Nụ tâm xuân

Ni sư Thích nữ Chân Như Minh

 

Chúa xuân đã đến bên thềm

Mai vàng nở rộ trên triền núi xanh

Xuân về báo hiệu điềm lành

Cỏ hoa tươi thắm, lá cành đong đưa

Bao ngày đông giá gió mưa

Bình minh ló dạng, đón chờ tin xuân

Chúc nhau mọi việc tốt lành

Tâm an, thân khỏe, đón xuân vui hòa

Trở về nhìn lại trong ta

Tâm xuân hé nụ, nở hoa chân thường

Hương từ bi tỏa muôn phương

Bồ đề tâm mãi miên trường ngàn sau. 

 

Chỉ thương thôi

(Trò chuyện với chị Anh Hương – Chân Ý)

Được thọ giới Tiếp Hiện vào năm 1981 và nhận đèn truyền đăng từ Sư Ông Làng Mai vào năm 1992, chị Chân Ý (Anh Hương) luôn mang trong mình ngọn lửa phụng sự và nhiệt huyết xây dựng tăng thân. Chị cùng người bạn đời, anh Chân Trí, đã thành lập Trung tâm Thực tập Chánh niệm Fairfax tại Virginia vào năm 1998 và hướng dẫn rất nhiều khóa tu cho cả người Việt lẫn người nước ngoài trong hơn ba mươi năm qua. Nhân dịp chị về Làng tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng 5 năm 2025, Ban Biên tập (BBT) đã có dịp trò chuyện với chị. Dưới đây là phần trích dẫn từ buổi trò chuyện đó.

 

——-

 

BBT: Kể từ khi Sư Ông rời Việt Nam năm 1966, chị là người đầu tiên được Sư Ông truyền giới Tiếp Hiện tại Tây phương. Chị có thể kể lại hoàn cảnh mà Sư Ông truyền giới cho chị và cảm nhận của chị trong buổi lễ ấy?  

Chị Anh-Hương: Năm 1981, Anh-Hương cùng em trai là Đức được sang Pháp thăm Sư Ông (Ba của Anh-Hương là anh ruột của Sư Ông). Hai chị em ở Phương Vân Am chơi mấy ngày, rồi sau đó cô Phượng (sau là Sư cô Chân Không) lái xe đưa Sư Ông và hai chị em về Sơn Cốc. Mình ngồi trên xe mà trong đầu tò mò không biết nơi Sư Ông ở ra sao, đi bao lâu nữa mới về tới Sơn Cốc. Bây giờ nhớ lại thấy thương cô Phượng ghê, đi đường xa mà cả ba thầy trò còn lại không ai biết lái xe để lái phụ cho cô. Mỗi khi cô buồn ngủ, cô hát ngân nga cho đỡ buồn ngủ. Trong xe có một chai coca-cola, và một thanh bánh mật. Anh-Hương ngồi băng ghế phía sau, thỉnh thoảng lại nghe tiếng cô Phượng: “Xin Thầy cho con chút cò lá (coca-cola)”. Cô nói khi nào hát mà vẫn còn buồn ngủ thì uống chút “cò lá” là hết buồn ngủ! 

Về tới Sơn Cốc, hai chị em đang theo Sư Ông vào nhà thì Sư Ông quay lui nhìn hai đứa và nói : “Quê nội các con!”. Mình thầm “Dạ” và cảm thấy nóng nơi mắt. Chiều hôm đó Sư Ông tự tay đong gạo và vo gạo nấu cơm. Cái nồi cơm điện có chút xíu mà cũng nấu đủ cho bốn người ăn! Cô Phượng làm món nấm kho tiêu rất đậm đà. Một tháng trời ở Sơn Cốc, bữa cơm nào cũng ngon, cũng tràn đầy hạnh phúc. 

Tối hôm đó Sư Ông bảo hai chị em đi đánh răng rồi đi ngủ cho sớm. Sư Ông dẫn hai đứa vô phòng, che cửa sổ lại, đợi hai đứa nằm xuống rồi Sư Ông mới tắt đèn và đóng cửa phòng lại. Sư Ông ra khỏi phòng không lâu thì Anh-Hương ngồi dậy.  Có một nguồn năng lượng gì rất mạnh đang trồi lên, buộc mình phải ngồi dậy. Không gian Sơn Cốc bình yên, mát mẻ, thân thương và dễ chịu quá. Một lúc sau mình nằm xuống lại và thiếp đi lúc nào không biết. Khi thức dậy trời còn tối hù mà mình cảm thấy rất là tỉnh táo. Ngay lúc đó trong mình dấy lên một niềm vui mênh mông khó tả, và mình nằm đó cho tới khi trời lờ mờ sáng thì lò mò xuống bếp. Sư Ông đang nấu nước pha trà. Sư Ông hỏi “Ngủ được không con?”. “Dạ được, thưa Sư Ông”. Bây giờ nhớ lại mình hơi tiếc đã không kể hết cho Sư Ông nghe những gì xảy ra trong lòng mình đêm hôm đó. Hồi đó mình đã 19 tuổi, vậy mà khi ở cạnh Sư Ông, mình cảm thấy đầy đủ và vui sướng như một đứa trẻ Chẳng suy nghĩ gì và cũng không có gì để nói. Sư Ông nói gì mình cũng thích và lắng nghe chăm chú. Sư Ông hỏi thì mình trả lời chứ mình ít khi kể chuyện cho Sư Ông nghe. 

Về đến Sơn Cốc hôm trước thì hôm sau Sư Ông mở tuyển tập thơ Hồng bay mấy lá của nhà xuất bản Lá Bối và chọn cho mỗi đứa một bài để đọc, đọc giọng Bắc trước rồi sang giọng Huế. Anh-Hương và Đức sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, nói giọng Nha Trang chứ chưa bao giờ đọc thơ giọng Bắc hay giọng Huế nên hai chị em chần chừ. Sư Ông nói: “đọc đi con! Thử đọc đi con!” Hai chị em thay phiên nhau đọc. Thầy trò đều không thể nhịn cười!

Một hôm Sư Ông đưa cho Anh-Hương tập nhạc mười bài Tâm ca do chính Sư Ông in lại để mấy cô cháu hát chung cho vui. Thế là ngày nào hai cô cháu cũng nghêu ngao mấy bài Tâm ca. Có những buổi chiều hay buổi tối, mấy thầy trò ngồi trong bếp văn nghệ rất vui.  Sư Ông cũng hát chung với mình và nhịp tay nữa.

Cô Phượng làm việc suốt ngày và thức khuya lắm. Sau khi mọi người đi ngủ rồi mà cô còn làm việc, tiếng máy đánh chữ lóc cóc vang ra từ phòng làm việc của cô. Ngày nào mấy cô cháu cũng được Sư Ông rủ ra ngoài đi dạo nhiều lần. Hai chị em đã được hái đào, mận, lê, sung với Sư Ông và thưởng thức ngay tại chỗ. Sư Ông pha trà nhiều lần trong ngày, và mỗi lần có bình trà mới là Sư Ông mời hết mấy cô cháu ngồi uống trà, chơi với Sư Ông. 

Sáng nào mấy thầy trò cũng ra sau nhà làm vườn, hạnh phúc lắm! Những ngày ở Sơn Cốc mình thấy Sư Ông làm đủ thứ hết: trồng rau, tưới hoa, cắt cỏ, bửa củi, phơi củi, mang củi khô chất cạnh lò sưởi trong bếp để đốt củi vào những buổi sáng sớm hay buổi tối trời lạnh. Ở Sơn Cốc có một cái máy in. Sư Ông viết lách, tự tay in sách và đóng sách lấy. 

Khoảng một tuần trước ngày Anh Hương và Đức trở về Mỹ, sau khi Sư Ông nghỉ trưa,  Sư Ông gọi Anh-Hương ngồi xuống bên cạnh, đưa cho Anh-Hương mấy trang giấy in khổ lớn và bảo: “Con đọc cái này đi!. Anh-Hương “dạ” rồi cầm lấy đọc từ đầu đến cuối. Đó là văn bản của 14 giới Tiếp Hiện. Sư Ông ngồi yên như quả núi. Vài phút sau, Sư Ông hỏi: 

– Được không con?

– Dạ hay, thưa Sư Ông

Bây giờ nhớ lại, Anh-Hương tự hỏi sao mình không thưa “Dạ được” mà lại nói “Dạ hay”?  Sư Ông đã đánh động tâm bồ đề nơi mình, mở lối cho mình bước tới trên con đường phụng sự của dòng tu Tiếp Hiện. Sau vài phút yên lặng, Sư Ông kể sơ về lịch sử dòng tu Tiếp Hiện rồi hai thầy trò ra ngoài đi thiền hành. Có gì rất mới lạ đang xảy ra trong mình.

