Đừng biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngon lửa dữ

khói lửa dậy mười phương

hoảng hốt cuồng phong

thương đau ngập tràn về sông núi

khóc các anh

thương các em

i còn đây, hồn và xác bồn chồn như đứng trên đống lửa

mẹ thương đau, chiều rám hồng

lòng như sa mạc, mắt khô không tìm ra lệ khóc

chiều nay em về đâu?

bên hông tôi súng nổ

lửa tên làm mẹ ruột gan bời bời héo hắt

mái tóc điểm sương bao nhiêu lần ẩn nhục,

bao đêm chong đèn cầu cho mưa tạnh gió êm?

tôi biết chiều nay chính em sẽ bắn tôi

để lại vết thương cho mẹ ôm ấp ngàn đời nhức nhối

ôi tàn ác những ngọn cuồng phong từ phương nao thổi tới

làm cho nhà tan ca nát,

ra đi, rung vưn k cháy

ngonh nhìn lui, rut tht gan k

ngc tôi đây, em bn đi.

mạch u ca m truyn cho đây, em ct đi.

đ mà xây dng nên lâu đài em ưc

 

anh nhân danh ai

em nhân danh ai

ôi hãy tr v nghe li ru ca m

thương yêu ngt bát canh tn.

nhng đêm bên ưt m nm

bên ráo con n,

tng miếng cơm nhai

từng bu sa cn

bao nhiêu ngày

bao nhiêu tháng

bao nhiêu năm

lo lng cho con nên hình nên vóc

sáng nay mt viên đn đng làm anh n gc

một vn đn đng ghim o gia tim, thân em n lóc

m sng làm sao đưc na, con ơi?

ch sng làm sao đưc na, em ơi?

thương đau chng nào i, bên cnh đĩa du hao xóm cũ?

anh nhân danh ai

em nhân danh ai

ôi hãy tr v qu sám hi i đôi chân m

đừng biến mnh vưn xanh xưa thành mi ngon la d

gió cung tàn bo tha phương

ngc tôi đây, anh bn đi.

mạch u ca m truyn cho đây, anh ct đi.

đ mà xây dng nên lâu đài anh ưc

M tình thương

M kng ch nghĩa

tình thương, mái tranh nghèo có c anh em ta

ch nghĩa, bc trưng thành u la.

M kng có phe, đng t nhn anh v phía m

M kng có phe, đng t nhn em v phía m

M kng có phe

ôi tôi thy ng điu cu xin xót thương rơi u,

M đang chp tay cu khn anh em ta

trưa nay tôi gc đu trên miếng tre xanh lch s

tình thương nơi ta, anh ơi, hình như sp chết

tình thương nơi ta, em ơi, hình như đã chết

như vy, ngưi m hin thân yêu s chết

công trưng u la ta xây, s ca ai đây?

Bài này được in lần đầu ở báo Hi Triu Âm số 18 ra ngày 26 tháng 8 năm 1964. Những bài thơ chống chiến tranh như bài này được đăng tải lần đầu tiên trên tuần báo Hi Triu Âm do Thầy làm chủ bút. Tờ báo này hồi đó bán chạy lắm, in mỗi tuần tới 50.000 số. Thầy Châu Toàn lúc ấy làm thư ký tòa soạn. Trong số những thi sĩ cộng tác với Hi Triu Âm hồi đó còn có Vũ Hoàng Chương, Trụ Vũ (anh Trụ Vũ có ký tên là Trần Đông Phương), Vi Khuê và Tuệ Mai. Thầy Châu Toàn rất thân cận với các thi sĩ Vũ Hoàng Chương và Trụ Vũ. Trong một bữa cơm chay tại chùa Trúc Lâm và tháng 8 năm 1964, anh Vũ Hoàng Chương nói với thầy Châu Toàn rằng trong khi nhóm Sáng tạo đề cao thơ tự do thì người thành công về thơ tự do lại là thầy Nhất Hạnh chứ không phải là những thi sĩ của nhóm Sáng tạo. Tôi không biết nói sao cho phải bởi vì tôi chưa được đọc thơ của những người như anh Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Lúc này, tập thơ Chp tay nguyn cu cho b câu trng hin còn chưa được xuất bản và Vũ Hoàng Chương chỉ mới đọc được những bài đăng trên Hi Triu Âm của Thầy như bài Xóm mi, Aster, La đt em tôi, m bay vưn ci hoa ng, Trưng ca Avril, Đng biến mnh vưn xanh xưa thành mi ngon la dRut đau chín khúc… mà thôi. Tôi nghĩ là Vũ Hoàng Chương chưa từng đọc thơ của thầy Nhất Hạnh trên các tạp chí Pht giáo từ 1949 đến 1963.

Bản Anh văn của bài thơ này cùng với bản Anh văn của bài thơ Tng đip và bài Hòa bình là do chính Thầy dịch để trao cho tờ The New York Review of Books một tờ tuần báo rất nổi tiếng tại Hoa Kỳ, theo lời yêu cầu của ông I. F. Stone. Đây là lần đầu thơ Thầy được một tờ báo lớn như vậy mua nên Thầy thích và có nhắc cho chúng tôi nghe.

Xóm mới

sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi

bếp lạnh như trời cuối thu ướt lạnh

tác phẩm dở dang còn đó

i sang nhà láng giềng xin lửa

(hi bé chúng ta thường hai đứa chạy xin)

em hỏi tôi sẽ làm sao nếu nhà láng giềng không còn lửa

cng tôi sẽ họp hai người hát ca

nhớ lời em dặn ‘là những bông hoa’

cng tôi sẽ cầm đuốc đi bên nhau hướng về Xóm Mới

em cũng cứ hát ca đi, trong khi chờ đợi,

thế nào trong xóm ta cũng có nhà còn lửa

thôi tôi xin mọi người đưa tay nói thực: có phải tt cả chúng ta đang tin ở điều đó như đang tin hôm nay ở hiện hữu nhiệm mầu?

i biết có những nhà nghèo, nhưng trấu hồng ngún cháy ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ

tôi sẽ nhớ lời em không quấy động bếp lành

một nắm rơm đặt vào

đợi khói tỏa mầu xanh,

em nhìn xem: chỉ một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi

ng đủ gọi về lửa đỏ.

anh về, người lữ khách hôm nay thấy lòng ấm áp

một buổi chiều nhìn khói lam ấp ủ mái tranh thơ

về xóm mới chúng tôi đi! Tất cả vẫn mong chờ

em tôi vẫn còn trông nom chút lửa hồng bếp cũ

mái chèo xuôi nước sông

thuyền về không do dự

sao đêm an lành thuyền anh đi mãi

nhìn bóng chiều sa không ngại

v ì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai.

bếp tôi ấm rồi, mời anh về với chúng tôi thôi

công phu của ai ngàn năm bắc một nhịp cầu nối liền xa cách

tác phẩm còn tươi nét mực

lấy giọng trong lành, em tôi sẽ đọc lên cho chúng mình nghe, bên tiếng nổ tí tách của những cành lửa reo vui.

