Tại Tổ đình Từ Hiếu – Ni xá Diệu Trạm:









Tại Tu viện Vườn Ươm, Làng Mai Thái Lan:









Tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Đức









Tại Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ






Tại Tu viện Bích Nham, Hoa Kỳ:



Tại Làng Mai, Pháp:






Tại Tu viện Nhập Lưu, Úc:






Tp Hồ Chí Minh, ngày 24/1/2026
Sư Ông thương kính!
Như một người con cháu nhớ về ông bà tổ tiên, những ngày này, càng đến gần ngày giỗ của Sư Ông, con lại nhớ về Người và tăng đoàn Làng Mai. Bất giác hình ảnh Bụt Thích Ca Mâu Ni và tăng đoàn của Bụt hiện lên trong tâm trí con, và con mỉm cười. Những năm trước, khi đến ngày Tiểu Tường, Đại Tường và ngày giỗ Sư Ông, con lại mong được về Chùa Tổ thắp nén tâm hương lên Sư Ông. Nhưng năm nay con sẽ chỉ ở nhà, ngồi yên tưởng nhớ đến Sư Ông. Con sẽ học theo Sư Ông, bày soạn một bàn trà và kính thỉnh Người cùng uống trà với con, kính thỉnh Sư Ông có mặt với con bởi con tin lời dạy của Người: “nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”.
Con kính thưa Sư Ông, năm 2025 con tự lên công án cho mình – thực tập phá chấp. Ôi chao ơi, ba tháng đầu con hoảng lắm khi con nhận thấy con toàn nhìn thấy người khác yếu kém vụng về trong sự thực tập pháp môn. Thật may mắn, con ngay lập tức nhận ra tâm phán xét của mình đang trồi lên mạnh mẽ, và con thấy mình đang “dán nhãn” khái niệm thực tập, tu tập là phải thế này thế kia. Vậy là con mỉm cười với tâm hành phán xét và tự nói: Dừng lại đi, chưa đủ mệt à! Bạn có thật sự hiểu họ không? Bạn có thực tập tốt đẹp không? – Ồ chưa tốt đẹp, nếu tốt đẹp bạn đã không phán xét họ như thế. Nếu biết thực tập, bạn đã biết thở nhẹ khi tiếp xúc với xung quanh. Và thế là con trở về với hơi thở. Thật khó để theo dõi hơi thở và đi theo hơi thở sau những lần như thế bởi hình ảnh người đó, lời nói của người đó cứ đi lên trong con. Con thấy con có phước đức ông bà tổ tiên đã gieo trồng trong con, và con nhận thấy đó cũng là niềm trông chờ của tổ tiên nơi con.
Con quay về nương tựa năng lượng của Sư Ông và quý Thầy quý Sư Cô mà tu tập – những lúc ngồi không yên, con nương vào pháp thoại 16 phép quán niệm hơi thở mà Sư Ông đã dạy. Có lúc đang ngồi an yên hạnh phúc, tâm con lại vui chơi rong ruổi chuyện này rồi việc kia; con nhận ra mình đang rơi vào cái bẫy hạnh phúc. Đến khi nghe tiếng Sư Ông nói “nó tốt đừng tìm cách kéo nó tới, nó xấu đừng tìm cách đẩy nó đi – cái đó gọi là nhận diện đơn thuần” thế là con lại đưa tay đặt lên bụng để nhận diện hơi thở phồng xẹp mà đưa tâm về với thân. Con thực tập 16 hơi thở từ lần đầu về Tu Viện Vườn Ươm tháng 6/2022. Tuy đến giờ con vẫn chưa thể thực tập được cả 16 hơi thở trong một lần ngồi thiền nhưng con hạnh phúc lắm bởi con đang thấy con mỗi ngày. Con thấy tập khí đòi hỏi, mong cầu hoàn hảo khiến con thường rơi vào tình trạng bất như ý và gây ra sự bất hòa trong con – con đã học cách mỉm cười với những tập khí của mình và thầm nói “thấy rồi nhé”. Nhớ lời Sư Ông dạy “cởi trói cho tâm” nên con nhắc nhở mình chuyển hóa tri giác sang tùy thuận và tùy duyên.

Một buổi sáng ngồi thiền, con thầm gọi “Sư Ông ơi, Sư Ông ngồi thiền với con ạ” mà không cần phải mở pháp thoại của Sư Ông. Con ngồi an yên được ngay. Thân tâm con nhẹ nhàng và những nụ cười cứ thế đến. Bất giác lòng biết ơn trào dâng và con đã khóc. Trước kia khi đọc câu : “nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”, con đọc như là một câu văn hay thôi chứ không biết có thật là như vậy hay không, và con cũng chấp vào chữ Thầy ở đây nghĩa là “Sư Ông đang nói với quý Thầy quý Sư Cô – chứ không phải nói với mình, mình phải gọi là Sư Ông chứ không được gọi là Thầy”. Buổi sáng hôm đó thật là một buổi khai thiên lập địa đã đập tan cái chấp trước trong con và hai chữ Phá Chấp đi lên cho con thấy con phải thực tập sâu sắc với tập khí này. Con hạnh phúc nhớ lại hơn 10 năm trước khi nghe Đường Xưa Mây Trắng, con đã học thuộc câu “muôn vật tự duyên sinh lại tự duyên mà diệt, Bậc Giác Ngộ tuyệt vời đã từng như vậy thuyết” nhưng chưa bao giờ biết tùy duyên tùy thuận. Thế là sau buổi ngồi thiền hôm ấy, con nhắc mình nhớ về điều này. Thực tập nó giúp con nhẹ nhàng trong tâm hồn, con đã bớt dần phán xét mỗi khi ngồi pháp đàm hay gặp mặt tăng thân. Con học theo quý Thầy quý Sư Cô tưới tẩm hạt giống lành cho người đối diện – đó cũng là tự tưới tẩm cho mình. Dần dần, cái khuôn mẫu mà con đã đặt sẵn cho người thực tập pháp môn Làng Mai, cho người Tiếp Hiện, cho Ban chăm sóc, cho người đi trước… đã được gỡ ra. Khi nhận ra những cái nhãn mác được tháo rớt xuống rồi, con biết ơn sự thực tập của mình – điều mà trước đây con không bao giờ nhìn đến. Con thường ngại nói về mình, và thấy những điều mình làm không đáng gì – chính điều đó làm con hay có mặc cảm mình làm chưa tốt và từ đó cũng đòi hỏi mình hơn, đòi hỏi người khác nhiều hơn. Bây giờ, con đã biết tùy duyên và tùy thuận hơn rồi ạ.
Con giữ mình không bị cuốn vào những cuộc tranh luận trong và ngoài tăng thân bằng cách thở và mỉm cười. Mỗi khi thấy mình trong hoàn cảnh của một cuộc tranh luận và nếu tâm phán xét đi lên, con lại thầm nhắc mình nương tựa vào năng lượng của Sư Ông, năng lượng của quý Thầy quý Sư Cô mà thở cho an. Con biết niềm tin của con không phải là sự tôn thờ mù quáng mà dựa trên những kinh nghiệm thực tập những pháp môn Sư Ông để lại và quý Thầy quý Sư Cô trao truyền, dù rằng thực tập để nếm được pháp vị không hề dễ. Những lần đầu thực tập thiền hành, con không đi được. Mỗi bước chân đặt xuống là con loạng choạng muốn té ngã và trong đầu đi lên bao nhiêu điều. Con đã từng căng thẳng đấu tranh nên đi hay không đi, một khóa tu bảy ngày mà hết ba ngày con đấu tranh để bỏ trốn thời khóa thiền hành. Nhưng rồi cuối cùng con vẫn tham gia vào thời khóa. Phước đức tổ tiên đã hun đúc cho con sự dũng mãnh đối diện với nỗi sợ của mình. Con đã tự tập thiền hành một mình và dần dần con cảm nhận được công năng của thiền hành giúp con biết nương tựa Đất Mẹ và cho con thấy Đất Mẹ không phải chỉ là mảnh đất con đang sống, đang đi. Từ đó, thời khóa thiền hành không còn làm khó được con, nay con đã biết thiền hành trong cuộc sống, trong công việc. Con biết ơn quý Thầy quý Sư Cô đã chỉ điểm cho con trong từng giai đoạn phù hợp với tâm hành, căn cơ của con. Thấy được điều đó, con nhận ra rằng quý vị đã tu học chân chính và quán chiếu sâu sắc để có thể tùy duyên mà hóa độ nhân gian. Bất giác con cười với chính mình khi thấy mình cũng là một chúng sinh can cường nhờ ơn Bụt Tổ, nhờ ơn Sư Ông và ơn quý Thầy quý Sư Cô mà con được giáo hoá, con được học thở học cười, học hiểu học thương, và niềm thương kính Sư Ông, thương kính quý Thầy quý Sư Cô dâng lên trong con.
Nhờ giữ sự thực tập hàng ngày không chỉ trong thời khóa công phu mà ngay trong lúc làm việc, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi ăn, khi nói chuyện, con nhận thấy pháp môn nhẹ nhàng nhưng không dễ để duy trì được chánh niệm. Đôi khi người ta chưa thực tập được bao nhiêu, mới nghe thôi thì thấy dễ dàng lắm. Một lần, có người gửi cho con những clip người ta bài xích về Sư Ông, về pháp môn và tăng thân Làng Mai và khuyên con nhìn lại niềm tin của mình. Con nhận thấy tâm con bất động và vững chãi lắm. Con không giận họ, cũng không lo sợ hay có bất cứ một chút mặc cảm nào. Con mỉm cười với con và nói với em ấy: chị tu học pháp môn Làng Mai vì thấy phù hợp với chị, pháp môn giúp chị có khả năng nương tựa vào chính mình, biết khởi niệm thương trước những hoàn cảnh của người lạ dù là họ ghét hay thương mình, chị không tôn thờ và cũng không theo Làng Mai vì sự nổi tiếng của Sư Ông… Thế nhưng con cũng nhận thấy mình đang rơi vào cái bẫy giải thích. Thế là con dừng lại, không nói nữa, chỉ thở thôi để cho em ấy có thể nói ra hết những gì em ấy muốn nói. Hơn một tiếng đồng hồ duy trì hơi thở, nụ cười, và thỉnh thoảng con chỉ nói “thế à, vậy hả”. Cuối cùng em ấy bảo: chỉ có những người thực tập pháp môn Làng Mai mới có thể ngồi yên lắng nghe mà không ngắt lời, tranh cãi, nhưng hiện tại em thấy chưa phù hợp với em… Con nói cảm ơn em đã nói ra và cho mình cơ hội được nghe em nói. Sau buổi nói chuyện đó, con nhận ra mình đã tiến bộ trong công trình phá chấp. Bởi trước đó, con cũng cho pháp môn mình đẹp và hay hơn pháp môn khác. Và tuy không nói ra nhưng con nhận thấy trong tâm mình đã muốn em ấy thực tập pháp môn mình nên mới xảy ra cuộc tranh luận này chứ không phải vô cớ mà vậy. Từ đó con tập mở lòng ra nghe về pháp môn khác mà không phán xét. Con cũng hiểu được lời dạy của Sư Ông về bảo vệ tăng thân bằng sự thực tập có phẩm chất của mình chứ không phải bằng tranh luận.
Con nguyện thực tập để có thể duy trì chánh niệm trong mỗi lời nói việc làm của con, để không phụ ân đức Sư Ông và tăng thân và cũng để nuôi dưỡng các đức Từ – Bi – Hỷ – Xả trong con, để con có thể là một sự tiếp nối đẹp mà làm giàu thêm gia tài do Sư Ông để lại.
Con,
Nguyên Diệu Hiền – Chân Đức Như