Sáng hôm sau, trời còn mờ sương, Sư Ông khoác thêm áo len ra ngoài áo vạt hò, tay cầm theo cái kéo và đẩy cửa bước ra ngoài. Anh-Hương đi theo coi Sư Ông làm gì. Sư Ông cắt một bông hồng làm bình hoa đặt lên bàn thờ. Sau đó, Sư Ông gọi cô Phượng vào và nói: “Hôm nay Anh Hương thọ giới Tiếp Hiện”. Trong buổi lễ, Sư Ông lần lượt tuyên từng giới với câu hỏi: “Con có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không?” Anh Hương trả lời: “Dạ có”. Hôm đó là ngày 20 tháng 8 năm 1981. Sư Ông nhanh lắm, có ý gì là Sư Ông làm liền. Buổi lễ vừa xong, Sư Ông bảo: 

– Cô Phượng, nấu gì ăn cho vui.

– Dạ, xôi bắp hả Thầy?

Cô Phượng nấu rất nhanh, một loáng là xong. Mấy thầy trò ăn sáng xôi bắp mới nấu, thêm chút hành phi rất thơm. Sư Ông dùng hết chén xôi bắp thì múc thêm vào bát cho từng người, để lại chút xíu cho Sư Ông. Ăn xong Sư Ông cười và nói: “Vui quá!” rồi Sư Ông đứng dậy pha trà. Không khí Sơn cốc vui như Tết! Ngồi chơi được một lúc, Đức đẩy xe cút kít đi theo Sư Ông mang củi vào chất đầy bên lò sưởi trong bếp. Sau mấy chục năm sống xa quê hương, Sư Ông hạnh phúc được sống lại không khí gia đình.

BBT: Chuyện chị thọ giới Tiếp Hiện đã “ly kỳ” như vậy rồi, chắc sau đó còn nhiều chuyện “hấp dẫn” hơn phải không chị? Chị đã tiếp nhận những bài học gì từ Sư Ông? 

AH: Anh Hương qua Làng lần đầu vào tháng 7 năm 1984, và gặp nhiều người trẻ ở Làng, trong số đó có anh Thư (Chân Trí). Lúc ấy cô Phượng chưa xuất gia. 

Trong khóa tu mùa hè năm ấy, có một buổi lễ tụng giới Tiếp Hiện ở thiền đường Yên Tử, xóm Thượng. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng và thiền sinh cũng đã vào thiền đường đông đủ mà sao Sư Ông chưa tới? Anh Hương buộc phải đứng dậy đi lên phòng Sư Ông. Lúc đó Sư Ông đang nằm nhắm mắt trên tấm nệm đặt trên sàn gỗ. Sư Ông mở mắt khi thấy Anh-Hương bước vào. Anh Hương thưa với Sư Ông sáng nay có buổi tụng giới Tiếp Hiện, và mọi người đang đợi Sư Ông. Sư Ông nói: “Con làm đi”. Anh Hương nghĩ bụng: “Sư Ông ơi! Sư Ông có dạy con gì đâu mà Sư Ông biểu con làm!” Mình đứng đó như pho tượng không nói được gì, kể cả câu “Dạ con không biết làm”. 

Sau đó Sư Ông quay mặt vô tường rồi nói thêm: “Làm đi con. Đi đi con”. Anh Hương đoán Sư Ông bị đau bụng và tối qua Sư Ông không ngủ được. Một mặt thương Sư Ông đau bụng và biết Sư Ông cần nghỉ ngơi. Mặt khác thì không biết phải làm gì trong tình huống này! 

Mình chưa bao giờ hướng dẫn một buổi lễ tụng giới, huống gì tụng giới bằng tiếng Anh. Sư Ông bảo đi thì mình đi. Vô tới thiền đường rồi sao nữa? Tuy đã 22 tuổi, Anh Hương thấy mình vẫn còn bé trong không khí trang nghiêm của một buổi tụng giới mà trước đó Sư Ông luôn là vị chủ lễ.  Mình cũng chưa bao giờ dâng hương trước tăng thân! Nhìn quanh không có ai để cầu cứu nên mình phải ngồi vào chỗ Sư Ông thôi! Rồi buổi tụng giới hôm ấy cũng đã hoàn tất. Lòng mình cảm thấy nhẹ và vui. Có lẽ hồi đó mình còn trẻ nên học gì cũng nhanh. Sư Ông thấy mình rõ hơn là mình thấy mình, và Sư Ông đã “đẩy” mình đi. Chưa bao giờ Sư Ông “đẩy” mà mình “té”. Vấn đề là mình có chịu đi hay không. Sau những lần “bị” Sư Ông “đẩy” như vậy, Anh Hương thấy mình có “lớn” ra – không phải lớn tuổi đời hay tuổi đạo, mà lớn hơn bản thân mình, lớn hơn cái mình tưởng là mình, vì trong mình còn có đất Mẹ, có Bụt, Sư Ông, có tổ tiên tâm linh và huyết thống.

Một buổi chiều trong khóa tu mùa Hè ở Làng Hồng năm 1991, Anh Hương và anh Thư vào chơi với Sư Ông ở cốc Hoa Cau, Xóm Hạ. Lúc đó Sư Ông đang nằm võng. Mình đang nói chuyện vui, tự dưng Sư Ông nói: “Năm sau các con về nhận truyền đăng”. Cả hai đều giật mình khựng lại: “chưa được đâu, thưa Sư Ông”. Trong đầu mình nghĩ truyền đăng là phải giảng dạy, mà mình biết gì mà dạy. Sư Ông cười qua ánh mắt sáng trong, hiền hòa và tràn ngập tình thương, rồi Sư Ông hỏi: 

– Con có hạnh phúc không?

– Dạ có chứ Sư Ông

– Về đây con có vui không?

– Dạ, vui lắm.

– Vậy con nhận đèn thôi. 

– Dạ nhưng mà con không biết dạy.

– Đâu cần dạy, con vui thì con chia sẻ hạnh phúc của con thôi.

Mình  có ý muốn phân bua gì đó nhưng biết Sư Ông “đẩy” thì mình “đi” thôi, không thưa thêm gì nữa. Mùa Hè năm sau, 1992, Anh Hương và anh Thư trở về Làng để được Sư Ông truyền đăng. Để Anh Hương chia sẻ bài kệ truyền đăng Sư Ông trao cho mình:

 

 

 

Chân tâm ươm hạt quý

Ý vun bón vườn nhà

Thanh thản cùng năm tháng

Lòng đất tự đơm hoa.

 

 

 

Sau phần truyền đăng sáng hôm đó, Sư Ông dẫn đại chúng đi thiền hành xuống đồi mận. Mình được ăn trưa với Sư Ông và Sư cô Chân Không ở cốc Hoa Cau. Sư Ông vui và đói bụng nên dùng bữa trưa khá lắm. 

Vài hôm sau, mình đang ngồi chơi, uống trà với Sư Ông trong cốc Ngồi Yên ở Xóm Thượng, có cả anh Arnie Kotler (Chân Đắc) từ nhà xuất bản Parallax Press, Sư Ông đứng dậy lấy giấy và viết để thầy trò cùng thảo một tờ giới thiệu cho khóa tu (flyer) do mình hướng dẫn. Sư Ông mới truyền đăng xong là “bắt” mình làm khóa tu liền! Lúc đó, Anh Hương đang làm khảo cứu ở trường Đại học Georgetown, anh Thư thì làm việc ở một hãng công nghệ thông tin. Sư Ông gấp tờ giấy làm ba rồi giao cho anh Arnie làm phần còn lại. Cuối cùng mình có tờ flyer mẫu mang về Mỹ để in. Khóa tu diễn ra vào tháng 12 năm 1992 ở West Virginia với chủ đề Touching Peace.  Chân Ý và Chân Trí nhìn vào mấy tờ rơi giới thiệu khóa tu vừa được in ra trên giấy màu mà lòng đã thấy vui rồi. Vui vì biết mình đang được tiếp nối Sư Ông trên con đường tu tập giúp đời. 

Khóa tu bắt đầu vào chiều thứ sáu. Từ trong phòng ngủ trên lầu nhìn xuống, Anh Hương có thể thấy thiền sinh đang kéo va-li từ bãi đậu xe tiến về phía bàn ghi danh nhận phòng. Có những người dáng dấp như cầu thủ đá banh, có những người độ tuổi cô chú hoặc ông bà của mình. Anh Hương cảm thấy bé bỏng và bắt đầu thấy hơi run: “Thôi chết rồi, mình đang ngồi trên lưng cọp!” Thiền sinh đến ngày càng đông. Càng nhìn mình càng run, nhưng vì tò mò nên vẫn cứ nhìn. Mình đã đi kinh hành trong phòng cho tới giờ vô thiền đường để cho hướng dẫn tổng quát. Tối đó mình bỏ ăn luôn.

Từ trong phòng bước xuống cầu thang đi vào thiền đường, một bên mình nắm tay Sư Ông, bên kia nắm tay Bụt. Từng bước một, mình xin Bụt và Sư Ông dẫn dắt mình bước đi như một em bé. Chỉ đi thôi, không suy nghĩ gì cả, không phải làm gì hết. Bụt và Sư Ông làm hết cho mình. Trong mình bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu và hạnh phúc! Trong thiền đường, mọi người đang ngồi yên lặng và trang nghiêm. Mình bước đến chỗ ngồi đã sắp sẵn rồi cùng ngồi xuống với Bụt và Sư Ông. 

