Chương 3: Làng Mai Bắc Mỹ

Sau này có nhiều người Mỹ rất thích Làng, họ bay qua Paris rồi bay từ Paris xuống Bordeaux và lấy taxi tới Làng. Tiền taxi thì quá cao, còn đi xe lửa hay xe bus thì quá rắc rối. Họ nói nếu Thầy có một trung tâm bên Hoa Kỳ thì sẽ có rất nhiều người Mỹ tới tu tập. Thầy không chịu, nói có ba trung tâm đã mệt lắm rồi, nếu có thêm một trung tâm bên Mỹ nữa thì chắc chịu hết nổi. Nhưng mỗi hai năm thì Thầy đi Mỹ giảng dạy một lần. Ban tổ chức bên Mỹ tổ chức cho Thầy đi giảng ở năm hay bảy tiểu bang, mỗi tiểu bang chừng năm ngày. Có những buổi thuyết pháp công cộng ở những thành phố lớn như New York, Washington D.C, Chicago, Los Angeles, Seatle, Portland cho 1500 đến 4000 người. Thỉnh thoảng mình cũng qua Canada. Cuối chuyến đi Thầy hay qua dạy ở Canada cho nên nhóm Phật tử ở đó lập làng Cây Phong. Vậy mà nhân duyên đưa đẩy nên rồi mình cũng có ba trung tâm tu tập bên Mỹ: Bích Nham, Lộc Uyển và Mộc Lan.

Những thành quả của Làng Mai

Thành quả thật ra chẳng có gì hết. Nếu có thì hằng hà sa số nhiều lắm mà không thì cả thế gian này cũng không.

Từ những chuồng bò, chuồng thỏ, chuồng heo, nhà chứa rơm, nhà đựng rượu Làng đã biến ra thành thiền đường Nến Hồng, Tham Vấn đường… Từ một anh Thịnh đánh đập vợ con, anh bỏ thuốc, bỏ rượu, lo làm ăn chí thú hết lòng. Từ những người con trai khinh khi cha mẹ vì cha mẹ đều say sưa nghiện ngập, uống rượu, đánh đập nhau, anh Pritam, chị Joanna ấy đã trở nên người cứu rỗi của gia đình ba mẹ, anh em của anh ấy. Bác Tư đó, người nghệ sĩ tài ba đó, chuẩn bị súng để bắn vợ con và tự tử, nhờ ba tháng ở luôn Làng Mai và thực tập thiền lạy mà bác trở thành người cha tâm linh của các con và mấy năm sau, khi ra đi, chết thật nhẹ nhàng, đi vào cõi tịnh như dạo chơi mà không phải niệm A Di Đà Phật khiến cho các tu sĩ Phật giáo trọn vùng Úc châu ấy bái phục vô cùng. Kể làm sao cho xiết những cánh tay Bồ tát sống dậy từ Làng Mai, đi vào đời chuyển hoá vô số những người thương. Từ anh Hoàng Phúc chỉ còn vài ngày sống trước khi đi vào cõi chết, đã “chết thật” nhẹ nhàng và tái sinh sáu giờ sau, sống dậy nấu cơm chờ vợ con trở về cõi sống. Chân Không viết những dòng này chỉ mong mỗi người biết dừng lại trước những bức xúc, những cơn cảm xúc lớn, nào là sợ hãi, hoảng hốt… để rồi nhìn sâu hơn trong mỗi hành động, mỗi tư duy với lòng từ bi của Bồ tát Quan Âm, với cái thấy trong suốt đầy ánh sáng hiểu biết của Bồ tát Văn Thù Đại Trí trong mỗi chúng ta, để Hiểu và Thương thêm những người mình chưa hiểu và chưa thương.

Thường thì trong gia đình hễ có một người đi tu thì các người từ từ nối nhau xin đi tu luôn vì thấy em mình, chị mình hạnh phúc quá. Một người anh ruột thấy em mình đi về Làng Mai rồi viết thư về xin đi tu luôn. Lúc đầu anh không hiểu tại sao nhưng khi thấy em mình bước xuống phi cơ cùng với Thầy và tăng đoàn, cái cô em gái nhút nhát rụt rè, sợ hãi đó đang đi khoan thai đẹp đẽ quá làm anh ta khó mà tin cô này là em gái mình. Sau đó thì anh ấy xin theo Thầy xuất gia luôn.

Làng Mai, nhờ tuệ giác quyết tâm làm mới đạo Phật bằng con đường chánh niệm, một cánh cửa trong bát chánh đạo, đã giúp cho nhiều tầng lớp người, bằng con đường vô tướng, tiếp xúc được với phần thâm sâu nhất của tự thân mỗi người, tiếp xúc với tánh sáng suốt Từ Bi, tánh Bụt, tánh Vô Uý của Bồ tát Quán Thế Âm, tánh Hiểu và Thương sâu của Bồ tát Văn Thù, tiếp xúc với Thượng Đế, với Allah trong họ, với lý tưởng Đại Đồng trong người ấy.

Điều kiện tu và sống ở Làng Mai

Cư sĩ thường trú

Cư sĩ cũng có thể vào Làng Mai tu và viết đơn xin được vào thường trú, nhưng họ phải ghi tên xin thực tập hai tuần xem có thích đời sống chánh niệm, đi đứng nằm ngồi, làm việc ăn uống trong chánh niệm hay không, có sống hoà hợp được với mọi người không? Họ phải đóng một số tiền tối thiểu mà Làng cần cho mỗi tu sĩ, có nghĩa là họ được bớt 40%. Trên 40 tuổi thì Làng không nhận. Nhưng Chân Không thấy có những người tuy trên 40 nhưng vẫn mạnh khỏe, có nhiều kinh nghiệm ở ngoài đời, có từ bi tâm lớn muốn phụng sự thì khi được chấp nhận vào phụng sự họ lại giỏi hơn những cô tập sự trẻ nên Chân Không xin chúng nhận luôn những người tới 49 tuổi.

Tập sự xuất gia

Muốn tu và sống ở Làng Mai thì mình phải có điều kiện gì? Trước tiên là sức khoẻ: mình phải khoẻ mới tu được nên phải đi khám bác sĩ tổng quát, thử máu xem có bị bệnh truyền nhiễm hay siêu vi gan B, C không. Sau đó mình nói phải vô ở một tháng để coi mình có muốn đi tu thiệt không. Hai tuần lễ đầu phải trả tiền đầy đủ. Nếu mình tu khá thì tuần lễ thứ ba, thứ tư mình khỏi trả. Có những người dở quá thì phải một tháng mình mới cho ở chính thức. Không bắt buộc phải đi tu mới được ở Làng Mai, nhưng người nào đi tu thì có ưu tiên hơn. Nếu vị ấy được chúng quý trọng và dưới 50 tuổi thì Làng có thể cho tập sự xuất gia và xuất gia luôn nếu tha thiết muốn ở lại xuất gia. Như Chân Không đã kể trên, nếu có những người bị quá tuổi nhưng vẫn mạnh khỏe, có nhiều kinh nghiệm ở ngoài đời, phát tâm bồ đề thì khi vô phụng sự họ lại giỏi hơn những cô trẻ hai mươi ba mươi mới tập sự nên Chân Không nhận luôn những người tới 45 – 48 tuổi được đi xuất gia. Ngay thời Phật còn tại thế tăng đoàn khất sĩ cũng không nhận người xuất gia nữ hay nam khi tuổi họ sắp lão niên. Lý do là vì lão niên hay sinh nhiều bệnh, mình chưa làm gì phụng sự cho chúng thì chúng phải phụng sự lại mình vì tuổi già không bệnh này thì cũng có bệnh khác. Vì vậy nếu đi tu khi còn trẻ thì mình làm được nhiều việc chung của chùa và khi đến tuổi già có nhiều bệnh, các sư em lo thang thuốc, giặt giũ cho mình, mình không mặc cảm là mới đi tu chưa làm được gì cho chúng mà chúng đã phải phục vụ cho mình. Phải đảm bảo đúng điều kiện được đi tu như là phải dưới 50 tuổi, dưới 40 tuổi thì có ưu tiên nhiều hơn. Nhưng khi về Việt Nam thì vì có đông người xin quá nên mình nói phải dưới 35 tuổi. Những ai vì bận học hành nghiên cứu đến khi hoàn thành các bằng cấp đã quá tuổi 35 mà có ý nguyện đi tu thì cũng được nhận vào tu. Có người hỏi trong Làng có bao nhiêu tu sĩ thường trực? Nhờ vụ Bát Nhã bị đuổi nên Chân Không xin chính phủ Pháp cấp visa dài hạn cho các thầy các sư cô, tức visa một năm nhưng được tái cấp hoài. Các thầy các sư cô cũng có thể ở 10 hay 15 năm nhưng mình không muốn xin tại vì mình nghĩ chỉ ở khoảng bốn năm hay nhiều nhất là hai lần bốn năm để quen với cách tu rồi mình sẽ cử đi chỗ khác như là Thái Lan để lo trung tâm Thái Lan hay cử về Hồng Kông để lo trung tâm Hồng Kông hay cử về Úc chứ mình không giữ lâu.

Số tu sĩ ở các xóm không cố định, ví dụ như hiện giờ Xóm Mới là 66 người, ở Xóm Hạ là 77 người nhưng có người phải về nhà chăm cha mẹ già hoặc về Việt Nam chữa bệnh thì chỉ còn có 72, Xóm Thượng của quý thầy (gồm luôn Sơn Hạ) thì tới 80 người nhưng có người tu xong năm năm rời chúng, lại có mười mấy người mới xuất gia, rồi cộng với tu sĩ khách thì ở Làng mình có khoảng 200-230 người. Tu sĩ khách thì không trả tiền, chỉ phải làm theo thanh quy, nếu làm không đúng thì sẽ được mời đi.

Mấy người tập sự xuất gia thì từ sáu tháng tới một năm. Trong trường hợp đã từng sinh hoạt tăng thân nhiều năm và từng là cánh tay mặt hay tay trái của một trung tâm và đã qua Làng Mai Pháp tu tập thì chỉ cần ba đến sáu tháng tập sự tại vì đã tu tập lâu rồi ở các trung tâm khác. Ở Làng Mai làm công việc là phụ, việc chính là thực tập chánh niệm. Sau khi thọ giới thì mình làm sa di ni, làm sa di ni một thời gian hai năm thì mình thọ giới thức xoa ma na. Thức xoa là tiền tỳ kheo ni. Như vậy là phải tối thiểu ba năm thì mới thọ giới tỳ kheo ni. Còn bên nam không có giới thức xoa, từ hai tới ba năm mới thọ giới tỳ kheo. Từ tỳ kheo mà lên giáo thọ là từ bốn tới năm năm. Thọ giới lớn bốn năm thì được làm tập sự giáo thọ, người giỏi thì khỏi tập sự giáo thọ nhưng số đó rất ít, phần đông thì phải tập sự giáo thọ một năm. Làm giáo thọ thì được giảng chung với mấy thầy lớn, rồi thầy lớn mới buông tay để mình giảng khoá tu một mình.

Không được đi tu với tài sản vật chất

Theo truyền thống như khi Bụt còn tại thế, các vương tôn công tử đi tu đều đi tu tay không. Một người thợ hớt tóc tên Ưu Ba Ly ở thành Xá Vệ thấy năm công tử dòng quý phái ghé tiệm anh, nhờ cạo râu và tóc của họ. Họ trút hết vòng vàng tặng anh thợ và nói: “Anh hãy xài giùm, chúng tôi đi tu nên không cần nữa.” Sau đó anh thợ hớt tóc cũng quyết định đi tu luôn và bỏ lại châu báu bên đường.

Ở Làng Mai cũng thế, ai đến tu cũng đi tay không. Có một sư em người Pháp ngày xưa khá giàu có, Chân Không đã căn dặn em đi tu thì đi tay không nhé. Cô em đó 48 tuổi đã cho hết gia tài cho con gái lớn của cô, chỉ giữ lại chiếc xe ô tô mới mua. Hồi đó Làng còn nghèo lắm, chỉ mua những ô tô cũ. Một hôm cô muốn đi ra thuyết pháp cho một làng người Pháp vì họ không biết chi về đạo Bụt. Cô định tự động lái xe đi dạy đạo một mình vì trong tăng thân xuất sĩ Xóm Hạ chỉ có mình cô nói tiếng Pháp. Một sư cô lớn cản lại nói:

“Em mới là sa di ni tu chưa được hai năm, chưa đủ khả năng đi dạy đâu. Khi em tu khá, tăng thân sẽ cử em đi dạy và cung cấp phương tiện, xe cộ đưa em đi.”

Em ngạc nhiên nói:

“Xe này của em mua và em cho Làng mà! Xe của em thì em cứ lái đi thôi!”

Sư cô lớn vẫn ngăn nói:

“Em chưa là tỳ kheo ni, cũng chưa là giáo thọ nên chưa được đi dạy.”

Em giận quá, viết thư cho Thầy nói xấu tăng thân khá nhiều từ những tri giác rất sai lầm về chúng. Em thưa với Thầy:

“Con đi bằng xe của con mua và con đem xe ô tô đó tới chứ đâu phải xe của chúng đâu?”

Sư cô lớn dạy em gọi gia đình huyết thống tới và xin trả ô tô về để quên bớt cái ngã “nhà giàu” của em một chút, đề nghị em nên kêu con gái tới đem ô tô của em trả lại cho gia đình. Điều đó nhắc em là em phải đi tu tay không, bình đẳng với mọi người. Nhưng tính bồng bột của em chưa dứt nên em vừa trả xe hơi cho con gái xong thì em cũng đi về nhà và bỏ tu luôn.

Những khó khăn của Làng Mai

Ở Tây phương thì ai sinh ra cũng có đạo Chúa, dù không đi nhà thờ người ta cũng coi mình là đạo Chúa. Nếu con của họ theo đạo Phật thì họ coi như là nó phản đạo, mất gốc vậy. Các bậc cha mẹ tiến bộ đồng ý cho con đi tu, nhưng con tu tới năm thứ ba thì họ nói tưởng con ham vui đi tu thôi! Tại vì con họ đã từng có nhiều dự án mà dự án nào cũng không kéo dài quá một năm, tại sao bây giờ nó tu ba năm rồi mà chưa bỏ? Mình mời bà mẹ của thầy hay của sư cô đó tới chơi. Theo luật ở Làng Mai, nếu là mẹ của một sư cô là mẹ của tất cả các sư cô. Sư cô A đi tu, mẹ của sư cô A tới thì tất cả sư cô đều cưng mẹ, lo cho mẹ từng chút. Bên các thầy cũng vậy, bác có một đứa con trai đi tu nhưng tới đây thì 45 thầy đều là con của bác. Anh chị em các thầy các sư cô cũng được tới ở miễn phí.

Nhưng có nhiều gia đình tới đông quá nên họ tự đóng góp để giúp thêm cho chùa. Thường thì trong gia đình Việt Nam hễ có một người đi tu thì mấy người anh em, chị em xúm nhau đi tu luôn. Có gia đình có tới năm, sáu người xuất gia với Thầy.

Cư sĩ vào Làng không được ăn mặn, đem thịt vô sẽ bị đuổi liền, không ăn trứng gà nuôi công nghiệp, không được mua cheese. Nói như vậy nhưng cheese từ những con dê được nuôi trên núi, không phải phá mấy chục mẫu rừng để làm trại chăn nuôi lớn thì vẫn được ăn. Nhưng Thầy khuyên đừng ăn để khỏi bàn cãi cái này nuôi trên núi, cái kia không nuôi trên núi. Nếu trong trường hợp anh chị em nào bị bệnh cần ăn thì mình xin phép chúng.

Trong cách làm việc và tu tập của xuất sĩ thì đi đâu mình cũng phải có second body, tức thân thứ hai (đệ nhị thân). Ban đầu mình thấy hơi lạ nhưng sau mình biết xuất xứ từ trong kinh của Phật nói một nữ tu đi đâu thì không được đi một mình. Đi một mình là phạm giới, tại vì một lần có một sư cô đi về thăm nhà một mình. Sư cô đi giữa rừng thì bị người xấu hãm hiếp. Từ đó các ni sư chế thêm luật phụ nữ không được đi một mình mà phải đi hai ba cô. Trong thế kỷ 21 Thầy Nhất Hạnh nói, mấy thầy cũng phải có thân thứ hai. Tuy mấy thầy không bị hãm hiếp trong rừng nhưng ngoài thành phố có những người tạm gọi là nữ Phật tử ban đêm có thể làm cho thầy mất giới. Ngay trong những khoá tu lớn có thời tham vấn riêng, vì đông quá mà họ đòi tham vấn riêng mà một hai người thì không đủ cho nên có những thầy ngồi tiếp một cô riêng nhưng phải ngồi chỗ thanh thiên bạch nhật để thiên hạ đi qua đi lại đều thấy. Thầy tiếp tham vấn với một cô thì được nhưng kéo ghế ngồi riêng với một cô trong rừng vắng thì không được. Làng mình rất kỹ về mấy vấn đề đó.

Trong Làng không làm phòng cho hai người ở. Thầy nói phải có ba người, lỡ hai người có vướng mắc (nữ với nữ hay nam với nam) thì có người thứ ba biết, báo cáo cho đại chúng. Trong phòng thì thường là ở ba hay năm người chứ không có hai hay bốn người.

Trong những khoá tu xuất sĩ thì có tu sĩ của các nước tới nhiều, thường là người tu của các nước Á Châu như Indo, Đại Hàn hay Đài Loan tới xin học hỏi. Sau này mặc dù Thầy đột quỵ và không còn ở Làng nữa, nhưng số người xin xuất gia ở Xóm Thượng ngày càng đông mà toàn là mấy em Tây phương, Trung Mỹ, Nam Mỹ. Họ tu rất đàng hoàng. Thầy cho chương trình tu năm năm. Thầy nói mình học chương trình kỹ sư năm năm thì tu cũng năm năm. Nếu mới năm đầu mà mình rớt thì cũng được. Tu được bốn năm thì cái học của mình mới nhuyễn và quyện vào đời của mình. Sau khi tu năm năm mà thấy hạnh phúc quá thì mình tiếp tục suốt đời, còn nếu không có hạnh phúc thì mình đi ra. Nhờ chương trình tu năm năm mà người Tây phương được khuyến khích. Thầy nói, anh bỏ năm năm để học kỹ sư hay thạc sĩ thì trong năm năm đó anh cũng như một người tu. Nếu có cô bồ này tới cô bồ khác thì làm sao anh ra trường nổi. Ở đây anh cũng phải tập như vậy.

Việc làm của các giáo thọ

Trong những khoá tu

Lúc đầu thì Thầy giảng bài pháp thoại chính. Mình còn có những buổi pháp đàm. Pháp đàm, thứ nhất là để lắng nghe thiền sinh có những khó khăn gì cần được giúp. Sư cô hay thầy trưởng nhóm pháp đàm ghi nhận và báo cáo cho giáo thọ để cho bài pháp thoại, tuy cũng vẫn là giảng về pháp Phật nhưng đi vô thực tế để soi sáng cho người nghe đang có vấn đề. Bài pháp thoại mỗi ngày mỗi thích hợp hơn và chỉ đường gỡ rối chung cho thiền sinh. Thiền sinh nói ra những điều mình suy nghĩ, những khổ đau trước khi tới tu tập và họ đã học được gì ở khoá tu để giải quyết những khó khăn của mình. Mỗi nhóm pháp đàm có nhiều nhất là 25 người cho nên số giáo thọ đi theo Thầy phải đủ để một người có thể chăm sóc cho 25 người. Vì vậy, nếu một khoá tu có 1000 người tham dự thì sẽ có 40-50 giáo thọ đi theo. Mình nghe Thầy giảng, mình lắng nghe khổ đau của người khác. Mỗi người có 3-5 phút để chia sẻ hoặc đặt câu hỏi luân phiên nhau. Ai không có gì để nói thì chắp tay xá rồi tới người kế tiếp. Buổi pháp đàm chấm dứt lúc 5 giờ thì khoảng 4 giờ 45 vị giáo thọ cho một bài pháp thoại ngắn để trả lời các câu hỏi dễ, còn những câu hỏi khó thì họ sẽ đem về trình lên Thầy để Thầy trả lời.

Sau này không có Thầy thì ban giáo thọ đề cử người để nói pháp thoại. Trước khi cho pháp thoại vị giáo thọ cũng phải căn cứ trên những câu hỏi tức những ưu tư của thiền sinh. Tuy mình đã có một dàn bài nhưng mình phải lồng vô bài pháp thoại câu trả lời cho những khó khăn của thiền sinh. Và cuối cùng mình có một buổi câu hỏi và trả lời. Có những câu hỏi mà thiền sinh không muốn chia sẻ ở giờ pháp đàm theo nhóm vì có khó khăn hay vì vấn đề quá cá nhân nên họ viết thư riêng bỏ vào chuông. Các thầy các sư cô lấy ra đưa cho người nói pháp thoại để vị đó trả lời những ưu tư của thiền sinh nhóm mình. Cảnh sát công an cũng có những sợ hãi của cảnh sát công an. Người Palestinian và người Do Thái cũng có những khổ đau của họ. Doanh nhân cũng có những khổ đau và khó khăn của doanh nhân.

Trong mùa An Cư

Ở Làng Mai mùa An Cư rất quan trọng. Thầy muốn giữ truyền thống như hồi Bụt còn tại thế, đi sát với cách Bụt dạy càng nhiều càng tốt. Hồi Bụt còn tại thế mặc dù vua quan ai cũng cần những buổi giảng để cúng dường và nghe thuyết pháp nhưng Bụt vẫn kêu các thầy các sư cô tới an cư trong một khu rừng. Bụt chọn mùa mưa để an cư tại vì mùa đó côn trùng bò ra đầy mà nếu có nhiều người đi thì sẽ giẫm chết côn trùng. Thành ra những mùa có nhiều côn trùng và mưa nhiều thì tăng đoàn ở lại một chỗ.

