Kinh Đối Chiếu

Không cần chê trách kẻ khác, chỉ biết tu tỉnh lại thân tâm mình, ai biết được pháp hành xử này thì viễn viễn sẽ không còn tai họa.

 

Song  Yếu Phẩm  Pháp Cú Kinh đệ cửu

雙要品法句經第九二十有二章

Kinh Đối Chiếu

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 9

 

Phẩm này có 22 bài kệ. Bên phía tiếng Pali thì chỉ có 20 bài. Bắt đầu từ phẩm này ta có thể tham chiếu với kinh Pháp Cú tiếng Pali. Đối chiếu ở đây có nghĩa là so sánh các nghiệp thân, khẩu và ý về hai phía thiện ác. Cái thiện đưa tới cái tốt lành, cái ác đưa tới cái xấu xa.

Bốn bài kệ đầu nói về vai trò lãnh đạo của tâm ý. Hành động và lời nói bao giờ cũng đi theo tư duy. Cho nên, chánh tư duy là thực tập căn bản. Hai bài kệ trước nói về tâm. Hai bài sau nói về ý. Hai bài sau (bài 3 và 4, không có trong bản Pali – các bài 13 và 14 cũng nói về ý). Hình ảnh mái nhà bị dột, bị nước mưa lọt vào ví dụ cho tâm ý không được nhiếp phục, để cho các hành vi phóng đãng lọt vào, là một hình ảnh rất thực.

Hai bài kệ thứ 15 và 16 nói đến sự gần gũi người hiền; gần kẻ ngu phu thì lây thói mê lầm và làm điều sai trái. Hai bài kệ này cũng thiếu trong văn bản Pali.

 

Bài kệ 1

Tâm vi pháp bản                            心  為  法  本

Tâm tôn tâm sử                              心  尊  心  使

Trung tâm niệm ác                         中  心  念  惡

Tức ngôn tức hành                         即  言  即  行

Tội khổ tự truy                                罪  苦  自  追

Xa lịch vu triệt                                車  轢  于  轍

 

Tâm là gốc các pháp, tâm làm chủ, tâm sai sử. Nếu tâm nghĩ ác thì lời nói và hành động làm theo, tội ác và khổ đau tự khắc đi theo sau đó như bánh xe lăn trên đường tạo thành vệt bánh xe.

 

Bài kệ 2

Tâm vi pháp bản                            心  為  法  本

Tâm tôn tâm sử                              心  尊  心  使

Trung tâm niệm thiện                     中  心  念  善

Tức ngôn tức hành                         即  言  即  行

Phước lạc tự truy                           福  樂  自  追

Như ảnh tùy hình                          如  影  隨  形

 

Tâm là gốc các pháp, tâm làm chủ, tâm sai sử. Nếu tâm nghĩ thiện thì lời nói và hành động làm theo, phước lạc tự khắc đi theo như bóng đi theo hình.

 

Bài kệ 3

Tùy loạn ý hành                             隨  亂  意  行

Câu ngu nhập minh                       拘  愚  入  冥

Tự đại vô pháp                             自  大  無  法

Hà giải thiện ngôn                          何  解  善  言

 

Ý đi theo đường loạn, xui người u mê đi vào chỗ tối. Tự tôn tự đại không có phép tắc gì, thì làm sao mà hiểu, làm sao mà nói được lời lành?

 

Bài kệ 4

Tùy chánh ý hành                          隨  正  意  行

Khai giải thanh minh                     開  解  清  明

Bất vi đố tật                                 不  為  妬  嫉

Mẫn đạt thiện ngôn                        敏  達  善  言

 

Ý đi theo đường chính, thì sẽ có khả năng khai mở đi vào nơi trong sáng. Không còn tật đố, có khả năng nói được lời lành.

 

Bài kệ 5

Uấn ư oán giả                                慍  於  怨  者

Vị thường vô oán                           未  嘗  無  怨

Bất uấn tự trừ                                不  慍  自  除

Thị đạo khả tông                            是  道  可  宗

 

Đối với người đang oán hận mình, biết sử dụng cái không hận thù, không oán giận mới có thể diệt trừ được cái hận thù, cái oán giận. Đó là con đường đạo, đáng làm tông chỉ cho mọi hành động.

 

Bài kệ 6

Bất hảo trách bỉ                              不  好  責  彼

Vụ tự tỉnh thân                               務  自  省  身

Như hữu tri thử                              如  有  知  此

Vĩnh diệt vô hoạn                         永  滅  無  患

 

Không cần chê trách kẻ khác, chỉ biết tu tỉnh lại thân phận mình, ai biết được phép hành xử này thì vĩnh viễn sẽ không còn tai họa.

 

Bài kệ 7

Hành kiến thân tịnh                        行  見  身  淨

Bất nhiếp chư căn                         不  攝  諸  根

Ẩm thực bất tiết                             飲  食  不  節

Mạn đọa khiếp nhược                    慢  墮  怯  弱

Vi tà sở chế                                  為  邪  所  制

Như phong mị thảo                        如  風  靡  草

 

Kẻ nào không thấy được thân là bất tịnh, không thu nhiếp được các căn, ăn uống không chừng mực, kiêu mạn, đọa lạc, khiếp nhược, kẻ ấy sẽ bị cái tà chế ngự như gió thổi làm cho cỏ nằm rạp xuống.

 

Bài k 8

Quán thân bất tịnh                         觀  身  不  淨

Năng nhiếp chư căn                       能  攝  諸  根

Thực tri tiết độ                              食  知  節  度

Thường lạc tinh tấn                       常  樂  精  進

Bất vi tà động                               不  為  邪  動

Như phong đại sơn                        如  風  大  山

 

Kẻ nào quán được thân là bất tịnh, có khả năng thu nhiếp được các căn, ăn uống biết chừng mực, thường có hạnh phúc trong sự tinh tiến tu học, kẻ ấy sẽ không bị cái tà lay chuyển, như ngọn núi cao không bị gió làm cho lay động

Bài kệ  9

Bất thổ độc thái                              不  吐  毒  態

Dục tâm trì sính                              欲  心  馳  騁

Vị năng tự điều                               未  能  自  調

Bất ưng Pháp y                               不  應  法  衣

 

Kẻ nào không lấy ra khỏi tự thân những chất độc hại, lòng dục còn rong ruổi, chưa có khả năng điều phục được tự thân thì kẻ ấy không xứng đáng được khoác lên chiếc áo pháp.

 

Bài kệ 10

Năng thổ độc thái                         能  吐  毒  態

Giới ý an tĩnh                                戒  意  安  靜

Hàng tâm dĩ điều                           降  心  已  調

Thử ưng Pháp y                             此  應  法  衣

 

Kẻ nào lấy ra được khỏi tự thân những chất độc hại, giữ giới luật và tâm ý thanh tịnh, an ổn, hành phục được tâm mình và chế ngự được thân mình, kẻ ấy xứng đáng được khoác lên chiếc áo pháp.

 

Bài kệ 11

Dĩ chân vi ngụy                              以  真  為  偽

Dĩ ngụy vi chân                              以  偽  為  真

Thị vi tà kế                                     是  為  邪  計

Bất đắc chân lợi                             不  得  真  利

 

Cho chân là ngụy, cho ngụy là chân, đó là kẻ đi theo tà tư duy, không bao giờ đạt tới lợi ích chân thực.

 

Bài kệ 12

Tri chân vi chân                             知  真  為  真

Kiến ngụy tri ngụy                         見  偽  知  偽

Thị vi chánh kế                              是  為  正  計

Tất đắc chân lợi                           必  得  真  利

 

Biết chân là chân, thấy ngụy là ngụy, đó là kẻ đi theo chánh tư duy, chắc chắn sẽ đạt tới lợi ích chân thực.

 

Bài kệ 13

Cái ốc bất mật                                蓋  屋  不  密

Thiên vũ tắc lậu                              天  雨  則  漏

Ý bất duy hành                               意  不  惟  行

Dâm dật vi xuyên                            淫  泆  為  穿

 

Mái lá không kín, nước mưa lọt vào, nếu không nhiếp phục tâm ý để hành trì thì những hành vi phóng đãng sẽ lọt vào được.

 

Bài kệ 14

Cái ốc thiện mật                             蓋  屋  善  密

Vũ tắc bất lậu                                 雨  則  不  漏

Nhiếp ý duy hành                            攝  意  惟  行

Dâm dật bất sanh                           淫  泆  不  生

 

Mái lá lành kín, mưa không lọt vào, nếu biết nhiếp phục tâm ý để hành trì thì những hành vi phóng đãng sẽ không phát sinh.

 

Bài kệ 15

Bỉ phu nhiễm nhân                           鄙  夫  染  人

Như cận xú vật                              如  近  臭  物

Tiệm mê tập phi                              漸  迷  習  非

Bất giác thành ác                            不  覺  成  惡

 

Thân cận với những người hủ lậu, thô bỉ thì sẽ bị ảnh hưởng xấu như ngồi gần vật thối bị lây mùi hôi, sẽ từ từ đi vào mê lầm và học thói quen sai trái.

 

Bài kệ 16

Hiền phu nhiễm nhân                    賢  夫  染  人

Như cận hương huân                    如  近  香  熏

Tiến trí tập thiện                            進  智  習  善

Hành thành  khiết phương               行  成  潔  芳

 

Thân cận những bậc hiền giả thì được ảnh hưởng tốt, như gần hương hoa được thấm mùi thơm, trí tuệ tăng trưởng, học được thói lành, công hạnh sẽ tinh khiết và thơm tho.

 

Bài kệ 17

Tạo ưu hậu ưu                              造  憂  後  憂

Hành ác lưỡng ưu                          行  惡  兩  憂

Bỉ ưu duy cụ                                 彼  憂  惟  懼

Kiến tội tâm cụ                             見  罪  心  懼

 

Tạo ưu phiền đưa tới ưu phiền, làm điều ác đức lại khiến cho lo buồn tăng gấp đôi. Sau cái lo buồn lại còn có cái sợ hãi, thấy mình gây tội thì tâm mình lo sợ

 

Bài kệ 18

Tạo hỉ hậu hỉ                                 造  喜  後  喜

Hành thiện lưỡng hỉ                       行  善  兩  喜

Bỉ hỉ duy hoan                               彼  喜  惟  歡

Kiến phước tâm an                        見  福  心  安

 

Tạo niềm vui sẽ có niềm vui đi theo, làm điều lành sẽ khiến cho hạnh phúc tăng gấp đôi. Sau niềm vui lại còn có nỗi mừng, thấy mình làm được chuyện phước đức thì tâm mình an ổn.

 

Bài kệ 19

Kim hối hậu hối                              今  悔  後  悔

Vi ác lưỡng hối                              為  惡  兩  悔

Quyết vi tự ương                           厥  為  自  殃

Thọ tội nhiệt não                            受  罪  熱  惱

 

Bây giờ hối thì sau này cũng hối, làm điều ác đức thì sẽ khiến cho cái hối hận tăng gấp đôi. Điều này tạo tai ương cho bản thân mình, trong tương lai mình sẽ phải nhận chịu tội báo nóng bức.

 

Bài kệ 20

Kim hoan hậu hoan                     今  歡  後  歡

Vi thiện lưỡng hoan                       為  善  兩  歡

Quyết vi tự hữu                             厥  為  自  祐

Thọ phước duyệt dự                      受  福  悅  豫

Bây giờ hoan hỷ thì sau hoan hỷ, làm điều lành thì mừng vui tăng gấp đôi. Điều này đem tới an tường cho bản thân, trong tương lai mình sẽ nhận được nhiều phước đức và niềm vui sống.

 

Bài kệ 21

Xảo ngôn đa cầu                           巧  言  多  求

Phóng đãng vô giới                       放  蕩  無  戒

Hoài dâm nộ si                            懷  婬  怒  癡

Bất duy chỉ quán                           不  惟  止  觀

Tụ như quần ngưu                         聚  如  群  牛

Phi Phật đệ tử                              非  佛  弟  子

 

Nói lời xảo trá, ham muốn nhiều điều, sống phóng đãng không nghiêm trì giới luật, mang trong người tham, sân và si thì không có Chỉ cũng không có Quán. Tụ họp như một đàn trâu, không phải là đệ tử Bụt.

 

Bài k ệ 22

Thời ngôn thiểu cầu                      時  言  少  求

Hành đạo như pháp                      行  道  如  法

Trừ dâm nộ si                              除  婬  怒  癡

Giác chánh ý giải                          覺  正  意  解

Kiến đối bất khởi                         見  對  不  起

Thị Phật đệ tử                              是  佛  弟  子

 

Nói năng đúng thời đúng lúc, sống thiểu dục, hành đạo như pháp, trừ tâm sân si, biết được con đường chánh và tâm ý có liễu giải, khi bị chống đối không khởi tâm sân hận, đó mới đích thực là đệ tử Bụt.

Kinh Thực Tập Ái Ngữ

Nếu ta buông bỏ được ý muốn trừng phạt, tâm ta chí thành muốn cho ai cũng bớt khổ thì tự khắc lời nói của ta trở nên giọt cam lộ. " Đó là thứ ngôn ngữ cao nhất của mọi ngôn ngữ".