Sư cô Chân Đức

Sư cô Chân Đức là vị đệ tử xuất gia Tây phương đầu tiên của Sư Ông Làng Mai. Sư cô là người Anh, được Sư Ông làm lễ xuất gia và truyền giới Tỳ kheo ni vào năm 1988 tại núi Linh Thứu. Sư cô từng được Sư Ông cử làm Khoa trưởng phụ trách thực tập (Dean of Practice) tại Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB), Đức, trong nhiều năm. Dưới đây là những dòng tâm tình mà Sư cô muốn gửi đến các bạn Tiếp Hiện trẻ, được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.
Các bạn Tiếp Hiện trẻ thân mến,
Chúng tôi, thế hệ Tiếp Hiện đi trước, biết các bạn đang có đó và chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc! Chúng tôi cần các bạn. Nếu có thể yểm trợ được chút gì cho các bạn, chúng tôi rất sẵn sàng. Các bạn có biết tại sao chúng tôi hạnh phúc khi biết các bạn đang có đó không? Đó là vì năng lượng trẻ trung và khả năng đem từ bi vào hành động một cách sáng tạo của các bạn.
Một số bạn ở Hoa Kỳ đã rất sẵn sàng yểm trợ hai vị giáo thọ Chân Đại Âm (Larry Ward) và Chân Bản Nguyên (Peggy Rowe Ward) đến Làng Mai tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng Sáu 2026. Giờ đây, anh Chân Đại Âm không còn có mặt với chúng ta qua hình tướng quen thuộc nữa, nhưng không vì thế mà anh không thể tham dự khóa tu ấy với chúng ta. Tâm nguyện sâu sắc của các bạn về lòng bao dung và không kỳ thị chính là sự tiếp nối của anh.
Ở châu Âu và châu Á, những ai đã từng làm việc với giáo thọ Chân Đại Tuệ (Hà Vĩnh Thọ) cũng sẽ tiếp tục nuôi dưỡng tâm nguyện của anh, đó là: làm sao cho Tổng chỉ số Hạnh phúc Quốc gia trở thành thước đo cho mọi việc chúng ta làm, và những thầy cô giáo hạnh phúc có thể làm thay đổi thế giới. Nếu các bạn có mặt trong khóa tu tháng Sáu năm 2026, các bạn cũng sẽ mang theo tâm nguyện ấy.
Các bạn Tiếp Hiện trẻ thân mến, các bạn có biết những nguyên tắc hướng dẫn chúng ta trong khi phụng sự, học tập, tu tập và thư giãn là gì không? Các nguyên tắc ấy là:
– Phá chấp (破執)
– Khế cơ (契機)
– Thực nghiệm (實證)
– Phương tiện (方便)
Phá chấp
Phá chấp có nghĩa là chọc thủng bức màn của kiến chấp – cách ta nhìn sự việc, sự vật và quan niệm của chính ta. Nó cũng có nghĩa là ta luôn mở lòng để học hỏi những điều mới mẻ. Để làm được như vậy, ta cần tập luyện để có khả năng lắng nghe sâu, nhất là lắng nghe những người mà ta có quan điểm bất đồng. Ta không tranh cãi đúng sai về những điều lặt vặt. Ví dụ, có người nói: “Chủ nhật tuần trước Sư cô Hội Nghiêm cho pháp thoại”, và ta nói: “Hình như là Sư cô Lăng Nghiêm cho”. Tới đây, ta nên dừng lại. Đừng nên tiếp tục chứng minh là ta đúng. Ta chấp nhận có những khác biệt trong tri giác của mình. Tại sao ta lại phí thì giờ và năng lượng để cãi vã về những chuyện nhỏ nhặt? Ta có thể tự nhủ: “Ồ, có thể mình sai”. Dĩ nhiên, nếu đó là một việc quan trọng, liên quan đến chuyện sống chết, ta cần cố gắng giải thích cho người kia hiểu vì sao ta lại có tri giác ấy, bằng phương tiện đối thoại từ bi.
Khế cơ
Đối thoại từ bi gắn liền với sự khế cơ. Khế cơ liên quan đến cách ta chia sẻ giáo pháp của Đức Thế Tôn cũng như những lời dạy của Sư Ông Làng Mai với người khác. Ta tự hỏi mình: “Có phải đây là thời gian và nơi chốn thích hợp để nói pháp hay không? Giáo pháp ta chia sẻ có đáp ứng nhu cầu và hạnh nguyện của những người trong thính chúng hay không?”. Trước khi chia sẻ, ta nên tìm hiểu thính chúng. Người dân ở nước đó hiện đang trải qua những khó khăn hay khổ đau nào?
Thực nghiệm
Thực nghiệm nghĩa là ta phải có sự chứng nghiệm trực tiếp trong việc áp dụng giáo pháp. Khi tán dương pháp, ta dùng từ ehipassiko, nghĩa là đến để mà tự thấy một cách trực tiếp tính chân thực và hiệu nghiệm của giáo pháp. Người khác có thể chỉ mặt trăng cho ta, nhưng ta phải tự mình nhìn thấy mặt trăng mà không bị kẹt vào ngón tay chỉ mặt trăng. Ta dựa vào Tam học (Niệm – Định – Tuệ) để chứng nghiệm sự thật. Điều này cũng có nghĩa là ta cần áp dụng một cách tinh tấn các pháp môn thiền thở, thiền đi, và làm tất cả mọi hoạt động khác trong chánh niệm suốt cả ngày.
Phương tiện quyền xảo
Phương tiện quyền xảo bắt nguồn từ ước nguyện giúp người bớt khổ và làm cho thế giới này có thêm an lạc. Ta hành động không chỉ bằng trí năng, mà còn bằng trái tim và trực giác của mình. Và để có thể kiểm nghiệm lại trực giác ấy, ta luôn cần những thiện tri thức – những người bạn đồng tu tinh tấn – giúp ta thấy những phương tiện mà ta đang dùng để truyền trao giáo pháp có thật sự là thiện xảo hay không.
Ban Tiếp Hiện Thanh niên và Ban Tiếp Hiện Cao niên
Có những lúc các bạn Tiếp Hiện trẻ tuổi muốn cùng tu tập với chúng tôi – những người Tiếp Hiện trung niên hoặc cao niên, và cũng có những lúc các bạn cần tự lực trong việc chia sẻ về những vấn đề liên quan trực tiếp đến độ tuổi của các bạn.
Lý tưởng nhất là Dòng tu Tiếp Hiện thành lập một Ban Tiếp Hiện Thanh niên song song với một Ban Tiếp Hiện Cao niên. Chúng tôi mong sẽ có một vài bạn sẵn sàng đứng vào trong Ban Tiếp Hiện Thanh niên để làm việc sát cánh với các thành viên cao niên. Được như thế, chúng ta sẽ có nhiều năng lượng sáng tạo hơn khi đổi mới các quy chế của Dòng tu.
Tiếp Hiện
Trong tiếng Việt, Tiếp (接) có nghĩa là tiếp nhận, tiếp xúc, tiếp nối. Ta tiếp nhận sự trao truyền từ tổ tiên huyết thống và tâm linh. Chúng ta là con cháu của tông Lâm Tế và phái Liễu Quán.
Tổ Liễu Quán đã làm cho giáo pháp của Tổ Lâm Tế trở nên khế cơ, khế lý trong thời đại của ngài ở miền Trung Việt Nam. Ngày nay, chúng ta cũng muốn tiếp tục làm cho giáo pháp ấy trở nên khế cơ, khế lý trong thời đại và nơi chốn mà chúng ta đang sống.
Tổ Lâm Tế đã không bị kẹt vào hình thức của sự thực tập. Thay vì nương vào một vị Bụt ở bên ngoài, Tổ muốn ta nương vào bản tính tỉnh thức có sẵn nơi tự tâm của mỗi người bằng cách sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, qua bất kỳ việc gì mà chúng ta làm. Sư Ông Làng Mai đã nhắc chúng ta rất nhiều lần câu nói của Tổ: ”Phép lạ là đi trên mặt đất” (địa hành thần thông).
Chữ Hiện (現) có nghĩa là hiện tại, hiện pháp, thực hiện và hiện đại hóa. Ta phải có khả năng tiếp xúc với thực tại và thực chứng được giáo pháp. Ta tiếp nối sự trao truyền từ tổ tiên tâm linh và làm cho giáo pháp trở nên phù hợp với thời đại của chúng ta.
Trong tiếng Anh, nghĩa của chữ Order of Interbeing không giống với nghĩa của chữ Tiếp Hiện trong tiếng Việt. Vì vậy, các bạn không nói tiếng Việt cần học nghĩa của hai chữ Tiếp Hiện trong tiếng Việt. Bên tiếng Anh, ta không thể tìm từ tương đương để dịch một cách chính xác được.
Sư Ông Làng Mai sáng tạo ra từ interbeing (tương tức) vào năm 1983, trong một khóa tu tại trung tâm Thiền tập Tassajara ở California, Hoa Kỳ. Sư Ông giải thích rằng tương tức nghĩa là ta không thể nào tồn tại một cách biệt lập và cũng không thể làm cho bất cứ cái gì có mặt một cách biệt lập. Chúng ta có trong nhau, chúng ta là nhau. Tương tức – con đường Trung đạo giữa có và không, đã trở thành một trong những trụ cột của giáo lý mà Sư Ông trao truyền.
Là thành viên của dòng tu Tiếp Hiện, chúng ta cần ý thức rằng tương tức không phải là một lý thuyết. Ta cần chứng nghiệm giáo lý tương tức trong đời sống hằng ngày, trong cách ta liên hệ với nhau và với cuộc đời.
Hy vọng nhiều bạn Tiếp Hiện trẻ sẽ có thể đến Làng Mai vào tháng Sáu 2026 để mừng 60 năm thành lập dòng tu Tiếp Hiện.

(Phỏng vấn thầy Pháp Ấn)

