Phương Vân Am

Hồi Thầy đi dạy ở Đại học Sorbonne, để có phương tiện lưu trú tại Pháp thì tuy đã có tiến sĩ đệ tam cấp về sinh học rồi nhưng Chân Không vẫn ghi tên học về Phật học ở Sorbonne, làm luận án tiến sĩ về Phật học với Thầy để có thẻ sinh viên ở lại Pháp. Chân Không thẳng thắn từ chối làm việc nghiên cứu về rong nước ngọt và phụ dạy về rong nước ngọt vùng Á Châu với Giáo sư Bourrelly ở Đại học Jussieu, Paris. Mục đích Chân Không sang Pháp là để giúp Thầy và Phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại Hoà đàm Paris, thông tin về sự tàn phá của chiến tranh trên đất nước Việt Nam, kêu gọi ngưng chiến chứ Chân Không không phải muốn được dạy ở Đại học Paris. Chân Không muốn xin cái thẻ sinh viên làm luận án Tiến sĩ Phật học là để có thẻ lưu trú mỗi năm ở Pháp mà không phải ngồi chầu chực mỗi tháng ở Préfecture như khi chưa có chỗ đứng chắc chắn trên xứ Pháp. Và Thầy mà làm người đỡ đầu luận án Tiến sĩ Phật học thì… thế nào cũng tha thứ cho trò không viết luận văn.

Nơi Thầy dạy là Văn phòng Phái đoàn Phật giáo Việt Nam đông và ồn quá. Thầy cần có một cái thất nho nhỏ ở nhà quê để cuối tuần Thầy có thể rời Paris về đó tĩnh tu nghỉ dưỡng, đi thiền hành và trồng trọt vài thực phẩm mình thích như ngò, cải bẹ xanh, cải tần xại làm dưa, trồng đậu, trồng cà… Người ta nói ở miền Nam nước Pháp thì trồng được khổ qua, bầu, bí như ở Việt Nam được. Ở Phương Vân am, khu nhà nhỏ Thầy vừa mua ở vùng quê cũng trồng được tía tô, kinh giới, nhưng khi trời lạnh thì mình phải đem vô nhà. Và khi Sài Gòn thuộc về miền Bắc tháng 4 năm 1975, Thầy không còn kêu gọi hoà bình nữa nên đóng cửa Văn phòng Phái đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mà Thầy là Chủ tịch ở Paris và dời về Phương Vân am. Phương Vân am chỉ một ngôi nhà đá cũ nát với ba ngàn thước vuông và cách Paris khoảng 180 cây số.

Năm 1976, sau khi đi cứu trợ thuyền nhân trên vịnh Xiêm La đưa đến kết quả là gây được sự chú ý của thế giới về thuyền nhân chết rất nhiều trên vịnh Xiêm La thì mình nghe tin vui là Chính phủ Pháp làm chiếc tàu lớn tên Iles de Lumière cứu người trên biển, nước Đức cho ra đời chiếc tàu vớt người tên Cap Anamur. Thầy chúng ta đưa Phái đoàn Hoà bình Giáo hội PGVN Thống nhất về định cư luôn ở Phương Vân am, chỗ tĩnh tu cuối tuần của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam Thống Nhất hồi trước.

Phương Vân am là tên Việt Nam, chỗ tĩnh tu của Thầy chúng ta, thầy Thích Nhất Hạnh, nhưng để cho các bạn ngoại quốc tri kỷ dễ nhớ, Thầy còn cho tên thứ hai là Les Patates Douces. Địa chỉ của Phương Vân am là: 10190 Fontvannes, thuộc tỉnh Aube, nằm về phía đông nam cách Paris 178 cây số.

Chú Thanh Hương, vì làm luận án cao học về thiền sư Huyền Quang, nên đã phải ở lại Paris với anh Cao Thái, em Nghiêm Hữu Lợi và Nghiêm Thị Kim Thoa. Anh Sáu Cao Thái vốn sinh sống bằng nghề đại diện cho hãng bán nữ trang thượng hạng cho nữ lưu sang trọng Pháp nên phải lái xe đi hết tỉnh này sang tỉnh khác để quảng cáo hàng cho hãng nữ trang. Vì thế anh có hai nơi trú ngụ: Phương Vân am, 10190 Fontvannes và 69 Bvd Desgrange, 92330 Sceaux tức địa chỉ của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại Paris.

Ngày trước tháng 5 năm 1975, Văn phòng Phái đoàn Phật giáo Việt Nam Thống Nhất mướn đến 2 appartements ở cùng số nhà ấy nhưng sau tháng 5 năm 1975 thì chỉ còn anh Cao Thái, chú Thanh Hương cùng các em Thoa, Lợi nên chỉ giữ một căn do anh Cao Thái trả tiền thuê cho cả bốn người vì sau 1975, Thanh Hương, Thoa, Lợi không còn nhận được tiền bố mẹ gửi từ Việt Nam nên cũng nhờ anh Cao Thái lo cho chung.

Cuối năm 1979 chị Bảy Cao Ngọc Điệp cùng các cháu Lâm, Thuý, Phương vượt biên và được ở với anh Cao Thái và chú Thanh Hương. Khi văn phòng này dời về 7 rue du 8 Mai 1945, thị xã 92340 Bourg la Reine thì chú Thanh Hương phát hành sách Lá Bối. Địa chỉ này cũng là địa chỉ chính thức của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam để lắng nghe tiếng kêu cứu của thuyền nhân. Từ địa chỉ này Thầy gửi thư an ủi, gửi sách Anh – Việt, Pháp – Việt cho thuyền nhân sử dụng. Những cuốn sách đầu tiên của thầy Nhất Hạnh được in và tái bản tại Tây phương, có thể mua ở 7 rue du 8 Mai 1945, thị xã 92340 Bourg la Reine là những quyển sách như Phép lạ của sự tỉnh thức, Trái tim mặt trời, Thiền hành yếu chỉ, Việt Nam Phật giáo sử luận

Hội Fellowship của Jim Forest tặng cho mình cái máy đánh chữ Varitype. Chữ đánh máy nhưng nét giống y như chữ sắp từng chữ một của máy typo in tiếng Việt ngày xưa ở Việt Nam. Chữ nét thanh mỏng như chữ sách in, chỉ không có dấu Việt Nam. Thầy chúng ta đã dùng ngòi bút rất thanh, mỏng của hoạ sĩ để ngồi bỏ dấu ă, â, ê, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng rất chuyên nghiệp để sách in đẹp như sách in chứ không như chữ đánh máy bỏ dấu tay như những sách in bằng tiếng Việt ở thời gian đó. Những cuốn sách tiếng Việt in đầu tiên tại Phương Vân am là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức, Trái tim mặt trời, Thiền hành yếu chỉ Kinh người biết sống một mình, và nhất là ba quyển Việt Nam Phật giáo sử luận. Lúc đó Chân Không đã có máy photocopy thu chữ nhỏ lại và gửi cho sư bà Phước Hiển, sư bà Thể Thanh, sư bà Hải Triều Âm và sư cô Trí Hải. Mãi lâu sau Chân Không mới biết sư bà Hải Triều Âm đã dùng quyển Trái tim mặt trời làm sách giáo khoa cho các sư cô trẻ dưới sự chỉ dạy của sư bà. Thầy chúng ta rất vui khi nghe tin ấy. Sư cô Trí Hải thì nói, mới nhận được bức thư dày trong đó có quyển Thiền hành yếu chỉ mà cô Chân Không gửi qua bưu điện như một bức thư. Nhờ đọc xong và sau đó khi bị vào tù, sư cô đã tập đi thiền hành trong nhà tù chật chội chừng 2m x 2m mà sư cô đi thảnh thơi, khoẻ nhẹ trong thời gian ở trong tù. Vì vậy cho nên mỗi lần được mời đi phỏng vấn như đi hỏi cung, lúc nào sư cô cũng đi thảnh thơi, nhẹ nhàng và mỉm cười luôn nên các cai ngục nể nang sư cô lắm. Làm việc xong họ còn tặng cam quýt cho sư cô chứ không phải hầm hầm nét mặt như sắp tra tấn.

Song song với công việc in sách tu học Thầy còn làm nhiều quyển sách tập học tiếng Việt – Pháp, Việt – Anh để giúp thuyền nhân ở các trại tị nạn.

Từ từ các độc giả của những quyển sách ký tên Nhất Hạnh xưa nay đã dần dà tìm cách liên lạc qua thư từ với tác giả rồi tìm về tu học ở am Phương Vân. Am chỉ là khu đất 3000 mét vuông do Thầy mua năm 1970 khi đang dạy ở Đại học Paris Sorbonne. Đó là một ngôi nhà bằng đá 7m x 7m với lò sưởi củi, dành làm am đá của Thầy. Trong am đá có giường ngủ, bàn viết lách và một máy in Gethstetner chỉ in nổi chừng 500 đến 1000 copies thôi. Máy vốn là của Văn phòng Phái đoàn ngày xưa. Trong am đá này còn có một lavabo và một bi-đê. Đâu mặt vách với am đá là căn nhà gạch có được lò sưởi to khá đẹp. Thầy cho lắp sàn gỗ 40cm bề cao để ngồi thiền trực tiếp trên sàn thiền đường, có lót moquette thảm. Sau thiền đường là một phòng ngủ nữ nhưng chia làm hai tầng nâu cách nhau 50cm bề cao. Tầng trên khoảng 2,50m x 5m dành cho má của Chân Không và Chân Không ngủ. Tầng thấp hơn cũng khoảng 2,50m x 5m là nơi Chân Không làm việc. Cô Bùi Hương ngủ ngoài thiền đường với cô Hằng và cháu Minh Tâm. Cháu Minh Tâm là con của cô Nguyễn Thị Hằng và nhạc sĩ Trần Quang Hải, cháu nội học giả Trần Văn Khê. Vì cha mẹ ly dị nhau nên cháu Minh Tâm ở với mẹ Hằng, cô Bùi Thị Hương và cô Chín Chân Không.

Năm 1979 cô Bùi Thị Hương và Hằng dẫn cháu Minh Tâm về miền Nam nước Pháp học cách sống tự túc theo Tây phương ở Communauté de L’Arche của Lanza Del Vasto. Hương gặp người bạn đời người Pháp và sống với ông cho đến ngày ông chết thì Hương trở về Việt Nam định cư luôn. Mỗi lần anh Cao Thái hay chú Thanh Hương về Phương Vân am thì ngủ ở phòng trên gác phía trên thiền đường. Pierre Marchand hay Jim Forest đều ngủ luôn trên đó. Sau thiền đường là nhà bếp, nhà vệ sinh và phòng tắm.

Người về tu học với Thầy ở Phương Vân am ngày càng đông nên Thầy cho cất thêm một phòng rộng 5 thước dài 15 thước để khách về ngồi thiền ban ngày, ngủ ban đêm. Vì 3000 mét vuông quá nhỏ để cắm lều nên Chân Không chỉ nhận mười người khách về lưu trú tối đa mỗi tuần. Khách tới từ thứ sáu ở lâu nhất là tới thứ năm tuần sau thì phải về để thứ sáu kế đó cho nhóm Phật tử khác tới. Chân Không phải lái xe đưa họ về ga xe lửa thành phố Troyes, cách am Phương Vân 18 cây số để họ về lại trú xứ. Chỗ cắm lều cũng không đủ nên Thầy bàn nên đi về miền Nam nước Pháp mà lập làng Tu Học như trong thời gian vừa lập Thanh niên Phụng sự Xã hội xong. Thầy đã có ý định là đạo Phật dấn thân vào đời do Thầy chủ trương phải có một ngày tu học trong một tuần và một tháng tu học trong một năm. Thầy nghe nhiều học trò Pháp của Thầy cho biết là ở miền quê nước Pháp nông dân bỏ đất nông nghiệp vào thành phố làm công nhân tuy có lương khiêm nhường nhưng chắc chắn có tiền hàng tháng, trong khi đó thì làm nông là sống hay chết đều tuỳ thuộc vào mùa màng. Vì thế đất nông nghiệp bán rất rẻ, giá chỉ trên dưới 1 Franc một thước vuông.

Thầy trò nhất định xuôi Nam đi tìm đất làm làng Tu Học. Ban đầu đi về hướng Marseille, lái xe tới Aixen Provence, xe rẽ vào trạm xăng hỏi đường, Thầy vừa xuống xe đi ra vài bước thì bỗng bị gió Mistral bốc lên. Mistral là tên những cơn gió rất mạnh nổi tiếng kéo dài trong vài tuần. Nhờ gió mạnh kéo sạch mây mưa mùa đông nên vùng này có nhiều nắng nhất nước Pháp. Thầy bị gió Mistral cuốn gần như bay hỏng chân. Thầy ngại cảm gió nên bảo thôi không đi Marseille nữa mà quẹo sang hướng tây nam. Cuối cùng mình tìm ra được Phương Khê cũng ở tỉnh Gironde như Bordeaux mà hẻo lánh cách Bordeaux đến 100 cây số. Nơi này hẻo lánh nên nhà và đất vẫn khá rẻ. Từ đó Thầy định cư ở đây.

Thành lập trường Thanh niên Phụng sự Xã hội (TNPSXH)

Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội

Giữa lúc chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội (viết tắt là TNPSXH hoặc Thanh niên PSXH) được thành lập vào tháng 9 năm 1965 với 300 sinh viên trúng tuyển trong đợt đầu. Họ trúng tuyển vào chương trình làm mới đạo Bụt dưới sự hướng dẫn và đào tạo của thầy Thích Nhất Hạnh. Để có cơm ăn và chi phí điện nước cho ba trăm người thanh niên thiếu nữ (xuất sĩ và cư sĩ) từ 18 đến 23 tuổi và để điều hành các việc chăm lo đào tạo cho ba trăm người trẻ đó, thầy Thích Nhất Hạnh và sư bà Thích Nữ Diệu Không đã kêu gọi Phật tử đóng góp hàng tháng 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 400 đồng hay 600 đồng (đơn vị tiền ở miền Nam Việt Nam khi đó) cho một học bổng toàn phần. Có 3.870 gia đình đã hưởng ứng và đóng góp hàng tháng vào phong trào quần chúng này. Chị Tiếp Hiện cư sĩ Diệu Không Cao Ngọc Phượng là trưởng ban Phổ Triển đi lạc quyên hàng tháng cùng với chị Diệu Thiện Phạm Thuý Uyên và chị Diệu Huỳnh Phan Thị Mai (sau này chị chọn tên Nhất Chi Mai).

Tình Thương, Trách Nhiệm và Tự  Nguyện  – đây là ba tiêu chuẩn phụng sự của Thanh niên PSXH. Được nuôi dưỡng bởi ba tiêu chuẩn đó, những người trẻ thấy tương lai của họ sẽ là vì tình thương tự nguyện bỏ lại sau lưng vinh hoa phú quý để đi theo con đường trách nhiệm với đồng bào. Họ tự nguyện đem cho đồng bào: Tình thương biểu hiện bằng sự thức khuya dậy sớm cùng làm việc với đồng bào, cùng học nghề của họ và giúp một tay với họ. Với tinh thần Trách nhiệm, thấy thiếu kiến thức khoa học nên gà mới chết gió, Thanh niên PSXH giúp bà con ngừa dịch cúm gà chứ không phải đem tiền, đem gà cho họ. Ở những nơi thiếu trường học mà số trẻ em quá ít không đủ điều kiện để hình thành lớp học được ngân sách tài trợ (có xã, ông quận trưởng cho biết không giúp cho xã nhỏ này được vì xã chỉ có 77 trẻ em, trong khi ông chỉ được sử dụng ngân sách để xây các trường học nếu có đủ 200 em một trường), thanh niên PSXH họp dân làng lại kêu gọi trách nhiệm của mọi nhà, và kêu gọi mỗi gia đình nên vì tình thương tự nguyện. Trong vài tuần là trường học ba lớp cho các cháu được cất xong, lại có thêm trạm y tế nhỏ.

Chương trình học của Trường TNPSXH là học về giáo dục cộng đồng, y tế công cộng, thêm về canh nông, chăn nuôi với ba tiêu chuẩn Tình thương, Trách nhiệm và Tự nguyện kể trên là hành trang cho các anh em tác viên. Người tác viên đi về vùng nông thôn làm công tác với ba tiêu chuẩn đó.

Dùng nhạc, thơ, tiểu luận gây phong trào

Thầy hay mời các văn nghệ sĩ viết bài, viết nhạc để anh chị em ca hát cho thành phong trào vui, trẻ, hy sinh vì lý tưởng. Sau khi Nhật báo Thần Chung đi thăm cơ sở mới của TNPSXH tại Phú Thọ Hoà, ký giả Nam Đình viết một bài ca tụng TNPSXH là một phong trào của nhân dân (300 người trẻ, bỏ hết những phù phiếm xa hoa của cuộc đời, học về y tế công cộng, giáo dục, canh nông… để giúp người dân tự lực cánh sinh). Đất ta ta cấy, đất ta ta cày, ta sản xuất, ta tự nuôi dân. Đây là phong trào duy nhất ở Việt Nam từ Nam ra Bắc không nhận tiền viện trợ của các phe lâm chiến.

Chương trình ba điểm cho tương lai của thầy Thích Nhất Hạnh

Sau khi chế độ độc tài của ông Ngô Đình Diệm sụp đổ, thầy Thích Nhất Hạnh từ Mỹ về cuối năm 1963 đã đảnh lễ cúi xin quý hoà thượng nên thực hiện ba con đường song song:

Đề nghị thứ nhất

Phật giáo nên đứng ra kêu gọi hai miền Nam và Bắc thương thuyết để thống nhất đất nước và thiết lập hoà bình giữa hai phía. Lúc này miền Nam chỉ mới nhận súng đạn và cố vấn Hoa Kỳ, miền Bắc thì có được khí giới của Trung Quốc và Liên Xô, chưa bên nào có quân đội ngoại bang.

Đề nghị thứ hai

Lập một trường Đại học Phật giáo, giúp cho những nhà chí sĩ thấy rằng tuệ giác Việt Nam không phải là tuệ giác của người Mỹ hay người Pháp. Vì vậy cần có một trường Đại học Phật giáo căn cứ trên văn minh Việt Nam của các vua thời Lý – Trần, tức là thời đại có những ông vua rất thương nước, thương dân và không bao giờ muốn đánh giặc. Khi đánh thắng quân Tàu một trận thì gửi ngay một phái đoàn tới xin lỗi và làm hoà ngay với họ. Dù vua đánh giặc rất hay, rất giỏi nhưng không muốn chiến tranh, muốn thống nhất nước nhà để anh em nương tựa nhau, tại vì ai cũng có thể thành Phật. Người trí thức Việt Nam phải theo văn minh cao nhất của Việt Nam vào thời đại Lý – Trần mà đỉnh cao hưng thịnh nhất là vào các đời vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông. Vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con khi còn trẻ, trong khi đó vua vẫn tiếp tục cai trị bằng con đường tâm linh. Vua đi chân đất vào các xóm nghèo, dạy dân chúng tu hành, giữ Năm giới, Mười giới Bồ tát. Ông qua các nước lân cận thường hay gây chiến với Việt Nam để làm hoà như nước Chiêm Thành. Các nhà trí thức phải thấy được giá trị tâm linh của thời Lý – Trần và những cái hay của đất nước mình bằng con đường tâm linh thay vì cầm súng giết nhau.