 

Ngôn Ngữ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ bát

言語品法句經第八

Kinh Thực Tập Ái Ngữ

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 8

Phẩm này có 12 bài kệ. Bài kệ thứ 12 dạy ta nên học nói năng theo kiểu nói năng của Bụt: Mỗi lời nói đều có thể đưa tới an lành, có công năng xây dựng tăng thân và môi trường tốt cho sự thực tập.‘‘Đó là thứ ngôn ngữ cao nhất của các thứ ngôn ngữ’’. Nếu ta thực tập buông bỏ được ý muốn trừng phạt, nếu tâm ta chí thành muốn cho ai cũng bớt khổ thì tự khắc lời nói của ta trở nên lời nói cam lộ. Đó là ý chính của bài kệ thứ 11, ái ngữ đi với lắng nghe sẽ giúp ta và kẻ khác tái lập được truyền thông và đưa tới nếp sống thuận thảo an lành. Bài kệ thứ 3 là một tiếng chuông chánh niệm: Sử dụng ác ngữ thì cũng như ngậm một cái búa trong miệng mình; chiếc búa ấy sẽ chặt đứt sinh mạng của chính mình. Bài kệ thứ 5 nói lên được cách hành xử đẹp nhất trên đời: lấy oán báo oán, oán oán chập chùng, lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan.

 

Bài kệ 1

Ác ngôn mạ lị                                 惡  言  罵  詈

Kiêu lăng miệt nhân                       憍  陵  蔑  人

Hưng khởi thị hành                       興  起  是  行

Tật oán tư sanh                              疾  怨  滋  生

 

Kiêu căng, sử dụng những lời ác độc để chửi mắng, lăng mạ và tỏ ý khinh miệt người khác, làm như thế thì sẽ gây ra nhiều thù oán.

 

Bài kệ 2

Tốn ngôn thuận từ                         遜  言  順  辭

Tôn kính ư nhân                             尊  敬  於  人

Khí kết nhẫn ác                              棄  結  忍  惡

Tật oán tự diệt                                疾  怨  自  滅

 

Sử dụng lời nói từ tốn, thuận thảo và lịch sự đối với người khác thì có thể dập tắt được những oán kết. Nhẫn nhục được trong những trường hợp bức xúc, làm như thế thì ganh ghét và hờn oán sẽ tự tiêu tan.

 

 

 

Bài kệ 3

Phu sĩ chi sanh                             夫  士  之  生

Phủ tại khẩu trung                         斧  在  口  中

Sở dĩ trảm thân                               所  以  斬  身

Do kỳ ác ngôn                                 由  其  惡  言

 

Con người sinh ra trên đời nếu sử dụng ác ngữ thì cũng như có một lưỡi búa trong miệng mình. Chính lưỡi búa ấy sẽ chặt đứt thân mạng của mình.

 

Bài kệ 4

Tránh vi thiểu lợi                            諍  為  少  利

Như yểm thất tài                            如  掩  失  財

Tòng bỉ trí tránh                             從  彼  致  諍

Lệnh ý hướng ác                            令  意  向  惡

 

Cãi cọ không đem lại một chút lợi ích nào, chỉ có tác dụng bít lấp truyền thông, làm hao thất tài sản mình và đưa tới tranh chấp khiến cho tâm ý hướng về nẻo xấu.

 

Bài kệ 5

Dự ác ác sở dự                               譽  惡  惡  所  譽

Thị nhị câu vi ác                             是  二  俱  為  惡

Hảo dĩ khẩu quái đấu                    好  以  口  儈  鬪

Thị hậu giai vô an                        是  後  皆  無  安

 

Khen ngợi cái ác cũng như nói lời ghét bỏ những người được xưng tụng, cả hai đều là chuyện không nên làm. Ưa thích tranh cãi và đấu lý sẽ đem lại tình trạng không có bình an sau này.

 

Bài kệ 6

Vô đạo đọa ác đạo                          無  道  墮  惡  道

Tự tăng địa ngục khổ                  自  增  地  獄  苦

Viễn ngu tu nhẫn ý                      遠  愚  修  忍  意

Niệm đế tắc vô phạm                     念  諦  則  無  犯

 

Lời nói không phù hợp đạo lý sẽ làm cho mình sa đọa vào các con đường dữ, chỉ có công dụng làm lớn thêm cái khổ địa ngục của mình. Biết lánh xa kẻ ngu phu, biết tu hạnh nhẫn nhịn và luôn luôn nhớ tới sự hành trì trên con đường tứ đế và bát chánh đạo thì sẽ không phạm vào lầm lỗi ấy.

 

Bài kệ 7

Tùng thiện đắc giải thoát               從  善  得  解  脫

Vi ác bất đắc giải                            為  惡  不  得  解

Thiện giải giả vi hiền                      善  解  者  為  賢

Thị vi thoát ác não                         是  為  脫  惡  惱

 

Hành xử hiền lành thì đạt tới giải thoát, hành xử dữ dằn thì không tự cởi trói cho mình được. Kẻ biết khéo léo hóa giải là bậc hiền nhân, có khả năng vượt ra ngoài mọi não phiền hung dữ.

 

Bài kệ 8

Giải tự bão tổn ý                             解  自  抱  損  意

Bất táo ngôn đắc trung                  不  躁  言  得  中

Nghĩa thuyết như pháp thuyết     義  說  如  法  說

Thị ngôn nhu nhuyễn cam            是  言  柔  軟  甘

 

Đừng ôm ấp ý muốn làm tổn hại và trừng phạt người khác. Không có tiết tháo thì lời nói không trung thực. Nói lời có nghĩa, có lý thì cũng giống như nói pháp, những lời như thế có vị ngọt của Cam lộ.

 

Bài kệ 9

Thị dĩ ngôn ngữ giả                        是  以  言  語  者

Tất sử kỷ vô hoạn                           必  使  己  無  患

Diệc bất khắc chúng nhân             亦  不  尅  眾  人

Thị vi năng thiện ngôn                   是  為  能  善  言

 

Ai có khả năng sử dụng ngôn ngữ tốt lành ấy thì sẽ không tạo tai họa cho chính mình, cũng không gây xung đột với người.

 

Bài kệ 10

Ngôn sử đầu ý khả                      言  使  投  意  可

Diệc lệnh đắc hoan hỉ                     亦  令  得  歡  喜

Bất sử chí ác ý                                 不  使  至  惡  意

Xuất ngôn chúng tất khả               出  言  眾  悉  可

 

Lời nói gây ra được sự tâm đầu ý hợp có tác dụng làm cho người ta hoan hỷ, không đưa tới ác ý. Nói năng được như thế có thể giúp cho mọi người chấp nhận hài hòa.

 

Bài kệ 11

Chí thành cam lộ thuyết                至  誠  甘  露  說

Như pháp nhi vô quá                    如  法  而  無  過

Đế như nghĩa như pháp                諦  如  義  如  法

Thị vi cận đạo lập                        是  為  近  道  立

 

Tâm chí thành đưa tới lời nói cam lộ, đúng như giáo pháp mà không ai có thể trách cứ được. Lời nói ấy phù hợp với chân nghĩa, với chánh pháp, đi đúng vào con đường chánh đạo.

 

Bài kệ 12

Thuyết như Phật ngôn giả          說  如  佛  言  者

Thị cát đắc diệt độ                          是  吉  得  滅  度

Vi năng tác hạo tế                          為  能  作  浩  際

Thị vị ngôn trung thượng              是  謂  言  中  上

 

Nên sử dụng ngôn ngữ của Bụt sử dụng, nói những lời an lành có công năng đưa tới Niết Bàn và có công năng xây dựng được môi trường tu tập chánh pháp. Đó là thứ ngôn ngữ cao nhất của tất cả các ngôn ngữ.

Kinh Nuôi Lớn Tình Thương

Dù có bỏ cả cuộc đời để chuyên cần làm việc xã hội hoặc tế trời bằng voi và ngựa, cũng không bằng trong một phút tu tập quán từ bi.

 

Từ Nhân Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thất

慈仁品法句經第七

Kinh Nuôi Lớn Tình Thương

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 7

Phẩm này có 18 bài kệ. Bài thứ 16 nói tới Từ như một trong bốn tâm vô lượng, là Từ, Bi, Hỷ và Xả: năng lượng thương yêu có thể bao trùm được tất cả mọi loài, đó là tình yêu thương không có biên giới. Bài thứ 18 nói: chỉ một giây phút phát khởi tâm từ cũng có giá trị hơn cả một đời chuyên cần cúng tế cầu đảo hoặc làm việc xã hội. Bài thứ 11 nói về sự thực tập bất bạo động (ahimsa), buông bỏ mọi ý muốn trừng phạt, buông bỏ tâm niệm oán cừu. Bài thứ tư căn dặn là tình thương cần được biểu lộ bằng cả ba nghiệp thân, khẩu và ý. Bài thứ nhất cho ta thấy từ bi là năng lượng bảo hộ hữu hiệu nhất, giúp ta sống trong an ổn, không gặp tai ương hoạn nạn. Bài thứ 15 nói tới 11 cái lợi ích của sự thực tập từ bi.

 

Bài kệ 1

Vi nhân bất sát                               為  仁  不  殺

Thường năng nhiếp thân               常  能  攝  身

Thị xứ bất tử                                  是  處  不  死

Sở thích vô hoạn                            所  適  無  患

 

Có lòng từ bi thì không bao giờ muốn làm hại đến mạng sống, lại có khả năng bảo hộ mạng sống, luôn cư trú trong thế giới bất tử và đi đến đâu cũng không gặp tai ương hoạn nạn.

 

Bài kệ 2

Bất sát vi nhân                                不  殺  為  仁

Thận ngôn thủ tâm                           慎  言  守  心

Thị xứ bất tử                                   是  處  不  死

Sở thích vô hoạn                              所  適  無  患

 

Hành trì giới bất sát, đó chính là bản chất của từ bi, hành trì ngay trong lời nói thận trọng của mình và trong tâm ý chánh niệm của mình, do đó luôn luôn được cư trú trong thế giới bất tử và đi đâu cũng không gặp tai ương hoạn nạn.

 

Bài kệ 3

Bỉ loạn dĩ chỉnh                            彼  亂  已  整

Thủ dĩ từ nhân                              守  以  慈  仁

Kiến nộ năng nhẫn                         見  怒  能  忍

Thị vi phạm hạnh                           是  為  梵  行

 

Kẻ kia thác loạn nhưng ta vẫn nghiêm chỉnh, bởi vì ta duy trì được tâm từ ái. Ta thực tập giữ được hạnh nhẫn nhục mỗi khi gặp trường hợp người ta nổi cơn thịnh nộ. Đó chính là nếp sống phạm hạnh.

 

Bài kệ 4

Chí thành an từ                              至  誠  安  徐

Khẩu vô thô ngôn                           口  無  麤  言

Bất sân bỉ sở                                不  瞋  彼  所

Thị vị phạm hạnh                            是  謂  梵  行

 

Tâm dạ chí thành, phong độ an nhiên từ tốn, miệng không nói lời thô ác, không nổi giận với kẻ khác, đó là nếp sống phạm hạnh.

 

Bài kệ 5

Thùy củng vô vi                             垂  拱  無  為

Bất hại chúng sanh                       不  害  眾  生

Vô sở nhiêu não                            無  所  嬈  惱

Thị ưng phạm hạnh                        是  應  梵  行

 

Tỏ bày thái độ cung kính, tĩnh mặc vô vi, không gây tàn hại đối với các loài chúng sanh, không gây phiền não và nhiễu hại cho bất cứ loài nào, đó là nếp sống phạm hạnh.

 

Bài kệ 6

Thường dĩ từ ai                              常  以  慈  哀

Tịnh như Phật giáo                          淨  如  佛  教

Tri túc tri chỉ                                  知  足  知  止

Thị độ sanh tử                                是  度  生  死

 

Thường lấy lòng từ bi thương xót chúng sanh, tịnh hóa tự tâm như lời Bụt dạy, thực tập tri túc, biết dừng lại lúc cần dừng lại, như vậy là có cơ duyên vượt được sinh tử.

 

Bài kệ 7

Thiểu dục hảo học                           少  欲  好  學

Bất hoặc ư lợi                                 不  惑  於  利

Nhân nhi bất phạm                           仁  而  不  犯

Thế thượng sở xưng                        世  上  所  稱

 

Biết thực tập thiểu dục, biết ham muốn học hỏi, không bị lợi lộc thế gian làm mê hoặc, không làm tổn hại đến đức từ bi của mình, như thế thì trên đời ai cũng ngợi khen.

 

Bài kệ 8

Nhân thọ vô phạm                          仁  壽  無  犯

Bất hưng biến khoái                       不  興  變  快

Nhân vi tránh nhiễu                         人  為  諍  擾

Tuệ dĩ mặc an                               慧  以  嘿  安

 

Hành giả không xâm phạm đến thọ mạng của người, không tạo ra tranh chấp và tai biến. Người đời vì tranh chấp cho nên tạo ra cảnh nhiễu nhương. Kẻ hành giả nhờ tuệ giác mà đem lại được tình trạng tĩnh mặc an ổn.

 

Bài kệ 9

Phổ ưu hiền hữu                            普  憂  賢  友

Ai gia chúng sanh                          哀  加  眾  生

Thường hành từ tâm                      常  行  慈  心

Sở thích giả an                              所  適  者  安

 

Yêu mến tất cả mọi người, xem ai cũng là bạn hiền, thương xót mọi loài chúng sanh, luôn luôn hành xử với tâm từ bi thì đi đến đâu cũng gặp an lành.

 

Bài kệ 10

Nhân nho bất tà                             仁  儒  不  邪

An chỉ vô ưu                                  安  止  無  憂

Thượng thiên vệ chi                      上  天  衛  之

Trí giả lạc từ                                  智  者  樂  慈

 

Kẻ sĩ biết thực tập từ bi sẽ không đi lạc vào tà đạo, được sống an lành và lắng dịu, được chư thiên bảo hộ, bởi vì ai có trí tuệ đều yêu thích lòng từ.

