Kinh Chanda (Chiên Đà)


Đây là những điều tôi đã được nghe :

Hồi ấy, có những vị thượng tọa khất sĩ cùng cư trú tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana thành Vārānasi. Đức Thế tôn vừa mới nhập diệt không lâu.

Lúc bấy giờ khất sĩ Chanda (Chiên Đà), vào buổi sáng khoác y, mang bát đi vào thành phố Vārānasī để khất thực.

Khất thực và thọ trai xong, thầy Chanda cất y bát, rửa chân, cầm theo chiếc chìa khoá cửa, đi từ cụm rừng này đến cụm rừng kia, từ tịnh thất này đến tịnh thất kia, từ con  đường thiền hành này tới con đường thiền hành khác. Đến đâu khất sĩ Chanda cũng thưa với các vị thượng tọa  khất sĩ :

– Xin quý thượng tọa dạy cho con, thuyết pháp cho con, để con có thể hiểu được Pháp, thấy được Pháp và như thế có thể thật sự hiểu được Pháp và quán chiếu Pháp đúng pháp.

Lúc bấy giờ các vị thượng tọa khất sĩ nói với thầy Chanda :

– Sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng là vô thường. Tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự yên ổn lắng dịu.

Thầy Chanda bạch với các vị thượng tọa khất sĩ :

– Con cũng đã biết sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng vô thường. Con biết tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự an ổn lắng dịu. Nhưng con không vui khi nghe nói rằng tất cả các hành đều không, không thể nắm bắt được, và chỉ khi nào ái dục chấm dứt thì mới có niết bàn.

« Nếu như thế thì có một cái ngã (một cái chủ thể) nào có thể biết [sự thật] một cách chân thực, có thể thấy [sự thật] một cách chân thực để ta có thể nói rằng “thấy được Pháp”? »

Thầy Chanda lặp lại câu ấy hai rồi ba lần. Rồi thầy tự hỏi : « Ai trong số các vị thượng tọa này có dạy cho mình để mình có thể hiểu được Pháp và thấy được Pháp? »

Thế rồi thầy Chanda lại nghĩ : « Tôn giả Ānanda hiện đang cư trú tại vườn Ghosita trong vùng Kosambi. Tôn giả là người đã từng được gần gũi và làm thị giả cho đức Thế tôn, đã từng được Bụt khen ngợi và được tất cả các bậc tu phạm hạnh biết đến. Tôn giả ấy chắc chắn sẽ có khả năng thuyết pháp cho ta, để ta có thể biết được Pháp và thấy được Pháp. »

Thầy Chanda nghỉ ngơi qua đêm. Sáng hôm sau, khoác y và mang bát, thầy đi vào thành phố Vārānasī để khất thực.

Khất thực và thọ trai xong thầy xếp dẹp chiếc giường nằm của thầy lại. Xếp dẹp xong, thầy khoác y cầm bát lên đường đi về Kosambi. Đi nhiều chặng, thầy tới nơi. Rồi thầy đặt y bát xuống, đi rửa chân và đi tới chỗ tôn giả Ānanda cư trú. Sau khi chào hỏi tôn giả, thầy ngồi xuống một bên tôn giả.

Lúc bấy giờ, thầy Chanda hỏi tôn giả Ānanda :

– Thưa tôn giả, hồi ấy nhiều vị thượng tọa khất sĩ đang cư trú tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana thuộc thành phố Vārānasī. Buổi sáng ấy con mang y cầm bát đi vào thành Vārānasī để khất thực. Khất thực và thọ thực xong, con cất y bát, rửa chân, cầm theo chiếc chìa khóa, đi từ cụm rừng này đến cụm rừng kia, từ tịnh thất này đến tịnh thất kia, từ con  đường thiền hành này tới con đường thiền hành khác. Đến đâu gặp các vị thượng tọa khất sĩ, con cũng đều xin quý vị dạy dỗ trao truyền cho con, thuyết pháp cho con, để con có thể biết Pháp và thấy Pháp.

« Lúc bấy giờ các vị thượng tọa khất sĩ thuyết pháp cho con, dạy con rằng :

– Sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự yên ổn lắng dịu.

« Khi ấy con có thưa với các vị thượng tọa khất sĩ :

– Con đã biết sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức cũng vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã, và niết bàn là sự an ổn lắng dịu. Nhưng con không được vui khi nghe nói rằng tất cả các hành đều rỗng không, không thể nắm bắt được, và chỉ khi nào ái dục chấm dứt thì mới có niết bàn.

« Nếu như thế thì trong đó có một cái ngã (chủ thể) nào có thể biết được [sự thật] một cách chân thực, thấy được [sự thật] một cách chân thực, để ta có thể nói rằng “thấy được Pháp”?

« Lúc ấy con mới tự hỏi rằng trong số các vị khất sĩ thượng tọa, ai là người có khả năng vì ta mà thuyết pháp khiến cho ta biết được Pháp và thấy được Pháp?

« Rồi con nghĩ : “ Tôn giả Ānanda hiện giờ đang ở tại vườn Ghosita trong vùng Kosambi. Tôn giả là người đã từng được gần gũi và làm thị giả cho đức Thế tôn, đã từng được Bụt khen ngợi và đã được tất cả các bậc tu phạm hạnh biết đến. Tôn giả ấy chắc chắn sẽ có khả năng thuyết pháp cho ta, để ta có thể biết được Pháp và thấy được Pháp.”

« Lành thay, tôn giả Ānanda! Xin tôn giả bây giờ đây thuyết pháp cho con, khiến cho con biết được Pháp và thấy được Pháp. »

Lúc bấy giờ tôn giả Ānanda nói với thầy Chanda :

– Hay thay, Chanda! Tôi rất vui. Tôi mừng cho thầy vì thầy có khả năng đứng trước người tu phạm hạnh mà không che dấu [những gì trong tâm mình] để mong phá trừ những gai gốc hư ngụy [trong tâm mình].

« Thầy Chanda! Những kẻ phàm phu si mê không có khả năng hiểu được sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, không biết rằng tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngã và niết bàn là sự an ổn lắng dịu. Giờ này đây khi thầy đã có khả năng tiếp nhận giáo pháp thâm diệu thì hãy lắng nghe, tôi sẽ vì thầy mà nói. »

Lúc bấy giờ, thầy Chanda nghĩ : « Ta có được niềm vui, có được tâm trạng mầu nhiệm hết sức này, bởi vì ta biết giờ đây ta có được khả năng tiếp nhận giáo pháp thâm diệu. »

Lúc ấy, tôn giả Ānanda nói với thầy Chanda :

– Tôi đã được đích thân nghe Bụt dạy cho tôn giả Mahakatyayana (Ca Chiên Diên) như sau :

– Người đời thường bị vướng vào hai cái thấy cực đoan : đó là cái thấy có và cái thấy không. Người đời vì bị kẹt vào trong các cảnh giới [của nhận thức] cho nên tâm họ bị ràng buộc. Nếu không tiếp nhận, không nắm bắt, không đứng ở [trong cái kẹt] ấy, không kế độ chấp vào một cái ngã, thì người ta sẽ thấy rằng khi [điều kiện có đủ để] sinh thì cái khổ sinh, khi [điều kiện hết để cái khổ] diệt thì cái khổ diệt (trong đó không cần một cái ngã, và trong đó những ý niệm có và không không thể áp đặt vào được). Này Kaccāyana, [khi một người thấy được như thế thì] người ấy không còn hồ nghi gì nữa, không bị phiền não nào [sai sử] nữa, và cái thấy ấy không do ai trao truyền mà chỉ mình tự biết. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến mà Như lai đã nói đến.

« Tại sao như thế, Katyayana? Tại vì khi một người quán chiếu sự tập khởi của thế giới một cách đúng phép, thì người ấy không làm phát khởi ý niệm không, và khi người ấy quán chiếu sự hoại diệt của thế giới một cách đúng phép thì người ấy cũng không làm phát khởi ý niệm có. Này Katyayana, Như lai loại bỏ cả hai ý niệm cực đoan ấy và thuyết pháp về trung đạo. Nghĩa là cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh, vì vô minh nên có hành, v.v… cho đến sinh, lão tử, ưu, bi, não. Đó là sự tập khởi của đau thương. Nghĩa là cái này không vì cái kia không, cái này diệt vì cái kia diệt, vì vô minh diệt nên hành diệt, v.v… cho đến sinh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, não, v.v… Đó là sự chấm dứt của đau thương. »

Trong lúc tôn giả Ānanda thuyết pháp, khất sĩ Chanda đạt tới tình trạng viễn trần ly cấu, đắc được pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ, khất sĩ Chanda thấy Pháp, đắc Pháp, biết Pháp, làm cho Pháp hưng khởi, vượt thoát được mọi hồ nghi. Cái thấy ấy của thầy không do kẻ khác trao truyền lại. Trong giáo pháp của vị đại sĩ, thầy đạt được trạng thái vô sở uý. Thầy cung kính chắp tay thưa với tôn giả Ānanda :

– Quả thật như thế, tôn giả đúng là một vị tu hành phạm hạnh, một vị thiện tri thức, một vị giáo thọ có khả năng dạy bảo, giáo giới và thuyết pháp [rất hay].

« Bây giờ đây, từ tôn giả Ānanda, ta đã được nghe một giáo pháp như thế, và ta đã thấy được rằng tất cả các pháp đều trống không, đều có tính cách an lắng, không thể nào nắm bắt được, và chỉ khi nào hết ái, lìa dục thì mới có được cái tuyệt đối an lắng là niết bàn. Tâm ta an lạc, an trú ngay trong giải thoát, không còn thối thất nữa, không còn thấy cái ngã nữa mà chỉ thấy chánh pháp. »

Bấy giờ tôn giả Ānanda nói với thầy Chanda :

– Giờ đây thầy đã đạt tới được cái lợi ích lành mạnh to lớn, đã có được con mắt tuệ thánh thiện trong giáo pháp thậm thâm của Bụt.

Rồi cả hai vị đại sĩ cùng vui mừng cho nhau, cả hai cùng đứng dậy, mỗi người trở về trú xứ của mình.

______________________________

Dịch từ Tạp A hàm, kinh 262

Kinh An trú Thanh tịnh trong Thời gian Đi khất thực

Kinh An trú Thanh tịnh trong Thời gian Đi khất thực
(Thanh Tịnh Khất Thực Trú Kinh, Tạp A Hàm kinh 236)

Đây là những điều tôi được nghe trong thời gian Bụt ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc ở thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá Lợi Phất, vào buổi sáng khoác y, ôm bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Khất thực xong, thầy trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, mang toạ cụ vào rừng, thực tập toạ thiền buổi ban ngày. Sau đó, thầy Xá Lợi Phất xuất thiền, tới chỗ Đức Thế Tôn ở, làm lễ dưới chân Bụt, rút lui và ngồi xuống một bên, phía trước Đức Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, Bụt hỏi thầy Xá Lợi Phất: “Thầy từ đâu tới đây?”

Thầy Xá Lợi Phất đáp: “Lạy Đức thế Tôn, con vừa mới thực tập thiền toạ buổi ban ngày trong rừng. Thực tập xong, con tới đây.”

Bụt hỏi thầy xá lợi Phất: “Trong buổi thiền tập hôm nay, thầy an trú trong loại thiền định nào?”

Thầy Xá Lợi Phất trả lời Bụt: “Thế Tôn, con ở trong rừng, đi vào an trú trong pháp thiền định “không tam muội”.

Bụt bảo thầy Xá Lợi Phất: “Hay lắm, hay lắm, Thầy Xá Lợi Phất. Đó là Thầy đang thực tập một loại thiền định cao cấp gọi là thượng toạ thiền.

“Này Xá Lợi Phất, nếu các vị tỳ khưu nào muốn đi vào thượng toạ thiền thì phải thực tập như sau:

“Trong khi đi vào thành phố để khất thực, hoặc trong khi đi ra khỏi thành phố, (vị khất sĩ) phải thực tập tư duy như sau: trong khi mắt tôi đang thấy sắc, thì tâm tôi có phát khởi dục tưởng (vào sắc ấy) hay không? Tôi đang có bị tâm niệm ân ái ràng buộc hay không?

“Này Xá Lợi Phất, nếu trong khi vị khất sĩ thực tập quán niệm như thế, mà thấy trong khi mắt đối sắc có tâm niệm ái nhiễm phát sinh thì vị khất sĩ ấy lập tức tìm cách đoạn trừ ngay tâm niệm ái nhiễm ấy, tâm niệm không có lợi lạc cho đường tu ấy. Vị khất sĩ ấy phải có thao thức tìm ra những phương pháp có thể  giúp mình nắm lấy tâm ý mà tu tập (hệ miên tu học).

“Ví như có một người kia biết là lửa đang cháy trên chiếc khăn chít đầu của mình, liền lập tức tìm mọi cách dập tắt ngọn lửa, vị khất sĩ cũng phải làm như thế, nỗ lực  tìm ra phương tiện để nắm lấy tâm ý mà tinh tiến tu học. Nếu vị khất sĩ đang đi trên đường, hoặc đang đi khất thực ở trong xóm làng, hoặc đang rời bỏ xóm làng mà biết phát khởi chánh niệm để quán sát và nhận thấy rằng khi con mắt mình tiếp xúc với hình sắc, mà trong tâm mình không có sự nhiễm trước của ái niệm, thì vị khất sĩ này nên có ý nguyện gìn giữ gốc rễ tốt đẹp của cái niềm vui và cái hạnh phúc này để tinh cần nắm lấy tâm mình mà tu học ngày đêm. Như vậy vị khất sĩ này trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi, thực tập được pháp tịnh hoá trong suốt thời gian đi khất thực. Ta có thể gọi kinh này là Kinh Thanh Tịnh Khất Thực.”

Bụt đã nói kinh này xong. Tôn giả Xá Lợi Phất nghe lời Bụt dạy vui mừng đem ra thực tập theo những lời ấy.

(Tạp A Hàm, kinh thứ 236)

Kinh Hoa Hương

Hoa Hương Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập nhị
華香品法句經第十二
Kinh Hoa Hương
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 12

Phẩm này có 16 bài kệ. Có hoa lại còn có hương. Hoa mà không hương thì chưa phải là cái mà ta mong ước. Hương là hương đức hạnh, hương tuệ giác; gần người hiền, ta được thưởng thức và được thấm nhuần. Bài kệ thứ 8 và thứ 9 nhấn mạnh về điểm ấy.

Hoa cũng có hoa thật và hoa giả. Những tràng hoa giả là những tràng hoa cạm bẫy của dục lạc do ma vương hóa hiện để đánh lừa ta, như những con mồi hấp dẫn trong ấy có giấu một lưỡi câu. Hoa thật là những đóa hoa có hương thơm đức hạnh. Bài kệ thứ 4 và thứ 5 cho ta thấy tuy hình hài kia xinh đẹp như một bông hoa, nhưng nó vô thường như bọt nước, ta phải tìm cầu một cái gì có giá trị cao khiết hơn, đó là đóa hoa giác ngộ, đóa hoa giải thoát sinh tử.

Bài kệ thứ 7 nói về phong thái cần có của một vị xuất gia: Vị Sa Môn đi vào xóm làng để khất thực phải như một con ong đi thăm hoa, chỉ lấy chút vị ngọt của hoa mà không làm hại đến sắc hương của hoa, không nên la cà, lợi dụng, khai thác, vướng mắc. Bài kệ này đã được đưa vào Giới kinh để các vị xuất gia đọc tụng mỗi tháng hai lần.

