Lời quán nguyện

1972 – Menton Statement

 

Đại Đồng – một tổ chức vận động bảo hộ môi trường ra đời rất sớm, vào năm 1969, do Thầy Làng Mai và một số thân hữu thành lập với sự bảo trợ của tổ chức FOR (Fellowship of Reconciliation – tiếng Việt là Hội Thân hữu Hòa giải), trụ sở đặt tại Nyack, New York, Hoa Kỳ. Tổ chức bắt đầu bằng một buổi họp tại thành phố Menton, miền Nam nước Pháp, vào tháng 5 năm 1970 của sáu nhà khoa học, trong đó có Conrad A. Istock (Hoa Kỳ), Donald J. Kuenen (Hòa Lan), Pierre Lepine (Pháp), Klaus Meyer-Abich (Đức), Cao Ngọc Phượng (tức Sư cô Chân Không – Việt Nam) và Lawrence Slobodkin (Hoa Kỳ). Thành quả của buổi họp (kéo dài trong bốn ngày) là một bản tuyên cáo về tình trạng môi trường của trái đất, gọi là The Menton Statement, do sáu nhà khoa học kể trên ký tên. Tổ chức FOR do Alfred Hassler lãnh đạo đã gửi bản tuyên cáo này cho các nhà khoa học trên thế giới và sau đó tiếp thu được chữ ký của gần 4000 nhà khoa học từ 29 quốc gia. Một phái đoàn đại diện các nhà khoa học ấy cùng với đại diện tổ chức Đại Đồng đã có một buổi gặp gỡ với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc khi ấy là ngài U Thant để đệ trình bản tuyên cáo này. Năm 1972, Liên Hợp Quốc tổ chức một đại hội về môi trường tại thành phố Stockholm. Cùng thời gian đó, Đại Đồng (tiếng Anh là The Community of Men) cũng tổ chức một đại hội về môi trường song song với đại hội của Liên Hợp Quốc để cung cấp một diễn dàn tự do hơn. Đại hội Đại Đồng ở Stockholm khai mạc hôm 1.6.1972 và chấm dứt hôm 6.6.1972, có 31 đại biểu của 24 quốc gia tham dự, trong đó có những nhà khoa học nổi tiếng. Chủ tịch Đại hội là giáo sư Hannes de Graaf của Hòa Lan. Thầy Làng Mai đã có tên trong ban tổ chức Đại hội và đã tham dự với tư cách đại biểu cho Việt Nam. Đại hội này đã ra một Tuyên cáo Độc lập về Môi trường (An Independent Declaration on the Environment) nhằm ảnh hưởng tới đại hội của Liên Hợp Quốc được tổ chức từ ngày 5.6.1972 đến 17.6.1972. Sau đây là nguyên văn của bản tuyên cáo Menton và bản Tuyên cáo Độc lập về Môi trường của Đại Hội Đại Đồng tại Stockholm. Tuy Đại Đồng có tên tiếng Anh là The Community of Men nhưng các bạn trong ban tổ chức chỉ sử dụng danh từ Đại Đồng bằng tiếng Việt bởi vì tư tưởng Đại đồng Thế giới bắt nguồn từ tuệ giác châu Á.

Tuyên bố Menton – nguyên văn bài đăng trên tạp chí Unesco Courier số tháng 7 năm 1971.

Một thông điệp cho 3,5 tỷ người hàng xóm của chúng ta trên hành tinh trái đất từ 2.200 nhà khoa học môi trường

Một thông điệp có chữ ký của 2.200 nhà khoa học từ 23 quốc gia, gửi đến “ba tỷ rưỡi người láng giềng trên hành tinh trái đất”, cảnh báo về “mối nguy hiểm chung chưa từng có” mà nhân loại phải đối mặt, đã được trao cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc U Thant tại một buổi lễ đơn giản ở New York vào ngày 11 tháng 5 năm 1971.

Đối với sáu nhà khoa học nổi tiếng đã trình bày thông điệp (được sao chép đầy đủ trên các trang này), Tổng thư ký tuyên bố:

Tôi tin rằng nhân loại cuối cùng cũng nhận thức được thực tế rằng có một sự cân bằng mong manh của các hiện tượng vật lý và sinh học trên và xung quanh trái đất mà không thể bị xáo trộn một cách thiếu suy nghĩ khi chúng ta chạy đua trên con đường phát triển công nghệ. Mối quan tâm toàn cầu này khi đối mặt với một mối nguy hiểm chung nghiêm trọng, vốn mang mầm mống tuyệt chủng cho loài người, cũng có thể chứng tỏ là lực lượng khó nắm bắt có thể ràng buộc con người lại với nhau. Cuộc chiến sinh tồn của con người chỉ có thể giành chiến thắng bởi tất cả các quốc gia tham gia cùng nhau trong một nỗ lực phối hợp để bảo tồn sự sống trên hành tinh này.

Kể từ khi nó được soạn thảo ban đầu, tại một cuộc họp tại Menton, Pháp, “Thông điệp Menton”, như nó đã được biết đến, đã được lưu hành giữa các nhà sinh vật học và các nhà khoa học môi trường ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ.

Cuộc họp được triệu tập bởi một phong trào hòa bình xuyên quốc gia mới, tự nguyện, phi chính phủ, được gọi là “Đại Đồng”. Theo nghĩa đen, cái tên này có nghĩa là “một thế giới của sự đoàn kết vĩ đại”, một khái niệm bắt nguồn từ Trung Quốc thời tiền Nho giáo hơn 2.500 năm trước.

Trong số 2.200 người ký Thông điệp Menton có bốn người đoạt giải Nobel (Salvador Luria, Jacques Monod, Albert Szent-Gyorgyi và George Wald), và những cái tên nổi tiếng từ thế giới khoa học như Jean Rostand, Sir Julian Huxley, Thor Heyerdahl, Paul Ehrlich, Margaret Mead, Rene Dumont, Lord Ritchie-Calder, Shutaro Yamamoto, Gerardo Budowski, Enrique Beltran và Mohamed Zaki Barakat.

Mặc dù chúng ta bị chia cắt rộng rãi về mặt địa lý, với các nền văn hóa, ngôn ngữ, thái độ, lòng trung thành chính trị và tôn giáo rất khác nhau, chúng ta được hợp nhất trong thời đại của chúng ta bởi một mối nguy hiểm chung chưa từng có. Mối nguy hiểm này, với bản chất và mức độ mà con người chưa bao giờ phải đối mặt, được sinh ra từ sự hợp lưu của một số hiện tượng. Mỗi người trong số họ sẽ đưa ra cho chúng ta những vấn đề gần như không thể kiểm soát được: cùng nhau chúng không chỉ trình bày xác suất gia tăng lớn về sự đau khổ của con người trong tương lai gần, mà còn là khả năng tuyệt chủng, hoặc tuyệt chủng ảo, của sự sống con người trên trái đất.

Là các nhà khoa học sinh học và môi trường khác, chúng tôi không nói về tính khả thi của các giải pháp cụ thể cho những vấn đề này, nhưng vì niềm tin của chúng tôi rằng các vấn đề tồn tại, mang tính toàn cầu và liên quan đến nhau, và các giải pháp chỉ có thể được tìm thấy nếu chúng ta từ bỏ những lợi ích ích kỷ hạn hẹp để thực hiện một nhu cầu chung.

CÁC VẤN ĐỀ

. Suy thoái môi trường. Chất lượng môi trường của chúng ta đang xấu đi với tốc độ chưa từng có. Nó rõ ràng hơn ở một số nơi trên thế giới so với những nơi khác, và ở những khu vực đó, báo động công cộng đã bắt đầu thể hiện, trong khi ở các khu vực khác, suy thoái môi trường dường như là một hiện tượng xa xôi và không liên quan.

Nhưng chỉ có một môi trường; Điều gì xảy ra với một phần ảnh hưởng đến toàn bộ. Ví dụ được công nhận rộng rãi nhất của quá trình này là sự xâm nhập vào chuỗi thức ăn trên toàn thế giới của các chất độc hại như thủy ngân, chì, cadmium, DDT và các hợp chất hữu cơ clo hóa khác, được tìm thấy trong các mô của chim và các động vật khác cách xa nguồn gốc của chất độc.

Sự cố tràn dầu, rác thải công nghiệp và nước thải các loại đã ảnh hưởng xấu đến gần như tất cả các vùng nước ngọt và ven bờ trên khắp thế giới, cũng như nước thải và chất thải hữu cơ được thải ra với số lượng quá lớn để được chăm sóc bởi các quy trình tái chế thông thường của tự nhiên. Các thành phố bị bao phủ bởi những đám mây khói nặng, và các chất ô nhiễm trong không khí đã giết chết cây cách nguồn của chúng hàng trăm dặm.

Thậm chí đáng báo động hơn nữa là chúng ta tiếp tục mạo hiểm liều lĩnh vào các quy trình và dự án công nghệ mới (ví dụ như vận chuyển siêu thanh và kế hoạch phổ biến các nhà máy điện hạt nhân) mà không tạm dừng để xem xét các tác động lâu dài có thể có của chúng đối với môi trường.

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù Trái đất và các nguồn tài nguyên của nó là hữu hạn và một phần cạn kiệt, xã hội công nghiệp đang sử dụng hết nhiều tài nguyên không thể tái tạo và quản lý sai các tài nguyên có khả năng tái tạo, và nó khai thác tài nguyên của các quốc gia khác mà không quan tâm đến sự thiếu thốn của dân số hiện tại hoặc nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Trái đất đã bắt đầu thiếu một số vật liệu có tầm quan trọng đối với một xã hội công nghệ và các kế hoạch đang được thực hiện để khai thác khoáng sản từ bên dưới các đại dương. Nhưng những nỗ lực như vậy không chỉ đòi hỏi chi phí lớn về tiền bạc và năng lượng (và nhiên liệu sản xuất năng lượng của chúng ta bị hạn chế), mà còn không nên được thực hiện trước khi các nghiên cứu cẩn thận được thực hiện về tác động có thể xảy ra của chúng đối với động vật và thực vật biển, cũng là một phần tài nguyên thiên nhiên của chúng ta và là nguồn thực phẩm giàu protein.

Hầu như tất cả đất nông nghiệp màu mỡ, được tưới nước tốt trên thế giới đã được sử dụng. Tuy nhiên, mỗi năm, đặc biệt là ở các quốc gia công nghiệp hóa, hàng triệu mẫu đất này được lấy ra khỏi canh tác để sử dụng làm khu công nghiệp, đường xá, bãi đậu xe, v.v. Phá rừng, xây đập trên sông, canh tác một vụ, sử dụng thuốc trừ sâu và chất làm rụng lá không kiểm soát, khai thác dải và các hoạt động thiển cận hoặc không hiệu quả khác đã góp phần vào sự mất cân bằng sinh thái đã có tác động thảm khốc ở một số khu vực và trong một thời gian dài có thể ảnh hưởng xấu đến năng suất của các khu vực rộng lớn trên thế giới.

Ngay cả trong hoàn cảnh tốt nhất, Trái đất không thể cung cấp tài nguyên với số lượng đủ để cho phép tất cả mọi người sống ở mức tiêu dùng mà đa số trong các xã hội công nghiệp được hưởng, và sự tương phản giữa lối sống được quyết định bởi nghèo đói cùng cực và những lối sống được cho phép bởi sự giàu có sẽ tiếp tục là nguồn gốc của xung đột và cách mạng.

. Dân số, quá đông đúc và đói. Dân số hiện tại của Trái đất ước tính khoảng 3.500 triệu người, và các tính toán, dựa trên thành công của các chương trình kiểm soát dân số hiện tại, đưa ra con số 6.500 triệu vào năm 2000. Đã có một số dự đoán lạc quan rằng tài nguyên thiên nhiên và công nghệ có thể được phát triển để nuôi, mặc quần áo và chứa dân số lớn hơn nhiều so với điều này.

Tuy nhiên, thực tế trước mắt là có tới hai phần ba dân số thế giới hiện nay đang bị suy dinh dưỡng và mối đe dọa của nạn đói quy mô lớn vẫn còn với chúng ta mặc dù có một số tiến bộ về dinh dưỡng. Ô nhiễm và gián đoạn sinh thái đã ảnh hưởng đến một số nguồn thực phẩm, và thường xuyên những nỗ lực nâng cao tiêu chuẩn dinh dưỡng tự gây ô nhiễm.

Hơn nữa, số liệu dân số là sai lệch, vì họ không tính đến yếu tố tiêu dùng. Người ta ước tính rằng một đứa trẻ sinh ra ở Hoa Kỳ ngày nay sẽ tiêu thụ trong suốt cuộc đời của mình ít nhất hai mươi lần so với một đứa trẻ sinh ra ở Ấn Độ, và đóng góp khoảng năm mươi lần ô nhiễm môi trường. Do đó, về tác động môi trường, các nước công nghiệp hóa nhất cũng là nơi đông dân nhất.

Nhu cầu của con người về không gian và mức độ cô độc, mặc dù khó nói một cách chính xác, là có thật và có thể quan sát được. Chúng ta không chỉ sống bằng bánh mì. Ngay cả khi công nghệ có thể sản xuất đủ thực phẩm tổng hợp cho tất cả mọi người, tình trạng quá tải do dân số ngày càng tăng có thể gây ra thảm họa xã hội và sinh thái.

. Chiến tranh. Trong suốt lịch sử, không có hoạt động nào của con người bị lên án phổ biến và được thực hiện phổ biến như chiến tranh, và nghiên cứu về vũ khí và phương pháp chiến tranh hủy diệt hơn bao giờ hết là không ngừng.

Bây giờ chúng ta đã đạt được vũ khí tối thượng và nhìn thấy tiềm năng của nó, chúng ta đã rút lui khỏi việc sử dụng thêm, nhưng nỗi sợ hãi của chúng ta đã không ngăn cản chúng ta lấp đầy kho vũ khí của mình với đủ đầu đạn hạt nhân để quét sạch tất cả sự sống trên trái đất nhiều lần, hoặc từ các thí nghiệm mù quáng và không chú ý, cả trong phòng thí nghiệm và trên chiến trường, với vũ khí sinh học và hóa học. Nó cũng không ngăn cản chúng ta tham gia vào các cuộc chiến tranh “nhỏ” hoặc các hành động gây hấn có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân.

Ngay cả khi tránh được một cuộc chiến tranh lớn cuối cùng, việc chuẩn bị cho nó sử dụng hết các nguồn lực vật chất và con người đáng lẽ phải được chi tiêu trong nỗ lực tìm cách nuôi sống và cung cấp nhà ở cho những người thiếu thốn trên thế giới và cứu và cải thiện môi trường.

Rõ ràng là không đủ để gán chiến tranh cho sự hiếu chiến tự nhiên của nhân loại khi con người trên thực tế đã thành công trong việc thiết lập tại một số điểm xã hội ổn định và tương đối hòa bình trong các khu vực địa lý hạn chế. Trong thời đại của chúng ta, rõ ràng là sự nguy hiểm của chiến tranh toàn cầu tập trung vào hai điểm:

– Sự bất bình đẳng tồn tại giữa các khu vực công nghiệp hóa và phi công nghiệp hóa trên thế giới, và quyết tâm của hàng triệu người nghèo khó để cải thiện số phận của họ;

Sự cạnh tranh quyền lực và lợi thế kinh tế giữa các quốc gia vô chính phủ không sẵn sàng từ bỏ lợi ích ích kỷ để tạo ra một xã hội bình đẳng hơn.

Nói như vậy, vấn đề dường như gần như không thể giải quyết. Tuy nhiên, nhân loại đã chứng minh các nguồn lực không thể tưởng tượng được về khả năng thích ứng và khả năng phục hồi trong quá khứ và có lẽ phải đối mặt với những gì có thể là thách thức cuối cùng đối với sự sống còn của nó, nó sẽ làm bối rối nỗi sợ hãi của chúng ta một lần nữa.

CÓ THỂ LÀM GÌ?

Phần trên chỉ là một phần liệt kê các vấn đề mà chúng ta phải đối mặt và hầu như không có bất kỳ nỗ lực nào để mô tả nguyên nhân của chúng. Chúng ta thực sự không biết các khía cạnh đầy đủ của các vấn đề của chúng ta hoặc các giải pháp của chúng. Chúng ta biết rằng Trái đất và tất cả cư dân của nó đang gặp rắc rối và các vấn đề của chúng ta sẽ nhân lên nếu chúng ta không quan tâm đến chúng.

Vào những năm 1940, khi quyết định phát triển bom nguyên tử, Hoa Kỳ đã chiếm đoạt 2.000 triệu đô la và đưa các chuyên gia từ khắp nơi trên thế giới đến thực hiện công việc này trong hai năm. Vào những năm 1960, bận tâm với cuộc đua lên mặt trăng, Hoa Kỳ đã chi từ 20.000 đến 40.000 triệu đô la để giành chiến thắng trong cuộc đua, và cả Liên Xô và Hoa Kỳ tiếp tục chi hàng ngàn triệu đô la cho việc thám hiểm không gian.

Chắc chắn nghiên cứu khổng lồ về các vấn đề đe dọa sự tồn tại của nhân loại xứng đáng được ưu tiên cao hơn nghiên cứu nguyên tử hoặc không gian. Nó nên được bắt đầu ngay lập tức trên một quy mô tương tự và với một cảm giác cấp bách thậm chí còn lớn hơn. Nghiên cứu như vậy nên được trả tiền bởi các quốc gia công nghiệp, những quốc gia không chỉ có khả năng tài chính tốt nhất để mang gánh nặng đó, mà chính họ còn là những người sử dụng chính các nguồn tài nguyên và những người gây ô nhiễm chính, mà nó phải được thực hiện bởi những người có trình độ từ tất cả các quốc gia và các ngành nghề khác nhau, không bị trói buộc bởi các chính sách dân tộc chủ nghĩa hạn chế.

Tuy nhiên, vì cuộc khủng hoảng rất cấp bách, chúng tôi kêu gọi thực hiện các hành động sau đây ngay cả khi nghiên cứu đang diễn ra. Chúng tôi không cung cấp những thứ này như thuốc chữa bách bệnh, mà là giữ các hành động để giữ cho tình hình của chúng tôi không xấu đi qua điểm không thể quay trở lại:

Một lệnh cấm đổi mới công nghệ, những tác động mà chúng ta không thể nói trước và không cần thiết cho sự sống còn của con người. Điều này sẽ bao gồm các hệ thống vũ khí mới, vận chuyển sang trọng, thuốc trừ sâu mới và chưa được thử nghiệm, sản xuất nhựa mới, thành lập các dự án điện hạt nhân mới rộng lớn, v.v. Nó cũng sẽ bao gồm các dự án kỹ thuật chưa được nghiên cứu về mặt sinh thái – xây đập trên các con sông lớn, ‘cải tạo’ đất rừng, các dự án khai thác dưới biển, v.v.

Việc áp dụng công nghệ kiểm soát ô nhiễm hiện có để sản xuất năng lượng và cho ngành công nghiệp nói chung, tái chế vật liệu quy mô lớn để làm chậm sự cạn kiệt tài nguyên và thiết lập nhanh chóng các thỏa thuận quốc tế về chất lượng môi trường, có thể được xem xét khi nhu cầu môi trường được biết đến đầy đủ hơn.

Các chương trình tăng cường ở tất cả các khu vực trên thế giới để kiềm chế sự gia tăng dân số, với sự quan tâm đầy đủ đến sự cần thiết phải thực hiện điều này mà không bãi bỏ các quyền dân sự. Điều quan trọng là các chương trình này phải đi kèm với việc giảm mức tiêu thụ của các tầng lớp đặc quyền, và sự phân phối công bằng hơn về thực phẩm và các hàng hóa khác giữa tất cả mọi người phải được phát triển.

Bất kể khó khăn trong việc đạt được thỏa thuận, các quốc gia phải tìm cách xóa bỏ chiến tranh, tháo ngòi nổ vũ khí hạt nhân và phá hủy vũ khí hóa học và sinh học của họ. Hậu quả của một cuộc chiến tranh toàn cầu sẽ là ngay lập tức và không thể đảo ngược, và do đó cũng có trách nhiệm của các cá nhân và nhóm từ chối tham gia vào nghiên cứu hoặc các quá trình có thể, nếu được sử dụng, dẫn đến sự hủy diệt loài người.

Trái đất, dường như rất lớn, bây giờ phải được nhìn thấy trong sự nhỏ bé của nó. Chúng ta sống trong một hệ thống khép kín, hoàn toàn phụ thuộc vào Trái đất và vào nhau cho cuộc sống của chúng ta và của các thế hệ tiếp theo. Do đó, nhiều điều chia rẽ chúng ta ít quan trọng hơn sự phụ thuộc lẫn nhau và nguy hiểm liên kết chúng ta.

Chúng tôi tin rằng đúng theo nghĩa đen là chỉ bằng cách vượt qua sự chia rẽ của chúng tôi, con người mới có thể giữ Trái đất là nhà của họ. Các giải pháp cho các vấn đề thực tế về ô nhiễm, đói khát, quá tải dân số và chiến tranh có thể đơn giản hơn để tìm ra công thức cho nỗ lực chung mà qua đó việc tìm kiếm các giải pháp phải xảy ra, nhưng chúng ta phải bắt đầu.

Các nhà khoa học Menton

CONRAD A. ISTOCK, Hoa K
Giáo sư Sinh học – Đại học Rochester
DONALD J. KUENEN, Hà Lan
Giáo sư Động vật học và Cựu Hiệu trưởng Đại học Leiden
PIERRE LEPINE, Pháp
Chef de Service a L’Institut Pasteur Membre de l’Académie des Sciences
KLAUS MEYER-ABICH, Đức
Nhà vật lý, Max-Planck-Institut zur Erforschung der Lebensbedingungen der Wissenschaftlich-technischen Welt
CAO NGỌC PHƯỢNG, Việt Nam (lưu vong)
Giáo sư Sinh học – Đại học Sài Gòn và Huế
LAWRENCE SLOBODKIN,
Giáo sư Sinh học – Đại học Bang New York tại Stoney Brook

Tuyên cáo Độc lập về Môi trường

TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP VỀ MÔI TRƯỜNG

Trong khi các đại biểu từ 114 quốc gia tranh luận về việc liệu họ có nên thảo luận về dự thảo Tuyên bố về Môi trường Con người được chuẩn bị cho hội nghị Liên Hợp Quốc của họ tại Stockholm (5-17 tháng 6 năm 1972), Hội nghị Độc lập về Môi trường của Đại Đồng, cũng tại Stockholm (1-6 tháng 6 năm 1972) đã đưa ra tuyên bố của riêng mình. Ba mươi mốt người tham gia từ 24 quốc gia, hầu hết trong số họ là các nhà khoa học nổi tiếng, đã đưa ra tuyên bố độc lập, trong đó Stockholm Eco đã viết: “Tuyên bố quan trọng này được đưa ra trong khi các đại biểu Liên Hợp Quốc đang tẻ nhạt trong chương trình nghị sự vô tận của họ …” Nó đã được lưu hành rất rộng rãi trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình, và đã được đọc bởi giám đốc của Đại Đồng, Alfred Hassler, tại một phiên họp toàn thể của Hội nghị Liên Hợp Quốc vào ngày <> tháng Sáu.

Con người sống như một phần của một hệ thống tự nhiên phức tạp với các khía cạnh của sự phụ thuộc lẫn nhau mà chỉ mới trở nên rõ ràng gần đây. Chúng cũng là một phần của các hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị phức tạp mà chính chúng đã tạo ra, thường không đánh giá cao những tác động không thể đoán trước và đôi khi tai hại của các hệ thống như vậy đối với khả năng mang lại sự sống của tự nhiên. Hơn nữa, các hệ thống này chứa đựng những lỗi lầm và mất cân bằng ngăn cản chúng đáp ứng bình đẳng với nhu cầu của tất cả mọi người, nhưng cung cấp cho một thiểu số hàng hóa dồi dào, trong khi khiến phần lớn người dân thế giới rơi vào cảnh nghèo đói và tuyệt vọng.

Sự tương tác giữa các hệ thống xã hội và tự nhiên trên hành tinh này trong thời đại chúng ta đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng môi trường, mặc dù nó có thể bắt nguồn phần lớn từ các hoạt động kinh tế của các quốc gia công nghiệp, ảnh hưởng đến mọi người trên trái đất. Nhận thức về cuộc khủng hoảng môi trường đã đến vào thời điểm khi các quốc gia bị tước đoạt và người nghèo và thiếu thốn ở tất cả các quốc gia đang đấu tranh giành quyền lực để kiểm soát vận mệnh của chính họ và khẳng định quyền tham gia đầy đủ vào các vấn đề quốc gia và thế giới. Sự tồn tại của nhân loại đòi hỏi rằng điều kiện của môi trường tự nhiên và nhu cầu của con người phải được coi là những phần liên quan đến nhau của cùng một vấn đề. Điều này sẽ đòi hỏi những thay đổi sâu sắc trong cấu trúc chính trị, kinh tế và xã hội của chúng ta một mặt và mặt khác là lối sống cá nhân của chúng ta, với mục đích không chỉ là sinh tồn, mà còn là sự sống còn với khả năng hoàn thành tối đa của con người. Nó cũng sẽ đòi hỏi các chương trình giáo dục lớn để cho phép mọi người hiểu được sự liên quan lẫn nhau của các vấn đề của thế giới và các loại thay đổi cần được thực hiện. Trong những nỗ lực như vậy, một số nguyên tắc hướng dẫn nhất định phải được tuân theo.

1. Sự sống còn của con người phụ thuộc vào các hoạt động sống của hàng ngàn loài thực vật, động vật và vi sinh vật, và vào các phản ứng vật lý và hóa học phức tạp trong khí quyển, đại dương, nước ngọt và trên đất liền.

Sự bao la và phức tạp của sự phụ thuộc lẫn nhau này gần đây đã trở nên rõ ràng với sự can thiệp ngày càng tăng của con người vào các quá trình mang lại sự sống của hành tinh chúng ta. Tất cả sự sống phụ thuộc vào sự tương tác của vật chất và năng lượng được thực hiện trong hệ sinh thái của trái đất. Đó là những tương tác mà chúng ta đang thay đổi, ngay cả trước khi chúng ta hiểu đầy đủ chúng. Con người trên thế giới phải hiểu chúng, bảo tồn chúng và, khi thay đổi chúng, để làm điều đó với sự cẩn thận và khôn ngoan.

2. Có một xung đột cơ bản giữa các khái niệm truyền thống về tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Trong thế kỷ qua, sự tăng trưởng liên tục không kiểm soát được trong sản xuất công nghiệp các chất và sản phẩm có hại cho môi trường ở một số khu vực trên thế giới đã tạo ra lượng ô nhiễm nguy hiểm và chịu trách nhiệm cho sự lãng phí tài nguyên quá mức. Đồng thời, và sự tập trung ngày càng tăng của quyền lực kinh tế và hoạt động công nghiệp đã dẫn đến sự tập trung hóa trong một số quốc gia về lợi ích từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của trái đất và ảnh hưởng chính trị quốc tế bắt nguồn từ việc kiểm soát các tài nguyên này. Rõ ràng là một sự phân phối năng lượng công nghiệp hợp lý hơn là cần thiết nếu các vấn đề toàn cầu về môi trường và xã hội được giải quyết. Sự tái phân phối như vậy sẽ đồng thời đạt được sự phân bổ công bằng hơn về lợi ích kinh tế và chính trị giữa các quốc gia và cá nhân.

3. Việc khai thác tài nguyên quốc gia và khu vực của Thế giới thứ ba bởi các tập đoàn nước ngoài, với hậu quả là dòng lợi nhuận từ các khu vực bị khai thác, đã dẫn đến sự chênh lệch kinh tế lớn và ngày càng tăng giữa các quốc gia và độc quyền của các nước công nghiệp phát triển về sản xuất, năng lượng, công nghệ, thông tin và quyền lực chính trị.

Bổ sung cho điều này là lũ lụt của các nước đang phát triển với hàng hóa và vốn dư thừa, với kết quả là sự bóp méo nền kinh tế của họ, và sự biến dạng của môi trường của họ thành độc canh vì lợi ích làm giàu hơn nữa cho các quốc gia công nghiệp. Đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế và thực tiễn công nghệ của các quốc gia công nghiệp đó phải được kiềm chế và thay đổi bởi yêu sách cơ bản của người dân trong khu vực để kiểm soát các nguồn tài nguyên của nó. Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tài nguyên này không nên bị quyết định bởi các tai nạn về địa lý, nhưng phải được phân bổ theo những cách thức để phục vụ nhu cầu của người dân thế giới trong thế hệ này và các thế hệ tương lai. Thẩm quyền của người dân bất kỳ khu vực nào đối với tài nguyên và môi trường phải bao gồm nghĩa vụ thừa nhận rằng môi trường là một tổng thể không thể chia cắt, không chịu các rào cản chính trị. Môi trường phải được bảo vệ khỏi ô nhiễm, phá hủy và khai thác có thể tránh được từ mọi nguồn.

4. Rõ ràng là sự gia tăng dân số của con người không thể tiếp tục vô thời hạn trong một môi trường hữu hạn với tài nguyên hữu hạn. Đồng thời, dân số là một trong một số yếu tố, không ai trong số đó về lâu dài là quan trọng nhất hoặc quyết định nhất trong việc ảnh hưởng đến môi trường của con người.

Trên thực tế, câu hỏi về dân số về bản chất không thể tách rời khỏi câu hỏi tiếp cận tài nguyên. Một sự cải thiện thực sự trong điều kiện sống của người dân các nước đang phát triển sẽ đi xa hơn trong việc ổn định tăng trưởng dân số so với các chương trình kiểm soát dân số. Dân số không phải là một vấn đề đơn lẻ, mà là một vấn đề có mối tương quan phức tạp với môi trường xã hội, kinh tế và tự nhiên của con người. Quy mô dân số có thể quá nhỏ hoặc quá lớn tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào tùy thuộc vào sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên và những căng thẳng đối với môi trường. Nguyên tắc sinh thái liên quan đến vai trò của dân số được áp dụng như nhau cho quần thể người và động vật. Tuy nhiên, trong dân số loài người, tổ chức xã hội là như vậy để thay đổi hoặc sửa đổi nguyên tắc này.

Trên phạm vi toàn cầu, các vấn đề dân số của các nước đang phát triển trùng hợp với sự bành trướng thuộc địa trong hai thế kỷ qua và loại trừ dân số Thế giới thứ ba khỏi quyền truy cập đầy đủ vào tài nguyên của chính họ. Quá trình khai thác kinh tế này vẫn tiếp tục bất chấp sự độc lập danh nghĩa của nhiều thuộc địa và phụ thuộc cũ khác nhau. Trong khi đó, liên minh giữa giới tinh hoa kinh tế ở các nước đang phát triển và lợi ích công nghiệp ở các nước đô thị khiến người dân Thế giới thứ ba không thể sử dụng tài nguyên của họ để đáp ứng nhu cầu của chính họ. Việc phân phối lại tài nguyên của chúng ta ở cấp độ toàn cầu là điều kiện tiên quyết vô điều kiện để sửa chữa quá trình lịch sử này.

Chừng nào các nguồn tài nguyên còn bị lãng phí, như chúng rõ ràng là, thật là lừa dối khi mô tả sự gia tăng dân số như thể đây là nguồn gốc của mọi tệ nạn. Rõ ràng có một sự nhầm lẫn trong tâm trí của nhiều người giữa quá đông đúc và dân số, nhưng thực tế là một số khu vực đô thị phát triển như ung thư không nên là cái cớ để chuyển hướng sự chú ý khỏi nhiệm vụ thực sự của thế hệ chúng ta, đó là đạt được sự quản lý hợp lý tài nguyên và không gian. Những quốc gia chịu trách nhiệm chính về tình trạng này chắc chắn không có quyền đề xuất các chính sách ổn định dân số cho những người đói trên thế giới.

Cần lưu ý rằng, đối với các nước phát triển kinh tế, sự kết hợp giữa sự gia tăng tiêu dùng công nghiệp bình quân đầu người với dân số ổn định, hoặc tiêu dùng ổn định trên đầu người với dân số ngày càng tăng, sẽ dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm hơn nữa. Điều này không cần phải đúng nếu những thay đổi kinh tế xã hội thích hợp sẽ dẫn đến một mô hình sản xuất và tiêu dùng hợp lý về mặt sinh thái được thực hiện.

5. Phát triển kinh tế dưới bất kỳ hình thức nào sẽ đòi hỏi công nghệ.

Nhiều công nghệ thông thường và nhiều sản phẩm sinh sôi nảy nở của nó đã được chứng minh là có hại về mặt sinh thái. Chúng ta không thể từ chối công nghệ nhưng chúng ta phải tái cấu trúc và định hướng lại nó. Các công nghệ âm thanh sinh thái sẽ giảm thiểu căng thẳng cho môi trường. Một sự phát triển nhanh chóng của cách tiếp cận mới nên được bổ sung bởi một hệ thống giám sát và đánh giá công nghệ để đảm bảo rằng bất kỳ công nghệ mới nào cũng tương thích về mặt sinh thái và sẽ được sử dụng cho sự sống còn và hoàn thành của con người. Việc thêm các thiết bị chống ô nhiễm vào các công nghệ hiện có là không đủ, mặc dù đây có thể là giai đoạn ban đầu của việc loại bỏ các công nghệ gây ô nhiễm hiện tại.

6. Văn hóa của các quốc gia công nghiệp phản ánh hệ tư tưởng chính trị và kinh tế của họ, và dựa trên sự tích lũy ngày càng tăng của hàng hóa vật chất và sự phụ thuộc không phê phán vào công nghệ để giải quyết các vấn đề của nhân loại.

Hệ tư tưởng này, trong đó yếu tố đạo đức là một chiều kích bị lãng quên, đang lan rộng khắp thế giới; Sự chấp nhận của nó sẽ không chỉ gây ra sự thất vọng và thất vọng của cá nhân và quốc gia, mà còn làm cho các chính sách kinh tế và môi trường hợp lý không thể thực hiện được. Sự gia tăng phúc lợi kinh tế sẽ giúp các quốc gia thiếu thốn bảo tồn các di sản văn hóa và tinh thần của chính họ, nhưng nhiều người ở các nước công nghiệp, phải đối mặt với việc giảm tài sản vật chất, sẽ cần tìm ra những định nghĩa mới về tiến bộ trong các giá trị tương thích với phúc lợi môi trường và xã hội.