Năm 1980, lần đầu Sư Ông qua thăm nhà ở New Jersey, sáu tháng sau khi cả nhà vượt biên sang Mỹ. Một hôm Sư Ông gọi: “Anh Hương, con vô nằm đây. Để tay lên bụng. Con thở đi. Con thấy bụng phồng lên, bụng xẹp xuống không?” Rồi Sư Ông bước ra khỏi phòng. Chỉ có mấy câu nhưng bài học đó đã giúp Anh Hương qua được khóa tu lịch sử này. Từ đó tới giờ, lúc nào mình cũng có Bụt và Sư Ông ngồi hai bên khi mình cho pháp thoại. 

BBT: Sau đó chị Anh Hương có kể cho Sư Ông nghe không?

AH: Dạ Anh Hương có kể. Sư Ông cười và nói: “Thầy bậy quá!” (và cười). Có điều này rất vui mà không mấy ai biết: lúc đó Bảo Tích đang nằm trong bụng Mẹ và đã cùng Mẹ trải qua khóa tu đầu đời!

BBT: Hơn 40 năm tu học, chị cảm nhận như thế nào về dòng tu Tiếp Hiện và đạo Bụt dấn thân? Theo chị, Sư Ông muốn mình tiếp nối điều gì?

AH: Theo mình thì đạo Bụt dấn thân, thể hiện qua dòng tu Tiếp Hiện, là con đường hiểu thương vô tận. Năng lượng để đi tới trên con đường bồ tát này được làm bởi Giới, Niệm, Định và Tuệ. Tu tập như đào giếng, đào trúng mạch nước thì ta có luôn cả một giếng nước để sử dụng. Mạch nước tình thương khơi mở rồi thì ta trở thành bàn tay, con mắt và trái tim của bồ tát Quan Thế Âm. 

Sư Ông rất vui khi thấy các học trò của Thầy đang tu tập hết lòng để chữa lành thương tích, xây đắp tình huynh đệ và xây dựng tăng thân khắp nơi. Có lần Sư Ông nói: “các con đều là tiếp nối của Thầy. Các con đang đưa Thầy đi về tương lai, làm gì cũng có Thầy bên cạnh và làm chung với các con.” Nơi nào có tăng thân là nơi đó có Bụt, có Pháp và có Thầy.

Mười bốn giới Tiếp Hiện được làm bởi chất liệu của hiểu và thương. Khi năng lượng chánh niệm còn yếu ớt, một bức xúc có thể dẫn mình vô vòng phân tích, lý luận, có khi còn dùng cả giới luật để chứng minh ai phải ai trái. Khổ đau không phải vấn đề cần giải quyết, mà là vết thương cần được chăm sóc bằng linh dược của hiểu và thương. Khi bị kẹt vào giới thì giới trở thành chướng ngại, bít lấp con đường lý tưởng từ bi và giải thoát. Khi cái hiểu về tương tức còn nằm trên bình diện trí năng thì tuệ giác tương tức vẫn còn như một trái đào xanh. Năng lượng niệm và định dồi dào thì trái đào tuệ giác sẽ chín. Lúc đó tình thương cam lộ ứa ra như dòng suối thấm mát thế gian. 

Dạo này tăng thân mình thực tập câu thần chú “Chỉ thương thôi!” Ta không cần phải gồng mình hay phải làm gì nữa để thương. Hiểu đã là thương rồi! 

BBT: Có bao giờ chị cảm thấy ba chữ “Chỉ thương thôi” khó không?  Có lúc nào chị cảm thấy rất khó thương mà vượt qua được không?

AH: Dạ, có chứ. Là học trò Sư Ông, mình nguyện học hiểu, học thương vì biết tình thương là phương thuốc mầu nhiệm trị liệu khổ đau cho mọi người. Tuy nhiên có lúc mình cảm thấy sao người kia khó thương quá. Mà người kia ở đây cũng có khi là chính mình! Mình kiên nhẫn và cố gắng nhiều nhưng tình trạng dường như không chuyển đổi, và mình cảm thấy không còn sức để thương. Có khi mình nghĩ: “Thôi, chịu thua. Ai cũng có chỗ đứng của họ trong trời đất, có gì mà lo.”

Đó là khi mình chưa hiểu đủ để thấm thía cái khổ trong lòng người. Cái mình gọi là quán chiếu khổ đau có thể chỉ là suy tư quanh quẩn từ trí năng, thiếu sự cảm nhận. Cái mình gọi là tuệ giác cũng chỉ là một khám phá, tuy có mới, nhưng mới chỉ là một góc của thực tại! Tình thương phát xuất từ cái thấy nhỏ bé đó không đủ để ôm trọn những tình huống thật sự khó khăn. Nếu không có những vị Bồ Tát, những vị thầy giỏi khai thị thêm cho mình thì làm sao ta có thể hiểu hết gốc rễ của khổ đau trong mình và người? Mình tự hỏi quán chiếu khổ đau đến bao giờ mới đủ hiểu sâu để mà thương lớn, phải đợi đến bao giờ mới khơi được suối yêu thương ở trong lòng? “Chỉ thương thôi” là pháp môn tối hậu khi ta không biết phải làm gì nữa. Mình buông thanh gươm trí năng, vất đi cái áo giáp bản ngã. Ba chữ “Chỉ thương thôi” là câu thần chú giúp ta đi thẳng vào bản môn trong khi hai chân đang dẫm trên bùn đất của tích môn. Tình thương sẽ mang nhiều chất liệu tự do và giải thoát hơn. Con đường Bồ Tát sẽ rộng mở – ta giúp đời mà cảm thấy như ta không phải làm gì hết. Ta sẽ có rất nhiều năng lượng. Mình buông hết cho tuệ giác vô ngã dẫn đường mình đi. 

BBT: Chị có ước mong gì muốn gửi gắm đến gia đình Tiếp Hiện nhân dịp kỷ niệm 60 năm? 

AH: Các tăng thân Tiếp Hiện giống như những ốc đảo giữa sa mạc nóng bức. Tăng thân là nơi chốn quay về của tất cả chúng ta. Hôm nay Anh Hương có dịp chia sẻ với các em Tiếp Hiện trẻ trong khóa tu này: “Xây dựng tăng thân, bước đi trên con đường Bồ tát, là dấn thân rồi. Cánh cửa bước vào tăng thân chưa bao giờ khép lại. Tăng thân không loại trừ ai, không phân biệt mầu da, tôn giáo hay khuynh hướng chính trị nào.” 

Chỗ mình ở, có người hàng xóm phản đối chuyện kỳ thị. Trên sân cỏ nhà họ có cắm tấm bảng “Hate doesn’t have a home here”, nghĩa là “Hận thù không có chỗ trên đất nhà tôi”. Anh Hương nói với các bạn trong tăng thân là tâm thù hận cũng có chỗ ở trong tăng thân. Điều đó không là lý thuyết mà là bầu không gian an toàn, năng lượng chánh niệm và tình thương mà mọi người cảm nhận được khi về với tăng thân. Xây dựng tăng thân vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh cho con đường lý tưởng, con đường dấn thân của dòng tu Tiếp Hiện. 

Tâm bồ đề là niềm ao ước mãnh liệt được đem hết năng lực và thì giờ mình có để tu tập và giúp cho mọi người tu tập. Mười bốn giới Tiếp Hiện là thể hiện của bồ đề tâm. Tăng thân là mảnh đất nuôi dưỡng và bảo vệ bồ đề tâm của mình. Nhưng để thật sự quy tụ được năng lượng đi về chiều hướng dấn thân, trong cuộc sống hỗn độn với nhiều thử thách về mọi mặt, Anh Hương mong ước các anh chị em Tiếp Hiện mình không quá bận rộn để chúng ta có đủ thì giờ và năng lượng để về với nhau, xây dựng tình huynh đệ và chăm sóc cho gia đình Tiếp Hiện. Ngoài chuyện tụng giới chúng ta cần có những sinh hoạt khác để tạo nên một không gian dễ thương, nơi mà mọi người đều có thể thư giãn, nghỉ ngơi và hồi phục. Hiện nay tình trạng thế giới rất bất ổn. Một tăng thân đích thực sẽ giúp chúng ta thực tập ái ngữ và lắng nghe. Ai cũng cảm thấy an toàn đủ để chia sẻ cái thấy của mình, có khi đối nghịch với những thành viên khác về những chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội, khí hậu và nhiều vấn đề khác của thời đại. 

Chúng ta nguyện thường xuyên làm mới tăng thân. Hạt giống bồ đề tâm dù có mạnh cách mấy mà đất không mầu mỡ, cung cấp đủ chất bổ dưỡng thì hạt giống ấy không thể nứt mầm được và sẽ khô héo đi. Nếu tăng thân èo uột và có nhiều khó khăn, phần lớn là từ những tranh luận đúng sai, thì chúng ta cần nhìn kỹ để thấy tranh luận đó không bao giờ giúp mình mở lòng ôm ấp được cái khổ đau chung của huynh đệ. Câu thư pháp của Sư Ông: “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm” (The Way Out Is In) nhắc cho chúng ta gốc rễ khổ đau của mình luôn nằm sẵn trong mình, và thiền tập là quay về bên trong để lắng nghe và chăm sóc lấy mình. Thực tập làm mới được với chính mình là mình cũng bắt đầu làm mới với huynh đệ và với tăng thân cùng một lúc. Sư Ông từng dạy nếu chúng ta muốn tu tập thành công, chúng ta phải tìm cách thực tập để sống hòa ái với nhau, kể cả với những người khó tính. 