Thầy Pháp Ấn là một sư anh lớn trong tăng thân Làng Mai, và hiện là Viện trưởng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Ban Biên Tập (BBT) đã có dịp ngồi chơi và lắng nghe thầy chia sẻ về đạo Bụt ứng dụng, hạnh nguyện của Sư Ông trong việc xây dựng EIAB, cũng như kinh nghiệm tu học của chính thầy. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ ấy.
Nền tảng của hành động
BBT: Thưa thầy, giữa bối cảnh bất ổn về chính trị, xã hội, kinh tế và môi trường trên toàn cầu, nhiều thành viên Tiếp Hiện mong muốn dấn thân để góp phần tạo nên sự thay đổi trong xã hội, nhưng đồng thời cũng dễ cảm thấy tuyệt vọng trước thực tại đầy bạo động và chia rẽ. Theo thầy, làm thế nào để một vị Tiếp Hiện có thể dấn thân mà vẫn giữ được sự vững chãi và một trái tim rộng mở?
Thầy Pháp Ấn (PA):
Một tháng trước, PA cũng có một buổi trò chuyện cùng với tăng thân Tiếp Hiện bên Ý. Họ cũng đặt câu hỏi tương tự.
Trong đạo Bụt dấn thân, mọi hành động cần dựa trên nền tảng của bình an và thương yêu. Mỗi hành động của ta đều tác động đến mạng lưới sự sống rộng lớn. Vì vậy, khi muốn hành động vì hòa bình, ta cần tự hỏi: mình đang đứng trên nền tảng nào? Nền tảng của bình an và lòng từ bi trong chính ta? Điều này không có nghĩa là ta phải hoàn toàn bình an mới được hành động, nhưng ta cần quán chiếu động cơ của mình.
PA nhớ ngày xưa khi được tham dự một khóa tu do Sư Ông hướng dẫn ở bên Mỹ cho những người làm trong lĩnh vực thi hành luật (law enforcement) – như luật sư, thẩm phán, quản giáo, và nhiều người làm việc liên quan đến tội phạm trong xã hội. Cuối khóa tu có một anh cảnh sát hỏi: Nếu có một người đang cầm súng bắn vào người dân vô tội, mình phải làm sao với vai trò một người bảo vệ an ninh xã hội? Nếu không bắn anh ta thì người dân sẽ chết, vậy phải làm sao?
Trong câu trả lời, Sư Ông nói rằng chắc chắn là mình phải hành động. Mình không thể ngồi yên khi chuyện đó xảy ra. Nhưng mình phải hành động dựa trên căn bản của tình thương, nghĩa là mình thương cả hai: người đang bắn súng và những nạn nhân. Vì người đang bắn súng cũng là người đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng có quá nhiều khổ đau, tràn ngập đến mức mờ mắt, người ta mới có thể nhẫn tâm bắn người khác. Không có khổ đau thì không ai có thể làm như vậy.
Cho nên trước tiên, mình phải tập nhìn để thấy được nỗi khổ của cả hai bên. Khi mình có tình thương, và hành động dựa trên tình thương, thì tự nhiên mình cũng giảm thiểu được khổ đau. Mình có thể phải nổ súng, nhưng nổ súng như thế nào đó để không phải là giết người, mà là giảm thiểu khổ đau tối đa. Ví dụ bắn vào tay, vào chân, hoặc bộ phận nào để người đó ngã xuống và không tiếp tục gây hại nữa. Căn bản của hành động phải là tình thương, chứ không phải phản ứng từ một nền tảng bạo động. Điều đó rất quan trọng.
Khi dấn thân trong bối cảnh xã hội hiện nay, mình cần làm tất cả trong khả năng của mình. Ngày xưa, Sư Ông đi kêu gọi hòa bình vì hoàn cảnh lúc đó khác: thế giới gần như không biết gì về chiến tranh Việt Nam, không biết tình trạng tại Việt Nam, xã hội lại rối loạn. Còn bây giờ là thời đại thông tin, thông tin tràn ngập và nhiễu loạn khiến mình không biết đâu là sự thật.
Trong mỗi hoàn cảnh, mình vẫn hành động, nhưng theo các cách khác nhau. Ví dụ như khi chiến tranh giữa Nga và Ukraine bùng nổ, PA đã viết thư cho Tổng thống Zelensky và cho Tổng thống Putin, xin hai vị cùng nhìn lại. Ngoài ra, PA còn gửi kèm DVD về cuộc đời Sư Ông và một lá thư ngỏ kêu gọi hai bên dừng lại, chấm dứt cuộc chiến, đừng tạo thêm khổ đau. Đó là những gì trong khả năng mà PA có thể làm.
Dĩ nhiên mình có quyền lên tiếng. Đi diễu hành, đi biểu tình cũng để tạo áp lực chính trị lên các nhà lãnh đạo. Nhưng hiện nay chính trị thế giới vô cùng phức tạp, liên hệ chặt chẽ toàn cầu. Tất cả gắn với nhau trong một mạng lưới rất phức tạp.
Trong hoàn cảnh như vậy, với tư cách một tăng thân, mình cần đóng góp bằng năng lượng tu học, chia sẻ cho mọi người cách chế tác bình an. Khi tâm lắng xuống, mình mới có thể tìm được giải pháp hay nhất để góp phần chấm dứt chiến tranh.
Hay ví dụ như ngay sau khi nhận được tin về xung đột Israel và Palestine, khi đó PA đang có khóa tu tại Tyrol, nước Áo. PA đã cho nhiều bài pháp thoại trong khóa tu đó xoay quanh việc làm sao thực tập bình an trong một xã hội đầy khủng hoảng.
Sau đó, khi đến Sicily, Ý, PA viết một lá thư gửi Tổng thống Biden, kèm theo bản chép lại toàn bộ pháp thoại của khóa tu về thực tập bình an, và kêu gọi chính quyền Mỹ tìm mọi cách chấm dứt chiến tranh giữa Israel và Palestine càng sớm càng tốt, cũng như đem thực phẩm cứu trợ vào khu vực Gaza. Mình tìm cách gửi thư và hồ sơ đó qua Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.
Tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam còn gọi điện mời PA tới chia sẻ một bài pháp thoại ngay tại tòa đại sứ và muốn tổ chức một ngày quán niệm cho nhân viên, vì tình hình lúc đó rất khủng hoảng. Nhưng lúc ấy PA đang ở Ý nên không về được. PA nhờ họ chuyển lá thư và toàn bộ hồ sơ — hơn mười trang — đến Tổng thống Biden.
Khi hành động như một người Tiếp Hiện, điều quan trọng nhất là nuôi dưỡng lòng từ bi thật lớn, đủ lớn để ôm trọn cả hai phía: bên nạn nhân và bên gây khổ đau. Mình giúp họ đi đến hòa giải. Đó là con đường của đạo Bụt: bất bạo động và hòa giải, không đứng về phe nào.
Là một với sự sống
BBT: Thưa thầy, trên hành trình dấn thân, có khi nào thầy thấy nản lòng không? Khi rơi vào những thời điểm như vậy, điều gì đã giúp thầy khơi lại ngọn lửa và tiếp tục đi tới cho đến hôm nay?
Thầy Pháp Ấn:
Thật ra nói nản lòng hay không, thì PA không có chuyện đó. Với PA, tất cả các pháp đều do duyên sinh. Sự thực tập của mình là có mặt trọn vẹn trong giờ phút hiện tại. Khi thật sự có mặt, mình tự biết cái gì nên làm và cái gì không. Đó là thực tập căn bản. Công việc đến thì làm thôi, không phân biệt lớn hay nhỏ, không so đo tính toán.
Nhưng trong chiều sâu, bản chất của PA là người thích ở yên. Không phải kiểu một vị Bồ Tát xông xáo đâu. Thật ra PA thích nghiên cứu, đào sâu con đường tâm linh, kinh điển. Nhưng việc cần làm thì vẫn làm.
Tánh PA là đụng chuyện thì làm: rửa chén cũng làm, đào đất cuốc cỏ cũng làm. Điều quan trọng là có mặt đích thực cho sự sống. Sự sống đến thì mình đáp ứng. Khi mình thật sự có mặt, mình biết mình cần làm gì, không nên làm gì. Tâm của người Bồ Tát là tâm thương yêu và phụng sự, và khi có mặt thật sự, tình thương tự biểu hiện thành hành động.
Ví dụ thấy một đứa bé té. Nếu mình có mặt, tình thương phát khởi ngay và khiến mình hành động. Nếu mình không thật sự có mặt, mình sẽ dửng dưng. Sự thực tập của mình là trở thành một với sự sống trong giây phút hiện tại. Khi sống được như vậy, mình tự biết phải hành động thế nào.
Chuyện đi qua Đức để thành lập Viện Phật học cũng vậy. Lúc đó, tu viện Bát Nhã còn chưa yên; tài chánh thì không, nhân sự thì thiếu, giáo thọ cũng không có. Thành lập một Viện Phật học – Viện Phật học Ứng dụng châu Âu – đâu phải chuyện nhỏ. Viện Phật học không chỉ cho Đức hay Pháp, mà là của cả châu Âu. Nếu mình là người có trách nhiệm, nghe cái tên đó cũng phải suy nghĩ chứ. PA có thưa với Sư Ông nhiều lần: “Con nghĩ bây giờ khoan làm đã, mình phải dồn sức cho Bát Nhã, cho Việt Nam trước”.
Nhưng Sư Ông có cái thấy của Sư Ông. Rõ ràng, nếu Sư Ông muốn thực hiện Viện Phật học đó mà không làm ngay thì đâu biết đến khi nào mới thực hiện được, cuộc đời rất vô thường. Thành ra Sư Ông quyết định phải làm. Là đệ tử, bổn phận của mình là trình bày cái thấy và đóng góp ý của mình. Nhưng Thầy Tổ quyết định sao thì mình đi theo vậy. PA chưa từng có ý chống đối hay không yểm trợ Sư Ông. Nhiệm vụ của người học trò là nói lên cái thấy thật của mình. PA nói với Sư Ông: “Đó là những gì con suy nghĩ, và con biết cái thấy của con còn thiển cận. Sư Ông có cái thấy khác. Nhưng Sư Ông quyết sao thì con yểm trợ hoàn toàn”.
Mùa hè 2008, bữa đó ở cốc Ngồi Yên, Sư Ông gọi thị giả mời PA vào. Đó là tuần cuối khóa tu mùa hè. PA còn nhớ rất rõ: Sư Ông ngồi tựa lưng vào cửa sổ – chỗ bây giờ mình đặt bàn thờ Bụt. Sư cô Chân Không hỏi đi hỏi lại: “Thầy Pháp Ấn, thầy có chắc chắn là thầy chịu qua Đức để làm Viện Phật học không?”. PA thưa: “Con thì cái gì cần nói con nói thôi. Sư Ông dạy thì con làm, con không có vấn đề gì hết”.
Sư Ông nói: “Thôi, về chuẩn bị đi. Tháng sau qua Đức. Bây giờ thầy đi mở khóa tu ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Khi về sẽ ký giấy tờ mua chỗ đó. Con chuẩn bị sang Đức”.
Khi PA sang tới nơi, tối hôm đó Sư Ông dạy sư cô gọi điện hỏi: “Pháp Ấn thấy tòa nhà lớn vậy có sợ không?” PA chỉ cười. Thật ra mình làm vì tăng thân. Tất cả tăng thân gom tay gom sức, đâu phải vì một cá nhân. Mình cứ làm theo sức của mình. Làm được tới đâu hay tới đó. PA chưa bao giờ đối diện một hoàn cảnh mà có sợ hãi. PA làm được gì thì cứ làm, hoàn toàn không có sợ hãi, vì biết những gì mình làm không phải vì mình, không vì mục đích riêng tư. Mình làm vì tăng thân, vì Sư Ông và vì cuộc đời. Đời người tu là cống hiến cho nhân loại. Vậy thì có gì để sợ?
Đạo Bụt ứng dụng
BBT: Thưa thầy, thầy có thể chia sẻ với chúng con những điều mà Sư Ông gửi gắm khi Sư Ông cử thầy sang EIAB để xây dựng Viện Phật học?
Thầy Pháp Ấn:
Theo PA hiểu, ngày xưa khi thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh, Sư Ông đã xây dựng theo mô hình của phương Tây. Tại Viện Đại học Vạn Hạnh, sinh viên được học nhiều môn theo các chứng chỉ (credit), trong đó có môn Phật học. Một sinh viên ra trường vừa có kiến thức phổ thông, vừa có kiến thức Phật học.
Sau này, khi sang Tây phương, Sư Ông thấy các chương trình Phật học rất sâu và rất hay. Đến khi về Việt Nam, Sư Ông cũng có dịp đến thăm các Phật học viện ở các thành phố lớn. Sư Ông nhận thấy một hạn chế lớn đó là: sinh viên có thể có kiến thức Phật học, rất giỏi về lý thuyết, thậm chí có bằng tiến sĩ, nhưng không biết cách xử lý những tâm hành buồn giận, khổ đau của chính mình.
Sư Ông nói rằng mình có những trung tâm tu học như Làng Mai, và cũng có những trung tâm nghiên cứu Phật học như ở Berkeley, Oxford; khoảng giữa hai nơi đó, mình cần có một mô hình kết hợp được cả nghiên cứu lẫn thực tập trong đời sống hằng ngày. Đó là lý do Sư Ông muốn thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu: một mô hình mới, nơi người học vừa nghiên cứu, vừa hành trì, và đưa đạo Phật vào đời sống thực, chứ không chỉ nằm trên lý thuyết.

PA nghĩ mình đã thực hiện được một phần nào. Ví dụ, những khóa tu cuối tuần được tổ chức tại EIAB: thiền sinh đến vào tối thứ Năm thường với tâm trạng rất mệt mỏi, chán chường, trầm cảm, có vấn đề gia đình, mất hướng đi… Nhưng đến Chủ nhật, khi họ ra về, họ như trở thành một con người khác. Trong suốt 17–18 năm nay, khóa tu nào cũng thành công theo nghĩa: khi họ đi về, họ tươi mát hơn, bình an hơn, hạnh phúc hơn. Đó là ý nghĩa của Viện Phật học Ứng dụng: người bước vào như thế nào không quan trọng; khi bước ra, họ phải là một con người đã chuyển hóa.
Công trình của Viện Phật học nằm ở hai mặt:
Thứ nhất là có một tăng thân tu học vững chãi. Tăng thân làm yếu tố nền tảng, để khi thiền sinh đến tu học, họ được tiếp xúc và được thừa hưởng từ nguồn năng lượng vững chãi đó. Vì vậy, PA luôn khuyến khích quý thầy, quý sư cô ra sinh hoạt với thiền sinh: có mặt với họ trong bữa ăn, tham dự thiền hành, làm việc chung, ngồi thiền… để họ thật sự tiếp xúc với tăng thân. Chính cách đi – đứng – nằm – ngồi, cách nói năng, uy nghi của các thầy, các sư cô đóng góp phần rất lớn vào sự chuyển hóa của thiền sinh. Nếu Viện Phật học chỉ là nơi đến học như các trường Phật học khác thì sẽ không thành công, vì thiếu nền tảng tăng thân.
Ở Học viện, mình không tách nội viện – ngoại viện, mà sinh hoạt chung bởi vì hiểu rằng tăng thân chính là nền tảng để giúp thiền sinh thay đổi. Thiền sinh nào cũng chia sẻ rằng: bên cạnh việc học, chính nhờ thấy quý thầy, quý sư cô đi đứng, cười nói nhẹ nhàng mà họ tươi lên, vui lên. Và điều đó chứng tỏ tuệ giác của Sư Ông rất đúng.
Thứ hai là trong các khóa học, mình phải trao truyền pháp môn và giúp họ hành trì. Và hành trì rất nhiều. Ví dụ trong các khóa học do PA hướng dẫn, họ được yêu cầu giữ im lặng hùng tráng từ 9h30 tối đến sau giờ ăn sáng. Tức là gần 11 tiếng rưỡi. Thêm bữa trưa ăn trong im lặng khoảng 45 phút đến một tiếng; buổi tối lại thêm một tiếng nữa. Tổng cộng khoảng 13 tiếng rưỡi. Rồi ngồi thiền hướng dẫn một tiếng, thiền buông thư nữa. Ở đây thiền sinh hành trì 15–16 tiếng mỗi ngày; chưa kể pháp thoại, pháp đàm nữa thì tới 16–17 tiếng. Trong 24 giờ, 17 tiếng hành trì thì tâm làm sao loạn được. Chắc chắn tới Chủ nhật là tâm yên. Đó chính là Phật học ứng dụng: đem đạo Bụt vào thực tập trong đời sống.
Tình thầy trò
BBT: Tới bây giờ, mỗi lần nghĩ đến Sư Ông thì điều gì đi lên trong thầy đầu tiên?
Thầy Pháp Ấn: Cách Sư Ông dạy mình đôi khi rất mạnh, nhưng trong mối quan hệ thầy trò, lúc nào Sư Ông cũng nhẹ nhàng. Làm gì cũng từ từ, nói rất dịu dàng. Đó là hình ảnh đọng lại trong PA nhiều nhất. Còn chuyện bị “ăn gậy” của Thiền sư thì tất nhiên có, nhưng cái đó PA lại không nhớ; hoàn toàn không ở lại trong lòng. Điều PA nhớ là sự nhẹ nhàng nơi Sư Ông, chất giải thoát, thiền vị. Và trong cái thiền vị, cái nhẹ nhàng đó, PA thấy có một tình thương rất lớn.
Làm thầy thì phải dạy học trò, có những lúc phải cứng rắn khi học trò không biết đường đi, phải chỉ cho nó thấy đường. Nhưng trong liên hệ thầy trò, PA luôn cảm nhận được tình thương rất lớn nơi Sư Ông. Tình thương đó không chỉ dành cho riêng PA mà cho tất cả mọi người, cho cả cỏ cây hoa lá. Cách Sư Ông chăm cây, tưới cây, hay nâng niu một cành hoa… mình thấy rõ Sư Ông như thuộc về một thế giới khác — thế giới của những bậc đã giác ngộ, đã giải thoát, đã tiếp xúc được với bản môn.
PA thấy rất khó để tìm được một người có cái thấy và cách sống như Sư Ông. Khó lắm. Ngay cả cách đi của Sư Ông thôi, PA nghĩ mình học bao nhiêu đời cũng không đi được như vậy. Đi rất nhẹ nhàng, không vội, không hấp tấp. Khi cần đi nhanh thì đi nhanh, nhưng không hề có cái tâm khẩn trương. Việc cần thì mình làm, nhưng ngay trong đó vẫn có sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Đó là những hình ảnh còn đọng lại trong PA về Sư Ông. Sư Ông là một người thầy rất vĩ đại.