Bài kệ thứ hai nói rằng ai trong chúng ta nếu hết lòng tu học thì cũng có khả năng tuyển chọn Pháp cú, giảng giải Pháp cú và hái được những đóa hoa đức hạnh. Ta không cần phải đợi đến khi chứng đắc mới làm được điều này. Một người đang tu học (sekha, hữu học) nếu có tâm tu học là đã có khả năng làm việc này, chứ không phải chỉ khi tu học thành công và chứng đắc rồi (asekha, vô học) mới có thể làm được. Hai bài kệ 15 và 16 khuyên ta nên tu học tinh chuyên để trở thành những đóa sen tinh khiết hiến tặng cái đẹp và hương thơm đức hạnh cho cuộc đời đầy dẫy khổ đau hệ lụy. Sự có mặt của những người Phật tử chân chính trong cuộc đời là sự có mặt của hoa sen giữa chốn bùn lầy nước đọng. Đây chính là sứ mạng của người con Bụt.

Bài kệ 1

Thục năng trạch địa                       孰  能  擇  地

Xả giám thủ thiên                           捨  鑑  取 天

Thùy thuyết pháp cú                      誰  說  法  句

Như trạch thiện hoa                      如  擇  善  華

Ai là người tuyển chọn được các cõi, bỏ các vùng địa ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời? Ai là người có thể tuyển chọn được Pháp Cú như một kẻ chuyên nghiệp có tài chọn hoa và kết thành tràng hoa?

Ai chọn các cõi

Bỏ các địa ngục

Giữ lại tầng trời

Tuyển chọn Pháp cú

Như kẻ chọn hoa

Kết thành tràng hoa.

 

Bài kệ 2

Học giả trạch địa               學  者  擇  地

Xả giám thủ thiên              捨  鑑  取  天

Thiện thuyết pháp cú         善  說  法  句

Năng thái đức hoa             能  採  德  華

Một người đang thực tập tu học có thể hiểu thấu được các cõi, chọn lựa, giám sát được cả các tầng trời, có thể nói Pháp Cú, có thể hái được những đóa hoa đức hạnh.

Người đang thực tập

Hiểu thấu các cõi

Chọn các tầng trời

Khéo giảng Pháp cú

Hái hoa đức hạnh.

 

Bài kệ 3

Tri thế khôi dụ                  知  世  坏  喻

Huyễn pháp hốt hữu         幻  法  忽  有

Đoạn ma hoa phu             斷  魔  華  敷

Bất đổ sanh tử                不  覩  生  死

 

Biết rằng cuộc đời cũng như đồ gốm chưa nung và các pháp đều như huyễn không thật có, thì có thể phá tan được tràng hoa mà ma vương đã phô diễn ra và chấm dứt được sinh tử.

Biết đời gốm mềm

Các pháp như huyễn

Phá được hoa ma

Chấm dứt sinh tử.

 

Bài kệ 4

Kiến thân như mạt                 見  身  如  沫

Huyễn pháp tự nhiên              幻  法  自  然

Đoạn ma hoa phu                  斷  魔  華  敷

Bất đổ sanh tử                     不  覩  生  死

Thấy hình hài này như bọt nước, thấy thực chất các pháp là huyễn hóa thì có thể phá tan được tràng hoa của ma vương đã phô bày và chấm dứt được sinh tử.

Thấy thân bọt nước

Các pháp như huyễn

Phá được hoa ma

Chấm dứt sinh tử.

 

Bài kệ 5

Thân bệnh tắc nuy          身  病  則  萎

Nhược hoa linh lạc          若  華  零  落

Sanh mạng lai chí           死  命  來  至

Như thủy thoan sậu         如  水  湍  驟

Thân mà bị bệnh thì héo úa cũng giống như bông hoa rơi rụng. Cái chết đến như một cơn lũ kéo phăng tất cả đi rất nhanh.

 

Thân bệnh héo úa

Như hoa rơi rụng

Tử thần như lũ

Kéo nhanh tất cả.

 

Bài kệ 6

Tham dục vô yểm              貪  欲  無  厭

Tiêu tán nhân niệm             消  散  人  念

Tà trí chi tài                       邪  致  之  財

Vi tự xâm khi                     為  自  侵  欺

 

Cứ để tham dục lôi cuốn, không biết nhàm chán thì tâm ý con người sẽ bị tán loạn, đưa đến bao nhiêu tà niệm để cho tự thân mình bị lừa gạt và xâm chiếm.

Tham dục lôi cuốn

Không biết nhàm chán

Tâm ý tán loạn

Tà niệm xâm chiếm

Tự thân bị lừa.

 

Bài kệ 7

Như phong tập hoa                   如  蜂  集  華

Bất nhiêu sắc hương                 不  嬈  色  香

Đản thủ muội khứ                      但  取  昧  去

Nhân nhập tụ nhiên                     仁  入  聚  然

Bất vụ quan bỉ                           不  務  觀  彼

Tác dữ bất tác                           作  與  不  作

Thường tự tỉnh thân                    常  自  省  身

Tri chánh bất chánh                     知  正  不  正

Như những con ong đi thăm hoa, không làm nhiễu hại đến sắc hương của bông hoa, chỉ lấy chút vị ngọt của nhị hoa. Vị khất sĩ nhân từ vào xóm làng cũng thế, không mãi nhìn kẻ khác, biết cái gì cần làm và cái gì không cần làm, biết tự tỉnh, biết cái gì là chính, cái gì là bất chính.

Như ong kiếm hoa

Không hại sắc hương

Chỉ lấy vị ngọt

Khất sĩ vào làng

Không mãi nhìn người

Biết gì cần làm

Biết thân tỉnh thức

Biết chính, bất chính.

 

Bài kệ 8

Như khả ý hoa                               如  可  意  華

Sắc hảo vô hương                          色  好  無  香

Công ngữ như thị                           工  語  如  是

Bất hành vô đắc                             不  行  無  得

Như một đóa hoa ưng ý, có sắc mà không hương, nói lý thuyết suông cũng như thế, không thực tập thì làm gì có chứng đắc?

Như hoa vừa ý

Có sắc không hương

Người lý thuyết suông

Không làm sao chứng.

 

Bài kệ 9

Như khả ý hoa                      如  可  意  華

Sắc mỹ thả hương                色  美  且  香

Công ngữ hữu hành              工  語  有  行

Tất đắc kỳ phước                 必  得  其  福

 

Như một đóa hoa ưng ý, có sắc đẹp mà cũng có hương thơm, có nói có làm thì chắc chắn sẽ đạt được phước đức.

Như  hoa vừa ý

Có sắc thêm hương

Có nói có làm

Đạt được phước đức.

 

Bài kệ 10

Đa tác bảo hoa                     多  作  寶  花

Kết bộ diêu ỷ                        結  步  搖  綺

Quảng tích đức giả               廣  積  德  者

Sở sanh chuyển hảo              所  生  轉  好

Biết trồng nhiều loại hoa quý kết thành những tràng hoa đẹp, những ai biết chất chứa phước đức, sẽ chuyển sinh được trong những đời sống tốt đẹp.

Trồng nhiều hoa quý

Kết tràng hoa đẹp

Ai chất phước đức

Hưởng đời tốt đẹp.

 

Bài kệ 11

Kỳ thảo phương hoa                   奇  草  芳  花

Bất nghịch phong huân                不  逆  風  熏

Cận đạo phu khai                        近  道  敷  開

Đức nhân bức hương                   德  人  逼  香

Những kỳ hoa dị thảo thơm tho, khi đứng không ngược chiều gió thì mình được hưởng hương thơm, gần gũi với các bậc có đạo đức, thì ta được hưởng lây hương thơm đức hạnh của các vị ấy.

Kỳ hoa thơm tho

Đứng không ngược gió

Mình hưởng hương thơm

Gần vị đạo đức

Hưởng lây đức hạnh.

 

 Bài kệ 12

Chiên đàn đa hương                旃  檀  多  香

Thanh liên phương hoa            青  蓮  芳  花

Tuy nhựt thị chân                     雖  曰  是  真

Bất như giới hương                 不  如  戒  香

Hương thơm chiên đàn, hương thơm sen xanh, tuy là có thật cũng chẳng sánh được với hương thơm giới hạnh.

Hương thơm chiên đàn

Hương thơm sen xanh

Tuy là có thật

Sao bằng hương hạnh.

 

Bài kệ 13

Hoa hương khí vi                華  香  氣  微

Bất khả vị chân                   不  可  謂  真

Trì giới chi hương               持  戒  之  香

Đáo thiên thù thắng             到  天  殊  勝

Hương thơm của hoa tuy là vi diệu, nhưng chưa chân thật bằng hương thơm của giới hạnh.

Mùi thơm của hoa

Tuy là vi diệu

Nhưng chưa chân thật

Bằng hương giới hạnh.

 

Bài kệ 14

Giới cụ thành tựu                           戒  具  成  就

Hành vô phóng dật                        行  無  放  逸

Định ý độ thoát                              定  意  度  脫

Trường ly ma đạo                           長  離  魔  道

Thành tựu giới hạnh một cách đầy đủ, tu tập không buông lung, tâm ý để hết vào thiền định thì có thể độ thoát được bản thân và viễn ly được ma đạo.

Giữ giới đầy đủ

Giữ không buông lung

Tâm ý chánh định

Độ thoát bản thân

Xa rời ma đạo.

 

Bài kệ 15

Như tác điền câu                如  作  田  溝

Cận vu đại đạo                   近  于  大  道

Trung sanh liên hoa            中  生  蓮  華

Hương khiết khả ý              香  潔  可  意

Như ngồi bên một cái hố gần sát đại lộ, trong ấy mọc lên mấy đóa sen xinh đẹp, ta được mãn ý thưởng thức hương thơm tinh khiết của các đóa sen.

 

Gần hồ bên đường

Mấy đóa sen xinh

Tha hồ thưởng thức

Hương thơm tinh khiết.

 

Bài kệ 16

Hữu sanh tử nhiên                   有  生  死  然

Phàm phu xứ biên                    凡  夫  處  邊

Tuệ giả lạc xuất                        慧  者  樂  出

Vi phật đệ tử                            為  佛  弟  子

Ngay trong cõi sinh tử, giữa đám phàm phu có các bậc tuệ giác xuất hiện, tạo ra được niềm vui cho sự sống. Làm được như thế là xứng đáng với danh hiệu Phật tử.

Trong cõi sinh tử

Giữ đám phàm phu

Các bậc tuệ giác

Xuất hiện đem vui

Xứng là con Bụt.

 

Kinh Vị Phạm Chí

Phạm Chí Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập ngũ

梵志品法句經第三十五

Kinh Vị Phạm Chí

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 35

 

Phẩm này có tới 38 bài kệ. Phạm Chí (Brahmana) là một vị đạo sĩ đã thành công trong sự nghiệp tâm linh, ra khỏi vòng trần lụy. Đây là hình ảnh lý tưởng của một người tu hành thành đạt trong thời của Bụt. Kinh này có nội dung tương đương với kinh Người Xuất Sĩ và bổ túc cho kinh Người Xuất Sĩ. Ta hãy đọc hai bài kệ 36 và 37 để thấy được điều đó: không vướng vào quá khứ, không vướng vào tương lai, cũng không vướng vào hiện tại, không nắm bắt cũng không xua đuổi, đó là Phạm Chí. Rất hào hùng, rất dũng cảm, có khả năng tự cởi trói và vượt qua, tâm ý bất động, đó là Phạm Chí.

 

Bài kệ 1     

Tiệt lưu nhi độ                                截  流  而  渡  

Vô dục như phạm                          無  欲  如  梵  

Tri hành dĩ tận                                知  行  已  盡    

Thị vị Phạm Chí                             是  謂  梵  志

 

Thu nhỏ dòng chảy của ái dục, vượt qua dòng chảy của ái dục, đạt tới trạng thái vô dục, thấy được chân như của vạn pháp, chấm dứt được ràng buộc vào các hiện tượng hữu vi, người nào làm được như thế, ta gọi đó là một vị Phạm Chí.

 

Bài kệ 2  

Dĩ vô nhị Pháp                               以  無  二  法     

Thanh tịnh độ uyên                        清  淨  渡  淵  

Chư dục kết giải                          諸  欲  結  解      

Thị vị Phạm Chí                             是  謂  梵  志

 

Sử dụng được cái thấy bất nhị, đạt tới thanh tịnh, vượt được vực sâu sinh tử, tháo gỡ được mọi ràng buộc vào ái dục, đó là Phạm Chí.

 

Bài kệ 3  

Thích bỉ vô bỉ                                  適  彼  無  彼

Bỉ bỉ dĩ không                               彼  彼  已  空    

Xả ly tham dâm                              捨  離  貪  婬  

Thị vị Phạm Chí                           是  謂  梵  志

 

Không vướng bờ bên này, cũng không vướng bờ bên kia, thấy cả bên này và bên kia đều là không, buông bỏ được tham ái, ta gọi đó là một vị Phạm Chí.

 

Bài kệ 4     

Tư tánh vô cấu                               思  惟  無  垢    

Sở hạnh bất lậu                              所  行  不  漏  

Thượng cầu bất khởi                      上  求  不  起    

Thị vị Phạm Chí                             是  謂  梵  志

 

Biết thiền tập, không ô nhiễm, hành xử không tỳ vết, đạt được tịch tĩnh vô thượng, không còn mong cầu gì nữa, đó là Phạm Chí.

 

Bài kệ 5 

Nhật chiếu ư trú                          日  照  於  晝       

Nguyệt chiếu ư dạ                          月  照  於  夜      

Giáp binh chiếu quân                     甲  兵  照  軍    

Thiền chiếu đạo nhân                    禪  照  道  人   

Phật xuất thiên hạ                          佛  出  天  下

Chiếu nhất thiết minh                 照  一  切  冥

 

Ban ngày mặt trời chiếu rọi, ban đêm mặt trăng sáng tỏ, quân lính có vũ khí lấp lánh, người hành đạo cũng tỏa chiếu ra ánh sáng của thiền định. Bụt ra đời trong nhân gian làm cho bóng tối khắp nơi tan biến.

 

Bài kệ 6  

Phi thế vi Sa môn                           非  剃  為  沙  門   

Xưng cát vi Phạm chí                     稱  吉  為  梵  志   

Vị năng xả chúng ác                      謂  能  捨  眾  惡    

Thị tắc vi đạo nhân                        是  則  為  道  人

 

Không phải vì cạo tóc mà người ta trở thành một vị Sa môn, không phải nói cho hay mà người ta trở thành một vị Phạm chí. Có khả năng buông bỏ tà hạnh thì đó mới là bậc đạo nhân.

   

Bài kệ 7

Xuất ác vi Phạm chí                       出  惡  為  梵  志  

Nhập chánh vi Sa môn                  入  正  為  沙  門 

Khí ngã chúng uế hành                 棄  我  眾  穢  行 

Thị tắc vi xả gia                              是  則  為  捨  家

Ra khỏi vòng phiền lụy thì gọi là Phạm chí. Đi vào được con đường chánh thì gọi là Sa môn. Buông bỏ được cái ta và những hành động uế trược mới đích thực là người xuất sĩ.

