Hạnh môn mở rộng cửa tương lai

Thầy Chân Pháp Ứng

 

Thầy Pháp Ứng xuất gia năm 1993 tại Làng Mai Pháp trong gia đình Con Cá. Vững chãi và thảnh thơi, thầy luôn là nguồn cảm hứng tu học cho cả tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ, tâm tình của thầy với các sư em trong ban biên tập Lá thư Làng Mai. 

 

Gia tài tâm linh

 

Con kính bạch Sư Ông, 

Kính thưa gia đình tâm linh qua nhiều thế hệ, 

Con rất biết ơn và có niềm tin sâu sắc nơi giáo pháp của Đức Thế Tôn — giáo pháp hiện pháp lạc trú mà chư Bụt, chư Tổ đã trao truyền và Sư Ông đã tiếp nối. Đó là cái thấy: Quê hương của mình ở đây; tất cả những gì mình cần đều có sẵn trong tâm. Và tâm thì không bị giới hạn trong thân thể con người này, mà có mặt bàng bạc trong sự sống.

 

Sư Ông đã khai triển mối liên hệ giữa tích môn, bản môn và hạnh môn rất sâu sắc. Con thấy rõ bản môn là nền tảng cho tích môn và hạnh môn; ba bình diện ấy không thể tách rời, chúng liên đới với nhau, tương tức và nâng đỡ nhau.

 

Con cũng rất biết ơn vì từ tuệ giác và kinh nghiệm mà Sư Ông đã chế tác ra những pháp môn rất cụ thể, giúp mình duy trì đời sống tâm linh: sống được với bản môn, chăm sóc được tích môn và dấn thân mà không đánh mất chính mình, không rời quê hương đích thực. Những pháp môn ấy là châu báu, tâm huyết và cốt tủy mà Đức Thế Tôn, chư Tổ và Sư Ông đã trao truyền lại. Nhờ có Bụt, có Tăng và biết bao thế hệ tu tập để mình có được hơi thở – bước chân này hay khả năng ăn cơm, uống trà như vậy. Đó không đơn giản chỉ là những pháp môn phương tiện mà chứa đựng biết bao tình thương và tuệ giác.

 

Con thấy mình rất may mắn khi tiếp nhận được gia tài ấy. Con ý thức rằng mình cần thấy được chiều sâu của những pháp môn tu học để duy trì sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày. Hiện nay, nhu cầu giúp đời rất lớn và cấp bách, nếu mình không biết nuôi dưỡng thì nội lực tu tập sẽ dễ bị hao mòn. Khi đó, mình đánh mất tất cả: bước chân cũng mất, bữa ăn cũng vội, chỉ làm cho xong, rất đáng tiếc. Đó là điểm mà con nghĩ tất cả anh chị em trong tăng thân cần cùng nhau nỗ lực để chúng ta còn được là mình.

 

Trong đời sống, con tìm cách cân bằng ba yếu tố: bản môn, tích môn và hạnh môn. Con cũng ý thức rằng có những lúc mình chạm tới ngưỡng (giới hạn) của mình. Khi đó, con biết là mình cần phải trở về với gốc rễ. Con lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Sư Ông để có thêm sức mạnh vượt qua ngưỡng của chính mình và tiếp tục đi tới. Mỗi người trong chúng ta, một mặt cần ý thức được ngưỡng của mình; mặt khác, cũng cần có sự dũng cảm để vượt lên ngưỡng ấy. Hai điều này cần đi đôi với nhau. Giống như một cái cây: có lúc phải đi qua những cơn bão, nhưng chính nhờ vậy mà nó càng cắm rễ sâu hơn, càng nỗ lực bám trụ và tiếp tục đi tới.

 

Đối với con, đời tu là một quá trình đòi hỏi mình phải nỗ lực từng ngày. Con nhớ Sư Ông từng dùng những hình ảnh về đời sống của Bụt để căn dặn chúng con: Thành đạo rồi, Bụt vẫn tiếp tục tu, chứ không dừng lại. Và Bụt bây giờ cũng đang tiếp tục tu với mình.

 

Mình có trong nhau, mình là nhau

 

Với năm tháng tu học, dần dần trong con xuất hiện một nhận thức mới: chuyện giải thoát, chuyện thành công, chuyện phụng sự đều được đặt trên nền tảng là mình vốn đã ổn rồi. Nó lạ như vậy đó! Nó đặt trên nền tảng của đã về, đã tới, của hiện pháp lạc trú, của không tranh cầu, không tranh chấp, không phải cố gắng để trở thành, kể cả trong phụng sự.

 

Khi đó, chuyện giải thoát không còn là chuyện giải thoát cá nhân nữa. Trong tâm thức cộng đồng hiện nay, ý niệm về thành công và giải thoát cá nhân rất mạnh: mình phải đạt cái này, mình phải chuyển hóa cái kia, mình phải. Trong cái “mình” đó đã có sẵn ý niệm về một cái ngã riêng biệt, và đó là một trong những bức tường ngăn cản sự cộng tác, phối hợp, làm thành một thân thể chung. Khi mình chuyển được nhận thức ấy — rằng mình vốn là nhau, mình vốn là sự sống mầu nhiệm, mình có mặt ở đây để hiến tặng tình thương — thì khởi điểm đã khác hẳn. Mình có mặt để nuôi dưỡng và trị liệu, chứ không đặt thêm một mục đích nào khác ngoài những điều đó. 

 

Nhìn Sư Ông, chúng ta thấy Sư Ông làm không biết bao nhiêu việc trong đời mà vẫn thảnh thơi và tự do. Nếu mỗi cá nhân trong chúng ta có được điều đó, thì khi đến với nhau, mọi thứ sẽ rất khác: năng lượng rất nuôi dưỡng, rất hòa thuận. Cái gì cũng có thể làm được, cứ làm là thành công. Con đường Sư Ông đã mở rất rõ rồi. Bây giờ là lúc chúng ta bước tới, thực hiện và tạo cảm hứng cho nhau. Tất cả bắt đầu từ nhận thức. Rồi khi đi vào thực tế, mình bắt tay làm với tất cả sự thực tâm, có va chạm mình mới học được, như viên ngọc được mài dũa mà sáng; hay như bó đũa nhờ chà xát vào nhau mà sạch.

 

Ý thức mình là một gia đình với nhau rất quan trọng, nhất là trong những lúc khó khăn, va chạm — những va chạm có thể tạo ra vết thương dù mình không hề muốn. Chung cuộc, nếu mình lấy tình huynh đệ, tình thương và ước muốn đưa nhau đi tới làm nền tảng thì mọi chuyện sẽ ổn. Còn không, mình mất nhau rất dễ. 

 

Có những niềm đau mang tính bổ ích: Như cái cây muốn lớn lên, thân nó có lúc phải nứt ra. Nó đau chứ. Về phương diện tâm linh cũng vậy: có lúc rất đau để mà lớn. Vì vậy, mình cần phải ý thức khả năng tiếp nhận niềm đau của huynh đệ mình tới đâu. Sự thật lòng của mình cần được kết nối với huynh đệ. Giúp được huynh đệ thì cũng là giúp được mình; còn không giúp được huynh đệ thì mình cũng buồn thôi, vì mình là một với nhau.

 

Có những lúc mình phải dũng cảm “ra chiêu”, nhưng không phải để đối đầu mà xuất phát từ tình thương; muốn huynh đệ hiểu và thoát ra khỏi vòng lặp khổ đau. Bởi vì mình hiểu rằng chuyện của một huynh đệ không phải là chuyện riêng của người đó, mà liên hệ tới cả tăng thân. Khi phải dùng tới những cách mạnh thì cần nội lực, tình thương, tuệ giác và cả phước đức nữa. Việc này đòi hỏi rất nhiều sự cân nhắc, sự hiểu biết tâm lý của huynh đệ, và cả sự cầu nguyện — cầu nguyện Bụt Tổ, cầu nguyện Sư Ông gia hộ, độ trì giúp cho mỗi người đi qua được giai đoạn khó khăn đó. 

 

Cùng nhau đi tới

 

Sống trong tăng thân, mỗi người đều có cái thấy riêng; vì vậy mình cần lắng nghe nhau, phối hợp ý và phối hợp cái nhìn để có được sự hòa thuận, đi tới những quyết định chín chắn, và giúp tăng thân đi như một dòng sông. Đó là một bài học mà con nghĩ ai trong tăng thân cũng đang học và tiếp tục học. Riêng bản thân con, con thấy mình học hỏi được rất nhiều.

 

Trước đây, con rất ngại va chạm. Con hay có khuynh hướng: “Thôi, hòa cho yên, mệt lắm!”.  Nhưng con học được rằng, nếu thấy và biết rõ điều gì cần nói mà chỉ vì ngại, không nói ra, thì vô tình lại tạo thêm vết thương và dễ gây chia rẽ. Lời nói của mình có thể đụng chạm người này vì không như ý họ, đụng chạm người khác vì không như ý người kia, nhưng con chấp nhận điều đó. Vì vậy, dù cho sẽ đụng chạm và khó đến mấy, con cũng ráng nói, với ước nguyện duy nhất là để mang lại hòa thuận, chứ không phải hơn thua, không phải vì quyền lực hay muốn tranh chấp. Nhiệm vụ của mình là ôm mọi người vào lòng và đặt ưu tiên cho sự hòa thuận. Và một khi chia sẻ xong, về phương diện cá nhân, có thể con và người nào đó sẽ không thoải mái; nhưng về phương diện đại chúng, con ý thức rằng mình đã làm hết phần của mình đối với tăng thân và đối với Sư Ông. Những gì xảy ra tiếp theo tùy rất nhiều nhân duyên và con tôn trọng cái thấy của mọi người. 