Đề nghị thứ ba

Phật giáo phải lo cho tất cả những người dân nghèo nhất, khổ nhất tức là đa số nông dân. Làm sao để họ có ruộng cày, không bị bóc lột như dưới thời Pháp thuộc. Đất nước Việt Nam có nhiều ruộng vườn. Nhưng vì thời Pháp thuộc để cho những người tay sai Pháp được làm địa chủ, những người nghèo vẫn tiếp tục bị bóc lột, làm rất nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu. Vì thế phải thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội để làm chất xúc tác (men) giúp người dân cùng đứng lên với ba mục tiêu:

  • Tự thắp đuốc lên mà đi, đoàn kết hợp tác xây dựng chung… ví dụ như con em nông dân không có trường vì cấp trên không đủ tiền trợ cấp thì mình tự đốn lá dừa, cắt tre tranh làm trường học.
  • Mình biết cách hợp tác làm việc tìm mối bán chung nông sản.
  • Cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, khó khăn trong sự cộng tác, lời nhiều thì chia chung mà lỗ thì chịu chung, như vậy gánh nặng của mỗi người sẽ nhẹ đi.

Trong ba đề nghị ấy thì các vị lớn như hoà thượng Trí Quang và hoà thượng Tâm Châu chưa chịu đề nghị thứ nhất kêu gọi ngay vì các ngài nghĩ là phải có một Chính phủ Phật giáo trước mới nên tổng tuyển cử. Vì chưa có Chính phủ thân Phật giáo nên các hoà thượng chưa chịu kêu gọi hoà bình. Nhưng điểm thứ hai là thành lập trường Đại học Phật giáo thì các thầy đồng ý ngay, tức là bắt đầu thành lập trường Cao đẳng Phật học trước và nếu chuẩn bị có bài bản thì từ từ trở thành trường Đại học Phật giáo. Chương trình học môn Sử Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh từng điểm xuất sắc của nền văn minh Lý – Trần như:

  • Tinh thần dân chủ của hội nghị Diên Hồng.
  • Tính khiêm cung: cầu hoà ngay khi vừa thắng trận là gửi liền một phái đoàn đến cầu hoà, xin lỗi, cống tặng phẩm vật quý.
  • Tinh thần tha thứ bao dung khi ra lệnh đốt hết những hòm tài liệu về sự phản quốc của một số người ngầm thông đồng với giặc.

Điểm thứ ba thầy Nhất Hạnh yêu cầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thực hiện gấp là giúp nông dân nghèo, để thực hiện điểm này thì kêu gọi những người giỏi về canh nông, y tế, kinh tế… tình nguyện về giúp cho nông dân nghèo. Đó là công việc của phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội. Chính vì phong trào đó đông và quá giỏi nên kẻ thù của Phật giáo, những người quá khích mới muốn giết mình. Nhưng mình cũng không giận họ vì mình vẫn mong họ sẽ là bạn của mình trong tương lai. Tuy bây giờ họ có cái thấy sai về mình nhưng mình hy vọng rằng cái chết của các bạn mình sẽ làm cho họ hiểu.

Khai giảng Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội

Thấm thoắt mà đã tới ngày 15 tháng 9 năm 1965, ngày khai giảng phân khoa xã hội Đại học Vạn Hạnh. Một tấm bảng to đề chữ Thanh niên Phụng sự Xã hội được đặt trước chùa Từ Nghiêm vốn được ni sư cho phép dùng làm Văn phòng chánh TNPSXH. Thật ra đó chỉ là một phòng nhỏ bên trái khi vừa bước vào chùa Từ Nghiêm. Giảng đường (lớp học) của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội cũng là giảng đường chùa Từ Nghiêm.

Ba trăm sinh viên trúng tuyển trong tổng số hai nghìn thí sinh dự cuộc thi tuyển vào Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, phân khoa dấn thân Đạo Phật đi vào cuộc đời của Đại học Vạn Hạnh. Người đậu đầu là một sư cô, Bích Vân. Người kế là Bùi Thị Hương… nhưng khi nhập học thì rất khó. Các anh chàng “quậy” nhất không phải là các vị hành xử giỏi của một thanh niên PSXH lý tưởng như mình mong. Em Phạm Viết Nghiệm, đầy tinh thần trách nhiệm thì chỉ thi đậu trung bình, còn Trần Minh Tâm suýt thi rớt nhưng nhu mì hiền hậu, thực hiện rất nhiều điều giúp cho Chùa Lá. Tâm thi đậu hạng chót. Như thế để biết sau này thi tuyển, không bao giờ nên căn cứ trên những bài văn. Văn thì hay nhưng phụng sự thì chưa hay nhất. Nghiệm im lặng nhưng làm việc rất bền, chu đáo, ý tứ, đón trước ngăn sau, rất khéo nên sau này thầy Thanh Văn, thầy Châu Toàn và Ban điều hành TNPSXH rất thương quý giao cho anh Nghiệm phần quản trị chùa trong những ngày đầu Chánh phủ lâm thời Cách mạng miền Nam Việt Nam.

Cư xá và thực phẩm ăn trưa và chiều của các sư chú là ở chùa Trúc Lâm Cây Quéo của thầy Châu Toàn và thầy Đồng Bổn.

Nam sinh cư sĩ thì ở hai dãy nhà bằng xi măng ở đường Trương Minh Giảng trên khu đất mình mới mua để chuẩn bị xây dựng Đại học Vạn Hạnh.

Cho tới lúc này, tháng 9 năm 1965 Viện cao đẳng Phật học vẫn còn nằm ở chùa Pháp Hội đường Phan Đình Phùng. Thầy Minh Châu tốt nghiệp ở Ấn Độ đã về tới Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh đề nghị quý tôn đức trong Viện Hoá Đạo đề cử làm viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, nhưng chương trình Đại học thì đã được thầy Nhất Hạnh và các giáo sư xuất sắc như giáo sư Nguyễn Đăng Thục, các giáo sư Nghiêm Thẩm, Bửu Cầm, Lê Xuân Khoa, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Giản Chi… lo chi tiết từng tín chỉ hay chứng chỉ. Thầy Thanh Văn và bác Trịnh Sâm lo việc hành chánh, ghi tên, đóng học phí. Văn phòng cũng được chị Phan Thị Thuần, Lê Khắc Phương Thảo và chị Phùng Thăng phụ làm thư ký ghi danh. Khi mới về Việt Nam Thầy thành lập ngay Viện cao đẳng ở chùa Pháp Hội trên lầu phía tay phải chùa, gần với phòng thầy Thanh Văn, Thanh Tuệ. Tầng trệt dùng làm văn phòng, lầu nhất bên mặt là phòng ngủ cho thầy Nhất Hạnh và thầy Thanh Văn. Giữa chùa là một thiền đường và giảng đường lớn. Bên trái là thư viện Đại học Vạn Hạnh trong tương lai. Tất cả sách 10.000 quyển của Thầy Nhất Hạnh ở Phương Bối am đều biếu hết cho Ban tu thư Viện cao đẳng. Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng là người thu xếp phòng sách cho thư viện trước khi chị Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh về từ Paris và quyết định để toàn thời gian lo cho Thư viện Viện Đại học Vạn Hạnh vốn là ngành mà chị vừa đậu Thạc sĩ ở Hoa Kỳ. Phòng ngủ cuối thư viện là phòng thầy Minh Châu mới từ Ấn Độ về. Chị Trà My người Vĩnh Long, vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm có tuồng chữ rất đẹp. Chính Thầy giao cho Trà My chép gởi sang Pháp cho chị Chân Không hai bài thơ Thầy vừa sáng tác trên những tờ giấy màu mà Trà My được thầy Thanh Tuệ cho (thầy Thanh Tuệ nói giấy này thầy xin được từ các nhà in!) Bướm bay vườn cải hoa vàng Trường ca Avril là hai bài thơ rất “thơ”, ngọt ngào tình quê hương. Phùng Thăng và Trà My là hai em nữ sinh viên rất siêng năng, tận tuỵ từ nhóm Sinh viên Phật tử làm xã hội với tôi năm 1962 – 1963 trước khi thầy Nhất Hạnh về Việt Nam. Ba cô Trà My, Phùng Thăng, Ngọc Thanh đã từng thu nhặt từng nắm gạo hàng tuần cùng với tôi đem chia cho các xóm nghèo Sài Gòn như sau rạp Quốc Thanh, xóm Bàn Cờ, xóm nghèo Cầu Bông trước khi Thầy về lại Việt Nam đầu năm 1964. Nhờ ba cô này mà Thầy có được luôn cả đoàn Sinh viên Phật tử cùng về làm làng Cầu Kinh. Nhưng chị Lê Khắc Phương Thảo mới là trưởng ban ngoại giao số một, đã kéo được ba ông bác sĩ Hồ Văn Quyền, Nguyễn Thành Nguyên và Trần Tấn Trâm về làng Cầu Kinh. Ba anh chàng này thật là những viên ngọc quý của hai làng hoa tiêu Cầu Kinh và Thảo Điền.

Ngày Chánh niệm 24 giờ mỗi tuần để tập dừng lại nhìn sâu, chuẩn bị thọ Bồ tát giới cho dòng tu mới

Dù bận bịu đến mấy thì mỗi trưa thứ bảy tôi vẫn về Chùa Lá đem theo bộ quần áo sạch về để trải nghiệm 24 giờ hoàn toàn làm con người mới, chánh niệm từng hơi thở, từng cử chỉ, nấu nước sôi, pha nước tắm, mang áo mới để về có một ngày Chánh niệm. Từ 2 giờ trưa thứ bảy đến 4 giờ chiều ngày chủ nhật hoàn toàn mới.

Thấy chúng tôi, ban vận động tài chính cho các công tác phụng sự (bác Hiệu, chị Nga, Phượng, Mai, Uyên, Ngọc Thanh) quá cực trong khi lo tài chính học bổng cho 300 học viên Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội tương lai, thầy Nhất Hạnh tặng cho thầy Thanh Văn hết số tiền dạy học bên Hoa Kỳ ngày xưa (traveller checks) để thầy Thanh Văn lo xây Chùa Lá này. Thế nên ngôi chùa Lá Pháp Vân được mua và xây lên là một tặng phẩm bất ngờ cho chúng tôi. Sau đó bác Sâm tiết lộ, đất này bác nhân danh Viện cao đẳng Phật học để xin đất nhà nước nằm trong khu quy hoạch khá lớn của chính quyền đương thời. Chính quyền trả tiền bồi thường cho nông dân rồi nhưng nông dân chưa đồng ý nên mình phảỉ mua lần thứ hai với họ. Tiền “bồi thường lần chót” tương đối rẻ.

Thấy đất mua chỗ này không đắt lắm, thầy Thanh Văn cũng gom tiền lương làm Tổng thư ký Viện cao đẳng Phật học mua một lô đất cho riêng gia đình. Có thể thầy nghĩ mai mốt ba mình già có chỗ gần chùa để nghe kinh. Bác Trịnh Sâm cũng thế, mua một lô đất ở đây. Lô đất khá lớn, có thể dùng để cất cư xá cho sinh viên TNPSXH ở phía xa xa bên kia chùa Lá.

Tuy Thầy quyết định ngày 15 tháng 9 năm 1965 sẽ khai giảng nhưng chưa đủ tiền xây cư xá, chưa đủ tiền xây Trường đào tạo TNPSXH trên mảnh đất mới với Chùa Lá. Thầy Nhất Hạnh đã thương thuyết với chùa Từ Nghiêm. Lúc sau thầy Thanh Tuệ mượn được nhà chú Bảy trước mặt chùa nên dọn ra riêng. Trưởng chùa Từ Nghiêm, ni sư Vĩnh Bửu, cho mượn một văn phòng nhỏ phía ngoài chùa Từ Nghiêm, 215 đường Bà Hạt, để ghi danh sinh viên đã trúng tuyển vào học. Sau đó các anh chị tình nguyện viên sẽ đưa từng em về từng cư xá nội trú. Một tấm bảng 2,5 mét bề ngang, 1,5 mét bề cao có đề: Văn phòng Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, văn phòng nằm bên trái chùa Từ Nghiêm. Ni sư cũng cho phép các giáo sư TNPSXH dùng giảng đường ba ngày trong tuần để thuyết giảng lý thuyết cơ bản. Phần lớn thì giờ, sinh viên phải thực tập ở làng hoa tiêu Cầu Kinh hay làng hoa tiêu Thảo Điền.

Cư xá nữ TNPSXH của quý sư cô học viên và sinh viên nữ thì ở chùa Sư Nữ của sư bà Giác Nhẫn và Giác Viên bên quận Tư.

Cư xá tăng sinh TNPSXH thì ở chùa Trúc Lâm Gò Vấp.

Cư xá nam sinh viên cư sĩ thì xin ở nhờ văn phòng Viện Đại học Vạn Hạnh sát cầu Trương Minh Giảng. Buổi sáng khai giảng đầu tiên ở chùa Từ Nghiêm, chiếc xe cũ rích 16 chỗ của Viện Phật học đã mời quý sư cô, và các nữ sinh lên “xe đò” 16 chỗ.

Đây là chiếc xe minibus 16 chỗ của Viện cao đẳng Phật học chở các cô từ Quận 4 lên chùa Từ Nghiêm để nghe thầy Nhất Hạnh giảng về đường lối cơ bản của TNPSXH. Ba mươi tám cô nữ sinh viên còn lại được chị Tuyết hướng dẫn đi xe buýt số mấy, đến trạm nào thì xuống đổi xe đi tiếp đến đường Bà Hạt. Xe đưa các sư cô tới Từ Nghiêm, trút hết hành khách bèn đi tiếp ngay lên Trúc Lâm Cây Quéo Gò Vấp chở quý thầy cũng về giảng đường chùa Từ Nghiêm. Thanh niên cư sĩ thì đi xe buýt tự túc tới giảng đường.

Chín giờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1965 khai giảng: Thầy Nhất Hạnh dạy nguyên tắc Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội ở trong giảng đường chùa Từ Nghiêm.

Đây là logo trường TNPSXH. Ba gạch dưới là Tình thương, Trách nhiệm và Tự nguyện. Không ai bắt buộc mình, là mình tự nguyện, chỉ có tình thương cho mình thêm sức mạnh, trách nhiệm là con người có học có hiểu biết có lý tưởng hơn dân quê, sẽ đứng ra lập Làng hoa tiêu, làng tự nguyện và dần dần phổ triển lây lan ra toàn quốc. Giáo sư Vương Pên Liêm dạy Phát triển cộng đồng, Bác sĩ Quý dạy Y tế công cộng, cách làm những cái bệ nhà vệ sinh xem có con thỏ hình chữ S để đi số 2 xong, người đi vệ sinh chỉ cần dội hai gáo nước thì phân nhảy qua con thỏ vệ sinh để khỏi bị bốc mùi hôi… Hai làng tình thương mình đang có ở Cầu Kinh và Thảo Điền là làng hoa tiêu (pilote village), làm gương cho các nơi khác về tu tập và trở về lại địa phương như Quảng Nam, Quảng Ngãi sẽ lập nhiều làng tự nguyện nơi địa phương mình.

Nhà xuất bản Lá Bối

Ba cuốn sách đầu tiên do nhà xuất bản Lá Bối in là: Bông hồng cài áo, Đạo Phật ngày nay, Đạo Phật đi vào cuộc đời.

Thầy đề nghị thầy Thích Thanh Tuệ đứng ra làm giám đốc Nhà xuất bản Lá Bối, cô Cao Ngọc Thanh làm thủ quỹ. Đợt thứ hai sách Lá Bối sẽ in Mười bài tâm ca Con đường cái quan. Xoáy sâu vào con tim của người đọc là bài: Ruột đau chín khúc, Đừng biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngon lửa dữ. Hãng Hàng không Việt Nam Cosara chở giùm tuần báo ra miền Trung mỗi tuần: Đà Nẵng, Quảng Nam, Huế, Quảng Trị. Nhà xuất bản Lá Bối in quyển Bông hồng cài áo cho kịp mùa Vu Lan, in tới 5000 quyển mà sách chạy khá nhanh nên phải tái bản nhiều lần. Nhà xuất bản Lá Bối đã in xong: Đạo Phật ngày nay (Aujourdhui le Bouddhisme), Đạo Phật đi vào cuộc đời, Đạo Phật hiện đại hoá, Đạo Phật ngày mai ký tên B‘su Danglu.

Đoản văn Bông hồng cài áo thành công quá. Sau khi đọc Bông hồng cài áo anh Phạm Thế Mỹ bèn viết ra bài nhạc phổ theo. Ngày Rằm tháng Bảy làm lễ Vu Lan, cài hoa hồng và hoa trắng và hát bài Bông hồng cài áo. Thật là thành công ngoài dự tính của thầy trò chúng tôi. Cài lên áo anh, cài lên áo chị một đoá hoa bằng giấy thôi, nhưng nhìn hoa đỏ hay hoa trắng người nhận hoa cũng khóc. Thiên hạ khóc quá chừng và tình mẹ linh thiêng thêm. Nhưng viện trưởng Viện Hoá Đạo năm 1965, hoà thượng Thích Tâm Châu không vui lắm. Một hôm qua điện thoại, chúng tôi nghe hoà thượng Tâm Châu nói với Thầy Nhất Hạnh: “Thơ thầy Nhất Hạnh thì hay lắm, nhưng trong thơ của thầy có hơi thích hoà bình tí tí đấy.” Thầy chúng tôi trả lời: “Hoà thượng phải nói, thầy Nhất Hạnh thích hoà bình khá nhiều, quá nhiều mới đúng. Không lẽ thầy tu Phật giáo, trường trai, không nỡ giết con gà con cá mà lại thích con người giết nhau hay sao? Phật giáo phải thích hoà bình thật nhiều đó thưa hoà thượng.”

Bên kia giảng đường Viện cao đẳng toạ lạc tại chùa Pháp Hội có phòng của thượng toạ Thích Minh Châu mới từ Ấn Độ về. Thầy Nhất Hạnh đề nghị Hội đồng Lưỡng viện công cử thầy Minh Châu làm viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh. Kế bên phòng Thượng toạ Minh Châu là Văn phòng thư viện. Chị Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, tốt nghiệp thạc sĩ về quản thủ thư viện ở Hoa Kỳ mới về sẽ đảm trách thư viện vĩ đại này. Chị đang ở cư xá nữ chùa Phước Hải với sư bà Tịnh Nguyện và sẽ sang Viện cao đẳng làm việc. Bỗng hôm ấy có tin “giựt gân” là chị Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh mới cạo đầu đi tu tại chùa Phước Hải mà không có lễ xuất gia như thường khi, và sau đó chị về Huế y chỉ với sư bà Diệu Không.