 

Hồi này Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội chưa được chính thức thành lập, nhưng giới trẻ đi về thực tập tại các làng Cầu Kinh và Thảo Điền đã nhiều. Bài này, nếu tôi không lầm, đã được viết để ca ngợi niềm tin của những người trẻ tuổi. Bài này đăng trên báo Hải Triều Âm số 2 ngày 30 tháng 4 năm 1964.

Trường ca Avril

Avril về

trong rừng cây trang nghiêm

tình thương đã từ ngàn xanh nơi suối trong thể hiện

bàn tay mẹ nhiệm mầu

sửa soạn cho chúng ta ra đời

trong hào quang của mùa xuân tình thương ấm áp

đưa tôi ra đời hôm mồng bốn

khắp nơi chim lạ bay về hát ca

ngơ ngác như một con nai con nhìn trời xanh, nhìn suối trong, nhìn lộc non trên cành cây,

tôi về khi vũ trụ đang chuyển mình trong mùa tuôn dậy

rừng cây đang thay áo mới

con nai con khờ dại soi mình trên dòng nước

lắng tai nghe tiếng thì thầm gió lạ

mạch sống dâng

li hát ca trong từng nụ nhiệm mầu

quê hương tôi là rừng sâu

có những thân cây vươn mình thẳng tắp 

mỗi khi nắng xuân về xối chảy trên ngọn cây, hương rừng bay

mây trắng che trên trời xanh biêng biếc.

rừng cây

bãi cỏ xanh non

và một dòng nước thấm lòng đất mát.

 

trời đất vừa sinh ra tôi

chim chóc ca ngày thứ nhất

đất trời dâng hương ngất ngây

tôi lớn lên, dòng suối ca ngày thứ hai

và con nai con tìm tới, ngây thơ, bên bờ xanh mướt cỏ

nghiêng đầu nghe ngóng

nhựa dâng đầu cành giục giã những nụ hoa thẹn thùng chưa muốn hé

cho vừa kịp ngày thứ ba

nắng ấm reo vui trên cành biếc nõn nà

ngày thứ tư vừa lại, hoa anh đào khai hội

có gì mới lạ trong tiếng ca mùa mới đang lên?

ngày thứ năm, bình minh về bất chợt

rừng thức giấc trong mùi thơm ngây ngất

của ban mai kết đọng hương ngàn hoa

và cũng bất thần em về, trong rừng sâu hiển hiện,

em rón rén bước từng bước nhẹ, trên mầu xanh thảm lụa.

con nai con vẫn giương mắt nhìn em ngơ ngác

trong giây phút thiêng liêng huyền hoặc

em biến thành một bông hoa bé nhỏ bám vào lòng đất mẹ thương yêu

nắng lên. Một giọt sương long lanh còn vương trên cánh hoa sao bé nhỏ

nhưng rừng cây không hay

hiện-hữu-em ca bài ca bất diệt

tiếng ca em quen thuộc như đã có tự ngàn xưa trong rừng sâu lặng lẽ nghiêm trang.

con nai con vẫn giương mắt nhìn quanh

không có gì thêm

không có gì mới lạ

không nghĩ rằng em trong rừng sâu vừa lạc

bởi vì tiếng ca em hòa mầu nhiệm trong khúc ca mùa tuôn dậy mầu xanh

bông hoa kia như đã cũng có mặt một lần với đất Mẹ buổi ban đầu.

một con chim nghiêng nghiêng mắt nhỏ nhìn em

và tung ra một tràng ngọc âm thanh trong suốt

chim, hoa, cây, suối

không ngừng ca

cả rừng cây hợp tấu

không ngừng lại để hỏi em có mặt tự bao giờ.

bông hoa bé nhỏ rừng cây      

một phần của hiện hữu vô thỉ vô chung

em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện.

rừng cây đã thay xong áo mới

ngày mồng mười có hai đứa trẻ con nhà ai nắm tay nhau tung tăng chạy trên bãi cỏ xanh non, tiếng cười trong veo như tiếng hót chim hoàng oanh buổi sáng

cng băng qua đồng cỏ và dừng lại bên cửa rừng.

nắng phơi phới reo

Avril đã về trong rừng cây” đứa bé thì thầm bên tai đứa lớn

như khám phá ra điều gì tối ư quan trọng

chúng nắm chặt tay nhau và cùng lắng tai nghe…

phải rồi, khúc hát bất diệt mùa xuân

hai đứa nhìn nhau. “Avril đã về trong rừng cây”,

phen này đứa lớn thì thầm bên tai đứa bé.

nắng ấm tràn lan cây cỏ          

bỗng con nai con xuất hiện ở cửa rừng sưởi nắng

bốn gót chân mang theo hương thơm những bông hoa vàng tím trong rừng

có đàn bướm lạ tung tăng đọt cây bờ suối

bay đến gần nai.

nắng ấm vẫn reo

dòng nước vẫn đi vào lòng đồng cỏ xanh êm ái

nhưng con nai con và hai đứa bé đã cùng lạc vào rừng sâu

tìm theo tiếng hát nhiệm mầu.

bỗng nhiên có tiếng nổ dồn dập kinh hoàng

một đàn chim sắt ào ào bay đến

tóe tung lửa đồng khạc trên đồng xanh, mặt suối

rào rào xé mây tung gió

tự nhiên rừng cây bặt tiếng hát ca.

hoa khép không dâng hương

suối trong không soi dáng mây trời

chim chóc lặng im như khi đêm về nằm yên trong tổ kín.

nhưng rồi cuối cùng đàn chim sắt bay đi.

rừng xanh trở về bình an,

thanh tịnh.

rừng cây mỉm cười

tiếng hát ca mùa tuôn dậy vẫn như chưa từng bao giờ đứt đoạn

cành lá chuyền nhau tin vui

tiếng thì thầm êm ái

con nai con đã cùng hai đứa bé tìm ra bông hoa tím nhỏ

(bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca)

đứa nhỏ ôm lấy đầu nai

đứa lớn vuốt ve mình nai

tt cả hát theo bài hát ngàn đời của nhiệm mầu hiện hữu

ngoài kia nắng ấm vẫn reo

Avril trong rừng cây nguyên vẹn

dòng suối đi sâu êm êm vào lòng đất

và muôn vạn bông hoa vàng tím đã nở, tự bao giờ, lấm tấm trên cánh đồng cỏ xanh non.