 

Con hiểu rằng mỗi người đều đã làm hết sức mình vì lợi ích chung, chứ không phải vì lợi ích riêng. Những va chạm, sứt mẻ có thể đến từ những góc nhìn khác nhau. Tuy vậy, sau tất cả, chúng ta vẫn có thể ôm nhau khóc bởi tình anh em đâu phải có được trong ngày một, ngày hai mà được xây dựng qua năm tháng, qua cách sống, cách chơi và cái hiểu về nhau. Vì vậy, trong những giây phút đó, con chọn đặt Sư Ông và đại chúng lên trên, nhưng cũng đồng thời không chọn đối đầu. Con học được bài học rằng khi đối đầu, cho dù nghĩ là mình đúng thì bản thân cũng mệt, người khác cũng mệt và Sư Ông cũng mệt. Rốt cuộc, kết quả có thể thế này hay thế kia, nhưng lại dễ tạo nên sự đổ vỡ trong lòng mỗi người.

 

Là một người sống trong chúng khá lâu, con ý thức rằng mình cần phải rất cẩn trọng với tiếng nói của mình. Tiếng nói ấy có thể được tiếp nhận như tiếng nói của một thành viên trong chúng đang góp ý, nhưng cũng có thể được tiếp nhận như là từ trên dạy xuống, và khi đó sẽ có phản ứng. Hoặc tiếng nói của mình được tiếp nhận theo kiểu ‘thầy đã nói như vậy rồi’, thì không còn không gian cho mọi người chia sẻ nữa. Vì vậy, con không lấy quyền của một thầy lớn để buộc chúng đi theo một hướng. Con chỉ chia sẻ: “Đây là trách nhiệm và cái thấy của con. Con trình bày như vậy thôi nhưng xin tùy thuộc vào đại chúng”. Sư Ông cũng từng nói: “Đây là ý của thầy, nhưng thầy cũng nương tựa vào cái thấy chung của đại chúng”.

 

Con thấy mình cần thực tập và học hỏi, nhất là trong những trường hợp tự thân đang không ổn, trong lòng có nhiều cảm xúc và rất muốn chia sẻ. Khi đó, lời nói của mình có thể trở nên mạnh, dễ bị cho là áp đặt. Nếu cách nói ấy tạo ra một năng lượng không hài hòa, không bình an thì dễ khiến các anh em phản ứng lại. Điều con học được là mình vẫn tập nói, vẫn cùng một ý đó, nhưng nhẹ lại và kết thúc rằng mình nương tựa vào cái thấy của chúng. Đó là những bài học con mang theo, những kinh nghiệm con đã đi qua và vẫn đang thực tập mỗi ngày.

 

Nguyện lực 

 

Con thấy mình rất may mắn khi có một vị thầy như Sư Ông. Sư Ông có khả năng tiếp nối dòng chảy chánh tông của Bụt và chư Tổ, đồng thời làm mới, làm giàu và làm phát triển đạo Bụt. Đó là một gia tài vô cùng quý báu. Chính vì vậy, con nghĩ là tăng thân xuất sĩ cần có những cơ hội đào sâu vào sự thực tập. Nếu không, từ từ mình sẽ đánh mất cái gốc và chỉ còn chia sẻ cái ngọn. Bản thân mỗi người cần tự xác định là mình đang ở đâu; cần đào sâu chỗ nào và thực tập thêm điều gì. Bởi vì hiểu thôi thì chưa đủ. Văn – tư – tu là một hành trình phải thật sự dành thời gian áp dụng, chuyển hóa, để có thực chứng rồi mới chia sẻ được. Khi đó, sự chia sẻ mới đi từ bên trong, từ trái tim đi ra, và mới tiếp nối được Sư Ông, chư Tổ và Đức Thế Tôn. 

 

Con thấy mình như một con rùa: cứ đi chậm chậm, chậm tiêu, mãi tới bây giờ mới hiểu được một chút. Thành ra con mong là mỗi người trong chúng ta đều dấn thân vào chánh pháp. Dấn thân vào công việc hiến tặng thì tăng thân mình đã giỏi rồi, nhưng dấn thân vào chánh pháp mới là cái cốt lõi. Nếu không có chánh pháp thì mình không có nơi nương tựa, cũng không có gì thật sự để cống hiến. Nội lực tu sẽ bị phai mòn, và nếu không khéo thì mình dễ lệch hướng sang danh, lợi,… và đủ thứ trên đời. 

 

Nhìn vào tiến trình tiến hóa của con người và Trái Đất, con thấy tới giai đoạn này, khổ đau ngập tràn khắp nơi. Sư Ông có khả năng gánh được tất cả những khổ đau ấy bằng nguyện lực, sự không sợ hãi, và bằng cả tăng thân. Nếu chúng ta muốn tiếp nối Sư Ông thì mỗi người cần phát khởi nguyện lực để gánh khổ đau — gánh bằng nội lực, bằng không sợ hãi, không tuyệt vọng. Tuy khổ đau không hề ít nhưng, nếu chúng ta gánh chung thì sẽ nhẹ hơn.

 

Tuệ giác đó, Sư Ông đã trao truyền rất rõ: Cái thấy của bản môn chăm sóc được tích môn, rồi từ đó đưa tới hành động. Thành ra, nguyện lực của chúng ta chính là thấy được vai trò và trách nhiệm của mỗi người trong thời đại này và bước tới.

 

Vượt qua sự tuyệt vọng

Cảm giác tuyệt vọng, chán nản, bất lực thường phát sinh khi số lượng khổ đau và thử thách vượt quá ngưỡng giới hạn, quá sức của ta. Khi đó, chúng ta muốn vượt qua cái ngưỡng đó, muốn có thêm sức để đi tiếp. 

Yếu tố đầu tiên trong sự thực tập mà con đã chia sẻ là quay về với cội nguồn của mình: trở về nương tựa, cầu nguyện và mong được tiếp sức.

Yếu tố thứ hai là mình mở cánh cửa của ngưỡng đó. Cái ngưỡng này không cố định và có thể được mở rộng bằng cái thấy của mình. Giống như trong Tứ diệu đế: Khi thấy rõ vấn đề, mình không còn cảm thấy tuyệt vọng. Mình cần có tuệ giác. Mà tuệ giác thì không phải của riêng mình. Việc thực tập, giúp người giúp đời là một quá trình trao truyền và tiếp nối qua không biết bao nhiêu thế hệ. Khi thấy được điều đó, mình không còn thấy đơn độc nữa. Nhờ vậy mà mình đi tới.

Một yếu tố rất quan trọng nữa là khả năng buông. Khổ đau, thử thách có khi trở thành một ngục tù giam hãm mình. Nhưng nhờ sự thực tập hằng ngày — hơi thở, bước chân, trở về với sự sống, với giây phút hiện tại — mà cánh cửa đó được mở ra. Mình không chối từ khổ đau, cũng không đánh phá khổ đau, mà mình ý thức là mình lớn hơn khổ đau đó. Nhờ vào khả năng an trú, mình vẫn có thể nuôi dưỡng mình.

 

Mình nhìn khổ đau theo phương pháp Tứ diệu đế, thấy được gốc rễ của nó để biết mình có thể làm gì. Có khi mình cần phải sống với khổ đau đó, chứ không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa hoàn toàn. Giống như sống với một căn bệnh mãn tính: Nếu thấy rằng vẫn làm được phần cần làm, tức là mình có khả năng thương được khổ đau đó, thoát ra khỏi ngục tù của khổ đau, thì như vậy là được rồi. Khi đó, mình không còn bị trấn ngự bởi tâm hành tuyệt vọng, chán nản hay bất lực.

 

Con có niềm tin vào sự sống. Sự sống mầu nhiệm và kiên cường lắm! Sự sống không chỉ bắt đầu với con người hay với hình hài này, mà là một mạng lưới nhân duyên chằng chịt, trùng trùng duyên khởi. Cho nên, dù khổ đau tràn lấp, sự sống luôn biểu hiện những điều mầu nhiệm, có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc và giúp vượt thoát khổ đau. Sự sống cũng có những sự hộ niệm vượt ngoài trí năng và tính toán của mình: Đó là những điều thuộc về bản môn, thuộc về tàng thức, thuộc về tổ tiên và thuộc về sự sống.

 

Riêng như vậy thôi là con đã thấy mình có phước mới tiếp cận được nguồn năng lượng ấy của sự sống. Sư Ông dạy: “Để Bụt thở, để Bụt lo”, mà bây giờ con mới bắt đầu hiểu. Nếu thoát ra được ý niệm về một cái ngã riêng biệt — một cái ngã phải đối đầu với rất nhiều khổ đau —  tức là mình mở được cánh cửa tương tức, cánh cửa của Không, thì không còn cái ngã đó nữa. Còn nếu mình cứ bị giam trong ý niệm về ngã, thì mệt lắm. Cái ngã đó là một trong những nguồn gốc chính của khổ đau, thâm căn cố đế cho nên mình phải tu.

 

Khổ đau có đó nhưng cách tiếp nhận và tiếp cận khổ đau là do mình. Có tuệ giác thì nó nhẹ ra, còn không có tuệ giác thì mình lại bắn thêm nhiều mũi tên vào khổ đau đó, khiến nó nặng thêm.

