Chùm thơ: Gốc Rễ

Sư cô Chân Trăng Bảo Tích

 

Mùi khói

Mùi ấm nồng

Buổi sáng lạnh sương

Hai trời đông tây cách trở

Tết con không về được

Để cùng ba đốt giấy vàng bạc cúng tổ tiên.

Ra đi

Mang theo mùi khói ấm

Để có chút nức nở mỗi lần lòng giá băng

Hành trang mang trên vai

Tuổi thơ êm đềm và hạnh phúc

Mùi khói của những ngày Tết quê nhà.

Ông bà ơi,

Càng đi

Con càng nhận ra

Là, mình giàu có.

 

Có những linh hồn

Chọn đi qua cuộc đời an yên và bình lặng

Để giữ gìn tinh túy.

Trái Đất –

Cuối cùng là điểm tựa

Của những phi hành.



Dòng sông vẫn chảy

 “Vườn xưa vắng mặt người chăm sóc

Lý trắng đào hồng tự nở hoa.”

 

Con thấy trong con

Khu rừng già ngàn năm cổ thụ

Ruộng đất đã lâu ngày không cày xới

Nhưng dòng chảy vẫn tiếp tục chảy dài, lưu nhuận

Trong từng tế bào huyết quản và tâm thức con

Dòng chảy ngàn năm

Dòng chảy trao truyền và tiếp nối

Ngọn hải đăng

Vẫn ngàn đời

Rực cháy.

 

 

 

Tỉnh giấc

 Một sớm con nghe quả tim mình thức giấc

Bước ra giấc ngủ triền miên quên lãng

Con thấy lại bóng hình khu rừng ngàn xưa

Con thấy lại con

Con thấy con lại đang cùng Thầy đi hái thuốc

Tiếng hồng chung vẫn vang vọng trên đỉnh non xưa

Con về, quỳ dưới chân Thầy

Quỳ dưới chân Bụt Tổ

Con là đứa con

Đi lâu ngày

Giờ thấy nhớ nhà

Muốn trở về lại

Với lượng cả bao dung.

 

 

Ngôi đền thờ

Thức dậy với tình yêu

Nghe mạch sống đang âm thầm tuôn chảy trong từng tế bào

Ngôi đền thờ này

Đang gìn giữ khói nhang cho lớp lớp tổ tiên.

Chỉ cần vẫn còn được sống

Được mở mắt, để nhìn thấy đất trời

Còn đôi tai, để nghe sáng nay mưa đang tuôn từng hạt

Còn đôi tay, để xoa vào nhau và giữ ấm

Cuộc sống thật bình dị

Nhưng chính cái bình dị đó dung chứa trong lòng nó một sự thật tuyệt vời

Cuộc sống đẹp

Và quý giá biết bao nhiêu!

 

Dòng chảy

 Con là dòng chảy

Bao la và hùng vĩ

Không đơn độc.

Dòng chảy đưa con đi về phía trước

Như Đất Mẹ đang nâng đỡ hai bàn chân con.

Dòng chảy lưu nhuận

Dòng chảy hào hùng

Dòng chảy là phù sa mỡ mầu trên những vùng đất mới

Mỗi nơi con đặt chân qua.

 

 

Một đời phụng sự – Lặng lẽ mà sáng ngời

 

Kỷ niệm 60 năm Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (1965–2025)

  Tăng thân Tiếp Hiện Sài Gòn

 

Sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ra đời (1965–2025). Khoảng thời gian ấy đủ dài để một thế hệ trưởng thành, một thế hệ tiếp nối, và nhiều thế hệ cùng nhìn lại con đường đã được khai mở bằng lý tưởng, tình thương và sự dấn thân không mệt mỏi. Ngày nay, nhìn lại, mỗi bước đi ấy vẫn vang vọng trong tâm thức chúng ta, nhắc nhở về trách nhiệm tiếp nối và ý nghĩa bền bỉ của con đường phụng sự.

Giữa những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi nhiều người trẻ đứng trước những ngã rẽ bế tắc: hoặc học để tìm con đường riêng, hoặc cầm súng để tham gia chiến tranh, đối đầu và hủy diệt. Trong hoàn cảnh đó, sự ra đời của Trường đã mở ra một nẻo đường khác– con đường của phụng sự xã hội, của hành động bất bạo động và của thực tập thiền trong cuộc sống. Đó là nơi người trẻ được mời gọi bước ra khỏi bế tắc của thời đại, rời bỏ hận thù và sợ hãi, để đi vào cuộc đời với đôi tay xây dựng và trái tim hiểu biết. Những thanh niên khoác áo nâu năm ấy không chấp nhận làm những hạt nước nhỏ lẻ loi. Họ đã chọn đi như một dòng sông, cùng nhau chảy về phía biển lớn của tình người, mang theo lời thề nguyện năm xưa: đem đạo vào đời, lấy tình thương làm phương tiện.

 

 

Với tinh thần “Hãy bắt đầu bằng những gì mình biết và xây dựng trên những gì mình có”, cùng tình thương và nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ triển khai các chương trình phát triển nông thôn. Họ hăng hái đi vào các thôn xóm, vận động sức người sức của tại địa phương, dựng nên trường học giữa làng quê nghèo, chăm sóc trẻ mồ côi, cứu trợ nạn nhân chiến tranh, chích ngừa dịch tả và đậu mùa, xin đất mở đường qua bùn lầy, dựng lại mái nhà sau mưa lũ… Một ngôi trường lá đơn sơ ba gian, ghế bàn xiêu vẹo, được dựng lên từ đất hiến tặng, từ tre được đóng góp, từ mồ hôi và lòng tin của đồng bào và sự yểm trợ của chính quyền địa phương – đó là công trình của cả một cộng đồng. Một con đường lầy lội bao năm không ai làm được bỗng trở thành con đường thông suốt nhờ bàn tay chung sức của dân làng và những người thanh niên phụng sự xã hội. Trong số họ, có những người vừa là thầy tu, vừa là giáo viên, y tá hay cán bộ xã hội. Có những người đi vận động dân làng bằng những câu thơ lục bát mộc mạc, rồi chính tay mình cầm kim tiêm để chích ngừa cho dân. Tuy rằng, họ không có tài chính nhưng họ có tình thương, trách nhiệm và tinh thần tự nguyện – ba nguồn năng lượng mà Sư Ông đã trao truyền. Và chính ba năng lượng ấy đã làm nên những điều tưởng chừng không thể.

Khi nhìn lại hành trình sống cuộc đời phụng sự, các bác Tiếp Hiện đã chia sẻ rằng: “Trong cuộc đời đi làm công tác xã hội, với tư cách một thanh niên phụng sự xã hội thì điều hạnh phúc nhất là đi đâu gặp đồng bào, mình làm việc gì cũng được mọi người hoan hỷ và vui vẻ đón nhận. Việc mình làm vì lợi ích chung nên công việc thường được suôn sẻ, lại được các chính quyền địa phương hồi đó hoan hỷ giúp đỡ, yểm trợ thêm để đồng bào vơi bớt những khổ đau”. Từ đó, các bác nhận ra rằng giá trị cao quý nhất của con người nằm ở tấm lòng cao thượng, và vì thế đã đem trọn sức mình cùng anh em tiếp tục dấn thân, tham gia phụng sự. Các bác cũng nhắc lại lời Sư Ông từng dạy: “Vì bạn đang ngồi thiền, nên bạn rời thiền đường để giúp người bên ngoài, đó gọi là thiền trong hành động”. Chính tinh thần ấy đã trở thành mạch sống của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội: thiền không rời cuộc đời, phụng sự không rời chánh niệm.

 

Trên con đường ấy, những người trẻ đã sống với ước nguyện giúp đỡ đồng bào, đồng hành cùng dân tộc. Có những con người âm thầm lặng lẽ cống hiến suốt đời, cũng có những con người chọn chối từ bạo động bằng chính thân mạng mình – như quý thầy Thích Thanh Văn, Thích Châu Toàn, Thích Tâm Thể (Nhất Trí), chị Nhất Chi Mai, chị Vui, anh Lành, anh Hy, anh Thơ… Vào ngày 16 tháng 05 năm 1967, chị Nhất Chi Mai – một trong sáu thành viên đầu tiên của dòng tu Tiếp Hiện – đã khiến cả thế giới xúc động trước khí phách bi hùng của người hiến trọn thân mình vì lý tưởng hòa bình. 

Xin đem thân làm đuốc
Xin soi sáng u minh
Xin tình người tỉnh thức
Xin Việt Nam hòa bình.

Lời nguyện của chị đã trở thành biểu tượng cho tinh thần phụng sự và bất bạo động. Dù thời gian trôi qua, ánh sáng của ngọn đuốc ấy vẫn âm thầm cháy trong lòng bao thế hệ Tiếp Hiện tiếp nối. 