Đây có lẽ cũng là một trong những bài thơ “vui nhất” của Thầy, dù rằng trong đó có dấu tích chiến tranh. Avril tức là mùa xuân, mùa Phật Đản. Thầy viết bài này ở chùa Trúc Lâm Gò Vấp, khoảng trước Phật Đản 1964, hồi đó tôi còn bận rộn với luận án “Thanh tảo, rong nước ngọt” của tôi tại Faculté des Sciences ở Paris. Trà Mi, bạn tôi, hồi đó làm việc tại văn phòng Viện cao đẳng Phật học Sài Gòn đã gởi bài này qua cho tôi đọc. Nét chữ thanh lịch của Trà Mi chép trọn bài thơ trên những tờ giấy xanh đỏ tím vàng xem thật mát mắt. Sau này về Sài Gòn tôi được nghe cuốn băng thơ do tác giả đọc. Đó là vào khoảng 1965. Những chiều thứ Bảy hoặc Chủ nhật, bọn sinh viên thường hay rủ nhau đến thăm Thầy để nghe Thầy nói chuyện và đọc thơ. Có rất nhiều bận, để khỏi phải nói nhiều, Thầy đem cuốn băng thơ của Thầy đọc vặn ra cho chúng tôi nghe. Thường thường những lúc như vậy thì trong phòng chỉ có thắp vài ngọn đèn cầy. Chúng tôi ngồi la liệt dưới đất, đứa thì dựa lưng vào tường, đứa thì ngồi kiết già hoặc bán già. Nghe hết cả hai mặt cuốn băng (chừng một giờ đồng hồ), chúng tôi đứng lên ra về. Suốt buổi Thầy cũng ngồi nghe với chúng tôi mà không phải nói gì cả. Chúng tôi nghe thơ về mà trong người thấy khỏe khoắn lạ thường. Tôi còn nhớ rõ trong cuốn băng ấy có các bài Bướm bay vườn cải hoa vàng, Quán tưởng, Trường ca Avril… Tôi có cảm tưởng thơ của Thầy không thể ngâm theo kiểu Hồ Điệp, Hồng Vân hay Hoàng Oanh được. Chất thơ không mang tính chất sầu đau và vì vậy những giọng ngâm kèm theo tiếng đàn nỉ non thánh thót không hợp. Giọng đọc của tác giả, theo tôi, rất thích hợp với ý thơ.

Bài này được in lần đầu tiên trên Hải Triều Âm số 15 ra ngày 30 tháng 7 năm 1964.

Lửa đốt em tôi

lửa đt cháy ng tôi, đau thế gian,

ngã gc ngưi hc tăng nh

em đt tui xanh thành la đ

cháy ngt tri cao ngn đuc

rực v ng i âm u

ôi tht xương em

cho tôi qu ngàn năm bên đng tro yêu quý

luyn phép linh thiêng

biến em thành hoa hng tr li

nhng đóa sen búp đua chưa kp hái

chưa tng n thy ánh thiu quang

tôi nghe ri em, mưa g phũ phàng,

i nghe ri em,

từng tế bào rưng rưng trong cơ th

i nghe ri, tiếng gi em vang

không ai quên đâu đa ngc hay thiên đàng

đều ngó v em. Tim thế gian ngng đp:

tri đt nhìn nhau: tri cao hay thp?

tên em viết bng ch trăng sao.

lửa đốt em tôi

ôi là da là thịt

em có đau không? Nước mắt tôi không đủ

để tưới lên, mát dịu hồn bé nhỏ linh thiêng

tôi còn đây, thương tích dẫu nặng nề,

mang nguyện lớn chuyển trao về thế hệ.

tôi còn đây, chúng tôi hứa chẳng bao giờ phản bội.

em nghe không? – Chẳng bao giờ phản bội,

v ì tim em đã hóa trái tim tôi.

 

Nữu Ước, 1963

Bài này viết năm 1963 trong thời gian tranh đấu chống chính sách đàn áp Phật giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tôi đã được nghe anh Võ Đình ngâm bài này một lần bằng giọng Huế đặc sệt của anh. Anh Võ Đình là một họa sĩ nổi tiếng trên quốc tế. Tranh của anh đã từng được tổ chức Unicef của Unesco in thành bưu thiếp. Anh đã triển lãm tranh của anh tại Pháp, tại Gia Nã Đại, rất nhiều lần tại Nữu Ước và các nơi khác trên đất Hoa Kỳ. Anh cũng đã triển lãm tại Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Huế và được những người trẻ nhiệt thành tán thưởng. Người ta biết anh dịch nhiều thơ của thầy Nhất Hạnh và thơ của các thiền sư nhưng ít ai biết anh làm thơ. Thơ anh hay và rất thiền. Anh lại còn là tác giả xuất bản tại Hoa Kỳ, đã minh họa nhiều sách trong đó có cuốn The Miracle of Mindfulness, The Cry of Vietnam, Zen Poem của thầy Nhất Hạnh và First Snow của Helen Coutant. Anh vừa mới cho nhà Lá Bối xuất bản tập truyện ngắn Xứ Sấm Sét của anh. Doãn Quốc Sĩ đã phê bình như sau: “Từ đầu đến cuối truyện, những chi tiết khi thì chỉ là vài nét chấm phá, khi thì rất tỉ mỉ hiện thực, khi thì bỏ lửng nhưng thừa đủ cho người đọc hiểu thấu đáo. Câu chuyện tưởng như hiện thực nhưng sừng sững đặt thành cả một vấn đề siêu hình. Trang nghiêm lồng vào với dí dỏm, rất cân bằng. Ông còn minh họa một cách chính xác tròn đầy, gợi cảm tác phẩm của ông.” Võ Đình vẽ rất nhiều tranh, nhiều loại, nhiều đề tài và có cả những mộc bản rất được yêu chuộng. Nhưng tôi thích nhất là những tranh màu của anh. Nhất là tranh màu vẽ sen. Phật tử ít ai mà không khỏi xúc động khi nhìn những đường nét kỳ diệu của anh trình bày sen. Đây là một đóa sen trắng rạng rỡ, vươn xòe những cánh hoa tinh nguyên lung linh trên một biển lửa và máu. Đó là một đóa sen sáng rực rỡ trông một chiều hoàng hôn trên quê hương tím ngọt và man mác buồn. Giữa một đống xương khô, lại cũng một đóa sen mảnh khảnh, mong manh, chen qua ngõ ngách tro tàn ngói vụn để vươn lên, đưa cao những cánh mướt trắng niềm hy vọng.

Bướm bay vườn cải hoa vàng

mười năm vườn xưa xanh tốt 

hai mươi năm nắng dọi lều tranh

mẹ tôi gọi tôi về

bên bếp nước rửa chân

hơ tay trên bếp lửa hồng

đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống.

tôi không bao giờ khôn lớn

kể gì mươi năm, hai mươi năm, ba mươi năm

mới hôm qua đây, tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng

mẹ và em còn đó

gió chiều như hơi thở

mơ gì một mảnh tương lai xa xôi?

gió mang tiếng ca; ngày ra đi em dặn:nếu ngày về thấy khung trời đổ nát, thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh”

tôi đã về. (có tiếng hát ca) bàn tay trên liếp cửa,

hỏi rằng: “có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì?”

 

gió thì thầm: em nên hát ca

bởi vì hiện hữu nhiệm mầu

y là đóa hoa, hãy là nụ cười,

hạnh phúc có bao gi đưc dng xây bng vôi vi gch?

y thôi ngun kh đau cho nhau

tôi tìm em.

(như đêm gng t lon cung

rừng sâu đen ti

nhng cành cây s song

đợi ánh chp lòe ngn ngi

thy cn đưc hin hu bên nhau, tìm nhau)

em hãy đóa hoa đng yên bên hàng giu,

y là n i, là mt phn ca hin hu nhim mu.

tôi đng đây. Cng ta kng cn khi hành

quê hương chúng tôi đp như quê hương ca tui thơ, xin đng ai xâm phm tôi vn còn hát ca.