Bên mình cũng vậy, mình chọn tháng mùa đông lạnh không ai tới để an cư. Làng Mai ở Pháp tránh mùa hè tại vì mùa hè có khoá tu cho quần chúng và gia đình. Vì vậy khoá an cư 90 ngày cho người tu thì phải lựa mùa không có quần chúng tới. Ban đầu mình chọn ba tháng mùa đông từ tháng 11 tới tháng Giêng, nhưng khổ nỗi trong tháng 12 có lễ Giáng sinh và Tết Tây mà bên này là những nước có truyền thống Thiên Chúa giáo. Ngày Giáng sinh và Tết Tây là ngày quan trọng nên họ muốn tới tu tập. Vì vậy mình đổi lại thành An Cư xuất sĩ trong ba tháng mùa thu, có giới trường và không rời giới trường, không đi ra ngoài khi không có tăng sai. Thiền sinh mới tham dự khoá tu Mùa Hè xong trở về đi làm việc và mình có riêng được ba tháng an cư, nghỉ ngơi, đi bộ ngắm lá vàng, trồng rau lượm hạt dẻ, hái táo, lượm mận, làm mứt trong chánh niệm. Trong những tháng này Thầy chỉ dạy Kinh, Luật, Luận, giải quyết và dạy chúng những khó khăn nội bộ.

Qua mùa An Cư thì thiền sinh chuẩn bị tới để mừng Giáng sinh ở Làng Mai cho sự tu tập tâm linh được sâu sắc hơn. Đây cũng là văn hoá của các vị xuất sĩ gốc Thiên Chúa ở phương Tây. Mình cũng trang hoàng hang Chúa ra đời, có ba ngôi sao dẫn đường tới. Chúa chọn sinh ra trong một gia đình nghèo nhất, một gia đình tị nạn. Chúa Jésus cũng là một người tị nạn. Vua David đòi giết hết con nít sinh cuối năm tại vì ông được báo tin là sứ giả của Thượng Đế sẽ ra đời trong tháng này. Maria và Joself quyết định đi tị nạn vì sợ con bị giết. Cuối cùng Jésus được sinh ra trong một hang lừa. Văn nghệ mùa Giáng sinh thì các sư cô (Tây phương) đóng vai Mẹ Maria ôm một em bé trong hang lừa và trình bày rằng đó là một thông điệp của Thượng Đế cho biết còn rất nhiều những người tị nạn đang đau khổ. Trong hàng ngàn chú bé tị nạn mà các bạn cứu giúp biết đâu có một đấng cứu thế tương lai? Là một con chiên của Thượng Đế thì mình phải chăm sóc những người tị nạn tại vì mỗi người tị nạn có thể là một Ki Tô trong tương lai. Tết Tây mình đốt một đống lửa lớn, phát nguyện sang năm mới mình sẽ bỏ hết những tập khí cũ và làm những điều lành.

Nếu tổ chức những khoá tu đông người thì mình chọn những ngày hợp với văn hoá và sự kiện lịch sử. Ở Việt Nam thì có 30 tháng 4 hay ngày Quốc khánh 2 tháng 9. Trong dịp đó nhiều người được nghỉ năm, mười ngày nên mình chọn những ngày đó để tổ chức khoá tu cho người Việt. Ở Thái Lan mình chỉ giảng tiếng Thái trong những ngày lễ Thái. Người Việt Nam đi Thái rất gần không cần xin chiếu khán nên mình làm những khoá tu lớn chỉ nói toàn tiếng Việt ở Thái Lan, thường là vào tháng 6 và Tết Việt. Ở Việt Nam thì mình giúp một số chùa để làm khoá tu cho đồng bào.

Ngày trước trong suốt ba tháng An Cư thì Thầy giảng sâu về giáo lý cho các xuất sĩ. Cư sĩ cũng có thể tới an cư chung với xuất sĩ trong ba tháng. Đó là điểm đặc biệt của Làng Mai, rất tiến bộ và cởi mở.

Những khoá tu ở Làng Mai

Từ năm 1987 đã có anh Lê Văn Hoàng về tu tập. Anh là bác sĩ ở Cognac. Mỗi tuần anh về ba bốn ngày. Anh và chị Tịnh Thuỷ thương nhau nên Thầy cho làm đám cưới ở Làng. Sau này cả hai người cùng xuất gia và tu ở Làng luôn.

Hồi đó mình không có nhiều tiền nên hà tiện không dám mua máy video. Khi anh Hoàng về Làng thì anh có mang theo máy video, cái máy rất xưa. Anh quay những bài giảng của Thầy dưới các hệ Pal và NTSC, mình cũng thu thanh và cho vô cassette nhưng chất lượng không ổn định. Sau này mình đổi qua CD. Đến khi chúng xuất sĩ đông hơn và có nhiều người giỏi về kỹ thuật thì các băng giảng mới được chuyển qua CD và bây giờ thì dạng kỹ thuật số. Tuy nhiên mình đang tìm cách để khôi phục lại toàn bộ bài giảng của Thầy trước khi các băng giảng ngày xưa bị hư.

Mùa An Cư

Trong khoá tu Mùa Đông, Tu viện Làng Mai có giới trường, các vị xuất sĩ và cư sĩ dự An Cư không được đi khỏi Xóm Thượng, Xóm Hạ và Xóm Mới. Muốn đi ra Ste-Foy- La-Grande thì phải xin phép. Ngày quán niệm của xuất sĩ thì mình vô Sơn Cốc tức Phương Khê, nơi Thầy ở để tu tập.

Mỗi mùa đông thì Thầy giảng kinh. Năm đầu tiên Thầy giảng kinh Nam Truyền, cho mình đi qua từng kinh như Trường A Hàm, Trung A Hàm… Thầy ghi tóm lược từng kinh. Kinh nào quan trọng thì Thầy giảng dài ra. Ví dụ Thầy nói: “Kinh này là gốc của kinh A Di Đà. Đây là kinh Nam Truyền tức kinh đầu tiên Phật nói nhưng vì phương tiện quyền xảo nên người ta biến thành kinh A Di Đà. Kinh này thì sau biến thành kinh Hoa Nghiêm.” Hoa Nghiêm là tuệ giác rất cao của đạo Phật. Kinh Hoa Nghiêm không phải do Phật nói nhưng căn cứ trên những điểm dạy của Phật trong kinh Nam Tông. Các thầy Đại Thừa nghĩ rằng phải giảng như vậy mới đúng theo tinh thần phóng khoáng của Phật Thích Ca. Họ viết ra mà không dám nói thiệt, họ nói chắc Phật lên cung trời Đâu Suất để giảng cho mẹ là bà Maya. Có khi nói Phật đi xuống Long Cung để giảng cho vua Rồng. Thầy nói, bây giờ trong khảo cổ người ta biết những kinh đó không phải do Phật nói. Ngày xưa các thầy không dám nói thiệt là kinh Đại Thừa không phải do Phật nói tuy tư tưởng là của Phật. Các thầy đã cô đọng hoá giáo lý của Phật và viết lại rất hay như kinh Kim Cương hay kinh Hoa Nghiêm. Đó là viên ngọc quý của nhân loại do những thầy tiếp nối Phật rất thâm sâu viết lại. Hồi xưa các thầy không dám nói như vậy nhưng bây giờ thầy Nhất Hạnh thì dám nói thiệt. Ban đầu Phật dạy có Năm giới, rồi giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Hồi thời đó không có trò chơi điện tử… cho nên Phật không chế ra giới đó. Nhưng bây giờ để hộ trì thân và tâm của người tu thì Thầy viết ra thêm thôi. Thầy viết ra Mười bốn giới Tiếp Hiện cũng căn cứ trên giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, giới Bồ tát và những phương pháp chánh niệm mà chư Tổ đã dạy. Thầy nói Thầy không có mặc cảm gì cả, con thua cha thì nhà không có phước. Thầy là con của Phật và chư vị Bồ tát thì Thầy phải làm thôi. Nếu nói Phật đi lên cung trời Đâu Suất giảng thì bây giờ không ai tin cho nên mình phải nói thiệt.

Trong ba tháng mùa đông thì Thầy chỉ giảng kinh thôi. Qua ba tháng mùa đông thì Thầy “đi vào đời”. Để khuyến khích những người trẻ ham đi tu thì Thầy dạy rất sâu vào Truyện Kiều. Người trẻ rất thích nên các thầy, các sư cô đánh máy ra các bài giảng thành cuốn sách Thả một bè lau. Thầy giảng hết những gì đi với thời sự “nhìn sâu, thấy kỹ, thương nhiều”. Thầy giảng rất sâu về cái hố ngăn cách giữa tuổi tác, vợ chồng vì những tri giác sai lầm. Những băng giảng của Thầy là vô giá mà mình chưa đánh máy hết. Chân Không tưởng tượng 100 năm sau khi Thầy tịch thì vẫn còn băng của Thầy để đánh máy ra, cô đọng lại và in thành sách rất hay.

Khoá tu Mùa Hè

Cách tu học ở Làng trong những năm đầu thì trong mùa hè, một ngày Thầy cho pháp thoại bằng tiếng Pháp, ngày thứ nhì Thầy nói tiếng Việt và ngày thứ ba thì Thầy nói tiếng Anh, ngày thứ tư Thầy nói tiếng Pháp. Nhưng số thiền sinh Pháp không tăng mà số thiền sinh nói và hiểu tiếng Anh tăng quá nhiều. Trong tuần có bảy ngày thì có một ngày làm biếng, hai ngày giảng bằng tiếng Anh, một ngày giảng tiếng Pháp, một ngày tham vấn tức câu hỏi và trả lời, một ngày thiền sinh cũ đi và một ngày thiền sinh mới tới.

Sau này Thầy nói để Thầy cho thêm Xóm Trung một buổi giảng bằng tiếng Việt, tại vì khi Thầy giảng tới đâu mà có những cặp mắt Việt Nam sáng lên hiểu và tâm đắc thì Thầy mới hứng khởi giảng tiếp. Còn ngồi giảng ở thiền đường lớn, nếu trước mặt Thầy chỉ toàn là người Tây phương thôi thì làm sao Thầy giảng tiếng Việt được. Nhìn Thầy giảng bằng tiếng Việt không được phải kêu mấy người Việt mặc áo dài đẹp lên ngồi phía trên thì cũng chỉ một hai hàng nên mình phải đưa tiếng Việt về Xóm Trung.

Đúng ra thiền thất là bảy ngày nhưng trừ hai ngày cuối tuần còn lại người ta chỉ cần bỏ ra năm ngày là đủ. Nếu bắt người ta bỏ nguyên một tuần thì chắc ít người tới tu học. Trong những năm bắt đầu đi giảng, từ năm 1981 tới năm 1987 thì những khoá tu kéo dài trong năm ngày.

Khoá tu chỉ một ngày

Tuy vậy, có những trung tâm phục Thầy quá mà không đủ điều kiện tổ chức dài ngày nên xin Thầy tổ chức khoá tu trong một ngày thôi. Trung tâm đầu tiên là Spirit Rock ở vùng Woodacre, miền Bắc Cali. Trung tâm này rất nổi tiếng vì rộng rãi và rất gần với thiên nhiên. Một bài đánh giá về mười trung tâm thực tập nổi tiếng nhất trên thế giới của đài CNN đã xếp hạng trung tâm này thứ nhất và Làng Mai thứ hai. Khi Thầy tới thì có 2.000 người ghi tên tham dự. Không có chỗ đi thiền hành nên phải chia làm ba nhóm đi thiền hành, Chân Không dẫn một nhóm, quý thầy dẫn một nhóm. Thầy dẫn một nhóm.

Đến giờ thuyết pháp cho 2.000 người, ngồi giảng trong một cái chòi, ở phía dưới người ta ngồi đầy cả ba bốn ngọn đồi và để loa cùng khắp.

Chân Không rất phục cách làm việc của người Tây phương. Thời khoá biểu bắt đầu ngồi thiền sáng sớm giữa đồi núi bao la từ 7:30 đến 8:30. Ghi tên đóng học phí từ 7:30 đến 9:00. Thầy đứng trên bục cao giảng cách đi thiền hành, xong chia làm ba nhóm thực tập đi thiền được hướng dẫn bởi Chân Không, thầy Pháp Ấn và Thầy.

10 giờ 30 sáng, Thầy giảng bài thuyết pháp quan trọng về chánh niệm, dạy sống không phí phạm 24 giờ tinh khôi, cách ăn cơm trưa trong chánh niệm. Tiếp theo Chân Không dạy thiền buông thư, người ta cũng ghi âm luôn thiền buông thư, rồi tới phần câu hỏi và trả lời. Tới 5 giờ chiều mình ngừng, người ta ra về lúc 5 giờ rưỡi thì đã có nguyên bộ băng thu từ sáng cho tới 5 giờ chiều. Chân Không rất phục kỹ thuật bên Hoa Kỳ.

Bên Làng thì Thầy nói mùa hè người ta mới rảnh, phần đông người Việt qua đây đi làm không đủ nuôi con, có thì giờ đâu mà bỏ đi chơi. Vì vậy Thầy đề nghị, mùa hè ở Âu Châu ai cũng đi nghỉ hè trong tháng 7, 8 nên Thầy dành bốn tuần từ giữa tháng 7 tới giữa tháng 8 cho khoá tu Mùa Hè.

Các khoá tu khác của Làng Mai

Sau này, ở mỗi xóm, ai đi tham dự khoá tu thì phải đóng tiền ăn, ở giống nhau. Những lúc Làng không có mở khoá tu chung thì thiền sinh tới tu tập ở xóm nào thì trả tiền cho xóm đó, ví dụ có 15 người tới tu ở Xóm Thượng thì tiền thuộc về Xóm Thượng. Vì vậy mỗi xóm tuỳ vào nhân lực và khả năng của mình mà tổ chức những khoá tu có tính cách chuyên đề riêng. Xóm Mới có Khoá tu nấu ăn trong chánh niệm. Xóm Thượng và Xóm Hạ hay có khoá tu Wake up (người trẻ tỉnh dậy đi), Phật tử hay không Phật tử cũng cần tỉnh dậy để che chở địa cầu. Trên Xóm Thượng thầy Pháp Lữ đề nghị mở Khoá tu sức khỏe. Thầy bắt nhịn đói rồi cho đi bộ từ Xóm Thượng xuống Xóm Hạ rồi từ Xóm Hạ tới Xóm Mới luôn, đi bộ 24 cây số rồi đi bộ trở về. Người ta nghe tới sức khỏe thì thích lắm, thầy không cần năn nỉ xóm nào nấu ăn giúp, chỉ cho họ ăn bánh mì nhẹ nhẹ rồi đi bộ. Vậy mà người ta ghi tên cũng đông.

Gần Xóm Thượng là Xóm Tây Hồ thì biến thành Happy Farm (Nông trại hạnh phúc) nên có Khoá tu trồng cây trong chánh niệm của Happy Farm.

Các khoá tu truyền thống của Làng là Khoá tu Mùa Hè (4 tuần) chủ yếu cho các gia đình cùng tu tập, Khoá tu Mùa Đông (3 tháng) cũng là khoá an cư kết đông đi sâu vào nội điển, khoá tu tháng 6 (3 tuần) mỗi hai năm có một lần. Khoá tu 3 tuần vào tháng 6 là khoá tu chuyên đề, khoá đầu tiên thành công nhất là Khoá tu doanh nhân. Sau này người Pháp tu tập ngày càng đông nên mình có thêm Khoá tu dành cho người nói tiếng Pháp Khoá tu cho người Ý để Thầy đỡ phải đi qua Ý dạy mà người Ý mướn xe buýt về tận Làng để tu học.

Ngay những ngày đầu tiên qua Mỹ mở khoá tu Thầy đã giảng cho những người bảo vệ môi trường (environmentalist) nổi tiếng thế giới và Khoá tu cho văn nghệ sĩ trong Ojai Foundation ở Cali. Đó là một trung tâm mà cô giám đốc Joan Halifax là nhà bảo vệ sinh môi hơi lập dị. Cô này có nhiều bạn thân giàu lắm như con gái ông Rockefeller nhưng cô cố ý xây những ngôi nhà ở rất đơn sơ và không có nhà vệ sinh, không có phòng tắm trong phòng ngủ như mọi nhà. Giữa khu đất rậm, cô cho làm một cái hố thật to, có cầu gỗ bắc ngang và đi vệ sinh trong những nhà gỗ đó như hồi xưa ở nhà quê. Muốn tắm thì có bảng vẽ mũi tên chỉ về phía góc rừng. Mình đi về phía đó thì nếu nghe tiếng nước xối là có người đang tắm. Mình phải hô to: “Có ai tắm phải không?” Nếu có thì họ nói “tôi đang tắm” và mình rẽ đi ngả khác. Có hôm đi nhẹ nhàng trong rừng mình thấy có một cô “tiên nữ” tắm không mặc quần áo! Trung tâm này bảo vệ sinh môi, rác hữu cơ từ thức ăn không hết, biến thành phân bón cây. Khoá tu có 37 người mà phần nhiều là con các ông lớn tỉ phú như là Rockefeller, con trai Tối cao Pháp viện Ấn Độ, con gái lớn nhà sản xuất Ketchup toàn cầu, nhiều văn nghệ sĩ con nhà trưởng giả cũng ưa ghi tên trong những khoá tu có đời sống đơn giản như vậy. Ojai Foundation Center nổi tiếng ecologist, naturalist số một ở trong những cảnh núi rừng rất lớn.

Trong Khoá tu văn nghệ sĩ đầu tiên, có một nghệ sĩ điêu khắc một bức tượng trên vách đá, những bức tranh thật lớn gần 1/3 của đồi núi. Thầy nói điều mà Đạo Bụt dấn thân áp dụng trong Khoá tu bảo vệ môi sinh là đem chánh niệm tức một trong tám con đường chân chánh (Bát chánh đạo) mà soi sáng cho sức khoẻ của trái đất giúp cho mình biết nên làm gì và không nên làm gì để bảo vệ Đất Mẹ. Từ những khoá tu đó mà ở Làng Mai mình bắt đầu có những khoá tu đặc biệt như khoá tu về cách trao truyền sự sống chánh niệm cho con cái. Từ đó phát sinh ra Khoá tu cho thiếu nhi, Khoá tu cho những người làm công tác xã hội, Khoá tu cho những nhà tâm lý trị liệu.

Rồi mình có khoá tu gọi là Helping Professionals dành cho những người làm việc ngày đêm như bác sĩ các ca đêm, y tá, giám đốc và nhân viên làm trong các trại tâm thần, các người tâm bệnh nặng. Nhiều lúc chán nản quá họ có thể tự tử hay nặng tay nặng lời với vợ, với chồng con hay với những người mà họ đang phục vụ. Và khoá tu cho doanh nhân cũng bắt đầu từ đó.

Khoá tu cho doanh nhân được tổ chức đầu tiên tại Làng Mai Xóm Mới bắt đầu là như thế này: Khi qua Thuỵ Sĩ thuyết pháp thì Thầy và tăng thân được ông Beat Curti mời về nghỉ tại nhà ông. Anh Thomas Luchtinger năn nỉ mình chịu khó ở nhà ông bà Curti để cho họ được học hỏi. Ông Curti bảo trợ một cuốn phim về Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà Thomas quay trong chuyến đi Ấn Độ của Thầy một năm trước đó. Phim rất thành công và ông Curti cũng muốn tu tập. Ông làm chủ hàng trăm khách sạn. Nhà ông rất lớn có vườn rộng bên bờ hồ trong một thành phố nhỏ, trong vườn trồng cả trăm loại hoa rất đẹp, đắt và quý nhưng ông không biết hưởng. Thầy dạy ông đi thiền hành, dạy ông tập khám phá và tận hưởng cái đẹp của từng cánh hoa mong manh. Mình đâu cần nhiều tiền làm chi, chết cũng không đem gì theo hết?

Thầy nói, mình sẽ tổ chức khoá tu cho doanh nhân ở Làng Mai. Thầy nói: “Làng chúng tôi đơn sơ thanh bạch nhưng biết tu, biết nhìn và tận hưởng thì cũng đủ đẹp. Các phòng mới xây của Xóm Mới Lưng Đồi không bằng nhà người giúp việc của ông nhưng nếu 32 người bạn, nhân viên của ông sang tu học năm ngày cũng có hạnh phúc và có thể chuyển hoá cách nhìn cuộc đời. Nhưng mấy ông doanh nhân phải chịu khó về ở cực một chút nhé.” Một số lớn các doanh nhân nói rằng khoá tu đã giúp họ chuyển hoá đem lợi lạc cho gia đình họ và nhân viên họ suốt năm. Doanh nhân về tu học ở trong những phòng rất đơn giản. Thầy dạy trong năm ngày liên tiếp, được chép xuống và in thành sách The Art of Power.

Khoá tu về sinh môi ở Ojai Foundation quá nhỏ, mình có làm một khoá khác cho environmentalists ở một chỗ khác cho 600 sinh môi gia. Thầy cũng có khoá tu cho cô giáo thầy giáo hay khoá tu cho các tác viên xã hội được tổ chức ở những chỗ đàng hoàng hơn chứa được 500 tới 600 người.

Khoá tu các chính trị gia bắt đầu nhờ một ông dân biểu thượng viện đọc được quyển the Heart of Understanding (Thầy giảng về Tâm Kinh Bát Nhã). Cuốn sách này mỏng ông mới có thì giờ đọc, nhưng nghe ra sao sâu sắc quá. Sao mà sắc tức thị không rồi cuối cùng liên hệ cả cô gái bán hương vì nghèo đói lại liên hệ với anh, với tôi người giàu sang sạch sẽ… Những liên hệ tương tức, hợp lý…, ông thượng nghị sĩ đó đã đề nghị với nhóm Faiths and Politics nên mời ông thầy tu này giảng một buổi tại Library of Congress (Thư viện Quốc hội) vào năm 2003. Sáng kiến của Pritam, Smith Kennedy và Arnie Kotler là mời danh hài Gary Shandling, đại danh hài nổi tiếng Hoa Kỳ lên giới thiệu Thầy thì mới mong có Congressmen chịu đến nghe thầy giảng. Xứ này là xứ của Thượng Đế hay xứ của vô thần, e ông thầy tu Phật giáo không đủ hấp dẫn giới chính trị gia. Quả thật thế. Rất nhiều người không biết Thầy là ai nhưng họ rất “mê” đại danh hài Gary Shandling này nên tò mò tới nghe giảng. Và khi Gary nói: “Tôi gốc người Do Thái quý vị biết không, tôi xài tiền rất kỹ đó (ở dưới cười rần rần) nhưng với ông thầy tu Phật giáo này… tôi phải tự bỏ tiền ra mua vé máy bay, bay từ Cali qua Washington DC, làm… quảng cáo không công cho ổng?!” Cái mặt anh chàng này xem tếu tếu nên chỉ nói thế mà thiên hạ cũng ôm bụng cười. Anh tiếp: “Nếu không có những đề nghị tế nhị khéo léo của ông thầy tu này trong cuốn sách này, tôi đã mất những mối quan hệ quý giá vô cùng trong đời tôi, nhất là cô bạn gái yêu thương nhất của tôi.” Sau pháp thoại, ban tổ chức mời các dân biểu, thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ đều nên đến thử tu hai ngày thôi và khoá tu cũng được 22 dân biểu tham dự trọn ngày thứ bảy và cho đến trưa chủ nhật. Trưa chủ nhật thượng nghị sĩ Blair có đưa quý thầy, quý sư cô tháp tùng theo Thầy đi thăm toà Bạch Ốc và các phòng họp của Thượng và Hạ Viện.