Nhiều văn nghệ sĩ vẫn quay quanh cột trụ văn nghệ, quanh Viện cao đẳng Phật học và Đại học Vạn Hạnh. Một hôm sinh viên Vạn Hạnh bỗng khúc khích cười vì trong quần chúng mới nghe loan truyền những câu thơ điên điên của thi sĩ Bùi Giáng, câu chuyện cô Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh đi tu:

Lỗi tại ai?
Xin hỏi Thượng toạ Minh Châu
Mẹ Phùng Khánh ơi cho chúng tôi xin hỏi…???..??
Mẹ Phùng Khánh ơi cho chúng tôi xin hỏi…
Vì sao Mẹ đi tu??
Mẹ đẹp quá chừng, thanh cao uyên bác
Bọn chúng tôi quỳ trước mẹ, khóc hu hu…

Bữa cơm văn nghệ sĩ Lá Bối rất điệu

Suốt hai tuần nay, tăng thân trẻ của Viện cao đẳng chúng tôi được lệnh của thầy Nhất Hạnh tổ chức một bữa tiệc ăn trưa cho văn nghệ sĩ như nhạc sĩ Phạm Duy, thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Giáo sư Lê Xuân Khoa, học giả Giản Chi, các vị học giả uyên bác như nhân sĩ Hồ Hữu Tường, các học giả Nghiêm Thẩm, Bửu Cầm. Các chị em đang chuẩn bị tìm những chuyên viên nấu ăn thật tài ba đãi khách quý thì chị Phượng bỗng cao hứng tình nguyện: “Tui! Tui!” Chị Chín của làng Tình Thương cũng biết nấu ăn chút đỉnh, sẽ làm trưởng ban nấu ăn bữa tiệc Lá Bối đầu tiên này cho mọi người. Thực đơn sẽ gồm: bom đất chiên bơ (tức là pomme de terre frite au beurre), xà lách đồng hồ ăn với bánh mì nướng ngon lắm, tàu hủ ướp sả ớt chiên ăn với cơm nóng gạo nàng Hương đầu mùa dẻo thơm, canh Bạch điểu quy sào (thực ra chỉ là bí đao hầm cho mềm, khoét bí đổ súp vào thật ngon ngọt, cho vài ba con ngỗng làm bằng lòng trắng trứng đánh thành bông, nặn thành ba con ngỗng, mỏ là trái ớt hiểm đỏ hoét). Khách trầm trồ khen ai nấu khéo. Chị Thảo, Uyên, Nghiêm, Kim Chi, chị Mai đều “nể” chiêu mới của chị Chín làng Cầu Kinh. Chị Chín là dân “lãnh đạo” mà, làm sao mà lo được mấy chuyện nấu nướng này? Mọi người định nghỉ chơi rút lui để cho Chín làm ăn “bể dĩa” cho biết! Chỉ có chị Thanh, em gái tôi là tủm tỉm cười vì gia đình Phượng – Thanh có bà mẹ nấu ăn tuyệt ngon mà những món ấy là những món “tủ” của gia đình này. Thanh biết chị Chín đổi món Con cá hoá long của má, cũng làm sauce mayonnaise trộn petit pois, cà rốt xắt hạt lựu nhưng không dùng cá luộc xé nhỏ như cho người ăn mặn. Cuối cùng ai cũng phục tài của cô Chín đã không bị “bể dĩa” mà còn được khen. Khoai tây chiên để cả buổi mà vẫn giòn và ngon chứ không mềm yểu. Canh Bạch điểu quy sào rất ngọt dù không có cá thịt.

Bảy giờ sáng hôm ấy bác sĩ Trần Tấn Trâm tới văn phòng Viện cao đẳng Phật học, không có thầy Thanh Văn, chỉ tới trước đó 10 phút. Anh Sang mở cửa, Trâm vào trước. Tôi tới sớm định đi gọt và xắt khoai tây trước cho buổi trưa. Anh Trâm đã ngồi dó. Anh ngồi gác chân lên bàn, ngả lưng trên ghế, mặt quạu ơi là quạu, hỏi như gây lộn: “Tại sao cô Chín không về làng cả hai tuần nay? Bỏ thầy Bảy bác sĩ (là tên dân làng đặt cho Trâm) đi coi mạch một mình với bao nhiêu là con bệnh mà không có Chín đi theo phụ tá ghi toa, phát thuốc hay mua thêm thuốc, lo không xuể? Chín thương đồng bào nghèo là vậy đó hả?” Tôi cười giả lả xin lỗi: Tại quá bận lo cho Nhà xuất bản Lá Bối ra mắt Bông hồng cài áo và ra quyển tập nhạc vĩ đại Mười bài tâm ca. Rồi có thể tháng tới phát hành luôn tập nhạc lớn Con đường cái quan của Phạm Duy. Anh Trâm ở lại chơi tiếp khách giùm quý thầy? Có nhạc sĩ Phạm Duy này, có cụ Hồ Hữu Tường ở tù Côn Đảo thời Ngô Đình Diệm mới được trở về.” Bác sĩ Trâm bực mình đứng dậy bỏ ra về không chịu ở lại tiếp khách giúp Lá Bối. Tôi cười buồn định nói thẳng với Trâm vài điều nhưng anh đã đi mất, tôi đành nói thầm với Trâm: “Tôi không thể nào làm vợ bất cứ ai một khi tôi đã từ bỏ người con trai hiếu đễ, hiền lành, trung kiên ngày xưa đó, tám năm rồi. Trâm ơi, tôi biết Trâm thương tôi, tôi đã hai lần từ chối lời cầu hôn của Trâm rồi mà? Nhưng khi thấy Trâm vẫn kiên nhẫn và tình cảm quyến luyến kéo dài khá sâu thì tôi cố lách ra để đừng buồn lòng nhau đó thôi chứ tôi không phải yêu thích các văn nghệ sĩ Lá Bối hơn dân nghèo làng Thảo Điền và làng Cầu Kinh đâu Trâm ạ.” Tôi chia tay với Khá để sống với lý tưởng phụng sự chứ không thể nhận lời làm vợ Trâm. Chỉ có vài bạn rất quý bác sĩ Trâm là cứ khuyến khích Trâm tiến tới. Chị Trương Thị Nhiên ở cư xá nữ sinh viên cùng phòng với cô Mạnh thì cứ than: “Anh Trâm kỳ lắm. Cứ mỗi lần gặp Mạnh, người con gái hết lòng thương Trâm thì anh cứ bảo: “Sao em không để tóc thật dài… như chị Phượng? Sao em không mặc áo trắng… như chị Phượng? Chị Phượng là ai hả các chị? Sao anh Trâm đi thăm em mà cứ nhắc chị Phượng nào hoài vậy?” Cô Mạnh là bạn hay ý trung nhân (?) của Trâm không hề biết Trâm đang xin cưới tôi làm vợ vì ba mẹ Trâm đòi Trâm phải cưới vợ gấp, ông bà nói Trâm đã là bác sĩ rồi. Phải lấy vợ thôi! Chắc hồi trẻ thơ, chú bé Trâm đã có những hình bóng đẹp trong tàng thức về một cô gái hay mặc áo bà ba ngắn màu trắng đơn sơ, để tóc dài và nước da hơi xanh xanh. Hình ảnh đó hằn sâu trong tâm khảm cậu bé cho đến khi gặp tôi. Mới mấy ngày đầu anh đã nhờ anh Quyền hỏi giùm rồi. Tôi chỉ là hình ảnh thân thương, cái tưởng bề ngoài của tuổi thơ ngọt ngào của chú thiếu niên tên Trâm. Vừa gặp tôi ở Cầu Kinh là Trâm đã rất cảm động nhìn tôi chăm chú, mới chưa đầy một tuần lễ anh đã nhờ bác sĩ Quyền hỏi tôi trực tiếp giùm là tôi có người yêu chưa để cha mẹ anh trầu rượu xin cưới tôi. Tôi nói: “Dạ có rồi.” Trâm nghe bèn nghĩ là không hy vọng nên báo cho các bạn cùng học ở Y khoa khác như bác sĩ Lý, Kỷ. Trâm tuyên bố với chị Lý: “Tôi rã bành tô rồi chị Lý ơi, cô Phượng này đúng là người tôi chờ đợi từ lâu. Tóc dài, áo bà ba trắng, ôm ốm xanh xanh, nụ cười mủm mỉm nhè nhẹ đó. Chờ đợi bao nhiêu năm mới gặp người ấy. Cũng tóc dài, cũng chiếc áo bà ba trắng hay chiếc áo dài trắng đó. Nhưng Quyền báo tin cô ta đã có người yêu rồi. Tôi bị rã bành tô thiệt rồi.” Danh từ tiếng lóng miền Nam “rã bành tô” là như chiếc áo Tây sang trọng là thế mà bây giờ bị rách tả tơi luôn.

Nhiều bạn khác nghe Trâm định bỏ luôn làng Cầu Kinh bèn vận động: “Bậy! Đừng tin, chị Phượng nói thế nhưng đã bỏ ‘anh chàng’ của chị ấy mấy năm rồi. Cứ kiên nhẫn. Nè, lúc rày nghe Phượng ở cả tuần ở cái làng nghèo xơ xác gần đó tên là Thảo Điền, ngôi làng mới rất tội nghiệp. Anh Trâm đi về Thảo Điền đi, Phượng suốt ngày ở ngôi làng mới đó.” Đúng thế, thấy Trâm lại về làng tôi cũng rất mừng, lại lấy cuốn sổ dẫn anh ta đi thăm rất nhiều gia đình bệnh khá nặng. Tôi lại làm thư ký ghi thuốc: Tifomycine viên, uống mấy ngày. Ganidan mấy viên, mấy ngày. Ampicilline 500, Ultralevure. Có khi không đủ tiền mua tôi chạy lại chị dược sĩ Đỗ Thị Nga ở đường Trương Minh Giảng mua “chịu”.

Hình Chùa Lá, từ trái sang phải là bốn chị em: Phan Thị Mai, Phạm Thuý Uyên, Cao Ngọc Thanh, Cao Ngọc Phượng. Các chị đứng trước nhà thị giả và nhà bếp, nhà cho các chị nữ Tiếp Hiện.

Thế là mỗi ngày Trâm lại hăng hái có mặt ở làng Thảo Điền, tiếp tục coi mạch trị bệnh cho dân làng với tôi. Đến khi một hôm, cần phải ghé nhà một người bạn lấy thuốc men có người mới cho, tôi gặp Trâm và tôi có trách Trâm sao để cho chị bác sĩ Lý than anh “rã bành tô”. Rồi mới gần đây anh Bảy bạn thân của Trâm đồn ầm cả trong giới y dược nói: Cái chị Phượng đó, tu sao không cạo đầu đi tu quách để người khác khỏi mộng mơ, nuôi hy vọng rồi làm bể trái tim người ta.” Tôi nhìn Trâm buồn bã: “Tôi đã nói với anh rồi mà, tôi xa người mà tôi yêu thương tám năm tình nghĩa là để đi tu chứ không để đi làm vợ bất cứ ai khác.” Trâm bỗng nhìn thẳng vào mặt tôi và nói: “Thôi nói ngay bây giờ đây đi, bây giờ Phượng có đồng ý cho ba má tôi đem cau trầu xin làm đám hỏi trong tuần này được không?” Tôi nhìn Trâm thật buồn và nói: “Không! Anh Trâm ơi, người tôi yêu là anh Khá. Hai đứa thương nhau tám năm rồi và vẫn còn thương. Nhưng tôi còn yêu lý tưởng giúp người nghèo khổ nhiều hơn thương Khá.” Trâm đứng dậy bỏ ra về. Tưởng Trâm cũng không còn về làng nữa, nhưng cứ trưa trưa tôi vừa đậu xe gắn máy trước nhà bác Tư ở Thảo Điền thì tôi lại gặp Trâm ở ngôi làng mới, làng Thảo Điền. Trâm đưa cho tôi cuốn tập nhỏ nhờ tôi đi theo để kê tên thuốc và cách điều trị. Tình cảm ngày qua ngày thêm đậm. Tôi hơi ngại nên nhân lúc bận rộn lo họp với Lá Bối, với các giáo sư học giả để làm lễ ra mắt Bông hồng cài áo, Mười bài tâm ca, trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy và “in chui” Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện, tôi vắng mặt hai tuần liên tiếp ở làng Thảo Điền cho đến hôm Trâm về Viện cao đẳng Phật học thật sớm mặt quạu quá chừng vì làng Thảo Điền nhiều bệnh nhân bị thương hàn cần theo dõi và bác sĩ cần “y tá” phụ tá (là tôi, cô Chín của làng). Trâm sửa lưng tôi: “Chín nói vì yêu lý tưởng giúp người nghèo khổ, vậy tại sao hai tuần nay không về Thảo Điền, bao nhiêu là con bệnh chờ Chín giúp bác sĩ trị cho hết bệnh. Hai tuần nay vì sao Chín bỏ dân nghèo Thảo Điền?”

Tôi nói nho nhỏ trả lời: “Ai biểu anh đòi đem cau trầu về xin làm đám hỏi ngay cách đây hai tuần trước? Tôi nghe mà sợ quýnh lên. Thì ra anh thiếu vợ, cần đám hỏi đám cưới gấp cho mẹ vui lòng chứ không biết có thật yêu tôi không?” Trâm đứng dậy bỏ đi nói: “Không yêu sao hai lần xin cưới?” Và bỏ đi về luôn ngay sáng hôm ấy.

Rồi thì mãi năm tháng sau, có hồng thiếp báo tin Trâm sẽ cưới cô Bùi Thị Mạnh. Khi gặp Mạnh tôi ngạc nhiên. Cũng là cô gái ốm ốm xanh, trẻ hơn tôi, nhưng nếu có cô gái khác cũng mang máng thế thì có lẽ cũng được, anh cũng sẽ xin cưới. Có sao đâu? Đúng thế, khi Trâm cưới Mạnh, Mạnh cũng ốm yếu, cũng tóc dài và Trâm cũng rất hạnh phúc với Mạnh. Thì ra Trâm thiếu vợ chứ không phải yêu tôi. Hì hì tôi… buồn… năm phút và chạy về hỏi thủ quỹ, chị Thu Hà. Chị hứa giữ tiền chung bọn con gái chúng tôi để mua ngôi nhà nhỏ làm ni viện mới cho chị em muốn xuất gia và vẫn tiếp tục đi làm việc giúp trẻ em nghèo. Chùa ni bằng lá cũng được, theo kiểu mới, và tôi sẽ gởi thơ mời Trâm đi dự lễ xuất gia của tôi.

Ôi, từ hôm làm con xuất sĩ của thầy Nhất Hạnh chúng tôi đã có hơn trăm đợt xuất gia. Một đợt xuất gia 6 người có tên 6 con cá, đợt khác 4 người có tên là 4 cây dừa, 2 cây bưởi, 12 cây anh đào, 16 cây táo, 77 cây hướng dương! Cả trăm đợt xuất gia, nay đã… gần 1200 người trẻ xuất gia theo Thầy. Vui ơi là vui. Trong khi các bạn xé lẻ đi lập gia đình như Phương Thảo nè, Kim Chi nè, chị Nga nè, họ bận ơi là bận, bận túi bụi… Trong khi làm con Thầy, chúng tôi đi chu du khắp thế giới, đi dạy ở Anh quốc, Đức, Na Uy, Thuỵ Điển, Phần Lan, đi dạy ở Nga, đi Bắc Kinh, Hạ Môn, Quảng Đông, Hương Cảng, vui ơi là vui. Có khi thầy trò cùng đi Do Thái dạy cho người Palestine nữa, đi dạy ở Úc, Nam Mỹ.

Mãi đến 38 năm sau, tôi đã thành sư cô lớn Thích Nữ Chân Không về tới Việt Nam gặp Trâm và vợ là Mạnh. Mạnh vừa quen tôi là thương tôi ngay. Buổi giảng nào của Thầy, Mạnh và Trâm cũng đều có mặt. Mạnh nói: “Em cứ đòi anh Trâm dẫn đi nghe thầy Nhất Hạnh giảng và thăm sư cô hoài mà anh Trâm không chịu. Nay anh vừa bị thêm bệnh Parkinson Alzheimer nên càng khó tánh.” Một hôm sang Pháp thăm con trai và cháu nội, chị Mạnh đòi cháu trai ở Paris đưa về tận Xóm Mới thăm thầy Nhất Hạnh, Làng Mai và sư cô Chân Không. Mạnh hứa nhắc con trai đưa cháu nội của Trâm Mạnh về thăm Làng Mai nhưng bao năm rồi cháu có về đâu. Hôm đó tới Làng Mai, tuy có thích phong cảnh Làng Mai, thích tháp chuông, bụi tre Xóm Mới nhưng Trâm và cháu trai đòi ra ngoài đi tiệm ăn Tây, ăn món foie gras là món đặc biệt gan ngỗng ở vùng này của Pháp. Sư cô Chân Không tiếc cho anh Trâm không ở thêm ăn chay với các sư cô Xóm Mới để cháu nội anh thích Làng. Vì thế cháu nội của Trâm Mạnh không còn duyên với Trung tâm dạy Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời của Thầy nữa. Con gái lớn là bác sĩ Trần Thị Thiên Thanh, tên hồi nhỏ là cô Bồ Câu mới xin được thọ năm giới với thầy Nhất Hạnh qua Intenet ở tu viện Mộc Lan. Mạnh nhờ sư cô Chân Không năn nỉ xin Thầy cho cháu pháp danh. Chân Không sẽ xin cho cháu con gái lớn của Trâm Mạnh tên Tâm Đất Mẹ vì nghĩ thế hệ con cháu của Bồ Câu sẽ phải lo Đất Mẹ hết lòng.

Sinh viên TNPSXH bị lựu đạn chiếu cố

Chùa Lá chưa xây xong lớp học, chỉ mới bắt đầu xây phòng ngủ cho hơn 137 nam sinh viên và 163 nữ sinh viên.

Năm 1966, giáo sư George Mc Kahin, trưởng khoa Chính trị của Trường Đại học Cornell (Department of Politics, Cornell University) viết thư mời thầy Nhất Hạnh đi Hoa Kỳ. Ngày 10 tháng 5 năm 1966, bà Hiệu, tôi, chị Uyên, thầy Thanh Văn đưa Thầy lên phi cơ. Thầy định đi ba tuần nhưng không ngờ bị lưu đày từ đấy mãi gần bốn mươi năm sau mới được trở về nước.

Ngay tối đêm sau đó, ngày 11 tháng 5 năm 1966, toàn Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội khi đang tập bài hát mới Kẻ thù ta (Tâm ca 7) của nhạc sĩ Phạm Duy trong thiền đường Chùa Lá.

Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai?
Kẻ thù ta tên nó là gian dối,
Kẻ thù ta tên nó là vô minh,
Tên nó là hờn căm,
Tên nó là hận thù,
Tên nó là một lũ ma
Thế thì kẻ thù ta đâu có ở người ngoài,
Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai…

Bỗng nhiên có một toán người lạ che mặt mang khẩu trang và la lớn: “Kẻ thù tụi bây chính là chúng tao đây. Tao phải giết tụi bây trước, trước khi tụi bây giết tao.” Họ trùm khăn che hết mặt, chỉ lộ ra hai con mắt và vừa la vừa ùa vào chánh điện. Và họ thảy vào đám đông sinh viên TNPSXH ba bốn trái lựu đạn. Quăng lựu đạn về phía phòng thầy Nhất Hạnh một trái xong họ biến mất trong đêm đen. Ngôi chánh điện nhỏ xíu, sinh viên Lê Văn Vinh bị vỡ sọ. Cái phòng ở góc trái chánh điện là phòng ngủ của thầy Nhất Hạnh cũng bị một trái lựu đạn thảy vào nhưng vì có bức màn chắn lại nên trái lựu đạn dội ngược lại và làm cho sinh viên Nguyễn Tôn bị thương bên mông trái. Chúng tôi tức tốc đưa các em Vinh và Tôn về bệnh viện Chợ Rẫy điều trị. Và sau này đưa Lê Văn Vinh sang Đức điều trị hết lòng. Vinh trở về Việt Nam ngồi xe lăn nhưng tâm tính minh mẫn cưới vợ và có một cháu trai.