 

Bài kệ 11

Trú dạ niệm từ                                晝  夜  念  慈

Tâm vô khắc phạt                           心  無  尅  伐

Bất hại chúng sanh                         不  害  眾  生

Thị hành vô cừu                              是  行  無  仇

 

Nếu ngày đêm đều có thực tập chánh niệm về Từ thì trong tâm không còn ý muốn trách phạt ai nữa. Thực tập pháp vô hại đối với tất cả chúng sanh, đó là hạnh nguyện không oán cừu.

Bài kệ 12

Bất từ tắc sát                                   不  慈  則  殺

Vi giới ngôn vọng                              違  戒  言  妄

Quá bất dữ tha                                 過  不  與  他

Bất quán chúng sanh                         不  觀  眾  生

 

Không có tâm từ mới nhẫn tâm sát hại chúng sanh, làm trái với giới luật và đưa tới sự nói dối. Ngu si không biết hiến tặng sự sống, đó là tại vì không quán chiếu về tâm ý của mọi loài (là tâm ý ham sống sợ chết).

 

Bài kệ 13

Tửu trí thất chí                               酒  致  失  志

Vi phóng dật hành                           為  放  逸  行

Hậu đọa ác đạo                              後  墮  惡  道

Vô thành bất chân                           無  誠  不  真

 

Uống rượu say rồi thì mất sáng suốt, do đó có thể làm những hành động sai trái đưa mình về con đường xấu ác, không thành tâm cũng không chân thật.

 

Bài kệ 14

Lý nhân hành từ                              履  仁  行  慈

Bác ái tế chúng                               博  愛  濟  眾

Hữu thập nhất dự                           有  十  一  譽

Phước thường tùy thân                    福  常  隨  身

 

Thực tập nhân từ, đem lòng bác ái mà tế độ chúng sanh thì sẽ thành tựu được mười một điều đáng khen ngợi, do đó phước và đức sẽ đi theo mình suốt đời.

 

Bài kệ 15

Ngọa an giác can                            臥  安  覺  安

Bất kiến ác mộng                           不  見  惡  夢

Thiên hộ nhân ái                             天  護  人  愛

Bất độc bất binh                             不  毒  不  兵

Thủy hỏa bất tang                          水  火  不  喪

Tại sở đắc lợi                                在  所  得  利

Tử thăng phạm thiên                     死  昇  梵  天

Thị vi thập nhất                              是  為  十  一

 

Mười một điều ấy là ngủ yên, thức dậy an lành, không có ác mộng, được chư thiên bảo hộ, được loài người yêu mến, không bị đầu độc, không trở thành nạn nhân của binh hỏa, không bị chết trôi, không bị lửa cháy, hiện tại được hưởng nhiều phúc lợi, qua đời sẽ sinh lên cõi Phạm thiên.

 

Bài kệ 16

Nhược niệm từ tâm                         若  念  慈  心

Vô lượng bất phế                            無  量  不  廢

Sanh tử tiệm bạc                            生  死  漸  薄

Đắc lợi độ thế                                 得  利  度  世

 

Nếu tu tập từ niệm trở thành vô lượng tâm mà không phế bỏ nửa chừng thì sẽ dần dần thoát cảnh sinh tử và làm được nhiều việc lợi ích cho đời.

 

Bài kệ 17

Nhân vô loạn chí                             仁  無  亂  志

Từ tối khả hành                               慈  最  可  行

Mẫn thương chúng sanh                  愍  傷  眾  生

Thử phước vô lượng                      此  福  無  量

 

Tâm Từ làm cho ta nhất tâm, tâm Bi đưa tới hành động quảng đại. Thương xót và cứu độ chúng sanh, phước đức này quả là vô lượng.

 

Bài kệ 18

Giả lệnh tận thọ mạng                     假  令  盡  壽  命

Cần sự thiên hạ nhân                      懃  事  天  下  人

Tượng mã dĩ từ thiên                     象  馬  以  祠  天

Bất như hành nhất từ                     不  如  行  一  慈

 

Dù có bỏ cả cuộc đời để chuyên cần làm việc xã hội hoặc tế trời bằng voi và ngựa, cũng không bằng trong một phút tu tập quán từ bi.

Kinh Thực Tập Quán Niệm

Công phu thực tập chỉ và quán trong khi đi và đứng, khi ngồi cũng như nằm, không lúc nào bỏ quên, sẽ làm phát sinh ra ánh sáng chiếu rọi trong thế gian, như mây tan trăng hiện.

 

Duy Niệm Phẩm Pháp Cú Kinh đệ lục

惟 念 品 法 句 經 第 六

Kinh Thực Tập Quán Niệm

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 6

 

Phẩm này tuy ghi là có 12 bài kệ, nhưng thật ra là có tới 13 bài. Bài thứ 1 nói về phép quán niệm hơi thở. Bài thứ 2 nói về hai yếu tố của sự thực tập thiền định, đó là chỉ và quán. Chỉ là dừng lại, là làm cho lắng dịu, là tập trung tâm ý. Quán là nhìn sâu vào đối tượng mình đang quán chiếu: đó có thể là hơi thở, là hình hài, là cảm thọ, là tâm ý, hoặc là các pháp đối tượng của tâm ý. Bài thứ 4 nói về quán thân, bài thứ 7 nói về quán tâm, bài 11, 12 và 13 nói về các phép tùy niệm: niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Vô Thường và niệm Bố Thí. Ta để ý thì không có niệm Thiên. Bài thứ 13 cũng nói tới ba phép niệm căn bản để đi tới giải thoát (tam giải thoát môn) là quán Không, quán Vô tướng và quán Vô nguyện, tức là Vô tác. Bài kệ thứ 7 lấy lại hai câu chót của bài kệ thứ 6 (Nhược năng ngộ ý niệm, tri giải nhất tâm lạc) và thêm vào hai câu nữa (ưng thời đẳng hành pháp, thị độ sinh tử não). Vì vậy cho nên trong khi sao chép, người sao chép đã bỏ mất hai câu lặp lại, tưởng đó là dư thừa, cho nên trong nguyên văn chữ Hán, bài kệ thứ 6 có tới sáu dòng thay vì bốn dòng. Vì vậy đếm lại chỉ thấy có 12 bài kệ trong khi đó thực sự là 13. Bài kệ thứ bảy như sau:

Nhược năng ngộ ý niệm

Tri giải nhất tâm lạc

Ưng thời đẳng hành pháp

Thị độ lão tử não.

Sở dĩ ta phục hồi được bài kệ này là nhờ có kinh Pháp Tập Yếu Tụng. Kinh này đã sử dụng bản dịch của kinh Pháp Cú và trong khi sao chép đã không đánh mất hai câu tưởng như là trùng lặp mà không phải trùng lặp.

Phẩm này liệt kê được những phép thiền quán căn bản của đạo Bụt nguyên thỉ, được sử dụng chung cho các tông phái Phật giáo: Duy có phép tu Từ quán chưa nhắc tới, và sẽ được nhắc tới ở phẩm sau.

 

Bài kệ 1

Xuất tức nhập tức niệm                 出  息  入  息  念

Cụ mãn đế tư tánh                         具  滿  諦  思  惟

Tùng sơ cánh thông lợi                  從  初  竟  通  利

An như Phật sở thuyết                  安  如  佛  所  說

 

Phép tu quán niệm hơi thở vào ra nếu làm cho đến nơi đến chốn thì có thể đem lại sự thực chứng Chân Đế. Ngay buổi đầu thực tập cho đến khi thành tựu viên mãn luôn luôn có sự thông thoáng lợi ích. Phép thực tập này sẽ đem lại sự bình an như Bụt đã nói.

 

Bài kệ 2

Thị tắc chiếu thế gian                    是  則  照  世  間  

Như vân giải nguyệt hiện           如  雲  解  月  現

Khởi chỉ học tư duy                       起  止  學  思  惟

Tọa ngọa bất phế vong                  坐  臥  不  廢  忘

 

Phát khởi công phu thực tập chỉ và quán trong lúc ngồi cũng như trong lúc nằm, không lúc nào bỏ quên, sẽ làm phát sinh ra ánh sáng chiếu rọi trong thế gian, như mây tan trăng hiện.

 

Bài kệ 3

Tỳ-kheo lập thị niệm                      比  丘  立  是  念

Tiền lợi hậu tức thắng                    前  利  後  則  勝

Thủy đắc chung tất thắng             始  得  終  必  勝

Thệ bất đổ sanh tử                         逝  不  覩  生  死

 

Vị tỳ kheo thiết lập được các pháp chánh niệm này sẽ được hưởng lợi lạc ngay trong lúc ban đầu thực tập, sau đó thì công phu càng ngày càng trở nên vững chãi. Hoa trái của công phu cũng càng ngày càng trở nên thù thắng. Công phu này sẽ giúp bậc hiền giả vượt qua được dòng sinh tử.

 

Bài kệ 4

Nhược kiến thân sở trụ                 若  見  身  所  住

Lục cánh dĩ vi tối                            六  更  以  為  最

Tỳ-kheo thường nhất tâm              比  丘  常  一  心

Tiện tự tri nê hoàn                          便  自  知  泥  洹

 

Thành tựu được phép quán niệm về thân rồi thì hành giả sẽ nhiếp niệm được cả sáu giác quan. Duy trì được trạng thái nhất tâm, thì vị tỳ khưu có thể thực chứng được Niết Bàn.

 

Bài kệ 5

Dĩ hữu thị chư niệm                       已  有  是  諸  念

Tự thân thường kiến hành            自  身  常  建  行

Nhược kỳ bất như thị                    若  其  不  如  是

Chung bất đắc ý hành                   終  不  得  意  行

 

Thực tập thành công các pháp quán niệm ấy thì tự thân sẽ thường xuyên đạt được trạng thái kiện hành. Chưa được như thế thì vẫn còn chưa cảm thấy thoải mái hoàn toàn.

 

Bài kệ 6

Thị tùy bổn hành giả                      是  隨  本  行  者

Như thị độ ái lao                         如  是  度  愛  勞

Nhược năng ngộ ý niệm                若  能  悟  意  念

Tri giải nhất tâm lạc                       知  解  一  心  樂

 

Ai thực tập theo được các pháp môn căn bản này thì có thể vượt thoát được biển trần lao của ái dục. Ai có khả năng nhận diện được những tâm hành của mình (khi chúng phát hiện) sẽ có khả năng hiểu được (bản chất) của các tâm hành ấy và đạt tới được niềm hoan lạc do sức định của nhất tâm đem tới.

 

Bài kệ 7

Nhược năng ngộ ý niệm             若  能  悟  意  念

Tri giải nhất tâm lạc                    知  解  一  心  樂

Ưng thời đẳng hành pháp             應  時  等  行  法

Thị độ lão tử não                            是  度  老  死  惱

 

Nếu có khả năng nhận diện được các tâm hành thì sẽ đạt tới giải thoát và hưởng được những pháp lạc do cái định của nhất tâm đem lại. Nếu thực tập được đúng lúc và đều đặn thì sẽ vượt thoát được phiền não trong cuộc sinh tử.

 

Bài kệ 8

Tỳ-kheo ngộ ý hành                       比  丘  悟  意  行

Đương lệnh ưng thị niệm              當  令  應  是  念

Chư niệm sanh tử khí                    諸  念  生  死  棄

Vi năng tác khổ tế                          為  能  作  苦  際

 

Vị tỳ kheo ý thức được các tâm hành và làm cho tâm mình tương ưng với chánh niệm thì sẽ có khả năng buông bỏ được các ý niệm, như ý niệm sinh tử v.v.. và vượt thoát được thế giới khổ đau.

 

Bài kệ 9

Thường đương thính vi diệu         常  當  聽  微  妙

Tự giác ngộ kỳ ý                             自  覺  悟  其  意

Năng giác giả vi hiền                     能  覺  者  為  賢

Chung thủy vô sở hội                    終  始  無  所  會

 

Ta hãy thường nên học hỏi giáo pháp vi diệu (của Bụt) và giác ngộ được ý chỉ (thâm sâu) của các giáo pháp ấy. Có giác ngộ như thế mới có thể gọi là bậc hiền giả, trước sau không còn bị sự sợ hãi trấn ngự.

 

Bài kệ 10

Dĩ giác ý năng ưng                         以  覺  意  能  應

Nhật dạ vụ học hành                     日  夜  務  學  行

Đương giải cam lồ yếu                   當  解  甘  露  要

Lệnh chư lậu đắc tận                     令  諸  漏  得  盡

 

Để tâm tương ưng với chánh niệm, đêm ngày thực tập chuyên cần như thế, thì sẽ liễu giải được yếu chỉ Cam Lộ và làm cho tất cả các lậu hoặc chấm dứt.

 

Bài kệ 11

Phu nhân đắc thiện lợi                   夫  人  得  善  利

Nãi lai tự quy Phật                         乃  來  自  歸  佛

Thị cố đương trú dạ                    是  故  當  晝  夜

Thường niệm Phật Pháp Chúng   常  念  佛  法  眾

 

Ai có được cơ duyên lành và cơ hội thuận lợi thì nên thực tập ngay phép quy y Bụt, đêm ngày niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.

 

Bài kệ 12

Kỷ tri tự giác ý                                己  知  自  覺  意

Thị vi Phật đệ tử                             是  為  佛  弟  子

Thường đương trú dạ niệm           常  當  晝  夜  念

Phật dữ Pháp cập Tăng                 佛  與  法  及  僧

 

Đã là một người con Bụt thì phải nuôi dưỡng tâm tự giác, đêm ngày thực tập phát khởi và duy trì chánh niệm về Bụt, Pháp và Tăng.