 

Bài kệ 8  

Nhược y ư ái                                若  猗  於  愛   

Tâm vô sở trước                             心  無  所  著    

Dĩ xả dĩ chánh                                已  捨  已  正    

Thị diệt chúng khổ                         是  滅  眾  苦

Thân khẩu dữ ý                              身  口  與  意    

Tịnh vô quá thất                             淨  無  過  失 

Năng xả tam hành                      能  捨  三  行    

Thị vị Phạm Chí                             是  謂  梵  志

 

Lìa xa ái dục, tâm không vương vấn, buông bỏ hệ lụy, đi vào đường chánh, những cái ấy đưa tới sự diệt trừ khổ đau. Thân, khẩu và ý trở nên thanh tịnh, không còn lỗi lầm, nhiếp phục được ba nghiệp, đó là Phạm chí.

  

Bài kệ 9  

Nhược tâm hiểu liễu                      若  心  曉  了      

Phật sở thuyết pháp                       佛  所  說  法  

Quán tâm tự quy                            觀  心  自  歸     

Tịnh ư vi thủy                                 淨  於  為  水      

Phi thốc kết phát                            非  蔟  結  髮   

Danh vi Phạm chí                          名  為  梵  志  

 

Tâm trí khai thông, đối với giáo pháp Bụt dạy biết quán chiếu và đem tâm trở về nương tựa, trong sáng như nước, đó là Phạm chí. Không phải vì huyết thống, không phải vì búi tóc mà người ta trở nên Phạm chí.

 

Bài kệ 10

Thành hành Pháp hành                 誠  行  法  行     

Thanh bạch tắc hiền                       清  白  則  賢  

Sức phát vô tuệ                              飾  髮  無  慧  

Thảo y hà thí                                   草  衣  何  施     

Nội bất ly trước                              內  不  離  著   

Ngoại xả hà ích                              外  捨  何  益 

 

Thực tập với tâm dạ chí thành, hành xử đúng theo chánh pháp, sống đời sống thanh bạch của một vị hiền sĩ. Có cái búi tóc mà không có tuệ giác, mặc chiếc áo cỏ mà chẳng có hành trì, bên trong không thực sự có sự buông bỏ thì cái vỏ buông bỏ bên ngoài không có ích lợi.

 

Bài kệ 11   

Bị phục tệ ác                                   被  服  弊  惡  

Cung thừa Pháp hành                   躬  承  法  行  

Nhàn cư tư tánh                       閑  居  思  惟   

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Ăn mặc đơn sơ, tự mình hành trì đúng theo chánh pháp, cư trú nơi yên tĩnh, thực tập thiền quán, đó mới là Phạm chí.

 

Bài kệ 12    

Phật bất giáo bỉ                               佛  不  教  彼  

Tán kỷ tự xưng                               讚  己  自  稱  

Như đế bất vọng                         如  諦  不  妄     

Nãi vi Phạm chí                              乃  為  梵  志 

 

Bụt không bao giờ bảo người ta tự xưng tán mình. Hành xử theo chân lý, không dối gạt bằng hình thức bên ngoài, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 13

Tuyệt chư khả dục                         絕  諸  可  欲      

Bất dâm kỳ chí                             不  婬  其  志       

Ủy khí dục ố                                   委  棄  欲  數  

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Chấm dứt mọi đối tượng ham muốn, quyết tâm không đi về hướng ái dục, buông bỏ được lưới ái ân, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 14  

Đoạn sanh tử hà                             斷  生  死  河    

Năng nhẫn khởi độ                     能  忍  起  度    

Tự giác xuất tiệm                            自  覺  出  塹     

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Chận đứng dòng sông sinh tử, có sức nhẫn chịu để vượt qua bờ, có đủ tuệ giác của tự thân để nhảy ra khỏi hào sâu hiểm nạn, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 15     

Kiến mạ kiến kích                           見  罵  見  擊    

Mặc thọ bất nộ                                默  受  不  怒     

Hữu nhẫn nhục lực                       有  忍  辱  力       

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Bị nhục mạ, bị hành hung mà vẫn im lặng chịu đựng không hờn không oán, có năng lượng của nhẫn nhục, đó là Phạm chí.

Bài kệ 16  

Nhược kiến xâm khi                      若  見  侵  欺    

Đãn niệm thủ giới                          但  念  守  戒      

Đoan thân tự điều                          端  身  自  調   

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Thấy mình bị lấn ép, bị khinh khi, mà vẫn nhớ bảo trì giới luật, vẫn nhớ điều phục tự thân cho đoan chính, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 17   

Tâm khí ác pháp                             心  棄  惡  法    

Như xà thoát bì                              如  蛇  脫  皮    

Bất vi dục ô                                     不  為  欲  污   

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

 Buông bỏ hệ lụy như con rắn lột da, giữ tâm ý không để ái dục làm cho ô nhiễm, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 18     

Giác sanh vi khổ                             覺  生  為  苦    

Tùng thị diệt ý                                從  是  滅  意    

Năng hạ trọng đảm                         能  下  重  擔    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Ý thức được cái khổ trong thế gian, từ đó mà phát tâm đạt tới Niết Bàn tịch tĩnh, có khả năng buông bỏ gánh nặng xuống, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 19  

Giải vi diệu tuệ                               解  微  妙  慧     

Biện đạo bất đạo                             辯  道  不  道     

Thể hành thượng nghĩa                 體  行  上  義     

Thị vị Phạm chí                            是  謂  梵  志 

 

Có được tuệ giác vi diệu, phân biệt được cái gì hợp với đạo lý và cái gì trái chống đạo lý, đã hành trì và đạt tới mục tiêu cao cả nhất, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 20 

Khí quyên gia cư                            棄  捐  家  居     

Vô gia chi úy                                   無  家  之  畏    

Thiểu cầu quả dục                          少  求  寡  欲    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Người không gây hao tổn cho giới tại gia, cũng không vướng mắc vào kẻ xuất gia, người ít mong cầu, ít ham muốn, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 21     

Khí phóng hoạt sanh                      棄  放  活  生    

Vô tặc hại tâm                                無  賊  害  心  

Vô sở nhiêu não                              無  所  嬈  惱      

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Buông bỏ gậy gộc vũ khí, không có tâm ý bạo động và tàn hại đối với chúng sinh, không còn làm nhiễu loạn và gây khổ não cho ai, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 22  

Tị tranh bất tranh                           避  爭  不  爭    

Phạm nhi bất uấn                           犯  而  不  慍       

Ác lai thiện đãi                               惡  來  善  待    

Thị vị Phạm Chí                             是  謂  梵  志 

 

Sử dụng thái độ không tranh chấp khi đối diện với tranh chấp, bị xúc phạm nhưng vẫn không hờn oán, đem cái lành để đối trị với cái ác, đó là Phạm chí.

Bài kệ 23 

Khứ dâm nộ si                                去  婬  怒  癡       

Kiêu mạn chư ác                            憍  慢  諸  惡  

Như xà thoát bì                              如  蛇  脫  皮    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Buông bỏ tham dục, sân hận, si mê, kiêu mạn và các phiền não khác như con rắn lột da, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 24   

Đoạn tuyệt thế sự                           斷  絕  世  事    

Khẩu vô thô ngôn                          口  無   麤  言     

Bát đạo thẩm đế                           八  道   審  諦   

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Chấm dứt thế sự, miệng không còn nói lời thô ác, quán chiếu bốn sự thật và thực tập con đường Bát chánh, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 25   

Sở thế ác pháp                                所  世  惡  法    

Tu đoản cự tế                                  修  短  巨  細       

Vô thủ vô xả                                   無  取  無  捨  

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Đối với các pháp trong đời, dù thiện dù ác, dù lớn dù nhỏ, dù ngắn dù dài, tâm vẫn giữ được thái độ không bám víu, cũng như không xua đuổi, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 26  

Kim thế hành tịnh                          今  世  行  淨        

Hậu thế vô uế                                 後  世  無  穢  

Vô tập vô xả                                   無  習  無  捨    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Trong đời hiện tại, hành xử trong sạch, trong đời vị lai sẽ không có cấu uế, không có tâm ý chất chứa, cũng không có tâm ý ruồng bỏ xua đuổi, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 27    

Khí thân vô y                                  棄  身  無  猗  

Bất tụng dị hành                             不  誦  異  行   

Hành cam lộ diệt                            行  甘  露  滅     

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志 

 

Không bị kẹt vào hình hài, không lặp lại những lời quái dị, đi tới được vị ngọt Cam lộ của Niết Bàn, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 28 

Ư tội dữ phước                               於  罪  與  福    

Lưỡng hành vĩnh trừ                     兩  行  永  除    

Vô ưu vô trần                                 無  憂  無  塵  

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Đối với các ý niệm tội và phúc, đã siêu việt lên được cả hai, không còn lo lắng, không còn trần lụy, đó là Phạm chí.

  

Bài kệ 29

Tâm hỉ vô cấu                                 心  喜  無  垢       

Như nguyệt thịnh mãn                  如  月  盛  滿     

Báng hủy dĩ trừ                              謗  毀  已  除    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Trái tim đầy niềm vui, không một vết nhơ như mặt trăng rằm, không còn hủy báng ai, không còn trách móc ai, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 30  

Kiến si vãng lai                            見  癡  往  來    

Đọa tiệm thọ khổ                            墮  塹  受  苦  

Dục đan độ ngạn                            欲  單  渡  岸   

Bất hảo tha ngữ                              不  好  他  語  

Duy diệt bất khởi                            唯  滅  不  起     

Thị vị  Phạm chí                           是  謂  梵  志

 

Thấy kẻ khác đang đi vòng trong si mê, rơi vào hố thẳm khổ đau, muốn giúp cho họ được lên bờ giải thoát, để họ đừng tiếp tục nghe theo những lời xúi giục, biết hướng về nẻo Niết Bàn, không còn trở về cõi sinh tử, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 31     

Dĩ đoạn ân ái                                  已  斷  恩  愛    

Ly gia vô dục                                  離  家  無  欲     

Ái hữu dĩ tận                                  愛  有  已  盡    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志 

 

Đã dứt được ân ái, đã làm người xuất sĩ, không còn đam mê, đã chấm dứt được ái và hữu, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 32 

Ly nhân tụ xứ                                 離  人  聚  處 

Bất đọa thiên tụ                              不  墮  天  聚     

Chư tụ bất quy                               諸  聚  不  歸  

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志  

 

Không đàn đúm vướng mắc cả trong hai cõi người và cõi trời, bỏ đi mọi hình thức đàn đúm vướng mắc, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 33

Khí lạc vô lạc                                  棄  樂  無  樂   

Diệt vô uân nhũ                             滅  無  熅  燸  

Kiện vi chư thế                               健  違  諸  世   

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Bỏ ưa, bỏ ghét, đạt tới sự thanh lương của Niết Bàn, ngọn lửa phiền não không còn âm ỉ cháy, đã có sức mạnh chinh phục được thế gian, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 34    

Sở sanh dĩ cật                                 所  生  已  訖   

Tử vô sở hú                                     死  無  所  趣  

Giác an vô y                                    覺  安  無  依

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Sở sinh đã hết, sau khi xác thân này tan hoại không còn đi về đâu nữa, giác ngộ đạt tới bình an, không còn cần nương tựa vào đâu nữa cả, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 35  

Dĩ độ ngũ đạo                                 已  度  五  道     

Mạc tri sở đọa                              莫  知  所  墮    

Tập tận vô dư                                 習  盡  無  餘    

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志 

 

Đã vượt khỏi năm nẻo về xấu ác, không còn trở lại, các tập khí đã được chuyển hóa tận gốc, không còn sót lại, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 36 

Vu tiền vu hậu                             于  前  于  後    

Nãi trung vô hữu                           乃  中  無  有   

Vô thao vô xả                                 無  操  無  捨     

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Không vướng vào quá khứ, không vướng vào tương lai, cũng không vướng vào hiện tại, không nắm bắt cũng không xua đuổi, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 37   

Tối hùng tối dũng                           最  雄  最  勇   

Năng tự giải độ                              能  自  解  度   

Giác ý bất động                               覺  意  不  動     

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Rất hào hùng, rất dũng cảm, có khả năng tự cởi trói và vượt qua, giải thoát, tâm ý bất động, đó là Phạm chí.

 

Bài kệ 38  

Tự tri túc mạng                               自  知  宿  命  

Bổn sở cánh ai                                本  所  更  來    

Đắc yếu sanh tận                            得  要  生  盡    

Duệ thông đạo huyền                    叡  通  道  玄     

Minh như năng mặc                      明  如  能  默  

Thị vị Phạm chí                              是  謂  梵  志

 

Vị Mâu ni nào thấy được đời trước, thấy được những cảnh giới hoan lạc và khổ đau đã từng trải qua, đạt tới chỗ chấm dứt sở sinh, đã thành tựu tuệ giác, thông suốt về những huyền diệu của đạo mầu, sáng như bậc năng nhân tĩnh mặc, ta gọi đó là Phạm chí.

 

Kinh Điềm Lành Lớn Nhất

Chọn được môi trường tốt, có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức, giữ lòng cho trinh bạch và chân chánh. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Cát Tường Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập cửu

吉祥品法句經第三十九

Kinh Điềm Lành Lớn Nhất

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 39

 

Phẩm này có 16 bài kệ. Kinh này xuất xứ từ Kinh Tập (Suttanipata) của văn hệ Pali. Ở các nước Phật giáo Nam tông, đa số các Phật tử cư sĩ đều thuộc lòng kinh này. Lời dạy rất thực tế. Xin xem phần bình giảng ở phần sau sách này.

 

Bài kệ 1
Phật tôn quá chư thiên                    佛  尊  過  諸  天
Như Lai thường hiện nghĩa              如  來  常  現  義
Hữu phạm chí đạo sĩ                      有  梵  志  道  士
Lai vấn hà cát tường                       來  問  何  吉  祥

 

Bụt được tôn quý hơn cả trong hai giới trời và người
vì Ngài thường có khả năng đưa ra những giáo nghĩa mầu nhiệm của một bậc Như Lai. Một ngày kia, có một vị đạo sư Bà la môn tới hỏi: Cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất?

 

Bài kệ 2

Ư thị Phật mẫn thương                  於  是  佛  愍  傷 
Vị thuyết chân hữu yếu                  為  說  真  有  要
Dĩ tín lạc chánh pháp                    已  信  樂  正  法
Thị vi tối cát tường                        是  為  最  吉  祥

 

Ngay lúc đó với lòng xót thương, Bụt đã thuyết giảng về những gì thiết yếu và chân thật. Ngài dạy: Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 3

Nhược bất tùng thiên nhân               若  不  從  天  人
Hy vọng cầu kiểu hạnh                     希  望  求  僥  倖
Diệc bất đáo thần từ                       亦  不  禱  神  祠 
Thị vi tối cát tường                         是  為  最  吉  祥

 

Không chạy theo các giới trời và người để cầu mong ban phúc và tránh họa, cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 4

Hữu hiền trạch thiện cư                  友  賢  擇  善  居 
Thường tiên vi phúc đức                常  先  為  福  德
Sắc thân thừa trinh chánh               勅  身  承  貞  正
Thị vi tối cát tường                        是  為  最  吉  祥

 

Chọn được môi trường tốt, có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức, giữ lòng cho trinh bạch và chân chánh. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 5

Khứ ác tùng tựu thiện                       去  惡  從  就 善 
Tị tửu tri tự tiết                                 避  酒  知  自  節
Bất dâm ư nữ sắc                            不  婬  於  女  色
Thị vi tối cát tường                            是  為  最  吉  祥

 

Biết bỏ ác theo lành, không uống rượu, biết tiết chế, không đắm trong sắc dục. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 6
Đa văn như giới hành                      多  聞  如  戒  行
Pháp luật tinh tấn học                     法  律  精  進  學
Tu kỷ vô sở tranh                           修  己  無  所  爭
Thị vi tối cát tường                         是  為  最  吉  祥

 

Học rộng biết trì giới. Siêng năng tu tập theo giáo pháp và luật nghi. Biết tu dưỡng thân tâm, không vướng vào các cuộc tranh chấp. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 7

Cư hiếu sự phụ mẫu                       居  孝  事  父  母
Trị gia dưỡng thê tử                       治  家  養  妻  子
Bất vi không phạp hành                   不  為  空  乏  行
Thị vi tối cát tường                         是  為  最  吉  祥

 

Là người con hiếu thảo, có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha. Biết chăm sóc gia đình, giữ cho trong nhà êm ấm, không để cho lâm vào cảnh nghèo đói. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 8
Bất mạn bất tự đại                           不  慢  不  自  大
Tri túc niệm phản phúc                      知  足  念  反  覆
Dĩ thời tụng tập kinh                         以  時  誦  習  經
Thị vi tối cát tường                           是  為  最  吉  祥

 

Không kiêu mạn, không cho mình là hơn người. Biết tri túc, biết xét suy. Có thì giờ đọc tụng và thực tập kinh điển. Đó là phước đức lớn nhất.

