cũng được. Không cần phải là người giàu. Bất cứ người nào dù nghèo cách mấy cũng có thể lấy thùng đi gánh một đôi nước về. Đó là điều bình đẳng. Và giếng trong làng đóng vai một vị Đại Bồ Tát cung cấp nước cho tất cả dân ở trong làng mà không hề kỳ thị. Người giàu cũng nước đó. Người nghèo cũng nước đó. Người già cũng nước đó. Người trẻ cũng nước đó. Người sang cũng nước đó và người hèn cũng nước đó. Vậy nên nhìn vào cái giếng chúng ta có thể thấy đó là một vị Bồ Tát không kỳ thị, không phân biệt, là một nguồn sống, nguồn hạnh phúc cho cả làng.

 

Thi sĩ Nguyễn Nhã Tiên có viết bài thơ Khúc Quê nói về chuyện đi gánh nước đêm 30. Có thể là chúng ta chưa từng thấy, chưa từng nghe, chưa từng làm. Nhưng chúng ta phải biết được chuyện ngày xưa cha ông của chúng ta ăn Tết như thế nào. Và lệ đi gánh nước đêm ba mươi là một nghi lễ. Dầu cho nước trong nhà đã đầy rồi thì vẫn phải đi gánh như thường. Nó có nghĩa là mối quan tâm hàng đầu của mình là làm thế nào để có được điều kiện vật chất đầy đủ để mà sống. Đó là mối quan tâm đầu tiên của con người.

 

Khúc quê

 

Em va gàu vào giếng khuya gọi ngàn đêm thức giấc

Bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời

Ngọn gió thức ngoài đường chập chùng cung bậc

Trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi

Đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi

Mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc

Bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi tết

Nước tràn mái tràn thùng em gánh tiếp niềm tin

Giếng ngời ngời gương mặt của đêm đêm cháy sáng

Đêm giũ mình bóng tối

Những cát bụi không còn nơi ẩn trốn

Hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm cỏ hoa

Cả ngàn nhà nước từ giếng chia ra

Cười nói dội vang vang hồi âm của đất

Có một thiên đường đêm ba mươi rất thật

Trừ tịch chia đều mọi ngõ trầm hương

Khói bay trong nhà khói bay hàng hiên về em nhé

Giao thừa đang điểm

Có một tiếng gàu bỏ quên ngoài giếng

Chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa !

 

Mối quan tâm thứ hai là làm sao để có một Bếp lửa hồng. Nghĩa là phải có tình thương, phải có niềm tin, phải có hạnh phúc. Và cái bếp lửa hồng này từ đâu mà có? Ai cung cấp cho mình sức nóng đó? Ai cung cấp cho mình ngọn lửa đó? Làm thế nào để thắp lên ngọn lửa trong trái tim? Làm thế nào để thắp trái tim của mình lên?

 

“Thắp tim lên” là cách dùng từ của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ.

Ai là người sẽ thắp trái tim của mình lên?

Ai là người giúp cho mình hiểu, mình thương để mình có thể hiểu và thương người khác?

Đó là ngôi chùa ở trong làng.

 

Ngôi nhà, trung tâm thực tập là nơi người ta tinh luyện, tu tập để người ta chế tác ra cái hiểu và cái thương. Những khoá tu của chúng ta ở Làng Mai đã được tổ chức ở khắp Âu châu, Mỹ châu và các châu khác. Những khoá tu đó đem lại rất nhiều niềm tin cho người ta về tương lai. Có nhiều người khi mới tới với khoá tu họ rất là đau khổ. Họ có nhiều tuyệt vọng, chia rẽ, hận thù, kỳ thị. Họ không có đủ chất liệu thương yêu và tin cậy. Nhưng mà sau một khoá tu năm ngày, bảy ngày thì tự nhiên họ thấy có sự chuyển hoá. Và họ mỉm cười được. Mắt họ sáng lên. Như vậy chúng ta – những người tổ chức khoá tu, hướng dẫn tu học – chúng ta đã châm (mồi) lửa vào trong trái tim của họ để cho họ đem về nhà. Vì vậy cho nên trung tâm tu tập là một vị Bồ Tát.

 

Nếu mình được tham dự vào chuyện giữ bếp lửa hồng đó thì mình là người có hạnh phúc. Mình giữ bếp lửa hồng đó không phải cho chính mình mà thôi. Mình giữ cho dân cả xóm, cả tỉnh, cả nước. Do đó việc có cơ duyên tới với nhau, sống chung trong tình huynh đệ làm nên một bếp lửa hồng để mình có dư lửa cho chính mình, để có dư lửa phân phát cho người chung quanh là hạnh phúc của những người tu.

 

Trước khi Thầy nói tiếp thì chắc có lẽ mình nên hát chung với nhau bài Vui Bếp Lửa Hồng. Tại vì đó là chủ đề của buổi sinh hoạt tối nay. Bài này lời và nhạc của Xuân Tiên. Và quý thầy Xóm Thượng thêm một vài lời.

 

III. VIỆT NAM! VIỆT NAM!

 

Chúng ta vừa nói tới những quan tâm thường nhật. Làm sao để có được những điều kiện vật chất như là công ăn việc làm, lương bổng, nhà cửa và những tiện nghi tình cảm. Làm sao để có một cuộc sống lứa đôi, một cuộc sống gia đình có hạnh phúc. Nhưng nếu chúng ta có thì giờ để quán chiếu thì chúng ta sẽ thấy rằng ngoài những mối quan tâm thường nhật, cái “daily concerns”. Mỗi người trong chúng ta còn có một mối quan tâm khác, mối quan tâm tối hậu, cái “ultimate concern”. Chúng ta muốn vươn lên một cái gì cao hơn cuộc sống thường ngày. Chúng ta biết rằng ở Việt Nam bây giờ ước mơ của dân chúng là có được một nền dân chủ. Chúng ta đã có độc lập, chúng ta đã có tự do với ngoại bang. Nhưng có một điều mà chúng ta chưa có là tự do dân chủ. Hầu hết nhà tri thức và những người trẻ đều nghĩ rằng nếu mà có dân chủ thì chúng ta đạt tới hạnh phúc hoàn toàn rồi. Và vì vậy mục tiêu mà người Việt Nam đang hướng tới là Dân Chủ và Tự Do.

 

Nhưng mà nghĩ cho cùng thì chúng ta thấy rằng có những nước ở Tây phương họ có dân chủ, họ có tự do nhưng mà họ cũng còn nhiều đau khổ lắm. Trong nước họ có nhiều đảng phái và các đảng phái được tự do hoạt động. Họ có tự do thật, họ có dân chủ thật nhưng khổ đau trong xứ họ cũng rất là nhiều. Vậy nên ngoài cái Độc Lập – Tự Do – Dân Chủ thì chúng ta muốn cái gì nữa? Đó là hạnh phúc chân thật, là tình thương. Mà tình thương là cái mà chúng ta phải chế tác.

Hôm nhạc sĩ Phạm Duy qua đời… Nhạc sĩ Phạm Duy là một nhạc sĩ lớn của nền Tân Nhạc Việt Nam. Giữa ông và Thầy có một mối giao tình khá mật thiết. Hôm đó Thầy nhờ nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, một người chuyên môn nghiên cứu về Huế gọi là Huế học. Những ngày chót của nhạc sĩ Phạm Duy thì Nguyễn Đắc Xuân đã ở bên giường bệnh và tiễn Phạm Duy vào những phút giây cuối cùng. Khi Phạm Duy tịch rồi thì Nguyễn Đắc Xuân có gửi thư cho thầy và nói rằng “Phạm Duy đã rời cõi tạm để đi tới cõi vĩnh hằng”. Ý nói là cõi mình đang sống đây chỉ là cõi tạm. Và trong cuộc sống này có 100 năm thì mình phải biết đầu tư cho cái cõi vĩnh hằng. Chia ra hai cõi. Một cõi gọi là cõi Tạm. Và một cõi gọi là Vĩnh Hằng. Trong dân gian người ta cũng nói “sống gửi thác về”. Nó có một nghĩa tương đương như vậy. Sống là gửi tạm ở đây thôi. Còn thác là về chỗ đó, chỗ vĩnh hằng. Thầy có gửi cho Nguyễn Đắc Xuân một câu thư pháp để đưa vào cho gia đình Phạm Duy. Câu của Thầy viết là “lời mai đây cao ngút Trường Sơn”. Đó là chữ của Phạm Duy.

 

Vào năm 1964, khi Thầy gặp Phạm Duy nói chuyện thì anh có tiết lộ cho Thầy biết là anh đang có mơ ước làm một trường ca gọi là Trường Ca Trường Sơn. Phạm Duy rất là nổi tiếng về Trường Ca Con Đường Cái Quan và Trường Ca Mẹ Việt Nam. Hai Trường Ca đó chưa được phép hát tại Việt Nam. Trường Ca Con Đường Cái Quan nói về con đường xuyên Việt từ Bắc vào Nam, con đường lập quốc, nối liền 3 miền với nhau. Trong đó có biểu lộ niềm mong ước đất nước được thống nhất. Rồi khi Phạm Duy sáng tác Trường Ca Mẹ Việt Nam thì có Đất Mẹ, Núi Mẹ, Sông Mẹ và Biển Mẹ. Trong thời gian sáng tác thì đất nước còn chia đôi. Con sông Bến Hải chia đôi đất nước làm 2 miền. Trong Trường Ca Mẹ Việt Nam, khúc nói về những con sông chia rẽ buồn lắm. Cùng một mẹ mà chia rẽ ra làm hai. Phạm Duy còn tiết lộ sau Trường Ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam thì anh sẽ sáng tác một trường ca thứ ba gọi là Trường Ca Trường Sơn.

 

Con Đường Cái Quan thì anh nói  nhạc đó là nhạc hiện thực, tả chân, tả thực. Nốt nhạc có nhiều dấu thăng. Đến Mẹ Việt Nam thì nhạc có tính cách biểu tượng, tượng trưng. Và trong đó có nhiều nốt giáng. Và khi anh sáng tác Trường Sơn thì nhạc ngụ ngôn, ví dụ. Và nó sẽ có những dấu không có theo tiết tấu thông thường, nó tự do. Phạm Duy có chia sẻ là Trường Ca Trường Sơn sẽ nói về chiều cao tâm linh của đất nước. Tại vì chúng ta đã có những người cha, người anh vươn lên rất cao trên đỉnh tâm linh. Chúng ta không phải chỉ khám phá và thực hiện được những gì ta ước mơ trong đời sống hằng ngày là những tiện nghi vật chất, tiện nghi tình cảm mà chúng ta đã khám phá được chiều sâu, chiều cao tâm linh. Vào đời Lê, đời Lý, đời Trần, chúng ta đã vươn lên rất cao. Nhờ có đạo Bụt mà chúng ta đã đi tới một đời sống tâm linh rất là cao. Cho đến nỗi một ông vua đã đi xuất gia trở thành một vị xuất sĩ. Chúng ta đã có những người cha, người anh vươn tới được như vậy. Tuệ Trung Thượng Sĩ là một người cư sĩ nhưng đã trở thành thiền sư. Và các vua Trần Thái Tông, Trần Anh Tông, Trần Nhân Tông đều là những người có ngồi thiền, có tu học và sáng tác. Mẹ Việt Nam là nói về những người mẹ. Và Trường Sơn là nói về những người cha. Phạm Duy nói rất rõ là “có lẽ tôi sẽ bắt đầu bằng hình ảnh của một người đang đi từng bước. Đang đi thì tự dưng dừng lại vì thấy dưới chân có một con giun, con trùng. Và nếu mình bước lên thì sẽ dẫm chết con giun, con trùng đó.”

 

Nếu bắt đầu ngay đoạn đó thì chúng ta biết là từ bi, từ bi không những với loài người mà còn đối với những loài cỏ cây, đất đá và cầm thú. Tâm linh là như vậy. Chúng ta biết đạo Bụt là một đạo chuyên về tình thương, bất bạo động. Chiều hôm nay chúng ta nói về chuyện tâm linh, chuyện đạo đức của nhạc Phạm Duy. Vào những năm 1960, chính xác là 64-65, những hạt giống đạo đức, những hạt giống tâm linh của Phạm Duy được tưới tẩm rất nhiều. Cho nên Phạm Duy đã sáng tác được những bài nhạc thấm nhuần tinh thần tâm linh, đạo đức. Trong đó có 10 bài Tâm Ca. Cuộc vận động của đạo Bụt đã khôi phục lại quyền làm người trong những năm 1963-1964 và đã gây cảm hứng rất lớn cho nhiều văn nghệ sĩ. Ngọn lửa tự thiêu của Hoà thượng Quảng Đức đã đi vào trong Trường Ca Mẹ Việt Nam. Trong bài Chung Khúc của Trường Ca Mẹ Việt Nam. Chúng ta hát như thế này:

 

Việt Nam, Việt Nam, nghe tự vào đời
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi
Việt Nam nước tôi.
Việt Nam, Việt Nam, tên gọi là người
Việt Nam, hai câu nói sau cùng khi lìa đời

Đây là những câu chứng tỏ là Phạm Duy muốn đi, Phạm Duy muốn đất nước đi trên con đường của tình thương hơn là con đường của gươm giáo và hận thù.

Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Tức là hoà giải với nhau. Bỏ gươm xuống để tới với nhau.
Việt Nam trên đường tương lai
Lửa thiêng soi toàn thế giới

 

Phạm Duy có nói rất rõ. Lửa thiêng đây là ngọn lửa của Hoà thượng Quảng Đức đem từ bi xoá bỏ hận thù. Trên con đường xây dựng tương lai thì Việt Nam đóng góp cho thế giới bằng ngọn lửa thiêng đó. Không có làm khổ người. Lấy thân làm đuốc. Lấy từ bi để làm khí giới.

Lửa thiêng soi toàn thế giới

Ngọn lửa của Hoà thượng Quảng Đức không chỉ soi sáng cho đất nước Việt Nam, cho con người Việt Nam mà là cho tất cả thế giới.

Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời

Tức là không chỉ tranh đấu cho đất nước riêng của mình mà là tranh đấu cho cả nhân loại. Và con đường tranh đấu là con đường bất bạo động, con đường tình thương. Chứ không phải là con đường gươm giáo.

Tình yêu đây là khí giới.
Tình thương đem về muôn nơi

Rất là rõ ràng. Khí giới của mình là tình thương và mình muốn khắp nơi trên thế giới đều được thừa hưởng tình thương đó.

Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người.

Tức là tình người, tình anh chị em là mục đích, là chí hướng của Việt Nam. Việt Nam không phải chỉ để cho Việt Nam mà thôi. Việt Nam phải phụng sự thế giới, phụng sự theo con đường bất bạo động, tâm linh và tình thương. Có rất nhiều người ở Việt Nam muốn dùng bài này để làm Quốc Ca nhưng mà chuyện đó chắc phải chờ đợi. Bài Quốc Ca cũ thì có xương, có máu quá nhiều. Bài này thì không đòi xương máu mà chỉ kêu gọi thương yêu mà thôi. Nếu mà tuổi trẻ muốn thì nội trong vòng ba mươi năm thì có thể có được bài này.

 

Các thầy, các sư cô có thể hát bài này được không? Mấy anh chị sinh viên có nhớ, có biết bài này hay không?

 

IV. TÂM CA

 

Năm 1964, Thầy thành lập  trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH). Và từ đó các thầy trẻ, các sư cô trẻ, những người thanh niên Phật tử đã đi vào nông thôn để giúp cải thiện đời sống miền quê. Đó là những chiến sĩ hoà bình. Thầy cũng thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh và mời thầy Minh Châu về làm Viện Trưởng. Trường TNPSXH thường tổ chức những buổi nói chuyện của văn nghệ sĩ. Và Phạm Duy được mời tới rất là thường. Phạm Duy đã sáng tác Mười bài Tâm Ca trong thời điểm này. Bài Tâm Ca đầu là Tôi Ước Mơ. Đó là một bài thơ của Thầy Nhất Hạnh và Phạm Duy phổ nhạc. Bài đó rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang tiếp diễn khốc liệt và trong nước không ai dám mở miệng ra nói hoà bình hết. Thì bài này là bài thơ đầu tiên dám nói về hoà bình.

 

Sáng nay vừa thức dậy
Nghe tin em gục ngã
Nơi chiến trường
Nhưng trong khu vườn tôi, vô tình
Khóm tường vi vẫn nở thêm một đóa

 

Em mình chết ngoài chiến trường nhưng mà cây tường vi vẫn nở thêm một đoá.

 

Tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
Nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng điều tôi ước mơ ?

 

Đầu đề bài thơ là Hoà Bình. Phạm Duy có can đảm đặt nhạc bài đó. Tiếp theo là 9 bài khác. Và trong 9 bài, bài nào cũng có ước vọng về hoà bình, có ước vọng nuôi lớn tình thương, đem từ bi để xoá bỏ hận thù.

 

Bài Tiếng Hát To thì Phạm Duy có nói là tôi muốn tiếng hát của tôi nó át được tiếng súng. Tiếng hát này là tiếng hát của tình thương. Đây là tâm ca thứ hai sau bài Tôi Ước Mơ – Hoà Bình.

 

Tôi sẽ hát to hơn súng nổ bên bờ ruộng già
Lời tôi ca, lời tôi ca xin lúa đừng lo

 

Đây không phải là tiếng kêu gọi chiến tranh giết nhau. Đó là tiếng kêu gọi thương nhau.

Lời tôi thay cho tiếng đạn bay
Lời tôi xây cho vững tay cày
Rồi đêm đêm xua ác mộng đầy
Lời ca êm ru giấc ngủ say
Trẻ em đi ngủ trong tiếng súng nổ bên bờ ruộng.
Tôi sẽ hát cho vơi thống khổ vơi dòng lệ nhòa
Một miền quê, một miền quê tim héo và khô
Lời tôi ca khâu vá tình thương

Mình nhớ lại bài Kim Chỉ của Xuân Diệu.

Chúng ta là cây kim,
Chúng ta là sợi chỉ,

Để may lại cuộc đời
Cho liền trong vạn kỷ

Mình thế gian rách nát,
Ôi cái áo ăn mày
Chúng ta là kim chỉ
Thương khó những đêm ngày

 

Đó là công việc của tình thương. Lời tôi ca khâu vá tình thương nghĩa là làm cho êm dịu lại những nỗi khổ niềm đau và đem mọi người lại với nhau.

 

Lời hôm qua chắp nối Con Ðường
Lời hôm nay vương tiếng Mẹ buồn

 

Lời hôm qua chấp nối Con Đường tức là Con Đường Cái Quan. Lời hôm nay vương tiếng Mẹ buồn tức là Mẹ Việt Nam. Và lời mai đây cao ngút Trường Sơn là muốn nói đến Trường Ca Trường Sơn mà Phạm Duy chưa có cơ hội viết trước khi lìa đời. Hứa với Thầy rồi. Sẽ làm ra một Trường Ca lớn nói về chiều cao tâm linh của dân tộc, nói về người cha lớn của Việt Nam. Nhưng mà tại vì cuộc đời nó kéo đi. Lỗi một phần cũng tại Thầy. Tại vì Thầy bỏ nước đi kêu cứu hoà bình. Thành ra ở nhà không có ai tưới tẩm hạt giống cho Phạm Duy. Không có ai mời Phạm Duy tới ăn cơm chay… Cho nên trong đám tang của Phạm Duy, thầy gửi về cho Phạm Duy câu chót của bài Tiếng Hát To này.

 

Lời mai đây cao ngút Trường Sơn.

 

Phạm Duy anh chết rồi nhưng anh chưa chết đâu. Anh phải tái sinh trở lại. Anh phải bảo con cháu anh làm cho được chuyện anh đã hứa với tôi. Phải sáng tác cho được Trường Ca Trường Sơn. Chúng ta đã có Độc Lập, chúng ta đã có Thống Nhất. Chúng Ta đã có Mẹ Việt Nam, Con Đường Cái Quan thì giờ đây chúng ta phải vươn lên đến Trường Sơn. Chúng ta phải có một nếp sống tâm linh có hạnh phúc để có thể đóng góp cho hoà bình của thế giới.

 

Tôi sẽ hát to hơn những kẻ
Tôi sẽ hát to hơn những kẻ khơi ngọn lửa thù
Lời tôi ca, lời tôi ca như suối rừng thu

Lời rất là đạo vị.

Lửa âm u ai đốt từ lâu
Miền quê tôi khan tiếng kêu gào
Lời tôi ca như nước nhiệm mầu
Thành mưa rơi cho dứt niềm đau

 

Đúng là Cam Lộ. Đó là chiều hướng tâm linh trong nhạc Phạm Duy. Lời tôi ca như nước nhiệm mầu. Đó là Cam Lộ Thủy. Thành mưa rơi cho dứt niềm đau. Thấy rất là rõ. Khi mà một nhà nhạc sĩ được tưới tẩm những hạt giống tốt, tâm linh, thương yêu thì có thể sáng tác như vậy. Cả triệu người hát theo. Rất tiếc là Thầy bỏ nước đi kêu gọi hoà bình nên ở nhà không có ai chăm sóc và tưới tẩm tiếp tục. Đây là những bài ca có thể gọi là chống chiến tranh:

 

Tôi sẽ khóc to hơn đứa nhỏ đang ngồi vỉa hè
Trẻ bơ vơ, trẻ bơ vơ đi giữa vườn hoa
Hỏi thăm em, em có mẹ cha
Hỏi thăm em, em có ông bà
Hỏi thăm em, em có cửa nhà
Một ngày qua em mất cả ba
Tôi sẽ khóc to hơn đứa nhỏ đang tìm nụ cười
Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi, xin đến gần tôi
Cùng em côi tôi có bàn tay
Và đôi môi tôi hát ăn mày
Chia hạt cơm rơi hay bát gạo đầy
Cùng ngủ ven sông hay gối bụi câỵ

 

Có rất nhiều trẻ em đói, chỉ còn đôi môi để hát những câu “lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, cho con xin một bát cháo, chén cơm”. Chúng ta thấy những lời thơ này có đạo vị, bắt đầu có chất liệu tình thương. Tâm ca số 3 là Ngồi Gần Nhau. Mình không phải làm gì nhiều. Mình chỉ cần tới ngồi gần nhau.

Ngồi gần ngồi gần nhau, vai sát vai nhau tựa đầu
Ngồi gần ngồi gần nhau, tay nắm tay cho thật lâu
Ngồi gần ngồi gần nhau, xin nói cho nhau một điều
Ngồi gần ngồi gần nhau cho nhiều
Phải tới ngồi gần nhau thì mới có cơ hội hiểu nhau.
Ngồi gần tình thương yêu, nghe rõ tiếng Bụt kêu.

 

Phạm Duy trong thời gian được tưới tẩm những hạt giống tốt đã sáng tác như vậy. Còn đây là Giọt mưa trên lá – Tâm ca số 4

Giọt mưa trên lá nước mắt mẹ già
Lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá.
Đứa con trai vừa mới chết trên chiến trường.
Giọt mưa trên lá nước mắt mặn mà
Thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về

Đây là nói về ước mơ.

Giọt mưa trên lá tiếng khóc oa oa
Đứa bé chào đời cho chúng ta nụ cười
Giọt mưa trên lá tiếng nói bao la
Tóc trắng đậm đà êm ái ru tình già.
Giọt mưa trên lá tiếng nói thầm thì
Bóng dáng Phật về xoa vết thương trần thế

Như vậy rất là đẹp.

 

Tâm ca số 5 – Để lại cho em (thơ Nguyễn Đắc Xuân) là lời thú thật với thế hệ trẻ: các anh đã làm ăn bê bối, để lại cho các em một đất nước chia lìa, chiến tranh.

 

Để lại cho em này nước non mình
Để lại cho em một nước đẹp xinh
Một miền oai linh hiển hách
Chỉ còn dư vang thần thánh
Để lại cho em hèn kém của anh
Để lại cho em cuộc sống mệt nhoài
Để lại cho em hồn nước tả tơi

Đường đời quanh co kẹt lối
Để lại cho em một nước phân lìa
Để lại cho em một giống nòi chia
Hận thù nhân danh chủ nghĩa
Bạo tàn vênh vang bề thế
Để lại cho em giọt máu dân lành
Để lại cho em từng nấm mồ xanh
Chập chờn bay trong bại thắng
Ngọn cờ khăn sô mầu trắng
Để lại cho em một bãi sa trường.

 

Đó là lời thú tội của một người anh bất lực. Không để lại cho đất nước một điều gì tốt đẹp mà lẽ ra thế hệ trẻ đáng được hưởng. Bài Tâm Ca số 7 phổ nhạc từ một ý thơ của Thầy: “kẻ thù ta không phải là người, giết người đi thì ta ở với ai”

 

Bài này là một bài hát phản chiến. Hồi đó thanh niên đã hát trên đường phố Sài Gòn. Năm 1966 Thầy đã gặp Mục sư  Martin Luther King, Jr. Thầy đã đọc cho Mục sư nghe trong một cuộc biểu tình ở Memphis thì mục sư đã giăng câu này ra để đi biểu tình.

 

My ennemy is not people.
If I kill people who shall I live with?

 

Có lẽ trong khoá tu xuất sĩ, mình có thì giờ mình sẽ hát bài Tâm Ca này.

Khi Thầy đi qua Tây Phương để kêu gọi thế giới giúp một tay để chấm dứt cuộc chiến khốc liệt ở Việt Nam thì Phạm Duy cũng được nghe dư âm đó và Phạm Duy cũng viết vài bài nói về tình trạng đó. Những bài đó không phải là Tâm Ca mà là Tâm Phẫn Ca. Tức là sự phẫn nộ của tâm. Trong đó có bài Tôi không phải là gỗ đá. Đại ý là tôi thấy người dân chết mỗi ngày mỗi đêm. Đâu phải là tôi không biết. Tôi không phải là gỗ đá. Thành ra tôi phải nói thôi. Phạm Duy đã phổ nhạc bài thơ phản chiến của Thái Luân là Bi Hài Kịch và bài Đi Vào Quê Hương (thơ Hoa Đất Nắng). Thái Luân là một sĩ quan trong Quân đội Việt Nam Cộng Hoà khi chứng kiến sự chết chóc của đồng bào đã viết nên những bài thơ phản chiến rất là bi đát. Và Phạm Duy  có can đảm phổ nhạc một số các bài như vậy.

 

IV. RONG CA

 

Năm 1988 thì thầy gặp Phạm Duy ở California. Hồi đó ông mới sáng tác 10 bài mới. Gọi là Rong Ca. Rong là rong chơi. Lúc đó ông đã 71 tuổi. Và ông tập hợp tất cả những bài nhạc của ông để in thành một tập gọi là Ngàn Lời Ca. Ở trên này đề là kính tặng Thầy Nhất Hạnh, Phạm Duy – 1989. Trong tập nhạc này có một băng cassette trong đó có Mười bài Rong Ca. Trên con đường lái xe từ Los Angeles đi lên San Francisco thì Thầy đã bỏ vào trong máy và Thầy nghe 10 bài. Thầy đã chiêm nghiệm và thấy trong đó Phạm Duy đã bắt đầu có những cái mà Thầy gọi là “ultimate concern”. Tức là những mối quan tâm về siêu hình, về sống chết, về tâm linh.

 

Dầu cho không làm được Trường Ca Trường Sơn nhưng mà vẫn khắc khoải. Tại vì Phạm Duy có kể rằng năm 1988 có dịp đi San Francisco thì tự nhiên nhớ là chỉ còn có 12 năm nữa là tới năm 2000 và lúc đó có thể là mình đã chết rồi cho nên mới đặt vấn đề là sau khi chết mình sẽ đi đâu, thành cái gì và thấy rằng cuộc sống 100 năm quá ngắn. Phạm Duy tự nhận mình là một người tình, một người tình già. Vậy nên Rong Ca Đầu Tiên mang tên là Người Tình Già Trên Đầu Non.

 

Người tình già trên đầu non
Tuyết đã tan trên vai mỏi mòn
Giữa đám mây xanh xao chập chờn
Nhìn mặt trời thoi thóp hoàng hôn
Người tình già trên đỉnh khơi
Muốn lãng quên trăm năm một đời

 

Trong bài này Phạm Duy tìm cách để hiểu thế nào là thời gian, tìm cách vượt thoát thời gian. Tại vì thấy 100 năm sống ở cõi đời này quá ít, nó không có nghĩa gì hết. Cái đó thuộc về những ưu tư tối hậu.

 

Người từng là nắng mùa Xuân
Ðã dắt em đi trên đường trần
Ðã vuốt ve em trong Hạ mềm
Rồi lạnh lùng Thu đến… lìa em

Tức là mình sẽ phải chết.

Người trở thành cây mùa Ðông
Lá úa rơi vun cao cội nguồn
Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Ðầu cành khô bỗng hoa nở tràn

 

Đó là hình ảnh của một cây mai. Tới mùa Đông thì tất cả những lá mai rụng xuống và tự nhiên những bông mai nở tràn ra đầy. Hình ảnh đó cho Phạm Duy ý tưởng là có thể mình sẽ đầu thai thành những người trẻ. Mình chết đi đây tức là không phải mình hết mà mình sẽ đầu thai. Và Phạm Duy có nhắc tới lời nói trong dân gian là “lá rụng về cội”. Trở về cội thì mình phải có thì giờ để hoá thành đất. Hoá thành đất rồi thì mới luân hồi ra thành những bông hoa mai của năm mới. Chứ đâu thể rớt xuống rồi thành hoa liền được. Nhưng mà Phạm Duy nóng lắm, muốn mình thành mai lập tức cho nên trong bài đó những câu như vậy.

 

“Người ta thường có ý nghĩa lá rụng về cội khi nói tới tuổi già. Trong cái băng nhạc tình của tuổi Bảy mươ này, tôi lại muốn nói rằng cái quan trọng không phải là sự về cội nguồn của những chiếc lá chết. Cái quan trọng là làm sao để hoa vẫn nở rộ trên những cành khô. Chúng ta là những người tình của bách niên 1900, là những lá vàng khô đang chết, nhắn nhủ người tình của thế kỷ thứ 21 là những nụ hoa đang hé…”

 

Ở đây có một khoảng cách giữa mình và thế hệ của những người trẻ. Phạm Duy không thấy rõ là những người trẻ bây giờ đang là sự tiếp nối của mình và mình sẽ không bao giờ chết. Bài Người tình già trên đầu non là một cái suy nghiệm về thời gian. Mộ Phần Thế Kỷ – bài thứ hai có đưa ra hình ảnh hoa và rác. Những rác của thế kỷ 20 nếu mình biết cách thì mình có thể biến rác thành hoa được. Thành ra Phạm Duy cũng có những cách tư duy, chiêm nghiệm, thiền quán của Phạm Duy. Chỉ có cái là không có người hướng dẫn. Nhưng trong sự sống, thực sự đã có những giây phút Phạm Duy có cái nhu yếu làm thoả mãn niềm quan tâm về tối hậu.

 

Người đi trong mùa Đông
Lòng bâng khuâng như làn sương
Theo người phu đi dọn xác chiến trường
Người phu sau thời gian
Một trăm năm đã gần xong
Anh bình tâm đi lượm xác trên đường
Những xác úa một thời
Có bóng dáng triệu người
Phiêu diêu nơi Thế Chiến Một, Thế Chiến Hai
Hết Thế Chiến, lại là
Anh em trong một nhà
Lấy chém giết để giải hoà trong quốc gia

Người đi trong mùa Đông
Đội khăn tang, mang tình thương
Theo người phu đi đào lỗ bên tường
Vùi sâu trong mộ chung
Hoặc vùi nông trong mộ hoang
Anh hùng rơm hay chủ nghĩa phi thường
Vùi chôn bao lầm than
Một trăm năm, bao trẻ em
Mang bộ xương, theo Thần Đói lên đường
Những ác chúa từng miền
Những xác ướp bạo quyền
Chôn ngay đi, vứt chúng vào hố lãng quên
Vứt Phát Xít vào mồ
Ném Mác Xít vào mộ
Hãy lấp kỹ cả tội hèn trong chúng ta

Biết lấp kỹ thì chúng sẽ trở thành hoa màu cho thế kỷ 21.

 

Đó là tư duy của Phạm Duy, là thiền quán của Phạm Duy. Và có thể trên rác bạo động, hận thù đó mình sẽ có đoá hoa của tình thương nở lên cho những người trẻ của thế kỷ 21. Cái đó là thiền quán chứ gì nữa.

 

Trong bài Trăng Già – Rong Ca số 8 –  thì hơi tội nghiệp. Có câu là “Trăng ơi, im lặng suốt đời. Mà sao ta cứ đứng ngồi không yên.” Rất là là tội nghiệp. Đây là sự bất an. Rất tiếc là không có (thầy trò) mình đó để mình chỉ cho nhạc sĩ thở theo An Ban Thủ Ý, an tịnh tâm hành, an tịnh thân hành, an tịnh những cái cảm thọ. Đứng ngồi không yên là tại vì không biết an trú trong hiện tại. Không biết điều phục chăm sóc cái thân hành và tâm hành. Trong bài Rong ca số 9 – Ngựa Hồng –  thì có một câu rất là hay. Ngựa Hồng ngày xưa đã từng ra trận, đã có những thời oanh liệt. Nhưng mà sau trở thành ra kéo xe cho những người giàu có, cho vua chúa và trở thành nô lệ. Hai con mắt bị che thành ra không thấy được gì nữa. Người ta bắt chạy đâu thì chạy đó thôi. Ngày xưa đã vinh quang trong chiến trường bây giờ trở thành kiếp nô lệ, nạn nhân của tham nhũng, nạn nhân của bạo quyền. Một bữa nọ, có một con ngựa rừng nó đi ngang qua. Nó nói “Tại sao mày dại như vậy? Cuộc sống của một con ngựa tự do trên rừng sướng biết bao nhiêu mà lại đem thân mạng làm một nô lệ như vậy?” Nó khuyên một câu thì con Ngựa Hồng này tỉnh ngộ. Nó đưa chân đá vỡ yên cương, tìm đường thoát thân.

 

Ngựa Hồng vươn lên phi qua lỗ bé trôn kim
Thong dong đi vào cõi không !

 

Phạm Duy thấy cuộc sống này chật hẹp, thấy thế giới của tích môn này chật hẹp. Trăm năm không đủ và có nhu yếu muốn vươn tới một cõi, gọi là cõi lớn, cõi không. Phạm Duy có cái đó chứ không phải không. Phạm Duy là con nhà Phật tử. Rất tiếc là không có thầy, có bạn, có tăng thân ở bên. Thành ra không có làm tròn ước mơ của mình là Trường Ca Trường Sơn. Vì vậy mình phải nói với Phạm Duy là anh không có đi đâu hết. Anh phải ở đây cùng với con cháu anh làm cho tôi được Trường Ca thứ ba là Trường Ca Trường Sơn.

 

Bài Rong Ca số 10 – Rong Khúc cũng là một sự chiêm nghiệm. Bài này mình sẽ nghe con trai của Phạm Duy là Duy Quang hát. Cả hai cha con đều mất tháng trước. Đây là bài chót của Rong Ca. Có thể là tiếng chào tạm biệt của Phạm Duy trước khi ra đi:

Từ cõi xa xôi, muôn ngàn thế giới
Anh đã đi theo nắng từ trời vui
Anh xuống nơi chơi lúc Người mới tới
Anh đã hân hoan ghé qua cuộc đời

 

Đây là một tư duy rất truyền thống. Tại vì những người tài ba, những thi sĩ, những văn sĩ luôn luôn nghĩ mình là một ông tiên sống ở trên thiên đình. Vì có cái lỗi gì đó mà bị đày xuống cõi này, cõi hạ giới. Hoặc là uống rượu, uống trà làm rơi cái ly bể rồi Thượng Đế nói “mày không có chánh niệm cho xuống dưới ở”. Ở Việt Nam hay các nước Á Châu hay có tín ngưỡng đó. Chúng ta cứ nghĩ rằng mình là một vị tiên trên thượng giới tại vì một cái lầm lỡ nào nên bị đày xuống cõi cõi ta bà này.

 

Cuộc đời trần gian
Chỉ có 100 năm
Anh đã rong chơi khắp miền hoang dã
Anh đã đi qua bốn bể gần xa,
Êm ái rơi theo tuyết miền băng giá
Hay cuốn bay theo gió sa mạc già
Ở nơi dương thế… mặn mà.
Dương thế này cũng được tại vì mặn mà.
Anh đã rong chơi khắp nẻo đường trần
Anh đã quên đi những nẻo đường tiên

 

Tức là không biết kiếp trước mình ở trên thượng giới, không biết con đường tiên đẹp như thế nào. Giờ đây chỉ biết rong chơi những nẻo đường trần thôi. Đường trần thì gặp bụi bặm, gặp những điều không như ý. Có một sự phân biệt rất rõ ràng. Đường tiên trên kia thì nhẹ hơn, không có bụi. Đường trần dưới này thì có bao nhiêu trắc trở. Trong khi đó tại Làng Mai thì chúng ta biết rằng cũng con đường đó tùy theo cách đi của chúng ta. Nếu đi theo cách này thì đó là con đường tiên. Nếu đi theo cách kia, nó là con đường trần. Rất tiếc là Phạm Duy chưa thấy được cái điều đó.

 

Chân đã tung tăng khắp nẻo đường đời
Anh đã cho Anh sống thật đầy vơi.

 

Tức là sống cũng không có uy nghi, không có giới luật lắm. Anh đã cho Anh sống thật đầy vơi. Câu này nói rất là nhiều.

 

Đã chót đưa Em tới nguồn yêu dấu
Anh cũng theo Em bước vào khổ đau

 

Cố nhiên là chưa học Tứ Vô Lượng Tâm thì làm sao biết yêu được. Cho nên yêu là tạo ra đau khổ cho người và tạo đau khổ cho mình. Chưa biết yêu, chưa biết thương cho nên khổ là chuyện bình thường. Vì vậy người nào mà chưa học cách thương của Bụt là phải học gấp. Phải có Từ-Bi-Hỷ-Xả để thương mới không có khổ.

 

Khi thấy ai trong cõi trần khô héo
Anh đã dâng cho trái tim nhiệm mầu
Đời mà chìm sâu
Cũng muốn leo cao

Chìm thì rất là sâu mà leo thì muốn leo cho thật là cao. Và cố nhiên leo cao thì ngã đau.

 

Anh bước khoan thai lối rừng hun hút
Đưa đón chân Anh có lửa hoàng hôn
Anh dẫn Em vươn tới miền an tĩnh
Cho bớt mông mênh cõi sinh mệnh buồn
Ở nhịp trần gian… quay cuồng.

 

Thế giới này có những phiền não, có những hệ lụy. Cho nên lâu lâu thấy mình cần phải đi tới một chỗ nào yên tĩnh. Miền yên đó chính là thượng phương. Thượng phương tức là chùa. Thành ra mình giữ một ngôi chùa cho thanh tịnh để cho người đời tìm tới khi mà họ đau khổ, họ hệ lụy. Họ tới họ thở không khí đó họ đỡ khổ.