 

Bài kệ 13

Niệm thân niệm phi thường          念  身  念  非  常

Niệm giới bố thí đức                      念  戒  布  施  德

Không bất nguyện vô tướng         空  不  願  無  相

Trú dạ đương niệm thị                   晝  夜  當  念  是

 

Hãy tinh chuyên thực tập các phép quán niệm về Thân, về Vô Thường, về Giới, về Bố Thí, về Không, về Vô Tướng và về Vô Nguyện, đêm cũng như ngày.

Kinh Nghiêm Trì Giới Luật

Giới là cái tốt lành an ổn nhất cho một đời người. Giới có khả năng đem lại sự yên vui và lắng dịu thật sự. Tuệ giác là vật quý giá nhất của một con người. Phước đức là thứ tài sản mà kẻ khác không thể nào đánh cắp được.

 

Giới Thận Phẩm Pháp Cú Kinh đệ ngũ

戒慎品法句經第五

Kinh Nghiêm Trì Giới Luật

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 5

 

Thận, có nghĩa là thận trọng, giữ gìn cho kỹ lưỡng. Phẩm này có 16 bài kệ. Bài kệ thứ 4 nói lên được đầy đủ cái hạnh phúc của người trì giới: trì giới đem lại sự an ổn, làm cho thân tâm không bị não loạn, ban đêm có được giấc ngủ an lành, thức dậy thì cảm thấy tươi vui. Giới luật và uy nghi là sự biểu hiện cụ thể của sự thực tập chánh niệm. Bài kệ thứ 3 nêu rõ điều ấy: muốn luôn luôn nhận diện được đối tượng tâm ý (quán thọ và quán tâm) thì phải bảo hộ giới luật, lấy giới luật làm cho tâm ý sáng tỏ: làm như thế thì sẽ thành tựu được chánh kiến. Như vậy có nghĩa: giới là gốc của niệm, định và tuệ.

 

Bài kệ 1

Nhân nhi thường thanh                人  而  常  清

Phụng luật chí chung                    奉  律  至  終

Tịnh tu thiện hành                       淨  修  善  行

Như thị giới thành                      如  是  戒  成

 

Những ai biết giữ cho bản thân thường xuyên được thanh tịnh, biết suốt đời hành trì giới luật, biết sống đời phạm hạnh và làm những việc lành, những người ấy sẽ thành tựu được sự hành trì giới pháp.

 

Bài kệ 2

Tuệ nhân hộ giới                            慧  人  護  戒

Phước trí Tam Bảo                        福  致  三  寶

Danh văn đắc lợi                            名  聞  得  利

Hậu thượng thiên lạc                      後  上  天  樂

 

Những ai có tuệ giác, biết hộ trì giới luật là những người đã có phúc đức cho nên mới có duyên tới được với ba ngôi báu. Trong hiện tại họ được hưởng nhiều lợi lạc và được ngợi khen, sau này họ cũng sẽ được sinh lên các cõi trời và hưởng hạnh phúc ở các cõi ấy.

 

Bài kệ 3

Thường kiến pháp xứ                    常  見  法  處

Hộ giới vi minh                              護  戒  為  明

Đắc thành chân kiến                      得  成  真  見

Bối trung cát tường                        輩  中  吉  祥

 

Muốn luôn luôn nhận diện được đối tượng của tâm ý thì phải bảo hộ giới luật, lấy giới luật làm cho tâm ý sáng tỏ. Làm như thế thì sẽ thành tựu được chánh kiến và suốt đời được sống trong cảnh an lành may mắn.

 

Bài kệ 4

Trì giới giả an                               持  戒  者  安

Lệnh thân vô não                         令  身  無  惱

Dạ ngọa điềm đạm                       夜  臥  恬  淡

Ngụ tắc thường hoan                    寤  則  常  歡

 

Trì giới đem lại sự an ổn, làm cho thân tâm không bị não loạn, ban đêm có được giấc ngủ an lành, thức dậy thì cảm thấy tươi vui.

 

Bài kệ 5

Tu giới bố thí                                  修  戒  布  施

Tác phước vi phước                       作  福  為  福

Tùng thị thích bỉ                             從  是  適  彼

Thường đáo an xứ                         常  到  安  處

 

Hành trì giới luật và bố thí là tạo tác và vun trồng phước đức, do đó mình có thể thích nghi và thoải mái với những kẻ khác và đi đến đâu cũng được bình an.

 

Bài kệ 6

Hà chung vi thiện                            何  終  為  善     

Hà thiện an chỉ                               何  善  安  止

Hà vi nhân bảo                               何  為  人  寶

Hà đạo bất thủ                               何  盜  不  取

 

Cái gì là cái tốt lành nhất cho cả một đời người? Cái gì là cái có khả năng đưa tới sự an ổn và lắng dịu thật sự? Cái gì là vật quý giá nhất của con người? Cái gì là cái mà kẻ khác không thể đánh cắp được?

 

Bài kệ 7

Giới chung lão an                           戒  終  老  安

Giới thiện an chỉ                             戒  善  安  止

Tuệ vi nhân bảo                              慧  為  人  寶

Phước đạo bất thủ                          福  盜  不  取

 

Giới là cái tốt lành an ổn nhất cho cả một đời người. Giới là cái có khả năng đem lại sự yên vui và lắng dịu thật sự. Tuệ giác là vật quý giá nhất của con người. Phước đức là cái mà kẻ khác không thể nào đánh cắp được.

 

Bài kệ 8

Tỳ-kheo lập giới                             比  丘  立  戒

Thủ nhiếp chư căn                           守  攝  諸  根 

Thực tri tự tiết                                食  知  自  節

Ngộ ý lệnh ưng                               悟  意  令  應

 

Vị tỳ khưu trì giới, nhiếp thủ sáu căn, biết tiết chế trong sự ăn uống tiêu thụ, lúc nào cũng biết ứng xử có ý thức.

 

Bài kệ 9

Dĩ giới hàng tâm                            以  戒  降  心

Thủ ý chánh định                           守  意  正  定

Nội học chánh quán                       內  學  正  觀

Vô vong chánh trí                          無  忘  正  智

 

Lấy sự hành trì giới luật để hàng phục tâm mình, thực tập chánh niệm và chánh định, trong nội tâm luôn luôn duy trì chánh quán không để gián đoạn.

 

Bài kệ 10

Minh triết thủ giới                          明  哲  守  戒

Nội tư chánh trí                            內  思  正  智

Hành đạo như ưng                        行  道  如  應

Tự thanh trừ khổ                         自  清  除  苦

 

Bậc minh triết nghiêm trì tịnh giới, bên trong duy trì chánh trí và nhờ hành trì được như thế cho nên tự thanh lọc được thân tâm và diệt trừ được khổ nạn.

 

Bài kệ 11

Quyên trừ chư cấu                         蠲  除  諸  垢

Tận mạn vật sanh                          盡  慢  勿  生

Chung thân cầu pháp                     終  身  求  法

Vật tạm ly thánh                            勿  暫  離  聖

 

Muốn diệt trừ được ô nhiễm, dứt hết mọi mặc cảm, khiến cho không mặc cảm nào phát hiện trở lại thì suốt đời phải cầu học Phật pháp, đừng có giây phút nào xa lìa con đường thánh đạo.

 

Bài kệ 12

Giới định tuệ giải                             戒  定  慧  解

Thị đương thiện duy                       是  當  善  惟

Đô dĩ ly cấu                                    都  已  離  垢

Vô họa trừ hữu                               無  禍  除  有

 

Muốn liễu giải được trình tự tam học là giới, định và tuệ thì phải thực tập chánh tư duy. Chánh tư duy giúp ta dứt trừ phiền não ô nhiễm, tránh được tai họa và chấm dứt được luân hồi.

 

Bài kệ 13

Khán giải tức độ                             着  解  則  度

Dư bất phục sanh                           餘  不  復  生

Việt chư ma giới                             越  諸  魔  界

Như nhật thanh minh                       如  日  清  明

 

Nhờ liễu giải được như thế mà hành giả qua được bờ bên kia, không còn sinh trở lại trong cõi luân hồi, vượt thoát được mọi cảnh giới của ma vương, sáng trong như một vầng mặt trời.

 

Bài kệ 14

Cuồng hoặc tự tứ                           狂  惑  自  恣

Dĩ thường ngoại tị                          已  常  外  避 

Giới định tuệ hành                          戒  定  慧  行

Cầu mãn vật ly                              求  滿  勿  離

 

Nên tránh xa những kẻ ngông cuồng, phóng đãng. Phải hành trì giới, định và tuệ cho đến nơi đến chốn, đừng bỏ nửa chừng.

 

Bài kệ 15

Trì giới thanh tịnh                            持  戒  清  淨

Tâm bất tự tứ                                心  不  自  恣

Chánh trí dĩ giải                              正  智  已  解

Bất đổ tà bộ                                   不  覩  邪  部

 

Giữ cho giới thể luôn luôn nghiêm mật, tâm không buông lung. Một khi chánh trí đã đạt được thì những điều sai trái sẽ không còn xuất hiện.

 

Bài kệ 16

Thị vãng cát xử                              是  往  吉  處

Vi vô thượng đạo                           為  無  上  道

Diệc xả phi đạo                              亦  捨  非  道

Ly chư ma giới                              離  諸  魔  界

Như thế là ta đang hướng về chỗ an lành, đi trên con đường vô thượng, vứt bỏ những gì trái chống với đạo lý và xa lìa cảnh giới của các loài ma.

Kinh Bồi Đắp Niềm Tin

Tuệ giác và niềm tin là những báu vật sáng chói nhất. Đó là những châu báu, tài sản cao cấp, trong khi đó thì tất cả các tài lợi, gia sản của thế gian đều vô thường.

 

Đốc Tín Phẩm Pháp Cú Kinh  đệ tứ

篤信品法句經第四

Kinh Bồi Đắp Niềm Tin

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 4

Đốc, có nghĩa là trung hậu và thành thực. Phẩm này có 18 bài kệ. Bài thứ 9 cho ta biết đức tin và tuệ giác là những bảo vật sáng chói nhất. Bài thứ 5 cho ta biết đức tin làm phát triển niệm, định, tinh tấn và đưa tới tuệ giác. Bài này cho ta thấy đức tin là một trong năm nguồn năng lượng giúp ta thành công trên đường tu tập giác ngộ, đó là tín, tấn, niệm, định và tuệ (ngũ lực). Những bài kệ 16, 17 và 18 đều nói tới đức tin như một tài sản: có đức tin sẽ không bao giờ nghèo đói về phương diện đời sống tâm linh. Mà đức tin ở đây luôn luôn được bồi đắp bởi trí tuệ, kinh nghiệm, chứ không phải là những tín ngưỡng vu vơ bám víu vào những thế lực bên ngoài.

 

Bài kệ 1

Tín tàm giới ý tài                           信  慚  戒  意  財

Thị pháp nhã sĩ dự                      是  法  雅  士  譽

Tư đạo minh trí thuyết                   斯  道  明  智  說

Như thị thăng thiên thế                 如  是  昇  天  世

 

Đức tin, sự hổ thẹn và giới luật là gia tài của tâm ý. Đó là những cái được các bậc cao sĩ khen ngợi. Các bậc minh trí đều dạy về con đường này. Đó là con đường đi lên các cõi trời.

 

Bài kệ 2

Ngu bất tu thiên hạnh                   愚  不  修  天  行

Diệc bất dự bố thí                           亦  不  譽  布  施

Tín thí trợ thiện giả                        信  施  助  善  者

Tùng thị đáo bỉ an                          從  是  到  彼  安

 

Những kẻ u mê không tu tập để cầu sinh lên cõi thiên, cũng không biết ca ngợi hạnh bố thí. Niềm tin nơi hạnh bố thí cúng dường giúp cho người có tâm lành đi tới được chỗ bình an.

 

Bài kệ 3

Tín giả chân nhân trưởng              信  者  真  人  長

Niệm pháp sở trụ an                      念  法  所  住  安

Cận giả ý đắc thượng                    近  者  意  得  上

Trí thọ thọ trung hiền                  智  壽  壽  中  賢

 

Người có đức tin là người đứng vào bậc đàn anh trong các vị chân nhân. Nhờ đức tin mà ta đạt được an lạc khi thực tập, sống ý thức trong giây phút hiện tại. Gần những người có đức tin thì tâm ý ta được đi lên vững chãi, và ta được sống chung với các bậc hiền giả có tuổi thọ cao.

 

Bài kệ 4

Tín năng đắc đạo                            信  能  得  道

Pháp trí diệt độ                               法  致  滅  度

Tùng văn đắc trí                          從  聞  得  智

Sở đáo hữu minh                            所  到  有  明

 

Đức tin giúp người đạt đạo, cũng như giáo pháp đưa người tới Niết Bàn. Nhờ học hỏi mà có trí tuệ và nơi nào mình đến cũng có ánh sáng chiếu soi.

 

Bài kệ 5

Tín năng độ uyên                           信  能  度  淵

Nhiếp vi thuyền sư                        攝  為  船  師

Tinh tấn trừ khổ                             精  進  除  苦

Tuệ đáo bỉ ngạn                              慧  到  彼  岸

 

Đức tin giúp mình vượt qua được vực sâu, nhiếp tâm vào niệm và định, giúp mình làm công việc của một người thuyền trưởng, tinh tiến giúp mình diệt trừ khổ nạn và trí tuệ giúp mình đi qua bờ bên kia.