 

Bài kệ 9

Sở văn thường dục nhận                所  聞  常  欲  忍
Nhạo dục kiến sa môn                   樂  欲  見  沙  門
Mỗi giảng tiếp thính thọ                 每  講  輒  聽  受
Thị vi tối cát tường                        是  為  最  吉  祥

 

Biết nhẫn nhục khi nghe điều bất như ý. Có hạnh phúc mỗi khi được gặp người xuất gia. Mỗi khi nghe pháp hết lòng tiếp nhận để hành trì. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 10

Trì trai tu phạm hạnh                      持  齋  修  梵  行
Thường dục kiến hiền minh              常  欲  見  賢  明
Y phụ minh trí giả                           依  附  明  智  者
Thị vi tối cát tường                          是  為  最  吉  祥

 

Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh. Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức. Biết nương vào các bậc có trí sáng. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 11

Dĩ tín hữu đạo đức                         已  信  有  道  德
Chánh ý hướng vô nghi                   正  意  向  無  疑
Dục thoát tam ác đạo                     欲  脫  三  惡  道
Thị vi tối cát tường                         是  為  最  吉  祥

 

Có niềm tin, có một đời sống tâm linh. Tâm ý ngay thẳng, không bị hoài nghi che lấp. Có quyết tâm lành xa ba nẻo về xấu ác. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 12

Đẳng tâm hành bố thí                    等  心  行  布  施
Phụng chư đắc đạo giả                  奉  諸  得  道  者
Diệc kính chư thiên nhân                亦  敬  諸  天  人
Thị vi tối cát tường                        是  為  最  吉  祥

 

Biết bố thí với tâm niệm bình đẳng. Biết phụng sự những bậc đắc đạo. Biết tôn quý những kẻ đáng tôn quý trong hai giới nhân và thiên. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 13

Thường dục ly tham dâm               常  欲  離  貪  婬

Ngộ si sân nhuế ý                           遇  癡  瞋  恚  意
Năng tập thành đạo kiến                 能  習  成  道  見
Thị vi tối cát tường                         是  為  最  吉  祥

 

Biết xa lìa tham dục, sân hận và si mê. Thường tu tập để mong đạt được chánh kiến. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 14

Nhược dĩ khí phi vụ                         若  以  棄  非  務
Năng cần tu đạo dụng                      能  勤  修  道  用
Thường sự ư khả sự                       常  事  於  可  事
Thị vi tối cát tường                          是  為  最  吉  祥

 

Biết buông bỏ những nghiệp vụ phi nghĩa. Có khả năng áp dụng đạo pháp vào đời sống hằng ngày. Biết theo đuổi một lý tưởng đáng được theo đuổi. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 15

Nhất thiết vi thiên hạ                        一  切  為  天  下
Kiến lập đại từ ý                             建  立  大  慈  意
Tu nhân an chúng sinh                    修  人  安  眾  生
Thị vi tối cát tường                         是  為  最  吉  祥

 

Vì tất cả nhân loại vun bón tâm đại từ. Nuôi dưỡng tình

thương để đem lại an bình cho thế gian. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 16

Trí giả cư thế gian                           智  者  居  世  間
Thường tập cát tường hạnh             常  習  吉  祥  行
Tự trí thành tuệ kiến                        自  致  成  慧  見
Thị vị tối cát tường                          是  為  最  吉  祥

 

Là bậc trí giả ở trong cuộc đời thường tập hạnh tạo tác những điềm lành cho đến khi chính mình thành tựu được tuệ giác lớn. Đó là điềm lành lớn nhất.

Kinh Đời Sống Đạo Lý

Như đàn trâu qua sông, nếu con đầu đàn đi đúng thì tất cả đàn trâu đều qua sông an toàn, nếu thực thi pháp luật mà không có tà tâm thì khắp nơi dân chúng sẽ được an cư lập nghiệp.

 

Đạo Lợi Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập bát

道利品法句經第三十八

Kinh Đời Sống Đạo Lý

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 38

 

Phẩm này có 20 bài kệ. Đạo lợi là lợi ích của sự tu tập. Kinh này có vẻ hướng về các giới cư sĩ tại gia, từ vua cho tới dân, từ vị thủ tướng cho tới người trong thiên hạ. Những bài kệ thứ 2, 3, 4, 5, 6 và 7 là để giáo giới các vị lãnh đạo chính trị. Và bài kệ chót nhắc nhở những người đã lăn lộn nhiều trong cuộc đời nên nhìn lại và bắt đầu đi vào nếp sống tâm linh để lo cho mai hậu: nay trên đầu ta tóc đã bạc, tuổi trẻ ta hầu như đã bị đánh cắp, thiên sứ đã đến báo tin, có lẽ đã đến lúc ta phải xuất gia.

 

Bài kệ 1

Nhân tri phụng kỳ thượng              人  知  奉  其  上

Quân phụ sư đạo sĩ                       君  父  師  道  士

Tín giới thí văn tuệ                         信  戒  施  聞  慧

Chung cát sở sanh an                    終  吉  所  生  安

 

Những ai biết vâng theo lời chỉ giáo của các bậc trên mình như vua, cha, thầy và các vị xuất gia, những ai có đức tin, có trì giới, có thực tập cúng dường, bố thí, những ai biết học hỏi chánh pháp để bồi đắp tuệ giác… những vị ấy suốt đời sẽ được sống an lành và luôn gặp may mắn.

 

Bài kệ 2

Túc mạng hữu phước khánh              宿  命  有  福  慶

Sanh thế vi nhân tôn                          生  世  為  人  尊

Dĩ đạo an thiên hạ                            以  道  安  天  下

Phụng Pháp mạc bất tùng                  奉  法  莫  不  從

 

Nhờ kiếp trước có gieo trồng phước đức nên kiếp này sinh ra được là người mà thiên hạ tôn quý. Phải biết sử dụng đạo lý để làm cho thiên hạ an ổn. Nếu mình biết hành trì đúng theo luật (Phật) pháp thì không ai lại không theo mình.

 

Bài kệ 3

Vương vi thần dân trường               王  為  臣  民  長

Thường dĩ từ ái hạ                         常  以  慈  愛  下

Thân suất dĩ pháp giới                    身  率  以  法  戒

Thị chi dĩ hưu cữu                          示  之  以  休  咎

 

Vua là vị lớn nhất đứng trên quần thần, thường nên sử dụng tâm từ ái để ban bố ân huệ xuống cho nhân dân. Nếu Vua tự mình hành trì theo giáo pháp và giới luật làm gương mẫu cho mọi người, thì mọi xáo trộn sẽ được ngưng lại.

 

Bài kệ 4

Xứ an bất vong nguy                      處  安  不  忘  危

Lự minh phước chuyển hậu             慮  明  福  轉  厚

Phước đức chi phản báo                 福  德  之  反  報

Bất vấn tôn dĩ ti                              不  問  尊  以  卑

 

Trong thời hòa bình phải nhớ tới thời loạn lạc, do đó phải tập tư duy cho sáng suốt, phải biết bồi đắp cho phước đức thêm dày. Phước đức này sẽ là hoa trái cho mọi người cùng hưởng, không phân biệt sang hèn.

 

 

Bài kệ 5

Phu vi thế gian tướng                     夫  為  世  間  將

Tu chánh bất a trụ                          修  正  不  阿  柱

Tâm điều thắng chư ác                  心  調  勝  諸  惡

Như thị vi pháp vương                     如  是  為  法  王

 

Là một vị thủ tướng, đứng trên thiên hạ mà biết tu tập theo chánh pháp, không làm những điều tham nhũng, điều phục được tâm mình và vượt thắng được mọi cám dỗ thì mình cũng đã là một vị pháp vương.

 

Bài kệ 6

Kiến chánh năng thí huệ                 見  正  能  施  惠

Nhân ái hảo lợi nhân                     仁  愛  好  利  人

Ký lợi dĩ bình quân                         既  利  以  平  均

Như thị chúng phụ thân                   如  是  眾  附  親

 

Có cái thấy chính xác rồi thì mình sẽ có khả năng ban bố ân huệ cho dân chúng, lòng nhân ái của mình đưa mình tới những hành động ích nước lợi dân. Cái lợi ấy nếu được phân bố đồng đều trong dân chúng thì tất cả mọi người đều trở nên thân cận với mình, ủng hộ mình.

 

Bài kệ 7

Như ngưu lệ độ thủy                      如  牛  厲  渡  水

Đạo chánh tùng diệc chánh            導  正  從  亦  正

Phụng Pháp tâm bất tà                  奉  法  心  不  邪

Như thị chúng phổ an                     如  是  眾  普  安

 

Như đàn trâu qua sông, nếu con đầu đàn đi đúng thì tất cả đàn trâu đều qua sông an toàn, nếu thực thi pháp luật mà không có tà tâm thì khắp nơi dân chúng sẽ được an cư lập nghiệp .

 

Bài kệ 8

Vật vọng nhiêu thần tượng                   勿  妄  嬈  神  象

Dĩ chiêu khổ thống hoạn                       以  招  苦  痛  患

Ác ý vi tự sát                                       惡  意  為  自  煞

Chung bất chí thiện phương                  終  不  至  善  方

 

Đừng thờ cúng thần tượng, cái đó chỉ đem thêm thống khổ và hoạn nạn. Cái tâm mình đã có ý ác thì không thể nào đem lại chuyện lành.

 

Bài kệ 9

Giới đức khả thị hỗ                                    戒  德  可  恃  怙

Phước báo thường tùy kỷ                          福  報  常  隨  己

Kiến Pháp vi nhân trường                          見  法  為  人  長

Chung viễn tam ác đạo                             終  遠  三  惡  道

 

Nếu ta biết nương tựa vào giới và đức thì phúc báo tốt đẹp thường đi theo ta. Thấy được con đường giáo pháp và dẫn đầu được cho người khác đi trên con đường ấy thì vĩnh viễn sẽ xa lìa được ba nẻo về xấu ác.

 

Bài kệ 10

Giới thận trừ khổ úy                                戒  慎  除  苦  畏

Phước đức tam giới tôn                          福  德  三  界  尊

Quỷ long tà độc hại                               鬼  龍  邪  毒  害

Bất phạm trì giới nhân                           不  犯  持  戒  人

 

Hành trì giới luật cho vững chãi thì sẽ chế ngự được khổ đau và sợ hãi, được hưởng phước đức và chỗ đứng đáng tôn quý trong ba cõi. Những loài quỷ thần, tà ma, rắn độc không thể nào xâm phạm được kẻ giữ giới.

 

Bài kệ 11

Vô nghĩa bất thành tín                    無  義  不  誠  信

Khi vọng hảo đấu tranh                   欺  妄  好  鬪  諍

Đương tri viễn ly thử                      當  知  遠  離  此

Cận ngu hưng tội đa                      近  愚  興  罪  多

 

Phải biết xa lánh những kẻ bất nghĩa, không thành tín, những kẻ dối trá và ưa tranh cãi. Gần gũi những kẻ ngu phu như thế chỉ làm cho cái xấu ác của mình lớn lên mà thôi.

 

Bài kệ 12

Nhân hiền ngôn thành tín               仁  賢  言  誠  信

Đa văn giới hành cụ                      多  聞  戒  行  具

Đương tri thân phụ thử                 當  知  親  附  此

Cận trí thành thiện đa                   近  智  誠  善  多

 

Phải biết gần gũi những bậc hiền nhân, có lòng nhân từ, biết nói lời thành tín, học nhiều biết rộng, hành trì giới luật đầy đủ. Thân cận những người có trí tuệ như thế thì cái thiện của mình càng ngày càng lớn.

 

Bài kệ 13

Thiện ngôn bất thủ giới                  善  言  不  守  戒

Chí loạn vô thiện hành                   志  亂  無  善  行

Tuy thân xứ tiềm ẩn                       雖  身  處  潛  隱

Thị vi phi học pháp                        是  為  非  學  法

Nói thì thật hay nhưng không hành trì giới luật, tâm ý thác loạn, chưa làm được gì có ích cho đời thì dù có ẩn cư cũng không phải là người thật sự đang tu tập chánh pháp.

 

Bài kệ 14

Mỹ thuyết chánh vi thượng                美  說  正  為  上

Pháp thuyết vi đệ nhị                        法  說  為  第  二

Ái thuyết khả bỉ tam                         愛  說  可  彼  三

Thành thuyết bất khi tứ                    誠  說  不  欺  四

 

Có bốn thứ ngôn từ đáng mến: thứ nhất là trình bày được sự thật một cách đẹp đẽ, thứ hai là thuyết pháp, thứ ba là nói lời ái ngữ, thứ tư là nói lời thành thật không dối trá.

 

Bài kệ 15

Vô tiện hoạch lợi nhận                    無  便  獲  利  刃

Tự dĩ khắc kỳ thân                         自  以  剋  其  身

Ngu học hảo vọng thuyết                 愚  學  好  妄  說

Hành khiên thọ hạnh lệ                  行  牽  受  幸  戾

 

Người phàm tục không biết sử dụng những ngôn từ ấy cho nên cứ nói những điều hư vọng dối trá, những lời như dao bén có công dụng làm tổn thương ngay chính thân mạng mình, những lời đưa tới hệ lụy.

 

Bài kệ 16

Tham dâm sân khuể si                      貪  婬  瞋  恚  癡

Thị tam phi thiện bản                      是  三  非  善  本

Thân dĩ tư tự hại                              身  以  斯  自  害

Báo do si ái sanh                             報  由  癡  愛  生

 

Thèm khát, sân hận và si mê là ba cái bất thiện căn bản, vì chúng mà ta tự hại mình, bởi vì quả báo xấu luôn luôn sinh ra từ tham ái và si mê.

 

Bài kệ 17

Hữu phước vi thiên nhân                    有  福  為  天  人

Phi pháp thọ ác hình                         非  法  受  惡  形

Thánh nhân minh độc kiến                   聖  人  明  獨  見

Thường thiện thừa Phật lệnh               常  善  承  佛  令

 

Có phước đức thì được sinh lên các cõi thiên và nhân, sống ngược với giáo pháp thì mang hình hài xấu ác. Chỉ những người có con tim thánh thiện mới thấy rõ được điều này cho nên họ biết thực hành theo lời Bụt chỉ dạy.