Ni sư Thích nữ Chân Như Minh
Chúa xuân đã đến bên thềm
Mai vàng nở rộ trên triền núi xanh
Xuân về báo hiệu điềm lành
Cỏ hoa tươi thắm, lá cành đong đưa
Bao ngày đông giá gió mưa
Bình minh ló dạng, đón chờ tin xuân
Chúc nhau mọi việc tốt lành
Tâm an, thân khỏe, đón xuân vui hòa
Trở về nhìn lại trong ta
Tâm xuân hé nụ, nở hoa chân thường
Hương từ bi tỏa muôn phương
Bồ đề tâm mãi miên trường ngàn sau.

(Trò chuyện với chị Anh Hương – Chân Ý)

Được thọ giới Tiếp Hiện vào năm 1981 và nhận đèn truyền đăng từ Sư Ông Làng Mai vào năm 1992, chị Chân Ý (Anh Hương) luôn mang trong mình ngọn lửa phụng sự và nhiệt huyết xây dựng tăng thân. Chị cùng người bạn đời, anh Chân Trí, đã thành lập Trung tâm Thực tập Chánh niệm Fairfax tại Virginia vào năm 1998 và hướng dẫn rất nhiều khóa tu cho cả người Việt lẫn người nước ngoài trong hơn ba mươi năm qua. Nhân dịp chị về Làng tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng 5 năm 2025, Ban Biên tập (BBT) đã có dịp trò chuyện với chị. Dưới đây là phần trích dẫn từ buổi trò chuyện đó.
——-
BBT: Kể từ khi Sư Ông rời Việt Nam năm 1966, chị là người đầu tiên được Sư Ông truyền giới Tiếp Hiện tại Tây phương. Chị có thể kể lại hoàn cảnh mà Sư Ông truyền giới cho chị và cảm nhận của chị trong buổi lễ ấy?
Chị Anh-Hương: Năm 1981, Anh-Hương cùng em trai là Đức được sang Pháp thăm Sư Ông (Ba của Anh-Hương là anh ruột của Sư Ông). Hai chị em ở Phương Vân Am chơi mấy ngày, rồi sau đó cô Phượng (sau là Sư cô Chân Không) lái xe đưa Sư Ông và hai chị em về Sơn Cốc. Mình ngồi trên xe mà trong đầu tò mò không biết nơi Sư Ông ở ra sao, đi bao lâu nữa mới về tới Sơn Cốc. Bây giờ nhớ lại thấy thương cô Phượng ghê, đi đường xa mà cả ba thầy trò còn lại không ai biết lái xe để lái phụ cho cô. Mỗi khi cô buồn ngủ, cô hát ngân nga cho đỡ buồn ngủ. Trong xe có một chai coca-cola, và một thanh bánh mật. Anh-Hương ngồi băng ghế phía sau, thỉnh thoảng lại nghe tiếng cô Phượng: “Xin Thầy cho con chút cò lá (coca-cola)”. Cô nói khi nào hát mà vẫn còn buồn ngủ thì uống chút “cò lá” là hết buồn ngủ!
Về tới Sơn Cốc, hai chị em đang theo Sư Ông vào nhà thì Sư Ông quay lui nhìn hai đứa và nói : “Quê nội các con!”. Mình thầm “Dạ” và cảm thấy nóng nơi mắt. Chiều hôm đó Sư Ông tự tay đong gạo và vo gạo nấu cơm. Cái nồi cơm điện có chút xíu mà cũng nấu đủ cho bốn người ăn! Cô Phượng làm món nấm kho tiêu rất đậm đà. Một tháng trời ở Sơn Cốc, bữa cơm nào cũng ngon, cũng tràn đầy hạnh phúc.
Tối hôm đó Sư Ông bảo hai chị em đi đánh răng rồi đi ngủ cho sớm. Sư Ông dẫn hai đứa vô phòng, che cửa sổ lại, đợi hai đứa nằm xuống rồi Sư Ông mới tắt đèn và đóng cửa phòng lại. Sư Ông ra khỏi phòng không lâu thì Anh-Hương ngồi dậy. Có một nguồn năng lượng gì rất mạnh đang trồi lên, buộc mình phải ngồi dậy. Không gian Sơn Cốc bình yên, mát mẻ, thân thương và dễ chịu quá. Một lúc sau mình nằm xuống lại và thiếp đi lúc nào không biết. Khi thức dậy trời còn tối hù mà mình cảm thấy rất là tỉnh táo. Ngay lúc đó trong mình dấy lên một niềm vui mênh mông khó tả, và mình nằm đó cho tới khi trời lờ mờ sáng thì lò mò xuống bếp. Sư Ông đang nấu nước pha trà. Sư Ông hỏi “Ngủ được không con?”. “Dạ được, thưa Sư Ông”. Bây giờ nhớ lại mình hơi tiếc đã không kể hết cho Sư Ông nghe những gì xảy ra trong lòng mình đêm hôm đó. Hồi đó mình đã 19 tuổi, vậy mà khi ở cạnh Sư Ông, mình cảm thấy đầy đủ và vui sướng như một đứa trẻ Chẳng suy nghĩ gì và cũng không có gì để nói. Sư Ông nói gì mình cũng thích và lắng nghe chăm chú. Sư Ông hỏi thì mình trả lời chứ mình ít khi kể chuyện cho Sư Ông nghe.
Về đến Sơn Cốc hôm trước thì hôm sau Sư Ông mở tuyển tập thơ Hồng bay mấy lá của nhà xuất bản Lá Bối và chọn cho mỗi đứa một bài để đọc, đọc giọng Bắc trước rồi sang giọng Huế. Anh-Hương và Đức sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, nói giọng Nha Trang chứ chưa bao giờ đọc thơ giọng Bắc hay giọng Huế nên hai chị em chần chừ. Sư Ông nói: “đọc đi con! Thử đọc đi con!” Hai chị em thay phiên nhau đọc. Thầy trò đều không thể nhịn cười!
Một hôm Sư Ông đưa cho Anh-Hương tập nhạc mười bài Tâm ca do chính Sư Ông in lại để mấy cô cháu hát chung cho vui. Thế là ngày nào hai cô cháu cũng nghêu ngao mấy bài Tâm ca. Có những buổi chiều hay buổi tối, mấy thầy trò ngồi trong bếp văn nghệ rất vui. Sư Ông cũng hát chung với mình và nhịp tay nữa.
Cô Phượng làm việc suốt ngày và thức khuya lắm. Sau khi mọi người đi ngủ rồi mà cô còn làm việc, tiếng máy đánh chữ lóc cóc vang ra từ phòng làm việc của cô. Ngày nào mấy cô cháu cũng được Sư Ông rủ ra ngoài đi dạo nhiều lần. Hai chị em đã được hái đào, mận, lê, sung với Sư Ông và thưởng thức ngay tại chỗ. Sư Ông pha trà nhiều lần trong ngày, và mỗi lần có bình trà mới là Sư Ông mời hết mấy cô cháu ngồi uống trà, chơi với Sư Ông.
Sáng nào mấy thầy trò cũng ra sau nhà làm vườn, hạnh phúc lắm! Những ngày ở Sơn Cốc mình thấy Sư Ông làm đủ thứ hết: trồng rau, tưới hoa, cắt cỏ, bửa củi, phơi củi, mang củi khô chất cạnh lò sưởi trong bếp để đốt củi vào những buổi sáng sớm hay buổi tối trời lạnh. Ở Sơn Cốc có một cái máy in. Sư Ông viết lách, tự tay in sách và đóng sách lấy.
Khoảng một tuần trước ngày Anh Hương và Đức trở về Mỹ, sau khi Sư Ông nghỉ trưa, Sư Ông gọi Anh-Hương ngồi xuống bên cạnh, đưa cho Anh-Hương mấy trang giấy in khổ lớn và bảo: “Con đọc cái này đi!. Anh-Hương “dạ” rồi cầm lấy đọc từ đầu đến cuối. Đó là văn bản của 14 giới Tiếp Hiện. Sư Ông ngồi yên như quả núi. Vài phút sau, Sư Ông hỏi:
– Được không con?
– Dạ hay, thưa Sư Ông
Bây giờ nhớ lại, Anh-Hương tự hỏi sao mình không thưa “Dạ được” mà lại nói “Dạ hay”? Sư Ông đã đánh động tâm bồ đề nơi mình, mở lối cho mình bước tới trên con đường phụng sự của dòng tu Tiếp Hiện. Sau vài phút yên lặng, Sư Ông kể sơ về lịch sử dòng tu Tiếp Hiện rồi hai thầy trò ra ngoài đi thiền hành. Có gì rất mới lạ đang xảy ra trong mình.
Sáng hôm sau, trời còn mờ sương, Sư Ông khoác thêm áo len ra ngoài áo vạt hò, tay cầm theo cái kéo và đẩy cửa bước ra ngoài. Anh-Hương đi theo coi Sư Ông làm gì. Sư Ông cắt một bông hồng làm bình hoa đặt lên bàn thờ. Sau đó, Sư Ông gọi cô Phượng vào và nói: “Hôm nay Anh Hương thọ giới Tiếp Hiện”. Trong buổi lễ, Sư Ông lần lượt tuyên từng giới với câu hỏi: “Con có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không?” Anh Hương trả lời: “Dạ có”. Hôm đó là ngày 20 tháng 8 năm 1981. Sư Ông nhanh lắm, có ý gì là Sư Ông làm liền. Buổi lễ vừa xong, Sư Ông bảo:
– Cô Phượng, nấu gì ăn cho vui.
– Dạ, xôi bắp hả Thầy?
Cô Phượng nấu rất nhanh, một loáng là xong. Mấy thầy trò ăn sáng xôi bắp mới nấu, thêm chút hành phi rất thơm. Sư Ông dùng hết chén xôi bắp thì múc thêm vào bát cho từng người, để lại chút xíu cho Sư Ông. Ăn xong Sư Ông cười và nói: “Vui quá!” rồi Sư Ông đứng dậy pha trà. Không khí Sơn cốc vui như Tết! Ngồi chơi được một lúc, Đức đẩy xe cút kít đi theo Sư Ông mang củi vào chất đầy bên lò sưởi trong bếp. Sau mấy chục năm sống xa quê hương, Sư Ông hạnh phúc được sống lại không khí gia đình.
BBT: Chuyện chị thọ giới Tiếp Hiện đã “ly kỳ” như vậy rồi, chắc sau đó còn nhiều chuyện “hấp dẫn” hơn phải không chị? Chị đã tiếp nhận những bài học gì từ Sư Ông?
AH: Anh Hương qua Làng lần đầu vào tháng 7 năm 1984, và gặp nhiều người trẻ ở Làng, trong số đó có anh Thư (Chân Trí). Lúc ấy cô Phượng chưa xuất gia.
Trong khóa tu mùa hè năm ấy, có một buổi lễ tụng giới Tiếp Hiện ở thiền đường Yên Tử, xóm Thượng. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng và thiền sinh cũng đã vào thiền đường đông đủ mà sao Sư Ông chưa tới? Anh Hương buộc phải đứng dậy đi lên phòng Sư Ông. Lúc đó Sư Ông đang nằm nhắm mắt trên tấm nệm đặt trên sàn gỗ. Sư Ông mở mắt khi thấy Anh-Hương bước vào. Anh Hương thưa với Sư Ông sáng nay có buổi tụng giới Tiếp Hiện, và mọi người đang đợi Sư Ông. Sư Ông nói: “Con làm đi”. Anh Hương nghĩ bụng: “Sư Ông ơi! Sư Ông có dạy con gì đâu mà Sư Ông biểu con làm!” Mình đứng đó như pho tượng không nói được gì, kể cả câu “Dạ con không biết làm”.
Sau đó Sư Ông quay mặt vô tường rồi nói thêm: “Làm đi con. Đi đi con”. Anh Hương đoán Sư Ông bị đau bụng và tối qua Sư Ông không ngủ được. Một mặt thương Sư Ông đau bụng và biết Sư Ông cần nghỉ ngơi. Mặt khác thì không biết phải làm gì trong tình huống này!
Mình chưa bao giờ hướng dẫn một buổi lễ tụng giới, huống gì tụng giới bằng tiếng Anh. Sư Ông bảo đi thì mình đi. Vô tới thiền đường rồi sao nữa? Tuy đã 22 tuổi, Anh Hương thấy mình vẫn còn bé trong không khí trang nghiêm của một buổi tụng giới mà trước đó Sư Ông luôn là vị chủ lễ. Mình cũng chưa bao giờ dâng hương trước tăng thân! Nhìn quanh không có ai để cầu cứu nên mình phải ngồi vào chỗ Sư Ông thôi! Rồi buổi tụng giới hôm ấy cũng đã hoàn tất. Lòng mình cảm thấy nhẹ và vui. Có lẽ hồi đó mình còn trẻ nên học gì cũng nhanh. Sư Ông thấy mình rõ hơn là mình thấy mình, và Sư Ông đã “đẩy” mình đi. Chưa bao giờ Sư Ông “đẩy” mà mình “té”. Vấn đề là mình có chịu đi hay không. Sau những lần “bị” Sư Ông “đẩy” như vậy, Anh Hương thấy mình có “lớn” ra – không phải lớn tuổi đời hay tuổi đạo, mà lớn hơn bản thân mình, lớn hơn cái mình tưởng là mình, vì trong mình còn có đất Mẹ, có Bụt, Sư Ông, có tổ tiên tâm linh và huyết thống.
Một buổi chiều trong khóa tu mùa Hè ở Làng Hồng năm 1991, Anh Hương và anh Thư vào chơi với Sư Ông ở cốc Hoa Cau, Xóm Hạ. Lúc đó Sư Ông đang nằm võng. Mình đang nói chuyện vui, tự dưng Sư Ông nói: “Năm sau các con về nhận truyền đăng”. Cả hai đều giật mình khựng lại: “chưa được đâu, thưa Sư Ông”. Trong đầu mình nghĩ truyền đăng là phải giảng dạy, mà mình biết gì mà dạy. Sư Ông cười qua ánh mắt sáng trong, hiền hòa và tràn ngập tình thương, rồi Sư Ông hỏi:
– Con có hạnh phúc không?
– Dạ có chứ Sư Ông
– Về đây con có vui không?
– Dạ, vui lắm.
– Vậy con nhận đèn thôi.
– Dạ nhưng mà con không biết dạy.
– Đâu cần dạy, con vui thì con chia sẻ hạnh phúc của con thôi.
Mình có ý muốn phân bua gì đó nhưng biết Sư Ông “đẩy” thì mình “đi” thôi, không thưa thêm gì nữa. Mùa Hè năm sau, 1992, Anh Hương và anh Thư trở về Làng để được Sư Ông truyền đăng. Để Anh Hương chia sẻ bài kệ truyền đăng Sư Ông trao cho mình:

Chân tâm ươm hạt quý
Ý vun bón vườn nhà
Thanh thản cùng năm tháng
Lòng đất tự đơm hoa.
Sau phần truyền đăng sáng hôm đó, Sư Ông dẫn đại chúng đi thiền hành xuống đồi mận. Mình được ăn trưa với Sư Ông và Sư cô Chân Không ở cốc Hoa Cau. Sư Ông vui và đói bụng nên dùng bữa trưa khá lắm.
Vài hôm sau, mình đang ngồi chơi, uống trà với Sư Ông trong cốc Ngồi Yên ở Xóm Thượng, có cả anh Arnie Kotler (Chân Đắc) từ nhà xuất bản Parallax Press, Sư Ông đứng dậy lấy giấy và viết để thầy trò cùng thảo một tờ giới thiệu cho khóa tu (flyer) do mình hướng dẫn. Sư Ông mới truyền đăng xong là “bắt” mình làm khóa tu liền! Lúc đó, Anh Hương đang làm khảo cứu ở trường Đại học Georgetown, anh Thư thì làm việc ở một hãng công nghệ thông tin. Sư Ông gấp tờ giấy làm ba rồi giao cho anh Arnie làm phần còn lại. Cuối cùng mình có tờ flyer mẫu mang về Mỹ để in. Khóa tu diễn ra vào tháng 12 năm 1992 ở West Virginia với chủ đề Touching Peace. Chân Ý và Chân Trí nhìn vào mấy tờ rơi giới thiệu khóa tu vừa được in ra trên giấy màu mà lòng đã thấy vui rồi. Vui vì biết mình đang được tiếp nối Sư Ông trên con đường tu tập giúp đời.
Khóa tu bắt đầu vào chiều thứ sáu. Từ trong phòng ngủ trên lầu nhìn xuống, Anh Hương có thể thấy thiền sinh đang kéo va-li từ bãi đậu xe tiến về phía bàn ghi danh nhận phòng. Có những người dáng dấp như cầu thủ đá banh, có những người độ tuổi cô chú hoặc ông bà của mình. Anh Hương cảm thấy bé bỏng và bắt đầu thấy hơi run: “Thôi chết rồi, mình đang ngồi trên lưng cọp!” Thiền sinh đến ngày càng đông. Càng nhìn mình càng run, nhưng vì tò mò nên vẫn cứ nhìn. Mình đã đi kinh hành trong phòng cho tới giờ vô thiền đường để cho hướng dẫn tổng quát. Tối đó mình bỏ ăn luôn.
Từ trong phòng bước xuống cầu thang đi vào thiền đường, một bên mình nắm tay Sư Ông, bên kia nắm tay Bụt. Từng bước một, mình xin Bụt và Sư Ông dẫn dắt mình bước đi như một em bé. Chỉ đi thôi, không suy nghĩ gì cả, không phải làm gì hết. Bụt và Sư Ông làm hết cho mình. Trong mình bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu và hạnh phúc! Trong thiền đường, mọi người đang ngồi yên lặng và trang nghiêm. Mình bước đến chỗ ngồi đã sắp sẵn rồi cùng ngồi xuống với Bụt và Sư Ông.
Năm 1980, lần đầu Sư Ông qua thăm nhà ở New Jersey, sáu tháng sau khi cả nhà vượt biên sang Mỹ. Một hôm Sư Ông gọi: “Anh Hương, con vô nằm đây. Để tay lên bụng. Con thở đi. Con thấy bụng phồng lên, bụng xẹp xuống không?” Rồi Sư Ông bước ra khỏi phòng. Chỉ có mấy câu nhưng bài học đó đã giúp Anh Hương qua được khóa tu lịch sử này. Từ đó tới giờ, lúc nào mình cũng có Bụt và Sư Ông ngồi hai bên khi mình cho pháp thoại.
BBT: Sau đó chị Anh Hương có kể cho Sư Ông nghe không?
AH: Dạ Anh Hương có kể. Sư Ông cười và nói: “Thầy bậy quá!” (và cười). Có điều này rất vui mà không mấy ai biết: lúc đó Bảo Tích đang nằm trong bụng Mẹ và đã cùng Mẹ trải qua khóa tu đầu đời!
BBT: Hơn 40 năm tu học, chị cảm nhận như thế nào về dòng tu Tiếp Hiện và đạo Bụt dấn thân? Theo chị, Sư Ông muốn mình tiếp nối điều gì?
AH: Theo mình thì đạo Bụt dấn thân, thể hiện qua dòng tu Tiếp Hiện, là con đường hiểu thương vô tận. Năng lượng để đi tới trên con đường bồ tát này được làm bởi Giới, Niệm, Định và Tuệ. Tu tập như đào giếng, đào trúng mạch nước thì ta có luôn cả một giếng nước để sử dụng. Mạch nước tình thương khơi mở rồi thì ta trở thành bàn tay, con mắt và trái tim của bồ tát Quan Thế Âm.
Sư Ông rất vui khi thấy các học trò của Thầy đang tu tập hết lòng để chữa lành thương tích, xây đắp tình huynh đệ và xây dựng tăng thân khắp nơi. Có lần Sư Ông nói: “các con đều là tiếp nối của Thầy. Các con đang đưa Thầy đi về tương lai, làm gì cũng có Thầy bên cạnh và làm chung với các con.” Nơi nào có tăng thân là nơi đó có Bụt, có Pháp và có Thầy.
Mười bốn giới Tiếp Hiện được làm bởi chất liệu của hiểu và thương. Khi năng lượng chánh niệm còn yếu ớt, một bức xúc có thể dẫn mình vô vòng phân tích, lý luận, có khi còn dùng cả giới luật để chứng minh ai phải ai trái. Khổ đau không phải vấn đề cần giải quyết, mà là vết thương cần được chăm sóc bằng linh dược của hiểu và thương. Khi bị kẹt vào giới thì giới trở thành chướng ngại, bít lấp con đường lý tưởng từ bi và giải thoát. Khi cái hiểu về tương tức còn nằm trên bình diện trí năng thì tuệ giác tương tức vẫn còn như một trái đào xanh. Năng lượng niệm và định dồi dào thì trái đào tuệ giác sẽ chín. Lúc đó tình thương cam lộ ứa ra như dòng suối thấm mát thế gian.
Dạo này tăng thân mình thực tập câu thần chú “Chỉ thương thôi!” Ta không cần phải gồng mình hay phải làm gì nữa để thương. Hiểu đã là thương rồi!
BBT: Có bao giờ chị cảm thấy ba chữ “Chỉ thương thôi” khó không? Có lúc nào chị cảm thấy rất khó thương mà vượt qua được không?
AH: Dạ, có chứ. Là học trò Sư Ông, mình nguyện học hiểu, học thương vì biết tình thương là phương thuốc mầu nhiệm trị liệu khổ đau cho mọi người. Tuy nhiên có lúc mình cảm thấy sao người kia khó thương quá. Mà người kia ở đây cũng có khi là chính mình! Mình kiên nhẫn và cố gắng nhiều nhưng tình trạng dường như không chuyển đổi, và mình cảm thấy không còn sức để thương. Có khi mình nghĩ: “Thôi, chịu thua. Ai cũng có chỗ đứng của họ trong trời đất, có gì mà lo.”
Đó là khi mình chưa hiểu đủ để thấm thía cái khổ trong lòng người. Cái mình gọi là quán chiếu khổ đau có thể chỉ là suy tư quanh quẩn từ trí năng, thiếu sự cảm nhận. Cái mình gọi là tuệ giác cũng chỉ là một khám phá, tuy có mới, nhưng mới chỉ là một góc của thực tại! Tình thương phát xuất từ cái thấy nhỏ bé đó không đủ để ôm trọn những tình huống thật sự khó khăn. Nếu không có những vị Bồ Tát, những vị thầy giỏi khai thị thêm cho mình thì làm sao ta có thể hiểu hết gốc rễ của khổ đau trong mình và người? Mình tự hỏi quán chiếu khổ đau đến bao giờ mới đủ hiểu sâu để mà thương lớn, phải đợi đến bao giờ mới khơi được suối yêu thương ở trong lòng? “Chỉ thương thôi” là pháp môn tối hậu khi ta không biết phải làm gì nữa. Mình buông thanh gươm trí năng, vất đi cái áo giáp bản ngã. Ba chữ “Chỉ thương thôi” là câu thần chú giúp ta đi thẳng vào bản môn trong khi hai chân đang dẫm trên bùn đất của tích môn. Tình thương sẽ mang nhiều chất liệu tự do và giải thoát hơn. Con đường Bồ Tát sẽ rộng mở – ta giúp đời mà cảm thấy như ta không phải làm gì hết. Ta sẽ có rất nhiều năng lượng. Mình buông hết cho tuệ giác vô ngã dẫn đường mình đi.
BBT: Chị có ước mong gì muốn gửi gắm đến gia đình Tiếp Hiện nhân dịp kỷ niệm 60 năm?
AH: Các tăng thân Tiếp Hiện giống như những ốc đảo giữa sa mạc nóng bức. Tăng thân là nơi chốn quay về của tất cả chúng ta. Hôm nay Anh Hương có dịp chia sẻ với các em Tiếp Hiện trẻ trong khóa tu này: “Xây dựng tăng thân, bước đi trên con đường Bồ tát, là dấn thân rồi. Cánh cửa bước vào tăng thân chưa bao giờ khép lại. Tăng thân không loại trừ ai, không phân biệt mầu da, tôn giáo hay khuynh hướng chính trị nào.”
Chỗ mình ở, có người hàng xóm phản đối chuyện kỳ thị. Trên sân cỏ nhà họ có cắm tấm bảng “Hate doesn’t have a home here”, nghĩa là “Hận thù không có chỗ trên đất nhà tôi”. Anh Hương nói với các bạn trong tăng thân là tâm thù hận cũng có chỗ ở trong tăng thân. Điều đó không là lý thuyết mà là bầu không gian an toàn, năng lượng chánh niệm và tình thương mà mọi người cảm nhận được khi về với tăng thân. Xây dựng tăng thân vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh cho con đường lý tưởng, con đường dấn thân của dòng tu Tiếp Hiện.
Tâm bồ đề là niềm ao ước mãnh liệt được đem hết năng lực và thì giờ mình có để tu tập và giúp cho mọi người tu tập. Mười bốn giới Tiếp Hiện là thể hiện của bồ đề tâm. Tăng thân là mảnh đất nuôi dưỡng và bảo vệ bồ đề tâm của mình. Nhưng để thật sự quy tụ được năng lượng đi về chiều hướng dấn thân, trong cuộc sống hỗn độn với nhiều thử thách về mọi mặt, Anh Hương mong ước các anh chị em Tiếp Hiện mình không quá bận rộn để chúng ta có đủ thì giờ và năng lượng để về với nhau, xây dựng tình huynh đệ và chăm sóc cho gia đình Tiếp Hiện. Ngoài chuyện tụng giới chúng ta cần có những sinh hoạt khác để tạo nên một không gian dễ thương, nơi mà mọi người đều có thể thư giãn, nghỉ ngơi và hồi phục. Hiện nay tình trạng thế giới rất bất ổn. Một tăng thân đích thực sẽ giúp chúng ta thực tập ái ngữ và lắng nghe. Ai cũng cảm thấy an toàn đủ để chia sẻ cái thấy của mình, có khi đối nghịch với những thành viên khác về những chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội, khí hậu và nhiều vấn đề khác của thời đại.
Chúng ta nguyện thường xuyên làm mới tăng thân. Hạt giống bồ đề tâm dù có mạnh cách mấy mà đất không mầu mỡ, cung cấp đủ chất bổ dưỡng thì hạt giống ấy không thể nứt mầm được và sẽ khô héo đi. Nếu tăng thân èo uột và có nhiều khó khăn, phần lớn là từ những tranh luận đúng sai, thì chúng ta cần nhìn kỹ để thấy tranh luận đó không bao giờ giúp mình mở lòng ôm ấp được cái khổ đau chung của huynh đệ. Câu thư pháp của Sư Ông: “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm” (The Way Out Is In) nhắc cho chúng ta gốc rễ khổ đau của mình luôn nằm sẵn trong mình, và thiền tập là quay về bên trong để lắng nghe và chăm sóc lấy mình. Thực tập làm mới được với chính mình là mình cũng bắt đầu làm mới với huynh đệ và với tăng thân cùng một lúc. Sư Ông từng dạy nếu chúng ta muốn tu tập thành công, chúng ta phải tìm cách thực tập để sống hòa ái với nhau, kể cả với những người khó tính.
Suốt cuộc đời Sư Ông, ngay cả thời gian khi Sư Ông bị đột quỵ cho tới những giây phút cuối ở chùa Tổ, không ngày nào Sư Ông không bồi đắp tình thầy trò và tình huynh đệ. Sư Ông từng nói: “Các con mỗi đứa đều là sự tiếp nối của Thầy. Anh chị em các con đang thương yêu, chăm sóc và nâng đỡ cho nhau là các con đang nuôi Thầy.”
Mình đang để lại gì cho thế hệ sau? Con cháu đang nhìn cách mình đối xử với nhau. Mình sống như thế nào để mai sau con cháu mình nhớ đến mình như tổ tiên tâm linh của chúng. Mình tu tập như thế nào để là sự tiếp nối đích thực của Thầy, tiếp tục khơi suối yêu thương. Ngày trước mình đến với Thầy thì tình thương của Thầy đánh động đến trái tim mình như thế nào thì giờ đây mình tu tập làm sao để các thế hệ trẻ có thể gần gũi mình như thế đó.