Suốt cuộc đời Sư Ông, ngay cả thời gian khi Sư Ông bị đột quỵ cho tới những giây phút cuối ở chùa Tổ, không ngày nào Sư Ông không bồi đắp tình thầy trò và tình huynh đệ. Sư Ông từng nói: “Các con mỗi đứa đều là sự tiếp nối của Thầy. Anh chị em các con đang thương yêu, chăm sóc và nâng đỡ cho nhau là các con đang nuôi Thầy.” 

Mình đang để lại gì cho thế hệ sau? Con cháu đang nhìn cách mình đối xử với nhau. Mình sống như thế nào để mai sau con cháu mình nhớ đến mình như tổ tiên tâm linh  của chúng. Mình tu tập như thế nào để là sự tiếp nối đích thực của Thầy, tiếp tục khơi suối yêu thương. Ngày trước mình đến với Thầy thì tình thương của Thầy đánh động đến trái tim mình như thế nào thì giờ đây mình tu tập làm sao để các thế hệ trẻ có thể gần gũi mình như thế đó.

Tết Bính Ngọ 2026

VÈ TẾT LÀNG
 
Vè vẻ vè ve
Nghe vè kể chuyện
Bính Ngọ xuân sang
Cả Làng mở hội
Ăn Tết đông vui.
 
Bánh tét bánh chưng
Nấu đêm hăm sáu
Bốn nồi đỏ lửa
Mưa tạt bạt lều
Mà chẳng đánh xiêu
Tiếng đàn tiếng hát.
 
Thuỷ tiên vàng rực
Nở sáng núi đồi
Mai trắng, mận hồng
Đào thẫm, tầm xuân
Cùng nhau dâng sắc.
 
Một cành cúng Bụt
Một nhánh dâng Thầy
Chị em cùng nhau
Sửa sang phòng ốc
Dán câu đối đỏ
“Vững chãi núi xanh
Thảnh thơi mây trắng”
Sửa soạn bánh mứt
Thiết khách viếng nhà.
 
Giao thừa bình thơ
Sư cô Định Nghiêm
Kể chuyện Tết Làng
Sáu giờ tối điểm
Không giờ Việt Nam
Bát Nhã rền vang
Chuông trống trầm hùng
Hồn thiêng đất Á
Vang giữa trời Âu
Giờ thiêng đã điểm!
Lòng dạ chí thành
Hướng lời khấn nguyện
Đại chúng đồng thanh
Chắp tay đọc tụng
“Bài kinh Đất Mẹ”
Hải triều uy hùng
Mừng khắc Nguyên Đán.
Văn nghệ miệt vườn
Chung vui đầm ấm.
 
Mồng một múa lân
Lạy nhau đầu năm
Bói Kiều mấy quẻ
Xóm Thượng mở cửa
Đón khách viếng phòng
Trà, mứt, hạt dưa
Quây quần thăm hỏi.
 
Mồng hai Xóm Hạ
Lân lại tưng bừng
Nhảy điệu “Xuân ơi”
Rước khách chung vui
Đào hồng nở thắm
Bánh chưng dưa món
Ai cũng tấm tắc
“Ngon!”.
Rồi đến Xóm Mới
Ngày hội ẩm thực
Bánh đúc, gỏi cuốn
Nem nướng thơm lừng
Bắc, Nam, Trung đủ
Mùi vị hương sắc
Lại thêm bàn giấy
Bên nghiên bút mực
“Ông đồ” cho chữ.
Xuân lai xuân khứ
Niềm vui không tuổi
Tiếng cười trong vắt
Ánh mắt trẻ thơ
Nắng xuân lấp lánh
Mái tóc bạc phơ
Ông tiên truyện cổ.
 
Về ăn Tết Làng
Bạn ơi xuân sang
Về ăn Tết Làng
Nhớ đến, nhớ đến
Là lá là la…
 
Chúc đồng bào trên khắp mọi miền đón một năm mới bình an, hạnh phúc!
“Vững chãi như núi xanh
Thảnh thơi dường mây trắng”.

Tung cánh đại bàng

Hòa thượng Thích Phước Tịnh

(Trích pháp thoại ngày 28.3.2025 của HT. Phước Tịnh trong Đại Giới Đàn Nước Tĩnh tại Làng Mai, Pháp)

 

Về Làng

Tôi nhớ lần đầu tiên đến Làng Mai vào năm 2001. Khi ấy, tôi chỉ là đến Làng, chứ chưa phải là về Làng. Trong tiếng Việt, hai từ này mang những nội hàm rất khác nhau. “Đến” là ghé qua rồi đi, còn “về” là trở lại một nơi đã gắn bó, trở thành một phần của xương thịt và tâm hồn.

Làng Mai không chỉ là một địa điểm. Làng là ngôi nhà tâm linh, là bến đỗ của đời sống tinh thần, là nơi có thể chắp cho ta một đôi cánh để bay cao, bay xa. Điều này đúng với người cư sĩ về tu học, và lại càng đúng hơn đối với người xuất gia.

Sư cô Chân Không từng chia sẻ một câu có thể ứng dụng cho tất cả các thầy, các sư cô, cũng như các vị giáo thọ và Tiếp Hiện cư sĩ: “Sư Ông và đại chúng đã chắp cho các vị mỗi người một đôi cánh. Các vị có quyền bay vào một không gian rất mênh mông. Nếu năng lực tu tập và khả năng học hiểu Phật pháp dâng đầy nơi thân tâm, thì chắc chắn chúng ta sẽ là những con đại bàng bay rất cao”.

Khi một người phát nguyện xuất gia và thọ pháp với Sư Ông, người ấy được Sư Ông và tăng thân tặng cho một đôi cánh. Tuy nhiên, bay cao hay thấp, bay vào vùng trời nào, lại tùy thuộc vào nội lực và bản hoài tu tập của mỗi người. Nếu chỉ biết chắp cho mình đôi cánh của loài quạ thì dù bay tới đâu cũng chỉ thấy những gì thấp kém. Nếu chắp cho mình đôi cánh của phượng hoàng, nơi đậu sẽ là cành ngô đồng. Và nếu có được đôi cánh của đại bàng, vùng trời bay vào sẽ là không gian bát ngát. Khi ấy, không cần chứng minh mình là đại bàng; phẩm chất nhân cách, cách nói năng và lối hành xử tự nhiên sẽ ngày càng cao rộng.

Tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Gần một phần tư thế kỷ nhìn lại, mới thấy chúng ta là những người vô cùng may mắn. Chúng ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trong vòng tay thương yêu của Sư Ông và tăng thân. Đó là một món quà hết sức lớn lao. Trân quý ân đức ấy không nhất thiết là phải làm thêm điều gì lớn lao. Chỉ cần sống cho xứng đáng: sống gắn bó, sống thương yêu, sống biết nuôi dưỡng tự thân, để thành tựu được phần nào bản hoài của người đã dốc trọn tâm từ và trí tuệ vào đời sống của chúng ta.

 

Công trình hoằng pháp tại Tây phương

Về Làng lần này, tôi có cái nhìn rất nể phục và ngưỡng mộ đối với những sinh hoạt do các thầy, các sư cô tổ chức. Sự viên mãn của Đại giới đàn Nước Tĩnh khiến người ta dễ nghĩ rằng sự kiện này được tổ chức bởi những vị thầy có tuổi đạo cao hoặc đã tu học nhiều năm. Nhưng thực tế không phải vậy; phần lớn công việc lại được đảm trách bởi những thầy, những sư cô còn rất trẻ. 

Nếu đại chúng có dịp quan sát sinh hoạt tôn giáo lễ nghi ở nhiều nơi — nhất là trong Phật giáo truyền thống, đại chúng sẽ dễ nhận ra những điểm nổi bật: sinh hoạt của Làng Mai giản dị nhưng trang nghiêm, có năng lượng tâm linh và có sự yểm trợ hùng hậu của tập thể Tăng già. Chưa kể đến sự có mặt của các Phật tử, các thiền sinh tới hộ niệm cho chúng ta.

Trong các buổi truyền đăng, khi một thiền sinh được nhận đèn, những lời giáo giới và chia sẻ của các thầy, các sư cô giáo thọ rất tuyệt vời. Tôi cũng lắng nghe những bài thơ, kệ kiến giải của các thiền sinh đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Ireland, Indonesia, Hoa Kỳ, Pháp, Ý… Những bài kiến giải ấy đều cho thấy chất liệu tu tập tâm linh và khả năng biểu đạt rõ ràng tâm nguyện mà Sư Ông đã trao truyền.

Điều này cho thấy công trình hoằng pháp của Sư Ông đã mang lại những lợi ích sâu rộng, vượt ra ngoài biên giới văn hóa và địa lý, lan tỏa tới nhiều vùng đất và cộng đồng khác nhau trên thế giới.