 

Anh đã rong chơi khắp nẻo đường tình

Yêu nhều lắm. Mà càng yêu thì càng rắc rối

Anh đã theo Em đi gặp bình minh.
Như đã rong chơi khắp nẻo đường chiều
Như đã đưa Em tới đỉnh tình yêu
Thôi nhé, cho anh giã từ trái đất
Anh đã nghe vang tiếng gọi càn khôn

 

Biết là mình sắp chết. Càn khôn là đất trời lớn. Tức là tiếng giả biệt. Em ở lại nhé. Anh phải đi…

 

Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn
Anh sẽ cho Em dắt tay lên đường

 

Trong đây phân biệt hai cõi. Một là cõi lớn. Và cõi này là cõi tạm. Cõi tạm chỉ có 100 năm thôi rồi mình phải tới cõi lớn. Điều đó là điều Phạm Duy cần phải được nhắc nhở. Chúng ta ở Làng Mai là chúng ta biết rất rõ Ta Ba là Tịnh Độ. Sinh Tử là Niết Bàn tùy theo cách chúng ta nhìn ta sống. Nhìn như thế này, sống như thế này thì cõi này là cõi Sinh Tử, khổ đau nhưng mà nếu có Trí Tuệ, có Chánh Niệm thì nhìn như thế này, sống như thế này thì đây là Tịnh Độ, đây là Niết Bàn. Cõi lớn cũng ở đây mà cõi tạm cũng ở đây. Điều đó là điều Phạm Duy chưa có học được.

Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn
Anh sẽ cho Em dắt tay lên đường

 

Không biết mình có vào cõi lớn được không mà dắt người khác. Mình phải vào cõi lớn được đã. Mà ngay trong giây phút này chưa vào cõi lớn được thì khi chết đi làm sao mình vào được, dắt ai được. Cho nên ngay trong hiện tại mình phải có khả năng tiếp xúc với cái cõi  lớn. Rồi mình mới có thể giúp người khác cùng đi vào cõi lớn. Còn trong 100 năm đó, mình không có khả năng tiếp xúc thì làm sao mình giúp người khác. Cho nên tư duy này vẫn là lưỡng nguyên. Cõi lớn, cõi tạm nó cũng ở đây. Tùy theo cách nhìn của mình mà nó là cõi tạm hay cõi lớn.

Một đường hành tinh
Đi thăm những Thái Dương
Anh dắt tay Em đi vào Ngàn Mai
Anh khoác vai Em bước về Ngàn Xưa

 

Đi về quá khứ, đi tới tương lai, mình có khả năng chưa mà dám nói mình sẽ đưa người yêu đi vào quá khứ, đi tới tương lai. Ngay đi vào hiện tại cũng chưa được. Hiện tại nắm chưa được mà sao đi vào quá khứ hay tương lai.

 

Ta sẽ quên như có mình nơi đó

Ta sẽ quên như có Ta nơi này

 

Nơi đó, nơi này tức là cõi Địa Cầu trong 100 năm. Khi mà bước vào cõi lớn thì không có quay lại đây nữa tại vì có nhiều hệ lụy, có nhiều đau khổ quá. Không muốn nhớ là đã có thời gian trong 100 năm mình đã ở chỗ đó. Muốn quên. Không cần nhớ nữa. Thành ra nó đi lại bài Rong Ca đầu Người tình già trên đầu non “Muốn lãng quên trăm năm một đời”.

 

Ta vứt sau ta những nẻo đường trần
Ta vút bay theo những nẻo đường tiên

 

Đường trần mình không đi nữa. Mình đi chỗ khác để có thể đi theo những nẻo đường tiên.

 

Ta vứt sau ta những nẻo đường trần
Ta vút bay theo những nẻo đường tiên
Nhưng nếu mai sau, ai gọi Người Tình
Anh sẽ quay lưng bước về nẻo xanh.

 

Nẻo xanh với Phạm Duy tức là nẻo đó. Nhưng với chúng ta thì nẻo xanh đó là ngay chỗ này.

 

Giờ mời đại chúng nghe anh Duy Quang – hát bài này. Đây cũng là lời tạm biệt của Thầy đối với Phạm Duy. Anh không có đi đâu hết. Anh ở lại đây với chúng tôi. Anh phải tiếp tục cùng với con cháu. Anh phải làm cho được điều đã hứa với Thầy là viết cho được Trường Ca Trường Sơn.

 

Thầy có viết 1 lá thư cho Phạm Duy nhờ phổ nhạc Bài kinh ca ngợi Bụt Amitabha và Lời nguyện cầu hướng về đất mẹ. Lá thư đó phải chuyển vào nhà thương. Lúc đó Phạm Duy yếu rồi không có cơ hội để đặt nhạc cho hai bài kia. Rất là uổng.

Đại chúng nghe Duy Quang hát bài Rong Khúc

Từ cõi xa xôi, muôn ngàn thế giới
Anh đã đi theo nắng từ trời vui
Anh xuống nơi chơi lúc Người mới tới
Anh đã hân hoan ghé qua cuộc đời
Cuộc đời trần gian
Chỉ có 100 năm
Anh đã rong chơi khắp miền hoang dã
Anh đã đi qua bốn bể gần xa,
Êm ái rơi theo tuyết miền băng giá
Hay cuốn bay theo gió sa mạc già
Ở nơi dương thế… mặn mà.

Anh đã rong chơi khắp nẻo đường trần
Anh đã quên đi những nẻo đường tiên
Chân đã tung tăng khắp nẻo đường đời
Anh đã cho Anh sống thật đầy vơi.

Đã chót đưa Em tới nguồn yêu dấu
Anh cũng theo Em bước vào khổ đau
Khi thấy ai trong cõi trần khô héo
Anh đã dâng cho trái tim nhiệm mầu
Đời mà chìm sâu
Cũng muốn leo cao
Anh bước khoan thai lối rừng hun hút
Đưa đón chân Anh có lửa hoàng hôn
Anh dẫn Em vươn tới miền an tĩnh
Cho bớt mông mênh cõi sinh mệnh buồn
Ở nhịp trần gian…quay cuồng.

Anh đã rong chơi khắp nẻo đường tình
Anh đã theo Em đi gặp bình minh.
Như đã rong chơi khắp nẻo đường chiều
Như đã đưa Em tới đỉnh tình yêu

Thôi nhé, cho anh giã từ trái đất
Anh đã nghe vang tiếng gọi càn khôn
Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn
Anh sẽ cho Em dắt tay lên đường
Một đường hành tinh
Đi thăm những Thái Dương
Anh dắt tay Em đi vào Ngàn Mai
Anh khoác vai Em bước về Ngàn Xưa
Ta sẽ quên như có mình nơi đó
Ta sẽ quên như có Ta nơi này
Và lộ trình Ta… miệt mài.

Ta vứt sau ta những nẻo đường trần
Ta vút bay theo những nẻo đường tiên
Nhưng nếu mai sau, ai gọi Người Tình
Anh sẽ quay lưng bước về nẻo xanh.

 

Bài viết có liên quan: http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/con-nguoi-vn/13020-nhac-si-pham-duy-da-ve-da-den.html

Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt

 

Nắng trên không gian và thơ trên nắng

Thơ làm ra nắng nắng ra thơ

Mặt trời cất chứa trong lòng trái khổ qua

Thơ bốc thành hơi trên bát canh mùa Đông,

trong khi bên ngoài gió hú

Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi cũ

Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven sông

Thơ nơi từng giọt mưa Xuân

Thơ trong từng đốm lửa hồng

Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm

Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử

Nắng vắng trong hư không, nhưng nắng chất đầy một lò sưởi đỏ

Nắng lên thành mầu Khói, thơ đọng thành mầu Sương

Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân

Giọt nước cúi xuống hôn Đất, cho hạt cây nẩy Mầm

Thơ đi theo mưa, về trên từng đọt Lá

Nắng thành mầu Xanh, thơ mầu Hồng

Nắng chở trên cánh Ong tới trút Ấm lên đài hoa

Thơ theo nắng về rừng xa uống Mật

Tưng bừng, xôn xao, bướm ong về chật đất

Nắng làm nên khúc Múa, thơ làm nên lời Ca

Mồ hôi giọt xuống đất khô, thơ bay trên luống cày

Cán cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở

Nắng rụng bên Sông, bóng Chiều ngập ngừng bỡ ngỡ

Thơ đi về chân trời, nơi vầng Sáng đang đắp chân mây

Mặt trời xanh rờn một rổ rau tươi

Mặt trời dẻo thơm trong bát cơm gạo Tám

Thơ trong ánh mắt em thơ, thơ trong mầu da nắng sạm

Thơ nơi từng cái Nhìn chăm chú

Thơ nơi từng bàn tay vun xới miền đồng chua nước mặn xa xăm

Mặt trời cười tươi trên bông hướng dương

Mặt trời trĩu nặng nơi trái đào Tiên tháng tám

Thơ nơi từng bước chân thiền quán

Thơ nơi từng dòng chữ

Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình Thương.
 

Thơ đối với tôi là một cái gì rất đẹp, không phải chỉ để tiêu khiển mà còn là chất liệu nuôi dưỡng. Thơ là không khí cho mình thở, thơ là nắng cho hoa nở, thơ là trái đào tiên tháng tám, thơ là những bước chân mình đang đi. Thơ rất cụ thể và liên đới tương quan với mọi sự, mọi vật.

Trong bài Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt có hình ảnh của một mái tranh nghèo đang đứng đợi ở ven sông. Đất nước Việt Nam ngày xưa nghèo lắm, những hình ảnh như là: quê hương tôi nước mặn đồng chua, những mái tranh nghèo đang đứng đợi bên sông. Những hình ảnh đó có thể mai này không còn nữa, nhưng trong thế hệ của tôi nó là một hình ảnh rất bền bỉ. Hình ảnh của một người nông dân cầm liềm, hay vác cuốc trên vai, cày cuốc mồ hôi nhỏ xuống mảnh đất khô cằn, v.v… Những hình ảnh đó còn mãi trong thế hệ chúng tôi. Bây giờ chúng ta có hình ảnh những chiếc máy cày, những nông trại rộng lớn. Nông dân bây giờ có nhiều người sử dụng máy vi tính, làm ra rất nhiều tiền. Những hình ảnh trong bài thơ này là những hình ảnh thi ca, thi vị nhưng có thể không còn thích hợp nữa.

Nắng trên không gian và thơ trên nắng
Thơ làm ra nắng, nắng ra thơ

Ở Làng Mai vào tháng tư, mình thấy nắng ấm, trời xanh. Nếu mình đi tìm thơ, thì thơ đó nằm trong nắng và trong trời xanh. Thơ đó, nắng đó và trời xanh đó nuôi mình sau những tháng Đông lạnh lẽo buốt giá. Mình đi thiền hành ở Xóm Thượng, Xóm Mới, hoặc Xóm Hạ, mình tiếp xúc với nắng, với trời xanh, và mình được nuôi dưỡng bởi những thứ ấy. Đó chính là thơ.

 

 

Thơ đây tức là sự sống, thơ đây tức là chánh niệm. Nếu có nắng mà không có thơ, nghĩa là: ta không biết rằng nắng có đó, thì nắng có cũng như không. Vì vậy cho nên thơ ở đây tức là ý thức sáng tỏ, là những chất liệu nuôi dưỡng thân tâm. Và nếu không có chánh niệm thì cũng không có gì hết: không có nắng, không có thơ mà cũng không có không gian. Cho nên tuy trong bài này không có danh từ chánh niệm, nhưng kỳ thực chánh niệm là gốc của tất cả mọi hạt nắng trên không gian. Nhờ cái gì mà mình biết rằng có nắng trên không gian? Nhờ cái tâm của mình, nhờ chánh niệm của mình cho nên mình biết rằng có không gian. Và nắng đang bay ở trên không gian – “nắng trên không gian”. Tại sao anh biết là có nắng trong không gian? Tại vì anh có cái biết.

“Thơ trên nắng”. Tôi không phải chỉ có ở đây, tôi ở cả trên kia. Ở bên Mỹ có một trường phái triết học phát sinh ra từ Princeton, họ nói “There is thinking in the blue sky” – có tâm của mình ở trong trời xanh. Không gian ở trên cao có ý thức của tôi ở đó. Nắng ở trên không gian, tâm tôi cũng ở đó. Tâm tôi không phải chỉ có trong ngực, trong cái thân này mà thôi. “Nắng trên không gian và thơ trên nắng”, ba cái chuyên chở nhau. “Thơ làm ra nắng, nắng ra thơ”. Nếu không có nắng thì làm sao có thơ? Nếu không có thơ thì làm sao có nắng? Đó là tương tức.

Mặt trời chất chứa trong lòng trái khổ qua.

Trái khổ qua là một gói quà tết và nếu mở ra, anh sẽ thấy gì? Thấy có mặt trời trong đó. Ngộ không? Nếu không có mặt trời chiếu hồi tháng sáu, tháng bảy, tháng tám, thì làm sao mình có trái khổ qua cất ở trong tủ đá của mình! Ở tại Làng Mai có khi trồng khổ qua ăn không hết, những trái khổ qua được bỏ vào tủ đá. Đến tháng mười hai, khi lạnh buốt, mình có thể đem ra một trái làm khổ qua hầm. Đây là chuyện đời sống hàng ngày chứ không phải là chuyện thơ thẩn gì hết. Mùa Đông ở bên này mặt trời không biết đi đâu? Nhìn lên là không thấy mặt trời, nhìn ngang nhìn ngửa cũng không thấy mặt trời, ta chỉ thấy một màu xám xịt từ ngày này tới ngày khác. Vậy mà xẻ trái khổ qua ra thấy mặt trời nằm trong đó!

Mặt trời chất chứa trong lòng trái khổ qua
Thơ bốc thành hơi trên bát canh mùa Đông,
Trong khi bên ngoài gió hú.

Mùa Đông có canh khổ qua do mình nấu lấy. Khi nấu canh, khổ qua bốc mùi thơm lên, và trái khổ qua đó biến thành thơ, rồi hơi nóng của bát canh bốc lên cũng là thơ.

“Thơ bốc thành hơi trên bát canh mùa đông, trong khi bên ngoài gió hú”. Mùa đông ở Pháp là như vậy. Gió hú từng cơn. Hồi tôi làm bài thơ này, Làng Mai chưa có hệ thống sưởi trung ương, phòng nào may mắn thì có một cái lò sưởi củi.

Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi cũ

Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven sông.

Quê hương không phải nằm ở phía bên kia, quê hương nằm ngay trong trái khổ qua. Khi ăn trái khổ qua thì nhớ ngay những hình ảnh quê hương ấy: Quê hương có chiến tranh, quê hương có nghèo đói, quê hương không có chủ quyền, quê hương bị áp bức. Trong bát canh, không phải chỉ có mặt trời, chỉ có không gian, chỉ có thơ… mà có luôn những điều như vậy. Mình chưa bao giờ lìa bỏ quê hương, dù là một năm, dù là bốn mươi năm.

Thơ nơi từng giọt mưa xuân
Thơ trong từng đốm lửa hồng

Nếu sống có chánh niệm, mình sẽ thấy tất cả đều mầu nhiệm. Một giọt mưa rơi xuống, chứa đựng cả thế giới tam thiên đại thiên, chứa đựng được tất cả quê hương.

Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm
Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử

Khúc gỗ thơm mà mình bỏ vào lò sưởi là nắng; nó chứa nắng trong lòng nó. Mặt trời mình nhìn lên không thấy, mặt trời không cho mình đủ sức ấm nhưng khúc củi bây giờ đây đại diện cho mặt trời, bỏ củi vào trong lò thì nó cho mình đủ sức ấm trong căn phòng nhỏ của mình. Tôi nhớ hồi viết quyển Đường Xưa Mây Trắng, trong phòng tôi chỉ có một cái lò sưởi củi và tôi hơ tay trái ở trên lò sưởi cho ấm còn tay phải thì tôi viết. Hạnh phúc chán. Ngồi viết được chừng ba bốn trang thì ngưng lại, đi nấu một bình trà. Ấm nước đặt trên lò sưởi đã sẵn ấm rồi, thành ra nấu trà rất mau. Mình phải thấy mặt trời ở trong khúc gỗ. Nếu không thấy thì làm sao mà có thơ được, làm sao mà có Đường Xưa Mây Trắng được! Một cái mình tưởng là không có mặt lại đang có mặt: Mặt trời mùa hè đang có mặt trong khúc gỗ thơm mà mình bỏ vào lò sưởi.

 

 

“Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm. Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử”. Khi đọc câu này tôi nhớ rằng bài thơ này được làm trong thời gian tôi viết cuốn Am mây ngủ. Am mây ngủ là một tác phẩm ngoại sử viết về đời của Trúc Lâm Thượng Sĩ và Công Chúa Huyền Trân. Vì là ngoại sử cho nên những chi tiết trong truyện được nghiên cứu rất kỹ, không phải do tưởng tượng mà viết ra. Nếu bây giờ chúng ta có cơ hội lấy Am mây ngủ ra đọc thì chúng ta sẽ thấy bát canh khổ qua, chúng ta sẽ thấy mặt trời cất chứa trong lòng gỗ thơm. Hồi đó, tôi xin nhắc lại, ở tại Làng Mai chưa có lò sưởi trung ương, chỉ có những cái lò sưởi củi mà thôi.

Nắng vắng trong hư không, nhưng nắng chứa đầy một lò sưởi đỏ

Gọi nó là hơi ấm, hay là nắng cũng được. Không những Khói phải viết hoa, Sương phải viết hoa mà cái gì cũng phải viết hoa hết mới được. Sự thực là như vậy. Tại vì tất cả đều là những cái hết sức mầu nhiệm, mầu nhiệm như Bụt, như đức Quan Âm. Bụt cũng có trong đó, đức Quan Âm cũng có trong đó. Cái gì đánh động, làm cho người ta phải quán chiếu: “Khói là cái gì? Sương là gì?thì cái ấy là chánh niệm, là Bụt, là Tổ, là hạnh phúc, là sự nuôi dưỡng. Đã biết bao nhiêu lần quý vị nấu cơm bằng củi, đã biết bao nhiêu lần quý vị chất củi vào trong lò sưởi, quý vị có ý thức không? Có thấy rằng những khúc củi đó chứa đựng mặt trời tháng tám không? Có khi nào quý vị vo gạo xong, đổ gạo, đổ nước vào trong nồi nấu cơm mà thấy được những gáo nước mình đổ vào nồi là do những đám mây ở trên trời cống hiến hay không? Sự khác nhau của người tu với người không tu ở chỗ đó. Khi mình đổ nước vào trong nồi nấu cơm mình phải biết rằng nước này là những đám mây. Mình dồn đám mây đó vào trong nồi cơm và khi cơm chín thì mình được nuôi nấng bởi những đám mây trên trời, bởi sức nóng của mặt trời nung nấu trên các cánh đồng đầy những bông lúa vàng rực. Và khi nấu cơm như vậy là mình tu. Khi mình nấu cơm như vậy thì mình là thi sĩ. Khi mình nấu cơm như vậy, là mình đang thiền. Quý vị đâu có cần tới chùa mới làm được chuyện đó. Ở nhà mình cũng có nấu cơm phải không? Sống cho thảnh thơi, sống cho vững chãi, sống dừng lại trong từng giây phút để nhìn cho kỹ. Có tâm của mình trong đó, có chánh niệm trong đó thì giây phút nào cũng mầu nhiệm. Sương cũng mầu nhiệm, khói cũng mầu nhiệm, trái khổ qua cũng mầu nhiệm, những hạt gạo bỏ vào nồi cũng mầu nhiệm, mà nước chế vào trong nồi để nấu cơm cũng mầu nhiệm. Hạnh phúc là ở chỗ đó, quý vị còn đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa? Cứ đợi đến khi làm giám đốc hoặc làm pháp chủ rồi mới có hạnh phúc hay sao?

Nắng cất giữ trong từng hạt mưa xuân
Giọt mưa cúi xuống hôn Đất, cho hạt cây nẩy Mầm

Nếu không có nắng thì sức mấy mà có mưa. Nếu không có mưa thì sức mấy mà hạt cây nẩy mầm.

Chữ Đất cũng viết hoa, chữ Mầm cũng viết hoa. Mình phải vinh danh Đất, mình phải vinh danh cái Mầm hạt cây. Cái gì cũng quý giá vô cùng. Đây là tình yêu.

Thơ đi theo mưa về trên từng đọt lá

Mưa. Mưa xuân. Mỗi hạt mưa xuân là một bài thơ. Bài thơ này không phải là chuyện tình cảm vẩn vơ, đây là sự nuôi dưỡng. Không có những trận mưa xuân đó thì làm sao mình có hoa có trái, có cơm có gạo!

Thơ đi theo mưa về trên từng đọt lá
Nắng thành màu xanh, thơ màu hồng

Một nắm rau mồng tơi màu xanh hay một nắm rau tía tô màu tím, tất cả những cái đó đều là thơ. Khỏi phải ra nhà sách mua một tập thơ, cứ ra vườn đi: nhìn vào cái nào cũng thấy đó là thơ hết. “Lá tía tô gọi hạt mồng tơi”[2]. Hạt mồng tơi là thơ, lá tía tô cũng là thơ. Và bây giờ quý vị có thể hình dung thấy Thầy Nhất Hạnh đang đi thiền hành một mình từ Xóm Thượng xuống Sơn Hạ.

Nắng chở trên cánh ong tới trút ấm lên đài hoa
Thơ theo nắng về rừng xa uống mật
Tưng bừng xôn xao, bướm ong về chật đất
Nắng làm nên khúc múa, thơ làm nên lời ca

Một con ong có thể chở đầy nắng trên cánh. Phải để ý mới được. Trong khi mình đi, mình đừng để cái tâm của mình đưa mình bay bổng lên hư không. Mình phải tiếp xúc với tất cả những mầu nhiệm của sự sống. “Nắng chở trên cánh Ong (chữ Ong viết hoa) tới trút ấm lên đài hoa”(Nó chở, nó giao hàng mà!). Ong chở nắng trên cánh nó và khi tới bông hoa thì nó giao hàng, nó trút nắng vào đài hoa.

 

 

Chữ Múa viết hoa, lời Ca cũng viết hoa. Đâu phải lát nữa mình mới làm văn nghệ hay là mồng Một Tết mình mới làm văn nghệ. Mình đi thiền hành, mình thấy ong, bướm, hoa làm văn nghệ. Xin đọc lại mấy câu này, mấy câu văn nghệ:

Nắng chở trên cánh ong tới trút ấm lên đài hoa
Thơ theo nắng về rừng xa uống mật
Tưng bừng xôn xao, bướm ong về chật đất
Nắng làm nên khúc múa, thơ làm nên lời ca.
Mồ hôi giọt xuống đất khô, thơ bay trên luống cày

Nghèo thì nghèo thật đó, nhưng khi mình có thơ, có sự sống thì mình còn phong lưu, nhàn nhã, không bận rộn quá. Đi cũng đi thong thả thôi, đi cuốc ruộng mà. Ngày xưa ở chùa Từ Hiếu, tôi cũng có đi cuốc đất trồng khoai, trồng sắn, gánh nước, chặt củi. Tôi làm việc như vậy nhưng thanh thản lắm, đâu có bận rộn như các thầy bây giờ.

Cán cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở.

Đi từng bước có chánh niệm và thực tập hơi thở. Ngày xưa Tổ Bách Trượng cũng chấp tác ở ngoài vườn. Cố nhiên, trong khi vác cuốc Ngài cũng thở cũng mỉm cười và cũng đi từng bước chân thảnh thơi như vậy.

Cán cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở.

Nắng rụng bên sông, bóng chiều ngập ngừng bỡ ngỡ

Thơ đi về chân trời, nơi vầng sáng đang đắp chăn mây

Chữ chăn này có nghĩa là mền. “Vầng sáng đang đắp chăn mây” tức là mặt trời đắp mền ngủ rồi. Trong tập thơ Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt, nhà in đã in sai chữ “chăn mây” (cái mền mây) thành chữ “chân mây”. “Đắp chân mây” là đắp cái gì mình không hiểu được. “Thơ đi về chân trời, nơi vầng sáng đang đắp chăn mây”. Mặt trời mà còn biết đi ngủ, còn mình thì cứ làm việc “non stop”, không chịu đi ngủ. Có sẵn cái máy tính đó, mình cứ làm việc hoài.

Mặt trời xanh rờn một rổ rau tươi
Mặt trời dẻo thơm, trong bát cơm gạo tám

Sư cô mới vừa đi hái rau về, sư chú vừa mới đi hái rau về. Đặt rổ rau xuống, cho tôi được nhìn coi! Đây là rau cải nè, đây là rau mồng tơi nè, đây là rau tía tô. Rau xanh rờn như vậy đó, nhưng rau cũng chính là mặt trời. Mặt trời không phải chỉ là màu đỏ mà thôi. Nếu anh nghĩ rằng mặt trời là màu đỏ thì anh lầm. Cái rổ rau này là mặt trời, và mình thấy một mặt trời rất xanh. Người nào thấy được mặt trời màu xanh thì người đó mới là người tu, còn thấy mặt trời chỉ là màu đỏ thôi thì chưa phải là người tu. “Mặt trời xanh rờn một rổ rau tươiMặt trời dẻo thơm trong bát cơm gạo Tám”. Có ai nói mặt trời “dẻo” và “thơm” không? Khi mình nhai cho có chánh niệm bát cơm gạo tám thì mình thấy cơm dẻo và thơm giống như mặt trời dẻo, mặt trời thơm vậy đó. Nếu như không có mặt trời thì sức mấy mà có cái bát cơm này cho mình ăn. Đây là cái tương tức, đây là cái duyên sinh. Và mặt trời là cái mình đang tiêu thụ.

 

 

Thơ trong ánh mắt em thơ, thơ trong màu da nắng sạm
Thơ nơi từng cái nhìn chăm chú
Thơ nơi từng bàn tay vun xới miền đồng chua nước mặn xa xăm.

Nhìn mà thấy được thì mới gọi là nhìn, còn nhìn mà không thấy được thì đó chưa phải là nhìn. Danh từ thiền gọi là khán đáo, tức là nhìn cho kỹ, nhìn cho rõ. Nếu là công án, nếu là thoại đầu thì mình phải nhìn bằng tất cả niệm và định của mình mới thấy được. Nhưng mình đâu cần công án, đâu cần thoại đầu, mình chỉ cần nhìn cái nắm rau mồng tơi thôi, mình chỉ cần nhìn vào gáo nước mình đang đổ vào nồi nấu cơm thôi, thì đã là khán công án rồi. Quý vị nên nhớ cái nhìn đó đem lại rất nhiều hạnh phúc. Mình nhìn con thấy cha, mình nhìn đệ tử thấy thầy, mình nhìn thầy thấy Bụt. Nhìn như vậy đáng để cho mình nhớ. Thương nhau là ở chỗ mình có nhìn được bằng cái tâm của mình hay không.

Tất cả đều nằm trong giây phút hiện tại

Mặt trời cười tươi trên bông hướng dương.

Bông hướng dương ở bên này còn gọi là bông mặt trời (sun flower).

Mặt trời trĩu nặng nơi trái đào tiên tháng tám

Hồi nãy mình nói mặt trời màu xanh, rồi mình nói mặt trời dẻo, rồi mình nói mặt trời thơm, bây giờ mình nói mặt trời trĩu nặng. Tại vì mặt trời đang có mặt ở trong trái đào tiên tháng tám, mặt trời trĩu nặng trong trái đào tiên tháng tám.

Thơ nơi từng bước chân thiền quán

Nếu trong bước chân của sư chú có thơ, thì sư chú hạnh phúc quá đi. Nếu không có thơ trong bước chân, thì sư cô đâu có hạnh phúc. Vì vậy cho nên phải để thơ vào trong chân mà đi sang Làng Mai. Tôi cũng đã có cơ hội ngồi đọc bài thơ này cho quý vị.

Thơ nơi từng dòng chữ
Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình Thương.

Hồi đó, có biết bao nhiêu người bị kẹt lại, trong đó có văn nghệ sĩ, những người đi học tập cải tạo. Bên này có một chương trình gởi quà về cho gia đình những người đó. Những hộp quà toàn là thuốc Tây. Và khi gia đình những người đi học tập cải tạo nhận được gói quà và đem ra bán thì họ có đủ tiền để đi thăm nuôi, để sống trong vòng ba tháng. Lúc đó có rất nhiều những người trẻ xuất gia cũng như tại gia ở đây tham dự vào công việc gói quà để cứu trợ cho những người ở bên nhà. Công việc phải làm trong bí mật, nếu không thì sẽ liên lụy tới những người nhận quà ở Việt Nam. Công việc đầy tràn tình thương. Mình nuôi ai bằng công tác đó? Trước hết là nuôi tình thương trong mình. Trong khi bao nhiêu người chịu bó tay không làm được một chút xíu gì cho dân cho nước cả, mà mình tìm ra được những phương pháp để có thể giúp cho một số người ở trong nước đang lâm vào tình trạng khó khăn, thì đó trước hết là một hạnh phúc cho chính mình. Mình nuôi dưỡng được tình thương cho chính mình. Cho nên mới có câu:

“Thơ nơi từng dòng chữ. Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình Thương”. Dòng chữ trên nắp hộp nói là thuốc này nếu đem bán thì có thể có được số tiền nào đó để mà chữa bệnh, để mà nuôi dưỡng. Nuôi tình thương, nhưng nuôi kín đáo, không ồn ào, không khoe khoang, không kể công.

Ngày xưa có cơ hội, một số anh em cựu tác viên của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã được bảo lãnh. Bây giờ bên nhà đã sắp tới giờ Giao Thừa chưa? Tôi xin thỉnh một tiếng chuông để chấm dứt buổi Pháp thoại hôm nay, để các vị ở bên Pháp Vân, Bát Nhã và Từ Hiếu chuẩn bị, vì các vị còn đúng một giờ đồng hồ nữa để chuẩn bị đón Giao Thừa. Bên này thì còn tới bảy giờ đồng hồ nữa mới tới Giao Thừa. Bên này sẽ đi thiền hành trước, và lúc năm giờ rưỡi thì đại chúng ở bên này sẽ đắp y ngồi thiền và lúc sáu giờ tức mười hai giờ khuya bên nhà thì sẽ khai chuông trống Bát Nhã và lạy tổ tiên tâm linh và huyết thống. Quý vị bên nhà có tưởng tượng được không: Bảy giờ chiều nay – tức là khoảng một giờ khuya bên đó – thì bên này ăn chiều. Vào hai giờ khuya bên kia thì bên này bắt đầu trình diễn văn nghệ. Bên này còn thức dài dài.

Kính chúc tất cả các thầy, các sư cô, các sư chú, các Phật tử ở bên nhà có một năm mới Bính Tuất nhiều hạnh phúc, nhiều vững chãi, nhiều thảnh thơi. Có thật nhiều cơ hội để thực tập hạnh phúc.

[1]Nhất Hạnh, “Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt” trong Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt, Tuyển Tập Thơ, Walnut Creek, California, Lá Bối, 1996, trang 7-8.

[2]Một câu thơ trong bài Cúc Cu Đúng Hẹn của Thầy Nhất Hạnh.

Máu chảy ruột mềm – Bình nhạc “Biển sau giông tố” – Lê Thương


biensaugiongto.bmp

Kính mời quý vị, chúng ta cùng thở. Thở vào tôi biết là tôi đang còn sống, thở ra tôi trân quý sự sống nhiệm màu. Sở dĩ tôi mời quý vị cùng thở và trân quý sự sống vì hôm nay tôi muốn mời quý vị “gặp gỡ” với cố nhạc sĩ Lê Thương và tác phẩm “Biển sau giông tố” của ông. “Biển Sau Giông Tố” là một sáng tác của Lê Thương mà ở Việt Nam chưa có ai biết đến. Đây là lần đầu tiên chúng ta được biết tới bài hát này. Bài hát nói về những cảm xúc của nhạc sĩ Lê Thương đối với đồng bào đã tử nạn dưới biển khơi. Con số các thuyền nhân chết chìm dưới đáy biển có thể lên tới bảy mươi lăm ngàn người (75.000 người). Nếu chúng ta nghĩ tới cái World Trade Center làm thiệt mạng ba, bốn ngàn người thì con số đó chẳng thấm thía vào đâu so với thảm kịch thuyền nhân Việt Nam sau năm 1975. Cái thảm kịch của thuyền nhân, chưa có một tác phẩm nào có thể nói lên được. Hôm nay cũng là ngày chúng ta tưởng niệm những thuyền nhân chết dưới biển, các vị ấy cũng đang có mặt với chúng ta tại tu viện Lộc Uyển. Lát nữa, chúng ta sẽ thắp một nén nhang để tưởng niệm đồng bào của ta đã không may mắn vượt qua được bờ bên này như chúng ta và đã chết tăm tối, khổ đau, tuyệt vọng dưới lòng đại dương.

Hôm nay cũng là ngày của cố nhạc sĩ Lê Thương nên mình phải để cho Lê Thương “nói trước”. Riêng tôi thì tôi thấy Lê Thương đang có mặt với chúng ta một cách rất thiết thực. Mấy ngày hôm nay, các thầy, các sư cô đã tập bài hát “Biển sau giông tố”. Và chúng ta cũng may mắn có chị Ngô Thị Liễu Thu – con gái của cố nhạc sĩ Lê Thương hiện cũng đang có mặt ở đây.

longmeVietNam.bmpChúng tôi nhận được bài nhạc “Biển sau giông tố” của nhạc sĩ Lê Thương vào đầu năm 1980. Lê Thương sợ bị kiểm duyệt nên phải gửi riêng từng tờ một, nhạc riêng, lời riêng. Nhưng chúng tôi đã nhận được đầy đủ cả.

Niềm tuyệt vọng là kẻ thù lớn nhất của con người. Khi chúng ta lâm vào tình thế tuyệt vọng rồi thì không còn sự sống nữa. Trịnh Công Sơn có một bài hát có câu: “có điều gì gần như niềm tuyệt vọng”. Gần như niềm tuyệt vọng thôi, nghĩa là Trịnh Công Sơn cũng đang mấp mé tới cái hố của sự tuyệt vọng rồi. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng đã từng bước tới cái bờ mé của niềm tuyệt vọng, nhưng nhờ phúc đức của tổ tiên nên chúng ta đã vượt thoát được.

Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ biết bao nhiêu người cảm thấy mình đang ở trong niềm tuyệt vọng cho nên cố mở một con đường để thoát thân. Và rất nhiều người đã nghĩ con đường đó là đại dương. Tại vì đại dương hứa hẹn tự do, hứa hẹn tương lai. Cho nên Lê Thương có nói: “Xa xôi muôn hướng nước xanh thái bình dương. Mở nghìn muôn lối đường dẫn ra tới ngàn phương” đó là niềm hy vọng mới. Niềm hy vọng đó do biển cống hiến vì vậy mà nhiều người đã bỏ nhà, bỏ quê hương, bỏ đất nước, bỏ mồ mả của tổ tiên để mà ra đi. Nhưng khi ra đi chúng ta gặp cái gì? Chúng ta gặp bão tố. Có những gia đình chết trọn dưới đáy biển.

Lê Thương đã được nghe nói rất nhiều về những thảm trạng xảy ra ở ngoài biển. Lê Thương có một trái tim đầy xúc cảm và ông đã nói được thay cho đồng bào, nói được thay cho tất cả những nạn nhân của biển trong bài hát Biển sau giông tố”. Theo tôi, đây là một tác phẩm lớn. Một tác phẩm có thể nói lên được niềm đau của cả một dân tộc. Biến cố thuyền nhân chết trên biển là một biến cố rất lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Bảy mươi lăm ngàn người chết dưới đáy biển là một niềm đau rất lớn, nó là một vết thương còn mãi mãi với dân tộc. Chúng ta phải làm thế nào để có thể học được những bài học từ những đau thương ấy. Các thầy, các sư cô Làng Mai đã hát bài hát này không phải như những ca sĩ chuyên nghiệp nhưng bằng trái tim biết cảm thông. Lê Thương là một người có trái tim rất lớn nên đã cảm được, nói lên được những niềm đau, nỗi khổ đó thay cho tất cả chúng ta. Tôi nghĩ đây là một tác phẩm lớn, so với Hồn Vọng Phu có thể nó quan trọng hơn nhiều.

Xa xôi muôn hướng
Nước xanh Thái Bình Dương
Mở  nghìn muôn lối đường
Dẫn ra tới ngàn phương.

Đó là niềm hy vọng. Niềm hy vọng để cứu mình ra khỏi niềm tuyệt vọng. Tại vì trong tình trạng đó, hàng triệu người không thấy được con đường tương lai cho mình và con cháu mình. Nhưng khi mình nghe theo tiếng gọi hấp dẫn của trùng dương thì mình sẽ gặp những khó khăn nào?

Mênh mông biển cả, gió cắn xé ngàn.

Gió nó cắn, gió nó xé mình.

Xa xôi nghìn ngả đang trôi phũ phàng.
Mênh mông chìm nổi xa xôi mòn mỏi
Mây sâu giông tố đang biến tan
Thương ba quoằn quại
Như con vật dại
Chưa nguôi cơn giận giữ xa ngàn.

Thương ba tức là sóng màu xanh. Những đợt sóng xanh quoằn quại như là con quái vật hoang dại bị người ta lấy ra khỏi núi rừng của nó.

Biển là quán gió
Chiêu hồn tha hương.

Đây là một chiêu hồn ca, đây là một bài kinh cầu nguyện gọi hồn. Bài này phải thấy nó như vậy mới được.

Biển còn chứa chan
Ước vọng kinh hoàng
Lạnh lùng thấu đáy.

Biển rất lạnh lùng. Lạnh lùng tới tận đáy biển.

Biển cười chua cay
Theo bao duyên ba đào
duyên ba đào
Biển còn sóng gió
Biển còn xa xôi
Nơi thăm thẳm vừa  mênh mông
Vừa sóng gió, vừa bão tố
Tâm can biển vừa thâm u,
Vừa tối ám nghìn thu
Mỗi lớp cồn đợt sóng
Đem theo một hoài mong
Của mỗi một sinh kiếp đã bị vực sâu chôn vùi.
Nơi nham hiểm mà uy nghi
Mà du dương mà quyến luyến.

Biển rất nham hiểm, biển rất độc ác, nhưng biển rất khêu gợi và quyến rũ vì vậy cho nên ta đã nghe lời của biển để rồi chết ở dưới dáy biển.

Ai nuôi mộng biệt ly
Đứng bến chờ làm chi

Ai quyết định bỏ quê hương, đất nước, bỏ mồ mả ông bà mà đi? (ai nuôi mộng biệt ly). Còn những người kia, đứng bến chờ làm chi? Biết người ta có tới được hay không, hay là người ta chết ở giữa đường, ở dưới biển.