Sáu mươi năm nhìn lại, những người đi qua con đường ấy nay tóc đã bạc, nhưng niềm tin yêu cuộc sống và nhiệt huyết phụng sự vẫn vẹn nguyên trong ánh mắt rạng ngời. Có người bắt đầu tham gia vào trường TNPSXH khi mới 22 tuổi, nay đã hơn 80, vẫn thân thương nhắc lại: “Giá trị cao quý nhất của con người là tấm lòng”. Từ trải nghiệm của chính mình, các bác gửi gắm đến thế hệ trẻ hôm nay lời nhắn nhủ tha thiết:

“Hãy tiếp nối con đường phụng sự xã hội – con đường đẹp nhất, bền bỉ nhất. Lý tưởng ấy phải được nuôi sống mãi trong tâm mỗi người. Phụng sự xã hội bằng tâm không vụ lợi, bằng sự hiểu biết và thương yêu. Đi đến đâu, làm với tất cả trái tim thì mọi trở ngại đều có thể vượt qua” 

 

 

Sư Ông đã từng dặn dò:
“Kẻ thù chúng ta không phải con người
Xứng đáng chỉ có tình xót thương” 

Đó không chỉ là thơ, mà là kim chỉ nam cho cả một đời dấn thân.

Hôm nay, trong dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (1965-2025), chúng con cúi đầu cảm niệm Thầy, người đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm giữa đêm dài. Cảm niệm các cô, các chú, các anh chị đã đi trước – những người khoác áo nâu Tiếp Hiện, bước vào đời bằng đôi chân không sợ hãi, ôm lấy khổ đau và hóa giải bằng tình thương. Nhờ quý vị, hôm nay chúng con có con đường để đi, một tăng thân để trở về. Chúng con biết con đường phía trước không phải lúc nào cũng có hoa vàng rải lối, nhưng chúng con nguyện tiếp bước.

Lặng lẽ ôm khổ đau bằng năng lượng của chánh niệm, của sự hiểu biết và thương yêu đích thực. Thở một hơi thật sâu, nở một nụ cười hiền để tiếp bước, dấn thân. Giữ ngọn lửa không tắt, tiếp nối hạnh nguyện thương yêu, hòa hợp để đứng bên nhau vững chãi giữa cuộc đời. Yêu thương là con đường duy nhất còn lại trong nhau khi tất cả đã đi qua.

Chúng con nguyện là cánh tay nối dài của Tăng thân. Lặng lẽ nhưng bền bỉ, chúng con chưa bao giờ đi một mình. Bên cạnh chúng con luôn là Thầy, là hàng trăm ngàn bước chân thầm lặng của Tăng thân, của bao thế hệ Tiếp Hiện đã và đang thở cùng mình. Những giọt nước mắt rơi không phải vì yếu mềm, mà vì lần đầu chạm vào nỗi khổ của người khác như của chính mình. Và những giọt nước mắt ấy nay đã hóa thành mưa âm thầm tưới mát những hạt giống mà Thầy và các bậc đi trước đã gieo suốt 60 năm qua, để chúng con tiếp tục gìn giữ và bước tới.

Nẻo về ấy vẫn còn đó.
Con đường ấy vẫn đang đi.
Lặng lẽ, mà sáng ngời.

                       Tăng thân Tiếp Hiện Sài gòn

Phương Khê

Sư cô Chân Hội Nghiêm

 

Con về thăm lại Phương Khê

Cỏ cây xanh mướt bốn bề ngát hương

Mùa xuân hoa đẹp lạ thường

Chim ca lảnh lót vấn vương chốn này

Về đây con lại nhớ Thầy

Bẻ từng măng búp, cho đầy nồi kho

Tình huynh đệ, nghĩa thầy trò 

Bữa cơm đạm bạc măng kho nhớ đời

Thầy thường hay mở lời mời

Lên ăn măng, uống trà, chơi với Thầy

Giờ đây hoa lá đủ đầy

Măng thì có đó, Thầy không có nhà

Thầy đi hái thuốc phương xa

Hay là Thầy đã đi qua bến bờ

Nãy giờ con mãi ngồi chờ

Giật mình tỉnh thức nào ngờ Thầy đây

Bóng Thầy thấp thoáng trong cây

Trên con đường nhỏ nơi Thầy đi qua

Góc nào không phải là nhà

Góc nào cũng có tòa nhà Như Lai

Bản môn chốn ấy đâu hai

An nhiên từng niệm khứ lai hiển bày

Con liền nắm lấy tay Thầy

Thong dong từng bước lòng đầy bình an. 

 

Biết nghe, biết lắng, biết thương sâu

Phỏng vấn Sư cô Chân Giác Nghiêm

 

Sư cô Giác Nghiêm xuất gia năm 1999 trong gia đình Cây Anh Đào. Từ khi gặp Sư Ông và sư cô Chân Không lần đầu tiên vào năm 1985, con đường đạo Bụt dấn thân đã trở thành lẽ sống của sư cô. Ban biên tập (BBT) may mắn có dịp ngồi chơi và nghe sư cô chia sẻ về niềm vui cũng như những thử thách mà sư cô đã đi qua trên con đường phụng sự. Dưới đây là phần trích từ buổi ngồi chơi này (được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp). 

 

BBT: Thưa sư cô, sau bao nhiêu năm tu học và phụng sự, đạo Bụt dấn thân có ý nghĩa như thế nào đối với sư cô ạ?

Sư cô Giác Nghiêm (GN):

Đó chính là điều đã đưa GN đến với Sư Ông và tăng thân. GN có thể đã chọn con đường tôn giáo chiêm niệm (thiên về cầu nguyện), nhưng đời sống của Sư Ông và sư cô Chân Không, mà GN được gặp lần đầu năm 1985, đã khiến GN chọn con đường này. Lúc ấy, Sư Ông đang giảng pháp lần đầu tại Lyon. Khi tiếp xúc với những lời dạy của Sư Ông, GN tự nhủ: “Mình phải áp dụng ngay những pháp môn này – không chỉ cho riêng mình”. Với GN, đó là ý nghĩa của hai chữ dấn thân.

Thời gian đó, GN đang là chuyên viên vật lý trị liệu trong một bệnh viện, chăm sóc cho những người cao tuổi và người bệnh giai đoạn cuối. GN đã chứng kiến rất nhiều cảnh đau khổ: Họ không biết phải làm sao để đối diện, xử lý những cảm xúc và đau đớn của mình, và không biết làm sao để tiếp tục sống. GN đã đem pháp môn thực tập vào nơi ấy, một cách rất tự nhiên, không hề nói đó là “thiền”. GN thực tập thiền hành khi đi lại dọc hành lang bệnh viện, để giúp cho tâm ý an tĩnh lại. Từ phòng bệnh này sang phòng bệnh khác, GN thực tập hơi thở ý thức. Trước khi bước vào phòng của một bệnh nhân mới, GN buông xuống tất cả những gì người bệnh trước đã chia sẻ, chỉ giữ lại điều thiết yếu nhất để trao đổi với các đồng nghiệp. Sư Ông đã dạy GN như thế.

Khi bước vào phòng, GN nhìn bằng đôi mắt mới – một cái nhìn thật nhanh – để thấy điều gì thật sự quan trọng. Không cần phải nói gì, GN đem thiền tập đến bên giường bệnh – thiền tập về tương tức. Có những người cảm thấy rất cô độc. GN chỉ cho họ tấm vải trải giường và kể cho họ nghe về tất cả những điều kiện hội tụ để tạo nên tấm vải trải giường này: từ cách cây bông được trồng ở châu Phi, người ta tưới từng hạt giống nhỏ, rồi có người dệt vải, người vận chuyển, kể cả mưa, nắng, những chú bướm nhỏ hay những con côn trùng đất…Tất cả đều có mặt trong đó. Đó chính là sự thực tập nhìn sâu. Một cách gián tiếp, mình giúp cho họ thấy rằng họ không cô độc. GN thấy họ nhẹ nhõm hẳn ra.

Với bệnh nhân bị liệt nửa người hoặc bị Parkinson, GN dạy họ thiền hành trong hành lang – nhưng không hề dùng chữ “thiền”. GN cùng bước đi với bệnh nhân một cách chậm rãi, trong im lặng. Khi người bệnh gặp khó khăn khi bước tiếp, nhất là với người bị Parkinson, cả hai đều dừng lại. Họ cố gắng bước tiếp, nhưng GN sẽ nói với họ: “Chúng ta hãy thực tập dừng lại”. Rồi GN sẽ hỏi: “Anh/chị thích cây nào nhất?”. Nếu họ trả lời “Cây anh đào” thì GN sẽ nói: “Vậy bây giờ mình cùng trở thành cây anh đào nở hoa ngay trong hành lang bệnh viện này nhé!”. Thế là nỗi bất lực trong họ được giải tỏa. Đó là một cách để giúp họ thực tập dừng lại và họ rất thích.

Trong não chúng ta có các khớp thần kinh (synapses) – nơi liên kết và dẫn truyền xung động điện giữa hai tế bào thần kinh khác nhau hoặc giữa một tế bào thần kinh và một tế bào cơ. Ở người mắc bệnh Parkinson, ngay cả khi họ đang còn trẻ, dopamine không truyền dẫn một cách dễ dàng, chúng bị cạn kiệt. Khi ta thực tập dừng lại, ta không làm mệt các dây thần kinh nữa, các khe thần kinh có thể được nạp đầy dopamine trở lại và họ lại có thể tiếp tục bước đi.