Để hoằng pháp thành công và gieo được hạt mầm Phật pháp vào lòng người Tây phương không phải là điều dễ dàng. Trước hết, người đó phải am tường văn hóa Tây phương. Kế đến, phải có chiều sâu vững chắc trong đạo Bụt Đông phương. Và quan trọng không kém, phải hình thành được một mô hình sinh hoạt tổ chức giúp tăng đoàn có đời sống thực tập vững chãi, nhưng vẫn đủ cởi mở để người trẻ có thể đến tu học. Từ những điểm đó, chúng ta có thể nhận ra rằng không dễ có một vị thầy hội đủ khả năng đem đạo Bụt đến vùng đất Tây phương như Sư Ông đã làm.

 

Nhìn lại công trình hành đạo của Sư Ông, chúng ta có thể thấy rằng nếu không có sự hộ niệm của thập phương Tam bảo, sự gia trì của lịch đại Tổ sư, cùng với bản hoài vô cùng lớn lao là đem đạo Bụt hiến tặng cho nhiều người đến tu học, thì chắc chắn Sư Ông không thể tạo nên bước đột phá quan trọng như đã làm: đặt nền tảng cho đạo Bụt có mặt nơi Tây phương, để người Tây phương có thể đến thọ nhận và thực tập giáo pháp. 

Điều tuyệt vời là, dường như Sư Ông không đặt nặng tính ràng buộc về tổ chức, không bắt những thiền sinh đến tu tập phải hoàn toàn tuân phục hình thức như những truyền thống tâm linh khác. Họ có quyền ứng dụng nội dung giáo lý vào đời sống, làm cho đời sống bản thân thay đổi, thăng hoa, làm cho hạnh phúc có mặt nơi chính mình, có mặt nơi thế hệ con em và hiến tặng điều tuyệt vời này cho xã hội là đủ, không nhất thiết phải trở thành Phật tử. Với cái nhìn độ lượng, một tâm thái của bậc đạo sư như vậy nên Sư Ông đã làm mới lại chánh pháp của Bụt để tặng cho người Tây phương. Và thành quả như chúng ta thấy hiện nay là rất nhiều người từ nhiều quốc gia khác nhau có thể đến với các trung tâm thực tập của Làng Mai, xem Làng Mai là nơi để trở về. 

Gần một phần tư thế kỷ trôi qua, nhìn lại, tôi thấy các sư anh, sư chị lớn ở đây đều rất trưởng thành. Không chỉ có khả năng dắt dẫn một Đại giới đàn rất toàn mỹ, các thầy các sư cô lớn còn có cách cư xử, nói năng, truyền đạt rất đẹp và nhân cách rất tuyệt vời. Chỉ cần làm ngần ấy việc để làm chỗ nương tựa, không phải chỉ cho đại chúng xuất gia mà còn cho rất nhiều người cư sĩ Tây phương đến với Làng để tu tập, như vậy là các vị đã xứng đáng với công trình Sư Ông đã gầy dựng mà mình đang được thừa hưởng. 

 

Bồ đề tâm – Nền tảng tâm linh

Điều tiếp theo tôi muốn trình bày với đại chúng, đó là không phải tự nhiên hay đơn giản mà chúng ta có được một đoàn thể lớn mạnh, đẹp, hào hùng và rất bền chặt như vậy. 

Nền tảng đầu tiên là công trình pháp hành trì và pháp học mà Sư Ông đã gầy dựng. Nếu không có nền tảng này, chắc chắn chúng ta không thể có được sự phát triển như các xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới hôm nay.

Nền tảng thứ hai vô cùng quan trọng chính là nội lực của mỗi người chúng ta. Khi nội lực tu không có, dù cho Sư Ông và tăng thân có chắp cho ta đôi cánh thiên thần, ta cũng không bay lên được. Vì vậy, sự phát triển bền vững con đường tu của mỗi người là rất quan trọng. Sự phát triển này được hình thành bởi nhiều yếu tố: 

Yếu tố đầu tiên ta muốn vững chắc trên đường tu đó là tâm bồ đề đủ vững, đủ sâu và chắc. Tu không thể theo thời thượng hay cảm tính: nay siêng tu rồi mai buồn, chán đạo. Một khi đã phát nguyện đi vào đời sống tu tập là dâng hiến trọn vẹn thân tâm này cho Tam bảo. Những bậc đạo sư lớn, những bậc thầy thật sự có được năng lực giác ngộ nhất định đều như vậy. Không có con đường khác, một là tu, hai là chết – không có đường lui. 

Yếu tố thứ hai là tâm bồ đề không phải chỉ phát một lần là đủ, mà cần được nuôi dưỡng từng ngày. Sự nuôi dưỡng gần nhất là tình huynh đệ, không gian sống và môi trường sinh hoạt. Tại Làng Mai, các vị có một không gian rất tuyệt vời, được sống trong một cộng đồng pháp lữ gồm những người đồng tu, đồng phạm hạnh, nói theo cách đời thường là những người dễ thương. Các vị còn được thừa hưởng một nếp sinh hoạt rất ổn định, được thiết kế bởi chính đạo sư của mình là Sư Ông. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tự thân tùy vào mức độ siêng năng hay lười biếng của mỗi người. Chúng ta có quyền nuôi mình để chắp cánh bay tới trời cao, chứ không phải để bay vào đời sống phàm thường. Do vậy, nếu nơi tâm thức của chúng ta, chất liệu tâm bồ đề còn rất tốt đẹp thì chúng ta phải tự biết cách nuôi dưỡng mình, chứ không một ai có thể giúp ta tự giỏi, tự thăng hoa và tu hành tiến bộ được. 

Yếu tố thứ ba của sự phát triển tâm linh bền vững, đó chính là pháp học và pháp hành. Khi pháp học được tăng trưởng, thì pháp hành của các vị tự nhiên thành đạt. Khi hiểu được chánh pháp, quan sát, ý thức được đời sống này có những bất trắc, không toại ý và vô vàn điều chực chờ đánh phá ta – trong khi quỹ tuổi thọ không cho phép ta sống nhàn nhã qua ngày. Khi ý thức được điều này, ta nhận ra rằng năng lực học hiểu chánh pháp làm đời sống mình thăng hoa, nó đến với ta từng ngày chứ không phải là tính từng tháng hay từng năm. Và khi năng lực học hiểu chánh pháp đủ giàu, đủ vững, tự nhiên các vị đi vào pháp hành một cách rất nhẹ và làm thay đổi được thân tâm. Pháp hành – pháp học không phải là món quà tự nhiên của trời ban, mà là kết quả của nội lực tu tập và nỗ lực kiên cường của mỗi người trên con đường hành trì.

Khi pháp học tăng trưởng, pháp hành tự nhiên đầy. Pháp hành đầy, không phải là tu căng thẳng, khô cứng mà lúc đi đứng, nói cười, nâng bát, rót nước, đặt dép… trong mọi sinh hoạt đều trú được trong trạng thái tâm an định, luôn có chánh niệm để phòng hộ. Đây là người thành đạt được pháp hành sâu sắc nhất. Đời sống, nhân cách của người đó sẽ tự tỏa sáng và tự biểu hiện thành đạo đức vô hành. Người đó nghiễm nhiên hoàn thiện về nhân cách tu, cách ứng xử, nói năng khi giao tiếp với người. Khi tiếp xúc với thiền sinh mà có phẩm chất của sự tu học, người đó tự nhiên đã trở thành một vị giáo thọ đích thực mà không nhất thiết nhận đèn giáo thọ. Không nhất thiết các vị phải là một giáo thọ uy tín, giảng dạy cho hàng ngàn người hay phải làm cho muôn người kính phục. Hãy là một người bình thường, sống lặng lẽ giữa đại chúng. Có những người cảm ân đức của chư tăng không phải vì chư tăng nói hay, mà vì về đến chùa được nhìn thấy các thầy, các sư cô đi, đứng, nói, cười bình an và tĩnh tại. Đôi khi những lời nói của mình theo gió mây bay nhưng những việc làm, những cử chỉ nhỏ của mình tạo thành ấn tượng khiến một đời người ta không quên. 

Nếu nền tảng ta không vững, đôi khi mình tu nhưng không có niềm vui. Khi niềm vui tu học – pháp hành không có, chắc chắn sẽ có những khoảng trống của tâm hồn, khát khao về đời sống hướng ngoại và chúng ta rất dễ đánh mất đời tu. Ngược lại, nếu nền tảng tu ta thiết lập vững chắc, trên nền tảng bồ đề tâm, trên nền tảng pháp học và pháp hành, chúng ta tự nhiên hiến tặng được hoa trái của công phu tu tập tự thân đến với muôn người. Không cần phải chứng minh điều gì cả.  

 

Dòng tu Tiếp Hiện và nền tảng thiền tập Làng Mai

Từ thập niên 1960, Sư Ông đã viết cuốn“Đạo Phật Hiện Đại Hóa”, trong đó có đề xuất hai dòng tu: Thể Nhập và Tiếp Hiện.  