Xa xăm vời vợi xa xăm
Tàu vượt đi không về.
Lênh đênh bào ảnh
Xé xác cuối ngàn

Thân mình bị xé ra thành từng mảnh, chiếc thuyền của mình bị đập tan thành từng mảnh.

Văng trôi mỏng mảnh
Tràn lan đuối tàn
Lênh đênh bọt nổi
Văng trôi mệt mỏi
Lạc loài vô cố
Trên sóng nâu.
Thương ba mệt lả
Thân xanh mềm ngả
Như không gian thần nữ khẩn cầu
Sóng xanh mệt lả
Lựa từng tiếng sóng
Cho người mê ly
Biển còn dõi  theo
Số phận ly kỳ

Mình không biết số phận mình rồi sẽ về đâu, mình không biết cái trụ điểm của mình.

Giận hờn chán ngán
Đem lời kêu van
Trong dã tâm ba đào
Còn nhiều sóng gió
Còn nhiều gian nguy.
Nơi thăm thẳm
Vừa mênh mông
Vừa sóng gió
Vừa bão tố
Thâm can biển vừa thâm u
Vừa tối ám ngàn thu
Mỗi lớp cồn đợt sóng
Đem theo một hoài mong
Của mỗi một sinh kiếp
Đã bị vực sâu chôn vùi.
Nơi nham hiểm
Mà uy nghi
Mà du dương
Mà quyến luyến
Ai nuôi mộng biệt ly
Đứng bến chờ làm chi
Xa xăm vời vợi xa xăm
Tàu vượt đi không về.

Năm 1968 tôi được đức tăng thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, ủy nhiệm cho thành lập một phái đoàn Phật Giáo Việt Nam để có mặt tại Hội Nghị Hòa Bình ở Paris. Tại vì trong Hội Nghị Hòa Bình Paris có các phe lâm chiến tham dự, nhưng không có tiếng nói của người dân. Giáo Hội muốn nói được tiếng nói của người dân vì vậy Phái Đoàn Hòa Bình của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập tại Paris năm 1968, ban đầu đặt trụ sở ở Maisons Alfort, sau chuyển về Paris số 11 Rue de la gotte d’or. Chúng tôi cung cấp cho các giới nhân bản, các giới tôn giáo, các giới báo chí, các giới chính trị những tin tức mà hai phe lâm chiến không cung cấp. Đó là những đau khổ, những áp bức, tuyệt vọng của người dân. Đường lối của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là không muốn đất nước bị tan tành bởi một cuộc tranh chấp giữa hai phía. Không muốn có chuyện anh em một nhà bôi mặt đá nhau. Không muốn người Việt sử dụng ý thức hệ ngoại lai và vũ khí ngoại lai để giết nhau. Đó là đường hướng mà đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết ban bố. Chúng tôi làm việc từ năm 1968 cho đến năm 1974 – 1975. Trong quá trình hoạt động đó, chúng tôi đã kết thân được với rất nhiều người bạn ở Tây Phương, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc. Họ đã yểm trợ cho chúng tôi trong công tác vận động để làm vơi bớt những đau khổ ở bên nhà.

Chúng tôi nhớ là trong thời gian đó, chúng tôi đã tìm được người bảo trợ cho trên tám ngàn (8000) em bé mồ côi ở Việt Nam. Chúng tôi không thiết lập những cô nhi viện. Chúng tôi có tác viên xã hội khắp nơi trong đất nước. Chúng tôi tìm nhà một người thân của em bé mồ côi như ông chú, bà cô và gửi em bé vào đó để em bé được sống trong một không khí gia đình. Mỗi em mồ côi như vậy được cung cấp khoảng 5 đô la mỗi tháng để có đủ tiền ăn học. Những tác viên của chúng tôi tới thăm những gia đình ấy mỗi ba tháng một lần để xem em bé mồ côi kia có được ăn học đàng hoàng hay không. Nếu em bé không được đối xử tốt thì chúng tôi sẽ tìm cho em bé một gia đình khác khá hơn.

Phái đoàn của chúng tôi ở Paris có rất nhiều người trẻ tới từ nhiều nước khác nhau: Hà Lan, Anh, Mỹ, người Úc, Thụy Sĩ v.v… Họ ở và làm việc với chúng tôi không nhận lương. Chúng tôi đã làm việc với nhau trong tinh thần thân ái như vậy. Chúng tôi dịch những hồ sơ cô nhi từ các tỉnh, các quận, rồi chúng tôi đi tìm những nhà bảo trợ. Cuối cùng, chúng tôi đã bảo trợ được gần 10.000 em bé mồ côi. Có rất nhiều trường hợp trong đó 5 đô la không phải chỉ dành riêng cho các cô nhi được bảo trợ. Tại vì gia đình đó nghèo khổ, những đứa trẻ con ruột của họ cũng gặp khó khăn, cho nên 5 đô la ấy được chia ra cho cả những đứa trẻ khác trong gia đình. Như vậy là 5 đô la đó không chỉ giúp cho em bé mồ côi mà còn giúp cho cả gia đình nhận nuôi em bé ấy.

Trong quá trình vận động đó, chúng tôi đã tiếp thân với rất nhiều người trong giới tôn giáo, trong giới nhân bản, trong giới trí thức. Nhưng sau năm 1975, tất cả những công tác của chúng tôi để giúp đỡ cho quê nhà bị chấm dứt hết. Chính quyền mới tuyên bố rằng: “Chúng tôi không cần quý vị. Chúng tôi tự lo được.” Lúc bấy giờ ở Việt Nam, tất cả các cơ sở của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất như: trường đại học, trường trung học, tiểu học, bệnh xá, các cô nhi viện bị đóng cửa 100%. Bên này chúng tôi đành bó tay, không có cách nào giúp được cho bên nhà. Bên nhà bị lâm vào tình trạng tuyệt vọng nhưng bên này chúng tôi cũng tuyệt vọng. Mình có hai tay mà mình không làm được gì để giúp đồng bào mình ở bên nhà. Trong hoàn cảnh đó chúng tôi không biết phải làm sao. Sau đó, chúng tôi ngồi thiền, đi thiền hành và cuối cùng chúng tôi tìm ra được một vài công tác để có thể tiếp tục giúp đỡ đồng bào trong nước và những công việc ấy cũng giúp chúng tôi trấn áp được niềm tuyệt vọng cứ muốn kéo chúng tôi đi.

Lúc ấy ở bên nhà, các văn nghệ sĩ, các nhà trí thức, các nhà nhân bản và doanh thương cũng lâm vào tình trạng bế tắc. Không tìm được lối thoát nên nhiều người đã đi tìm niềm hi vọng bằng cách vượt biên. Trong giai đoạn đó, tại một buổi sinh hoạt giữa các anh chị em, chúng tôi nhận thấy rằng, trong lúc tuyệt vọng, chúng tôi phải trở về tu tập để tìm ra một con đường mới. Vì vậy chúng tôi đã từ giã Paris để trở về trung tâm tu học của chúng tôi tại một miền quê cách Paris chừng 150 km. Trung tâm đó có tên là Phương Vân Am. Chúng tôi trở về quyết tâm tu tập, để chữa lành vết thương trong mình và để tìm ra một con đường mới.

Trong khi tu tập, quán chiếu, chúng tôi quyết định là tuy chúng tôi không giúp đỡ được cho hàng chục ngàn trẻ mồ côi, cho người già, cho các trường học, và hàng trăm dự án giúp cho đồng bào tỵ nạn chiến tranh, nhưng chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi có khẳ năng giúp cho giới học giả và văn nghệ sĩ ở quê nhà. Tại vì giới văn nghệ sĩ và học giả có thể nói lên được tiếng nói của trái tim, của dân tộc. Và chúng tôi đã tìm ra một phương pháp. Cách của chúng tôi là gửi quà cho mỗi văn nghệ sĩ một năm ba hoặc bốn lần. Những gói quà đó có thể giúp họ vượt qua khó khăn để tiếp tục đi tới. Hồi đó bưu điện Pháp chỉ cho phép  một gói quà gửi về Việt Nam là 1kg thôi. Chúng tôi biết rằng cái quý nhất ở Việt Nam lúc đó là thuốc tây. Vì vậy chúng tôi đã mua những loại thuốc tây đắt tiền để gửi về.

Thứ nhất, thuốc này có thể chữa bệnh cho những người trong gia đình của những văn nghệ sĩ đó. Thứ hai, thuốc ấy cũng có thể bán đi lấy tiền mua gạo, mua thức ăn. Đây không phải là công việc xã hội. Đây là một công việc có nhiều mặt, tại vì nhân cách của giới văn nghệ sĩ rất cao. Họ không muốn nhận bố thí từ người khác. Vì vậy, chúng tôi đã đóng vai là những độc giả ngưỡng mộ họ. Khi chúng tôi gửi một món quà như vậy thì chúng tôi phải gửi thêm một lá thư, lá thư đó chứng tỏ là người viết rất trân quý, rất thán phục những tác phẩm của họ và nói rằng nhờ họ mà người viết lớn lên được. Rằng, họ là những tinh hoa của đất nước; họ đã nói ra được bằng trái tim của họ những cái hay, cái đẹp, nói lên được những nỗi niềm của dân tộc của tổ tiên. Chúng tôi cũng nói rằng, món quà này chẳng qua chỉ là sự chứng tỏ lòng biết ơn của chúng tôi với nhà văn, nhà nghệ sĩ đó mà thôi. Chúng tôi muốn viết những bức thư ấy như thế nào để nhà nghệ sĩ kia cảm thấy là họ có người hiểu, họ có người thương, điều ấy khiến cho họ có ý chí muốn sáng tác trở lại. Tại vì hầu hết, có thể nói tới 99% văn nghệ sĩ trong môi trường đó, trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ hoàn toàn tê liệt, không thể sáng tác được một cái gì hết. Họ hoàn toàn bị niềm tuyệt vọng trấn ngự. Họ không thấy tương lai đâu hết cho nên họ không thể sáng tác được.

Hồi đó tôi làm cố vấn cho các cô, các chú trẻ viết thư. Trung tâm tu tập của chúng tôi tại Phương Vân Am có rất nhiều người trẻ, trong đó có cả sư cô Chân Không. Hồi ấy sư cô Chân Không mới chỉ khoảng hai bẩy, hai tám tuổi thôi. Chúng tôi cùng ngồi thiền, cùng làm việc với nhau trong chánh niệm. Tôi cố vấn cho các bạn trẻ cách viết thư vì tôi biết được những tác phẩm của những nhà văn nghệ sĩ kia. Tôi hướng dẫn cho họ cách viết làm sao để cho người nhân sĩ đó thấy được rằng, chà, cái bọn trẻ này nó hiểu mình khá sâu sắc. Mình có người hiểu ở ngoại quốc thì tại sao mình phải tuyệt vọng. Rốt cuộc, những người trẻ trong cộng đồng của tôi đã gây được cảm hứng cho một số đáng kể trong những văn nghệ sĩ ấy. Nhiều người trong số họ đã bắt đầu sáng tác trở lại.

Hồ Dzếnh là một thi sĩ đã sáng tác lại sau khi nhận được thư và quà của chúng tôi. Lê Thương cũng là một người như vậy. Lê Thương cũng là nạn nhân của sự tuyệt vọng. Trong những lá thư Lê Thương gửi cho chúng tôi, Lê Thương đã tả rõ hoàn cảnh xã hội thời đó và tình trạng của các anh chị em văn nghệ sĩ khó khăn như thế nào. Lê Thương viết cho chúng tôi nhiều lắm, có thể in thành một tập sách dày một trăm năm mươi trang là ít. Đó là những tư liệu về văn học rất quý giá, khi điều kiện thuận lợi, chúng tôi sẽ công bố.

Giống như các thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ khác, Lê Thương cũng phải phấn đấu để vượt thoát niềm tuyệt vọng của mình. Đây là một lá thư của Lê Thương mà chúng tôi đã đánh máy ra. Và đây là một đoạn mà Lê Thương viết cho Phương Hương, Phương Hương là một em gái hậu phương nâng đỡ tinh thần cho người chiến sĩ tiền tuyến trong mặt trận văn nghệ.

 

“Tôi không muốn nói tới những lúc khóc thầm trong đêm tối một mình, cả đến những u buồn diệu vợi khi chợt nghĩ đến tương lai còn mờ mịt, vì tôi vẫn còn giữ vững được niềm tin và sức sống bền bỉ trong đêm, hằng không muốn tự tiêu diệt bằng nản chí. Khi thấy lòng càng ngày càng cô đơn giữa đám đông nhộn nhịp thì chỉ cần lá thơ nhỏ như lá thơ của em là đủ làm sống dậy bao nhiêu hy vọng đẹp ngổn ngang và thấy ngày mai vẫn còn đáng sống”.


Đó là ông viết sau khi đã đọc một lá thơ của Phương Hương. Phương Hương là một người trẻ trong cộng đồng của chúng tôi và tôi là cố vấn cho Phương Hương. Thành ra Lê Thương đâu có biết rằng trong Phương Hương có thầy Nhất Hạnh.

 

Nhà văn Duyên Anh đang sống tuyệt vọng trong một trại học tập cải tạo thì một ngày nọ, bà Duyên Anh tới cùng với đứa con và kể chuyện rằng tự nhiên trong đời mình xuất hiện một bà tiên gửi quà, gửi thư an ủi, khuyến khích. Trong trại học tập cải tạo, vào lúc tâm hồn đang trĩu nặng, xâm chiếm bởi niềm tuyệt vọng thì nhà văn Duyên Anh nghe được tin đó. Nhà văn Duyên Anh biết được rằng, trong lúc mình bị tù đầy thì có một người phụ nữ tên là Angelina đã xuất hiện và chăm sóc cho gia đình mình. Đó là một phân thân khác của tăng thân, Phương Hương là một cái tên, Angelina là một cái tên khác. Vì đây là hạnh nguyện của đức Bồ Tát Quan Thế Âm hiển hiện ra muôn ngàn thân để với tới muôn ngàn tình thương.

Đối với Doãn Quốc Sĩ thì người đi tới với Doãn Quốc Sĩ là cô Chín và dì Năm. Và quý vị có biết dì Năm là ai không? Là Thầy Nhất Hạnh. Sau này, khi Doãn Quốc Sĩ biết dì Năm là thầy Nhất Hạnh thì Doãn Quốc Sĩ đề nghị dì Năm đổi tên thành cô Năm.

Nhà học giả Đào Duy Anh rất cô đơn. Trong tình trạng đó có một người tự xưng là cháu, tên là Đào Thị Mây gửi quà qua cùng với những bức thư nói nên niềm khát vọng và tín ngưỡng của mình đối với bậc học giả đó. Đào Thị Mây lại là một hóa thân khác của đức Quan Thế Âm. Thành ra Đào Thị Mây, cũng như cô Chín, dì Năm, Angelina, hay Phương Hương đều là những hóa thân của đức bồ tát Quan Âm. Chúng tôi cũng đã nhận được rất nhiều thư của các văn nghệ sĩ bên nhà. Có nhiều người cho chúng tôi biết rằng họ đã có thể bắt đấu sáng tác trở lại. Niềm vui đó không phải chỉ để cho họ mà còn cho tất cả chúng tôi. Tại vì khi mình gây được cả hứng cho một nhà văn sĩ, nhà thi sĩ, nhà học giả … làm việc trở lại thì việc đó đem lại cho mình quá nhiều hạnh phúc.

Có một lần, nhà xuất bản Lá Bối của chúng tôi ở hải ngoại xuất bản một tập sách trong đó có những sáng tác của các văn nghệ sĩ quốc nội gửi “chui” ra. Đó là tập “Tắm mát ngọn sông đào” gồm những bài văn của các nhà văn như Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy .v.v… Hôm qua tôi ngồi nhớ lại xem là những người nào đã được Phương Hương, Đào Thị Mây, … tiếp xúc thì tôi tìm ra được một cái danh sách, danh sách này không đủ, nó mới chỉ có:

Duyên Anh
Đào Duy Anh
Hoàng Cầm
Hồ Dzếnh
Lê Thương
Thanh Tâm Tuyền
Vũ Hoàng Chương
Nguyễn Sĩ Tế
Hoàng Hải Thủy
Nhã Ca
Lê Trọng Nguyễn
Nguyễn Cường
Thế Uyên
Nguyễn Đình Toàn
Phan Ngô Nhật Thanh
Hề Khả Năng
Nguyễn Đình Nghĩa
Vũ Đức Duy …

 

Ở tại Phương Vân Am chúng tôi làm việc như một tăng thân, chúng tôi yểm trợ các văn nghệ sĩ đó không phải bằng vật chất mà bằng trái tim của chúng tôi. Cố nhiên là chúng tôi có phương tiện, có bạn bè để giúp chúng tôi gửi thuốc men cho các vị đó. Nhưng chúng tôi biết cái đó nó không đủ nên chúng tôi đã đem trái tim của chúng tôi ra để nuôi những trái tim của các văn nghệ sĩ bên nhà. Dù sao thì họ cũng đại diện cho tiếng nói của dân tộc. Đây là một đoạn thư của Phương Hương viết cho Lê Thương:

“Anh Lê Thương, trong thư anh có một câu làm cho em mừng hết lớn đó là câu nói anh bắt đầu sáng tác trở lại vì anh đang có những nguồn cảm hứng mới. Anh Lê Thương, em biết rằng thiên tài của anh, tâm tư của anh, cái nhìn của anh về cuộc đời và con người, tất cả những thứ ấy đã vững chắc và chín muồi nơi anh. Em nghĩ những sáng tác mới của anh chắc chắn sẽ vượt thoát được những buồn vui, mừng giận tầm thường và sẽ thanh thoát như mây bay, hùng vĩ như những cây đại thụ.

Ngay từ trong Hòn Vọng Phu em đã cảm thấy chất liệu thời gian của anh khác thường rồi. Anh đã từng sống qua nhiều giai đoạn của lịch sử cận đại, anh đã chứng kiến bao nhiêu biến thiên, chắc chắn anh sẽ không chịu để cho cái ngục tù thời gian giam hãm anh đâu. Tác phẩm của anh sẽ như một con chim lớn vỗ cánh bay cao tại vì vùng trời tâm linh của anh không có bờ bến, không bị thời gian và không gian giam hãm.

Có một lần em thấy một cây tùng hùng vĩ xanh tươi mọc cheo leo trên một sườn núi đá khô cằn. Em thấy cây tùng đó rút sinh lực không phải chỉ ở phần đất cát và đá khô cằn ở sườn núi, mà còn ở những dòng nước đi sâu hàng trăm thước trong lòng đất và nhất là ở mặt trời và các ngôi sao lớn khác trong vũ trụ bao la. Anh Lê Thương, anh là một nghệ sĩ có kích thước lớn như vậy đó. Anh không cần những chất liệu bổ dưỡng tầm thường của những loài cây cỏ tầm thường. Em đã đọc phiên khúc bốn của bài “Lòng mẹ Việt Nam”, “Tâm sự cá nhân” em cũng đã đọc. Em nghe những bài nhạc đó mà cảm thấy ấm cả lòng. Em cũng từng trải qua sự nghèo khổ, và em cũng biết rằng đói uống nước lạnh mà ôm nhau để mà ngủ để quên còn sung sướng hơn là giàu thịnh mà chia cắt nhau như những hòn đảo lạnh. Đối với anh, em chỉ như một ngôi sao xa mờ nhạt cách anh có tới ba trăm triệu năm ánh sáng. Em không có đủ ánh sáng bằng một con đom đóm để cho anh đọc sách nhưng em hi vọng em có thể nhắc anh nhớ rằng vũ trụ và thời gian thật bao la và anh thuộc về vũ trụ ấy chứ không phải chỉ thuộc về một mảnh thời gian và không gian bé nhỏ.

Đó là những lời viết cho Lê Thương, và những lời viết cho các văn nghệ sĩ khác cũng tương tự như thế để cho những người nghệ sĩ có niềm tin nơi tài năng của họ, để họ có niềm hi vọng mà vượt thoát niềm tuyệt vọng kia. Đoạn văn này chứng tỏ là Phương Hương hiểu được Lê Thương và mong Lê Thương sống và sáng tác mạnh để cho thế hệ trẻ được nhờ. Những lời ấy làm cho người nghệ sĩ vươn tới một chân trời cao rộng hơn, mà không bị tù túng trong cái chế độ kinh tế chính trị của xã hội thời đó.

 

Đây lại là một đoạn thư của nhà văn Duyên Anh viết cho Angelina:

Tôi được hân hạnh biết cô từ dạo giáng sinh năm 1977, (chương trình của chúng tôi bắt đầu từ năm 1976). Hồi đó tôi ở T20, nhà tôi và các cháu đến thăm hoan hỉ báo tin mừng là được cô tận tình giúp đỡ. Rồi tôi được chuyển qua T30, lưu đầy khá nhiều nơi và nơi nào tôi cũng nghĩ tới cô. Nghĩ đến cô cơ hồ đứa trẻ côi cút nghĩ tới những người đã dành phần cơm chờ mình ngang qua cửa. Cuộc đời không bao giờ có cảnh tượng cảm động đó nhưng mà ruốt cuộc nó vẫn có. Thưa cô Angelina, cô là ông Bụt trong chuyện cổ tích Tấm Cám, cô là Phật Bà Quan Âm. Nước mắt của người vợ thương chồng, của những đứa con nhớ cha đã làm sống dậy cổ tích, đã đắp lên gia đình đơn lạnh của tôi một tấm chăn ấm áp tình người. Tôi chẳng thể nào quên tấm lòng tốt của cô, xin cô ghi nhớ.”

Duyên Anh đã nói rằng: trong cuộc đời của Duyên Anh thì Angelina hiện ra như Bụt trong chuyện Tấm Cám. Đó không phải là chuyện cổ tích. Đó là chuyện có thật. Duyên Anh không phải là Phật tử nhưng trong trại học tập cải tạo Duyên Anh đã lấy một cái dùi sắt và một tấm ván để khắc một tượng Phật nhỏ xíu chờ dịp gửi qua cho Angelina.

 

 

Họa sĩ Hề Khả Năng cũng vậy, Khả Năng đã lấy một mảnh bom trong rừng và khắc thành một chiếc lược để gửi cho Phương Hương. Họa sĩ Nguyễn Đăng Khánh cũng gửi cho chúng tôi những tác phẩm của mình. Tài liệu của những văn nghệ sĩ, những tác phẩm của họ chúng tôi còn cất giữ nhiều lắm, có dịp chúng tôi sẽ công bố những tài liệu ấy để đồng bào biết được sự sống, tài năng và quyết tâm vượt thoát niềm tuyệt vọng của họ.

 

 

Tại Phương Vân Am chúng tôi ham lo cho rất nhiều văn nghệ sĩ ở quê nhà, nhưng những văn nghệ sĩ kia thì cứ nghĩ rằng chúng tôi chỉ lo cho một mình họ. Vì vậy họ chờ đợi những lá thư như lá thư chúng tôi đã viết. Theo Lê Thương thì mỗi lần Phương Hương gửi cho Lê Thương một lá thư thì đó là một liều thuốc bổ. Những người nghệ sĩ cần nguồn thuốc bổ đó. Cố nhiên là gói quà cũng cần thiết, nhưng lá thư cũng rất cần thiết. Và lỗi của chúng tôi là đã không viết được nhiều những bức thư như vậy, tại vì số văn nghệ sĩ mà chúng tôi liên lạc đông quá. Vì vậy mà có lần anh Lê Thương đã giận tại vì lâu ngày chúng tôi chỉ gửi quà mà không gửi thư. Đã hơn ba lần trong lá thư của mình Lê Thương đã chứng tỏ rằng mình giận. Tại vì mỗi lần gửi quà thì chúng tôi có viết những lời chỉ dẫn rất cặn kẽ về cách sử dụng những gói quà này và giá trị của từng món trong gói quà để khi đem bán đừng bị người  ta lừa, nhưng lại không có những lá thư khích lệ như trước. Trong khi ấy người nghệ sĩ thì lại rất cần những lá thư kia và họ đòi ít nhất ba tháng một lần phải có một lá thư như thế. Nhưng mà chúng tôi không có đủ sức để làm chuyện ấy cho nên có người đã giận và một số văn nghệ sĩ khác đã hờn. Chúng tôi cũng đành chịu thôi. Gửi quà thì gửi rất đều, chuyện đó không khó nhưng viết những lá thư như vậy thì phải có thời gian và nhất là phải có “cố vấn” mới làm được.

Nhạc sĩ Lê Thương có một nhân cách rất cao, một người có kiến thức rất vững chãi về âm nhạc Đông phương. Trong những năm đó Lê Thương đã bắt đầu biên tập một tác phẩm vĩ đại gọi là Âm Nhạc Sử Điển. Lê Thương đã nghiên cứu về âm nhạc Châu Á trong vòng ba mươi năm và đã muốn làm tác phẩm đó để nói về tinh thần và kĩ thuật âm nhạc Châu Á. Tác phẩm đó gồm khoảng ba ngàn mục. Mỗi mục như vậy có thể dài khoảng từ bảy tới mười lăm hàng. Lê Thương đã làm việc mỗi ngày, có khi thức tới hai giờ rưỡi sáng để đánh máy. Lê Thương đã ngỏ ý là sẽ gửi công trình đó qua cho chúng tôi cất giữ và xuất bản. Hy vọng một ngày nào đó chúng tôi sẽ làm được điều mà Lê Thương muốn chúng tôi làm.

Lê Thương sinh ngày 18.2.1914, tại Nam Định và vào Nam năm 1941, sáng tác Hòn Vọng Phu 1  năm 1945, Hòn Vọng Phu 2 và Hòn Vọng Phu 3 cũng sáng tác từ năm 1945 đến 1947. Nhạc sĩ Lê Thương suýt chết ở gần quận Bình Đại – Bến Tre vì bị Tây ruồng. Hồi đó Lê Thương đã sáng tác Hòn Vọng Phu 1 rồi. Đi theo Lê Thương có rất nhiều học sinh của trường Petrus, đi đâu mấy anh chị em họ cũng hát ca để làm sống dậy tinh thần yêu nước của đồng bào. Họ đi từ làng này sang làng khác, từ quận này sang quận khác. Có lần Lê Thương bị một anh chàng tây lai tên là Leroy đuổi bắt và suýt chết vào tay của anh chàng tây đó. Sau nhờ một người giúp đỡ, Lê Thương trở về Mỹ Tho được và ngồi tù một thời gian thì được tại ngoại và tiếp tục sáng tác.

Lê Thương hoàn toàn không biết rằng trong khi Lê Thương sáng tác bài “Biển sau giông tố” thì ở bên này chúng tôi đã tổ chức chiến dịch cứu trợ cho những người vượt biển có tên là chương trình “Máu chảy ruột mềm”. Hồi đó tôi đi Bangladesh để hoằng đạo. Sau Bangladesh tôi về lại Singapore để dự hội nghị “Tôn Giáo Và Hòa Bình Á Châu”. Trong hội nghị đó vào cuối tháng 11 năm 1976, tôi phát kiến ra được các thuyền nhân (trên thế giới lúc ấy chưa ai biết đến những người boat pepole) . Trong Đại Hội Tôn Giáo Và Hòa Bình tôi đã đề nghị đại hội yểm trợ cho tôi trong công việc tổ chức một chiến dịch cứu người trên biển và hội nghị đã đồng ý, vì vậy tôi đã đặt trụ sở tại Singapore, mời một số các bạn từ các nước Châu Âu qua để yểm trợ. Chúng tôi đã thuê bốn chiếc tàu để đi vớt người trên biển, chiếc đầu tiên tên là Roland, chiếc thứ hai là Leapdal, chiếc thứ ba là Saigon 200 và chiếc thứ tư lớn nhất có tên là Kujara. Hai chiếc Roland và Leapdal có nhiệm vụ đi vớt người trên biển, khi được nhiều rồi thì chuyển lên chiếc Kujara vì chiếc này lớn nhất có thể chứa tới 600 người. Còn chiếc Saigon 200 thì cứ đi tới đi lui để cung cấp nước và thực phẩm.

Cái khó của chúng tôi là phải cứu người một cách âm thầm, làm thế nào để chính quyền Singapore không biết, nghĩa là phải làm “chui”. Lúc ấy Singapore có một chính sách rất là lạnh lùng đối với thuyền nhân. Khi có thuyền nhân ghé bến thì quốc gia đó không cho đi vào, họ ra lệnh phải đẩy những người thuyền nhân ra biển cho chết. Nếu người cư dân nào dám cả gan vớt một thuyền nhân sẽ bị phạt rất nặng nên không ai dám vớt thuyền nhân. Có một chiếc tàu hàng Nhật Bản lỡ vớt chín mươi tám (98) thuyền nhân ghé vào Singapore, Singapore không cho cập bến. Tòa đại sứ Nhật Bản can thiệp để cho chiếc tàu đó cập bến thì Singapore nói rằng phải đặt tiền thế chân một triệu USD, nếu chín mươi tám người ấy không bước chân xuống đất liền thì khi thuyền nhổ neo họ sẽ trả một triệu USD trở lại tại vì Singapore không muốn một thuyền nhân nào được lên bờ hết. Chính sách của Singapore đối với thuyền nhân là như thế mà các nước lân cận cũng gần như thế..

Thường thường, khi có một chiếc thuyền chở thuyền nhân cập bến thì cảnh sát được lệnh phải đẩy ra ngoài. Nếu mình nói thuyền mình đã hỏng rồi thì tối đa cảnh sát cho một ít ván, một ít gỗ để đóng lại sau đó họ đẩy ra khơi. Có lần ở bờ biển Mã Lai có hai chiếc thuyền chở đầy thuyền nhân bị đẩy ra ngoài biển, trong đó có một chiếc bị chìm, những người trên thuyền bị chết hết. Mọi người trên chiếc thuyền còn lại hoảng sợ quá, họ vừa chứng kiến đồng bào của mình chết ngay trước mắt mình thì họ nhất định không đi ra nữa, họ cứ đi vào thôi. Trước khi cảnh sát tới can thiệp thì họ tự đập vỡ chiếc tàu của mình để đừng bị đẩy ra trở lại. Người của chúng tôi đã tới, đã lắng nghe và đã quay phim những người đó. Nếu những người còn lại bị bắt vào ở tù thì họ sẽ có cơ hội nhiều hơn, nếu không thì họ sẽ bị cho lên một chiếc tàu và bị đẩy trở về biển cả và họ sẽ chết như những người đồng bào của họ.

Chúng tôi đã tổ chức chương trình cứu trợ “Máu chảy ruột mềm” trong hoàn cảnh như vậy và chúng tôi phải làm chui, mà làm chui thì rất khó. Trong Hội Nghị Tôn Giáo Và Hòa Bình, tôi đã đề nghị Đại Hội yểm trợ cho tôi trong công việc tổ chức một chiến dịch để cứu người trên biển và Hội nghị đã đồng ý. Do đó nên tôi mới đặt trụ sở tại Singapore, đồng thời mời một số các bạn từ bên Pháp, Hà Lan, và các nước Châu Âu qua để yểm trợ. Với chiếc Roland chúng tôi vớt được 281 người và chúng tôi thuê một viên thuyền thuyền trưởng người Mỹ phụ trách đó là ông Mac Mahon. Ngày hôm ấy, ngay trên chiếc thuyền cứu nạn có một người phụ nữ trở dạ và sinh ra một bé gái. Để kỷ niệm, những người trên thuyền muốn đặt tên cho bé là Nguyễn Thị Roland. Tôi nói Roland là tên con trai mà, thành ra chúng tôi quyết định sửa lại thành Nguyễn Thị Rolanda. Tôi có làm một bài thơ tặng cho Nguyễn Thị Rolanda. Em bé này nếu còn ở đâu đó thì năm nay đã 28 tuổi rồi.

Một bông sen nở trên đại dương
Bé sinh ra giữa muôn trùng sóng nước
Giữa khuya này, đêm ba mươi tháng giêng
Hai trăm tám mươi mốt người trên thuyền lặng im
Nghe sóng đêm cầu nguyện
Tám người thủy thủ
Yên lặng cho thuyền hướng về phương Nam
Nước uống đã cạn rồi
Tàu chạy về gần cù lao Tiamen
Cầu cứu
Biển đêm
Sóng vỗ mạn thuyền
Trăng lặn lâu rồi
Ánh sao soi đường cho bé vào đời
Dưới kia nhấp nhô đầu sóng bạc
Một bà mẹ nằm trên boong tàu
Chuẩn bị cho bé vào đời
Cả thuyền không có một phòng riêng
Người bác sĩ
Cũng là giới lênh đênh bèo nước
Tiếng khóc chào đời của bé
Bị át đi trong tiếng gió
Người mẹ mỉm nụ cười yếu ớt
Bác sĩ đứng lên loan báo tin mừng
Hai trăm tám mươi mốt người  vỗ tay
Vị thuyền trưởng hô to:
Chúng ta đi về phương Nam
Dân số chúng ta trở thành hai trăm tám hai
Xin mọi người cám ơn Trời Phật.
Chiếc máy điện thoại nối liền
Chuyền niềm vui lên lục địa
Khuya nay trên đất liền có người hay tin bé đã chào đời
Bé Rolanda Nguyễn Thị
Bé từ đâu tới nhỉ?
Và bé đang đi về đâu?
Tại sao lại chọn nơi ra đời giữa đại dương trên chiếc thuyền lưu lạc?
Bé không hỏi
Nhưng chúng ta hãy trả lời
Ai nỡ để bông sen nở nửa đêm
Chìm sâu lòng đại dương
Bạn ơi hãy trả lời cho chúng tôi
Chúng ta phải đem bé đi về hướng nào?
Tôi cần bàn tay bạn.

Đó là bài thơ tôi viết cho bé Rolanda. Tôi dùng một chiếc điện thoại để liên lạc với chiếc tàu Roland nên tôi biết giờ sinh của bé và đã làm bài thơ này cho bé. Chúng tôi âm thầm chở số đồng bào thuyền nhân đó tới Perth hay tới đảo Guam. Khi tàu sắp tới chúng tôi sẽ đánh điện cho báo chí ra đón, để cho người ta đừng đẩy những chiếc thuyền đó ra ngoài biển.

Có một lần gặp khó khăn, chúng tôi nghĩ rằng không có thể nào chờ được chiếc Kujara, vì vậy chúng tôi quyết định cho chiếc Leapdal đi trước. Hôm đó chỉ trước Tết Nguyên Đán có một ngày. Chiếc Leapdal do Vương Hồ làm thuyền trưởng, trên đó chúng tôi đã vớt được trên 300 thuyền nhân rồi và đã chuẩn bị cho chiếc đó đi về Úc. Chúng tôi đem tiền tới lì xì cho mỗi người một bao giấy đỏ trong đó có một đô-la Úc mới tinh. Hôm ấy tôi đã đích thân ra biển để nói chuyện với đồng bào trước khi đồng bao lên đường. Tối ấy là tối ba mươi, tôi leo lên chiếc Sài Gòn 200 để đi ra biển. Tôi đã dùng điện thoại để nói chuyện với đồng bào ở trên thuyền bên kia. Tôi chúc đồng bào thượng lộ bình an, (nhất phàm phong thuận). Và tôi đã đưa họ mỗi người một bài thơ dịch ra tiếng Anh để khi họ tới bến, họ trao cho các nhà báo:

Lênh đênh ngoài sóng gió
Thuyền nhỏ giữa đại dương
Quyết tâm tìm đất sống
Đói lạnh bao ngày đường.
Chúng tôi là bọt biển
Trôi giạt giữa mênh mông
Chúng tôi là hạt bụi
Trong không gian vô cùng
Tiếng chúng tôi lạc mất
Trong gió rít từng không
Trên thuyền không nước uống
Trên thuyền hết thức ăn
Con chúng tôi kiệt sức
Khóc rã và lịm dần
Chúng tôi khao khát  Đất
Nhưng chẳng được tới gần
Mặc sức mà kêu cứu
Tàu bè vẫn dửng dưng
Bao nhiêu thuyền đã lật
Vì sóng gió bất thần
Bao nhiêu là mạng sống
Đã chìm lòng đại dương
Chúa Ki Tô có nghe
Lời nguyện cầu rướm máu?
Phật Quan Âm có nghe
Lời kêu cứu không ngừng?
Loài người ơi có nghe
Tiếng gọi từ hố thẳm
Đất liền ơi có biết
Tâm sự này hay không
Xin loài người có mặt!
Xin đất liền dang tay!
Cho chúng tôi tìm thấy
Hy vọng trên đất này!

(Lời nguyện cầu tìm đất sống trong tập Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt)


Tôi nhớ là sau khi dặn dò đồng bào, tôi trở về thì tự nhiên trời nổi gió và có một đợt sóng đen ngòm, chồm lên và vồ lấy tôi. Người tôi ướt hết và giống như là đợt sóng muốn kéo tôi xuống biển. Giống như một năng lực ma quái nào đó, đang nói rằng: “Ông là ai mà dám can thiệp vào chuyện của chúng tôi? Số của những người này là phải chết trên biển cả, tại sao ông có quyền can thiệp?” Như là một sự trả thù của định mệnh.

Chương trình Máu Chảy Ruột Mềm để cứu độ thuyền nhân trên biển là một chương trình rất thánh thiện. Sáng nào chúng tôi cũng thức sớm để ngồi thiền, chúng tôi đi thiền hành, chúng tôi thực tập hết lòng bởi vì chúng tôi biết rằng cần phải hướng dẫn cho chương trình này với năng lượng của tâm linh thì mới có thể thành công được. Đáng tiếc là chiếc Leapdal đã không đi qua Úc được vì chỉ sau đó mấy giờ đồng hồ thì có bão. Chính quyền Singapore khám phá ra được là chúng tôi đang hoạt động bí mật ở tại Singapore. Vì vậy cho nên họ bắt giữ chiếc Sài Gòn 200 lại, không cho đi ra biển để tiếp tế và họ cũng không cho chiếc Leapdal đi vào đất liền. Rất có thể 300 người trên thuyền sẽ chết trên biển nếu không được vào trong vùng vịnh để tránh gió. Chúng tôi ở trên đất liền mà tâm trạng chúng tôi cũng bấp bênh như là thuyền nhân vậy. Đồng bào trên hai chiếc thuyền không có thức ăn, không có nước uống, không được tới gần bờ biển để tránh bão thì họ rất có thể họ sẽ chết trên biển. Nếu 600 người trên hai chiếc thuyền ấy chết trên biển thì chúng tôi cũng chết theo thôi. Làm sao mà sống nổi! Mình chịu chung số phận của nhau. Lúc ấy chúng tôi chỉ biết đi thiền hành, ngồi thiền và cầu nguyện. Chương trình của chúng tôi bị bại lộ là vì những người trong Đại Hội Tôn Giáo Và Hòa Bình đã không giữ kín được. Từ Tokyo, New York,… họ đã nói với báo chí, và phóng viên của họ đã tới tìm chúng tôi ở tại Singapore. Do đó chúng tôi bị phát hiện.