Năm 2011, lại có một khoá tu thứ hai cho dân biểu cũng tại nhà nghỉ dưỡng gần Congress House. Lần này có thượng nghị sĩ Paul Leahy và đông đảo các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ khác (xem Lá thư Làng Mai 2011/2012). Lần này nhiều thượng nghị sĩ tham dự hơn nên ngày 19/4 năm 2019 mới có 15 thượng nghị sĩ đi Việt Nam và xin đến chùa Từ Hiếu để đảnh lễ Thầy cho được. Họ rủ được vợ hay chồng đi theo chắc nhờ sau khoá tu năm nào họ có nhiều hạnh phúc với gia đình. Ông nào cũng ngồi sà xuống đất kế bên Thầy để báo cáo sự tu học của mình.

Đặc biệt nhất là Khoá tu cho thiếu nhi. Cho tới khi Thầy ra hải ngoại dạy Đạo Bụt dấn thân thì không có chương trình nào chăm sóc cho trẻ con. Khoá tu cho thiếu nhi được tổ chức lần đầu ở Santa Barbara Hoa Kỳ năm 1986, trong một tu viện Công giáo rất đẹp. Bố mẹ phải đi theo để ủng hộ con. Thầy dạy cho con nít tập nói “yes”, vì thường thì cha mẹ nói gì các cháu (Tây phương) cũng nói “no”. Bây giờ các cháu tập đi thiền hành và thực tập: hễ thở vào các cháu nói yes, thở ra cháu tập nói thank you. Nhìn vô cái gì mình cũng nói “yes”. Mình chưa nhìn sâu, chưa thấy rõ mà đã nói “no” (không) như vậy là ẩu và uổng lắm. Thầy dạy mình tập nói “yes” (dạ, vâng ạ) trước. Rồi mình thở, mình nhìn sâu rồi mình mới thấy rõ hơn các mặt tích cực của người đó, của sự việc đó. Nói “yes” chưa đủ, mình còn phải nói “thank you” nữa. Ví dụ sáng nay mẹ biểu ăn miếng bánh mì, thay vì nói “no” thì mình nói “yes” trước đi, rồi nhìn sâu một chút mình thấy được ăn bánh mì sướng lắm tại vì có nhiều đứa trẻ sáng nay đi học mà không có gì trong bụng hết. Mình có miếng bánh mì rất ngon nên mình nói “thank you”. Mình cám ơn mẹ cho miếng bánh phết kem nutella. Nutella đến từ chất cacao của các nước xa xôi mà trẻ em ở đó chưa chắc được ăn. Rồi trong kem Nutella phết bánh mì của mình có sữa con bò mẹ, có người vắt sữa ra gửi đến trộn với cacao béo thành chất nutella béo cho mình ăn sáng. Rồi nhìn sâu vào ánh mắt mẹ còn có nụ cười của mẹ nữa. Yêu biết bao nhiêu. Mình tận hưởng miếng bánh mì, thưởng thức được bánh mình, kem nutella có chất cacao và sữa bò và tình yêu của mẹ. Thầy dạy các cháu như vậy.

Nhưng ba thì bận quá, ngồi ăn ba hay quên nhìn mẹ và nhìn các con, ba cứ trả lời điện thoại miết. Mình vỗ nhẹ nhẹ vai ba, hỏi ba với một nụ cười thật vui: “Có ai ở trong này (là ở trong tâm ba) không?” Ba giật mình biết là ngồi kế bên con trai hay con gái mà tâm mình đi chơi ngoài công việc nên ba mỉm cười với mình: “Ba có mặt cho con đây, con hạnh phúc không? Ba không để tâm chạy theo công việc.” Ba hôn con thật chánh niệm, cám ơn con và mẹ đã chánh niệm thức tỉnh ba.

Thầy dạy con nít khi đi thiền hành nhớ nói: Yes, yes, thank you, thank you. Chân Không dạy thiền ăn, nhìn miếng bánh mì hay chén ngũ cốc mình nói “Hello cereals”, uống một ngụm sữa mình nói “Hello chào em sữa bò mẹ thơm ngon”, ăn một miếng cheese mình nói “Hello chào miếng cheese”, mình phải cám ơn tất cả, “hello cà rốt, hello khoai tây”. Vì bận chào các món ăn nên mình không nói chuyện.

Sau khi cùng ba mẹ ăn sáng xong mình thực tập làm thiền ôm, mình nhìn mẹ rất kỹ: “Mẹ ơi con biết mẹ có mặt đó cho con, con mừng lắm, con cám ơn mẹ.” Và mình ôm mẹ thật sâu.

Các cháu được dạy thực tập các câu thần chú, đọc với tất cả sự chú ý của mình thì mới có hiệu quả được.

Đây là câu thần chú thứ nhất, đem hết thân tâm có mặt cho người mình thương:

Mẹ ơi con có mặt cho mẹ nè.

Câu thần chú thứ hai, đem hết thân tâm nhận diện và cám ơn sự có mặt của người mình thương, nhận diện sự có mặt của mẹ trong cuộc đời mình, sự có mặt của cha trong đời mình:

Con biết ba còn đó, có mặt và thương lo cho con, con cảm ơn ba.

Trước khi đi học mình làm thiền ôm với mẹ, với ba. Khi ba đi làm việc về và mình đi học về mình nhìn ba cho kỹ: “Ông này là ba tui, ông bận rộn lắm nhưng giờ này đi học về có ba ở nhà sướng quá!” Hoặc ba đón mình ở trường, trước khi lên xe mình nhìn ba thật kỹ. Về nhà thì mình ôm mẹ, thở vào, “con có mẹ trong tay con”, thở ra “con hạnh phúc có mẹ để ôm”. Có cháu thực tập ôm ba mẹ lâu mà chẳng chịu buông ra. Khoá tu cho thiếu nhi rất đông và thành công vì các cháu thực tập giỏi lắm, giỏi hơn cả nhiều người lớn.

Mùa hè người ta tới Làng thường là vì con của mình, nghèo cách mấy họ cũng ráng tới. Không có tiền đóng tiền phòng thì họ đem theo lều, lựa chỗ không có đá cắm lều, ban ngày thì đi chơi ở ngoài, tối về ngủ. Ngủ trong rừng nghe chim hót buổi sáng thì vui hơn mà lại rẻ tại vì Làng không phải lo giường cho họ. Mỗi gia đình cắm lều chỉ đóng một tuần có 300€ mỗi người lớn. Trẻ em dưới sáu tuổi không phải đóng tiền. Chi phí cho điện, nước, ăn uống là 200€ còn 100€ là tiền chi phí để mình chăm sóc, trả tiền cơm cho mấy thầy mấy sư cô làm việc phụng sự không có lương.

Người ta cắm lều rất đông. Mình có chừng 200 giường trong nhà ở mỗi xóm, nhưng ngoài rừng thì có chỗ nhiều hơn. Làng cũng chịu khó mướn nhà khách (gites) cho thiền sinh ngủ. Ăn uống sinh hoạt thì mình lo hết. Mình mướn thêm nhà khách (gites) đúng tiêu chuẩn nhưng không nằm sát Làng nên phải lo xe đưa đón họ. Bây giờ những khoá tu gia đình lúc nào cũng đông tám chín trăm người. Năm 2018 Thầy nghỉ dạy rồi, mấy thầy mấy sư cô thay thế mà Làng cũng rất đông người đến tu học. Lúc Thầy còn khỏe mình mở cửa suốt bốn tuần lễ, mỗi tuần có 400-1000 người. Năm cuối cùng Thầy giảng trong tuần thứ tư có tới 1200 người. Nhưng khi Thầy ngưng dạy thì tuần thứ nhất đã có 1100 thiền sinh. Năm thứ ba sau khi Thầy đột quỵ thì tuần thứ nhất đã có 1300 người và tuần thứ tư có 1400-1500 người. Nhưng mình không có thêm nhà cửa, người ta cắm lều thôi, mình nấu ăn cho 1500 người cũng cực rồi. Nhà cửa ở Làng Mai thì còn lôi thôi, rất đơn sơ. Người Tây phương có tính sòng phẳng, tiền trao cháo múc, phí 300€ thì họ trả 300€ chứ không cúng dường như người Việt. Mấy chục năm rồi mình chưa có một cư xá nữ đàng hoàng cho mấy sư cô ở Xóm Mới và Xóm Hạ. Chỉ có xây được một cư xá nam cho mấy thầy mấy sư chú ở Xóm Thượng thôi.

Ở Hoa Kỳ, nhờ đại uý công an Chery Maples nên Thầy đã có khoá tu cho hơn 300 người cảnh sát quản giáo. Ngày đầu các anh cảnh sát phản ứng, họ nói: “Không có súng làm sao giữ an ninh cho được?” Thầy dạy, chính cái sợ khiến anh mất bình tĩnh. Cảnh giác thì cảnh giác nhưng mình không cần sợ hãi quýnh quýu lên. Mình phải theo dõi hơi thở để nắm vững tình hình trong tay, nhìn sâu và thấy rõ chuyện gì cần làm và không cần làm. Vấn đề là mình phải luyện hàng ngày, đừng để việc tới thì rối lên. Vậy mà cuối khoá tu cũng có vài chục người thọ năm giới.

Trong những khoá tu Palestinian – Do Thái, lúc đầu người Palestinian rất hận thù người Do Thái. Vừa vào khoá tu là mấy người Palestinians nói: “Đó đó, chắc chắn anh chàng này xin điện thoại để báo cáo cho tình báo đó. Con thấy nó vô văn phòng và xin điện thoại hoài hà.” Chân Không phải bắt đầu chia sẻ sự tu tập về tri giác sai lầm của mình. Chân Không kể hồi đó ở Việt Nam, lúc những người mang mặt nạ thảy lựu đạn giết mình, có hai bạn chết và 16 bạn bị thương. Mình làm đám ma và đọc diễn văn xin họ hiểu cho mục đích của mình chỉ là chống thất học, chống bệnh tật hiểm nghèo, thiếu vệ sinh để cho bệnh đừng lây lan truyền nhiễm, thiếu tổ chức. Mục đích của mình là để cho các gia đình nghèo đói bệnh tật hết bệnh, con cái của họ được đi học khá hơn. Lần thứ hai tám người bị bắt cóc thủ tiêu, rồi lần thứ ba năm người bị bắt và bị bắn nhưng nhờ một người sống sót báo cáo lại là trước khi giết họ có do dự, cảm thương và nói họ được lệnh phải làm như vậy. Chân Không nhớ lần đó đáng lý ra Chân Không cũng bị giết rồi. Nhìn bốn cái xác của các bạn bị ám sát nằm sóng soài bên bờ sông mà Chân Không muốn điên lên. Nhưng Chân Không tập thở và làm an cái tâm bức xúc, giận dữ, sợ hãi của mình, tập thở và nhìn sâu vào cái thấy sai lầm của những người giết mình và phát lòng thương. Rồi từ từ các bạn Palestininans mới chịu pháp đàm và nhìn kỹ người Do Thái. Khi một bà Do Thái thuật cái mặt con trai bà bị đập giập nát bằng đá của một nhóm Palestinians thì mọi người ai cũng quá xúc cảm. Chân Không thỉnh chuông cho mọi người thở và làm thiền hướng dẫn: “Tôi biết các em Palestinians đó tàn ác như vậy vì trong đầu các cậu ấy chỉ thấy chú bé Do Thái này là những người lia súng giết cha, giết chú, phá tan nhà cửa của các em… Do Thái cũng thế, thấy một thanh niên thơ ngây đáng con họ, họ cũng nghĩ đây là những chú lính Palestinians cầm súng bắn vào đầu con cái họ. Thấy ai họ cũng nghĩ là dân khủng bố.” Cuối cùng sau khi nghe nỗi khổ của nhau rồi họ mới chịu đưa tay ra cùng nắm tay đi thiền hành.

Mình cũng có Khoá tu cho thầy cô giáo. Làm gương đầu là thầy giáo Nguyễn Văn Kỷ Cương dạy toán ở Canada. Mỗi 15 phút thì thay vì thỉnh chuông cho mọi người thở như ở Làng Mai, anh Kỷ Cương đề nghị một cháu học sinh của lớp toán tình nguyện làm chuông bằng cách vỗ tay: Chách! Chách! Chách! Sau tiếng vỗ tay chánh niệm thì thầy ngưng dạy, trò cũng ngưng lắng nghe, dừng lại, theo dõi hơi thở, không suy nghĩ dù đó là bài toán thầy đang giảng. Nhờ dừng lại nhiều lần thầy Kỷ Cương thấy rõ khuyết điểm của mình là nói nhanh quá, không dừng lại để hỏi học trò có theo kịp không? Thế rồi khi thấy học sinh nào làm bài dốt quá, thay vì phê bình “trật lất, đồ ngốc” như thầy vẫn hay ghi lên tập các cháu thì bây giờ, sau khi đi tu học về, nhờ có thở dừng lại tự quán sát mình, giáo sư Kỷ Cương biên trên vở của bài làm: “Em không hiểu kịp bài, làm trật. Lỗi tại thầy, giảng chưa rõ.” Các lớp học nhờ mỗi 15 phút thầy trò dừng lại, quên bài giảng, thở ra thở vào, cho tâm bình an hơn, nên sau đó lắng nghe thầy giảng lại và hiểu sâu hơn. Các lớp của thầy Kỷ Cương tiến bộ vượt bực so với các lớp khác nên từ từ các lớp khác cũng bắt chước cách thực tập với tiếng vỗ tay của lớp thầy Kỷ Cương.

Có những thầy cô dự xong khoá tu cho thầy cô giáo thì đi về nhà thỉnh một cái chuông nhỏ, mặc dù dạy trường Công giáo cũng thỉnh thoảng thỉnh một tiếng chuông cho các em học sinh tập dừng lại thở: thở vào cho khỏe, thở ra cho nhẹ. Cứ 15, 20 phút thì thở như vậy. Lớp học hình như có tiến bộ hơn.

Các cô giáo thầy giáo biết dừng lại nhìn sâu hơn cách dạy của mình, có dịp nhìn học sinh rõ hơn. Có thể đó là dịp may cho các em nào gặp chuyện khó khăn trong gia đình thì thầy hay cô giáo có thể tìm cách giúp gián tiếp. Sau giờ học cô hay thầy có thể lắng nghe em và giúp đỡ bằng cách chỉ dạy cho em ấy hay đích thân thầy hay cô giáo tới nhà học sinh tặng “hoa” (tức là nói lời trân quý) với gia đình em: “Ông hay bà có con ngoan quá, thấy cháu giỏi thì tôi nghĩ chắc ông bà hay lắm…” Sau đó hai bên, thầy hay cô giáo và bố hay mẹ của em học sinh mới mở trái tim ra và tìm cách giúp cho em.

Khoá tu xuất sĩ bắt đầu từ năm 1980. Năm đó Thầy trở qua Hoa Kỳ vì thiền sư Roshi Baker mời Thầy đi diễu hành chống vũ khí nguyên tử mà Hoa Kỳ đang đầu tư rất nhiều, đoàn diễu hành gần 500 ngàn người. Lần đó Thầy đi Hoa kỳ tham dự cũng có mục đích để đi thăm gia đình bác An, anh ruột của Thầy, mới vượt biên qua và định cư ở tiểu bang New Jersey.

Nhân dịp đó Andrew Stuart thử mời Thầy đi dạy vài khoá tu cho người Mỹ và một khoá ở California. Khi bay từ New York City qua Cali, Thầy giảng ở Los Angeles một buổi cho người Việt tại chùa Việt Nam. Dịp này bác sĩ Nguyễn Văn Tiếng đi nghe về rồi trách vợ là Lê Kim Chi, đệ tử lâu năm của Thầy: “Em có thầy hay mà không giới thiệu cho anh và con.” Năm sau, khi Thầy sang Cali giảng trong khoá tu cho người Việt, bác sĩ Tiếng cùng gia đình và một nhân viên phòng mạch có tham dự khoá tu năm ngày với Thầy. Sau hai buổi giảng cho người Việt, Thượng toạ Tịnh Từ mời Thầy về Bắc Cali để gặp mặt những anh em tu sĩ do Thượng Toạ tụ họp. Lần đó có nhiều tôn đức xuất sĩ ở Hoa Kỳ tham dự lắm (như hoà thượng Thắng Hoan, Thượng toạ Minh Đức ở Stockton, Thượng toạ Thiện Trì ở Sacramento, Sư bà Đàm Lựu ở San Jose, Ni sư Diệu Từ ở Sacramento…) và Thầy căn dặn: “Mỗi năm xuất sĩ nên gặp nhau ít nhất là hai ngày cuối tuần chứ xứ lạ quê người chúng ta phải cùng họp mặt để bàn cách dạy dỗ con em ở hải ngoại cho có khế lý khế cơ, nếu không, chúng nó bỏ đạo của ông bà tổ tiên hết.” Thầy mới dạy tập dừng lại khi nghe tiếng chuông, theo dõi hơi thở. Thầy giảng về Kinh An Ban mà Đại Thừa ít chú trọng là kinh về 16 hơi thở. Nhân dịp này, Thầy dạy thiền ôm và nhiều bài thiền ca. Thiền ôm được sáng tác năm này vì Thầy ghé nhà anh Nguyễn Công Hoan, vợ anh kể là anh ấy đem bộ áo quần áo Blue Jeans mà thằng con trai mới dành dụm tiền đi làm công chạy bàn cho tiệm Mac Donald để đi chơi với bạn ra lấy dao bầm nhỏ và chửi: “Dân tộc mầy khổ đau, điêu đứng, bị đoạ đày, mầy ỷ đủ lớn, đi kiếm tiền mua áo đẹp đi chơi khuya…” Khi Thầy tới nhà thì cha con không nhìn nhau, Thầy mới sáng chế thiền ôm – đề nghị mỗi đứa tới ôm Thầy, rồi tới ôm bố, ôm mẹ. Họ không biết Thầy biết chuyện nên Thầy cứ dạy bố tập ôm từng đứa tức là ôm luôn chú con trai mà ông ấy vừa la xong. Thầy dạy ôm con trong chánh niệm (như ôm cả đất nước, cả dân tộc, như muốn nói cha xin lỗi, cha kỳ vọng nơi con) như muốn nói rằng mình thương cháu nhưng vụng về đã làm cháu khổ; Thầy hay nói “Nếu anh mất con trai thì kể như anh mất cả đất nước, cả dân tộc.” Hôm mới sang Canada Thầy cũng nghe chuyện con trai của một người Phật tử Việt Nam nhảy xuống sông tự tử, để lại thư: “Bố cứ so sánh con học không bằng con bác Hội đó. Con không thế nào làm được như con bác Hội, con xin chết thôi.” Thầy nói: “Xin quý vị nên nghe tôi, về nhà tối nay, có thể cháu đang đứng xoay mặt ra đêm đen, không mở cửa chào anh. Anh phải đến sau lưng và ôm cháu nhẹ nhàng thật thương, như nói: ‘Bố xin lỗi con!’ Rồi anh ôm con trai mình thật thương, thật sâu, như xin lỗi con. Anh mà đánh mất con trai kể như anh mất nước.” Bao nhiêu người Việt cám ơn nhờ có Thầy mà gia đình thương yêu nhau. Mấy hoà thượng học được hết những phép thực tập chánh niệm trong gia đình.

Sau đó Thượng toạ Tịnh Từ luôn luôn thỉnh Thầy mỗi lần đi Hoa Kỳ thì cho một khoá tu dành riêng cho xuất sĩ. Chính Thượng toạ có sáng kiến cho khoá tu xuất gia gieo duyên cho các người trẻ. Nhờ thế mới có thầy Pháp Đăng, sư cô Hương Nghiêm sau đó qua Làng Mai đi tu luôn… Nhưng khi có khá nhiều người xuất gia trẻ về làng tu học thì Thầy đề xuất Làng Mai mỗi năm đều có một khoá tu xuất sĩ trong An Cư kiết đông ở Làng, Thầy dạy rất sâu vào kinh điển. Thầy bắt đầu đưa mọi người đi qua hết các kinh Nam Tông. Có kinh Thầy tóm lược, có kinh Thầy diễn giải ra, rồi có kinh Thầy nhấn mạnh trong tương lai Đại Thừa triển khai kinh này thành kinh A Di Đà, kinh này triển khai thành kinh Hoa Nghiêm, kinh này sẽ là kinh Pháp Hoa để mình thấy tiến trình các kinh Nam Truyền được khai triển thành kinh Đại Thừa là để diễn giải sâu sắc những điều Bụt dạy chứ không phải là những sáng tác tưởng tượng. Cũng từ những khoá tu này mà chúng ta sẽ còn được hưởng dài dài những điều giáo dục sâu sắc của Thầy qua các khoá tu xuất sĩ mùa đông sẽ in ra thành sách. Thầy cũng giao cho một số quý thầy cô phụ làm giới bản tân tu với Thầy.

Đóng góp khi tham dự khoá tu

Trong những năm đầu mình để Phật tử tuỳ nghi đóng góp. Phật tử Việt Nam tới chùa thì đóng góp tuỳ khả năng. Người giàu thì về ở một tuần lễ và có thể cúng dường tới một ngàn đô la. Còn Phật tử nghèo về với tám, chín đứa con ở hai hay ba tuần thì đem theo một bao gạo 30kg. Vì vậy năm sau Chân Không đề nghị ghi thêm câu: “Đề nghị cúng dường.” Một cá nhân tới ở một tuần thì đề nghị cúng dường 500 francs, hai vợ chồng thì cúng dường 800 francs, nếu hai vợ chồng một đứa con ở chung một phòng thì bớt hơn. Khi mình đề nghị như vậy thì không ai than phiền gì, nhất là người Tây phương. Nếu không đề nghị cúng dường thì sẽ không ai đóng góp tuy họ không phải là nghèo. Họ nói: “Tôi ghét ba má tôi. Ông bà không cho tôi tới đạo Phật nên tôi không xin tiền ba má.” Mình nói:

“Nếu ra siêu thị mua bắp cải, su su mà nói với họ là tôi là nhà chùa nên xin cúng dường 30 bắp su lơ, 20 ký cà rốt, người ta đâu có chịu. Vậy ở đây chúng tôi cũng vậy, không có tiền của quý vị thì làm sao chúng tôi đi mua bắp cải, bông cải, su su, tàu hủ để ăn.”