Ngày 1 tháng 6 năm 1966, Thiền sư Nhất Hạnh họp báo với mục sư Martin Luther King kêu gọi Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Việt Nam, Bắc cũng như Nam, và đề nghị Hoa Kỳ tuyên bố sẽ rút quân theo lịch trình quy định để miền Nam không bị đảng Cộng sản miền Bắc kết án “cõng rắn cắn gà nhà”. Lời kêu gọi này bị chính quyền Nam cũng như Bắc la mắng chửi bới nặng nề.

Chị Mai là một trong ba chị Tiếp Hiện đều có ý nguyện xuất gia đã gặp tôi và có ý trách thầy Nhất Hạnh: “Phượng nè, chị Mai thương quý thầy Nhất Hạnh trong lý tưởng Thanh niên Phụng sự Xã hội và xả thân hết lòng cho lý tưởng xã hội của Thầy. Nhưng chị thật tình lo ngại về hành động kêu gọi hoà bình như báo chí đang nói.”

Tôi giải thích: “Theo lịch sử Việt Nam, mỗi khi có sự tranh chấp giữa hai nhóm người Việt, nhóm nào cho quân đội ngoại quốc chen vào là bên đó thua nên mới có những danh từ như cõng rắn cắn gà nhà hay rước voi giày mả tổ. Hồi cuối 1963 đến giữa năm 1964 bên miền Bắc thì có vũ khí và cố vấn của Nga, Trung Quốc. Bên miền Nam thì có vũ khí bom đạn Mỹ và cố vấn Hoa Kỳ. Nếu thời điểm đó mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kêu gọi hoà bình thì thế đứng hai bên rất quân bình. Nhưng Giáo hội PGVNTN cứ chần chừ, rồi gần cuối năm 1964 quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam cho nên thầy Nhất Hạnh phải kêu gọi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam theo lịch trình, nếu không thì miền Nam sẽ bị mang tiếng rước voi giày mả tổ. Lúc bài Lời kêu khẩn nguyện đau thương của dân tộc đăng trên Hải Triều Âm (do thầy Nhất Hạnh viết), em và mấy người bạn khác cũng có nộp đơn xin Viện Hoá Đạo cho nhịn ăn vô thời hạn để cầu nguyện cho hai miền Nam Bắc ngưng đánh nhau dưới sự lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Thầy Nhất Hạnh nói, mình là thầy tu lo chuyện kêu gọi chấm dứt chém giết nhau. Chị Mai nghĩ coi, mình ăn chay, đất nước nát tan vì chuyện chém giết nhau, không kêu gọi chấm dứt giết nhau thì ăn chay làm gì?”

Chị Mai ngồi cúi mặt rất lâu. Vài hôm sau chị vui vẻ trở lại hăng say lo cho Thanh niên Phụng sự Xã hội.

Ngày 24.4.1967 TNPSXH bị tấn công lần thứ hai

Một thời gian sau, những kẻ lạ mặt trở lại cũng vào ban đêm. Họ rượt mấy chục cô gái và quăng hơn chục trái lựu đạn vào người các em gái. Một nữ giáo sư khách tên Trương Thị Phượng Liên từ Quảng Ngãi vào thăm Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Thấy không khí lý tưởng đẹp và vui quá, Liên xin ở lại ngủ đêm nên giáo sư Phượng Liên và sinh viên Trần Thị Vui chết tại chỗ.

Bùi Thị Hương nát hết bàn chân và có gần sáu trăm mảnh lựu đạn vào người em. Mười sáu em gái sinh viên TNPSXH bị thương như Nguyễn Thị Kê, Phùng Hồ Thị Diệu… nhận mấy chục mảnh sắt trong lá gan. May quá các vị đều còn sống.

Hương bị mất hết nguyên bàn chân trái và một phần chân phía dưới gối khoảng 10 phân, và gần sáu trăm mảnh lựu đạn nằm trong gan thận và toàn người. Ôi bút mực nào diễn tả được niềm tuyệt vọng của chúng tôi thuở đó. Nhưng càng nhìn sâu, càng thấy rõ thì chỉ có một con đường: nhìn sâu hơn để hiểu và thương ngay những người vì có cái thấy sai lầm về TNPSXH nên đã giết anh em. Ngày hôm sau, quý hoà thượng Thiện Hoà, Thiện Minh đến thăm trường lần đầu tiên. Sư Bà Diệu Không cũng có mặt làm lễ cầu siêu cho hai chị em vừa bị thảm sát. Hoà thượng Thiện Minh khá lo cho tình trạng an ninh của tất cả các Thanh Niên PSXH này. Quý hoà thượng xưa nay chẳng bao giờ đến thăm TNPSXH nhưng nay rất ưu ái. Trong bài diễn văn đọc cho quan khách trước giờ chôn hai em, thầy Thanh Văn thay mặt chúng tôi đã viết: Chúng tôi không hiểu vì sao những người bịt mặt đã rượt mấy chục nữ sinh viên Thanh niên Phụng sự Xã hội để ném mấy mươi quả lựu đạn giết Trương Thị Phượng Liên và Trần Thị Vui mà không thương xót. Các em tôi tay còn lấm mực học trò và trong tim chỉ có con đường Phụng Sự đồng bào nông thôn nghèo khổ, sống thiếu thuốc men, thiếu tổ chức, không có trường học, không có cả nhà vệ sinh công cộng. Và kẻ thù chúng tôi không phải là con người, kẻ thù chúng tôi chỉ là cái thấy sai, cái tưởng sai lầm của quý vị về những em thanh niên trẻ này. Đó mới chính là điều mà chúng tôi mong muốn tháo gỡ được trong cách nhìn của các anh. Đất nước đang cần những bàn tay và cái nhìn thấu hiểu của các anh nhiều lắm.

Các linh mục, mục sư có mặt lúc đó đều khóc. Các hoà thượng, thượng toạ xưa nay vẫn nghĩ thầy Nhất Hạnh lý tưởng quá. Nhưng sự hiện diện của các hoà thượng lớn khiến chúng tôi được an ủi vô cùng.

Thích Nhất Trí, Nguyễn Trọng Ngành, Nguyễn Ngọc Quýnh, Bỉnh, Đinh Viết Dương… bị bắt cóc

Một tháng sau, tám anh em TNPSXH trong đó có Thầy Nhất Trí bị bắt cóc giữa đêm khuya ở một trại công tác bên bờ sông Sài Gòn. Chúng tôi đã hỏi ở Bộ Cảnh sát Công an cả năm trời mà không ai tìm ra tông tích tám vị ấy.

Từ năm 1975 – 1980 khi đất nước đã thống nhất, chúng tôi được thăm tất cả hang cùng ngõ hẻm của đất nước có hỏi thăm khắp nơi, cũng có nhờ cô Phan Thị Bích Hằng tìm ra hài cốt của tám anh em Thanh niên Phụng sự Xã hội ấy, nhưng không ai tìm ra tông tích của bất cứ một anh nào. Chúng tôi nghĩ có lẽ họ đã ám sát, thủ tiêu và quăng xác ở nhiều nơi khác nhau của sông Sài Gòn nên xác các em đã bị cá rỉa và xương đã rã tan đâu đó.

Chị Diệu Huỳnh Phan Thị Mai tự Nhất Chi Mai tự thiêu cho Hoà Bình

Tuần tụng 14 giới Tiếp Hiện tháng 5 năm 1967 chị Mai làm chủ lễ. Khi tụng tới giới thứ 12 “không được giết chóc, không tán thành sự chém giết” thì giọng chị Mai bỗng lạc đi. Hôm đó có Masako và Tài ngồi thính giới chung. Masako và Uyên cũng nhận ngay có cái gì rất lạ trong giọng của chị Mai hôm ấy. Từ giới thứ 12 về sau, giọng chị lạc đi. Suốt hai tuần chị không đến chùa cuối tuần để tĩnh tu, có lẽ chị muốn để dành hai tuần cho cha mẹ già và cũng để chuẩn bị một mình lặng lẽ thiêu thân. Hai tuần sau, nhằm mồng 8 tháng Tư âm lịch, dương lịch 16 tháng 5 năm 1967 chị Mai đã tự thiêu cho Hoà Bình tại chùa Từ Nghiêm lúc 6 giờ sáng. Trước mặt chị là tượng Bồ tát Quan Thế Âm, tượng Đức Mẹ Maria và bài thơ:

Chắp tay tôi quỳ xuống,
Chịu đau đớn thân này
Mong thoát lời thống thiết
Dừng tay lại người ơi
Con mong cho Bồ tát Quán Thế Âm và Đức Mẹ Maria chứng giám để hai tôn giáo này cùng hợp tác với nhau mà lo lắng xây dựng Hoà Bình cho dân tộc Việt Nam.

Ngày hôm sau các báo chí Sài Gòn đều đăng tin tự thiêu của Nhất Chi Mai nhưng đều bị kiểm duyệt bôi trắng hết. Nhưng càng bôi trắng thì tin càng lan nhanh. Cảnh sát muốn đem thi hài chị đi nhưng cha mẹ chị Mai làm dữ, cấm không cho mang xác chị đi. Masako cũng đưa một ký giả Hoa Kỳ đến gặp tôi. Không ngờ ông này là ký giả New York Times (Nữu Ước thời báo, là tờ nhật báo lớn nhất Hoa Kỳ). Nhờ thế mà sáng sớm ngày 17 tháng 5 năm 1967, New York Times đã có hình tôi, cầm mười bức thư để lại của chị, tôi chỉ tóm lược bức thư gửi tổng thống Johnson.

Thầy Trí Quang quá cảm động đã gọi tôi tới để nhờ đọc giùm mười bức thư chị để lại gọi là những lời trăn trối của chị.

Vì chị Mai người Nam nên thầy muốn thu thanh mấy bài thơ giọng người con gái miền Nam. Bốn giờ sáng thầy sang chùa Từ Nghiêm tụng kinh cho chị Mai và bảo tôi nên in giùm nguyên tập mười bài thơ trăn trối của chị. Nhưng trước đó linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã tự lãnh hết trách nhiệm in ấn và phổ biến tất cả. Chúng tôi chưa kịp báo tin chị Mai tự thiêu cho thầy Nhất Hạnh ở Hoa Kỳ thì sáng 17 tháng 5 năm 1967, nhật báo New York Times đã báo tin có người con gái Việt Nam thiêu thân cho hoà bình và có viết thư yêu cầu tổng thống Johnson:

  1. Ngưng oanh tạc Bắc và Nam Việt Nam.
  2. Từ từ rút quân giao cho người Việt tự định đoạt chế độ của họ.
  3. Nhờ Liên Hiệp Quốc kiểm soát tổng tuyển cử cho tất cả người Việt Nam, Bắc và Nam Việt Nam. Người Việt nếu tự do thật sự họ sẽ đủ khôn ngoan để chọn chế độ hạnh phúc và tự do cho Việt Nam.
  4. Giúp Việt Nam tái thiết lại xứ sở của họ đã bị bom đạn của các ông cày tan nát.

Sau này tôi mới biết nhờ bài viết chiếm nửa trang của Nữu Ước thời báo sáng hôm 17 tháng 5 năm 1967 có hình bán thân của tôi trên New York nên thầy Nhất Hạnh đã liên lạc với các hội đoàn thân hữu, và trong vòng vài tuần lễ thu xếp để có chín ngàn thầy tu Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo… cùng chịu ký tên STOP THE KILLING NOW in Việt Nam. Lời kêu gọi của STOP THE KILLING NOW đã đăng nguyên trang trên nhật báo New York Times. Và cả phong trào phản chiến ở Mỹ từ từ gia tăng lên được hơn một triệu người.

Thanh niên Phụng sự Xã hội bị bắn chết bên bờ sông

Đêm 4 tháng 7 năm 1967, giữa khuya một toán người lạ mặt có vũ trang tới bắt năm thanh niên PSXH đang làm công tác tại làng Bình Phước cạnh bờ sông. Những người vũ trang đến bắt năm người con trai, bịt mắt lại và đưa ra bờ sông, rồi bắn vào đầu từng người. Hà Văn Đính bị bắn trước nhất. Trúng đạn và đau quá, chảy máu nhiều quá, em lăn lộn rơi xuống sông. Họ bắn tiếp từng người vào đầu và sợ chưa chết nên bắn thêm mỗi người vài phát nữa. Đính rơi xuống sông trong đêm đen, nhưng nước ròng nên không chết ngợp. Em sống sót đến sáng ngày hôm sau, dân làng kéo ra bờ sông và vớt Đính đưa vào bệnh viện. Sáng hôm sau tôi đi xe gắn máy trở lên Bình Phước, lòng hớn hở vì đã xin được phép má tôi định tối ngủ lại đấy hôm sau. Bỗng nhiên tới nơi, thấy mấy tác viên nháo nhác chạy tới dẫn tôi đến bờ sông! Ôi ghê rợn! Bụt ơi! Ai mà đối xử tàn tệ ghê gớm thế? Bốn em Võ Văn Thơ, Lê Thế Lành, Nguyễn Hy, sư chú Hồ Ngọc Tuấn nằm sóng sượt trên đất. Máu trên đầu đã khô nhưng tôi không dám nhìn kỹ. Đáng lý xác tôi cũng nằm trên bờ sông như các em đây. Thiên hạ báo tin sư chú Hà Văn Đính cũng bị bắn nhưng em lăn được xuống sông và chưa chết, được đưa tới bệnh xá gần đó. Nhưng xe cứu thương đã đem em về bệnh viện lớn Chợ Rẫy, Sài Gòn. Hôm sau gặp em còn sống và thuật chi tiết khi họ vào chái đình, chỗ các em ngủ. Họ có khoảng hơn mười người, có vũ trang nên bắt năm đứa con trai ngủ nơi ấy, cột tay lại phía sau lưng và bịt mắt mỗi em lại. Họ dẫn các em đi không xa thì ra tới bờ sông. Một người rờ đầu Võ Văn Thơ, ốm nhỏ và hỏi: “Các em có phải Thanh niên Phụng sự Xã hội?”

Thơ trả lời: “Dạ thưa phải.” Tuy mắt bị bịt nhưng Đính nghe tiếng nói: “Các em còn nhỏ quá, nhưng chúng tôi có lệnh phải giết các em thôi!” Lách cách tiếng súng nổ: Đoành! Ngã lăn đau đớn quá, Đính lăn tòm xuống sông. Cách cách… Tiếng đoành sau và sau nữa… Em bất tỉnh. Khi tỉnh hơn, em đau đớn ráng bò về bờ sông.

Nhờ Hà Văn Đính còn sống sót nên thuật cho mọi người, Đính chỉ nhớ câu họ nói: “Các em còn nhỏ quá, nhưng chúng tôi có lệnh phải giết các em thôi.”

Tôi nghe trái tim mình nát ra từng mảnh, ngồi như chết bên bờ sông. Chưa biết tính sao thì nghe nói xe nhà quàn sắp đến mang bốn cái hòm do quý thầy lớn ở trường đặt để mang xác các em về Trường. Chắc thầy Thanh Văn hay chú Phước hay cô bác trong làng đặt xe tang chở bốn em về Trường để làm lễ cho tươm tất. Họ bỏ từng em vào mỗi cái hòm rồi có xe kéo bốn hòm nằm song song đưa về Phú Thọ Hoà, trụ sở Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội.

Tại trụ sở khuôn viên Chùa Lá, thầy Đồng Bổn nhờ thợ và các em Thanh niên cất một nóc nhà tạm thời, không có vách để quàn tạm thi thể các em. Nóc nhà bằng vải bố xanh lá nâu hầu che nắng và mưa vì còn phải để xác các em vài ngày sau khi làm lễ truy điệu và mời gia đình các em vào rồi mới chôn. Nếu trời mưa thì tội cho nơi quàn linh cữu các em lắm. Giây phút tôi ngần ngại nhất là khi phải gặp cha mẹ của các em Hy, Thơ, Lành, Tuấn từ Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên vào. Chúng tôi, ban giám đốc biết ăn nói với cha mẹ các em ra sao đây?

Ban chăm sóc trường lại họp và chuẩn bị thơ mời ngày truy niệm và làm lễ chôn cất luôn. Mình đâu có chỗ nào chôn các em đâu ngoài ngôi Chùa Lá này? Thầy Thanh Văn nhờ tôi: “Chị Phượng viết bài diễn văn lần này giùm tôi nhé.” Hôm Liên và Vui mất tôi đã viết là kẻ thù chúng tôi không là người dù các anh đã cầm lựu đạn thảy vào người các em của chúng tôi. Chúng tôi chỉ tiếc là cái tưởng, cái thấy của các anh về chúng tôi quá sai lạc. Dù các anh đã thảy 17 quả lựu đạn giết chết hai người và làm bị thương 18 tác viên xã hội, chúng tôi xin được thưa là kẻ thù chúng tôi là cái thấy sai lầm của các anh về chúng tôi. Thật ra chúng tôi chỉ giúp một tay cho những người dân ở những làng quê nghèo khó của đất nước. Nếu may mắn các anh lấy được ra cái tưởng rất sai về chúng tôi thì tự sự đâu tới nỗi nào. Nghe những câu này các hoà thượng đã khóc. Kỳ này thầy Thanh Văn bảo: “Chị Phượng nhớ soạn điếu văn ngày truy niệm giùm tăng thân, tôi hết sức rồi. Giờ tôi chỉ có thể thảo thư mời các hoà thượng và nhân sĩ chức sắc trong nước và trong Giáo hội.”

Tôi cầm xấp thơ đi giao thư mời như cái máy. Lúc đó Thầy chưa dạy chúng tôi Kinh người biết sống một mình. Nhưng nếu không sống ngay trong giây phút hiện tại thì không thể nào không nghĩ đến niềm tuyệt vọng đang tràn vào tận xương tuỷ của tôi. Hôm sau là đã tới ngày trước làm lễ truy niệm các em, tôi ngồi trước bàn thờ Bụt lúc 12 giờ đêm mà cũng không nghĩ ra câu nào. Tôi dứng dậy đi thiền hành quanh chánh điện. Chợt câu nói của Hà Văn Đính hiện ra: “Những người ấy rờ đầu chúng tôi từng đứa và nói, các em còn nhỏ quá, có phải các em là Thanh niên Phụng sự Xã hội ở Phú Thọ Hoà không?” Thơ nói: “Dạ phải.” Người lạ mặt nói: “Chúng tôi rất tiếc, các em còn nhỏ quá, nhưng chúng tôi có lệnh buộc lòng phải giết các em thôi.” Câu nói này có nghĩa là, người nhận lệnh ám sát đã nghe thông điệp chúng tôi rồi và không muốn giết, nhưng lệnh trên buộc thì phải làm thôi. Nhờ thế nên trong bài diễn văn tôi đã viết cảm ơn các anh mà khi được lệnh phải giết các em tôi, các anh đã để tay lên đầu các em tôi và ưu ái nói: “Các em còn nhỏ quá, nhưng chúng tôi có lệnh buộc lòng phải giết các em thôi.” Thưa các anh, nếu được lệnh ám sát mà không thi hành lệnh trên thì các anh sẽ bị trừng phạt. Rồi ai lo cho vợ con các anh? Chúng tôi hiểu và tri ơn. Mong lần sau các anh sẽ tìm ra cách, không giết chúng tôi nữa, mà cũng không hiểm nguy đến an ninh của các anh.