7. Trong số những vấn đề quan trọng nhất cấu thành và hiện hữu và mối đe dọa gia tăng đối với sự sống còn của con người là chiến tranh.

Ngay cả ngoài chi phí khổng lồ về sự đau khổ của con người mà tất cả các hình thức chiến tranh đòi hỏi, chi tiêu vũ khí đặt một gánh nặng kinh tế quá lớn lên các quốc gia giàu và nghèo, và một gánh nặng lớn như nhau đối với môi trường. Công nghệ quân sự, là một phần lớn của hoạt động công nghiệp, đặc biệt là ở các nước phát triển kinh tế, là nguyên nhân chính gây ô nhiễm toàn cầu và cạn kiệt tài nguyên. Do đó, chiến tranh và chuẩn bị cho chiến tranh đều liên quan trực tiếp đến các vấn đề môi trường. Với sự phổ biến vũ khí hạt nhân, cả dân sự và quân sự, mối nguy hiểm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, kiểm soát vũ khí khó khăn hơn và chiến tranh hạt nhân có nhiều khả năng xảy ra hơn. Các khoản tiền khổng lồ được tiêu thụ trong chi tiêu quân sự phải được áp dụng trực tiếp cho nhiệm vụ tái phân phối toàn cầu và cải thiện môi trường. Chừng nào chúng ta còn chịu đựng sự lãng phí và sự tàn phá của chính chiến tranh, chúng ta không thể đạt được môi trường ổn định mà sự sống còn của tất cả chúng ta phụ thuộc vào.

Tuy nhiên, quyết tâm xóa bỏ chiến tranh phải đi kèm với sự thừa nhận quyền đấu tranh của các dân tộc, và sự chắc chắn rằng họ sẽ đấu tranh, để giải phóng mình khỏi các hệ thống quốc gia và quốc tế đàn áp họ. Những người tha thiết nhất tìm cách chấm dứt chiến tranh phải khẳng định tình liên đới của họ với đồng loại của họ tham gia vào một cuộc đấu tranh như vậy, đồng thời nhấn mạnh vào sự cần thiết phải phát triển các phương pháp bất bạo động hiệu quả để giải quyết các xung đột xã hội và quốc tế của một thế giới có nguy cơ chiến tranh hủy diệt.

* *

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA HỘI NGHỊ VÀ NHỮNG NGƯỜI KÝ TUYÊN BỐ
SAMIR AMIN, Giám đốc SenegalViện Châu Phi de Développement Economique et de Planification, Dakar
MOHAMED ZAKI BARAKAT, U.A.R.
Khoa Y, Đại học AzharCairo
HEINRICH CARSTENSĐức
Chủ tịch, Ủy ban Tư vấn Thế giới Bạn 
* DONALD ALFRED CHANT, Canada
Chủ tịch, Khoa Động vật học, Đại học Toronto
MOHAMMED AHSEN CHAUDHRI, Pakistan
Trưởng khoa, Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Karachi
DORA OBI CHIZBA, Nigeria
Chủ tịch, Hiệp hội Môi trường Châu Phi 
JERZY CHODAN, Ba Lan
Trưởng phòng, Cao đẳng Nông nghiệp, Olsztyn
* PURUSHOTTAM JAIKRISHNA DEORAS, Ấn Độ
Giáo sư, Viện Haffkine, Bombay
PETER DOHRN, Ý
Thư ký, Hiệp hội Địa Trung Hải Sinh học-Hải dương học biển
YUSUF ALI BRAJ, Kenya
Cựu Chủ tịchHiệp hội Kế hoạch hóa Gia đình
* M. TAGHI FARVAR, Trung tâm Sinh học Hệ thống Tự nhiên Iran, Đại học Washington, St. Louis
ANDRE FAUSSURIER, Pháp
Giám đốc, Centre de Reflexion et D’Etudes Scientifiques sure l’Environnement, Lyon
GONZALO FERNOS, Puerto Rico
Chủ tịchỦy ban Chất lượng Môi trường, Đại học Kiến trúc sư và Khảo sát 
*NICHOLA GEORGECU-ROEGEN, HOA KỲ
Giáo sư Kinh tế, Đại học Vanderbilt
THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH, Việt Nam (lưu vong)
Nhà sư, nhà thơ, nhà giáo dục Phật giáo
*BENGT HUBENDICK, Thụy Điển
Giám đốc, Naturhistoriska Museet, Goteberg
*JAIME HURTUBIA, Chile
Giáo sư, Viện de Ecologia, Đại học Austral de Chile 
CONRAD ALAN ISTOCK, Hoa Kỳ
Giáo sư, Khoa Sinh học, Đại học Rochester
* FRED HAROLD KNEIMAN, Giáo sư Canada, Khoa Khoa học Nhân văn, Đại học Sir George Williams, Montreal
SATISH KUMAR, Nhà văn Ấn Độ
. Người sáng lập Trường Bất bạo động Luân Đôn
*JURGEN SCHUTT MOGRO, Bolivia (lưu vong)
Cựu giáo sư, Đại học La Paz
JEAN MUSSARD, Thụy Sĩ
Nguyên Giám đốc, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường Con người

* Một số đại biểu đã bao gồm với sự ủng hộ của họ đối với Tuyên bố nói chung một số tiêu chuẩn cụ thể mà họ có tại một số điểm nhất định:

ĐIỂM IV. M.Taghi Farvar, Jurgen Schutt Mogro, Jurgenne Primavera, và Jaime Hurtubia đã ký Tuyên bố theo cách diễn đạt lại câu đầu tiên của Điểm IV như sau:

Dân số không phải là yếu tố quan trọng nhất hoặc quyết định nhất ảnh hưởng đến môi trường của con người, mặc dù rõ ràng là sự gia tăng dân số của con người không thể tiếp tục vô thời hạn trong một môi trường hữu hạn với tài nguyên hữu hạn.

ĐIỂM IV. Nicholas Georgescu-Roegen, P.J. Deoras, Bengt Hubendick, Donald A. Chant, Henry Regier và Fred Knelman đã ký Tuyên bố theo chú thích sau:

Trong một số phần của tài liệu này, các vấn đề môi trường đã trở nên phần lớn chìm trong các tuyên bố có liên quan hơn ở một trong một số hoặc cực ý thức hệ. Một cuộc tranh cãi hiện nay, liên quan đến thước đo định lượng có ý nghĩa được gắn vào thời điểm này với các khía cạnh khác nhau của ‘yếu tố dân số’ so với các yếu tố quan trọng khác, đã gây nhầm lẫn cho vấn đề. Những khác biệt gây ra cuộc tranh cãi khoa học tự chúng không liên quan trực tiếp đến điểm chúng ta đưa ra ở đây: Ở nhiều nơi và vào những thời điểm khác nhau, “vấn đề dân số” đã trở nên hoặc sẽ trở nên nghiêm trọng, đi trước hoặc theo sau kịp thời bởi các yếu tố quan trọng khác không liên quan chặt chẽ đến yếu tố dân số.

ĐIỂM VII. Nicholas Georgescu-Roegen, Donald A. Chant, và Henry Regier đã ký tên theo cách diễn đạt lại sau đây của đoạn cuối cùng của Điểm VII:

Những người tha thiết nhất tìm cách chấm dứt chiến tranh kêu gọi các quốc gia đang đàn áp hoặc trong tương lai có thể đàn áp các quốc gia hoặc khu vực khác về quân sự, kinh tế hoặc chính trị của họ từ bỏ các hành động như vậy. Họ cũng kêu gọi những người hiện tại hoặc trong tương lai sẽ là đối tượng áp bức kiềm chế bạo lực và hành động để vạch trần kẻ xâm lược và từ chối anh ta khả năng viện dẫn cái cớ tự vệ và, do đó, tiếp tục hoặc gây ra các cuộc chiến tranh mới.

Draft Call for Ecology Responsibilities – New York Times

STOCKHOLM, June 6—The concept that countries have new international responsibilities toward each other for actions affecting the environment received strong support today as the United Nations environmental conference got down to its first full day of business.

The concept, embodied in draft declaration that the 112‐nation conference is considering, was endorsed in turn by spokesmen for Canada, the United. States and Sweden and tacitly approved by a number of other speakers.

But in presenting the Swedish position, Premier Olof Palme, who has long been critic of United States policy in Vietnam, also raised the Vietnam issue by charging that “ecological warfare” was being waged in Southeast Asia.

Without mentioning the United.States by name, Mr. Palme said:

“The immense destruction brought about by indisoriminate bombing, by large‐scale use of bulldozers and herbicides is an ‘outrage sometimes described as ecocide, which requires urgent international attention. It is shocking that only preliminary discussions of this matter have been possible so far in the United Nations.”

Mr. Palme asked that the United Nations Conference on the Human Environment “unequivocally proclaim” that the large‐scale channelling of resources into armaments should be stopped.

Russell E. Train, chairman of the United States delegation and of the Federal Council of Environmental Quality, said of the draft declaration on the environment:

“In particular we support its important provisions concerning the responsibility of states for environmental damage and the obligation of states to supply information on planned activities that might injure the environment of others.”

Rival Declaration Issued

Meanwhile, a rival declaration on the environment, this one signed by 29 natural and social scientists from 24 countries, was issued today by one of the unofficial environmental forums being held here simultaneously with the United Nations conference.

The declaration, presented by the Dai Dong Interdependent Conference on the Environment, attributes the environmental crisis to an “interaction between the social and natural systems on this planet.” Dai Dong, a peace movement organized by the Fellowship of Reconciliation, is to present its statement before the United Nations conference on Thursday.

Unlike the United Nations draft, the Dai Dong declaration insists that “there is a fundamental conflict between traditional concepts of economic growth and the preservation of the environment.”

It calls for “a technology review and surveillance system to assure that any new technology is ecologically compatible and will be used for human survival and fulfillment.”

At the United Nations conference, the richer countries were criticized at committee sessions, a Tanzanian delegate, for example, complaining that the preparatory material did not “strike a proper balance” between concerns of developed and developing nations.

An Iranian suggested that the affluence of the advanced nations was at the bottom of global environmental troubles. An Algerian said the poor nations were entitled to ‘reparations” for the inroads the industrialized countries have made on world resources.

However, a more dominant theme, voiced most Strongly by the advanced nations but also by others, was that sound economic development and environmental quality were not only compatible but inextricable.

“We are learning that it is far less costly and more effective to build the necessary environmental quality into new plants and new communities from the outset than it is to rebuild or modify old facilities,”

Mr. Train told the conference. “The time to do the job of environmental protection is at the outset, not later. This holds true for every country at every state of development.”

India’s Minister for Planning, Shri C. Subramaniam, referring to his country as “povertystricken,” said that nevertheless the world situation “calls for collaborative research on technologies to avoid industrial pollution in the first instance.”

Tập nhạc tổng hợp làng mai

bài hát thực tập chánh niệm

Songs for Mindfulness Practice

01.    Quay Về Nương Tựa
02.    Thở vào thở ra. – Breathing In
03.    Vào Ra, Sâu Chậm – In Out, Deep Slow
04.    Đã Về, Đã Tới – I have arrived
05.    Ba sự quay về – Taking refuge in the three jewels
06.    Hai lời hứa – The two promises
07.    Đi Như Một Dòng Sông
08.    Ai bảo đi tu là khổ
09.    Đây là Tịnh Độ – Here is the pure land
10.   Từng bước chân thảnh thơi
11.   Thiền sinh ru nội kết
12.   Tiếng chuông chùa cổ – I’m the Temple Bell
13.   Một lá ngô đồng rơi
14.   Gần Nhau
15.   Nụ Cười Cho Nhau
16.   Không Ðến Không Ði – No Coming, No Going
17.   Hạnh Phúc Bây Giờ – Happiness Is Here And Now
18.   Breathe and you know
19.   Bước Thiền Hiện Rõ Quê Hương
20.   Hiểu và Thương
21.   Thở (Ðiệu Lý Con Sáo miền Nam)
22.   Thiền Hành (Ðiệu Ngũ điểm qua Bài Tạ)
23.   Thiền Trà (Ðiệu Hành vân)
24.   Tiếng chuông
25.   Giao cảm
26.   Ðề thiền duyệt thất
27.   Ðến đi thong dong
28.   Tâm An
29.   Bụt Là Vầng Trăng Mát
30.   Sinh Sự
31.   Tao Ngộ
32.   Bắc Một Chiếc Cầu
33.   Taste and See
34.   Dear Friends
35.   Please call me by my true names
36.   Being an island unto myself
37.   Standing like a tree
38.   Island of the Self
39.   Walk in Beauty
40.   And When I Rise
41.   Take your time
42.   Listen to Me My Friend (theo điệu Trống Cơm)
43.   In Gratitude
44.   Sống vui
45.   Nhìn Thầy lòng thanh thoát
46.   Tôi xin cảm ơn
47.   Hai lời hứa
48.   Nên hôm nay ta vẫn sống nhẹ nhàng
49.   Thiền Trà
50.   Cây sồi năm xưa
51.   Lời qua tiếng lại
52.   Lý Làng Mai (theo điệu Lý Ðan Ðệm)
53.   Cầu Hiểu, Cầu Thương
54.   Mừng Khánh đản
55.   Ðón Xuân
56.   Chuyển hóa
57.   Cười đi em (theo điệu Lý Giang Nam)
58.   Chim bốn phương
59.   Đại Trượng Phu
60.   Cẩn Trọng
61.   Áo lụa thiền hành.
62.   Ðuốc thơ còn cháy trên trang sử người
63.   Hoa vẫn nở trên đường quê hương
64.   Lửa giận
65.   Lý ngồi thiền (theo điệu Lý Ðam Ðệm)
66.   Mùa hợp tấu
67.   Ngày Em hai mươi tuổi (Mừng Làng Mai 20 tuổi 1982-2002)
68.   Nối vòng tay lớn
69.   Qua cơn mê
70.   Sám hối
71.   Ra Khơi
72.   Đâu đó tiếng ai cười (Rồi mình lại đi chơi)
73.   Hoa mặt trời
74.   Thiền Sư
75.   Thuyền Từ tách bến
76.   Trái Tim Từ Bi
77.   Thảnh thơi
78.   Vui Ca Lên
79.   Xuân Ca
80.   Mở Thêm Rộng Lớn Con Đường
81.   Bông hoa vàng trong cỏ
82.   Tìm nhau
83.   Thầy đi tìm con (Bên mé rừng đã nở rộ hoa Mai)

1. Quay Về Nương Tựa
Quay về nương tựa hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt soi sáng xa gần
Hơi thở là Pháp, bảo hộ thân tâm
Năm uẩn là Tăng, phối hợp tinh cần
2. Thở vào thở ra
Thở vào thở ra
Là hoa tươi mát, là núi vững vàng,
Nước tĩnh lặng chiếu, không gian thênh thang
Breathing In
Breathing in, breathing out
Breathing in, breathing out
I am blooming as a flower
I am fresh as the dew
I am solid as a mountain
I am firm as the earth
I am free
Breathing in, breathing out
Breathing in, breathing out
I am water, reflecting
What is real, what is true
And I feel there is space
Deep inside of me
I am free, I am free, I am free
3. Vào Ra, Sâu Chậm
Vào – ra, sâu – chậm
Khoẻ – nhẹ, lắng – cười
Hiện tại – tuyệt vời.
In Out, Deep Slow
In – out, deep – slow
Calm – ease; Smile – release
Present moment – wonderful moment
4. Đã Về, Đã Tới
Đã về, đã tới, bây giờ ở đây
Vững chải thảnh thơi, quay về nương tựa
Nay tôi đã về, nay tôi đã tới
An trú bây giờ, an trú ở đây
Vững chải như núi xanh
Thảnh thơi dường mây trắng
Cửa vô sanh mở rồi
Trạm nhiên và bất động
I have arrived
I have arrived, I am  home
In the here, and in the now
I am solid, I am free
I am solid, I am free
In the ultimate, I dwell
In the ultimate, I dwell
5. Ba sự quay về
Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời. Namo Buddhaya
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết, Namo Dharmaya
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những ai nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. Namo Sanghaya
Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời. Namo Buddhaya
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa. Namo Dharmaya
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng,
dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. Namo Sanghaya
Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,
thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề. Namo Buddhaya
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,
nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.Namo Dharmaya
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng,
nhiếp hóa được muôn loài. Namo Sanghaya
Buddham saranam gacchami
Dharmam saranam gacchami
Sangha saranam gacchami
Taking refuge in the three jewels
I take refuge in the Buddha, the one who shows me the way in this life. Namo Buddhaya
I take refuge in the Dharma, the way of understanding and love. Namo Dharmaya
I take refuge in the Sangha, the community that lives in harmony. Namo Sanghaya
6. Hai lời hứa
Con xin hứa mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người,
mọi loài, cỏ cây cầm thú và đất đá. (thở: uum… à ba lần)
Con xin hứa mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người,
mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá. (thở: uum… à ba lần)
The two promises
I vow to develop understanding, in order to live peacefully with people,
animals plants and minerals, animals plants and minerals
Mmm ahh, Mmm ahh, Mmm ahh
I vow to develop compassion, in order to protect the lives of people,
animals plants and minerals, animals plants and minerals
Mmm ahh, Mmm ahh, Mmm ahh
7. Đi Như Một Dòng Sông
Xin nguyện làm dòng sông
Không làm hạt nước nhỏ
Trên đường về đại dương
Vầng trăng khuya sáng tỏ
Xin nguyện làm dòng sông
Không làm hạt nước nhỏ
Cuốn phăng trên đường đi
Bao niềm đau nỗi khổ
Xin nguyện làm dòng sông
Không làm hạt nước nhỏ
Tấu khúc nhạc hải triều
Xua tan nỗi u sầu
Cùng nhau ta múa ca
Không sợ đường đi khó
Với tình thương bao la
Độ người không biên giới
Xin nguyện làm dòng sông
Không làm hạt nước nhỏ
Mỗi bước con đã về
Đây quê hương Tịnh độ
8. Ai bảo đi tu là khổ
Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ.
Ngồi tụng kinh khói trầm lung linh
Và tâm trí khai minh
Vui thú ta đi thiền hành
Nào trời trong, gió mát
Ước mong sao giới đức thêm cao
Mau thoát vòng trần lao.
Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ
Được Thầy thương, huynh đệ cùng tu
Đời ôi quá an vui
Vui sống bên nhau dài lâu
Hòa lời kinh tiếng hát
Biết thương nhau, cảm thông nhau
Lòng chẳng còn khổ đau
Ngồi trong pháp đường, tâm trí yên thật yên
Mỗi khi pháp đàm học nghe rất nhiều
Thở ra thở vào thắm thiết những lời kinh
Ngồi ăn với chúng có chi vui bằng
Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ
Nào phở chay với đậu hủ tươi và hủ tiếu, bún riêu
Cho tí rau thơm vào đây, nồi cà ri thơm phức
Muốn ăn thêm nhưng có tiếng chuông, em thở vào thở ra
Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ
Ngồi tụng kinh cái đầu rung rinh và đôi mắt lim dim
Năm tháng không lo chuyện chi, ngoài công phu, chấp tác
Cứ mỗi năm, Ba Má đến thăm, đem bánh quà đầy mâm
9. Đây là Tịnh Độ
Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm an trú hôm nay
Bụt là lá chín, Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn, quê hương nơi này
Thở vào hoa nở, thở ra trúc lay
Tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày.
Here is the pure land
Here is the pure land, the pure land is here.
I smile in mindfulness and dwell in the present moment.
The Buddha is seen in an autumn leaf
The Dharma in a floating cloud
The Sangha body is everywhere, my true home is right here.
Breathing in, flowers are blooming
Breathing out, I am aware that bamboo is swaying and my mind is free and I enjoy every moment.
10. Từng bước chân thảnh thơi
Từng bước chân thảnh thơi
Mặt trời như trái tim đỏ tươi
Từng đoá hoa mỉm cười
Ruộng đồng xanh ngát như biển khơi
Cùng gió ca lời chim
Từng bước chân thảnh thơi
Đường dài em bước như dạo chơi
Từng bước chân thảnh thơi
Nụ cười tươi thắm trên làn môi
Từng đám mây ngang trời
Là dòng sông chảy ra biển khơi
Từng bước chân thảnh thơi
Cùng người em bước đi mọi nơi.
11. Thiền sinh ru nội kết
Mưa rơi nhè nhẹ bên trời
Lắng nghe thổn thức, đầy vơi nỗi lòng
Ngủ đi nội kết mông lung
Để cho hơi thở mấy từng vào ra
Sớm khuya gieo hạt từ hòa
Mai này lòng đất nở hoa cho đời
Ngủ đi nội kết ta ơi
Ngày mai chuyển hóa cho đời thương nhau
12. Tiếng chuông chùa cổ
Boong boong, tôi là chuông đại hồng, ngôi chùa xưa trên đỉnh núi
Boong boong, tôi khua vang mở đầu cho một bình minh mới
Boong boong, nghe tiếng tôi xin người nở nụ cười,
Boong boong, nghe tiếng tôi xin người đem mắt thương nhìn cuộc đời.
Boong boong, thở vào tâm người tĩnh lặng
Boong boong, thở ra miệng người mỉm cười
Boong boong, người trở về phút giây  hiện tại
Boong boong, người an trú phút giây tuyệt vời
Ba nghiệp lắng thanh tịnh
Gởi lòng theo tiếng chuông
Nguyện người nghe tỉnh thức
Vượt thoát nẻo đau buồn.
I’m the Temple Bell
Boong boong, I’m the temple bell on the peak of a mountain.
Boong boong, when you hear my sound a new dawn arises.
Boong boong, when you hear my sound please smile the half smile.
Boong boong, when you hear my sound please look
with compassion on all that lives.
Boong boong, when you’re breathing in calm you body and your mind.
Boong boong, when you’re breathing out, please smile with all your joy.
Boong boong, and you remain in the here and the now.
Boong boong, you are alive how beautiful, how wonderful.
13. Một lá ngô đồng rơi
Một lá ngô đồng rơi
có hay chăng người ơi!
Một lá ngô đồng rơi
thu đẹp đã về rồi!
Điệp khúc :
Ngàn chiếc lá còn rơi
đỏ au hay vàng tươi
Ngàn chiếc lá rơi rơi
bay vèo ngập cả trời.
Lơ lững trên trời cao
chiếu lên nước hồ xanh
Lơ lững trên trời cao
mây bạc còn dựng thành.
ĐK
Rừng vi lô quạnh hiu
sáo lên ru hồn ai ?
Rừng vi lô quạnh hiu
nắng vàng ngập ruộng dài.
ĐK
Niềm thương trong lòng tôi
Thắm tươi không nhạt phai
Niềm thương trong lòng tôi
Thu đẹp vẫn còn hoài
ĐK
14. Gần Nhau
Gần nhau trao cho nhau yêu thương tình loài người
Gần nhau trao cho nhau tin yêu đừng gian dối
Gần nhau trao cho nhau ánh mắt nhân loại này
Tình yêu thương trao nhau xây đắp nên tình người.
Cho dù rừng thay lá xanh đi
Cho dù biển cả có phân ly
Ta vẫn yêu thương nhau mãi mãi.
Cho dù dời thay núi Tu Di
Cho dù bầu trời thiếu mây bay
Ta vẫn yêu thương nhau mãi mãi.
15. Nụ Cười Cho Nhau
Nụ cười ta trao cho nhau
Là đôi cánh trắng thần tiên nhiệm mầu.
Nụ cười ta trao cho nhau
Là muôn thế giới bầu trời đám mây.
Cười, cười đi em, vì cuộc đời là đoá hoa trăm sắc.
Hạnh phúc bây giờ chỉ bấy nhiêu thôi.
Cười, cười đi em, vì cuộc đời là dòng suối xanh mát trong.
Soi chiếu ngàn sao nơi trái tim em
16. Không Ðến Không Ði
Không đi đâu, cũng không cần đến
Không trước cũng không sau
Cầm tay nhau, đứng bên nhau
Rồi chia tay, bước cho thảnh thơi
Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau rồi từ lâu
Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau hoài mai sau.

No Coming, No Going
No coming, no going, no after, no before.
I hold you close to me, I release you to be so free,
because I am in you and you are in me,
because I am in you and you are in me

17. Hạnh Phúc Bây Giờ
Ta hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa
Có chi để làm
Học buông thả
Sống không vội vàng.
Ta hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi cũng tới
Thấy chi cũng làm
Lòng thanh thản
Sống trong nhẹ nhàng

Happiness Is Here And Now
Happiness is here and now
I have dropped my worries
No where to go
Nothing to do
No longer in hurry
Happiness is here and now
I have dropped my worries
Somewhere to go
Something to do
But i don’t need to hurry