Bài kệ 18

Giới đức hậu thế nghiệp                 戒  德  後  世  業

Dĩ tác phước truy thân                   以  作  福  追  身

Thiên nhân xưng dự thiện               天  人  稱  譽  善

Tâm chánh vô bất an                     心  正  無  不  安

 

Giới hạnh và đức độ tạo tác ra nghiệp lành, phước đức gây nên do đấy sẽ đi theo mình trong các đời sau. Tâm của mình chính trực thì đi đâu cũng được an vui, được hai giới thiên và nhân khen ngợi.

 

Bài kệ 19

Vi ác bất niệm chỉ                          為  惡  不  念  止

Nhật phược bất tự hối                   日  縛  不  自  悔

Mạng thệ như xuyên lưu                命  逝  如  川  流

Thị khủng nghi thủ giới                  是  恐  宜  守  戒

 

Những kẻ hành động thất đức mà không có ý thức, không biết dừng lại, càng ngày càng bị ràng buộc trong cái thế giới bưng bít của mình, không có cơ duyên tự hối cải thì mạng sống sẽ trôi qua nhanh như một dòng sông. Thấy vậy cho nên ta sợ hãi và biết mình cần phải trì giới không làm chuyện thất đức.

 

Bài kệ 20

Kim ngã thượng thể thủ                  今  我  上  體  首

Bạch sanh vi bị đạo                        白  生  為  被  盜

Dĩ hữu thiên sứ triệu                      已  有  天  使  召

Thời chánh nghi xuất gia                時  正  宜  出  家

 

Nay trên đầu ta đã bắt đầu có tóc bạc, tuổi trẻ ta hầu như đã bị đánh cắp, thiên sứ đã đến báo tin, có lẽ đã đến lúc ta phải xuất gia.

Kinh Thoát Vòng Sinh Tử

Tâm diệt pháp cũng diệt, sinh diệt như mưa và như mưa đá, lưu chuyển không tự biết.

 

Sanh Tử  Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập thất

生死品法句經第三十七

Kinh Thoát Vòng Sinh Tử

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 37

 

Phẩm này có 18 bài kệ. Kinh này nói về luân hồi sinh tử và cách vượt thoát luân hồi sinh tử. Có những bài kệ cho ta cảm tưởng là thân và tâm là hai thực thể riêng biệt và thần thức thì thường tại trong khi hình hài thì tạm bợ. Cái thấy ấy có thể làm người ta đi lạc vào thường kiến. Nhưng bài kệ thứ 7 nhắc ta rằng cả hai cái thấy đoạn diệt và thường tại đều là những tà kiến và cái thấy luân hồi sinh tử trong ánh sáng của vô thường và vô ngã mới đích thực là chánh kiến. Thức lấy căn làm tên gọi, như nhãn thức, thân thức, ý thức… Đó là lời nhắc nhở của bài kệ thứ 10, cho ta nhớ cả thân và tâm đều nương vào nhau mà biểu hiện. Bài kệ 11 đi sâu hơn: tâm và đối tượng của tâm vừa khởi lên thì diệt ngay. Tâm diệt pháp cũng diệt, sinh diệt như mưa và mưa đá, lưu chuyển không tự biết. Đó là một bài kệ rất sâu sắc. Trong khi ấy thì bài kệ thứ 12 lại đi về hướng nhận thức nhị nguyên; cho thân và tâm là hai cái có thể tách rời nhau: đây là kinh chưa liễu nghĩa, nhưng cũng có sứ mạng của nó: thần thức đi về năm nẻo, bỏ thân này rồi lại thọ thân khác. Bài thứ 13 và 14 đưa ra những hình ảnh bỏ nhà cũ đi về nhà mới và bình vỡ chim bay đi.

 

Bài kệ 1

Mạng như quả đãi thục                   命  如  菓  待  熟

Thường khủng hội linh lạc               常  恐  會  零  落

Dĩ sanh giai hữu khổ                      已  生  皆  有  苦

Thục năng trí bất tử                       孰  能  致  不  死

 

Mạng sống con người như trái cây đợi chín có thể rụng bất cứ lúc nào: có sinh ra thì phải có diệt. Có ai sống hoài được đâu.

 

Bài kệ 2

Tòng sơ lạc ân ái                             從  初  樂  恩  愛

Khả dâm nhập phao ảnh                   可  婬  入  泡  影

Thọ hình mạng như điện                   受  形  命  如  電

Trú dạ lưu nan chỉ                           晝  夜  流  難  止

 

Ban đầu vì có ân ái nên mới có luân hồi. Thân hình và mạng sống được tiếp nhận, trôi chảy ngày đêm như một dòng điện, không thể nào dừng lại được.

 

Bài kệ 3

Thị thân vi tử vật                            是  身  為  死  物

Tinh thần vô hình pháp                   精  神  無  形  法

Giả lệnh tử phục sanh                    假  令  死  復  生

Tội phước bất bại vong                 罪  福  不  敗  亡

 

Thân thể mà không có tâm thức thì không có sự sống, trong khi đó tinh thần là cái vô hình tướng, cho nên chết rồi lại phải sinh trở lại, tội và phước không bao giờ mất đi.

 

Bài kệ 4

Chung thủy phi nhất thế                   終  始  非  一  世

Tùng si ái cửu trường                     從  癡  愛  久  長

Tự thử thọ khổ lạc                          自  此  受  苦  樂

Thân tử thần bất tang                     身  死  神  不  喪

 

Sự sống đâu phải chỉ được giới hạn trong một đời người. Vì có si mê và ái thủ cho nên cứ phải luân hồi lâu dài để hưởng phúc lạc hay chịu khổ đau. Thân xác tuy tiêu hoại nhưng thần thức không mất.

 

Bài kệ 5

Thân tứ đại vi sắc                           身  四  大  為  色

Thức tứ uẩn viết danh                     識  四  陰  曰  名

Kỳ tình thập bát chủng                   其  情  十  八  種

Sở duyên khởi thập nhị                   所  緣  起  十  二

 

Thân tứ đại này là sắc. Bốn uẩn kia kể cả thức uẩn thuộc về danh. Vọng tình sinh từ mười tám giới, nối tiếp do mười hai nhân duyên.

 

Bài kệ 6

Thần chỉ phàm cửu xứ                     神  止  凡  九  處

Sanh tử bất đoạn điệt                     生  死  不  斷  滅

Thế gian ngu bất văn                      世  間  愚  不  聞

Tế ám vô thiên nhãn                       蔽  闇  無  天  眼

 

Thần thức đi qua sinh tử trong chín cõi cư trú, không dừng nghỉ. Người trần tục không có con mắt tuệ không thấy, không nghe được sự thật này. Con mắt của họ bị che ám.

 

Bài kệ 7

Tự đồ dĩ tam cấu                            自  塗  以  三  垢

Vô mục ý vọng kiến                         無  目  意  妄  見

Vị tử như sanh thời                         謂  死  如  生  時

Hoặc vị tử đoạn diệt                       或  謂  死  斷  滅

 

Tự làm ô nhiễm bởi ba loại trần cấu (tam cái), vì không có con mắt tuệ nên tâm ý họ chứa đầy những cái thấy sai lạc, cho nên họ bị vướng vào hoặc cái thấy đoạn diệt hoặc cái thấy thường tại.

 

Bài kệ 8

Thức thần tạo tam giới                  識  神  造  三  界

Thiện bất thiện ngũ xứ                   善  不  善  五  處

Uẩn hành nhi mặc đáo                  陰  行  而  默  到

Sở vãng như hưởng ưng               所  往  如  響  應

 

Chính thần thức tạo ra ba cõi và năm đường, bao gồm cả những gì thiện và ác. Năm ấm và các hành cứ lặng lẽ mà biểu hiện, qua lại như âm theo hưởng, như bóng theo hình.

 

Bài kệ 9

Dục sắc bất sắc hữu                       欲  色  不  色  有

Nhất thiết nhân túc hành                   一  切  因  宿  行

Như chủng tùy bổn tượng                如  種  隨  本  像

Tự nhiên báo như ý                        自  然  報  如  意

 

Sinh vào ba cõi dục, sắc và vô sắc là do nhân nghiệp sẵn có từ kiếp trước, hạt nào thành cây ấy, quả báo đến một cách tự nhiên.

 

Bài kệ 10

Thần dĩ thân vi danh                      神  以  身  為  名

Như hỏa tùy hình tự                      如  火  隨   形  字

Trước chúc vi chúc hỏa                  著  燭  為  燭  火

Tùy thán thảo phẩn tân                   隨  炭  草  糞  薪

 

Thức lấy căn làm tên gọi, cũng như lửa lấy tên nhiên liệu làm tên mình, như lửa nến, lửa than, lửa rơm, lửa củi hoặc lửa phân.

 

Bài kệ 11

Tâm pháp khởi tắc khởi                 心  法  起  則  起

Pháp diệt nhi tắc diệt                      法  滅  而  則  滅

Hưng suy như vũ bạc                     興  衰  如  雨  雹

Chuyển chuyển bất tự thức             轉  轉  不  自  識

 

Tâm và đối tượng của tâm vừa khởi lên thì diệt ngay, tâm diệt pháp cũng diệt, sinh diệt như mưa và mưa đá, lưu chuyển không tự biết.

 

Bài kệ 12

Thức thần tẩu ngũ đạo                  識  神  走  五  道

Vô nhất xứ bất cánh                      無  一  處  不  更

Xả thân phục thọ thân                   捨  身  復  受  身

Như luân chuyển trước địa             如  輪  轉  著  地

 

Thần thức đi về năm nẻo qua lại khắp mọi nơi, bỏ thân này rồi lại thọ thân khác nhanh như xe lăn trên mặt đất.

 

Bài kệ 13

Như nhân nhất thân cư                  如  人  一  身  居

Khứ kỳ cố thất trung                      去  其  故  室  中

Thần dĩ hình vi lư                          神  以  形  為  廬

Hình hoại thần bất vong                形  壞  神  不  亡

 

Như người ở trong nhà, bỏ nhà cũ đi vào nhà mới, thần thức lấy thân làm nhà, khi thân xác tiêu hoại thần thức vẫn tiếp tục.

 

Bài kệ 14

Tinh thần cư hình khu                    精  神  居  形  軀

Do tước tạng khí trung                  猶  雀  藏  器  中

Khí phá tước phi khứ                    器  破  雀  飛  去

Thân hoại thần thệ sanh                身  壞  神  逝  生

 

Thần thức cư trú trong hình hài như con chim ẩn náu trong ruột bình. Bình vỡ chim bay đi. Thân hoại thần thức đi đầu thai.

 

Bài kệ 15

Tánh si tịnh thường tưởng            性  癡  淨  常  想

Lạc thân tưởng nghi tưởng           樂  身  想  疑  想

Hiềm vọng phi thượng yếu            嫌  望  非  上  要

Phật thuyết thị bất minh                佛  說  是  不  明

 

Si mê nên cứ tưởng bất tịnh là tịnh, vô thường là thường, khổ là lạc. Đó là những tri giác sai lầm, do đó mà có những cái ưa cái ghét không chính xác. Bụt bảo cái đó là vô minh.

 

Bài kệ 16

Nhất bản nhị triển chuyển             一  本  二  展  轉

Tam cấu ngũ di quảng                   三  垢  五  彌  廣

Chư hải thập tam sự                    諸  海  十  三  事

Uyên tiêu việt độ hoan                   淵  銷  越  度  歡

 

Từ cái một căn bản mà chuyển thành cái hai (nhị chuyển), rồi tới cái tam cấu và cái ngả đi rộng lớn.

(Từ căn bản trí đi đến sự thành tựu của nhị trí, hành giả vượt được vực sâu của tam cấu, năm thủ uẩn và mười hai cơn lũ lụt, đạt tới niềm vui siêu việt).

 

Bài kệ 17

Tam sự đoạn tuyệt thời                  三  事  斷  絕  時

Tri thân vô sở trực                         知  身  無  所  直

Mạng khí uân noãn thức                命  氣  熅  煖  識

Xả thân nhi chuyển thệ                 捨  身  而  轉  逝

 

Ba yếu tố hơi thở, hơi nóng và thức không còn thì biết thân hình này không thể tồn tại nữa. Đây là lúc bỏ thân để đi qua.

 

Bài kệ 18

Đương kỳ tử ngọa địa                    當  其  死  臥  地

Do thảo vô sở tri                            猶  草  無  所  知

Quán kỳ trạng như thị                    觀  其  狀  如  是

Đãn huyễn nhi ngu tham                但  幻  而  愚  貪

 

Hình hài đã nằm chết ở trên đất, như cỏ khô, người ta không hay biết gì nữa. Quán được như thế thì thấy tất cả đều như huyễn. Chỉ có kẻ không có trí tuệ mới tham tiếc thân này.

 

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê Hoàn là Niết Bàn (Nirvana, Nibbana). Trong bản dịch, có chữ trời phương ngoại. Trời phương ngoại là cái không gian vượt ra ngoài không gian, chữ Hán gọi là thiên ngoại thiên hay phương ngoại phương.  Phương là không gian, phương ngoại là ngoài không gian, nghĩa là không gian nằm ngoài không gian. Rong chơi trời phương ngoại là đi chơi trong thế giới không gian ngoài không gian.  Trong không gian này không có sinh, không có diệt, khống có tới, không có đi, không có còn, không có mất, không có ta, không có người, không có sự phân biệt kỳ thị.  Không gian đó bao la vô cùng, gọi là Niết Bàn.

 

Nê Hoàn Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập lục

泥洹品法句經第三十六

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 36

 

Phẩm này có 36 bài kệ. Nê Hoàn là Niết Bàn, kinh này không có trong văn bản Pháp Cú Pali. Các kinh còn lại cũng thế.

 

Bài kệ 1

Nhẫn vi tối tự thủ                        忍  為  最  自  守
Nê hoàn Phật xưng thượng         泥  洹  佛  稱  上
Xả gia bất phạm giới                  捨  家  不  犯  戒
Tức tâm vô sở hại                     息  心  無  所  害

 

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ.
Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất.
Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời phạm hạnh, không phạm giới,
Làm lắng dịu được tâm ý, thì không có gì có thể xâm phạm được đến mình.

 

Bài kệ 2

Vô bệnh tối lợi                無  病  最  利
Tri túc tối phú                 知  足  最  富
Hậu vi tối hữu                 厚  為  最  友
Nê hoàn tối khoái           泥  洹  最  快

 

Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất
Tri túc là cái giàu có to nhất
Trung thực là người bạn tốt nhất
Niết bàn là cái hạnh phúc cao nhất.

 

 

Bài kệ 3

Cơ vi đại bệnh                        飢  為  大  病
Hành vi tối khổ                       行  為  最  苦
Dĩ đế tri thử                           已  諦  知  此
Nê hoàn tối lạc                       泥  洹  最  樂

Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất.
Các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất.
Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu
Thì Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất.

Bài kệ 4

 

Thiểu vãng thiện đạo              少  往  善  道
Thú ác đạo đa                       趣  惡  道  多
Như đế tri thử                        如  諦  知  此
Nê hoàn tối an                       泥  洹  最  安

 

Ở đời, ít người được đi trên nẻo thiện,
Trong khi ấy, kẻ đi trên đường ác thì nhiều.
Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu
Thì Niết bàn là nơi an toàn nhất.

Bài kệ  5

 

Tùng nhân sanh thiện                 從  因  生  善
Tùng nhân đọa ác                      從  因  墮  惡
Do nhân nê hoàn                        由  因  泥  洹
Sở duyên diệc nhiên                   所  緣  亦  然

 

Các cõi trời do tạo tác nhân lành mà mình được sinh lên,
Các ác đạo cũng do ác nhân mà mình bị đọa xuống
Niết bàn cũng như thế
Do nhân duyên tu tập mà có Niết bàn.