 

Điều may mắn lớn của chúng ta là Sư Ông đã gầy dựng tăng thân. Cùng một khổ đau nhưng có tăng thân thì khác; mà “một mình một ngựa” lại khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình biết đầu tư vào tăng thân, nương tựa tăng thân thì chính những vốn liếng đó sẽ cứu mình, giúp mình không bỏ cuộc.

 

Mây trắng thong dong

 

Con xin kết thúc chia sẻ của mình bằng một bài thơ đi lên trong con khi Sư Ông gần viên tịch: 

Mây trắng thong dong tự thuở nào

Vào ra sinh tử lẽ tất nhiên 

Không nắm không buông thường tự tại

Đã về đã tới 

Bây giờ ở đây.

 

Khoá tu trực tuyến ''Lắng dịu tâm sợ hãi''

TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ SỰ SỐNG

“Chúng ta đang sống trong một xã hội còn nhiều bạo động. Bạo động có thể xảy ra ngoài đường phố, trong gia đình, hoặc chỉ cần mở màn hình điện thoại hay bật tivi lên là ta đã tiếp xúc ngay với những tin tức ấy.

Những điều ta nghe, ta thấy và ta đọc có thể gieo vào trong tâm những hạt giống của sợ hãi, hận thù, kỳ thị và bạo động — mà nhiều khi ta không hề hay biết.

Vì vậy, đối với một người thực tập thiền quán, thách thức là làm sao có đủ chánh niệm và tỉnh thức để nhận ra khi những hạt giống ấy đang được tưới tẩm trong tâm. Ta có thể nhận ra được những hành động tưởng chừng nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày của mình — những hành động ấy có thể đang góp phần nuôi dưỡng chiến tranh hay không?

Chúng ta có đang tham dự vào, hoặc đang được hưởng lợi từ, những hệ thống được xây dựng trên bạo động hay không? Ta cần thay đổi điều gì trong cách sống của mình để góp phần xây dựng một nền văn hóa công bằng và có khả năng nuôi dưỡng sự sống — một nền văn hóa biết tôn trọng mọi người và mọi loài?

Sự tôn trọng bắt đầu từ những điều rất căn bản, từ chí hướng nuôi dưỡng tâm không bạo động trong đời sống hằng ngày.

Khi Làng Mai bắt đầu tổ chức những khóa tu trực tuyến vào năm 2020, chúng tôi đã mời các thiền sinh tạo ra một góc nhỏ thiêng liêng trong ngôi nhà của mình, nơi mà họ có thể trở về ngồi yên, lắng dịu thân tâm, nghe pháp thoại, hay ngồi thiền.

Trong thời gian đại dịch, Làng Mai không thể mở cửa đón mọi người tới thực tập. Nhưng chúng tôi vẫn có thể giúp thiền sinh tạo nên một không gian thiêng liêng và nuôi dưỡng ngay trong ngôi nhà hay nơi họ đang ở

Không gian ấy đã trở thành một phần của sự thực tập — một nơi giúp tưới tẩm và nuôi dưỡng những hạt giống bình an và thương yêu tôn trọng ngay trong tâm thức mỗi người.

Bạn có thể đặt vài bông hoa, một cây nến, hoặc một nén hương. Cũng có thể đặt vào đó những món quà nho nhỏ của Mẹ thiên nhiên như một viên sỏi, hay một chiếc lá mùa thu.

Cũng thật đẹp nếu như ta đặt vào góc nhỏ tâm linh ấy vài tấm hình của những người truyền cảm hứng cho ta, hay bức hình của ông bà tổ tiên,

hoặc hình của những nơi chốn mà có ý nghĩa đặc biệt trong lòng ta. Mỗi khi ta cần tiếp thêm hy vọng và chắp cánh ước mơ; hoặc chỉ đơn giản là một nơi để ta thoả lòng được khóc.

Một góc nhỏ như thế có thể giúp ta lắng dịu và chạm tới những gì thiêng liêng và sâu sắc ngay trong đời sống của mình.”

Đoạn chia sẻ trên viết bởi sư cô Hiến Nghiêm và được trích từ cuốn sách “Zen and the Art of Saving the Planet”.

Những lời nhắc nhở rất giản dị nhưng sâu sắc này giúp chúng ta trở về quán chiếu đời sống của mình, để nuôi dưỡng lòng biết ơn và thực tập tâm thương yêu, bất bạo động.

Nhân đây, chúng con cũng xin chia sẻ niềm vui nho nhỏ với đại chúng: Đầu năm nay 2026,

Xóm Hạ- Lang Mai mới tổ chức khóa tu trực tuyến “Lắng Dịu Tâm Sợ Hãi – Calming the Fearful Mind”, dù đại dịch đã kết thúc từ lâu nhưng với mong muốn giúp nhiều người khắp nơi được tiếp cận pháp môn và thực tập ngay trong không gian nhà mình. Khóa tu quy tụ hơn 721 thiền sinh từ nhiều quốc gia tham dự với 3 ngôn ngữ là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, trong đó 250 người nhận 5 giới tân tu để thực tập.

Hy vọng rằng chúng ta tự nhắc nhở nhau để tiếp tục chăm sóc đời sống tâm linh của mình, và cùng nhau nuôi dưỡng một nếp sống có hiểu biết, có từ bi, biết trân quý và bảo hộ sự sống trên hành tinh này.

Giới thiệu sách mới “Ngày xuân bói Kiều”

Truyện Kiều: Thi hào Nguyễn Du – Chọn quẻ: Sư Ông Làng Mai

 
 
 

Ngày xuân bói một quẻ Kiều không phải để đoán đúng sai, mà để thấy rõ: mình đang gieo gì và muốn gặt gì. Mỗi quẻ như một tấm gương hiền nhắc mình điều cần giữ, điều cần buông, và một “nhân” nhỏ để bắt đầu lại. Rồi từ đó, năm mới không chỉ là lời chúc, mà là một hướng sống: vững vàng hơn, an lành hơn.

Bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” kèm sách hướng dẫn là một nghi thức nhỏ: rút thẻ – đọc chậm – lắng nghe… để mình biết cách sống và tu tập thế nào cho hạnh phúc trong năm mới.

  • 210 quẻ Kiều, mỗi thẻ 2 câu lục bát

  • Gợi mở theo tinh thần nhân – quả (nhân là lời khuyên, quả là điều đang/điều mong)

  • Lời đoán hướng đến an ủi, khuyến khích và soi sáng

Bói Kiều tại Làng Mai được làm mới như một sinh hoạt văn hoá ngày Tết, giàu tính nuôi dưỡng và chuyển hoá.

 
Xin truy cập vào đường link dưới đây để biết thêm thông tin đặt sách: 
 

https://go.thaihabooks.com/ngay-xuan-boi-kieu

Giếng nước thơm trong

Be Happy

Chị Thu Hằng là một người Việt sống ở Thuỵ Sĩ. Chị đã đến Làng Mai thực tập trong tuần vừa qua (27/2-5/3/2026), với chủ đề của khoá tu là “Nghệ thuật thư pháp”. BBT đã có buổi ngồi trò chuyện với chị. Dưới đây là phần tường thuật tóm tắt buổi trò chuyện. Kính mời đại chúng cùng tham gia vào không gian của buổi chuyện trò thân mật này.

 

BBT: Chào chị. Cảm ơn chị đã nhận lời ngồi chơi với BBT. Trước tiên xin được hỏi nhân duyên gì đã đưa chị đến với Làng ạ?

 

Chị Hằng: Dạ nói về nhân duyên, thực ra mình nghe đến Làng Mai rất nhiều dù không nhớ rõ lần đầu tiên là khi nào. Chỉ biết là nghe rất nhiều, từ dì, từ cháu, mọi người đi Làng Mai rất nhiều mà mình thì biết vậy thôi. Thế rồi một lần không hiểu nhân duyên đưa đẩy thế nào khi thấy tên Làng Mai trên mạng xã hội, bỗng chốc trong mình có thôi thúc muốn đi. Vậy là mình rủ một cô bạn đi cùng và đến Làng ở một tuần. Nói chung rất là thích, rất nhiều cảm nhận. Từ đó mình luôn có mong muốn quay lại Làng Mai. Cái thôi thúc rất đơn giản là muốn quay lại để được gặp các Sư cô, và gặp lại cộng đồng (tăng thân tu tập).

 

BBT: Ấn tượng ban đầu hoặc là điều gì chị thấy ấn tượng nhất khi tới Làng ạ?

 

Chị Hằng: Hôm đó ông xã đưa mình tới bằng ô tô. Đi một quãng đường dài, và ngay khi bước chân qua cánh cổng của Xóm Mới, tự nhiên mình cảm nhận một nguồn năng lượng gì đó khó tả lắm. Nó tràn ngập trong mình và mình cảm thấy có một cái gì đó rất kỳ lạ như cảm giác trở về nhà. Trở về với một điều gì rất thiêng liêng. Đó là ấn tượng đầu tiên. Sau đó có một Sư cô tới hỏi: “Cô ăn gì chưa? Mời cô vào ăn cơm!” Thế là mình “dạ dạ vâng vâng” rồi theo vào. Không hiểu sao lúc đó mình lại không bảo ông xã cùng vào. Chắc vì mình cứ nghĩ là mình đi vào một chốn tu hành, rất là khổ hạnh. Đến lúc vào thấy đồ ăn ngon quá, xong cứ tiếc mãi, không bảo ông vào trước khi ông đi đường dài trở về {cười}.