đầu còn gi trên Thánh kinh, sáng nay tôi nghe xôn xao trong nng mai vũ tr đang đưc nhng con ong ng sng năng bt đu khi công to dng

công trình xây dng ngàn đi.

nhưng công trình, em xem, đã đưc ngàn đi hoàn tt

bánh xe mu nhim chuyn hoài đưa chúng ta đi ti

nm ly tay tôi, em s thy chúng ta đã cùng có mt t ngàn xưa trong hin hu nhim mu.

 

tóc m tôi còn xanh, dài chm gót

áo em tôi phơi còn pht phơ bay trưc giu

nắng sm a thu

i đây. chính thc vưn xưa

nhng cây i trái chín thơm

nhng ng k thm

đẹp

rụng

còn chy chơi la trên sân gch

tiếng hát vng bên ng

nhng gánh rơm thơm ng óng

trăng n, quây qun trưc ngõ

vườn ci hoa ng, chính mt tôi va thy sáng qua.

 

 tôi kng ng đâu,

ngày hôm nay đp lm, thc mà

em kng v chơi t bt tìm nơi quá kh 

chúng mình còn đây, hôm nay, ngày mai na,

đến đây,

khi khát ta cùng ung mt giếng nưc thơm, trong

 

ai nói cho em nghe rng Thưng đế đã bng ng cho con ngưi kh đau đng dy hp tác cùng Ngưi?

chúng ta đã tng nm tay nhau t muôn vn kiếp,

khổ đau vì kng t biết hoa

em hát ca đi, ng cúc i theo em bên hàng giu,

đừng bt chúng tôi nng hai tay vào vôi cát

nhng ngôi sao tri kng bao gi xây ngc tht cho chính mình.

để cho chúng tôi hát ca, đ cho chúng tôi nhng đóa hoa, chúng tôi đang trong cuc đimt chúng tôi chng minh cho điu y.

bàn tay cũng hoa, đng biến bàn tay em tôi thành dây chng

thành khp răng cưa

thành móc st

hiện hu kng kêu gi tình thương.

hiện hu kng cn ai phi thương ai

nhưng em phi em, đóa hoa, bình minh hát ca, kng đn đo suy tính

xin ghi vào đây mt Tân Ưc na ca tt c chúng ta

và xin vn nghe li tôi như nghe sui reo, như nhìn trăng sáng

em v, đưa m v cho tôi thăm

cho tôi hát em nghe, đ c em s i xanh như c m.

 

Theo tác giả, đây là một trong những bài thơ vui nhất của Thầy. Thầy đã viết bài này tại Nữu Ước, sau ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tôi còn nhớ một buổi sáng Chủ nhật trên đồi Dương Xuân Thượng trước chùa Từ Hiếu, Thầy đã đọc bài này cho một nhóm sinh viên Đại học Huế lên thăm. Hôm ấy tôi cũng có mặt, bởi vì hồi đó tôi phải ra dạy ở trường Khoa học, gần cầu Trường Tiền, mỗi tháng bảy ngày. Tôi nghĩ không nên nói động đến nội dung bài này vì không cần thiết. Tôi chỉ nhớ là thầy Đức Nhuận đã nói rằng Thầy không ưa bài này lắm bởi vì trong bài có xen mấy danh từ Cơ Đốc như đu còn gi trên Thánh kinh ai đã nói cho em nghe rng Thưng đế đã bng ng cho con ngưi kh đau đng dy hp tác cùng ngưi? Riêng tôi thì tôi thấy hình ảnh một ông thầy tu Phật giáo cầm đọc Phúc Âm là một hình ảnh đẹp. Thầy nói Thầy đã từng giảng những đoạn trong Cu ƯcTân Ưc cho nhiều sinh viên Công giáo và Tin lành theo cái nhìn của một người thầy tu đạo Phật như Thầy và họ rất ưa thích cái nhìn mới mẻ tươi mát của Thầy. Rất tiếc là mấy năm gần đây tôi không có dịp thuật cho thầy Đức Nhuận nghe là tôi đã từng hát mừng Phật đản hàng trăm lần trong các thánh đường Tin lành và Công giáo. Cũng xin bạn đọc lưu ý tới hai câu sau đây gần cuối bài thơ, trong đó lại có danh từ Tân Ưc:

 

xin ghi vào đây mt Tân Ưc na ca tt c chúng ta

và xin vn nghe li tôi như nghe sui reo, như nhìn trăng sáng.

Bài này được in lần đầu trên báo Hi Triu Âm số 12 ra ngày 9 tháng 7 năm 1964.

Vòng tay nhận thức

chuông ngân một đêm dài không ngủ

hai bàn chân không, tì tay cửa sổ

tôi đợi vườn cây hoa lá hiện hình.

ánh sáng chưa về

nhưng trong lòng đêm thâu tôi biết em còn đó

trong lòng đêm thâu hay trong lòng bao la nhận thức

tự bao giờ, em vẫn là duyên sở duyên.

t nữa bình minh về, và em sẽ thấy

cả em, cả chân trời hồng

và cả mầu trời xanh biếc

mênh mang, vời vợi

đều hiển hiện trong lòng mắt tôi

xanh nghĩa là xanh cho ai

hồng nghĩa là hồng cho ai

nghiêng mình trên dòng nước trong, em hỏi

hiện hữu ca lời duy nhất nhiệm mầu

tôi bỗng mỉm cười hồn nhiên trước đêm sâu hồn nhiên trinh bạch

i biết vì tôi còn đấy nên em còn đó

và hiện hữu em trở về bừng tỏa nơi nụ cười huyền diệu của đêm nay

sải tay, tôi bơi đi

bình yên

trong dòng suối trong, im lặng,

tiếng nước thì thầm bên tai, êm ái,

i ngửa mặt nhìn trời cao, đầu tôi gối sóng

còn kia, đúng rồi, mây trắng trời xanh

xao xác lá thu trong rừng cây

và ngây ngất hương thơm của cỏ rơm đồng nội

kìa ngôi sao khuya đưa lối

cho tôi trở về.

tôi biết là em còn đó, vì tôi còn đây

vòng tay nhận thức, vô lượng do tuần, nối liền diệt sinh năng sở

và tôi đã thấy

trong lòng đêm thâu hay trong lòng bao la nhận thức

của em, cũng như của vườn hoa lá

tôi đã tự bao giờ, vẫn là duyên thân sở duyên

diệu hữu ca lời chân không mầu nhiệm.

đêm thâu còn đang nguyên vẹn

âm thanh hình bóng em về tràn đầy nơi hữu thể

bởi vì đêm nay

tỳ tay trên cửa sổ

và chân không trên nền đất mát

Tôi còn đây, đang hiện hữu cho em.