Phút khó khăn của chúng tôi là làm sao trả lời cho ba má bốn em vừa bị thảm sát từ Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên vào thăm xác con. Em Nguyễn Hy, 18 tuổi, mặt sáng sủa và là con trai duy nhất của ông bà cụ từ Quảng Nam vào. Ôi cụ ôm xác con qua chiếc áo quan mà khóc lớn và nói: “Con ơi, con trai duy nhất của ba mẹ ơi, ba mẹ rất tiếc không còn em nào nữa để gửi về đây thay con mà phụng sự!” Nghe đến đây tôi không cầm được nước mắt hổ thẹn vì ngại cha mẹ các em TNPSXH sẽ trách chúng tôi làm sao mà để con ông bà chết đi oan ức như thế này? Phải trả lại con cho họ! Các cha mẹ đã không đòi con mà chỉ khóc vì em Nguyễn Hy là con một. Ba má em Võ Văn Thơ cũng thế, họ than thở là không còn đứa con nào để đi phụng sự tiếp. Hai người còn lại là Lê Thế Lành và Hồ Ngọc Tuấn cũng thế, không ai đòi chúng tôi trả lại con cho họ.

Hoà thượng Thiện Hoà, Thiện Minh và sư bà Diệu Không

Trận thảm sát ngày 4 tháng 7 năm 1967 này là lần chót. Có một chiều tháng 8, cũng ở một làng công tác xa, chú bé chín tuổi trong một làng công tác của chúng tôi chạy đến nói: “Chú ơi, có ông lái xe máy đến cho con 5 đồng và dặn mua kẹo ăn, nhưng ông ấy bảo phải tới nói ngay với mấy chú là nên dọn nhà đi đi. Đừng ở đây tối nay nguy hiểm.” Chúng tôi dọn văn phòng công tác đi ngay thì tối hôm ấy có toán người lạ mặt đến đốt lều của chúng tôi mà anh em TNPSXH đã dọn đi rồi. Nhóm chủ trương ám sát thấy nhân viên của họ, vì không muốn vâng lời ám sát nên đã lặng lẽ nhờ chú bé địa phương báo tin gián tiếp nên họ cũng bỏ luôn. Đó là lần chót, Thanh niên Phụng sự không còn bị ám sát nữa và chân lý Kẻ thù ta không phải là người rất đúng vì người nào cũng có tánh Phật. Nếu bị ám sát mà tránh được gây căm thù và vẫn không giận, không oán thù, chỉ trách cái tưởng sai lầm của đối phương thôi thì mình chạm được Phật tánh của người muốn giết mình. Nhờ hành xử với những người ám sát như thế nên hình như có nhiều người có tâm Bụt đã lặng lẽ hỗ trợ các em. Số tác viên Thanh niên PSXH ngày càng lặng lẽ tăng. Những ngày cuối của chế độ trước, số trợ tác viên, cảm tình và ủng hộ TNPSXH Việt Nam lên cả mười nghìn người.

Hình này chỉ có năm 1968 khi xây xong cư xá Nam TNPSXH, giảng đường, thư viện. Nhưng tháng 5 năm 1975, chính phủ mới Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã tịch thu và biến thành Trường trung học cơ sở Trần Phú. Chùa Lá được thầy Phước Trí cho sửa lại bằng gạch thật huy hoàng diêm dúa, rất khác chùa Lá Pháp Vân mà thầy Nhất Hạnh khởi xướng khi xưa. Mộ của thầy Thanh Văn, Châu Toàn và sáu tác viên chết trong khi đang công tác được chôn tại Chùa Lá Pháp Vân được di chuyển ra phía trước chùa.

Làng tu tập

Dần dần Thầy hối thúc thầy giám đốc TNPSXH mau mau làm làng tu tập.

Những ai có tinh thần phụng sự – theo Thầy dạy – như tác viên xã hội Thanh niên Phụng sự Xã hội, như các anh chị Tiếp Hiện cư sĩ, phải có phần tu tập một ngày mỗi tuần. Cái thấy của Thầy là tác viên xã hội cũng phải có một ngày tĩnh tu trong tuần. Càng làm việc xã hội thì càng phải tu tập. Bên Tây phương và Mỹ châu, Thầy khuyên các tác viên của những phong trào kêu gọi hoà bình cũng phải có phần tu tập, nếu không thì sẽ có sự xung đột ngay giữa các nhóm kêu gọi hoà bình với nhau. Muốn làm công tác xã hội giúp cho người nghèo thì mình cũng phải tu để xử lý được những cơn giận hay bức xúc của mình. Là thầy giáo mình cũng phải tu để có sự bình tĩnh, để trở thành một ông thầy giáo hay một cô giáo đầy tính Phật. Mình phải tu để trở thành Phật tác viên xã hội, Phật bác sĩ tâm lý trị liệu, Phật y sĩ, Phật nha sĩ, Phật y tá. Vì vậy Thầy nói mình phải có một trung tâm tu học để người tác viên xã hội mỗi năm có thể trở về tu ít nhất là một tuần cho tới một tháng. Mỗi năm làm việc mười một tháng thì phải có một tháng trở về tĩnh tâm. Người đến tu học phải giữ Năm giới. Thầy thấy Mười giới Bồ tát truyền thống quá chung chung, không hợp với thời đại nữa nên chế tác Mười bốn giới Tiếp Hiện thay cho giới Bồ tát. Giới, Thầy dịch là “training” tức là tập luyện. Luyện để giữ Năm giới và khi nhuần nhuyễn rồi thì luyện để giữ Mười bốn giới. Mà muốn “luyện” thì phải tập tu, dừng lại (thiền chỉ). Người luyện trở nên thanh thản, bình an, thương yêu, hiểu biết, sống trong hoà ái với chính mình và với những người chung quanh. Mười bốn giới có hai phần, tu sĩ có 14 giới của tu sĩ và cư sĩ cũng có 14 giới của cư sĩ.

Tu sĩ là người độc thân, đóng cánh cửa tình dục để có thì giờ lo Phật sự nhiều hơn, làm những chuyện lợi cho người, cho xã hội và cho đời cho nên Thầy khuyến khích thầy Châu Toàn (giám đốc điều hành nhiệm kỳ 2 trường TNPSXH) phải lập làng Tu học càng sớm càng tốt. Thầy hy vọng dần dần các anh em Thanh niên Phụng sự Xã hội sẽ thọ 14 giới Tiếp Hiện.

Thọ giới Tiếp Hiện đầu tiên tại chùa lá Pháp Vân

Năm 1966, ngày rằm tháng Hai tức ngày 6 tháng 3 năm 1966, ba cô gái và ba chàng trai đã được Thầy trao 14 giới Bồ tát Tiếp Hiện, một dòng tu mới. Tôi có mời Trâm nhưng anh không tới, Lê Khắc Tích, Lê Khắc Phương Thảo cũng không tới. Chỉ có chị Đỗ Thị Nga, Nghiêm Thị Bạch Tuyết thì 100% hết lòng. Tôi được chị Nga tặng cây đèn (đèn đêm nhỏ, veilleuse de nuit) có chữ Mãn Nguyệt Đăng. Chị Nga rất “cưng” tôi, không đòi hỏi gì hết, đóng góp rất vô tướng. Sáu người thọ giới Tiếp Hiện ngày hôm ấy là:

Diệu Huỳnh Phan Thị Mai, 31 tuổi

Diệu Không Cao Ngọc Phượng, 28 tuổi

Diệu Thiện Phạm Thuý Uyên, 23 tuổi

Tuệ Linh Đỗ Văn Khôn

Minh Tịnh Bùi Văn Thanh

Tâm Thông Nguyễn Văn Phúc

Chúng tôi, ba chị em gái phát nguyện làm xuất sĩ sống trọn đời độc thân. Ba anh con trai thì đã có người yêu nên trong giới thứ 14 phần dành cho cư sĩ, Thầy căn dặn phải ý thức trách nhiệm của mình về quyết định cho ra đời những sinh mạng mới và môi trường mà con cái mình sẽ lớn lên trong tương lai.

Trăng tròn đêm tháng 2 trời mát, không có mưa.

Bắt đầu từ hôm ấy chúng tôi rủ nhau về chùa Lá tĩnh tu và họp bàn chia công tác thay vì đi quá xa vào chùa Trúc Lâm ở Cây Quéo Gò Vấp.

Hình sáu đứa mặc áo Tiếp Hiện

Chùa lá Pháp Vân

Chiều hôm đó, tại văn phòng Viện cao đẳng Phật học, chùa Pháp Hội, thầy Nhất Hạnh dặn khi chúng tôi chào Thầy để về nhà: “Ngày mai, các con có bận gì nhiều ở làng tình thương Cầu Kinh Thảo Điền không? Nếu có thì các con cũng gắng về trước cơm trưa. Thầy Thanh Văn sẽ nấu ăn đãi ba chị em.” Thầy Thanh Văn đãi món mì ống (món Macaroni Ý) mà nấu theo kiểu Việt Nam làm thành một thứ bún nước rất ngon như bánh canh vậy. Thầy trò vừa ăn xong chén mì ống tuyệt vời của thầy Thanh Văn thì thầy Nhất Hạnh đã pha một bình trà Ô Long lớn, mời mọi người. Hôm đó có chị Phan Thị Mai, bác Trịnh Sâm, chị Phạm Thuý Uyên, thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Văn và tôi. Thầy nói: “Thầy mời tụi con đi thăm chùa Pháp Vân của mình. Pháp Vân là tên ngôi chùa đầu tiên trên đất Giao Châu (tên cũ của nước Việt). Từ hồi mới lập quốc, nước ta luôn có chiến tranh, cũng liên miên chống ngoại xâm nhà Hán từ phương Bắc. Rồi sau đó lại chống ngoại xâm từ Đông Bắc, đó là nhà Nguyên, Mông Cổ. Đội kỵ quân trăm trận trăm thắng của Thành Cát Tư Hãn bách chiến bách thắng chiếm được nhiều phần đất của nhà Hán rồi tấn công luôn cả một phần Âu Châu. Hốt Tất Liệt, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn tấn công xuống Giao Châu là tên nước ta ngày xưa. Hốt Tất Liệt suýt thắng nhưng cuối cùng phải thua nhờ tình đoàn kết và lòng từ bi của vua quan nhà Trần mà đại tướng là Trần Hưng Đạo. Phía nam nước ta lại có giặc Chiêm Thành. Có giặc thì có nhưng muốn giữ vững hồn thiêng dân tộc thì ngôi chùa là gốc của hồn nước. Hôm nay Thầy muốn mời tụi con đi thăm ngôi chùa trong chiến tranh Việt Nam nên thầy chủ trương xây bằng lá.” Chùa Lá đầu tiên ở miền Nam Việt Nam do Thầy và thầy Thanh Văn cất lên để chia sẻ niềm đau của toàn dân. Tiền lương dạy học ở Columbia New York Hoa Kỳ nếu muốn xây chùa sang hơn mái Chùa Lá này thì Thầy cũng đủ sức xây. Nhưng Thầy để xài vào nhiều việc ích lợi trước đó. Ngôi chùa bằng lá này sẽ có tên là chùa Pháp Vân để nhớ ngôi chùa đầu tiên của nước ta. Chú tài xế của Viện Phật học là anh Sang lái chiếc xe mười sáu chỗ của Viện Phật học, thầy Thanh Văn ngồi giữa bác tài và thầy Nhất Hạnh. Băng sau có bác Trịnh Sâm, chị Mai, chị Phượng và chị Uyên.

Xe đưa mọi người tới ngang Trường đua Phú Thọ rồi tiếp tục đi về hướng Phú Lâm. Bác Sâm nói anh Sang lái xe chầm chậm, khi nào tới ngã ba đi Cầu Tre thì rẽ tay mặt nhé. Tôi nghĩ ngay, tuy là tên Cầu Tre nhưng chắc phải là cầu đúc xi măng thì xe mười sáu chỗ của Viện Đại học mới qua nổi, chứ nếu cầu mà bằng tre thì xe này sao qua cầu được! Đúng thế, tên là Cầu Tre mà là chiếc cầu đúc bằng xi măng. Đường này khá vắng vẻ. Qua cầu xong, đi thêm một đoạn thì bên tay mặt là đường hương lộ dọc dài ven theo nghĩa địa Triều Châu. Nghĩa địa bên mặt chúng tôi khá dài. Bên trái vẫn còn đất hoang đầy hoa giấy, hoa mười giờ và hoa mắc cỡ (hoa trinh nữ). Có những cây bông giấy mọc hoang mà cũng rực rỡ màu vàng gạch và màu tím hồng rất đẹp. Xe chạy thêm khoảng hơn hai cây số, chúng tôi thấy xa xa kia, bên trái đường hương lộ này có một khu nhà lá và nhà gạch lộn xộn, thỉnh thoảng có đôi ba nhà gạch. Bác Sâm nói đây là xã Tân Phú được quy hoạch để che chở phi trường Tân Sơn Nhất. Họ chia: chỗ này sẽ là khu chợ, cái chợ trời lèo tèo dăm ba quán. Anh Sang rẽ xe sang trái đi vào chợ, rồi dọc theo chợ vài trăm thước lại quẹo xuống tay mặt. Bác Sâm chỉ trỏ: “Kìa phần đất ruộng này mình mới mua của ông bà Mười. Quý thầy đã nhờ thầy Lưu Phương theo dõi thợ xây cất, phỏng hoạ theo cái phác hoạ sơ của Thầy chúng mình. Chính Thầy chúng ta là ‘kiến trúc sư’ thứ thiệt đó các cô ạ!” Bác Trịnh Sâm quả quyết thế. A a! Đây rồi! Nhìn kia, trông xa xa như có một ngôi chùa bằng lá, không phải là nhà thường dân vì mái chùa là hai mái lá dài úp lại như hai bàn tay búp sen, nhọn, nhưng có mái thứ hai bên dưới cong cong xinh xinh và nóc không nhọn hoắt như ngôi chùa Thái mà cũng không như ngôi nhà lá bình thường của người dân. Xe đỗ trước chùa. Ngôi chánh điện vẫn còn đơn sơ lắm, nhưng vừa bước vào chùa ba chị em tôi “cảm phục” quá. Đẹp quá Thầy ơi!

Bàn Phật chỉ là chiếc bàn tre mây, thật trang nghiêm, cao một thước hai. Thầy Thanh Văn thỉnh được bức hình chụp một bức vẽ Bụt Thích Ca đang ngồi thiền bên bờ sông Ni Liên Thuyền. Bức hình chỉ có 45cm bề cao nhưng bề rộng là 70cm và đó là hình chụp một bức vẽ Bụt ngồi thiền, quay lưng vào một cây bồ đề, mặt nhìn ra sông Ni Liên Thuyền. Toàn cảnh bức hình Bụt ngồi thiền được bao bọc bởi một “rừng tre” phủ nguyên bức tường sau lưng bàn thờ Bụt. Khung tre đó chỉ là những thanh gỗ bề ngang 2,5cm, bề cao 2 mét, hay ba, bốn hay năm mét, sơn xám sậm xanh đen nằm song song chiếm toàn bức vách cao, bít cả vách tường ngôi Chùa Lá Pháp Vân này. Khung hình Bụt ngồi thiền bên bờ sông được bao quanh bởi một bức vách tường mới sơn màu lam xám lạt nhẹ và trưng bày như một khung gỗ vĩ đại làm bằng những thanh gỗ sơn xám xanh đậm. Ôi là đẹp! Ba chị em chúng tôi phục quá, im lặng cảm phục mà không tìm ra từ nào để tỏ lòng trân quý. Ba chị em chúng tôi ngưỡng mộ cả một vách tường chánh điện Chùa Lá biến thành toàn cảnh bức tranh bên bờ sông Ni Liên Thuyền. Tóm lại nguyên một bức tường 8 mét bề ngang, 5 mét bề cao là bàn thờ đức Bổn Sư. Thầy Thanh Văn thắp hương dâng lên cho thầy Nhất Hạnh, rồi chính thầy Thanh Văn thỉnh chuông để thầy trò cùng lạy năm vóc phủ phục trên một chiếc chiếu 2 mét rưỡi bề rộng và dài từ bàn thờ đến cuối chánh điện khoảng 12 mét. Ôi là đơn sơ mà thanh nhã.

Lần đầu tiên ở miền Nam Việt Nam, có lẽ chỉ có ngôi chùa này là bằng lá, do một vị khất sĩ tên là Thích Nhất Hạnh xây, chủ trương rằng trong thời chiến tranh loạn lạc nên cất chùa bằng lá, không khác gì những nhà lá nhà tranh của dân quê Việt Nam, nhưng phần tâm linh thì người đi chùa cũng sẽ sống sao cho đẹp. Sau đó quý thầy đưa chúng tôi đi vòng quanh chánh điện, là hành lang tráng xi măng rộng cỡ 2,5 mét bề ngang, bao vòng quanh chánh điện. Trong và ngoài chỉ có tráng xi măng như bên trong chánh điện, không có gạch men, chỉ là xi măng tráng, không lát gạch hoa, chỉ đi chân không mà không xảm chân. Rải rác quanh hành lang là những băng bằng tre dùng để thay ghế ngồi, tựa lưng vào vách chùa, quay ra ngoài, dài độ hai mét để dọc theo hành lang. Trước chiếc băng có một bàn bằng tre mây nhỏ thấp để thầy trò ngồi uống trà. Quý thầy ngồi trên ghế tre mây còn chúng tôi ngồi ngay trên sàn tráng xi măng. Vì tình hình chính trị bên ngoài bức bách nên Thầy muốn cho chúng tôi thọ giới Tiếp Hiện. Giới Tiếp Hiện được Thầy lược từ Giới luật, Bồ tát giới… Thầy cho xây thêm một vách tường phía sau hành lang như cái phòng tạm cho Thầy ngủ lại một ngày cuối tuần ở Chùa Lá. Phòng Thầy sẽ ở kế bên phòng uống trà khi họp mặt một số người nòng cốt sẽ được truyền giới Tiếp Hiện và vài mươi người dấn thân hết lòng phụng sự.

Đấy ngôi chùa Thầy cho chúng tôi thọ giới Tiếp Hiện, ngôi Chùa Lá rất nghệ thuật thế đấy.

Thân hữu chùa Lá ngày chánh niệm hằng tuần

Ngày chánh niệm tại chùa Trúc Lâm ở Cây Quéo

Tiền thân của những buổi họp mặt tăng thân trẻ học theo thầy Nhất Hạnh là họp ở tận chùa Trúc Lâm Cây Quéo xa hơn Gò Vấp nữa. Nếu các bạn bảo tôi tả chùa Trúc Lâm ra sao thì tôi hoàn toàn không nhớ có chánh điện thờ Bụt gì, Bụt Thích Ca hay Bụt A Di Đà? Cứ xe gắn máy tôi vừa vào cổng chùa Trúc Lâm, rẽ xéo bên tay mặt là cốc bằng lá của thầy Châu Toàn xây cho thầy Nhất Hạnh. Cốc bằng tre và lá thôi nhưng rất thanh bạch. Thầy ngồi sau bàn viết và chúng tôi hai ba chị em đèo nhau vào thăm Thầy. Có khi sáu đứa, có khi chín đứa ngồi luôn dưới sàn xi măng, nghe say mê Thầy chia sẻ một bài thơ hay vài tư tưởng cách mạng làm mới đạo Phật.