Một tuần ở Làng Mai lần đó, mình được sống trong một thế giới khác. Trước kia trong tâm tưởng của mình khi nghĩ về một chốn tu hành, nó có nghĩa là cái gì đó rất ép xác. Nhưng khi đến đây mình cảm nhận được rất nhiều tình thương, rất nhiều sự hài hước, rất nhiều những gì là cuộc sống đời thường. Nhóm mình đã làm một bài hát, cùng hát với các Sư cô, rồi có cả một Sư cô cũng đánh đàn nữa. Tức là mình thấy không có gì là quá xa cách với cuộc sống đời thường. Có chăng là về đây trong một thế giới mà nó giúp mình có chánh niệm hơn, để tu dưỡng và quay trở lại với chính mình.

 

BBT: Qua hai lần đến Làng, chị có thấy điều gì khác giữa hai lần đó không ạ?

 

Chị Hằng: Hai địa điểm khác nhau, lần trước mình ở Xóm Mới và lần này là Xóm Hạ, nhưng đều có cảm nhận chung là như mình được trở về nhà. Mình ngẫm nghĩ tại sao có một tuần nghỉ lễ thay vì mình có thể đi đến những nơi giải trí, đi bãi biển, đi đánh gôn mà mình lại nghĩ về Làng Mai? Mình đến với Làng Mai lần này trong tâm thế hơi khác lần trước, là một kỳ đi nghỉ thay vì một kỳ đi học. Và thứ hai là, mình đến như kiểu “đi để trở về”. Mình rất thích thú với câu này, nó cứ lui tới trong tâm trí mình. Mình đi đến Làng Mai như là cơ hội được trở về với cội nguồn, được trở về với chính mình, sống với chính mình, cảm nhận chính mình, để thấy rõ hơn mình thật sự muốn gì.

 

BBT: Từ trải nghiệm của một kiều bào sống xa quê hương, chị thấy môi trường tu học của Làng có giúp ích nhiều cho những người cũng có hoàn cảnh như mình không?

 

Chị Hằng: Dạ có chứ. Trong những buổi pháp đàm, mình cũng đặt ra một câu hỏi. Mọi người đến thường có những khổ đau và đến đây để chữa lành, còn mình sao mình thấy mình không có nỗi đau nào cả. Nhưng khi càng nghe, càng nhìn những hiện tượng thì mình nhận ra rất nhiều thứ. Thực ra là mình có, những thứ nó nhỏ, chỗ này chỗ kia tích tụ lại. Những thứ từ môi trường làm việc, khác ngôn ngữ, khác văn hoá, hiểu lầm nhau cho đến trong gia đình, ông xã, trẻ con. Những áp lực từ xã hội rồi khi mình về mình lại xả nó lên cho những người thân, những người xung quanh mình. Bình thường mình không nhận ra, không để ý đến những sự tích tụ này. Khi về Làng, mình có thời gian tĩnh lặng, một tuần ở Làng mình thấy giá trị có thể bằng cả năm vì nó là một khoảng thời gian giúp mình nhìn lại mình và cảm nhận đúng là mình có những vấn đề đang diễn ra như vậy và mình phải xử lý nó như thế nào. Khi mình là một kiều bào, sống xa quê hương, xa môi trường văn hoá của mình, không có nhiều người thân, cha mẹ ở gần, không có bà con cô bác để tâm sự nhiều thì môi trường ở Làng rất hữu ích. Chính một tuần ở Làng giúp mình nhìn lại, giúp cho mình nghe, học hỏi thêm, và để mình trở về hoà nhập vào cộng đồng tốt hơn.

 

BBT: Hay quá! Khoá tu tuần này có chủ đề là “Nghệ thuật thư pháp”. Chị có viết thư pháp nhiều không?

 

Chị Hằng: Thực ra trước đây mình chưa bao giờ viết thư pháp. Nhưng hồi xưa đi học, mình cũng thích viết chữ đẹp. Lần này sang chủ đề này cũng làm mình rất thích thú và viết cũng được khá nhiều.

 

BBT: Có câu thư pháp nào mà chị thấy nó đánh động vào mình nhiều hoặc sẽ mang nó như một hành trang khi trở về?

 

Chị Hằng: Ừm câu hỏi hay ghê!… Thực ra lúc ban đầu, đầu tiên hết mình chọn viết tên mình vì mình muốn để mình trân trọng mình. Mỗi lần viết tên mình, “Hằng”, thì mình nghĩ mình là mình, mình happy, mình có rất nhiều giá trị, mình rất là tốt. Sau đó mình viết tên mình và tên ông xã vì mình rất thương ông xã và cảm thấy rất gắn bó và sau đó lại muốn viết tên các con mình. Và hôm nay, được Sư cô phát cho một tờ giấy để viết cái gì đó mang về làm quà tặng. Mình nghĩ không biết viết cái gì vì có rất nhiều từ đi lên trong mình. “Joy” (niềm vui), “Breathe” (thở), “Calm” (tĩnh lặng),… tất cả những cái đấy đều quan trọng. Cuối cùng mình chọn viết “Be happy”. Be happy với mình có nghĩa là hài lòng, lúc nào cũng mỉm cười với chính mình. Và mình định tặng nó làm quà sinh nhật cho cô con dâu. Vừa là cho mình, vừa là cho cô ấy. Bởi vì cô ấy sẽ treo nó lên và mỗi lần qua thì mình sẽ nhìn thấy. Ví dụ khi mình sang mà mình thấy nhà cửa bừa bộn, cô ấy không chăm sóc tốt cho con mình thì mình cũng happy {cười} bởi vì con mình happy. Mình nhớ hôm trước trong bài pháp thoại Sư cô nói: món quà lớn nhất mà mình để lại cho con cái, cho người thân xung quanh là mình hạnh phúc. Be happy để con mình nó cũng hạnh phúc cùng với mình.

 

BBT: Hay quá! Cảm ơn chị rất nhiều. Chị cười rất là đẹp.

 

Chị Hằng: Vậy ạ? Dạ phải thường xuyên cười hơn. Lần trước mình có mua vài bức thư pháp, tình cờ nhìn lại thấy câu nào cũng toàn là “smile”, tiếng Anh rồi tiếng Pháp. Một bức treo ở nhà, một bức để ở văn phòng làm việc, nhắc nhở mình nhớ cười mỗi ngày. Hy vọng có dịp lại qua Làng, và lần sau có thể rủ thêm ông xã cùng đi. Chắc là ông ấy sẽ rất thích ở đây.

 

BBT: Hy vọng sẽ lại được đón chị cùng anh nhà tiếp tục sang Làng thực tập. Và cũng chúc chị sẽ mang những bình an, hạnh phúc, và những niềm vui và những nụ cười những ngày ở đây về với gia đình cũng như những người thân yêu xung quanh. Cảm ơn chị đã dành thời gian ngồi chuyện trò với BBT.

 

BBT: Dạ cảm ơn Sư cô. Chúc quý Sư cô cũng tiếp tục hành trình của mình vui vẻ và tiếp tục gieo mầm những yêu thương và bình an đến cho mọi người đến đây tu tập.

 

Lễ tưởng niệm Thầy 2026

Tại Tổ đình Từ Hiếu – Ni xá Diệu Trạm:

Tại Tu viện Vườn Ươm, Làng Mai Thái Lan:

Tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Đức

Tại Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ

Tại Tu viện Bích Nham, Hoa Kỳ:

Tại Làng Mai, Pháp:

Tại Tu viện Nhập Lưu, Úc:

Lối ra tuỳ thuộc đường vào nội tâm

 

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24/1/2026

Sư Ông thương kính!

Như một người con cháu nhớ về ông bà tổ tiên, những ngày này, càng đến gần ngày giỗ của Sư Ông, con lại nhớ về Người và tăng đoàn Làng Mai. Bất giác hình ảnh Bụt Thích Ca Mâu Ni và tăng đoàn của Bụt hiện lên trong tâm trí con, và con mỉm cười. Những năm trước, khi đến ngày Tiểu Tường, Đại Tường và ngày giỗ Sư Ông, con lại mong được về Chùa Tổ thắp nén tâm hương lên Sư Ông. Nhưng năm nay con sẽ chỉ ở nhà, ngồi yên tưởng nhớ đến Sư Ông. Con sẽ học theo Sư Ông, bày soạn một bàn trà và kính thỉnh Người cùng uống trà với con, kính thỉnh Sư Ông có mặt với con bởi con tin lời dạy của Người: “nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”.

Con kính thưa Sư Ông, năm 2025 con tự lên công án cho mình – thực tập phá chấp. Ôi chao ơi, ba tháng đầu con hoảng lắm khi con nhận thấy con toàn nhìn thấy người khác yếu kém vụng về trong sự thực tập pháp môn. Thật may mắn, con ngay lập tức nhận ra tâm phán xét của mình đang trồi lên mạnh mẽ, và con thấy mình đang “dán nhãn” khái niệm thực tập, tu tập là phải thế này thế kia. Vậy là con mỉm cười với tâm hành phán xét và tự nói: Dừng lại đi, chưa đủ mệt à! Bạn có thật sự hiểu họ không? Bạn có thực tập tốt đẹp không? – Ồ chưa tốt đẹp, nếu tốt đẹp bạn đã không phán xét họ như thế. Nếu biết thực tập, bạn đã biết thở nhẹ khi tiếp xúc với xung quanh. Và thế là con trở về với hơi thở. Thật khó để theo dõi hơi thở và đi theo hơi thở sau những lần như thế bởi hình ảnh người đó, lời nói của người đó cứ đi lên trong con. Con thấy con có phước đức ông bà tổ tiên đã gieo trồng trong con, và con nhận thấy đó cũng là niềm trông chờ của tổ tiên nơi con. 