Đêm hôm ấy, vào lúc nửa đêm cảnh sát Singapore đã tới bao vây văn phòng của chúng tôi. Họ chặn cửa trước, chặn cửa sau và các cửa hông nên chúng tôi không ai thoát được. Họ tịch thu passport và ra lệnh cho chúng tôi phải rời khỏi lãnh thổ Singpore trong vòng 48 tiếng đồng hồ, ra tới sân bay họ sẽ trả lại passport. Rời Singapore trong vòng 48 tiếng đồng hồ trong khi mình còn trên 600 đồng bào lênh đênh ngoài biển không có thuốc men, không có nước uống, không có thức ăn thì làm sao mình chịu nổi?

Trong hoàn cảnh nguy kịch, hoang mang đó, chúng tôi thực tập thở. Tôi nói rằng trong hoàn cảnh này  nếu mà mình giữ được tâm an thì mình mới thật là người tu và chúng tôi đã ngồi thiền, đi thiền hành. Trong khi ngồi thiền chúng tôi tìm ra được một giải pháp: Nếu chúng tôi tìm tới cầu cứu với vị Đại Sứ Pháp tại Singapore nhờ ông can thiệp thì biết đâu chúng tôi có thể được ở thêm mười ngày nữa để mà thu vén chương trình lại. Chúng tôi tiếp tục ngồi thiền, đi thiền hành chờ tới sáng rồi thuê taxi tới Tòa Đại Sứ Pháp. Thật may là ông Jacques Ganeau – Đại Sứ Pháp đã yểm trợ cho chúng tôi và can thiệp chính quyền Singapore nên chính quyền Singapore đã gia hạn cho chúng tôi thêm mười ngày. Tôi giao quyền lại cho Sư Cô Chân Không và các bạn khác. Sư Cô Chân Không hồi đó có passport Pháp, còn tôi là passport không có nơi về. Nhưng chỉ 24 giờ đồng hồ sau khi tôi đi thì Sư Cô Chân Không cũng bị buộc phải rời Singapore. Tình thế rất cam go. Rốt cuộc, sáu trăm thuyền nhân đó được trao lại cho Liên Hiệp Quốc. Trước đó, trên cù lao Tiamen cũng có mười mấy người thuyền nhân do Cao Ủy Liên Hiệp Quốc bảo trợ. Khi mười mấy người thuyền nhân này cũng muốn leo lên chiếc Leapdal để được đi Úc thì vị đại diện cho Cao ủy tị nạn phản đối, ông nói: “đó là những người tị nạn của chúng tôi, tại sao quý vị lại rước đi?” Tôi mới hỏi: “ “Quý vị đã tới thăm những người đó chưa? Quý vị có biết mặt những người ấy không? Quý vị đã từng tới giúp đỡ những người ấy chưa?” Ông Samatap Kuma – đại diện cho Cao Ủy tị nạn nói rằng: “Chúng tôi chưa tới, chúng tôi chưa biết, chúng tôi chưa giúp gì nhưng mà chúng tôi có tên những người đó”. Tôi mới nói đùa: “ Nếu ông có tên tất cả những ngôi sao trên trời thì tất cả những ngôi sao trên trời đều thuộc về ông hết sao?”.

Sau đó, nhờ báo chí nói tới rất nhiều cho nên số mạng của thuyền nhân đã được bảo đảm. Ông Đại Sứ Pháp Jacques Ganeau rất từ bi đã âm thầm yểm trợ cho chúng tôi, cho phép những thuyền nhân lọt vào tòa Đại Sứ vào ban đêm được ở lại trong khuôn vienj tòa đại sứ cho đến khi cảnh sát tới làm biên bản. Chúng tôi cũng bí mật giao kết với ngư dân là khi nào mà họ cứu được một, hai, ba thuyền nhân thì lập tức báo cho chúng tôi dù đó là hai giờ khuya hay ba giờ sáng. Chúng tôi lấy taxi chở những người đó tới Tòa Đại Sứ quán Pháp rồi cho họ leo rào vào trong khuôn viên Tòa Đại sứ. Chúng tôi biết rằng buổi sáng mai khi nhân viên Tòa Đại Sứ mở cửa đi vào và phát hiện ra những người thuyền nhân vừa chui rào tối qua, họ sẽ báo cáo cho cảnh sát. Lập tức chính quyền Singapore sẽ tới bắt và bỏ tù những thuyền nhân ấy, nhờ đó mà họ được an ninh. Còn nếu họ không được vào tù, không có tên trong sổ sách thì họ sẽ bị đẩy ra biển và chết trên biển. Hồi ấy tôi đã làm một bài thơ ca ngợi tấm lòng nhân hậu của ông Đại Sứ Pháp

“ Có cây ngô đồng cho chim phượng đậu
Có người đứng đó cho tình thương sâu
Luật lệ nhiều khi như màn lưới sắt
Giam người trong kiếp trầm luân thương đau
Nhưng lòng nhân ái như bàn tay Phật
Phá tan địa ngục, đập nát u sầu
Thành phố sáng nay nắng lên bát ngát
Có chim bồ câu bay liệng trời cao
Tôi nhớ tới người tấm lòng cương trực
Nụ cười mát dịu như nước nhiệm mầu
Trẻ thơ nhớ người như hoa nhớ nắng
Như nước nhớ nguồn, như trăng nhớ sao
Tâm đã quyết rồi hiềm gì bạo lực
Thân đi vào đời cỡi trên ba đào
Bắc một cây cầu từ hang địa ngục
Lên tới cõi trời, mở hội ngàn sao”.

 

Lê Thương không biết rằng chúng tôi đã làm những công việc đó, nhưng Lê Thương cũng đi cùng chiều hướng tâm linh với chúng tôi. Lê Thương đã để cho trái tim mình mở ra, đã khóc, đã nói lên được nỗi khổ niềm đau của đồng bào vượt biển.

Tôi rời bỏ đất nước năm 1966 cho đến nay là 38 năm, chưa có cơ hội để trở về nước. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta qua tới bên này chắc là phải có một sứ mạng nào đó. Tổ tiên chúng ta gửi chúng ta qua đây, chắc là tổ tiên chúng ta muốn trao cho chúng ta một sứ mạng. Nói một cách rõ ràng hơn là chúng ta sang bên này có thể có hai mục đích. Mục đích thứ nhất là học hỏi những cái hay cái đẹp của thế giới bên ngoài để đem về làm đẹp thêm cho quê hương, cho Tổ quốc. Mục đích thứ hai là đem chia sẻ với bạn bè ngoại quốc những cái hay, cái đẹp của nền văn hóa Việt Nam. Đó là lý do chúng ta đang có mặt tại Tây Phương. Nếu chúng ta nhớ được điều đó thì chúng ta sẽ biết thương yêu nhau, chúng ta chấp nhận nhau để chúng ta – những người lớn, những người trẻ – có thể thâu thập được những cái hay, cái đẹp nhất của các nền văn hóa Tây Phương mà truyền về nhà. Và chúng ta cũng có thể chia sẻ với người Tây phương những cái gì hay, đẹp của nền văn hóa dân tộc. Ở trong đại chúng này thế nào cũng có người đang làm chuyện đó và đã làm được chuyện đó. Nếu chúng ta không thương yêu nhau, nếu cha không chấp nhận con, con không chấp nhận cha, vợ không chấp nhận chồng thì chúng ta không tài nào làm được chuyện đó. Chúng ta đã được tổ tiên chúng ta giao phó một sứ mạng, chúng phải nhìn lại, chúng ta phải biết rằng gần 75 ngàn đồng bào ta đã phải chết dưới đáy biển. Chúng ta phải để cho niềm cảm thương đó được sống mãi trong lòng. Chúng ta phải nghe bài Biển Sau Giông Tố của Lê Thương để thấy được sứ mạng của chúng ta. Trong sự sống hàng ngày chúng ta phải ý thức rằng chúng ta có một sứ mạng. Chúng ta phải làm thế nào để cho vợ hiểu được chồng, cha hiểu được con, chúng ta không thể nào sống ơ thờ, vô trách nhiệm được.

Hôm nay, nhân dịp đầu năm, chúng ta đã tập họp ở đây có mặt của nhạc sĩ lớn Lê Thương và có mặt của anh linh các đồng bào đã tử nạn trong các chuyến vượt biên. Chúng ta phải hứa với lòng mình, phải hứa với đất nước, phải hứa với tổ tiên, hứa với người đã khuất là chúng ta sẽ sống như thế nào cho xứng đáng, sống như thế nào để niềm tin và tình thương mỗi ngày được sáng thêm, để chúng ta có thể làm trọn được phận sự mà tổ tiên của chúng ta đã giao phó khi gửi chúng ta sang bên này. Tôi đã làm hết sức của tôi, quý vị đã làm hết sức của quý vị, nhưng mà chúng ta còn có thể làm hay hơn nữa, chúng ta phải nắm tay nhau. Nắm tay nhau thì có thể làm được nhiều hơn, làm được lớn hơn.

Bây giờ tôi xin chị Lệ Thu thắp hương và dâng lên trên bàn thờ. Chúng ta sẽ thắp hương cho nhạc sĩ Lê Thương, chúng ta sẽ thắp hương cho đồng bào tử nạn trong chuyến vượt biên. Và chúng ta sẽ nghe lại một lần  nữa bài “Biển sau giông tố”. Khi nghe bài này, quý vị phải nghe trong tinh thần của sự cầu nguyện, để cho trái tim của chúng ta mở ra, để cho chúng ta có thể cảm thông, chúng ta có thể thấu hiểu được nỗi khổ đau, niềm tuyệt vọng, phải tiếp xúc được với thảm kịch của dân tộc và thấy được sứ mạng của mình. Theo tôi thấy, bài hát này là một bài cầu nguyện, một bài kinh.

Theo Lê Thương, trong một lá thư gửi cho chúng tôi thì nhân sinh quan của Người Việt rất sâu đậm nghĩa tình. Nhân sinh quan đó nó đầy tình và đầy nghĩa, nó được biểu hiện qua một hình ảnh rất cảm động, là hình ảnh của một bà mẹ ôm con đợi chồng cho đến khi hóa đá. Theo Lê Thương, đó là một hình ảnh tuyệt đẹp và vì vậy cho nên chàng trai 31 tuổi đó muốn diễn tả cái đẹp ấy của nền văn hóa dân tộc qua bài Hòn Vọng phu.

 

_________________________________________
(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng vào ngày 25.1.2004 tại thiền đường Thái Bình Dương, Lộc Uyển)

Lời ca em thiên thâu – Trường ca Avril

LỜI CA EM THIÊN THÂU

Mỗi buổi sáng tôi đều có dâng hương và rất ý thức rằng đây là một ngày mới, và tôi đọc tên nó, ví dụ: đây là ngày 240. Tuần trước tôi có nói trong đại chúng: Đây là mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ 20, và chúng ta đang ở giữa mùa Xuân ấy. Tôi muốn rằng tất cả chúng ta đều nên có ý thức là mùa Xuân đang biểu hiện, và chúng ta có thể sống sâu sắc và hạnh phúc trong mùa Xuân này, từng ngày, từng giờ và từng phút. Nếu chúng ta không sống hạnh phúc được trong giây phút hiện tại thì rất khó để chúng ta sống hạnh phúc trong tương lai. Mùa Xuân là mùa được gọi là mùa biểu hiện, mùa tuôn dậy. Chúng ta thấy hoa, thấy bướm, thấy cây, thấy cỏ: tất cả đều biểu hiện ra một cách rất nhiệm mầu. Sự biểu hiện của mùa Xuân là một thắng điểm, là một tiếng chuông chánh niệm. Chúng ta nói biểu hiện mà không nói phát sinh là tại vì nhìn cho kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng mùa Xuân đã có mặt tiềm tàng trong mùa Đông. Trong khi mùa Đông đang tiếp diễn, nếu tinh mắt thì chúng ta có thể thấy được mùa Xuân trong ấy. Vì vậy không phải mùa Xuân bắt đầu từ tháng ba hay tháng tư mà nó đã có mặt khắp nơi và lúc nào cũng có. Nếu chúng ta tiếp xúc được với mùa Xuân trong khi nó biểu hiện thì ta cũng có thể tiếp xúc được với mùa Xuân trong khi nó chưa biểu hiện. Đó gọi là mùa Xuân vĩnh cữu. Thầy Trúc Lâm, tức vua Trần Nhân Tông, gọi nó là bất thắng xuân; nghĩa là mùa Xuân không có gì cao hơn nữa, không có gì đẹp hơn nữa. Nếu không tiếp xúc được với mùa Xuân khi nó biểu hiện thì làm sao chúng ta tiếp xúc được mùa Xuân khi nó chưa biểu hiện, nghĩa là với sự sống bất diệt? Cho nên chúng ta phải có ý thức rằng chúng ta đang sống trong mùa Xuân và ta thấy được sự biểu hiện nhiệm mầu của mùa Xuân. Sau này chúng ta có thể nói với con cháu ta là ngày xưa ta đã sống trong mùa Xuân ấy, mùa Xuân năm 1999, mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ thứ 20. Thầy mình đã thỉnh tiếng chuông chánh niệm để mình có thể sống vững chãi, hạnh phúc và thảnh thơi trong mùa Xuân này. Như vậy mùa Xuân không đi qua một cách luống uổng. Mình đã gặp được mùa Xuân. Ngày xưa khi còn là sa di, tôi thường được nghe những bài kệ, những bài thơ về pháp thân mầu nhiệm. Trong kinh Pháp Hoa có hai câu: “Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng”. Rồi có một vị thiền sư thêm vào hai câu: “Xuân đáo bách hoa khai, hoàng oanh đề liễu thượng”. Tôi rất cảm kích khi nghe hai câu thơ đó. Tuy là hai câu thơ nhưng nó giúp cho tôi hiểu được hai câu kinh; hiểu một cách khá sâu sắc.

Chư pháp tùng bản lai
Thường tự tịch diệt tướng.

Chư pháp tức là các hiện tượng như núi, sông, mây, hoa, cỏ. Tất cả những thứ đó gọi là pháp. Tùng bản lai tức là từ ngày xưa cho đến bây giờ. Bản tức là cái gốc. Từ xưa đến bây giờ các pháp thường trụ tịch diệt tướng. Tự các pháp đó an trú trong tướng tịch diệt của chúng. Tướng tịch diệt tức là tướng Niết Bàn. Núi, sông, cây, cỏ và người, tất cả đều an trú trong tự tánh niết bàn; nghĩa là tự tánh không sinh, không diệt. Niết bàn tức là không sinh, không diệt, không có, không không, không còn, không mất. Trong đời sống hàng ngày ta thường nhìn bằng con mắt của sinh – diệt, có – không, còn – mất, tới – đi, và ta nói các pháp có sinh, có diệt; có có, có không; có còn, có mất; có đi, có tới. Hai câu kinh này cho ta thấy rằng tự tánh của các pháp là không sinh, không diệt; không có, không không; không còn, không mất; không tới, không đi. Tự tánh của các pháp là niết bàn. Và vị thiền sư kia thêm vào hai câu nữa:

Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng

Khi mùa Xuân tới thì hàng trăm loại hoa nở, và con chim hoàng oanh xuất hiện ca hát trên cành liễu. Tôi dịch:

Các pháp từ xưa nay
Vốn là không sinh diệt
Xuân đến trăm hoa mừng
Oanh vàng ca liễu biếc.

Khi mùa Xuân đến, ngắm các loài hoa nở và nghe các loài chim hót, ta tiếp xúc được với sự biểu hiện của mùa Xuân. Đừng nhìn và nghe một cách hời hợt. Đừng tưởng mùa Xuân chỉ lúc đó mới có mặt. Nếu tiếp xúc sâu sắc được với mùa Xuân, ta thấy được tính niết bàn của mùa Xuân; nghĩa là tính không sinh không diệt của nó. Chỉ có sự biểu hiện hay sự ẩn tàng mà thôi. Năm đó tôi mới có mười bảy tuổi nhưng bài kệ này đã gây ấn tượng rất sâu sắc trong trái tim của tôi. Tôi còn được nghe những câu thơ khác ví dụ như:

Tử trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân

Tử trúc hoàng hoa là tre tím và hoa vàng. Phi ngoại cảnh là không phải cảnh tượng bên ngoài chúng chỉ là đối tượng của tâm. Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân. Mây trắng và trăng sáng là biểu hiện của chân lý nhiệm mầu. Cây tre tím và bông hoa vàng không phải là một cái gì xa lạ. Nó là sự biểu hiện của pháp thân, của niết bàn. Và đám mây trắng cũng như vầng trăng sáng cũng là sự biểu hiện toàn chân, của thực tại mầu nhiệm mà mình gọi là pháp thân hay niết bàn. Những bài thơ này đã đi vào trong tôi một cách rất dễ dàng, rất mầu nhiệm. Trong cuộc sống hàng ngày có thể vì bị lo lắng, ưu phiền và giận hờn che lấp nên mình không tiếp xúc được với tre tím, hoa vàng, trăng sáng và mây bạc. Vì không tiếp xúc được với những mầu nhiệm đó nên mình không được nuôi dưỡng, mình không có hạnh phúc và mình không có cơ hội đi sâu hơn để có thể thấy được bản chất không sinh, không diệt của tất cả các pháp. Cho nên trong đạo Bụt đại thừa đi đâu ta cũng gặp thơ, đi đâu ta cũng gặp nhạc, vì thơ và nhạc cũng là những biểu hiện của pháp thân, của niết bàn mầu nhiệm. Và pháp thân cũng như niết bàn mầu nhiệm đó ta có thể tiếp xúc trong từng giây phút của đời sống hàng ngày, chứ ta không cần phải thực tập năm năm, mười năm hay tịch rồi thì mới tiếp xúc được. Các vị thiền sư chứng ngộ sống như vậy nên họ có hạnh phúc lắm. Họ có khả năng thấy được cái đẹp, thấy được cái mầu nhiệm, thấy được cái bất sinh diệt của tất cả các hiện tượng xung quanh. Thơ của các vị ấy rất có thiền vị, không bao giờ mang tính chất sầu đau. Nếu các vị thiền sư có làm ra những bài hát thì những bài hát của họ cũng không bao giờ mang chất sầu đau và than khóc. Năm 1949, hồi đó tôi còn trẻ lắm, tôi có gặp một thi sĩ trẻ ở Saigon, tên là Quách Thoại. Tôi gặp thi sĩ Quách Thoại ở chùa Giác Nguyên, tại Khánh Hội. Hồi đó hòa thượng Hành Trụ đang làm trụ trì chùa này. Hòa thượng Hành Trụ cũng còn trẻ lắm. Thi sĩ Quách Thoại không có nhà cửa, nên ở nhờ trong chùa. Tôi nhớ là Quách Thoại được ở chung với Trụ Vũ. Hai anh em được các thầy cho ở một cái cốc nhỏ, phía trước cốc có một hồ sen. Lá sen thật lớn. Và vào khoảng năm 1953 hay 1954, tôi nghe tin Quách Thoại chết vì bệnh lao ở trong nhà thương Bình Dân. Nhà thương Bình Dân chỉ có những người rất nghèo mới đi vào đó. Các bạn sau khi soạn lục các bản thảo của Quách Thoại có tìm ra được một bài thơ chưa bao giờ in, đó là bài Hoa Thược Dược. Bài Hoa Thược Dược tôi đã nhiều lần đọc cho quý vị nghe:

Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc:
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.

Khi đọc bài thơ đó tôi rất cảm kích. Tôi thấy nó không thua kém những bài thơ của các thiền sư đạt đạo. Quách Thoại đã tiếp xúc sâu sắc được với bông thược dược nên đã thấy được tính bất sinh, bất diệt của bông thược dược.

Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu

Bông hoa đang mỉm cười nụ cười huyền diệu. Ta không biết nó đã bắt đầu mỉm cười từ lúc nào. Lâu nay ta bận rộn quá chừng. Ta lo chuyện cơm, chuyện áo, chuyện nhà, chuyện cửa. Ta lo hờn, lo giận, lo buồn, lo tủi cho nên tuy bông hoa luôn luôn có mặt đó, mỉm nụ cười huyền diệu của nó mà ta lại chưa bao giờ nhìn thấy và nhận diện được. Nụ cười đó không phải mới phát sinh, mà đã có mặt từ vô thỉ. Lặng nhìn em kinh ngạc. Đây là giây phút giác ngộ. Những cái hiển nhiên như vậy mà bây giờ ta mới thấy. Lặng nhìn em kinh ngạc là gì, nếu không phải là cái giây phút bừng tỉnh, giác ngộ?

Lặng nhìn em kinh ngạc:
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu

Vừa mới thấy được nụ cười, nghe được tiếng hát của bông hoa thược dược. Tiếng hát rất im lặng nhưng cao vút và hùng hồn. Đó là một tiếng hát bất diệt. Lời ca đó không phải là lời ca của năm phút hay mười phút mà là lời ca ngàn đời.

Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu

Thái độ của thi sĩ là thái độ sùng kính. Quỳ xuống, chắp tay trước pháp thân mầu nhiệm, trước niết bàn diệu tâm. Năm chữ cuối chứng tỏ rằng trong con người thi sĩ có cái thái độ sùng kính ấy. Ta sụp lạy cúi đầu. Cúi đầu trước cái gì? Cúi đầu trước bông hoa thược dược. Cúi đầu trước sự biểu hiện mầu nhiệm của pháp thân, của bản thể, của toàn chân.
Bài thơ Hoa Thược Dược này đã có ảnh hưởng rất sâu đậm trong tôi, và cũng giống như những bài thơ khác của các vị thiền sư như bài Xuân đáo bách hoa khai, hoàng oanh đề liễu thượng hay bài Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân. Mình sẽ không thể hiểu được bài Trường ca Avril hay bài Bướm bay vườn cải hoa vàng nếu mình không thấy được điều đó. Nụ hoa vàng trong bài thơ Tử trúc hoàng hoa và hoàng oanh đề liễu thượng đã được đầu thai, biểu hiện trở lại trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng; và nó cũng được tiếp nối trong bài Trường ca Avril. Trong bài Trường ca Avril có một bông hoa. Bông hoa đó cũng hát lên bài hát ngàn đời của hiện hữu nhiệm mầu. Và trong các bài Trường ca Avril và Bướm bay vườn cải hoa vàng, chúng ta cũng thấy được pháp thân mầu nhiệm và niết bàn diệu tâm biểu hiện trong một bông hoa, trong một bài hát. Ta thấy được rằng nếu ta sống sâu sắc và tiếp xúc được với tích môn trong khi mọi loài biểu hiện thì ta cũng có thể tiếp xúc được với bản môn trong chiều sâu các pháp. Ta hãy nhận diện điều đó trong khi đọc bài Trường ca Avril. Avril tức là tháng tư. Tháng tư là tháng của mùa Xuân biểu hiện.

Avril về trong rừng cây trang nghiêm
Tình thương đã từ nơi ngàn xanh, nơi suối trong thể hiện
Bàn tay Mẹ nhiệm mầu
Sửa soạn cho chúng ta ra đời
Trong hào quang của mùa Xuân tình thương ấm áp

Mẹ ở đây không phải chỉ là thiên nhiên. Mẹ ở đây là toàn thể. Toàn thể của pháp thân, của chân như. Có những lúc đi vào trong rừng một mình hoặc leo lên đồi Dương Xuân hay ngồi ở rừng thông Đà Lạt, gặp những thân cây vươn mình đứng thẳng thì tôi đều có cảm giác là mình đang đứng ở trong một thánh đường rất trang nghiêm. Vì những thân cây đứng thẳng giống như những chiếc cột trụ của ngôi thánh đường cao vút. Chưa bao giờ mình được thấy một thánh đường đẹp như vậy. Đẹp hơn cả những thánh đường của con người tạo dựng ra. Và chỗ hay nhất để hành lễ, để thuyết pháp là những khu rừng như thế. Rất trang nghiêm, rất đẹp đẽ, rất mầu nhiệm; đó là những thánh đường, những pháp đường rất tự nhiên. Chữ trang nghiêm ở đây nghĩa là đẹp, đó là một danh từ Phật giáo, dịch từ tiếng Phạn vyùha. Trang nghiêm có nghĩa là đẹp, làm cho đẹp và cũng có nghĩa thâm nghiêm, tức là không ồn ào, náo nhiệt, nơi mọi người muốn giữ sự im lặng vì trong tim mọi người đang có thái độ kính cẩn. Khi đi vào trong rừng cây mà gặp cảnh tượng đó và thấy những thân cây vươn mình thẳng tắp như vậy thì mình có cảm tưởng đi vào trong một cung điện nghiêm trang, mình không dám nói lớn, không dám thở mạnh.

Avril về
Trong rừng cây trang nghiêm
Tình thương đã từ nơi ngàn xanh, nơi suối trong thể hiện

Trong đời sống hàng ngày ta có thể có cảm nghĩ rằng không có tình thương trong ta và xung quanh ta. Nhưng nếu thoát ra được tâm trạng cô đơn và tiêu cực thì ta mới thấy được rằng tình thương luôn luôn có mặt. Ở trong rừng ta cũng có cơ hội để tiếp xúc được với sự thật đó. Tình thương ở đây được thể hiện nơi rừng xanh và suối trong. Ngàn xanh tức là rừng. Ở Việt Nam có bà chúa Thượng Ngàn. Bà chúa Thượng Ngàn tức là bà chúa ở trong rừng. Rừng miền Thượng gọi là Thượng Ngàn. Tình thương đã từ nơi ngàn xanh, nơi suối trong thể hiện. Chỉ cần nhìn dòng suối, chỉ cần nhìn rừng cây là có thể thấy được tình thương đó. Bàn tay mẹ nhiệm mầu, sửa soạn cho chúng ta ra đời trong hào quang của mùa Xuân tình thương ấp áp. Đây là khung cảnh ấm áp của tình thương, có rất nhiều ánh sáng. Mẹ mình đã chuẩn bị cho mình ra đời trong hoàn cảnh đó. Ra đời ở đây có nghĩa là biểu hiện. Chứ không phải từ không mà mình biến thành có.

Đưa tôi ra đời hôm mồng bốn
Khắp nơi chim lạ bay về hát ca

ĐƯA TÔI RA ĐỜI

Trong bài thơ Trường ca Avril này có năm ngày mầu nhiệm. Năm ngày của biểu hiện chứ không phải là bảy ngày của tạo dựng. Ngày đầu tiên là ngày mồng bốn và ngày thứ năm tức là ngày mồng tám. Ngày mồng tám tức là ngày sau khi hoa anh đào nở rộ. Ngày mồng tám tức là ngày chúa Xuân xuất hiện. Ngày xưa Bụt giáng sinh cũng vào tháng tư, ngày mồng tám. Khắp nơi chim lạ bay về hát ca. Đưa tôi ra đời hôm mồng bốn. Tôi ở đây tức là ý thức. Vì nếu không có ý thức thì không có gì có mặt, cho dù bông hoa thược dược kia có mặt ở đó ngàn đời mà nếu không có ý thức thì bông hoa thược dược cũng được coi như là không có. Nếu ý thức không có mặt thì tiếng ca thiên thâu của bông thược dược cũng không bao giờ được nghe. Vì vậy cho nên ngày đầu là ngày biểu hiện của ý thức, là ngày tôi ra đời. Tôi nghĩa là ý thức. Các nhà khảo cổ học cho biết rằng khoảng ba triệu năm về trước khối óc của con người nhỏ chỉ bằng năm chục phần trăm khối óc của con người bây giờ. Ba triệu năm về trước con người đã biết dùng những dụng cụ bằng đá và bằng cây. Con người bắt đầu có sự khéo léo. Gọi là con người homo habilis. Con người biết sử dụng những cục đá, những thân cây, và từ từ biết mài hoặc đập bể những cục đá để lấy mảnh nhọn và dùng những mảnh nhọn đó để làm những mũi tên, cắm vào trong những thân cây để đi săn thú. Khi con người bắt đầu sử dụng những dụng cụ đó bằng hai tay thì ý thức và sự khôn khéo của con người từ từ phát triển. Cùng với sinh hoạt đó, khối óc con người lớn lên từ từ cho đến ngày hôm nay khi khối óc của con người lớn bằng ba khối óc của con người cách đây ba triệu năm. Con người có khả năng ý thức thì gọi là con người homo conscius. Sự phát triển của cơ thể sinh lý của con người cũng tùy thuộc về sự phát triển của văn hóa. Và con người bắt đầu có văn hóa. Con người bắt đầu biết sử dụng những dụng cụ. Con người bắt đầu biết tư duy. Con người bắt đầu có ý thức. Khi biết suy tư, con người biết sử dụng tư tưởng rồi trở thành con người có ý thức, lúc đó con người không còn chỉ còn là một con thú mà đã trở thành con người thật sự có văn hóa. Nếu ta nhìn vào cơ thể của ta thì ta thấy động vật tính vẫn còn trong ta. Động vật tính trong đó có những đòi hỏi giống hệt như những đòi hỏi khác. Đòi hỏi những thứ căn bản như là ăn, ngủ, dâm dục. Con người tuy có văn hóa và biết mình là một vị Bụt tương lai nhưng vẫn còn mang tính của thú vật, gọi là động vật tính. Khi có văn hóa nghĩa là bắt đầu có ý thức, chúng ta mới nhận diện ra được trong ta có tính người, tức nhân tính. Khi có ý thức rồi thì hạnh phúc của ta có thể lớn hơn nhiều lắm. Con động vật khi thấy một bông hoa có thể không thấy đẹp, không có rung cảm. Nó chỉ muốn biết cái hoa này có thể ăn được hay không thôi. Thấy trái cây thì con vật nó cũng chỉ nghĩ xem thứ trái cây này có ăn được không, ăn thì có bị ngất ngư hay không chứ nó không thấy được hình dáng của trái cây ấy đẹp hay xấu. Khi con đực thấy con cái nó chỉ nghĩ sẽ có thể giao hợp được với con cái hay không mà thôi, chứ không biết làm thơ ca tụng: em đẹp như thế này, anh đẹp như thế kia. Nhưng khi ý thức phát sinh thì ta có văn hóa. Và vì có văn hóa cho nên mới có những hình ảnh như : mắt em trong như nước hồ thu hay đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc. Đó là con người có văn hóa. Con người bắt đầu thấy được cái đẹp, thấy được sự giả dối và sự chân thật. Và con người cũng bắt đầu thấy được rằng con người đang bị áp bức bởi cái sống và cái chết. Con thú chưa có tư duy, không có sự lo lắng, không có sự bất an về cái chết tương lai. Nhưng con người thì rất bất an, rất ưu tư về cái chết trong tương lai, và sinh tử trở thành vấn đề rất lớn cho con người. Ta là ai? Tại sao ta sinh ra ở trên đời này? Sau khi chết ta sẽ đi về đâu? Đó là những câu hỏi của con người. Đó là văn hóa. Tại sao nhân loại lại đau khổ như thế này? Văn hóa đưa con người tới những ưu tư và sợ hãi. Đó là cái giá mà con người phải trả cho văn hóa. Ý thức cho con người tiếp xúc được với cái đẹp, với cái lành, với cái thiệt nhưng ý thức đó cũng cho con người tiếp xúc được với cái thân phận của mình. Cái thân phận bị chèn ép bởi sinh diệt, có không, còn mất và những câu hỏi về hiện hữu. Và cái hiện hữu này mang theo mỗi một nỗi bất an, một nỗi ưu tư (angoisse), một nỗi lo sợ. Đó là cái giá rất đắt mà con người phải trả cho văn hóa khi con người trở thành ra con người ý thức. Trước kia con người là một con vật. Bây giờ con người vừa là con vật, vừa là con người. Vì vậy nên sinh ra loại người gọi là homo sapiens. Khi cái ưu tư đã lên đến mức độ khó chịu đựng thì con người phải tạo dựng ra cho mình một tôn giáo tín ngưỡng, phải tin rằng có một đấng Thượng Đế tạo lập ra thế giới và con người, và sau khi chết con người sẽ trở về lại với Thượng Đế. Tất cả những niềm tin ấy có thể làm cho êm dịu lại cái nỗi niềm ưu tư, lo lắng của con người. Nhưng đồng thời cái ý thức đó cũng cho ta đi sâu vào sự quán chiếu để khám phá ra được cái bản tính không sinh không diệt của vạn hữu, của vũ trụ. Nhờ vậy con người đã khám phá ra được rằng mình cũng là một vị Bụt tương lai, thấy được rằng bản chất của mình là bất sinh, bất diệt và do đó con người có cơ hội vượt thoát ra được. Đạo Bụt là một nẻo thoát. Con người đi tìm một tôn giáo, một nẻo thoát cho nỗi ưu tư của mình. Nhưng con người mà gọi là con người có chánh niệm (homo conscius) mà đại diện rất xứng đáng là Bụt Thích Ca là con người đã khám phá ra rằng cái sinh, cái diệt chỉ là sự biểu hiện thôi, chứ bản chất của mình chính là tính bất sinh, bất diệt. Mình khám phá rằng tuy trong con người có động vật tính, có nhân tính nhưng đồng thời cũng có Phật tính; Mình phải làm sao để cho ba cái tính này có thể sống hài hòa và an lạc chung với nhau, đừng có sự xung đột.

Đưa tôi ra đời hôm mồng bốn. Như vậy chúng ta có thể hiểu tôi ở đây tức là ý thức. Con người ý thức. Khắp nơi chim lạ bay về hát ca. Từ khi ý thức phát hiện thì tất cả các loài chim lạ từ bốn phương đều bay về hát ca. Hình ảnh này quý vị có thể tìm lại trong truyện Tố: mỗi khi Thạch Lang cất tiếng hát thì chim bốn phương bay về quy tụ thành vòng trên đầu Thạch Lang. Ngơ ngác như môt con nai con, nhìn trời xanh, nhìn suối trong, nhìn lộc non trên cành cây, tôi về khi vũ trụ đang chuyển mình khi mùa tuôn dậy. Ý thức vừa mới sinh ra thì ngơ ngác vì có biết bao nhiêu điều mầu nhiệm đang được biểu hiện với tư cách đối tượng của ý thức. Mùa Xuân tới, cái chân tâm, niết bàn đã biểu hiện: trời xanh, suối trong, lộc non và muôn vạn con chim trở về ca hát. Cũng như em bé Nhật Tâm lần đầu tiên thấy bầu trời xanh rất ngạc nhiên. Chưa bao giờ bé thấy một cái gì lớn quá như vậy. Nó được sanh ra trong mùa Đông và suốt năm tháng cứ phải ở trong một căn phòng rất nhỏ bé. Mùa xuân đến, trời quang, mây tạnh, mẹ nó mới cho nó ra ngoài lần đầu. Có nắng. Và lần đầu tiên nó được tiếp xúc với bầu trời rộng thênh thang. Hai mắt nó biểu hiện một ngạc nhiên rất lớn. Ý thức ở đây cũng vậy. Ngơ ngác như một con nai con, nhìn trời xanh, nhìn suối trong, nhìn lộc non trên cành cây, tôi về khi vũ trụ đang chuyển mình trong mùa tuôn dậy. Mùa tuôn dậy là dịch từ chữ spring của tiếng Anh. Spring nghĩa là nhảy vọt lên, tuôn trào ra. Mới ngủ dậy ta đã thấy đọt hoa lên cao cả mấy phân. Rừng cây đang thay áo mới. Mùa Xuân là cái sự thay áo. Trút xuống những chiếc áo mầu sám và mầu trắng,vũ trụ đang khoác lên một chiếc áo khác, và kỳ này là một chiếc áo mầu xanh, mầu xanh rất non. Con nai con khờ dại soi mình trên giòng nước. Con nai con có thể không biết rằng cái hình bóng ở dưới giòng nước là hình bóng của chính mình. Con nai con có thể nghĩ rằng hình bóng ở dưới giòng nước là một con nai khác. Lắng tai nghe tiếng thì thầm gió lạ. Mạch sống dâng. Lời hát ca trong từng nụ nhiệm mầu. Tiếng hát đã có mặt trong từng nụ cây, trong giòng suối. Tiếng hát của mùa Xuân đã bắt đầu. Hoặc đã bắt đầu biểu hiện trong ý thức con người.

Quê hương tôi là rừng sâu
Có những thân cây vươn mình thẳng tắp
Mỗi khi nắng Xuân về xối chảy trên ngọn cây,
hương rừng bay
Mây trắng che trên trời xanh biêng biếc
Rừng cây
Bãi cỏ xanh non
Và một dòng nước thấm lòng đất mát.

Có ba hình ảnh. Hình ảnh thứ nhất là rừng cây với những thân cây vươn mình thẳng tắp mà mỗi khi đi ngang qua là mình thấy mình đang đi và trong một thế giới nghiêm trang, một thánh đường rất thiêng liêng. Thứ hai là bãi cỏ xanh non. Bãi cỏ xanh non trong đó xuất hiện những bông hoa vàng, tím, lấm tấm hàng ngàn, hàng vạn, hàng chục ngàn, hàng chục vạn bông. Đó là cái mà quý vị có thể chứng nghiệm và trông thấy được, nếu quý vị có ý thức. Và hình ảnh thứ ba là một dòng suối. Dòng suối tưới cho cánh đồng, cho khu rừng để cho sự tươi mát được tồn tại lâu dài. Rừng cây, bãi cỏ xanh non, và một dòng nước thấm lòng đất mát. Trời đất vừa sinh ra tôi. Ý thức vừa mới được biểu hiện.

Chim chóc ca ngày thứ nhất
Đất trời dâng hương ngất ngây
Tôi lớn lên. Dòng suối ca ngày thứ hai
Và con nai con tìm tới, ngây thơ, bên bờ xanh mướt cỏ
Nghiêng đầu nghe ngóng
Nhựa dâng đầu cành giục giã những nụ hoa thẹn thùng chưa muốn hé
Cho vừa nở kịp ngày thứ ba.