GN chẳng làm gì đặc biệt, chỉ trợ giúp họ mà thôi. GN trao truyền “thiền bên giường bệnh”, thực tập đặc biệt hữu ích khi thay băng gạc cho những bệnh nhân có vết loét – thường rất đau đớn – cũng như đối với người đã mất trí nhớ hay không còn nhận thức được thế giới xung quanh. GN sẽ tới thăm, hỏi về những điều đẹp đẽ trong đời họ để làm dịu nỗi đau.

GN giúp họ tập dừng lại – thấy và nhận diện thực tại như nó là – rồi nhẹ nhàng “thay chốt” (hay “thay CD”) như Sư Ông hay nói. Khi nghe tiếng xe đẩy bông băng của y tá, họ thường thở dài “Ah!”. GN sẽ nói: “Vâng, xe thay băng tới rồi. Bây giờ bác hãy kể cho tôi nghe về cây sáo mà con trai của bác hay thổi nhé!”. Và như thế đến lúc họ nằm xuống, chúng tôi có thể bắt đầu thay băng trong sự nhẹ nhàng.

GN không phủ nhận sự thật. Khi tháo băng, họ đau lắm, GN nói: “Đúng rồi, đau lắm! Hãy quay về hơi thở, và nhẹ nhàng nói ‘Đau lắm’ trong khi thở chậm rãi”. Rồi GN hỏi: “Cũng có những chỗ khác trên cơ thể anh/chị nữa. Nếu GN đặt tay ở chỗ này, anh/chị thấy ấm hay mát?”. Điều đó giúp họ chuyển hướng sự chú ý. Và nếu cơn đau vẫn còn quá mạnh, hơi thở ý thức và sự có mặt trọn vẹn sẽ khiến nó dễ chịu đựng hơn. Họ không còn la hét vì đau nữa. GN cũng chia sẻ thực tập này với các y tá: “Chúng ta có thể cùng nhau làm được điều này”. Nếu không thì người bệnh sẽ chịu đau đớn khủng khiếp. 

GN cũng giúp “hồi sinh trở lại” cơ thể của người bệnh – những vùng bị lãng quên không hề được chạm tới. GN dạy cho điều dưỡng viên cách tắm rửa bệnh nhân trong chánh niệm – luôn báo trước cho người bệnh những gì họ sắp làm: “Bây giờ tôi nhúng khăn vào nước ấm nhé” (để bệnh nhân có thể ngửi mùi xà phòng và nhận diện hương thơm trước), hoặc “Tôi sắp chạm vào cánh tay của bác, vào khuôn mặt của bác. Bác có cảm nhận được bàn tay tôi không?”. Việc tắm rửa cơ thể theo cách này giúp đánh thức lại hình ảnh cơ thể trong não — khơi dậy những vùng đã bị lãng quên vì quá lâu không được tiếp xúc.

Một ngày nọ, trưởng khoa gọi GN đến và nói: “Cô đã làm việc theo cách này suốt vài tháng rồi. Tôi không biết chính xác cô đang làm gì, nhưng tôi rất cảm ơn cô – nó thực sự có hiệu quả. Cô có toàn quyền thực hiện tiếp như thế nhé!”. Dĩ nhiên, kết quả này không đến từ GN mà là từ sự thực tập!

GN giải thích với vị trưởng khoa lý do mình làm việc theo cách đó, rằng GN thuộc về một cộng đồng thiền tập. GN nói với ông rằng đi cũng là thiền – rằng khi bước vào phòng bệnh nhân với tâm rỗng rang, sáng tỏ, GN mới thấy được thật sự họ cần gì, điều gì ổn và không ổn. 

Đối với GN, đạo Bụt là sự dấn thân vào đời sống ngay trong hiện tại. Dù làm nghề gì, ta cũng có thể tìm ra những pháp môn thiền tập giúp mang lại sự bình an và chữa lành.

 

BBT: Sư cô có kể cho Sư Ông nghe những gì mình áp dụng trong bệnh viện không?

Sư cô Giác Nghiêm: Mỗi khi bắt đầu một cách thực tập mới, GN đều viết thư cho Sư Ông: “Thưa Sư Ông, hôm nay con đã làm thế này…” – nhưng  chưa bao giờ nhận được hồi âm (cười).

Một ngày nọ, khi đang ở Làng Mai, GN bỏ giờ thiền hành. Ngồi dưới gốc cây đoàn ở xóm Thượng, GN viết thư kể Sư Ông nghe về những việc mình đã làm với các bệnh nhân. Sư Ông đi ngang qua, nhẹ nhàng nói: “Sư cô Elisabeth…” – Sư Ông luôn gọi GN như vậy. Sư Ông không nói “Sao sư cô không đi thiền hành?”, Sư Ông chỉ đơn giản hỏi: “Sư cô đang làm gì đó?”

GN thưa: “Dạ, con đang áp dụng lời dạy của Sư Ông trong bệnh viện, và chúng mang lại kết quả rất tốt. Con đang ghi chép lại”. Sư Ông chỉ nói nhỏ: “Mỗi khi sư cô tìm ra cách thực tập mới, hãy gửi cho thầy biết”. Và GN đã làm như thế. 

GN đã áp dụng pháp môn thiền hành rất nhiều – GN muốn nhấn mạnh điều này. Kết quả của đạo Bụt dấn thân rõ ràng đến mức các sinh viên vật lý trị liệu bắt đầu mời GN đến dạy ở trường. Y tá và điều dưỡng cũng mời GN đến nói chuyện tại Khoa Y học phục hồi chức năng. 

Họ vô cùng kinh ngạc trước những kết quả ấy. Không phải nhờ GN, dĩ nhiên rồi, mà nhờ sự thực tập.

 

BBT: Thưa sư cô, trên con đường phụng sự, thử thách lớn nhất của sư cô là gì? Và sư cô đã vượt qua những thử thách ấy như thế nào?

Sư cô Giác Nghiêm: Khó khăn lớn nhất đối với GN có lẽ là nỗi lo lắng, không biết người khác đánh giá thế nào về việc mình đang làm. GN sợ người khác không hiểu.

Thời đó, Phật giáo còn xa lạ. Những bài giảng bằng tiếng Pháp đầu tiên của Sư Ông là vào năm 1984 hay 1985. GN sợ cách dấn thân này có thể bị hiểu lầm – người ta có thể nghĩ mình thuộc “giáo phái” nào đó – và GN có thể bị cấm làm việc ở bệnh viện, dù kết quả rất tích cực. Nhưng khi trưởng khoa nói: “Cô được tự do toàn quyền”, thì mọi sợ hãi tan biến. Chướng ngại của GN ở trong chính mình, chứ không đến từ bên ngoài.

 

BBT: Sau kinh nghiệm chia sẻ chánh niệm trong bệnh viện, đạo Bụt dấn thân tiếp tục biểu hiện trong đời sống hằng ngày của Sư cô như thế nào?

Sư cô Giác Nghiêm: Trong gia đình mình, GN không bao giờ ép buộc việc ngồi yên hay dừng lại bằng tiếng chuông. GN chỉ đơn giản sống như trước, nhưng với sự ý thức và có mặt ngày càng nhiều hơn. Điều đó cũng là đạo Bụt dấn thân.

GN viết những mẩu chuyện nhỏ để kể cho các con nghe – những câu chuyện tưới tẩm hạt giống vô úy và hiểu biết. Khi các con đặt câu hỏi, GN luôn trả lời một cách tự nhiên, đơn giản, để giúp chúng chạm được những tuệ giác sâu sắc mà Sư Ông đã trao truyền. 

Đạo Bụt dấn thân cũng có nghĩa là dám cầm bút viết thư cho các nguyên thủ quốc gia để nói “Điều này không đúng,” nhưng luôn bằng lời từ ái. Khi chiến tranh Nga – Ukraine nổ ra, GN viết thư cho Tổng thống Putin, nói rằng ông đang gửi chính các con mình vào chỗ chết – rằng không có sự khác biệt giữa những người lính Ukraine với những người lính Nga của ông. Đó là những chàng trai trẻ tội nghiệp, có thể sẽ phải bỏ mạng, tàn tật, hay phải mang những vết thương hằn sâu trong trái tim.

GN nói với ông rằng GN biết ông yêu thương gia đình mình, ông trân quý con cái mình. GN viết: “Nếu ông muốn tên mình được lưu truyền đẹp đẽ, ông có thể dừng chiến tranh ngay bây giờ. Ông có thể trở nên nổi tiếng vì hành động đẹp đẽ này”. GN gửi thư bằng tiếng Nga, thẳng tới Kremlin, không ghi địa chỉ người gửi – vì sự an toàn của các sư cô.

GN từng tham gia tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International), ban đầu là với vai trò viết thư, sau đó làm thư ký y khoa. Với GN, đó cũng là đạo Bụt Dấn thân: nhận thư từ tổ chức Ân xá Quốc tế, hồi đáp “Kính gửi Ngài Tổng thống …” và ký tên mình với chánh niệm. Luôn luôn lịch sự, tôn trọng, nhã nhặn, nhưng rõ ràng và thẳng thắn, không che giấu. GN đã làm việc đó nhiều năm. Chúng ta có thể dấn thân bằng rất nhiều cách khác nhau.