Tiếp Hiện là dòng tu đóng vai trò gạch nối giữa cư sĩ và xuất sĩ. Các vị Tiếp Hiện có trách nhiệm làm cho chánh pháp của Như Lai sáng bừng trong nhân gian bằng chính đời sống tu tập của mình mà không phải chỉ là nhận đèn hay khoác lên người chiếc áo Tiếp Hiện. Ta phải nếm cho được hương vị pháp, làm cho thân tâm yên vui rồi đem niềm hỷ lạc đó cống hiến cho gia đình, xã hội và lấy tâm vị tha làm thành nền tảng của đời sống tu tập. “Vị tha” trước hết là vị tha với chính bản thân, rồi mở rộng ra người thân, hàng xóm và xã hội. 

Là người cư sĩ Tiếp Hiện, không làm cho đời sống mình hạnh phúc là điều sai căn bản. Điều sai thứ hai là không nuôi dưỡng được hạnh phúc của gia đình và của bạn đồng tu. Sai lầm thứ ba là, nếu sống trong môi trường đa văn hóa, đa chính kiến mà thiếu bao dung, không hòa hợp được để thực tập và giúp người hạnh phúc thì cũng chưa làm tròn vai trò Tiếp Hiện. Trong sách Đạo Phật hiện đại hóa, Sư Ông còn dạy rằng các cư sĩ Tiếp Hiện mỗi năm cần trở về an cư ba tháng với chư tăng để thực tập. Tăng sĩ dành một đời người học pháp vẫn chưa thấy đủ. Người cư sĩ mỗi ngày ngoài đối diện với vấn đề cơm ăn áo mặc, với những xao động bất an của cơ chế chính trị – xã hội, còn trách nhiệm mang đạo vào đời. Nếu không có gốc rễ tâm linh vững vàng, ta dễ bị tiêu hao rồi tự làm khổ mình trước khi giúp được ai.

Điều này đối với cộng đồng Tiếp Hiện Tây phương, tôi nghĩ các vị đã ứng dụng được ít nhiều. Mỗi năm các vị đều tìm cách về Làng để tu tập. Mỗi hai năm lại có khóa tu Tiếp Hiện vào tháng 6 tại Làng Mai Pháp. Dù thừa hưởng vô vàn phước điền từ Sư Ông trao truyền nhưng chúng ta cũng cần làm tốt hơn. Phần lớn những người Tiếp Hiện đều ở tuổi thất thập cổ lai hy, chưa thấy nhiều người trẻ. Có thể chúng ta còn cứng nhắc trong những hình thức Tiếp Hiện mà chưa thể linh hoạt giống Sư Ông. Chúng ta chưa biết làm thế nào ứng dụng được nội dung Phật pháp vào đời sống mà không bị hình thức bên ngoài cản trở. 

Tiếp Hiện có vai trò lớn trong sự hưng thịnh của Phật pháp và trong việc đền ơn Sư Ông đã khai mở dòng tu này. Đối với Tăng thân xuất sĩ, con đường tu không thể dừng lại, không có dấu chấm. Mỗi thành công chỉ là dấu phẩy để tiếp tục đi tới. Xã hội luôn vận động và biến chuyển không ngừng: hôm nay là vấn đề này, ngày mai đã là một thách thức khác. Để khế hợp với thời đại, Làng Mai chúng ta cần phải có được tuệ giác ở chiều cao để có thể đưa cánh tay ra giúp cho xã hội ổn định.

Nếu người tu không có tầm hiểu biết và chín chắn hơn nhân gian thì không thể là người dắt dẫn con đường tâm linh. Do vậy, một tu sĩ không có quyền dừng lại trong công trình phát triển tri thức, trí tuệ, công phu tu, và nhất là nội điển. Chúng ta không thể nghĩ rằng đã học với Sư Ông ngần đó, đã thừa hưởng sự tổ chức và nếp sống, văn hóa của Làng Mai là đủ. 

 

Từ Như Lai Thiền đến Thiền Đốn ngộ

 

Trên phương diện Phật học, Sư Ông truyền đạt pháp cho người Tây phương dựa trên nền tảng thiền Như Lai, tức là Tứ niệm xứ. Nhưng khi nhìn vào các bài giảng của Sư Ông trong bộ Truyền thống sinh động của thiền tập đạo Bụt, chúng ta nhận ra rằng Sư Ông còn giảng dạy thiền Đại thừa, qua đốn ngộ rồi đến thiền Việt Nam. Sư Ông đi ngang qua cả một chiều dài thiền tập, khéo léo dung hợp tinh hoa của các dòng thiền lại, “nấu” thành một loại thức ăn và giúp cho con người nếm được pháp lạc và có đời sống hạnh phúc.  

Nhìn cho sâu, ta thấy các dòng thiền trong đạo Bụt có liên hệ chặt chẽ với nhau. Như Lai thiền hay kinh tạng Nikaya là nền tảng cho thiền Đại thừa phát triển. Nếu chúng ta muốn hiểu được kinh tạng Nam truyền thì chúng ta phải thâm nhập vào kinh văn Đại thừa. Và muốn thâm nhập vào Như Lai thiền – thiền Tứ niệm xứ thì chúng ta phải đi ngược từ truyền thống thiền tập Việt Nam, ngược lại dòng chảy Đại thừa, trở về nguồn của Nguyên thủy để chạm tay vào những chữ “thở vào – thở ra”.

Thở vào, biết mình đang thở vào; thở ra, biết mình đang thở ra. Hơi thở căn bản này tưởng như đơn giản nhưng là nền tảng để đi vào thiền Đốn ngộ một cách dễ dàng. Trong thiền Đốn ngộ, có một công án nổi tiếng khi Tổ Đạt Ma chỉ dạy cho Tổ Huệ Khả: “Ngươi đem cái bất an đó ra đây, ta an cho”. Tổ đã trao cho ngài Huệ Khả phương pháp quay ngược về đối diện với cái tâm bất an, nhìn xem nỗi bất an đang ở đâu nơi tâm thức, cũng tương đương với Tứ niệm xứ: quay về quan sát cái đang xảy ra. Dù là hơi thở hay cảm giác bất an, chỉ cần nhìn thấy chúng như khách đến rồi đi, ta trở về với người quan sát. Tâm quan sát ấy chính là bản tính sáng ngời, vô niệm, là trí tuệ Bát Nhã, là chân thân, là Niết bàn, là “người thật” chưa từng sinh diệt. Khi an trú trong tâm ấy, không buồn vui hay phiền não nào có thể khuấy động; mọi ý nghĩ đều được ánh sáng tâm chiếu rọi và tan biến. Trong kinh văn Nikaya, Đức Thế Tôn gọi tâm ấy là tuệ tri, Sư Ông gọi là hiện pháp lạc trú.

Mỗi người đều có món quà quý: hình hài, tâm thức và khả năng tư duy. Tuy nhiên, ta làm đầy chúng bằng gì là sự lựa chọn của ta: đầy giận hờn, ganh tị thì đau khổ; đầy yêu thương, nhân hậu và trách nhiệm thì trở thành món quà cho đời. Khi đã xuất gia, ta được đồng đẳng từ mảnh y đến thời gian tu học; nếu biết làm đầy tâm thức bằng pháp lạc thì đời sống trở nên phong phú, thi vị. Nếu không khéo, ta tự hủy hoại đời mình và làm khổ bạn đồng tu. Tâm chứa gì thì đời sống hiện đúng điều ấy. Đời tu là một thử thách tuyệt vời nhưng cũng như một trò chơi: sau bao năm tu tập để tìm vô ngã, cuối cùng mới nhận ra vô ngã vốn đã có sẵn từ đầu.

Tu không phải là chuyện nhọc nhằn. Chỉ cần sống được như các thầy, sư cô – đi đứng thong dong, ăn trong chánh niệm, ngồi trong thảnh thơi – là đã có cái đẹp của đời sống tu rồi. Điều ấy đến khi ta thật sự nếm được hương vị của pháp.

 

 

Xuôi dòng về biển lớn

Sư Ông Làng Mai

(Trích pháp thoại của Sư Ông tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai vào ngày 8.6.2002 trong khóa tu 21 ngày. Pháp thoại được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.) 

 

 

Trở thành một với tăng thân

Nương tựa Tăng là một pháp môn rất thâm diệu. Ta đặt hết niềm tin vào tăng thân. Ta trở thành một với tăng thân. Là một giọt nước, ta sẽ không chắc là mình có khả năng ra tới đại dương hay không. Nhưng nếu là dòng sông, ta sẽ không cần lo lắng gì nữa cả. Chắc chắn là ta sẽ ra tới biển. Vấn đề là ta muốn làm một giọt nước hay trở thành dòng sông?

Ở Làng Mai, chúng ta thực tập coi tăng thân như là thân thể của chính mình; ta trở thành một với tăng thân. Chúng ta không muốn là một giọt nước mà muốn là dòng sông. Thực tập như một dòng sông, chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Nỗi khổ niềm đau của một cá nhân có thể được chuyển hóa rất dễ dàng khi ta cùng chia sẻ những thao thức của tăng thân, niềm vui của tăng thân và hạnh nguyện của tăng thân.