Hòa thượng Thích Phước Tịnh
(Trích pháp thoại ngày 28.3.2025 của HT. Phước Tịnh trong Đại Giới Đàn Nước Tĩnh tại Làng Mai, Pháp)

Về Làng
Tôi nhớ lần đầu tiên đến Làng Mai vào năm 2001. Khi ấy, tôi chỉ là đến Làng, chứ chưa phải là về Làng. Trong tiếng Việt, hai từ này mang những nội hàm rất khác nhau. “Đến” là ghé qua rồi đi, còn “về” là trở lại một nơi đã gắn bó, trở thành một phần của xương thịt và tâm hồn.
Làng Mai không chỉ là một địa điểm. Làng là ngôi nhà tâm linh, là bến đỗ của đời sống tinh thần, là nơi có thể chắp cho ta một đôi cánh để bay cao, bay xa. Điều này đúng với người cư sĩ về tu học, và lại càng đúng hơn đối với người xuất gia.
Sư cô Chân Không từng chia sẻ một câu có thể ứng dụng cho tất cả các thầy, các sư cô, cũng như các vị giáo thọ và Tiếp Hiện cư sĩ: “Sư Ông và đại chúng đã chắp cho các vị mỗi người một đôi cánh. Các vị có quyền bay vào một không gian rất mênh mông. Nếu năng lực tu tập và khả năng học hiểu Phật pháp dâng đầy nơi thân tâm, thì chắc chắn chúng ta sẽ là những con đại bàng bay rất cao”.
Khi một người phát nguyện xuất gia và thọ pháp với Sư Ông, người ấy được Sư Ông và tăng thân tặng cho một đôi cánh. Tuy nhiên, bay cao hay thấp, bay vào vùng trời nào, lại tùy thuộc vào nội lực và bản hoài tu tập của mỗi người. Nếu chỉ biết chắp cho mình đôi cánh của loài quạ thì dù bay tới đâu cũng chỉ thấy những gì thấp kém. Nếu chắp cho mình đôi cánh của phượng hoàng, nơi đậu sẽ là cành ngô đồng. Và nếu có được đôi cánh của đại bàng, vùng trời bay vào sẽ là không gian bát ngát. Khi ấy, không cần chứng minh mình là đại bàng; phẩm chất nhân cách, cách nói năng và lối hành xử tự nhiên sẽ ngày càng cao rộng.
Tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Gần một phần tư thế kỷ nhìn lại, mới thấy chúng ta là những người vô cùng may mắn. Chúng ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trong vòng tay thương yêu của Sư Ông và tăng thân. Đó là một món quà hết sức lớn lao. Trân quý ân đức ấy không nhất thiết là phải làm thêm điều gì lớn lao. Chỉ cần sống cho xứng đáng: sống gắn bó, sống thương yêu, sống biết nuôi dưỡng tự thân, để thành tựu được phần nào bản hoài của người đã dốc trọn tâm từ và trí tuệ vào đời sống của chúng ta.
Công trình hoằng pháp tại Tây phương
Về Làng lần này, tôi có cái nhìn rất nể phục và ngưỡng mộ đối với những sinh hoạt do các thầy, các sư cô tổ chức. Sự viên mãn của Đại giới đàn Nước Tĩnh khiến người ta dễ nghĩ rằng sự kiện này được tổ chức bởi những vị thầy có tuổi đạo cao hoặc đã tu học nhiều năm. Nhưng thực tế không phải vậy; phần lớn công việc lại được đảm trách bởi những thầy, những sư cô còn rất trẻ.
Nếu đại chúng có dịp quan sát sinh hoạt tôn giáo lễ nghi ở nhiều nơi — nhất là trong Phật giáo truyền thống, đại chúng sẽ dễ nhận ra những điểm nổi bật: sinh hoạt của Làng Mai giản dị nhưng trang nghiêm, có năng lượng tâm linh và có sự yểm trợ hùng hậu của tập thể Tăng già. Chưa kể đến sự có mặt của các Phật tử, các thiền sinh tới hộ niệm cho chúng ta.
Trong các buổi truyền đăng, khi một thiền sinh được nhận đèn, những lời giáo giới và chia sẻ của các thầy, các sư cô giáo thọ rất tuyệt vời. Tôi cũng lắng nghe những bài thơ, kệ kiến giải của các thiền sinh đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Ireland, Indonesia, Hoa Kỳ, Pháp, Ý… Những bài kiến giải ấy đều cho thấy chất liệu tu tập tâm linh và khả năng biểu đạt rõ ràng tâm nguyện mà Sư Ông đã trao truyền.
Điều này cho thấy công trình hoằng pháp của Sư Ông đã mang lại những lợi ích sâu rộng, vượt ra ngoài biên giới văn hóa và địa lý, lan tỏa tới nhiều vùng đất và cộng đồng khác nhau trên thế giới.
Để hoằng pháp thành công và gieo được hạt mầm Phật pháp vào lòng người Tây phương không phải là điều dễ dàng. Trước hết, người đó phải am tường văn hóa Tây phương. Kế đến, phải có chiều sâu vững chắc trong đạo Bụt Đông phương. Và quan trọng không kém, phải hình thành được một mô hình sinh hoạt tổ chức giúp tăng đoàn có đời sống thực tập vững chãi, nhưng vẫn đủ cởi mở để người trẻ có thể đến tu học. Từ những điểm đó, chúng ta có thể nhận ra rằng không dễ có một vị thầy hội đủ khả năng đem đạo Bụt đến vùng đất Tây phương như Sư Ông đã làm.
Nhìn lại công trình hành đạo của Sư Ông, chúng ta có thể thấy rằng nếu không có sự hộ niệm của thập phương Tam bảo, sự gia trì của lịch đại Tổ sư, cùng với bản hoài vô cùng lớn lao là đem đạo Bụt hiến tặng cho nhiều người đến tu học, thì chắc chắn Sư Ông không thể tạo nên bước đột phá quan trọng như đã làm: đặt nền tảng cho đạo Bụt có mặt nơi Tây phương, để người Tây phương có thể đến thọ nhận và thực tập giáo pháp.
Điều tuyệt vời là, dường như Sư Ông không đặt nặng tính ràng buộc về tổ chức, không bắt những thiền sinh đến tu tập phải hoàn toàn tuân phục hình thức như những truyền thống tâm linh khác. Họ có quyền ứng dụng nội dung giáo lý vào đời sống, làm cho đời sống bản thân thay đổi, thăng hoa, làm cho hạnh phúc có mặt nơi chính mình, có mặt nơi thế hệ con em và hiến tặng điều tuyệt vời này cho xã hội là đủ, không nhất thiết phải trở thành Phật tử. Với cái nhìn độ lượng, một tâm thái của bậc đạo sư như vậy nên Sư Ông đã làm mới lại chánh pháp của Bụt để tặng cho người Tây phương. Và thành quả như chúng ta thấy hiện nay là rất nhiều người từ nhiều quốc gia khác nhau có thể đến với các trung tâm thực tập của Làng Mai, xem Làng Mai là nơi để trở về.
Gần một phần tư thế kỷ trôi qua, nhìn lại, tôi thấy các sư anh, sư chị lớn ở đây đều rất trưởng thành. Không chỉ có khả năng dắt dẫn một Đại giới đàn rất toàn mỹ, các thầy các sư cô lớn còn có cách cư xử, nói năng, truyền đạt rất đẹp và nhân cách rất tuyệt vời. Chỉ cần làm ngần ấy việc để làm chỗ nương tựa, không phải chỉ cho đại chúng xuất gia mà còn cho rất nhiều người cư sĩ Tây phương đến với Làng để tu tập, như vậy là các vị đã xứng đáng với công trình Sư Ông đã gầy dựng mà mình đang được thừa hưởng.