 

Bài kệ 6

Sĩ hữu tín hành                               士  有  信  行

Vi thánh sở dự                                為  聖  所  譽

Lạc vô vi giả                                   樂  無  為  者

Nhất thiết phược giải                     一  切  縛  解

 

Kẻ sĩ đã có đức tin lại có được sự thực hành thì sẽ được các bậc thánh nhân khen ngợi. Những ai biết vui cái vui Niết Bàn thì có khả năng tháo gỡ được tất cả mọi ràng buộc hệ lụy.

 

Bài kệ 7

Tín chi dữ giới                                信  之  與  戒

Tuệ ý năng hành                            慧  意  能  行

Kiện phu độ nhuế                           健  夫  度  恚

Tùng thị thoát uyên                        從  是  脫  淵

 

Niềm tin khiến cho sự hành trì giới luật có được nội dung vững chãi và giúp cho hành giả đạt được tuệ giác. Nhờ vậy mà có sức mạnh vượt qua được hận thù, vượt qua được những cơn lũ lụt.

 

Bài kệ 8

Tín sử giới thành                            信  使  戒  誠

Diệc thọ trí tuệ                             亦  受  智  慧

Tại tại  năng hành                          在  在  能  行

Xứ xứ kiến dưỡng                       處  處  見  養

 

Đức tin giúp cho sự thực tập giới luật có thực chất, đức tin cũng giúp mình tiếp thu tuệ giác. Nơi nào có sự hành trì là nơi ấy có sự nuôi dưỡng.

 

Bài kệ 9

Bỉ phương thế lợi                         比  方  世  利

Tuệ tín vi minh                               慧  信  為  明

Thị tài thượng bảo                          是  財  上  寶

Gia sản phi thường                        家  產  非  常

 

So với những tài lợi trong cuộc đời thì tuệ giác và niềm tin là những báu vật sáng chói nhất. Đó là những châu báu tài sản thuộc loại cao cấp, trong khi đó thì tất cả những của cải gia sản của thế gian đều là vô thường.

 

Bài kệ 10

Dục kiến chư chân                         欲  見  諸  真

Lạc thính giảng pháp                     樂  聽  講  法

Năng xả xan cấu                            能  捨  慳  垢

Thử chi vi tín                                  此  之  為  信

 

Có ước ao tìm thấy sự thật, ưa nghe giảng dạy Phật pháp, có khả năng buông bỏ xan tham và trần cấu, cái đó gọi là đức tin.

 

Bài kệ 11

Tín năng độ hà                               信  能  度  河

Kỳ phước nan đoạt                        其  福  難  奪

Năng cấm chỉ đạo                          能  禁  止  盜

Dã sa môn lạc                                 野  沙  門  樂

 

Đức tin có khả năng giúp ta qua sông, phúc đức ấy không ai có thể chiếm đoạt được, không ai có thể đánh cắp được. Đó là niềm vui của một vị sa môn sống ở miền đồng nội.

Bài kệ 12

Vô tín bất tập                                  無  信  不  習

Hảo bác chánh ngôn                      好  剝  正  言

Như chuyết thủ thủy                     如  拙  取  水

Quật tuyền dương nê                  掘  泉  揚  泥

 

Không có đức tin thì không có sự thực tập, ưa bác bỏ những lời dạy chân chính, giống như múc nước dưới suối một cách vụng về và làm quậy cả bùn lên.

 

Bài kệ 13

Hiền phu tập trí                              賢  夫  習  智

Lạc ngưỡng thanh lưu                   樂  仰  清  流

Như thiện thủ thủy                        如  善  取  水

Tư lệnh bất nhiễu                           思  令  不  擾

 

Người hiền tu tập theo trí tuệ, biết thưởng thức và chiêm ngưỡng những gì đẹp đẽ và trong sáng, cũng như kẻ khéo múc nước, có ý tứ mà không quấy đục dòng nước.

 

Bài kệ 14

Tín bất nhiễm tha                           信  不  染  他

Duy hiền dữ nhân                          唯  賢  與  人

Khả hảo tắc học                              可  好  則  學

Phi hảo tắc viễn                              非  好  則  遠

 

Có đức tin thì không làm nhiễm ô kẻ khác, chỉ hiến tặng cho kẻ khác những gì hiền đức. Cái gì tốt đẹp thì học theo, cái gì không tốt đẹp thì xa lánh.

 

Bài kệ 15

Tín vi ngã dư                                  信  為  我  輿

Mạc tri tư tái                                   莫  知  斯  載

Như đại tượng điều                    如  大  象  調

Tự điều tối thắng                            自  調  最  勝

 

Đức tin cũng như một cỗ xe, ta phải biết cách sử dụng để tự chuyên chở lấy mình, như con voi lớn đã được điều phục. Tự điều phục lấy mình, đó là điều hay nhất.

 

Bài kệ 16

Tín tài giới tài                                  信  財  戒  財

Tàm quý diệc tài                             慚  愧  亦  財

Văn tài thí tài                                  聞  財  施  財

Tuệ vi thất tài                                 慧  為  七  財

Đức tin là tài sản. Giới luật là tài sản. Tàm và quý cũng là tài sản. Cùng với ba thứ tài sản khác là học hỏi, bố thí và trí tuệ làm thành bảy thứ tài sản gọi là thất tài.

 

Bài kệ 17

Tùng tín thủ giới                             從  信  守  戒

Thường tịnh quán pháp                常  淨  觀  法

Tuệ nhi lợi hành                             慧  而  利  行

Phụng kính bất vong                      奉  敬  不  忘

 

Từ đức tin mà có sự trì giới, do đó quán chiếu để thanh tịnh hóa các pháp, sử dụng tuệ giác đạt được để thực tập làm ích lợi cho đời và không bao giờ quên lãng lý tưởng phụng sự của mình.

 

Bài kệ 18

Sanh hữu thử tài                            生  有  此  財

Bất vấn nam nữ                           不  問  男  女

Chung dĩ bất bần                            終  以  不  貧

Hiền giả thức chân                         賢  者  識  真

 

Sinh ra trong cuộc đời này mà có được thứ tài sản ấy thì dù là nam hay nữ cũng sẽ không bao giờ bị nghèo đói. Bậc hiền giả bao giờ cũng có cơ hội lĩnh hội được sự thật.

Kinh Mở Rộng Tầm Hiểu Biết

Người mù nhờ cái học mà có con mắt, cái học giúp cho ta dẫn đường được cho thế gian, như những người có mắt dẫn đường được cho những người không có mắt.

 

Đa Văn Phẩm Pháp Cú Kinh  đệ tam

多聞品法句經第三十

Kinh Mở Rộng Tầm Hiểu Biết

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 3

Phẩm này có 19 bài kệ, nối tiếp chủ đề học hỏi và thực tập của phẩm trước và nhấn mạnh đến cái cần thiết của sự học hỏi. Tu thì phải học. Học hỏi đem tới ánh sáng của trí tuệ, có thể giải phóng cho ta ra khỏi lo lắng và u mê (bài kệ thứ 17). Bài thứ 19 nói rõ: phải quyết tâm buông bỏ cái si ám, cái kiêu mạn và cái thích thú muốn làm giàu. Tư lương của ta phải là trí tuệ, sự nghiệp của ta là tuệ giác, không phải là cơ sở và tiền bạc. Đây là tuệ giác ‘‘Duy tuệ thị nghiệp’’ của kinh Bát Đại Nhân Giác.

 

Bài k1

Đa văn năng trì cố                         多  聞  能  持  固

Phụng pháp vi viên tường            奉  法  為  垣  牆

Tinh tấn nan du hủy                      精  進  難  踰  毀

Tùng thị giới tuệ thành                  從  是  戒  慧  成

 

Bền chí trong sự học hỏi thì có thể xây dựng được một bức tường thành vững chãi để phụng trì Phật pháp. Có được sự siêng năng ấy thì những vi phạm giới luật sẽ không xen vào được, và do đó mình thành tựu được giới và tuệ.

 

Bài kệ 2

Đa văn lệnh chí minh                    多  聞  令  志  明

Dĩ minh trí tuệ tăng                        已  明  智  慧  增

Trí tắc bác giải nghĩa                      智  則  博  解  義

Kiến nghĩa hành pháp an              見  義  行  法  安

 

Học rộng thì tâm trí khai minh. Tâm trí khai minh thì tuệ giác tăng trưởng. Có trí tuệ thì sự học hỏi nghĩa lý sẽ trở nên rộng rãi. Hiểu được giáo nghĩa thì sự thực tập giáo pháp sẽ đi đúng con đường và mang tới bình an.

 

Bài kệ 3

Đa văn năng trừ ưu                      多  聞  能  除  憂

Năng dĩ định vi hoan                     能  以  定  為  歡    

Thiện thuyết cam lộ pháp              善  說  甘  露  法

Tự trí đắc nê hoàn                       自  致  得  泥  洹

 

Học rộng có thể giúp ta diệt trừ được lo lắng, sống hoan lạc trong định, thuyết giảng pháp cam lộ và tới được Niết Bàn.

 

Bài kệ 4

Văn vi tri pháp luật                        聞  為  知  法  律

Giải nghi diệc kiến chánh              解  疑  亦  見  正

Tùng văn xả phi pháp                   從  聞  捨  非  法

Hành đáo bất tử xứ                      行  到  不  死  處

 

Nhờ học mà biết rõ được giáo pháp và luật nghi, giải trừ được nghi ngờ, đạt tới chánh kiến, nhờ học mà bỏ được những điều phi pháp và biết cách hành trì để đi tới cõi bất tử.

 

Bài kệ 5

Vi năng sư hiện đạo                       為  能  師  現  道

Giải nghi lệnh học minh                  解  疑  令  學  明

Diệc hưng thanh tịnh bổn               亦  興  清  淨  本

Năng phụng trì pháp tạng              能  奉  持  法  藏

 

Nhờ học mà làm được bậc thầy, thấy được đạo, hóa giải được nghi ngờ, làm cho tam học sáng chói. Cái học làm cho gốc rễ thanh tịnh được hưng khởi và giúp ta phụng trì được kho tàng chánh pháp.

 

Bài kệ 6

Năng nhiếp vi giải nghĩa                 能  攝  為  解  義

Giải tắc nghĩa bất xuyên               解  則  義  不  穿

Thọ pháp ỷ pháp giả                      受  法  猗  法  者

Tùng thị tật đắc an                         從  是  疾  得  安

 

Nhờ có khả năng tập hợp kiến thức nên có thể giải bày được nghĩa lý của giáo pháp. Giải bày được thì nghĩa lý ấy không bị xuyên tạc, nhờ thế mà những người đang học hỏi giáo pháp với mình mau đạt tới chỗ an lạc.

 

Bài kệ 7

Nhược đa thiểu hữu văn                 若  多  少  有  聞

Tự đại dĩ kiêu nhân                        自  大  以  憍  人

Thị như manh chấp chúc                 是  如  盲  執  燭

Chiếu bỉ bất tự minh                     照  彼  不  自  明

 

Có những kẻ vừa thu lượm được một mớ kiến thức mà đã tự kiêu tự đại. Họ cũng giống như người mù cầm đuốc, đuốc soi cho người khác nhưng chính mình lại không thấy đường.

 

Bài kệ 8

Phu cầu tước vị tài                        夫  求  爵  位  財

Tôn quý thăng thiên phước            尊  貴  升  天  福

Biện tuệ thế gian hãn                     辯  慧  世  間  悍

Tư văn vi đệ nhất                         斯  聞  為  第  一

 

Ở đời, nhờ sức học mà người ta tìm cầu được chức tước, địa vị, sự giàu sang, sự tôn kính của kẻ khác và cả những phúc đức được siêu sinh lên cõi trời. Bởi vì cái học hỏi có khả năng đưa tới trí huệ, biện tài và thế lực trong nhân gian.

 

Bài kệ 9

Đế vương sính lễ văn                     帝  王  聘  禮  聞

Thiên thượng thiên diệc nhiên         天  上  天  亦  然

Văn vi đệ nhất tạng                       聞  為  第  一  藏

Tối phú lữ lực cường                   最  富  旅  力  強

Chính vua chúa cũng kính trọng người học rộng, chư thiên ở cõi trời cũng thế. Kiến thức là kho tàng quý giá bậc nhất. Đó là một kho tàng, một sức mạnh.

 

Bài kệ 10

Trí giả vi văn khuất                         智  者  為  聞  屈

Hảo đạo giả diệc lạc                       好  道  者  亦  樂

Vương giả tận tâm sự                    王  者  盡  心  事

Tuy Thích Phạm diệc nhiên             雖  釋  梵  亦  然

 

Các bậc trí giả cũng kính nể người có học. Kẻ mến đạo cũng ưa thích người có học. Các bậc vương giả cũng hết lòng giúp đỡ kẻ có học. Những bậc Thích tử và Phạm Chí cũng thế.

 

Bài kệ 11

Tiên nhân thường kính văn             仙  人  常  敬  聞

Huống quý cự phú nhân                  況  貴  巨  富  人

Thị dĩ tuệ vi quý                             是  以  慧  為  貴

Khả lễ vô quá thị                            可  禮  無  過  是

 

Cả hai giới thiên và nhân đều kính nể người có học huống là giới cự phú. Do đó ta biết kiến thức là cái quý giá và cung kính người có học không phải là một cái gì quá đáng.