18. Breathe and you know
Breathe and you know that you are alive
Breathe and you know that all is helping you
Breathe and you know that you are the world
Breathe and you know that the flower is breathing too
Breathe for yourself and you breathed for the world
Breathe in compassion and breathe out  the joy.
Breathe and be one with the air that you breathe
Breathe and be one with the river that flows
Breathe and be one with the earth that you tread
Breathe and be one with the fire that glows
Breathe and you break the thought of birth and death
Breathe and you see impermanence is life.
Breathe for your joy to be steady and calm
Breathe for your sorrow to flow away
Breathe to renew every cell in your blood
Breathe to renew the depth of consciousness
Breathe and you dwell in the here and now
Breathe and all you touch is new and real.
19. Bước Thiền Hiện Rõ Quê Hương
Tôi đi từng bước nhẹ nhàng
Lòng không vương vấn như làn mây bay
Bước chân an trú phút giây
An nhiên tự tại tràn đầy thảnh thơi
Chung quanh chim hót vang trời
Nghe như chuông đổ nhẹ vơi cõi lòng
Ngàn hoa đua nở mênh mông
Quê hương hiện rõ ngay trong bước thiền
20. Hiểu và Thương
Sáng hôm qua em ra vườn hái bông hường
Em vô ý để gai hường sướt bị thương
Tròn hôm qua em chỉ lo băng bó
Bởi vì em biết thân mình thì mình thuơng
Ừ đó mới thiệt là thương (2 lần)
Sáng hôm nay em ra vườn ngắm lại cây hường
Em than thở với cây hường về nỗi đau thương
Chừng tỉnh ra thì em mới biết
Muốn thương bông hường
phải qua cầu Hiểu rồi cầu Thương
Ừ đó mới thiệt là thương (2 lần).
21. Thở (Ðiệu Lý Con Sáo miền Nam)
Thở vô tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
Ðem mắt thương nhìn khắp cuộc đời
Thở vào ta là đóa hoa xinh
Thở ra ta tươi mát nhẹ nhàng
Tỏa hương thơm ngát rất dịu dàng –
Ta vững vàng như đồi cao núi xanh
Ta sáng soi như nước tĩnh hồ thu
Thở vào ta là không gian thảnh thơi
Thở ra ta thấy ta thênh thang.
22. Thiền Hành (Ðiệu Ngũ điểm qua Bài Tạ)
Ngũ điểm:
Thở đều – theo bước thảnh thơi
Ta mỉm miệng nở luôn nụ cười
Ðàng xa- trời đất bao la
Phút giây hiện tại là phút giây tuyệt vời.
Bài Tạ:
Tuyệt vời là vẻ đẹp của đất trời
Tuyệt vời là ta ở tại đây
Có Thầy, có bạn, có luôn nụ cười
Còn thở là ta còn sống
Bước đều là còn đủ hai chân
Còn thấy đường để ngắm thiên nhiên
Vậy là sướng quá tiên trên trời.
(Ca nối trở lại Bài Tạ, không ca lại bài Ngũ điểm)
23. Thiền Trà (Ðiệu Hành vân)
Mời bạn hãy nâng ly trà
Tình bạn sẽ thêm đậm đà
Cũng bạn nở nụ cười tươi
Trà ngon bốc hơi nghi ngút
Trà tỏa hương thơm
Ly trong tay tròn đầy chánh niệm
Nhìn nhau thân ái
Rõ ràng bên nhau chứ phải nào chiêm bao
Giờ phút này chúng ta sum vầy
Anh này là người Gia Nã Ðại
Chị này ở tận Hòa Lan
Ông nọ ở bên Huê Kỳ
Còn tôi là người Việt Nam
Mặc dù Ðông, Tây cũng gặp nhau ở đây
Ngày mai xa cách
Xa mặt chứ chẳng xa lòng
Nhớ bạn thì nhớ Làng Hồng
Nhờ nơi đây mà Ðông gặp Tây
Tay cầm ly trà ta lại gặp ta
Vậy ta hãy cùng nhau uống
Ðể cho ta mãi mãi là ta.
24. Tiếng chuông
Tiếng chuông huyền diệu vang rền không gian vào cõi thênh thang
Nguyện tiếng chuông này vang đến mọi loài
Xa xôi tăm tối đường lối âm u
Những ai phiêu lạc mau dừng chân lại bừng tỉnh giấc mê
Nguyện người nghe chuông thoát nẻo đau buồn
Thân an, ý lặng, tâm hồn nhẹ buông lòng hết vấn vương.
25. Giao cảm
Lặng lẽ chiên đàn nhả khói thơm
Ðỉnh trầm xông ngát ý thiền môn
Lung linh nến ngọc ngời sao điểm
Thanh tịnh trần gian sạch tủi hờn
Nhè nhẹ xuân về lòng đất chuyển
Nhạc trời thanh thoát rộn muôn phương
Tâm linh một thoáng bừng giao cảm
Lặng hết bao nhiêu lớp sóng cồn
Trời đất hân hoan mừng nắng dậy
Một đàn em nhỏ rộn yêu thương
Quần điều áo lục theo chân mẹ
Hái lộc mùa xuân chật nẻo đường.
26. Ðề thiền duyệt thất
Gối nhẹ mây đầu núi
Nghe gió thoảng hương trà
Thiền Duyệt tâm bất động
Rừng cây dâng hương hoa
Một sáng ta thức dậy
Sương lam phủ mái nhà
Hồn nhiên cười tiển biệt
Chim chóc vang lời ca
Ðời đi về muôn lối
Quan san mộng hải hà
Chút lửa hồng bếp cũ
Ấm áp bóng chiều sa
Ðời vô thường vô ngã
Người khẩu Phật tâm xà
Niềm tin còn gởi gắm
Ta vui lòng đi xa
Thế sự như đại mộng
Quên tuế nguyệt ta đà
Tan biến dòng sanh tử
Duy còn Ngươi với ta.
27. Ðến đi thong dong
Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản
Không tròn không khuyết một vầng trăng
Gió vẫn còn lay con biết không
Khi mưa xa tiếp áng mây gần
Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
Cho lòng đất thấy bầu trời trong.
28. Tâm An
Quê hương đi về trên mỗi bàn chân
Bao nhiêu con đường mở ra độ lượng
Tâm không mong cầu bình an là vậy
An vui nơi này an khắp mọi phương
Niềm vui trãi dài sự sống
Tôi đi vững trên bàn chân
Mắt tôi mở to giữa đời này đây
Lòng không cầu làm mây trắng bay
Khổ đau từng nuôi ta lớn lên
Xin cho nắng mưa ngày sau
Vững một niềm tin chẳng hề nhạt phai
Hạnh phúc chưa từng là hạnh phúc mình tôi
Vì biết thương mình mà đã biết thương trần gian.
29. Bụt Là Vầng Trăng Mát
Bụt là vầng trăng mát
Ði ngang trời thái không
Hồ tâm chúng sanh lặng
Trăng hiện bóng trong ngần.
30. Sinh Sự
Bởi tôi sinh sự nên sự tình mới sinh
Nếu không sinh sự, sự nào có sinh
Nhớ luôn chánh niệm để đừng sự sinh, hởi ai.
Nhớ lấy câu này, thực tập hằng ngày
Và luôn chánh kiến, chánh tư duy.
Vững tâm chánh định để lòng an vui, thoát vòng sự sinh.
31. Tao Ngộ (Thơ: Viên Minh-Nhạc: Tịnh Thủy)
Bên bờ suối vô vi
Trăng lên chờ ta đó
Ngàn xưa từ ngàn xưa
Trăng vẫn chưa hề lặn
Ta đi vào viễn xứ
Trăng đưa lối ta về
Trùng dương muôn bến mộng
Nên ta vẫn còn mê
Trăng Huyền Không mở hội
Hương lan ngát bên đồi
Mây ngàn phương về hội
Giờ tao ngộ đến rồi
Quê hương vẫn là đây
Trăng vẫn mảnh trăng này
Ngàn sau ngàn sau nữa
Lồng lộng giữa trời mây
32. Bắc Một Chiếc Cầu
Có cây ngô đồng cho chim phượng đậu
Có người đứng đó cho tình thương sâu
Luật lệ nhiều khi như màn lưới sắt
Giam người trong kiếp trầm luân thương đau
Nhưng lòng nhân ái như bàn tay Bụt
Phá tan địa ngục, đập nát u sầu
Thành phố sáng nay nắng lên bát ngát
Có chim bồ câu bay liệng trời cao
Tôi nhớ tới người tấm lòng cương trực
Nụ cười mát dịu như nước nhiệm mầu
Trẻ thơ nhớ người như hoa nhớ nắng
Như nước nhớ nguồn như trăng nhớ sao.
Tâm đã quyết rồi hiềm gì bạo lực
Thân đi vào đời cưỡi trên ba đào
Bắc một cây cầu từ hang địa ngục
Lên tới cõi trời mở hội ngàn sao.
33. Taste and See
Oh taste, taste and see, how good is the fruit that falls from the trees
Oh taste, taste and see, how good is the fruit of the garden.
Taste the sun, stored in the skin, flavor of fire and passion
Taste the stars that dwell at the core, seeds of our joy and compassion.
CHORUS
Taste the rain, soaked in the flesh, it lingers so sweet on the tongue
Taste the earth, the body of life, dark and rich and strong.
34. Dear Friends
Dear friends, dear friends, let me tell you how I feel,
you have given me such treasures, I love you so
35. Please call me by my true names
My joy’s like spring so warm, it makes flowers bloom all over the Earth
My pain’s like a river of tears, so vast it fills the four oceans.
Please call me by my true names, so I can hear all my cries and laughter at once,
so I can hear that my joy and pain are one.
Please call me by my true names
so I can wake up and the door of my heart could be left open.
36. Being an island unto myself
Being an island unto myself
As an island unto myself
Buddha is my mindfulness
Shining near, shining far.
Dharma is my breathing
Guarding body and mind
I am free.
Being an island unto myself
As an island unto myself
Sangha is my skandha’s
Working in harmony
Taking refuge in myself
Coming back to myself
I am free, I am free, I am free.
37. Standing like a tree
Standing like a tree with my roots dug down,
My branches wide and open
Come down the rain, come down the sun,
Come down the fruit to a heart that  is open to be… standing like a tree
38. Island of the Self
Breathing in I go back to the island within myself.
There are beautiful trees within the island,
there are clear streams of water there are birds,
sunshine and fresh air,
breathing out I feel safe.
I enjoy going back to my island
39. Walk in Beauty
Now I walk in beauty,
Beauty is before me, beauty is behind me,
above and below me.
40. And When I Rise
And when I rise, let me rise
Like a bird, joyfully.
And when I fall, let me fall
Like a leaf, gracefully, without regret.
And when  I stand, let me stand
Like a tree, strong and tall.
And when I lie, let me lie
Like a lake, peacefully, Calm and still
And when I work, let me work
Like a bee, wholeheartedly
And when I play, let me play
Like a breeze, refreshing clear. Light and clear
41. Take your time
Take your time, breathing in, breathing out
Look deeply, as you say “This is me”,
You and your breath, you and the wind,
As humming bird and flower, have always been together
Take gentle steps feel the ground curl your toes,
Is there a line, between you and this path?
You and your step, you and this earth,
As butterfly and blossom, have never been appart.
42. Listen to Me My Friend (theo điệu Trống Cơm)
Listen to me my friend
Can you hear the wind is singing a song
A wonderful song
A flock of flying geese
White clouds are all at peace
All our hearts beat, beat, beat as one
Oh my dear friend
The stars are bright
And your eyes are twinkling
And you smiling is blooming
The moon brightens the night
Oh, o, o, o my dear friend
Dear friend oh can’t you see
The stars are bright
Oh wonderful life (2)
43. In Gratitude
Refrain:
In gratitude, you have watered seeds of love in me,
In gratitude, I will water seeds of love in someone too.
I know you’re there for me,
And I am so happy.
(repeat refrain)
And if you suffer some,
Please call and I will come.
(repeat refrain)
44. Sống vui
Chỉ còn có hát ca mà thôi
Sống nơi đây cho thật tuyệt vời
biết ngay nhiều nguồn cơn bối bối
chỉ tại chính ta không chịu chơi
ÐK Mình đâu có tiếc chi mà nhớ
Mình đâu có mong chi mà mơ
Từng giây phút phút giây đổi mới
Mình riêng biết có đâu chi mà ngờ
Mình từng lúc sống trông mặt nhau
lúc cong lưng trong ruộng đục ngầu
lúc đi dạo đường trăng hoa lá
nghe lời gió  ru qua rừng lau   ÐK
Chỉ còn có sống vui mà thôi
quên phắt đi bao cơn nghèo đói
Nụ cười nở mãi trên bờ môi
Từng bước chân trang điểm cuộc đời  ÐK
Từng nhịp bước hát vang trời mây
tung cuốc khai ba ngàn thế giới
nào ai biết ta đang từng giây
tụng  biến kinh vốn không lời nầy  ÐK
45. Nhìn Thầy lòng thanh thoát
Nhạc và lời : Tịnh Thủy
Nhìn Thầy lòng thanh thoát
nghe Thầy hết đắm say
ngồi bên Thầy ấm áp
buổi chiều qua không hay
Mê, nghe kinh trọn kiếp
Ngộ, chỉ một sát na
gặp Thầy trong chốc lát
thanh thản nẽo đi về
46. Tôi xin cảm ơn
Tôi xin cảm ơn
mọi người và mọi loài trong vũ trụ
đang giang tay góp mặt
để nuôi nấng tôi
Xin cảm ơn mặt trời
đang vươn lên cho sự sống
và dòng nước thanh tuyền mầu nhiệm
đang thấm nhuần vạn vật muôn nơi
Tôi xin cảm ơn, xin cảm ơn
Ngọn gió nào và hạt bụi nào nụ hoa nào
đã kết thành tứ đại thân tôi
47. Hai lời hứa
Con xin hứa mở rộng lòng thương
và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người,mọi loài cỏ cây,
cầm thú và đất đá. (Thở : âm _ hà 3 lần )
Con xin hứa mở rộng tầm hiểu biết
để có thể thương yêu và chung sống với mọi người, mọi loài cỏ cây, cầm thú và đất đá.
(Thở: âm hà 3 lần )
48. Nên hôm nay ta vẫn sống nhẹ nhàng (Tịnh Thủy)
Ta vẫn sống trong ta – từ  lâu rồi –  hẳn chứ
có bao giờ ta mất hút ta đâu
Ta thấy nhau, ta thấy một trời cao,
mây trắng vẫn thong dong từ bên nầy bên nớ
Ta vẫn thở những gì ta vẫn thở
gió mang về mùi nước mặn miền xa
gió mang đi hương cả một vườn hoa
Ta vẫn sống trong ta – từ lâu rồi – hẳn chứ
Ta vẫn có ngày mai, ta vẫn còn quá khứ
nên hôm nay ta vẫn sống nhẹ nhàng
nên hôm nay ta vẫn sống nhẹ nhàng
49. Thiền Trà
Chén trà trong hai tay
Chánh niệm nâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
bây giờ và ở đây
Khi uống chén trà trong
ta nhớ cội nhớ nguồn
Khi nhấp miếng trà thơm
hỏi nước đến từ đâu
Nước từ nguồn suối cao
nước từ lòng đất sâu
Nước mầu nhiệm tuôn chảy
Ơn nước luôn tràn đầy
50. Cây sồi năm xưa (Tịnh Thủy)
Tôi lại về đây bên cây sồi năm xưa cây bao mùa đổi lá
nhưng vẫn là cây năm xưa  qua bao nắng mưa cây xanh mát hơn
cây cao lớn hơn như tình thương
như mặt trời kia vẫn mọc và lặn
nhưng mặt trời lặn đâu phải mặt trời đã tắt
Tôi vẫn khóc một ngày kia khi cây nằm xuống
dù bao nhiêu cây khác  sẽ  lớn  lên  mạnh mẽ hơn tôi vẫn khóc
51. Lời qua tiếng lại
Lời qua (mà) tiếng lại
giải quyết chi đâu!
sao không dừng lại?
kẻo hố thêm sâu.
Lời qua (mà) tiếng lại
đưa ta tới đâu!
sao không dừng lại?
thở nhẹ và sâu.
Lời qua (mà) tiếng lại
đưa ta tới đâu!
sao không thở nhẹ?
mỉm cười nhìn nhau.
52. Lý Làng Mai (theo điệu Lý Ðan Ðệm)
Sáng nay lên Xóm Thượng  mong gặp Sư Ông
Thấy Sư Ông ngồi an tĩnh-” cốc Ngồi Yên”-
dưới mái hiên (2 lần)
Sáng nay lên Xóm Thượng, tôi gặp Sư Anh
Thấy Sư Anh ngồi pha nước-”cốc Phù Vân”-
dáng rất thân (2 lần)
Sáng nay qua Xóm Hạ, sương mù giăng xa
Bước thong dong, lòng nghe khỏe, tâm an bình,
thấy rõ ta (2 lần)
Tối nay Xóm Hạ, trăng tròn lên cao
Các Sư Cô còn thanh thản đi thiền trăng,
khỏe biết bao (2 lần)
Sớm mai Thôn Hạ, mây mờ giăng xa
thấy Sư Cô còn đang đứng bên lầu chuông
dáng thướt tha (2 lần)
53. Cầu Hiểu, Cầu Thương (Nhất Hạnh)
Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương
Sông núi trông ra đẹp lạ thường
Về tới quê xưa tìm gốc rễ
Qua rồi Cầu Hiểu tới Cầu Thương
54. Mừng Khánh đản (Lê Mộng Nguyên)
Chào mừng đón Ðản Sanh về  đây.
Ngày trần gian chào đón Ðức Phật từ tôn chúng ta,
ngàn ánh sáng tưng bừng tan
trong nắng mai huy hoàng.
Chào mừng đón Ðản Sanh lừng vang
tòa sen ngát trầm hương hòa lòng thành tâm
chúng ta nguyện chớ quên ơn dầy cao Ðức Từ Bi.
Ðồng thanh chúng ta hát ca ngợi công ơn Ðức Phật.
Lời vàng tràn đầy tình chúng sanh bao trùm
mong ngày mai bừng sáng kim quang dưới trời  thanh.
Nam Mô  Thích Ca Phật Ðà
Nam mô Thích Ca Phật Ðà
Thề noi theo vết người đầu tiên dắt đưa đường
Nam Mô Thích Ca Phật Ðà
Vang ngân tiếng kinh đầy thành tâm nguyện cầu
55. Ðón Xuân (Phạm Ðình Chương – Tăng thân Làng Mai thêm lời)
Xuân của đất trời nay đã cùng về đây với người.
Vui trong niềm tin nghe trần gian hát ca mọi nơi.
làm cho kiếp người mau thoát vòng trần lao đắm đuối
Hãy dâng an vui tới đời
Kìa trong vạt nắng mạch xuân tràn dâng.
Chúng ta nhẹ đi trong vườn Ðịa Ðàng cùng bao nguồn sáng.
Cõi Tâm an lành  thắm như trời xanh
bầy chim tung cánh hót vang đón mừng mầu nắng tươi trong
Ta nghe gió về đang thiết tha như muôn tiếng đàn.
Xuân dâng niềm vui cho ngày xanh không vương sầu thương
Niều đau xóa mờ, tình yêu người càng thêm chan chứa,
khúc ca xuân vui thái hòa.
Cùng đón Chúa xuân đang giáng xuống trần.
Chúng ta đứng trong mùa xuân Hồng
hãy luôn nhớ tu trì tinh tấn.
Trần gian tủi hờn, Xuân vẫn mãi còn
Tới đây nắm tay cùng nhau bước,
hát lên khúc ca của Bản Môn .
56. Chuyển hóa
Nước giữ hoa tươi
Hoa nở cho người
Hoa thở tôi thở
Hoa cười  tôi cười
Bên nàng hoa tươi
Hoa mời ong lại
Hoa vờn bướm bay
Tâm hoa kết nụ
dâng cho cuộc đời
trái ngọt ngon nầy
hóa làm thân tôi
Uống nước giếng trong
tôi ngậm trong lòng
Tôi nghe biển mặn
sóng vổ mênh mông
Thân tôi sông rộng
Quê hương nghìn dòng
Chung một dòng chung
Nước đã nuôi tôi
Thấm nhuận muôn loài
Nước chảy tôi chảy
nước buồn tôi thở dài
nước ấy hoa đây
Khác gì thân nầy
Trăm năm hồ mộng
Cát bụi lầm vương
vạn pháp nương chuyển
thường trong vô thường
a á à a
a á à a
57. Cười đi em (theo điệu Lý Giang Nam)
Can chi mà nói ư ứ ư ừ ư nọi nói noi,
nọi nặng lời em (anh, con_)
nọi nặng lời làm buồn lòng như ư ứ ư ư ư ( 2 lần )
Ðưa tay mà thỉnh ư ứ ư ừ ư thỉnh
thỉnh thinh thỉnh một hồi,
em thỉnh một hồi một hồi là chuông ư ứ ư ư ư ( 2 lần )
Em (anh, con_ ) ơi hãy mĩm cười ư  ư ừ ư   mĩm
mim mím miệng cười,
em mỉm miệng cười, nụ cười thật tươi ư ứ ư ư ư
58. Chim bốn phương
Hoàng Cang
Chúng ta là chim  bốn phương bay về đây
Về đây chúng ta sống trong đạo thiêng
Chúng ta là hương gió mang đi ngàn phương
Nguyện đem gieo rắc khắp nơi ánh vàng
59. Đại Trượng Phu
Cửa Tùng đôi cánh khép
Một mũi tên sáng loá lìa dây cung
Lau vút tới,
Mặt trời nổ tung
Ngoài sân hoa cam rụng
Trăng hiện bóng vô cùng
60. Cẩn Trọng
Qua ngõ vắng
Lá rụng đầy
Tôi theo con đường nhỏ,
Đất hồng như môi son bé thơ
Bỗng nhiên tôi cẩn trọng
Từng bước chân đi
61. Áo lụa thiền hành (Lời :Chân Ðoan Nghiêm, nhạc: Anh Việt)
Trãi dài trên mặt cát, là áo lụa thiền hành
dệt bằng tơ vô giá, đính kim cương long lanh
Bước chân là con thoi, không gian là hơi thở
thời gian và không gian, dệt đan không kẻ hở
Khoát áo lụa thiền hành, từng phút giây linh động
Nguồn an lạc trào tuông, tuyệt vời trên sự sống
62. Ðuốc thơ còn cháy trên trang sử người (Nhất Hạnh)
Ðêm nầy dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn thấy luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Ðuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẽo về đã rạng chân trời thênh thang
Tỉnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào chẳng nghe?
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển Ðông sóng vổ, kình nghê vẫn còn
63. Hoa vẫn nở trên đường quê hương (Phạm Thế Mỹ, Tăng thân Làng Mai thêm lời)
Hoa vẫn nở trên đường quê hương.
Ôi! Quê hương ta đó!
Kìa bóng tre xanh tươi bên đàng.
Kìa ánh dương đang lên huy hoàng.
Từng cánh hoa, từng cánh hoa
Hoa vẫn nở trong tôi tình thương.
Hoa vẫn nở trên đường quê hương
Ðường năm xưa đi trong bóng tối,
đường hôm nay đi trong ánh sáng à á a  à á a.
Ta đã từng tỉnh giấc hôn mê.
Ðường thương yêu hôm nay thắp sáng,
cùng Tăng thân vui chân bước tới à á a  à á  a.
Hãy lên đường và thương yêu nhau.
Hoa vẫn nở trên đường quê hương.
Ôi! Quê hương ta đó!
Ngàn bước chân đi trong nhiệm mầu
Ngàn trái tim đi trong nguyện cầu.
Từng cánh hoa, từng cánh hoa.
Hoa vẫn nở trong đêm mù sương.
Hoa vẫn nở trên đường quê hương
Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! Quê hương ta đó!
Dù bé thơ xanh xao gầy còm.
Dù tiếng ru ban trưa mõi mòn.
Từng cánh hoa, từng cánh hoa
ngát thương yêu xua đi sầu thương.
Hoa vẫn nở trên đường quê hương.
Lòi ca em êm như tiếng suối.
Lời thơ anh vang như thác núi.
Nguyện ước xưa còn thiết tha,
ngát xanh như mạ non quê ta.
Bàn chân em đi gieo lúa mới
bàn chân anh đem theo nắng mới
về núi xa, về phố hoa,
quét cho tan khổ đau trong ta.
Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! Quê hương ta đó!
Từng phút giây gieo nhân an lành,
từng bước chân đi trong thiền hành.
Từng cánh hoa, từng cánh hoa,
hoa vẫn nở trong tôi niềm tin
Hoa vẫn nở trên đường quê hương.
64. Lửa giận
Mỗi khi tôi giận cái mặt tôi buồn xo
trái tim hậm hực lửa đâu như bừng to
Boong  Boong tôi thấy ai cũng buồn lo  tôi muốn đâu giận hờn
(nhưng) lửa lửa từ đâu sao cứ dâng dâng từng cơn
Boong  Boong
tình tình tinh tang có tiếng chuông ngân vang đàng xa (2 lần)
Tiếng chuông chánh niệm (2 lần)
bước chân tôi nhẹ nhàng hơn hơi thở tôi an bình (2 lần)
buồn phiền dần xa  khi thở luôn mấy hơi vào ra
Boong  Boong
Quan Thế Âm lực, Quan Thế Âm hạnh
Tôi tập mở lòng ra
tôi lắng nghe tâm mình   hạt giống kia mấy đời
tiềm tàng trong tôi nên khiến tôi nổi điên thật mau
Boong  Boong
kẻ kia  thế nầy, kẻ kia nặng lời
nguyên do vụng về thôi
tôi quyết tâm xây hồ   chuyển thói ganh giận hờn
thành hồ sen thơm, ngát hương của hiểu và thương
Boong  Boong
65. Lý ngồi thiền (theo điệu Lý Ðam Ðệm)
Trời vừa hửng sáng
chuông chùa ngân, chuông chùa ngân
bước chân nhẹ nhàng thanh thản
bước vô thiền đường ôi thảnh thơi nhẹ nhàng,
nhẹ nhàng an nhiên
an nhiên vững thân ngồi yên
Thiền đường buổi sáng
trăng còn treo, trăng còn treo
nở ngay nụ cười tươi mát
bước chân dẫm lên thực địa. Ôi thảnh thơi nhẹ nhàng,
nhẹ nhàng an nhiên
an nhiên vững thân ngồi yên
Thiền đường ấm áp
thấy được tâm, thấy được tâm
một phen mà ngồi xuống
quyết tâm dứt luôn sầu đau. Ôi thảnh thơi nhẹ nhàng,
nhẹ nhàng an nhiên
An nhiên vững thân ngồi yên
Vui buồn là thuyền theo gió
hơi thở chính là neo
vững tâm duy trì hơi thở
chớ cho cuốn trôi thuyền đi. Ôi thảnh thơi nhẹ nhàng,
nhẹ nhàng an nhiên
An nhiên vững thân ngồi yên
66. Mùa hợp tấu (Hùng Lân)
Bạn đường ơi nắng lên rồi gieo sáng ngời
Nhạc ngày xanh như chim lành tung đôi cánh
Một trời hoa sáng bao la,chờ đợi ta kiếp xông pha
bạn cùng tôi câu nước non ta chung hòa.
Ngoài ruộng sâu đã lên mầu bông lúa  đầu.
Ngành quỳ dương vui lên đường về định hướng
Mùa dựng xây đón ta đây, hợp ngàn tay thấm men say,
dựng ngày mai tươi sáng trong khúc nhạc bừng mây
Ca lên đi xuân thế hệ lên phơi phới
Ca lên đi ca sức mạnh dân tộc (huynh đệ) mới.
Cho xanh tươi cây  ước vọng bên suối đời.
Cho thắm lại tơ lòng ai thiếu yên vui
Bạn đường ơi nắng lên rồi gieo sáng ngời
Nào cùng nhau ta mở đầu mùa hợp tấu.
Dù ngày mai sống đôi nơi, hẹn rồi đây sát đôi vai,
nhìn ngày trôi nghe sức thiêng ta không hề phai
67. Ngày Em hai mươi tuổi (Mừng Làng Mai 20 tuổi 1982-2002)
Ngày Em hai mươi tuổi…xuân đã về
bước chân ai nhè nhẹ.
Mưa Cam lộ tưới mát mười phương
Một ngọn nến hồng mừng em hai mươi tuổi
Ngàn năm sau em sẽ về đâu …?
Cây đại thụ sáu mươi năm sừng sững
Bao cành non đâm lộc nẩy chồi
Ánh trăng rằm sáng soi khung trời rộng
Em ngồi yên thanh thản vạn ngày vui
Ngày Em  hai mươi tuổi …xuân đã về
nhà bò thành nơi thanh tịnh
làng trên xóm dưới rủ nhau về
Trên trời cao ngàn viên ngọc sáng
Cánh phưởng bay ươm hạnh phúc nhiệm mầu.
Cơ nghiệp nầy tiền nhân trao truyền lại
Ngàn năm rồi  vườn nai về lại với cố nhân
Bước chân vững chãi trên đồi Yên tử
Bên lưng đồi trong sáng giọt sương mai
Ngày Em hai mươi tuổi…
Phật Mã Ðường dựng trên núi tuyết
Rừng Phong đầy hương của yêu thương
Hồ sen Nước Tĩnh soi mặt nguyệt
Bao tháng ngày năm mái ấm chở che.
Hơi ấm tỏa ra từ bếp củi
Ngồi hơ tay an lạc múa bút tiên
Ðường Xưa Mây Trắng ai tìm lại
Ðể mừng ngày Em tuổi hai mươi
68. Nối vòng tay lớn (Trịnh Công Sơn, Tăng Thân Làng Mai thêm lời)
Rừng núi giang tay nối lại biển xanh
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối thâm tình
Mặt đất bao la anh em ta về
gặp nhau mừng câu ”Ðã Tới”, khung trời lồng lộng,
bàn tay ta nắm nối tròn một vòng đệ huynh
Dòng tỉnh thức đêm vui nối ngày
Nguồn hiểu biết dâng lên tràn đầy,
dựng tình người trong ngày mới
Thành phố nối thôn trang đồng nội,
hồn đất nước linh thiêng mời gọi,
làm nụ cười nở trên môi.
Từ Á sang  Âu bước đều sát vai.
Ta khơi ngọn nguồn yêu thương chuyển hóa đất trời.
Vượt thoát âu lo, xua tan hận sầu,
từ quê nhà sang thế giới nắm tay đứng nhìn
biển xanh, sông gấm nối liền một vòng Tăng thân
69. Qua cơn mê (Trần Trịnh-Nhật Ngân, Lời : Tăng Thân Làng Mai)
Một mai qua cơn mê
xa cuộc đời bềnh bồng
ta trở về Tăng thân
Ngày gió mưa không còn, con đường thật hiền lành,
ta mặc tình rong chơi
Cùng nhau ta sẽ đi sẽ qua thăm Thanh Sơn
leo đỉnh trời bao la
Ta sẽ qua Nhà Trà sẽ đi quanh bờ hồ
sẽ đi lên Phật Ðường
Tình người sau cơn mê vẫn xanh
Từ nay có nhau bên nhau hộ trì
Từ Nghiêm, Pháp Vân mai ta lại về
Cùng theo các em học hành như xưa
Rồi đây qua cơn mê Cam Lộ lại thành nguồn
xuôi về ngọt quê hương
Ngày đó ta không còn thất thểu ngoài cuộc đời
ôm chặt niềm cô đơn
Cùng nhau ta sẽ đi sẽ đi tay trong tay
gieo hạt lành muôn phương
Khi lá hoa thật nhiều trái yêu thương đầy cành
hái đem cho mọi người
70. Sám hối
Con đã gây ra bao lầm lỗi
Khi nói khi làm khi tư duy
Đam mê hờn giận và ngu si
Nay con cúi đầu xin sám hối
Một lòng con cầu Bụt chứng tri
Bắt đầu hôm nay nguyện làm mới
Nguyện sống đêm ngày trong chánh niệm
Nguyện không lập lại lỗi lầm xưa
Nam Mô Bồ Tát Cầu Sám Hối
Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm
Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm
Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong
71. Ra Khơi (Phạm Duy, Tăng Thân Làng Mai thêm lời)
Ra khơi!
biết mặt trùng dương.Biết trời mênh mông
biết đời viễn vông, biết ta hãi hùng
Ra khơi!
Thấy lòng phơi phới. Thấy tình thế giới.
Thấy mộng ngày mai. Thấy niềm tin mới.
Chơi vơi 1 Con thuyền trên sóng không nguôi
Bão bùng xô tới xô lui. Vững tay chèo lái!
Xa xôi! hỡi người trong viễn phương ơi!
Hẹn cùng nhau viễn du thôi! Lên đường mãi mãi.
Ra đi!
Nước trời bao la. Hết cuộc phong ba.
Ðất liền Âu Á cũng không xa gì.
Phiêu du khắp nẽo đây đó. Bỗng người say sưa.
Thấy hoàn cầu mơ khúc Ðại Tình Ca.
Hãy ghé bến bờ. Có những khóm dừa
Chiều nhuộm vàng làng xóm nên thơ.
Có những núi mờ. Ðứng mãi ngóng chờ.
Chờ người về đầu non trắng xóa.
Ánh sáng chói lòa. Hương đêm kinh kỳ
Ai quay cuồng nhịp đời dương thế ?
Giữ mãi ước thề. Thắp sáng lối về.
Ðể đẹp lòng người bước ra đi
72. Đâu đó tiếng ai cười
(Rồi mình lại đi chơi)
Thơ : Chân Pháp Dụng, nhạc : Chân Hoa Nghiêm
Rồi mình lại đi chơi
Lên đồi khi sương sớm
Lên mỏm đá ta ngồi
Nhìn xa qua mây núi
Chỉ thấy mây mù thôi
Có ai nhìn thấy phố
Có ai nhìn thấy người
Không người sao vui vậy
Đâu đó tiếng ai cười
Buổi sáng mây còn ngủ
Đục mờ như biển khơi
Ngồi yên tâm bất động
Giật mình chiếc lá rơi
Xa xa in bóng nắng
Nhẹ nhàng biển mây trôi
Một ngày nữa đi tới
Một ngày nữa qua rồi
Ngày qua ai khôn lớn
Ngày đến ai buồn vui
Kiếp người như buổi sáng
Ngồi chơi trên đỉnh đồi
Vui buồn như sương khói
Chóng đầy chóng lại vơi
Phút giây lòng thanh thản
Nhận ra tiếng ai cười.
73. Hoa mặt trời
Thơ: Nhất Hạnh, Nhạc: Anh Việt
Em đến đây  bằng đôi mắt hồn nhiên
nhìn màu xanh của pháp thân hiển hiện
Dù thế gian tan tành nụ cười bông hoa
vẫn chưa bao giờ còn tan biến
Chúng ta đã được gì hôm qua
và sẽ mất gì sáng nay ?
Em đến đây  theo ngón tay tôi
nhìn thẳng vào thế gian điểm tô bằng ảo tưởng
Hoa mặt trời mọc rồi
muôn hoa khác  đều quay về quy ngưỡng
Hoa mặt trời mọc rồi
muôn hoa khác  đều quay về quy ngưỡng
74. Thiền Sư
”Gặp thanh gặp sắc như hoa mọc đầu non
thấy lợi thấy danh như  bụi rơi xốn mắt”
Thênh thang giữa cuộc đời
vững chãi và thảnh thơi
Ngồi yên như núi, đi lại như mây
Thở với rừng cây, lời vang tiếng sóng
An nhiên giữa cuộc đời,
Ðộ thoát biết bao người
75. Thuyền Từ tách bến
Phạm Duy, Tăng Thân Làng Mai thêm lời
Chèo nhịp nhàng cho con thuyền lướt tới
trái tim thiết tha xót thương người
Lời nguyện nào đã phát tự năm xưa
lúc ta hãy còn thơ ấu
Dù cuộc đời tuy có mặt đau thương
vẫn thường ca hát khúc yêu đời
Lắng nghe bao tiếng tười rộn ràng những niềm vui
Ra đi người ơi! Thuyền rời xa bến mê rồi.
Thong dong người ơi! Ðường về Bến Giác cùng vui…
Ca lên người ơi! Thuyền Từ bát ngát hương trời
Thong dong người ơi! Mặt trời đỏ ối ngoài khơi
Buồm chiều gội nắng ra khơi
Bao nhiêu tình thương đến cho  an vui, người ơi!
Có tiếng khóc ai đầy vơi.
Ta đưa tay ra cứu người đắm đuối
Ra đi người ơi! Thuyền Từ dong bốn phương trời
Thong dong người ơi! Ðại Từ bến ấy là đây
76. Trái Tim Từ Bi (Phạm Thế Mỹ, Tăng Thân Làng Mai thêm lời)
Em nghe gì không hỡi em?
con chim nhỏ hát vang đầu hè
Em nghe gì không hỡi em?
con chim nhỏ múa trên cành tre.
Hót đi chim! Hót đi chim!,
hót cho mặt trời hồng trong ta.
Hót đi chim! Hót đi chim!
hót cho niềm hận thù trôi xa.
Chim trên đồng chim trên non,
chim tung cánh xóa tan mây mù
Chim trong hồn chim trong tim,
Ôi thương quá tiếng chim Từ Bi.
Hoa cúc vàng nơi quê em
tươi như áo mới em ngày nào
Hoa trắng hồng nơi quê anh
lung linh chiếu sáng soi ngày xanh
Nắng lên đi, nắng lên đi,
nắng lên hồng nụ cười tin yêu
Nắng lên đi, nắng lên đi,
nắng lên hồng ngày  đẹp lên theo.
Hoa hiểu người hoa yêu thương,
hoa thương xót thế gian đau buồn
Hoa trên đồi, hoa trên nương,
ôi thương quá cánh hoa Từ Bi
Trăng sáng ngời trên sân hoa,
trăng lên tiếng hát vui đêm già
Trăng sáng ngời trên non xa,
trăng xua bóng tối trong hồn ta.
Sáng lên trăng!,sáng lên trăng!
sáng cho người tìm về bên nhau
sáng lên trăng!,sáng lên trăng!,
sáng cho tình người nở đêm thâu.
Trăng thương đời trăng thương ai
trăng đem mát mẽ cho muôn người
Trăng thanh bình trăng an vui,
ôi thương quá ánh trăng Từ Bi.
Bao nhiêu đèn bao nhiêu hoa,
bao nhiêu nến thắp lên trong hồn
Yêu quê mẹ, yêu quê cha,
yêu thương những mái tranh làng xa
Thắp tim lên,thắp tim lên!
thắp cho tình người dậy trong ta.
Thắp tim lên,thắp tim lên!
thắp cho niềm hận thù tiêu ma.
Yêu thương người,yêu thương ta,
yêu luôn những thú hoang  rừng già.
Yêu kẻ thù như yêu ta,
ôi thương quá trái tim Từ Bi
77. Thảnh thơi
Chuông ngân từng tiếng ối à ngân nga
thở vào tâm tĩnh lặng a à a í a
thở ra ối a à a mĩm cười
tình tình tình thảnh thơi
tình tình tình thảnh thơi
An nhiên ngồi xuống ối à an nhiên
thiền đường trên lối cỏ a à a í a
trầm luân ối a  à a hết rồi
tình tình tình thảnh thơi
tình tình tình thảnh thơi
Thong dong từng bước ối à thong dong
đường đời sao bổng nhẹ a à a í a
Cửa Không ối a à a bước vào
tình tình tình thảnh thơi
tình tình tình thảnh thơi
78. Vui Ca Lên
Vui ca lên nào anh em ơi! hát cho lòng thắm tươi,
dù thấy khó đừng mau chân lui ta cứ tiến lên đường
dầu sương mưa rơi, lòng ta thêm tươi chớ khi nào có quên
cùng cất tiếng hòa vang trong mây, cho bao người đều vui.
Vui ca lên nào anh em ơi! chớ đau buồn khóc than,
đời tươi thắm vì trong sương mưa, luôn tiếng hát vang lừng
kìa chim trên cây,kìa ong trên hoa, bướm lưng trời thướt tha,
cùng ham sống việc vui quanh năm, tô thêm tươi đời hoa.
Vui ca lên nào anh em ơi! hát cho đời thắm tươi,
lời ca khắp đồng quê xanh tươi, mang khắp chốn non ngàn,
mặc sương mưa rơi, lời ca không ngơi, rắc reo nguồn sống vui,
nào cất tiếng hòa vang trong mây, cho bao người đều vui.
79. Xuân Ca (Phạm Duy, Tăng Thân Làng Mai thêm lời)
Xuân trong tôi, phát sinh tâm nguyện thiết tha
Làm sao làm sao thế gian  cùng nhau xóa tan hận thù
Xuân dâng lên, thiết tha trong nguồn suối thơ
Thuyền đi, chèo theo nắng lên hòa cung khúc ca Vượt Bờ
ÐK.: Xuân Xuân ơi! Xuân ơi! Xuân ơi! (2 lần)
Xuân Tăng thân, bước đi trong niềm kính thương.
Là xinh, là tươi có Xuân dựng nên ước mơ hiền hòa.
Xuân tin yêu vững đi cho dù nắng mưa
Vườn Xuân đầy tươi cỏ hoa cùng nhau đón Xuân đậm đà
ÐK.: Xuân Xuân ơi! Xuân ơi! Xuân ơi! (2 lần)
Xuân lên cao, thảnh thơi ta nhìn trước sau
Tình Xuân, hồn thiêng sáng lên vườn Tâm cõi Xuân còn hoài.
Xuân trong  ta đã bao nhiêu lần trải qua
Vượt lên! Vượt lên những cơn buồn thương, những đêm nhạt nhòa
ÐK.: Xuân Xuân ơi! Xuân ơi! Xuân ơi! (2 lần)
Xuân bên nhau, nắm tay ta cùng bước đi.
Nhìn nhau bằng con Mắt Thương, mừng vui có nhau từng ngày
Xuân trong ta, đã theo Xuân về bốn phương
Thì xin cùng nhau thứ tha, nhìn nhau thấy nhau tận tường
ÐK.: Xuân Xuân ơi! Xuân ơi! Xuân ơi! (2 lần)
80. Mở Thêm Rộng Lớn Con Đường
Mái tóc vốn màu gỗ quý
Nay dâng thành khói trầm thơm
Nét đẹp đi về vĩnh cửu
Vi diệu thay ý vô thường
Đã thấy đời cơn huyển mộng
Chân tâm một quyết lên đường
Nghe hải triều lên mấy độ,
Nguyện phát túc về siêu phương
Gió reo trên triền núi Thứu
Lòng nay thôi hết vấn vương
Bài ca sáng ngời diệu lý
Bao la ngát đạo chân thường
Ngày xưa nước bồ kết gội
Chiều về buông xỏa tóc hương
Sáng nay cam lồ tịnh thủy
Tâm bồ đề lộ kiên cường
Bàn tay tập bài từ ái
Chia vui nếp sống tịnh thường
Mấy mươi năm trời cần mẫn,
Thủy chung vẫn một niềm thương
Sáng nay cạo sạch mái tóc
Mở thêm rộng lớn con đường
Phiền não vô biên nguyện đoạn
Một tâm mà động mười phương.
81. Bông hoa vàng trong cỏ (Nhất Hạnh)
Buổi sáng em đang đi thiền hành
chợt một  bông hoa vàng trong cỏ trông thấy em
Bông hoa nghiêng nghiêng mĩm cười
rồi bông hoa hỏi
‘‘Em có biết là Bụt thương em không‘‘ ?
-Em biết Bụt thương em!
mà Bụt cũng thương mọi người và mọi loài khác nữa
Bụt thương con sóc, con nai
con muỗi, con trùng, con chim, con cá
Bụt lại thương những loài cỏ cây
và thương luôn những loài đất đá.
Hoa ơi, hãy cùng em sung sướng
chấp nhận tình thương
để từ hôm nay phân chia hạnh phúc
trên mọi nẽo đường.
Hoa ơi, em hãy chấp tay thành bông sen búp
Xin nguyện đi trên con đường tuyệt vời của Bụt
Con đường hiểu biết, con đường thương yêu.
Em xin học thở học cười
để chuyển hoá những nỗi buồn cơn giận
để trái tim em làm ra tình thương rất ngọt
thành nụ cười rạng rỡ trên mắt và trên môi
Hoa ơi, hoa hãy giúp em
Nai ơi, sóc ơi, chim ơi, cá ơi, cỏ cây ơi, đất đá ơi
chúng ta hãy cùng nâng đỡ nhau
trên con đường thực tập
82. Tìm nhau (Thơ: Nhất Hạnh, Nhạc: Anh Việt)
Con đã đi tìm Thế Tôn
từ hồi còn ấu thơ
Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn
từ khi mới bắt đầu biết thở
Con đã ruổi rong
vạn nẽo đời hiểm trở
đã từng đau khắc khoải
với trăm thương ngàn nhớ
trên bước đường hành hương
Con đã đi tìm Thế Tôn
trong tận cùng hoang dã
ngoài mênh mông biển lạ
trên tuyệt mù cao sơn
Con đã từng nằm chết quạnh hiu
trên cánh sa mạc già
Con đã từng cố dấu lại vào tim
những giòng lệ đá.
Con đã từng
mơ uống những giọt sương
lấp lánh hành tinh xa.
Con đã từng ghi dấu chân
trên non bồng diễm ảo
Con đã từng cất tiếng kêu gào
dưới ngục A Tỳ mòn mõi hư hao
Bởi vì con đói lạnh
Bởi vì con khát khao
Bởi vì con muốn tìm được cho ra
bóng hình ai muôn đời tuyệt hảo.
Con biết nằm trong trái tim con
là niềm tin diệu kỳ
thâm sâu và uyên áo
Là Thế Tôn có mặt đó
Dù con chưa biết đích xác
Thế Tôn đâu
Con linh cảm rằng
Từ muôn kiếp xa xưa
Thế Tôn với con đã từng là một
Rằng khoảng cách giữa hai ta
không thể dài hơn quá một nhịp
tâm đầu
Chiều hôm qua bước đi một mình
con thấy lá thu rơi đầy lối cũ
và vầng trăng treo trước ngõ
đã xuất hiện bất thần
như bóng hình người cũ
rồi tinh đẩu xôn xao báo tin
là Thế Tôn đã có mặt nơi nầy.
Suốt đêm qua
Trời giáng mưa  cam lộ
chớp lòe qua cửa sổ
trời lên cơn bão tố
Đất trời như giận dữ
nhưng cuối cùng trong con
mưa cũng tạnh mây cũng tan
Nhìn ra cửa sổ
con thấy vầng trăng khuya đã hiện
và đất trời đã thực sự bình an.
Tự soi mình trong gương nguyệt
con thấy con
và con bổng thấy Thế tôn
Thế Tôn đang mỉm cười.
Ô hay
Vầng trăng thảnh thơi
vừa trả lại cho con
tất cả những gì con ngỡ rằng đã mất
Từ khoảnh khắc ấy
từng phút giây miên mật
con thấy không có gì đã qua
không có gì cần hồi phục
Bông hoa nào
hạt sỏi nào
ngọn lá nào
cũng nhìn con nhận mặt.
Nhìn đâu
con cũng thấy nụ cười Thế Tôn
nụ cười của không sanh không diệt
đã nhận được tự gương nga
Con đã nhìn thấy Thế Tôn
Thế Tôn ngồi đó
vững như núi Tu Di
bình an như hơi thở.
Thế Tôn ngồi đó
Như chưa bao giờ từng vắng mặt.
Như chưa bao giờ trên thế gian
đã từng có cơn bão lửa.
Thế Tôn ngồi đó
yên lặng và thảnh thơi.
Con đã tìm ra Thế Tôn.
Con đã tìm ra con.
Nước mắt con không cầm nổi.
Con ngồi đó
im lặng trời xanh cao.
Núi tuyết in nền trời
và nắng reo phơi phới
Thế Tôn là tình yêu đầu
Thế Tôn là tình yêu tinh khôi.
Nghĩa là không bao giờ
sẽ cần tình yêu cuối.
Người là dòng sông tâm linh
tuy đã từng chảy qua
hàng triệu kiếp luân hồi
nhưng luôn luôn còn mới.
Con đã đi tìm Thế Tôn
từ hồi còn ấu thơ.
Con đã nghe
tiếng gọi của Thế Tôn
từ khi mới bắt đầu biết thở.
Thế Tôn là bình an.
Thế Tôn là vững chải.
Thế Tôn là thảnh thơi.
Người là Bụt Như Lai
Con nguyện một lòng nuôi dưỡng
chất liệu thảnh thơi
chất liệu vững chãi
và truyền đạt tới mọi loài
hôm nay và ngày mai
83. Thầy đi tìm con (Bên mé rừng đã nở rộ hoa Mai) Thơ Nhất Hạnh, Nhạc Anh Việt
Thầy đi tìm con
Từ lúc non sông còn tăm tối
Thầy đi tìm con
Khi mọi loài còn chờ đợi ánh dương lên
Thầy đi tìm con
Khi con còn đắm chìm trong một giấc ngủ triền miên
Dù tiếng tù và đã vọng lên từng hồi giục giã
Không rời non xưa
Thầy đưa mắt nhìn về phương trời lạ
Và nhận ra được, trên vạn nẻo đường, từng dấu chân của con
Con đi đâu?
Có khi sương mù đã về giăng mắc chốn cô thôn
Mà trên bước phiêu linh con vẫn còn miệt mài nơi viễn xứ
Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở
Tin rằng dù con đang lạc loài đi về bên nớ
Con cũng sẽ cuối cùng tìm ra được lối trở về bên ni
Có khi Thầy xuất hiện ngay giữa đường con đi
Nhưng mắt con vẫn nhìn Thầy như một người xa lạ
Không thấy được mối túc duyên
Không nhớ được lời nguyền xưa vàng đá
Con đã không nhận ra được thầy
Vì tâm con còn vướng bận những hình bóng xa xôi
Trong kiếp xưa, con đã từng nhiều lần nắm tay Thầy rong chơi
Thầy trò ta đã ngồi thật lâu cạnh những gốc thông già trăm tuổi
Đã từng đứng yên cùng lắng nghe tiếng gió thì thào mời gọi
Và ngắm nhìn những cụm mây trắng bay.
Con đã từng nhặt đưa Thầy những chiếc lá ngô đồng đầu thu đỏ thắm
Thầy đã từng đưa con vượt qua những khu rừng tuyết phủ giá băng
Nhưng đi đâu thầy trò ta cũng luôn luôn trở về nơi non xưa chốn cũ,
Để được gần gũi sao trăng
Để được mỗi khuya gióng tiếng chuông đại hồng
Cho mọi loài tỉnh thức
Thầy trò ta đã từng ngồi yên trên An Tử Sơn cùng đại sĩ Trúc Lâm
Bên những cây đại già nở hoa thơm ngát
Đã từng đưa tàu ra khơi cứu người thuyền nhân phiêu dạt
Đã từng giúp thiền sư Vạn Hạnh thiết kế thành Thăng Long
Đã từng cùng nhau đánh tranh dựng chiếc thảo am bên sông
Và giăng lưới vớt Trạc Tuyền khi Tiền Đường đang đùng đùng dậy sóng
Thầy trò ta đã mở lối bước lên trời ngoại phương lồng lộng
Sau bao tháng ngày công phu chọc thủng lưới thời gian
Đã từng cất giữ được ánh sáng của những vì sao băng
Làm đuốc soi đường cho những ai muốn trở về
sau những tháng ngày rong ruổi
Nhưng cũng có khi hạt giống lãng tử trong con bừng sống dậy
Con đã rời bỏ thầy, rời bỏ huynh đệ một mình thất thểu ra đi…
Thầy nhìn con xót thương
Tuy biết rằng đây không thực sự là một cuộc phân kỳ
Bởi vì con đang có thầy nơi từng tế bào trong cơ thể
Biết con còn phải thêm một lần đóng vai người cùng tử
Nên thầy đã nguyền sẽ có mặt đó cho con mỗi lần con gặp bước gian nguy
Có khi con nằm thiếp đi trên cát nóng sa mạc chốn biên thùy
Thầy đã hóa thân làm đám bạch vân đem cho con bóng mát
Đến giữa khuya đám mây đọng lại thành sương, cam lộ rơi từng hạt
Để con uống lấy trong cơn mê.
Có khi con ngồi dưới vực sâu tăm tối, hoàn toàn cách biệt trời quê
Thầy đã hóa thân thành chiếc thang dài, và nhẹ nhàng bắc xuống
Cho con leo lên vùng chan hòa ánh sáng
Để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối tiếng chim
Có lúc thầy nhận ra được con ở Birmingham
Ở quận Do Linh, hay miền Tân Anh Cát Lợi
Có lúc thầy gặp con ở Hàng Châu, Hạ Môn hay Thượng Hải
Có khi thầy tìm được con ở St Petersburg, hoặc ở Tây Bá Linh
Có khi mới lên năm mà thấy con, thầy cũng nhận được chân hình
Thấy được hạt giống bồ đề nơi con, mang trong trái tim còn niên thiếu
Thấy con, thầy đã luôn luôn đưa tay lên làm dấu hiệu
Dù nơi gặp con là ở miền Kinh Bắc, vùng Bến Nghé, hay cửa biển Thuận An
Có khi con là trái trăng vàng ửng chín lơ lửng treo trên đỉnh Kim Sơn
Hay là con chim con chiêm chiếp kêu đêm Đông bay qua rừng Đại Lão
Rất nhiều khi thầy thấy được con
Nhưng con không thấy được thầy,
Dù trên nẻo con đi sương chiều đã thấm vào ướt áo
Vậy mà cuối cùng con cũng đã trở về
Con trở về ngồi dưới chân thầy, nơi chốn non xưa.
Để rồi tiếng chim kêu tiếng vượn hú lại cùng hòa với tiếng công phu sớm trưa
Con đã về bên thầy, thật sự muốn chấm dứt cuộc đời lãng tử.
Sáng nay chim chóc ca mừng vừng ô lên rạng rỡ
Con có hay trên bầu trời xanh mây trắng vẫn còn bay?
Con ở đâu?
Cảnh núi xưa còn đó, nơi hiện pháp chốn này
Dù đợt sóng bạc đầu vẫn còn đang muốn vươn mình đi về phương lạ
Nhìn lại đi, thầy đang ở trong con, và trong từng nụ hoa, chiếc lá
Nếu gọi tên thầy, con sẽ tự khắc thấy thầy ngay.
Con đi đâu? Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay
Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt
Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc
Và bên mé rừng đã nở rộ hoa Mai.