Bồ đề tâm – Nền tảng tâm linh
Điều tiếp theo tôi muốn trình bày với đại chúng, đó là không phải tự nhiên hay đơn giản mà chúng ta có được một đoàn thể lớn mạnh, đẹp, hào hùng và rất bền chặt như vậy.
Nền tảng đầu tiên là công trình pháp hành trì và pháp học mà Sư Ông đã gầy dựng. Nếu không có nền tảng này, chắc chắn chúng ta không thể có được sự phát triển như các xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới hôm nay.
Nền tảng thứ hai vô cùng quan trọng chính là nội lực của mỗi người chúng ta. Khi nội lực tu không có, dù cho Sư Ông và tăng thân có chắp cho ta đôi cánh thiên thần, ta cũng không bay lên được. Vì vậy, sự phát triển bền vững con đường tu của mỗi người là rất quan trọng. Sự phát triển này được hình thành bởi nhiều yếu tố:
Yếu tố đầu tiên ta muốn vững chắc trên đường tu đó là tâm bồ đề đủ vững, đủ sâu và chắc. Tu không thể theo thời thượng hay cảm tính: nay siêng tu rồi mai buồn, chán đạo. Một khi đã phát nguyện đi vào đời sống tu tập là dâng hiến trọn vẹn thân tâm này cho Tam bảo. Những bậc đạo sư lớn, những bậc thầy thật sự có được năng lực giác ngộ nhất định đều như vậy. Không có con đường khác, một là tu, hai là chết – không có đường lui.
Yếu tố thứ hai là tâm bồ đề không phải chỉ phát một lần là đủ, mà cần được nuôi dưỡng từng ngày. Sự nuôi dưỡng gần nhất là tình huynh đệ, không gian sống và môi trường sinh hoạt. Tại Làng Mai, các vị có một không gian rất tuyệt vời, được sống trong một cộng đồng pháp lữ gồm những người đồng tu, đồng phạm hạnh, nói theo cách đời thường là những người dễ thương. Các vị còn được thừa hưởng một nếp sinh hoạt rất ổn định, được thiết kế bởi chính đạo sư của mình là Sư Ông. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tự thân tùy vào mức độ siêng năng hay lười biếng của mỗi người. Chúng ta có quyền nuôi mình để chắp cánh bay tới trời cao, chứ không phải để bay vào đời sống phàm thường. Do vậy, nếu nơi tâm thức của chúng ta, chất liệu tâm bồ đề còn rất tốt đẹp thì chúng ta phải tự biết cách nuôi dưỡng mình, chứ không một ai có thể giúp ta tự giỏi, tự thăng hoa và tu hành tiến bộ được.
Yếu tố thứ ba của sự phát triển tâm linh bền vững, đó chính là pháp học và pháp hành. Khi pháp học được tăng trưởng, thì pháp hành của các vị tự nhiên thành đạt. Khi hiểu được chánh pháp, quan sát, ý thức được đời sống này có những bất trắc, không toại ý và vô vàn điều chực chờ đánh phá ta – trong khi quỹ tuổi thọ không cho phép ta sống nhàn nhã qua ngày. Khi ý thức được điều này, ta nhận ra rằng năng lực học hiểu chánh pháp làm đời sống mình thăng hoa, nó đến với ta từng ngày chứ không phải là tính từng tháng hay từng năm. Và khi năng lực học hiểu chánh pháp đủ giàu, đủ vững, tự nhiên các vị đi vào pháp hành một cách rất nhẹ và làm thay đổi được thân tâm. Pháp hành – pháp học không phải là món quà tự nhiên của trời ban, mà là kết quả của nội lực tu tập và nỗ lực kiên cường của mỗi người trên con đường hành trì.
Khi pháp học tăng trưởng, pháp hành tự nhiên đầy. Pháp hành đầy, không phải là tu căng thẳng, khô cứng mà lúc đi đứng, nói cười, nâng bát, rót nước, đặt dép… trong mọi sinh hoạt đều trú được trong trạng thái tâm an định, luôn có chánh niệm để phòng hộ. Đây là người thành đạt được pháp hành sâu sắc nhất. Đời sống, nhân cách của người đó sẽ tự tỏa sáng và tự biểu hiện thành đạo đức vô hành. Người đó nghiễm nhiên hoàn thiện về nhân cách tu, cách ứng xử, nói năng khi giao tiếp với người. Khi tiếp xúc với thiền sinh mà có phẩm chất của sự tu học, người đó tự nhiên đã trở thành một vị giáo thọ đích thực mà không nhất thiết nhận đèn giáo thọ. Không nhất thiết các vị phải là một giáo thọ uy tín, giảng dạy cho hàng ngàn người hay phải làm cho muôn người kính phục. Hãy là một người bình thường, sống lặng lẽ giữa đại chúng. Có những người cảm ân đức của chư tăng không phải vì chư tăng nói hay, mà vì về đến chùa được nhìn thấy các thầy, các sư cô đi, đứng, nói, cười bình an và tĩnh tại. Đôi khi những lời nói của mình theo gió mây bay nhưng những việc làm, những cử chỉ nhỏ của mình tạo thành ấn tượng khiến một đời người ta không quên.
Nếu nền tảng ta không vững, đôi khi mình tu nhưng không có niềm vui. Khi niềm vui tu học – pháp hành không có, chắc chắn sẽ có những khoảng trống của tâm hồn, khát khao về đời sống hướng ngoại và chúng ta rất dễ đánh mất đời tu. Ngược lại, nếu nền tảng tu ta thiết lập vững chắc, trên nền tảng bồ đề tâm, trên nền tảng pháp học và pháp hành, chúng ta tự nhiên hiến tặng được hoa trái của công phu tu tập tự thân đến với muôn người. Không cần phải chứng minh điều gì cả.
Dòng tu Tiếp Hiện và nền tảng thiền tập Làng Mai
Từ thập niên 1960, Sư Ông đã viết cuốn“Đạo Phật Hiện Đại Hóa”, trong đó có đề xuất hai dòng tu: Thể Nhập và Tiếp Hiện.
Tiếp Hiện là dòng tu đóng vai trò gạch nối giữa cư sĩ và xuất sĩ. Các vị Tiếp Hiện có trách nhiệm làm cho chánh pháp của Như Lai sáng bừng trong nhân gian bằng chính đời sống tu tập của mình mà không phải chỉ là nhận đèn hay khoác lên người chiếc áo Tiếp Hiện. Ta phải nếm cho được hương vị pháp, làm cho thân tâm yên vui rồi đem niềm hỷ lạc đó cống hiến cho gia đình, xã hội và lấy tâm vị tha làm thành nền tảng của đời sống tu tập. “Vị tha” trước hết là vị tha với chính bản thân, rồi mở rộng ra người thân, hàng xóm và xã hội.
Là người cư sĩ Tiếp Hiện, không làm cho đời sống mình hạnh phúc là điều sai căn bản. Điều sai thứ hai là không nuôi dưỡng được hạnh phúc của gia đình và của bạn đồng tu. Sai lầm thứ ba là, nếu sống trong môi trường đa văn hóa, đa chính kiến mà thiếu bao dung, không hòa hợp được để thực tập và giúp người hạnh phúc thì cũng chưa làm tròn vai trò Tiếp Hiện. Trong sách Đạo Phật hiện đại hóa, Sư Ông còn dạy rằng các cư sĩ Tiếp Hiện mỗi năm cần trở về an cư ba tháng với chư tăng để thực tập. Tăng sĩ dành một đời người học pháp vẫn chưa thấy đủ. Người cư sĩ mỗi ngày ngoài đối diện với vấn đề cơm ăn áo mặc, với những xao động bất an của cơ chế chính trị – xã hội, còn trách nhiệm mang đạo vào đời. Nếu không có gốc rễ tâm linh vững vàng, ta dễ bị tiêu hao rồi tự làm khổ mình trước khi giúp được ai.
Điều này đối với cộng đồng Tiếp Hiện Tây phương, tôi nghĩ các vị đã ứng dụng được ít nhiều. Mỗi năm các vị đều tìm cách về Làng để tu tập. Mỗi hai năm lại có khóa tu Tiếp Hiện vào tháng 6 tại Làng Mai Pháp. Dù thừa hưởng vô vàn phước điền từ Sư Ông trao truyền nhưng chúng ta cũng cần làm tốt hơn. Phần lớn những người Tiếp Hiện đều ở tuổi thất thập cổ lai hy, chưa thấy nhiều người trẻ. Có thể chúng ta còn cứng nhắc trong những hình thức Tiếp Hiện mà chưa thể linh hoạt giống Sư Ông. Chúng ta chưa biết làm thế nào ứng dụng được nội dung Phật pháp vào đời sống mà không bị hình thức bên ngoài cản trở.
Tiếp Hiện có vai trò lớn trong sự hưng thịnh của Phật pháp và trong việc đền ơn Sư Ông đã khai mở dòng tu này. Đối với Tăng thân xuất sĩ, con đường tu không thể dừng lại, không có dấu chấm. Mỗi thành công chỉ là dấu phẩy để tiếp tục đi tới. Xã hội luôn vận động và biến chuyển không ngừng: hôm nay là vấn đề này, ngày mai đã là một thách thức khác. Để khế hợp với thời đại, Làng Mai chúng ta cần phải có được tuệ giác ở chiều cao để có thể đưa cánh tay ra giúp cho xã hội ổn định.
Nếu người tu không có tầm hiểu biết và chín chắn hơn nhân gian thì không thể là người dắt dẫn con đường tâm linh. Do vậy, một tu sĩ không có quyền dừng lại trong công trình phát triển tri thức, trí tuệ, công phu tu, và nhất là nội điển. Chúng ta không thể nghĩ rằng đã học với Sư Ông ngần đó, đã thừa hưởng sự tổ chức và nếp sống, văn hóa của Làng Mai là đủ.
Từ Như Lai Thiền đến Thiền Đốn ngộ
Trên phương diện Phật học, Sư Ông truyền đạt pháp cho người Tây phương dựa trên nền tảng thiền Như Lai, tức là Tứ niệm xứ. Nhưng khi nhìn vào các bài giảng của Sư Ông trong bộ Truyền thống sinh động của thiền tập đạo Bụt, chúng ta nhận ra rằng Sư Ông còn giảng dạy thiền Đại thừa, qua đốn ngộ rồi đến thiền Việt Nam. Sư Ông đi ngang qua cả một chiều dài thiền tập, khéo léo dung hợp tinh hoa của các dòng thiền lại, “nấu” thành một loại thức ăn và giúp cho con người nếm được pháp lạc và có đời sống hạnh phúc.
Nhìn cho sâu, ta thấy các dòng thiền trong đạo Bụt có liên hệ chặt chẽ với nhau. Như Lai thiền hay kinh tạng Nikaya là nền tảng cho thiền Đại thừa phát triển. Nếu chúng ta muốn hiểu được kinh tạng Nam truyền thì chúng ta phải thâm nhập vào kinh văn Đại thừa. Và muốn thâm nhập vào Như Lai thiền – thiền Tứ niệm xứ thì chúng ta phải đi ngược từ truyền thống thiền tập Việt Nam, ngược lại dòng chảy Đại thừa, trở về nguồn của Nguyên thủy để chạm tay vào những chữ “thở vào – thở ra”.
Thở vào, biết mình đang thở vào; thở ra, biết mình đang thở ra. Hơi thở căn bản này tưởng như đơn giản nhưng là nền tảng để đi vào thiền Đốn ngộ một cách dễ dàng. Trong thiền Đốn ngộ, có một công án nổi tiếng khi Tổ Đạt Ma chỉ dạy cho Tổ Huệ Khả: “Ngươi đem cái bất an đó ra đây, ta an cho”. Tổ đã trao cho ngài Huệ Khả phương pháp quay ngược về đối diện với cái tâm bất an, nhìn xem nỗi bất an đang ở đâu nơi tâm thức, cũng tương đương với Tứ niệm xứ: quay về quan sát cái đang xảy ra. Dù là hơi thở hay cảm giác bất an, chỉ cần nhìn thấy chúng như khách đến rồi đi, ta trở về với người quan sát. Tâm quan sát ấy chính là bản tính sáng ngời, vô niệm, là trí tuệ Bát Nhã, là chân thân, là Niết bàn, là “người thật” chưa từng sinh diệt. Khi an trú trong tâm ấy, không buồn vui hay phiền não nào có thể khuấy động; mọi ý nghĩ đều được ánh sáng tâm chiếu rọi và tan biến. Trong kinh văn Nikaya, Đức Thế Tôn gọi tâm ấy là tuệ tri, Sư Ông gọi là hiện pháp lạc trú.
Mỗi người đều có món quà quý: hình hài, tâm thức và khả năng tư duy. Tuy nhiên, ta làm đầy chúng bằng gì là sự lựa chọn của ta: đầy giận hờn, ganh tị thì đau khổ; đầy yêu thương, nhân hậu và trách nhiệm thì trở thành món quà cho đời. Khi đã xuất gia, ta được đồng đẳng từ mảnh y đến thời gian tu học; nếu biết làm đầy tâm thức bằng pháp lạc thì đời sống trở nên phong phú, thi vị. Nếu không khéo, ta tự hủy hoại đời mình và làm khổ bạn đồng tu. Tâm chứa gì thì đời sống hiện đúng điều ấy. Đời tu là một thử thách tuyệt vời nhưng cũng như một trò chơi: sau bao năm tu tập để tìm vô ngã, cuối cùng mới nhận ra vô ngã vốn đã có sẵn từ đầu.
Tu không phải là chuyện nhọc nhằn. Chỉ cần sống được như các thầy, sư cô – đi đứng thong dong, ăn trong chánh niệm, ngồi trong thảnh thơi – là đã có cái đẹp của đời sống tu rồi. Điều ấy đến khi ta thật sự nếm được hương vị của pháp.
Sư Ông Làng Mai
(Trích pháp thoại của Sư Ông tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai vào ngày 8.6.2002 trong khóa tu 21 ngày. Pháp thoại được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.)