Bài này tôi được nghe Thầy giảng rất kỹ tại Đại học Vạn Hạnh hồi tôi còn theo học lớp Pháp tướng Duy thức học. Tôi còn nhớ có một anh sinh viên ngồi ở hàng ghế đầu, sau khi nghe Thầy giảng, đã nói với Thầy: “Bây giờ con mới hiểu được bài thơ. Trước đây con đã đọc nó nhiều lần mà không hiểu gì cả và cứ nghĩ rằng có thể vì nó bí hiểm quá hoặc có thể nó chẳng có ý nghĩa gì cả”. Thầy chỉ cười. Sau đó đọc lại Nẻo về của Ý, tôi nhận ra là có một đoạn Thầy nói về bài thơ này. Tôi xin phép trích đoạn ấy ra sau đây, bởi vì tôi nghĩ rằng dù tôi cố gắng mấy để nói về bài thơ thì cũng không thể nói được rõ bằng tác giả: “Những dòng này do tôi viết và Nguyên Hưng sẽ đọc. Những dòng này hiện giờ Nguyên Hưng chưa đọc. Vậy thì những dòng này, kể cả bản chất, tư tưởng, tình cảm, giấy, mực, thời gian, không gian, nét chữ, vân vân… Chỉ nằm trong nhận thức tôi. Và cả Nguyên Hưng nữa, Nguyên Hưng đối tượng của những dòng chữ này, cũng nằm trong nhận thức tôi. Mà tất cả mọi hiện tượng khác như quê hương Việt Nam với những cây cam cây bưởi đầy hoa, những cây dừa duyên dáng, những cây cau cao vút và thẳng băng, cũng như thành phố náo nhiệt tôi ở đây, cũng như mặt trời, tuyết, mây, trăng, sao… Đều nằm trong nhận thức tôi. Tt cả đều là khái niệm và thế giới của tôi trong đó có Nguyên Hưng, có cây bưởi, cây chanh, cây khế, cũng là một thể giới khái niệm. Vài hôm nữa, khi những dòng này tới tay Nguyên Hưng, Nguyên Hưng sẽ thấy tôi hiện hữu trong đó, thành phố tôi hiện hữu trong đó, nhưng mà tất cả những thứ ấy cũng trở thành khái niệm trong nhận thức của Nguyên Hưng và không thể được đồng nhất với đối tượng của nhận thức tôi. Vậy ta cứ cho rằng thực tại bản thân, tánh cảnh vô chất, nằm trong phần căn bản của nhận thức cộng đồng, hoặc có thể gọi là tự thể phần của thức hay của thức cộng đồng cộng biến; còn thế giới khái niệm, thế giới đới chất và độc ảnh, là thế giới được tạo tác nên do khuynh hướng biến kế chấp trong đó tướng phần và kiến phần là hai mặt hiện tượng của một tự thể… Điều này tôi thấy rõ trong một buổi khuya ở chùa Trúc Lâm cách đây chưa đầy hai năm. Đêm đó tôi thức dậy lúc hai giờ rưỡi khuya và không ngủ lại được nữa. Tôi nằm yên lặng cho đến khi chuông khuya bắt đầu ngân nga mới trỗi dậy, tôi đưa chân xuống tìm đôi dép nhưng không tìm ra, có lẽ đôi dép bị tôi đẩy vào gầm giường tự hồi tối. Tôi không tìm đôi dép nữa, cứ đi chân trên nền đất tìm ra cửa sổ. Nền đất lạnh gây nên cảm giác mát lạnh nơi gan bàn chân của tôi, và sự thấm lạnh ấy đột nhiên khiến tôi tỉnh táo và minh mẫn một cách lạ thường. Tôi đi từng bước tìm tới cửa sổ và tì tay nơi cửa sổ nhìn ra ngoài. Trời đất vẫn còn đen tối và tôi không nhìn thấy được gì cả. Tuy nhiên trong đêm đen tôi vẫn biết là cây lá trong vườn còn đó, và bụi trúc đào cũng còn đó ở góc bên kia. Cây hoa dại vẫn còn ở trước cửa sổ tôi. Mà sở dĩ như vậy là tại vì chủ thể nhận thức không thể tồn tại ngoài đối tượng nhận thức. Trong lòng đêm thâu hay trong lòng nhận thức cũng vậy, khóm trúc, cây hoa dại dang đóng vai trò đối tượng sở duyên. Và nhờ có sở duyên mới có được năng duyên; chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức không thể rời nhau. Và ngoài kia, núi sông, trời đất, những ngôi sao lớn nhất, và thực hữu, và mặt trời của tôi cũng chỉ nằm trong lòng nhận thức. Đột nhiên thời gian và khoảng cách tự tiêu diệt, tan biến. Đột nhiên năng và sở tan biến. Đột nhiên diệt và sinh tan biến. Dù em có xa cách muôn vạn do tuần, thì muôn vạn do tuần ấy cũng được nối liền trong một lần hư trần. Dù cho bách thiên vạn kiếp thì bách thiên vạn kiếp ấy cũng trở về nối liền với hiện tại trong một sát na. Hiện hữu của em tự nhiên trở về bừng tỏa nơi nhận thức tôi. Đột nhiên tôi mỉm cười. Có lẽ lúc ấy mà có một người nhìn thấy được tôi cười trước một đêm đen không trông thấy gì, không trông thấy ai mà cũng không có gì trông thấy mình, không có ai trông thấy mình, người ấy sẽ ngạc nhiên, hoặc có thể hoảng sợ lạnh tới xương sống. Bởi vì cái cười của tôi đối với người ấy có thể có tính cách ma quái hoặc là của một người sắp sửa điên. Có chi mà đứng mỉm cười trước một cái màn đêm đen nghịt và vô nghĩa như vậy. Nhưng Nguyên Hưng biết rằng màn đêm tuy có đen nghịt thật nhưng không vô nghĩa chút nào. Nó trở thành rạng rỡ vô cùng trong nhận     thức tôi lúc đó. Và hiện hữu mầu nhiệm trở thành bừng tỏa nơi nụ cười huyền diệu ấy. Tôi biết là em còn đó vì tôi còn đây và tôi biết vì tôi còn đây nên em còn đó. Nếu có thì năng duyên sở duyên cùng có, nếu không thì năng duyên sở duyên cùng không. Cho nên chủ và khách cũng thuộc về một tự thể và trong chủ đã có sẵn khách.

Tôi biết rằng lát nữa khi bình minh về thì sẽ cũng không có gì khác lạ xảy ra trên bình diện hữu thể. Màu trời xanh biếc phương tây và màu chân trời hồng đỏ phương đông cũng chỉ là xanh và hồng trong nhận thức tôi. Xanh không phải thuộc về một tự thể xanh và hồng cũng không thuộc về một tự thể hồng. Xanh chỉ có nghĩa là xanh đối với tôi, trong nhận thức tôi. Cũng như hồng. Cũng như Sinh. Cũng như Diệt. Cũng như Đồng. Cũng như Dị. Cũng như Lai. Cũng như Khứ. Tất cả đều chỉ là hình ảnh nhận thức. Nhìn vào mắt tôi đi, và em sẽ thấy em trong đó. Em rạng rỡ thì mắt tôi cũng rạng rỡ. Em mầu nhiệm thì nhận thức tôi cũng thành mầu nhiệm. Và ngược lại, tôi xa xăm thì em, hình bóng em và tự thể em, cũng trở nên xa xăm. Hãy nhìn vào mắt tôi em sẽ biết vũ trụ của tôi sáng hay tối, thiện hay ác, vô cùng hay hữu hạn, sinh tử hay niết bàn. Có lần Trụ Vũ nói:

 

bởi vì mắt thấy trời xanh

cho nên mắt cũng long lanh màu trời

bởi vì mắt thấy biển khơi

cho nên mắt cũng xa vời đại dương

 

Nguyên Hưng, khi nụ cười trong đêm thâu bừng nở rồi thì tôi có cảm giác nhẹ nhàng như mây khói và tôi thấy tôi nằm ngửa, bơi nhẹ nhàng trên một dòng suối mát lạnh. Đầu tôi gối trên những gối sóng nhỏ. Nhìn lên trời tôi thấy trời xanh mây trắng của ngày cũ. Mây vẫn trắng, trời vẫn xanh. Mây có thể lại trắng hơn và trắng xanh hơn. Đó phải chăng là dấu hiệu của thực tại bất sinh bất diệt? Tôi nghe lá thu khô xào xạc trong rừng cây, tôi ngửi thấy hương thơm ngất ngây của cỏ rơm đồng nội.