Cho Các Khoá Tu, Sinh hoạt chánh niệm – Lưu Hành Nội Bộ – In ngày 1.3.2006

Ngày xuân bói kiều

Quẻ Kiều (bản PDF cập nhật tháng 2.2026)

Đặt mua sách xin bấm vào đây: https://go.thaihabooks.com/ngay-xuan-boi-kieu

Nếu ai muốn thấy và muốn hiểu
Chư Bụt có mặt trong ba đời
Người ấy cần quán chiếu pháp giới
Tất cả đều do tâm mà thôi

(Kinh Hoa Nghiêm)

Nghệ Thuật Đoán Quẻ Kiều (The Art of Oracle Reading)

Bói Kiều là tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Du, ni sư Giác Duyên và đạo cô Tam Hợp về tình trạng hiện tại của mình và để biết tu tập tiếp xử cách nào cho có hạnh phúc và thành công trong năm tới. ‘Thác là thể phách, còn là tinh anh’, tuy hình hài cụ Tiên Điền không còn, nhưng tinh anh của thi hào vẫn còn mãi mãi trong ta, chung quanh ta và trong sức sống của dân tộc. Tại làng Mai, ai bói Kiều cũng tắm tắc khen là linh nghiệm.

Muốn tham vấn, phải tới trước bàn thờ Phật và tổ để lạy ba lạy thật cung kính, rồi ngồi xuống đặt tay vào thành chuông, thở ba lần rất chánh niệm rồi đưa tay vào chuông bốc lên một quẻ. Cụ Nguyễn Du cũng như ni sư Giác Duyên đều là tổ tiên tâm linh và nghệ thuật của tất cả chúng ta.

Quẻ ấy được trao cho vị có nhiệm vụ đoán quẻ. Vị này là một người có kiến thức về văn chương truyện Kiều, có khiếu tâm lý và nhận xét, và nhất là có kiến thức Phật pháp và kinh nghiệm tu tập. Trong lúc quẻ được một người ngâm lên, mọi người có mặt đều thực tập theo dõi hơi thở. Nên có tiếng đàn phụ họa giọng ngâm. Thời gian này là để vị đoán quẻ chiêm nghiệm.

Về cách đoán quẻ, thường thường ở Làng Mai, các thầy, các sư cô và các vị cư sĩ hay theo phương pháp sau đây:

1/ Trong hai câu lục bát, có thể một câu là nhân và một câu là quả. Quả có thể là đã phát sinh trong hiện tại hay là điều mong ước trong tương lai. Nhân là lời khuyên của cụ Nguyễn Du về cách hành xử và tu tập để chuyển hóa hay thực hiện. Ví dụ: trong như tiếng hạc bay qua là tâm an tĩnh của mình được xem là quả hiện tại. Nhân của quả ấy là dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng, nghĩa là đã biết thân cận với Tam Bảo và xa lìa những môi trường nguy hiểm. Cũng thế, như ở các quẻ 48 và 78, câu 8 là nhân, câu 6 là quả và ở các quẻ 93 và 100, câu  6 là nhân và câu 8 là quả. Có khi trong một câu 8, bốn chữ đầu là nhân, bốn chữ sau là quả, hay ngược lại.

2/ Nghĩa lý trong quẻ không cần đi theo nghĩa lý truyện Kiều. Ví dụ: “Lòng còn gửi áng mây vàng” không hẳn phải giải là đương sự còn tưởng nhớ quê hương mà có thể giải là lý tưởng tu học vẫn còn vững mạnh, bồ đề tâm vẫn còn nguyên vẹn, vì mây vàng ở đây có thể được xem là lý tưởng cao siêu của đạo Bụt, của ánh đạo vàng. “Song thu đã khép cánh ngoài” không những có nghĩa là đóng cửa sổ lại mà còn có nghĩa là đừng nên để tâm tới những chuyện thế gian, phải tập trung tâm ý vào việc tu học. “Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,” theo tinh thần của Quy Sơn Cảnh Sách, là phải nương tựa vào các vị thiện tri thức lớn.

3/ Hỏi xem đương sự muốn tham vấn cụ Nguyễn Du về vấn đề nào, để nương vào đó mà đoán quẻ.

4/ Có thể tham khảo ý kiến của một vài vị thiện trí thức có mặt xem các vị này có tuệ giác gì khác nữa hay không về quẻ đang được đoán.

5/ Quẻ đoán phải có tác dụng an ủi, khuyến khích và soi sáng cho người xin quẻ.

6/ Trong giờ bói Kiều, nên tập họp cả đại chúng. Mỗi người bói xong phải lạy tạ trước khi trở về chỗ ngồi. Mỗi lời đoán phải là một bài thuyết pháp ngắn cho tất cả đại chúng.

Kính chúc liệt vị những ngày xuân ấm áp, hạnh phúc và đầy đạo vị.

Thích Nhất Hạnh,
Làng Mai, 2007

Lời Khấn:

Cầu thi thánh Nguyễn Du
Cầu đạo cô Tam Hợp
Cầu sư trưởng Giác Duyên
Cầu giáng tiên Thúy Kiều

Tôi tên là………………………..
Xin tham vấn thi thánh, đạo cô, sư trưởng
và giáng tiên về vấn đề………………………

210 Quẻ Kiều

(số thứ tự câu trong truyện Kiều và chú thích từ ngữ)

1- Thông minh vốn sẵn tính trời (29)
Nhẹ nhàng nghiệp trước, đền bồi duyên sau (2690)
Tính trời: Tính cách, tài năng trời phú, đã có từ lúc sinh ra.
Nghiệp: Gồm nghiệp nhân và nghiệp quả, là những hành động và kết quả của những hành động ấy trên các phương diện thân, miệng và ý của ta trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
Duyên: Là bốn loại điều kiện để nhân thành quả.

2- Tan sương vừa rạng ngày mai (1083)
Trụ trì nghe tiếng vội mời vào trong (2038)
Rạng: Rựng sáng, đêm vừa hết và ngày mới đến.
T
rụ Trì: Vị tăng hay ni có trách nhiệm quản lý ngôi chùa.

3- Nâu sồng từ trở màu thiền (1933)
Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi (400)
Nâu sồng: Chỉ quần áo của người tu, được may từ vải nhuộm bằng củ nâu và củ sồng.
Màu thiền: Màu sắc của nhà chùa, ý nói đã thấm tương chao, trong lời ăn tiếng nói và suy nghĩ đã có phong vị của thiền.

4- Bây giờ rõ mặt đôi ta (443)
Tu là cội phúc, tình là dây oan (2658)
Cội phúc: Cái gốc của hạnh phúc.
Dây oan: Sợi dây ràng buộc mình vào những khó khăn, oan nghiệt.

5- Song thu đã khép cánh ngoài (1073)
Hay là khổ tận đến ngày cam lai? (3210)
Song thu: Cửa sổ mùa thu
Khổ tận cam lai: Những cay đắng đã qua rồi và những ngọt ngào đang tới.

6- Bấy lâu mới được một ngày (315)
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương (2078)
Ngọn đèn khêu nguyệt: Thức khuya đọc sách, tim đèn cháy sáng có hình của con trăng lưỡi liềm.
Tiếng chày nện sương: Dậy sớm, ta thỉnh chuông đại hồng mà giống như đang nện vào đám sương mù.

7- Cho hay giọt nước cành dương (1931)
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi(2687)
Giọt nước cành dương: Giọt nước cam lồ từ cành dương liễu của đức Bồ tát Lắng Nghe Quan Thế Âm.
Túc khiên: Túc, nghĩa là thuộc về những đời trước. Khiên, nghĩa là những tội lỗi, sai lầm và ràng buộc.

8- Tấm thân rày đã nhẹ nhàng (2293)
Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi (2396)
Rày: Lúc này, bây giờ
Thanh thiên bạch nhật: Bầu trời xanh giữa ban ngày.

9- Thương sao cho vẹn thì thương (1359)
Lòng đây lòng đấy chưa tường hay sao? (1362)
Vẹn: Trọn vẹn, không thiếu sót
Tường:  Nhìn thấy rõ ràng.

10- Thương sao cho vẹn thì thương (1359)
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên (1932)
Vẹn: Trọn vẹn, không thiếu sót
Lửa lòng: Những ngọn lửa ở trong lòng, ý nói có một nguồn năng lượng, một động lực lớn trong lòng.
Trần duyên: Trần là bụi bặm, là cõi đời. Trần duyên là những điều kiện tiêu cực lôi kéo và dẫn dắt ta về hướng bụi bặm và thế tục.

11- Phật tiền ngày bạc lân la (2991)
Tương tri dường ấy mới là tương tri (3184)
Phật tiền: Ở trước Phật. Ý nói đang ở chùa.
Ngày bạc: Những ngày thong thả, rảnh rỗi.
Tương tri: Thấu hiểu nhau, biết rõ nhau.

12- Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân (901)
Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau (2410)
Tầm:  Đơn vị đo chiều dài, khoảng bằng một sải tay người lớn.
Tùng quân: Chỉ người quân tử. Tùng: cây tùng. Quân: cây tre.

13- Đã nguyền hai chữ đồng tâm (555)
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời (2522)
Đồng tâm: Cùng một lòng.

14- Đã nên có nghĩa có nhân (2909)
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung (1034)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.
Nhân: Lòng thương yêu và quý trọng con người.

15- Đề huề lưng túi gió trăng (137)
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời (2522)
Đề huề: Mang theo.
Lưng: Nửa chừng, chưa đầy.

16- Gương trong chẳng chút bụi trần (3173)
Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong (332)
Bụi trần: Những bụi bặm của cuộc đời. Ý nói những tiêu cực, khổ đau và ràng buộc trong cuộc đời.
Thói nhà băng tuyết: Nếp sống trong sạch của gia đình.
Chất hằng phỉ phong: Tuy nghèo nhưng luôn giữ được tư cách của mình. Phỉ phong: rau phỉ và rau phong.

17- Nâu sồng từ trở màu thiền (1933)
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng (1686)
Nâu sồng: Chỉ quần áo của người tu, được may từ vải nhuộm bằng củ nâu và củ sồng.
Màu thiền: Màu sắc của nhà chùa, ý nói đã thấm tương chao, trong lời ăn tiếng nói và suy nghĩ đã có phong vị của thiền.

18- Thương nhau xin nhớ lời nhau (1515)
Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì? (2412)
Cơ duyên:  Cơ: cơ hội. Duyên: điều kiện. Những cơ hội và điều kiện thuận lợi để thực hiện một việc nào đó.

19- Song hồ nửa khép cánh mây (283)
Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần (2862)
Song hồ: Cửa sổ được dán giấy (giấy hồ).
Cánh mây: Cánh cửa dán giấy có vẽ mây.
Ngõ hạnh: Con đường ở trong Hạnh Viên, chỗ nhà vua tiếp đãi các vị tiến sĩ mới.
Dặm phần: Đường về quê hương. Phần: cây phần, thường dùng để chỉ quê hương.

20- Dịp đâu may mắn lạ thường (1291)
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao (2876)
Tiêu dao: Thong thả, tự tại.

21- Tan sương vừa rạng ngày mai (1083)
Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần (2862)
Rạng: Rựng sáng, đêm vừa hết và ngày mới đến.
Ngõ hạnh: Con đường ở trong Hạnh Viên, chỗ nhà vua tiếp đãi các vị tiến sĩ mới.
Dặm phần: Đường về quê hương. Phần: cây phần, thường dùng để chỉ quê hương.

22- Bốn bề bát ngát xa trông (1035)
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường (3006)
Phật đường: Nơi thờ Phật, ý nói ngôi chánh điện Tam Bảo

23- Một người dễ có mấy thân (1005)
Ở đây hoặc có giai âm chăng là (2884)
Giai âm: Tin tốt, tin lành.

24- Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân (901)
Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen (2910)
Tầm:  Đơn vị đo chiều dài, khoảng bằng một sải tay người lớn.
Tùng quân: Chỉ người quân tử. Tùng: cây tùng. Quân: cây tre.

25- Cùng nhau nương cửa Bồ đề (2989)
Vườn xuân một thửa, để bia muôn đời (3240)
Cửa Bồ đề: Tức cửa chùa, cửa Phật.
Vườn xuân một thửa: Một mảnh vườn, một khu vườn mùa xuân.

26- Ngày xuân em hãy còn dài (731)
Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? (2994)
Ngày xuân: Nghĩa là thời gian tuổi trẻ

27- Trùng sinh ân nặng bể trời (3049)
Ngày phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương (1930)
Trùng sinh: Sinh ra thêm một lần nữa. Cha mẹ sinh ra ta lần thứ nhất, người cứu ta sống lại từ cái chết là người sinh ra ta lần thứ hai.
Phô: Bày ra.
Thủ tự: Nét chữ viết tay.
Nhồi: Huấn luyện, thực tập.

28- Thiền trà cạn nước hồng mai (1991)
Nhờ tay tế độ, vớt người trầm luân (1080)
Hồng mai: Nước trà nấu bằng gỗ của thân cây mai già.
Tế độ: Đưa người sang bờ bên kia, nơi có sự thảnh thơi, hạnh phúc.
Trầm luân: Trôi lăn chìm đắm trong khổ đau.

29- Cùng nhau lạy trước Phật đài (3031)
Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? (2994)
Phật đài: Đài thờ Phật, ý nói ban thờ Tam Bảo.

30- Lời vàng vâng lĩnh ý cao (495)
Trên am cứ giữ hương dầu hôm, mai (3234)
Lời vàng: Từ gốc là kim ngôn, là những lời dạy quý giá của Bụt.
Lĩnh: Nghĩa là tiếp nhận một cách cung kính.
Hương dầu: Sự chăm sóc nhang đèn trên bàn thờ Bụt.
Hôm mai: Ban đêm và rạng sáng, hai buổi công phu.

31- Trong như tiếng hạc bay qua (481)
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng (1926)
Rừng tía: Là rừng trúc tím, chỗ ở của đức Bồ tát Lắng Nghe Quan Thế Âm.
Bụi hồng: Bụi đỏ, ý chỉ những phiền muộn rắc rối trong cõi đời. 

32- Vầng trăng vằng vặc giữa trời (449)
Nhẹ nhàng nghiệp trước đền bồi duyên sau (2690)
Vầng trăng: Là trăng sáng trên bầu trời, và cũng là lý tưởng cao đẹp trong lòng người.
Nghiệp: Gồm nghiệp nhân và nghiệp quả, là những hành động và kết quả của những hành động ấy trên các phương diện thân, khẩu và ý của ta trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
Duyên: Là bốn loại điều kiện để nhân thành quả.

33- Trông người lại ngẫm đến ta (417)
Tu là cội phúc, tình là dây oan (2658)
Ngẫm: Suy đi nghĩ lại một cách kỹ càng cẩn thận.
Cội phúc: Cái gốc của hạnh phúc.
Dây oan: Sợi dây ràng buộc mình vào những khó khăn, oan nghiệt.

34- Kiếp tu xưa ví chưa dày (407)
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không? (3038)
Kiếp tu: Cuộc đời tu tập
Ví: Nếu như
Rày: Lúc này, bây giờ.

35- Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi (2137)
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng (2686)
Khinh trọng: Biết phân biệt nhẹ hay nặng, đáng hay không.
Phải chăng: Nhận thức được cái gì là đúng, cái gì là sai.

36- Một tường tuyết chở sương che (367)
Lời Sư đã dạy ắt thì chẳng sai (2414)
Tuyết chở sương che: Che chở cho khỏi bị lạnh vì sương, tuyết hay là được bảo vệ khỏi bị tác động tiêu cực từ những yếu tố bên ngoài.
Ắt: Chắc chắn đúng, không thể sai.

37- Chung quanh vẫn đất nước nhà (153)
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên (3224)

38- Một lời nói chửa kịp thưa (119)
Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm (2852)
Chửa: Nghĩa là chưa

39- Thông minh vốn sẵn tính trời (29)
Mà trong lẽ phải, có người có ta (3114)
Tính trời: Tính cách, tài năng trời phú, đã có từ lúc sinh ra.

40- Hoa cười ngọc thốt đoan trang (21)
Lòng kia giữ được thường thường mãi không? (1338)
Hoa cười ngọc thốt: Nụ cười tươi như hoa, tiếng nói trong như ngọc.
Đoan trang: Đứng đắn, ngay thẳng và tươm tất.

41- Vầng trăng vằng vặc giữa trời (449)
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra (2656)
Vầng trăng: Là trăng sáng trên bầu trời, và cũng là lý tưởng cao đẹp trong lòng người.
Cội nguồn: Cây có cội, nước có nguồn. Ở đây nói gốc rễ và nguồn cơn của những gì xảy đến với ta đều xuất phát từ chính tự tâm của ta.

42- Còn non còn nước còn dài (557)
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương (2346)
Non vàng: Một núi vàng.
Đền bồi: Đền là bù đắp lại cho đầy đủ những gì còn thiếu. Bồi là làm cho trọn vẹn những gì chưa đủ đầy. Nghĩa cả hai chữ là khả năng báo đáp lại, khả năng trả lại cho tương xứng những gì đã nhận được.
Tấm thương: Tấm lòng thương yêu.

43- Gương trong chẳng chút bụi trần (3173)
Sen vàng lãng đãng như gần như xa (190)
Gương trong: Chỉ một nội tâm trong sáng.
Bụi trần: Những bụi bặm của cuộc đời. Ý nói những tiêu cực, khổ đau và ràng buộc trong cuộc đời.
Sen vàng: Chỉ bàn chân nhỏ nhắn và tiếng bước chân nhẹ nhàng thanh thoát như những cánh sen vàng (rơi xuống nền cỏ xanh).
Lãng đãng: Khi tỏ khi mờ, khi ẩn khi hiện, khi có khi không, khi gần khi xa.

44- Khi hương sớm khi trà trưa (1297)
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng (2734)
Chay: Thanh lọc, làm cho nhẹ nhàng, làm cho sạch sẽ, thuần nhất.

45- Gửi thân được chốn am mây (2053)
Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là (316)
Gửi thân: Gửi gắm sinh mệnh của mình vào một nơi nào đó. Ở đây ý nói đã quay về nương tựa Tam Bảo.
Am mây: Một cái am tranh ở giữa không gian mênh mông mây phủ, ý chỉ chỗ ở của người tu.
Gạn: Gặng hỏi, hỏi kỹ, trút hết.
Niềm tây: Nỗi niềm riêng ở trong lòng mình.

46- Trong cơ thanh khí tương tầm (2883)
Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân (174)
Cơ: Sự vận hành của thiên nhiên.
Thanh khí tương tầm: Xuất phát từ câu “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, nghĩa là, vật cùng tiếng thì đáp lại nhau, vật cùng năng lượng thì tìm đến nhau. Ý nói người có ưa thích giống nhau thì thường tìm đến nhau mà thân cận.
Vàng gieo ngấn nước: Bóng trăng vàng lung linh trên mặt nước.
Cây lồng bóng sân: Bóng cây đổ dài ở ngoài sân.

47- Gìn vàng giữ ngọc cho hay (545)
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương (2058)
Gìn vàng giữ ngọc: Giữ gìn thân thể quý như vàng, như ngọc.
Ngọn đèn khêu nguyệt: Thức khuya đọc sách, tim đèn cháy sáng có hình của con trăng lưỡi liềm.
Tiếng chày nện sương: Dậy sớm, ta thỉnh chuông đại hồng mà giống như đang nện vào đám sương mù.

48- Gửi thân được chốn am mây (2053)
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi (2424)
Gửi thân: Gửi gắm sinh mệnh của mình vào một nơi nào đó. Ở đây ý nói đã quay về nương tựa Tam Bảo.
Am mây: Một cái am tranh ở giữa không gian mênh mông mây phủ, ý chỉ chỗ ở của người tu.
Tấc riêng: Tâm sự ở trong lòng mình.

49- So dần giây vũ giây văn (471)
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay (2056)
So: Điều chỉnh cho phù hợp
Dây vũ dây văn: Dây đàn to và dây đàn nhỏ.
Hương đèn: Việc chăm sóc ban thờ Tam Bảo, thường xuyên thắp hương và giữ cho đèn dầu luôn sáng.
Trai phòng: Tức trai đường, phòng ăn ở trong chùa.

50- Tiếng sen sẽ động giấc hòe (437)
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần (134)
Tiếng sen: Tiếng bước chân nhẹ nhàng thanh thoát như cánh hoa sen (rơi xuống nền cỏ xanh).
Sẽ: Khẽ khàng, nhẹ nhàng
Giấc hòe: Giấc ngủ dưới cây hòe. Ý nói một giấc ngủ nhẹ nhàng, thanh thản, có mơ đẹp.
Nhạc vàng: Tiếng nhạc leng keng từ chiếc lục lạc làm bằng vàng nơi cổ ngựa.

51- Phong sương được vẻ thiên nhiên (399)
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa (3198)
Phong sương: Gió và sương, ý nói sức chịu đựng của cây tùng trước những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên.
Tiếng huyền: Tiếng đàn.

52- Nạn xưa trút sạch làu làu (2737)
Mười phần ta đã tin nhau cả mười (1584)
Trút sạch: Buông bỏ hết, rửa sạch hết, chuyển hóa được rồi.
Làu làu: Sạch sẽ không còn dấu vết.

53- Được lời như cởi tấm lòng (353)
Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau (2410)
Cởi: Tháo gỡ tự do, nhẹ nhàng thanh thản.
Ắt nhằm: Chắc chắn đúng, không thể sai.

54- Long lanh đáy nước in trời (1603)
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (2748)
Đáy nước in trời: Khi không mây, bầu trời xanh phản chiếu toàn vẹn dưới đáy nước.
Gió đông: Gió từ phương đông thổi lại, mang lại hơi ấm của mùa xuân.

55- Tạ lòng lạy trước sân mây (2379)
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong (2054)
Tạ lòng: Đáp đền lại với lòng biết ơn.
Sân mây: Sân ở cung điện nhà vua, có vẽ mây.
Muối dưa đắp đổi: Những bữa ăn đơn sơ thanh đạm với muối và dưa. Ý chỉ một đời sống ít ham muốn và biết đủ nhưng thong dong hạnh phúc.

56- Nghe tường ngành ngọn tiêu hao (2927)
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào tới nơi (2974)
Tường:  Một cách rõ ràng, đầy đủ, không nhầm lẫn.
Ngành ngọn: Đầu đuôi, chi tiết đầy đủ và tường tận về một sự việc.
Tiêu hao: Tin tức.

57- Nẻo xa mới tỏ mặt người (141)
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không (2694)
Tỏ: Nhìn thấy rõ
Duyên: Là bốn loại điều kiện để nhân thành quả.
Chi không: Có chút gì chớ chẳng phải là hoàn toàn không có.

58- Giật mình thoắt tỉnh giấc mai (2727)
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ (464)
Giấc mai: Giấc ngủ mê lúc ban mai.
Luống những: Luôn luôn mong muốn, luôn luôn sẵn sàng.
Chung Kỳ: Chung Tử Kỳ, bạn tri âm của Bá Nha, nghe tiếng đàn mà hiểu tâm sự của bạn.

59- Dẫu rằng vật đổi sao dời (3087)
Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa (3074)
Vật đổi sao dời: Xuất phát từ câu “Vật hoán tinh di” nghĩa là vạn vật luôn thay đổi, các vì sao luôn di chuyển, ý nói mọi vật thay đổi không ngừng.
Vầng trăng bạc: Là nhân chứng cho những lời thề nguyện.

60- Những là rày ước mai ao (3069)
Dưới dày có đất trên cao có trời (3086)
Những là: Sự lặp đi lặp lại nhiều lần.
Rày ước mai ao: Những ao ước, mong chờ từ ngày này qua ngày khác.