Bài kệ 12

Sự nhật vi minh cố                         事  日  為  明  故

Sự phụ vi ân cố                             事  父  為  恩  故

Sự quân dĩ lực cố                          事  君  以  力  故

Văn cố sự đạo nhân                      聞  故  事  道  人

 

Thờ mặt trời tại vì mặt trời cho ánh sáng, thờ vua vì vua có quyền lực, thờ cha vì cha có ân sinh thành và nuôi dưỡng, quy kính bậc đạo nhân vì bậc đạo nhân có học.

 

Bài kệ 13

Nhân vi mạng sự y                         人  為  命  事  醫

Dục thắng y hào cường                  欲  勝  依  豪  強

Pháp tại trí tuệ xứ                          法  在  智  慧  處

Phước hạnh thế thế minh                 福  行  世  世  明

 

Vì mạng sống mà người ta phải cầu khẩn lương y, vì muốn thắng cho nên người ta phải dựa vào kẻ mạnh, giáo pháp có mặt nơi nào tuệ giác có mặt, nhờ thế mà phước đức đời đời chiếu sáng.

 

Bài kệ 14

Sát hữu tại vi mưu                         察  友  在  為  謀

Biệt bạn tại cấp thời                      別  伴  在  急  時

Quán thê tại phòng lạc                  觀  妻  在  房  樂

Dục tri trí tại thuyết                      欲  知  智  在  說

 

Tìm hiểu bằng hữu bằng cách nhận diện mưu trí của họ, phân biệt được bạn hay thù là nhờ ở những lúc nguy cấp, xem mặt vợ tương lai là ở những lúc đang xảy ra sự vui chơi, biết được ai là kẻ trí là do khi nghe họ nói.

 

Bài kệ 15

Văn vi kim thế lợi                           聞  為  今  世  利

Thê tử côn đệ hữu                         妻  子  昆  弟  友

Diệc trí hậu thế phước                   亦  致  後  世  福

Tích văn thành thánh trí                 積  聞  成  聖  智

 

Học hỏi là có lợi ích cho kiếp sống hiện tại, nhờ đó mà tìm được vợ hiền, có được con khôn, anh em và bè bạn tốt. Học hỏi cũng để lại phước đức cho đời sau. Nhờ học hỏi liên tục mà người ta đạt tới thánh trí.

 

Bài kệ 16

Thị năng tán ưu khuể                    是  能  散  憂  恚

Diệc trừ bất tường suy                   亦  除  不  祥  衰

Dục đắc an ổn cát                          欲  得  安  隱  吉

Đương sự đa văn giả                     當  事  多  聞  者

 

Nếu muốn vượt lo lắng và hoạn nạn, nếu muốn tránh những điều rủi ro, suy nhược, nếu muốn được an lành và may mắn thì phải biết thân cận người có học.

 

Bài kệ 17

Chước sang vô quá ưu                   斫  創  無  過  憂

Xạ tiễn vô quá ngu                         射  箭  無  過  愚

Thị tráng mạc năng bạt                  是  壯  莫  能  拔

Duy tùng đa văn trừ                      唯  從  多  聞  除

 

Không có thương tích nào đau nhức bằng sự lo lắng, không có mũi tên nào cắm sâu bằng cái u mê. Nếu không có sức mạnh của kiến thức học hỏi thì không thể nhổ được những cái ấy ra khỏi cơ thể.

 

Bài kệ 18

Manh tùng thị đắc nhãn                盲  從  是  得  眼

Ám giả tùng đắc chúc                 闇  者  從  得  燭

Diệc đạo thế gian nhân                 亦  導  世  間  人

Như mục tương vô mục               如  目  將  無  目

 

Người mù nhờ cái học mà có con mắt, sự tối ám nhờ cái học mà có ngọn đuốc, cái học giúp cho ta dẫn đường được cho thế gian như người có mắt đưa đường được cho những người không có mắt.

 

Bài kệ 19

Thị cố khả xả si                            是  故  可  捨  癡

Ly mạn hào phú lạc                     離  慢  豪  富  樂

Vụ học sự văn giả                        務  學  事  聞  者

Thị danh tích tụ đức                      是  名  積  聚  德

 

Vì vậy cho nên ta phải quyết tâm buông bỏ cái si ám, cái kiêu mạn và cái thích thú muốn làm giàu, hết lòng học hỏi và thân cận các bậc tri thức. Đây mới thật là công việc tu nhân tích đức.

    Kinh Học Hỏi và Thực Tập

    Tuệ giác là thứ lương dược có thể trị được mọi chất độc (tam độc)*. Nhờ tuệ giác mà bậc trượng phu vượt thoát vòng sinh tử, như con rắn lột được xác cũ của nó.

     

    Giáo học phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị

    教 學 品 法 句 經 第

    Kinh Học Hỏi và Thực Tập

    Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

     

    Kinh thứ 2

    Phẩm này có 29 bài kệ, bài nào cũng đưa ra những nguyên tắc và phương cách thực tiễn để giúp hành giả thực sự được đi tới.

    Bài kệ thứ 9 dạy ta tìm tới những nơi có điều kiện thuận lợi để có cơ hội dũng mãnh đi tới. Các bài thứ 13 và 14 khuyên ta không nên đàn đúm với các giới ngu phu; chưa có bạn hiền thì thà rằng cứ tu học một mình, không lo lắng gì, như một con voi có thể sống vui thú một mình nơi miền hoang dã.

    Bài kệ thứ 26 khuyên ta buông bỏ ái dục để thực sự có tiến bộ trên con đường học hỏi. Hình ảnh rất đẹp: ‘‘Cỏ làm hại lúa. Ham muốn về ái dục gây trở ngại cho sự tu học’’.

    Kinh này dạy ta tu thì phải có học và trì giới. Bài kệ nào cũng là những lời khuyên dạy quý báu. Đúng là những lời vàng.

     

    Bài kệ 1

    Đốt tai hà vi mị                               咄  哉  何  為  寐

    Ông loa bạng đố loại                    螉  螺  蜯  蠧  類

    Ẩn tệ dĩ bất tịnh                           隱  弊  以  不  淨

    Mê hoặc kế vi thân                         迷  惑  計  為  身

     

    Dậy đi, đừng ngủ nữa, đừng làm như các loài ốc, ong và mọt đang chui rúc trong những cái vỏ nhỏ bé của mình, cứ mê muội tưởng rằng những cái vô thường bất tịnh đó là chính tự thân của chúng.

     

    Bài kệ 2

    Yên hữu bị chước sang                  焉  有  被  斫  創

    Tâm như anh tật thống                  心  如  嬰  疾  痛

    Cấu vu chúng ách nạn                   遘  于  眾  厄  難

    Nhi phản vi dụng miên                   而  反  為  用  眠

     

    Như một kẻ đang bị trọng thương, như một em bé đang ốm nặng, ách nạn đang xảy ra nhiều mặt như thế, làm sao còn tiếp tục nằm ngủ được?

     

    Bài kệ 3

    Tư nhi bất phóng dật                     思  而  不  放  逸

    Vi nhân học nhân tích                    為  仁  學  仁  迹

    Tùng thị vô hữu ưu                     從  是  無  有  憂

    Thường niệm tự diệt ý                  常  念  自  滅  意

     

    Phải suy nghĩ lại, phải bỏ thói biếng lười. Mình đã nguyện học theo bậc năng nhân thì phải thật sự đi theo gót bậc năng nhân. Có như thế thì mới chấm dứt được lo âu và mới thường xuyên thực tập được chánh niệm để hướng tới quả vị Niết Bàn.

     

    Bài kệ 4

    Chánh kiến học vụ tăng                  正  見  學  務  增

    Thị vi thế gian minh                        是  為  世  間  明

    Sở sanh phước thiên bội                所  生  福  千  倍

    Chung bất đọa ác đạo                    終  不  墮  惡  道

     

    Thực tập theo chánh kiến thì tuệ giác càng lúc càng tăng, để trở thành ngọn đèn chiếu sáng cho thế gian, ngay trong đời này đã có nhiều phước đức và khi chết sẽ không sa vào các nẻo xấu.

     

    Bài kệ 5

    Mạc học tiểu đạo                             莫  學  小  道

    Dĩ tín tà kiến                                   以  信  邪  見

    Mạc tập phóng đãng                        莫  習  放  蕩

    Lệnh tăng dục ý                              令  增  欲  意

     

    Đừng đi theo những con đường nhỏ, đừng tin tưởng nơi những chủ thuyết sai lạc, đừng tập theo thói phóng đãng, đừng để cho dục ý tăng trưởng.

     

    Bài kệ 6

    Thiện tu pháp hành                         善  修  法  行

    Học tụng mạc phạm                      學  誦  莫  犯

    Hành đạo vô ưu                             行  道  無  憂

    Thế thế thường an                         世  世  常  安

     

    Tu tập cho khéo léo, hành trì cho đúng với chánh pháp, học hỏi và trì tụng cho chuyên cần, không phạm vào các giới pháp đã tiếp nhận, cứ một đường đạo hạnh mà đi, không cần phải lo lắng gì thì sẽ được an vui đời đời.

     

    Bài kệ 7

    Mẫn học nhiếp thân                       敏  學  攝  身

    Thường thận tư ngôn                    常  慎  思  言

    Thị đáo bất tử                              是  到  不  死

    Hành diệt đắc an                         行  滅  得  安

     

    Cần mẫn trong việc tu học, nhiếp phục được bản thân, cẩn thận trong lúc suy nghĩ và nói năng thì sẽ đạt tới cõi Niết Bàn an vui không còn sinh tử.

     

    Bài kệ 8

    Phi vụ vật học                               非  務  勿  學

    Thị vụ nghi hành                            是  務  宜  行

    Dĩ tri khả niệm                              已  知  可  念

    Tắc lậu đắc diệt                            則  漏  得  滅

     

    Đừng học theo những gì trái với chánh pháp, chỉ hành trì đúng với chánh pháp. Đã biết cách tu tập chánh niệm thì sẽ đạt được tịch tĩnh vô lậu.

     

    Bài kệ 9

    Kiến pháp lợi thân                         見  法  利  身

    Phu đáo thiện phương                   夫  到  善  方

    Tri lợi kiện hành                             知  利  健  行

    Thị vị hiền minh                             是  謂  賢  明

     

    Thấy được chánh pháp, muốn làm lợi ích cho bản thân thì hãy tìm đến được những nơi có điều kiện thuận lợi để dũng mãnh đi tới, đó là cách hành xử của các bậc hiền minh.

     

    Bài kệ 10

    Khởi giác nghĩa giả                       起  覺  義  者

    Học diệt dĩ cố                                學  滅  以  固

    Khán diệt tự tứ                              着  滅  自  恣

    Tổn nhi bất hưng                            損  而  不  興

     

    Kẻ nào làm phát khởi được giáo nghĩa về đạo lý giác ngộ thì trên con đường tu tập thực chứng Niết Bàn sẽ bước được những bước vững chãi. Kẻ nào bị kẹt vào ý niệm diệt độ, tự mình phóng túng, sẽ thấy sự hành trì của mình bị thụt lùi và không khá lên được.

     

    Bài kệ 11

    Thị hướng dĩ cường                     是  向  以  強

    Thị học đắc trung                         是  學  得  中

    Tùng thị giải nghĩa                      從  是  解  義

    Nghi ức niệm hành                        宜  憶  念  行

    Hướng đi đã chính xác vững mạnh, cái học hỏi và cái thực tập lại giúp mình đi được vào con đường trung đạo, thì kẻ hành giả liễu giải được giáo nghĩa và có khả năng ghi nhớ và thực hành.

     

    Bài kệ 12

    Học tiên đoạn mẫu                      學  先  斷  母

    Suất quân nhị thần                      率  君  二  臣

    Phế chư doanh tùng                     廢  諸  營  從

    Thị thượng đạo nhân                    是  上  道  人

     

    Thực tập vượt thắng được dục (mẹ) và mạn (cha), cùng các tà kiến thường và đoạn (hai vị đại thần của vua), phá hủy tan tành các doanh trại của những thế lực ấy, đó mới là vị đạo nhân thượng sĩ.

     

    Bài kệ 13

    Học vô bằng loại                           學  無  朋  類

    Bất đắc thiện hữu                         不  得  善  友

    Ninh độc thủ thiện                         寧  獨  守  善

    Bất dữ ngu giai                           不  與  愚  偕

     

    Tu tập mà không có bạn tốt, không có thiện tri thức thì thà rằng tu một mình chứ không nên đàn đúm với những giới ngu phu.

     

    Bài kệ 14

    Lạc giới học hành                           樂  戒  學  行

    Hề dụng bạn vi                               奚  用  伴  為

    Độc thiện vô ưu                             獨  善  無  憂

    Như không dã tượng                      如  空  野  象

     

    Thích học hỏi và hành trì giới luật, thì dù chưa có bạn hiền, nhưng cũng có sự vui thú một mình, không lo lắng gì, như con voi sống một mình nơi miền hoang dã.

     

    Bài kệ 15

    Giới văn câu thiện                          戒  聞  俱  善

    Nhị giả thục hiền                            二  者  孰  賢

    Phương giới xưng văn                   方  戒  稱  聞

    Nghi đế học hành                           宜  諦  學  行

     

    Giữ cho hai mặt giới luật và học vấn đều được tốt đẹp, đó mới gọi là người hiền giả thuần thục. Giới hạnh phải đi đôi với học vấn, ta phải tuân thủ vào bốn sự thật để học hỏi và thực tập.

     

    Bài kệ 16

    Học tiên hộ giới                             學  先  護  戒

    Khai bế tất cố                                開  閉  必  固

    Thí nhi vô thọ                                 施  而  無  受

    Lực hành vật ngọa                         力 行  勿  臥

     

    Cái thiết yếu ban đầu của sự tu học là hộ trì giới luật. Phải nắm vững nguyên tắc khai và giá, cho nhiều hơn nhận, nỗ lực tu tập, đừng ngủ quá nhiều.