Những cảm giác ấy thoáng qua mau khi tôi trông thấy một ngôi sao trên trời. Ngôi sao đưa lối cho tôi trở về trước cửa sổ, hai chân trên nền đất mát và hai bàn tay tì lên song cửa. Tôi còn đây, tôi hiện hữu, cho thế giới hiện hữu, cho em hiện hữu. Cũng như hòn sạn kia, cũng như đám mây kia. Sự hiện hữu của chúng kéo theo sự hiện hữu của tôi. Và nếu viên cuội kia mà không thật sự hiện hữu thì tôi đây làm sao hiện hữu được? Đã có thì có từ hạt bụi. Mà hạt bụi đã không thì tam thiên đại thiên thế giới cũng không. Tôi cũng không. Em cũng không.”

Quán tưởng

trăng tròn đêm nay, xin gọi hết muôn sao về cầu nguyện

và định lực khiến trời rung đất chuyển

tập trung về nơi điểm sáng của tự tâm

có muôn loài làm chứng đây, đau thương đã ngập tràn rồi, mười phương nghe tiếng chuông khuya hãy chắp tay quán từ bi

cho mật ngọt tình thương nơi trái tim ứa thành cam lộ

giọt nước thanh lương, trên lòng đau thế gian, xóa tan sầu khổ

từ đỉnh tâm linh cao chót vót

cam lộ chảy về từng mạch

thấm nhuận đồng xanh, ruộng mía, vườn dâu.

con rắn hổ mang uống xong giọt sương khuya trên đầu ngọn cỏ, bỗng cảm thấy tiêu tan nọc độc trên lưỡi mình

và những mũi tên tẩm thuốc của loài ma nở thành bông hoa khi bay đến

 

Cam Lộ Vương Như Lai!

Cam Lộ Vương Như Lai!

phép mầu hiển hiện

vi hai cánh tay trẻ thơ mũm mĩm, em nghiêng đầu thương yêu ôm con rắn vào lòng

lá xanh vườn xưa, nắng lên trên tuyết trắng

dòng Tào Khê vẫn hướng về phương đông

tịnh thủy trong bình là tịnh thủy trong lòng:

cho súng đạn trần gian khuya nay rơi xuống tan thành cát bụi.

một bông hoa nở rồi

hai bông hoa nở rồi

muôn bông hoa tím vàng lấm tấm trên thảm nhung đồng nội

và thiên đường hé mở một lần với nụ cười trên đôi môi em thơ

Đây là bài thơ về từ bi quán, ca ngợi giọt nước cam lộ từ tự tâm phát xuất, có thể xóa tan sầu khổ của chiến tranh, làm cho súng đạn trần gian rơi xuống tan thành cát bụi. Năm 1966, tuần báo Văn nghệ tại Hà Nội, số 153 ra ngày 1 tháng 4 năm 1966, có đăng một bài phê bình về bài thơ này. Nhan đề bài báo là: “Bảo trẻ thơ ôm con rắn độc, thơ Nhất Hạnh đầy nọc độc.” Theo tờ Văn nghệ thì bài phê bình này được đăng lần đầu trên tạp chí Trí thức mới, số 1, tháng 8, năm 1965, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Giải phóng miền Nam.

“từ đỉnh tâm linh cao chót vót

cam lộ chảy về từng mạch

thấm nhuận đồng xanh, ruộng mía, rừng dâu

con rắn hổ mang uống xong giọt sương khuya trên đầu ngọn cỏ, bỗng cảm thấy tiêu tan nọc độc trên lưỡi mình

và những mũi tên tẩm thuốc của loài ma nở thành bông hoa khi bay đến.

Cam Lộ Vương Như Lai!

Cam Lộ Vương Như Lai!

phép mầu hiển hiện:

với hai cánh tay trẻ thơ mũm mĩm, em nghiêng đầu thương yêu ôm con rắn vào lòng.”

Tôi suy nghĩ thật nhiều, không hiểu tại sao người ta lại không hiểu được đoạn đó. Sau nhiều ngày, tôi tìm ra rằng lẽ người ta đã mang con mắt chính trị mà đọc nó. Người ta có thể cho giọt nước cam lộ là Phật giáo, con rắn hổ mang là đế quốc Mỹ và loài ma là Việt Cộng. Tôi có hỏi Thầy thì Thầy cười ha hả. Ông nói ông không hề có ý ví von như vậy. Hình ảnh con rắn hổ mang đã tới – Thầy nói – vì hình ảnh giọt sương cam lộ trên đầu ngọn cỏ. Rắn hổ mang có thể là bất cứ hình thái bạo lực nào. Còn hình ảnh những mũi tên tẩm thuốc của loài ma thì đã được mượn ở cuộc chiến đấu cuối cùng dưới cội bồ đề trước giờ thành đạo của Phật. Loài ma ở đây có thể là những si mê cuồng vọng trong tâm mình phát hiện, đâu có phải là để ám chỉ một phe phái chính trị nào. Ông nói: “Nếu bài thơ đó mà có dụng ý chính trị thì không còn bài thơ nào trên thế gian là không có dụng ý chính trị.”

Những vị nào đã được nghe bài tán Tào Khê thủy có lẽ sẽ thấy quen thuộc với bài thơ này hơn. Hình ảnh dòng Tào Khê vẫn hướng về phương đông đã phát xuất từ hình ảnh Tào Khê thủy nhất phái hướng đông lưu của bài tán. Cam Lộ Vương Như Lai không là ai khác đức Bồ tát Quan Thế Âm, người cầm tịnh bình và rưới nước từ bi lên để dập tắt lửa ưu phiền đau khổ của thế gian. Trong bài thơ, tác giả nói đến giọt nước cam lộ, nhưng không phải là giọt nước cam lộ đầu cành dương liễu trong tay đức Quan Thế Âm, mà là giọt nước cam lộ phát xuất từ lòng từ bi: chỉ có từ bi mới đủ sức dập tắt ngọn lửa chiến tranh mà thôi.