Đó là lý do vì sao, khi chúng ta cùng đến với nhau, ngồi với nhau, đi với nhau, ăn với nhau và làm việc cùng nhau, thì trong ta phát khởi một nguồn năng lượng hùng hậu. Năng lượng đó là năng lượng của chánh niệm, giúp ôm ấp nỗi khổ niềm đau trong ta, giúp ta nhìn sâu để hiểu và đi tới một cái thấy có thể làm chuyển hóa nỗi khổ niềm đau ấy. 

Trên phương diện cá nhân, thao thức sâu sắc nhất của mỗi người trở thành đối tượng thực tập của người đó, đối tượng của chánh niệm. Trong thiền tập, cái đó gọi là công án; chữ Hán là 公案 (kung-an). Đó là thao thức sâu sắc nhất. Công án phải là điều quan tâm sâu sắc nhất của ta. 

Công án và sức mạnh của tăng thân

Chúng ta muốn hiểu, muốn chuyển hóa. Cũng tương tự như khi ta bị một mũi tên bắn trúng và ghim vào da thịt. Chúng ta mang theo mũi tên ấy bất kể lúc đứng, lúc ngồi, còn thức hay là đang ngủ. Công án cũng như vậy. Trong đời sống hàng ngày, ta hoàn toàn tập trung vào chuyện đó. Công án ấy hút hết năng lượng, sự chú tâm, niệm và định của ta. Ta ôm ấp nó ngày cũng như đêm, nhìn sâu vào nó. Và một ngày nào đó, tuệ giác sẽ bừng nở. Ta sẽ thấu hiểu và ta sẽ được giải thoát.

Công án có công năng thu hút tất cả định lực của ta vào đó. Nếu không như vậy, ta sẽ không thể có sự đột phá. Khổ đau ở Trung Đông chẳng hạn, là một công án cho cả nhân loại chứ không chỉ cho người Do Thái hay người Palestine. Nhưng với tư cách là một gia đình nhân loại, chúng ta quá bận rộn. Chúng ta chưa phải là một tăng thân. Chúng ta không có đủ chánh niệm, không đủ định lực; vì vậy, ta không thể làm cho khổ đau đó trở thành một công án được. Chúng ta chú ý tới vấn đề này, rồi sau đó chúng ta không để ý tới nó nữa mà lại chuyển sự chú ý tới những vấn đề khác. Đó là lý do tại sao nó chưa trở thành một công án của gia đình nhân loại. 

Khi một vị thầy hiểu được những khó khăn và nỗi khổ niềm đau của đệ tử, vị thầy ấy sẽ ra một công án cho người đệ tử. Thí dụ như: “Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?”. Thông thường cần phải có hai bàn tay mới làm nên tiếng vỗ. “Làm sao để có tiếng vỗ chỉ với một bàn tay?”. Đó là phương tiện quyền xảo để giúp người đệ tử tìm hướng đi ra khỏi những bế tắc của mình. Còn người đệ tử thì không thể dùng trí năng để giải một công án được. Trí năng chỉ là một phần của chúng ta, bởi vì ta còn có cả một tàng thức nằm sâu bên dưới. Vì vậy, khi tiếp nhận công án mà một vị thầy trao truyền, ta không nên tiếp nhận chỉ bằng trí năng. Nó cần được vùi sâu vào trong thân tâm ta. Và trong đời sống hằng ngày, ta phải mang công án theo mình, ngày cũng như đêm. Ăn, ngủ, làm việc, ta đều ôm ấp nó, không lúc nào buông lơi. 

Nỗi khổ niềm đau hay hoàn cảnh bế tắc không có đường ra, đó chính là công án của ta. Ta cần có khả năng huy động tất cả sức mạnh, chánh niệm và định lực của mình, để ôm ấp thật sâu sắc khó khăn ấy, hoàn cảnh ấy, nỗi khổ sâu dày ấy. Ngày cũng như đêm, từng giây từng phút, việc duy nhất mà ta làm là ôm ấp nó thật sâu, thật nhẹ nhàng. Với sự yểm trợ của tăng thân, một ngày nào đó ta sẽ có một sự đột phá.

Tuệ giác có thể đến từ chính ta. Tuệ giác cũng có thể đến từ tăng thân. Tuệ giác của ta có thể có được nhờ sự yểm trợ của tăng thân. Nó cũng có thể là sự biểu hiện của tuệ giác cộng đồng, bởi vì thực tế là ta sống trong tăng thân. Tăng thân làm việc với ta, yểm trợ ta, cùng nhìn sâu vào hoàn cảnh mà ta đang bị kẹt vào. Nếu cả tăng thân ngày đêm giúp ta ôm ấp nỗi khổ và nhìn sâu vào niềm đau của ta bằng năng lượng của niệm và định thì sự chuyển hóa và trị liệu sẽ đến rất mau chóng. Tuệ giác sẽ bừng nở để giúp ta vượt khỏi khổ đau, giúp ta thấy được con đường giải thoát và đem lại sự chuyển hóa. Đây là cách thức thực tập không những cho cá nhân mà cho cả tăng thân. Tôi muốn đưa ra một ví dụ, đó là dòng tu Tiếp Hiện. 

Dòng tu Tiếp Hiện – Một cơ thể sống

Dòng tu Tiếp Hiện ra đời trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam vào năm 1966, với các thành viên vừa cư sĩ vừa xuất sĩ. Tăng thân có hai chúng: chúng chủ trì và chúng đồng sự. Chúng chủ trì gồm những người đã nhận 14 giới Tiếp Hiện. Còn chúng đồng sự gồm những người chưa chính thức nhận 14 giới Tiếp Hiện nhưng tham gia vào tất cả mọi sinh hoạt của tăng thân.  

Vì là một cộng đồng nên chúng ta cần có một sự tổ chức nhất định. Nhưng chúng ta cũng ý thức rằng nếu quá thiên về tổ chức thì không tốt. Ta cũng thấy được sự khác biệt giữa một tổ chức (organization) và một cơ thể sống (organism).

Là một cơ thể sống, dĩ nhiên trong đó cần có một vài sự tổ chức để có thể vận hành tốt, nhưng sự tổ chức ấy không cần phải cố ý. Nếu có sự hòa hợp, có sự hiểu biết thì ta không cần tổ chức, mà sự tổ chức sẽ tự diễn ra một cách rất hay. Nhìn vào một tổ ong, ta không thấy có ai đó ra lệnh: “anh làm cái này, anh làm cái kia, anh điều phối cái nọ”. Bởi vì tổ ong là một cơ thể sống. Và yếu tố của sự “cùng nhau” (“togetherness”) có mặt. Lý do tồn tại của cộng đồng là để được “sống cùng nhau”. Khi ta đến với nhau như một cơ thể sống, đột nhiên tuệ giác bừng lên và ai cũng sẽ biết mình phải làm gì. Khi đó mọi việc sẽ được tổ chức rất hay mà không cần phải cố gắng mệt nhọc. Rất nhiều người trong chúng ta đang làm công việc xây dựng tăng thân. Chúng ta cần để ý tới điều này.

Có khi chúng ta càng tổ chức thì càng phát sinh nhiều phiền phức. Chính phẩm chất có mặt của chúng ta mới có thể mang lại hạnh phúc cho cộng đồng. Sự thực tập niệm, định, tuệ và từ bi chính là công việc tổ chức. Trước khi nhập Niết bàn, khi được hỏi về việc chỉ định ai thay thế Ngài lãnh đạo tăng đoàn, Bụt đã trả lời: “Không, chúng ta không cần người lãnh đạo”. Bụt rất ý thức rằng tăng thân là một cơ thể sống. Nếu tăng thân tu tập đàng hoàng thì mọi thứ sẽ ổn. Chúng ta hoàn toàn không cần một người lãnh đạo. Bụt chưa bao giờ coi mình là một nhà lãnh đạo. Bụt rất vui lòng làm một ông thầy tu. Bụt ôm bát đi khất thực như tất cả những vị khất sĩ khác. Bụt ngồi thiền dưới gốc cây như tất cả các vị khất sĩ khác.

Bụt là nguồn cảm hứng lớn lao cho cả tăng đoàn. Đó là điều chúng ta nên học hỏi nơi Bụt, để ta cũng có thể làm nguồn cảm hứng cho tăng thân, qua cách hành xử có hòa hợp và từ bi. Khi tăng thân đến với nhau như một cơ thể sống, tăng thân sẽ biết làm như thế nào. Nền tảng của hành động (to do) là có mặt (to be). Nếu ta thực sự có mặt thì tự nhiên ta sẽ không cần phải lo lắng về chuyện hành động nữa. Có mặt chính là nền tảng của hành động (hay nói cách khác, “hành” phải dựa trên “vô hành”). 