61- Lấy tình thâm trả nghĩa thâm (2683)
Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm (3174)
Thâm: Sâu
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.

62- Nghe tin nở mặt nở mày (2993)
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần (2862)
Nở mặt nở mày: Sự vui mừng, hân hoan và mãn nguyện hiện rõ ra trong ánh mắt, nơi nét mặt.
Ngõ hạnh: Con đường ở trong Hạnh Viên, chỗ nhà vua tiếp đãi các vị tiến sĩ mới.
Dặm phần: Đường về quê hương. Phần: cây phần, thường dùng để chỉ quê hương.

63- Trùng sinh ân nặng biển trời (3049)
Tái sinh trần tạ ơn người từ bi (3032)
Trùng sinh: Sinh ra thêm một lần nữa. Cha mẹ sinh ra ta lần thứ nhất, người cứu ta sống lại từ cái chết là người sinh ra ta lần thứ hai.
Bể trời: Sâu hơn biển, cao hơn trời
Trần tạ: Bày tỏ lòng biết ơn.

64- Áo xanh đổi lấy cà sa (1921)
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (3252)
Áo xanh: Xuất phát từ “thanh y”, xiêm áo đẹp của người phụ nữ.
Cà sa: Xuất phát từ “Kasàya”, áo hoại sắc, là pháp phục của người xuất gia tu Phật.

65- Khen cho con mắt tinh đời (2201)
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương (2346)
Tinh đời: Sự tinh anh sáng suốt và nhạy bén trong việc nhận xét, đánh giá con người và việc đời.
Non vàng: Một núi vàng.
Đền bồi: Đền là bù đắp lại cho đầy đủ những gì còn thiếu. Bồi là làm cho trọn vẹn những gì chưa đủ đầy. Nghĩa cả hai chữ là khả năng báo đáp lại, khả năng trả lại cho tương xứng những gì đã nhận được.
Tấm thương: Tấm lòng thương yêu.

66- Cửa sài vừa ngỏ then hoa (529)
Nhớ lời nói những bao giờ hay không? (2276)
Cửa sài: cửa bằng gỗ. Sài: gỗ, ván.
Ngỏ: mở ra.   Then: then cửa.

67- Sớm khuya lá bối phướn mây (2057)
Đi về này những lối này năm xưa (2751)
Lá bối: Một loại lá ngày xưa dùng để chép kinh.
Phướn mây: Lá phướn có tua hình đám mây, lá cờ to hình chữ nhật dài treo trước chùa.

68- Gửi thân được chốn am mây (2053)
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ (464)
Gửi thân: Gửi gắm sinh mệnh của mình vào một nơi nào đó. Ở đây ý nói đã quay về nương tựa Tam Bảo.
Am mây: Một cái am tranh ở giữa không gian mênh mông mây phủ, ý chỉ chỗ ở của người tu.
Luống những: Luôn luôn mong muốn, luôn luôn sẵn sàng.
Chung Kỳ: Chung Tử Kỳ, bạn tri âm của Bá Nha, nghe tiếng đàn mà hiểu tâm sự của bạn.

69- Sẵn Quan Âm Các vườn ta (1913)
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao (3014)
Quan Âm các: Một lầu gác, bên trên tôn trí thờ phụng ảnh tượng Bồ tát Quan Thế Âm.
Ngờ: Thấy mà không tin vào mắt mình, nghe mà không tin vào tai mình.

70- Thân ta, ta phải lo âu (2015)
Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì? (2412)
Cơ duyên:  Cơ: cơ hội. Duyên: điều kiện. Những cơ hội và điều kiện thuận lợi để thực hiện một việc nào đó.

71- Sư rằng: song chẳng hề chi (2679)
Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa (2990)
Thảo am: Am tranh, chùa tranh

72- Cho hay giọt nước cành dương (1931)
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu (1316)
Giọt nước cành dương: Giọt nước cam lồ từ cành dương liễu của đức Bồ tát Lắng Nghe Quan Thế Âm.

73- Mấy lời tâm phúc ruột rà (3183)
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa (1472)
Lời tâm phúc: Lời nói từ lòng tin cậy. Tâm: tim. Phúc: bụng.

74- Đã gần chi có điều xa (1365)
Tu là cội phúc tình là dây oan (2658)
Chi có điều: Làm gì có thể có chuyện.
Cội phúc: Cái gốc của hạnh phúc.
Dây oan: Sợi dây ràng buộc mình vào những khó khăn, oan nghiệt.

75- Lòng còn gửi áng mây vàng (1319)
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì! (2478)
Mây vàng: Đám mây sắc vàng, chỉ quê nhà.
Thênh thênh: Rộng rãi thênh thang
Đường cái: Tức đường lớn, đường chính.
Thanh vân: Mây xanh, chỉ người đỗ đạt làm quan, có công danh.

76- Lạ gì thanh khí lẽ hằng (1287)
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi (2688)
Thanh khí: Tức “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, những âm thanh và năng lượng tương ứng nhau sẽ tự tìm tới phù hợp với nhau.
Lẽ hằng: Là chuyện thường tình, là chuyện xưa nay đều như thế.
Túc khiên: Túc, nghĩa là thuộc về những đời trước. Khiên, nghĩa là những tội lỗi, sai lầm và ràng buộc.
Lâng lâng: Trạng thái tinh thần nhẹ nhàng, khoan khoái, dễ chịu, thanh thản.

77- Nghe tường ngành ngọn tiêu hao (2687)
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành (674)
Tường:  Một cách rõ ràng, đầy đủ, không nhầm lẫn.
Ngành ngọn: Đầu đuôi, chi tiết đầy đủ và tường tận về một sự việc.
Tiêu hao: Tin tức.

78- Trước sau cho vẹn một lời (2693)
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (2748)
Vẹn: Trọn vẹn, không thiếu sót
Gió đông: Gió từ phương đông thổi lại, mang lại hơi ấm của mùa xuân.

79- Thửa công đức ấy ai bằng (2687)
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi? (3046)
Thửa: Mảnh đất, ruộng.
Công đức: Việc tốt mình làm ra, để lại phúc đức cho người sau hưởng.
Bụi hồng: Bụi đỏ, ý chỉ những phiền muộn rắc rối trong cõi đời. 

80- Năm mây bỗng thấy chiếu trời (2947)
Nào lời non nước, nào lời sắt son (1632)
Năm mây:  Chiếu vua, có vẽ mây năm sắc.
Chiếu trời: Chiếu của nhà vua.
Lời non nước: Lời thề nguyện, lời hứa. Người xưa thường nương tựa vào núi sông (non nước) để làm chứng cho lời thề nguyện của mình.
Sắt son: Tấm lòng thành. Sắt cứng và son đỏ.

81- Sao cho muôn dặm một nhà (2435)
Mười lăm năm mới bây giờ là đây! (3138)

82- Gió quang mây tạnh thảnh thơi (2063)
Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng (2420)
Quang: Trời sáng sủa, không có mây.
Tạnh: Hết mưa gió.
Bể oan: Nỗi oan ức đau khổ lớn như biển.

83- Một lòng chẳng quản mấy công (2701)
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau (2736)
Quản: Lo lắng, tính toán, sắp xếp.
Triều dâng hôm sớm: Mỗi ngày thường có hai lần thủy triều, buổi mai và buổi hôm.
Mây lồng trước sau: Một không gian mà trước và sau đều lồng lộng mây bay.

84- Giật mình thoắt tỉnh giấc mai (2727)
Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa (3074)
Giấc mai: Giấc ngủ mê lúc ban mai.
Vầng trăng bạc: Là nhân chứng cho những lời thề nguyện.

85- Kệ kinh câu cũ thuộc lòng (2055)
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen (2196)
Tấn Dương: Xuất phát từ “Long phi Tấn Dương”, nghĩa là Rồng bay lên ở Tấn Dương. Ý nói Kiều gặp Từ Hải như thể đang được gặp vua.
Mây rồng: Xuất phát từ “Long vân khánh hội”, nghĩa là mây rồng gặp nhau, biểu tượng cho sự gặp gỡ may mắn và cát tường.
Phen: Lần, dịp, cơ hội.

86- Thấy màu ăn mặc nâu sồng (2039)
Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường (208)
Màu ăn mặc: Năng lượng tỏa ra từ cách ăn mặc.
Nâu sồng: Chỉ quần áo của người tu, được may từ vải nhuộm bằng củ nâu và củ sồng.
Tú khẩu cẩm tâm: Nghĩa là lòng gấm miệng vóc, gấm và vóc là những loại vải đẹp quý.  Ý nói những lời hay ý đẹp xuất phát từ một tâm hồn thiện lành.

87- Trời đông vừa rạng ngàn dâu (2033)
Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này (2738)
Trời đông: Mặt trời ở phương đông
Rạng: Sáng tỏ
Ngàn dâu: Rừng dâu.
Duyên: Là bốn loại điều kiện để nhân thành quả.

88- Thiền trà cạn nước hồng mai (1991)
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra (2656)
Hồng mai: Nước trà nấu bằng gỗ của thân cây mai già.
Cỗi nguồn: Cội nguồn, gốc rễ.

89- Gác kinh viện sách đôi nơi (1937)
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng (2686)
Khinh trọng: Biết phân biệt nhẹ hay nặng, đáng hay không.
Phải chăng: Nhận thức được cái gì là đúng, cái gì là sai.

90- Được lời như mở tấc son (1601)
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông (1332)
Tấc son: Tấm lòng chân thành. Son được làm bằng một thứ đá đỏ.
Lạch: Rạch, dòng nước nhỏ chảy thông.

91- Thương nhau xin nhớ lời nhau (1515)
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? (2468)
Công hầu: Tước công và tước hầu. Ý nói tham vọng chạy theo danh lợi một cách mù quáng.

92- Huệ lan sực nức một nhà (1471)
Có cây trăm thước có hoa bốn mùa (1914)
Huệ lan: Là hoa huệ và hoa lan, là hai loại hoa thơm. Ý nói cảnh gia đình đoàn tụ sum họp ấm êm hạnh phúc.
Cây trăm thước, hoa bốn mùa: Xuất phát từ câu: “Bồ đề bách xích thụ, liên tòa tứ thời hoa”, nghĩa là cây bồ đề cao trăm thước, hoa tòa sen nở bốn mùa. Ý nói trong nhà có sự học tập, phụng sự và hành trì giáo pháp mỗi ngày.

93- Chở che đùm bọc thiếu chi (3185)
Vườn xuân một thửa để bia muôn đời (3240)
Chở che: Chở là sự nâng đỡ khỏi những nặng nề, vướng mắc từ phía dưới. Che là sự ngăn chặn những trở ngại từ phía trên. Ý chỉ sự giúp đỡ và bao bọc một cách toàn diện.
Đùm bọc: Đùm nghĩa là gói tạm và buộc túm lại phía trên. Bọc nghĩa là gói kín chung quanh không có khe hở. Đùm bọc có nghĩa là yêu thương giúp đỡ và chăm sóc người nào đó một cách hết lòng và không thiếu sót.
Thiếu chi: Không thiếu, rất nhiều
Vườn xuân một thửa: Một mảnh vườn đẹp, một khu vườn mùa xuân.
Để bia: Được khắc lên bia đá để lại cho đời sau. Ý nói được ghi nhớ và trân trọng lâu dài.

94- Khi gió gác khi trăng sân (1295)
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì? (2478)
Gió gác: Một căn gác có gió mát.
Trăng sân: Một khoảnh sân ngập ánh trăng.
Thênh thênh: Rộng rãi thênh thang
Đường cái: Tức đường lớn, đường chính.
Thanh vân: Mây xanh, chỉ người đỗ đạt làm quan, có công danh.

95- Tình sâu mong trả nghĩa dày (1263)
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong (2054)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.
Muối dưa đắp đổi: Những bữa ăn đơn sơ thanh đạm với muối và dưa. Ý chỉ một đời sống ít ham muốn và biết đủ nhưng thong dong hạnh phúc.

96- Lấy trong ý tứ mà suy (1089)
Sao cho thoát khỏi nữ nhi thường tình (2220)
Ý tứ: Ý là tính cách, là suy nghĩ. Tứ là cách biểu đạt tính cách và suy nghĩ ấy qua lời nói, hành động và ánh mắt. Ý tứ nghĩa là những ý nghĩ, những tư tưởng kín đáo. Ý tứ cũng có nghĩa là sự cẩn trọng khéo léo trong cách nói năng, hành động và cư xử để tránh lỗi lầm và sơ suất.
Nữ nhi thường tình: Chỉ những khía cạnh tiêu cực trong tính cách người phụ nữ.

97- Rằng trong ngọc đá vàng thau (1583)
Dạy đem pháp bảo sang hầu sư huynh (2046)
Ngọc đá vàng thau: Ngọc khác với đá, vàng khác với đồng. Ý nói khả năng phân biệt tốt xấu, đúng sai, nặng nhẹ trong cách đối nhân xử thế.
Pháp bảo: Những thứ quý giá của nhà chùa, kể cả những giáo lý của Phật và những pháp khí (vật dụng) khác như kinh sách, chuông mõ…
Hầu: Thăm viếng, chăm sóc, hỏi han và nương tựa.
Sư huynh: Người có vai vế và phẩm hạnh lớn hơn mình trong đạo.

98- Khúc đâu đầm ấm dương hòa (3199)
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời (204)
Khúc: Bản nhạc, tiếng đàn.
Dương hòa: Khí trời ấm áp vào mùa xuân .
Câu thần: Câu thơ hay một cách thần thánh.
Bút hoa: Nét bút xuất sắc, nét chữ đạt tới chỗ tinh hoa.

99- Công tư vẹn cả hai bề (2479)
Chuyện muôn năm cũ kể chi bây giờ? (3078)
Công tư: Việc chung và việc riêng.
Vẹn: Trọn vẹn, không thiếu sót
Bề: Phương diện, lĩnh vực.
Chuyện muôn năm cũ: Tức chuyện xưa.

100- Gương trong chẳng chút bụi trần (3173)
Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao (3218)
Gương trong: Chỉ một nội tâm trong sáng.
Bụi trần: Những bụi bặm của cuộc đời. Ý nói những tiêu cực, khổ đau và ràng buộc trong cuộc đời.
Khen lao: Khen ngợi rất nhiều.

101- Trời còn để có hôm nay (3121)
Của tin gọi một chút này làm ghi (356)
Của tin: Vật để làm tin.
Làm ghi: Làm vật ghi nhớ, kỷ niệm.

102- Trùng sinh ân nặng bể trời (3049)
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao! (310)
Trùng sinh: Sinh ra thêm một lần nữa. Cha mẹ sinh ra ta lần thứ nhất, người cứu ta sống lại từ cái chết là người sinh ra ta lần thứ hai.
Bể trời: Sâu hơn biển, cao hơn trời
Trọng nghĩa khinh tài: Coi lẽ phải và ân tình nặng hơn tiền bạc.
Xiết bao: Nhiều tới mức không thể nào nói cho hết được.

103- Sự đời đã tắt lửa lòng (3045)
Sen vàng lãng đãng như gần như xa (190)
Trùng sinh: Sinh ra thêm một lần nữa. Cha mẹ sinh ra ta lần thứ nhất, người cứu ta sống lại từ cái chết là người sinh ra ta lần thứ hai.
Bể trời: Sâu hơn biển, cao hơn trời
Trọng nghĩa khinh tài: Coi lẽ phải và ân tình nặng hơn tiền bạc.
Xiết bao: Nhiều tới mức không thể nào nói cho hết được.

104- Những là sen ngó đào tơ (3137)
Mầu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng (3044)
Những là: Sự lặp đi lặp lại nhiều lần.
Sen ngó đào tơ: Người con gái trẻ tuổi, như ngó sen, như cây đào còn non.
Màu thiền: Màu sắc của nhà chùa, ý nói đã thấm tương chao, trong lời ăn tiếng nói và suy nghĩ đã có phong vị của thiền.
Ưa: Nghĩa là thích thú, cũng có nghĩa là phù hợp.
Nâu sồng: Chỉ quần áo của người tu, được may từ vải nhuộm bằng củ nâu và củ sồng.

105- Mùi thiền đã bén muối dưa (3043)
Gà vừa gáy sáng, trời vừa rạng đông (3216)
Mùi thiền: Tức “thiền vị”, phong cách và phẩm chất thiền đã toát ra được từ cách ăn nói, sinh hoạt và hành xử.
Bén: Nghĩa là thấm và chuyển tải được.
Muối dưa: Hai món ăn thường ngày của nhà chùa. Chỉ nếp sống đơn giản, thanh đạm và hạnh phúc của nhà chùa.

106- Nhớ lời lập một am mây (3227)
Ở trong dường có hương bay ít nhiều (122)
Am mây: Chỉ một am tranh giữa không gian mênh mông mây phủ, chỗ người tu ở.

107- Gửi thân được chốn am mây (2053)
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời (3122)
Gửi thân: Gửi gắm sinh mệnh của mình vào một nơi nào đó. Ở đây ý nói đã quay về nương tựa Tam Bảo.
Am mây: Chỉ một am tranh giữa không gian mênh mông mây phủ, chỗ người tu ở.
Tan sương, vén mây: Làm cho màn sương mù mịt tan ra, quét sạch màn mây dày đặc để có thể thấy rõ những gì ở gần (đầu ngõ) và cả những gì ở xa (giữa trời), ở bên trong và cả bên ngoài. Ở đây ý nói khả năng đối diện và xử lý những tiêu cực, những mâu thuẫn và những nhiêu khê của cuộc đời, của con người.

108- Bây giờ tình mới tỏ tình (1809)
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong! (1464)
Tỏ: Thấy rõ, nhìn rõ.
Tình tỏ tình: Dùng tình để nhìn rõ tình, giống như dùng thân để quán thân, dùng thọ để quán thọ.
Nỗi bất bình: Nỗi oan, nỗi khổ, những năng lượng tiêu cực dồn nén lâu ngày trong lòng.

109- Chở che đùm bọc thiếu chi  (3185)
Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai (2414)
Chở che: Chở là sự nâng đỡ khỏi những nặng nề, vướng mắc từ phía dưới. Che là sự ngăn chặn những trở ngại từ phía trên. Ý chỉ sự giúp đỡ và bao bọc một cách toàn diện.
Đùm bọc: Đùm nghĩa là gói tạm và buộc túm lại phía trên. Bọc nghĩa là gói kín chung quanh không có khe hở. Đùm bọc có nghĩa là yêu thương giúp đỡ và chăm sóc người nào đó một cách hết lòng và không thiếu sót.
Thiếu chi: Không thiếu, rất nhiều
Ắt: Chắc chắn.

110- Tình xưa ơn trả nghĩa đền (2865)
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông (3204)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.
Lam Điền: Nơi có tiếng là sản xuất ngọc quý.
Mới đông:  (Ngọc) Vừa mới tượng hình.

111- Bởi lòng tạc đá ghi vàng (2855)
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao (2876)
Tạc đá ghi vàng: Khắc vào đá, ghi vào vàng.
Tiêu dao: Vui chơi đây đó với tâm hồn thảnh thơi không vướng bận chuyện đời. Khả năng an nhàn, tự tại, không bó buộc.

112- Cửa trời rộng mở đường mây (2861)
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm (1506)
Cửa trời: Triều đình, công sở, cơ quan, nơi làm việc.
Đường mây: Đường làm quan, đường công danh sự nghiệp.

113- Vội về sửa chốn vườn hoa (2821)
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (3252)
Sửa: Điều chỉnh, vun xới, chăm sóc và làm cho tươm tất.
Chốn vườn hoa: Là khu vườn an ổn riêng của một người, và cũng là vườn tâm của người ấy.

114- Nạn xưa trút sạch làu làu (2737)
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy? (3208)
Trút sạch: Buông bỏ hết, rửa sạch hết, chuyển hóa được rồi.
Làu làu: Thông suốt, không còn gì vướng víu.
Vui vầy: Niềm vui đoàn tụ.

115- Bốn bề bát ngát mênh mông (2735)
Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng (3180)
Bề: Hướng, phương diện, lĩnh vực.
Bát ngát: Rộng lớn mênh mông đến mức tầm mắt không thể nào bao quát hết được.
Khấu đầu: Cúi đầu xuống một cách cung kính.
Lạy tạ: Lạy xuống với lòng biết ơn.
Cao thâm nghìn trùng: Ơn cha cao hơn núi, nghĩa mẹ sâu hơn biển, nghìn trùng cũng không đo lường được.

116- Thấy nhau mừng rỡ trăm bề (2731)
Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa (2990)
Bề: Hướng, phương diện, lĩnh vực.
Thảo am: Am tranh, chùa tranh.

117- Đã nguyền hai chữ đồng tâm (555)
Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen (2910)
Đồng tâm: Cùng một lòng.

118- Độ sinh nhờ đức cao dày (3055)
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời (3122)
Độ sinh: đưa chúng sinh vượt qua bể khổ, sang bến bờ thong dong.
Tan sương, vén mây: Làm cho màn sương mù mịt tan ra, quét sạch màn mây dày đặc để có thể thấy rõ những gì ở gần (đầu ngõ) và cả những gì ở xa (giữa trời), ở bên trong và cả bên ngoài. Ở đây ý nói khả năng đối diện và xử lý những tiêu cực, những mâu thuẫn và những nhiêu khê của cuộc đời, của con người.

119- Rằng trong tác hợp cơ trời (3063)
Mà trong lẽ phải có người có ta! (3114)
Tác hợp cơ trời: Ông trời khiến cho hai người cảm thấy hợp với nhau, lấy nhau. Cơ trời là sự vận hành mầu nhiệm của thiên nhiên.

120- Còn non còn nước còn dài (557)
Dẫu mòn bia đá dám sai tấc lòng (772)
Bia đá: Lời thề nguyện được khắc lên bia đá.

121- Trong như tiếng hạc bay qua (481)
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa (1472)

122- Một lòng chẳng quản mấy công (2701)
Ở đây cửa Phật là không hẹp gì (2076)
Quản: Lo lắng, tính toán, sắp xếp.

123- Song thu đã khép cánh ngoài (1073)
Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân (1080)
Song thu: Cửa sổ mùa thu
Tế độ: Tế là giúp đỡ đi qua khó khăn. Độ là cứu vớt đưa từ chỗ khổ đau sang bến bờ hạnh phúc.
Trầm luân: Trôi lăn chìm đắm trong khổ đau.

124- Vầng trăng vằng vặc giữa trời (449)
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già! (2202)
Vầng trăng: Là trăng sáng trên bầu trời, và cũng là lý tưởng cao đẹp trong lòng người.
Đoán: Khả năng ra quyết định một cách dứt khoát, rõ ràng và sáng suốt khi mọi thứ còn chưa đi tới hồi kết.
Trần ai: Những bi thương, sầu muộn và trầm uất trong cuộc đời.
Già: Già dặn, chín chắn, giàu kinh nghiệm.

125- Thương sao cho vẹn thì thương (1359)
Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh (1750)
Vẹn: Trọn vẹn, không thiếu sót
Lời phương tiện: Lời nói khéo léo có thể giúp được người khác.
Đường hiếu sinh: Hiếu sinh nghĩa là  trân quý sự sống. Đường hiếu sinh là con đường của Phật, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

126- Mấy lời tâm phúc ruột rà (3183)
Tương tri dường ấy mới là tương tri! (3184)
Lời tâm phúc: Tâm là trái tim, Phúc là bụng, là gan ruột. Lời tâm phúc là những lời nói từ trái tim, từ gan ruột, từ lòng tin cậy.
Tương tri: Biết nhau, hiểu nhau.

127- Đến bây giờ mới thấy đây (2281)
Mà lòng đã chắc những ngày một hai (2282)
Một hai: Thuở ban đầu.

128- Nỗi mừng biết lấy chi cân (3027)
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng (902)
Nỗi mừng: Nỗi niềm mừng vui, hân hoan hạnh phúc.
Lấy chi cân: Lớn quá không làm sao cân đo được.
Cát đằng: Cát, đằng là những loại dây leo, phải nhờ vào những cây to mà vươn lên cao. Ở đây chỉ thân phận những người vợ lẽ. Cũng có thể liên tưởng tới những người mới và non trong một lĩnh vực nào đó, giống như những người mới bắt đầu tu tập, cần nương tựa vào những người đi trước để thực tập và tiến bộ.

129- Có người khách ở viễn phương (67)
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên (1932)
Khách viễn phương: Khách đến từ một nơi rất xa.
Lửa lòng: Những ngọn lửa ở trong lòng, ý nói có một nguồn năng lượng, một động lực lớn trong lòng.
Trần duyên: Trần là bụi bặm, là cõi đời. Trần duyên là những điều kiện tiêu cực lôi kéo và dẫn dắt ta về hướng bụi bặm và thế tục.

130- Cỏ non xanh tận chân trời (41)
Nhẹ nhàng nghiệp trước đền bồi duyên sau (2690)
Nghiệp: Gồm nghiệp nhân và nghiệp quả, là những hành động và kết quả của những hành động ấy trên các phương diện thân, khẩu và ý của ta trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
Đền bồi: Đền là bù đắp lại cho đầy đủ những gì còn thiếu. Bồi là làm cho trọn vẹn những gì chưa đủ đầy. Nghĩa cả hai chữ là khả năng báo đáp lại, khả năng trả lại cho tương xứng những gì đã nhận được.
Duyên: Là bốn loại điều kiện để nhân thành quả.

131- Những là nấn ná đợi tin (2945)
Tỉnh ra mới biết là mình chiêm bao (214)
Những là: Sự lặp đi lặp lại nhiều lần.
Nấn ná: Cố kéo dài thêm thời gian chờ đợi một cái gì đó không chắc sẽ đến.

132- Gác kinh viện sách đôi nơi (1937)
Nào lời non nước, nào lời sắt son (1632)
Sắt son: Tấm lòng thành. Sắt cứng và son đỏ.
Lời non nước: Lời thề nguyện, lời hứa. Người xưa thường nương tựa vào núi sông (non nước) để làm chứng cho lời thề nguyện của mình.

133- Chút riêng chọn đá thử vàng (2187)
Thân này đã dễ mấy lần gặp tiên? (1704)
Chút riêng: Tấm lòng bé nhỏ. Một cách nói khiêm nhường về mong ước của mình.
Chọn đá thử vàng: Giữa rất nhiều quặng đất đá mới có thể lọc được ít vàng. Cũng vậy, giữa vạn người bình thường khó lắm mới tìm được người tốt.
Đã dễ: Rất khó, dễ gì.

134- Giọt rồng canh đã điểm ba (1865)
Có dung kẻ dưới mới là lượng trên (1540)
Giọt rồng: Giọt nước chảy xuống từ chậu nước bằng đồng có chạm hình rồng để đo thời gian.
Điểm ba: Tức đánh ba tiếng, chỉ canh ba, từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng.
Dung: Nghĩa đen là chứa đựng được. Ở đây nói tới khả năng bao dung, độ lượng và che chở; khả năng ôm ấp chấp nhận và tha thứ của người lớn đối với cả tài năng, đức hạnh và thiếu sót, lỗi lầm của người dưới.
Lượng trên: Tấm lòng độ lượng của người lớn.

135- Thương nhau xin nhớ lời nhau (1515)
Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi (1630)
Ấm lạnh, ngọt bùi: Chăm sóc từng miếng ăn, tấm áo cho cha mẹ.

136- Rằng trong ngọc đá vàng thau (1583)
Cười rằng: tri kỷ trước sau mấy người! (2200)
Ngọc đá vàng thau: Ngọc khác với đá, vàng khác với đồng. Ý nói khả năng phân biệt tốt xấu, đúng sai, nặng nhẹ trong cách đối nhân xử thế.
Tri kỷ: Người hiểu mình.

137- Chút riêng chọn đá thử vàng (2187)
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? (2188)
Chút riêng: Tấm lòng bé nhỏ. Một cách nói khiêm nhường về mong ước của mình.
Chọn đá thử vàng: Giữa rất nhiều quặng đất đá mới có thể lọc được ít vàng. Cũng vậy, giữa vạn người bình thường khó lắm mới tìm được người tốt.
Can tràng: Gan ruột, tấm lòng của mình.

138- Tấm thân rày đã nhẹ nhàng (2293)
Lòng đây lòng đấy chưa tường hay sao? (1362)
Rày: Lúc này, bây giờ.
Tường: Một cách rõ ràng, đầy đủ, không nhầm lẫn.

139- Cùng trong một tiếng tơ đồng (1855)
Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau (2410)
Tiếng tơ đồng: Tiếng đàn.
Ắt: Chắc chắn.

140- Long lanh đáy nước in trời (1603)
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông (916)
Lời non sông: Tức là lời thề nguyện, lời hứa. Người xưa lấy non sông làm chứng cho những lời thề nguyện của mình.

141- Hoàng lương chợt tỉnh giấc mai (1715)
Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi (1030)
Hoàng lương: Giấc kê vàng, giấc mộng.
Giấc mai: Giấc ngủ mê lúc ban mai.

142- Lấy tình thâm trả nghĩa thâm (2683)
Nước non để chữ tương phùng kiếp sau (1786)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.
Tương phùng: Gặp lại nhau.

143- Chắc rằng mai trúc lại vầy (1679)
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi (2424)
Mai trúc: tình nghĩa thân thiết từ thuở bé. Mai và trúc thường được trồng gần nhau.
Vầy: Gặp nhau, đoàn tụ
Tấc riêng: Tâm sự ở trong lòng mình.
Cất: Nghĩa là nâng lên, nhấc lên, đưa lên.

144- Dưới đèn sẵn bức tiên hoa (2625)
Một mầu quan tái bốn mùa gió trăng (1596)
Tiên hoa: Giấy viết thư, chép thơ.
Quan tái: Cửa ải nơi vùng biên giới xa xôi.

145- Nghĩ đi nghĩ lại quanh co (2023)
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai (1042)
Tấm son: Tấm lòng chân thành, sắt son.

146- Tình sâu mong trả nghĩa dày (1263)
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng? (2428)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.
Tri kỷ: Người hiểu mình.

147- Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi (2313)
Tấm riêng riêng những nặng vì nước non (1330)
Tề chỉnh uy nghi: Đứng đắn, ngay thẳng, oai nghiêm và mẫu mực
Tấm riêng: Tâm tư sâu kín.

148- Bấy lâu khăng khít dải đồng (1341)
Biển trầm luân lấp cho bằng mới thôi (1104)
Khăng khít: Sự gắn bó và liên quan mật thiết với nhau, không thể tách rời.
Dải đồng: Sợi dây hợp nhất hai tấm lòng lại với nhau.
Trầm luân: Trôi lăn chìm đắm trong khổ đau.

149- Khi gió gác khi trăng sân (1295)
Hoa xuân đương nhị ngày xuân còn dài (1006)
Gió gác: Một căn gác có gió mát.
Trăng sân: Một khoảnh sân ngập ánh trăng.
Hoa xuân đương nhị: Hoa xuân đang lúc mãn khai. Ý nói người đang ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất.
Ngày xuân: Nghĩa là những tháng ngày tuổi trẻ tươi xanh.

150- Đêm xuân một giấc mơ màng (849)
Làm chi lỡ nhịp cho đàn ngang cung (1460)
Đàn ngang cung: Những tiếng đàn không ăn nhịp với nhau.

151- Thương vì hạnh trọng vì tài (1469)
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm (1506)
Hạnh: Tính nết của một người, biểu lộ qua lời ăn tiếng nói và những cử chỉ trong đời sống hằng ngày.

152- Công tư hai lẽ đều xong (1379)
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia (1036)
Công tư: Việc chung và việc riêng.
Bụi hồng: Bụi đỏ, ý chỉ những phiền muộn rắc rối trong cõi đời. 

153- Được lời như thế là may (1023)
Cành kia chẳng phải cội này mà ra? (1322)
Cội: Nghĩa là gốc rễ.

154- Thân ta ta phải lo âu (2015)
Bỗng đâu mua não chuốc sầu nghĩ nao? (236)
Não: Phiền muộn, sầu đau.
Chuốc sầu: Tự làm khổ mình. Chuốc: Tự nhận lấy mà không phải thực sự muốn.
Nghĩ nao: Nghĩ như thế nào.

155- Chở che đùm bọc thiếu chi (3185)
Năm nay là một, nữa thì năm năm (2408)
Chở che: Chở là sự nâng đỡ khỏi những nặng nề, vướng mắc từ phía dưới. Che là sự ngăn chặn những trở ngại từ phía trên. Ý chỉ sự giúp đỡ và bao bọc một cách toàn diện.
Đùm bọc: Đùm nghĩa là gói tạm và buộc túm lại phía trên. Bọc nghĩa là gói kín chung quanh không có khe hở. Đùm bọc có nghĩa là yêu thương giúp đỡ và chăm sóc người nào đó một cách hết lòng và không thiếu sót.
Thiếu chi: Không thiếu, rất nhiều
Nữa thì: Hoặc là

156- Phím đàn dìu dặt tay tiên (3197)
Hoa nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi (2344)
Tay tiên: Bàn tay gảy đàn một cách thuần thục và thoát tục như của tiên nữ.
Hoa Nô, Trạc Tuyền: Hoa Nô là tên tục của Kiều khi làm người hầu cho Hoạn Thư. Trạc Tuyền là pháp danh của Kiều khi tu tập ở Quan Âm các trong vườn của nhà Hoạn Thư.

157- Thiện căn ở tại lòng ta (3251)
Tương tri dường ấy mới là tương tri (3184)
Thiện căn: Những hạt giống, những gốc rễ và những tiềm năng tốt đẹp, thiện lành ở trong tâm.
Tương tri: Thấu hiểu nhau, biết rõ nhau.
Dường ấy: Đến mức như thế.

158- Gương trong chẳng chút bụi trần (3173)
Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng (3180)
Gương trong: Chỉ một nội tâm trong sáng.
Bụi trần: Những bụi bặm của cuộc đời. Ý nói những tiêu cực, khổ đau và ràng buộc trong cuộc đời.
Khấu đầu: Cúi đầu xuống một cách cung kính.
Lạy tạ: Lạy xuống với lòng biết ơn.
Cao thâm nghìn trùng: Ơn cha cao hơn núi, nghĩa mẹ sâu hơn biển, nghìn trùng cũng không đo lường được.