Vì vậy nên người ta chịu đóng góp. Suốt mùa hè có tiền vô nên mình mới sắm thêm nệm, drap giường, mùng mền cho mọi người. Tiền vô từ các khoá tu, Chân Không giải thích:

“Quý vị đóng 600 francs một tuần thì 400 francs là tiền xe cộ đưa đón quý vị từ nhà ga, điện, nước, tiền ăn ba bữa một ngày… Còn 200 francs là để trả tiền ăn uống cho mấy cô, mấy chú làm việc cho quý vị. Thành ra xin quý vị hoan hỉ.”

Họ hiểu nên chấp nhận. Số tiền cứ tăng cho tới mười năm cuối thì không tăng nữa tại vì số người tới tu học ngày càng đông và tiền vô nhiều mặc dù mỗi người tới chỉ đem vô cho Làng 200 Francs. Mùa hè thì Làng mở cửa bốn tuần, mỗi tuần có 1000 người là mình khá rồi. Sau bốn tuần thì mình có tiền để sửa lại chỗ sinh hoạt cho sạch sẽ hơn, làm thiền đường đàng hoàng hơn cho đúng tiêu chuẩn công cộng mà nhà nước quy định để nhận khách.

Cách thức điều hành ở Làng Mai

Lúc đầu, khi nhóm của anh Thiều mới qua thì chưa ai có kinh nghiệm gì về tổ chức hay điều hành như một tập thể hết. Chân Không tìm chỗ học và chở con anh Thiều đi học. Chân Không dịch nguyên cuốn dạy lái xe từ tiếng Pháp ra tiếng Việt cho anh Thiều và chú Dũng. Chân Không làm việc rất vui và không khí rất hạnh phúc. Thầy viết một cuốn truyện ngắn có tựa là kể về đời sống gia đình anh Thiều ở Làng những năm đó. Là một nhà văn nên Thầy có cái nhìn rất thiền vị, rất văn chương, rất quê hương, rất là hay, đọc rất là cảm động! Mỗi lần viết được năm, bảy trang thì Tý về, mọi người quy tụ lại thì Thầy đọc cho nghe và ai cũng lên tinh thần.

Về mặt điều hành thì Thầy điều hành. Thầy ra lệnh hết, đập bỏ se chứa rượu này, xây hai dãy phòng cư xá Đồi Mận kia… Còn về mặt tiền bạc thì Chân Không ráng mà lo. Tiền người ta cúng dường, tiền đóng góp khoá tu Mùa Hè, tiền đi dạy bên Thuỵ Sĩ, dạy bên Đức, dạy ở Paris thì bỏ vô quỹ chung. Nhưng khi chúng xuất sĩ đông đảo, sắp đến khoá tu Mùa Hè, Xóm Thượng nói:

“Sư cô Chân Không, bắt đầu mùa hè mỗi tháng 30 ngày. Người ta ghi tên tuần đầu là 300 người, tuần thứ hai là 400 người, tuần thứ ba là 600 người, tuần thứ tư là 800 người. Sư cô đưa tiền cho thủ quỹ mua thêm chén đĩa, ly, nồi, chảo…”

Chân Không tổng cộng nhân chia rồi đưa cho quý thầy 3 hay 6 ngàn gì đó và đưa cho Xóm Hạ bao nhiêu tiền và Xóm Mới bao nhiêu tiền. Nhưng Chân Không chỉ xin thầy Pháp Huy ký tên đã nhận bao nhiêu để chuẩn bị xài cho Xóm Thượng, sư Cô Bảo Nghiêm nhận bao nhiêu xài cho Xóm Hạ, sư cô Hiếu Nghiêm nhận bao nhiêu cho Xóm Mới, chỉ có chữ ký tên các sư cô hay các thầy là đủ mà không cần biên nhận.

Chân Không chỉ lo tài chính lúc ban đầu. Sau này mỗi xóm có thủ quỹ lo tài chính riêng. Mỗi Xóm tự lo. Chỉ có khoá tu Mùa Hè là có đông người tới và tiền thu được từ khoá tu lớn mùa hè thì bỏ vào quỹ Trung ương. Trung ương sẽ chia cho mỗi Xóm bao nhiêu tuỳ theo những nhu yếu sửa chữa của Xóm đó. Nhưng từ từ mỗi Xóm đều có nhu yếu xây sửa riêng nên cần xài tiền riêng. Trong khi quỹ của Trung ương chỉ có tiền của khoá tu Mùa Hè mỗi năm nên không đủ để chi cho công việc sửa chữa riêng của từng Xóm. Nhưng trong tất cả những tháng khác ngoài khoá tu Mùa Hè thì mình cũng thực tập chánh niệm nên mình cứ cho thiền sinh tới. Gia đình nào không rảnh mùa hè thì thiền sinh có thể tới vào tháng nào cũng được. Trừ tiền thu được từ khoá tu lớn mùa hè thì thiền sinh ở Xóm nào thì Xóm đó giữ tiền rau đậu của thiền sinh ấy đóng góp. Lúc sau này các Xóm cũng tự tổ chức các khoá tu riêng ở Xóm mình.

Cho tới năm thứ chín, khi mình sắp xin vào CONGREGATION tức Giáo hội lớn. Phải có sự đồng ý của Hội đồng Bộ trưởng nước Pháp thì một hội nhỏ Eglise Bouddhique Unifiée theo luật 1901 của mình mới được vào Congregation. Vào được Congragation thì mình được miễn nhiều thứ thuế. Mình mướn cô thư ký kế toán mà cô cũng là giám đốc thuế vụ thì cô nói mình không làm như vậy được. Tiền xài dù ít dù nhiều cũng phải có biên nhận. Nhưng người ta đã xí xoá những năm cũ tại vì mình là một hội nhỏ. Do đó các xóm bắt đầu có ban kế toán riêng và Làng cũng bắt đầu có ban thủ quỹ trung ương để lo việc quản lý và khai thuế cho hợp lệ.

Khi các xóm bắt đầu lớn thì mỗi xóm cử một vị trụ trì. Vị trụ trì đầu tiên của Làng Mai là sư cô Chân Đức, được tấn phong trụ trì ở tu viện Thanh Sơn năm 1998. Cũng trong năm đó có các lễ tấn phong trụ trì ở Làng: thầy Nguyện Hải làm trụ trì Xóm Thượng, sư cô Trung Chính làm trụ trì Xóm Mới và sư cô Diệu Nghiêm (người Hoà Lan, thường được gọi là sư cô Gina) làm trụ trì Xóm Hạ. Hai năm sau đó sư cô Trung Chính được gởi qua Lộc Uyển để lo cho tu viện Lộc Uyển nên sư cô Định Nghiêm thay thế làm trụ trì Xóm Mới, sau đó đổi qua sư cô Linh Nghiêm (người Thái) và khi sư cô Linh Nghiêm về Thái Lan thì Xóm Mới không cử trụ trì nữa. Xóm Thượng thì đổi trụ trì qua thầy Pháp Đôn rồi qua thầy Pháp Hữu. Xóm Hạ thì đến năm 2013 sư cô Diệu Nghiêm nhất định không muốn làm trụ trì nữa nên Thầy kêu ba sư cô làm với nhau gồm có sư cô Hội Nghiêm làm trụ trì với sự giúp đỡ của hai sư cô Thanh Ý và Thuỷ Nghiêm. Tu viện Lộc Uyển thì Thầy bổ nhiệm thầy Giác Thanh và sư cô Trung Chính. Làng Mai Thái Lan thì Thầy bổ nhiệm thầy Pháp Anh. Thiền đường Hơi Thở Nhẹ thì thầy bổ nhiệm sư cô Giác Nghiêm. Các trung tâm khác thì có nơi có trụ trì, có nơi không có vì Hội đồng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni quyết định việc bổ nhiệm người lo trách nhiệm này. Ngay từ lúc đầu Thầy đã muốn sự điều hành là do tăng thân. Vị trụ trì giữ trách nhiệm chăm sóc mọi người cho có hạnh phúc chứ không phải là vị lớn nhất. Như ở Xóm Mới, tuy sư cô Định Nghiêm làm trụ trì nhưng trên sư cô cũng có các sư chị là sư cô Đoan Nghiêm và Bảo Nghiêm. Ở Xóm Hạ thì có sư cô Hoa Nghiêm và các sư cô khác cùng làm việc chung với sư cô Gina. Ở Xóm Thượng thì thầy Nguyện Hải cũng có thầy Pháp Đăng và nhiều thầy khác cùng đồng ý chung. Vì vậy cho nên mọi việc luôn luôn là do tăng thân quyết định, ví dụ như tăng thân quyết định tổ chức khoá tu Mùa Hè năm nay vào ngày nào, nên đóng cửa ngày nào, nên tổ chức cùng tăng thân lên núi chơi ngày nào để nghỉ ngơi thư giãn sau khoá tu Mùa Hè. Chỉ khi nào có chuyện rất quan trọng, thấy tăng thân còn non quá thì Thầy mới góp ý vô. Ngay từ đầu Thầy đã tập cho quý thầy, quý sư cô tự điều hành lấy. Khi nào có tin bất thường, rất khó khăn thì sư cô Định Nghiêm, sư cô Diệu Nghiêm hoặc thầy Nguyện Hải đi xe lên gặp riêng Thầy. Sư cô Chân Không cũng không được vào. Vị trụ trì xóm nói rõ những chuyện khó khăn, có sư em nào đó làm sai mà sư cô trụ trì hay thầy trụ trì cũng không giải quyết được thì Thầy mới góp ý. Vì vậy trong tăng thân xuất sĩ có Hội đồng Tỳ kheo (hay Tỳ kheo ni) đóng vai trò quyết định mọi chuyện, Hội đồng Giáo thọ đóng vai trò giảng dạy và cố vấn. Ngoài ra Xóm nào cũng có một Ban Chăm sóc gọi là CTC (care taking council) gồm người đại diện cho Ban Giáo thọ, cho Ban Tỳ kheo, sa di, thức xoa, và có khi có cả cư sĩ thường trú để điều hành những sinh hoạt thường nhật theo quyết định đưa ra từ Hội đồng Tỳ kheo (hay Tỳ kheo ni).

Tăng đoàn Làng Mai bắt đầu thành lập

Trung tâm Làng Mai đầu tiên được thành lập ở Pháp vào năm 1982. Mỗi năm mình có khoá tu Mùa Hè và khoá tu Mùa Đông. Lúc này ở Làng chưa có người xuất gia, nên Chân Không thưa với Thầy:

“Bây giờ mình hết kêu gọi hoà bình rồi. Thầy cho con xin cạo đầu được không?”

Ngay từ khi qua Pháp thì Chân Không đã xin cạo đầu, nhưng Thầy nói:

“Con có để ý không? Nhà ông hàng xóm này có nhiều phụ nữ bị nhà nước cạo đầu tại vì lúc trước các cô chơi với binh sĩ Đức.”

Ở bên Pháp, những cô gái ăn sương chơi với lính Đức không bị bỏ tù nhưng dân làng bắt cạo đầu. Phụ nữ Pháp mặc đầm mà đầu cạo là vì bị phạt do đã từng ăn chơi với người Đức. Bên đàn ông thì có nhóm skinhead hung hăng, khó chịu. Thầy nói:

“Chính thầy, thầy cũng không dám cạo đầu.”

Thầy để tóc ngắn và mặc áo thầy tu Việt Nam. Mấy ông thầy tu Thiên Chúa giáo để tóc ngắn, mặc áo dòng Thiên chúa giáo (catholic priest) còn Thầy cũng để tóc ngắn, mặc áo dòng Phật giáo (buddhist monk). Thầy không cho Chân Không cạo đầu. Thầy nói:

“Con có thấy người ta có cảm tình với con khi thấy con mặc áo dài, tóc dài, nói được tiếng Pháp hay tiếng Anh với họ.”

Thầy biểu Chân Không ráng học tiếng Anh và chỉ cho cách học. Thầy lấy một bài báo bằng tiếng Anh và biểu Chân Không dịch ra tiếng Việt. Thầy nói:

“Con che bên tiếng Anh, nhìn bên tiếng Việt rồi nói ra tiếng Anh. Nếu nói không được thì coi trở lại.”

Chân Không tập như vậy được hai ba bài thì có thể đi thuyết pháp bằng tiếng Anh. Thầy thấy Chân Không mặc áo dài, đi tới đâu thì người ta rất thích nên không cho Chân Không cạo đầu. Nhưng hết chiến tranh rồi thì Chân Không xin Thầy.

“Bây giờ con xin Thầy cho con đi tu. Từ năm 19 tuổi ao ước thâm sâu nhất của con là làm ni cô rồi mà Thầy không cho. Bây giờ không còn lý do gì nữa nên con xin cạo đầu.”

Thầy nói:

“Như vậy là con đã làm sa di ni, sống đời xuất gia phụng sụ từ năm 21 tuổi cho tới bây giờ, nhất là từ khi con thọ giới Tiếp Hiện năm 1966. Thầy coi con như người tu lâu. Từ năm 1966 tới năm 1988 thầy thấy con đã là sa di ni rồi. Thọ giới tỳ kheo ni thì con phải có tam sư thất chứng, tức là có bảy thầy tỳ kheo làm chứng và ba vị thầy là Hoà thượng, thầy Yết ma a xà lê và thầy Giáo thọ thì con mới được thọ giới tỳ kheo ni. Vậy con chờ sang năm thầy tổ chức một chuyến đi Ấn Độ rồi con hãy cạo đầu.”

Tới năm 1988 Chân Không mới được đi Ấn Độ để xuất gia. Cùng đi trong đoàn có chị Annabel và chị Thanh Minh. Chị Annabel cũng đã từng lên tu ở núi Hy Mã Lạp Sơn nhiều năm trước khi đến Làng. Thầy nói:

“Lên đó Thầy đảnh lễ Đức Bổn Sư Thích Ca để cạo đầu cho con. Thầy chỉ thay mặt Đức Bổn Sư cạo đầu cho con thôi. Thất chứng thì có thầy Xá Lợi Phất, thầy Ưu Ba Ly và các vị đại đệ tử của Phật làm chứng cho con để con trở thành người con gái lớn giỏi của Phật.”

Vì vậy Chân Không và chị Annabel được thọ giới tỳ kheo ni trên núi Thứu. Chị Annabel có tên là Chân Đức và chị Thanh Minh là Chân Vị. Chân Vị được thọ giới sa di ni. Ngoài các sư cô và các thầy từ chùa khác tới Làng như các thầy Hương Huệ, Quảng Chơn, các sư cô Như Phước, Thanh Lương, Huệ Hảo…, ba chị em là những xuất sĩ đầu tiên được Thầy nhận làm thầy thế độ và truyền giới ở Làng Mai. Hồi còn ở Việt Nam thì Thầy có làm lễ thế độ cho sư chú Nhất Trí nhưng sau đó sư chú bị mất tích. Sau đó thầy thế độ cho sư cô Chân Tu rồi tới sư cô Chân Đoan Nghiêm. Từ đây về sau các sư cô đều có chữ cuối là Nghiêm như sư cô Chân Bảo Nghiêm, Chân Hoa Nghiêm… Phía bên nam thì có các sư chú Chân Nguyện Hải, Chân Vô Ngại, rồi tới Chân Pháp Đăng. Cũng từ sư chú Pháp Đăng trở đi mà các sư chú bắt đầu có chữ lót là Pháp như Chân Pháp Ấn, Chân Pháp Ứng…

Năm 2010, Thầy nói trong kinh Pháp Cú, phẩm Sa môn, Bụt có dạy là người xuất sĩ dù còn rất trẻ, nếu thực tập hết lòng thì giống như mặt trời hay mặt trăng rất sáng trên không trung, không bị mây che mờ; vì vậy Thầy bắt đầu đặt tên cho các sư con trẻ mới xuất gia là Trời cho bên nam và Trăng cho bên nữ. Kể từ đây tên con của Thầy gồm bốn chữ, bên nam bắt đầu bằng chữ Trời như Chân Trời Độ Lượng, Chân Trời Cao Rộng… và bên nữ bắt đầu bằng chữ Trăng như Chân Trăng Phương Nam, Chân Trăng Thanh Lương… Tới nay, mười năm sau, số lượng xuất sĩ mang tên Trời và Trăng đã lên tới trên 500 người. Từ đợt xuất gia thứ chín trở đi, mỗi đợt xuất gia có một tên và được gọi là “gia đình” như gia đình Con Cá, Con Chim, Cây Sồi, Cây Cam… Những người xuất gia trong một gia đình có thêm sự liên kết để nâng đỡ và yểm trợ nhau. Hiện nay đã có đến gần 80 gia đình xuất gia ở Làng Mai. Những vị không được Thầy thế độ nhưng y chỉ với Thầy thì được gọi là thuộc gia đình Cây Trà Thơm.

Những cơ sở Làng Mai ở ngoại ô Paris

Thiền đường Hơi Thở Nhẹ

Hồi mình mới về mua trung tâm Làng Mai ở miền Tây Nam Pháp xa như vậy thì có mấy Phật tử ở Paris nói: tại sao mình không mua đại một căn nhà ở Paris cũng không mắc gì cho lắm. Pháp môn Làng Mai bây giờ lan khắp nước Pháp và mấy ông trong chính quyền Pháp cũng thích đọc sách của Thầy. Thầy nghĩ Paris là kinh đô nên mình phải có trung tâm ở Paris. Năm 1984 mình tìm được khu nhà 3000 thước vuông rất sang gọi là Parc privé de Villeflix ở vùng ngoại ô Paris. Cái đẹp và lợi lạc của khu nhà này là rất gần bờ sông Marnes chảy quanh Paris nhưng khu đi ngang công viên Villeflix thì lại vắng vẻ như con sông Hương. Đi thiền hành bên bờ sông giống như đi chơi trên bờ sông Hương khiến thầy trò chấm điểm ưu cho ngôi nhà số 7 Allee dé BellesVues, 93160 Noisy Le Gand này. Ngôi nhà thì tồi lắm. Vách tường đã nứt vài chỗ. Mình mua lại một ngôi nhà cũ như vậy của một bà goá phụ giá rẻ. Lúc đầu mình đặt tên là Hoa Xương Rồng, tại vì lúc đó Chân Không còn trẻ, háo thắng, nghĩ mình tu qua chiến tranh Việt Nam khó khăn quá sức như tu cho cây xương rồng nở được hoa mới đúng, những con đường khó khăn nhất mà mình vượt qua được nên mình cũng giống như hoa xương rồng. Thầy cử thầy Giác Thanh lên làm trụ trì và đổi tên thành thiền đường Hoa Quỳnh vào năm 1985. Thầy Giác Thanh về ở cũng không xong vì xin sửa chữa lại mình cũng mướn kiến trúc sư đàng hoàng, mình vẽ bản đồ nộp đơn xin xây thiền đường thì người ta từ chối ngay, nói chỗ này không phải chỗ để đón người công cộng mà chỉ những người sống trưởng giả như người Paris mới được ở trong này. Chân Không đổi tên người xin là Cao Ngọc Phượng để xây một ngôi nhà to thì họ cũng bác đơn. Thời gian 1990 – 2000 nhà sắp sập nên không sinh hoạt được nữa, tăng thân cư sĩ phải về nhà chị Minh Tri sinh hoạt tạm gọi là Jardin de l’instant.

Thấy không xong mình định bán nhà này. Nhưng Thầy nói rủ anh Pritam xây nhà ở Paris, lâu lâu anh qua chơi, còn thời gian anh không ở đó thì để cho mình sử dụng. Anh đồng ý nhưng khi dẫn vợ qua coi thì bà vợ chê xa, chỗ gì xa quá bà đòi mua nhà ở đại lộ Rivoli thôi! Cuối cùng mình cũng giữ lại để làm trung tâm tu học vì Thầy tiếc khu đất gần bờ sông Marne yên tĩnh nên bán Phương Vân am lúc đó được giá khá cao để xây thiền đường.

Nhưng rút kinh nghiệm mấy lần trước, mình đã bị từ chối ba lần không được chính quyền cho phép xây thiền đường nên lần này Chân Không phải tránh mặt hoàn toàn, chỉ để cháu Bùi Thanh Phương hỏi thăm những công ty xây dựng các biệt thự sang trọng vùng này. Trong bảy mẫu nhà công ty đưa ra với bảy giá khác nhau, Sư cô dặn cháu Phương lựa ngôi nhà to nhất, rộng nhất có hai tầng và giao họ xin phép xây cất với hội đồng xây dựng toàn khu Công Viên Villeflix luôn. Cũng chính công ty này lo luôn việc xây ngôi nhà 12 mét bề ngang, 10 mét bề sâu với tầng trệt, tầng lầu một và tầng hầm (basement) sâu xuống đất một chút. Trong nhà cũng y như họ vẽ tượng trưng lúc ban đầu, có phòng khách, nhà bếp và nhiều phòng ngủ… Nhưng khi ký contract thì mình xin nhà thầu chỉ lo trước phần nóc, hai tầng cầu thang…

Mình thoái thác là xây bên trong chưa đủ tiền (và chưa đủ tiền thật nên Thầy cho bán Phương Vân am). Mình xây khá tốt nhưng không khai là xây thiền đường mà cũng không để tên cô Cao Ngọc Phượng. Căn nhà thật sang nhưng chỉ xây có cái vỏ thôi. Nếu là nhà tư nhân thì bên trong mình xây cất gì cũng cũng không bao giờ Ban An ninh Công cộng đến xem có xây cất đúng như bản vẽ bên trong hay không. Họ chỉ chú trọng bên ngoài y chang như những nhà giàu khác. Có nhà rồi Chân Không mướn một cháu khác con chị Bảy là Bùi Thanh Lâm chuyên môn xây bên trong các nhà nên cháu lo xây 14 nhà vệ sinh, 9 nhà tắm còn bên ngoài thì phải đúng theo tiêu chuẩn của nhà nước. Nhà mình cất lùi vào phía sau nên phía trước có một khoảnh vườn lớn. Quý sư cô, quý thầy trồng được nhiều bụi tre. Vườn thiền đường nhờ thế có vườn tre và dòng suối chảy ngang rất đẹp. Thay vì làm ba tầng thì mình làm một tầng trên và để một phòng rất to làm thiền đường. Mình xây một phòng nhỏ bên trái để Thầy ở phía trên và một phòng nhỏ khác bên phải để cho bốn, năm thầy ngủ chung. Tầng dưới mình cũng làm một phòng to để khi ở trên thiền đường chật quá thì mình xuống dưới biến phòng khách thành thiền đường thứ hai luôn để ngồi thiền. Rồi có một phòng nhỏ cho sư cô trụ trì ở, một phòng lớn kế bên cho bốn, năm sư cô ở. Đối diện với phòng sư cô trụ trì là nhà bếp. Mình biết một chỗ đông người thì cần nhiều nhà vệ sinh, nhà tắm nên mình làm năm nhà vệ sinh, bốn nhà tắm bên trên.