GN còn tham gia cùng với các thành viên trong tăng thân ở Saint-Étienne giúp đỡ người vô gia cư: tặng quần áo, tạo một chỗ để tắm rửa, cắt tóc nếu họ muốn, chuẩn bị bữa ăn và tạo nên những khoảnh khắc nhỏ đầy niềm vui. Chúng tôi lắng nghe sâu sắc và trò chuyện với họ bằng sự ấm áp và thấu hiểu. Sư Ông và sư cô Chân Không biết về công việc ấy và luôn bảo hộ cho chúng tôi. Hoạt động này được duy trì liên tục trong suốt mười năm GN ở đó, và sau khi GN rời đi, các bạn tiếp tục duy trì thêm gần mười năm nữa.

 

 

BBT: Ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ (Maison de l’Inspir), sư cô và tăng thân tiếp tục chia sẻ sự thực tập với giới trẻ và các gia đình như thế nào ạ?

Sư cô Giác Nghiêm: Tăng thân ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ đã dấn thân mạnh mẽ và đón tiếp nhiều người trẻ, bao gồm cả các bạn trong tăng thân Wake Up, đến tu học. Trong nhiều năm liền, mỗi hai tuần vào chiều thứ Bảy, tăng thân dành nửa ngày để hướng dẫn tu học cho các gia đình. 

Chúng tôi hướng dẫn cha mẹ học cách tin tưởng vào con cái mình – ngay cả những em rất nhỏ. Chúng tôi để cho các em dẫn thiền hành hay làm thiền trà và thỉnh chuông. Trong lúc thiền hành, cha mẹ sẽ nhắm mắt để con mình dẫn đi. Ai cũng thực sự có mặt trọn vẹn.

Mỗi năm, các cha mẹ còn tự tổ chức một khóa tu 3–5 ngày, cha mẹ và con cái cùng thực tập với nhau.

 

BBT: Sư cô tiếp nối rất đẹp hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư cô có thể chia sẻ cho chúng con biết điều gì đã truyền cảm hứng cho sư cô trong sự thực tập lắng nghe sâu không ạ?

Sư cô Giác Nghiêm: Phẩm chất này một phần là do di truyền. Mẹ của GN hay lắng nghe người khác. Thỉnh thoảng mẹ hay mang người vô gia cư về nhà. Họ có thể ngủ, tắm rửa và nghỉ ngơi trước khi lại tiếp tục lên đường. Ông bà GN cũng vậy. Lắng nghe sâu là một phẩm chất đã ở trong máu của gia đình, là một phần của cuộc sống gia đình GN rồi. GN không có công lao gì đặc biệt khi lắng nghe như vậy.

Nhưng GN có thể kể một câu chuyện về sự chuyển hóa nhờ vào sự thực tập lắng nghe sâu của tăng thân. 

Một ngày nọ, tại Maison de l’Inspir ở Noisy-le-Grand, có một người đàn ông đến — đi xe mô-tô, người đầy hình xăm, tóc tai rối bời, áo khoác da đen — một rocker chính hiệu. Lúc đó, đâu phải ai cũng có hình xăm như bây giờ! Anh nói: “Tên tôi là François”. Anh lắng nghe pháp thoại, tham dự thiền hành, chia sẻ trong pháp đàm. 

Trong buổi pháp đàm, anh kể mình từng bị bỏ rơi từ nhỏ, sống lang thang, uống rượu từ khi mới lên 10-12 tuổi, rồi nghiện hút. Dù còn rất trẻ, cơ thể anh đã bị tàn phá trầm trọng. Tất cả tăng thân – xuất sĩ và cư sĩ – chỉ ngồi lắng nghe anh. Không ai ngắt lời, không nhận xét, chỉ lắng nghe sâu. Anh nói: “Hôm nay tôi đến đây vì tôi suýt giết người tình của vợ tôi. Tôi đã cầm dao trong tay, sẵn sàng giết hắn – nhưng rồi tôi đã không làm. Tôi nhớ mình đã thấy một cuốn sách có ghi địa chỉ – Noisy-le-grand, Maison de l’inspir – nên tôi đến đây”

Từ hôm đó trở đi, mỗi thứ Năm hàng tuần anh đều đến tham dự ngày Quán niệm, học cách sống, cách lắng nghe, cách thương yêu. Một hôm, anh dẫn con gái đến và nói: “Đây là con gái tôi. Tôi đã xin con tặng tôi một món quà đẹp cho ngày sinh nhật của mình. Con gái tôi nói: ”Điều gì có thể làm cho ba hạnh phúc nhất?”, và tôi nói: “Hãy tặng cho ba một ngày”. Con tôi hỏi ‘ngày nào?’, và tôi đã nói ‘Thứ năm’. Thế là chúng tôi có mặt ở đây. Tôi đến để dành trọn ngày này với con mình”. 

Cùng nhau, trong vòng tay của tăng thân, anh đã sám hối và xin con gái tha thứ. Mọi người đều rơi nước mắt. Thật vô cùng cảm động—nhất là khi biết cuộc đời mà anh đã trải qua. Sau đó, anh cũng làm như vậy với con trai của mình, đưa cậu đến Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, để cậu thấy nơi mà cha mình đang nương tựa. Một lần nữa, anh sám hối trước con trai—một chàng trai mười bảy tuổi. Anh đã thay đổi hoàn toàn.

Một ngày nọ, chúng tôi có một nhóm rất nhỏ – chỉ năm người thôi – trong đó có một viên cảnh sát đến để học về bất bạo động và sự định tĩnh. Chúng tôi không hề nói về nghề nghiệp của mình, chỉ giới thiệu tên thôi. Khi đến lượt François, anh nhìn GN với đôi mắt long lanh: 

“Sư cô biết gì không?”

“Không”, GN nói, mỉm cười và khuyến khích anh tiếp tục.

“Tôi đã tìm hết mọi vũ khí có trong nhà”

Ngay lập tức, mặt viên cảnh sát trở nên tái xanh. Có thể anh đang nghĩ “Ôi trời, tôi đang ở đâu thế này?”

François tiếp tục: “Tôi gom tất cả vũ khí trong nhà thành một đống ngay giữa phòng khách – một núi to”. Ta có thể hình dung anh đã mang trong lòng biết bao sợ hãi! 

“Thế anh định làm gì với chúng, François?”, GN hỏi.

Tôi có một ý tưởng, thưa Sư cô Elisabeth. Tôi có một người bạn là thợ rèn. Tôi sẽ mang tất cả tới cho anh ấy. Anh ấy sẽ đúc thành bức tượng của tự do. Không phải tự do ở ngoài kia, mà là tự do ta cảm thấy bên trong mình khi ta thật sự tự do”.

Anh đã ngừng uống rượu, ngừng dùng thuốc, chất kích thích. Anh sống bình an. Anh đã nung chảy hết vũ khí để tạo ra bức tượng của tự do nội tâm.

“Một ý tưởng tuyệt vời, Francois ạ! Anh phải làm thế nhé!”, GN nói. Trong khi đó, gương mặt viên cảnh sát càng tái xanh hơn! 

Rồi anh nhìn GN một cách nghiêm nghị và nói: “Tôi giữ lại một thứ”.

GN cười và nói: “Việc anh buông bỏ hết những thứ khác là rất tuyệt vời rồi. Anh giữ lại thứ gì?”

“Một cái búa – có cán dài – để phòng khi tôi lái xe mô tô mà ai đó tới gần”. Bạn có thể thấy nỗi sợ hãi cũ vẫn đang còn đó.

GN nhẹ nhàng nói: “Anh đã thực hiện một sự hy sinh lớn. Nếu bây giờ anh vẫn cần nó, thì hãy giữ lấy”. Anh sửng sốt.

Giáng sinh đó, GN đang chuẩn bị về thăm mẹ thì thấy anh tới. “Sư cô Elisabeth”, anh nói, “tôi có quà tặng Sư cô!”. Anh đưa GN một vật được gói trong tấm khăn. Đó là cái búa. Anh đã buông bỏ vũ khí cuối cùng của mình, nhờ có tăng thân.

GN nói với anh: “Anh hãy gói lại và đặt lên bàn thờ Bụt trong vòng năm ngày, để nó được tẩy tịnh. Anh dâng lên Bụt và thưa rằng: ‘Đây là vũ khí cuối cùng của con, thưa Bụt’”. 

GN đã kể cho anh nghe câu chuyện về Angulimala. Sau này, anh trở thành nhà làm phim. Anh làm một bộ phim về chính đời mình, trong đó con trai anh đóng vai anh khi còn trẻ – bộ phim rất thành công. Anh rất hạnh phúc. Thật là một sự chuyển hóa kì diệu.

Có rất nhiều trường hợp như thế – hòa giải giữa vợ chồng, giữa bố mẹ và con cái, giữa con người và cuộc đời. Đó chính là bàn tay của Sư Ông vươn ra giúp cho những người đau khổ.