159- Kệ kinh câu cũ thuộc lòng (2054)
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau (2736)
Triều dâng hôm sớm: Mỗi ngày thường có hai lần thủy triều, buổi mai và buổi hôm.
Mây lồng trước sau: Một không gian mà trước và sau đều lồng lộng mây bay.

160- Một nhà sum hợp sớm trưa (2733)
Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm (2852)

161- Bốn bề bát ngát mênh mông (2735)
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi? (3046)
Bề: Hướng, phương diện, lĩnh vực.
Bụi hồng: Bụi đỏ, ý chỉ những phiền muộn rắc rối trong cõi đời. 

162- Đội trời đạp đất ở đời (2171)
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng (2686)
Đội trời đạp đất: Ý nói một lối sống và cách hành động tự do, ngang tàng, không thừa nhận và chịu khuất phục bất cứ một thứ nguyên tắc và uy quyền nào.
Khinh trọng: Biết phân biệt nhẹ hay nặng, đáng hay không.
Phải chăng: Nhận thức được cái gì là đúng, cái gì là sai.

163- Độ sinh nhờ đức cao dày (3055)
Cành kia chẳng phải cội này mà ra? (1322)
Độ sinh: đưa chúng sinh vượt qua bể khổ, sang bến bờ thong dong.
Cội: Nghĩa là gốc rễ.

164- Chở che đùm bọc thiếu chi (3185)
Tấm riêng riêng những nặng vì nước non (1330)
Chở che: Chở là sự nâng đỡ khỏi những nặng nề, vướng mắc từ phía dưới. Che là sự ngăn chặn những trở ngại từ phía trên. Ý chỉ sự giúp đỡ và bao bọc một cách toàn diện.
Đùm bọc: Đùm nghĩa là gói tạm và buộc túm lại phía trên. Bọc nghĩa là gói kín chung quanh không có khe hở. Đùm bọc có nghĩa là yêu thương giúp đỡ và chăm sóc người nào đó một cách hết lòng và không thiếu sót.
Thiếu chi: Không thiếu, rất nhiều
Tấm riêng: Tâm tư sâu kín.
Riêng những: Chỉ có, chỉ còn

165- Giật mình thoắt tỉnh giấc mai (2727)
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không (1176)
Giấc mai: Giấc ngủ mê lúc ban mai. Mai: cây mai do tích Triệu Sư Hùng ngủ dưới gốc mai.

166- Lòng riêng riêng những kính yêu (2369)
Những điều vàng đá phải điều nói không (2814)
Lòng riêng: Tâm tư sâu kín
Riêng những: Chỉ có, chỉ còn
Điều vàng đá: Những điều sâu kín trong lòng mà đem nói cho người mình thương nghe.

167- Cửa thiền then nhặt lưới mau (1935)
Dạy đem pháp bảo sang hầu sư huynh (2046)
Cửa thiền: Tức cửa chùa.
Then nhặt lưới mau: Then nhặt nghĩa là then cửa cài chặt, lưới mau nghĩa là hàng rào khép kín. Ý nói không gian tu học được bảo hộ và giữ gìn nghiêm mật, tinh chuyên.
Pháp bảo: Những thứ quý giá của nhà chùa, kể cả những giáo lý của Phật và những pháp khí (vật dụng) khác như kinh sách, chuông mõ…
Hầu: Thăm viếng, chăm sóc, hỏi han và nương tựa.
Sư huynh: Người có vai vế và phẩm hạnh lớn hơn mình trong đạo.

168- Cho hay giọt nước cành dương (1931)
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư (2506)
Giọt nước cành dương: Giọt nước cam lồ từ cành dương liễu của đức Bồ tát Lắng Nghe Quan Thế Âm.
Vương sư: Quân đội của triều đình.
Dòm: Nghĩa là nhìn lướt qua, trông thoáng qua.

169- Gác kinh viện sách đôi nơi (1937)
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương (2346)
Non vàng: Một núi vàng.
Đền bồi: Đền là bù đắp lại cho đầy đủ những gì còn thiếu. Bồi là làm cho trọn vẹn những gì chưa đủ đầy. Nghĩa cả hai chữ là khả năng báo đáp lại, khả năng trả lại cho tương xứng những gì đã nhận được.
Tấm thương: Tấm lòng thương yêu.

170- Nâu sồng từ trở màu thiền (1933)
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân (2518)
Nâu sồng: Chỉ quần áo của người tu, được may từ vải nhuộm bằng củ nâu và củ sồng.
Màu thiền: Màu sắc của nhà chùa, ý nói đã thấm tương chao, trong lời ăn tiếng nói và suy nghĩ đã có phong vị của thiền.
Dạn dày: Người từng trải, có nhiều kinh nghiệm và quen chịu đựng gian khổ, khó khăn trong cuộc sống hoặc công việc.
Gan liền tướng quân: Lòng dũng cảm của một vị tướng quân.

171- Tình xưa ân trả nghĩa đền (2865)
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu (1934)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.

172- Thương sao cho vẹn thì thương (1359)
Xe hương nàng đã thuận đường quy ninh (1606)
Vẹn: Trọn vẹn, không thiếu sót
Xe hương: Cỗ xe hương thơm. Ở đây chỉ cỗ xe của người phụ nữ quyền quý ngày xưa. Có thể liên tưởng tới sự thực tập năm phần tâm hương của người tu tập.
Quy ninh: Trở về nơi an ổn. Nghĩa xưa ý nói người con gái từ nhà chồng về thăm nhà cha mẹ đẻ. Ở đây có thể hiểu là khả năng quay về nương tựa nơi gốc rễ của mình để được an ổn.

173- Thấy màu ăn mặc nâu sồng (2039)
Ở đây cửa Phật là không hẹp gì (2076)
Màu ăn mặc: Năng lượng tỏa ra từ cách ăn mặc.
Nâu sồng: Chỉ quần áo của người tu, được may từ vải nhuộm bằng củ nâu và củ sồng.

174- Tàng tàng trời mới bình minh (1917)
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra (2048)
Tàng tàng: Trời vừa sáng.
Khánh: Cái chuông nhỏ cầm tay được dùng trong nhà chùa.
Giở ra: Nghĩa là bày ra, mở ra.

175- Gửi thân được chốn am mây (2053)
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương (2058)
Gửi thân: Gửi gắm sinh mệnh của mình vào một nơi nào đó. Ở đây ý nói đã quay về nương tựa Tam Bảo.
Am mây: Một cái am tranh ở giữa không gian mênh mông mây phủ, ý chỉ chỗ ở của người tu.
Ngọn đèn khêu nguyệt: Thức khuya đọc sách, tim đèn cháy sáng có hình của con trăng lưỡi liềm.
Tiếng chày nện sương: Dậy sớm, ta thỉnh chuông đại hồng mà giống như đang nện vào đám sương mù.

176- Mai cốt cách tuyết tinh thần (17)
Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng (3180)
Mai cốt cách: Hình dáng thanh tao như cành mai.
Tuyết tinh thần: Tấm lòng trong sáng như tuyết trắng.
Khấu đầu: Cúi đầu xuống một cách cung kính.
Lạy tạ: Lạy xuống với lòng biết ơn.
Cao thâm nghìn trùng: Ơn cha cao hơn núi, nghĩa mẹ sâu hơn biển, nghìn trùng cũng không đo lường được.

177- Sư đà hái thuốc phương xa (3231)
Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang (531)
Đà: Nghĩa là đã.
Gia đồng: Người giúp việc ở trong nhà.

178- Bẻ lau vạch cỏ tìm đi (3003)
Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ (3078)
Sự muôn năm cũ: Chuyện ngày xửa ngày xưa, lâu lắm rồi.

179- Sự đời đã tắt lửa lòng (3045)
Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần  (2702)
Sự đời: Việc đời, chuyện đời. Ý nói những nhiêu khê, những thị phi và những ràng buộc trong cuộc đời.
Lửa lòng: Những ngọn lửa ở trong lòng, ý nói có một nguồn năng lượng, một động lực lớn trong lòng.
Chuyển vần: Sự xoay vần, thay đổi ở trong thiên nhiên.

180- Người sao hiếu nghĩa đủ đường (2653)
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây (2622)
Hiếu nghĩa: Có lòng kính cẩn với cha mẹ, thương yêu với anh em, bạn bè.
Đủ đường: Nghĩa là toàn diện, trọn vẹn, không thiếu sót ở bất kỳ phương diện nào.
Kiếp đoạn trường: Một đời sống nhiều khổ đau.

181- Ấy mới gan ấy mới tài (2006)
Thong dong nối gót thư trai cùng về (1992)
Thư trai: Phòng đọc sách.

182- Dịp đâu may mắn lạ dường (1291)
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành (1092)
Lạ dường: rất lạ kỳ.
Ngậm gương nửa vành: Mặt trăng chỉ ló lên phân nửa.

183- Dưới trăng quyên đã gọi hè (1307)
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương (2480)
Quyên: chim tu hú.
Dần dà: Thư thả, từ từ.
Cố hương: Nơi chôn nhau cắt rốn, là quê cũ, là quê cha đất tổ.

184- Dẫu rằng sông cạn đá mòn (1975)
Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang (2816)
Cho đang: Cho đành

185- Gọi là trả chút nghĩa người (2785)
Dẫu trong nguy hiểm dám dời ước xưa (2256)
Nghĩa: Lối xử sự phù hợp với đạo lý, có trách nhiệm, công bằng và theo lẽ phải.
Dời: Thay đổi, không giữ được ước hẹn xưa.

186- Khi nên trời cũng chiều người (2689)
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (2748)
Khi nên: Gặp lúc thuận lợi.
Chiều: Chịu theo, đáp ứng lại.
Gió đông: Gió từ phương đông thổi lại, mang lại hơi ấm của mùa xuân.

187- Còn nhiều hưởng thụ về lâu (2723)
Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi (1630)
Ấm lạnh, ngọt bùi: Chăm sóc từng miếng ăn tấm áo cho cha mẹ.

188- Non quê thuần vược bén mùi (1593)
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông (2634)
Non quê: Núi non quê nhà
Thuần: Tên một loại rau. Vược: Tên một loại cá.
Bén: Nghĩa là thấm và chuyển tải được.
Phó mặc: Phó thác và mặc tình.

189- Vậy nên những chốn thong dong (2663)
Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa (2850)
Phím đồng: Phím đàn làm bằng gỗ ngô đồng, ngụ ý chỉ cây đàn.

190- Khi ăn ở lúc ra vào (2845)
Mừng mừng tủi tủi xiết bao là tình (3016)
Xiết bao: Nhiều không thể kể được.

191- Bây giờ mới rõ tăm hơi (1873)
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm (2248)
Tăm hơi: Tin tức về một người nào đó.
Đăm đăm: Sự tập trung suy tư hướng về một nơi hay một người nào đó nơi xa xăm.

192- Lầu mai vừa rúc còi sương (867)
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài (425)
Lầu mai: Chòi canh vào lúc buổi sáng.
Rúc: Kêu lên từng hồi dài.
Còi sương: Tiếng còi báo hiệu lúc buổi sáng.
Ác: Mặt trời.
Ngậm gương: Đã lặn xuống phân nửa.
Non đoài: Núi ở phía Tây.

193- Xem qua sư mới dạy qua (2049)
Ấy là tình nặng ấy là ơn sâu (1966)

194- Lại đây xem lại cho gần (2193)
Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời (2062)
Bóng hoa: Ánh trăng chiếu xuống, in bóng những cành hoa lên mặt đất.
Vẻ ngân: Ánh sáng của dải ngân hà. 

195- Chùa đâu trông thấy nẻo xa (2035)
Có dung kẻ dưới mới là lượng trên (1540)
Dung: Nghĩa đen là chứa đựng được. Ở đây nói tới khả năng bao dung, độ lượng và che chở; khả năng ôm ấp chấp nhận và tha thứ của người lớn đối với cả tài năng, đức hạnh và thiếu sót, lỗi lầm của người dưới.
Lượng trên: Tấm lòng độ lượng của người lớn.

196- Ở ăn thì nết cũng hay (1533)
Hẳn rằng mai có như vầy cho chăng (1024)
Nết: Tính tình, thói quen.
Vầy: Thế này

197- Khi ăn ở lúc ra vào (906)
Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy? (3208)
Vui vầy: Niềm vui đoàn tụ.

198- Một phen tri kỷ cùng nhau (3213)
Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì (2412)
Tri kỷ: Người hiểu mình.
Cơ duyên:  Cơ: cơ hội. Duyên: điều kiện. Những cơ hội và điều kiện thuận lợi để thực hiện một việc nào đó.

199- Một tay gây dựng cơ đồ (2462)
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên (3224)
Cơ đồ: Sự nghiệp. 

200- Ai ngờ lại họp một nhà (3177)
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau (2626)
Thiên tuyệt bút: Bài thơ rất xuất sắc, có khi là bài thơ cuối cùng của một danh nhân.

201- Đường đường một đấng anh hào (2169)
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành! (674)
Đường đường: Dáng dấp to lớn, oai vệ, ngay thẳng và uy nghiêm.
Đấng anh hào: Bậc tài trí hơn người.

202- Thấy nhau mừng rỡ trăm bề (2731)
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân (1294)
Bề: Hướng, phương diện, lĩnh vực.

203- Trong tay mười vạn tinh binh (2905)
Quy sư, quy Phật tu hành bấy lâu (2044)
Tinh binh: Những người lính được tuyển chọn thật giỏi.
Quy sư: Quay về nương tựa nơi một người thầy (để học Phật và tu tập).
Quy Phật: Quay về nương tựa nơi Bụt, người đưa đường chỉ lối cho ta trong cuộc đời.
Tu hành: Rèn luyện để sửa đổi những điều chưa tốt và thực hành, nuôi lớn những gì thiện lành bằng đời sống hàng ngày của mình.

204- Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra (1725)
Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu? (3232)
Gạn gùng: Hỏi han hết sức cẩn thận, tỉ mỉ và kỹ lưỡng đến từng chi tiết.
Ngành ngọn: Đầu đuôi, chi tiết đầy đủ và tường tận về một sự việc.

205- Cửa chiền vừa cữ cuối xuân (2061)
Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài (2418)
Cửa chiền: Cửa chùa, chùa chiền.
Cữ: Chỉ một khoảng thời gian liên quan đến thời tiết trong năm.
Tạ từ: Tạ là nói lời cảm ơn, từ là lời chào tạm biệt.
Cõi ngoài: Cõi này là cõi của đúng sai, hơn thua, được mất, lên xuống, buồn vui, thương ghét. Cõi ngoài là một nơi không bị giới hạn bởi những thái cực đó.

206- Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi (2137)
Tìm hoa quá bước xem người viết kinh (1986)
Đỗ bến: Đã đến nơi, đã dừng lại, không còn rong ruổi tìm cầu nữa. Đã về đã tới.

207- Nghĩ cho khi gác viết kinh (2367)
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong (1464)
Nỗi bất bình: Nỗi oan, nỗi khổ, những năng lượng tiêu cực dồn nén lâu ngày trong lòng.

208- Nghe lời khuyên nhủ thong dong (1495)
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào (1488)

209- Thấy lời thủng thỉnh như chơi (1589)
Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân (1080)
Thủng thỉnh: Cũng viết là thủng thẳng, miêu tả trạng thái đi lại, nói năng hoặc hành động một cách chậm rãi, khoan thai, không vội vã, tỏ ra ung dung, tự tại, thường dùng để diễn tả sự thoải mái, thảnh thơi hoặc cố tình kéo dài thời gian.
Tế độ: Tế là giúp đỡ đi qua khó khăn. Độ là cứu vớt đưa từ chỗ khổ đau sang bến bờ hạnh phúc.
Trầm luân: Trôi lăn chìm đắm trong khổ đau.

210- Gió quang mây tạnh thảnh thơi (2063)
Có người đàn việt lên chơi cửa già (2064)
Quang: trời sáng sủa, không có mây.
Tạnh: hết mưa gió.
Đàn việt: Người tới lễ bái, thực tập, công quả và cúng dường ở chùa.
Già: Già lam, nhà chùa.

Tham luận – Diễn đàn Phật Giáo thế giới 2006

Tham luận của Phái Đoàn Tăng Thân Làng Mai đọc tại Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới
Hàng Châu ngày 13 tháng 4 năm 2006

 

Vào dịp ăn mừng 2000 năm đạo Bụt tới Trung Quốc, Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc với sự hợp tác của chính quyền đã tổ chức Diễn Đàn Phật Giáo Quốc Tế Thứ Nhất tại Thượng Hải và Hàng Châu, mời những nhân vật Phật giáo quốc tế đến tham dự từ ngày 13.04.2006 đến ngày 16.04.2006. Tòa Đại sứ Trung Quốc tại Pháp cho biết tại Pháp có hai nhân vật được mời, đó là Thầy Matthieu Ricard và Thiền sư Nhất Hạnh. Thiền sư Nhất Hạnh đã đề cử bốn vị đệ tử xuất gia thay thầy đi phó hội, đó là các thầy Pháp Ấn, Pháp Khí, các sư cô Giác Nghiêm và Tùng Nghiêm. Sau đây là bài phát biểu của phái đoàn Đạo tràng Mai Thôn do Thầy Pháp Ấn trưởng phái đoàn tuyên đọc tại Diễn Đàn.

Kính bạch chư Tôn Đức
Kính thưa Đại Chúng,

Chúng tôi rất vui mừng được giới thiệu thầy chúng tôi, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Tăng Đoàn Làng Mai nơi đây, trong buổi gặp gỡ lịch sử hôm nay. Chúng tôi xin gửi đến ban tổ chức lòng biết ơn của chúng tôi về cơ hội quý báu này, để có thể trình bày về những cố gắng của chúng tôi trong việc đưa đạo Bụt đến nhân dân nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là đến nhiều cộng đồng Tây phương trong suốt 30 năm qua. Một tập tài liệu chi tiết về việc làm nói trên đã được chuyển đến ban tổ chức diễn đàn, cũng như được lưu trữ trên trang nhà plumvillage.org và plumvillage.hk, dưới dạng Anh ngữ và Hoa ngữ.

Trong thế kỷ và thiên niên kỷ mới này, chúng tôi tin rằng đạo Bụt có một cơ hội rất lớn để phát triển và được cải tiến, hầu đáp ứng những tiến bộ trong nhiều lĩnh vực bao gồm kỹ thuật và y khoa, cũng như những biến đổi sâu rộng đang diễn ra khắp thế giới trong quá trình toàn cầu hóa. Trong vòng một trăm đến hai trăm năm qua, đạo Bụt đã đi vào xã hội Tây phương phần lớn như những khái niệm và ý tưởng. Nhưng ngày nay, chúng ta có thể thấy rằng đạo Bụt đã bắt đầu cắm rễ sâu hơn trong đời sống hằng ngày, nghiêng về thực hành nhiều hơn là lý thuyết.

Như một tăng thân cùng thực tập trong suốt 30 năm qua, bằng mọi nỗ lực, chúng tôi đã ứng dụng đạo Bụt vào nếp sống tân tiến trong mỗi ngày. Chúng tôi liên tục phát triển, học hỏi và khám phá lại những phương pháp thực tập khác nhau, những phương pháp có thể được truyền đạt hiệu quả và được con người trong kỷ nguyên mới này dễ dàng chấp nhận. Chúng tôi đã góp phần sáng lập và phát triển mô thức “Đạo Bụt Đi Vào Cuộc Đời” trong nhiều khía cạnh của cuộc sống, bao gồm các khóa tu cho những nhà bảo vệ sinh môi, những nghệ sĩ, những thanh thiếu niên, những nhà tranh đấu cho hòa bình, những cuộc đối thoại tôn giáo, những nhà tâm lý trị liệu, những cựu chiến binh, những doanh nhân, những tù nhân, những nhân viên tư pháp như trong giới cảnh sát, kiểm soát trại giam, luật gia, những giáo chức, những dân biểu quốc hội Mỹ và nhiều khóa tu cho những cặp vợ chồng, những bậc cha mẹ, những gia đình.

Chúng tôi đã chứng kiến nhiều điều mầu nhiệm xảy ra trong mỗi khóa tu và tại trung tâm thực tập của chúng tôi. Nhiều người đã có thể hòa giải và trở về sống chung hòa hợp với người thương của họ sau bao nhiêu năm khổ đau bởi trách móc, hiểu lầm và chia rẽ. Các nhóm thù nghịch như giữa người Do Thái và người Palestine đã có thể ôm ấp được niềm đau của đối phương, đồng lòng cùng nhau xây dựng hòa bình, thông cảm. Các doanh nhân và dân biểu có thể thực tập thiền hành ngay trong đời sống bận rộn và căng thẳng của mình. Trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua sau 39 năm lưu vong của thầy chúng tôi, bằng tấm lòng chân thật và sự thân tình của tăng đoàn, chúng tôi có thể giúp xóa đi nhiều lo lắng và nghi kỵ trong giới chính quyền Việt Nam. Qua đó họ đã nhận ra rằng chúng tôi là bạn. Trong mọi tình huống, chúng tôi luôn thực tập lắng nghe và dùng ái ngữ để truyền thông. Điều này căn cứ trên giới thứ tư của năm giới Bụt dạy, được thầy chúng tôi diễn đạt như sau:

“Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể”.

Cách diễn đạt mới mẻ này của các giới được xem như một thí dụ về những cố gắng của chúng tôi nhằm mục đích hiện đại hóa lời dạy của Bụt, hầu thích nghi với thế giới hiện nay. Trong nhiều dịp, thầy chúng tôi luôn nhấn mạnh tính quan trọng trong sự thực hành Năm Phép Thực Tập Chánh Niệm như một con đường giúp vượt khỏi nhiều hoàn cảnh khó khăn đang diễn ra trên thế giới hiện nay như chiến tranh, bạo động và nghèo đói, để chúng ta còn có một tương lai.

Pháp ấn của pháp môn Làng Mai có thể được diễn đạt bằng một câu kệ rất đơn giản: “đã về, đã tới”, lời dạy của Bụt và những vị tổ sư thiền của chúng tôi được diễn tả trong Kinh Người Biết Sống Một Mình (Bhaddekaratta Sutta, Majjhima Nikaya 131). Câu kệ trên đi đôi với hơi thở vào, hơi thở ra trong lúc thiền ngồi, thiền đi, thiền buông thư hay trong những sinh hoạt hằng ngày, những cử động cơ thể. Sự thực tập dựa trên những phương pháp được dạy trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati Sutta, Majjhima Nikaya 118) và Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Satipatthana sutta, Majjhima Nikaya 10). Những điều dạy trong các kinh này được khám phá rộng hơn, được diễn giải qua ánh sáng trí tuệ trong truyền thống Đại Thừa và được ứng dụng vào đời sống hằng ngày, căn cứ trên tinh thần của dòng thiền chúng tôi.

Chúng tôi nhận ra rằng một cộng đồng xuất gia tạo nên nơi nương tựa vững vàng và chắc chắn nhất cho mọi người trong tứ chúng. Chúng tôi đã giúp cải tiến nhiều phương pháp thực tập trước đây chỉ dành riêng cho giới xuất gia và giới thiệu chúng đến giới cư sĩ. Xây dựng tăng thân là một trong những việc cần thiết nhất trong thiên niên kỷ mới như một chiến lược để vượt thoát xu hướng phân hóa trong lối sống tân kỳ. Chúng tôi biết rằng điều này là một thử thách khó khăn, nhưng cũng chính là một cố gắng cao quý. Thầy chúng tôi gợi ý rằng vị Bụt tương lai, Bụt Di Lặc, có thể biểu hiện dưới dạng một tăng thân, một đoàn thể tu học, thay vì một cá nhân. Trên tinh thần đó, cộng đồng xuất gia sẽ mang nhiều trách nhiệm hơn trong xã hội tân tiến. Nhu cầu đổi mới qua sự thực tập ngay trong đời sống hiện đại thật cấp bách. Chúng tôi đã giới thiệu đến đoàn thể xuất gia Giới Bản Tân Tu Ba La Đề Mộc Xoa nhằm hướng đến những điều thực tập ngày nay như khi sử dụng xe hơi, máy vi tính, truyền hình, trò chơi điện tử và lên mạng.

Tóm lại, trong 30 năm qua, chúng tôi luôn cố gắng làm mới và hiến tặng giáo lý của Bụt cùng sự thực tập đến mọi tầng lớp xã hội, từ cá nhân đến gia đình và những lĩnh vực khác rộng lớn hơn. Hôm nay, chúng tôi thật hạnh phúc được chia sẻ những cố gắng đã thành công của mình đến nhiều người anh em nơi đây thuộc những truyền thống khác. Chúng tôi hy vọng các bạn sẽ soi sáng cho chúng tôi bằng những kinh nghiệm và tuệ giác của các bạn, hầu giúp chúng tôi làm tốt hơn. Nếu các bạn nghĩ rằng những phương pháp của chúng tôi mang lại nhiều lợi lạc, chúng tôi xin vui mừng chào đón mọi người với sáng kiến và ứng dụng chúng vào nhiều lĩnh vực mới lạ khác.

Xin chân thành cảm tạ sự quan tâm của các bạn.

Tinh yếu Lâm Tế Lục

Trong Lâm Tế Lục, Tổ có nói rằng mục đích của Tổ là đánh phá, trị bệnh và cởi trói. Như vậy thì mục đích của Tổ không phải là đưa ra những tư tưởng uyên áo để chúng ta học hỏi, đàm luận và mắc kẹt vào đấy. Vì vậy nếu ta học Lâm Tế Lục với mục đích tìm cầu những tư tưởng uyên áo để đàm luận và để mắc kẹt vào chúng là ta đã đi ngược với ý của Tổ. Những giáo lý và những phương tiện thi thiết của người xưa (người xưa ở đây là Bụt và Tổ) sẽ trở thành những cái bẫy sập giam hãm ta, vì vậy ta hãy cẩn thận, hãy nhớ tất cả những thi thiết ấy, dù là tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng hay tịnh độ…, trước hết đều là những giả danh (Tổ gọi là danh từ suông, văn cú, chữ nghĩa). Nếu ta mắc kẹt vào những thi thiết ấy, cho chúng là những thực tại khách quan có mặt ngoài ta, là ta đã bị sa vào bẫy sập.

Ta không nên đi tìm cầu Bụt, Tổ, Bồ Tát, tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng, lầu các của Di Lặc ngoài ta. Ta phải chấm dứt mọi tìm cầu. Phải ngưng sự tìm cầu ngay và hãy trở về bản thân trong giây phút hiện tại. Bản thân trong giây phút hiện tại chứa đựng tất cả những gì ta muốn tìm cầu: pháp thân, bát nhã, giải thoát, Bụt, Tổ và các cõi nước trang nghiêm. Bản thân ở đây không hẳn là năm uẩn, vì năm uẩn vô thường có đó không đó. Nhưng bản thân cũng không phải là một cái gì có thể nhận thức ngoài năm uẩn, bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta. Con người thật ấy là chân tâm sáng chói có diệu dụng nhận diện và tiếp xúc với mọi mầu nhiệm của sự sống: Tổ gọi đó là cái tinh minh sáng rỡ biểu hiện thành sáu đạo thần quang: khả năng thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy. Năm uẩn là vô thường nhưng bản tâm biểu hiện nhờ năm uẩn là con người thật của ta thì không sinh, không diệt, không có, không không, vượt thoát mọi khái niệm. Đó là con người thật không có vị trí (nghĩa là không thể được đồng nhất với một uẩn trong năm uẩn hoặc cả năm uẩn). Con người thật đó là Bụt. Bụt không phải là một thực thể có ngoài con người thật đó. Bụt và chúng sinh không phải là hai thực thể riêng biệt (Phật sinh vô nhị). Nếu không thấy được điều này, nếu không có đức tin vững chãi nơi sự thật này, thì không bao giờ chấm dứt được sự tìm cầu, phóng thể, vẫn không dừng lại được để làm một con người vô sự, vẫn còn có khuynh hướng chán phàm yêu thánh, vẫn chưa có được hạnh phúc và an vui thật sự.

Người nào có khả năng vận dụng được cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang kia thì có thể ngay tại đây trong giờ phút này tiếp xúc được với thế giới hoa tạng, với tam thân, với hằng sa Bụt và Bồ tát, có thể ứng thân hiện vật, độ đời, giúp người, và thấy rằng tất cả những cảnh giới này cũng đều là những hình ảnh phản chiếu (quang ảnh) của cái tâm sáng chói và mầu nhiệm kia.

Mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt nguyên thỉ là vị La hán, mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt đại thừa là vị Bồ tát, còn mẫu người lý tưởng trong thiền Lâm Tế là con người vô sự. Con người vô sự là con người không chạy theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Bụt, là Tổ, là Niết bàn, là Tam thân, là Tịnh độ. Con người vô sự là người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh, cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Bụt và các Phật độ.

Bụt không phải là đối tượng tìm cầu của ta, đừng lấy Bụt làm mục tiêu lý tưởng của mình, đừng cho Bụt là một thực thể tồn tại ngoài ta. Hình ảnh của ta xây dựng trong đầu về Bụt không phải là Bụt. Bụt ấy có sinh, có trú, có hoại, có diệt, Bụt ấy không đáng là hình ảnh lý tưởng mà ta chạy theo. Bụt ấy là một bóng Ma, gọi là Ma Bụt, có thể hớp hồn ta, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền, gặp Ma Tổ cũng vậy, ta cũng phải chém đầu. Ta phải chém đầu tất cả các loài Ma, bởi vì tất cả những tạo dựng của trí óc, tất cả những thi thiết của cổ nhân chỉ có giá trị của thuốc hay trị bệnh, nếu ta xem những cái đó là những thực tại có thật biệt lập ngoài ta, không phải là những phương tiện chữa trị các căn bệnh si mê, tham ái, sân hận và tìm cầu của ta thì chúng trở thành chướng ngại, trở thành bẫy sập, vì vậy ta phải chặt đầu chúng mỗi khi chúng xuất hiện.

Con người thật, con người vô sự không bao giờ bị cảnh vật lôi kéo, vì vậy luôn luôn giữ được tự do. Cảnh giới Ma không lôi kéo mình được đã đành, cảnh giới Bụt cũng không lôi kéo mình được. Tại vì mình đã thấy rằng Ma và Bụt tương tức, Ma và Bụt bất nhị, đó là bệnh và thuốc có mặt một lần để trị nhau, để nương nhau. Con người vô sự vì thế thấy Ma cũng mỉm cười và thấy Bụt cũng mỉm cười. Con người vô sự có thể đánh dẹp được cả Ma và cả Bụt.

Tổ khuyên mọi người đừng ỷ lại vào kẻ khác, dù họ tự gọi là Bụt, là Tổ, là đại thiền sư, là thánh tăng, đừng đi tìm kiến giải nơi từ chương, nơi kinh điển, nơi văn cú, đừng kẹt vào các danh từ, đừng hy vọng tìm giải thoát và trí tuệ nơi sự học hỏi và nghiên tầm kinh điển. Tìm giải thoát và giác ngộ nơi sự nghiên tầm kinh điển cũng như hy vọng tìm được những giọt nước mát trong một bộ xương khô. Giáo điển chỉ là những bộ xương khô. Phải trở về giây phút hiện tại, vận dụng cái tâm sáng chói đang có mặt ngay tại đây thì mới có thể tiếp xúc được với giải thoát và giác ngộ, tiếp xúc được với Bụt và Tổ đang là những thực thể sống động nơi giây phút này.

Người tu đạo không cần phải dụng công mệt nhọc. Đừng đày đọa thân thể và tâm trí bằng cách chạy đi tìm cầu. Trong tinh thần vô đắc mình phải thấy rằng mình đã là cái mình đang tìm cầu rồi, cũng như đợt sóng tự biết mình là nước, có thể ngưng ngay lại sự bôn ba đi tìm nước. Phương pháp thực tập là dừng lại, bởi vì giây phút hiện tại nào cũng là giây phút trở về ngôi nhà đích thực của chính mình, từ bước chân, hơi thở cho đến hành động ăn cơm, mặc áo, uống nước, đi cầu. Không cần đi đâu hết, không cần làm gì nữa. Cái mà mình đi tìm đã có sẵn ngay ở đây. Vì vậy mình có thể thực sự là một người vô sự. Nếu mình tiếp tục đày đọa thân tâm vì sự thực tập, vì sự tìm cầu, vì sự nghiên cứu, vì sự dụng công khổ nhọc của mình thì mình đi ngược với con người của Tổ và của Bụt, và mình cách xa với Tổ và Bụt như trời xa cách đất.

Con người vô sự là con người tự do, ở đâu cũng làm chủ được mình. Nếu mình có được cái thấy chân thật (kiến giải chân chính) thì mình không còn bị kẹt vào những tướng sinh, trú, dị, diệt của vạn pháp, kể cả những tướng sinh, trú, dị, diệt của Bụt Thích Ca, và vì vậy mình cũng không bị kẹt vào hóa thân Bụt. Dù sự vật quanh mình và chính bản thân năm uẩn của mình có đang đi ngang qua những tướng sinh, trú, dị, diệt ấy mình cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn vui hay thương ghét. Mình không bị cảnh đoạt. Mình luôn luôn đứng vào vị trí chủ động, đứng vững trong chánh kiến của mình và không trở nên nạn nhân của hoàn cảnh, của kẻ khác, không than phiền rằng hoàn cảnh như thế đó, người ta như thế đó cho nên tôi đã phải như thế này. Mình chuyển được hoàn cảnh mà hoàn cảnh không thể chuyển được mình. Mình luôn luôn là con người thật của mình trong bốn động tác đi, đứng, nằm, ngồi, mình không cần phải đóng kịch, dù là đóng vai giải thoát, đóng vai giác ngộ, đóng vai đại thiền sư. Cái này gọi là ‘tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân’. Con người thật có nghĩa như thế.

Vì mình có khả năng sống với con người thật của mình cho nên mình không cần phải làm dáng làm điệu. Mình đâu có cần phải chứng tỏ mình là giải thoát, là giác ngộ. Mình có thể sống một cuộc sống bình thường, mình chỉ cần làm một con người bình thường. Con người bình thường này là con người vô sự, có giá trị cao hơn cả những vị Bồ tát tự xưng là đang đi trên con đường viên đốn, đang đi ngang qua mười địa, đang đi vào tịnh độ, tại vì các vị này vẫn còn mang theo tâm niệm yêu thánh, ghét phàm, vẫn còn cái nhìn nhị nguyên, vẫn còn đi tìm cầu, chưa dừng lại được. Con người vô sự mới đích thực là con người đáng được chư thiên ca tụng, được địa thần nâng gót, được chư Bụt muôn phương xưng tán. Tại vì con người vô sự là con người hoàn toàn tự do, vô tướng, không làm dáng làm điệu, không cần để lại vết tích gì.