Năm 2008, sau khi xây lại mình để tên là thiền đường Hơi Thở Nhẹ (Maison de L’ inspir).

Lúc đầu Thầy cho một nhóm mấy thầy ở trên lầu, một nhóm mấy sư cô ở dưới. Nhưng ở gần như vậy rất ngột ngạt cho nên sau đó Thầy kéo mấy thầy về Xóm Thượng. Sư cô giỏi nhất trong mấy sư cô Tây phương là sư cô Giác Nghiêm được Thầy dạy làm trụ trì thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Bên nam thì ban đầu mình tính để thầy Pháp Độ và thầy Pháp Liệu ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Nhưng thầy Pháp Độ không vui lắm, cuối cùng thầy cũng không thích ở Hơi Thở Nhẹ nên về Làng luôn. Sau này thiền đường Hơi Thở Nhẹ chỉ có sư cô Giác Nghiêm và bảy, tám sư em trong đó có ba sư em làm việc sát cánh với sư cô Giác Nghiêm là các sư cô Tráng Nghiêm, Cảnh Nghiêm và Sáng Nghiêm.

Vừa dọn lên 7 Allee dé Belles Vues, 93160 Noisy le Grand là Sư cô Chân Không dặn sư cô Giác Nghiêm đi thăm ngay ông Maire, cảnh sát trưởng và các ông bà hàng xóm, tặng chả giò, giải thích mình là nữ tu sĩ Làng Mai, Dieulivol…, đây chỉ là chỗ nghỉ ngơi của các sư cô thôi. Ngày Noel ngày Tết Tây, Tết ta mình cũng tặng quà và giải thích tại sao đông như thế nhưng không làm phiền họ.

Mỗi ngày lễ lớn như Rằm tháng Tư, Tết Việt, Tết Tây mình làm chả giò đem tặng cho hàng xóm, cảnh sát, xã trưởng và giải thích, đây là tu viện của tám sư cô nên mỗi khi có ngày lễ thì dân chúng tới mừng lễ cũng như ngày lễ Giáng Sinh của họ và xin họ hoan hỷ cho. Vì vậy mỗi khi có khoá tu thì cả trăm thiền sinh tới cũng không sao. Ngày hội chợ Tết thì mình nói Tết Việt Nam nên mình làm bánh quê hương bán cho vui chứ không mua bán gì.

Khi có khoá tu mình cũng xin phép trước cả tháng nên dù đông người hàng xóm cũng cho qua. Nhưng mình không kéo dài chuyện nói tránh này nhiều lần được. Gần đây công viên Villeflix mới làm thêm một cổng rào khoá công viên lại, chỉ có người có nhà ở trong công viên mới có mật mã mở khoá. Mình không thể cho số mật mã cho tất cả mọi người tới Hơi Thở Nhẹ cho nên cuối cùng thì mình phải tìm chỗ mới.

Trung tâm Suối Trị Liệu

Hơi Thở Nhẹ nhỏ không chứa được quá trăm người, và mỗi khi các thầy lên hướng dẫn khoá tu thì không có chỗ ở. Vì vậy bây giờ các thầy mới thấy rất cần một trung tâm ở Paris. Năm 2018, thầy Pháp Liệu và mấy thầy khác tìm ra một miếng đất ở đông nam Paris, vùng Verdelot, cách Paris chừng 100 cây số và lập một trung tâm tên là Trung tâm Suối Trị Liệu. Mình mua nhà đó, nó có 2 mẫu đất. Đó là tu viện cũ của mấy bà sơ và mấy ông cha, mình đặt tên là Suối Trị Liệu tại vì nó có một dòng suối nhỏ chảy xung quanh. Tại sao là Trị Liệu?

Có một anh cư sĩ ly dị vợ và có một đứa con trai. Con trai anh lớn rồi và có cuộc đời riêng của nó. Anh làm công ty du lịch và kinh doanh rất giỏi, nhưng anh chạy trốn khổ đau của mình trong công việc cho tới một ngày tiền bạc thì nhiều nhưng anh muốn tự tử. Người ta khuyên anh nên tới ở một tuần với các thầy trên Xóm Thượng. Anh tới ở thấy hạnh phúc nên ở thêm hai tuần, rồi ba tuần, rồi anh ở luôn ba tháng mùa đông. Sau ba tháng mùa đông thì anh được trị liệu cho nên anh muốn xuất 1 triệu euro giúp xây Trung tâm Suối Trị Liệu để giúp cho người ta bớt khổ như anh. Nhưng khi đi vào thực tế thì không thể thực hành được tại vì anh có con trai lớn, anh không có quyền truất quyền thừa kế của con. Anh chỉ cho được khoảng 200,000€ và cho như là tiền anh xài cho cá nhân thôi. Mình xin một hồi rồi cũng đủ tiền mua Trung tâm Suối Trị Liệu và có 12 thầy lên ở.

Suối Trị Liệu gồm ba toà nhà hai tầng kết nối với nhau, tầng dưới là phòng ăn, phòng vệ sinh và một vài phòng ngủ. Tầng trên chỉ toàn là phòng ngủ như một nhà nghỉ. Vì lúc trước đây là nơi cư trú của người tu công giáo nên mỗi phòng ngủ cũng chỉ vừa cho hai đến ba người và rất đơn giản. Các thầy đã phải sửa sang rất nhiều vì nhà cũng quá cũ và bỏ hoang một thời gian lâu. Chủ trước, sau khi mua lại từ tu viện công giáo, chỉ có khả năng sửa một toà nhà để cho khách thuê mà thôi. Một phòng ăn rộng nằm riêng biệt ngoài khu vực ở được các thầy sửa chữa lại thành thiền đường để sinh hoạt.

Thiền đường Hơi Thở Nhẹ ở Villeneuve-sur-Bellot

Sau đó các sư cô ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ tìm ra một ngôi nhà nhỏ cách Suối Trị Liệu khoảng 2 km, rất thuận tiện cho những ngày quán niệm hai xóm. Khoảng cách giữa hai nơi tương tự như giữa Xóm Thượng và Xóm Hạ. Các sư cô có thể đi bộ ngang qua cánh đồng tới Trung tâm Suối Trị Liệu mất 35 phút. Ngôi nhà hai tầng xinh xắn, dễ thương dù đất không rộng. Tầng dưới gồm văn phòng, nhà bếp, phòng ăn, phòng trà và thiền đường (vốn là phòng khách thông qua phòng sinh hoạt gia đình). Tầng trên gồm bốn phòng ngủ, một phòng học và một phòng sinh hoạt lớn dùng để pháp đàm. Nhà để xe khá lớn, chứa được ba xe hơi thì đang được sửa chữa lại gồm có một phòng ngủ nhỏ, một phòng ngủ tập thể và phòng sinh hoạt chung. Hiện các sư cô đang sửa chữa lại hệ thống vệ sinh để phù hợp cho số lượng người sử dụng đông đảo vào ngày quán niệm và hệ thống sưởi cho ít tốn kém hơn.

Địa chỉ mới của Thiền đường Hơi Thở Nhẹ là Villeneuve- sur-Bellot (lieudit Montflageol).

Để có tiền mua nhà này, mình đã quyết định bán nhà Hơi Thở Nhẹ ở Noisy Le Grand cho hai anh chị trong tăng thân Quê Lụa để họ có chỗ nghỉ ngơi và sinh hoạt tăng thân mỗi khi qua Pháp.

Những cơ sở Làng Mai ở miền Tây Nam nước Pháp

Phương Khê

Trung tâm Làng Mai tại miền Tây Nam nước Pháp là Trung tâm đầu tiên được thành lập. Năm 1982 Thầy đi xuống miền Nam nước Pháp tìm đất lập trung tâm. Như đã kể trên, thầy trò tìm được một ngôi nhà lớn ở cách Bordeaux khoảng 100 cây số. Thầy đặt tên ngôi nhà này là Phương Khê vì có dòng suối nhỏ chảy quanh. Chân Không thấy căn nhà thì sợ quá vì nhà lớn mà cũ, nghe nói cất từ thế kỷ thứ 19 mà lúc đó mình đang ở cuối thế kỷ 20. Căn nhà có 15 căn phòng rất lớn và thoáng. Thầy rất thích vì nghĩ mình có bao nhiêu là tài liệu. Tài liệu còn giữ ở nhà đã bị đốt hết nhưng tài liệu báo cáo của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội thì mình còn giữ. Tài liệu của mấy chục ngàn con nít đói trong chiến tranh mình cũng phải giữ, ít nhất là những phần quan trọng của những Tỉnh giáo hội, của những ni sư hay những thầy đã làm việc giúp các trẻ em và dấn thân trong xã hội như thế nào. Có những tài liệu lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, những hiến chương… Mười lăm phòng là chỉ đủ chỗ giữ những tài liệu đó. Nhưng Chân Không là người cạn cợt nên thấy căn nhà lớn quá mà sợ:

“Thầy ơi, con thấy nhà lớn quá, giống ngôi nhà ma quá!”

Nhưng Thầy nói, Chân Không cũng không cần phải ở đó và thầy cho Chân Không về ở với mẹ như các dân làng khác, chỉ có vài người ở lại phụ Thầy làm việc thôi. Mình sẽ mua đất làm một làng tu học lớn bên kia, xa Phương Khê. Mình cho Phật tử đứng ra làm cột trụ cho bên Làng. Phương Khê là chỗ giữ tài liệu nên Thầy không muốn cho nhiều người biết, sợ lỡ bị đốt cháy thì mình mất hết tài liệu. Mình gọi Phương Khê là Sơn Cốc của Thầy.

Sau này Thầy có đông con xuất sĩ nên Phương Khê có xây thêm một số phòng ngủ gọi là nội viện, dành cho xuất sĩ nhập thất hoặc nghỉ ngơi vào những ngày sinh hoạt chung trên Sơn Cốc. Khi Thầy bệnh rồi Thầy vẫn muốn sửa chữa thêm những căn nhà đổ nát và chuồng ngựa phía sau thành một thiền đường lớn và một phòng nhỏ để các thầy, các sư cô có nơi sinh hoạt vào những ngày Quán Niệm chỉ dành cho xuất sĩ.

Những cơ sở ở Xóm Hạ và sinh hoạt những năm đầu

Xóm Hạ

Mua Xóm Hạ

Có Phương Khê làm chỗ dừng chân rồi thì Thầy mới đi coi nông trại này nông trại kia và so sánh giá cả. Cuối cùng thì Thầy tìm một được một chỗ 21 mẫu, trong đó có 2 mẫu nho, 3 mẫu rừng và mấy mẫu ruộng. Mình có thể trồng hồng như dự định lúc đầu. Mình sống rất đơn giản nên không cần tiền tài trợ. Để trả lương cho anh Thiều mình mượn tiền của Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà mình đã quyên cho trẻ em chiến tranh. Mình mượn rồi sẽ trả.

Mình mua đất từ những nông trại cũ, một thước vuông giá một franc, mua 10.000 thước vuông tức một mẫu chỉ có 10.00 francs. Tiền đi dạy của Thầy dư sức trả nên mình mua 21 mẫu. Trên giấy tờ mình khai mua cho Giáo hội Phật giáo Thống Nhất (Église bouddhique unifiée), lấy từ tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất mà Thầy là đại diện, nhưng thay vì “du Vietnam” thì mình để “de la France” tức là Giáo hội Phật giáo Thống Nhất tại Pháp. Hai mươi mốt mẫu đất mình để anh chị Thiều đứng tên, nhưng anh có viết giấy là tất cả là tiền của Giáo hội và anh chỉ đứng tên giùm. Đó là Xóm Hạ, sau này có tên chữ là chùa Cam Lộ.

Cư xá Tùng Bút

Vừa vào cổng Xóm Hạ thì có một bảng nhỏ với chữ Plum Village, Village des Pruniers rồi tới ngôi nhà đá cao to, có cửa vào 12 mét rộng, 6 mét cao có cửa hình vòng cung bán nguyệt cao to làm bằng gỗ nâu viền quanh những ô kính trong, vuông, 25cm x 25cm rất mỹ thuật theo lối những nhà giàu, sang trọng và cổ kính người Pháp. Đó là cửa vào chính thức cư xá Tùng Bút. Vừa vào là gặp ngay thiền đường to nhất làng năm 1983: Thiền đường Nến Hồng nằm giữa. Một cửa 4 mét x 3 mét cũng bằng gỗ sơn nâu gồm nhiều ô kính trong, vuông 25cm x 25cm. Bên trái là văn phòng ghi danh tu học ở Làng. Bên phải là quán sách Hoa Ô Môi, tiếp theo quán sách bên trái là cửa vào một hành lang 2 mét rộng thôi nhưng có điện thoại công cộng, hốc đá to để ông đưa thư hàng ngày đem thư từ và những colis sách… Bên trái của hành lang là cửa vào nhà bếp lớn để nấu ăn cho cả dân làng. Có khi nấu cho hai trăm người. Bên mặt tiếp theo nhà bếp là phòng to có hai thùng bằng xi măng (nông dân gọi đó là những chai” (đọc âm tiếng Việt là những se) chứa nước nho mới ép rượu bên trong là thùng gỗ và bên ngoài giống như những phòng vuông 5 mét x 5 mét x 2,5 mét bề cao bằng xi măng có thể chứa cũng vài chục mét khối rượu vang Pháp. Dĩ nhiên là thầy trò đã cho phá các thùng chứa rượu to tướng ấy và đem tráng nền xi măng cho căn phòng rộng 12×12 mét để làm phòng ăn và có một khoảng trống để các cháu trình diễn văn nghệ mỗi tối. Vào những năm đầu của Làng Mai thì năm nào các em thiếu nhi cũng tới đó trình diễn văn nghệ, đó cũng là nơi mà Thầy giảng Pháp mỗi khi xuống Xóm Hạ và đã giảng trọn hết Truyện Kiều cho những xuất sĩ mà lớn lên ở nước ngoài không biết văn chương Việt Nam. Những bài giảng đó sau này làm thành sách có tựa là Thả một bè lau.

Trọn vẹn ngôi nhà đá cao to giữa Xóm Hạ có thiền đường, văn phòng, quán sách Hoa Ô Môi, nhà bếp và phòng ăn, phòng học được gọi là cư xá Tùng Bút.

Thiền đường Nến Hồng, văn phòng, quán Hoa Ô Môi và Tham Vấn đường

Mình biến chỗ chứa rượu – những nhà se (thùng xi măng chứa rượu vang) của người dân cũ thành nhà bếp, phòng ăn và lớp học, lấy kho chứa rơm sửa thành thiền đường để ngồi thiền. Mình sửa nhà chứa rơm thành thiền đường Nến Hồng. Xóm Hạ có văn phòng (giữ từ năm đầu tiên cho tới bây giờ) bên trái của thiền đường Nến Hồng. Sau lưng văn phòng là thư viện. Hiện nay trong thiền đường Nến Hồng, có bàn thờ tổ tiên như thờ Sư Cố tức là thầy của Thầy, có hình Hoà thượng Trí Thủ và nhiều hình thờ ba má của Sư cô Chân Không, và ba má hay anh chị em quá cố của quý thầy quý sư cô. Bên trái của thiền đường, ngày xưa có một phòng nhỏ làm quán sách: quán Hoa Ô Môi, nhưng sau thì thấy quán sách nhỏ quá nên mình để một cây đàn piano và làm chỗ ngồi chơi cho mấy thầy, mấy sư cô và các cháu trẻ. Kế đó là hành lang để có cửa thông vào nhà bếp, một đầu là điện thoại còn đầu kia là nhà vệ sinh. Kế bên nhà vệ sinh là phòng của sư cô Chân Không ở bên mặt, phòng sư cô Chân Đức và Chân Vị ở bên trái. Trong phòng Chân Không có cất đèn tuệ giác Thầy cho mà bây giờ bị dẹp đi đâu rồi.

Hiện nay nhà bếp của Xóm Hạ đã làm mới khá lớn, đúng tiêu chuẩn nhà nước Pháp đòi hỏi nên khá quy mô. Phải làm đúng tiêu chuẩn của nhà nước để không bị đóng cửa nên đại chúng lấy luôn phòng sư cô Chân Không làm nhà kho lớn của nhà bếp lớn bây giờ. Sau đó thì mình dời quán Hoa Ô Môi ra Tham Vấn đường.

Tham Vấn đường là một căn nhà đá dùng để nuôi heo hay dê ngày xưa ở đối diện với phòng sinh hoạt công cộng. Vì không hôi thúi gì nên chỉ cần xịt nước rửa vách sạch và lót gỗ làm sàn để làm Tham Vấn đường cho Thầy tiếp thiền sinh.

Mấy năm đầu ai muốn tham vấn Thầy thì tới ngồi trình bày và Thầy lắng nghe. Một bác lớn tuổi mặc áo tràng đi vòng vòng bên ngoài Tham Vấn đường để giữ sự im lặng chung quanh. Sau này Thầy không có thì giờ nên người nào có khó khăn trong cuộc đời thì báo cáo với Chân Không rồi Chân Không báo cáo lên Thầy. Tới giờ tham vấn người ta sắp hàng năm, bảy người thì cũng không đủ giờ nên Thầy biểu Chân Không trả lời luôn. Chân Không thay Thầy cho thiền sinh tham vấn. Tham Vấn đường sau này đổi thành quán Hoa Ô Môi, nóc quán có dây hoa Bignolia leo màu đỏ cam rất đẹp. Trước quán có bụi trúc xanh ngày xưa nhỏ xíu mà bây giờ lớn lắm rồi, mình tỉa bỏ hết các cây trúc phía trong rồi đặt băng ghế ngồi pháp đàm bên trong bụi tre cho mát.

Cư xá Hồng Giòn

Một ngôi nhà đá bên trái cư xá Tùng Bút là cư xá Hồng Giòn, là nhà ở của những nông dân ngày xưa, anh chị Thiều và Tý Miu, cháu bé, chú Dũng ở cư xá Hồng Giòn đó. Bên hông cư xá Hồng Giòn cũng có khu để máy cày… và cũng có một se chứa rượu. Tại sao lại có tên là cư xá Hồng Giòn? Đó là tại vì hồng mình trồng bên Pháp toàn là hồng mềm ăn rất chát, phải chờ cho trái chín thì nó mới ngọt. Năm đó Chân Không đi Mỹ đem về một cây hồng giòn duy nhất trồng ở đó nên mình đặt tên là cư xá Hồng Giòn. Hiện giờ cư xá Hồng Giòn cũng được sửa sang lại thành nhiều phòng làm chỗ tạm trú cho thiền sinh tới Xóm Hạ tu tập.

Cư xá Mây Tím

Bên mặt cư xá Tùng Bút trước kia là chuồng bò, anh Trần Nguyên Đức – sau này đi tu thành thầy Trời Đại Nghĩa – thấy vậy nên cao hứng dọn rửa sạch sẽ rồi Làng kêu thợ tráng xi măng, sửa lại thành cư xá Mây Tím. Lúc đầu chỗ này chỉ có một phòng làm thư viện (bây giờ là phòng làm việc của các sư cô) và một phòng vệ sinh, phía sau là hai phòng nhỏ trong đó có một phòng dành cho Thầy nghỉ ngơi và tiếp khách mỗi khi Thầy xuống dạy ở Xóm Hạ. Phòng này gọi là phòng Hoa Cau, trên tường đá còn có cái móc là dấu vết của chuồng bò ngày xưa. Trong phòng Hoa Cau có treo hình của bé Trúc. Bé Trúc lần đầu tới Làng chỉ mới có ba tuổi, sau này bé Trúc trở thành nhạc sĩ vĩ cầm tí hon của Làng trong những dịp lễ vào thập niên 1990 – 2000.

Phía trên là gác lửng chứa rơm nuôi bò. Sau này có hai anh chị người Đức là Karl và Helga đã hướng dẫn thợ sửa phía gác lửng thành một tầng nữa gồm năm phòng ngủ để các sư cô có thêm chỗ ở cũng như sửa thêm tầng dưới để có thêm một phòng cho Chân Không tiếp gia đình tới thăm hay tiếp những thiền sinh muốn tham vấn riêng và phòng vệ sinh công cộng.

Cư xá Đồi Mận

Phía tay mặt có một dãy nhà trước là chỗ phơi thuốc lá chỉ có cái nóc thôi. 7 thước bề ngang và 40 mét bề dài thôi. Ngày xưa vùng đó người ta vẫn còn trồng thuốc lá. Mình lấy nhà phơi thuốc lá xây với gạch thô thành chín phòng bên mặt, bảy phòng bên trái và một khối bảy nhà tắm, bảy nhà vệ sinh.

Đó là cư xá Đồi Mận với các phòng tên Lá Mồng Tơi, Lá Tía Tô, Cải Cúc, Tần Ô… Hiện giờ cư xá Đồi Mận là ni xá của các sư cô nhưng cũng sắp bị đập đi xây lại vì gần sập và không đủ tiêu chuẩn an toàn để cư trú.