Hồi này, khoảng tháng 12 năm 1964, sau những ngày cứu lụt vất vả trên sông Thu Bồn, dù bận bịu mấy thì chúng tôi, đám thanh niên sinh viên cũng có nửa ngày chánh niệm tại chùa Trúc Lâm ở ngã ba Cây Quéo, Gò Vấp. Đây là chùa của thầy Châu Toàn và thầy Đồng Bổn. Nơi này có chiếc am lá của thầy Nhất Hạnh mà sáng nào tôi cũng mang sữa nóng mua ở tiệm sản xuất sữa tươi, nấu nóng sữa, khử trùng và cho vào chai còn nóng hổi. Tiệm này ở góc đường Trần Quý Cáp và đường Trương Minh Giảng. Sáu giờ sáng tôi ghé qua Trương Minh Giảng lấy sữa, đi xe Velo Solex lên tận chùa Trúc Lâm đem cúng cho thầy Nhất Hạnh một chai sữa nóng rồi mới quay xe về lại Đại học Khoa học. Riêng sáng Chủ nhật thì chúng tôi ở luôn tại chùa Trúc Lâm Cây Quéo. Cả ba bốn chục đứa kéo nhau về chùa Trúc Lâm, bàn bạc về chuyện cứu trợ. Thầy Đồng Bổn kho nồi mít non. Nồi mít chỉ có xì dầu, nước dừa, nấu thật lâu cho mít thật mềm, béo, thanh bạch. Không có nấm rơm, nấm mèo, không nấm đông cô. Không có tàu hủ kho chung. Vậy mà ngon ơi là ngon. Thầy Châu Toàn thì chưng dọn chùa thật nghệ thuật. Một đoá hoa, một cành trúc mà cũng gợi cả cơn gió mùa xuân. Thầy Châu Toàn cắm chỉ một đoá hoa, một cành trúc nằm ở góc chùa thôi mà ôi, thật đẹp. Thầy Nhất Hạnh nằm trên võng trên hành lang chùa. Chúng tôi bu quanh Thầy để nghe Thầy đọc những bài thơ trong Chắp tay nguyện cầu cho Bồ câu trắng hiện.

Em Nghiêm Thị Bạch Tuyết với tên nhỏ là “Út Mít” kéo ra từ túi móc trên xe hàng chục hộp lon xin tiền lẻ ở các tiệm vùng Sài Gòn cho nạn nhân bão lụt năm Giáp Thìn 1964. Tôi cũng thuật sơ cách tôi chia quà trên những làng nghèo cơ cực dọc theo sông Thu Bồn. Cô bé Tuyết Út Mít này, cô bé Uyên này, cô em Thanh xinh xắn của tôi này, cô nào cũng trút ra một số hộp lon. Chỉ có Út Mít là oai nhất, nhiều hộp lon xin tiền cắc nhất. Đây nè, còn nữa… chú em Tài này, anh Huệ Dương này, có khi có cả ba chàng bác sĩ của làng tình thương là bác sĩ Trâm, bác sĩ Nguyên và bác sĩ Quyền. Thỉnh thoảng cũng có cả chị Mỹ Hạnh xinh xắn này, có anh dược sĩ Bảy này, dược sĩ Xuân Lan – ý trung nhân của bác sĩ Hồ Văn Quyền, chị Đỗ Thị Nga – dược sĩ đại thí chủ của làng.

Tuyết đem trút ống lon sữa bò ra và đếm tiền trao cho chị Uyên làm thủ quỹ ghi sổ xong thì các anh chị em chúng tôi ngồi nghe thầy Nhất Hạnh đọc thơ: Ruột đau chín khúc, Đừng biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngon lửa dữ. Có khi Thầy dạy Uyên hát cho Thầy nghe. Giọng hát của Uyên rất mong manh, lung linh như ngọn đèn trước gió nhưng không tắt, không giống ca sĩ nào hết nên đại chúng rất ưa giọng ca của cô sinh viên đang học Dược này. Tình cảm cô Uyên cũng thanh tú như giọng hát của Uyên. Ghi xong tổng số tiền nhận được trong tuần thì cả nhà chuẩn bị phụ thầy Đồng Bổn dọn ra cơm trắng ăn với món mít kho ngọt lừ, với rau cải xanh mới hái trong vườn chùa. Mọi người được ăn cơm picnic với món mít luộc ngon và béo ngậy ai cũng thích. Các anh Quyền, Trâm, Nguyên rất ưa cơm chay của thầy Đồng Bổn. Chị Bích, chị Điệp, Kim Chi, Phùng Thăng thì ưa các bình cắm hoa rất nghệ thuật của thầy Châu Toàn. Trương Thị Nhiên thì đúng là bà mẹ Việt Nam, lặng lẽ đi pha một “ấm” trà to tướng cho mọi người. Tình thầy trò huynh đệ anh chị em thương nhau như con một nhà.

Ngày Chánh niệm tại chùa Trúc Lâm ở Cây Quéo là thế. Còn bây giờ tôi đi quanh Chùa Lá xem nơi nào đủ chỗ cho cả “bè lũ” ngồi uống trà quanh Thầy và uống từng lời dạy dỗ của Thầy đây? Chị lớn là tôi sau khi đi quanh Chùa Lá tôi đã lẩm nhẩm tính thầm, chắc là chỗ tụ tập uống trà chung là ngồi dưới nền xi măng bao quanh Thầy như ở Trúc Lâm Gò Vấp thôi. Rồi chỗ nào chắn bớt hành lang quanh chùa để làm “phòng ngủ, che đủ kín để làm phòng cạo gió cho Thầy?” A may quá, thầy Đồng Bổn đã cho thợ xây căn nhà nhỏ bằng xi măng, gạch xám và nóc tôn để làm chỗ ngủ cho thị giả của Thầy. Mấy ngày đầu thì chú Tâm Thái và Nhất Trí làm thị giả. Căn nhà xi măng là cho thị giả, phía tuốt sau làm nhà bếp tạm nấu ăn cho quý thầy khi ghé ngang Chùa Lá sau khi dạy xong ở Viện cao đẳng chùa Pháp Hội, tương đối gần hơn về tận Trúc Lâm Cây Quéo. Ban đầu tôi nhờ chị Bảy của tôi may gấp những tấm màn dài phủ xuống tận đất như một tấm vách ngăn một góc chùa. Phía gần phòng thị giả ở ngôi nhà xi măng nóc tôn, tôi nhờ chị Bảy may hai chiếc màn lam 3 mét bề cao như vách tường dài phủ thêm một góc nhỏ sau vách làm bàn Phật để làm phòng ngủ của Thầy. Kế đó là phòng họp của thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Văn, anh Phúc và Uyên, Thanh, Phượng, chị Mai.

Đêm giao thừa đầu tiên

Từ hôm hai mươi sáu Tết, Triều Quang, Từ Mẫn và Thanh Hiện đã tự động kéo về Phương Bối, như con trở về nhà cha mẹ vào những ngày giỗ lớn. Quang ở Dalat về mang theo rất nhiều nhánh bạch mai thật đẹp. (Trước đó, chị Diệu Âm đã cho Như Hiền đem tặng cho chúng ta rất nhiều cây bạch mai con để trồng quanh nhà). Chúng ta bàn với nhau ăn một cái Tết lớn nhất trong đời chúng ta, và ăn tại Phương Bối. Sau một đêm bàn luận, chúng ta đồng ý như sau:

1 – Đốt một đống lửa vĩ đại ngay trên đồi Thượng.

2 – Cắm trại ở đồi Thượng.

  • – Nấu một thùng bánh chưng trên đồi Thượng để cúng giao thừa.
  • – Cúng giao thừa, đốt pháo ở đồi Thượng.
  • – Hội họp ăn bánh chưng, chúc Tết và bình văn ở đồi Thượng. […]

Lý là người Bắc và Lý tuyên bố có thể gói những chiếc bánh chưng vào hạng đẹp nhất Bắc Hà. Ban đầu ai cũng tưởng là Lý chỉ “ăn to nói lớn” theo kiểu một nhà văn như Lý, nhưng sau khi thấy Lý trổ tài, ai cũng phục lắm. Dì Tâm Huệ mua nếp, đỗ xanh và cung cấp lá dong tươi cho Lý. Hôm gói bánh tôi cũng làm phụ tá cho Lý trong việc lau lá, xếp lá, rọc lá. Lý làm một cái khuôn nhỏ và gói những chiếc bánh chưng nhỏ xíu, vuông vắn, thật đẹp. Bánh chưng được nấu từ lúc năm giờ rưỡi chiều để kịp chín nửa giờ trước giờ giao thừa. Mẫn và Hiện đã bắc hai bếp gần dưới chân đồi Thượng, một bếp để luộc bánh chưng, một bếp khác để nấu nước sôi tiếp cho nồi bánh. […]

Cả nhà chuẩn bị ăn Tết một cách rộn rịp và chính sự chuẩn bị rộn rịp để ăn Tết ấy quả đã là Tết một cách đích thực rồi. Từ lúc ba giờ chiều, Nguyên Hưng và Triều Quang đã vào rừng đốn về những cây tre lớn và cưa ra từng ống một, chất đầy bên lều. Khi thùng bánh chưng sôi, tất cả chúng ta đều tắm rửa, quây quần trong chiếc lều lớn nhất cắm trên đồi, nghỉ ngơi, nghe chương trình phát thanh cuối năm của đài Saigon từ chiếc Sony quen thuộc và ăn cơm, một bữa cơm chiều thật đơn giản. Tha hồ cho chúng ta nói chuyện bốn phương. Hồi ấy thường trú tại Phương Bối mới chỉ có Nguyên Hưng, Lý, Tuệ, dì Tâm Huệ và tôi, còn những người khác đều là “chim bốn phương bay về đây cả”. Những con chim ấy bay về Phương Bối và tíu tít kể cho nhau nghe những mẩu sinh hoạt, những câu chuyện, những biến cố đã xảy ra cho chúng từ những phương trời khác nhau. Không ai là không thấy rõ rằng Phương Bối chính là alma mater của mình.

Trên những cây cao còn lại của đồi Thượng và cả trên lan can của thiền thất nữa, Mẫn và Lý đã treo đèn. Vào lúc mười giờ rưỡi, Nguyên Hưng ra lệnh đốt lửa. […] Bởi vì đồi Thượng là chiếc đồi cao nhất trong vùng. Chúng ta trông rõ tất cả những vùng núi bao quanh Phương Bối nhờ ánh lửa trên đồi Thượng. Có lẽ tất cả thú vật, dân chúng của núi rừng đang ngạc nhiên, và qua kẽ lá, đang hướng những cặp mắt nhìn về đồi Thượng. Xa xa, ta có thể trông thấy ngôi nhà của Đại Hà thấp thoáng trong đồi núi trập trùng. Mười một giờ rưỡi khuya rồi. Chúng ta trở về thiền thất cúng giao thừa. Chiếc bánh đầu tiên vớt ra đã được đem lên cúng Phật. Buổi lễ đơn giản và ấm áp chỉ kéo dài vào khoảng 20 phút. Giao thừa đến. Mẫn, Hưng, Quang, Hiện, Lý, tất cả đều mang những ống tre liệng dần vào đống lửa. Đó là pháo lệnh giao thừa của Hưng đấy.

Bánh chưng của Lý quả thật là rất ngon – có lẽ cũng ngon nhờ những điều kiện khác nữa, như là không khí đặc biệt của Phương Bối, sự hiểu biết của mọi người, vui vẻ của mọi người và nhất là sự… đói bụng của mọi người. Nói như thế không có hại gì đến cái “uy tín” gói bánh của Lý cả. Mỗi người trong chúng ta phải chúc tất cả mọi người và như thế chúng ta nghe tất cả đến năm mươi bốn câu chúc Tết. Dì Tâm Huệ tỏ vẻ nhiều e thẹn nhất dù dì lớn tuổi bằng dì của tất cả chúng ta, và dì đã chúc cho tất cả những câu chúc đơn sơ mà chân thành cảm động.

Tôi nhớ suốt ngày mồng một Tết các cậu đã chia thành hai ba toán rủ nhau đi chơi thám hiểm núi rừng. Thầy Thanh Từ chưa có mặt ở Phương Bối trong cái Tết thứ nhất ấy. Nhưng trong cái tết thứ hai, thầy cũng tham dự những trò nghịch ngợm nhất của mọi người. Ở đây ai cũng dễ dàng và sẵn sàng để mà “đồng sự”. Kiểu chào của thầy Thanh Từ cũng thay đổi như tất cả mọi người và cả đến những kiểu sinh hoạt khác như đi núi, trồng cây, cắm trại nữa.

[…]

Nguyên Hưng ơi, vì nghĩ như thế nên chúng ta đã làm việc tích cực trong thời gian ở Phương Bối. Tuy rằng chúng ta có những buổi thám hiểm núi rừng, những ngày cắm trại, những buổi bình văn, và tuy rằng tất cả những sinh hoạt ấy đều rất thú vị, chúng ta cũng đã để rất nhiều thì giờ vào việc học tập, tra cứu, viết lách. Lý thường thức rất khuya trên đống bản thảo. Còn tôi tuy sức khỏe không cho thức khuya, tôi cũng làm thật nhiều việc. Ngoài sự sưu tầm, viết lách tôi đã khởi thảo bộ Phật học từ điển. Công việc này dở dang; trước khi đi, tôi đã giao lại cho một số các bạn trẻ ở Phật học viện Nha Trang tiếp tục. Tôi rất sung sướng nghĩ đến những buổi học nơi nhà Thượng hay ở thư viện. Nguyên Hưng và Thanh Tuệ đã làm việc rất siêng năng. Ngoài những môn học thường nhật, thỉnh thoảng tôi ưa giảng cho Hưng và Tuệ về những đề tài đặc biệt. Tôi chắc Nguyên Hưng còn nhớ hôm tôi đem giảng những đoạn trong Cựu Ước. Những cuộc hội thảo xảy ra luôn luôn, một cách tự nhiên và Lý có vẻ hùng biện hơn ai hết. Nói thế chứ nhiều khi tôi cũng hay “bắt nạt” Lý lắm, phải không Nguyên Hưng? Thầy Thanh Từ thì ít nói, hay cười hiền lành. Tuy vậy thỉnh thoảng chúng tôi cũng bắt thầy điều khiển những buổi hội thảo. Tôi nhớ có một lần thầy hướng dẫn hội thảo về thiền. Lần này có một nhóm Sinh viên Phật tử ở Saigon lên thăm và tham dự.

Triều Quang ít nói trong các buổi hội thảo, nhưng hễ nói thì nói những điều có thể gây nên những “vấn đề lớn”. Quang rất say mê làm việc ngoài rừng. Cậu ta dọn một khoảng thật đẹp ở khu rừng trước mặt, sửa sang cho thật xinh, và gọi đó là nội cỏ thiên đường. Quang rất thích nuôi một con bò, ý định ấy được vài người trong chúng ta tán thành. Tuệ cười nói: “Vậy thì sẽ có sữa nóng uống buổi sáng.” Còn tôi thì ngại ông Ba Mươi. Nuôi một con bò con tức là mời các ông Ba Mươi tới viếng thăm ban đêm.

Một hôm Quang trông thấy những người Thượng đi ngang, mang theo một con nai nhỏ. Con nai bị trói lại trông rất đáng thương. Quang nhất định mua con nai ấy để nuôi trong nội cỏ thiên đường. Lần này không ai ngăn cản Quang cả. Nhưng con vật, tuy được cởi trói và đối đãi thật tử tế, vẫn không chịu ăn bất cứ một thứ gì. Ba bốn hôm liền như vậy. Đến hôm thứ tư, Quang thử cho uống sữa. Con vật thích lắm. Nó uống sữa xong, đi chơi quanh quẩn trong nội cỏ. Nhưng đến sáng mai, không ai tìm thấy nó nữa. Nó đã trở lại núi rừng.

[…]

Nguyên Hưng ơi, mùa hè năm ấy, bao nhiêu việc buồn đã xảy đến cho chúng ta. Chị Diệu Âm ốm nặng phải chở lên điều trị tại bệnh viện của bác sĩ Sohier. Lý bị bắt. Tôi phải trốn về Saigon.

Phương Bối bị đe doạ. Tuệ Hưng và tất cả những người ở Phương Bối bị bắt buộc phải rời bỏ Phương Bối để vào trong ấp chiến lược. Công an nghi rằng chúng ta đang làm gì ở miền núi rừng nên cứ đến Phương Bối để hỏi thăm, dò la. Những người công an này lộ liễu lắm bởi vì trông tướng mạo họ và nghe một vài câu hỏi của họ, ta đã có thể biết ngay rằng họ là công an rồi. Đột nhiên chúng ta mất hết những an tĩnh của chúng ta. Phương Bối bị đe doạ trầm trọng. Chúng ta chứng kiến cảnh thiên đường bị mất dần dần.

[…]

Tuệ đã lại đi dạy học lại và chỉ về Phương Bối vài lần trong một tuần. Ấp chiến lược được thiết lập bên xa lộ. Ban đầu thầy Thanh Từ, Tuệ và dì Tâm Huệ còn nán ở lại, nhưng sau đó ít lâu, mỗi người cũng phải tản mát một nẻo. Thầy Thanh Từ cũng đã về Phú Lâm lâu rồi. Thanh Tuệ và dì Tâm Huệ cũng phải tạm trú ở Đại Hà thỉnh thoảng mới vào thăm Phương Bối. Tội nghiệp cho Thiền Duyệt thất. Tội nghiệp cho nhà Thượng. Tội nghiệp cho từng lá cây ngọn cỏ.

Tôi nhớ trước ngày đi, tôi có lên Phương Bối thăm một cách đột ngột. Tôi ngủ lại một đêm. Buổi sáng hôm ấy trời đầy sương lạnh lẽo. Tôi giã từ thầy Thanh Từ, giã từ Phương Bối, giã từ những cuốn sách của tôi, tôi để lại cho thầy Thanh Từ một bài ngũ ngôn, như một bài chúc tụng như sau:

Gối nhẹ mây đầu núi
Nghe gió thoảng hương trà
Thiền duyệt tâm bất động
Rừng cây dâng hương hoa
Một sáng ta thức dậy
Sương lam phủ mái nhà
Hồn nhiên cười tiễn biệt
Chim chóc vang lời ca
Đời đi về muôn lối
Quan san rộng hải hà
Chút lửa hồng bếp cũ
Ấm áp bóng chiều sa
Đời vô thường vô ngã
Người khẩu Phật tâm xà
Niềm tin còn gửi gắm
Ta vui lòng đi xa
Thế sự như đại mộng
Quên tuế nguyệt ta đà
Tan biến dòng sinh tử
Duy còn Ngươi với Ta.

Thầy Thanh Từ xem xong rất cảm động. Tôi nói: “Tôi đi rồi lại về.” Và ở bên này có rất nhiều khi tôi nhớ thầy, một hôm đọc Ngữ lục tôi thấy có câu:

Trương kiến kha kha tiếu
Viên lâm lạc diệp đa.

Và bất giác nhớ hình ảnh Phương Bối quá. Tôi dịch hai câu ấy ra như sau:

Gặp nhau cười ha hả
Lá rụng ngập vườn rừng.

Có phải là khi nào đi từ cầu Mai đến đồi Thượng mà gặp nhau, chúng ta cũng thấy như thế phải không Nguyên Hưng?