Con người vô sự này chính là Bụt, là Tổ đích thực. Ngay trong giờ phút này, con người (vô sự) ấy đang ở trên quê hương của mình, không cần đi tìm cầu gì nữa. Ngay trong giờ phút này, con người ấy có thể ứng thân hiện vật, thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, rong chơi nơi mọi cõi nước, và dù năm uẩn của mình vẫn còn là năm uẩn có sinh có diệt, người ấy vẫn có thể ngay trong giờ phút hiện tại, biểu diễn được phép thần thông là đi an lạc ngay trên mặt đất (địa hành thần thông). Người ấy không cần đi đâu hết, không cần phải ra khỏi tam giới. Tam giới đối với người ấy chỉ là quang ảnh. Người ấy có tự do cho nên người ấy thảnh thơi ngay tại nơi này, những yếu tố của tam giới là dục, sắc và vô sắc không động được người ấy.

Tổ Lâm Tế rất có ý thức là những lời nói của Tổ chỉ là những phương tiện đánh phá, cởi trói và trị bịnh nên Tổ không muốn chúng ta xem những lời nói ấy là khuôn vàng thước ngọc để học hỏi và tôn thờ. Tổ dạy rằng những lời Tổ nói chỉ là những bức vẽ được thực hiện trong hư không, chúng ta đừng bị kẹt vào chúng. Tổ dạy: Để độ đời, có khi ta phải mặc đủ thứ áo: áo thanh tịnh, áo giải thoát, áo giới luật, áo vô phân biệt… Thấy những chiếc áo ấy người ta phát sinh kiến giải rồi bị mắc kẹt vào những kiến giải ấy. Vì vậy có khi ta phải cởi hết áo ra, để cho người ta thấy được con người. Con người có thể mặc áo. Nhưng con người không phải là áo. Chỉ khi nào thấy được con người, ta mới tiếp xúc được với con người, và với con người trong ta, và chỉ lúc ấy ta mới buông bỏ được tất cả những gông cùm mình từng mang lấy xưa nay, những gông cùm do cổ nhân (Bụt, Tổ) thi thiết và đem tới. Thấy được con người thật, họ mới đạt được quả vị vô sự.

Không nên đi tìm Văn Thù trên Ngũ Đài Sơn, không nên đi tìm Quan Âm ngoài biển Nam Hải, không nên đi tìm Phổ Hiền ở Nga Mi Sơn. Các vị làm gì có mặt trên đó. Các vị đang có mặt tại đây, trong giờ phút này trước mặt chúng ta, trong tâm chúng ta. Phải tiếp xúc với các vị ngay trong giờ phút này. Nếu thất bại thì sẽ thất bại mãi mãi trong tương lai, tại vì Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm không có trong tương lai và không thể tiếp xúc được trong tương lai. Ta là kẻ đại trượng phu, tại sao ta phải đi tìm Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngoài ta. Ta chính là Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngay tại đây, trong giây phút hiện tại.

Từ bỏ sự tìm kiếm bên ngoài không phải là để bắt đầu một sự tìm kiếm bên trong. Cái mà ta tìm cầu bên ngoài đã không có thì bên trong làm gì có! Trong và ngoài chỉ là hai ý niệm. Động cũng không phải là nó mà Tĩnh cũng không phải là nó. Đừng tưởng Tĩnh là cửa ngỏ và bức màn vén cho ta thấy sự thật. Sự thật vượt ra ngoài động và tĩnh, vượt ra khỏi trong và ngoài. Công án cũng như mặc chiếu đều là sự tìm cầu, không thể đưa ta tới trạng thái vô sự.

Để độ người, ta có thể hoặc đoạt cảnh, hoặc đoạt nhân, hoặc đoạt cả cảnh và nhân, hoặc không cần đoạt cái gì hết. Đoạt cảnh là giúp cho người ta chấm dứt sự tìm cầu bên ngoài. Con chó có Phật tính không, đại ý của Phật pháp là gì, chủ ý của Tổ Đạt Ma là gì? Tất cả những cái ấy đều là bẫy sập. Tìm hiểu tất cả những cái đó không có ích lợi gì cho sự thực hiện tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân cả. Phải đoạt tất cả những cảnh đó. Nếu cần thì đánh. Nết cần thì hét. Nhưng học nhân có thể trở về và mắc kẹt vào chủ thể nhận thức, nghĩ rằng mình đã thoát được đối tượng nhận thức. Nhưng chủ thể làm gì có, nếu đối tượng không có? Cho nên đoạt cảnh xong cũng phải đoạt người. Đoạt cảnh mà giúp người ta đừng kẹt vào người thì hay rồi, nhưng nếu người ấy còn kẹt vào nội hướng, vào chủ thể thì phải đoạt luôn. Có khi đoạt người có thể giúp kẻ kia thoát luôn cả cảnh cùng một lúc. Đó là những phương tiện đánh phá, cởi trói, trị bệnh, có gì là thần kỳ bí hiểm?

Kiến giải chân chính không phải là kết quả của công phu nghiên tầm học hỏi. Kiến giải chân chính là cái thấy sâu sắc về tính không sinh không diệt, không người không ta, không có không không của vạn pháp. Thấy được là thấy ngay, không thấy được thì có nói qua nói lại nhiều lần cũng vô ích. Cho nên đệ nhất cú, câu khai thị đầu, là cơ hội duy nhất. Đánh mất cơ hội này thì đánh mất hết. Đệ nhị cú là sự vớt vát. Đệ nhị cú chỉ là sự an ủi. Đệ tam cú là sự thất bại hoàn toàn. Tứ liệu giản không có gì bí hiểm thì tam huyền, tam yếu cũng như tiếng hét và cây gậy, cũng không có gì là bí hiểm. Trong quá trình học hỏi và tu chứng, công phu tham vấn được dựa trên nguyên tắc chủ và khách. Chủ đáng lý là phải độ được khách. Chủ là người thiện tri thức và khách là người đến tham vấn. Có khi khách giúp được chủ. Có khi khách giúp được khách. Có khi chủ giúp được khách. Có khi chủ giúp được chủ. Có khi chủ và khách đều giúp được nhau. Có khi chủ và khách làm hại cho nhau. Đó là những trường hợp ta có thể nhận diện nếu ta có được trực giác của chánh kiến. Cũng không có gì là bí hiểm trong tứ tân chủ.

Tuệ giác không phải là kiến thức khái niệm. Tuệ giác có khả năng mang tới sống động và tự do trong giây phút hiện tại. Kiến thức không làm được việc ấy. Vì vậy cho nên không hiểu thì bị đòn đã đành mà hiểu cũng bị đòn như thường, nếu ‘hiểu’ chỉ là kiến thức suông mà không phải tuệ giác. Nếu thấy được điều này, ta có thể cảm thông được với những gì đang xảy ra trong các cuộc đối diện: Ta không nên cố tìm trong các mẫu đối thoại và hành xử (khám biện) ấy những tư tưởng đặc thù hoặc những ý chỉ sâu sắc. Những gì ta thấy đang xảy ra giữa các đương sự là cơ hội của họ. Nếu đứng ngoài mà quán sát ta sẽ không thấy được gì. Nếu ta bước vào trong, đem hết sự sống của ta ra tham dự thì ta có thể có một cơ hội để tuệ giác bừng mở. Nếu bước vào trong mà ta không cảm được một cái gì hết, thì có nghĩa là trường hợp đó không phải là trường hợp của ta, thế thôi. Cũng như khi ta đứng ngắm một bức tranh siêu thực, ta đừng cố tìm hiểu nghĩa lý. Ta đừng nói là ‘ta không hiểu’. Hiểu hay không hiểu ta cũng lãnh ba mươi gậy như thường. Tổ không có ý muốn khuyên ta chấm dứt sự học hỏi và thực tập giới, định và tuệ. Tổ chỉ muốn ta đừng mắc kẹt vào sự học hỏi và thực tập mà thôi. Học hỏi để trở thành học giả, tam tạng pháp sư, thuyết giảng thao thao bất tuyệt, Tổ không cần cái đó. Cái đó Tổ gọi là nghiệp địa ngục. Bản chất của nó là sự tìm cầu, không hẳn là sự tìm giải thoát mà là sự tìm cầu danh lợi. Ta cần học hỏi, ta cần hành trì, nhưng sự học hỏi và hành trì ấy phải có tác dụng giúp ta trở thành con người vô sự, con người giải thoát. Bằng không, những học hỏi và những thực tập đó chỉ là gông cùm.

Con người vô sự là con người tùy xứ tác chủ nên không phải là con người thụ động. Trái lại, người ấy luôn luôn đứng về phía chủ động. Ta không thể nào nói rằng: nếu người tu đạo không theo đuổi một chí hướng, không thao thức thực hiện một lý tưởng, không có mục đích theo đuổi, thì ai sẽ là người tế độ chúng sinh, cứu vớt những loài đang chìm đắm trong biển khổ? Bụt là một người vô sự, không tìm kiếm một cái gì. Nhưng Bụt là một người hoạt động độ sinh không ngừng nghỉ. Con người vô sự tuy rất tích cực trong việc giúp đời độ người, nhưng không bao giờ bị kéo theo hoàn cảnh và công việc, không bao giờ đánh mất mình trong mong cầu, trong dự án, trong công việc. Con người vô sự luôn luôn còn là mình, còn tự do, không bao giờ bị ‘burn out’ (hết xí quách), cho nên con người vô sự còn mãi thong dong. Tổ khuyên chúng ta: đừng chạy theo danh lợi, đừng chạy theo sự nghiệp, đừng bỏ thì giờ mua vui, đừng ham xây cất chùa lớn, đừng vận động làm tăng thống, đừng cố thi đậu bằng tiến sĩ, đừng mong cầu chức vụ đại thiền sư. Chỉ cần mỗi ngày một bát cơm, một manh áo, một chiếc giường nhỏ. Để thì giờ để sống thật với mình, để trở thành một con người vô sự, giải thoát thật sự. Tất cả những công phu học hỏi và tu tập đều phải giúp cho mình trở nên thong dong, đem lại hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Nếu không làm được như vậy, thì tất cả đều chỉ là gông cùm. Con người thật của ta, vô vị chân nhân, cũng như con người thật của Bụt, đang có mặt đích thật trong giờ phút hiện tại. Hãy trở về vận dụng cái tâm sáng chói với sáu đạo thần quang để nhận diện nó. Nó không phải là sáu trần đang mang tính thành, trú, hoại, không. Nó không phải là một vật, vì vậy gọi nó là một vật thì không đúng. Nhưng nó đang có mặt kia, và ta chỉ cần nhận diện nó.

 

 

Du hành

Trong thời gian còn tu học với tổ Hoàng Bích, sự tu tập của thiền sư rất thuần nhất. Vị thủ tọa có ý khen rằng tuy thầy thuộc về lớp sau nhưng thầy có những điểm đặc biệt. Thủ tọa hỏi:
– Thầy ở đây lâu chưa?
Thiền sư đáp:
– Được ba năm.
Thầy thủ tọa:
– Đã từng được tham vấn sư tổ chưa?
Thiền sư đáp:
– Con chưa từng tham vấn và cũng chẳng biết tham vấn về đề tài gì.
Thủ tọa bảo:
– Tại sao thầy không tới hỏi hòa thượng đường đầu ‘đại ý của Phật pháp là gì?’
Thiền sư liền tới hỏi tổ Hoàng Bích câu ấy. Hỏi chưa hết câu đã bị tổ đánh. Thiền sư trở về. Vị thủ tọa hỏi: ‘Sao?’
– Con chưa hỏi xong câu hỏi thì bị đánh. Con không hiểu tại sao.
– Vậy cứ tới hỏi lại lần thứ hai xem sao!
Thiền sư tới hỏi lần thứ hai. Và cũng bị tổ Hoàng Bích đánh. Như thế cho đến ba lần.
Thiền sư trở về hỏi vị thủ tọa:
– Cảm ơn Thủ tọa đã từ bi chỉ bảo cho con tới tham vấn hòa thượng, nhưng ba lần con hỏi là ba lần con bị hòa thượng đánh. Con tự hận là vì có nhiều chướng duyên nên không lãnh hội được ý chỉ sâu sắc của hòa thượng. Nay con xin giã từ đi nơi khác.
Thủ tọa nói:
– Nếu thầy đi thì nên tới từ giã hòa thượng trước khi đi.
Thiền sư lạy rồi rút lui. Vị thủ tọa tới hòa thượng thưa:
– Cái thầy còn trẻ tới tham vấn ấy có thể là một pháp khí tương lai đấy, vậy khi thầy ta tới từ giã xin hòa thượng dùng phương tiện để tiếp độ thầy ấy một chút. Trong tương lai thầy ấy có thể trở nên một cây đại thụ làm bóng mát cho rất nhiều người trong thiên hạ.
Khi thiền sư tới từ biệt tổ, tổ nói:
– Con không nên đi đâu cả, chỉ nên đi tới thầy Đại Ngu ở đầu sông Cao An mà thôi. Thầy Đại Ngu sẽ giúp con.
Thiền sư liền đi tới Đại Ngu. Đại Ngu nói: ‘Thầy từ đâu tới?’
Thiền sư nói: ‘Từ tu viện Hoàng Bích tới.’
Đại Ngu: ‘Hoàng Bích có nói gì không?’
Thiền sư:
– Ba lần tôi tới hỏi về đại ý Phật pháp, ba lần tôi bị đánh. Tôi không biết là tôi có lỗi hay không có lỗi.
Đại Ngu nói:
– Hoàng Bích như một bà ngoại từ mẫn đã hết lòng hết sức giúp thầy vượt qua những khó khăn, vậy mà thầy lại còn nói có lỗi hay không có lỗi!
Nghe thế, thiền sư đại ngộ. Thiền sư nói:
– Thì ra Phật pháp của hòa thượng Hoàng Bích đâu có gì ghê gớm lắm đâu!
Đại Ngu nói:
– Cái con quỷ đái dầm này, vừa than có lỗi không lỗi đó thì nay lại dám nói Phật pháp của Hoàng Bích không có gì là ghê gớm! Thầy thấy được cái gì, nói nghe xem, nói nghe xem!
Thiền sư mới thụi vào hông Đại Ngu ba cái. Đại Ngu đẩy thiền sư ra, nói:
– Thầy của ông là Hoàng Bích, chuyện này chẳng có dính líu gì đến tôi.
Thiền sư liền từ giã Đại Ngu trở về với tổ Hoàng Bích. Thấy thiền sư trở về, Hoàng Bích nói:
– Cái anh chàng này cứ đi đi về về như thế bao giờ mới chấm dứt?
Thiền sư nói:
– Chỉ vì hòa thượng từ bi quá nên con phải trở về.
Làm lễ xong, thiền sư đứng hầu một bên. Hoàng Bích hỏi:
– Đi đâu về thế?
– Mới đây theo lời dạy đầy tình thương của hòa thượng, con đã đến tham vấn Đại Ngu. Nay con mới về.
Hoàng Bích: ‘Đại Ngu có nói gì không?’
Thiền sư liền kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hoàng Bích nói:
– Cái lão Đại Ngu kia, đợi khi có dịp nắm được lão, ta sẽ đánh cho lão một trận.
Thiền sư liền nói:
– Đâu có cần đợi làm gì, hòa thượng? Hãy tiếp nhận ngay bây giờ đi.
Nói xong thiền sư liền thụi vào Hoàng Bích. Hoàng Bích la:
– Cái thằng điên này, dám tới hang cọp vuốt râu hùm hả?
Thiền sư bèn hét.
Hoàng Bích nói:
– Thị giả đâu, dẫn thằng khùng này vào trong tăng đường đi.
Sau này Quy Sơn có dịp kể lại chuyện này cho Ngưỡng Sơn và hỏi Ngưỡng Sơn:
– Hồi ấy Lâm Tế tiếp nhận năng lượng từ Đại Ngu hay từ Hoàng Bích?
Ngưỡng Sơn nói:
– Nếu không cỡi đầu cọp, thì làm sao vuốt được đuôi cọp?
Thiền sư đang trồng tùng. Tổ Hoàng Bích hỏi:
– Trong núi sâu trồng tùng làm gì nhiều thế?
Thiền sư đáp:
– Trước là để làm cảnh cho sơn môn, sau là để làm tiêu chuẩn cho các thế hệ tương lai.
Nói xong, thiền sư lấy cuốc dộng xuống đất ba lần.
Hoàng Bích nói:
– Tuy là vậy nhưng thầy cũng đã bị tôi cho ăn ba chục gậy rồi (là ít) đấy.
Thiền sư lại dộng cuốc xuống đất ba lần nữa, rồi rên lên ư ử. Hoàng Bích nói:
– Tông phong của ta đến thế hệ của ngươi sẽ được hưng thịnh lớn trên đời.
Sau này Quy Sơn lặp lại lời này hỏi Ngưỡng Sơn:
– Lúc ấy Hoàng Bích chỉ phó chúc cho một mình Lâm Tế hay còn phó chúc cho ai khác?
Ngưỡng Sơn:
– Còn chứ, nhưng tại vì hòa thượng quá lớn tuổi rồi nên tôi không nói làm chi đó thôi.
Quy Sơn nói:
– Tuy vậy tôi cũng muốn biết, thầy cứ nói xem.
Ngưỡng Sơn:
– Một người chỉ ngón tay về phương Nam, cả nước Ngô lẫn nước Việt đều tuân hành theo lệnh. Gặp gió lớn thì ngừng. (tiên đoán về hòa thượng Phong Huyệt)
Thiền sư một hôm đứng hầu thiền sư Đức Sơn. Đức Sơn nói:
– Hôm nay tôi mệt.
Thiền sư nói:
– Ông già này đang nói mơ gì đó?
Đức Sơn liền đánh.
Thiền sư lật đổ thiền sàng. Đức Sơn mới ngưng.
Thiền sư đang xới đất trong một buổi chấp tác toàn chúng, thì thấy Tổ Hoàng Bích tới, liền chống cuốc đứng yên. Hoàng Bích hỏi:
– Anh chàng này mệt rồi hả?
Thiền sư nói:
– Cuốc chưa nhấc lên mà mệt gì.
Hoàng Bích liền đánh thiền sư một cái. Sư giật lấy gậy của Hoàng Bích xô một cái, Hoàng Bích ngả xuống. Tổ Hoàng Bích gọi:
– Thầy Duy Na, thầy Duy Na, tới đỡ tôi dậy đi.
Thầy Duy Na tới gần nói:
– Tại sao hòa thượng lại để cho anh chàng điên này làm một điều vô lễ như thế?
Hoàng Bích đứng lên được rồi liền đánh thầy Duy Na. Thiền sư thấy thế dộng cuốc xuống đất và nói:
– Ở các nơi khác thì người ta hỏa táng. Còn ở đây thì chỉ chôn sống.
Sau này Quy Sơn có dịp hỏi Ngưỡng Sơn:
– Tại sao Hoàng Bích lại đánh vị Duy Na?
Ngưỡng Sơn:
– Tên giặc thiệt thì đã chạy mất, còn người đuổi giặc lại bị ăn đòn.
Có một hôm ngồi ở tăng đường, thiền sư thấy Tổ Hoàng Bích đến, liền nhắm mắt lại. Hoàng Bích giả làm bộ sợ, đi về phương trượng. Thiền sư đi theo về phương trượng lễ tạ. Lúc ấy có thầy thủ tọa đang đứng hầu bên tả Hoàng Bích. Hoàng Bích nói:
– Thầy này còn trẻ, nhưng là kẻ biết được vấn đề.
Thủ tọa nói:
– Chân hòa thượng không chấm đất, mà hòa thượng lại ấn chứng cho cái anh chàng trẻ này.
Tổ Hoàng Bích lấy tay tự vả vào miệng Tổ một cái. Thầy thủ tọa nói:
– Nếu hòa thượng biết thì không sao.
Thiền sư đang ngủ trong tăng đường. Hoàng Bích thấy thế, lấy gậy gõ vào thiền sàng một cái. Thiền sư ngửng đầu lên thấy Hoàng Bích, liền nhắm mắt ngủ lại. Hoàng Bích lại gõ thêm một tiếng, rồi đi lên lầu trên. Thấy vị thủ tọa đang ngồi thiền, Hoàng Bích nói:
– Lầu dưới, người trẻ đang ngồi thiền, tại sao trên này thầy còn ngồi với vọng tưởng?
Thủ tọa nói:
– Cái ông già này làm gì thế?
Hoàng Bích gõ thêm một cái trên thiền sáng rồi đi ra.
Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn câu chuyện Hoàng Bích vào tăng đường ấy có nghĩa gì. Ngưỡng Sơn nói:
– Một lá bài hai mặt.
Một hôm có buổi chấp tác của cả đại chúng, thiền sư đi sau. Tổ Hoàng Bích quay lại, thấy thiền sư tay không, hỏi:
– Cuốc để đâu?
Thiền sư nói:
– Có một người lấy đi mất rồi.
Hoàng Bích nói:
– Tới gần đây để cùng đàm luận.
Thiền sư đến gần. Đưa cuốc lên trời, Tổ nói:
– Cái này đây trong thiên hạ không ai giật khỏi tay ta.
Thiền sư liền giật lấy cuốc của Hoàng Bích, đưa lên và nói:
– Vậy tại sao bây giờ nó nằm trong tay con đây?
Hoàng Bích nói: ‘Hôm nay đã có rất nhiều người chấp tác rồi.’ Nói xong liền trở về tăng viện.
Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– Cây cuốc đang nằm trong tay Hoàng Bích tại sao lại vào tay Lâm Tế?
Ngưỡng Sơn:
– Giặc là tiểu nhân, nhưng nếu có trí, thì tiểu nhân có thể hơn người quân tử.
Thiền sư đem thư của Tổ Hoàng Bích cho Quy Sơn. Lúc ấy Ngưỡng Sơn làm tri khách. Tiếp thư, Ngưỡng Sơn hỏi:
– Cái này là thư của Hoàng Bích, còn thư của người đưa thư đâu?
Thiền sư liền thụi Ngưỡng Sơn một cái. Ngưỡng Sơn ôm lấy Thiền sư, nói:
– Sư anh biết được như thế là hay rồi, chúng ta hãy thôi đừng đối đáp nữa.
Và cả hai cùng đi tới Quy Sơn. Quy Sơn hỏi:
– Học chúng của sư anh Hoàng Bích có được bao nhiêu vị?
Thiền sư đáp: ‘Có bảy trăm vị.’
Quy Sơn: ‘Trong số ấy ai là người dẫn dắt?’
Thiền sư: ‘Người ấy vừa mới trao thư cho thầy đấy.’
Rồi thiền sư hỏi: ‘Ở đây hòa thượng có bao nhiêu vị trong học chúng?’
Quy Sơn nói: ‘Một ngàn năm trăm vị.’
Thiền sư nói: ‘Nhiều quá nhỉ!’
Quy Sơn nói: ‘Học chúng của sư anh Hoàng Bích ta cũng rất đông.’
Thiền sư chào từ giã Quy Sơn. Ngưỡng Sơn đưa Thiền sư ra, nói:
– Nếu mai này sư anh đi lên miền Bắc, sư anh sẽ có một chỗ cư trú.
Thiền sư nói: ‘Sao có thể như thế được?’
Ngưỡng Sơn nói:
– Cứ đi đi thì biết. Sau này sẽ có một người phụ tá cho sư anh, người này sẽ là có đầu mà không có đuôi, có thỉ mà không có chung.
Sau này thiền sư lên Trấn Châu quả gặp Phổ Hóa ở đấy. Khi thiền sư xuất hiện làm việc hóa độ, thì có Phổ Hóa phụ tá. Chưa ở với Phổ Hóa bao lâu thì Phổ Hóa đã đi, toàn thân không còn lưu dấu vết.
Giữa mùa an cư kết hạ, thiền sư đến thăm Tổ Hoàng Bích, thấy Tổ đang xem kinh. Thiền sư nói:
– Lâu nay con cứ tưởng thầy là một con người, ngờ đâu thầy chỉ là một vị hòa thượng già, đậu đen ngậm đầy miệng.
Thiền sư ở lại vài hôm rồi tới từ giã Tổ Hoàng Bích mà đi. Tổ nói:
– Nhà ngươi bỏ an cư tới đây là đã phá hạ, mà tới đây rồi lại không ở cho hết hạ lại còn bỏ đi.
Thiền sư nói:
– Con chỉ tạm đến đây vài ngày để thăm thầy thôi.
Hoàng Bích liền đánh và đuổi đi. Đi được vài dặm đường, thiền sư bỗng có nghi vấn về việc này, cho nên trở lại để ở cho hết hạ.
Hết hạ rồi, một hôm thiền sư đến từ giã Tổ Hoàng Bích. Tổ hỏi:
– Thầy đi đâu?
Thiền sư nói:
– Nếu không phải đi Hà Nam thì đi Hà Bắc.
Tổ liền đánh. Thiền sư nắm Tổ lại không cho Tổ đánh tiếp, rồi thụi Tổ một cái. Tổ cười lớn và gọi:
– Thị giả, đem thiền trượng và kỷ án của sư ông Bách Trượng đến đây cho ta.
Thiền sư nói:
– Thị giả, đem lửa tới đây cho ta.
Tổ Hoàng Bích nói:
– Nói gì thì cứ nói, nhưng con hãy mang những thứ này theo với con. Sau này con sẽ có thể ngồi trên lưỡi của thiên hạ cho xem.
Sau này, Quy Sơn có dịp hỏi Ngưỡng Sơn:
– Lâm Tế có hơi bất nghĩa với Hoàng Bích không?
Ngưỡng Sơn nói: ‘Không.’
Quy Sơn nói: ‘Nghĩa là thế nào?’
Ngưỡng Sơn nói: ‘Biết ơn mới có thể đền ơn.’
Quy Sơn nói:
– Từ xưa tới nay đã có trường hợp nào như thế chưa?’
Ngưỡng Sơn:
– Có chứ, nhưng chuyện đã xảy ra quá xưa rồi, mình không muốn nhắc đến.
Quy Sơn:
– Tuy nhiên tôi vẫn muốn nghe. Nói đi.
Ngưỡng Sơn:
– Trong hội Lăng Nghiêm, thầy Anan tán thán Bụt: ‘Đem hết thân tâm này ra để cứu độ chúng sinh trong các cõi nhiều như vi trần thì mới gọi là báo đáp được ân đức của Bụt.’ Đó chẳng phải là báo ân sao?
Quy Sơn nói:
– Đúng vậy! Đúng vậy! Cái thấy của mình ngang bằng cái thấy của thầy làm cho mình chỉ có được một nửa uy đức tâm linh của thầy. Cái thấy của mình nếu hơn cái thấy của thầy thì mình mới xứng đáng là sự tiếp nối của thầy.
Thiền sư đến thăm tháp của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Vị tháp chủ hỏi:
– Hòa thượng lễ Bụt trước hay lễ Tổ trước?
Thiền sư đáp:
– Tôi không lễ Bụt mà cũng không lễ Tổ.
Tháp chủ:
– Bụt và Tổ có oán cừu gì với hòa thượng mà hòa thượng không lễ?
Thiền sư liền phất tay áo ra đi.
Trong một chuyến hành cước, thiền sư ghé đạo tràng của thiền sư Long Quang. Khi Long Quang lên pháp đường, thiền sư ra hỏi:
– Không đưa mũi giáo ra, làm sao để chiến thắng?
Long Quang cứ ngồi yên. Thiền sư nói:
– Làm kẻ thiện tri thức lớn mà không thi triển phương tiện quyền xảo gì hết sao?
Long Quang trừng mắt nhìn thiền sư, nói: ‘Hừ!’
Thiền sư lấy tay chỉ Long Quang và nói:
– Ông già này hôm nay thua cuộc rồi!
Thiền sư đến Tam Phong. Hòa thượng Bình hỏi:
– Từ đâu tới?
– Từ đạo tràng Hoàng Bích.
Bình nói:
– Hoàng Bích có nói gì không?
Thiền sư nói:
Hôm qua trâu vàng lâm khốn đốn
Đến nay chửa thấy vết chân nào.
Bình nói:
Gió thu lồng sáo ngọc
Ai chính kẻ tri âm?
Thiền sư:
Vạn trùng quan san đà vượt thấu
Mà không ở lại chốn trời xanh.
Bình: ‘Câu hỏi của thầy hơi cao đấy.’
Thiền sư:
Rồng sinh ra Kim phụng
Phá vỡ trời lưu ly.
Bình: ‘Thôi ngồi xuống uống trà đi.’ Rồi hỏi:
– Mấy hôm trước đây, thầy ở đâu?
Thiền sư:
– Tôi ở đạo tràng Long Quang.
Bình: ‘Long Quang gần đây ra sao?’
Thiền sư liền bỏ đi ra.
Thiền sư đến viếng đạo tràng của thiền sư Đạo Từ. Đạo Từ đang ngồi trong phương trượng. Thiền sư hỏi:
– Ngồi yên trong thất thì thế nào?
Từ đáp:
Xanh xanh tùng đứng ngàn đông lạnh
Tay già hoa nở vạn miền xuân
Thiền sư:
Viên trí xưa nay từng siêu việt
Ba non mở được vạn trùng quan.
Từ bèn hét. Thiền sư cũng hét.
Từ hỏi: ‘Thế nào?’ Thiền sư phất tay áo bỏ ra.
Thiền sư đến Nhượng Châu, gặp thiền sư Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm giả bộ dựa trên chiếc gậy để ngủ. Thiền sư nói:
– Hòa thượng, ngủ làm gì?
Nghiêm nói:
– Vị thiền khách này không giống những vị thiền khách khác.
Thiền sư nói:
– Thị giả! Đem trà lại mời hòa thượng.
Thiền sư Hoa Nghiêm mới gọi thầy Duy Na tới, dặn:
– Sắp cho vị thượng tọa này ngồi ở ghế thứ ba.
Thiền sư đến thăm thiền sư Túy Phong. Túy Phong hỏi:
– Thầy từ đâu tới?
– Từ đạo tràng Hoàng Bích tới.
– Hoàng Bích có nói câu gì để khai thị cho người ta không?
– Hoàng Bích không nói câu gì cả.
– Tại sao lại không được?
– Dù có nói thì cũng không lặp lại được.
Túy Phong nói: ‘Cứ thử lặp lại xem.’
Thiền sư nói: ‘Một mũi tên bay vào trời Tây.’
Thiền sư đến thăm thiền sư Tượng Điền, hỏi:
– Không phải phàm mà cũng không phải thánh, thầy thấy sao nói liền đi.
Tượng Điền nói:
– Ông thầy già này chỉ như thế này thôi.
Thiền sư liền hét và nói:
– Một bọn trọc đầu đông đảo tới đây để mong tìm được cái chén bát nào?
Thiền sư đến thăm thiền sư Minh Hóa. Minh Hóa hỏi:
– Đi đi tới tới hoài như thế để làm cái gì?
Thiền sư nói:
– Chỉ để cho mòn đôi giép cỏ.
Minh Hóa hỏi:
– Cuối cùng để làm gì?
Thiền sư nói:
– Ông già này chẳng biết thế nào là trò chuyện cả sao?
Thiền sư đi thăm thiền sư Phụng Lâm, nửa đường gặp một bà già. Bà hỏi:
– Thầy đi đâu?
Thiền sư: ‘Tôi đi thăm Phụng Lâm.’
Bà nói: ‘Lúc này Phụng Lâm không có nhà.’
Thiền sư: ‘Thế Phụng Lâm đi đâu?’
Bà già bước đi. Thiền sư gọi: ‘Này bà!’ Bà quay đầu lại, thì bị thiền sư đánh.
Thiền sư tới Phụng Lâm. Phụng Lâm hỏi:
– Tôi có chuyện muốn hỏi. Được không?
Thiền sư nói:
– Làm sao xẻ thịt gây vết thương?
Lâm:
Biển lặng trăng không bóng
Cá đớp vì tự mê
Thiền sư:
Trăng biển đã không bóng
Cá lội làm sao mê?
Lâm:
Thấy gió biết sóng dậy
Nhìn nước biết buồm xuôi
Thiền sư:
Một vầng chiếu rọi non sông lĩnh
Cười lên một tiếng đất trời kinh
Lâm:
Muốn đem ba tấc soi trời đất
Đối cơ một cú nói lên xem
Thiền sư:
Gặp người kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải người thơ chẳng tặng thơ
Nghe như thế, Phụng Lâm mới thôi. Thiền sư lúc ấy lại nói một bài kệ tụng:
Đạo lớn đại đồng
Đừng ngó tây đông
Lửa đá không kịp
Chớp lòe chẳng thông.
(Sau này) Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– ‘Lửa đá không kịp, chớp lòe chẳng thông’, xưa nay các bậc thánh tăng lấy gì để giúp người?
Ngưỡng Sơn: ‘Thầy nghĩ sao?’
Quy Sơn: ‘Chỉ có ngôn thuyết, không có ý nghĩa gì thật.’
Ngưỡng Sơn nói: ‘Không phải thế đâu!’
Quy Sơn: ‘Vậy thì thầy hiểu thế nào?’
Ngưỡng Sơn nói:
– Chính thức, thì một cây kim không lọt vào được. Tư riêng thì xe ngựa đều có thể chạy qua.
Thiền sư đến thăm thiền sư Kim Ngưu. Trông thấy thiền sư, Kim Ngưu đưa ngang cây gậy ngồi xổm chận đường vào cửa. Thiền sư lấy gậy đập xuống ba cái và đi vào trong pháp đường, ngồi vào ghế thứ nhất. Kim Ngưu vào thấy thế hỏi:
– Thói thường thì khi chủ khách gặp nhau, mỗi người đều thực tập uy nghi. Thượng tọa từ đâu tới mà hành xử vô lễ như thế?
Thiền sư nói:
– Hòa thượng đang nói cái gì thế?
Kim Ngưu sắp mở miệng thì bị thiền sư đánh một cái. Kim Ngưu giả bộ ngả xuống. Thiền sư lại đánh thêm một cái nữa. Ngưu nói:
– Hôm nay tôi không gặp may.
Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– Trong hai vị tôn túc ấy có ai thắng ai bại không?
Ngưỡng Sơn nói:
– Thắng thì thắng hết, bại thì bại hết.
Lúc sắp thoát hóa, thiền sư ngồi trên đơn và nói:
– Sau khi tôi chết, đừng để cho chánh pháp nhãn tạng của tôi bị tiêu diệt, nghe không.
Thầy Tam Thánh bước ra thưa:
– Chúng con sẽ không dám làm cho chánh pháp nhãn tạng của thầy tiêu diệt đâu.
Thiền sư hỏi:
– Thế thì sau này có người đến hỏi thầy, thầy sẽ trả lời người ấy làm sao?
Tam Thánh liền hét.
Thiền sư nói:
– Có ai ngờ rằng chính con lừa mù này sẽ làm cho chánh pháp nhãn tạng của tôi bị tiêu diệt hay không?
Nói xong, ngồi đoan nghiêm mà thị tịch.
Thiền sư tên húy là Nghĩa Huyền, họ Hình, người Nam Hoa thuộc quận Tào Châu. Hồi còn nhỏ đã thông minh khác thường. Lớn lên nổi tiếng là có hiếu. Sau khi xuất gia rồi thọ Giới Lớn, được cư trú tại học viện, có dịp học hỏi và nghiên cứu giới luật, và bác lãm về Kinh Luận. Nhưng một hôm sư than thở: ‘Tất cả những thứ này đều là phương thuốc độ đời, không phải là tinh hoa được truyền lại từ ngoài kinh và giáo (giáo ngoại biệt truyền). Liền khoác áo du phương, ban đầu tới học với thiền sư Hoàng Bích. Sau đó lại đi yết kiến thiền sư Đại Ngu. Những cơ duyên và ngữ cú này đều có ghi chép ở phần hành lục. Sau khi được thiền sư Hoàng Bích ấn chứng, thiền sư liền tìm lên Hà Bắc, cư ngụ tại vùng Đông Nam thành Trấn Châu, tiếp cận bờ sông Hô Đà, trụ trì tại một thiền viện nhỏ. Tên Lâm Tế là do cuộc đất mà được đặt ra. Lúc bấy giờ thiền sư Phổ Hóa đã có mặt ở đấy rồi, khùng khùng điên điên trong nhân gian, là thánh hay phàm chẳng ai biết được. Thiền sư tới đó thì trước hết phụ tá cho Phổ Hóa. Khi sự nghiệp hóa độ của thiền sư bắt đầu hưng thịnh thì Phổ Hóa thoát hóa toàn thân, rất phù hợp với lời tiên đoán của thiền sư Ngưỡng Sơn về sự xuất hiện của một ‘Tiểu Thích Ca.’ Gặp thời chiến tranh, thiền sư liền bỏ nơi ấy ra đi. Quan Thái Úy Mạc Quân Hòa biến ngôi nhà trong thành của mình thành ra một ngôi chùa cũng lấy tên là chùa Lâm Tế và mời thiền sư đến cư trú ở đấy.
Sau đó thiền sư phất áo đi về phương Nam tới phủ Hà Bắc. Quan Thường Thị họ Vương là phủ chủ đã tôn kính tiếp mời thiền sư như một vị đạo sư của mình.
Ở đấy không lâu, thiền sư về chùa Hưng Hóa ở phủ Đại Danh và ở tại tăng đường phía Đông. Một hôm, không bệnh tật gì, thiền sư vén áo ngồi yên, nói chuyện với đệ tử là Tam Thánh vài câu, rồi im lặng qua đời. Đó là ngày mồng mười tháng giêng năm Đinh Hợi, niên hiệu Hàm Thông thứ tám đời Đường. Môn đồ đem toàn thân thiền sư nhập tháp ở phía Tây Bắc phủ Đại Danh. Vua sắc ban cho thiền sư tên thụy là Tuệ Chiếu Thiền Sư, tháp hiệu là Trừng Linh.
Nay chắp tay cúi đầu ghi lại đại lược.
Tiểu sư nối dòng pháp là Bảo Thọ ở Trấn Châu hiệu là Diên Chiểu kính ghi chép.