Con quay về nương tựa năng lượng của Sư Ông và quý Thầy quý Sư Cô mà tu tập – những lúc ngồi không yên, con nương vào pháp thoại 16 phép quán niệm hơi thở mà Sư Ông đã dạy. Có lúc đang ngồi an yên hạnh phúc, tâm con lại vui chơi rong ruổi chuyện này rồi việc kia; con nhận ra mình đang rơi vào cái bẫy hạnh phúc. Đến khi nghe tiếng Sư Ông nói “nó tốt đừng tìm cách kéo nó tới, nó xấu đừng tìm cách đẩy nó đi – cái đó gọi là nhận diện đơn thuần” thế là con lại đưa tay đặt lên bụng để nhận diện hơi thở phồng xẹp mà đưa tâm về với thân. Con thực tập 16 hơi thở từ lần đầu về Tu Viện Vườn Ươm tháng 6/2022. Tuy đến giờ con vẫn chưa thể thực tập được cả 16 hơi thở trong một lần ngồi thiền nhưng con hạnh phúc lắm bởi con đang thấy con mỗi ngày. Con thấy tập khí đòi hỏi, mong cầu hoàn hảo khiến con thường rơi vào tình trạng bất như ý và gây ra sự bất hòa trong con – con đã học cách mỉm cười với những tập khí của mình và thầm nói “thấy rồi nhé”. Nhớ lời Sư Ông dạy “cởi trói cho tâm” nên con nhắc nhở mình chuyển hóa tri giác sang tùy thuận và tùy duyên. 

 

Một buổi sáng ngồi thiền, con thầm gọi “Sư Ông ơi, Sư Ông ngồi thiền với con ạ” mà không cần phải mở pháp thoại của Sư Ông. Con ngồi an yên được ngay. Thân tâm con nhẹ nhàng và những nụ cười cứ thế đến. Bất giác lòng biết ơn trào dâng và con đã khóc. Trước kia khi đọc câu : “nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”, con đọc như là một câu văn hay thôi chứ không biết có thật là như vậy hay không, và con cũng chấp vào chữ Thầy ở đây nghĩa là “Sư Ông đang nói với quý Thầy quý Sư Cô – chứ không phải nói với mình, mình phải gọi là Sư Ông chứ không được gọi là Thầy”. Buổi sáng hôm đó thật là một buổi khai thiên lập địa đã đập tan cái chấp trước trong con và hai chữ Phá Chấp đi lên cho con thấy con phải thực tập sâu sắc với tập khí này. Con hạnh phúc nhớ lại hơn 10 năm trước khi nghe Đường Xưa Mây Trắng, con đã học thuộc câu “muôn vật tự duyên sinh lại tự duyên mà diệt, Bậc Giác Ngộ tuyệt vời đã từng như vậy thuyết” nhưng chưa bao giờ biết tùy duyên tùy thuận. Thế là sau buổi ngồi thiền hôm ấy, con nhắc mình nhớ về điều này. Thực tập nó giúp con nhẹ nhàng trong tâm hồn, con đã bớt dần phán xét mỗi khi ngồi pháp đàm hay gặp mặt tăng thân. Con học theo quý Thầy quý Sư Cô tưới tẩm hạt giống lành cho người đối diện – đó cũng là tự tưới tẩm cho mình. Dần dần, cái khuôn mẫu mà con đã đặt sẵn cho người thực tập pháp môn Làng Mai, cho người Tiếp Hiện, cho Ban chăm sóc, cho người đi trước… đã được gỡ ra. Khi nhận ra những cái nhãn mác được tháo rớt xuống rồi, con biết ơn sự thực tập của mình – điều mà trước đây con không bao giờ nhìn đến. Con thường ngại nói về mình, và thấy những điều mình làm không đáng gì – chính điều đó làm con hay có mặc cảm mình làm chưa tốt và từ đó cũng đòi hỏi mình hơn, đòi hỏi người khác nhiều hơn. Bây giờ, con đã biết tùy duyên và tùy thuận hơn rồi ạ. 

Con giữ mình không bị cuốn vào những cuộc tranh luận trong và ngoài tăng thân bằng cách thở và mỉm cười. Mỗi khi thấy mình trong hoàn cảnh của một cuộc tranh luận và nếu tâm phán xét đi lên, con lại thầm nhắc mình nương tựa vào năng lượng của Sư Ông, năng lượng của quý Thầy quý Sư Cô mà thở cho an. Con biết niềm tin của con không phải là sự tôn thờ mù quáng mà dựa trên những kinh nghiệm thực tập những pháp môn Sư Ông để lại và quý Thầy quý Sư Cô trao truyền, dù rằng thực tập để nếm được pháp vị không hề dễ. Những lần đầu thực tập thiền hành, con không đi được. Mỗi bước chân đặt xuống là con loạng choạng muốn té ngã và trong đầu đi lên bao nhiêu điều. Con đã từng căng thẳng đấu tranh nên đi hay không đi, một khóa tu bảy ngày mà hết ba ngày con đấu tranh để bỏ trốn thời khóa thiền hành. Nhưng rồi cuối cùng con vẫn tham gia vào thời khóa. Phước đức tổ tiên đã hun đúc cho con sự dũng mãnh đối diện với nỗi sợ của mình. Con đã tự tập thiền hành một mình và dần dần con cảm nhận được công năng của thiền hành giúp con biết nương tựa Đất Mẹ và cho con thấy Đất Mẹ không phải chỉ là mảnh đất con đang sống, đang đi. Từ đó, thời khóa thiền hành không còn làm khó được con, nay con đã biết thiền hành trong cuộc sống, trong công việc. Con biết ơn quý Thầy quý Sư Cô đã chỉ điểm cho con trong từng giai đoạn phù hợp với tâm hành, căn cơ của con. Thấy được điều đó, con nhận ra rằng quý vị đã tu học chân chính và quán chiếu sâu sắc để có thể tùy duyên mà hóa độ nhân gian. Bất giác con cười với chính mình khi thấy mình cũng là một chúng sinh can cường nhờ ơn Bụt Tổ, nhờ ơn Sư Ông và ơn quý Thầy quý Sư Cô mà con được giáo hoá, con được học thở học cười, học hiểu học thương, và niềm thương kính Sư Ông, thương kính quý Thầy quý Sư Cô dâng lên trong con. 

Nhờ giữ sự thực tập hàng ngày không chỉ trong thời khóa công phu mà ngay trong lúc làm việc, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi ăn, khi nói chuyện, con nhận thấy pháp môn nhẹ nhàng nhưng không dễ để duy trì được chánh niệm. Đôi khi người ta chưa thực tập được bao nhiêu, mới nghe thôi thì thấy dễ dàng lắm. Một lần, có người gửi cho con những clip người ta bài xích về Sư Ông, về pháp môn và tăng thân Làng Mai và khuyên con nhìn lại niềm tin của mình. Con nhận thấy tâm con bất động và vững chãi lắm. Con không giận họ, cũng không lo sợ hay có bất cứ một chút mặc cảm nào. Con mỉm cười với con và nói với em ấy: chị tu học pháp môn Làng Mai vì thấy phù hợp với chị, pháp môn giúp chị có khả năng nương tựa vào chính mình, biết khởi niệm thương trước những hoàn cảnh của người lạ dù là họ ghét hay thương mình, chị không tôn thờ và cũng không theo Làng Mai vì sự nổi tiếng của Sư Ông… Thế nhưng con cũng nhận thấy mình đang rơi vào cái bẫy giải thích.  Thế là con dừng lại, không nói nữa, chỉ thở thôi để cho em ấy có thể nói ra hết những gì em ấy muốn nói. Hơn một tiếng đồng hồ duy trì hơi thở, nụ cười, và thỉnh thoảng con chỉ nói “thế à, vậy hả”. Cuối cùng em ấy bảo: chỉ có những người thực tập pháp môn Làng Mai mới có thể ngồi yên lắng nghe mà không ngắt lời, tranh cãi, nhưng hiện tại em thấy chưa phù hợp với em… Con nói cảm ơn em đã nói ra và cho mình cơ hội được nghe em nói. Sau buổi nói chuyện đó, con nhận ra mình đã tiến bộ trong công trình phá chấp. Bởi trước đó, con cũng cho pháp môn mình đẹp và hay hơn pháp môn khác. Và tuy không nói ra nhưng con nhận thấy trong tâm mình đã muốn em ấy thực tập pháp môn mình nên mới xảy ra cuộc tranh luận này chứ không phải vô cớ mà vậy. Từ đó con tập mở lòng ra nghe về pháp môn khác mà không phán xét. Con cũng hiểu được lời dạy của Sư Ông về bảo vệ tăng thân bằng sự thực tập có phẩm chất của mình chứ không phải bằng tranh luận. 

Con nguyện thực tập để có thể duy trì chánh niệm trong mỗi lời nói việc làm của con, để không phụ ân đức Sư Ông và tăng thân và cũng để nuôi dưỡng các đức Từ – Bi – Hỷ – Xả trong con, để con có thể là một sự tiếp nối đẹp mà làm giàu thêm gia tài do Sư Ông để lại.

Con, 

Nguyên Diệu Hiền – Chân Đức Như 

Cùng đi trên đường vui

Sư cô Chân Đức

Sư cô Chân Đức là vị đệ tử xuất gia Tây phương đầu tiên của Sư Ông Làng Mai. Sư cô là người Anh, được Sư Ông làm lễ xuất gia và truyền giới Tỳ kheo ni vào năm 1988 tại núi Linh Thứu. Sư cô từng được Sư Ông cử làm Khoa trưởng phụ trách thực tập (Dean of Practice) tại  Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB), Đức, trong nhiều năm. Dưới đây là những dòng tâm tình mà Sư cô muốn gửi đến các bạn Tiếp Hiện trẻ, được dịch từ nguyên bản tiếng Anh. 