 

BBT: Sư cô muốn nhắn gửi điều gì đến các thành viên trẻ trong dòng tu Tiếp Hiện, để truyền cảm hứng cho các bạn ạ?

Sư cô Giác Nghiêm: Điều đầu tiên: Cuộc đời thật đẹp! Với GN, đó là sự thật.

Điều thứ hai: Các bạn đã chọn con đường đẹp nhất. Hãy nhìn vào mắt GN – đôi mắt tràn đầy yêu thương – các bạn đã chọn con đường đẹp nhất!

Và cuối cùng, ta không thể làm gì trừ khi làm cùng nhau. Cùng nhau, ta có thể làm được mọi thứ. Cùng nhau, ta có thể vượt lên trên mọi khó khăn.



Hạnh môn mở rộng cửa tương lai

Thầy Chân Pháp Ứng

 

Thầy Pháp Ứng xuất gia năm 1993 tại Làng Mai Pháp trong gia đình Con Cá. Vững chãi và thảnh thơi, thầy luôn là nguồn cảm hứng tu học cho cả tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ, tâm tình của thầy với các sư em trong ban biên tập Lá thư Làng Mai. 

 

Gia tài tâm linh

 

Con kính bạch Sư Ông, 

Kính thưa gia đình tâm linh qua nhiều thế hệ, 

Con rất biết ơn và có niềm tin sâu sắc nơi giáo pháp của Đức Thế Tôn — giáo pháp hiện pháp lạc trú mà chư Bụt, chư Tổ đã trao truyền và Sư Ông đã tiếp nối. Đó là cái thấy: Quê hương của mình ở đây; tất cả những gì mình cần đều có sẵn trong tâm. Và tâm thì không bị giới hạn trong thân thể con người này, mà có mặt bàng bạc trong sự sống.

 

Sư Ông đã khai triển mối liên hệ giữa tích môn, bản môn và hạnh môn rất sâu sắc. Con thấy rõ bản môn là nền tảng cho tích môn và hạnh môn; ba bình diện ấy không thể tách rời, chúng liên đới với nhau, tương tức và nâng đỡ nhau.

 

Con cũng rất biết ơn vì từ tuệ giác và kinh nghiệm mà Sư Ông đã chế tác ra những pháp môn rất cụ thể, giúp mình duy trì đời sống tâm linh: sống được với bản môn, chăm sóc được tích môn và dấn thân mà không đánh mất chính mình, không rời quê hương đích thực. Những pháp môn ấy là châu báu, tâm huyết và cốt tủy mà Đức Thế Tôn, chư Tổ và Sư Ông đã trao truyền lại. Nhờ có Bụt, có Tăng và biết bao thế hệ tu tập để mình có được hơi thở – bước chân này hay khả năng ăn cơm, uống trà như vậy. Đó không đơn giản chỉ là những pháp môn phương tiện mà chứa đựng biết bao tình thương và tuệ giác.

 

Con thấy mình rất may mắn khi tiếp nhận được gia tài ấy. Con ý thức rằng mình cần thấy được chiều sâu của những pháp môn tu học để duy trì sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày. Hiện nay, nhu cầu giúp đời rất lớn và cấp bách, nếu mình không biết nuôi dưỡng thì nội lực tu tập sẽ dễ bị hao mòn. Khi đó, mình đánh mất tất cả: bước chân cũng mất, bữa ăn cũng vội, chỉ làm cho xong, rất đáng tiếc. Đó là điểm mà con nghĩ tất cả anh chị em trong tăng thân cần cùng nhau nỗ lực để chúng ta còn được là mình.

 

Trong đời sống, con tìm cách cân bằng ba yếu tố: bản môn, tích môn và hạnh môn. Con cũng ý thức rằng có những lúc mình chạm tới ngưỡng (giới hạn) của mình. Khi đó, con biết là mình cần phải trở về với gốc rễ. Con lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Sư Ông để có thêm sức mạnh vượt qua ngưỡng của chính mình và tiếp tục đi tới. Mỗi người trong chúng ta, một mặt cần ý thức được ngưỡng của mình; mặt khác, cũng cần có sự dũng cảm để vượt lên ngưỡng ấy. Hai điều này cần đi đôi với nhau. Giống như một cái cây: có lúc phải đi qua những cơn bão, nhưng chính nhờ vậy mà nó càng cắm rễ sâu hơn, càng nỗ lực bám trụ và tiếp tục đi tới.

 

Đối với con, đời tu là một quá trình đòi hỏi mình phải nỗ lực từng ngày. Con nhớ Sư Ông từng dùng những hình ảnh về đời sống của Bụt để căn dặn chúng con: Thành đạo rồi, Bụt vẫn tiếp tục tu, chứ không dừng lại. Và Bụt bây giờ cũng đang tiếp tục tu với mình.

 

Mình có trong nhau, mình là nhau

 

Với năm tháng tu học, dần dần trong con xuất hiện một nhận thức mới: chuyện giải thoát, chuyện thành công, chuyện phụng sự đều được đặt trên nền tảng là mình vốn đã ổn rồi. Nó lạ như vậy đó! Nó đặt trên nền tảng của đã về, đã tới, của hiện pháp lạc trú, của không tranh cầu, không tranh chấp, không phải cố gắng để trở thành, kể cả trong phụng sự.

 

Khi đó, chuyện giải thoát không còn là chuyện giải thoát cá nhân nữa. Trong tâm thức cộng đồng hiện nay, ý niệm về thành công và giải thoát cá nhân rất mạnh: mình phải đạt cái này, mình phải chuyển hóa cái kia, mình phải. Trong cái “mình” đó đã có sẵn ý niệm về một cái ngã riêng biệt, và đó là một trong những bức tường ngăn cản sự cộng tác, phối hợp, làm thành một thân thể chung. Khi mình chuyển được nhận thức ấy — rằng mình vốn là nhau, mình vốn là sự sống mầu nhiệm, mình có mặt ở đây để hiến tặng tình thương — thì khởi điểm đã khác hẳn. Mình có mặt để nuôi dưỡng và trị liệu, chứ không đặt thêm một mục đích nào khác ngoài những điều đó. 

 

Nhìn Sư Ông, chúng ta thấy Sư Ông làm không biết bao nhiêu việc trong đời mà vẫn thảnh thơi và tự do. Nếu mỗi cá nhân trong chúng ta có được điều đó, thì khi đến với nhau, mọi thứ sẽ rất khác: năng lượng rất nuôi dưỡng, rất hòa thuận. Cái gì cũng có thể làm được, cứ làm là thành công. Con đường Sư Ông đã mở rất rõ rồi. Bây giờ là lúc chúng ta bước tới, thực hiện và tạo cảm hứng cho nhau. Tất cả bắt đầu từ nhận thức. Rồi khi đi vào thực tế, mình bắt tay làm với tất cả sự thực tâm, có va chạm mình mới học được, như viên ngọc được mài dũa mà sáng; hay như bó đũa nhờ chà xát vào nhau mà sạch.

 

Ý thức mình là một gia đình với nhau rất quan trọng, nhất là trong những lúc khó khăn, va chạm — những va chạm có thể tạo ra vết thương dù mình không hề muốn. Chung cuộc, nếu mình lấy tình huynh đệ, tình thương và ước muốn đưa nhau đi tới làm nền tảng thì mọi chuyện sẽ ổn. Còn không, mình mất nhau rất dễ. 

 

Có những niềm đau mang tính bổ ích: Như cái cây muốn lớn lên, thân nó có lúc phải nứt ra. Nó đau chứ. Về phương diện tâm linh cũng vậy: có lúc rất đau để mà lớn. Vì vậy, mình cần phải ý thức khả năng tiếp nhận niềm đau của huynh đệ mình tới đâu. Sự thật lòng của mình cần được kết nối với huynh đệ. Giúp được huynh đệ thì cũng là giúp được mình; còn không giúp được huynh đệ thì mình cũng buồn thôi, vì mình là một với nhau.

 

Có những lúc mình phải dũng cảm “ra chiêu”, nhưng không phải để đối đầu mà xuất phát từ tình thương; muốn huynh đệ hiểu và thoát ra khỏi vòng lặp khổ đau. Bởi vì mình hiểu rằng chuyện của một huynh đệ không phải là chuyện riêng của người đó, mà liên hệ tới cả tăng thân. Khi phải dùng tới những cách mạnh thì cần nội lực, tình thương, tuệ giác và cả phước đức nữa. Việc này đòi hỏi rất nhiều sự cân nhắc, sự hiểu biết tâm lý của huynh đệ, và cả sự cầu nguyện — cầu nguyện Bụt Tổ, cầu nguyện Sư Ông gia hộ, độ trì giúp cho mỗi người đi qua được giai đoạn khó khăn đó. 

 

Cùng nhau đi tới

 

Sống trong tăng thân, mỗi người đều có cái thấy riêng; vì vậy mình cần lắng nghe nhau, phối hợp ý và phối hợp cái nhìn để có được sự hòa thuận, đi tới những quyết định chín chắn, và giúp tăng thân đi như một dòng sông. Đó là một bài học mà con nghĩ ai trong tăng thân cũng đang học và tiếp tục học. Riêng bản thân con, con thấy mình học hỏi được rất nhiều.