Nhưng hết rồi, hết rồi, Phương Bối đã lọt ra khỏi tầm tay của chúng ta rồi. Tội nghiệp cho từng gốc cây, từng bụi cỏ, từng lối mòn. Một người hiền hoà như thầy Thanh Từ mà cũng không được ngồi yên để toạ thiền trong lòng Phương Bối nữa! Chúng ta còn lại gì cho ngày mai? Mỗi người một ngả. Phương Bối đã tủi thân đến mức độ nào? Chiếc nhà Thượng có đứng vững được trước gió mưa cho đến khi chúng ta trở về hay không?Nhưng mà Nguyên Hưng, không biết sao tôi cứ tin rằng chúng ta không bao giờ mất Phương Bối. Phương Bối vẫn còn đó, vẫn chịu đựng biệt ly cũng như tất cả chúng ta hiện đang mỗi người một nẻo, cũng chịu biệt ly. Phương Bối đã trở nên thực tại trong lòng người. Phương Bối đã chiếm chỗ linh thiêng trong lòng chúng ta. Ở bất cứ phương trời nào, nghe đến Phương Bối là ta cảm động. Bữa trước viết cho Mẫn tôi nói: “Dù cho phong ba bão táp có đánh bạt chúng ta mỗi người một ngã thì niềm tin vẫn đưa chúng ta về trả lại cho nhau.”

Cách tổ chức và thời khoá sinh hoạt

Hồi đó, chúng ta thường ưa làm việc tay chân vào các buổi sáng. Chỉ trong vòng ba tháng sau ngày chúng ta về, Phương Bối đã trở nên quang đãng và đẹp đẽ. Bởi vì sáng nào chúng ta cũng làm việc tay chân và ngày nào chúng ta cũng có ít ra một người bạn Thượng làm việc trong phạm vi Phương Bối. Sau này ta lại có anh Năm, người con trai hiền lành từ xứ Quảng di cư vào, Năm đã ở lại với chúng ta trong suốt thời gian hưng thịnh của Phương Bối.

Chỉ trừ những ngày mưa, còn thì buổi sáng nào ở Phương Bối cũng đẹp. Buổi sáng Phương Bối thật là linh động. Sáng nào Phương Bối cũng vang động tiếng chim tiếng vượn. Trời Phương Bối rét nên chúng ta không dậy sớm. Thường thường tôi chong đèn ngồi viết đến nửa đêm. Buổi sáng tôi thường thức dậy giữa tiếng chim tiếng vượn. Chính Tuệ và Nguyên Hưng biết rằng tôi chưa khôi phục lại được sức khỏe ngày xưa nên hai người cứ lẳng lặng dậy trước, để yên cho tôi ngủ. Còn dì Tâm Huệ thì ngủ rất ít. Thường thường khi tôi dậy thì đã có nước trà để uống cho ấm bụng. Nồi cháo trắng đỗ xanh lúc ấy đã chín rồi; thường thường chúng ta hay chạy vào bếp sưởi ấm, uống nước và ăn điểm tâm ngay trong cái nhà bếp nghèo nàn nhưng ấm cúng đó, Nguyên Hưng nhớ không.

Nắng mai tuy rất trong và rất đẹp nhưng không đủ ấm. Cho nên chúng ta phải bắt đầu mỗi ngày bằng công việc tay chân. Làm như thế thì chỉ trong mười phút là đã thấy ấm người rồi. Hồi đó tôi cũng biết sử dụng phảng, cuốc và mai không kém gì Nguyên Hưng vậy. Nguyên khu đồi Thượng, chúng ta cũng đã phải để ra hàng tháng mới dọn xong. Bao nhiêu là gốc cây. Bao nhiêu là dây chằng. Bao nhiêu là gai góc. Chúng ta đã làm được không biết bao nhiêu là ghế, là bàn, bằng những nguyên liệu của rừng như mây, như gỗ, ngay trên đồi Thượng. Lại còn có những chiếc ghế treo nữa. Các thầy ở Huế hay ở Saigon mỗi khi lên thì cứ ưa ngồi hàng giờ trên đồi Thượng và dù lớn đến cách mấy, vị nào cũng thích ngồi đu trên những chiếc ghế treo.

Buổi mai ở Phương Bối đẹp như một tờ giấy trắng tinh, nguyên vẹn, một tờ giấy trắng tinh có ửng mầu hồng ở góc. Thực vậy, Nguyên Hưng. Chúng ta thức dậy ở Phương Bối với ý thức là chúng ta có trước mặt một ngày trọn vẹn không bị ai xâm phạm. Không phải đi hội họp, không phải chờ xe buýt, không phải ngồi ở phòng đợi, không phải thao thức vì những cái rendez-vous. Một ngày trọn vẹn, có đủ sáng, trưa, chiều, tối, và đẹp như mầu hồng của bình minh. Một ngày trọn vẹn mà ta muốn sử dụng như thế nào cũng được. Nguyên Hưng có thể hoặc làm cỏ ở đồi trà, hoặc dọn thêm khu rừng trước mặt, hoặc trồng thêm cây ăn trái, hoặc viết lách hay nghiên cứu. Chúng ta làm được thật nhiều việc, nhưng không bao giờ chúng ta chán việc, bởi vì tất cả những gì ta làm là đều do sở thích. Nếu ta không làm cỏ ở đồi chè chẳng hạn, thì anh Năm cũng chịu khó làm và thế nào đồi chè cũng sạch cỏ. Nếu ta không dọn thêm một khu rừng trước mặt hôm nay thì ta có thể làm vào một hôm khác. Chúng ta, tóm lại, muốn làm gì thì làm. Buổi sáng, sau khi ăn điểm tâm, thế nào trong chúng ta cũng có một người đề nghị là nên đi làm việc gì sáng hôm nay. Tôi nhớ hồi đó Phương Bối có Nguyên Hưng, có Tuệ, có Triều Quang, có Lý, có Năm, có Phú, có dì Tâm Huệ và có tôi. Nếu Nguyên Hưng đề nghị “sáng nay dọn thêm ở khu đồi Thượng” thì ít nhất cũng có ba người hưởng ứng. Hoặc nếu Lý đề nghị “sáng nay làm một con đường xuống thung lũng” thì Lý chắc chắn cũng có người hưởng ứng. Thường thường các đề nghị đều được tất cả mọi người tán thành. Có khi hai người cùng đề nghị một lần, và chúng ta chia ra hai nhóm tuỳ theo sở thích. Lâu lâu chúng ta lại có một cuộc thám hiểm núi rừng. Ai nấy đều chuẩn bị kỹ lưỡng. Thường thường những cuộc “thám hiểm” như thế kéo dài cả ngày. Chúng ta hay dừng lại ăn trưa và nghỉ ngơi bên một dòng suối. Nhiều hôm Nguyên Hưng và Triều Quang mang về những cây phong lan tuyệt đẹp. Ai nấy đều mệt nhoài. Đêm đến chúng ta ngủ rất ngon.

Trong những buổi đi rừng, phục sức của tất cả mọi người đều rất kỳ dị. Nguyên Hưng có nhớ không? Ở Phương Bối chúng ta không cần vâng theo luật lệ của… người phàm. Ta có thể đội bất cứ thứ mũ nào, mang bất cứ thứ giầy ủng nào, dùng bất cứ thứ thắt lưng nào. Có khi nhìn vào tấm gương tôi thấy tôi giống như một ông ngáo ộp. Râu thì có khi một tuần chưa cạo một lần. Không phải vì làm biếng mà vì chúng ta có những việc khác ưa làm hơn! Áo thì bằng da dày cộm để gai rừng không bấu rách. Ống quần thì túm lại bỏ vào đôi ủng cao su để khỏi bị vắt xâm nhập. Vai thì mang một cái xách đựng hoặc cơm trưa, hoặc chiếc võng đay, hoặc hộp cứu thương. Tay thì cầm một cái xà gạc hoặc một cây gậy. Những người học trò của tôi ngày xưa nếu có trông thấy tôi trong hình dáng ngáo ộp ấy chắc cũng không thể nào không kinh ngạc cho được. Ăn mặc như thế này để vào lớp giảng thơ Nguyễn Du thì chắc là không được đâu, phải không Nguyên Hưng? Ở rừng núi chúng ta đi đứng mạnh bạo hơn. Chào nhau ở cửa rừng đôi khi chúng ta không chắp tay trước ngực mà chúng ta đưa một cánh tay thẳng lên trời. Đi lại trên các con đường rừng núi thì không cần bước từng bước đĩnh đạc bệ vệ nữa; chúng ta đi rất mau, hoặc là chúng ta chạy. Từ đồi này chúng ta la hét sang đồi kia. Nguyên Hưng hét to hơn ai hết. Như một cái còi xe lửa. Có một điều mà ta thấy rất rõ là ai lên Phương Bối cũng ưa la hét thật to. Tôi nhớ có một lần trèo lên cây thông cao ở rừng Tham Thiền để đốn một cành thông xanh, Nguyên Hưng hét vang cả núi rừng. Tôi lúc đó đang dọn dẹp thiền thất cũng bị tiếng hét của Nguyên Hưng kích động. Tôi bỏ chiếc chổi lau, chạy ra, nhìn về phía rừng Tham Thiền. Và buồn cười chưa, tôi cũng hét to để hỏi và để trả lời Nguyên Hưng. Rừng núi lớn lao quá khiến ta có cảm tưởng là bị nhỏ bé lại và vì thế tiếng hét của ta là để phá tan cái mặc cảm là chúng ta bé nhỏ. Có phải không Nguyên Hưng? Lại cũng có lẽ là vì chúng ta muốn trả thù những công thức giao tiếp của cái xã hội cũ. Trong xã hội đó, nói thì phải nói với giọng giữ gìn, để ý từng câu từng chữ. Xã hội quy định ta phải ăn như thế nào, chào như thế nào, đi như thế nào, ngồi như thế nào, vén áo như thế nào, ngả mũ như thế nào. Vì vậy khi lên Phương Bối chúng ta đã có khuynh hướng lật nhào tất cả những luật lệ đó. Và chúng ta chạy hoặc hét là để phá vỡ cái mặc cảm chúng ta bị nô lệ, để chứng tỏ rằng chúng ta có “tự do”.

[…]

Tôi không thể không nhớ đến những người bạn Thượng của chúng ta ở B’su Danglu, những người bạn Thượng thường hay đi qua Phương Bối để hái rau rịa. Rau rịa là một thứ lá rừng ăn rất ngon; người Thượng nào cũng ưa thích. Thứ cây này có rất nhiều ở Phương Bối, nhất là trong khu rừng phía tây nam. Ta chỉ có thể hái được những đọt lá còn non mầu hồng tím. Lá rịa mọc song đôi trên đọt cho nên Lý đặt tên thứ rau này là song diệp thái. Người Thượng có thể bán cho người Kinh bất cứ thứ gì họ kiếm được ở rừng: tre, mây, phong lan, thịt nai, măng… nhưng không bao giờ bán lại rau rịa. Họ nói: không ăn rau rịa thì hai chân sẽ nhức mỏi; đi rừng nhấc chân không nổi. Tôi chắc là thứ lá ấy có dược tính trừ được tê thấp, hay gì đó. Bác Đại Hà nói những người mất ngủ nếu ăn rau rịa thì sẽ ngủ được. Chúng ta ai cũng thấy điều đó là đúng, và lâu lâu lại vào rừng đi hái thứ rau quý giá đó về để cho dì Tâm Huệ nấu canh.

Thỉnh thoảng gặp những người Thượng đi ngang Phương Bối, chúng ta hay ra mời mọc họ vào chơi, uống nước. Những người Thượng như thế ít nhiều cũng nói được tiếng Kinh. Còn tiếng Thượng thì chúng ta chỉ biết một vài câu xã giao thôi. Bác Đại Hà nói tiếng Thượng thật giỏi, nhưng không có dịp để dạy chúng ta. Tôi đã kiếm được một tập tự điển Thượng Kinh Kinh Thượng in bằng ronéo, nhưng cũng chưa có dịp thuận lợi để học.

Mùa an cư đầu tiên

Hồi đó Tuệ, Hưng, tôi và chị Diệu Âm hay rủ Như Khoa và bọn trẻ con gia đình Đại Hà vào chân đồi Thượng cắm trại, luôn tiện xem các ông thợ làm nhà. […] Vì muốn về Phương Bối trước mùa an cư cho nên chúng ta đã cố gắng rất nhiều. Lúc bấy giờ đường lên Phương Bối đã được phát dọn quang đãng. Cái khu rừng từ cầu Mai lên đến dưới đồi Thượng, cái khu rừng ấy mới đẹp làm sao. Tôi muốn được suốt đời đi trong một con đường rừng như thế. Con đường thơm ngát hoa chiều. Và có một vài thứ hoa gì nữa cũng rất thơm mà chúng ta không biết tên. Mỗi lần lên Phương Bối mà leo tới được cầu Mai là đã thấy khỏe rồi. Thấy như là mình đã tới rồi, tới được cõi của mình rồi. Khúc đường còn lại là khúc đường rừng hấp dẫn nhất mà tôi vừa nói đó. Thầy Thanh Từ sau này rất thích đội một cái nón lá thật to vành và chống một chiếc gậy đi lên đi về con đường đó. Phương Bối hiện ra một cách đột ngột ở một khúc quanh: đồi Thượng sáng lên như một chân trời giác ngộ, như một cõi Bồng Lai, nhất là ngày bắt đầu có chiếc nhà Thượng với hai mái cao vừa hùng vĩ vừa e lệ.

Những cơn mưa gió đến trước mùa an cư làm chúng ta phải cực nhọc nhiều lần. Chúng ta đã có tủ để đựng hai vạn cuốn sách. Chúng ta đã có giường có bàn, chúng ta lại cũng có một chiếc nhà bếp xinh xắn cách đó không xa. Và quý nhất là chúng ta đã xây được một cái hồ đựng nước mưa chứa được chừng vài chục thước khối nước. Những ngày ấy chúng ta rất bận rộn với ngôi nhà mới sắp hoàn thành. Tuệ lúc đó bận dạy học ở trường Bảo Lộc cho nên ít giúp chúng ta được. Nguyên Hưng với tôi đã để rất nhiều thì giờ trang trí thiền thất. Màu sắc và cách xếp đặt ở thiền thất như Nguyên Hưng biết, cũng khá trang nhã. Có một bữa cùng với Nguyên Hưng đứng ở lan can nhìn xuống khu rừng phía trái mà ta thường gọi rừng Tham Thiền tôi thấy một dải mây giăng ngang từ cửa rừng sang đến gần chân đồi Thượng. Dải mây giống như một dải lụa, bề rộng chừng độ hai thước. Thật là kỳ thú. Tôi với Nguyên Hưng đã chạy xuống đi lại gần dải mây. Tới gần thì không thấy dải mây đâu. Chúng ta thất vọng, bởi vì chúng ta đã muốn đứng sát một bên dải mây, nhưng khi trèo lên lại lan can nhìn, thì dải mây vẫn còn đó, tuy đã biến hình và loãng dần ra. Rừng Tham Thiền có lẽ là khu rừng đẹp nhất. Khu này có nhiều thông và nhiều cây cao, to, rất hùng vĩ. Khu rừng có vẻ bí mật. Chúng ta đã định làm những chỗ ngồi tham thiền và chiêm nghiệm. Cứ lâu lâu, chừng năm bảy hôm một, Nguyên Hưng và tôi lại đi vào rừng Tham Thiền để hái hoa đem về đơm trong một cái giỏ mây cúng Phật. Hoa có rất nhiều thứ, nhưng kỳ nào ta cũng hái hoa chiều và hoa trang.

Chỉ còn có ba hôm nữa là đến mùa An Cư. Nguyên Hưng và tôi đã định về Phương Bối đúng ngày An Cư. Như Ngọc và Như Thông hứa là ngày ấy sẽ từ Saigon lên chơi để “khánh thành” Phương Bối luôn thể… Trời mưa như trút nước. Mưa rồi lại tạnh. Tạnh rồi lại mưa. Như Khoa đã mượn giúp cho Tuệ và Hưng một chiếc xe jeep để chở hai vạn cuốn sách vào Phương Bối. Sách đựng trong những chiếc bao tải lớn. Chiếc jeep leo núi một cách mệt nhọc, trèo lên trượt xuống. Chiếc xe phải hì hục gần suốt một ngày mới chở được hết sách. Nguyên Hưng và Thanh Tuệ, trong chuyến chót, đã chở vào được thêm một cái tủ – cái tủ trắng rất xinh của Như Thông gửi tặng cho Phương Bối. Tôi còn nhớ trong chuyến ấy, nửa đường các cậu gặp mưa. Cả hai người, Nguyên Hưng cũng như Thanh Tuệ, đều ướt như chuột lột. Thấy mà thương quá. Lúc ấy tôi đang bận bịu xếp sách vào các ngăn tủ. Tôi ra đón Tuệ và Hưng. Tôi bắt Nguyên Hưng vào thay quần áo, lau mình thật sạch và trùm chăn kín lại. Tôi định vào đốt lò sưởi cho Tuệ nhưng Tuệ từ chối, đòi về theo xe. Cả Hưng và Tuệ đều run rẩy. Tuệ nói: “Phen này thì chắc ốm to. Có lẽ thương hàn là ít.” Tôi cũng thấy sợ ghê. Các em dãi nắng dầm mưa nhiều quá. Thế nhưng mà không sao. Dì Tâm Huệ dọn cơm chiều lúc bảy giờ tối; bữa cơm đầu tiên ở Phương Bối được dọn ra đàng hoàng trên bàn, ngoài phòng ăn. Tôi đến nói với Nguyên Hưng: “Dậy ăn cơm đi Hưng.” Nguyên Hưng không chịu, trả lời rằng là chắc hẳn không ăn được. Tôi nài nỉ Nguyên Hưng ra ngồi chơi với tôi trong khi tôi ăn cơm. Nguyên Hưng bèn chịu. Ra tới phòng ăn tôi xới cơm và ép Nguyên Hưng ăn một chén. Nể lời Nguyên Hưng cầm đũa. Thế rồi vui miệng và vui câu chuyện, Nguyên Hưng đã để cho dì Tâm Huệ xới cơm cho Nguyên Hưng tới ba lần. Đêm ấy Nguyên Hưng ngủ ngon không “ốm to” cũng không “thương hàn”. Sáng mai, Tuệ lặn lội vào Phương Bối rất sớm. Thì ra cậu ta cũng chẳng “ốm to”, chẳng “thương hàn” gì cả. […]