Ngày thứ hai hoa đã bắt đầu nở, nhưng còn có những nụ hoa chưa kịp nở: chúng đang còn thẹn thùng chưa muốn nở. Và nhựa trong thân cây trào lên giục giã. Sinh lực vũ trụ nói: nở đi con, nở đi con. Đây là mùa Xuân rồi, nở đi các con. Con nai con cũng là một biểu hiện của ý thức. Trước đây mình nói ngơ ngác như một con nai con nhìn trời xanh, nhìn suối trong, nhìn lộc non trên cành cây. Ở đây mình nói con nai con tìm tới ngây thơ trên bờ xanh mướt cỏ và nghiêng đầu nghe ngóng. Ý thức đang lớn từ từ để nhận diện ra tất cả những gì đang phát hiện. Chúng ta là một phần của mùa Xuân, một phần của sự biểu hiện. Mỗi chúng ta là một thân cây của cuộc sống. Mỗi chúng ta là một giòng suối trong. Mỗi chúng ta là một đồng cỏ xanh có nhiều bông hoa lấm tấm. Mỗi chúng ta là một nụ hoa đang thẹn thùng chưa muốn nở, nhưng nhựa sống của mùa Xuân đang thúc đẩy chúng ta: nở đi con, nở đi con, mùa Xuân đã tới. Chúng ta sống giữa các anh, các chị và các em của chúng ta. Chúng ta phải nhận diện được rằng mỗi anh, mỗi chị và mỗi em đều là một bông hoa. Bông hoa có thể chưa nở nhưng bông hoa chắc chắn sẽ nở. Và chúng ta phải tự hiến mình cho tăng thân như một bông hoa. Vì chúng ta là một phần của hiện hữu nhiệm mầu, là một phần của mùa Xuân. Chúng ta hãy hành xử như một bông hoa, như một thân cây hay như một giòng suối trong bản hợp tấu vĩ đại của mùa Xuân. Đó là nhiệm vụ của chúng ta. Nhiệm vụ chúng ta là ca hát, là nở ra như một bông hoa. Chúng ta không có một nhiệm vụ nào khác. Ý này ta thấy rất rõ trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng: Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu. Là nụ cười, là một phần của hiện hữu nhiệm mầu.

Nắng ấm reo vui trên cành biếc nõn nà
Ngày thứ tư vừa lại. Hoa anh đào khai hội
Có gì mới lạ trong tiếng ca mùa mới đang lên?

Hoa anh đào đã nở rộ. Có một cái gì trong không khí báo trước một xuất hiện mới.

Ngày thứ năm. Bình minh về bất chợt    
Rừng thức giấc trong mùi thơm ngây ngất
Của ban mai kết đọng hương ngàn hoa
Và cũng bất thần Em về.

Em ở đây là sự biểu hiện đầy đủ của bản hợp tấu vĩ đại mùa Xuân. Em ở đây cũng tức là chúa Xuân. Và chính tiếng hát của chúa Xuân sẽ giúp cho chúng ta tìm về tới được với bản chất và cội nguồn của mỗi chúng ta.

Trong rừng sâu hiển hiện
Em rón rén bước từng bước nhẹ, trên màu xanh thảm lụa

Chúng ta hãy tưởng tượng trong rừng sâu rất trang nghiêm, rất huyền diệu, rất thần bí xuất hiện chúa Xuân. Chúa Xuân xuất hiện trong hình thức homo sapiens, hình thức con người có ý thức. Pháp thân Bụt cũng đã xuất hiện dưới hình thức của một con người. Thượng đế cũng đã xuất hiện dưới hình thức của một con người. Thì mùa Xuân Bất Diệt cũng thế. Chúa Xuân xuất hiện dưới hình thức diễm lệ của một nàng Xuân Nữ, xiêm y lộng lẫy và tha thướt. Nàng đang rón rén bước từng bước rất nhẹ nhàng vì sợ gây tiếng động trong khung cảnh cực kỳ trang nghiêm ấy.

Con nai con vẫn giương mắt nhìn em ngơ ngác
Trong giây phút thiêng liêng huyền hoặc
Em biến thành một bông hoa nhỏ bám vào lòng đất mẹ thương yêu.

BÀI CA BẤT DIỆT

Ở đây chúng ta nhận ra được bông hoa của thi sĩ Quách Thoại. Bông hoa rất nhỏ. Bông hoa bám vào lòng đất. Đó là cái mà con nai con thấy được. Con nai con là ý thức mới sinh còn bỡ ngỡ, còn ngơ ngác, nhưng dưới sự quán sát của nó chúa Xuân vừa hiển hiện. Chúa Xuân đã biến thành bông hoa nhỏ, bám vào lòng đất. Khi đi có ý thức thì trong mỗi bước chân ta đều có thể nhận diện ra được bông hoa này. Bông hoa không phải chỉ biểu hiện một nơi nào nhất định. Bất cứ một cây trúc tím hay một bông hoa vàng nào cũng là biểu hiện của chúa Xuân. Với thi sĩ Quách Thoại thì nó biểu hiện dưới hình thức của một bông hoa thược dược nằm bên hàng dậu. Chỉ cần ý thức có mặt là ta có thể nhận diện được biểu hiện mầu nhiệm đó của pháp thân.

Nắng lên, một giọt sương long lanh
còn vương trên cánh hoa sao bé nhỏ
Nhưng rừng cây không hay
Hiện hữu em ca bài ca bất diệt
Tiếng ca em quen thuộc như đã có từ ngàn xưa
trong rừng sâu lặng lẽ nghiêm trang.

Giờ phút mà mình trông thấy bông hoa cũng là giờ phút mà mình nghe tiếng hát của bông hoa. Tiếng hát đó cũng không phải tiếng hát mới bắt đầu. Tiếng hát đó đã có từ vô thỉ. Ở đây ta nhận diện được rất rõ ràng bài thơ của Quách Thoại. Quách Thoại đã luân hồi, đã sống dậy trong bài thơ.

Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.

Hiện hữu em ca bài ca bất diệt. Tiếng ca em quen thuộc. Tại sao trong khi nghe mình có cảm tưởng như bài ca này mình đã nghe rồi, mình đã từng được nghe trong những kiếp trước. Vì lẽ bài ca này đã có mặt từ vô thỉ. Mình đã từng được nghe nó từ muôn triệu kiếp. Vì thế hôm nay mình mới có cảm tưởng như mình đang được nghe một cái gì rất quen thuộc. Bản chất của mình cũng là của vô sinh, của bất diệt. Đó là sự quen thuộc. Tiếng ca em quen thuộc như đã có từ ngàn xưa trong rừng cây lặng lẽ trang nghiêm. Không có gì khó hiểu trong những lời thơ này.

Con nai con vẫn giương mắt nhìn quanh
Không có gì thêm
Không có gì mới lạ
Không nghĩ rằng em trong rừng sâu vừa lạc
Bởi vì tiếng ca em hòa mầu nhiệm trong
khúc ca mùa tuôn dậy màu xanh
Bông hoa kia như đã từng có mặt một lần với đất mẹ buổi ban đầu.

Những câu thơ này cũng nói về một điều mà mình đã nghe. Có gì thêm đâu? Có gì mới đâu? Bất tăng, bất giảm. Vô khứ, vô lai. Bông hoa kia tuy mới được biểu hiện nhưng kỳ thực nó đã có mặt từ buổi ban đầu. Ban đầu hay không có ban đầu? Vô thỉ tức là không có ban đầu. Bông hoa kia như đã từng có mặt cùng với đất mẹ buổi ban đầu. Ban đầu thì con nai có thể có cảm tưởng là có một vì chúa Xuân xuất hiện. Đi vài bước rón rén, chúa Xuân chợt biến thành một bông hoa nhỏ. Nhìn lại, con nai con bỗng thấy bông hoa đó đã có mặt với đất mẹ từ lúc ban đầu, chứ không phải là một sự biểu hiện mới, không phải là một sự tạo sinh.

Một con chim nghiêng nghiêng mắt nhỏ nhìn em và tung ra một tràng ngọc âm thanh trong suốt

Trên cành cao có một con chim. Con chim cũng nhìn thấy bông hoa và con chim cũng đã có ý thức về sự có mặt của bông hoa. Nó tung ra một chuỗi ngọc âm thanh trong suốt để ca ngợi sự có mặt của bông hoa.

Chim, hoa, cây, suối
Không ngừng ca
Cả rừng cây hợp tấu
Không ngừng lại để hỏi em có mặt tự bao giờ.

Khúc hát không bao giờ ngừng lại. Tất cả các thành viên của ban hợp xướng đều đang hết mình bận rộn, không ai ngừng lại để đặt câu hỏi. Và cũng không ai cần đặt câu hỏi. Mình mới tới không có nghĩa là mình mới tới. Mình đã có mặt từ lúc ban đầu.

Bông hoa bé nhỏ rừng cây
Một phần của hiện hữu vô thỉ vô chung
Em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện.

Này bông hoa bé nhỏ, em chưa bao giờ sinh ra. Tôi biết bản chất của em là bản chất vô sinh bất diệt. Em chỉ biểu hiện ra cho chúng tôi thấy. Và nếu chúng tôi tiếp xúc được với em một cách sâu sắc là chúng tôi tiếp xúc được với cái tự tính bất sinh bất diệt của em và đồng thời chúng tôi cũng có thể tiếp xúc được với tự tính vô sinh bất diệt của chúng tôi. Có người tin vào lý thuyết Tạo Hóa. Họ tin rằng lúc ban đầu có một đấng tạo ra hiện hữu, tạo ra vũ trụ này. Từ không vũ trụ đột nhiên trở thành có. Còn chúng ta, chúng ta chỉ tin sự biểu hiện. Ngươi không phải tạo sinh, ngươi chỉ là biểu hiện (Tu nes pas une création, tu nes quune manifestation). Đó là bản chất của giáo lý duy biểu. Là biểu hiện, em không bị lệ thuộc sinh diệt, có không, tới đi, còn mất. Bản chất em là không sinh, không diệt, không thêm, không bớt. Để đối trị với cái ưu tư (angoisse), đạo Bụt hiến tặng cho chúng ta tuệ giác Niết bàn, nghĩa là tuệ giác về bất sinh bất diệt. Ta có thể vượt thoát cái ưu tư của con người bằng cách tu tập, sống cho sâu sắc và thoải mái để vượt thoát ý niệm sinh tử.

Rừng cây đã thay xong áo mới
Ngày mồng mười có hai đứa trẻ con nhà ai, nắm tay nhau chạy tung tăng trên bãi cỏ xanh non, tiếng cười trong veo như tiếng hót chim hoàng oanh buổi sáng
Chúng băng qua đồng cỏ và dừng lại bên cửa rừng
Nắng phơi phới reo
Hai đứa trẻ con nhà ai. Đó là chúng ta. Chúng ta tìm về cội nguồn với tư cách một tăng thân.

Chúng băng qua đồng cỏ và dừng lại bên cửa rừng
Nắng phơi phới reo
Avril đã về trong rừng cây, đứa bé thì thầm bên tai đứa lớn

BÔNG HOA VẪN KHÔNG NGƯNG LỜI HÁT CA

Hai đứa trẻ con nhà ai. Hai anh em. Hai chị em. Ý thức kia đã bừng lên trong tâm tư những đứa bé. Những đứa bé thấy được rằng Avril đã biểu hiện. Đây là một lời tuyên bố: mùa Xuân đang có mặt. Như khám phá ra điều gì tối ư quan trọng. Ta có thể nghĩ: Chuyện mùa Xuân đang có mặt thì có gì là ghê gớm, có gì là lạ kỳ lắm đâu. Nhưng đối với sự phát sinh của ý thức thì đây là chuyện cực kỳ quan trọng. Đây là một khám phá lớn. Ví dụ quý vị đang sống trong mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ thứ 20 mà quý vị không biết. Tự nhiên có một tiếng chuông, quý vị bỗng nhiên thức tỉnh và biết rằng quý vị đang sống trong mùa Xuân của thế kỷ thứ 20. Đó là một khám phá rất quan trọng. Có thể là khám phá lớn nhất ở trong cuộc đời của quý vị. Như khám phá ra điều gì tối ư quan trọng. Chúng nắm chặt tay nhau và cùng lắng tai nghe. Mùa Xuân là một bản hòa tấu và hai đứa bé đã bắt đầu nghe được khúc nhạc bất diệt của mùa Xuân. Quý vị đã bắt đầu nghe chưa? Phải rồi, khúc hát bất diệt của mùa Xuân. Hai đứa nhìn nhau. Ta hãy nhìn sư anh của ta, ta hãy nhìn sư em của ta. Ta thấy rằng cuộc đời mầu nhiệm quá. Trong giây phút hiện tại nếu ta chìm trong quên lãng hoặc trong giận hờn thì đó là một sự uổng phí rất lớn. Avil đã về trong rừng cây, phen này đứa lớn thì thầm bên tai đứa bé. Cả hai đứa đều nói một lời. Dị khẩu đồng âm. Đó là sự biểu lộ của sự tỉnh thức. Tôi đã thấy, tôi đã nghe và tôi đang sống.

Nắng ấm tràn lan cây cỏ
Bỗng con nai con xuất hiện ở cửa rừng sưởi nắng
Bốn gót chân mang theo hương thơm
những bông hoa vàng, tím trong rừng
Có đàn bướm lạ tung tăng đọt cây, bờ suối
Bay đến gần nai.

Con nai con bước chân trên những bông hoa và giữa những bông hoa, vì vậy bốn gót chân của nó trở thành hương hoa, cho nên khi nai tới gần bờ suối thì những con bướm lầm tưởng bốn gót chân của nai là những bông hoa cho nên đều tìm tới gần nai. Có đàn bướm lạ tung tăng đọt cây bờ suối bay đến gần nai. Chúng tưởng con nai là những bông hoa.

Nắng ấm vẫn reo
Dòng nước vẫn đi vào lòng đồng cỏ xanh êm ái
Nhưng con nai con và hai đức bé đã cùng lạc vào rừng sâu
Tìm theo tiếng hát nhiệm mầu.

Cả con nai và cả hai đứa bé đều đang đi tìm bông hoa, nơi phát xuất của khúc hát mùa Xuân. Chúng ta cũng vậy, chúng ta đang đi tìm cội nguồn của bản hợp tấu. Chỉ khi nào tìm được chúng ta mới chấm dứt việc đi tìm.  

Bỗng nhiên có tiếng nổ dồn dập kinh hoàng
Một đàn chim sắt ào ào bay đến
Tóe tung lửa đồng, khạc trên đồng xanh, mặt suối
Rào rào xé mây tung gió
Tự nhiên rừng cây bặt tiếng hát ca.

Đây là sự can thiệp của chiến tranh. Đây là sự có mặt của vô minh, của những phiền não tham, sân, si. Đây là bạo động đi vào khung cảnh của biểu hiện. Trong lúc bạo động và căm thù biểu hiện thì cố nhiên sự biểu hiện của pháp thân ngưng lại, và ta thấy tự nhiên rừng cây bặt tiếng hát ca. Bặt tiếng hát ca tức là ta không còn nghe tiếng hát ca, chứ không phải là tiếng hát ca không còn nữa.

Hoa khép không dâng hương
Suối trong không soi dáng mây trời
Chim chóc lặng im như khi đêm về nằm im trong tổ kín.

Nhưng rồi cuối cùng đàn chim sắt bay đi
Rừng xanh trở về bình an
Thanh tịnh
Rừng cây mỉm cười
Tiếng hát ca mùa tuôn dậy vẫn như chưa từng bao giờ
đứt đoạn.

Ta có thể thấy rằng khi những chiếc máy bay tới dội bom và đốt phá thì tiếng hát bị đứt đoạn, nhưng khi đàn chim sắt bay đi thì ta lại nghe trở lại khúc hát bất diệt muôn đời của mùa Xuân. Chưa từng bao giờ đứt đoạn, đó là cái thấy của con nai và của hai đứa bé. Cành lá chuyền nhau tin vui. Chiếc lá này vẫy gọi chiếc lá khác: máy bay đã đi, máy bay đã đi rồi. Chiếc lá này lại chuyền tin cho chiếc lá khác, và trong rừng cái tin hòa bình đã được thiết lập được chuyền đi rất mau.

Cành lá chuyền nhau tin vui
Tiếng thì thầm êm ái
Con nai con đã cùng hai đứa bé tìm ra bông hoa tím nhỏ
(Bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca).
Đây là một sự thành tựu rất lớn và rất đẹp. Đứa bé đó là chúng ta, chúng ta đã tìm ra được bông hoa mầu nhiệm. Chúng ta đã tiếp xúc được với cái bất sinh bất diệt của hiện hữu. Khi con nai con và hai đứa bé tìm ra bông hoa tím nhỏ thì chúng khám phá ra rằng bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca. Bông hoa chưa bao giờ từng ngưng lời hát ca, dầu máy bay đang dội bom và đốt phá nó vẫn cứ hát ca; nó hát ca trong bản môn của nó. Câu Bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca nằm ở trong ngoặc đơn để cho người ta chú ý tới điều đó, vậy thôi.

Đứa nhỏ ôm lấy đầu nai
Đứa lớn vuốt ve mình nai
Tất cả hát theo bài hát ngàn đời của nhiệm mầu hiện hữu.

Nai đã là biểu tượng của cái tôi, tức là của ý thức. Hai đứa bé bây giờ đã xúm lại chơi với con nai. Đứa bé thì ôm lấy đầu nai, đứa lớn vuốt ve mình nai. Cả ba đã bắt đầu tham dự vào cuộc hòa tấu của bản nhạc trùng trùng duyên khởi. Cả ba đều đang hát theo với chim, hoa, cây, suối. Chúng nghĩ rằng chúng chỉ mới bắt đầu hát theo, nhưng kỳ thực chúng cũng đã từng hát tự muôn ngàn kiếp trong bản môn của chúng.

Ngoài kia nắng ấm vẫn reo
Avril trong rừng cây nguyên vẹn

Nguyên vẹn có nghĩa là những gì xảy ra trong tích môn không chạm được vào bản môn. Chưa bao giờ có sự mất mát. Không có gì thêm, không có gì bớt. Không có bắt đầu, không có chung cuộc.

Dòng suối đi sâu êm êm vào lòng đất

Dòng suối tượng trưng cho tình thương, cho sự sống; cũng như đồng cỏ tượng trưng cho sự tự do và rừng cây tượng trưng cho sự vững chãi. Rừng cây, bãi cỏ xanh non và một dòng nước thấm dòng nước mát.

Dòng suối đi sâu êm êm vào lòng đất
Và muôn vạn bông hoa vàng tím đã nở tự bao giờ,
lấm tấm trên cánh đồng cỏ xanh non.

Đó là những hình ảnh mà quý vị thấy hàng ngày khi đi thiền hành lên đồi. Đây là sự xuất hiện của hàng vạn bông thủy tiên nơi Pháp Thân Tạng của Xóm Thượng, đây là sự xuất hiện của hàng triệu vị bồ tát tùng địa dũng xuất. Các vị này đều là đệ tử và người cọng sự của Bụt Thích Ca. Họ nói: Chúng tôi là những đứa con của trái đất. Chúng tôi sẽ đủ sức chăm sóc và cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh trên trái đất. Xin các vị bồ tát tới từ các hành tinh khác đừng lo. Đây cũng là sự xuất hiện của hằng hà sa số chư Bụt. Sự có mặt của một bông hoa chứng minh sự có mặt của hằng hà sa số bông hoa. Mỗi khi đi thiền hành lên đồi với ý thức chánh niệm, tất cả chúng ta đều có cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc với mùa Xuân bất diệt, với bông hoa đang hát ca, với bài hát của hiện hữu nhiệm mầu, với Bụt Thích Ca, với hằng sa bồ tát tùng địa dũng xuất. Cảnh giới mô tả trong Trường Ca Avril cũng như cảnh giới Bất Khả Tư Nghị của Hoa Tạng là cảnh giới hàng ngày của sự sống ta. Lát nữa đây đi thiền hành lên đồi, mỗi chúng ta nhớ nhận diện cho được các vị bồ tát tùng địa dũng xuất. Bây giờ đây, chúng ta hãy nghe lại cả bài thơ:

Trường Ca Avril

Avril về
Trong rừng cây trang nghiêm
Tình thương đã từ nơi ngàn xanh, nơi suối trong thể hiện
Bàn tay Mẹ nhiệm mầu
Sửa soạn cho chúng ta ra đời
Trong hào quang của mùa Xuân tình thương ấm áp

Đưa tôi ra đời hôm mồng bốn
Khắp nơi chim lạ bay về hát ca
Ngơ ngác như một con nai con nhìn trời xanh, nhìn suối trong, nhìn lộc non trên cành cây
Tôi về khi vũ trụ đang chuyển mình trong mùa tuôn dậy.

Rừng cây đang thay áo mới
Con nai con khờ dại soi mình trên dòng nước
Lắng tai nghe tiếng thì thầm gió lạ
Mạch sống dâng
Lời hát ca trong từng nụ nhiệm mầu

Quê hương tôi là rừng sâu
Có những thân cây vươn mình thẳng tắp
Mỗi khi nắng Xuân về xối chảy trên ngọn cây,
hương rừng bay
Mây trắng che trên trời xanh biêng biếc
Rừng cây
Bãi cỏ xanh non
Và một dòng nước thấm lòng đất mát.

Trời đất vừa sinh ra tôi
Chim chóc ca ngày thứ nhất
Đất trời dâng hương ngất ngây
Tôi lớn lên. Dòng suối ca ngày thứ hai
Và con nai con tìm tới, ngây thơ, bên bờ xanh mướt cỏ
Nghiêng đầu nghe ngóng
Nhựa dâng đầu cành giục giã những nụ hoa
thẹn thùng chưa muốn hé
Cho vừa nở kịp ngày thứ ba.
Nắng ấm reo vui trên cành biếc nõn nà
Ngày thứ tư vừa lại. Hoa anh đào khai hội
Có gì mới lạ trong tiếng ca mùa mới đang lên?
Ngày thứ năm. Bình minh về bất chợt    
Rừng thức giấc trong mùi thơm ngây ngất
Của ban mai kết đọng hương ngàn hoa
Và cũng bất thần Em về. Trong rừng sâu hiển hiện
Em rón rén bước từng bước nhẹ, trên màu xanh thảm lụa
Con nai con vẫn giương mắt nhìn em ngơ ngác
Trong giây phút thiêng liêng huyền hoặc
Em biến thành một bông hoa nhỏ bám vào lòng đất mẹ
thương yêu.

Nắng lên, một giọt sương long lanh còn vương
trên cánh hoa sao bé nhỏ
Nhưng rừng cây không hay
Hiện hữu em ca bài ca bất diệt
Tiếng ca em quen thuộc như đã có từ ngàn xưa
trong rừng sâu lặng lẽ nghiêm trang.

Con nai con vẫn giương mắt nhìn quanh
Không có gì thêm
Không có gì mới lạ
Không nghĩ rằng em trong rừng sâu vừa lạc
Bởi vì tiếng ca em hòa mầu nhiệm trong khúc ca
mùa Tuôn Dậy màu xanh
Bông hoa kia như đã từng có mặt một lần với đất mẹ
buổi ban đầu.
Một con chim nghiêng nghiêng mắt nhỏ nhìn em và tung ra một tràng ngọc âm thanh trong suốt
Chim, hoa, cây, suối
Không ngừng ca
Cả rừng cây hợp tấu
Không ngừng lại để hỏi em có mặt tự bao giờ.

Bông hoa bé nhỏ rừng cây
Một phần của hiện hữu vô thỉ vô chung
Em không phải Tạo Sinh mà chỉ là Biểu Hiện.

Rừng cây đã thay xong áo mới
Ngày mồng mười có hai đứa trẻ con nhà ai, nắm tay nhau chạy tung tăng trên bãi cỏ xanh non, tiếng cười trong veo như tiếng hót chim hoàng oanh buổi sáng
Chúng băng qua đồng cỏ và dừng lại bên cửa rừng
Nắng phơi phới reo
Avril đã về trong rừng cây, đứa bé thì thầm bên tai đứa lớn
Như khám phá ra điều gì tối ư quan trọng
Chúng nắm chặt tay nhau và cùng lắng tai nghe…
Phải rồi khúc hát bất diệt mùa xuân
Hai đứa nhìn nhau. Avril đã về trong rừng cây, phen này đứa lớn thì thầm bên tai đứa bé.

Nắng ấm tràn lan cây cỏ
Bỗng con nai con xuất hiện ở cửa rừng sưởi nắng
Bốn gót chân mang theo hương thơm
những bông hoa vàng, tím trong rừng
Có đàn bướm lạ tung tăng đọt cây, bờ suối
Bay đến gần nai.
Nắng ấm vẫn reo
Dòng nước vẫn đi vào lòng đồng cỏ xanh êm ái
Nhưng con nai con và hai đứa bé đã cùng lạc
vào rừng sâu
Tìm theo tiếng hát nhiệm mầu.

Bỗng nhiên có tiếng nổ dồn dập kinh hoàng
Một đàn chim sắt ào ào bay đến
Tóe tung lửa đồng, khạc trên đồng xanh, mặt suối
Rào rào xé mây tung gió
Tự nhiên rừng cây bặt tiếng hát ca.
Hoa khép không dâng hương
Suối trong không soi dáng mây trời
Chim chóc lặng im như khi đêm về nằm im trong tổ kín.

Nhưng rồi cuối cùng đàn chim sắt bay đi
Rừng xanh trở về bình an,
Thanh tịnh.
Rừng cây mỉm cười
Tiếng hát ca mùa tuôn dậy vẫn như chưa từng bao giờ
đứt đoạn.
Cành lá chuyền nhau tin vui
Tiếng thì thầm êm ái
Con nai con đã cùng hai đứa bé tìm ra bông hoa tím nhỏ
Đứa nhỏ ôm lấy đầu nai
Đứa lớn vuốt ve mình nai
Tất cả hát theo bài hát ngàn đời của nhiệm mầu
hiện hữu.

Ngoài kia nắng ấm vẫn reo
Avril trong rừng cây nguyên vẹn
Dòng suối đi sâu êm êm vào lòng đất
Và muôn vạn bông hoa vàng tím đã nở, tự bao giờ,
lấm tấm trên cánh đồng cỏ xanh non.

Bướm bay vườn cải hoa vàng – Nhất Hạnh

TÔI KHÔNG BAO GIỜ KHÔN LỚN

Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng.

Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.

Bài Bướm bay vườn cải hoa vàng cũng là một bài thơ rất vui, và tuy nhạc của Anh Việt hơi có tính hoài niệm, nhưng tinh thần của bài thơ này vốn rất thanh thoát nhẹ nhàng. Trong bài thơ này chúng ta đã thấy các giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú và Vô Hành biểu hiện ra rất rõ. Hiện Pháp Lạc Trú là sống an lạc, vững chãi và thảnh thơi ngay trong giờ phút hiện tại.

Những câu đầu có thể cho chúng ta có cảm tưởng đây là hình ảnh của quá khứ, nhưng sau đó chúng ta biết rằng những hình ảnh đó là những hình ảnh của hiện tại. Vì nếu an trú được trong bản môn thì chúng ta có thể thấy quá khứ nằm ngay trong hiện tại. Và chuyện gì xảy ra ngày hôm qua cũng đang xảy ra ngay trong ngày hôm nay, và ta vẫn có thể tiếp tục rong chơi trong thiền đường tuổi thơ. Tất cả những gì đẹp, tất cả những gì mầu nhiệm của ngày hôm qua vẫn còn có mặt trong giây phút hiện tại, nếu chúng ta thực sự biết tiếp xúc với giây phút hiện tại.

Mười năm vườn xưa xanh tốt
Hai mươi năm nắng rọi lều tranh
Mẹ tôi gọi tôi về bên giếng nước rửa chân
Hơ tay trên bếp lửa hồng
Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống

Mười năm đầu là mười năm của tuổi thơ, không lo lắng, không cần phải đối diện với những khó khăn của sự sống.
Hai mươi năm kế tiếp là hai mươi năm của sự đương đầu với những khó khăn, với những khắc nghiệt của sự sống. Đây là kinh nghiệm không phải của riêng ai mà của tất cả chúng ta.

Mẹ tôi gọi tôi về bên giếng nước rửa chân
Hơ tay trên bếp lửa hồng
Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống

Tất cả những đứa bé ở Việt Nam đều đã có cơ hội sống qua hình ảnh này. Nếu được sinh ra ở Tây Phương thì có thể mình đã không trải qua cùng một kinh nghiệm. Đi chơi; sự có mặt của trẻ thơ là để chơi chứ không để làm gì hết. Ăn và chơi thôi. Ăn, ngủ và chơi. Cha mẹ ta chỉ mong chúng ta làm được ba chuyện đó. Ăn, ngủ và chơi.

Đi chơi nhưng luôn luôn ta được dặn rằng: con nhớ về đúng giờ cơm chiều. Có khi ham chơi quá, ta về trễ và mẹ phải ra gọi. Vì mình chơi ở một bãi cát, ngoài bờ sông hoặc ở một bến nước nào gần nhà. Và sau khi đã nấu cơm xong, mọi người trong gia đình đã có mặt rồi mà chỉ còn thiếu mình nên mẹ phải đi ra gọi mình về ăn cơm. Chơi thì chơi đủ thứ, không cần đi guốc, đi giầy gì hết. Lấm láp, hai chân dính bùn, dính đất, vì vậy khi về đến nhà trước ta phải ra bếp nước để rửa chân. Rửa chân xong, đi đôi guốc rồi mới được vào ăn cơm. Vì mâm cơm được dọn trên bộ ván gõ, nếu chân mình còn dính bùn đất thì mình không được trèo lên. Đó là hình ảnh của Việt Nam.

Ở Việt Nam hồi đó bếp chỉ đun bằng rơm hoặc củi, mà phần lớn ở thôn quê thì đun bằng rơm. Tôi là một trong những người có thể nấu cơm bằng rơm. Hôm nào các sư chú tổ chức đem rơm vào để tôi nấu một nồi cơm bằng rơm cho mà xem. Nấu cơm bằng rơm mà nấu canh cũng nấu bằng rơm được, rất hay. Trong khi nấu cơm mình phải dùng một thanh củi đẩy rơm vào để nuôi ngọn lửa cháy hoài, nếu bỏ đi chỗ khác thì rơm sẽ tắt. Nhưng mình vẫn có thể đứng dậy đi năm hoặc bảy bước để lấy cái gì đó rồi trở về kịp thời để đẩy nắm rơm vào.

Cái bếp nước (ảng nưóc) gần nhà bếp lắm. Nơi đó có một cái lu, ngoài Bắc gọi là cái chum, trên cái chum có một cái gáo dừa, cán bằng gỗ còn gáo làm bằng trái dừa. Nhà nào cũng có một cái gáo dừa như vậy. Dùng cái gáo ấy múc nước từ trong chum ra dội lên hai chân, chân này rửa cho chân kia, không cần cúi xuống dùng tay để rửa. Hoàn toàn ta rửa chân bằng chân. Chân này rửa cho chân kia và chân kia rửa cho chân này, trong khi tay trái vén ống quần còn tay phải thì múc nước.

Mẹ tôi gọi tôi về bên bếp nước rửa chân
Hơ tay trên bếp lửa hồng
Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống

Có thể là cơm canh chưa nấu xong nhưng mà mẹ đã ra gọi, vì trời tối rồi. Gọi về rửa chân cho sạch sẽ để ăn cơm chiều. Có thể cơm đã nấu xong, canh đã nấu xong, chỉ cần hâm nóng lại nồi đồ kho hoặc chỉ cần bắc nồi chè lên. Chè đây là nước uống, là trà Huế. Trà Huế là một loại thức uống ở Việt Nam rất phổ thông. Mình đi ra vườn hái những lá chè tươi, mang vào rửa và vo cho dập, sau đó rửa lại cho sạch thêm một lần nữa rồi bỏ vào cái bình tích.

Sau đó mình nấu nước thật sôi và đổ vào bình tích. Lắc lắc vài lần rồi lại đổ nước đó ra, vì nước đó có thể còn hăng và cũng như để rửa chè và bình lại một lần nữa. Cuối cùng mình lấy một củ gừng đập dập và bỏ vào bình tích, sau đó mới rót nước sôi vào và đậy nắp bình lại. Mình còn lấy ít lá chuối khô cuốn tròn lại để nhét vào cái vòi của bình tích cho hơi nóng đừng ra. Cái đó gọi là hãm. Và chừng mấy phút sau nước chè ra rất thơm, rất ngon mầu xanh vàng khá đẹp. Đó là uống cách sang, còn nếu không thì để hết tất cả lá chè đó vào một cái nồi bằng đất rồi đổ nước vào nấu sôi. Sôi xong thì tắt lửa. Khi nào muốn uống thì lấy cái tô múc một gáo nhỏ bỏ vào trong tô, rồi ra lấy thêm nước mưa chế vào cho đầy tô rồi uống. Uống rất đã khát, nhất là mình vừa làm việc lao động xong.

Có thể là nồi cơm đã chín, nồi canh đã nêm, nồi kho đã hâm rồi và chỉ cần bắc nồi chè lên thôi, nhưng mẹ đã đi ra gọi mình về để rửa chân cho kịp thời ăn cơm với gia đình. Bữa cơm gia đình là một thời gian rất linh thiêng. Nếu bữa cơm đó mà thiếu mặt một người thì hạnh phúc không được toàn vẹn. Ngày nay nhiều gia đình không có được cái hạnh phúc này. Đôi khi con về ăn trước hoặc cha mẹ về trước thì ăn trước, con về sau thì ăn sau. Vì thế mình không có được cái hạnh phúc đoàn tụ trong bữa cơm gia đình.

Hồi đó không có điện, không có nước máy, và nước ở trong chum là do mình gánh ở ngoài sông hay ngoài giếng vào. Còn đèn để thắp thì toàn là đèn dầu hỏa. Vào mùa Hè, ngày dài, thay vì ăn cơm ở trong nhà thì ta trải chiếu và dọn cơm ra ngoài sân cho có ánh sáng. Khi ăn xong, cất dọn chén bát rồi thì trăng có thể đã lên tới ngọn tre, đầu ngõ. Và anh chị em cùng ra chơi với nhau ở ngoài bụi tre. Đó là cảnh tượng rất đẹp đẽ, rất phổ thông của tất cả mọi gia đình.

Mười năm vườn xưa xanh tốt
Hai mươi năm nắng rọi lều tranh
Mẹ tôi gọi tôi về bên giếng nước rửa chân
Hơ tay trên bếp lửa hồng
Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống

Có thể đó là một buổi chiều mùa Đông, lạnh. Sau khi rửa chân rửa tay, mình vào bếp hơ cho ấm, và sự có mặt của mẹ bên mình cũng ấm như sự có mặt của lửa. Mẹ là một thứ lửa ấm.

Tôi không bao giờ khôn lớn
Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm ?

Sống trong hoàn cảnh đó là sống trong thiên đường thì sao mình lại phải lớn lên, tại sao mình phải khôn lên để làm gì? Mười năm vườn xưa xanh tốt. Tại sao phải đưa mình đi vào trong cái hoàn cảnh hai mươi năm nắng rọi lều tranh? Trong con người của mình có một đứa bé. Đứa bé từ chối, không muốn khôn lớn. Tôi không bao giờ khôn lớn. Cái ý hướng đó ở trong mọi người vẫn còn; kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm? Tôi mãi mãi vẫn còn là một em bé. Tôi mãi mãi là con của mẹ. Tôi mãi mãi còn là em của chị, em của anh và tôi muốn ở hoài, ở mãi trong khung cảnh thiên đường này.

Tôi không bao giờ khôn lớn
Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm
Mới  hôm  qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng.

Đó là một hình ảnh của tuổi thơ. Ở miền quê có những khu vườn trồng cải và mỗi khi hoa cải nở thì bướm không biết ở đâu đủ loại bay tới cả hàng trăm con, hàng ngàn con trong khu vườn cải hoa vàng. Ở Tây phương thỉnh thoảng trên đường lái xe, mình cũng thấy những cánh đồng trồng toàn là colza. Colza là một thứ cây cho hạt, và hạt đó có thể làm dầu ăn. Nếu thỉnh thoảng mình thấy một ngọn đồi mầu vàng rực như vậy thì mình biết rằng đó là một ngọn đồi colza. Hoa vàng của colza nó cũng đẹp như hoa vàng của bông cải, vì colza cũng thuộc về gia đình của cải. Nếu chúng ta đi về các nước Á Châu như Ấn Độ, Thái Lan thì chúng ta cũng sẽ thấy những khu vườn trong đó cải nở hoa vàng rực và bướm bay tới rất đông.

Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng

Khi viết bài này tôi đang ở tiểu bang Nữu Ước. Ngồi ngay ở đô thị Nữu Ước mà mình cũng thấy được hình ảnh đó. Hình ảnh này trở về trong giây phút hiện tại. Nó là hình ảnh của tích môn nhưng cũng là hình ảnh của bản môn.

Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở
Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi.

Trong bản môn ta thấy rõ ràng mẹ còn sống, em còn ngồi một bên, và gió chiều giống như hơi thở. Hơi thở chánh niệm, hơi thở an trú trong giây phút hiện tại. Tại sao mình phải lo lắng, phải đăm chiêu, phải sợ hãi về tương lai? Tại sao mình không sống được trong giây phút hiện tại? Chính trong giờ phút hiện tại mà mình tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của sự sống, kể cả những mầu nhiệm mà mình nghĩ là chỉ xảy ra trong quá khứ. Mẹ còn đó, em còn đó, gió chiều còn đó, vườn cải hoa vàng còn đó và tuổi thơ của mình còn đó; ở ngay trong con người của mình, mình muốn tiếp xúc lúc nào cũng được.

Có người thiếu niên nào, có người thiếu nữ nào lớn lên mà không mơ tưởng tới tương lai? Chính vì mình cứ mơ tưởng tới tương lai và lo lắng cho tương lai nên mình đánh mất đi khả năng sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Mình đánh mất tuổi thơ, và nhất là mình đánh mất tuổi trẻ.

Ngay trong câu thứ bảy, thứ tám ta đã thấy cái tuệ giác về bản môn biểu lộ. Đây là một tiếng chuông thỉnh lên để cho mình được tỉnh thức và những người đọc mình cũng sẽ được tỉnh thức. Những gì ta trân quý ngày xưa mà bây giờ ta nghĩ là không còn, quả thật chúng vẫn còn đó, nếu ta biết sống trong bản môn. Tất cả những gì đẹp, hay và mầu nhiệm của tuổi thơ vẫn có thể còn có mặt trong con người ta. Em thơ đang còn sống trong ta. Cô bé đang sống trong ta, chú bé đang sống trong ta. Tôi không bao giờ khôn lớn. Đây đích thực là giọng của thiếu nhi, giọng phụng phịu của một em bé chứ không phải là giọng của một người ba mươi mấy tuổi.

Tôi không bao giờ khôn lớn
Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm ?
Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở
Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi ?

Mẹ còn đó, em còn đó, người thương của mình luôn luôn còn đó; dầu mình tưởng họ đã mất, họ đã đi xa.

Gió mang tiếng ca
Ngày ra đi em dặn
Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát
Thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh
Tôi đã về.

EM NÊN HÁT CA

Ngày tôi rời đất nước để đi Hoa Kỳ là năm 1962. Lúc đó chiến tranh đã đi đến cái mức tàn khốc, và không khí chế độ Ngô Đình Diệm đã làm cho mọi người khó thở. Tôi ra đi trong không khí đó. Có những người em, những người  học trò, những người em trai, những người em gái đưa tiễn. Họ nói: Có thể khi Thầy về là quê hương đã đổ nát hết, và có thể chúng con sẽ không còn có mặt ở đây nữa. Muốn tìm chúng con thầy hãy tìm trong bản môn.

Gió mang tiếng ca
Ngày ra đi em dặn
Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát
Thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh.