Cốc Tuổi Ngọc và hồ sen

Trong cư xá Mây Tím, ở tầng dưới có một phòng dành cho Chân Không. Ngoài ra các sư cô Xóm Hạ còn cất một cốc “nói là” dành cho sư cô Chân Không nhưng thật ra để cho khách đặc biệt như các ni trưởng hay sư bà lớn. Cốc Tuổi Ngọc này nằm ngay bên mặt cổng Xóm Hạ, sát đường. Cốc này, hai tầng bằng gỗ, chia thành ba phòng: hai phòng bên trên rất thoáng. Bên dưới là phòng khách và nhà vệ sinh. Cốc Tuổi Ngọc nhìn ra hồ sen Xóm Hạ. Ban đầu Thầy dạy nên xây một hồ sen ở Xóm Hạ. Chân Không là thủ quỹ nhưng hôm đó Chân Không theo Thầy đi hướng dẫn các khoá tu một vòng nhiều tiểu bang nước Mỹ, nên giao chức thủ quỹ cho thầy Pháp Lữ vì thầy biết làm sổ sách bằng tiếng Pháp. Thầy Nguyện Hải lên xin tiền mua vật liệu thì thầy Pháp Lữ nhất định không đưa tiền cho thầy Nguyện Hải vì Pháp Lữ tiết kiệm cho Làng, nghĩ là xây hồ sen phí tiền. Phải đợi Chân Không về trách thì thầy Pháp Lữ mới đưa tiền. Làng xây xong hồ sen thì mới thấy giá trị của một làng Tu Học đẹp tuyệt vời. Một hồ đầy sen hồng làm thay đổi ngay phong cảnh của Xóm Hạ. Xóm Hạ trở nên tâm linh hơn. Thầy không ngờ sen sinh trưởng rất dễ ở Làng Mai, hồ sen cho những hoa sen to màu hồng đẹp hơn cả hoa sen ở Việt Nam. Nhưng có điều lạ là ngó sen không cho hột sen, hột sen lép cho tới năm thứ 12, 13 hột sen mới bắt đầu chắc nhưng gương sen nào cũng rất ít hạt sen. Có lẽ vì từ khi hạt sen tượng hình cho tới khi sen tàn lụi vì khí trời đã sang thu, quá lạnh, sen chết sớm chưa kịp có hạt thành hình là lá sen ngó sen đều chết nhưng rễ sen còn sống để mọc lại cây sen mùa sang năm. Bây giờ các xóm của Làng Mai đều có sen, sen hồng và sen trắng ở xóm Tây Hồ.

Thiền đường Cam Lộ

Từ từ mình thấy thiền đường Nến Hồng cũng quá nhỏ nên mình cất thêm một cái nóc nhà dài 20 thước ngang 13 thước phía sau thiền đường Nến Hồng và đặt tên là thiền đường Cam Lộ. Lúc đầu thiền đường Cam Lộ chỉ có cái nóc, rồi từ từ mình làm thêm vách và cửa kiếng. Mình nhờ một bà nghệ sĩ ở Paris làm một tượng Phật rất thanh giống nữ Bồ tát mà cũng giống nam Bồ tát đặt ngoài trời. Thiền đường Cam Lộ được sưởi bằng lò sưởi củi to nằm giữa thiền đường.

Nhà Cây Anh Đào

Ông hàng xóm Mounet là một nông dân. Ông rất thương mình, ông hay chạy qua chỉ mình cái này cái nọ từ những ngày đầu mình dọn về Xóm Hạ. Khi ông mất rồi thì con ông dọn từ thành phố về không được dễ thương lắm, nhưng mình cũng chịu đựng thôi. Anh ta hay làm khó làm dễ, đòi mua đất của mình để xây hồ tắm. Mình không chịu thì anh ấy đòi kiện mình ra toà (vì không chịu bán đất cho anh ta). Cuối cùng Chân Không thấy ông này khó chịu quá nên nhờ một ông người Pháp đi mua nhà của họ. Khi bán xong rồi ra toà ký tên thì Chân Không mới lộ diện ra ký tên của Cộng đồng Phật giáo Việt Nam đứng ra mua của anh ấy. Nhà mua của gia đình Mounet trở thành nhà Cây Anh Đào (Cherry House vì nhà này cho Xóm Hạ năm cây anh đào khá ngon). Hiện giờ nhà này cũng vừa được sửa sang cho đúng tiêu chuẩn của nhà nước Pháp gồm bảy phòng ở cho thiền sinh.

Thiền đường Hội Ngàn Sao

Thiền sinh tới nghe pháp càng ngày càng đông nên sau này thiền đường Cam Lộ cũng không đủ chỗ, vì vậy mình xây thêm một thiền đường to gọi là thiền đường Hội Ngàn Sao. Hành lang của thiền đường Hội Ngàn Sao khá lớn, thiền sinh có thể ngồi ở ngoài để nghe giảng. Phía sau thiền đường Hội Ngàn Sao có bụi tre to nhất Làng, thân tre rất mập vì chỗ đó đất thấp và ẩm ướt và phía sau bụi tre là nhà vệ sinh công cộng. Kế bụi tre này là hai cái thất nhỏ của sư cô Chân Đức và sư cô Chân Vị. Còn cô Chân Diệu Nghiêm, trụ trì xóm Hạ thì có một cái thất lục giác bằng kiếng ở giữa rừng, sau lưng thiền đường Hội Ngàn Sao.

Nhà Bạch Dương và văn phòng làm sách

Năm 2016 có cặp vợ chồng ở miếng đất kế liền thiền đường Hội Ngàn Sao ly dị nên bán đất bán nhà cho mình, vì vậy Xóm Hạ có thêm một căn nhà ba phòng tên là Bạch Dương và các sư cô ban làm sách tiếng Anh đã sửa nhà để xe kế bên thành văn phòng làm sách, đặt tên là Mưa Xuân.

Như vậy Xóm Hạ có nhà Đồi Mận, nhà Mây Tím, cư xá Tùng Bút, nhà Tuổi Ngọc, thiền đường Nến Hồng, thiền đường Cam Lộ, thiền đường Hội Ngàn Sao, quán Hoa Ô Môi, cư xá Hồng Giòn, nhà Cây Anh Đào và nhà Bạch Dương. Ngoài ra Xóm Hạ còn có nhà Nắng Thuỷ Tinh là một ngôi nhà nhỏ ở gần Xóm Trung. Tên chữ của Xóm Hạ là chùa Cam Lộ.

Những năm đầu Làng chỉ mở cửa có một tháng mùa hè để đồng bào về Làng tụ họp và nghe pháp. Sinh hoạt Làng trong mùa hè nghiêng về mặt giữ gìn văn hoá vì đây là lúc gia đình người Việt cùng đi nghỉ hè với nhau ở môi trường Việt Nam trên đất Pháp.

Bé Trúc là cô bé mà được tất cả dân làng yêu mến. Mỗi lần có Hội Thuỷ Tiên thì cháu đem đàn violon ra đứng đàn cho đại chúng nghe giữa hàng triệu hoa thuỷ tiên. Bây giờ bé Trúc đàn cho dàn nhạc quốc gia Pháp đi trình diễn trên toàn quốc. Bé Trúc về Làng lúc ba tuổi, cháu nghe tiếng chim hót thì hỏi mẹ đó là tiếng gì hở mẹ? Tại vì bé lớn lên ở Bordeaux nên chưa hề nghe tiếng chim hót. Mẹ cháu nói:

“Con chim nó nói chuyện với con đó.”

Chân Không nói đùa:

“Nè con, hễ con chim hỏi, bé Trúc đó hả, thì con nói, dạ bé Trúc đây!”

Chân Không chỉ nói chơi với con nít cho vui vậy mà khi dẫn bé Trúc đi một hồi thì nghe cháu nói “dạ”, đi một đoạn nữa thì nghe cháu nói “dạ”. Chân Không hỏi:

“Sao con dạ vậy con?”

Bé Trúc nói:

“Dạ con nói chuyện với con chim. Nó hỏi con tới hồi nào nên con dạ.”

Bé Trúc dễ thương như vậy. Nhiều cháu bé tới Làng cũng rất là thông minh, ngọt ngào và đem niềm vui cho bao nhiêu người. Mẹ các bé cũng vậy: dì Tâm Trân, dì Yến, dì Mười, cô Hà có nụ cười rất xinh, vợ chú Chân Thuyên, khéo ơi là khéo, là những bà mẹ Việt Nam tuyệt vời. Chú Chân Thuyên, Chân Minh, chú Nguyễn Xuân Vinh, chú Nguyễn Bá Thư, chú Minh thiền sư ôm đàn hát nhạc dân ca Việt Nam với các cháu vang cả các Xóm mỗi trưa, dạy các cháu học thuộc 21 điều căn bản về văn hoá Việt. Đang học bài hay ca hát chợt có tiếng rao hàng: “Ai ăn chè đậu xanh, bột khoai, nước dừa đường cát… không!” Giọng cô Chín rao lảnh lót giữa trưa hè khi mọi người thiu thiu ngủ khiến nhiều cô bác lòng vui rộn lên như mới được về quê Sài Gòn. Lại có tiếng rao hàng khác nổi lên: “Bánh tiêu bánh bò giò cháo quảy đây!” Những giọng rao quà từ Châu Đốc, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ tới Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá xa xôi, rao nhộn nhịp vui ơi là vui, thương quá là thương! Giờ quán cốc đã mở, mọi người rộn ràng tới quán cốc dưới gốc Cây Sồi. Quán cốc là một cái chòi nhỏ rất đơn sơ như những căn chòi bán quán bên đường ở Việt Nam. Mẹ các bé thay phiên nhau nấu chè làm bánh còn các bé mặc áo bà ba hay áo dài ra phụ múc ra chén cho dân Làng. Sau giờ quán cốc mở là giờ thiền trà, mỗi hôm chỉ có 16 trà khách (gồm những vị nhận được thư mời của trà chủ). Một buổi thiền trà thường chỉ gồm 12 đến 16 trà khách, một trà chủ, hai người pha trà rất thiền vị, nam nữ, lớn bé ai cũng mặc áo dài (ai không có thì mua hoặc mượn ở quán Hoa Ô Môi để làm đẹp cho Làng).

Mỗi năm mình có Hội Hoa Mai vào tháng Tư. Mùa Hè mình chỉ mở cửa từ 15 tháng 7 tới 15 tháng 8. Nhưng sau này các Phật tử bên Hoa Kỳ “ganh tị” nên Làng Mai làm khoá tu suốt tháng 7 ở bên Pháp, rồi qua Hoa Kỳ cho khoá tu suốt tháng 8, nửa tháng ở miền Đông và nửa tháng ở miền Tây. Mỗi hai năm Thầy đi dạy ở Hoa Kỳ một lần. Sau này thì mình xong ở Pháp thì qua Đức dạy rồi mới đi Hoa Kỳ. Nhưng khổ nỗi là bên Pháp trong tháng 8 là các trường nghỉ hè, nếu Làng không mở cửa thì người ta không có chỗ để dẫn con cái đi tu học.

Trong mùa hè năm nào mình cũng có một ngày mình đốt đèn, đi bộ tới cái hồ trong rừng ở Xóm Hạ, vừa đi vừa niệm Phật. Tới hồ mình thả đèn trôi trên nước rồi thả cá xuống hồ. Hồ thông ra suối ra sông nên cá không ứ đọng trong hồ.


Xóm Thượng

Mua Xóm Thượng

Thật ra Xóm Thượng mới là dấu mốc quan trọng của Làng Mai. Sau Phương Khê thì mình tìm ra một nông trại mà Thầy thích nhất ở Thénac. Nông trại đó nhìn thì toàn là đá. Bên tay trái có một vách đá có nhiều lỗ hổng, bên tay mặt là một con đường nhỏ giống như con đường làng của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội ngày xưa ở Phú Thọ Hoà, bề ngang khoảng chừng 1,5 thước thôi, nếu đi lấn lên trên cỏ thì cũng được 2 thước. Thầy thấy yêu phong cảnh này (có lẽ vì nó giống con đường đất gần Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội cách đây 50 năm) nên Thầy muốn mua miếng đất ở Thénac, nhưng ông chủ Deson không chịu bán tại vì đất này là từ ông cố của ông Deson để lại. Ông có nhiều đất chỗ khác có thể có huê lợi nên ông không cần bán. Bà vợ năn nỉ:

Thôi mình bán đi để tiền cho thằng Út (hơi khuyết tật). Nó không làm được gì, chỉ trồng trọt hữu cơ (bio) không có xịt thuốc rầy.”

Trong lúc đó có những nông dân bán nông trại để lên thành phố thì bán một cơ sở 21 mẫu mà giá chỉ mắc hơn chút trong khi miếng đất ở đây chỉ có 6 mẫu thôi. Nhưng miếng đất đó thì ở làng Loubès Bernac, Lot-et-Garonne còn miếng đất mà Thầy thích thì ở Thénac, Dordogne. Chân Không hỏi:

“Ông coi trên bản đồ coi nó cách Thénac bao xa, nếu chừng bốn, năm cây số thì tôi mua.”

Ông coi rồi nói:

“Ô, nó giáp ranh Thénac.”

Từ đó tới Thénac chưa tới 4 cây số giống như tổ tiên đã sắp đặt sẵn cho mình nên mình mua liền. Đó là Xóm Hạ ở Loubès-Bernac. Vì vậy mà Xóm Hạ có trước Xóm Thượng dù Thầy đã chọn đất Xóm Thượng trước. Sau đó thì mình mua được miếng đất ở Thénac tức là đất Xóm Thượng. Khi đi làm giấy tờ thì cô thư ký nói:

“Hồi xưa gia đình tôi sống ở đó mà sắp chết đói đó cô tại vì đất ở đó đào lên toàn là đá không hà. Mình muốn trồng một hàng cà rốt cũng không được nữa, đất chỉ có một lớp cỏ mỏng ở trên thôi. Tội nghiệp cô quá, thế nào cô cũng chết đói thôi!”

Những cơ sở ở Xóm Thượng

Bà thư ký đó tên là Dedieu, bà sợ mình chết đói thật là dễ thương. Vậy là mình mua Xóm Hạ nằm ở xa mút tí tè của tỉnh Lot-et-Garonne và Xóm Thượng ở Thénac thuộc một tỉnh khác nữa, đó là tỉnh Dordogne. Thành phố lớn nhất của Lot- et-Garonne là Agen, còn thành phố lớn nhất của Dordogne là Périgueux. Từ Thénac lên Périgueux cũng mất 80 cây số, còn từ Loubès Bernac tới Agen cũng mất 70 cây số. Nhưng nhờ vậy nên mình rất yên. Mình mua Xóm Hạ vào tháng 10 năm 1982, không có ai làm khó dễ. Vừa mua xong thì mình dọn tới liền, gọi gia đình anh Thiều từ trại tị nạn ở Pháp dọn vô cư xá Hồng Giòn. Cháu bé mới sinh của anh Thiều ở trại tị nạn Strasbourg tên “Chó Con” – Lê Nhật Tâm – vì anh Thiều đọc quyển Trái tim mặt trời của Thầy ở trại tị nạn, thích quá nên đặt tên con. Xóm Thượng mình mua được vào tháng 3 năm 1983, không có ai ở nên buồn quá. Thấy vậy Thầy tình nguyện lên ở đó, có lò sưởi bằng củi. Loại lò sưởi này nhỏ, mình mở cái nắp tròn chừng 12 phân đường kính rồi nhét thanh củi vô, ba bốn thanh thì cháy được một giờ đồng hồ. Giữa khuya mình phải thức dậy bỏ thêm củi, cứ mỗi đêm là phải thức dậy khoảng hai ba lần để bỏ củi.

Thầy ở Xóm Thượng và viết cuốn Đường xưa mây trắng ở đó, tuy Thầy cũng có Sơn Cốc nhưng Thầy chỉ cất giấy tờ ở đó và đa phần ở với đại chúng. Còn Chân Không thì có một phòng ở Loubès-Bernac, Xóm Hạ tên là phòng Phượng Vĩ.

Pháp Thân Tạng

Bữa đó Thầy gọi điện thoại kêu tất cả Xóm Hạ đều phải lên Xóm Thượng coi cái này đẹp lắm. Tất cả leo lên xe của Chân Không là xe Quatre Chevaux cũ kỹ gần hư. Tới Xóm Thượng thì mình thấy bên trái chỗ triền đá có hàng triệu hoa thuỷ tiên mọc lên. Tuyệt vời! Thầy nói cảnh này giống như trong kinh Pháp Hoa “Tùng địa dũng xuất” và đặt câu thơ:

Qua vườn trúc thôn trên, xuống Pháp Thân Tạng

Thầy gọi chỗ hoa thuỷ tiên mọc đầy là Pháp Thân Tạng. Pháp thân là cái gì đẹp nhất của Phật pháp. Tạng là kho tàng. Kho tàng của Pháp thân là chỗ này, chỗ có hàng triệu vị Bồ tát vượt đá trồi lên. Sau mùa đông hàng triệu lá xanh tách đá nhô lên. Rồi hai lá xanh tách ra có nụ vàng ở giữa. Rồi nụ vàng tách ra thành bốn năm cánh rung rung dưới nắng. Chân Không đặt bài hát:

Qua vườn trúc thôn trên, xuống Pháp Thân Tạng Hội thuỷ tiên, ngàn tiên hé cánh.
Qua đồi mai thôn dưới, ngang Tham Vấn đường, Ngày thả cá, đàn cá tung tăng.

Ngàn tiên hé cánh, ngàn tiên hé cánh…

Xóm Thượng năm nào cũng có Hội Thuỷ Tiên vào tháng Ba ở Pháp Thân Tạng để mọi người thưởng thức hoa. Mình mời những người bạn của Làng tới chơi. Mình mời bé Trúc đàn violon và quang cảnh cô bé đứng kéo đàn giữa rừng hoa thuỷ tiên rất đẹp.

Vừa quẹo vô Xóm Thượng thì bên tay trái có một bãi đậu xe lớn cho cả trăm chiếc xe trên miếng đất mới mua được của ông hàng xóm Bonnamy. Sau đó có bảng viết chữ Village des Pruniers lieudit Le Pey. Trong Le Pey có con đường cây xanh nhỏ huyền thoại giống như đường quê Việt Nam. Ngay từ đầu Thầy đã thích con đường đó nên nhất định đòi mua Xóm Thượng. Tên chữ của Xóm Thượng là chùa Pháp Vân. Năm đầu tiên, Thiền đường chùa Pháp Vân nằm trong cư xá Trúc Lâm. Bên trái thiền đường là Quán Sách. Bên phải là chuồng thỏ mình xây lại thành hai tầng có ba phòng ở dưới và ba phòng ở trên leo lên bằng một cầu thang gỗ xinh xinh. Thầy Pháp Dung là cựu kiến trúc sư nên Thầy dạy thầy Pháp Dung trình bày và xây nhà ăn của đại chúng cho có vẻ văn hoá. Ban đầu chưa có tiền nên chỉ vẽ nóc và để thiên hạ ngồi ăn ở Hiên Nghe Mưa, chỉ có nóc chưa có vách. Năm sau đủ tiền mình cất luôn dãy phòng ăn từ Hiên Nghe Mưa, lên vách, xây tường, làm cửa kính và cửa sổ rất thanh tú. Cũng trong năm này anh chồng chị Thục Quyên, một kiến trúc sư người Đức trình bày giúp mặt tiền thiền đường Chuyển Hoá nguyên là cái chuồng ngựa nhà ông Deson xưa. Mặt thiền đường sửa theo hình trình bày của anh đã thay đổi căn chuồng ngựa, biến thành ngôi thiền đường thật thanh tú, hoàn toàn mất hết các dấu vết chuồng ngựa xưa. Vì thế nên tăng thân đặt tên là thiền đường Chuyển Hoá (Transformation Meditation Hall). Thiền đường này lại tiếp tục chuyển hoá thêm nhờ hai anh thợ cất chùa mà Chân Không đưa từ Việt Nam sang, hai anh làm một bàn thờ tổ Tăng Hội rộng 2 thước rưỡi, cao một thước rưỡi, điêu khắc y chang theo truyền thống gỗ điêu khắc xưa, sơn son thếp vàng như các chùa xưa ở Việt Nam vậy nhưng thật ra là làm bằng xi măng. Từ chuồng ngựa vừa dơ vừa hôi mình sửa thành một thiền đường. Thiền đường Chuyển Hoá chia thành ba phần. Có bàn thờ vong, đầu tiên là thờ ông chủ đất cũ của Xóm Thượng rồi tới ba của mấy thầy. Còn có thờ thầy Pháp Ngạn, một thầy tu xuất gia khi đã lớn tuổi vừa lên tỳ kheo thì thầy mất vì đột quỵ, thờ thầy Pháp Ý tu mười năm thì bị đột quỵ chết, có thờ bác Tư là bác hay đặt mấy bài nhạc theo điệu vọng cổ miền Nam. Vì bác đã từng thường trú lâu năm ở Xóm Thượng nên khi bác mất các con đem tro của bác từ Úc về thờ ở Xóm Thượng. Trong thiền đường Chuyển Hoá có hình chụp đại giới đàn đầu tiên lúc sư cô Chân Không và sư cô Chân Đức được Thầy truyền đăng. Có một chuyện rất tức cười trong ngày hôm đó. Thầy là thầy nhưng từ khi có thế hệ thứ hai tức con cái của những học trò của Thầy thì mấy em nhỏ không gọi Thầy là Thầy mà gọi là Sư Ông. Chỉ có ba má của tụi nhỏ mới gọi Thầy là Thầy thôi. Hễ nghe gọi Sư Ông thì ai cũng biết đó là thầy Nhất Hạnh. Hôm đó là đại giới đàn đầu tiên ở Làng, mình mời Sư bà Đức Viên ở San José qua. Mình nói với nhau: “Chiều nay Sư bà Đức Viên qua.” Mình nói với nhau một cách tự nhiên, thật ra Đức Viên là tên chùa, tên đúng của Sư bà là Thích Nữ Đàm Lựu. Mấy đứa nhỏ nghe vậy nói với nhau: “Mình chờ coi vợ của Sư Ông mặt ra sao!” Tụi nó nghĩ hễ Sư bà thì phải là vợ của Sư Ông!!! Trong hình chụp Sư bà ngồi bên đây, phía bên kia là Thầy, có hàng trống ở chính giữa để các giới tử lên thọ giới. Sau thiền đường Chuyển Hoá quá nhỏ nên mình lấy một ngôi nhà lớn, hồi xưa là chuồng thỏ chia làm ba phần. Bên tay mặt mình làm quán sách, ở giữa có bàn thờ thay cho tượng Phật và một chữ Khán 看 (tức là nhìn lại) thật to bằng chữ Nho do chính Thầy viết. Bên tay trái ngày xưa là một dãy chuồng thỏ, mình xây mái cho đàng hoàng rồi chia thành ba phòng ở tầng dưới và ba phòng ở tầng trên giống như cư xá cho mấy thầy. Sau thiền đường này cũng quá chật nên cuối cùng mình xây một thiền đường rất lớn, lớn hơn cả thiền đường Xóm Hạ. Đó là thiền đường chùa Pháp Vân, sau này mình xây rộng thêm, Thầy đặt tên là thiền đường Nước Tĩnh. Đây là lần đầu tiên mình làm một thiền đường đàng hoàng nên trước khi xây mình phải nộp bản vẽ cho Socotec tức là cơ quan làm việc cho chính quyền để kiểm soát đúng tiêu chuẩn. Họ kiểm soát rất gắt gao đúng theo tiêu chuẩn, chẳng hạn người ngồi xe lăn đi vào không bị gập ghềnh… Thiền đường Nước Tĩnh khá dài, tượng Phật lớn được đặt ở ngoài dưới gốc cây dương. Bên trong thiền đường có một tượng Phật nhỏ màu đen trên bàn thờ. Sau tượng Phật nhỏ này bị ai lấy đi mất tại vì ở Làng Mai mình không có khoá cửa. Bên tay phải của thiền đường Nước Tĩnh có một chái lớn để cho thiền sinh ngồi nghe pháp thoại. Như vậy cũng chưa đủ, mình còn dựng thêm nhiều lều phía ngoài. Pháp thoại được dịch ra nhiều thứ tiếng. Đó là nhờ công của anh Chân Sinh Hoàng Phúc, anh là kỹ sư ở Canada. Khi Thầy giảng bằng tiếng Anh thì mình dịch ra tiếng Pháp, tiếng Việt. Mình mua loa có những lỗ cắm để thiền sinh có thể cắm tai nghe vào nghe. Có khi đông quá mình đặt luôn loa trong lều dựng bên ngoài. Nằm bên tay trái thiền đường Nước Tĩnh là một khu nhà vệ sinh được xây đúng với tiêu chuẩn có hệ thống tháo nước. Mình cũng không ngờ xây một khu vệ sinh thôi mà phải tốn 250.000€. Mình cũng phải xây một khu tháo nước cho mỗi xóm rất là tốn kém.