Trong cùng một đêm đó, Nguyên Hưng và tôi ngủ lại Phương Bối lần đầu. Cánh cửa giữa chưa lắp, thành ra nửa đêm bị gió thổi rơi xuống sàn nhà một cái rầm. Hai chúng ta đều thức giấc. Nằm bên nhau, chúng ta nghe mưa gió rào rào bên ngoài. Có lẽ là có bão tố ở đâu ấy. Chúng ta đang nằm ngủ trên rừng, cách xa xóm làng đô thị. Rất xa. Chúng ta đã muốn lên tận trên này, làm nhà và dựng cho chúng ta một quê hương bé nhỏ. Tôi không thể nào nằm ngủ được nữa. Tôi rủ Nguyên Hưng trở dậy. Chúng ta đi sờ soạng tìm hộp diêm nhen, đốt một đống lửa và thức bên nhau nói chuyện, cho đến khi tiếng vượn hú hoà với tiếng chim kêu đã vọng vang cả núi rừng. Chúng ta trèo lên đồi Thượng. Phương đông, chân trời vẫn chưa ửng hồng. Sương phủ khắp đồi núi xa xa. Phương Bối đã trở thành một cái gì có thực. Có thực một cách hư ảo. Các bạn ở xa chưa ai biết rằng ẩn mình trên rừng núi Đại Lão, Phương Bối đã xòe những cánh đồi hoang vu và êm dịu như một chiếc nôi lớn – một chiếc nôi lót bằng bông đá, hoa dại, cỏ rừng – chào đón chúng tôi. Ở đây chỉ có cây rừng, có chim có vượn. Ở đây chúng tôi sẽ xa được trong một thời gian tất cả những xấu xa nhỏ mọn của cuộc đời…

[…]

Nguyên Hưng, vào cái ngày bắt đầu mùa An Cư năm xưa ấy, trời bỗng tạnh mưa. Vào khoảng chín giờ sáng thì Như Thông, Như Ngọc và thầy Châu Toàn lên. Họ mang theo rất nhiều thứ quà để tặng Phương Bối. Tôi còn nhớ đến chiếc giỏ mây thật đẹp mà chúng ta thường dùng để đơm hoa rừng cúng Phật. Và nào là chén, là đĩa, là đũa, là thức ăn. Hồi đó đồi Thượng chưa được dọn sạch nên không thể ăn bữa cơm đầu hạ trên ấy như chúng ta ước muốn. Tuệ cũng đã vào từ lúc sáng sớm. Nguyên Hưng và tôi vẫn còn phải loay hoay dọn dẹp thiền thất. Toàn đã vào Rừng Tham Thiền một mình để hái hoa. Một lát sau chị Diệu Âm và cô Lưu Phương vào, cùng đi hái hoa với Toàn. Chị hái được rất nhiều bông chiều, những chùm hoa lớn và trắng như tuyết. Còn Toàn thì sau khi hái được một ít hoa mẫu đơn đã bị rừng sim lôi cuốn. Thế là từ lúc đó, Toàn hái toàn những cành hoa sim. Tôi nhớ ngày hôm đó ở Phương Bối có rất nhiều bình hoa nhỏ mà phần lớn là những bình hoa sim – nhưng vì Toàn đã trẩy gần hết lá sim nên các bình hoa kia trông như những bình hoa đào. Cái giỏ mây đầy cả hoa chiều, hoa mẫu đơn, và một vài thứ hoa khác nữa mà chúng ta không biết được tên được họ. Toàn còn chặt cả một đọt thông lớn để cắm vào chiếc ché Thượng men nâu để trên thiền thất. Như Khoa và Thanh Giới cũng đã băng rừng băng núi tìm vào. Các bạn của Phương Bối như thế, cũng đã khá đông. Sau buổi lễ Phật trang nghiêm và ấm áp, chúng ta đưa mọi người đi một vòng ở Phương Bối. Tuy nói là một vòng kỳ thực đó chỉ là một vòng nhỏ, bởi vì phần lớn đồi núi ở Phương Bối vẫn là hoang vu, không đặt chân đến được.

Những người bạn của Phương Bối đã ở lại đến ba giờ chiều để đàm đạo về những dự tính cho Phương Bối trong tương lai. Rồi thì Toàn cùng với Như Ngọc và Như Thông từ giã chúng ta trước. Họ phải về Saigon và trước khi đi tìm tới xe, họ phải băng rừng qua đến Đại Hà, rồi Như Khoa và Thanh Giới cũng về. Gia đình Đại Hà cũng về. Chị Diệu Âm và cô Lưu Phương cũng về. Thanh Tuệ cũng về, bởi vì Tuệ chưa vào Phương Bối luôn với chúng ta được – lý do là Tuệ còn cưu mang dở dang mấy lớp học ở Blao. Buổi chiều ấy, sau khi họ ra về hết rồi, Phương Bối thật là vắng và thanh tịnh. Đưa Tuệ và chị Diệu Âm về xong, chúng ta từ cửa rừng Tham Thiền – nơi có mấy chữ Nho viết dọc theo một bảng gỗ đóng trên một thân cây “Đại Lão sơn Phương Bối am” – thong thả đi vào. Phương Bối là một thực tại rồi đó, nhưng mà, cũng như chiều hôm trước, chúng ta vẫn không chắc là nó có thực. Nó hiện hữu như một cái ráng trời. Ta có thể nghĩ rằng nó muốn tan biến đi lúc nào thì nó tan biến. Có lẽ vì Phương Bối không giống với bất cứ một cái gì chúng ta đã gặp, đã thân thiết. Cũng có lẽ vì Phương Bối đối với ta còn mới mẻ quá, nhưng đã thân thiết quá. Lại cũng có lẽ vì Phương Bối đẹp không cùng. Ta chưa hề nghĩ rằng số kiếp của ta mà lại có thể liên hệ đến một thực hữu kỳ diệu như Phương Bối. Vậy cho nên Phương Bối nửa như là thực, nửa như là hư. Ta không nghĩ rằng Phương Bối thuộc về ta. Tôi không bao giờ nghĩ như vậy. Cho nên tôi rất đồng ý với Nguyên Hưng, khi Nguyên Hưng nói: Chúng ta thuộc về Phương Bối. Vì câu nói ấy mà sau này Lý thêu dệt thêm ra. Lý nói: Phương Bối là “thánh địa”. Chúng ta là “dân” của thánh địa, đi đâu thì cũng thuộc về thánh địa. Cái tính của Lý thì hay “ăn to nói lớn” như vậy đó mà, Nguyên Hưng.

Tôi còn nhớ buổi chiều hôm ấy, khi đưa Tuệ và chị Diệu Âm ra về, chúng ta đã đi thẳng lên đồi Thượng, nhìn ra bốn phía. Rồi chúng ta đi vào trong những hàng trà. Đất rất mềm và xốp. Chúng ta men theo bờ rừng và đi mãi xuống đến gần thung lũng. Bỗng dưng Nguyên Hưng chỉ cho tôi những dấu chân cọp rất mới, in rõ ràng trên nền đất xốp sau trận mưa hồi hôm. Dấu chân ấy hướng về phía lối về cầu Mai. Trời cũng đã chiều rồi. Thanh vắng quá. Tôi hơi ngài ngại, liền rủ Nguyên Hưng trở về. Chúng ta băng qua những đồi chè để trèo lên đỉnh đồi Thượng. Khi vào tới nhà, chúng ta đi đốt lửa, vì trời đã rét. Dì Tâm Huệ ngày hôm ấy chưa ở lại được với chúng ta, nên đêm ấy chỉ có một mình tôi với Nguyên Hưng. Chúng ta soạn một bữa cơm chiều rất giản dị, rồi ngồi ăn bên nhau dưới ánh sáng của bốn ngọn đèn nến. Đêm ấy, tôi đã nói cho Nguyên Hưng nghe về những dự liệu văn hoá chúng ta sẽ thực hiện sau này. Trước khi đi ngủ chúng ta đã có một buổi “công phu” ngắn và cảm động.

Cảnh trí của Phương Bối đẹp như thế nào?

Vui câu chuyện chúng tôi đến đồi chè mới lúc nào không hay. Đồi thật cao. Đây là ngọn đồi cao nhất ở vùng này. Bây giờ ngọn đồi quang đãng, chúng tôi mới có thể nhìn được cảnh vật bên dưới. Thật là một quang cảnh ngoạn mục. Nhìn từ đây, trời xanh xanh hơn, mây trắng trắng hơn. Những ngọn núi xa có mây trắng phủ phía dưới chân trông như những cù lao nổi giữa biển nước trắng xoá. Nguyên Hưng có biết không. Suốt hai năm trời ở Phương Bối mà buổi sáng nào đứng từ đồi Thượng ta cũng thấy Phương Bối đẹp. Không có một buổi sáng nào giống buổi sáng nào. Có những buổi sáng thức dậy ta chẳng trông thấy được gì ngoài cửa sổ. Bởi vì sương mù dày đặc. Đứng cách nhau chừng năm sáu thước đã có thể không trông thấy nhau. Có những buổi sáng đứng trên đồi Thượng ta có cảm tưởng rất thực là ta đang đứng trên một hòn cù lao ở hải đảo. Sương mù trắng xoá và bằng phẳng như mặt biển, dàn trải đến chân trời. Các ngọn núi xa là những cù lao. Mãi cho đến gần mười giờ sáng sương mới tan và cảnh tượng mới lại phô bày chân tướng. Mà thực ra ta khó nói được thế nào là chân tướng của cảnh tượng nữa. Mỗi ngày mỗi khác. Mỗi giờ mỗi khác.

Phương Bối là một dòng tiếp nối của những cảnh tượng thần diệu. Đó, Nguyên Hưng có nhớ một buổi sáng nọ khi chim hót vang rừng chúng ta đi từ thiền thất lên đến đỉnh đồi Thượng không? Đứng trên đồi ta trông thấy một cặp nai tơ đùa chơi trong nắng sớm, giữa những hàng trà. Những con nai tơ vàng mình có lốm đốm những hàng sao trắng. Chúng ta đã đứng im bất động một lúc lâu, sợ chúng chạy mất. Nắng mai đùa giỡn với những con nai con trên đồi trà. Một lát sau, hai con nai đuổi nhau về phía cửa rừng phía Nam và lẩn mất vào rừng. Chúng ta chỉ còn biết nhìn nhau.

Khu đồi hồi đó tuy đã được trồng trà nhưng còn hoang vu lắm, Nguyên Hưng. Chúng tôi đi giữa những cây trà mới lên. […] Đất mềm và thơm. Chúng tôi đi một vòng đồi, rồi dừng lại ở cửa rừng. […]

Princeton thật là đẹp, nhưng mà Princeton không có được những nét độc đáo của Phương Bối. Princeton không có những buổi sương mù bao trùm núi đồi và gây cho ta cảm tưởng đang đứng trên mặt biển. Princeton không phảng phất hương của hoa chiều, không có tiếng chim kêu vượn hú vang rừng, không có huyền bí và hoang dại như Phương Bối. Tôi không thể nào quên được những đêm trăng rừng Phương Bối. Nguyên Hưng cũng biết là buổi tối ở trên rừng không giống gì với buổi tối ở đồng quê hay là ở thành thị. Mới chừng tám giờ tối thôi, ta đã có cảm tưởng như là đêm đã khuya lắm rồi. Màn đêm dày đặc hơn, huyền bí hơn. Xung quanh Phương Bối quyền uy của rừng thiêng hình như đã được thiết lập lại. Ngồi trong thư phòng, thỉnh thoảng ta nghe những tiếng kêu kỳ dị, phát ra từ những khu rừng bao quanh. Thế giới rừng núi quả đã khôi phục được quyền hành của nó. Ta có thể cảm thấy được những bước chân chậm rãi của chúa sơn lâm và tiếng xào xạc của khu rừng tranh cao quá đầu người khi chúa sơn lâm đi ngang. Rừng núi hết sức yên lặng, nhưng cũng hết sức linh động. Những đêm có trăng, nhất là trăng khuya, ở Phương Bối hình như ít ai ngủ được. Có một bữa, ham viết cho đến một giờ khuya, tôi không biết rằng Thanh Tuệ đã thức giấc và đang đứng lặng yên sau cửa sổ nhìn ra khu rừng tẩm ướt ánh trăng. Tôi cũng tắt cây đèn bát đi, và lại đứng gần bên Thanh Tuệ. Cả trăng cả rừng đều huyền bí, đều mầu nhiệm, và cùng tạo nên một khung cảnh mà chúng ta chưa hề thấy bao giờ trong đời, trừ ở Phương Bối. Trăng cũng tuyệt đối im lặng và rừng cũng tuyệt đối im lặng. Nhưng mà trăng với rừng quả là đang nói chuyện với nhau, nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ gì chúng ta không thể nào biết được. Trăng và rừng lúc này không phải là hai mà chỉ là một. Thí dụ ta lấy trăng đi, thì rừng cũng mất. Hoặc giả nếu ta lấy rừng đi, thì trăng cũng tan biến. Và chính chúng tôi nữa, chúng tôi là gì lúc ấy? Chúng tôi có thể hiện hữu bên nhau sau khung cửa sáng ấy không nếu một trong hai thứ trăng và rừng kia không hiện hữu? Nguyên Hưng cũng đã từng say mê những đêm trăng như thế. Riêng tôi, tôi thấy trăng từ mười sáu trở đi mới già dặn và mới đủ sức nói chuyện với rừng. Có những bữa khuya tôi đứng một mình – cũng sau khung cửa sổ lớn đó – nhìn ra khu rừng trước mặt. Hồi đó khu rừng chỉ cách ta độ năm sáu mươi thước. Khu rừng hùng mạnh, và dưới ảnh hưởng của trăng khuya, tự tạo cho mình một hấp dẫn lực kỳ lạ. Có một sức gì thu hút phát xuất từ khu rừng, một cái gì rất hoang dại và cũng rất hùng biện. Tôi thấy hình như thấp thoáng ở cửa rừng có bóng một người Thượng thân hình đen cháy, hai mắt long lanh, một người Thượng của hàng ngàn năm về trước chứ không phải như những người Thượng bây giờ hay đi ngang qua Phương Bối để tìm rau rịa.

[…]

Nguyên Hưng có nhớ một buổi chiều cùng với bác Đại Hà trồng bạch mai trước sân, chúng ta đón một đoàn người Thượng đi ngang Phương Bối hay không? Họ mang cung tên, trong đó có những mũi tên tẩm thuốc độc. Chúng ta đã ngừng tay và nói chuyện với họ, qua tài nói tiếng Thượng của bác Đại Hà. Lần đầu tiên tôi được mân mê trong tay những mũi tên có tẩm thuốc độc. Bác Đại Hà cắt nghĩa về cái chất vàng vàng ở đầu những mũi tên đó. Để chứng kiến tài nghệ của những người Thượng, Lý yêu cầu họ bắn một mũi tên lên cành cây cong ở khu rừng trước mặt. Bác Đại Hà thông ngôn xong, họ nhận lời ngay. Một người trong đoàn lấy ra một mũi tên – không có thuốc độc – và lắp vào cung. Tiếng giật của giây cung và tiếng mũi tên xé gió đi tới làm cho tôi có cảm nghĩ rằng mũi tên thế nào cũng đi lạc. Nhưng không, sau một âm thanh khô cứng và bén nhọn, tất cả chúng ta đều reo mừng khi thấy mũi tên đã cắm trên cành cây cong, thân tên vẫn còn rung rung.

Đối với chúng ta, đoàn người Thượng hôm ấy là một đoàn người Thượng có phong thái hơn cả, và có tính cách Thượng hơn cả. Một đoàn người như thế thì đi bất cứ trong khu rừng nào cũng không còn phải sợ hãi gì nữa. Chắc là lúc ấy Triều Quang đang tưởng tượng trong óc những lúc đoàn người này gặp cọp giữa rừng và hình dung ra những trận ác chiến ghê gớm giữa người và cọp. Quang hỏi: “Khi gặp cọp trong rừng các ông làm gì?” và chờ đợi nghe những bí thuật, những chiến lược đặc biệt của người Thượng để đối phó với cọp. Bác Đại Hà vừa thông ngôn xong thì câu trả lời bằng tiếng Thượng của người vừa bắn mũi tên trổ tài cũng tới ngay, và rất ngắn. Bác Đại Hà dịch lại: “Khi gặp cọp thì chúng tôi… chạy.” Tất cả chúng ta đều rũ ra cười, phá lên cười, ôm bụng mà cười vì không có ai chờ đợi một câu trả lời như thế, có lẽ trừ bác Đại Hà, người thông hiểu về đời sống của người Thượng hơn hết. Những người khách Thượng ngơ ngác không biết chúng tôi cười vì duyên cớ nào. Họ đã trả lời một cách giản dị và thành thực. Điều đó không có gì đáng cho là khó hiểu hay buồn cười cả. Họ không ngờ chúng tôi cười chỉ vì đã tưởng tượng nhiều quá trong óc chúng tôi về những trận ác chiến với cọp.

Bác Đại Hà cắt nghĩa: “Cọp ở miền này không có ý hại người, không hay giết người ăn thịt. Vì hươu nai và các thú rừng rất nhiều, rừng không nghèo như ở miền rừng Quảng Bình, Quảng Trị. Cọp chỉ xông vào vồ người hoặc kịch chiến với người khi nào cọp bị dồn vào một thế bí. Vì vậy gặp cọp trong rừng thì chỉ cần tránh ra khỏi con đường cọp đi, thế là yên. Chạy có nghĩa là tránh đừng gặp mặt cọp trên con đường cọp đi.”

Tuệ cười đến chảy nước mắt, phải lấy khăn lau. May là chúng tôi gặp những người Thượng chất phác cho nên chúng tôi mới có thể cười thẳng thắn như vậy mà không sao, chứ gặp những người dưới phố mà cười như thế thì chắc là phải có gây gổ với nhau rồi. Muốn tránh sự gây gổ thì phải bóp bụng lại, đừng cười.

Có một hôm, anh Phương con dì Tâm Huệ một mình với chiếc xe đạp cũ leo theo con đường mòn để vào Phương Bối. Qua rừng Tham Thiền chưa được mười thước, ở chỗ ngã rẽ, anh thấy một ông Ba Mươi rất to lớn nằm ngay giữa đường, xoay lưng về phía anh, đang mơ mộng nhìn về dải núi xa xa trước mặt. Thật là bất thần. Không biết là nếu ở vào trường hợp của Phương, Nguyên Hưng hay tôi có chết khiếp đi không chứ theo lời Phương kể lại hôm đó thì Phương thấy lạnh hết xương sống. Ông Ba Mươi vẫn nằm đó, như không hay không biết, chỉ cách Phương có ba thước. Quay xe đạp chạy trốn là một điều nguy hiểm vì Phương biết nếu ông Ba Mươi nghe tiếng động quay lại, ông ta sẽ vồ ngay Phương. Thật là tiến thối lưỡng nan . Phương liền thi hành kế sách làm cho ông Ba Mươi giật mình để ông ta phóng vào rừng. Cậu ta liệng chiếc xe đạp ngay sau lưng con cọp một cái rầm vừa la “ối trời ơi, ối trời ơi” vang cả rừng. Đúng lúc ấy tôi đang đi thăm những gốc khuynh diệp mới trồng. Nghe tiếng kêu hoảng hốt, tôi giật mình tìm ra tới chỗ Phương. Lúc ấy thì ông Ba Mươi đã đi rồi, và Phương ngất xỉu giữa đường với chiếc xe đạp. Thì ra khi nghe tiếng rầm của chiếc xe đạp và tiếng hò hét của Phương ông Ba Mươi không “giật mình phóng vào rừng” như Phương dự tưởng. Ông ta từ từ đứng dậy, không thèm ngoái lại, và uể oải đi từng bước vào rừng. Tôi ra, gặp một anh Phương xám xanh như gà cắt tiết. Tôi vội gọi dì Tâm Huệ và chúng tôi dìu Phương vào. Suốt ba ngày, Phương chưa lấy lại đủ ba hồn, bảy vía.

Nguyên Hưng ơi cũng là may ở B’su Danglu cọp không ăn thịt người nên mấy lần gặp cọp chúng ta cũng chẳng bị hề hấn chi.