 

Bài kệ 6

 

Mi lộc y dã                              麋  鹿  依  野
Điểu y hư không                      鳥  依  虛  空
Pháp quy kỳ báo                      法  歸  其  報
Chân nhân quy diệt                   真  人  歸  滅

Hươu nai nương đồng quê.
Chim chóc nương trời mây.
Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện.
Các bậc chân nhân nương vào Niết bàn để sống thảnh thơi.

Bài kệ 7

Trong Đại Tạng Tân Tu:
Thỉ vô như bất                   始  無  如  不
Thỉ bất như vô                   始  不  如  無
Thị vi vô đắc                      是  為  無  得
Diệc vô hữu tư                  亦  無  有  思

 

Trong một bản in khác:
Thỉ vô thỉ phủ                             始  無  始  否
Như bất như vô                          如  不  如  無
Thị vi vô đắc                              是  為  無  得
Diệc vô hữu tư                           亦  無  有  思

 

Thấy được cái không trước, không sau
Không là, không không là
Cái đó là vô đắc
Cũng là cái không thể tư duy được.

Bài kệ 8

Tâm nan kiến tập khả đổ                  心  難  見  習  可  覩
Giác dục giả nãi cụ kiến                    覺  欲  者  乃  具  見
Vô sở lạc vi khổ tế                            無  所  樂  為  苦  際
Tại ái dục vi tăng thống                      在  愛  欲  為  增  痛

 

Tâm khó thấy, nhưng thói quen có thể nhận ra,
Kẻ nhận diện được dục ý thấy được đầy đủ rằng
Không tìm thú vui trong dục lạc thì tránh được mọi thứ khổ
Và ái dục luôn luôn làm tăng trưởng niềm đau.
 

Bài kệ 9

Minh bất thanh tịnh năng ngự                  明  不  清  淨  能  御
Vô sở cận vi khổ tế                                無  所  近  為  苦  際
Kiến hữu kiến văn hữu văn                      見  有  見  聞  有  聞
Niệm hữu niệm thức hữu thức                  念  有  念  識  有  識

 

Trong một bản in khác:

Minh bất nhiễm tịnh năng ngự                       明  不  染  淨  能  御
Vô sở cận vi khổ tế                                     無  所  近  為  苦  際
Kiến hữu kiến văn hữu văn                           見  有  見  聞  有  聞
Niệm hữu niệm thức hữu thức                      念  有  念  識  有  識

 

Sáng suốt, không để cho tâm ý bị nhiễm ô
Một khi đã được thanh tịnh hóa thì chế ngự được mọi dục ý.
Lúc ấy không còn phải tiếp cận với thế giới đau khổ nữa
Tuy rằng thấy thì vẫn thấy, nghe thì vẫn nghe,
Nhớ thì vẫn nhớ, và biết thì vẫn biết.

Bài kệ 10

Đố vô trước diệc vô thức                           覩  無  著  亦  無  識
Nhất thiết xả vi đắc tế                                 一  切  捨  為  得  際
Trừ thân tưởng diệt thống hành                   除  身  想  滅  痛  行
Thức dĩ tận vi khổ cánh                              識  已  盡  為  苦  竟

 

Đạt được cái vô trước và vô phân biệt,
Một khi buông bỏ được mọi ý niệm rồi thì sẽ vào được cõi ấy
Vượt thắng được ý niệm về ngã,
Điều phục được các tâm hành có tác dụng gây đau nhức
Và dứt bỏ được hoàn toàn cái tập khí nhận thức phân biệt kỳ thị, thì khổ đau không còn.

Bài kệ 11

Ỷ tắc động hư tắc tịnh                     猗  則  動  虛  則  淨
Động phi cận phi hữu lạc                  動  非  近  非  有  樂
Lạc vô cận vi đắc tịch                      樂  無  近  為  得  寂
Tịch dĩ tịch dĩ vãng lai                      寂  已  寂  已  往   來

 

Trong một bản in khác:

Ỷ tắc động hư tắc tĩnh                        猗  則  動  虛  則  静
Động phi cận phi hữu lạc                     動  非  近  非  有  樂
Lạc vô cận vi đắc tịch                         樂  無  近  為  得  寂
Tịch dĩ tịch vô vãng lai                        寂  已  寂  無  往  來

 

Ở trong hoàn cảnh động mà giữ được tâm thanh hư thì vẫn là tĩnh
Trong cái động, không tiếp cận được Niết bàn, cũng không có an lạc
Ý niệm về cái vui và cái khổ đã vượt qua rồi thì mới thực sự có cái tịch tĩnh
Vượt qua được cái ý niệm tịch tĩnh thì sẽ không còn cái qua lại nữa.

Bài kệ 12

Vãng lai tuyệt vô sanh tử                 往  來  絕  無  生  死
Sanh tử đoạn vô thử bỉ                    生  死  斷  無  此  彼
Thử bỉ đoạn vi lưỡng diệt                 此  彼  斷  為  兩  滅
Diệt vô dư vi khổ trừ                        滅   無  餘  為  苦  除

 

Cái qua lại đã hết, thì cái sinh tử cũng hết
Sinh tử hết thì làm gì còn phân biệt cái này cái kia?
Cái này và cái kia, cả hai ý niệm đều được chấm dứt
Cái tịch diệt tuyệt đối là cái vắng mặt của cảnh giới đau khổ.

Bài kệ 13
Tỳ-kheo hữu thế sanh                比  丘  有  世  生
Hữu hữu hữu tác hành               有  有  有  作  行
Hữu vô sanh vô hữu                  有  無  生  無  有
Vô tác vô sở hành                     無  作  無  所  行

 

Này các vị Tỳ Kheo, trên đời này có cái sinh, có cái hữu, có cái tác, có cái hành. Nhưng cũng có cái không sinh, có cái không hữu, có cái không tác, có cái không hành để làm nẻo thoát cho những cái có sinh, có hữu, có tác, có hành ấy.

 

Bài kệ 14

Phu duy vô niệm giả                     夫  唯  無  念  者
Vi năng đắc tự trí                         為  能  得  自  致
Vô sanh vô phục hữu                    無  生  無  復  有
Vô tác vô hành xứ                        無  作  無  行  處

Chỉ khi đạt được vô niệm
Mới có thể tới được Niết bàn
Nếu đã là vô sinh thì không còn hữu nữa
Lúc ấy không còn tác, cũng không còn hành

Bài kệ 15

Sanh hữu tác hành giả                         生  有  作  行  者
Thị vi bất đắc yếu                                是  為  不  得  要
Nhược dĩ giải bất sanh                        若  已  解  不  生
Bất hữu bất tác hành                           不  有  不  作  行

Thấy có sinh, có hữu, có tác, có hành
Là chưa đạt tới chỗ thiết yếu
Nếu hiểu được thế nào là bất sinh
Thì không thấy còn hữu cũng không còn nhu yếu tác và hành.
 

 

Bài kệ 16

Tắc sanh hữu đắc yếu                     則  生  有  得  要
Tùng sanh hữu dĩ khởi                    從  生  有  已  起
Tác hành trí tử sanh                       作  行  致  死  生
Vi khai vi pháp quả                         為  開  為  法  果

Vì hữu nên mới phải có sinh
Và vì sinh cho nên hữu lại tiếp tục
Có tác, có hành, thì tử rồi lại sinh
Đó là cánh cửa sinh tử mở ra, để đưa đến sự phát khởi của các pháp.
 

Bài kệ 17

Tùng thực nhân duyên hữu                 從  食  因  緣  有
Tùng thực trí ưu lạc                           從  食  致  憂  樂
Nhi thử yếu diệt giả                            而  此  要  滅  者
Vô phục niệm hành tích                      無  復  念  行  迹

 

Cái gì cũng do thức ăn mà tồn tại
Ngay cả cái buồn, cái vui cũng phải cần thức ăn mới có
Nếu cái chất liệu thiết yếu ấy không còn
Thì không còn dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện.

Bài kệ 18

Chư khổ pháp dĩ tận                    諸  苦  法  已  盡
Hành diệt trạm nhiên an               行  滅  湛  然  安
Tỷ-khưu ngô dĩ tri                       比  丘  吾  已  知
Vô phục chư nhập địa                  無  復  諸  入  地 

Nếu khổ đau đã hết và các hành đã diệt
Thì hạnh phúc sẽ có mặt một cách lặng lẽ và sẽ có bình an
Này các vị Tỳ-kheo, tôi  đã thực chứng điều này
Cho nên tôi  không cần phải tìm đi vào một cõi nào nữa.

Bài kệ 19

Vô hữu hư không nhập                    無  有  虛  空  入
Vô chư nhập dụng nhập                   無  諸  入  用  入
Vô tưởng bất tưởng nhập                無  想  不  想  入
Vô kim thế hậu thế                          無  今  世  後  世

 

Không đi vào cõi hư không
Không có cái nơi đi vào để đi vào
Không đi vào cõi tưởng hay cõi vô tưởng
Không đi vào đời này hay đời sau.

 

Bài kệ 20

Diệc vô nhật nguyệt tưởng            亦  無  日  月  想
Vô vãng vô sở huyền                    無  往  無  所  懸
Ngã dĩ vô vãng phản                     我  已  無  往  反
Bất khứ nhi bất lai                        不  去  而  不  來

 

Cũng không có ý niệm về mặt trời và mặt trăng đang có mặt
Không đi cũng không ở lại
Không có một cái ngã để đi và để về
Thì không có cái đi và cái về.

 

Bài kệ 21

Bất một bất phục sanh                  不  沒  不  復  生
Thị tế vi nê hoàn                           是  際  為  泥  洹
Như thị tượng vô tượng                如  是  像  無  像
Khổ lạc vi dĩ giải                          苦  樂  為  以  解

 

Nơi không có cái mất đi cũng không có cái còn sinh ra
Nơi ấy là Niết bàn.
Như thế thì vấn đề có đối tượng tri giác hay không có đối tượng tri giác
Vì vấn đề bản chất của cái khổ và cái vui, mình đã hiểu thấu.

Bài kệ 22

Sở kiến bất phục khủng            所  見  不  復  恐
Vô ngôn ngôn vô nghi               無  言  言  無  疑
Đoạn hữu chi xạ tiễn                斷  有  之  射  箭
Cấu ngu vô sở y                      遘  愚  無  所  猗

 

Cái mình thấy không còn làm cho mình sợ hãi nữa
Không còn nghi ngờ gì nữa về ngôn từ hay không ngôn từ
Mũi tên bắn rơi được cái hữu rồi
Thì khi gặp kẻ ngu muội không cần diễn bày gì nữa cả.

Bài kệ 23

Thị vi đệ nhất khoái                            是  為  第  一  快
Thử đạo tịch vô thượng                      此  道  寂  無  上
Thọ nhục tâm như địa                         受  辱  心  如  地
Hành nhẫn như môn quắc                    行  忍  如  門  閾

 

Đó là cái lạc thú đệ nhất
Con đường tịch diệt này không có gì cao hơn
Lúc bấy giờ mình có khả năng nhẫn chịu được, tâm mình cũng như đất
Và cái hành nhẫn cũng như một thành quách.

 

Bài kệ 24

Tịnh như thủy vô cấu                    淨  如  水  無  垢
Sanh tận vô bỉ thọ                        生  盡  無   彼  受
Lợi thắng bất túc thị                     利  勝  不  足  恃
Tuy thắng do phục khổ                 雖  勝  猶  復  苦

 

Thanh tịnh như nước trong không còn chút cấu uế
Hết chất liệu luân hồi (sở sinh) thì không tiếp nhận cái kia nữa
Cái thắng và cái lợi không còn làm tiêu chuẩn để đi theo
Bởi vì dù có thắng có lợi nhưng cái khổ vẫn còn đó.

 

Bài kệ 25

Đương tự cầu khứ thắng                 當  自  求  去  勝
Dĩ thắng vô sở sanh                       已  勝  無  所  生
Tất cố bất tạo tân                          畢  故  不  造  新
Yếm thai vô dâm hành                    厭  胎  無  婬  行

 

Chỉ nên tự cầu cái thắng lợi về Pháp
Đã có pháp thắng thì không còn sở sinh
Hết sở sinh rồi thì không tạo tác thêm nữa
Muốn không còn luân hồi thì đừng nên có những hành động phóng đãng.

Bài kệ 26

Chủng tiêu bất phục sanh        種  燋  不  復  生
Ý tận như hỏa diệt                 意  盡  如  火  滅
Bào thai vi uế  hải                  胞  胎  為  穢  海
Hà vi lạc dâm hành                何  為  樂  婬  行

 

Hạt giống một khi bị đốt cháy rồi thì không sinh lại
Tâm ý đã dừng lại rồi thì cũng như lửa đã tắt
Chốn dâm căn là một biển ô uế
Tại sao lại đi tìm lạc thú ở nơi ấy?

 

Bài 27

Tuy thượng hữu thiện xứ                   雖  上  有  善  處
Giai mạc như nê hoàn                      皆  莫  如  泥  洹
Tất tri nhất thiết đoạn                       悉  知  一  切  斷
Bất phục trước thế gian                    不  復  著  世  間

 

Tuy phía trên kia có những cõi trời
Nhưng cũng không đâu bằng Niết bàn
Đã có nhất thiết trí thì cắt bỏ được tất cả
Ta không còn vướng mắc nữa vào thế gian.

 

Bài kệ 28

Đô khí như diệt độ                                 都  棄  如  滅  度
Chúng đạo trung tư thắng                       眾  道  中  斯  勝
Phật dĩ hiện đế pháp                              佛  以  現  諦  法
Trí dũng năng phụng trì                           智  勇  能  奉  持

Buông bỏ hết, đã qua bờ diệt độ
Trong các con đường, đây là con đường đẹp nhất
Bụt đã diễn bày pháp chân đế
Kẻ có trí và có dũng có thể làm theo.

 

Bài kệ 29
Hành tịnh vô hà uế                             行  淨  無  瑕  穢
Tự tri độ thế an                                 自  知  度  世  安
Đạo vụ tiên viễn dục                           道  務  先  遠  欲
Tảo phục Phật giáo giới                     早  服  佛  教  戒

 

Sống phạm hạnh, không một vết nhơ
Tự biết mình, vượt thời gian, đạt an ổn
Trong nếp sống tu tập, trước hết là xa lánh ái dục
Phải tự trang bị mình bằng giới luật của Bụt ngay tự bây giờ.

 

Bài kệ 30

Diệt ác cực ác tế                              滅  惡  極  惡  際
Dị như điểu thệ không                       易  如  鳥  逝  空
Nhược dĩ giải pháp cú                      若  已  解  法  句
Chí tâm thể đạo hành                       至  心  體  道  行

 

Diệt phiền não, thoát ra khỏi thế giới hệ lụy
Dễ như con chim cất cánh bay lên không trung
Nếu hiểu được pháp cú này
Thì hãy đem hết lòng mà đi tới trên con đường đạo

Bài kệ 31

Thị độ sanh tử ngạn                                    是  度  生  死  岸
Khổ tận nhi vô hoạn                                     苦  盡  而  無  患
Đạo pháp vô thân sơ                                   道  法  無  親  疎
Chánh bất vấn doanh cường                        正  不 問  羸  強

Đó là con đường vượt qua bờ sinh tử
Đưa tới chỗ chấm dứt khổ đau hoạn nạn
Trong đạo pháp, không còn sự phân biệt thân sơ
Không còn hỏi ai có thế lực nhiều, ai không có thế lực.