     

    Bài kệ 17

    Nhược nhân thọ bách tuế             若  人  壽  百  歲

    Tà học chí bất thiện                    邪  學  志  不  善

    Bất như sanh nhất nhật                不  如  生  一  日

    Tinh tấn thọ chánh pháp                精  進  受  正  法

     

    Dù có sống lâu trăm tuổi mà đi theo những chủ thuyết sai lạc và tâm chí không lành thì cũng không bằng sống một ngày mà tinh tấn tu theo chánh pháp.

     

    Bài kệ 18

    Nhược nhân thọ bách tuế              若  人  壽  百  歲

    Phụng hỏa tu dị thuật                    奉  火  修  異  術

    Bất như tu du khoảnh                    不  如  須  臾  頃

    Sự giới giả phước xưng                 事  戒  者  福  稱

     

    Dù có sống lâu trăm tuổi để thờ thần lửa và thực tập mê tín thì cũng không bằng chỉ sống trong khoảnh khắc mà nghiêm trì giới luật để có phước đức thù thắng.

     

    Bài kệ 19

    Năng hành thuyết chi khả             能  行  說  之  可

    Bất năng vật không ngữ               不  能  勿  空  語

    Hư ngụy vô thành tín                    虛  偽  無  誠  信

    Trí giả sở bình khí                       智  者  所  屏  棄

     

    Cái mình làm được thì mình mới đem dạy người ta, cái mình không làm được thì không nên đem dạy người khác. Người có trí tuệ thường không chấp nhận được những kẻ giả dối không thành tín.

     

    Bài kệ 20

    Học đương tiên cầu giải               學  當  先  求  解

    Quan sát biệt thị phi                     觀  察  別  是  非

    Thọ đế ưng hối bỉ                         受  諦  應  誨  彼

    Tuệ nhiên bất phục hoặc               慧  然  不  復  惑

     

    Học hỏi trước hết là tìm hiểu, nhờ khả năng quán sát mà phân biệt được cái này đúng và cái kia sai. Có tuệ giác rồi mới dạy được người khác. Một khi đã có tuệ giác rồi thì không còn bị ai mê hoặc nữa.

     

    Bài kệ 21

    Bị phát học tà đạo                          被  髮  學  邪  道

    Thảo y nội tham trọc                      草  衣  內  貪  濁

    Mông mông bất thức chân              曚  曚  不  識  真

    Như lung thính ngũ âm                    如  聾  聽  五  音

     

    Búi tóc nhưng thực tập theo tà đạo, mặc áo cỏ mà tâm còn đục ngầu, tham dục thì vẫn còn là kẻ mê mờ chẳng thông được sự thật, chẳng khác gì người điếc nghe đàn ngũ âm.

     

    Bài kệ 22

    Học năng xả tam ác                       學  能  捨  三  惡

    Dĩ dược tiêu chúng độc                 以  藥  消  眾  毒

    Kiện phu độ sanh tử                      健  夫  度  生  死

    Như xà thoát cố bì                        如  蛇  脫  故  皮

     

    Tuệ giác có công năng giúp ta buông bỏ được tham dục, sân hận và u mê. Đó là thứ lương dược có thể trị được mọi chất độc (tam độc). Nhờ tuệ giác mà bậc trượng phu vượt khỏi vòng sinh tử, như con rắn lột được xác cũ của nó.

     

    Bài kệ 23

    Học nhi đa văn                              學  而  多  聞

    Trì giới bất thất                             持  戒  不  失

    Lưỡng thế kiến dự                       兩  世  見  譽

    Sở nguyện giả đắc                        所  願  者  得

     

    Tu mà có học hỏi và trì giới thì trong đời này và đời sau sẽ được khen ngợi và cuối cùng sẽ đạt được sở nguyện.

     

    Bài kệ 24

    Học nhi quả văn                             學  而  寡  聞

    Trì giới bất hoàn                            持  戒  不  完

    Lưỡng thế thọ thống                      兩  世  受  痛

    Tang kỳ bổn nguyện                       喪  其  本  願

     

    Tu mà ít học, trì giới cũng không nghiêm chỉnh thì trong đời này cũng như trong đời sau sẽ gánh chịu khổ đau và đánh mất bản nguyện của mình.

     

    Bài kệ 25

    Phu học hữu nhị                           夫  學  有  二

    Thường thân đa văn                      常  親  多  聞

    An đế giải nghĩa                             安  諦  解  義

    Tuy khốn bất tà                              雖  困  不  邪

     

    Người tu nên nương tựa vào một người thứ hai. Phải biết thường xuyên gần gũi với những người có học thức khá. Phải biết căn cứ vào tứ diệu đế để tìm cách hiểu được những gì mình đang học. Dù cho còn gặp khó khăn nhưng ít nhất mình biết là mình đang đi trên đường chánh.

     

    Bài kệ 26

    Đề bại hại hòa                               稊  稗  害  禾

    Đa dục phương học                       多  欲  妨  學

    Vân trừ chúng ác                           耘  除  眾  惡

    Thành thu tất đa                            成  收  必  多

     

    Cỏ lúa làm hại lúa. Ham muốn và ái dục gây trở ngại cho sự tu học. Diệt cỏ, trừ cho sạch các tật xấu, thì hoa trái tu học sẽ thu hoạch được rất nhiều.

     

    Bài kệ 27

    Lự nhi hậu ngôn                             慮  而  後  言

    Từ bất cường lương                       辭  不  強  梁

    Pháp thuyết nghĩa thuyết              法  說  義  說

    Ngôn nhi mạc vi                             言  而  莫  違

     

    Phải suy nghĩ cho chín chắn trước khi mở lời, không nên nói lời thô bạo, khi nói pháp phải giảng giải cho tường tận, cứ diễn bày giáo nghĩa mà không cần chỉ trích ai.

     

    Bài kệ 28

    Thiện học vô phạm                         善  學  無  犯

    Úy pháp hiểu kị                              畏  法  曉  忌

    Kiến vi tri giả                                  見  微  知  者

    Giới vô hậu hoạn                            誡  無  後  患

     

    Tu học cho thành công, không phạm giới luật, biết sợ những điều sai lầm, biết tránh những điều cấm kỵ, dù là những điều nhỏ nhặt cũng ý thức được, giữ gìn như thế thì sau này sẽ không gặp tai nạn.

     

    Bài kệ 29

    Viễn xả tội phước                      遠  捨  罪  福

    Vụ thành phạm hạnh                    務  成  梵  行

    Chung thân tự nhiếp                   終  身  自  攝

    Thị danh thiện học                       是  名  善  學

     

    Vượt được ý niệm tội phúc, thành tựu được nếp sống phạm hạnh, suốt đời làm chủ được bản thân, đó gọi là người học tập thành công.

    Kinh Quán Chiếu Vô Thường

    Ngày nay đã qua
    Đời sống ngắn lại
    Hãy nhìn cho kỹ
    Ta đã làm gì?
    Đại chúng hãy cùng tinh tấn
    Thực tập hết hòng
    Sống cho sâu sắc và thảnh thơi
    Hãy nhớ vô thường
    Đừng để tháng ngày trôi qua oan uổng.

     

    Vô thường phẩm  Pháp Cú kinh đệ nhất

    無 常 品 法 句 經 第 一

    Kinh Quán Chiếu Vô Thường

    Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

    Kinh thứ 1

    Vô thường là một phép quán, giúp cho ta thấy được tính cách biến đổi thành hoại mau chóng của hình hài cũng như của mọi vật, trong đó có cả tâm ý. Quán vô thường giúp ta trân quý những gì đang có mặt và sống được sâu sắc mỗi giây phút của sự sống hằng ngày. Quán vô thường ta sẽ buông bỏ được những gì phù hoa, không thật, không đem lại bình an thật sự cho ta sau này. Vô thường cũng là một phép thiền định. Cái thấy vô thường đưa tới cái thấy vô ngã và tháo gỡ được cho ta tất cả các phiền não như tham, giận, kiêu căng…

    Tôi rất thích bài kệ đầu: Ý thức là mình vừa mới ngủ dậy thì nên mở tâm vui mừng. Ngày xưa tôi đã viết bài hát “Thức dậy hôm nay tôi thấy trời xanh, chắp tay tôi cám ơn đời mầu nhiệm…”. Tôi cũng đã viết bài kệ:

    “Thức dậy mỉm miệng cười
    Hăm bốn giờ tinh khôi
    Xin nguyện sống trọn vẹn
    Mắt thương nhìn cuộc đời”.

    Bài kệ thứ hai tóm thu được toàn bộ giáo lý đạo Bụt: đó là bài kệ nổi tiếng:

    “Chư hạnh vô thường
    Thị sinh diệt pháp
    Sinh diệt diệt dĩ
    Tịch diệt vi lạc”

    Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, có sinh rồi thì phải có diệt. Nếu vượt được ý niệm sinh diệt thì tiếp xúc được với cái vui của Niết Bàn. Hai câu đầu nói về thế giới hiện tượng hữu vi, hai câu sau nói về thế giới bản thể vô vi. Niết Bàn và Sinh Diệt không phải là hai thực tại tách rời nhau.

    Bài kệ thứ 13 đã được đưa vào Thiền Môn Nhật Tụng để xướng trong buổi công phu chiều: “Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc…”. Tại Làng Mai bài kệ vô thường đã được dựng lại như sau:

    Ngày nay đã qua
    Đời sống ngắn lại
    Hãy nhìn cho kỹ
    Ta đã làm gì?
    Đại chúng hãy cùng tinh tấn thực tập hết lòng
    Sống cho sâu sắc và thảnh thơi
    Hãy nhớ vô thường
    Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.”

     

    Bài kệ 1

    Thụy miên giải ngụ                        睡  眠  解  寤
    Nghi hoan hỉ tư                             宜  歡  喜  思
    Thính ngã sở thuyết                     聽  我  所  說
    Soạn kí Phật ngôn                       撰  記  佛  言

    Ý thức là mình vừa ngủ dậy thì nên mở tâm vui mừng. Hãy lắng nghe những lời sau đây ghi chép lại giáo lý của Bụt.

     

    Bài kệ 2
    Sở hạnh phi thường                        所  行  非  常
    Vị hưng suy Pháp                           謂  興  衰  法
    Phu sanh triếp tử                           夫  生  輙  死
    Thử diệt vi lạc                                此  滅  為  樂

    Tất cả các hành đều vô thường, tất cả đều là những cái đã được hình thành và đều sẽ phải suy yếu. Hễ có sinh là phải có diệt. Vượt thoát được cái sinh cái diệt ấy là hạnh phúc lớn.

     

    Bài kệ 3
    Thí như đào gia                            譬  如  陶  家
    Duyên thực tác khí                       埏  埴  作  器
    Nhất thiết yếu hoại                        一  切  要  壞
    Nhân mạng diệc nhiên                   人  命  亦  然

    Như người thợ gốm sử dụng khuôn và đất sét để nặn ra các vật dụng, tất cả những gì được tạo tác ra cuối cùng cũng đều phải bị hư hoại. Mạng sống con người cũng thế.

     

    Bài kệ 4
    Như hà sử lưu                               如  河  駛  流
    Vãng nhi bất phản                          往  而  不  返
    Nhân mạng như thị                         人  命  如  是
    Thệ giả bất hoàn                            逝  者  不  還

    Như con sông chảy xiết, đi mà không trở lại, mạng sống con người cũng như thế, một khi đi qua thì không trở về, già đi thì không trẻ trở lại.

    Bài kệ 5
    Thí nhân thao trượng                     譬  人  操  杖
    Hành mục thực ngưu                      行  牧  食  牛
    Lão tử do nhiên                             老  死  猶  然
    Diệc dưỡng mạng khứ                    亦  養  命  去

    Như kẻ mục đồng cầm gậy lùa bò đi ăn cỏ, cái già và cái chết cũng lùa mạng sống của chúng ta đi về nẻo chết.

     

    Bài kệ 6
    Thiên bách phi nhất                       千  百  非  一
    Tộc tính nam nữ                             族  姓  男  女
    Trữ tụ tài sản                                貯  聚  財  產
    Vô bất suy tang                              無  不  衰  喪

    Bất cứ ai, bất cứ là nam hay là nữ, bất cứ thuộc dòng họ nào, trăm ngàn như một, dù có chất chứa tài sản nhiều cách mấy cũng không ai thoát khỏi sự suy tàn.

     

    Bài kệ 7
    Sanh giả nhật dạ                            生  者  日  夜
    Mạng tự công tước                        命  自  攻  削
    Thọ chi tiêu tận                              壽  之  消  盡
    Như huỳnh xuyên thủy                     如  熒  穿  水

    Mỗi ngày mỗi đêm, sinh mạng tự giảm xuống, tuổi thọ cứ tiêu hao dần dần cho đến hết, như nước cạn trong hồ.

    Bài kệ 8
    Thường giả giai tận                         常  者  皆  盡
    Cao giả diệc đọa                            高  者  亦  墮
    Hợp hội hữu  ly                              合  會  有  離
    Sanh giả hữu tử                             生  者  有  死
    Cái còn dù có dài lâu cách mấy cuối cùng cũng phải trở thành cái hết, cái cao trở thành cái thấp, cái phối hợp đi tới cái ly tan, cái sinh đưa tới cái tử.