 

Trước đây, con rất ngại va chạm. Con hay có khuynh hướng: “Thôi, hòa cho yên, mệt lắm!”.  Nhưng con học được rằng, nếu thấy và biết rõ điều gì cần nói mà chỉ vì ngại, không nói ra, thì vô tình lại tạo thêm vết thương và dễ gây chia rẽ. Lời nói của mình có thể đụng chạm người này vì không như ý họ, đụng chạm người khác vì không như ý người kia, nhưng con chấp nhận điều đó. Vì vậy, dù cho sẽ đụng chạm và khó đến mấy, con cũng ráng nói, với ước nguyện duy nhất là để mang lại hòa thuận, chứ không phải hơn thua, không phải vì quyền lực hay muốn tranh chấp. Nhiệm vụ của mình là ôm mọi người vào lòng và đặt ưu tiên cho sự hòa thuận. Và một khi chia sẻ xong, về phương diện cá nhân, có thể con và người nào đó sẽ không thoải mái; nhưng về phương diện đại chúng, con ý thức rằng mình đã làm hết phần của mình đối với tăng thân và đối với Sư Ông. Những gì xảy ra tiếp theo tùy rất nhiều nhân duyên và con tôn trọng cái thấy của mọi người. 

 

Con hiểu rằng mỗi người đều đã làm hết sức mình vì lợi ích chung, chứ không phải vì lợi ích riêng. Những va chạm, sứt mẻ có thể đến từ những góc nhìn khác nhau. Tuy vậy, sau tất cả, chúng ta vẫn có thể ôm nhau khóc bởi tình anh em đâu phải có được trong ngày một, ngày hai mà được xây dựng qua năm tháng, qua cách sống, cách chơi và cái hiểu về nhau. Vì vậy, trong những giây phút đó, con chọn đặt Sư Ông và đại chúng lên trên, nhưng cũng đồng thời không chọn đối đầu. Con học được bài học rằng khi đối đầu, cho dù nghĩ là mình đúng thì bản thân cũng mệt, người khác cũng mệt và Sư Ông cũng mệt. Rốt cuộc, kết quả có thể thế này hay thế kia, nhưng lại dễ tạo nên sự đổ vỡ trong lòng mỗi người.

 

Là một người sống trong chúng khá lâu, con ý thức rằng mình cần phải rất cẩn trọng với tiếng nói của mình. Tiếng nói ấy có thể được tiếp nhận như tiếng nói của một thành viên trong chúng đang góp ý, nhưng cũng có thể được tiếp nhận như là từ trên dạy xuống, và khi đó sẽ có phản ứng. Hoặc tiếng nói của mình được tiếp nhận theo kiểu ‘thầy đã nói như vậy rồi’, thì không còn không gian cho mọi người chia sẻ nữa. Vì vậy, con không lấy quyền của một thầy lớn để buộc chúng đi theo một hướng. Con chỉ chia sẻ: “Đây là trách nhiệm và cái thấy của con. Con trình bày như vậy thôi nhưng xin tùy thuộc vào đại chúng”. Sư Ông cũng từng nói: “Đây là ý của thầy, nhưng thầy cũng nương tựa vào cái thấy chung của đại chúng”.

 

Con thấy mình cần thực tập và học hỏi, nhất là trong những trường hợp tự thân đang không ổn, trong lòng có nhiều cảm xúc và rất muốn chia sẻ. Khi đó, lời nói của mình có thể trở nên mạnh, dễ bị cho là áp đặt. Nếu cách nói ấy tạo ra một năng lượng không hài hòa, không bình an thì dễ khiến các anh em phản ứng lại. Điều con học được là mình vẫn tập nói, vẫn cùng một ý đó, nhưng nhẹ lại và kết thúc rằng mình nương tựa vào cái thấy của chúng. Đó là những bài học con mang theo, những kinh nghiệm con đã đi qua và vẫn đang thực tập mỗi ngày.

 

Nguyện lực 

 

Con thấy mình rất may mắn khi có một vị thầy như Sư Ông. Sư Ông có khả năng tiếp nối dòng chảy chánh tông của Bụt và chư Tổ, đồng thời làm mới, làm giàu và làm phát triển đạo Bụt. Đó là một gia tài vô cùng quý báu. Chính vì vậy, con nghĩ là tăng thân xuất sĩ cần có những cơ hội đào sâu vào sự thực tập. Nếu không, từ từ mình sẽ đánh mất cái gốc và chỉ còn chia sẻ cái ngọn. Bản thân mỗi người cần tự xác định là mình đang ở đâu; cần đào sâu chỗ nào và thực tập thêm điều gì. Bởi vì hiểu thôi thì chưa đủ. Văn – tư – tu là một hành trình phải thật sự dành thời gian áp dụng, chuyển hóa, để có thực chứng rồi mới chia sẻ được. Khi đó, sự chia sẻ mới đi từ bên trong, từ trái tim đi ra, và mới tiếp nối được Sư Ông, chư Tổ và Đức Thế Tôn. 

 

Con thấy mình như một con rùa: cứ đi chậm chậm, chậm tiêu, mãi tới bây giờ mới hiểu được một chút. Thành ra con mong là mỗi người trong chúng ta đều dấn thân vào chánh pháp. Dấn thân vào công việc hiến tặng thì tăng thân mình đã giỏi rồi, nhưng dấn thân vào chánh pháp mới là cái cốt lõi. Nếu không có chánh pháp thì mình không có nơi nương tựa, cũng không có gì thật sự để cống hiến. Nội lực tu sẽ bị phai mòn, và nếu không khéo thì mình dễ lệch hướng sang danh, lợi,… và đủ thứ trên đời. 

 

Nhìn vào tiến trình tiến hóa của con người và Trái Đất, con thấy tới giai đoạn này, khổ đau ngập tràn khắp nơi. Sư Ông có khả năng gánh được tất cả những khổ đau ấy bằng nguyện lực, sự không sợ hãi, và bằng cả tăng thân. Nếu chúng ta muốn tiếp nối Sư Ông thì mỗi người cần phát khởi nguyện lực để gánh khổ đau — gánh bằng nội lực, bằng không sợ hãi, không tuyệt vọng. Tuy khổ đau không hề ít nhưng, nếu chúng ta gánh chung thì sẽ nhẹ hơn.

 

Tuệ giác đó, Sư Ông đã trao truyền rất rõ: Cái thấy của bản môn chăm sóc được tích môn, rồi từ đó đưa tới hành động. Thành ra, nguyện lực của chúng ta chính là thấy được vai trò và trách nhiệm của mỗi người trong thời đại này và bước tới.

 

Vượt qua sự tuyệt vọng

Cảm giác tuyệt vọng, chán nản, bất lực thường phát sinh khi số lượng khổ đau và thử thách vượt quá ngưỡng giới hạn, quá sức của ta. Khi đó, chúng ta muốn vượt qua cái ngưỡng đó, muốn có thêm sức để đi tiếp. 

Yếu tố đầu tiên trong sự thực tập mà con đã chia sẻ là quay về với cội nguồn của mình: trở về nương tựa, cầu nguyện và mong được tiếp sức.

Yếu tố thứ hai là mình mở cánh cửa của ngưỡng đó. Cái ngưỡng này không cố định và có thể được mở rộng bằng cái thấy của mình. Giống như trong Tứ diệu đế: Khi thấy rõ vấn đề, mình không còn cảm thấy tuyệt vọng. Mình cần có tuệ giác. Mà tuệ giác thì không phải của riêng mình. Việc thực tập, giúp người giúp đời là một quá trình trao truyền và tiếp nối qua không biết bao nhiêu thế hệ. Khi thấy được điều đó, mình không còn thấy đơn độc nữa. Nhờ vậy mà mình đi tới.

Một yếu tố rất quan trọng nữa là khả năng buông. Khổ đau, thử thách có khi trở thành một ngục tù giam hãm mình. Nhưng nhờ sự thực tập hằng ngày — hơi thở, bước chân, trở về với sự sống, với giây phút hiện tại — mà cánh cửa đó được mở ra. Mình không chối từ khổ đau, cũng không đánh phá khổ đau, mà mình ý thức là mình lớn hơn khổ đau đó. Nhờ vào khả năng an trú, mình vẫn có thể nuôi dưỡng mình.

 

Mình nhìn khổ đau theo phương pháp Tứ diệu đế, thấy được gốc rễ của nó để biết mình có thể làm gì. Có khi mình cần phải sống với khổ đau đó, chứ không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa hoàn toàn. Giống như sống với một căn bệnh mãn tính: Nếu thấy rằng vẫn làm được phần cần làm, tức là mình có khả năng thương được khổ đau đó, thoát ra khỏi ngục tù của khổ đau, thì như vậy là được rồi. Khi đó, mình không còn bị trấn ngự bởi tâm hành tuyệt vọng, chán nản hay bất lực.