Nhiều vị Tiếp Hiện trong chúng ta nghĩ rằng ta cần phải tổ chức, bởi vì Tiếp Hiện là một dòng tu. Nhưng chúng ta không muốn dòng tu Tiếp Hiện trở thành một tổ chức quy mô với sự cứng ngắc, bó buộc. Điều ta mong muốn là dòng tu Tiếp Hiện vận hành như một cơ thể sống. Chúng ta không muốn có bất kỳ ai làm lãnh đạo, làm ông bà chủ hay giám đốc. Ban đầu, một vài người có thể thắc mắc: làm sao chúng ta có thể sống còn nếu không có sự sắp xếp, tổ chức? Nhưng theo thời gian, họ đã nhận ra rằng chúng ta chỉ cần có mặt thực sự (to be), và điều đó sẽ lo liệu mọi thứ. Tăng thân cùng đến với nhau trong sự hòa điệu là đủ. Ta chỉ cần cư xử như những con chim bay trong đàn của chúng. Chúng không bay với tư cách một cá nhân mà bay như một đàn chim – rất đẹp và rất dũng mãnh. Tăng thân cũng như vậy đó. 

Làm thế nào để dòng tu Tiếp Hiện có thể gây cảm hứng cho xã hội? 

Câu hỏi này là một công án. Ta không thể trả lời câu hỏi này chỉ bằng trí năng mà thôi. Khi ta cùng đến với nhau để bàn thảo về vấn đề tổ chức, ta sử dụng trí năng. Nhưng khi chúng ta đến với nhau để cùng thực tập thiền tọa, cùng thở vào – thở ra, chúng ta trở thành một cơ thể sống. Và câu hỏi được đặt ra: “Làm sao để dòng tu Tiếp Hiện trở thành một nguồn cảm hứng và là nơi nương tựa cho thế gian?”, trở thành một công án. Chúng ta chỉ cần có mặt như một cơ thể sống và nhẹ nhàng ôm lấy câu hỏi, hay ôm công án ấy trong tâm thì tuệ giác sẽ phát sinh. Không phải nhờ tư duy thật nhiều hay tổ chức thật giỏi là ta tìm ra lời giải đáp, mà nhờ ta có mặt, chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ; từ đó, chúng ta có sự sáng tỏ, sáng tạo và chế tác năng lượng của sự hòa hợp, của sự “cùng nhau”. Trên nền tảng đó, tuệ giác sẽ phát sinh để chỉ cho ta con đường trở thành nguồn cảm hứng như một cơ thể sống. 

Cách sống, cách vận hành này hơi khác lạ. Nhưng đây là cách của tăng thân. Năng lượng của chánh niệm và hòa hợp sẽ làm nên tất cả. Ta không cần phải có kế hoạch năm năm hay cái gì tương tự. Điều quan trọng là tăng thân có thể đến với nhau và có mặt như một cơ thể sống hay không? Toàn bộ vấn đề là ở chỗ đó. Sắp xếp thế nào để tăng thân có thể thường xuyên đến với nhau, nhiều thật nhiều. Đó là mối quan tâm duy nhất. Bởi vì sự đến với nhau của tăng thân có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều sự khỏe nhẹ, sự chuyển hóa và niềm tin. 

Tăng thân luôn luôn chế tác niệm, định và tuệ. Tăng thân mang trong lòng mình chất thánh, nhờ sự thực tập chánh niệm. Thật là đẹp khi nhìn thấy một tăng thân tĩnh lặng, đi trong tĩnh tại và hòa điệu. Họ tổ chức mà không có vẻ gì là đang tổ chức cả, như một đàn ong. Không ai ra lệnh cho ai cả. Người này nhìn người kia, ý thức về sự có mặt của nhau và về tình trạng đang diễn ra; một cách thật tự nhiên, tình trạng sẽ thay đổi theo hướng như họ mong muốn. 

Học hỏi từ thiên nhiên

Có bài học nào ta muốn dạy cho loài ong, loài mối, loài chim hay loài cá hay không? Trái lại, có rất nhiều điều mà ta có thể học hỏi từ các loài động vật. Các nhà khoa học trong thời đại ngày nay bắt đầu nói về văn hóa loài vật. Loài vật có nền văn hóa của chúng. Mỗi loài đều có tuệ giác và cách sống của riêng mình.

Trong cộng đồng loài người, chúng ta có rất nhiều nỗi khổ niềm đau. Xã hội chúng ta dường như khổ hơn xã hội của loài vật. Chủ nghĩa cá nhân chiếm ưu thế. Chúng ta đang bị chia rẽ nặng nề. Chúng ta ghét bỏ nhau, sợ hãi nhau. Các loài ong, loài cá cũng như loài chim không hề có vấn đề này. Cho nên, chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ chúng. Và đây cũng là đường hướng xây dựng tăng thân: đi với nhau như một dòng sông.

 

                                                                                



Chương trình tu học trực tuyến Thiền và Nghệ thuật bảo Bảo hộ Hành tinh (ZASP)

 
 
Chương trình tu học trực tuyến kéo dài bảy tuần với chủ đề “Thiền và Nghệ thuật bảo hộ hành tinh” (“Zen and the Art of Saving the Planet”, gọi tắt là ZASP)
 
 
 
 
 
 
Thời gian: Chương trình tu học bắt đầu từ ngày 1.3.2026 đến 19.4.2026 (7 tuần).
Ngôn ngữ: Các hướng dẫn hoàn toàn bằng tiếng Anh, nhưng các nhóm pháp đàm có thể bằng tiếng Việt và theo múi giờ Việt Nam.
Đặc biệt Học bổng Tết Bính Ngọ: Chương trình có dành một số học bổng cho đồng bào người Việt tham gia chương trình học trực tuyến ZASP 🌱
 
Mời các bạn đăng ký ngay hôm nay để trải nghiệm và cùng tham gia tu tập với hơn 6000 người ở khắp nơi trên thế giới. 👣:
🪷 Các sinh hoạt truyền trực tiếp & thực tập cùng với các thầy, sư cô Làng Mai
🪷 Pháp đàm bằng tiếng Việt trong một cộng đồng toàn cầu của những người đang góp phần chuyển hóa xã hội
🪷 Những bài giảng của Sư Ông Làng Mai được tuyển chọn.
 
Xin bấm vào đây để đăng ký và điền đơn xin học bổng:
Ở phần ” €0 – €60 | Scholarships”, bấm vào “Read more and apply” để điền đơn xin học bổng.
 

Bấm vào ảnh phía dưới để xem thêm giới thiệu của thầy Pháp Hữu, John Bell, …

 

 

 

 

Vè Tết Làng

 

 

Vè vẻ vè ve

Nghe vè kể chuyện

Bính Ngọ xuân sang

Cả Làng mở hội

Ăn Tết đông vui.

 

Bánh tét bánh chưng

Nấu đêm hăm sáu

Bốn nồi đỏ lửa

Mưa tạt bạt lều

Mà chẳng đánh xiêu

Tiếng đàn tiếng hát.

 

Thuỷ tiên vàng rực

Nở sáng núi đồi

Mai trắng, mận hồng

Đào thẫm, tầm xuân

Cùng nhau dâng sắc.

Một cành cúng Bụt

Một nhánh dâng Thầy

Chị em cùng nhau

Sửa sang phòng ốc

Dán câu đối đỏ

“Vững chãi núi xanh

Thảnh thơi mây trắng”

Sửa soạn bánh mứt

Thiết khách viếng nhà.

 

Giao thừa bình thơ

Sư cô Định Nghiêm

Kể chuyện Tết Làng

Sáu giờ tối điểm

Không giờ Việt Nam

Bát Nhã rền vang

Chuông trống trầm hùng

Hồn thiêng đất Á

Vang giữa trời Âu

Giờ thiêng đã điểm!

Lòng dạ chí thành

Hướng lời khấn nguyện

Đại chúng đồng thanh

Chắp tay đọc tụng

“Bài kinh Đất Mẹ”

Hải triều uy hùng

Mừng khắc Nguyên Đán.

Văn nghệ miệt vườn

Chung vui đầm ấm.

 

Mồng một múa lân

Lạy nhau đầu năm

Bói Kiều mấy quẻ

Xóm Thượng mở cửa

Đón khách viếng phòng

Trà, mứt, hạt dưa

Quây quần thăm hỏi.

 

Mồng hai Xóm Hạ

Lân lại tưng bừng

Nhảy điệu “Xuân ơi”

Rước khách chung vui

Đào hồng nở thắm

Bánh chưng dưa món

Ai cũng tấm tắc

“Ngon!”.

 

Rồi đến Xóm Mới

Ngày hội ẩm thực

Bánh đúc, gỏi cuốn

Nem nướng thơm lừng

Bắc, Nam, Trung đủ

Mùi vị hương sắc

Lại thêm bàn giấy

Bên nghiên bút mực

“Ông đồ” cho chữ.

 

Xuân lai xuân khứ

Niềm vui không tuổi

Tiếng cười trong vắt

Ánh mắt trẻ thơ

Nắng xuân lấp lánh

Mái tóc bạc phơ

Ông tiên truyện cổ.

Về ăn Tết Làng

Bạn ơi xuân sang

Về ăn Tết Làng

Nhớ đến, nhớ đến

Là lá là la…

 

Chúc đồng bào trên khắp mọi miền đón một năm mới bình an, hạnh phúc!

“Vững chãi như núi xanh

Thảnh thơi dường mây trắng”.