Những đau khổ, thao thức và chịu đựng trong hoàn cảnh chiến tranh đã bắt đầu bao trùm lên đất nước và tàn phá tâm hồn người.

Tôi đã về
Có tiếng hát ca
Bàn tay trên liếp cửa, hỏi rằng
Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì ?

Hãy tưởng tượng khi mình về lại một khu làng nhỏ bé, cổ xưa. Nơi đó mình đã sinh trưởng và lớn lên. Mình lắng tai nghe tiếng gió, rồi mình lắng tai nghe tiếng một cô thôn nữ đang hát ở ngoài đồng. Và bàn tay đặt lên trên liếp cửa chưa mở, không biết rằng khi liếp cửa mở ra thì mình sẽ gặp ai, thấy ai; rồi mình nói: Tôi đã về. Mình hỏi: Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì? Tình trạng đất nước là như vậy, tình trạng xã hội là như vậy. Có sự đổ vỡ và tan nát cho nên mình muốn làm một cái gì đó để có thể dựng lại những gì đã đổ vỡ và tan nát.

Trong chúng ta người nào cũng có một vị chiến sĩ trong lòng sẵn sàng đứng đậy để hành động. Hành động để cứu đời, để giúp người, để xây dựng lại những gì đã đổ nát. Tôi đã về. Bao nhiêu người thanh niên đã về? Bao nhiêu người thiếu nữ đã về? Đã tốt nghiệp hay chưa tốt nghiệp, nhưng vì thương quê hương mà đã về tới. Đã thao thức muốn làm một cái gì đó, nhưng chưa biết sẽ làm được gì? Liệu người ta có cho mình làm hay không? Trong tình trạng nghi kỵ, hận thù và chia rẽ này mình làm được gì?

Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì?
Gió thì thầm: em nên hát ca
Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu
Hãy là đóa hoa
Hãy là nụ cười
Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch.

Đây là câu trả lời. Mình phải có mặt, và có mặt thật sự. Mình phải có mặt như là một cái gì tươi mát, mầu nhiệm và lành mạnh. Đó là sự đóng góp căn bản nhất của mình. Phẩm chất của sự có mặt ấy rất quan trọng. Đó là sự có mặt của hiểu biết, của thương yêu, của độ lượng và của bao dung. Nếu đó chỉ là sự có mặt của lao tác mệt nhọc thì chưa chắc đó đã là cái mà người ta đang cần. Ai cũng muốn làm một cái gì nhưng có thể càng làm người ta càng khiến cho tình trạng thêm rối rắm. Có nhiều chiến sĩ và anh hùng quá, và chiến sĩ này cũng như anh hùng kia cứ đối chọi và tranh chấp với nhau, không chấp nhận được nhau; cho nên càng hành động thì càng đưa tới sự đổ nát và chia rẽ. Vì vậy cái mà đất nước và xã hội cần là sự có mặt của bao dung, tươi mát và từ bi của mình.

Gió thì thầm: em nên hát ca
Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu
Hãy là đóa hoa
Hãy là nụ cười
Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch?

Hiện hữu nhiệm mầu là pháp thân mầu nhiệm. Pháp thân mầu nhiệm được biểu hiện trong trúc tím, hoa vàng, trăng trong và gió mát. Nếu chúng ta không tiếp xúc được với những thứ đó, nếu chúng ta chỉ hì hục tranh chấp với nhau thì chúng ta không giúp được gì cho nhau cả. Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu. Đây là hình ảnh của xuân đáo bách hoa khai, hoàng oanh đề liễu thượng. Khi mùa Xuân tới thì trăm hoa đua nở, và con chim oanh vàng ca hát trên cành dương liễu. Đó là câu thơ của thiền sư nối vào hai câu kinh: Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng. Hiện hữu nhiệm mầu là như thế, vậy mà mình cứ tiếp tục phá đổ cái hiện hữu nhiệm mầu đó bằng những lao tác và tranh chấp của mình.

Ngày xưa người ta xây cất nhà cửa bằng vôi với gạch tại vì không có xi măng. Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau. Ta có thể là nguồn khổ đau cho người khác mà ta không biết. Ta tưởng mình là trang hảo hán, là người anh hùng, là chàng dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Không dè vì vụng về, độc tài và hiếu thắng ta đã trở thành nguồn khổ đau cho người khác. Đây là một tiếng chuông chánh niệm. Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau. Tây phương nói: Con người là chó sói của người. Jean Paul Sartre nói: Con người là địa ngục của những con người khác (L’homme est l’enfer des autres). Con người là nguồn khổ đau cho con người.

Vì vậy điều trước tiên mình cần phải làm là đừng làm gì hết. Nghĩa là hãy chấm dứt việc làm nguồn khổ đau cho người khác. Đó là sự thực tập của ta. Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau. Tôi tìm em. Chúng ta đi tìm nhau. Chúng ta đi tìm những người đồng tâm, đồng chí, đồng lý tưởng. Biết rằng lao tác mệt nhọc không phải là chuyện cần thiết nhất; biết rằng phải làm thế nào để sống được như một tăng thân, như một gia đình, hài hòa trong thương yêu, trong hiểu biết. Đó gọi là tìm nhau.

Chúng ta tìm tới nhau để cấu kết xây dựng một tăng thân làm nơi nương tựa cho mọi người. Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau. Tôi tìm em. Tôi rất cần em. Một mình, tôi sẽ không làm được gì cả. Nếu có các em, các chị và các anh ở đó thì chúng ta có thể tạo dựng được một tăng thân và chúng ta sẽ có nơi nương tựa. Còn nếu không thì tôi sẽ cảm thấy bơ vơ, cô đơn và bất lực như trong một đêm giông tố mùa Đông, tối đen không thấy gì. Mình là một thân cây, mình không biết xung quanh mình còn có những cây khác hay không. Có thể mình là một cái cây duy nhất sống trong bão tố, và cành lá của mình sờ soạng tìm kiếm. Mình muốn biết rằng bên tay phải có một cây khác, bên tay trái cũng có một cây khác. Mình cần ý thức được rằng trong cuộc đời mình có những người em, những người anh, những người chị có cùng một nhận thức, cùng một lý tưởng như mình thì mình mới có năng lượng để đi tới.

Như đêm giông tố loạn cuồng
Rừng sâu đen tối
Những cành cây sờ soạng
Đợi ánh chớp lòe ngắn ngủi
Thấy cần được hiện hữu bên nhau
Tìm nhau.

Tất cả những gì ta cần là một tia chớp ngắn ngủi để ta có thể nhận ra là ta không chỉ một mình. Ta còn có người sư anh, còn có người sư chị, còn có người sư em, mình còn có nhau. Còn có nhau là mình còn tất cả. Mất nhau là mình sẽ mất hết. Dầu cho đất nước tan nát, dầu cho nhà cửa bị bom đạn làm cho điêu tàn, dầu cho núi rừng bị đốt cháy, dầu cho con sông đã bị ô nhiễm; nhưng nếu chúng ta còn nhau thì chúng ta vẫn có thể làm lại được tất cả. Phạm Duy có viết một bài hát với tựa đề: Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau. Còn nhau thì đâu phải là mất hết. Còn nhau là còn đủ hết. Chỉ khi nào chúng ta mất sư anh, mất sư chị, mất sư em, mất tăng thân thì chúng ta mới mất hết. Còn nếu vẫn còn sư em, sư chị và sư anh thì chúng ta chưa mất gì.

Em hãy là đóa hoa
Đứng yên bên hàng dậu
Hãy là nụ cười
Là một phần của hiện hữu nhiệm mầu.

Quý vị có thấy lại bông hoa của Quách Thoại tái sinh ở đây không?
Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhì em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.

NGÀY HÔM NAY ĐẸP LẮM THẬT MÀ

Quách Thoại đã thấy được bông hoa. Tôi đã thấy được bông hoa, và tôi muốn cho các người anh, người chị, người em và những người con của tôi cũng thấy được bông hoa đó và để chính tự thân của họ cũng trở thành một bông hoa. Em hãy là đóa hoa, đứng yên bên hàng dậu. Em hãy cứ đứng đó thôi, như một bông hoa tươi mát; điều đó là điều quan trọng nhất của cuộc đời. Hãy mỉm nụ cười mầu nhiệm. Hãy hòa bản thân mình vào khúc hát bất diệt của mùa Xuân, vào trường ca Avril. Hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu. Hãy là nụ cười, là một phần của hiện hữu nhiệm mầu.

Tôi đứng đây. Đây là một sự khẳng định. Tôi đứng đây, nghĩa là tôi đang có mặt đây. Tôi có mặt đây nghĩa là thân tâm của tôi hợp nhất trong hơi thở. Tôi không bị quá khứ lôi kéo, tôi không bị tương lai giam hãm, tôi không bị những dự án lôi đi. Tôi đứng đây, chúng ta không cần khởi hành. Chúng ta không cần đi đâu cả, vì đây là quê hương của chính chúng ta. Quê hương của chúng ta là bây giờở đây. Chúng ta không cần khởi hành.

Quê hương chúng tôi đẹp như quê hương của tuổi thơ, xin đừng ai xâm phạm. Cái mười năm vườn xưa xanh tốt đó vẫn còn có mặt trong tự thân. Nó là một thiên đường. Đó là thiên đường của tuổi thơ, và mình ước muốn rằng thiên đường đó nó còn mãi, còn hoài. Đừng xâm phạm, đừng tiêu diệt nó bằng mưu đồ, tham lam và tính toán. Đừng đày các em bé ra khỏi cái thiên đường của chúng. Và chúng ta hãy thực tập để mãi mãi còn là em bé trong thiên đường của ta. Vì nếu thiên đường đó đã từng có, đã từng là một sự thật thì thiên đường đó sẽ còn mãi mãi; vì không có gì có thể bị tiêu diệt. Rien ne se crée, rien ne se perd (Lavoisier). Vũ Hoàng Chương cũng đã nói: ‘‘Đâu có lẽ ‘có’ chiều qua mà ‘không’ sáng nay?.’’

Quê hương của chúng tôi đẹp như quê hương của tuổi thơ, xin đừng ai xâm phạm. Xâm phạm có nhiều cách. Hoặc là xâm phạm bằng chương trình năm năm, mười năm, hoặc bằng một ý thức hệ hay bằng súng đạn, chiến tranh, tiền tài và bạo động. Tôi vẫn còn hát ca. Hát ca là bổn phận của tôi. Bổn phận của em cũng vậy, em phải hát ca.Vì cuộc sống rất mầu nhiệm, chúng ta phải hòa mình vào trong bản hợp tấu vĩ đại của pháp thân nhiệm mầu. Chúng ta hãy lắng nghe bông hoa để có thể trở thành được như bông hoa, và chúng ta hòa những lời ca tiếng hát của chúng ta vào trong bản hòa tấu vĩ đại của đất trời, của hiện hữu.

Đầu còn gối trên thánh kinh, sáng nay tôi nghe xôn xao trong nắng mai vũ trụ đang được những con ong vàng siêng năng bắt đầu khởi công tạo dựng
Công trình xây dựng ngàn đời
Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất.

Ngồi đọc kinh, khi buồn ngủ ta nằm xuống và muốn gối đầu trên kinh mà ngủ. Thánh kinh nói là Thượng đế đã tạo dựng ra con người và vũ trụ. Người ta nghĩ rằng nếu không có Thượng đế thì không có sự tạo dựng và sẽ không có hiện hữu nhiệm mầu. Con người rất siêng năng, rất muốn tạo dựng, rất muốn tiếp tục công trình của Thượng đế. Nhưng tuệ giác cho mình thấy rằng cái sự tạo dựng đó chưa bao giờ chấm dứt hoặc chưa bao giờ khởi sự cả, vì tuệ giác đó là tuệ giác không sinh cũng không diệt.

Chưa có gì đã từng được tạo dựng và không có gì sẽ bị mất mát. Chúng ta đừng nghĩ rằng chúng ta phải lao tác cho nhiều, phải thực hiện chương trình này, rồi chương trình khác. Bởi vì hiện hữu mầu nhiệm vô cùng. Trong hiện hữu mầu nhiệm như thế mình thấy rằng không có gì cần được tạo dựng, không có gì cần được hoàn tất, vì tất cả đã được hoàn tất. Anh không cần phải bôn ba, anh không cần chạy đua, anh không cần phải thao thức để thực hiện cái gì, vì những cái anh muốn thực hiện đã được thực hiện. Đó là tuệ giác mới. Đừng bị những cơn lốc của hành động lôi kéo và đánh mất đi những mầu nhiệm và an lạc trong hiện tại.

Con ong được nhận thức là siêng năng vào bậc nhất; làm việc không ngừng nghỉ. Những con ong thợ làm việc cả ngày. Chúng đi thám hiểm những bông hoa và lấy nhị hoa về để làm mật. Con người của chúng ta cũng muốn siêng năng như con ong. Có nhiều việc không cần phải làm và dù làm suốt đời cũng không hết nhưng ta lại ưa có thói quen đi tìm sự trú ẩn trong những công việc ấy. Điều này đã trở thành một tập khí. Không làm thì chịu không nổi, ta không thể ngồi yên mà không làm gì.

Thức dậy, đầu còn gối trên Thánh kinh, ta thấy cuộc đời xôn xao lắm. Ai cũng muốn hành động, ai cũng muốn thực hiện một cái gì. Chương trình năm năm, mười năm, một trăm năm. Tất cả những cái máy vi tính đều được mở ra. Ai cũng chui đầu vào máy vi tính. Đầu còn gối trên Thánh kinh, sáng nay tôi nghe xôn xao trong nắng mai vũ trụ đang được những con ong vàng siêng năng bắt đầu khởi công tạo dựng. Muốn thay thế Thượng đế, muốn tạo dựng lại cuộc đời. Công trình xây dựng ngàn đời, nhưng công trình em xem đã được ngàn đời hoàn tất. Nếu nhìn kỹ, em sẽ thấy ta đâu có cần phải làm gì. Giáo lý của Đức Thế Tôn là giáo lý vô tác. Mình là một bông hoa. Bông hoa đã mầu nhiệm lắm rồi, bông hoa chỉ cần hát ca. Bông hoa đâu cần phải lao tác mệt nhọc? Bông hoa tự nó đã là một hiện hữu mầu nhiệm. Mình cũng là một hiện tại mầu nhiệm. Mình phải thấy được mình là một bông hoa như những bông hoa khác.

Cái quý giá nhất mà mình có thể cống hiến cho cuộc đời là nụ cười, là sự có mặt tươi mát và mầu nhiệm của mình. Mình chỉ cần hát. Rửa bát cũng là hát, quét nhà cũng là hát. Tự thân mình phải là một bài ca trong suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ trong ngày. Trồng cây cũng là hát, dạy em cũng là hát. Tất cả đều là những bài hát mầu nhiệm. Bài hát của thương yêu, bài hát ca ngợi những nhiệm mầu của hiện hữu.

Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất
Bánh xe mầu nhiệm chuyển hoài đưa chúng ta đi tới
Nắm lấy tay tôi em sẽ thấy chúng ta đã từng có mặt từ ngàn xưa trong hiện hữu nhiệm mầu

Ta không phải mới có mặt, ta không phải mới bắt đầu biểu hiện. Ta đã có mặt từ ngàn xưa và có mặt cùng một lúc; ta tương tức và tương nhập với tất cả các hiện tượng nhiệm mầu khác. Trong giây phút hiện tại, ta tiếp xúc được với tất cả sự nhiệm mầu trong đó có những hình ảnh đẹp đẽ của tuổi thơ: Tóc mẹ tôi còn xanh và dài chấm gót. Mẹ kể lại hồi còn trẻ lúc mới đi lấy chồng, mỗi khi gội đầu xong thì nâng tóc lên như nâng một chiếc võng. Nếu thả ra thì tóc sẽ dính xuống đất. Mẹ bước lên bộ ván rồi mới xõa tóc xuống vì tóc còn dài hơn cả người của bà. Ngày xưa mình không có shampooing. Ở miền quê có nhiều thứ lá rất thơm. Nồi nước lá gội đầu thơm phưng phức. Gội đầu xong thì tóc rất thơm. Tóc mẹ dài như vậy thì tóc của con cũng dài như vậy. Không cần đến tiệm để cắt hay uốn tóc. Ngày xưa không có chuyện đó. Các cô, các bà tự tay làm lấy tất cả và vấn lên đầu những búi tóc rất đẹp. Họ chỉ cần một chiếc trâm thôi.

Tóc mẹ tôi còn xanh và dài chấm gót. Hình ảnh này không phải là một hình ảnh của quá khứ mà là một hình ảnh chính người làm thơ thấy được trong hiện tại. Những hình ảnh đó, những thực tại đó còn mãi, còn hoài. Nếu tiếp xúc trực tiếp được với bản môn thì ta sẽ thấy chưa có gì từng sanh và chưa có gì từng diệt. Những cái kia còn đó, mình còn có thể tiếp xúc được.

Tóc mẹ tôi còn xanh và dài chấm gót. Áo em tôi phơi còn phất phơ bay trước dậu. Dậu là hàng rào. Phơi áo bên hàng rào, khi có gió thì áo bay rất đẹp, ta không cần bỏ vào trong máy sấy. Không gian thênh thang, cả một khoảng vườn phía sau ta phơi bao nhiêu dây áo cũng được. Vào những lúc có gió thổi nhè nhẹ, những chiếc áo phơi bay phất phơ.

Nắng sớm mùa Thu. Tôi ở đây. Đây là lần thứ hai có sự xác nhận: tôi đang có mặt. Chính thực là vườn xưa. Vườn xưa là khu vườn trong đó mình đã rong chơi, đã đuổi bắt những con bướm nhỏ, đã lăn vào nằm trong những bụi cỏ, đã để hết tuổi thơ vào. Mười năm vườn xưa xanh tốt. Vườn xưa đó không phải là chuyện quá khứ; nó vẫn còn có mặt cho mình trong giờ phút hiện tại. Vườn xưa đó có thể là xóm Thượng, xóm Hạ hay xóm Mới bây giờ. Nếu mình muốn thì đâu cũng là khu vườn xưa của tuổi thơ.

Tôi ở đây, chính thực là vườn xưa. Những cây ổi trái chín thơm. Lâu lâu có một trái ổi chín, làm thơm phức cả khu vườn. Mình nói: chà, ta phải leo lên cho được để hái trái ổi đó. Đôi khi trái ổi đã bị chim ăn hết một nửa, nhưng mình chỉ cần “ngoặm” phần còn lại rất thơm. Bây giờ dầu có mua được cây kem đắt tiền đi nữa thì cũng không thể so sánh được với trái ổi một nửa bị chim khoét. Bởi vì ngày xưa khi mình cắn vào trái ổi chín bị chim khoét hoặc trái ổi còn hườm hườm chưa chín, mình thấy nó ngon vô cùng. Trong tâm mình lúc đó không có sự rong ruổi, không có sự quyến luyến về quá khứ hay những nỗi bồn chồn, lo lắng cho tương lai. Em bé tám hay chín tuổi, rất tự do, không ràng buộc bởi quá khứ, không lo lắng cho tương lai, còn có mặt trong thiên đường.

Tôi ở đây, chính thực là vườn xưa. Chính mình phải trở thành em bé đó, mình phải phục hồi cho được khu vườn xưa, khu vườn của tuổi thơ. Những cây ổi trái chín thơm. Những lá bàng khô, thắm, đẹp, rụng còn chạy chơi la cà trên sân gạch. Mỗi nhà đều có một chiếc sân gạch, thỉnh thoảng người ta dùng để phơi lúa, phơi bánh tráng, phơi khoai, phơi sắn, và người ta cũng có thể đem sách vở ra phơi. Có khi thấy tờ phái quy y hay bằng tú tài của mình hơi ẩm mốc thì mình cũng mang ra để phơi cho khô ráo trở lại. Những lá bàng khô, thắm, đẹp, rụng còn chạy la cà trên sân gạch. Đây là một hình ảnh rất quen thuộc. Những lá bàng mầu đỏ hoặc mầu vàng rơi xuống và khi có gió thổi, chạy đi chạy tới trên sân gạch. Hình ảnh đó là hình ảnh muôn đời bất diệt mà người Việt Nam nào cũng đã từng thấy, em bé Việt Nam nào cũng đã từng thấy.

Tiếng hát vẳng bên sông
Những gánh rơm thơm vàng óng ả
Trăng lên quây quần trước ngõ
Vườn cải hoa vàng chính mắt tôi vừa thấy sáng qua

Những hình ảnh rất điển hình: phía bên kia sông có người thanh niên cất tiếng hát và có cô thiếu nữ hát trả lại bằng những lời ca dao. Rồi có những người thanh niên gánh những gánh lúa vừa gặt đi ngang qua cầu khỉ để qua bên này sông. Cầu khỉ là chiếc cầu làm bằng một thân tre được gác trên những thân tre để xéo, và có một thanh tre khác để vịn. Tôi đã từng đi qua cầu khỉ, đã từng thử gánh một gánh rơm và đi qua cầu khỉ. Hồi đó tôi chưa tới mười lăm tuổi. Tôi đã thấy những chàng trai gánh những gánh lúa đi ngang qua cầu khỉ rất nhẹ nhàng. Tôi nói: Tại sao họ làm được mà mình không làm được? Tôi thực tập và cuối cùng thì tôi cũng gánh được một gánh rơm, tuy không nặng bằng gánh của các anh chàng nông dân, và đi qua cầu khỉ. Tôi đã đi qua sông được mà không bị té xuống sông. Những gánh rơm thơm vàng óng ả. Lúa mới gặt rất thơm và màu vàng rất rực rỡ.

Trăng lên quây quần trước ngõ. Trong nhà chỉ có một chiếc đèn dầu thôi, không được sáng lắm. Ra ngoài ngõ, không xa nơi bụi tre là mấy, trăng lên sáng rực. Quây quần trước ngõ nô đùa, chúng ta hát và kể chuyện với nhau. Cảnh sinh hoạt ấy vui vô cùng. Đó là những cảnh tượng mà đứa trẻ nào cũng đã đi qua. Ở Tây phương chắc chắn cũng có những cảnh tượng tương đương như vậy, và nếu muốn thì mình vẫn còn có thể trở về an trú trong cảnh tượng đó. An trú chứ không phải là hoài niệm. Trăng lên quây quần trước ngõ, vườn cải hoa vàng chính mắt tôi vừa thấy sáng qua. Hình ảnh chính của bài thơ là bướm bay vườn cải hoa vàng. Hình ảnh đó không phải là đã chết. Nếu muốn, mình có thể thấy hình ảnh đó ngay trên nước Pháp. Chỉ cần mình có tự do, chỉ cần tiếp xúc được với những mầu nhiệm của hiện hữu và của pháp thân là ta sẽ thấy rằng chưa có gì đã qua và chưa có gì mất đi.

Tôi không ngủ mơ đâu
Ngày hôm nay đẹp lắm, thật mà

Đây lại là một sự xác quyết mới. Chính ngày hôm nay đang có đầy đủ những mầu nhiệm như trời xanh, mây trắng, nắng ấm, bướm vàng, cha, mẹ, anh, chị và em. Thực tại mầu nhiệm vô cùng như vậy mà tại sao mình lại tự khóa chặt mình trong một cái vỏ ốc để rồi sầu đau. Những mầu nhiệm của cuộc đời nhiều hơn, quan trọng hơn những ganh tỵ, buồn phiền và bực tức của mình. Tại sao mình lại tự giam hãm mình vào cái vỏ cứng của sự bực tức và hờn giận đó mà không tiếp xúc được với những nhiệm mầu của cuộc đời đang có mặt ngay trong ngày hôm nay.

Tôi không ngủ mơ đâu. Em không về chơi  trò bắt tìm nơi quá khứ. Tại sao phải đi về quá khứ để chơi trò tìm bắt trong khi hiện tại có đầy đủ những mầu nhiệm có khả năng nuôi dưỡng. Chúng mình còn đây, hôm nay và ngày mai nữa. Tại vì hôm nay nếu mình biết sống thì ngày mai cũng sẽ là hoa trái của ngày hôm nay. Đến đây, khi khát ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong. Có một giếng nước rất thơm, rất trong, đó là giếng nước của chánh pháp. Chúng ta khát khao hiểu biết, chúng ta khát khao thương yêu, chúng ta khát khao những điều mầu nhiệm của pháp thân hiện hữu, thì giếng ngọt chánh pháp đang có mặt ở đó cho ta. Ta hãy cùng bước với nhau để đi tới cái giếng này. Quý vị có nhớ cái giếng nước mà Antoine de St Exupery đưa hoàng tử bé tới không?
CHÚNG TÔI ĐANG Ở TRONG CUỘC ĐỜI

Ai nói cho em nghe rằng Thượng Đế đã bằng lòng cho con người khổ đau đứng dậy hợp tác cùng người ?
Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp

Trong tư thế tương nhập và tương tức, chúng ta đã chưa bao giờ từng rời nhau, chưa bao giờ bị xa cách nhau. Tôi luôn luôn có ở trong em và em luôn luôn có ở trong tôi. Đây là một sự giác ngộ. Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp. Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa. Tờ lá rất mầu nhiệm, bông hoa rất mầu nhiệm. Chúng ta có thể đã nghĩ rằng chúng ta nhỏ bé hơn hay vĩ đại hơn một tờ lá hay một bông hoa. Nhưng kỳ thực chúng ta cũng là một bông hoa, một tờ lá. Chúng ta cũng mầu nhiệm không khác gì tất cả những mầu nhiệm khác của vũ trụ.

Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa. Bây giờ nếu mình biết được mình là bông hoa thì tự nhiên mình sẽ hết khổ đau. Đó là sự thực tập. Vì mình cũng là một bông hoa như bất cứ một bông hoa nào. Và bông hoa nào cũng đang đóng vai trò của nó một cách hết mình. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng là một bông hoa đang cống hiến rất nhiều sự nhiệm mầu và tươi mát cho cuộc sống. Mình có thể cười được, mình có thể múa được, mình có thể thương được, mình có thể hiểu được thì tại sao mình lại phàn nàn, trách móc và co rúm lại. Làm như vậy thì mình không còn là một bông hoa. Bông hoa nào cũng đang làm được cái tối đa của nó để cống hiến sự có mặt của nó cho cuộc đời. Chúng ta cũng vậy, chúng ta không phải là một cái gì ít mầu nhiệm hơn bông hoa; vì vậy chúng ta hãy nở ra như một bông hoa. Hãy cho phép chúng ta nở ra như một bông hoa để cống hiến cho đời sự có mặt của chúng ta.

Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa. Em hát ca đi. Hát ca bằng hai bàn tay, bằng hai bàn chân, bằng hai con mắt, bằng cái miệng, bằng lỗ tai của mình. Tất cả hiện hữu của ta phải là một bài hát. Bài hát của sự có mặt, của sự tươi mát, của sự thương yêu. Chúng ta phải hát. Vì chúng ta là một phần của bản hòa tấu vĩ đại. Em hát ca đi, bông cúc cười theo em bên hàng dậu. Bông cúc sẽ mỉm cười theo em. Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát. Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình. Có ngôi sao nào lại tự xây cho mình một cái nhà tù?. Tại sao mình phải tự xây cho mình một cái nhà tù. Tại sao mình phải xây dựng một cái chùa, một cái nhà, một sự nghiệp hay là một danh tiếng? Tại sao mình phải có bò? Tại sao mình không thả bò? Tại sao mình không có tự do như bông hoa ca hát?. Hãy nhìn lên những ngôi sao trên trời. Có ngôi sao nào cần xi măng hay vôi cát đâu. Hạnh phúc của ngôi sao là không gian thênh thang. Mặt trăng cũng vậy. Chúng ta cũng thế.

Em hát ca đi, bông cúc cười theo em bên hàng dậu. Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát. Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình. Họ bắt chúng ta phải nhúng tay vào vôi cát để xây dựng cái mà họ gọi là thiên đường. Xã hội chủ nghĩa hay thiên đường tại thế. Bắt phải lao động thật nhiều. Lao động, lao động, rồi lao động. Mình phải nhúng tay vào để xây dựng. Hy sinh cái hiện tại để lo cho cái tương lai. Hãy để cho chúng tôi hát ca. Phải để cho chúng tôi hát ca như những con người tự do. Để cho chúng tôi là những đóa hoa. Đòi hỏi của mình là như vậy. Cuộc sống mầu nhiệm, mình phải là một đóa hoa, một tờ lá, và tham dự vào khúc ca mầu nhiệm của hiện hữu nhiệm mầu. Để cho chúng tôi hát ca, để cho chúng tôi là những đóa hoa. Cái yêu sách này rất đơn giản. Mình có đòi hỏi gì nhiều đâu. Đòi hỏi để có tự do làm một bông hoa. Mình đòi hỏi được sống trong hiện tại và tiếp xúc được với những mầu nhiệm của hiện tại.

Chúng tôi đang ở trong cuộc đời. Chúng tôi không từ chối, không ghét bỏ, không chán ghét hiện hữu. Chúng tôi đang ở trong cõi này. Chúng tôi không đòi hỏi đi lên Nước Chúa, Tịnh Độ, Cực Lạc hay thiên đường của xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không đòi hỏi gì ở tương lai. Chúng tôi không đòi hỏi một hình bóng hạnh phúc trong tương lai hay ở một nơi nào khác. Chúng tôi muốn ở đây thôi. Cùng tăng thân xin nguyền ở lại.

Chúng tôi đang ở trong cuộc đời, mắt chúng tôi
chứng minh cho điều ấy.

Có một vùng đất hứa nào không? Có một thiên đường nào đâu đó không? Họ muốn ta phải đi về vùng đất hứa đó. Họ muốn ta đi về thiên đường đó. Họ muốn ta phải tham gia xây dựng một cái gì đó cho tương lai. Còn ta thì ta thấy rằng hiện hữu đã rất nhiệm mầu. Ta cần sống trong hiện tại. Chúng tôi đang ở trong cuộc đời, mắt chúng tôi chứng minh cho điều ấy. Bông hoa không muốn trở thành một cái gì khác. Nó rất thoải mái trong vị trí của nó ở bên hàng dậu hay trên bãi cỏ. Đừng đày bông hoa đi một nơi nào khác; dù ở quá khứ hoặc trong tương lai. Trong thời gian cũng như trong không gian.

Bàn tay cũng là hoa. Đừng biến bàn tay em tôi thành giây chằng, thành khớp răng cưa, thành móc sắt.

Chúng tôi không muốn trở thành những cái máy, những bộ máy. Bàn tay em tôi là một đóa hoa tại sao lại bắt nó trở thành những giây chằng, những khớp răng cưa, những cái móc sắt? Để thực hiện cái gì? Chúng tôi không muốn biến chúng tôi thành những cái máy hay là một phần của cái máy.

Hiện hữu không kêu gọi tình thương
Hiện hữu không cần ai phải thương ai
Nhưng em phải là em
Là đóa hoa, là bình minh hát ca không đắn đo suy tính

Ta không cần nói thương hay kêu gọi tình thương. Hãy sống như bông hoa, hãy sống như một tờ lá, hãy sống như một đám mây. Đó đã là tình thương đích thực rồi. Sự có mặt tươi mát của độ lượng, đẹp đẽ, quảng đại đã là tình thương đích thực.

Xin ghi vào đây một tân ước nữa của tất cả chúng ta
Và xin vẫn nghe lờ tôi như nghe suối reo, như nhìn trăng trăng sáng

Trong Thánh kinh chúng ta có Cựu Ước và có Tân Ước. Tân Ước nói về những thực hiện và những hứa hẹn của Chúa Ki-tô. Chúng ta cũng muốn ghi thêm vào lịch sử văn hóa con người một tân ước nữa. Tân ước của tăng thân chúng ta là sự thực tập sống an lạc, thảnh thơi trong giây phút hiện tại. Chúng ta không cầu một thiên đường, một địa phương, một tương lai nào khác. Vì tất cả những gì mà chúng ta xác nhận và cần đến là hiện tại, là bây giờ và ở đây. Đó là sự biểu hiện mầu nhiệm của pháp thân mà ta có thể tiếp xúc được trong từng hạt sỏi, trong từng tiếng chim, trong từng bông hoa và trong từng dòng suối. Em về, em hãy về đi

Em về, đưa Mẹ về cho tôi thăm
Cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài như tóc Mẹ

Em còn đó thì Mẹ còn đó. Nhìn em, tôi thấy Mẹ. Tất cả những gì mầu nhiệm của ba đời tôi đều có thể tiếp xúc được qua hiện tại. Qua những mầu nhiệm của hiện tại, tôi có thể tiếp xúc được với thế giới trong ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Không có gì mất đi, kể cả hình bóng của người Mẹ tóc dài chấm gót.
Nếu phân tích thì chúng ta sẽ thấy cái cốt tủy nằm trong bài thơ này là tinh thần vô đắc. Để thực tập vô đắc chúng ta phải tập sống trong hiện pháp. Hiện pháp là tiếp xúc cho được với những gì mầu nhiệm của hiện hữu. Chúng ta không cần phải luyến tiếc tuổi thơ, vì tuổi thơ vẫn còn. Chúng ta không cần luyến tiếc những gì quá khứ, vì những gì trong quá khứ cũng đang còn trong giây phút hiện tại. Bài thơ này giống như một Tân Ước mới.

Và xin vẫn nghe lời tôi như nghe suối reo,
như nhìn trăng sáng

Lời tôi không phải là lời biện hộ, là lý thuyết, là chủ nghĩa, là lý luận. Lời tôi là khúc hát. Bởi vì tôi đang hát. Hát bằng đôi chân, hát bằng đôi mắt, hát bằng hai tay. Lời tôi không được làm bằng ngôn từ và ý niệm. Lời tôi được làm bằng niềm tin, bằng sức sống, bằng nụ cười, bằng trái tim thương yêu. Hãy nghe lời tôi như nghe suối reo, như nhìn trăng sáng. Đừng chỉ nghe bằng hai tai. Hãy nghe bằng trái tim. Ngày xưa tôi đã có lần từng nói:

‘Ngày mai, nếu có nghe,
Hãy nghe lời tôi như nghe suối reo
Hãy nghe lời tôi như nghe chim hót
Như xem liễu lục bông hồng
Như ngắm hoa vàng trúc biếc
Như nhìn bạch vân minh nguyệt’
(Hãy nguyện cầu cho bóng tối thêm sâu, hỡi ngàn sao lấp lánh… (1954))

Thì hôm nay tôi lặp lại: ‘Và xin vẫn nghe lời tôi như nghe suối reo.’ Chúng ta là một tăng thân. Chúng ta muốn sống trong tinh thần vô đắc, trong tinh thần Hiện Pháp Lạc Trú để có thể chấm dứt việc gây khổ đau cho nhau và giúp cho người khác chuyển hóa khổ đau, thực hiện an lạc. Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau. Chúng ta tìm tới với nhau, xây dựng một tăng thân để cho tiếng hát của hiện hữu nhiệm mầu được tiếp nối và luôn luôn biểu hiện.
Chúng ta hãy cùng nghe lại toàn bài:

Bướm Bay Vườn Cải Hoa Vàng

Mười năm vườn xưa xanh tốt
Hai mươi năm nắng rọi lều tranh
Mẹ tôi gọi tôi về bên bếp nước rửa chân
Hơ tay trên bếp lửa hồng
Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống.

Tôi không bao giờ khôn lớn
Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm ?
Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở
Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi ?

Gió mang tiếng ca. Ngày ra đi em dặn:
“Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát
Thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh”
Tôi đã về. Có tiếng hát ca. Bàn tay trên liếp cửa
Hỏi rằng: “Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì ?”
Gió thì thầm: em nên hát ca
Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu
Hãy là đóa hoa, hãy là nụ cười
Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch?

Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau
Tôi tìm em. (Như đêm giông tố loạn cuồng
Rừng sâu đen tối
Những cành cây sờ soạng
Đợi ánh chớp lòa ngắn ngủi
Thấy cần được hiện hữu bên nhau, tìm nhau)
Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu
Hãy là nụ cười, là một phần của hiện hữu nhiệm mầu
Tôi đứng đây. Chúng ta không cần khởi hành
Quê hương của chúng tôi đẹp như quê hương của tuổi thơ
Xin đừng ai xâm phạm – tôi vẫn còn hát ca
Đầu còn gối trên thánh kinh, sáng nay tôi nghe xôn xao trong nắng mai vũ trụ đang được những con ong vàng siêng năng bắt đầu khởi công tạo dựng
Công trình xây dựng ngàn đời
Nhưng công trình em xem, đã được ngàn đời hoàn tất
Bánh xe mầu nhiệm chuyển hoài đưa chúng ta đi tới
Nắm lấy tay tôi, em sẽ thấy chúng ta đã cùng có mặt từ ngàn xưa trong hiện hữu nhiệm mầu.

Tóc mẹ tôi còn xanh và dài chấm gót
Áo em tôi phơi còn phất phơ bay trước dậu
Nắng sớm mùa Thu
Tôi ở đây. Chính thực là vườn xưa
Những cây ổi trái chín thơm
Những lá bàng khô thắm
Đẹp
Rụng
Còn chạy chơi la cà trên sân gạch
Tiếng hát vẳng bên sông
Những gánh rơm thơm vàng óng ả
Trăng lên, quây quần trước ngõ
Vườn cải hoa vàng, chính mắt tôi vừa thấy sáng qua.

Tôi không ngủ mơ đâu
Ngày hôm nay đẹp lắm thật mà
Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ
Chúng mình còn đây, hôm nay, và ngày mai nữa
Đến đây
Khi khát chúng ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong

Ai nói cho em nghe rằng Thượng Đế đã bằng lòng cho con người khổ đau đứng dậy hợp tác cùng người?
Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp,
Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa
Em hát ca đi. Bông cúc cười theo em bên hàng dậu,
Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát
Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình.
Để cho chúng tôi hát ca. Để cho chúng tôi là
những đóa hoa.
Chúng tôi đang ở trong cuộc đời
mắt chúng tôi chứng minh cho điều ấy.
Bàn tay cũng là hoa. Đừng biến bàn tay em tôi thành giây chằng
Thành khớp răng cưa
Thành móc sắt.
Hiện hữu không kêu gọi tình thương
Hiện hữu không cần ai phải thương ai
Nhưng em phải là em, là đóa hoa, là bình minh hát ca không đắn đo suy tính
Xin ghi vào đây một tân ước nữa của tất cả chúng ta
Và xin vẫn nghe lời tôi như nghe lời suối reo, như nhìn trăng sáng

Em về, đưa Mẹ về cho tôi thăm
Cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài xanh như tóc Mẹ.

Lệnh truyền (Xuân Diệu) và Thoát hình (Vũ Hoàng Chương)

Năm nay, tiết Tiểu hàn bắt đầu từ ngày 06 tháng giêng năm 2007. Tiểu hàn tức là cái lạnh nhỏ và tiết Đại hàn bắt đầu từ ngày 20 tháng giêng năm 2007. Ngày Lập xuân bắt đầu là ngày 17 tháng chạp (tức là ngày 04 tháng hai dương lịch), hôm nay đã là ngày 30 tháng chạp và chúng ta đang ở vào trong tiết Lập xuân. Lập xuân có nghĩa là bắt đầu của mùa xuân. Mùa đông còn đó nhưng đã bắt đầu rút lui, mùa xuân chưa tới, chưa biểu hiện một cách rõ ràng nhưng mùa xuân đã bắt đầu tiến tới.