 

Các bạn Tiếp Hiện trẻ thân mến,

Chúng tôi, thế hệ Tiếp Hiện đi trước, biết các bạn đang có đó và chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc! Chúng tôi cần các bạn. Nếu có thể yểm trợ được chút gì cho các bạn, chúng tôi rất sẵn sàng. Các bạn có biết tại sao chúng tôi hạnh phúc khi biết các bạn đang có đó không? Đó là vì năng lượng trẻ trung và khả năng đem từ bi vào hành động một cách sáng tạo của các bạn. 

Một số bạn ở Hoa Kỳ đã rất sẵn sàng yểm trợ hai vị giáo thọ Chân Đại Âm (Larry Ward) và Chân Bản Nguyên (Peggy Rowe Ward) đến Làng Mai tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng Sáu 2026. Giờ đây, anh Chân Đại Âm không còn có mặt với chúng ta qua hình tướng quen thuộc nữa, nhưng không vì thế mà anh không thể tham dự khóa tu ấy với chúng ta. Tâm nguyện sâu sắc của các bạn về lòng bao dung và không kỳ thị chính là sự tiếp nối của anh. 

Ở châu Âu và châu Á, những ai đã từng làm việc với giáo thọ Chân Đại Tuệ (Hà Vĩnh Thọ) cũng sẽ tiếp tục nuôi dưỡng tâm nguyện của anh, đó là: làm sao cho Tổng chỉ số Hạnh phúc Quốc gia trở thành thước đo cho mọi việc chúng ta làm, và những thầy cô giáo hạnh phúc có thể làm thay đổi thế giới. Nếu các bạn có mặt trong khóa tu tháng Sáu năm 2026, các bạn cũng sẽ mang theo tâm nguyện ấy. 

Các bạn Tiếp Hiện trẻ thân mến, các bạn có biết những nguyên tắc hướng dẫn chúng ta trong khi phụng sự, học tập, tu tập và thư giãn là gì không? Các nguyên tắc ấy là:

– Phá chấp (破執)

– Khế cơ (契機)

– Thực nghiệm (實證)

– Phương tiện (方便)

Phá chấp

Phá chấp có nghĩa là chọc thủng bức màn của kiến chấp – cách ta nhìn sự việc, sự vật và quan niệm của chính ta. Nó cũng có nghĩa là ta luôn mở lòng để học hỏi những điều mới mẻ. Để làm được như vậy, ta cần tập luyện để có khả năng lắng nghe sâu, nhất là lắng nghe những người mà ta có quan điểm bất đồng. Ta không tranh cãi đúng sai về những điều lặt vặt. Ví dụ, có người nói: “Chủ nhật tuần trước Sư cô Hội Nghiêm cho pháp thoại”, và ta nói: “Hình như là Sư cô Lăng Nghiêm cho”. Tới đây, ta nên dừng lại. Đừng nên tiếp tục chứng minh là ta đúng. Ta chấp nhận có những khác biệt trong tri giác của mình. Tại sao ta lại phí thì giờ và năng lượng để cãi vã về những chuyện nhỏ nhặt? Ta có thể tự nhủ: “Ồ, có thể mình sai”. Dĩ nhiên, nếu đó là một việc quan trọng, liên quan đến chuyện sống chết, ta cần cố gắng giải thích cho người kia hiểu vì sao ta lại có tri giác ấy, bằng phương tiện đối thoại từ bi.

Khế cơ

Đối thoại từ bi gắn liền với sự khế cơ. Khế cơ liên quan đến cách ta chia sẻ giáo pháp của Đức Thế Tôn cũng như những lời dạy của Sư Ông Làng Mai với người khác. Ta tự hỏi mình: “Có phải đây là thời gian và nơi chốn thích hợp để nói pháp hay không? Giáo pháp ta chia sẻ có đáp ứng nhu cầu và hạnh nguyện của những người trong thính chúng hay không?”. Trước khi chia sẻ, ta nên tìm hiểu thính chúng. Người dân ở nước đó hiện đang trải qua những khó khăn hay khổ đau nào?

Thực nghiệm 

Thực nghiệm nghĩa là ta phải có sự chứng nghiệm trực tiếp trong việc áp dụng giáo pháp. Khi tán dương pháp, ta dùng từ ehipassiko, nghĩa là đến để mà tự thấy một cách trực tiếp tính chân thực và hiệu nghiệm của giáo pháp. Người khác có thể chỉ mặt trăng cho ta, nhưng ta phải tự mình nhìn thấy mặt trăng mà không bị kẹt vào ngón tay chỉ mặt trăng. Ta dựa vào Tam học (Niệm – Định – Tuệ) để chứng nghiệm sự thật. Điều này cũng có nghĩa là ta cần áp dụng một cách tinh tấn các pháp môn thiền thở, thiền đi, và làm tất cả mọi hoạt động khác trong chánh niệm suốt cả ngày.

Phương tiện quyền xảo

Phương tiện quyền xảo bắt nguồn từ ước nguyện giúp người bớt khổ và làm cho thế giới này có thêm an lạc. Ta hành động không chỉ bằng trí năng, mà còn bằng trái tim và trực giác của mình. Và để có thể kiểm nghiệm lại trực giác ấy, ta luôn cần những thiện tri thức – những người bạn đồng tu tinh tấn – giúp ta thấy những phương tiện mà ta đang dùng để truyền trao giáo pháp có thật sự là thiện xảo hay không.

Ban Tiếp Hiện Thanh niên và Ban Tiếp Hiện Cao niên

Có những lúc các bạn Tiếp Hiện trẻ tuổi muốn cùng tu tập với chúng tôi – những người Tiếp Hiện trung niên hoặc cao niên, và cũng có những lúc các bạn cần tự lực trong việc chia sẻ về những vấn đề liên quan trực tiếp đến độ tuổi của các bạn. 

Lý tưởng nhất là Dòng tu Tiếp Hiện thành lập một Ban Tiếp Hiện Thanh niên song song với một Ban Tiếp Hiện Cao niên. Chúng tôi mong sẽ có một vài bạn sẵn sàng đứng vào trong Ban Tiếp Hiện Thanh niên để làm việc sát cánh với các thành viên cao niên. Được như thế, chúng ta sẽ có nhiều năng lượng sáng tạo hơn khi đổi mới các quy chế của Dòng tu.

Tiếp Hiện 

Trong tiếng Việt, Tiếp (接) có nghĩa là tiếp nhận, tiếp xúc, tiếp nối. Ta tiếp nhận sự trao truyền từ tổ tiên huyết thống và tâm linh. Chúng ta là con cháu của tông Lâm Tế và phái Liễu Quán. 

Tổ Liễu Quán đã làm cho giáo pháp của Tổ Lâm Tế trở nên khế cơ, khế lý trong thời đại của ngài ở miền Trung Việt Nam. Ngày nay, chúng ta cũng muốn tiếp tục làm cho giáo pháp ấy trở nên khế cơ, khế lý trong thời đại và nơi chốn mà chúng ta đang sống.

Tổ Lâm Tế đã không bị kẹt vào hình thức của sự thực tập. Thay vì nương vào một vị Bụt ở bên ngoài, Tổ muốn ta nương vào bản tính tỉnh thức có sẵn nơi tự tâm của mỗi người bằng cách sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, qua bất kỳ việc gì mà chúng ta làm. Sư Ông Làng Mai đã nhắc chúng ta rất nhiều lần câu nói của Tổ: ”Phép lạ là đi trên mặt đất” (địa hành thần thông).

Chữ Hiện (現) có nghĩa là hiện tại, hiện pháp, thực hiện và hiện đại hóa. Ta phải có khả năng tiếp xúc với thực tại và thực chứng được giáo pháp. Ta tiếp nối sự trao truyền từ tổ tiên tâm linh và làm cho giáo pháp trở nên phù hợp với thời đại của chúng ta.

Trong tiếng Anh, nghĩa của chữ Order of Interbeing không giống với nghĩa của chữ Tiếp Hiện trong tiếng Việt. Vì vậy, các bạn không nói tiếng Việt cần học nghĩa của hai chữ Tiếp Hiện trong tiếng Việt. Bên tiếng Anh, ta không thể tìm từ tương đương để dịch một cách chính xác được. 

Sư Ông Làng Mai sáng tạo ra từ interbeing (tương tức) vào năm 1983, trong một khóa tu tại trung tâm Thiền tập Tassajara ở California, Hoa Kỳ. Sư Ông giải thích rằng tương tức nghĩa là ta không thể nào tồn tại một cách biệt lập và cũng không thể làm cho bất cứ cái gì có mặt một cách biệt lập. Chúng ta có trong nhau, chúng ta là nhau. Tương tức – con đường Trung đạo giữa không, đã trở thành một trong những trụ cột của giáo lý mà Sư Ông trao truyền. 

Là thành viên của dòng tu Tiếp Hiện, chúng ta cần ý thức rằng tương tức không phải là một lý thuyết. Ta cần chứng nghiệm giáo lý tương tức trong đời sống hằng ngày, trong cách ta liên hệ với nhau và với cuộc đời. 

Hy vọng nhiều bạn Tiếp Hiện trẻ sẽ có thể đến Làng Mai vào tháng Sáu 2026 để mừng 60 năm thành lập dòng tu Tiếp Hiện. 