 

Con có niềm tin vào sự sống. Sự sống mầu nhiệm và kiên cường lắm! Sự sống không chỉ bắt đầu với con người hay với hình hài này, mà là một mạng lưới nhân duyên chằng chịt, trùng trùng duyên khởi. Cho nên, dù khổ đau tràn lấp, sự sống luôn biểu hiện những điều mầu nhiệm, có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc và giúp vượt thoát khổ đau. Sự sống cũng có những sự hộ niệm vượt ngoài trí năng và tính toán của mình: Đó là những điều thuộc về bản môn, thuộc về tàng thức, thuộc về tổ tiên và thuộc về sự sống.

 

Riêng như vậy thôi là con đã thấy mình có phước mới tiếp cận được nguồn năng lượng ấy của sự sống. Sư Ông dạy: “Để Bụt thở, để Bụt lo”, mà bây giờ con mới bắt đầu hiểu. Nếu thoát ra được ý niệm về một cái ngã riêng biệt — một cái ngã phải đối đầu với rất nhiều khổ đau —  tức là mình mở được cánh cửa tương tức, cánh cửa của Không, thì không còn cái ngã đó nữa. Còn nếu mình cứ bị giam trong ý niệm về ngã, thì mệt lắm. Cái ngã đó là một trong những nguồn gốc chính của khổ đau, thâm căn cố đế cho nên mình phải tu.

 

Khổ đau có đó nhưng cách tiếp nhận và tiếp cận khổ đau là do mình. Có tuệ giác thì nó nhẹ ra, còn không có tuệ giác thì mình lại bắn thêm nhiều mũi tên vào khổ đau đó, khiến nó nặng thêm.

 

Điều may mắn lớn của chúng ta là Sư Ông đã gầy dựng tăng thân. Cùng một khổ đau nhưng có tăng thân thì khác; mà “một mình một ngựa” lại khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình biết đầu tư vào tăng thân, nương tựa tăng thân thì chính những vốn liếng đó sẽ cứu mình, giúp mình không bỏ cuộc.

 

Mây trắng thong dong

 

Con xin kết thúc chia sẻ của mình bằng một bài thơ đi lên trong con khi Sư Ông gần viên tịch: 

Mây trắng thong dong tự thuở nào

Vào ra sinh tử lẽ tất nhiên 

Không nắm không buông thường tự tại

Đã về đã tới 

Bây giờ ở đây.

 

Khoá tu trực tuyến ''Lắng dịu tâm sợ hãi''

TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ SỰ SỐNG

“Chúng ta đang sống trong một xã hội còn nhiều bạo động. Bạo động có thể xảy ra ngoài đường phố, trong gia đình, hoặc chỉ cần mở màn hình điện thoại hay bật tivi lên là ta đã tiếp xúc ngay với những tin tức ấy.

Những điều ta nghe, ta thấy và ta đọc có thể gieo vào trong tâm những hạt giống của sợ hãi, hận thù, kỳ thị và bạo động — mà nhiều khi ta không hề hay biết.

Vì vậy, đối với một người thực tập thiền quán, thách thức là làm sao có đủ chánh niệm và tỉnh thức để nhận ra khi những hạt giống ấy đang được tưới tẩm trong tâm. Ta có thể nhận ra được những hành động tưởng chừng nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày của mình — những hành động ấy có thể đang góp phần nuôi dưỡng chiến tranh hay không?

Chúng ta có đang tham dự vào, hoặc đang được hưởng lợi từ, những hệ thống được xây dựng trên bạo động hay không? Ta cần thay đổi điều gì trong cách sống của mình để góp phần xây dựng một nền văn hóa công bằng và có khả năng nuôi dưỡng sự sống — một nền văn hóa biết tôn trọng mọi người và mọi loài?

Sự tôn trọng bắt đầu từ những điều rất căn bản, từ chí hướng nuôi dưỡng tâm không bạo động trong đời sống hằng ngày.

Khi Làng Mai bắt đầu tổ chức những khóa tu trực tuyến vào năm 2020, chúng tôi đã mời các thiền sinh tạo ra một góc nhỏ thiêng liêng trong ngôi nhà của mình, nơi mà họ có thể trở về ngồi yên, lắng dịu thân tâm, nghe pháp thoại, hay ngồi thiền.

Trong thời gian đại dịch, Làng Mai không thể mở cửa đón mọi người tới thực tập. Nhưng chúng tôi vẫn có thể giúp thiền sinh tạo nên một không gian thiêng liêng và nuôi dưỡng ngay trong ngôi nhà hay nơi họ đang ở

Không gian ấy đã trở thành một phần của sự thực tập — một nơi giúp tưới tẩm và nuôi dưỡng những hạt giống bình an và thương yêu tôn trọng ngay trong tâm thức mỗi người.

Bạn có thể đặt vài bông hoa, một cây nến, hoặc một nén hương. Cũng có thể đặt vào đó những món quà nho nhỏ của Mẹ thiên nhiên như một viên sỏi, hay một chiếc lá mùa thu.

Cũng thật đẹp nếu như ta đặt vào góc nhỏ tâm linh ấy vài tấm hình của những người truyền cảm hứng cho ta, hay bức hình của ông bà tổ tiên,

hoặc hình của những nơi chốn mà có ý nghĩa đặc biệt trong lòng ta. Mỗi khi ta cần tiếp thêm hy vọng và chắp cánh ước mơ; hoặc chỉ đơn giản là một nơi để ta thoả lòng được khóc.

Một góc nhỏ như thế có thể giúp ta lắng dịu và chạm tới những gì thiêng liêng và sâu sắc ngay trong đời sống của mình.”

Đoạn chia sẻ trên viết bởi sư cô Hiến Nghiêm và được trích từ cuốn sách “Zen and the Art of Saving the Planet”.

Những lời nhắc nhở rất giản dị nhưng sâu sắc này giúp chúng ta trở về quán chiếu đời sống của mình, để nuôi dưỡng lòng biết ơn và thực tập tâm thương yêu, bất bạo động.

Nhân đây, chúng con cũng xin chia sẻ niềm vui nho nhỏ với đại chúng: Đầu năm nay 2026,

Xóm Hạ- Lang Mai mới tổ chức khóa tu trực tuyến “Lắng Dịu Tâm Sợ Hãi – Calming the Fearful Mind”, dù đại dịch đã kết thúc từ lâu nhưng với mong muốn giúp nhiều người khắp nơi được tiếp cận pháp môn và thực tập ngay trong không gian nhà mình. Khóa tu quy tụ hơn 721 thiền sinh từ nhiều quốc gia tham dự với 3 ngôn ngữ là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, trong đó 250 người nhận 5 giới tân tu để thực tập.

Hy vọng rằng chúng ta tự nhắc nhở nhau để tiếp tục chăm sóc đời sống tâm linh của mình, và cùng nhau nuôi dưỡng một nếp sống có hiểu biết, có từ bi, biết trân quý và bảo hộ sự sống trên hành tinh này.

Giới thiệu sách mới “Ngày xuân bói Kiều”

Truyện Kiều: Thi hào Nguyễn Du – Chọn quẻ: Sư Ông Làng Mai

 
 
 

Ngày xuân bói một quẻ Kiều không phải để đoán đúng sai, mà để thấy rõ: mình đang gieo gì và muốn gặt gì. Mỗi quẻ như một tấm gương hiền nhắc mình điều cần giữ, điều cần buông, và một “nhân” nhỏ để bắt đầu lại. Rồi từ đó, năm mới không chỉ là lời chúc, mà là một hướng sống: vững vàng hơn, an lành hơn.

Bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” kèm sách hướng dẫn là một nghi thức nhỏ: rút thẻ – đọc chậm – lắng nghe… để mình biết cách sống và tu tập thế nào cho hạnh phúc trong năm mới.

  • 210 quẻ Kiều, mỗi thẻ 2 câu lục bát

  • Gợi mở theo tinh thần nhân – quả (nhân là lời khuyên, quả là điều đang/điều mong)

  • Lời đoán hướng đến an ủi, khuyến khích và soi sáng

Bói Kiều tại Làng Mai được làm mới như một sinh hoạt văn hoá ngày Tết, giàu tính nuôi dưỡng và chuyển hoá.

 
Xin truy cập vào đường link dưới đây để biết thêm thông tin đặt sách: 
 

https://go.thaihabooks.com/ngay-xuan-boi-kieu

Giếng nước thơm trong

Be Happy

Chị Thu Hằng là một người Việt sống ở Thuỵ Sĩ. Chị đã đến Làng Mai thực tập trong tuần vừa qua (27/2-5/3/2026), với chủ đề của khoá tu là “Nghệ thuật thư pháp”. BBT đã có buổi ngồi trò chuyện với chị. Dưới đây là phần tường thuật tóm tắt buổi trò chuyện. Kính mời đại chúng cùng tham gia vào không gian của buổi chuyện trò thân mật này.

 

BBT: Chào chị. Cảm ơn chị đã nhận lời ngồi chơi với BBT. Trước tiên xin được hỏi nhân duyên gì đã đưa chị đến với Làng ạ?