Khi chúng ta đọc bài thơ Lệnh Truyền của Xuân Diệu ở trong tác phẩm Xuân Diệu trường ca, ta thấy lệnh này ban bố vào tiết Lập xuân. Ban đầu có chúa Xuân ra lệnh cho mùa đông từ từ rút lui để mùa xuân bắt đầu lớn dậy. Trong Xuân Diệu Trường Ca có một bài thơ bằng văn xuôi tên là Lệnh Truyền và lệnh truyền cho ai? Lệnh truyền cho tứ đại là đất, nước, lửa và gió để bốn vị tướng tài đó bắt đầu hành động đem mùa xuân trở về. Xuân Diệu Trường Ca được sáng tác năm Xuân Diệu 28 tuổi. Chúng ta đang đón xuân nên chúng ta đọc bài Lệnh Truyền của Xuân Diệu.

Trước khi các thầy, các sư cô đọc bài thơ bằng văn xuôi Lệnh Truyền của Xuân Diệu, tôi muốn nói tới một bài kệ của vua Trần Thái Tông. Vua Trần Thái Tông có sáng tác ra 43 công án thiền. Vua đã viết niêm và tụng cho những công án đó. Công án tức là những đề tài của sự thiền tập mà Trần Thái Tông đã thừa hưởng được từ Tông phái Lâm Tế. Người đem giáo lý phái Lâm Tế cho vua là quốc sư Đại Đăng. Trần Thái Tông đã biết tu học từ năm 20 tuổi, đã sáng tác những tác phẩm Phật học nổi tiếng, trong đó có sách Khóa Hư. Trong sách Khóa Hư chúng ta thấy 43 công án mà vua Trần Thái Tông đã sáng tác và đã sử dụng như những đề tài thiền quán.

Cách đây ba mươi năm, tôi đã có cơ hội phiên dịch 43 công án này từ chữ Hán ra tiếng Việt, nhưng chưa bao giờ có dịp đem ra in hết. Có thể mai mốt mình đưa lên trang nhà của Làng Mai. Đây là công án thứ mười sáu có liên hệ tới Lệnh của mùa xuân.

Tổ sư Lâm Tế của chúng ta có phương pháp gọi là hét. Mỗi khi thấy một vị du tăng lấp ló ngoài cửa muốn xin vào, thì chuyện đầu tiên ngài làm là hét. Tiếng hét của thiền sư Lâm Tế giống như tiếng gầm của sư tử lớn, giúp cho vị thiền giả chấm dứt được những suy tư, giúp cho vị thiền giả có cơ hội mở ra một mùa xuân của trí tuệ, của giác ngộ.

Người ấy đang sống trong một mùa đông lạnh giá kéo dài của u mê, của cố chấp, của hận thù, của thành kiến và của tập khí. Người ấy nghĩ rằng mình có đường hướng, có phương pháp, mình đang đi trên con đường chánh đạo, nhưng tiếng hét của thiền sư Lâm Tế có nghĩa rằng anh đang đi trong một mùa đông giá lạnh kéo dài, anh phải để cho mùa đông chấm dứt, để mùa xuân của đạo lý, của giác ngộ, của chuyển hóa đi tới. Tiếng hét đó ra lệnh cho mùa đông rút lui và ra lệnh cho mùa xuân bắt đầu. Vua Trần Thái Tông đã diễn bày tiếng hét của thiền sư Lâm Tế là Tiếng Lệnh. Tiếng Lệnh ra lệnh cho mùa đông phải chấm dứt từ từ và ra lệnh cho mùa xuân phải bắt đầu chớm dậy. Đây là nguyên văn của bài kệ:

Nhập môn tiện hát dục hà hành
Dẫn đắc nhi tôn túy lúy tinh
Bất thị xuân lôi thanh nhất chấn
Tranh giao hàm giáp tận khai manh

Thiền sư Lâm Tế khi bắt đầu ra giảng dạy đã sử dụng cây gậy và tiếng hét. Hễ khi có một vị du tăng đi vào cửa thì lập tức hét lớn.

Vừa tới cửa ngoài nghe tiếng hét
Tỉnh giấc hôn trầm lũ cháu con
Một tiếng sấm xuân vừa chấn động
Khắp nơi cây cối nẩy mầm non

Đó là cách vua Trần Thái Tông diễn tả tiếng hét của thiền sư Lâm Tế. Đó là tiếng sấm xuân, ra lệnh cho tất cả cây cối phải bắt đầu chuẩn bị để đâm chồi, nẩy lộc. Hôm nay mình đọc bài Lệnh Truyền trong Trường Ca Xuân Diệu là để thấy Lệnh đó được ban ra như thế nào và ban ra cho ai?

Xin mời quý vị nghe Xuân Diệu Trường Ca, bài thơ Lệnh Truyền viết bằng văn xuôi do Xuân Diệu sáng tác, lúc thi sĩ mới 28 tuổi.

Lệnh truyền
(Xuân Diệu)

Lệnh đã truyền ra,
đất vâng trước nhất.
Suốt một đêm trường
đất không sao ngủ được.
Cả mình sấm chuyển
cái ngực của đất phồng lên không muốn ngủ.
Mà ngủ làm chi
Đất cựa mình vì xốn xang trong da thịt

Lệnh đã truyền.
ngày mai đây
tháng sau đây
biết có xong công trình hay chăng?
Thật tấm lòng của đất dạt dào
tính toán ngay từ phút đông vừa bớt lạnh
Đất mẹ đã nghe muôn con đòi nở
muốn vượt chồi lên trên đất, thở ánh sáng trời
Hàng triệu mầm hé ra khép vào
đầu hướng lên, chân mạch căng thẳng
ngửa cả mình đất
Vi trùng sáng tạo lên men dưới da
từ đáy sâu đưa lên bao sức lực để đỡ nâng
Đất mẹ sung sướng
đất mẹ lo âu
đất mẹ nằm sinh và làm việc

mẹ bao la chạy chia nghìn ngả
này núi này rừng này đồng này ruộng
lại còn linh tinh muôn vạn núi đồi nữa
làm sao đủ sữa căng lên

Lệnh đã truyền
đất lãnh lấy công đầu.
đất nghìn năm đất triệu năm
đậm đà chắc chắn
càng già càng dai
Máu cũ biến mới
sục sục quang tuyến
mạch chạy đầm đìa
máu đen kế máu đỏ,
nhựa nâu đến ngã ba cùng với nhựa xanh.
Những con đường xéo lẫn nhau
chở chất chua chất ngọt chất mát chất nồng
theo rễ muôn cây lên cho mặt trời hòa hợp
Trên mặt đất vẫn chưa lộ gì cả
nhưng dưới nhà hầm biết bao là vội vàng
Thì giờ trễ rồi
thời gian tính từng phút một
ngón tay nghiêm nghị không bao giờ đếm nhầm
cho nên đất mẹ làm việc không nghỉ

Không lẽ năm nay lại trễ hơn mọi năm?
Ánh sáng vâng lệnh thứ hai
có cô em sức nóng đi kèm
nàng tiên quyền cao phép cả chẳng ai dám đương
khi hứng thú nồng nàn ánh sáng lấn áp cả không gian
ôm chầm vũ trụ, đè bẹp bóng tối dưới triệu móng chân
mi của ánh sáng thật dài, tia của ánh sáng thật đượm
ánh sáng bắn tin truyền hịch đưa lệnh khắp hang cùng núi hẻm
bảo rằng sắp sửa tin vui
Ánh sáng nhún nhảy tươi cười không chút lo lắng
tài lực của nàng nhiệm mầu nhanh chóng
nàng có thể giấu mình suốt tháng vờ như không hay gì cả
nhưng mánh khóe tinh anh sao
nàng làm việc ngấm ngầm
chỉ một ngày một sáng mai nàng đến
là cả bầu không đã treo ngọc giăng tơ
cả mặt đất đã trải vóc gấm thêu thùa trong gió lăng líu qua cây.

Ánh sáng đứng một chỗ
mà ở khắp nơi con mắt điện quang thấu suốt muôn trùng
trông nom từng nụ mầm non từng vọt sâu bọ
nàng ôm những thân cây giá lạnh,
sưởi những luống đất ẩm hiu
Nàng lách vào những kẽ lá
cho màu xanh non biến thành màu lục đậm
cho nên những cội tùng già yếu
nàng cũng gõ mãi ngoài vỏ
đến nỗi một ngày kia bật ra mầm xanh
và ánh sáng ngồi kéo muôn triệu chỉ vàng
tiếp theo muôn triệu chỉ vàng cuộn tròn vào bánh xe hay mắc ngang khung cửi,
giấu diếm khắp nơi để đến lúc cần dùng sợi ngày vàng sẽ lộ ra chi chít.

Nước nhận lấy phần
nước đi theo ánh sáng
làm thành cặp uyên ương kỳ dị
rẽ nhau một lần là đồng khô cỏ cháy
Nước mát êm cho nắng tựa vào
nước cũng chảy chia nghìn ngã
chạy vào làm máu cho đất
chạy ra làm lời cho suối
độn thổ đằng vân.
Ánh sáng loảng xoảng trong mình
âm điệu róc rách giữa lòng
nước lấy ôn nhu vỗ về nuôi nấng cho muôn vật phát sinh
mà cái liếc mắt đưa dài nghìn lý
Nàng chen vào búp hoa này lẫn vào nhánh cây kia
trái uống nàng vào bụng,
mây giữ nàng trong mình
nụ hút nàng vào tim
cây kiếm nàng làm nhựa
ôi nước ngọt ngào mát mẻ thảnh thơi

Không ai tranh
nên về phần gió.
phải xem dáng điệu nàng thu gọn
mới biết nàng khéo dấu sức phá hoại của mình
chỉ còn là một làn phớt qua
áo nàng tha thiết phiêu phiêu
hồn nàng phất trần
Nàng lên tinh tú gió bay gió lượn
gió phất phơ như hơi thở ân tình
gió đưa duyên bướm
gió làm mối lái cho hoa
gió múa điệu lẳng lơ
nói lời cợt ghẹo
vạn vật nghe gió mà rợn tình.
Gió phẩy móng tay búng muôn đầu lá
gió rào rào rúng động ngàn cây
âm nhạc theo nàng mà vào không gian
nàng là những sợi dây sắt cầm lượn bay
Không khí tự xoay vang tiếng tơ đồng
miền xa lại gần gió mới tỏ tình
hương đà theo hút
gió có cần vội vã đâu
chỉ thoáng lên xe đi thúc giục các chồi các nụ
đến hôm ấy gió chỉ việc dịu dàng bay chơi
là cuốn theo muôn lòng đắm say.

Lệnh được vâng
tất cả đều làm việc
tất cả giao hòa giúp sức lẫn nhau.
tất cả cũng đều một niềm yêu thương quảng đại
tất cả cùng đồng một ý trau chuốt điểm trang.
Ngày ấy Lệnh đốt tiếng pháo đầu
muôn tiên đã núp sau màn
chim chóc cũng lên đầy cổ họng
mặt trời xé màn sương mỏng
xé màn mơ mộng còn ủ ấp non sông
nhạc vang reo hương nồng tỏa.

Công chúa Xuân nương hiện hình
sương đeo một triệu hoa tai cho nàng
nàng cười một nghìn điệu hoa
nàng mặc chín triệu lá non
má nàng điểm đôi chút sương hồng
tóc nàng gió xuân lỏa tỏa
muôn lời của vũ trụ
đồng tấm tắc khen nàng công chúa con chung.

Xuân nương! Xuân nương! hội mừng nàng
hội của nàng sẽ lâu chín mươi ngày
góp thêm chín mươi đêm vui suốt sáng
Nàng ra đời nàng lại về
nàng không mỏi tái sinh
trời ơi Xuân Nương cười
trông thấy công chúa phụ hoàng đôi mắt sáng ngời
đáp lại bằng nụ cười thái dương
âm nhạc khởi lên chín mươi ngày đêm
bắt đầu bằng một buổi sớm.

Xuân Diệu sinh năm 1917 và Xuân Diệu Trường Ca được xuất bản năm 1945, năm thi sĩ 28 tuổi.

* * *

Vũ Hoàng Chương sinh trước Xuân Diệu một năm, vào năm 1916. Năm 24 tuổi thì xuất bản thơ Say, năm 38 tuổi làm bài ca Siêu Thoát và trước đó hai năm, tức năm 1952 làm được bài Thoát Hình, mà chúng ta sẽ được nghe bình thơ. Bài Thoát Hình cũng nói về mùa xuân nhưng mà đi sâu hơn Xuân Diệu, bài Thoát Hình cho ta thấy được nghiệp sinh diệt và sự liên hệ giữa nhân và quả.

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần
Đã nghe dồn cả tới đài xuân
Đã nghe rào rạt từng cơn gió
Về mách tin hương với cõi trần
Vườn đây rừng đấy cùng xao xuyến
Này phút hồn hoa sắp hiện thân
Nụ đã trên cành đau đớn cựa
Giờ thiêng hấp hối đã nghe gần.

Trong bài Thoát Hình, Vũ Hoàng Chương nói tới sự xuất hiện, sự biểu hiện, giờ phút sinh ra của một bông hoa. Phát hiện sự sinh nở của bông hoa kèm theo những khổ đau, những lo lắng, những cái chết, những gì đưa tới cho bông hoa ấy. Trong những câu đầu mình cũng thấy là lệnh đã đưa ra và nhựa trong cây bắt đầu dồn tới để đem lại mùa xuân, làm cho đóa hoa mùa xuân nở.

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần

Nhựa trong cây bắt đầu rào rạt, bắt đầu chảy mạnh vì lệnh đã ban truyền.

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần
Đã nghe dồn cả tới đài xuân

Có thì giờ, có hai lỗ tai, có chánh niệm, mình có thể nghe được sức sống lưu chuyển trong vũ trụ, trong lòng đất, trong thân cây để đưa tới một mùa xuân, tới sự thoát hình của một bông hoa, sự có mặt của một bông hoa.

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần
Đã nghe dồn cả tới đài xuân
Đã nghe rào rạt từng cơn gió
Về mách tin hương với cõi trần

Ở đây mình cũng thấy lại hình ảnh của tứ đại: đất, nước, gió, lửa.

Đã nghe rào rạt từng cơn gió
Về mách tin hương với cõi trần

Có nghĩa là lệnh truyền ra, mình tiếp nhận được lệnh, mình truyền lại cho tất cả mọi người. Cũng như khi vị trụ trì nhận được lệnh phải có một khóa tu tháng sáu, vị trụ trì mới truyền lệnh lại cho tất cả đại chúng, để chuẩn bị cho khóa tu tháng sáu thành công, khóa tu tháng sáu là một đóa hoa. Muốn có khóa tu tháng sáu, nhựa phải lưu chuyển trong hình hài của tăng thân lâu ngày, mình mới có được khóa tu tháng sáu. Tin hương là một tin rất thơm, tin nói rằng sẽ có một bông hoa nở, bông hoa đó là mùa xuân.

Bây giờ chúng ta đọc báo chỉ nghe những tin không thơm lắm, mỗi ngày bao nhiêu người chết, bao nhiêu trái bom nổ. Những tin đó không phải là tin thơm. Nhưng tin mùa xuân đang về là một tin thơm vì mùa xuân về nó đưa lại cho chúng ta biết bao nhiêu là nụ hoa kỳ diệu.

Vườn đây rừng đấy cùng xao xuyến
Này phút hồn hoa sắp hiện thân
Nụ đã trên cành đau đớn cựa
Giờ thiêng hấp hối đã nghe gần.

Giây phút của sự sinh nở không phải là một giây phút tầm thường, nó bao gồm cả sự đau đớn. Khi sắp sinh mình, mẹ đau đớn lắm và khi trái đất sắp hạ sinh mùa xuân, trái đất cũng đau đớn lắm. Có một cái gì giống như cái chết xảy ra trong khi chuẩn bị cho cái sống thành hình. Vũ Hoàng Chương hồi đó chưa nghiên cứu Phật giáo sâu sắc, nhưng đã có một  linh tính, một tuệ giác. Vũ Hoàng Chương thấy được cái sống dựa vào cái chết, nếu không có cái chết thì không có cái sống.

Khi một hạt cây nứt ra để cho mầm cây trở thành ra một cây con thì đó là cái chết của hạt cây. Ở trong Thánh kinh có nói là nếu hạt không chết thì làm sao mầm sinh ra được? Và Vũ Hoàng Chương thấy được điều đó. Vì vậy khi sinh mình, mẹ cũng có chết ở trong lòng một ít; khi trái đất sinh ra mùa xuân, trái đất cũng chết trong mình một ít; khi thầy sinh ra mình, thầy cũng chết trong lòng một ít. Cái chết đó không phải là cái chết, mà là tất cả sức sống của người mẹ trao truyền cho thai nhi, cho đứa con.

Đất mẹ truyền tất cả sức sống cho mùa xuân và khi thầy sinh ra mình, thầy cũng truyền sức sống của thầy vào trong mình. Đó cũng là một hình thái chết, nhưng cái chết này không phải là một cái chết đau buồn, mà là một cái chết rất đẹp. Chúng ta phải học chết như vậy để sự sống càng ngày càng đẹp hơn.

Vườn đây rừng đấy cùng xao xuyến

Cả rừng, cả vườn nhận được lệnh đều xao xuyến hết vì máu chảy trong huyết quản, nhựa chảy trong lòng cây.

Vườn đây, rừng đấy cùng xao xuyến

Là tại vì sao?

Này phút hồn hoa sắp hiện thân

Đã tới giây phút mà bông hoa của mùa xuân nở.

Nụ đã trên cành đau đớn cựa
Giờ thiêng hấp hối đã nghe gần.

Có sự đau đớn của sự sinh nở. Cái chết nó đưa thành sự sống, cái sống không thể nào có được nếu không có sự chết. Cái chết này không phải là sự chết mà nó là sự tiếp nối của sự sống và sự sống này không phải là sự sống mà là sự tiếp nối của sự chết. Sống và chết là tương tức với nhau, không thể nào lấy ra khỏi nhau được.

Vườn đây rừng đấy cùng xao xuyến
Này phút hồn hoa sắp hiện thân
Nụ đã trên cành đau đớn cựa
Giờ thiêng hấp hối đã nghe gần.
Muôn vạn tế bào đang hủy thể

Hủy thể tức là đang chết và chết như vậy để làm cho sự sống có thể xảy ra được. Trong hình hài của mình cũng vậy, mỗi giây phút có hàng ngàn tế bào hủy thể và nếu những tế bào trong mình không hủy thể thì không thể nào sinh ra những tế bào mới. Khi nhìn vào lớp da ngoài của hình hài, mình biết rằng lớp da ngoài gồm có những tế bào khô, những tế bào chết và mỗi khi mình gãi có hàng ngàn tế bào chết rơi xuống và nếu những tế bào đó không chết thì làm sao có những tế bào mới sinh ra? Cái chết và cái sống tương tức. Nhìn thấy cái chết dưới ánh sáng của tương tức thì mình không còn đau buồn nữa.

Muôn vạn tế bào đang hủy thể
Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần

Ý lớn ở đây tức là nguyên lý của vũ trụ: có sinh thì có diệt, cái diệt làm bằng cái sinh, cái sinh làm bằng cái diệt. Ý lớn là ý trời, ý trời ở đây tức là ý của thiên nhiên, ý của sự sống và phá hủy là để thành tựu chứ không phải phá hủy, chỉ để phá hủy. Chính vì phải thành tựu cho nên phải có sự hủy thể.

Phá cho thành đấy, sinh là diệt.

Mình thấy rằng nhà thi sĩ ba mươi sáu tuổi đã thấy được tính tương tức của sinh và diệt.

Mười một năm sau, Vũ Hoàng Chương làm bài Lửa Từ Bi, nhưng Lửa Từ Bi là một đóa hoa sinh trên cái xác của bài Thoát Hình. Bài Thoát Hình là một bước và Lửa Từ Bi là một bước khác nữa. Nếu không có bài Thoát Hình thì sẽ không có bài Lửa Từ Bi. Càng ngày Vũ Hoàng Chương càng trở nên một thi sĩ có tuệ giác Phật giáo.

Muôn vạn tế bào đang hủy thể

Không phải là một cái gì đau buồn, đây là chuẩn bị cho sự sinh nở, cho sự sống.

Muôn vạn tế bào đang hủy thể.
Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần.

Ý lớn nhịp xoay vần, đó là sự vận hành của vũ trụ

Phá cho thành đấy sinh là diệt
Đời quả lên từ mỗi xác nhân

Cái nhân nó sung sức, nhưng khi sinh ra quả tự nó trở thành một cái xác, gọi là xác nhân. Khi hạt giống nứt mầm để cho ra một cây mới thì hạt giống đó chết. Chết nhưng không phải là chết, nó chỉ thoát hình.

Muôn vạn tế bào đang hủy thể
Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần
Phá cho thành đấy sinh là diệt
Đời quả lên từ mỗi xác nhân

Cái xác này thật ra không phải là một cái xác, nó chẳng qua chỉ là một cái da mà mình lột ra, như con rắn lột da. Khi hạt cây biến thành mầm non, thật sự không là cái chết. Mình gọi là xác nhân, nhưng kỳ thực nó là mầm quả, cái xác nhân trở thành cái mầm quả.

Kìa mảnh da ngà đang nứt rạn
Cho tròn một kiếp chẳng phân vân

Mảnh da này là một mảnh da của thân cây, phải nứt ra một cái thì mới có thể nẩy ra một cái mầm được. Lệnh đã truyền thì thế nào nhựa cây cũng phải lưu chuyển cho mạnh và sự hoạt động đó, sức mạnh đó, năng lượng đó sẽ làm cho vỏ cây nứt ra. Và hễ có sự nứt ra là có sự đau đớn.

Kìa mảnh da ngà đang nứt rạn
Cho tròn một kiếp chẳng phân vân
Lòng cây mấy thuở ai người biết
Từng khóc, từng reo đã mấy lần?

Người nào đã từng làm cha mẹ, từng làm thầy, từng làm sư chị, sư anh mới thấy điều đó. Đây là lòng của người mẹ, lòng của đất mẹ đã khóc, đã cười, đã reo vì đứa con mà mình đang thai nghén, đứa con mà mình sắp cho ra đời. Bốn câu này nói về lòng cây, lòng cây đây tức là lòng mẹ, lòng đất đang chuẩn bị để đưa ra một mùa xuân.

Kìa mảnh da ngà đang nứt rạn.
Cho tròn một kiếp chẳng phân vân
Lòng cây mấy thuở ai người biết

Có ai biết cho không, có ai biết cho niềm đau, những tiếng khóc và tiếng reo trong lòng của bà mẹ, trong lòng của người cha, trong lòng của trái đất?

Lòng cây mấy thuở ai người biết
Từng khóc, từng reo đã mấy lần

Càng ngày sự giục giã càng lớn và nhựa càng lưu chuyển mạnh.

Nhựa ứ càng cao niềm giục giã
Đất trời mong mỏi nức hương lân.

Cả trời, cả đất đang chờ đợi giây phút mầu nhiệm, đó là bông hoa hé nở, tỏa hương thơm ngát của đất trời, tức là mùa xuân.

Đất trời mong mỏi nức hương lân

Nức tức là thơm ngát, hương lân tức là mùi thơm trong cả một vùng.

Cánh hoa sắp hé phô kiều diễm
Nụ thoát hình trong phút nhập thần

Giây phút sinh nở là giây phút rất trọng đại, cần phải có sự tập trung rất lớn.

Cánh hoa sắp hé phô kiều diễm
Nụ thoát hình trong phút nhập thần
Ôi đã then sương cài lỏng lẻo
Buồng thơm rạo rực ý thanh tân.

Then ở đây tức là cái then cửa và bây giờ nó lỏng lẻo ra rồi và có thể mở cửa cho mùa xuân thoát hình, một cách rất dễ dàng. Có một sự trông chờ, có một sự chờ đợi. Tất cả đều đã chuẩn bị, bây giờ mình chỉ cần đưa ngón tay rút cái then cửa, mở cửa ra là mùa xuân tới.

Có ai tha thiết ngoài mây nước
Chờ lối đào nguyên tự mở dần

Ngày xưa có Lưu Thần và Nguyễn Triệu đi thơ thẩn ở Đào nguyên và tự nhiên cánh cửa Đào nguyên mở ra, có những nàng tiên xuất hiện và hai anh chàng được đi vào cõi Tiên. Bây giờ mình đang chờ như vậy, đất trời đã sẵn sàng và chúng ta đang tha thiết ở ngoài mây nước, để cửa động Đào Nguyên bắt đầu mở ra cho chúng ta đi vào mùa xuân.

Hồi đó chiến tranh đã bắt đầu khốc liệt ở miền Bắc và cái chết đã xảy ra. Có bạo động, có hận thù, có chiến tranh, có hư hỏng, có tuyệt vọng, nhưng thi sĩ đã tìm cách giữ cho lòng mình an tĩnh. Trong một hoàn cảnh biến động, khổ đau phát hiện đầy dẫy, tham đắm, giận hờn, hận thù tràn lan, nếu mình không có tu tập, nếu mình không biết giữ lấy thân mình, mình cũng sẽ bị cuốn theo dòng xoáy đó. Cho nên, nhà thơ cũng thấy được như người tu, là phải làm thế nào để trong đêm ba mươi mình tiếp xúc được với tấm lòng trong trắng nguyên vẹn của mình.

Hồi đó Vũ Hoàng Chương chưa biết danh từ Bồ đề tâm, chỉ cho trái tim trong sáng, cho Phật tánh của mình và thi sĩ đã dùng danh từ trang lòng. Trang lòng này là trang lòng còn nguyên vẹn, chưa bị hoen ố bởi hận thù, bởi tuyệt vọng, bởi sự tranh chấp. Nếu mình sống sót được là nhờ mình còn giữ được sự nguyên vẹn đó trong trái tim. Đêm ba mươi ngồi im lại để tìm cách tiếp xúc được với cái tâm trong trắng đó của mình, để đừng đánh mất mình trong tuyệt vọng, trong hận thù.

Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi

Tin rằng mình vẫn có một trang lòng nguyên vẹn. Cũng như người tu chúng ta tin rằng chúng ta có Phật tánh, chúng ta có Bồ đề tâm, chúng ta luôn luôn có thể trở về nương tựa nơi Phật tánh đó, nơi Bồ đề tâm đó để chúng ta đừng bị cuốn đi theo những tuyệt vọng, những khổ đau của xã hội ngày hôm nay.

Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi
Chưa từng hoen ố vết trầm luân

Đó là niềm tin mà mình cần phải có, dù thế giới có tan tành thì nụ cười, bông hoa cũng không bao giờ tan biến. Mình phải tin vào Phật tánh nơi mình, vào thiên lương nơi mình, vào tâm bồ đề nơi mình. Đó là chỗ mình trú ẩn, là cái pháo đài để mình không đánh mất mình. Thi sĩ đã nói lên được điều đó, không bằng ngôn từ Phật giáo, mà bằng ngôn từ của riêng ông ta.

Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi
Chưa từng hoen ố vết trầm luân

Đây là một lời cầu nguyện để kết thúc bài thơ.

Đêm nay xuống một bài thơ trắng

Một bài thơ trinh nguyên như là một người cầu cơ, như là một người ngồi thiền, mở trái tim ra để cho Phật tánh bừng nở. Cũng như người cầu cơ để cho đức Thế Tôn, để cho Thượng đế, để cho tinh hoa của vũ trụ giáng xuống dưới hình thức một bài thơ mới, một bài thơ có khả năng làm mới lại cuộc đời mình.

Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở ái ân

Hai câu chót là một lời cầu nguyện. Cầu nguyện bằng cái gì? Bằng trái tim của chúng ta. Nếu trái tim của chúng ta đầy dẫy những tuyệt vọng, đau buồn và hận thù làm sao chúng ta cầu nguyện được? Chúng ta phải có một cái gì đó mới có thể tiếp xúc được với tinh hoa của vũ trụ, với Trời, với Phật. Vì vậy phải mở trang lòng nguyên vẹn ra, đây là tâm Bồ đề của mình, đây là Thiên lương của mình.

Đêm nay xuống một bài thơ trắng

Phải ngồi yên, ngồi rất yên, phải trải tấm lòng thanh tịnh của mình ra. Không thù hận, không tuyệt vọng thì may ra mới có một bài thơ trắng, một bài thơ trinh nguyên giáng xuống. Như người cầu cơ, phải rất thanh tịnh, phải rất chí thành thì niềm tin, sự giác ngộ, phương thuốc trị liệu mới có thể đi vào trong trái tim của mình. Cho nên trong thời gian chiến tranh, thi sĩ ngồi thật yên lặng, đem tâm trong sáng của mình ra để chờ đợi phút linh cầu cho cái đó giáng về.

Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở ái ân

Trong cuộc đời chỉ có hận thù, bạo động và tuyệt vọng. Cuộc đời cần có sự thương yêu, cho nên lời cầu nguyện duy nhất của thi sĩ trong đêm ba mươi, không phải là làm ăn phát tài bằng năm bằng mười năm ngoái, đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái, mà cầu nguyện cho tình thương giáng sinh trong trái tim của mình và trong trái tim của con người. Bài thơ này cũng là một bài thơ đạo.

Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi
Chưa từng hoen ố vết trầm luân
Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở ái ân

Ái đây tức là bác ái, là từ bi, là lòng thương của Bụt, của Chúa. Ân đây tức là ân nghĩa, ân tình của con người đối với nhau. Chữ ái ân đây thực sự có nghĩa là tình thương, là lòng từ bi. Có gì đẹp hơn khi mình cầu nguyện cho tình thương, cho lòng từ bi giáng sinh trong trái tim của mình. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng có đặt một bài nhạc với tựa đề Khi Tình Yêu Giáng Sinh. Làm thế nào để tình yêu giáng sinh? Phải có sự trầm tĩnh, phải có sự lắng đọng, phải đem trang lòng nguyên vẹn của mình ra, mình mới cầu cho tình yêu giáng sinh được.

Ôi đã then sương cài lỏng lẻo
Buồng thơm rạo rực ý thanh tân
Có ai tha thiết ngoài mây nước
Chờ lối đào nguyên tự mở dần
Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi
Chưa từng hoen ố vết trầm luân
Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở ái ân

Xin chúc quý thầy, quý sư cô, quý Phật tử bên nhà một năm mới nhiều hạnh phúc và nhất là có nhiều thì giờ để ngồi chơi, để có thể thấy được mặt nhau, đừng có bận rộn quá. Xin đọc lại bài Thoát Hình của Vũ Hoàng Chương trước khi chấm dứt bài bình thơ này.

 

 

Thoát hình
Vũ Hoàng Chương

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần
Đã nghe dồn cả tới đài xuân
Đã nghe rào rạt từng cơn gió
Về mách tin hương với cõi trần
Vườn đây rừng đấy cùng xao xuyến
Này phút hồn hoa sắp hiện thân
Nụ đã trên cành đau đớn cựa
Giờ thiêng hấp hối đã nghe gần.
Muôn vạn tế bào đang hủy thể
Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần
Phá cho thành đấy sinh là diệt
Đời quá lên từ mỗi xác nhân
Kìa mảnh da ngà đang nứt rạn
Cho tròn một kiếp chẳng phân vân
Lòng cây mấy thuở ai người biết
Từng khóc từng reo đã mấy lần
Nhựa ứ càng cao niềm giục giã
Đất trời mong mỏi nức hương lân.
Cánh hoa sắp hé phô kiều diễm
Nụ thoát hình trong phút nhập thần.
Ôi đã then sương cài lỏng lẻo
Buồng thơm rạo rực ý thanh tân
Có ai tha thiết ngoài mây nước
Chờ lối đào nguyên tự mở dần
Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi
Chưa từng hoen ố vết trầm luân
Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở ái ân.
/.

 


 

Xuân Diệu (1917 – 1985)

 

Tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 tại Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là Ngô Xuân Thọ và mẹ là Nguyễn Thị Hiệp.

Xuân Diệu sau ra Hà Nội học, 1938-1940 ông và Huy Cận ở gác 40 Hàng Than. Ông tốt nghiệp kỹ sư canh nông năm 1943. Ông mất ngày 18 tháng 12 năm 1985.

Xuân Diệu viết nhiều, có khoảng 450 bài thơ. Một số lớn chưa được xuất bản. Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983); truyện ngắn Phấn thông vàng (1939); và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Ông mang ngọn gió rạo rực, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương đến cho thi ca. Thơ Xuân Diệu ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ thơ, pha lẫn chút vị đắng cay trong Gửi hương cho gió. Nhiều câu nhiều bài chịu ảnh hưởng từ thi ca lãng mạn Pháp.

 

Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

 

Sinh ngày 5 tháng 5 năm 1916, sinh quán tại thành phố Nam Định, chính quán tại xã Phù Ủng, tỉnh Hưng Yên. Đã được dạy Kinh thư bằng chữ Nho và Quốc Sử Diễn ca bằng chữ Nôm trước khi đến trường học Quốc ngữ và sinh ngữ Tây phương khác.

Năm 1939, Vũ Hoàng Chương thôi học, ra làm phó kiểm soát Hỏa xa Đông dương.

Hoạt động Văn chương từ năm 1940, in thơ viết kịch v..v….

Năm 1940, Vũ Hoàng Chương cho ra thi phẩm đầu tay là tập Thơ Say do nhà in Cộng Lực ấn hành.

Năm 1941, thôi làm sở Hỏa xa và tiếp tục học theo ban Đại học Khoa học.

Năm 1942, lại nghỉ học, Vũ Hoàng Chương xuống Hải Phòng dạy học. Và trong thời gian này thành lập ban kịch Hà Nội cùng với Nguyễn Bính và Chu Ngọc.

Vân Muội là vở kịch đầu tiên của Vũ Hoàng Chương được trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội đêm 12.12.1942.

Đến năm 1943, cho in thi phẩm thứ hai, tên là Thơ Mây.

Năm 1944, xuất bản kịch thơ Trương Chi, gồm 3 kịch thơ ngắn là Trương Chi, Vân Muội, Hồng Điệp.

Năm 1945, giai đoạn chiến tranh chống Pháp, Vũ Hoàng Chương tản cư về dạy học ở Thái Bình. Mặc dù chiến trang đang hồi ác liệt nhưng nhà thơ vẫn sáng tác và cho ra đời tập Thơ Lửa cùng viết với nhà thơ đồng quê Đoàn Văn Cừ xuất bản năm 1947.

Năm 1950, chiến tranh tạm lắng dịu, ông hồi cư về Nam Định dạy học và tiếp tục sáng tác thơ như vở kịch thơ Tâm sự kẻ sang Tần (1951), Thằng Cuội (1952).

Tác phẩm đầu tiên của nhà thơ họ Vũ tại miền Nam là Rừng Phong được chào đời vào năm 1954, Hoa Đăng (1959).

Năm 1961, ngoài việc sáng tác, ông còn cộng tác với nhiều tạp chí văn học ở thủ đô như Phổ thông, Bút hoa, Nguyệt san Đại từ bi, v.v…

Tập Lửa Từ Bi do Thanh Tăng xuất bản năm 1963. Ánh Trăng Đạo Lý (1966) do Sàigòn Tuyên úy Phật giáo xuất bản. Bút Nở Hoa Đàm (thơ, Vạn Hạnh xuất bản năm 1967).

Năm 1974, Tết Giáp Dần, thi nhân có bài Thúy Vũ Đoản Từ.

Thơ Xuân cuối cùng của Vũ Hoàng Chương là bài Vịnh Tranh Gà Lợn (Tết Bính Thìn 1976). Sau đó nhà thơ bị bắt, giam ở ngục Chí Hòa, bị bệnh nặng đưa về nhà mấy hôm thì mất, đó là ngày 6.9.1976 nhằm ngày 13 tháng 8 năm Bính Thìn, lúc 23 giờ.

Bình thơ Lưu Trọng Lư – Lẽ nào anh chết

Truyền thống của Làng Mai là mỗi đêm giao thừa sẽ được nghe đọc thơ và bình thơ. Chúng ta đã từng đọc thơ của Tản Đà, của Nguyễn Bính, của Thâm Tâm, của Thế Lữ và của nhiều thi sĩ khác rồi. Ngày hôm nay chúng ta đọc thơ Lưu Trọng Lư, một bài thơ được viết năm thi sĩ 70 tuổi mà rất ít người biết. Bài thơ này có những suy tư khá sâu sắc về sống chết.

Chúng ta cũng sẽ đọc một bài thơ nữa mà thi sĩ viết trước khi qua đời chỉ mấy tiếng đồng hồ. Bài thơ đó được coi như tương đương với một bài kệ của một thiền sư sắp tịch. Có nhiều vị thiền sư khi sắp tịch, bảo đệ tử đưa giấy mực, viết một bài hay ba câu, bốn câu gì đó, viết xong, quăng bút rồi tịch. Lưu Trọng Lư cũng có một bài như vậy. Hôm nay chúng ta cũng sẽ có cơ hội đọc bài thơ đó.

Vào một buổi trưa tháng 7 năm 1991, lúc Lưu Trọng Lư đang nằm trong bệnh viện Việt-Xô ở Hà Nội, các cô y tá chuyền serum và cho thi sĩ hít oxygen. Một cô y tá nói: «Bác ơi bác, khi nào bác khỏe, bác làm cho chúng cháu một bài thơ đi». Trong nhà thương ai cũng biết Lưu Trọng Lư là một thi sĩ nổi tiếng. Khi ấy, đang truyền nước biển và thở bình oxy, Lưu Trọng Lư vung tay ra viết một bài thơ, trong lúc tay còn đầy dây với dợ. Bài thơ chỉ có bảy, tám câu thôi, nhưng rất thật, có thể nói là một bài thơ thật nhất trong cuộc đời thi sĩ. Lúc đó thi sĩ không còn sợ hãi, không còn phải đối phó với ai nữa. Không cần đối phó với kẻ thù, cũng không cần đối phó với hoàn cảnh, không cần đối phó với một tổ chức chính trị nào nữa hết.

Lưu Trọng Lư là người Huế , mẹ của Lưu Trọng Lư có nụ cười đen nhánh tại vì thời đó người dân có « mốt »  nhuộm răng đem. Quan niệm ngày xưa về cái đẹp rất khác bây giờ, ai mà răng trắng người ta nói trông giống hệt con ma, cho nên phải nhuộm răng cho đen. Mẹ và chị Cầm của tôi ngày xưa cũng vậy, cũng nhuộm răng đen. Nhưng về sau phong trào răng trắng xuất hiện, nên chị của tôi phải cạo cho răng trắng lại, cũng lại do cái mốt mới mà ra.