Tiện đây tôi xin ghi về lai lịch tập thơ Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện theo sự hiểu biết của tôi. Đầu năm 1961, đây là một tập thơ in phức bản (ronéo) gồm khoảng 34 bài chọn trong số gần 500 bài thơ của Thầy (mấy trăm bài này được Thầy chép tay trong một cuốn tập bìa dày mà tôi có nói đến trong lời mở đầu). Số in chỉ là năm chục cuốn. Trong số các bạn trẻ, có nhiều người muốn in. Cái tên Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện của tập thơ là do một anh nào đó trong nhóm “làm làng” để gợi sự chú ý của người đọc thơ, mà không phải là cái tên do Thầy đặt ra. Biết trước là tập thơ sẽ bị cắt xén Thầy vẫn chiều ý các anh chị cho xin phép kiểm duyệt. Nhân dịp thầy Trí Quang về Huế, anh Phúc và tôi mới gởi hai bản ronéo nhờ Thầy đem về xin kiểm duyệt tại Huế, nghĩ rằng sở kiểm duyệt ở đó sẽ ít gắt gao hơn, nhất là khi do thầy Trí Quang đưa xin. Nhưng ba tuần sau, thầy Trí Quang đem trả lại hai tập thơ, nói rằng Thầy không muốn ép họ để cho họ khỏi vì nể mình mà bị bể nồi cơm. Do đó chúng tôi mới phải làm đơn xin đi kiểm duyệt ở Sài Gòn. Sở kiểm duyệt ở đây cắt bỏ hết tập thơ, chỉ chừa lại có bảy bài, và kiểm duyệt bỏ luôn đầu đề của tập thơ. Những bài như Một mũi tên rơi hai cờ ảo tượng không dính dáng gì đến chính trị hoặc hòa bình cũng bị bỏ luôn, có lẽ vì người kiểm duyệt đã có định kiến rồi nên đọc câu nào trong tập thơ cũng thấy chống chiến tranh. Bài Một mũi tên có lẽ được xem như chủ trương “trung lập hóa”.

Thấy bọn trẻ chúng tôi thất vọng quá về chuyện này, Thầy bảo: “Thì cứ nói thầy Thanh Tuệ đem in trọn cuốn đi, không kiểm duyệt thì đã có sao?” Vậy là chúng tôi bàn với chú Thanh Tuệ, quyết định cho in năm nghìn cuốn Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện mà không kiểm duyệt. Đó là vào khoảng đầu năm 1965. Nên biết rằng nhà xuất bản Lá Bối hồi đó còn trẻ lắm, do chú Thanh Tuệ làm giám đốc và chị Thu Hà làm quản lý, chỉ mới xuất bản được có ba cuốn: Bông hồng cài áo của Nhất Hạnh, Tình người của Tâm Quán và Đạo Phật đi vào cuộc đời của Nhất Hạnh. Nhờ bà bác sĩ Ngô Văn Hiệu tặng 50.000 đồng cho nên chúng tôi mới in được hai tác phẩm đầu; luôn đây cũng ghi công đức bác Hiệu như là một trong những người có công đầu trong việc sáng lập nhà xuất bản Lá Bối. Cơ sở của Lá Bối hồi đó nghèo nàn lắm: đó là một căn nhà lụp xụp tọa lạc tại số 411/5 đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn.

Chắp tay bán rất mau. Bìa do anh Hiếu Đệ vẽ. Đó là hình hai bàn tay chắp lại cầu nguyện và từ trong hai bàn tay một con bồ câu trắng vỗ cánh bay lên. Nội trong vòng một tháng, năm ngàn cuốn đã được bán hết sạch. Nhưng đó là sách quốc cấm, không được bán công khai. Tại Huế có một cảnh sát vào bảo các nhà sách giấu sách đi, đừng trưng bày, chỉ khi nào khách vào hỏi mới nên đem ra. Đó là bác ta có ý dung túng. Chắp tay được mọi giới ưa thích, kể cả giới thiên tả có liên lạc với bên Mặt Trận. Ai ngờ chỉ một vài tuần sao đó, Đài Phát thanh Bắc Kinh, rồi các đài Hà Nội và Giải Phóng bắt đầu chửi tập thơ, cho tác giả là “lưng chừng” không biết phân biệt thù và bạn.

Đối với những người trẻ có liên lạc với Mặt Trận, sự kiện này làm họ ngạc nhiên không ít. Nhưng sau đó không lâu họ còn phải ngạc nhiên nhiều nữa, vì những bài phê bình về thầy Nhất Hạnh do những cây bút như Hoàng Hà (bài báo trên tạp chí Trí thức mới tháng 8 năm 1965 của Mặt Trận) và Anh Đức (tập truyện ký Bức thư Cà Mau, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1966)… Hồi đầu, Thầy mới bị lên án là “lưng chừng” thôi, nhưng vào khoảng gần cuối năm, Thầy bị lên án rất gắt gao, xem như là dụng cụ của đế quốc Mỹ. Những người trẻ thiên tả không theo dõi tình hình văn nghệ thấy điều đó như một tiếng sét đánh ngang đầu bởi vì họ đã đến với Thầy như một khuôn mặt tiến bộ, thiên tả. Họ không biết rằng sở dĩ có những bài báo lên án Thầy cực lực như vậy là vì cấp lãnh đạo văn nghệ phía xã hội chủ nghĩa đã chỉ thị phải làm như thế. Nguyên nhân sâu sắc không phải là tập thơ Chắp tay mà là loạt bài Thầy viết trên báo Bách khoa khoảng chừng giữa năm 1965 nhan đề là Đạo Phật trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, trong đó Thầy đã vạch rõ những điểm đồng và những điểm dị giữa quan điểm Mác xít và quan niệm Phật học về vấn đề sáng tác văn nghệ. Theo tôi, bài này đã minh xác lập trường không Mác xít của tác giả, và đó là nguyên nhân quan trọng nhất của sự chống đối tác giả Chắp tay. Bài này trong khi đề cập đến hướng đi của văn học và nghệ thuật Phật giáo đã dám nói động tới giáo điều Mác xít về văn học và nghệ thuật, vì vậy tác giả mới bị khép về phía có “tư tưởng phản động”. Trong bài này Thầy có nói rằng khởi điểm của Phật giáo và Mác xít giống nhau ở chỗ nhận thức về sự có mặt của những khổ đau trong cuộc đời, nhưng động cơ thúc đẩy hành động của hai bên thì khác nhau: bên Phật giáo thì động cơ là xót thương (từ bi) còn bên Mác xít thì động cơ là sự căm thù. Nói về hiện thực chủ nghĩa, Thầy bảo rằng khi đã mang một lăng kính ý thức hệ rồi thì khó có thể phản ánh thực tại một cách trung thực. Còn với thái độ không tâm của người Phật tử, không bị thành kiến nào ngăn cách, người ta có thể miêu tả thực tại một cách chính xác hơn nhiều. Nội mấy tư tưởng trên kia cũng đủ cho lãnh đạo văn nghệ của bên kia lên án Thầy. Cho đến nỗi đoản văn Bông hồng cài áo của Thầy cũng bị đem ra chửi, cho rằng đoản văn ấy có tính cách chống cách mạng. Trong Bức thư Cà Mau (Văn Học, 1966), Anh Đức nói rằng tác giả Bông hồng cài áo cố ý làm cho người ta chỉ nhớ tưởng tới bà mẹ cá nhân của mình mà quên đi bà mẹ lớn lao là Tổ quốc.