     

    Bài kệ 9
    Chúng sanh tướng khắc                 眾  生  相  剋
    Dĩ tang kỳ mạng                            以  喪  其  命
    Tùy hành sở đọa                            隨  行  所  墮
    Tự thọ ương phước                       自  受  殃  福

    Các loài chúng sanh thường xung đột với nhau, do đó mà mạng sống bị tan vỡ, tùy theo hành động của mình mà bị sa đọa hoặc nhận chịu tai ương hoặc thừa hưởng phúc báo.

     

    Bài kệ 10
    Lão kiến khổ thống                         老  見  苦  痛
    Tử tức ý khứ                                  死  則  意  去
    Lạc gia phược ngục                       樂  家  縛  獄
    Tham thế bất đoạn                         貪  世  不  斷

    Tuổi già phải gánh chịu đau nhức, khi chết, trước khi tâm thức lìa bỏ thân xác thì lại bị sự tham tiếc gia đình ràng buộc như nơi chốn tù ngục, như vậy thì không thể chấm dứt được luân hồi trong thế gian.

     

    Bài kệ 11
    Đốt ta lão chí                                 咄  嗟  老  至
    Sắc biến tác mạo                           色  變  作  耄
    Thiểu thời như ý                             少  時  如  意
    Lão kiến đạo tạ                              老  見  蹈  藉

    Thương biết bao nhiêu! Khi tuổi già đến, nhan sắc biến đổi, suy tàn, ít có điều như ý, tuổi già chỉ thấy dẫm chân tại chỗ.

     

    Bài kệ 12
    Tuy thọ bách tuế                             雖  壽  百  歲
    Diệc tử quá khứ                             亦  死  過  去
    Vi lão sở yếm                                為  老  所  厭
    Bệnh điều chí tế                             病  條  至  際

    Dù có sống tới một trăm tuổi rồi cũng phải chết, tuổi già hay trở nên ngán ngẩm, bệnh tật liên miên cho đến hết đời.

     

    Bài kệ 13
    Thị nhật dĩ quá                              是  日  已  過
    Mạng tức tùy giảm                        命  則  隨  減
    Như thiểu thủy ngư                        如  少  水  魚
    Tư hữu hà lạc                               斯  有  何  樂

    Ngày hôm nay đã qua, mạng sống theo đó mà rút ngắn lại, tình trạng giống tình trạng con cá thiếu nước, còn có cái vui gì?
     

    Bài kệ 14
    Lão tắc sắc suy                               老  則  色  衰
    Sở bệnh tự hoại                               所  病  自  壞
    Hình bại hủ hủ                                  形  敗  腐  朽
    Mạng chung tự nhiên                        命  終  自  然

    Tuổi già thì nhan sắc tàn phai, bệnh tật hủy hoại cơ thể, hình hài suy yếu hư nát, tất nhiên phải chết.

     

    Bài kệ 15
    Thị thân hà dụng                           是  身  何  用
    Hằng lậu xú xứ                             恒  漏  臭  處
    Vi bệnh sở khốn                           為  病  所  困
    Hữu lão tử hoạn                           有  老  死  患

    Thân này cần được sử dụng như thế nào? Từ đó chảy ra những chất bất tịnh, bị bệnh tật đưa vào tình trạng khốn đốn. Cái nạn già và chết luôn luôn có đó.

    Bài kệ 16
    Thị dục tự tứ                                  嗜  欲  自  恣
    Phi pháp thị tăng                            非  法  是  增
    Bất kiến văn biến                           不  見  聞  變
    Thọ mạng vô thường                      壽  命  無  常

    Cứ mặc ý phóng túng trong vòng tham dục thì những điều trái với đạo lý càng ngày càng dồn chứa thêm. Chưa từng thấy cái nghe về sự vô thường biến thiên của vạn pháp cho nên người ta không biết là thọ mạng cũng vô thường.

     

    Bài kệ 17
    Phi hữu tử thị                                非  有  子  恃
    Diệc phi phụ huynh                       亦  非  父  兄
    Vi tử sở bách                                為  死  所  迫
    Vô thân khả hỗ                              無  親  可  怙

    Dù có con cháu, dù có cha anh ở đấy đi nữa thì khi thần chết đến mời, không người thân nào có thể nương tựa giúp giữ mình ở lại.
     

    Bài kệ 18
    Trú dạ mạn nọa                            晝  夜  慢  惰
    Lão bất chỉ dâm                             老  不  止  婬
    Hữu tài bất thí                               有  財  不  施
    Bất thọ Phật ngôn                          不  受  佛  言
    Hữu thử tứ tệ                               有  此  四  弊
    Vi tự xâm khi                                 為  自  侵  欺

    Đêm ngày kiêu mạn, lười biếng, cho đến già rồi vẫn còn giữ thói dâm dật, có của mà không chịu chia sẻ cho kẻ thiếu thốn, chẳng biết vâng làm theo lời Bụt dạy, chính những cái thói xấu ác này sẽ làm hại chính mình.

     

    Bài kệ 19
    Phi không phi hải trung                非  空  非  海  中
    Phi nhập sơn thạch gian              非  入  山  石  間
    Vô hữu địa phương sở                無  有  地  方  所
    Thoát chi bất thọ tử                     脫  之  不  受  死

    Dù có đi trốn tới một địa phương nào đi nữa, trên không trung, dưới đáy biển hay trong hốc núi cũng không thể nào thoát được cái chết.
     

    Bài kệ 20
    Thị vụ thị ngô tác                          是  務  是  吾  作
    Đương tác lệnh trí thị                   當  作  令  致  是
    Nhân vi thử táo nhiễu                   人  為  此  燥  擾
    Lý tiễn lão tử ưu                         履  踐  老  死  憂

    Sự việc xảy ra như đã xảy ra trong hiện tại, là do tự ta gây ra, sự việc sẽ xảy ra trong tương lai cũng thế, là do tự ta cả. Con người lâm vào tình trạng nhiễu loạn thảm thương như thế cho nên cứ phải mãi mãi đi tới với nỗi lo âu về cái già và cái chết.

     

    Bài kệ 21
    Tri thử năng tự tịnh                       知  此  能  自  淨
    Như thị kiến sanh tận                    如  是  見  生  盡
    Tỳ-kheo yếm ma binh                    比  丘  厭  魔  兵
    Tùng sanh tử đắc độ                     從  生  死  得  度

    Biết được như thế ta phải cương quyết tự thanh tịnh hóa thân tâm và làm khô cạn chất liệu luân hồi. Vị khất sĩ làm được như vậy mới mong thoát được vòng vây của binh đội ma vương và vượt thoát được lưới sinh tử.

    Bài tựa Kinh Pháp Cú

    Trong tạng kinh chữ Hán

    Người viết: Cư sĩ Chi Khiêm (thế  kỷ thứ III)
    Người dịch: Thích Nhất Hạnh

    Dhammapada là giáo nghĩa thiết yếu của các kinh. Dhamma là pháp, Pada là câu, là cú, là kệ. Pháp Cú có nhiều bộ khác nhau: có bộ có 900 câu kệ, có bộ 700 câu, và có bộ 500 câu. Kệ là những lời ngắn gọn, như bài thơ, bài tụng. Những câu ấy do Bụt nói ra, không phải một lần tất cả các câu, mà chỉ khi nào xúc sự thì mới nói lên một câu. Tất cả các câu ấy đều có gốc gác rải rác trong các kinh.

    Bụt là bậc có Nhất Thiết Trí, bản chất của Người là đại nhân từ, vì thương xót nhân gian cho nên mới xuất hiện trên cuộc đời này để mở bày đạo nghĩa, giải cứu cho con người. Mười hai thể tài kinh điển nói lên được một cách tổng quát những gì thiết yếu nhất của đạo nghĩa ấy để được phân thành một số kinh bộ. Bốn bộ kinh A Hàm được lưu truyền lại sau khi Bụt qua đời là do công phu của thầy A Nan tụng đọc lại. Các kinh dù lớn hay nhỏ đều bắt đầu bằng câu “Đây là những gì tôi đã được nghe khi Bụt đang cư trú ở miền…v.v.” Về sau các vị sa môn trong năm bộ phái Phật giáo đã nghiên cứu thông suốt về giáo nghĩa trong các bộ kinh ấy, sưu tầm và chép ra thành những bài kệ bốn câu hoặc sáu câu, xét theo ý nghĩa mà xếp riêng thành từng phẩm. Đối với mười hai thể tài giáo lý, không cần phải châm chước, không cần phải gọi bằng một cái tên riêng, cho nên mới gọi là Pháp Cú. Các kinh điển đều là do sự tập hợp của các câu nói về chánh pháp mà có. Pháp Cú cũng là sự tập hợp của các câu nói về chánh pháp.

    Cận đại có nhà họ Cát lưu truyền một bộ kinh Pháp Cú có 700 bài kệ. Nghĩa lý của các bài kệ rất sâu, những người dịch chưa thật sự lột được hết nghĩa lý ấy. Được gặp Bụt đó là một việc hiếm có, được nghe lời dạy của Bụt cũng là một chuyện hiếm có. Với lại các vị Bụt lại hay xuất hiện ở miền Tây Trúc. Mà ngôn ngữ Tây Trúc rất khác với văn Hán. Sách là sách Ấn Độ, chữ cũng là chữ Ấn Độ, tên người và tiếng gọi sự vật không giống nhau, cho nên phổ biến được kinh điển là chuyện khó.

    Ngày xưa có các thầy An Thế Cao và Phật Điều đã từng dịch kinh tiếng Phạn ra tiếng Tần, lột được ý, bây giờ ít ai nối tiếp được công việc ấy. Những người dịch kinh sau đó tuy không làm được cẩn mật như thế nhưng ít nhất cũng đã truyền đạt được phần đại ý, tuy còn thô thiển nhưng cũng đã là quý hóa lắm rồi. Trước hết là thầy Duy Kỳ Nan, từ Ấn Độ tới Vũ Xương vào năm thứ ba của niên hiệu Hoàng Vũ. Chính tôi đã được thầy ấy trao cho bản Pháp Cú có 500 bài kệ. Tôi mới mời vị đồng đạo của thầy ấy là ông Trúc Tương Diễm dịch ra chữ Hán. Ông Diễm tuy giỏi tiếng Phạn nhưng vốn liếng chữ Hán vẫn chưa đủ. Những lời dịch của ông ta còn mang rất nhiều tiếng phiên âm và ngữ pháp phạn ngữ, còn có vẻ chất phác quá. Khi nghe Chi Khiêm tôi nói rằng lời dịch còn chưa được thuần nhã, thì thầy Duy Kỳ Nan nói rằng Bụt chỉ cần nương vào nghĩa chứ không cần để ý tới tô điểm văn hoa. Chỉ cần chủ yếu lấy được cái pháp thôi chứ không cần đẹp. Những người truyền dịch kinh điển chỉ cần làm cho lời kinh dễ hiểu, đừng làm cho thất thoát cái nghĩa chính, đó là tốt rồi. Ngồi trong ban phiên dịch, có người nói: Ngày xưa Lão Tử đã từng nói, “Lời nói hay thì khó tin, lời nói tin thì khó hay.” Đức Khổng Tử cũng từng nói, “Sách không thể nói hết lời, lời không thể nói hết ý.” Những lời nói như thế cho ta thấy rõ rằng ý của các bậc thánh nhân rất sâu sắc vô cùng. Bây giờ dịch từ tiếng Phạn ra thì phải thật sự lột được ý kinh. Cho nên người dịch phải tự xem bài kệ bằng tiếng Phạn và đọc lên tiếng Hán bằng chính miệng của mình. Do đó phải cố gắng nói ra cho được cái ý chỉ trong bản gốc mà không cần phải thêm thắt văn hoa. Những chỗ nào người dịch không hiểu thì thà rằng đừng dịch. Cũng vì lẽ đó mà trong công việc dịch thuật thế nào cũng đã có những thất thoát, và có nhiều cái bị bỏ lại.

    Tuy nhiên, dù lời còn chất phác nhưng ý chỉ rất thâm uyên, câu văn còn giản ước nhưng nghĩa lý rộng sâu và các sự việc nhắc tới đều có liên hệ mật thiết với các kinh. Chương nào cũng có gốc rễ của chương ấy và bài kệ nào cũng có nghĩa lý của bài kệ ấy.

    Bên Ấn Độ, những người mới tu mà không chịu học kinh Pháp Cú là những người được gọi là ưa học nhảy lớp, không theo trình tự. Kinh Pháp Cú là đối tượng nghiên cứu quan trọng của người mới học mà cũng là kho tàng uyên áo cho những người đã đi sâu vào Phật học. Kinh này có khả năng chỉ bày cho những kẻ mê mờ, làm sáng tỏ cho những người còn nhiều nghi hoặc và giúp cho người ta tự học được một mình. Nhờ kinh này mà kẻ học giả tuy công phu bỏ ra còn ít nhưng kết quả thu hoạch được thì rất lớn. Cho nên ta có thể nói rằng kinh này là cốt tủy của giáo pháp vi diệu.

    Lúc trước, khi tiếp nhận kinh này tôi thấy có nhiều chỗ tôi không hiểu được. Khi thầy Tăng Hội đem ông Diễm tới tôi lại có cơ hội chất vấn thêm. Nhân cơ hội ấy tôi lại nhận được thêm (từ các vị ấy) một số các bài kệ nữa, cho nên góp được thêm mười ba phẩm mới vào. Tham cứu các văn bản xưa và làm công việc hiệu đính thì kết quả là sau khi thêm mười ba phẩm mới vào, kinh này có được tất cả 39 phẩm và 752 bài kệ. Điều này đã đem lại nhiều bổ ích và giúp cho sự học vấn của chúng ta rộng rãi thêm nhiều.