Nhà văn Nguyễn Trọng Thuật là một cây viết của tập san Phật học Đuốc Tuệ ở Hà Nội, xuất bản vào những năm 1930. Nguyễn Trọng Thuật có viết một tiểu thuyết Quả Dưa Đỏ, một cuốn tiểu thuyết dã sử nói về An Tiêm, con của vua Hùng Vương, người đầu tiên phát hiện ra trái dưa đỏ, nghĩa là trái dưa hấu. An Tiêm bị đày ra ngoài đảo cho chết nhưng nhờ khám phá ra trái dưa đỏ thành ra có cơ hội sống và cuối cùng được trở về nước. An Tiêm có làm một bài thơ vịnh Quả Dưa Đỏ, quả dưa có ruột rất đỏ và hạt rất đen, bài thơ như thế này:

Gặp em ngoài cõi biển Đông

Yêu em vì một tấm lòng thắm tươi

Răng đen mỉm miệng em cười

Dẫu trời nóng nực cũng nguôi cơn nồng
Yêu em anh bế anh bồng
Nước non ghi nghĩa tao phùng từ đây

Còn Lưu Trọng Lư thì có một bài nói về nụ cười đen nhánh của mẹ, là bài « Nắng Mới ».

Nắng mới      

Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác gà trưa gáy não nùng.
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười.
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xóa mờ,
Hãy còn mường tượng lúc vào ra.
Nét cười đen nhánh sau tay áo,
Trong ánh trưa hè trước dậu thưa.

Thế hệ của tôi đã được ru bằng thơ của Lưu Trọng Lư, cái lãng mạn này thật nhẹ nhàng thôi. Thơ của Lưu Trọng Lư là thơ tình, thơ mộng và thơ sầu, bất cứ người nào sống trong thời đại đó đều được ru bởi những bài thơ của Lưu Trọng Lư, vì trong chúng ta ai cũng có những hạt giống của tình, của mộng, của sầu cả.

Ở chùa không đọc và hát những bài thơ và những bài nhạc có tính cách trữ tình, sầu mộng. Nhưng hôm nay là Tết, nên mình cho phép các sư cô, các sư chú được nghe loại thơ, nhạc này. Tôi có chọn được hai bài điển hình của Lưu Trọng Lư nói về tính sầu, tính mộng.

Sầu Rụng

Vầng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
Để tóc vướng vần thơ sầu rụng
Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo
Năm năm tiếng lụa se đều
Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh.

Tiếng Thu

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Các vị đã từng nghe qua các bài thơ này rồi, hôm nay cho phép tưới tẩm hạt giống đó trở lại. Những người trẻ, nhất là các cô, các chú chưa bao giờ được nghe, cũng được phép thưởng thức những bài thơ này, đó là thứ thơ và nhạc lãng mạn ngày xưa tôi đã đi ngang qua. Sau đó tôi sẽ nói chuyện thêm về Lưu Trọng Lư thời còn trẻ, thời tham gia kháng chiến chống Pháp và cuối cùng là thời tham gia cuộc chiến có người Mỹ tham dự

Trong đời sống hàng ngày nếu bận rộn quá, chúng ta sẽ không có cơ hội để nhìn sâu vào sự sống và nhất là sự sống của chính mình. Mình cứ để thời gian đi qua một cách oan uổng, mình lo những chuyện gọi là « thực tế »  vì vậy mình không có cơ hội nhìn sâu để thấy được mình là ai? Mình từ đâu tới và mình sẽ đi về đâu?

Lưu Trọng Lư hồi còn trẻ đã từng mơ mộng, đã từng yêu đương, đã từng sầu khổ. Khi lớn lên đã đi vào thực tế, ông tham gia kháng chiến, trải qua hai cuộc chiến tranh và đến tuổi bảy mươi thì ấn tượng của hai cuộc chiến đó vẫn còn ghi dấu nặng nề trong lòng. Nhưng Lưu Trọng Lư đã có cơ hội nhìn lại cuộc đời mình, đã suy tư và đã có quán chiếu về vấn đề sống chết.

Chúng ta từng thấy có những vị xuất gia lên đến tuổi bảy mươi mà chưa chắc có được cái thấy bằng cái thấy của Lưu Trọng Lư. Nhiều vị xuất gia chỉ lo làm chùa, lo hoạt động, lo hoằng pháp và không có thì giờ để tu tập, quán chiếu. Cái thấy của Lưu Trọng Lư là cái thấy của người xông pha trong tên đạn, tham dự vào cuộc chiến và đi qua bao nhiêu khó khăn, tủi nhục. Lưu Trọng Lư có một người con trai tên là Nông chết ở miền Nam trong khi tham dự vào cuộc chiến chống Pháp.

Anh không ngồi đếm bao thu còn lại
Bao tuần lá đổ vàng rơi
Khi cánh song anh khép kín cõi đời
Anh vẫn không tin mình chết

Đến khi hình hài này tan rã rồi, anh vẫn không tin rằng anh sẽ chết. Như vậy có nghĩa là Lưu Trọng Lư đã thấy được tính bất sinh bất diệt của mình. Thi sĩ không tin rằng mình có thể chết được. Nhưng trong cuộc sống, thi sĩ đã có cơ hội để nhìn lại cuộc đời mình, nhìn kỹ sinh tử và có thể thấy được tính không sinh, không diệt ở chiều sâu. Tôi rất mừng khi thấy Lưu Trọng Lư còn có thể làm được bài này khi thi sĩ ở tuổi 70 và càng mừng hơn nữa khi đọc bài thơ cuối cùng, sáng tác trước khi thi sĩ chết mấy tiếng đồng hồ, chứng tỏ thi sĩ đã có sự giải thoát.

Chúng ta thường nói năm cũ sẽ đi qua để nhường chỗ cho năm mới. Năm cũ sẽ chết để cho năm mới sinh ra nhưng kỳ thực năm cũ không chết, năm cũ được tiếp tục trong năm mới và nếu nhìn vào năm mới cho sâu sắc, ta thấy năm cũ vẫn còn nguyên vẹn trong năm mới. Những gì ta làm trong năm cũ còn y hệt trong năm mới. Như vậy năm cũ không đi đâu hết, năm cũ vẫn còn ở lại với ta. Ngay bốn câu đầu mình đã thấy con người này có bản lãnh.

Anh không ngồi đếm bao thu còn lại
Bao tuần lá đổ vàng rơi
Khi cánh song anh khép kín cõi đời
Anh vẫn không tin mình chết

Khi chia tay không cất lời vĩnh biệt
Buổi giao ban không đứt đoạn đường dây
Trong gian nan ta gọi thép sáng ngời
Giữa đối thoại ngày mai ta sẽ không vắng mặt

Vào giây phút phải chia tay, tôi sẽ không nói vĩnh biệt, tôi chỉ nói: see you again (hẹn gặp lại). Vĩnh biệt có nghĩa là không bao giờ lại gặp lại nhau nữa nhưng đây không phải là vĩnh biệt. Mình sẽ gặp nhau nơi suối nguồn, mình sẽ gặp nhau khắp nơi trên mọi nẻo đường.

Hãy cười cùng tôi, hãy nắm tay tôi,
Hãy vẫy tay chào để rồi tức thời gặp lại.1

Vì vậy, nếu khi chia tay không cất lời vĩnh biệt là bởi không có sự biệt ly. Tôi với anh, tôi với em sẽ mãi mãi ở bên nhau, trong em có tôi và trong tôi có em, không có sự chia ly, xa cách.

Buổi giao ban không đứt đoạn đường dây

Có một thời khắc gọi là giao thời giữa năm mới và năm cũ, nhưng không có sự đứt đoạn, tại vì năm cũ tiếp tục trong năm mới cho nên chữ vĩnh biệt không còn có nghĩa. Giờ phút mình gọi là chuyển tiếp, không phải là giờ phút biệt ly.

Trong gian nan ta gọi thép sáng ngời
Giữa đối thoại vào ngày mai ta sẽ không vắng mặt

Khi lâm vào thế gian nan, một thế cờ cần phải tranh đấu, thì mình cần có một lưỡi gươm, lưỡi gươm của trí tuệ, lưỡi gươm của ý chí. Tôi sẽ có mặt và hình hài mà anh thấy đây tuy sẽ tan rã nhưng tôi sẽ vẫn có mặt trong ngày mai. Cuộc đối thoại vẫn còn tiếp tục giữa con người với con người. Và Lưu Trọng Lư hiện đang có mặt trong giờ phút này với chúng ta.

Bão gió ba mươi đầu cành vẫn trong tiếng hót
Ôi mẹ! Với mây xanh, sao biếc, nắng vàng
Tơ rút ruột, kén thời gian tằm lót ổ
Cho trời, cho đất một tình thương

Ba mươi năm chiến tranh, ba mươi năm bão tố, giờ đây đầu cành vẫn vang lên tiếng con chim nhỏ đang líu lo, bông hoa vẫn chưa ngưng lời hát ca.

Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu2

Bông hoa nhỏ bé mà ta thấy ngoài hàng dậu ấy đang tiếp tục hát bài thiên thu. Con chim nhỏ đậu đầu cành kia dầu có trải qua ba mươi năm bom đạn vẫn còn vang tiếng hót.

Tơ rút ruột, có nghĩa là tôi vẫn còn làm thơ, làm thơ trong bão tố, làm thơ trong chiến tranh, làm thơ trong hy vọng, làm thơ trong tuyệt vọng. Giống như con tằm luôn luôn rút ruột ra để làm sợi tơ óng ánh kết thành tổ kén. Thơ của tôi với sợi tơ vàng óng ánh cùng với mây xanh, sao biếc, nắng vàng là để hiến tặng cho trời cho đất một tình thương. Nhiệm vụ của tôi là chế tác tình thương, hiến tặng tình thương cho cuộc đời. Đây đích thực là một thi sĩ, là một chiến sĩ mà cũng là một đạo sĩ. Nếu cần phải tranh đấu thì ta là người chiến sĩ, nếu cần ca hát thì ta là người nghệ sĩ và nếu cần tình thương thì ta là nhà đạo sĩ chế tạo tình thương. Nhà đạo sĩ là người hiến tặng tình thương, tình thương là cái mà con người đang cần.

Đâu phải anh vào nơi bất diệt
Vì trăm năm sau
Cô bé nào bên cầu ao
Chợt ngâm đùa mấy câu thơ anh, vơ vẩn

Nói như vậy không có nghĩa là tôi sẽ đi vào một nơi gọi là Niết bàn, gọi là bất diệt, tách rời ra ngoài sự sống. Niết bàn, bất sinh bất diệt nằm ngay trong sự sống. Ta Bà là Tịnh Độ, Sinh Tử tức Niết bàn.

Tôi không mơ ước một cõi Niết bàn, một cõi vô sinh bất diệt tách rời ra khỏi sự sống, tại vì tôi biết rằng sự sống có sinh có diệt, nó chứa đựng niết bàn trong nó và không có sự phân biệt giữa niết bàn bất diệt với sự sống có sinh diệt. Tìm niết bàn ngay trong sinh tử.

Trăm năm sau, khi hình hài tôi tan rã, có những cô bé quê ở bên bờ ao sẽ ngâm nga một vài câu:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức.  (3)

Đó là sự tiếp nối của tôi, cô bé đó là tôi. Thơ tôi và người đọc thơ tôi vẫn còn mãi mãi. Lưu Trọng Lư thấy được sự tiếp nối của mình ngay khi hình hài ông chưa tan rã. Chúng ta là người đã từng nghe pháp thoại nhiều lần về đề tài sinh tử, chúng ta là người đã được hướng dẫn ngồi thiền, nhưng chúng ta có được một cái thấy như Lưu Trọng Lư hay chưa? Hay tại quá bận rộn trong đời sống hàng ngày, chúng ta không có cơ hội để nhìn, để thấy?

Anh biết rồi mắt anh sẽ tan thành bụi phấn
Nhưng em có hay hạt bụi mắt anh
Là con thương của giọt nắng rơi tự trên cành
Và của hạt sương tự đất đen tụ lại?

Cái gì mà không trở thành cát bụi nhưng cát bụi này lại trở thành quí giá. Sau này hình hài anh tan rã, mắt anh trở thành bụi phấn nhưng những hạt bụi phấn ấy cũng là đứa con thương mến của giọt nắng rơi từ trên cành. Tất cả đều tương tức. Những bụi phấn rơi từ con mắt cũng là đứa con thương của những hạt sương từ đất đen tụ lại.

Mắt là tứ đại: đất, nước, lửa và gió. Tai cũng là tứ đại, nhưng trong văn học đạo Bụt mắt đại diện cho sáu căn vì mắt luôn luôn đi trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Mắt của anh khi rơi xuống cũng sẽ trở thành bụi vàng và tai khi rơi xuống cũng sẽ thành bụi vàng. Bụi vàng đó cũng là đứa con thương của ánh sáng mặt trời từ trên rơi xuống, cũng là con thương của những hạt sương từ đất nâu kết tụ lại. Mắt của anh sẽ không bao giờ mất.

Hôm nay chúng ta ngồi đây trong giây phút chờ đợi giao thừa và đọc thơ của Lưu Trọng Lư. Đọc với tính cách quán chiếu, đọc ngay trong lòng, trong cơ thể của mình.

Còn say, còn mơ, còn luân hồi mãi mãi
Bụi phấn vẫn bay đi cướp lửa những sao trời
Để sưởi nồng mảnh mảnh trăng rơi
Và chút chút nhen hồng trong mắt người bất hạnh

Luân hồi nghĩa là sự tiếp nối, nghĩa là không có sự đứt đoạn, nghĩa là không có sự chấm dứt. Bụi phấn kia rơi từ mắt anh, đi luân hồi với tính cách của thơ, của mộng, của tình thương, tác hợp với ánh lửa sao trời để sưởi nồng mảnh mảnh trăng rơi và chút chút nhen hồng trong mắt người bất hạnh. Có những con người không may, có những em bé đói, những người già không ai chăm sóc, có những người đang bị giam cầm, có em bé mất cha, mất mẹ. Những người bất hạnh đó cần có tình thương, cho nên bụi vàng trong mắt anh sẽ tiếp tục làm trong công việc đó với thơ, với mộng, với tình thương.

Nếu chút thương còn vương trên mẩu bánh
Chút đau còn vướng áo chưa lành
Bọn côn đồ còn dọa dẫm hành tinh
Bụi mắt anh, cả hồn anh khắp trời bủa lưới

Mẩu bánh đây tức là bát cơm nguội, miếng bánh mì khô mà em bé đói đang mơ ước. Em bé cầm cái bát sứt mẻ trong tay chờ đợi giờ này sang giờ khác mà không có được một muỗng cơm, một miếng bánh nào. Em bé đứng trong trời lạnh căm căm không có một manh áo che thân. Chút đau đó, chút thương đó làm động trái tim mình và thơ trong lòng mình được xúc tác tạo ra trong lòng mình chút yêu thương, chút từ bi.

Bọn côn đồ còn dọa dẫm hành tinh
Bụi mắt anh, cả hồn anh khắp trời bủa lưới

Khi bọn côn đồ còn dọa dẫm hành tinh này thì thơ của anh vẫn tiếp tục làm công việc xúc tác chất tình thương, chất hiểu biết trong con người. Bụi vàng rơi từ mắt anh khi thân xác này tan rã cùng với tâm hồn anh sẽ bủa lưới khắp trời, bủa lưới tình thương để chăm sóc và bảo hộ cho hành tinh này, để lo lắng cho những người bất hạnh.

Sau khi hình hài tôi tan rã thì thơ tôi, tình thương tôi, những hạt bụi rơi xuống từ cơ thể tôi sẽ cộng tác với tất cả tâm hồn tôi để bủa thành tấm lưới để che chở, để ngăn ngừa không có cho tàn ác, bất công và bạo động hoành hành trên hành tinh này.

Xin cảm tạ ngọn sóng lòng vừa tới
Giữa dòng thơ trên tờ giấy trắng tinh

Khi mình có một ít cảm thọ, một ít xúc động, ngọn sóng lòng đưa tới sẽ biểu hiện thành một câu thơ trên tờ giấy trắng.

Và bâng quơ tiếng gió trên cành
Xua chút lạnh bên bờ cây còn sót lại

Có tiếng gió trên cành bâng quơ và tiếng gió đó sẽ giúp cho hình hài tôi tạo thành sức ấm để có thể xua bớt cái lạnh còn sót lại bên bờ cây.

. Có nhạc nào bằng khúc nhạc ấy
Của lời trao tiếng gởi giữa con người

Khi giữa những con người với nhau có sự đối thoại, có sự truyền thông, có nhạc, có thơ, có sự tìm hiểu nhau thì không có khúc nhạc nào hay bằng khúc nhạc của sự đối thoại, của sự truyền thông đó. Con người phải tiếp tục truyền thông với nhau, trao đổi, cười nói và chia sẻ với nhau. Đó là khúc nhạc hay nhất trong tất cả các bản nhạc. Trong nhạc khúc đó, thơ là phương tiện lớn, thơ thiết lập sự truyền thông, thơ lấy đi những hiểu lầm, thơ lấy đi những hận thù, thơ thiết lập sự thương nhau và hiểu nhau.

Có nhạc nào bằng khúc nhạc ấy
Của lời trao tiếng gởi giữa con người
Cũng bấy nhiêu tiếng khóc tiếng cười
Mà vàng ngọc trên thế gian không sánh nổi

Chỉ cần tiếng khóc, tiếng cười, chỉ cần phương tiện truyền thông, mà không có vàng nào, ngọc nào trên thế gian có thể sánh nổi. Không gì quí bằng sự truyền thông giữa con người với con người mà ngày mai phải tiếp tục và tôi sẽ có mặt với các vị.

Ta chẳng bao giờ tiếc nuối
Những giọt nước mắt đổ ra
Vì một ý đẹp, một cành hoa
Hay vì một nỗi đau bên đường đụng phải

Trong thơ ta đã cười, ta đã mơ nhưng ta cũng đã khóc và ta không tiếc rằng ta đã khóc tại vì tiếng khóc đó cũng là một phương tiện để truyền thông.

Có một ý đẹp, ta có thể khóc, khóc vì nó quá đẹp. Đó là những giọt nước mắt của sự cảm động. Có phải mình chỉ khóc khi mình khổ đau? Mình cũng khóc khi thấy đất trời quá đẹp, khi thấy tình người quá đẹp, những giọt nước mắt đó có khả năng trị liệu, làm lành thương tích nơi mình và nơi người.

Thấy một cành hoa đẹp quá mình cũng có thể khóc được. Thầy Giác Thanh, đệ nhất trụ trì của tu viện Lộc Uyển kể rằng có một hôm thầy đi vào trong núi, thầy thấy rất nhiều hoa nở vào mùa Xuân, thầy quỳ xuống, chắp tay lại và khóc. Tại sao khóc? Tại sao phải quỳ xuống? Tại vì thầy thấy được những cái hết sức mầu nhiệm của đất trời.

Vì một ý đẹp, một cành hoa
Hay vì một nỗi đau bên đường đụng phải

Anh hùng gặp chuyện bất bình không thể nào bỏ qua được. Khi trông thấy sự bất bình, những bất công, những thương đau, thì mình sẽ luôn luôn lấy thơ ra để đáp ứng. Thơ của mình là tình thương, thơ của mình là sự hiểu biết.

Có những hoàng hôn kia tan xóa mờ chân sói
Giữa nơi đây ta chong sáng ngọn đèn

Bóng tối không cho chúng ta nhận diện được loài lang sói đang có mặt. Ta giữ ngọn đèn của ta cho thật sáng, đừng để bóng tối tràn ngập, đừng để cho những loài ma quái xâm chiếm cuộc đời ta. Giữ cho ngọn đèn của mình sáng chói để thấy, biết những gì đang xảy ra. Những con chó sói sắp ùa vào, tức là những mê mờ, thù hận bắt đầu biểu hiện trong tâm ta thì lúc ấy ta thắp lên một ngọn đèn chánh niệm đó là công việc rất là cần thiết.

Giữ mãi hồn thương, sắc mơ còn đỏ mãi
Dầu mơ kia chưa trọn nở trước thềm

Bổn phận của chúng ta là luôn nuôi dưỡng hồn thương, nuôi dưỡng bồ đề tâm. Những mơ ước của mình phải được giữ gìn đừng để cho chúng chết. Mơ ước gì? Mơ ước một ngày kia, nhân loại biết thương nhau, biết nắm tay nhau và tha thứ cho nhau. Thà là tôi bị lừa gạt còn hơn tôi bị mất niềm tin nơi con người. Dầu tôi có ngây thơ, tôi có bị lừa gạt, tôi vẫn muốn chấp nhận điều đó hơn là tôi nghi ngờ con người. Thành công của Lưu Trọng Lư là ở chỗ vẫn còn niềm tin nơi con người. Chừng nào bạn hết niềm tin nơi con người thì chừng đó bạn sẽ chết. Mình phải tin rằng trong mỗi con người đều có Phật tính mà Phật tính đó không bao giờ có thể tiêu diệt được. Dầu con người có độc ác, có nham hiểm nhưng mình vẫn tin rằng con người ấy một ngày nào đó sẽ vươn lên.

Tình thương và mộng ước, mộng ước này trong đạo Bụt gọi là đại nguyện. Nếu không có đại nguyện thì không có sức sống, còn nếu không có đại bi thì không có hạnh phúc. Đại bi và đại nguyện là hai cái mình phải nuôi dưỡng trong đời sống hàng ngày.

Giữ mãi hồn thương, sắc mơ còn đỏ mãi.

Đỏ mãi tức là còn cháy mãi như là một ngọn đèn.

Dầu mơ kia chưa trọn nở trước thềm.

Có hạnh phúc nào như hạnh phúc niềm tin

Dầu mơ ước của mình mới thực hiện được một phần, một phần rất nhỏ, nhưng mình vẫn giữ được niềm tin và tình thương đó.

Chừng nào niềm tin không còn là mình sẽ chết. Ngày nào mình còn giữ được niềm tin, ngày đó mình vẫn còn năng lượng để sống: “Đã có đường đi rồi, con không còn sợ nữa”. Niềm tin là năng lượng giúp ta đi tới.

Vẫn như thuở nào tóc để lơi chiếc lược
Cho mắt anh lại được gặp mắt em
Cho hai tia lửa nhỏ hồng thêm

Ngày xưa khi còn trẻ, anh hai mươi tuổi, em mười chín tuổi, chúng ta còn rất ngây thơ, tuy rằng ngây thơ như vậy nhưng chúng ta có niềm tin nơi nhau và muốn làm sao để cho niềm tin đó còn mãi cho dù mình lớn lên, 30 tuổi, 50 tuổi, 70 tuổi hay 90 tuổi.

Gà ban mai mỗi ngày còn đập cánh
Thì ai tắt được lửa bình minh

Gà là con vật thức dậy sớm nhất, những con gà trống buổi sáng nào cũng đập cánh kêu ò ó o o o… Thời kháng chiến, nhất là ở miền quê, làm gì có đồng hồ nên sáng tinh sương mà còn nghe gà gáy thì đó là một tin mừng:

Gà ban mai vẫn còn đập cánh,
Thì ai tắt được lửa bình minh ?

Không ai thể có ai tắt được lửa bình minh.

Khi tim anh còn chan chứa ân tình
Lẽ nào em tin rằng: Anh sẽ chết?

Trái tim của anh còn đầy dẫy ân tình thì làm sao anh có thể chết được. Thành ra cái chết là cái mình có thể vượt thắng. Cái chết không có, chỉ có sự tiếp nối thôi, cho nên tới tuổi bảy mươi, tám mươi mình vẫn giữ được niềm tin và tình thương trọn vẹn. Làm sao nói là mình chết được? Lưu Trọng Lư bằng cách sống của mình đã tìm thấy được chân lý vô sinh bất diệt, thấy rằng không có cái chết và nhờ đó thi sĩ đánh bại cái chết. Đó là đỉnh cao của Lưu Trọng Lư. Lưu Trọng Lư từ “Em không nghe mùa Thu dưới trăng mờ thổn thức” cho tới Lưu Trọng Lư của tuệ giác, của sự vượt thoát sống chết.

Và tiếp theo đây tôi xin đọc bài thơ cuối cùng của nhà thơ Lưu Trọng Lư. Khi cô y tá chưa kịp lấy cây kim ra, sợi dây truyền serum vẫn còn đó nhưng thi sĩ nhất định kêu cô y tá đưa cho ông ta cây bút để thi sĩ viết bài thơ cuối cùng.

Trời đã về chiều.

Chiều này không phải là chiều ở bên ngoài. Đó là chiều ở trong lòng, thi sĩ biết là thân hình mình sắp tan rã.

Buồn tà, vơ vẩn tà.

Tà tức là buổi chiều nghiêng nghiêng, có cái buồn, có cái vơ vẩn và ta đi tìm ai bây giờ? Cố nhiên cuộc sống là một cuộc đi tìm, một cuộc đi tìm không ngưng nghỉ. Chúng ta ai cũng là người đi tìm cả và cuộc tìm kiếm đó không bao giờ chấm dứt. Cho đến giờ phút chót, vẫn thấy rằng mình phải đi tìm nhưng mà tìm ai?

Ta đi tìm ai bây giờ?
Và ai tìm ta nổi?

Rất là lạ, mình cũng đang đi tìm mà mình không biết có tìm được hay không? Có thể có người đang đi tìm mình và không biết người đó có thể tìm được mình hay không? Khi đọc đến đây thì mình thấy được giáo lý về Bất khả đắc. Bất khả đắc là không nắm bắt được.

Có một lần khi thầy A Nậu La Độ đang đi khất thực thì bị một số thầy ngoại đạo chận lại rồi nói: huynh phải trả lời cho chúng tôi vài câu hỏi về giáo lý. Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt rồi thì Ngài còn hay là Ngài không còn? hay là Ngài vừa còn vừa không còn? hay là Ngài vừa không còn cũng không không còn? Huynh phải trả lời cho chúng tôi trong phạm vi bốn mệnh đề đó:

Đó gọi là tứ cú. Huynh không thể nào thoát ra khỏi bốn phạm trù đó được. Huynh phải trả lời là Bụt sau khi chết thì là Bụt nằm vào trong cái box nào của bốn cái box đó, bốn khái niệm đó? Thầy A Nậu La Độ nói: Theo như tôi hiểu thì đức Thế Tôn không bao giờ nói đến sự có mặt của Ngài trong bốn phạm trù như vậy.

Trong khi đi về, thầy A Nậu La Độ nghĩ rằng có thể là mình sẽ tiếp tục gặp những người du sĩ ngoại đạo như thế, và họ sẽ hỏi mình câu đó nhiều lần nữa và mình làm sao để trả lời được cho đúng ý của đức Thế Tôn. Cho nên thầy mới tới thăm Bụt và kể lại câu chuyện mình đã gặp những du sĩ ngoại đạo như thế nào và nhờ đức Thế Tôn cho mình một câu trả lời.

Đức Thế Tôn nhìn thầy A Nậu La Độ cười và nói rằng: Thầy có thể tìm Như Lai trong sắc hay không?

Thầy A Lậu Na Độ: Đâu được, đâu có thể nhận diện đức Như Lai qua sắc được, tại đức Như Lai vượt thắng, vượt qua sắc, không kẹt vào trong sắc.

Đức Thế Tôn: Như vậy có thể nhận thức được Như Lai qua thọ, qua tưởng, qua hành, qua thức được không?

Thầy A Nậu La Độ: Không được, cũng không thể nhận thức được Như Lai qua thọ, tưởng, hành thức.

Rồi đức Thế Tôn nói: Như vậy có thể nhận diện Như Lai ngoài sắc được không?

Thầy A Nậu La Độ: Không được, không thể nhận diện Như Lai ngoài sắc được.

Bụt cười: Như Lai đang ngồi sờ sờ đây mà thầy tìm Như Lai còn không được, huống hồ là sau khi sắc thân Như Lai tan rã !

Như Lai không phải là một đối tượng có thể nắm bắt được bằng cái trí năng của mình.

Ta đi tìm ai?
Ai tìm ta nổi?

Có thể ta có người yêu và người đó đang muốn nắm ta, muốn bắt ta.

Biết ta là ai nhưng ai tìm ta nổi?

Tự thân của Lưu Trọng Lư bao giờ cũng mầu nhiệm như tự thân của đức Như Lai, tự thân một chiếc lá hay một đám mây. Chúng ta không thể nắm bắt được một chiếc lá hay một đám mây bằng trí năng của ta được. Cái đó gọi là vô khả đắc, vô đắc, bất khả đắc.

Làm sao mà Lưu Trọng Lư đạt tới được cái thấy này? Lưu Trọng Lư học được cái này ở chỗ nào? Cố nhiên là Lưu Trọng Lư đã từng đi chùa, có thể là đã được nói chuyện với các thầy. Thi sĩ đã có cơ hội chiêm nghiệm, để mà nhìn sâu vào trong bản chất của sự sống.

Bài thơ này là bài thơ thật nhất trong tất cả các bài thơ tại vì lúc đó thi sĩ đã gần chết rồi. Bài thơ này không phải làm ra để tặng cho các cô y tá. Các cô y tá lúc đó sức mấy mà hiểu được bài thơ này ! Bài thơ này là để cho chúng ta, ngày hôm nay ngồi ở Lộc Uyển,

Ta đi tìm ai bây giờ?
Ai tìm ta nổi?

Mà ai tìm ta nổi và người ta đi tìm ta cũng không nắm bắt được nhưng ước muốn đi tìm vẫn còn đó. Có một thao thức muốn đi tìm, nhưng tìm bằng cái gì? Tìm bằng trí năng của mình hay tìm bằng trái tim của mình?

Ngày xưa đức Thế Tôn nói rằng: Với cái trí năng của mình và bốn mệnh đề: có, không, có và không, không có cũng không không ta không thể nắm bắt được cái gì hết. Ai tìm ra mình được và mình có thể tìm ra được ai?

Ai tìm cho nổi?

Có thể người yêu ta đang đi tìm ta nhưng người yêu ta cũng không tìm ra ta được. Mà cảnh sát công an có muốn tìm ta thì cũng không tìm ra ta được; sức mấy mà cảnh sát công an có thể tìm ra được ta. Họ có thể tìm ra được bóng dáng, có một khái niệm về ta rằng ta là người ngay hay kẻ gian, nhưng không ai có thể tìm ra chân tướng của ta, tìm ra chân như của ta. Với trí năng đó không ai có thể nào tìm ra ta được, tìm Bụt không được mà tìm Lưu Trọng Lư cũng không được, tìm một tờ lá hay một đám mây cũng không được.

Ta đi tìm ai bây giờ?
ai tìm ta nổi?
trăm khóa không giữ lấy ta

Trăm khóa tức là một trăm cái xiềng, một trăm cái xích. Một trăm cái khóa cũng không giữ được ta, dù đó là kẻ thù hoặc dù đó là người thương cũng không thể nào khóa được ta. Ta đã trở thành con người tự do rồi, không cái gì có thể xích ta lại được. Và nếu các ngươi đi tìm ta bằng khái niệm của các ngươi, bằng những nhãn hiệu, những cái mũ chụp lên ta thì không bao giờ tìm  thấy được ta hết. Trăm khóa không giữ nổi ta, tại vì ta đạt tới tự do rồi.

Ta như con chim giữa trời
Vô ích, vô ích, vô ích

Trong bài thơ này có đến sáu chữ vô ích. Chữ vô ích đó mình có thể hiểu theo nhiều cách. Tất cả những cái mình chạy chọt tìm kiếm, những cái mình đang tranh đấu, lùng bắt, theo đuổi đều là vô ích cả. Đây là cơ hội để chúng ta nhìn lại. Chúng ta đã và đang chạy theo cái gì? Chúng ta đã và đang mơ ước cái gì? Chúng ta thấy cái gì quan trọng nhất trong cuộc đời? Tất cả những cái đó thi sĩ Lưu Trọng Lư nói đều là vô ích hết. Đây là những tiếng hét, những tiếng hét rất lớn không kém gì tiếng hét của Thiền tổ Lâm Tế. Đó là lời tuyên án.

Vô ích, vô ích, vô ích.

Tất cả những cái mà các người theo đuổi, tất cả những gì mà ta theo đuổi trong thời trai trẻ, tất cả đều là vô ích. Chúng ta đã để cho những cái đó làm mất cuộc đời của ta. Chữ vô ích được lập lại sáu lần trong một bài thơ ngắn.

Vô ích, vô ích, vô ích

Đó là tiếng của một con chim đã bay trên không và phán xuống cho chúng ta: tất cả những cái gì mà các ngươi đang làm đều là chuyện vô ích. Quí vị nên quán chiếu lại: những cái làm ta thất vọng, khổ đau, rên xiết, làm ta suýt chút nữa là tự tử, những cái đó có thật sự ích lợi cho cuộc đời ta hay không? Hay đó toàn là những chuyện không đáng, toàn những chuyện vô ích?

Tôi rất mừng và tôi rất biết ơn các cô y tá, đã thỏ thẻ như thế nào mà mời được người thi sĩ già, gom hết toàn lực của mình để viết ra bài thơ này. Bài thơ tương đương với một bài kệ của thiền sư trước khi nhập diệt.

Không ai giữ nổi ta hết
Ta đi tìm người ta yêu

Mục đích của sự sống là đi tìm người yêu của mình. Nếu quí vị để thì giờ đi làm chuyện khác là quí vị sai lầm.

Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương4

Đó là việc đáng làm nhất.

Ta đi tìm người ta yêu
Cứu nhân của đời ta

Cứu nhân (Savior, my savior) chính là người yêu của ta đã mở mắt cho ta, đã cho ta cái thấy, đã đưa ta thoát khỏi thân phận tù đày của con người, đã chỉ cho ta thấy được con đường để ta đi tìm người yêu của ta.

Con đã đi tìm Thế Tôn
từ hồi còn ấu thơ
Con đang nghe tiếng gọi của Thế Tôn
từ khi mới bắt đầu biết thở
Con đã ruổi rong vạn nẻo đời hiểm trở
Ta từng đau khắc khoải
với trăm thương ngàn nhớ
trên bước đường hành hương5

Mình phải đi tìm người yêu của mình.

Ta đi tìm người ta yêu
Cứu nhân của đời ta
Muôn lần …
Chỉ có người, người ta yêu

Chữ người ở đây được hiểu là chỉ có con người, chỉ có người ta yêu mới đáng để ta đi tìm thôi.

Ai bắt ta nổi?

Ta đã tự do, không có ai cấm cản chuyện ta đi tìm người yêu ta, dầu đó là một guồng máy, dầu đó là một sự dọa nạt, một sự hứa hẹn, dầu đó là gông cùm. Không khóa nào giữ được ta, không có một lực lượng nào ngăn cản ta trên con đường đi tìm người yêu, người tôi yêu.

Ai bắt ta nổi?
Vô ích, vô ích, vô ích
Ta đi tìm người ta yêu

Thông điệp rất là rõ và thông điệp đó đã được gởi đi cho tất cả những người đã yêu mến thi sĩ.

_____________________________

Lẽ nào anh chết

Anh không ngồi đếm bao thu còn lại
Bao tuần lá đổ vàng rơi
Khi cánh song anh khép kín cõi đời
Anh vẫn không tin: mình chết

Khi chia tay không cất lời vĩnh biệt
Buổi giao ban không đứt đoạn đường dây
Trong gian nan ta gọi thép sáng ngời
Giữa đối thoại ngày mai ta không vắng mặt.

Bão gió ba mươi năm đầu cành vẫn trong tiếng hót
Ôi mẹ ! Với mây xanh, sao biếc, nắng vàng
Tơ rút ruột, kén thời gian tằm lót ổ
Cho trời, cho đất một tình thương.

Đâu phải anh vào nơi bất diệt
Vì trăm năm sau
Cô bé nào bên cầu ao
Chợt ngâm đùa mấy câu thơ anh, vơ vẩn.

Anh biết rồi mắt anh sẽ tan thành bụi phấn
Nhưng em có hay: hạt bụi mắt anh
Là con thương của giọt nắng rơi tự trên cành
Và của hạt sương tự đất đen tụ lại?


Còn say, còn mơ, còn đời luân hồi mãi mãi
Bụi phấn vẫn bay đi cướp lửa những sao trời
Để sưởi nồng mảnh mảnh trăng rơi
Và chút chút nhen hồng trong mắt người bất hạnh.

Nếu chút thương còn vương trên mẩu bánh
Chút đau còn vướng áo chưa lành
Bọn côn đồ còn dọa dẫm hành tinh
Bụi mắt anh, cả hồn anh khắp trời bủa lưới.

Xin cảm tạ ngọn sóng lòng vừa tới
Giữa dòng thơ trên tờ giấy trắng tinh
Và bâng quơ tiếng gió trên cành
Xua chút lạnh trên bờ cây còn sót lại
Có nhạc nào bằng khúc nhạc ấy
Của lời trao tiếng gởi giữa con người
Cũng bấy nhiêu tiếng khóc tiếng cười
Mà vàng ngọc thế gian không sánh nổi

Ta chẳng bao giờ tiếc nuối
Những giọt nước mắt đổ ra
Vì một ý đẹp, một cành hoa
Hay vì một nỗi đau bên đường đụng phải

Có những hoàng hôn toan xóa mờ chân sói
Giữa nơi đây ta chong sáng ngọn đèn
Giữ mãi hồn thương, sắc mơ còn đỏ mãi
Dẫu mơ kia chưa trọn nở trước thềm

Có hạnh phúc nào như hạnh phúc niềm tin
Vẫn như thủa nào tóc để lơi chiếc lược
Cho mắt anh lại được gặp mắt em
Cho hai tia lửa nhỏ hồng thêm.

Khi gà, mai mỗi ngày còn đập cánh
Ai tắt được lửa bình minh?
Khi tim anh còn chan chứa ân tình
Lẽ nào em tin rằng: Anh chết?

Hà Nội – Nha Trang – Phan Thiết
Lưu Trọng Lư (1981 )

 

Bài thơ cuối cùng

Trời đã chiều
Buồn tà, vơ vẩn tà
Ta đi tìm ai?

Bây giờ
Ai tìm ta nổi?
Trăm khóa không giữ nổi ta
Ta như con chim giữa trời

Vô ích! Vô ích! Vô ích!
Không ai giữ nổi ta hết

Ta đi tìm người ta yêu
Cứu nhân của đời ta
Muôn lần…
Chỉ có người, người ta yêu

Ai bắt ta nổi?
Vô ích! Vô ích! Vô ích
Ta đi tìm người ta yêu.

______________________________________

21.01.2004 Lộc Uyển – Hoa Kỳ

  1. thi kệ của Sư Ông Làng Mai
  2. Thơ Quách Thoại
  3. Thơ Lưu Trọng Lư
  4. Ca dao
  5. Thơ của Sư Ông Làng Mai