Tới mùa hè thì thỉnh thoảng có vài anh thiền sinh Việt Nam lái xe tới đại mà không biết phải ghi danh trước. Mình cũng phải nhận họ, họ ở chật một chút cũng không sao. Bây giờ Tây phương cũng học theo phong cách “tự tiện ẩu” của Việt Nam, họ chẳng thèm ghi tên, tới thì lựa góc rừng có cắm lều đàng hoàng rồi lên văn phòng trình diện và nói đã chọn xong cái lều ở góc đó và xin trả tiền. Không ghi tên trả tiền thì không được chia nhóm pháp đàm để hưởng được lợi lạc của những chia sẻ trong nhóm.

Tới năm thứ hai thì nhà nước đòi đóng cửa Làng Mai vì lý do không đủ tiêu chuẩn an toàn. Mình hoảng quá vì người ghi tên hơn hai trăm người mà cấm không cho tới tu thì chắc Chân Không… chết mất(!) Chân Không tìm cách cầu cứu với các vị chức sắc trong chánh quyền mà Chân Không quen hồi chiến tranh Việt Nam như ông Chaban Delmas, cựu thủ tướng, ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao Jean François Poncet hay mấy ông thượng nghị sĩ Bernard Dusaut… Chân Không cứ bám vô mấy cụ mà cầu cứu để mấy cụ nói chính quyền nới tay cho mình. Nếu không có tiếng nói của mấy cụ thì cũng không xong tại vì mình xây cất chỗ ăn ở cho thiền sinh không đúng tiêu chuẩn. Nước Pháp cũng xuề xoà nhưng có một sự kiện đã xảy ra là một khán đài trong sân vận động bị sập làm chết nhiều người tại vì khán giả leo lên quá tải. Ông tỉnh trưởng của vùng đó bị phạt tù nên từ đó Uỷ ban An ninh Hoả hoạn làm việc rất nghiêm khắc. Họ tới đóng cửa Làng ngay và khi Làng mua được nhà đúng tiêu chuẩn đón khách tu học ở Dieulivol nên mở trở lại thì họ cũng theo dõi mình rất sát. Sự trùng tu xây sửa phải đúng tiêu chuẩn nhà nước quy định và có chữ ký của Socotex là Ban Quản lý về kỹ thuật mà nhà nước có niềm tin.

Trên Xóm Thượng có một nhà ăn lớn do thầy Pháp Dung vẽ mẫu và thiền đường Chuyển Hoá. Phía sau thiền đường Chuyển Hoá dính liền với ngôi nhà mà sau này ông Bonnamy mới bán cho mình. Mình mua nhà của ông Bonnamy rồi xây mười phòng bên trái và mười phòng bên mặt gọi là Friendship Building (nhà Tình Bằng Hữu). Tình Bằng Hữu là ngôi nhà ngày xưa Thầy ngồi hơ tay trên lò sưởi củi để viết cuốn Đường xưa mây trắng. Phía sau nữa là chỗ đậu xe mà ông hàng xóm vừa bán cho mình. Gần đây nhất ông hàng xóm dọn đi ở gần con gái nên bán luôn cho mình phần nhà và đất còn lại của ông, nhà cũ lắm rồi không ở được nhưng đất khá rộng, nên đất của Xóm Thượng được nối liền rất thông thoáng.

Sau khu nhà vệ sinh và hệ thống thoát nước là một vùng đất đá, nơi mình làm Hội Thuỷ Tiên. Ở đó có căn nhà tên là Linh Quy (Turtle Lodge) do mấy anh thiền sinh xây. Nhưng hiện nay Linh Quy sắp bị đóng cửa tại vì nó rung rinh và có thể sập bất cứ lúc nào. Kế bên Turtle Lodge có một ngôi nhà bằng gỗ gọi là cốc Thanh Phong dành cho thị giả, tại vì cốc Thanh Phong nằm gần cốc Ngồi Yên của Thầy. Sau cốc Ngồi Yên là cốc Phù Vân của thầy Giác Thanh, sau này dùng làm nơi nấu ăn cho Thầy mỗi khi Thầy ở lại Xóm Thượng.

Cốc Ngồi Yên

Cốc Ngồi Yên được làm bằng gỗ và có một sân thượng rất rộng đưa ra ngoài. Những đêm trăng lên, thiền sinh có thể tới ngồi thiền, ngắm trăng. Ngoài hành lang, Thầy có treo một cái võng. Bên trong cốc có một cái giường nhỏ, một kệ sách kê bằng những viên gạch và gỗ, một ghế xích đu, một bàn Phật nhỏ bên tay trái, tượng Phật đơn sơ thanh tú. Sau ghế xích đu là nhà vệ sinh. Có một bếp nhỏ và bàn ăn để Thầy có thể ngồi ăn cùng thị giả sau bếp. Trong cốc cũng có một máy photocopie nhỏ để Thầy viết thư rồi photocopie ra gởi cho các xóm. Cốc Ngồi Yên nằm trên một triền núi và phía dưới là rừng sồi đỏ.

Kế bên cốc Ngồi Yên là cốc Phù Vân. Sau đó là tăng xá của quý thầy. Tăng xá được xây theo hình chữ khẩu 口, chính giữa là một cái sân có trồng cây cảnh thật đẹp.

Khu đất phía trên cốc Ngồi Yên thì đã bị ông người Nga, chủ của lâu đài rượu mua hết. Ông ta rất muốn mua khu rừng phía tay trái của Xóm Thượng.

Bên tay mặt của Xóm Thượng là một triền núi mình đã mua lúc ông chủ nhà mới mất và mấy người con cũng muốn bán. Nhưng chỉ mới trả có 10% số tiền thì mình gặp những rắc rối như là ông tá điền không chịu dọn đi. Ông ta đòi 10.000€ (tiền túi!) mới chịu đi ra. Mình không đồng ý hối lộ nên ông hỏi qua ông chủ lâu đài rượu. Bên Pháp nơi làm rượu được gọi là lâu đài rượu. Ông chủ lâu đài rượu muốn mình rút ra để ông mua khu đất đó trồng nho làm rượu tại vì nơi đó nắng chiều rất tốt và làm cho nho ngon, trong khi đất bên tay trái thì vì bị rừng che mất nắng nên nho không ngon. Mình nghe ông trồng nho làm rượu thì không thích nên cuối cùng mình cũng không nhường lại cho ông lâu đài rượu. Nhưng mười năm sau khi ông chủ đất mất, mấy đứa con của ông tới nói ông tá điền bây giờ không làm việc nữa nên mình có thể mua. Mình trả luôn 90% còn lại và mua luôn miếng đất. Theo nguyên tắc khi mua xong thì mình phải tới đăng ký ở toà thị chính. Nhưng mình mua xong mà ông lâu đài rượu ở sát toà thị chính cũng không hay. Xóm Thượng có khu đất bên mặt rất vững chãi là khu rừng sồi cho nên Xóm Thượng rất vững về phương diện phong thuỷ. Chân Không nghĩ tin vào sự thăng bằng của mặt đất thì cũng rất khoa học. Sau đó thì năm nào Xóm Thượng cũng có ít nhất là mười người xuất gia, có đủ các quốc tịch như Đức, Hoà Lan, Tây Ban Nha, Mỹ, Canada. Xóm Hạ, Xóm Mới cũng có người xuất gia nhưng người châu Âu rất ít, đa phần là từ Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

Bây giờ đi tới Xóm Thượng mình chỉ có một con đường nhỏ xíu như cho thỏ đi, bề ngang chừng 3 thước có cắm bảng Villages des Pruniers, Le Pey. Mấy thầy tính vẽ một đường xe hơi tráng nhựa chạy từ chân núi lên, bọc ngang cốc Ngồi Yên tới thiền đường Nước Tĩnh và có bãi đậu xe. Bên đây có một con đường đi ngang qua nông trại Hạnh Phúc (Happy Farm) có hồ sen trắng. Chỗ đó mình chưa xây cất gì cả. Một ông nhà giàu cho mình 500.000USD để mua ngôi nhà Les Pinadas (lieudit Les Pinadas) của một ông người Anh. Les Pinadas ăn thông qua Xóm Trung.

Gần đây, Xóm Thượng đã làm một con đường trải đá đi từ chùa Sơn Hạ dưới núi lên chùa Pháp Vân (tên chữ của Xóm Thượng) ven theo bìa rừng rất đẹp.

Xóm Đoài

Năm 1983 – 1984, Làng Mai sắp bị đóng cửa vì nhà cửa lôi thôi, không đúng tiêu chuẩn tiếp khách công cộng. Khi đó, anh Chân Pháp Nhãn và chị Chân Diệu Thục Quyên đề nghị hùn tiền mua một căn nhà gần Xóm Thượng để làm chỗ cho mấy thầy. Mình sửa lại cho đẹp, có nhà tắm, nhà vệ sinh đàng hoàng. Nhà đó nằm ở hướng tây và Thầy mình là thi sĩ nên gọi là nhà thôn Đoài. Thật ra chỉ là nhà nông dân nghèo, mình sửa lại thành 12 phòng có nhà vệ sinh, nhà tắm rất sang.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Tương tư (Thơ Nguyễn Bính)

Sơn Hạ

Mua Sơn Hạ

Ông hàng xóm của Xóm Thượng ở trong một ngôi nhà rất sang. Ông nói bây giờ ông già rồi nên muốn bán cho mình ngôi nhà của ông. Ông nói với thầy Pháp Lữ, thầy Pháp Lữ năn nỉ Chân Không, Chân Không nói:

“Thôi đủ rồi. Bây giờ mình không có đủ tiền mua nhiều cơ sở quá, để từ từ.”

Nhưng một hôm ông lên, không có thầy Pháp Lữ. Ông gặp được Thầy và Chân Không, ông năn nỉ:

“Bây giờ cô xuống coi nhà tôi đi. Tôi biết cô coi thì sẽ thích. Nếu cô không mua thì tôi sẽ bán cho mấy người Anh. 11 giờ trưa này họ ký giấy mua. Tôi rầu lắm nhưng buộc lòng phải bán. Tôi không thích mấy người đó lắm. Tôi thấy quý vị ở đây ăn ở có trước có sau. Ngày Tết đem hoa cúng ông bà tổ tiên ở các nghĩa địa Pháp. Quý vị đem những chậu hoa cúc cúng dường các ngôi mộ mà con cháu nghèo quá, không có tiền lo. Tôi thật cảm động nên muốn bán cho quý vị hơn.”

Thầy xuống coi nhà thì thấy nhà cũng được, nhưng nếu ông bán luôn cánh rừng đi suốt từ nhà ông lên Xóm Thượng thì Thầy mới chịu mua. Ông nói mình chờ nửa giờ sau ông sẽ trả lời. Ông vào hỏi ý bà vợ thì bà đồng ý bán để có tiền xây một ngôi nhà nhỏ hơn ở gần đó. Ông chịu bán với giá 370 ngàn. Lúc đó mình có vừa đủ tiền. Tiền của các khoá tu mình không xài gì cả, chỉ để dành sửa nhà cửa cho hợp lệ thôi. Mình mua nhà đó rồi thì ông cất một ngôi nhà trắng mới tinh ở bên kia đường Xóm Trung mà sau này khi ông mất bà cũng bán luôn cho mình gọi là nhà Nắng Thuỷ Tinh.

Những cơ sở ở Sơn Hạ

Ở Sơn Hạ có một dòng suối mình không thấy rõ, nhưng nước cứ trào lên rồi tràn qua cái ao trước nhà mình. Lúc đầu ông chủ nhà Dutheil chỉ bán cái nhà nhưng sau thì ông bán luôn cho mình rất nhiều nhà xưa cũ bỏ hoang bên sau, bán luôn dòng suối và cái hồ. Nhà Fontagnane rất sang. Thầy thấy có hai ngôi nhà xưa cũ bỏ hoang đó, ông Dutheil không để ý tới mà mình có thể sửa lại để làm thiền đường, có thể gắn vitrailles tức là một loại hình bằng kiếng màu đặc biệt của Tây phương mình thường thấy trong các nhà thờ. Mình biến cái nhà kho đó thành thiền đường ở Sơn Hạ và sửa những vitrailles thành hình Bồ tát Địa Tạng tay cầm hoả châu tròn soi đường đi xuống địa ngục giúp người, một vitraille khác là hình Maya phu nhân mới sinh hài nhi là thái tử Siddharta. Đó là thiền đường Thánh Mẫu Maya. Hôm đó ông Đại sứ của Việt Nam tới gặp Thầy, ông thấy mấy cái vitrailles (kính ghép màu) thì nói rằng Thầy nổi tiếng là vì Thầy nắm vững văn hoá của nước khác, Thầy biết dùng văn hoá của người để chuyển thành văn hoá Phật giáo. Những vitrailles hình thiên thần, thiên chúa mà Thầy biến thành hình Maya phu nhân sinh Siddharta hay hình Bồ tát Địa Tạng đi vào địa ngục thì hay quá. Phía ngoài có một nhà chứa rượu, trong tương lai mình sẽ làm thành phòng học. Bên tay trái của phòng chứa rượu có một ngôi nhà, nhìn xấu ơi là xấu giống như một đống rác. Mua xong thì Thầy cho đập bỏ hết lớp tô bên ngoài để lộ ra những khối đá bên trong.

Lúc này mình có bảo lãnh chú Hiếu là em của thầy Từ Hoà ở chùa Từ Hiếu qua Pháp. Mình giúp em của thầy Từ Hoà qua đây làm thợ hồ, trả lương căn bản SMIC để có tiền nuôi ba mẹ. Nhờ đó ba thầy Từ Hoà có thể mua được một miếng đất ở Vỹ Dạ để dọn ra từ chùa Từ Hiếu. Có chú Hiếu nên mình sửa ngôi nhà nhỏ đó thành cái thất của Thầy. Trong nhà có lò sưởi củi và cửa sổ tròn rất đẹp do chú Hiếu làm. Đó là thất Da Cóc. Ba của một thầy có làm một bài thơ tả thất Da Cóc: Ngoài da cóc trong ngọc ngà. Mỗi lần Thầy tới Sơn Hạ thì ở trong thất Da Cóc. Trong ngôi nhà lớn của ông Dutheil thì mình làm thiền đường. Bên hông nhà lớn, ông Dutheil có làm một nhà khách (gîte) cho khách thập phương tới mướn. Nhà khách có nhà bếp, có phòng ngủ và phía trên có một cái gác làm phòng làm việc. Mình để quý thầy ở và làm việc ở đó. Mình sửa ngôi nhà chính thành nhiều phòng ngủ cho quý thầy ở. Sau nhà có một khu vệ sinh và một nhà bếp khá lớn. Nhiều thiền sinh cắm lều trong khu rừng xung quanh Sơn Hạ. Bây giờ chùa Pháp Vân phía trên Xóm Thượng được gọi là Sơn Thượng và chùa phía dưới Fontagnane thì gọi là Sơn Hạ.

Xóm Tây Hồ – nông trại hạnh phúc (Happy Farm)

Sau đó có anh Pritam, anh có tiền nên nhờ mình mua giùm một căn nhà bao nhiêu cũng được, anh muốn có nhà ở sát Thầy. Có một căn nhà người ta muốn bán 437 ngàn Euro. Tuy là nhà không tới giá đó, nhưng anh cũng muốn mua. Tới giờ chót anh không đưa tiền, nói mình đưa tiền trước rồi anh trả lại sau. Mình đưa tiền thì Giáo hội đứng tên chứ không phải anh. Như vậy thì kể như là mình mua luôn và đặt tên là xóm Tây Hồ. Sở dĩ mình đặt tên là Tây Hồ tại vì nó cũng nằm ở hướng tây và có một cái hồ rất dễ thương. Mình chỉ thả có vài củ sen xuống hồ mà hai năm sau sen trắng mọc đầy hồ rất đẹp.

Ở đó đường đi không dễ nên mình làm xóm Tây Hồ ra thành Happy Farm, tức là một nông trại trồng rau hạnh phúc, không có xịt rầy, xịt sâu, xịt chất hoá học. Happy Farm cũng rất thành công, trong đó có một anh chàng rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Anh đàn violon solo, người ta nói người đàn violon solo phải rất tài ba. Anh bị trầm cảm nên qua làm việc ở Happy Farm. Không ai biết là anh nổi tiếng. Anh cứ trồng trọt và quý trọng từng nắm đất, từng bụi cây, không dùng thuốc trừ sâu rầy, không dùng chất hoá học. Một năm sau thì anh hết bệnh và về Mỹ. Mình nhớ vào ngày Tết, lúc các sư cô ngâm Kiều thì anh người Mỹ này đàn vĩ cầm hoà theo tiếng ngâm thơ của Việt Nam rất hay.

Lúc sau Thầy đề nghị người Việt thì bói Kiều, người Anh thì bói Shakespeare và người Pháp thì bói thơ của Victor Hugo. Một cô người Tây phương ngâm hai câu của Shakespeare thì anh này cũng đàn theo rất là hay. Đó là từ Happy Farm mà mình có những văn nghệ sĩ tài ba.

Xóm Mới

Cuối năm 1995, vì người tới đông quá nên mình cho xây một thiền đường sườn sắt nóc bằng tôn. Đó là thiền đường Cam Lộ ở Xóm Hạ. Làm xong mình mời Uỷ ban An ninh Hoả hoạn tới thăm. Xem xong họ nói:

“Trời ơi, chỗ này mà đón khách đông như vậy hả? Phải đóng cửa!”

Mình phải đóng cửa Làng Mai liền tức khắc. Mình sợ quá, đã tháng Tư rồi mà mùa hè năm ấy không cho người tới thì tội nghiệp quá. Chân Không nhớ hồi chiến tranh Việt Nam, có lần Chân Không đại diện Giáo hội lên gặp ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao, có khi cũng gặp ông thủ tướng trong những buổi tiếp tân của nhà nước Pháp cho nên ông cũng hơi biết Chân Không là ai. Lúc đó Chân Không còn trẻ, mặc áo dài trắng rất hiền lành trong đám quan khách mặc toàn đồ Tây nên ông cũng dễ nhớ. Ông tên là Jacques Chaban Delmas, ông cũng có lúc làm thủ tướng. Chân Không viết cho ông một lá thơ, nhắc lại: “Lúc đó hồi chiến tranh Việt Nam tôi có gặp ông. Bây giờ chúng tôi thành lập một trung tâm tu học ở đây mà sao nhà nước bắt đóng cửa?” Ông điều tra và cho biết tại vì mình không biết luật lệ là muốn tiếp khách ngoài thì trung tâm phải có đúng tiêu chuẩn an ninh cho mọi người. Các phòng phải có cửa sổ lớn để có thể nhảy ra khi có hoả hoạn. Cư xá Đồi Mận chỉ có mấy viên gạch dính nhau nên phải tráng xi măng lại… Trong khi chờ đợi được cho mở cửa thì mình phải sửa cả năm trời. Lúc đó là tháng Tư mà tới tháng Bảy là mình phải tiếp khách. Người ta đã ghi tên hai, ba trăm người rồi. Năm thứ nhất, mùa hè 1983, chỉ có một trăm người. Năm thứ nhì, mùa hè năm 1984, mình có hai, ba trăm người. Mùa hè năm 1985 thì có hơn ba trăm người. Lúc đó là năm 1996 thì số người nhiều hơn nữa. Mình sợ quá nên đi tìm một chỗ có thể tiếp nhận được khách thập phương tức là phải có nhà tắm, nhà vệ sinh đàng hoàng. Hay nhất là mình hỏi mua các khách sạn có quán ăn nhưng những chỗ như vậy thì mình không có đủ tiền.

Mua Xóm Mới

Xóm Mới là cứu tinh của mình. Năm đó Xóm Hạ và Xóm Thượng bị đóng cửa. Nhờ cầu cứu với mấy ông lớn nên họ cho mình sửa lại nhưng tạm thời mình không được mở cửa nhận khách vì lý do an toàn.

Lúc đó mình tìm mua được Xóm Mới ở Dieulivol. Nhiều nông dân bỏ nhà quê lên thành phố nên nhà nước mua lại mấy cơ sở còn hơi tốt của họ. Trong hai, ba năm gần đây mình có một số Phật tử Tây phương thương mình nên người thì cho 20.000-30.000USD, người thì cho 70.000USD. Cuối cùng thì mình cũng có được 800.000USD. Mình đi tìm nhiều chỗ và sau cùng mình tìm được một chỗ giá 800.000€. Mình xin bớt 100.000€ để sửa chữa. Ông chịu và mình mua một trung tâm mới, đó là Xóm Mới ở vùng có tên là Dieulivol. Mình mua chỗ này, mình chỉ sửa ít thôi vì nó có đủ tiêu chuẩn công cộng như nhà vệ sinh, nhà tắm… Xóm Mới là trung tâm cứu vớt hai trung tâm kia tại vì họ bắt đóng cửa Xóm thượng và Xóm Hạ. Nhờ có trung tâm Xóm Mới mà Làng Mai vẫn mở cửa. Chính thức là mình về Xóm Mới nhưng bán chính thức thì mình vẫn ở Xóm Hạ và Xóm Thượng.