Trở thành một với tăng thân
Nương tựa Tăng là một pháp môn rất thâm diệu. Ta đặt hết niềm tin vào tăng thân. Ta trở thành một với tăng thân. Là một giọt nước, ta sẽ không chắc là mình có khả năng ra tới đại dương hay không. Nhưng nếu là dòng sông, ta sẽ không cần lo lắng gì nữa cả. Chắc chắn là ta sẽ ra tới biển. Vấn đề là ta muốn làm một giọt nước hay trở thành dòng sông?
Ở Làng Mai, chúng ta thực tập coi tăng thân như là thân thể của chính mình; ta trở thành một với tăng thân. Chúng ta không muốn là một giọt nước mà muốn là dòng sông. Thực tập như một dòng sông, chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Nỗi khổ niềm đau của một cá nhân có thể được chuyển hóa rất dễ dàng khi ta cùng chia sẻ những thao thức của tăng thân, niềm vui của tăng thân và hạnh nguyện của tăng thân.
Đó là lý do vì sao, khi chúng ta cùng đến với nhau, ngồi với nhau, đi với nhau, ăn với nhau và làm việc cùng nhau, thì trong ta phát khởi một nguồn năng lượng hùng hậu. Năng lượng đó là năng lượng của chánh niệm, giúp ôm ấp nỗi khổ niềm đau trong ta, giúp ta nhìn sâu để hiểu và đi tới một cái thấy có thể làm chuyển hóa nỗi khổ niềm đau ấy.
Trên phương diện cá nhân, thao thức sâu sắc nhất của mỗi người trở thành đối tượng thực tập của người đó, đối tượng của chánh niệm. Trong thiền tập, cái đó gọi là công án; chữ Hán là 公案 (kung-an). Đó là thao thức sâu sắc nhất. Công án phải là điều quan tâm sâu sắc nhất của ta.
Công án và sức mạnh của tăng thân
Chúng ta muốn hiểu, muốn chuyển hóa. Cũng tương tự như khi ta bị một mũi tên bắn trúng và ghim vào da thịt. Chúng ta mang theo mũi tên ấy bất kể lúc đứng, lúc ngồi, còn thức hay là đang ngủ. Công án cũng như vậy. Trong đời sống hàng ngày, ta hoàn toàn tập trung vào chuyện đó. Công án ấy hút hết năng lượng, sự chú tâm, niệm và định của ta. Ta ôm ấp nó ngày cũng như đêm, nhìn sâu vào nó. Và một ngày nào đó, tuệ giác sẽ bừng nở. Ta sẽ thấu hiểu và ta sẽ được giải thoát.
Công án có công năng thu hút tất cả định lực của ta vào đó. Nếu không như vậy, ta sẽ không thể có sự đột phá. Khổ đau ở Trung Đông chẳng hạn, là một công án cho cả nhân loại chứ không chỉ cho người Do Thái hay người Palestine. Nhưng với tư cách là một gia đình nhân loại, chúng ta quá bận rộn. Chúng ta chưa phải là một tăng thân. Chúng ta không có đủ chánh niệm, không đủ định lực; vì vậy, ta không thể làm cho khổ đau đó trở thành một công án được. Chúng ta chú ý tới vấn đề này, rồi sau đó chúng ta không để ý tới nó nữa mà lại chuyển sự chú ý tới những vấn đề khác. Đó là lý do tại sao nó chưa trở thành một công án của gia đình nhân loại.
Khi một vị thầy hiểu được những khó khăn và nỗi khổ niềm đau của đệ tử, vị thầy ấy sẽ ra một công án cho người đệ tử. Thí dụ như: “Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?”. Thông thường cần phải có hai bàn tay mới làm nên tiếng vỗ. “Làm sao để có tiếng vỗ chỉ với một bàn tay?”. Đó là phương tiện quyền xảo để giúp người đệ tử tìm hướng đi ra khỏi những bế tắc của mình. Còn người đệ tử thì không thể dùng trí năng để giải một công án được. Trí năng chỉ là một phần của chúng ta, bởi vì ta còn có cả một tàng thức nằm sâu bên dưới. Vì vậy, khi tiếp nhận công án mà một vị thầy trao truyền, ta không nên tiếp nhận chỉ bằng trí năng. Nó cần được vùi sâu vào trong thân tâm ta. Và trong đời sống hằng ngày, ta phải mang công án theo mình, ngày cũng như đêm. Ăn, ngủ, làm việc, ta đều ôm ấp nó, không lúc nào buông lơi.
Nỗi khổ niềm đau hay hoàn cảnh bế tắc không có đường ra, đó chính là công án của ta. Ta cần có khả năng huy động tất cả sức mạnh, chánh niệm và định lực của mình, để ôm ấp thật sâu sắc khó khăn ấy, hoàn cảnh ấy, nỗi khổ sâu dày ấy. Ngày cũng như đêm, từng giây từng phút, việc duy nhất mà ta làm là ôm ấp nó thật sâu, thật nhẹ nhàng. Với sự yểm trợ của tăng thân, một ngày nào đó ta sẽ có một sự đột phá.
Tuệ giác có thể đến từ chính ta. Tuệ giác cũng có thể đến từ tăng thân. Tuệ giác của ta có thể có được nhờ sự yểm trợ của tăng thân. Nó cũng có thể là sự biểu hiện của tuệ giác cộng đồng, bởi vì thực tế là ta sống trong tăng thân. Tăng thân làm việc với ta, yểm trợ ta, cùng nhìn sâu vào hoàn cảnh mà ta đang bị kẹt vào. Nếu cả tăng thân ngày đêm giúp ta ôm ấp nỗi khổ và nhìn sâu vào niềm đau của ta bằng năng lượng của niệm và định thì sự chuyển hóa và trị liệu sẽ đến rất mau chóng. Tuệ giác sẽ bừng nở để giúp ta vượt khỏi khổ đau, giúp ta thấy được con đường giải thoát và đem lại sự chuyển hóa. Đây là cách thức thực tập không những cho cá nhân mà cho cả tăng thân. Tôi muốn đưa ra một ví dụ, đó là dòng tu Tiếp Hiện.
Dòng tu Tiếp Hiện – Một cơ thể sống
Dòng tu Tiếp Hiện ra đời trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam vào năm 1966, với các thành viên vừa cư sĩ vừa xuất sĩ. Tăng thân có hai chúng: chúng chủ trì và chúng đồng sự. Chúng chủ trì gồm những người đã nhận 14 giới Tiếp Hiện. Còn chúng đồng sự gồm những người chưa chính thức nhận 14 giới Tiếp Hiện nhưng tham gia vào tất cả mọi sinh hoạt của tăng thân.
Vì là một cộng đồng nên chúng ta cần có một sự tổ chức nhất định. Nhưng chúng ta cũng ý thức rằng nếu quá thiên về tổ chức thì không tốt. Ta cũng thấy được sự khác biệt giữa một tổ chức (organization) và một cơ thể sống (organism).
Là một cơ thể sống, dĩ nhiên trong đó cần có một vài sự tổ chức để có thể vận hành tốt, nhưng sự tổ chức ấy không cần phải cố ý. Nếu có sự hòa hợp, có sự hiểu biết thì ta không cần tổ chức, mà sự tổ chức sẽ tự diễn ra một cách rất hay. Nhìn vào một tổ ong, ta không thấy có ai đó ra lệnh: “anh làm cái này, anh làm cái kia, anh điều phối cái nọ”. Bởi vì tổ ong là một cơ thể sống. Và yếu tố của sự “cùng nhau” (“togetherness”) có mặt. Lý do tồn tại của cộng đồng là để được “sống cùng nhau”. Khi ta đến với nhau như một cơ thể sống, đột nhiên tuệ giác bừng lên và ai cũng sẽ biết mình phải làm gì. Khi đó mọi việc sẽ được tổ chức rất hay mà không cần phải cố gắng mệt nhọc. Rất nhiều người trong chúng ta đang làm công việc xây dựng tăng thân. Chúng ta cần để ý tới điều này.
Có khi chúng ta càng tổ chức thì càng phát sinh nhiều phiền phức. Chính phẩm chất có mặt của chúng ta mới có thể mang lại hạnh phúc cho cộng đồng. Sự thực tập niệm, định, tuệ và từ bi chính là công việc tổ chức. Trước khi nhập Niết bàn, khi được hỏi về việc chỉ định ai thay thế Ngài lãnh đạo tăng đoàn, Bụt đã trả lời: “Không, chúng ta không cần người lãnh đạo”. Bụt rất ý thức rằng tăng thân là một cơ thể sống. Nếu tăng thân tu tập đàng hoàng thì mọi thứ sẽ ổn. Chúng ta hoàn toàn không cần một người lãnh đạo. Bụt chưa bao giờ coi mình là một nhà lãnh đạo. Bụt rất vui lòng làm một ông thầy tu. Bụt ôm bát đi khất thực như tất cả những vị khất sĩ khác. Bụt ngồi thiền dưới gốc cây như tất cả các vị khất sĩ khác.
Bụt là nguồn cảm hứng lớn lao cho cả tăng đoàn. Đó là điều chúng ta nên học hỏi nơi Bụt, để ta cũng có thể làm nguồn cảm hứng cho tăng thân, qua cách hành xử có hòa hợp và từ bi. Khi tăng thân đến với nhau như một cơ thể sống, tăng thân sẽ biết làm như thế nào. Nền tảng của hành động (to do) là có mặt (to be). Nếu ta thực sự có mặt thì tự nhiên ta sẽ không cần phải lo lắng về chuyện hành động nữa. Có mặt chính là nền tảng của hành động (hay nói cách khác, “hành” phải dựa trên “vô hành”).
Nhiều vị Tiếp Hiện trong chúng ta nghĩ rằng ta cần phải tổ chức, bởi vì Tiếp Hiện là một dòng tu. Nhưng chúng ta không muốn dòng tu Tiếp Hiện trở thành một tổ chức quy mô với sự cứng ngắc, bó buộc. Điều ta mong muốn là dòng tu Tiếp Hiện vận hành như một cơ thể sống. Chúng ta không muốn có bất kỳ ai làm lãnh đạo, làm ông bà chủ hay giám đốc. Ban đầu, một vài người có thể thắc mắc: làm sao chúng ta có thể sống còn nếu không có sự sắp xếp, tổ chức? Nhưng theo thời gian, họ đã nhận ra rằng chúng ta chỉ cần có mặt thực sự (to be), và điều đó sẽ lo liệu mọi thứ. Tăng thân cùng đến với nhau trong sự hòa điệu là đủ. Ta chỉ cần cư xử như những con chim bay trong đàn của chúng. Chúng không bay với tư cách một cá nhân mà bay như một đàn chim – rất đẹp và rất dũng mãnh. Tăng thân cũng như vậy đó.
Làm thế nào để dòng tu Tiếp Hiện có thể gây cảm hứng cho xã hội?
Câu hỏi này là một công án. Ta không thể trả lời câu hỏi này chỉ bằng trí năng mà thôi. Khi ta cùng đến với nhau để bàn thảo về vấn đề tổ chức, ta sử dụng trí năng. Nhưng khi chúng ta đến với nhau để cùng thực tập thiền tọa, cùng thở vào – thở ra, chúng ta trở thành một cơ thể sống. Và câu hỏi được đặt ra: “Làm sao để dòng tu Tiếp Hiện trở thành một nguồn cảm hứng và là nơi nương tựa cho thế gian?”, trở thành một công án. Chúng ta chỉ cần có mặt như một cơ thể sống và nhẹ nhàng ôm lấy câu hỏi, hay ôm công án ấy trong tâm thì tuệ giác sẽ phát sinh. Không phải nhờ tư duy thật nhiều hay tổ chức thật giỏi là ta tìm ra lời giải đáp, mà nhờ ta có mặt, chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ; từ đó, chúng ta có sự sáng tỏ, sáng tạo và chế tác năng lượng của sự hòa hợp, của sự “cùng nhau”. Trên nền tảng đó, tuệ giác sẽ phát sinh để chỉ cho ta con đường trở thành nguồn cảm hứng như một cơ thể sống.
Cách sống, cách vận hành này hơi khác lạ. Nhưng đây là cách của tăng thân. Năng lượng của chánh niệm và hòa hợp sẽ làm nên tất cả. Ta không cần phải có kế hoạch năm năm hay cái gì tương tự. Điều quan trọng là tăng thân có thể đến với nhau và có mặt như một cơ thể sống hay không? Toàn bộ vấn đề là ở chỗ đó. Sắp xếp thế nào để tăng thân có thể thường xuyên đến với nhau, nhiều thật nhiều. Đó là mối quan tâm duy nhất. Bởi vì sự đến với nhau của tăng thân có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều sự khỏe nhẹ, sự chuyển hóa và niềm tin.
Tăng thân luôn luôn chế tác niệm, định và tuệ. Tăng thân mang trong lòng mình chất thánh, nhờ sự thực tập chánh niệm. Thật là đẹp khi nhìn thấy một tăng thân tĩnh lặng, đi trong tĩnh tại và hòa điệu. Họ tổ chức mà không có vẻ gì là đang tổ chức cả, như một đàn ong. Không ai ra lệnh cho ai cả. Người này nhìn người kia, ý thức về sự có mặt của nhau và về tình trạng đang diễn ra; một cách thật tự nhiên, tình trạng sẽ thay đổi theo hướng như họ mong muốn.
Học hỏi từ thiên nhiên
Có bài học nào ta muốn dạy cho loài ong, loài mối, loài chim hay loài cá hay không? Trái lại, có rất nhiều điều mà ta có thể học hỏi từ các loài động vật. Các nhà khoa học trong thời đại ngày nay bắt đầu nói về văn hóa loài vật. Loài vật có nền văn hóa của chúng. Mỗi loài đều có tuệ giác và cách sống của riêng mình.
Trong cộng đồng loài người, chúng ta có rất nhiều nỗi khổ niềm đau. Xã hội chúng ta dường như khổ hơn xã hội của loài vật. Chủ nghĩa cá nhân chiếm ưu thế. Chúng ta đang bị chia rẽ nặng nề. Chúng ta ghét bỏ nhau, sợ hãi nhau. Các loài ong, loài cá cũng như loài chim không hề có vấn đề này. Cho nên, chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ chúng. Và đây cũng là đường hướng xây dựng tăng thân: đi với nhau như một dòng sông.