 

 

Có mặt đích thực cho sự sống

(Phỏng vấn thầy Pháp Ấn)

Thầy Pháp Ấn là một sư anh lớn trong tăng thân Làng Mai, và hiện là Viện trưởng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Ban Biên Tập (BBT) đã có dịp ngồi chơi và lắng nghe thầy chia sẻ về đạo Bụt ứng dụng, hạnh nguyện của Sư Ông trong việc xây dựng EIAB, cũng như kinh nghiệm tu học của chính thầy. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ ấy.

 

Nền tảng của hành động

BBT: Thưa thầy, giữa bối cảnh bất ổn về chính trị, xã hội, kinh tế và môi trường trên toàn cầu, nhiều thành viên Tiếp Hiện mong muốn dấn thân để góp phần tạo nên sự thay đổi trong xã hội, nhưng đồng thời cũng dễ cảm thấy tuyệt vọng trước thực tại đầy bạo động và chia rẽ. Theo thầy, làm thế nào để một vị Tiếp Hiện có thể dấn thân mà vẫn giữ được sự vững chãi và một trái tim rộng mở?

Thầy Pháp Ấn (PA):  

Một tháng trước, PA cũng có một buổi trò chuyện cùng với tăng thân Tiếp Hiện bên Ý. Họ cũng đặt câu hỏi tương tự. 

Trong đạo Bụt dấn thân, mọi hành động cần dựa trên nền tảng của bình an và thương yêu. Mỗi hành động của ta đều tác động đến mạng lưới sự sống rộng lớn. Vì vậy, khi muốn hành động vì hòa bình, ta cần tự hỏi: mình đang đứng trên nền tảng nào? Nền tảng của bình an và lòng từ bi trong chính ta? Điều này không có nghĩa là ta phải hoàn toàn bình an mới được hành động, nhưng ta cần quán chiếu động cơ của mình.

PA nhớ ngày xưa khi được tham dự một khóa tu do Sư Ông hướng dẫn ở bên Mỹ cho những người làm trong lĩnh vực thi hành luật (law enforcement) – như luật sư, thẩm phán, quản giáo, và nhiều người làm việc liên quan đến tội phạm trong xã hội. Cuối khóa tu có một anh cảnh sát hỏi: Nếu có một người đang cầm súng bắn vào người dân vô tội, mình phải làm sao với vai trò một người bảo vệ an ninh xã hội? Nếu không bắn anh ta thì người dân sẽ chết, vậy phải làm sao?

Trong câu trả lời, Sư Ông nói rằng chắc chắn là mình phải hành động. Mình không thể ngồi yên khi chuyện đó xảy ra. Nhưng mình phải hành động dựa trên căn bản của tình thương, nghĩa là mình thương cả hai: người đang bắn súng và những nạn nhân. Vì người đang bắn súng cũng là người đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng có quá nhiều khổ đau, tràn ngập đến mức mờ mắt, người ta mới có thể nhẫn tâm bắn người khác. Không có khổ đau thì không ai có thể làm như vậy.

Cho nên trước tiên, mình phải tập nhìn để thấy được nỗi khổ của cả hai bên. Khi mình có tình thương, và hành động dựa trên tình thương, thì tự nhiên mình cũng giảm thiểu được khổ đau. Mình có thể phải nổ súng, nhưng nổ súng như thế nào đó để không phải là giết người, mà là giảm thiểu khổ đau tối đa. Ví dụ bắn vào tay, vào chân, hoặc bộ phận nào để người đó ngã xuống và không tiếp tục gây hại nữa. Căn bản của hành động phải là tình thương, chứ không phải phản ứng từ một nền tảng bạo động. Điều đó rất quan trọng.

Khi dấn thân trong bối cảnh xã hội hiện nay, mình cần làm tất cả trong khả năng của mình. Ngày xưa, Sư Ông đi kêu gọi hòa bình vì hoàn cảnh lúc đó khác: thế giới gần như không biết gì về chiến tranh Việt Nam, không biết tình trạng tại Việt Nam, xã hội lại rối loạn. Còn bây giờ là thời đại thông tin, thông tin tràn ngập và nhiễu loạn khiến mình không biết đâu là sự thật.

Trong mỗi hoàn cảnh, mình vẫn hành động, nhưng theo các cách khác nhau. Ví dụ như khi chiến tranh giữa Nga và Ukraine bùng nổ, PA đã viết thư cho Tổng thống Zelensky và cho Tổng thống Putin, xin hai vị cùng nhìn lại. Ngoài ra, PA còn gửi kèm DVD về cuộc đời Sư Ông và một lá thư ngỏ kêu gọi hai bên dừng lại, chấm dứt cuộc chiến, đừng tạo thêm khổ đau. Đó là những gì trong khả năng mà PA có thể làm.

Dĩ nhiên mình có quyền lên tiếng. Đi diễu hành, đi biểu tình cũng để tạo áp lực chính trị lên các nhà lãnh đạo. Nhưng hiện nay chính trị thế giới vô cùng phức tạp, liên hệ chặt chẽ toàn cầu. Tất cả gắn với nhau trong một mạng lưới rất phức tạp.

Trong hoàn cảnh như vậy, với tư cách một tăng thân, mình cần đóng góp bằng năng lượng tu học, chia sẻ cho mọi người cách chế tác bình an. Khi tâm lắng xuống, mình mới có thể tìm được giải pháp hay nhất để góp phần chấm dứt chiến tranh.

Hay ví dụ như ngay sau khi nhận được tin về xung đột Israel và Palestine, khi đó PA đang có khóa tu tại Tyrol, nước Áo. PA đã cho nhiều bài pháp thoại trong khóa tu đó xoay quanh việc làm sao thực tập bình an trong một xã hội đầy khủng hoảng.

Sau đó, khi đến Sicily, Ý, PA viết một lá thư gửi Tổng thống Biden, kèm theo bản chép lại toàn bộ pháp thoại của khóa tu về thực tập bình an, và kêu gọi chính quyền Mỹ tìm mọi cách chấm dứt chiến tranh giữa Israel và Palestine càng sớm càng tốt, cũng như đem thực phẩm cứu trợ vào khu vực Gaza. Mình tìm cách gửi thư và hồ sơ đó qua Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam còn gọi điện mời PA tới chia sẻ một bài pháp thoại ngay tại tòa đại sứ và muốn tổ chức một ngày quán niệm cho nhân viên, vì tình hình lúc đó rất khủng hoảng. Nhưng lúc ấy PA đang ở Ý nên không về được. PA nhờ họ chuyển lá thư và toàn bộ hồ sơ — hơn mười trang — đến Tổng thống Biden.

Khi hành động như một người Tiếp Hiện, điều quan trọng nhất là nuôi dưỡng lòng từ bi thật lớn, đủ lớn để ôm trọn cả hai phía: bên nạn nhân và bên gây khổ đau. Mình giúp họ đi đến hòa giải. Đó là con đường của đạo Bụt: bất bạo động và hòa giải, không đứng về phe nào.

 

Là một với sự sống

BBT: Thưa thầy, trên hành trình dấn thân, có khi nào thầy thấy nản lòng không? Khi rơi vào những thời điểm như vậy, điều gì đã giúp thầy khơi lại ngọn lửa và tiếp tục đi tới cho đến hôm nay?

Thầy Pháp Ấn:
Thật ra nói nản lòng hay không, thì PA không có chuyện đó. Với PA, tất cả các pháp đều do duyên sinh. Sự thực tập của mình là có mặt trọn vẹn trong giờ phút hiện tại. Khi thật sự có mặt, mình tự biết cái gì nên làm và cái gì không. Đó là thực tập căn bản. Công việc đến thì làm thôi, không phân biệt lớn hay nhỏ, không so đo tính toán. 

Nhưng trong chiều sâu, bản chất của PA là người thích ở yên. Không phải kiểu một vị Bồ Tát xông xáo đâu. Thật ra PA thích nghiên cứu, đào sâu con đường tâm linh, kinh điển. Nhưng việc cần làm thì vẫn làm.

Tánh PA là đụng chuyện thì làm: rửa chén cũng làm, đào đất cuốc cỏ cũng làm. Điều quan trọng là có mặt đích thực cho sự sống. Sự sống đến thì mình đáp ứng. Khi mình thật sự có mặt, mình biết mình cần làm gì, không nên làm gì. Tâm của người Bồ Tát là tâm thương yêu và phụng sự, và khi có mặt thật sự, tình thương tự biểu hiện thành hành động. 

Ví dụ thấy một đứa bé té. Nếu mình có mặt, tình thương phát khởi ngay và khiến mình hành động. Nếu mình không thật sự có mặt, mình sẽ dửng dưng. Sự thực tập của mình là trở thành một với sự sống trong giây phút hiện tại. Khi sống được như vậy, mình tự biết phải hành động thế nào.

Chuyện đi qua Đức để thành lập Viện Phật học cũng vậy. Lúc đó, tu viện Bát Nhã còn chưa yên; tài chánh thì không, nhân sự thì thiếu, giáo thọ cũng không có. Thành lập một Viện Phật học – Viện Phật học Ứng dụng châu Âu – đâu phải chuyện nhỏ. Viện Phật học không chỉ cho Đức hay Pháp, mà là của cả châu Âu. Nếu mình là người có trách nhiệm, nghe cái tên đó cũng phải suy nghĩ chứ. PA có thưa với Sư Ông nhiều lần: “Con nghĩ bây giờ khoan làm đã, mình phải dồn sức cho Bát Nhã, cho Việt Nam trước”.