 

Chị Hằng: Dạ nói về nhân duyên, thực ra mình nghe đến Làng Mai rất nhiều dù không nhớ rõ lần đầu tiên là khi nào. Chỉ biết là nghe rất nhiều, từ dì, từ cháu, mọi người đi Làng Mai rất nhiều mà mình thì biết vậy thôi. Thế rồi một lần không hiểu nhân duyên đưa đẩy thế nào khi thấy tên Làng Mai trên mạng xã hội, bỗng chốc trong mình có thôi thúc muốn đi. Vậy là mình rủ một cô bạn đi cùng và đến Làng ở một tuần. Nói chung rất là thích, rất nhiều cảm nhận. Từ đó mình luôn có mong muốn quay lại Làng Mai. Cái thôi thúc rất đơn giản là muốn quay lại để được gặp các Sư cô, và gặp lại cộng đồng (tăng thân tu tập).

 

BBT: Ấn tượng ban đầu hoặc là điều gì chị thấy ấn tượng nhất khi tới Làng ạ?

 

Chị Hằng: Hôm đó ông xã đưa mình tới bằng ô tô. Đi một quãng đường dài, và ngay khi bước chân qua cánh cổng của Xóm Mới, tự nhiên mình cảm nhận một nguồn năng lượng gì đó khó tả lắm. Nó tràn ngập trong mình và mình cảm thấy có một cái gì đó rất kỳ lạ như cảm giác trở về nhà. Trở về với một điều gì rất thiêng liêng. Đó là ấn tượng đầu tiên. Sau đó có một Sư cô tới hỏi: “Cô ăn gì chưa? Mời cô vào ăn cơm!” Thế là mình “dạ dạ vâng vâng” rồi theo vào. Không hiểu sao lúc đó mình lại không bảo ông xã cùng vào. Chắc vì mình cứ nghĩ là mình đi vào một chốn tu hành, rất là khổ hạnh. Đến lúc vào thấy đồ ăn ngon quá, xong cứ tiếc mãi, không bảo ông vào trước khi ông đi đường dài trở về {cười}.

Một tuần ở Làng Mai lần đó, mình được sống trong một thế giới khác. Trước kia trong tâm tưởng của mình khi nghĩ về một chốn tu hành, nó có nghĩa là cái gì đó rất ép xác. Nhưng khi đến đây mình cảm nhận được rất nhiều tình thương, rất nhiều sự hài hước, rất nhiều những gì là cuộc sống đời thường. Nhóm mình đã làm một bài hát, cùng hát với các Sư cô, rồi có cả một Sư cô cũng đánh đàn nữa. Tức là mình thấy không có gì là quá xa cách với cuộc sống đời thường. Có chăng là về đây trong một thế giới mà nó giúp mình có chánh niệm hơn, để tu dưỡng và quay trở lại với chính mình.

 

BBT: Qua hai lần đến Làng, chị có thấy điều gì khác giữa hai lần đó không ạ?

 

Chị Hằng: Hai địa điểm khác nhau, lần trước mình ở Xóm Mới và lần này là Xóm Hạ, nhưng đều có cảm nhận chung là như mình được trở về nhà. Mình ngẫm nghĩ tại sao có một tuần nghỉ lễ thay vì mình có thể đi đến những nơi giải trí, đi bãi biển, đi đánh gôn mà mình lại nghĩ về Làng Mai? Mình đến với Làng Mai lần này trong tâm thế hơi khác lần trước, là một kỳ đi nghỉ thay vì một kỳ đi học. Và thứ hai là, mình đến như kiểu “đi để trở về”. Mình rất thích thú với câu này, nó cứ lui tới trong tâm trí mình. Mình đi đến Làng Mai như là cơ hội được trở về với cội nguồn, được trở về với chính mình, sống với chính mình, cảm nhận chính mình, để thấy rõ hơn mình thật sự muốn gì.

 

BBT: Từ trải nghiệm của một kiều bào sống xa quê hương, chị thấy môi trường tu học của Làng có giúp ích nhiều cho những người cũng có hoàn cảnh như mình không?

 

Chị Hằng: Dạ có chứ. Trong những buổi pháp đàm, mình cũng đặt ra một câu hỏi. Mọi người đến thường có những khổ đau và đến đây để chữa lành, còn mình sao mình thấy mình không có nỗi đau nào cả. Nhưng khi càng nghe, càng nhìn những hiện tượng thì mình nhận ra rất nhiều thứ. Thực ra là mình có, những thứ nó nhỏ, chỗ này chỗ kia tích tụ lại. Những thứ từ môi trường làm việc, khác ngôn ngữ, khác văn hoá, hiểu lầm nhau cho đến trong gia đình, ông xã, trẻ con. Những áp lực từ xã hội rồi khi mình về mình lại xả nó lên cho những người thân, những người xung quanh mình. Bình thường mình không nhận ra, không để ý đến những sự tích tụ này. Khi về Làng, mình có thời gian tĩnh lặng, một tuần ở Làng mình thấy giá trị có thể bằng cả năm vì nó là một khoảng thời gian giúp mình nhìn lại mình và cảm nhận đúng là mình có những vấn đề đang diễn ra như vậy và mình phải xử lý nó như thế nào. Khi mình là một kiều bào, sống xa quê hương, xa môi trường văn hoá của mình, không có nhiều người thân, cha mẹ ở gần, không có bà con cô bác để tâm sự nhiều thì môi trường ở Làng rất hữu ích. Chính một tuần ở Làng giúp mình nhìn lại, giúp cho mình nghe, học hỏi thêm, và để mình trở về hoà nhập vào cộng đồng tốt hơn.

 

BBT: Hay quá! Khoá tu tuần này có chủ đề là “Nghệ thuật thư pháp”. Chị có viết thư pháp nhiều không?

 

Chị Hằng: Thực ra trước đây mình chưa bao giờ viết thư pháp. Nhưng hồi xưa đi học, mình cũng thích viết chữ đẹp. Lần này sang chủ đề này cũng làm mình rất thích thú và viết cũng được khá nhiều.

 

BBT: Có câu thư pháp nào mà chị thấy nó đánh động vào mình nhiều hoặc sẽ mang nó như một hành trang khi trở về?

 

Chị Hằng: Ừm câu hỏi hay ghê!… Thực ra lúc ban đầu, đầu tiên hết mình chọn viết tên mình vì mình muốn để mình trân trọng mình. Mỗi lần viết tên mình, “Hằng”, thì mình nghĩ mình là mình, mình happy, mình có rất nhiều giá trị, mình rất là tốt. Sau đó mình viết tên mình và tên ông xã vì mình rất thương ông xã và cảm thấy rất gắn bó và sau đó lại muốn viết tên các con mình. Và hôm nay, được Sư cô phát cho một tờ giấy để viết cái gì đó mang về làm quà tặng. Mình nghĩ không biết viết cái gì vì có rất nhiều từ đi lên trong mình. “Joy” (niềm vui), “Breathe” (thở), “Calm” (tĩnh lặng),… tất cả những cái đấy đều quan trọng. Cuối cùng mình chọn viết “Be happy”. Be happy với mình có nghĩa là hài lòng, lúc nào cũng mỉm cười với chính mình. Và mình định tặng nó làm quà sinh nhật cho cô con dâu. Vừa là cho mình, vừa là cho cô ấy. Bởi vì cô ấy sẽ treo nó lên và mỗi lần qua thì mình sẽ nhìn thấy. Ví dụ khi mình sang mà mình thấy nhà cửa bừa bộn, cô ấy không chăm sóc tốt cho con mình thì mình cũng happy {cười} bởi vì con mình happy. Mình nhớ hôm trước trong bài pháp thoại Sư cô nói: món quà lớn nhất mà mình để lại cho con cái, cho người thân xung quanh là mình hạnh phúc. Be happy để con mình nó cũng hạnh phúc cùng với mình.

 

BBT: Hay quá! Cảm ơn chị rất nhiều. Chị cười rất là đẹp.

 

Chị Hằng: Vậy ạ? Dạ phải thường xuyên cười hơn. Lần trước mình có mua vài bức thư pháp, tình cờ nhìn lại thấy câu nào cũng toàn là “smile”, tiếng Anh rồi tiếng Pháp. Một bức treo ở nhà, một bức để ở văn phòng làm việc, nhắc nhở mình nhớ cười mỗi ngày. Hy vọng có dịp lại qua Làng, và lần sau có thể rủ thêm ông xã cùng đi. Chắc là ông ấy sẽ rất thích ở đây.

 

BBT: Hy vọng sẽ lại được đón chị cùng anh nhà tiếp tục sang Làng thực tập. Và cũng chúc chị sẽ mang những bình an, hạnh phúc, và những niềm vui và những nụ cười những ngày ở đây về với gia đình cũng như những người thân yêu xung quanh. Cảm ơn chị đã dành thời gian ngồi chuyện trò với BBT.

 

BBT: Dạ cảm ơn Sư cô. Chúc quý Sư cô cũng tiếp tục hành trình của mình vui vẻ và tiếp tục gieo mầm những yêu thương và bình an đến cho mọi người đến đây tu tập.