 

Bài kệ 32

Yếu tại vô thức tưởng                   要  在  無  識  想
Kết giải vi thanh tịnh                      結  解  為  清  淨
Thượng trí yếm hủ thân                 上  智  饜  腐  身
Nguy thúy phi thật chân                 危  脆  非  實  真

Quan trọng nhất là đừng bám vào tri giác
Khi cả hai cái cột và mở đều đã thanh tịnh
Thì bậc thượng trí không còn bị kẹt vào cái hình hài dễ tan vỡ này
Và thấy nó là một cái gì không chắc thật.

Bài kệ 33

Khổ đa nhi lạc thiểu                         苦  多  而  樂  少
Cửu khổng vô nhất tịnh                   九  孔  無  一  淨
Tuệ dĩ nguy mậu an                        慧  以  危  貿  安
Khí y thoát chúng nạn                     棄  猗  脫  眾  難

 

Hình hài này đem lại khổ lụy nhiều mà an vui ít
Trong chín kẻ hở, không một kẻ hở nào thanh khiết
Người có trí tuệ biết bỏ nguy, giữ an
Chấm dứt ba hoa, trút được mọi khổ nạn.

 

Bài kệ 34

Hình hủ tiêu vi mạt                              形  腐  銷  為  沫
Tuệ kiến xả bất tham                          慧  見  捨  不  貪
Quán thân vi khổ khí                           觀  身  為  苦  器
Sanh lão bệnh vô thống                       生  老  病  無  痛

 

Hình hài này một khi đã hủy hoại sẽ trở thành tro bụi
Kẻ có tuệ biết buông bỏ không bám víu
Quán chiếu thấy được thân này là một công cụ mang toàn hệ lụy
Thì sinh, lão, bệnh, tử sẽ không còn là chuyện đau buồn.
 

Bài kệ 35

Khí cấu hành thanh tịnh                   棄  垢  行  清  淨 
Khả dĩ hoạch đại an                       可  以  獲  大  安
Y tuệ dĩ khước tà                          依  慧  以  却  邪 
Bất thọ lậu đắc tận                         不  受  漏  得  盡

Buông bỏ được cấu uế, đi trên đường thanh tịnh
Thì có thể đạt tới cái an tĩnh lớn
Nương tuệ giác, bỏ tà kiến
Không tiếp nhận gì nữa thì đạt được tới lậu tận.

 

Bài kệ 36
Hành tịnh trí độ thế                     行  淨  致  度  世 
Thiên nhân mạc bất lễ                 天  人  莫  不  禮

Sống thanh tịnh, vượt thoát được thời gian,
Thì cả hai giới thiên nhân đều nghiêng mình kính nể.

Kinh Người Xuất Sĩ

Người xuất sĩ dù là còn trẻ nhưng hết lòng thực tập Phật pháp thì cũng giống như một mặt trăng soi sáng thế gian trong khung trời không có mây ám.

 

Sa Môn Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập tứ

沙門品法句經第三十四

Kinh Người Xuất Sĩ

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 34

 

Phẩm này có 32 bài kệ. Kinh này hoàn toàn để dành cho người xuất gia, nhưng người tại gia cũng cần phải học hỏi để có thể phân biệt được ai là người xuất gia chân chính. Người cư sĩ học kinh này sẽ thấy mình cũng có khả năng làm được như người xuất sĩ, nếu tâm bồ đề của mình đủ lớn mạnh. Mỗi bài kệ trong kinh này là một tấm gương soi sáng, rất tỏ tường. Ta hãy đọc các bài kệ thứ 5, thứ 6 và thứ 7 thì biết. Bài thứ 8 dạy các vị xuất sĩ làm lắng dịu các tâm hành, đạt tới bình an và thâm nhập được thiền định. Bài 15 dạy người xuất sĩ không cần làm sở hữu chủ của bất cứ cơ sở hay của cải nào. Bài 21 nhắc nhở rằng người xuất sĩ phải có hạnh phúc trong đời sống xuất gia, có khả năng chế tác hỷ lạc. Bài 22 dạy: người xuất sĩ dù là còn trẻ nhưng nếu hết lòng thực tập phật pháp thì cũng giống như một mặt trăng soi sáng thế gian trong khung trời không mây u ám. Các bài 23 và 24 ví vị xuất sĩ như một đóa sen, tinh khiết, vượt qua mặc cảm, buông bỏ ý niệm lưỡng nguyên, cắt đứt ân ái, chiến thắng ái dục, vượt qua được dòng lũ lụt. Đối với người xuất gia, kinh này cần nên tụng đọc ít nhất mỗi tháng một lần.

 

Bài kệ 1

Đoan mục nhĩ tỳ khẩu                  端  目  耳  鼻  口

Thân ý thường thủ chánh              身  意  常  守  正

Tỳ-kheo hành như thị                    比  丘  行  如  是

Khả dĩ miễn chúng khổ                可  以  免  眾  苦

 

Giữ gìn sáu căn là mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý của mình cho đoan chính, thực tập được như thế thì vị khất sĩ có khả năng diệt trừ được hết mọi khổ đau.

 

Bài kệ 2

Thủ túc mạc vọng phạm                 手  足  莫  妄  犯

Tiết ngôn thuận sở hành                 節  言  順  所  行

Thường nội lạc định ý                    常  內  樂  定  意

Thủ nhất hành tịch nhiên                守  一  行  寂  然

 

Tay chân không vọng động, lời nói được tiết chế, hành động thận trọng, thường ưa thích thiền tập, đó là tư cách của một vị hành giả tĩnh lặng.

 

Bài kệ 3

Học đương thủ khẩu                      學  當  守  口

Hựu ngôn an từ                             宥  言  安  徐

Pháp nghĩa vi định                         法  義  為  定

Ngôn tất nhu nhuyễn                      言  必  柔  軟

 

Kẻ hành giả giữ gìn khẩu nghiệp, nói lời an lành từ tốn, sử dụng ái ngữ để giảng bày yếu nghĩa của Phật pháp.

 

Bài kệ 4

Lạc pháp dục Pháp                          樂  法  欲  法

Tư tánh an Pháp                              思  惟  安  法

Tỳ-kheo y Pháp                               比  丘  依  法

Chánh nhi bất phí                             正  而  不  費

 

Ưa thích học hỏi Phật pháp, chiêm nghiệm về Phật pháp, có niềm vui khi học hỏi và hành trì Phật pháp, vị Tỳ-khưu nương vào Phật pháp, đứng vững trong Phật pháp và không đánh mất cơ hội của mình.

 

Bài kệ 5

Học vô cầu lợi                                  學  無  求  利

Vô ái tha hành                                 無  愛  他  行

Tỳ-kheo hảo tha                              比  丘  好  他

Bất đắc định ý                                 不  得  定  意

Hành trì mà không tìm cầu lợi dưỡng, vị Tỳ-khưu không thèm muốn cái người ta đang có. Tâm ý nếu còn thèm muốn cái người ta đang có, vị khất sĩ không thành tựu được thiền định.

 

Bài kệ 6

Tỳ-kheo thiểu thủ                            比  丘  少  取

Dĩ đắc vô tích                                 以  得  無  積

Thiên nhân sở dự                            天  人  所  譽

Sanh tịnh vô uế                               生  淨  無  穢

 

Tiếp nhận của cúng dường vừa phải, không có ý chất chứa cho riêng mình, vị Tỳ-khưu được các giới trời và người ca ngợi, làm phát sinh được sự thanh tịnh và trừ diệt được sự ô nhiễm.

 

Bài kệ 7

Nhất thiết danh sắc                         一  切  名  色

Phi hữu mạc hoặc                           非  有  莫  惑

Bất cận bất ưu                                不  近  不  憂

Nãi vi Tỳ-kheo                                乃  為  比  丘

 

Thấy được tất cả các hiện tượng sắc và tâm đều không thật có, không bị chúng mê hoặc, không nắm bắt chúng, cũng không lo buồn khi không có chúng, đó đích thực là một vị khất sĩ.

Bài kệ 8

Tỳ-kheo vi từ                                  比  丘  為  慈

Ái kính Phật giáo                             愛  敬  佛  教

Thâm nhập chỉ quán                       深  入  止  觀

Diệt hành nãi an                              滅  行  乃  安

 

Thực tập tâm từ, yêu kính Phật pháp, thâm nhập được các pháp chỉ và quán, vị khất sĩ làm lắng dịu được mọi tâm hành và đạt tới bình an.

 

Bài kệ 9

Tỳ-kheo hỗ thuyền                           比  丘  扈  船

Trung hư tắc khinh                          中  虛  則  輕

Trừ dâm nộ si                                除  婬  怒  癡

Thị vi nê hoàn                                 是  為  泥  洹

 

Cũng như tát nước ra khỏi chiếc thuyền cho chiếc thuyền được nhẹ, vị khất sĩ buông bỏ ái dục, sân hận và si mê, tới được Niết bàn.

 

Bài kệ 10

Xả ngũ đoạn ngũ                            捨  五  斷  五

Tư tánh ngũ căn                             思  惟  五  根

Năng phân biệt ngũ                         能  分  別  五

Nãi độ hà uyên                               乃  渡  河  淵

 

Buông bỏ năm sử, cắt đứt năm triền, nuôi lớn năm lực, vị khất sĩ vượt năm kiến, thoát ra ngoài cơn lũ lụt.

 

Bài kệ 11

Thiền vô phóng dật                         禪  無  放  逸

Mạc vi dục loạn                              莫  為  欲  亂

Ất thôn dương đồng                       不  吞  洋  銅

Tự não tiêu hình                             自  惱  燋  形

 

Vị khất sĩ thực tập thiền quán không hề phóng dật, không để cho ái dục làm loạn tâm mình, không nuốt hòn sắt nóng của ái dục và không tự đốt cháy hình hài mình bằng lửa ái dục.

 

Bài kệ 12

Vô thiền bất trí                               無  禪  不  智

Vô trí bất thiền                                無  智  不  禪

Đạo tùng thiền trí                            道  從  禪  智

Đắc chí nê hoàn                              得  至  泥  洹

 

Không thiền thì không tuệ, không tuệ thì không thiền, có thiền có tuệ mới có con đường đưa tới Niết Bàn.

 

Bài kệ 13

Đương học nhập không                   當  學  入  空

Tĩnh cư chỉ ý                                   靜  居  止  意

Lạc độc bình xứ                              樂  獨  屏  處

Nhất tâm quán pháp                        一  心  觀  法

 

Vị hành giả tìm tới chỗ yên vắng, ở lại nơi thanh tịnh, ngưng tụ tâm ý, ở một mình, cách biệt thế gian, đem hết tâm trí quán chiếu về các pháp.

 

Bài kệ 14

Thường chế ngũ uẩn                      常  制  五  陰

Phục ý như thủy                             伏  意  如  水

Thanh tịnh hòa duyệt                        清  淨  和  悅

Vi cam lộ vị                                     為  甘  露  味

 

Chế ngự được năm uẩn, điều phục được tâm ý như nước, trong sáng và hòa vui, vị khất sĩ nếm được hương vị của cam lồ tịnh thủy.

 

Bài kệ 15

Bất thọ sở hữu                                不  受  所  有

Vi tuệ Tỳ-kheo                                 為  慧  比  丘

Nhiếp căn tri túc                              攝  根  知  足

Giới luật tất trì                                戒  律  悉  持

 

Không làm sở hữu chủ (của bất cứ cơ sở hay của cải nào), một vị khất sĩ thông tuệ biết nhiếp phục các căn, thực tập tri túc, giới luật nghiêm minh.

 

Bài kệ 16

Sanh đương hành tịnh                     生  當  行  淨

Cầu thiện sư hữu                            求  善  師  友

Trí giả thành nhân                            智  者  成  人

Độ khổ trí hỉ                                    度  苦  致  喜

 

Suốt đời sống tịnh hạnh, tìm cầu thầy giỏi, bạn lành, bậc trí giả hoàn thành được nhân cách của mình, vượt qua biển khổ, tới được bờ vui.

 

Bài kệ 17

Như vệ sư hoa                                如  衛  師  華

Thụ như tự đọa                              熟  如  自  墮

Thích dâm nộ si                              釋  婬  怒  癡

Sanh tử tự giải                                生  死  自  解

 

Như một người bán hoa nhài, rũ cho những cánh hoa tàn rụng xuống, vị khất sĩ làm rơi rụng tham ái, hận thù và si mê, và tự tháo gỡ ra được những sợi dây sinh tử từng trói buộc mình.

 

Bài kệ 18

Chỉ thân chỉ ngôn                             止  身  止  言

Tâm thủ huyền mặc                         心  守  玄  默

Tỳ-kheo khí thế                               比  丘  棄  世

Thị vi thọ tịch                                   是  為  受  寂

 

Vị khất sĩ làm lắng dịu được thân và miệng, đưa tâm tới chỗ yên lắng diệu huyền, buông bỏ hết được chuyện thế gian, được xưng tán là một bậc tĩnh lặng.

 

Bài  kệ 19

Đương tự sắc thân                         當  自  勅  身

Nội dữ tâm tranh                           內  與  心  爭

Hộ thân niệm đế                            護  身  念  諦

Tỳ-kheo duy an                              比  丘  惟  安

 

Tự mình làm chủ được hình hài, lắng được tâm ý, hộ trì được tự thân, quán niệm về chân đế, vị khất sĩ tìm thấy được sự bình an.

 

Bài kệ 20

Ngã tự vi ngã                                 我  自  為  我

Kế vô hữu ngã                                計  無  有  我

Cố đương tổn ngã                          故  當  損  我

Điều nãi vi hiền                               調  乃  為  賢

 

Tự mình bảo hộ được cho mình, nhưng không còn cố chấp vào một cái ngã và không tự làm hư hại cho bản thân, điều phục được như thế thì vị khất sĩ được gọi là một bậc hiền giả.

 

Bài kệ 21

Hỉ tại Phật giáo                               可  以  多  喜

Khả dĩ đa hỉ                                    可  以  多  喜

Chí đáo tịch mịch                            至  到  寂  寞

Hành diệt vĩnh an                             行  滅  永  安

 

Có hạnh phúc trong đời sống xuất gia, có khả năng chế tác niềm vui lớn, đến được cõi tĩnh lặng, nơi ấy các pháp hữu vi đều được nhiếp phục thì sẽ được hưởng an ổn lâu dài.

Bài kệ 22

Thảng hữu thiểu hành                      儻  有  少  行

Ưng Phật giáo giới                          應  佛  教  戒

Thử chiếu thế gian                           此  照  世  間

Như nhật vô ê                                 如  日  無  曀

 

Người xuất sĩ dù là còn trẻ nhưng hết lòng thực tập Phật pháp thì cũng giống như một mặt trăng soi sáng thế gian trong khung trời không có mây ám.

 

Bài kệ 23

Khí mạn vô dư kiêu                        棄  慢  無  餘 憍

Liên hoa thủy sanh tịnh                   蓮  華  水  生  淨

Học năng xả thử bỉ                          學  能  捨  此  彼

Tri thị thắng ư cố                            知  是  勝  於  故

 

Bỏ mặc cảm tự tôn và tất cả các mặc cảm khác, giống như hoa sen sinh ra trong sạch từ nước, người hành giả có thể buông bỏ bỉ và thử, biết rằng nếp sống này là cao đẹp nhất.