Nhưng Sư Ông có cái thấy của Sư Ông. Rõ ràng, nếu Sư Ông muốn thực hiện Viện Phật học đó mà không làm ngay thì đâu biết đến khi nào mới thực hiện được, cuộc đời rất vô thường. Thành ra Sư Ông quyết định phải làm. Là đệ tử, bổn phận của mình là trình bày cái thấy và đóng góp ý của mình. Nhưng Thầy Tổ quyết định sao thì mình đi theo vậy. PA chưa từng có ý chống đối hay không yểm trợ Sư Ông. Nhiệm vụ của người học trò là nói lên cái thấy thật của mình. PA nói với Sư Ông: “Đó là những gì con suy nghĩ, và con biết cái thấy của con còn thiển cận. Sư Ông có cái thấy khác. Nhưng Sư Ông quyết sao thì con yểm trợ hoàn toàn”. 

Mùa hè 2008, bữa đó ở cốc Ngồi Yên, Sư Ông gọi thị giả mời PA vào. Đó là tuần cuối khóa tu mùa hè. PA còn nhớ rất rõ: Sư Ông ngồi tựa lưng vào cửa sổ – chỗ bây giờ mình đặt bàn thờ Bụt. Sư cô Chân Không hỏi đi hỏi lại: “Thầy Pháp Ấn, thầy có chắc chắn là thầy chịu qua Đức để làm Viện Phật học không?”. PA thưa: “Con thì cái gì cần nói con nói thôi. Sư Ông dạy thì con làm, con không có vấn đề gì hết”. 

Sư Ông nói: “Thôi, về chuẩn bị đi. Tháng sau qua Đức. Bây giờ thầy đi mở khóa tu ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Khi về sẽ ký giấy tờ mua chỗ đó. Con chuẩn bị sang Đức”. 

Khi PA sang tới nơi, tối hôm đó Sư Ông dạy sư cô gọi điện hỏi: “Pháp Ấn thấy tòa nhà lớn vậy có sợ không?” PA chỉ cười. Thật ra mình làm vì tăng thân. Tất cả tăng thân gom tay gom sức, đâu phải vì một cá nhân. Mình cứ làm theo sức của mình. Làm được tới đâu hay tới đó. PA chưa bao giờ đối diện một hoàn cảnh mà có sợ hãi. PA làm được gì thì cứ làm, hoàn toàn không có sợ hãi, vì biết những gì mình làm không phải vì mình, không vì mục đích riêng tư. Mình làm vì tăng thân, vì Sư Ông và vì cuộc đời. Đời người tu là cống hiến cho nhân loại. Vậy thì có gì để sợ? 

 

Đạo Bụt ứng dụng

BBT: Thưa thầy, thầy có thể chia sẻ với chúng con những điều mà Sư Ông gửi gắm khi Sư Ông cử thầy sang EIAB để xây dựng Viện Phật học? 

Thầy Pháp Ấn:
Theo PA hiểu, ngày xưa khi thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh, Sư Ông đã xây dựng theo mô hình của phương Tây. Tại Viện Đại học Vạn Hạnh,  sinh viên được học nhiều môn theo các chứng chỉ (credit), trong đó có môn Phật học. Một sinh viên ra trường vừa có kiến thức phổ thông, vừa có kiến thức Phật học.

Sau này, khi sang Tây phương, Sư Ông thấy các chương trình Phật học rất sâu và rất hay. Đến khi về Việt Nam, Sư Ông cũng có dịp đến thăm các Phật học viện ở các thành phố lớn. Sư Ông nhận thấy một hạn chế lớn đó là: sinh viên có thể có kiến thức Phật học, rất giỏi về lý thuyết, thậm chí có bằng tiến sĩ, nhưng không biết cách xử lý những tâm hành buồn giận, khổ đau của chính mình.

Sư Ông nói rằng mình có những trung tâm tu học như Làng Mai, và cũng có những trung tâm nghiên cứu Phật học như ở Berkeley, Oxford; khoảng giữa hai nơi đó, mình cần có một mô hình kết hợp được cả nghiên cứu lẫn thực tập trong đời sống hằng ngày. Đó là lý do Sư Ông muốn thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu: một mô hình mới, nơi người học vừa nghiên cứu, vừa hành trì, và đưa đạo Phật vào đời sống thực, chứ không chỉ nằm trên lý thuyết.

PA nghĩ mình đã thực hiện được một phần nào. Ví dụ, những khóa tu cuối tuần được tổ chức tại EIAB: thiền sinh đến vào tối thứ Năm thường với tâm trạng rất mệt mỏi, chán chường, trầm cảm, có vấn đề gia đình, mất hướng đi… Nhưng đến Chủ nhật, khi họ ra về, họ như trở thành một con người khác. Trong suốt 17–18 năm nay, khóa tu nào cũng thành công theo nghĩa: khi họ đi về, họ tươi mát hơn, bình an hơn, hạnh phúc hơn. Đó là ý nghĩa của Viện Phật học Ứng dụng: người bước vào như thế nào không quan trọng; khi bước ra, họ phải là một con người đã chuyển hóa. 

Công trình của Viện Phật học nằm ở hai mặt: 

Thứ nhất là có một tăng thân tu học vững chãi. Tăng thân làm yếu tố nền tảng, để khi thiền sinh đến tu học, họ được tiếp xúc và được thừa hưởng từ nguồn năng lượng vững chãi đó. Vì vậy, PA luôn khuyến khích quý thầy, quý sư cô ra sinh hoạt với thiền sinh: có mặt với họ trong bữa ăn, tham dự thiền hành, làm việc chung, ngồi thiền… để họ thật sự tiếp xúc với tăng thân. Chính cách đi – đứng – nằm – ngồi, cách nói năng, uy nghi của các thầy, các sư cô đóng góp phần rất lớn vào sự chuyển hóa của thiền sinh. Nếu Viện Phật học chỉ là nơi đến học như các trường Phật học khác thì sẽ không thành công, vì thiếu nền tảng tăng thân.

Ở Học viện, mình không tách nội viện – ngoại viện, mà sinh hoạt chung bởi vì hiểu rằng tăng thân chính là nền tảng để giúp thiền sinh thay đổi. Thiền sinh nào cũng chia sẻ rằng: bên cạnh việc học, chính nhờ thấy quý thầy, quý sư cô đi đứng, cười nói nhẹ nhàng mà họ tươi lên, vui lên. Và điều đó chứng tỏ tuệ giác của Sư Ông rất đúng. 

Thứ hai là trong các khóa học, mình phải trao truyền pháp môn và giúp họ hành trì. Và hành trì rất nhiều. Ví dụ trong các khóa học do PA hướng dẫn, họ được yêu cầu giữ im lặng hùng tráng từ 9h30 tối đến sau giờ ăn sáng. Tức là gần 11 tiếng rưỡi. Thêm bữa trưa ăn trong im lặng khoảng 45 phút đến một tiếng; buổi tối lại thêm một tiếng nữa. Tổng cộng khoảng 13 tiếng rưỡi. Rồi ngồi thiền hướng dẫn một tiếng, thiền buông thư nữa. Ở đây thiền sinh hành trì 15–16 tiếng mỗi ngày; chưa kể pháp thoại, pháp đàm nữa thì tới 16–17 tiếng. Trong 24 giờ, 17 tiếng hành trì thì tâm làm sao loạn được. Chắc chắn tới Chủ nhật là tâm yên. Đó chính là Phật học ứng dụng: đem đạo Bụt vào thực tập trong đời sống.

 

Tình thầy trò

BBT: Tới bây giờ, mỗi lần nghĩ đến Sư Ông thì điều gì đi lên trong thầy đầu tiên?

Thầy Pháp Ấn: Cách Sư Ông dạy mình đôi khi rất mạnh, nhưng trong mối quan hệ thầy trò, lúc nào Sư Ông cũng nhẹ nhàng. Làm gì cũng từ từ, nói rất dịu dàng. Đó là hình ảnh đọng lại trong PA nhiều nhất. Còn chuyện bị “ăn gậy” của Thiền sư thì tất nhiên có, nhưng cái đó PA lại không nhớ; hoàn toàn không ở lại trong lòng. Điều PA nhớ là sự nhẹ nhàng nơi Sư Ông, chất giải thoát, thiền vị. Và trong cái thiền vị, cái nhẹ nhàng đó, PA thấy có một tình thương rất lớn.

Làm thầy thì phải dạy học trò, có những lúc phải cứng rắn khi học trò không biết đường đi, phải chỉ cho nó thấy đường. Nhưng trong liên hệ thầy trò, PA luôn cảm nhận được tình thương rất lớn nơi Sư Ông. Tình thương đó không chỉ dành cho riêng PA mà cho tất cả mọi người, cho cả cỏ cây hoa lá. Cách Sư Ông chăm cây, tưới cây, hay nâng niu một cành hoa… mình thấy rõ Sư Ông như thuộc về một thế giới khác — thế giới của những bậc đã giác ngộ, đã giải thoát, đã tiếp xúc được với bản môn.

PA thấy rất khó để tìm được một người có cái thấy và cách sống như Sư Ông. Khó lắm. Ngay cả cách đi của Sư Ông thôi, PA nghĩ mình học bao nhiêu đời cũng không đi được như vậy. Đi rất nhẹ nhàng, không vội, không hấp tấp. Khi cần đi nhanh thì đi nhanh, nhưng không hề có cái tâm khẩn trương. Việc cần thì mình làm, nhưng ngay trong đó vẫn có sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Đó là những hình ảnh còn đọng lại trong PA về Sư Ông. Sư Ông là một người thầy rất vĩ đại.