Những cơ sở của Xóm Mới

Tiểu sử nhà Xóm Mới này cũng đáng để nhắc tới: vì tình trạng người trẻ từ từ bỏ xóm làng lên thành thị sống nên ông xã trưởng và cũng là tỉnh trưởng xin phép nhà nước cung cấp cho vùng này một ngôi nhà để làm trung tâm giải trí cho người trẻ và vận động người trẻ ở lại. Nhà nước đã mua căn nhà này với giá cao nhưng người trẻ vẫn không ở lại nên họ bị lỗ, phá sản, phải bán đấu giá…., nhờ vậy mà mình mua được ngôi nhà này ở ngay mặt đường. Gọi là Xóm Mới vì mới mua sau này chứ nhà đã bỏ hoang mười năm và chỉ có một ngôi nhà chứ không có nhiều cụm nhà nhưng mình vẫn gọi là Xóm cho giống hai xóm kia. Dieu là Thượng đế và livol có nghĩa là muốn, Dieulivol có nghĩa là ý Thượng đế muốn mình về đây làm trung tâm để phát triển pháp môn này trên khắp nước Pháp, tên chữ Thầy đặt là Thiên Ý thôn.

Vì là trung tâm giải trí nên họ xây một nhà khiêu vũ từ một nhà chứa rơm. Sau khi mua Xóm Mới thì mình biến nhà khiêu vũ thành thiền đường. Sau này xây thiền đường mới mình gọi chỗ này là Phật đường. Tường của nhà chứa rơm rất dày với nhiều đá. Mình khoét hang trong tường đá để đặt tượng Bụt rồi cho dây leo bám vào ghềnh đá nên Bụt ngồi thiền trong hang đá có lá xanh leo quanh rất trang nhã. Trên vách đá là hai bức hoành có chữ Thầy viết:

Bên mặt là câu: Trên đài sen trắng Như Lai hiện.

Bên trái là câu: Trong rừng trúc tím Quán Âm ngồi.

Vào Phật đường mình chỉ thấy Bụt ngồi trong động đá. Hai bên động đá là hai câu liễn Thầy viết chữ đơn sơ khiến tâm ai cũng lắng đọng. Sàn thiền đường lót thảm tím rất tĩnh lặng đậm đà thiền vị, gối và nệm ngồi thiền cũng bọc bằng vải tím. Thầy chọn màu tím cho Phật đường vì ở Phật đường có thờ một tượng Quan Thế Âm, Thầy nói rừng trúc tím là chỗ ở của ngài Quan Âm và ngày xưa vua chỉ ban y màu tím cho các vị cao tăng. Sau đó Xóm Hạ chọn màu xanh dương đậm và Xóm Thượng chọn màu nâu cho bồ đoàn toạ cụ của xóm mình.

Hai bên thiền đường là hai căn nhà đã sụp đổ chỉ còn bức tường và cái nền. Một bên mình sửa thành chỗ ở cho các sư cô gọi là khu Phật đường, gồm năm phòng bên trên, ba phòng bên dưới và khu vệ sinh. Một bên mình xây lại thành sáu phòng để làm văn phòng, phòng vi tính, phòng chứa băng đĩa, phòng cho tôn túc và phòng vệ sinh, trên lầu là một thiền đường nhỏ tên Mây Thong Dong. Tuy nhiên bây giờ phía bên này đã được sửa chữa lại thành văn phòng và quán sách, còn thiền đường Mây Thong Dong được dùng để làm phòng triển lãm sách và pháp khí của Thầy.

Tại nhà chính, các phòng trong nhà khách có vẽ tranh cổ vào thế kỷ 17 – 18, tường sơn màu nhạt, khắc hình rất đẹp. Mình dùng làm phòng ăn, phòng tiếp khách, phòng sinh hoạt cho cư sĩ. Phía trong có một dãy phòng, mình làm một phòng cho sư cô Chân Không, một phòng cho sư cô Bảo Nghiêm và phòng bên trên ngày xưa dùng làm thư viện, sau đông người nên để cho tám sư em ở, có nhà tắm, nhà vệ sinh. Bên kia cầu thang là phòng của Thầy, kế đó là phòng của sư cô Định Nghiêm, sư cô Tuệ Nghiêm và ba sư em. Trên lầu phía bên Thầy là phòng sư cô trụ trì Trung Chính với sư cô Thoại Nghiêm.

Cổng đi vô rất đàng hoàng dù đã cũ kỹ. Từ cổng vô bên tay trái có một dãy nhà dành cho cư sĩ, gồm có năm phòng ở trên lầu và ba phòng ở dưới. Phòng thứ ba là một khu nhà vệ sinh, tầng trên cũng có một khu nhà vệ sinh và nhà tắm. Sau khu vệ sinh là nhà kho có bốn, năm tủ đông đá để chứa thức ăn. Bây giờ thì dãy nhà này cũng là chỗ ở của các sư cô tên gọi là khu Rừng Cây. Bên tay mặt có một nhà lớn, trên lầu chia thành nhiều phòng nhỏ dành cho khách, bên dưới là một nhà nghỉ ngơi cho quý thầy để ngày quán niệm thì các thầy có không gian riêng. Hai phòng nhỏ kế đó được dùng làm phòng ở cho các em tập sự và phòng may. Xóm Mới có phòng nha do chị Thục Quyên giúp trang bị máy móc và anh nha sĩ Hiền ở Bordeaux chăm sóc, làm răng cho các thầy, các sư cô của mấy xóm. Kế đó là phòng lạnh chứa thức ăn cho bếp rồi tới nhà bếp. Nhà bếp cũng khá rộng, nhưng bây giờ người tới đông quá nên nhà nước chê nhà bếp Xóm Mới không đúng

tiêu chuẩn. Ban An toàn Vệ sinh Thực phẩm những nơi đón khách công cộng bắt phải xây lại hết khu bếp núc. Nguyên cái khu nhà bếp, phòng nha sĩ, phòng may, phòng tập sự và phòng dành cho quý thầy đều bị đập đi và xây lại vì phải có nhà bếp lớn đúng tiêu chuẩn. Phía trên lầu được sửa lại thành phòng may, phòng phơi đồ và một phòng trống để sinh hoạt. Khoảng sân giữa ba dãy nhà này gọi là Sân Chim vì các phòng hồi đó được đặt tên các loài chim, đã được các sư cô tự lót đá theo kiểu những con đường cổ ở châu Âu nên khá dễ thương, các sư cô rất thích tụ họp ở đó.

Phía sau đất của Xóm Mới, ngày xưa vì muốn kéo người trẻ ở lại không bỏ lên thành phố nên nhà nước mở một cái quán bán rượu. Mình biến quán bán rượu xưa của họ thành quán bán sách, bán thư pháp của Thầy. Bây giờ mình đổi thành văn phòng làm việc của các sư cô, và dời quán sách về bên trái Phật đường.

Phía sau toàn bộ khu nhà chính này là đất trống, khi mình mới dọn về thì cỏ mọc ngút đầu. Sau đó mình xây một thiền đường đơn giản có sức chứa bốn trăm người gọi là thiền đường Trăng Rằm. Đây là thiền đường nhỏ nhất trong ba xóm nên mỗi khi Thầy giảng pháp ở đây vào mùa hè, tất cả những người nghe thông dịch qua tiếng khác đều phải ngồi ngoài thành từng nhóm trong khi người Việt (là nhóm đông nhất cần thông dịch) thì ngồi hẳn trong Phật đường.

Nếu trong Xóm Mới Trung Ương nhìn ra đường xuyên quận, thì sát bên tay mặt của Xóm Mới Trung Ương có một ngôi nhà của hai vợ chồng già đã mất nên con trai họ bán rẻ cho mình. Mình mua ngôi nhà và đặt tên là nhà Hoa Hồng (Les Roseraies), dùng để người trong gia đình các sư cô tới ở vì không đủ tiêu chuẩn nhận khách. Phía sau Les Roseraies là nhà của một ông nha sĩ người Anh về hưu rất khó chịu, ông bán nhà đó cho mình, mình mua và đặt tên là nhà Hoa Mai (Les Pruniers), sẽ tu sửa lại thành thư viện và phòng dưỡng bệnh. Kế bên Les Roseraies có một ngôi nhà lớn cho thuê, bây giờ người thuê dọn đi nên họ bán cho mình. Ngôi nhà này chung một chủ với cái đồi trồng toàn mận nên Xóm Mới có một đồi mận y như ở Xóm Hạ. Họ bán cho mình 6 mẫu trồng mận, 3 mẫu đất và mấy căn nhà cũ. Khu nhà này và nhà Les Pruniers, mình sẽ làm thành ni xá. Qua khỏi nhà có vườn mận là nhà Giếng Thơm (Les Puits) dành cho khách ở. Tiếp đó là một dãy đất mình đã mua rồi nhưng chưa xây cất, có hai cô thiền sinh là Michelle và Martine mua hai miếng đất kế bên, rồi em Hương ở Paris mua một miếng đất kế đến rồi mình mua thêm một miếng đất sát cạnh nữa. Vậy là nguyên khu đất đó là của mình, em Hương, cô Michelle và cô Martine. Sau con đường dẫn đi Dieulivol là tới Xóm Mới Lưng Đồi, nhà ở lưng chừng đồi và có khoảng mười hai phòng hạng sang tức phòng cho hai người, mỗi phòng đều có nhà vệ sinh.

Như vậy, từ Duras đi tới thì đầu tiên là nhà Đầu Thôn, một căn nhà hai tầng mà bỏ hoang nên mình mua đấu giá khi toà án phát mại, không có nhiều đất chung quanh. Mình sửa nhà lại thành nhiều phòng ngủ để cho thiền sinh ở. Đi chừng 300 thước nữa là Xóm Mới, nhà chính gồm có các cơ sở sinh hoạt và chỗ ở các sư cô như đã kể trên. Bên kia đường là miếng đất mình mua để làm chỗ đậu xe, có hai hàng tùng lọng và một nhà kiếng để trồng rau sạch. Sau đó là nhà Hoa Mai, nhà Hoa Hồng, nhà mà chủ có vườn mận (mình chưa đặt tên), nhà Giếng Thơm, đất của em Hương, đất kế nhà hai cô cư sĩ Pháp Michelle, Martine rồi tới nhà Lưng Đồi.

Như vậy thì Xóm Mới sắp giống một cái xóm thiệt vì có nhiều nóc nhà rồi.

Xóm Trung

Xóm Trung có tên gọi như vậy vì ở giữa Xóm Thượng và Xóm Hạ, cách Xóm Thượng một cây số và Xóm Hạ hai cây số. Nhà Xóm Trung là của hai ông bà khá giả, bên trong xây bằng gỗ hai tầng theo kiểu nhà đại gia khá đẹp. Nhưng nó đã cũ nên họ bán có 100 ngàn đô. Chị của sư cô Định Nghiêm hứa cho, nói muốn cúng dường 100.000USD. Thầy không chịu, không muốn mất sư cô Định Nghiêm tại vì người đi tu mà có gia đình giàu cúng dường 1, 2 trăm ngàn đô thì người đó sẽ sinh ra ỷ lại. Sư cô Định Nghiêm đi tu với hai tay không, chị sư cô có giàu thì là của chị thôi. Đi tu với hai tay không thì tu mới bền. Nhưng Chân Không cũng mua được Xóm Trung với giá ít hơn một trăm ngàn đô, nhờ bà chủ nhà Marniès chịu bớt 30 ngàn francs cho con nít đói vào năm 1998.

Nhà chính của Xóm Trung là ngôi nhà cổ có lầu, mình sửa lại tầng dưới thành bếp, ba phòng ngủ và thiền đường. Trong thiền đường Bụt cũng ngồi trong hang đá. Xóm có con suối băng qua bên dưới chân đồi là chỗ để cắm 100 lều.

Xóm Trung vào mùa hè được dành cho người Việt vì sau này ở Làng, người Việt ngày càng ít và người Tây phương ngày càng đông. Một mùa Hè có khoảng 100 – 150 người Việt, trong khi người Tây phương thì lên tới 300 – 1000 mỗi tuần. Thầy nói, khi ngồi giảng nhìn xuống thấy mặt người Tây phương thì Thầy thuyết pháp bằng tiếng Việt không được. Nên từ đó khi sắp chỗ ở, mình xếp tất cả thiền sinh người Việt về ở chung Xóm Trung, các thầy sư cô Việt Nam tu rất giỏi nhưng nói ngoại ngữ chưa giỏi đều về Xóm Trung chăm sóc đồng bào.

Nhà ở Xóm Trung không đúng tiêu chuẩn nên chỉ được để cho mấy thầy mấy sư cô ở tạm. Không biết mình có đủ tài chính để xây một căn nhà đàng hoàng ở Xóm Trung hay không? Mình phải cất một nhà bếp đúng tiêu chuẩn tại vì nếu có ai bị ngộ độc thì mình sẽ gặp rắc rối to. Hiện giờ Xóm Trung bị đóng cửa, gần như bỏ hoang vì mình chưa có đủ điều kiện để sửa sang cho đúng luật để nhận khách.

Nhà Nắng Thuỷ Tinh (gần Xóm Trung)

Ông Dutheil ở dưới Xóm Thượng bán cho mình khu rừng và ngôi nhà của ông ở Sơn Hạ rồi thì ông về xây một ngôi nhà song song với Xóm Trung ở bên kia đường. Ông ở được hai năm thì bị bệnh và mất năm 2012. Bà vợ lại năn nỉ mình mua giùm ngôi nhà mới cất. Bà nói căn nhà quá lớn, bà không thể ở một mình và muốn dọn về ở gần con gái tại quận Sigoules, cách đó 5 cây số. Căn nhà quá tốt, sơn thuần màu trắng nên mình đặt tên là nhà Nắng Thuỷ Tinh, trong đó có nhà vệ sinh, nhà tắm rất sang trọng. Hiện tại nhà Nắng Thuỷ Tinh thuộc sự chăm sóc của Xóm Hạ và là chỗ ở cho thiền sinh nữ khi nào Xóm Hạ không đủ chỗ nhận khách.

Như vậy thì mình có:

  1. Xóm Thượng (lieudit Le Pey Thénac).

Xóm Thượng hay Sơn Thượng Lieudit là địa chỉ nhưng ở nhà quê người ta không có tên đường chỉ gọi lieudit tức là một cụm nhà. Tên chữ của Xóm Thượng là Thệ Nhật sơn, Pháp Vân tự.

  1. Sơn Hạ (lieudit Fontagnanes, Thénac)
  2. Xóm Đoài (lieudit Les Combes, Thénac )
  3. Xóm Tây Hồ (lieudit Ramefort, Thenac), sau này thành nông trại Hạnh Phúc (Happy Farm)
  4. Xóm Hạ (lieudit Meyrac, làng Loubès-Bernac). Tên chữ của Xóm Hạ là Mai Hoa thôn, Cam Lộ tự.
  5. Xóm Trung (lieudit Cabane, Thenac ).
  6. Nhà Nắng Thuỷ Tinh thuộc Xóm Trung dành cho người Việt.
  7. Xóm Mới (Lieudit 13 Martineau, làng Dieulivol, tỉnh Gironde), tên chữ là Thiên Ý thôn, Từ Nghiêm tự.

Tại sao có tên là Làng Mai?

Ý đầu tiên của Thầy là lập một làng tu học có tên là Làng Hồng. “Hồng” ở đây không phải là bông hồng (rose) mà là trái hồng (persimon, arbre de kaki hay plaquementier). Lúc đầu Thầy định lập Làng Hồng ở Việt Nam. Trái hồng thường dùng trong đám cưới ở Việt Nam bán rất đắt tiền, như vậy thì mình sẽ có tiền để làm công tác xã hội. Nhưng sau 1975 thì các thầy và các sư cô không còn hoạt động được nữa. Ở Sóc Trăng, Cần Thơ có 12 thầy tự thiêu. Tình hình không thuận lợi ở Việt Nam nên Thầy quyết định lập Làng Hồng ở Pháp.

Lúc đó có một anh tác viên xã hội tên là Lê Nguyên Thiều rời khỏi Việt Nam. Mình năn nỉ anh sang Pháp định cư để lập Làng Hồng ở Pháp. Lúc đó cộng đồng người Việt ở Pháp chia hai, một bên thân Cộng sản và một bên chống Cộng sản. Bên chống Cộng sản nói Hồng là màu đỏ nên Làng Hồng là thân Cộng sản.

Mình chỉ nghĩ hồng là trái hồng. Khi tìm được đất thì người ta cho biết vùng đó có thể trồng được trái hồng. Mùa đông cây rụng lá, nhưng trên cây còn trái màu hồng kéo dài tới giữa mùa đông mới rụng hết. Người dân trong vùng nói, trái hồng bán thì không ai mua, người Pháp trồng hồng để mùa đông vẫn còn những cây sây trái màu cam cho đẹp vườn nhà. Còn nếu muốn trồng trái để có thể bán được thì không nên trồng hồng mà phải trồng mận. Thầy nói mận cũng có tên là mai theo chữ Hán – Việt. Trái mận nhỏ người ta gọi là ô mai. Vì vậy những năm đầu Làng có tên là Làng Hồng nhưng sau đó trung tâm có tên là Làng Mận hay Làng Mai. Làng Mai thì nghe có vẻ thi ca hơn. Mỗi cây mận con chỉ có 10 Francs cho nên mấy em nhỏ Việt Nam về Làng mỗi mùa hè góp nhặt tiền túi gửi cho sư cô Chân Không 15 Francs để trồng một cây hay 150 Francs trồng mười cây. Bốn, năm năm sau thì cây có trái và mình lấy tiền bán trái để cho con nít đói ở Việt Nam. Chương trình dạy của Thầy lúc nào cũng đi vào thực tế. Thầy dạy giáo lý rồi giúp người cởi bỏ những tri giác sai lầm, sống chung an lạc. Nhưng có thực mới vực được đạo tức là con nít nhà nghèo phải có cơm ăn nên mình cho nó có bữa cơm trưa.

Ngày xưa Phật đi giảng có tăng đoàn gồm 1.250 thầy nên mình cũng trồng 1.250 cây mận. Đất mình mua chuyên trồng nho. Mình nhổ hết nho tại vì mình không muốn làm rượu và trồng năm mẫu mận. Mỗi mẫu trồng được 250 cây mận, năm mẫu là 1.250 cây. Mùa xuân 1.250 cây mai cùng nở một lần trắng xoá rất đẹp. Thầy dạy chúng ta sống trong chánh niệm tức sống trong giây phút hiện tại, trân quý cái đẹp ngay bây giờ nên mình có hội Hoa Thuỷ Tiên và hội Hoa Mai. Vào mùa xuân, tháng Ba hoa thuỷ tiên trổ lên tưng bừng từ đất đá nên Thầy làm lễ hội Hoa Thuỷ Tiên để mời nhạc sĩ, ca sĩ về hát ca với hoa và ăn cơm trong chánh niệm. Giữa tháng Tư Thầy làm lễ hội Hoa Mai, cũng mời các bạn ở các thành phố gần đến ăn mừng ca hát với hoa mai nở trắng xoá nhiều cánh đồi.

Vùng này trái mận (mai) rất ngọt nên mình đem sấy khô trái mận đem bán. Tiền bán mận mình cho trẻ em đói. Mình lo cho tâm linh nhưng cũng đi vào thực tiễn. Trong chiến tranh mình đã giúp con nít mồ côi mất cha mẹ trong chiến tranh. Bây giờ mình giúp con nít mà cha đi học tập cải tạo, mẹ bệnh tật. Chân Không xin phép Thầy lên Sứ quán nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhờ họ chuyển tiền về Việt Nam và hứa sẽ lạc quyên cho trẻ em mồ côi ở cả miền Nam lẫn miền Bắc và nhất là trẻ em mồ côi những vùng nào mà chính quyền đề nghị, vì mình muốn giúp người khổ thôi, không phân biệt bên này hay bên kia. Con nít mới năm tuổi mất cha mẹ thì nó khổ thôi chứ không biết cha mẹ bên Quốc gia hay bên Cộng sản. Chương trình giúp trẻ em mình vẫn tiếp tục. Trong suốt chiến tranh mình giúp trẻ em mồ côi chiến tranh thì bây giờ cũng vậy. Trước khi đi Chân Không cũng đem cả ngàn phiếu tên các cháu mồ côi và tên người đỡ đầu tại Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ… để họ có thể kiểm soát, ví dụ như xem lại có phải bà ở Pháp tên Marthe De Venoge đã gởi 25F (5USD) cho bé này không, hay ông Bartolemi, người Ý có phải đã cho mỗi tháng tương đương số tiền 5USD cho cháu Nguyễn Văn B ở tỉnh Đồng Nai làng đó xã đó không…? Như vậy nhà nước có thể nhận mỗi ba tháng 150 ngàn USD mà biết đó không phải tiền của tình báo Mỹ. Hành động hợp tác này bị thất bại vì gửi về tấm séc 150.000USD thì nhà nước đã rút ra hết 150.000 Mỹ kim nhưng Hoà thượng Trí Thủ đại diện cho chương trình không hề nhận được đồng nào dù là tiền Mỹ hay tiền Việt Nam.

Trong thời gian đi dạy ở Sorbonne, Thầy cũng có một ít tiền. Khi muốn lập Làng mình nghĩ là mình không có tiền để mua đất. Nhưng như đã kể trên, mình nghe nói nông nghiệp bây giờ sử dụng máy móc nhiều nên nông dân nghèo không sống nổi, vì vậy có những nơi nông dân bán đất rất rẻ để lên thành phố. Họ bán đất giá chỉ 1 Franc một mét vuông. Mình về đó tìm mua cho rẻ tại vì thầy trò không có đủ tiền. Đất miền quê đã rẻ, nhưng nếu mua đất để làm nông thì mình còn được mua rẻ hơn nữa. Thầy đề nghị với anh Lê Nguyên Thiều về làm ông từ đứng tên giùm mua đất cho Làng nhưng đồng thời anh cũng khai thác, trồng trọt. Tiền lời bán nếu làm nông dân không đủ tiền thì với tiền Thầy đi dạy và tiền Phật tử cúng dường mình cũng có thể giúp anh mỗi tháng số tiền bằng lương tối thiểu của một công dân Pháp (SMIC), lúc đó là 2000 Francs. Có những anh tình nguyện làm việc với Chân Không để giúp cho trẻ em chiến tranh như anh Pierre Marchand nhưng bây giờ ra lập hội mới (Partage avec les enfants du monde) thì cũng lãnh lương SMIC tức lương của một thư ký nghèo nhất dù cho anh là giám đốc. Mình cũng cho anh Thiều lương nghèo nhất, nhưng công chuyện thì mình làm chung. Ngoài ra, nếu vợ anh có thiếu gì hay vợ anh sinh con thì cũng dùng tiền làm chung.