 

Bài kệ 24

Cát ái vô luyến mộ                         割  愛  無  戀  慕

Bất thọ như liên hoa                       不  受  如  蓮  華

Tỳ-kheo độ hà lưu                          比  丘  渡  河  流

Thắng dục minh ư cố                      勝  欲  明  於  故

 

Cắt đứt ân ái, không còn lưu luyến gì, như hoa sen không dính bùn, vị khất sĩ vượt qua dòng lũ, chiến thắng được ái dục và đạt tới minh triết.

 

Bài  kệ 25

Tiệt lưu tự thị                                截  流  自  恃

Thệ tâm khước dục                        逝  心  却  欲

Nhân bất cát dục                            仁  不  割  欲

Nhất ý do tẩu                                 一  意  猶  走

 

Hãy nỗ lực chận đứng dòng chảy, tự mình nương cậy vào mình, quyết tâm buông bỏ ái dục. Ái dục chưa dứt thì tâm ý vẫn còn rong ruổi.

 

Bài kệ 26

Vi chi vi chi                                     為  之  為  之

Tất cường tự chế                            必  強  自  制

Xả gia nhi giải                                 捨  家  而  懈

Ý do phục nhiễm                             意  猶  復  染

 

Tinh tiến lên đi! Phải gắng tự nhiếp phục mình, xuất gia mà giải đãi thì tâm ý vẫn còn trở lại tình trạng ô nhiễm.

 

Bài kệ 27

Hành giải hoãn giả                           行  懈  緩  者

Lao ý phất trừ                                 勞  意  弗  除

Phi tịnh phạm hạnh                          非  淨  梵  行

Yên trí đại bảo                                焉  致  大  寶

 

Người tu còn giải đãi, chưa có quyết tâm diệt trừ phiền não thì chưa phải là đang thực sự sống đời sống phạm hạnh thanh tịnh, như thế thì làm sao mong tới được kho tàng châu báu lớn?

 

Bài kệ 28

Sa môn hà hành                             沙  門  何  行

Như ý bất cấm                                如  意  不  禁

Bộ bộ trước niêm                            步  步  著  粘

Đãn tùy tư tẩu                                但  隨  思  走

 

Vị sa môn tại sao lại đi theo ý dục của mình mà không hành trì theo giới cấm? Bước chân nào cũng làm mình vướng mắc, tại sao lại cứ để cho tư dục kéo mình đi như thế?

 

Bài kệ 29

Ca sa phi kiên                                  袈  裟  披  肩

Vi ác bất tổn                                    為  惡  不  損

Ác ác hành giả                                惡  惡  行  者

Tư đọa ác đạo                                斯  墮  惡  道

 

Ca sa vắt vai, làm những điều phi pháp mà không dừng lại được, vị sa môn phải nhớ rằng kẻ làm điều phi pháp thế nào cũng phải sa đọa vào ác đạo.

 

Bài kệ 30

Bất điều nan giới                            不  調  難  誡

Như phong khô thọ                         如  風  枯  樹

Tác tự vi thân                                 作  自  為  身

Hạt bất tinh tấn                               曷  不  精  進

 

Không biết tự điều phục, mà còn khó răn khó dạy, thì cũng như ngọn gió thổi vào cây khô. Đã biết là mình làm thì mình chịu, vậy tại sao mình lại không lo tinh tấn tu tập?

 

Bài kệ 31

Tức tâm phi dịch                             息  心  非  剔

Mạn di vô giới                                 慢  訑  無  戒

Xả tham tư đạo                               捨  貪  思  道

Nãi ưng tức tâm                              乃  應  息  心

 

Phải học cách làm cho tâm ý dừng lại. Không cần phải cắt bỏ bất cứ cái gì. Tất cả những mặc cảm, những vướng mắc, những điều trái chống với giới pháp đều có thể được chuyển hóa khi mình biết buông bỏ đam mê để thực tập Thiền đạo. Như vậy mới đúng là làm cho tâm ý dừng lại.

 

Bài kệ 32

Tức tâm phi dịch                            息  心  非  剔

Phóng dật vô tín                             放  逸  無  信

Năng diệt chúng khổ                      能  滅  眾  苦

Vi thượng sa môn                           為  上  沙  門

 

Phải học cách làm cho tâm ý dừng lại. Không cần phải cắt bỏ bất cứ cái gì. Nếu buông bỏ được sự lười biếng và phát khởi được niềm tin thì mình sẽ có khả năng trừ diệt được mọi khổ nạn. Làm như thế mới thực sự là một vị xuất sĩ xuất sắc.

Kinh Lợi Dưỡng

Dù trời có rơi mưa thất bảo xuống thì cái ham muốn của con người cũng không thỏa mãn. Cái vui ít mà cái khổ thì nhiều, biết được như thế thì có thể trở thành bậc hiền nhân.

 

Lợi Dưỡng Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập tam

利養品法句經第三十三

Kinh Lợi Dưỡng

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 33

 

Phẩm này có 20 bài kệ. Phẩm này không có trong bản Pháp Cú tiếng Pali. Trong Xuất Diệu Kinh (Đại Chánh 212), phẩm này là phẩm thứ 14, và trong Pháp Tập Yếu Tụng Kinh (Đại Chánh 213) phẩm này là phẩm thứ 13.

Lợi dưỡng ở đây là sự hưởng thụ tiện nghi. Người tu phải để hết thì giờ và tâm lực để tìm cầu giải thoát, chứ không phải để chạy theo lợi dưỡng. Hai mươi bài kệ trong kinh này là hai mươi tiếng chuông chánh niệm cho người xuất gia. Bài kệ thứ 20 dạy: thà nuốt viên sắt cháy, thà uống nước đồng sôi, còn hơn là phá giới mà cứ tiếp tục tiếp nhận của tín thí cúng dường. Tăng đoàn xuất gia phải được tổ chức và giáo hóa cho hết lòng và khéo léo mới tránh được sự hư hỏng của người xuất gia, dù lớn tuổi hay còn nhỏ tuổi

 

Bài kệ 1

Ba tiêu dĩ thật tử                                 芭  蕉  以  實  死

Trúc lô thật diệc nhiên                          竹  蘆  實  亦  然

Cự lư tọa nhâm tử                                詎  驉  坐  妊  死

Sĩ dĩ tham tự tang                                士  以  貪  自  喪

 

Cây chuối có hoa có trái rồi chết, cây tre và cây lau có hoa rồi cũng chết, con lừa có thai cũng chết. Con người vì tham lam cũng tự chôn mình.

 

Bài kệ 2

Như thị tham vô lợi                        如  是  貪  無  利

Đương tri tùng si sanh                   當  知  從  癡  生

Ngu vi thử hại hiền                         愚  為  此  害  賢

Thủ lãnh phần vu địa                     首  領  分  于  地

 

Tham như vậy là thực sự không có lợi ích. Cái tham do cái si sinh ra. Người u mê vì tham lam mà đang tâm làm hại người hiền. Cả đến các vị thủ lĩnh cũng đã phải rơi rụng như thế.

 

Bài kệ 3

Thiên vũ thất bảo                           天  雨  七  寶

Dục do vô yếm                               欲  猶  無  厭

Lạc thiểu khổ đa                             樂  少  苦  多

Giác giả vi hiền                               覺  者  為  賢

 

Dù trời có rơi mưa thất bảo xuống thì cái ham muốn của con người cũng không thỏa mãn. Cái vui ít mà cái khổ thì nhiều, biết được như thế thì có thể trở thành bậc hiền nhân.

 

Bài kệ 4

Tuy hữu thiên dục                             雖  有  天  欲

Tuệ xả vô tham                                 慧  捨  無  貪

Lạc ly ân ái                                      樂  離  恩  愛

Vi Phật đệ tử                                   為  佛  弟  子

 

Tuy có những cõi trời ở dục giới, nhưng người có trí tuệ vẫn biết buông bỏ mà không ham sinh lên. Biết vui cái vui của sự xa lìa ân ái, đó mới là đệ tử của Bụt.

 

Bài kệ 5

Viễn đạo thuận tà                            遠  道  順  邪

Tham dưỡng Tỳ-kheo                      貪  養  比  丘

Chỉ hữu san ý                                 止  有  慳  意

Dĩ cung bỉ tính                                以  供  彼  姓

 

Đi theo hướng tà, tham đắm lợi dưỡng, chỉ có ý mong cầu được người ta cúng dường cho mình, vị Tỳ-khưu dần dần bỏ xa con đường đạo.

 

Bài kệ 6

Vật y thử dưỡng                              勿  猗  此  養

Vi gia xả tội                                     為  家  捨  罪

Thử phi chí ý                                   此  非  至  意

Dụng dụng hà ích                             用  用  何  益

 

Đừng vì phẩm vật cúng dường mà làm lễ cầu an xả tội cho người tại gia. Làm như thế không đúng đạo pháp và không đem lại lợi ích nào cho cả hai phía.

 

Bài kệ 7

Ngu vi ngu kế                                 愚  為  愚  計

Dục mạn dụng tăng                         欲  慢  用  增

Dị tai thất lợi                                   異  哉  失  利

Nê hoàn bất đồng                           泥  洹  不  同

 

Những kẻ si mê thì tính toán một cách u mê, do đó cái tham dục và cái kiêu mạn càng ngày càng tăng. Tính toán như vậy thì thật là lạ quá, bởi vì làm như thế thì lợi ích chân thực cũng không đạt được mà Niết Bàn cũng trở nên xa vời.

 

Bài kệ 8-9

Đế tri thị giả                                    諦  知  是  者

Tỳ-kheo Phật tử                              比  丘  佛  子

Bất lạc lợi dưỡng                            不  樂  利  養

Nhàn cư khước ý                           閑  居  却  意

Tự đắc bất thị                                 自  得  不  恃

Bất tòng tha vọng                           不  從  他  望

Vọng bỉ Tỳ-kheo                             望  彼  比  丘

Bất chí chánh định                          不  至  正  定

 

Người thấy được sự thực đó mới là một vị Tỳ-khưu đích thực, đệ tử của Bụt. Người ấy không tìm cái vui nơi sự tìm cầu lợi dưỡng; trái lại, biết sống thong dong một mình, dẹp bỏ dục ý, tự mình là mình, không nhờ cậy ai, cũng không mong cầu cái gì từ một kẻ khác. Một vị Tỳ-khưu mà cứ trông cầu nơi người khác thì không bao giờ đạt được chánh định.

 

 

Bài kệ 10

Phu dục an mạng                              夫  欲  安  命

Tức tâm tự tỉnh                                 息  心  自  省

Bất tri kế số                                     不  知  計  數

Y phục ẩm thực                                衣  服  飲  食

 

Nếu muốn an tâm lập mạng phải biết tự tỉnh, làm lắng dịu tâm ý, đừng quá lo lắng về chuyện ăn uống và y phục.

 

Bài kệ 11

Phu dục an mạng                           夫  欲  安  命

Tức tâm tự tỉnh                             息  心  自  省

Thủ đắc tri túc                                取  得  知  足

Thủ hành nhất pháp                         守  行  一  法

 

Nếu muốn an tâm lập mạng phải biết tự tỉnh, làm lắng dịu tâm ý, biết tri túc khi tiếp nhận cúng dường, quyết tâm bảo hộ và hành trì một phép tri túc ấy.

 

Bài kệ 12

Phu dục an mạng                            夫  欲  安  命

Tức tâm tự tỉnh                               息  心  自  省

Như thử tạng huyệt                          如  鼠  藏  穴

Tiềm ẩn tập giáo                             潛  隱  習  教

 

Nếu muốn an tâm lập mạng, thì phải như con chuột đất ẩn mình trong hang để chuyên lo thực tập.

 

Bài kệ 13

Ước lợi ước nhĩ                               約  利  約  耳

Phụng giới tư tánh                            奉  戒  思  惟

Vi tuệ sở xưng                                 為  慧  所  稱

Thanh cát vật đãi                              清  吉  勿  怠

 

Đừng thọ dụng nhiều, đừng nghe và nói chuyện thế gian, phải sử dụng thì giờ mà thực tập giới luật và thiền định. Đừng có lười biếng thì mới xứng đáng với đời sống phạm hạnh và mới có cơ hội đạt được tuệ giác.

 

Bài kệ 14

Như hữu tam minh                           如  有  三  明

Giải thoát vô lậu                               解  脫  無  漏

Quả trí tiên thức                               寡  智  鮮  識

Vô sở ức niệm                                 無  所  憶  念

 

Phải nuôi ý đạt cho được tam minh và đi đến quả vị giải thoát vô lậu. Nếu kiến thức hẹp hòi và trí tuệ thô lậu thì sẽ không ghi nhớ được những gì mình học hỏi.

 

Bài kệ 15

Kỳ ư thực ẩm                                其  於  食  飲

Tùng nhân đắc lợi                          從  人  得  利

Nhi hữu ác pháp                            而  有  惡  法

Tùng cúng dường tật                     從  供  養  嫉

 

Những kẻ chỉ vì ẩm thực, chỉ đi theo người để tìm cầu lợi dưỡng sẽ làm phát sinh ra nhiều điều xấu. Bởi vì cái ganh ghét cũng được phát sinh từ sự tranh giành lợi dưỡng.

 

Bài kệ 16

Đa kết oán lợi                                 多  結  怨  利

Cường phục pháp y                       強  服  法  衣

Đãn vọng ẩm thực                          但  望  飲  食

Bất phụng Phật giáo                       不  奉  佛  教

 

Tranh giành, tìm cầu lợi dưỡng tạo thành nhiều oán hận. Khoác chiếc pháp y mà chỉ cầu chuyện lợi dưỡng thì không thể nào nói rằng mình đang phụng hành theo lời Bụt dạy.

Bài kệ 17

Đương tri thị quá                            當  知  是  過

Dưỡng vi đại úy                             養  為  大  畏

Quả thủ vô ưu                                寡  取  無  憂

Tỳ-kheo thích tâm                          比  丘  釋  心

 

Phải biết hành xử như thế là một lỗi lầm rất lớn, phải biết sợ hãi khi thấy có người hành xử như thế. Vị Tỳ-khưu chỉ cần tiếp nhận phẩm vật cúng dường một cách chừng mực, do đó mà luôn luôn được mãn ý và đạt tới vô ưu.

 

Bài kệ 18

Phi thực mạng bất tế                      非  食  命  不  濟

Thục năng bất sủy thực                  孰  能  不  揣  食

Phu lập thực vi tiên                        夫  立  食  為  先

Tri thị bất nghi tật                          知  是  不  宜  嫉

 

Đã đành rằng không có thức ăn thì không có sinh mạng, ai cũng cần phải ăn mới sống. Dù phải công nhận nguyên tắc “dĩ thực vi tiên”, nhưng nếu ta biết thực hành phép tri túc thì không bao giờ còn có xảy ra sự ganh ghét.

 

 

Bài kệ 19

Tật tiên sang kỷ                              嫉  先  創  己

Nhiên hậu sang nhân                       然  後  創  人

Kích nhân đắc kích                          擊  人  得  擊

Thị bất đắc trừ                               是  不  得  除

 

Cái ganh ghét hại ta trước rồi lại hại người. Đánh người thì bị người đánh, điều đó bao giờ cũng đúng.

 

Bài kệ 20

Ninh đạm thiêu thạch                     寧  噉  燒  石

Thôn ẩm dương đồng                    吞  飲  洋  銅

Bất dĩ vô giới                               不  以  無  戒

Thực nhân tín thí                           食  人  信  施

 

Thà nuốt viên sắt cháy, thà uống nước đồng sôi, còn hơn phá giới mà cứ tiếp nhận của tín thí cúng dường.