Sau bài “Đạo Phật trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật” tạp chí Bách khoa loan tin sẽ đăng một bài phê bình của nhà văn Vũ Hạnh. Nhưng không biết vì sao, Vũ Hạnh không cho đăng bài phê bình ấy nữa, mà lại tuyên bố rằng bản thảo bài ấy đã bị “rớt mất” rồi.

Bài “Đạo Phật trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật” sau đó được in vào trong sách Đạo Phật hiện đại hóa xuất bản cũng vào năm 1965.

Tập thơ Chắp tay cố nhiên không mang số kiểm duyệt. Không biết giới lãnh đạo văn nghệ miền Bắc có để ý tới điều đó không, hay lại nghĩ rằng tập thơ đó đã được ra đời với sự ưng thuận của chế độ miền Nam.

Chắp tay còn được in lại nhiều lần, nhưng lần nào cũng để ở trang hai là “in lần thứ nhất” để cho chính quyền miền Nam không chú ý. Chúng tôi còn nhớ là lần in thứ hai, ở trang áp chót, thay vì đề năm 1965, nhà in đã in lộn thành 1956.

Vô khứ lai từ

thiếu tiểu ly gia lão đại hồi

hương âm vô cải phát mao thôi

nhi đồng tương kiến bất tương thức

tiếu vấn lão tòng hà xứ lai.

lão tòng hà xứ lai

i cũng đến từ nơi em đã đến

nhưng em không nghĩ rằng chúng ta có quen nhau

tôi vuốt bộ râu tuyết sáng nay

lá non trên đọt cây

một buổi mai

mơn mởn sắc mầu

thy mình không hề quen hạt mầm năm trước

thy mình không quen gốc cũ

làng cũ tên không đổi

hai mươi năm

nay thành làng của em

trước đôi mắt ngơ ngác kia

i chỉ là ông khách lạ

một cụ già chống gậy về làng

buổi sáng mùa thu

ti hay lui

đi hay về

trong chúng ta, ai không là người qua lại?

lão tòng hà xứ lai

em không thấy

(mà sao em thấy được

bài hát ca dao xưa

nếu giờ tôi có hát

em cũng không nhìn nhận được tôi mà)

em cười khi tôi nói

đây là làng của tôi

tôi cũng cười vang

khi em nói tôi là người mới đến

bụi tre

bến nước

đình làng

còn đó – có đổi thay mà không đổi thay

(duy tên làng không thay đổi)

mt gốc măng mới

mt mái ngói đỏ

 

mt con đường nhỏ

mt đứa trẻ thơ

tôi về làm chi

nào tôi có biết

một thoáng hương xưa

người lữ khách

không chốn khởi hành

và không nơi tới

kẻ vãng lai tam giới

là ai?

 

kiếp luân hồi xưa

khoai sắn

đồng cỏ

toóc[1] rã rơm khô

bạn về quê bạn

tôi thấy khắp nơi

em thơ

mái ngói đỏ

con đường nhỏ

quá khứ tương lai nhìn mặt

bên nớ bên ni là một

nẻo về tiếp nối đường đi

Đề tài “khứ lai” (đến và đi) được tác giả đề cập đến trong nhiều bài thơ của ông. Ở trong các bài Lưu chuyển (TDD), Một mũi tên rơi hai cờ ảo tượng (CTNC) và Vô khứ lai từ (TDC) này, đề tài ấy được đề cập một cách tràn đầy nhất. Ông mượn bốn câu thơ của Hạ Tri Chương để mở đầu bài thơ của ông. Bốn câu ấy có nghĩa như sau:

Bỏ nhà ra đi từ hồi còn ấu thơ, nay trở về thì đã già,

Tên làng vẫn y cũ, chỉ có râu tóc mình đã bạc phơ 

Bọn con nít trong làng thấy mình mà không biết mình

Cho nên cười hỏi: cụ từ xứ nào mới đến?

Tác giả trả lời ngay thay cho ông lão: “Tôi cũng đến từ nơi em đã đến”. Ông dùng hình ảnh cụ già và các em bé để nói ràng ý niệm về đến và đi của chúng ta, cũng như của các em bé kết thành từ một nhận thức rất giới hạn. Một khi đã vượt ra được giới hạn này thì con người sẽ thấy quá khứ tương lai nhìn mặt”, “bên nớ bên ni là một” và nẻo về chỉ là sự tiếp nối của đường đi… Cũng nên nhắc lại là câu chót của bài thơ “nẻo về tiếp nối đường đi” đã được tác giả lấy làm đầu đề cho một vở kịch ông viết về Nhất Chi Mai. Vở kịch này đã được họa sĩ Võ Đình dịch ra tiếng Anh và được xuất bản ở Hoa Kỳ dưới nhan đề The Path of Return Continues the Journey.

  • [1] Rạ, tức phần thân bỏ đi của cây lúa, theo phương ngữ Quảng Trị.

Âm hưởng

Tặng Nguyên Hưng

tiếng cười vang lên trong trí nhớ

bếp lửa chiều nao

mưa nặng hạt

trên mái ngói buồn

và yên vắng

linh hồn

sa vào hoang đảo lạnh

buổi sáng xưa, sương mù tuyết giá

âm hưởng

gió rít đồi thông Đà Lạt

lâm râm mưa phất vào má lạnh

hai tay giấu kỹ linh hồn

rồi vó ngựa lóc cóc trời sương

giấc ngủ triền miên

nhớ khói ấm

chén trà buổi sáng

đồi xa, mái ngói cong in nền trời

giọt sương đêm qua treo lóng lánh

buổi sáng nắng reo hoa tường vi

 

bây giờ là nửa đêm

xa nhà, tuyết rơi lạnh.

Độc giả Nẻo về của Ý chắc còn nhớ tới nhân vật Nguyên Hưng. Nguyên Hưng chính là thầy Thanh Văn, giám đốc Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội từ năm 1966 đến năm 1972.

Tiếng đập cánh loài chim lớn

lối cũ dấu hài

hương thời gian không tím

mầu thời gian không như mầu trời xanh

mồ hóng gỗ xưa

rêu đá lạnh

và bụi đường

thời gian không trôi chảy

không gian chỉ ngừng đọng

trên đầu tôi, chim bay

i tay người

nhiệm mầu then cửa

mở hay đóng

để chàng lui về nơi xuất phát

một mình tôi

bên đôi đường đóng mở

giữa hai nẻo xuống lên

bàng hoàng

vang động tiếng chân xưa

gọi về tỉnh thức

Một đóng một mở gọi là đạo. Câu này tôi nhớ hình như ở trong Đạo đức kinh. Then cửa nhiệm mầu nằm trong tay mọi chúng ta. Thầy nói bài này Thầy làm để tặng các nữ tu sĩ trong một tu viện ở Úc Đại Lợi, khi đến thăm tu viện này vào cuối năm 1966.

Thầy có phổ nhạc bài này. Laura Hassler thường hay đàn cho tôi hát. Laura nói bài nhạc này rất thanh tịnh và câu cuối của bài mỗi khi nghe là thấy rợn ngợp như bước vào trong một thánh đường.