Đối trị căn cơ

Quan Phủ Thường Thị họ Vương cùng với các quan thỉnh thiền sư lên pháp tọa. Thiền sư bước lên nói: ‘Hôm nay vì việc bất đắc dĩ thuận theo nhân tình cho nên tôi mới lên ngồi trên pháp tòa này. Nếu nói đến chuyện chính thức đề xuống việc lớn của truyền thống tổ tông Thiền, tôi sẽ không thể mở miệng ra được và quý vị cũng sẽ không biết đặt chân vào đâu. Nhưng hôm nay vì quan Thường Thị cứ thỉnh cầu mãi thì làm sao tôi còn có thể dấu kín được tông chỉ cương yếu của Thiền? Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao?
Có một vị xuất gia bước ra hỏi:
– Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư hét.
Vị xuất gia kia lạy.
Thiền sư nói:
– Ông thầy này có thể nói chuyện được đấy.
Một vị khác hỏi:
– Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào, và tiếp nối tông phong của ai?
Sư đáp:
– Ngày xưa hồi tôi còn ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi đặt câu hỏi, ba lần bị đánh.
Vị này suy nghĩ. Sư liền hét. Sau đó sư còn đánh thêm cho một cái và nói:
– Thầy đừng có mong đóng cọc trong hư không.
Có vị tọa chủ lên hỏi:
– Giáo lý của ba thừa và của mười hai thể tài không lý không làm sáng lên được tính Bụt trong ta?
Thiền sư nói:
– Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới.
Tọa chủ thưa:
– Không có lý Bụt lại đánh lừa người?
Sư hỏi:
– Bụt ở đâu?
Vị tọa chủ không nói được.
Sư bảo:
– Có quan Thường Thị ở đây mà thầy lại muốn gạt ông thầy tu già này hả? Rút lui mau, rút lui mau! Để chỗ cho người khác hỏi.
Thiền sư lại nói:
– Vì việc lớn cho nên chúng ta mới thiết lập ra buổi tiệc pháp hôm nay. Còn ai muốn hỏi hay nói gì nữa không? Hãy mau ra đây. (Tôi nói trước cho quý vị biết) khi quý vị vừa mở miệng ra, thì quý vị đã đánh mất cái liên hệ rồi. Tại sao? Quý vị có nghe đức Thế Tôn nói rằng ‘pháp không dính tới văn tự, không thuộc nhân cũng không do duyên’ hay không? Chỉ vì đức tin của quý vị nơi tự thân còn chưa tới, cho nên hôm nay chúng ta chỉ có được những giây leo ký sinh (những lời nói lẻ), chỉ có tác dụng làm ủng trệ cái tâm của quan Thường Thị và của các quan khác, và làm cho Phật tính của quý vị ấy thêm lu mờ. Tốt hơn là nên rút lui.
Rồi thiền sư hét lên và nói: ‘Những người niềm tin bạc nhược kia ơi, bỏ ra cả ngày để chỉ nói qua nói lại như vậy cũng vô ích thôi! Quý vị đứng lâu mỏi chân rồi, vậy xin tạm biệt!’
Có lần thiền sư đến Hà phủ. Quan Thường Thị họ Vương thỉnh thiền sư lên pháp tòa.
Lúc bấy giờ có thầy Ma Cốc bước ra hỏi:
– Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính?
Thiền sư nói:
– Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính? Nói mau, nói mau!
Ma Cốc kéo thiền sư xuống tòa rồi tự ngồi lên trên tòa. Thiền sư đến gần, nói: ‘Thầy có khỏe không?.’ Ma Cốc còn đang lưỡng lự thì thiền sư kéo Ma Cốc xuống, rồi tự ngồi lên. Ma Cốc đi ra khỏi pháp đường. Thiền sư cũng đi xuống.
Một hôm thiền sư lên pháp đường nói:
– Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không có vị trí, thường đi ra đi vào ngay trước cửa mặt của quý vị. Ai chưa thấy được thì hãy nhìn kỹ xem, nhìn kỹ xem!
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia đi lên, hỏi:
– Con người thật không có vị trí là gì?
Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, nắm lấy vị ấy, bảo:
– Thầy nói đi, thầy nói đi (con người thật không có vị trí là gì?)
Vị ấy lưỡng lự. Thiền sư bèn thả vị ấy ra rồi nói:
– Con người thật không có vị trí là cái cọng cứt khô gì?
Nói xong liền quay về phương trượng.
Thiền sư vừa lên pháp đường thì có một vị xuất gia ra lạy. Sư hét. Vị xuất gia nói:
– Xin lão hòa thượng đừng thử con.
Thiền sư hỏi:
– Thầy nói tôi nghe đi, cái (tiếng hét) ấy đã rơi vào đâu?
Vị xuất gia liền hét.
Có một vị thầy khác lên hỏi:
– Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư hét. Thầy ấy lạy. Thiền sư hỏi:
– Khuyết điểm là ở chỗ nào?
Thầy ấy nói:
– Nếu tái phạm sẽ không tha thứ lần nữa.
Thiền sư liền hét.
Hôm ấy hai vị thủ tọa của hai thiền đường vừa thấy nhau thì đồng thời cùng hét. Có một thầy hỏi thiền sư:
– Trong trường hợp này có chủ có khách đàng hoàng không?
Thiền sư nói:
– Chủ khách rõ ràng đó.
Và thiền sư nói:
– Đại chúng, nếu quý vị muốn biết về nguyên tắc tứ tân chủ thì hãy tới hỏi hai vị thủ tọa hai thiền đường.
– Nói xong thiền sư bước xuống.
Thiền sư lên pháp đường, có một vị xuất gia hỏi:
– Đại ý Phật pháp là gì?
Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có một vị xuất gia khác lên hỏi:
– Đại ý Phật pháp là gì?
Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự, liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
– Này đại chúng, người vì pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm về trước hồi còn ở với tiên sư Hoàng Bích, ba lần tới hỏi về đại ý Phật pháp ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngãi cứu (armoise) vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy thì ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong chúng đi lên, nói:
– Con đây có thể làm được việc ấy.
Thiền sư cầm gậy đưa cho vị kia. Vị kia ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Thiền sư lên pháp đường, có vị xuất gia hỏi:
– Chuyện đầu lưỡi gươm bén là chuyện gì vậy?
Thiền sư nói:
– Nguy rồi! Nguy rồi!
Vị kia lưỡng lự, liền bị thiền sư đánh cho một cái.
Lại có người hỏi:
– Trong trường hợp người hành giả Thạch Thất giả gạo, giây phút anh ta quên mất việc dậm chân xuống chày thì anh ta đi đâu?
Thiền sư nói:
– Chìm xuống suối sâu.
Thiền sư lại nói:
– Dù có ai tới với tôi đi nữa thì tôi cũng không phụ lòng người ấy. Luôn luôn tôi biết kẻ ấy từ đâu tới. Nếu người ấy tới với tư thế ấy, thì người ấy cũng giống như tự đánh mất mình, nếu người ấy không tới với tư thế ấy, thì cũng như không có dây mà người ấy tự trói mình. Này quý vị, bất cứ lúc nào cũng vậy, đừng có đắn đo suy nghĩ loạn lên như thế. Hiểu hay không hiểu đều là sai lầm. Tôi nói huỵch toẹt ra như thế đó. Thiên hạ có nói hành tôi thì cứ nói, không sao. Quý vị đứng lâu mỏi chân rồi, xin hẹn dịp khác!
Thiền sư lên pháp đường, và khai thị:
– Một người đứng trên chót vót đỉnh cô phong không có đường ra, còn một người đứng giữa ngã tư không tiến thối được. Giữa hai kẻ ấy, ai tới trước, ai tới sau? Đừng giả bộ làm Duy Ma Cật cũng đừng đóng vai Phó đại sĩ. Xin chào quý vị.
Thiền sư lên pháp đường, nói:
– Có một người đang mãi mãi ở ngoài đường mà chưa hề lìa khỏi nhà cửa, có một người đã lìa nhà cửa, nhưng mà không đang ở ngoài đường. Trong hai người ấy, ai là kẻ đáng được thiên và nhân cúng dường?
Nói xong liền bước xuống.
Thiền sư lên pháp đường. Có vị xuất gia hỏi:
– Câu nói thứ nhất là gì?
Thiền sư đáp:
ấn tam yếu nhấc ra, điểm son rõ
Không hề lưỡng lự, chủ khách phân.
– Còn câu nói thứ hai?
Diệu giải ngại gì câu vấn đáp
Cơ quan thi thiết chẳng ngăn dòng.
– Còn câu nói thứ ba?
Hãy nhìn con rối đang trình diễn
Có người dây kéo núp bên trong.
Thiền sư lại nói:
– Một câu nói phải có đủ ba huyền môn. Một huyền môn phải có đủ ba yếu lĩnh. Phải có quyền phải có dụng. Các vị hiểu như thế nào?
Nói xong, thiền sư bước xuống.
Tổ Hoàng Bích vào nhà bếp, hỏi thầy đầu bếp:
– Thầy làm gì đó?
Thầy đầu bếp trả lời:
– Con đang nhặt gạo cho chúng tăng.
Tổ Hoàng Bích hỏi:
– Mỗi ngày ăn nhiều ít?
Thầy đầu bếp nói:
– Hai thạch rưỡi.
Tổ Hoàng Bích:
– Như thế có nhiều quá hay không?
Thầy đầu bếp:
– Vậy mà còn sợ thiếu đấy.
Tổ Hoàng Bích liền đánh thầy đầu bếp một cái.
Thầy đầu bếp thuật chuyện này cho thiền sư Lâm Tế nghe. Thiền sư nói:
– Tôi sẽ hỏi ông già cho thầy về việc này.
Thiền sư vừa đến đứng bên tổ Hoàng Bích thì tổ liền kể lại câu chuyện. Thiền sư nói:
– Thầy đầu bếp không hiểu, xin hòa thượng cho một câu trả lời để con chuyển lại cho thầy ấy.
Rồi thiền sư hỏi:
– Như thế có nhiều quá hay không?
Tổ Hoàng Bích nói:
– Tại sao (thầy ấy) không nói ngày mai lại phải ăn thêm một bữa nữa?
Thiền sư nói:
– Nói ngày mai mà làm gì? Phải ăn ngay ngày hôm nay chứ!
Nói xong thiền sư đánh tổ một cái. Tổ Hoàng Bích nói:
– Cái thằng điên này hôm nay dám tới đây vuốt râu hùm hả?
Thiền sư liền hét và đi ra.
Sau đó có dịp Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn về chuyện này:
– Hai vị tôn túc kia nói với nhau như thế là có ý gì?
Ngưỡng Sơn:
– Thầy nghĩ gì?
Quy Sơn nói:
– Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.
Ngưỡng Sơn nói:
– Không phải vậy đâu.
Quy Sơn nói:
– Vậy thì sao?
Ngưỡng Sơn nói:
– Cái đó cũng nghiêm trọng chẳng khác như đưa giặc về phá nhà.
Thiền sư hỏi một vị xuất gia:
– Thầy từ đâu tới?
Vị này hét.
Thiền sư liền chào và mời vị kia ngồi xuống. Vị kia lưỡng lự, bèn bị thiền sư đánh.
Thiền sư thấy một vị xuất gia đến, liền nâng phất trần lên. Vị xuất gia làm lễ, liền bị thiền sư đánh.
Lại một vị xuất gia khác đến, thiền sư cũng nâng phất trần lên. Vị này tỏ ra không quan tâm đến. Thiền sư cũng đánh vị này luôn.
Một hôm, thiền sư cùng thiền sư Phổ Hóa đi phó trai tại nhà một thí chủ.
Thiền sư hỏi:
– Sợi lông nuốt cả biển cả, hạt cải đựng được núi Tu Di, đó là diệu dụng thần thông, hay sự thực vốn là như thế?
Phổ Hóa kéo đổ cả mâm cơm. Thiền sư nói:
– Sao mà thô tháo như thế? (Sao không có uy nghi tế hạnh gì cả?)
Phổ Hóa nói:
– Đây là đâu mà nói thô nói tế?
Ngày hôm sau thiền sư lại cùng Phổ Hóa đi phó trai. Thiền sư lại hỏi:
– Hôm nay thức ăn cúng dường cũng tương tợ như hôm qua, phải không?
Phổ Hóa cũng kéo đổ bàn cơm như hôm trước. Thiền sư nói:
– Được thì được đấy, nhưng mà thô tháo thì vẫn rất thô tháo.
Phổ Hóa nói:
– Đồ đui! Trong Phật pháp thì có gì là thô có gì là tế?
Thiền sư bèn le lưỡi.
Một hôm đó, thiền sư cùng với hai vị trưởng lão Hà Dương và Mộc Tháp ngồi sưỡi chân trong tăng đường. Thiền sư nói:
– Ngày nào Phổ Hóa cũng làm kẻ điên ngoài phố chợ. Chẳng biết ông ta là phàm hay là thánh.
Ngay lúc ấy Phổ Hóa đi vào. Thiền sư liền hỏi:
– Thầy là phàm hay là thánh?
Phổ Hóa nói:
– Thầy hãy nói đi: tôi là phàm hay là thánh?
Thiền sư hét. Phổ Hóa lấy tay chỉ ba người và nói:
– Hà Dương là cô dâu mới, Mộc Tháp là thiền lão bà, còn Lâm Tế là một đứa bé con, nhưng nó lại có được một con mắt.
Thiền sư nói:
– Tên giặc này!
Phổ Hóa vừa đi ra vừa kêu: Có giặc! Có giặc!
Một hôm Phổ Hóa đang ăn bắp cải sống ở tăng đường. Thiền sư liền nói:
– Lớn như một con lừa!
Phổ Hóa liền giả tiếng lừa kêu. Thiền sư nói:
– Tên giặc này!
Phổ Hóa vừa đi ra vừa kêu: Có giặc! Có giặc!
Phổ Hóa thường đi rung chuông ngoài phố chợ và nói:
– Phía sáng tới thì đánh phía sáng, phía tối đến thì đánh phía tối, bốn phương tám hướng đến, thì xoay vần mà đánh, hư không đến thì ta đây đánh hết mình.
Thiền sư sai một vị thị giả đi, dặn khi nghe Phổ Hóa nói như thế thì níu thầy ấy lại và hỏi: ‘Nếu không có cái gì tới thì sao?’ (Vị thị giả làm y như thế). Phổ Hóa đẩy thị giả ra và nói:
– Ngày mai sẽ có trai tăng ở Đại Bi Viện.
Nghe kể lại câu chuyện, thiền sư nói:
– Xưa nay mình vẫn nghi cái anh chàng này.
Có một vị lão túc tới tham vấn, không làm lễ chào hỏi cũng không vấn an. Vị này hỏi:
– Làm lễ là phải hay không làm lễ phải?
Thiền sư hét. Vị lão túc làm lễ. Thiền sư nói:
– Hay thay, bọn giặc cỏ này.
Vị lão túc la: ‘Giặc cỏ! Giặc cỏ!’ Và đi ra.
Thiền sư nói:
– Đừng nói vô sự là tốt.
Lúc bấy giờ có một vị thủ tọa đang đứng hầu một bên thiền sư. Thiền sư hỏi:
– Có lỗi hay không có lỗi?
Vị thủ tọa đáp:
– Cả hai đều có lỗi.
Thiền sư hỏi:
– Lỗi ở chỗ nào?
Vị thủ tọa đi ra.
Thiền sư nói:
– Đừng nói vô sự là tốt.
Sau này có người kể lại câu chuyện với Nam Tuyền. Nam Tuyền phê bình:
– Ngựa quan đạp nhau.
Nhân vào phó trai ở một doanh trại của quân đội, thiền sư gặp một viên sĩ quan đứng đón ở cửa. Trỏ vào một cây cột trần, thiền sư hỏi:
– Cái này là phàm hay thánh?
Vị sĩ quan không nói được.
Thiền sư đánh vào cây cột trần và nói: ‘Dù có nói được hay không thì nó cũng chỉ là một cây cột gỗ.’ Bèn đi vào.
Thiền sư hỏi viện chủ: ‘Thầy vừa từ đâu về?’
Viện chủ: ‘Đi ra quận bán lúa về.’
Thiền sư: ‘Bán được hết không?’
Viện chủ: ‘Bán được hết.’
Thiền sư lấy gậy vạch một đường trước mặt, hỏi:
– Bán được cái này không?
Viện chủ hét. Thiền sư đánh.
Vị điển tọa tới. Thiền sư kể lại câu chuyện. Vị điển tọa nói:
– Viện chủ không hiểu được ý của hòa thượng.
Thiền sư nói:
– Còn thầy, thầy hiểu không?
Điển tọa nghiêng mình làm lễ, cũng bị thiền sư đánh luôn.
Có vị tọa chủ (giảng sư) tới thăm viếng, thiền sư hỏi:
– Tọa chủ giảng những kinh luận nào?
Tọa chủ:
– Con còn dở lắm, chỉ giảng sơ sài được luận Bách Pháp Minh Môn.
Thiền sư nói:
– Có kẻ thông suốt cả giáo lý ba thừa và mười hai thể tài, lại có kẻ không biết gì về giáo lý tam thừa và mười hai thể tài, hai kẻ ấy giống nhau hay khác nhau?
Tọa chủ nói:
– Hiểu được thì giống nhau, không hiểu được thì khác nhau.
Lúc ấy Lạc Phổ đứng sau lưng làm thị giả, nói:
– Thưa tọa chủ, ở đây là đâu mà nói giống nhau hay khác nhau?
Thiền sư quay lại hỏi:
– Thị giả, vậy thì chú nghĩ sao?
Thị giả liền hét. Sau khi tiễn tọa chủ đi, thiền sư hỏi thị giả:
– Hồi nảy chú hét tôi hả?
Thị giả nói: ‘Vâng.’ Thiền sư bèn đánh thị giả.
Thiền sư nghe Đức Sơn đời thứ hai có nói: ‘Nói được thì lãnh ba mươi gậy, không nói được cũng lãnh ba mươi gậy’, bèn sai Lạc Phổ đi đến, dặn rằng:
– Sau khi hỏi: ‘Nói được sao cũng lãnh 30 gậy?’, chú hãy đợi cho Đức Sơn đánh thì hãy giật gậy và đẩy cho ông ta một cái mạnh, xem ông ta hành xử ra sao?
Lạc Phổ làm y như lời dặn. Đức Sơn thấy thế liền rút vào phương trượng. Lạc Phổ về thuật lại cho thiền sư hay. Thiền sư nói:
– Từ trước tới nay, ta đã từng nghi ông già ấy. Tuy nhiên, chú thấy thế nào?
Lạc Phổ còn đang lưỡng lự thì bị thiền sư đánh.
Quan Thường Thị họ Vương một hôm đến thăm thiền sư. Hai người cùng đứng trước tăng đường nhìn vào. Quan hỏi:
– Các thầy ở đây có học kinh không?
Thiền sư nói: ‘Không học kinh.’
Quan hỏi:
– Vậy các thầy có học thiền không?
Thiền sư nói: ‘Cũng không học thiền.’
Quan hỏi:
– Kinh cũng không học, thiền cũng không học, thì làm cái gì nữa?
Thiền sư nói:
– Tôi chỉ dạy họ làm Bụt làm Tổ thôi.
Quan Thường Thị nói:
– Bụi vàng tuy quý, nhưng rơi vào mắt cũng xốn lắm.
Thiền sư bảo:
– Vậy mà xưa nay tôi cứ ngỡ ông là một kẻ tầm thường.
Thiền sư hỏi Hạnh Sơn:
– Thế nào là khoảng đất trống và con trâu trắng?
Hạnh Sơn rống ra tiếng trâu!
Thiền sư: ‘Thầy câm hả?’
Hạnh Sơn nói: ‘Còn hòa thượng thì sao?’
Thiền sư nói: ‘Con vật này!’
Thiền sư hỏi Lạc Phổ:
– Lâu nay, một người dùng gậy, một người dùng tiếng hét. Người nào thân thiết hơn?
Lạc Phổ:
– Cả hai đều không thân thiết.
Thiền sư hỏi:
– Thầy hiểu nghĩa chữ thân thiết thế nào?
Lạc Phổ hét, và bị thiền sư đánh.
Thấy một vị xuất gia đến, thiền sư đưa hai tay ra. Vị xuất gia không nói gì. Thiền sư hỏi: ‘Thầy có hiểu không?’
Vị xuất gia: ‘Con không hiểu.’
Thiền sư nói: ‘Núi Côn Lôn khó mở, ta cho ngươi hai đồng.’
Đại Giác đến tham vấn. Thiền sư đưa phất trần lên. Đại Giác trải tọa cụ. Thiền sư ném phất trần xuống đất. Đại Giác liền lấy tọa cụ lên, đi vào tăng đường.
Trong chúng các thầy bàn với nhau:
– Thầy này có quen thân gì với thiền sư của chúng mình không, tại sao không lễ bái mà cũng không bị ăn đòn?
Nghe nói thế, thiền sư cho gọi Đại Giác đến. Thiền sư nói:
– Đại chúng đây nói rằng thầy chưa chào hỏi tôi.
Đại Giác trả lời:
– Thiền sư mạnh giỏi không?
Rồi trở vào với chúng.
Trong thời gian hành cước, thiền sư Triệu Châu có dịp ghé lại thăm thiền sư, gặp lúc thiền sư đang rửa chân. Triệu Châu hỏi:
– Mục đích của Bồ Đề Đạt Ma qua đây là gì?
Thiền sư nói:
– Đúng vào lúc tôi đang rửa chân.
Triệu Châu tới gần ghé tai làm bộ nghe. Thiền sư nói:
– Bây giờ tôi phải lại đổ thêm một chậu nước dơ nữa hay sao?
Triệu Châu liền bỏ đi.
Có thượng tọa Định đến tham vấn, hỏi:
– Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, nắm lấy thượng tọa Định, đánh cho thượng tọa một cái, rồi thả thượng tọa ra. Thượng tọa Định đứng yên.
Có một vị xuất gia đứng đó nói:
– Thượng tọa Định, sao không lạy xuống đi!
Thượng tọa Định lạy xuống thì bỗng dưng đại ngộ.
Ma Cốc đến tham vấn, vừa trải tọa cụ vừa hỏi:
– Mười hai mặt của Quan Âm, mặt nào là mặt chính?
Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, một tay nắm tọa cụ, một tay kéo Ma Cốc tới gần, hỏi:
– Quan Âm mười hai mặt bây giờ đang đi đâu?
Ma Cốc xoay mình lại, định lên thiền sàng ngồi thì thiền sư nắm lấy gậy định đánh. Ma Cốc giật gậy. Cả hai sau đó cùng nắm gậy đi vào phương trượng.
Thiền sư hỏi một thầy:
– Có lúc tiếng hét giống như lưỡi gươm báu của Kim Cương Vương ; có lúc tiếng hét giống như sư tử lông vàng đang ngồi xổm ; có lúc tiếng hét giống như chiếc sào dò bóng cỏ ; có lúc tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét. Thầy hiểu không?
Vị xuất gia lưỡng lự, liền bị thiền sư đánh.
Thiền sư hỏi một ni sư:
– Thiện lai hay ác lai?
Ni sư hét. Thiền sư cầm gậy nói:
– Nói đi, nói đi!
Ni sư hét thêm một tiếng thứ hai nhưng vẫn bị thiền sư đánh.
Long Nha hỏi:
– Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn độ qua có mục đích gì?
Thiền sư nói:
– Đem thiền bản lại đây cho ta.
Long Nha đưa thiền bản. Thiền sư tiếp lấy thiền bản và đánh Long Nha. Long Nha:
– Đánh thì cứ đánh nhưng mục đích của tổ sư vẫn chưa thấy rõ ràng.
Sau đó, Long Nha đến thăm Thúy Vi, và hỏi:
– Tổ sư từ Ấn độ qua có mục đích gì?
Thúy Vi nói:
– Đem bồ đoàn lại đây cho ta.
Long Nha đưa bồ đoàn. Thúy Vi tiếp lấy bồ đoàn và đánh Long Nha. Long Nha nói:
– Đánh thì đánh nhưng mục đích của tổ sư cũng vẫn chưa thấy rõ ràng.
Sau này, Long Nha làm Viện chủ, có một vị xuất gia đi vào thiền thất hỏi:
– Trong thời gian hòa thượng đi hành cước có tham vấn hai vị tôn túc, vậy hòa thượng có công nhận (tuệ giác) của hai vị ấy không?
Long Nha nói:
– Công nhận thì có công nhận, nhưng mục đích của tổ sư vẫn chưa thấy rõ ràng như thường.
Đồ chúng của thiền sư Kỉnh Sơn có tới 500 vị, nhưng trong số ấy có rất ít người đến tham thỉnh thiền sư. Tổ Hoàng Bích phái thiền sư đến thăm Kỉnh Sơn. Trước khi đi, tổ hỏi:
– Con đến đấy sẽ làm gì?
Thiền sư nói:
– Đến đó con mới biết sẽ làm gì.
Đến nơi, còn mang nguyên áo nón du hành, thiền sư đi thẳng vào pháp đường để gặp Kỉnh Sơn. Kỉnh Sơn vừa ngửng đầu lên thì thiền sư liền hét. Kỉnh Sơn vừa mở miệng chưa kịp nói gì thì thiền sư đã phất tay áo đi ra.
Ngay sau đó có một thầy hỏi Kỉnh Sơn:
– Cái ông thầy kia mới tới, có nói qua nói lại gì với hòa thượng không mà hét như vậy?
Kỉnh Sơn nói:
– Thầy ấy từ đạo tràng của Hoàng Bích tới đấy. Nếu muốn biết thì đi hỏi ông ta đi.
Năm trăm đồ chúng của Kỉnh Sơn sau đó bị phân tán quá hơn một nửa.
Một hôm ngoài phố chợ, Phổ Hóa ngỏ lời xin chiếc áo một tấm. Ai cũng cho áo, nhưng Phổ Hóa không nhận. Nghe vậy thiền sư bảo viện chủ mua cho Phổ Hóa một chiếc quan tài. Lúc Phổ Hóa về, thiền sư nói:
– Tôi vừa mới may cho thầy một chiếc áo một tấm rồi đó.
Phổ Hóa liền vác chiếc quan tài đi qua phố chợ, nói:
– Lâm Tế vừa may cho tôi một chiếc áo một tấm. Bây giờ tôi sẽ đi ra cửa Đông để thoát hóa hình hài này.
Người ngoài chợ đi theo Phổ Hóa để xem. Nhưng tới nơi Phổ Hóa lại nói:
– Ngày hôm nay tôi chưa thoát hóa đâu. Ngày mai tôi sẽ thoát hóa tại cửa Nam.
Ngày hôm sau Phổ Hóa cũng nói là chưa thoát hóa, đợi ngày hôm sau nữa mới thoát hóa ở cửa khác. Ba ngày như vậy nói mà không làm nên không còn ai tin nữa. Đến ngày thứ tư chẳng có ai đi theo, Phổ Hóa một mình đi ra ngoài thành phố, tự nằm vào trong quan tài và đậy nắp lại, nhờ một người qua đường đóng đinh áo quan. Tin tức chuyền đi, lập tức người trong thành phủ đổ ập tới rất đông. Họ đòi mở quan tài ra. Nắp quan tài mở ra thì không thấy Phổ Hóa trong ấy nữa. Người ta chỉ nghe tiếng chuông rung trong hư không càng lúc càng xa.
Trong một buổi tham vấn chiều, thiền sư khai thị: ‘Có lúc đoạt người không đoạt cảnh, có lúc đoạt cảnh không đoạt người, có lúc đoạt cả người cả cảnh, có lúc không đoạt người cũng không đoạt cảnh.’
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia hỏi: ‘Đoạt người không đoạt cảnh là sao?’
Thiền Sư đáp: ‘Nắng dậy gấm thêu đầy mặt đất
Hài nhi tóc rủ bạc như tơ.’
Hỏi tiếp: ‘Đoạt cảnh không đoạt người là sao?’
Thiền Sư đáp: ‘Lệnh vua truyền khắp trong thiên hạ
Biên thùy tướng sĩ khói mây tan.’
Hỏi: ‘Còn đoạt cả người cả cảnh là sao?’
Thiền Sư đáp: ‘Hai quận Biện Phần không liên lạc
Dân chúng một mình một cõi riêng.’
Hỏi: ‘Còn không đoạt người cũng không đoạt cảnh là sao?
Thiền Sư đáp: ‘Vua bước lên điện báu
Ông già quê hát ca.’

Dạy chúng

 

1- Thiền Sư dạy:

– Thời bây giờ, người học Phật cần phải có chánh kiến. Có chánh kiến rồi thì sinh tử không còn động được tới mình nữa, lúc ấy ở và đi đều tự do, không cần đi tìm cái siêu việt mà cái siêu việt tự tìm tới mình. Này các bạn tu (đạo lưu), các vị cổ đức ngày xưa vị nào cũng đều có hiến tặng con đường thoát cho người, còn chỗ chỉ dạy của ông thầy tu núi này chỉ là khuyên các vị đừng có để cho người ta làm mê hoặc. Sử dụng được lời khuyên này thì hãy sử dụng liền, đừng có chần chừ nghi hoặc. Người tu học thời nay nếu không thành đạt được, đó là vì sao? Đó là vì họ không có đức tự tin. Bởi vì quý vị không đủ đức tự tin cho nên quý vị cứ bận rộn (gấp gáp) chạy theo hàng vạn thứ hoàn cảnh bên ngoài rồi bị các hoàn cảnh ấy xoay chuyển làm mất hết tự do. Nếu quý vị ngừng được những tư tưởng chạy đuổi tìm cầu ấy lại thì quý vị sẽ thấy giữa quý vị và Tổ Phật không có gì khác nhau. Quý vị có muốn biết Tổ Phật là ai không? Tổ Phật chính là quý vị đang đứng trước mặt tôi mà nghe pháp đấy. Kẻ tu hành mà không có đủ đức tự tin thì cứ hướng ra ngoài mà rong ruổi tìm cầu. Dù mà tìm được một cái gì thì cái ấy cũng chỉ là những hình thái đẹp đẽ của văn tự mà không phải là cái năng lượng tuệ giác sống động của Tổ sư. Chư vị thiền đức ơi, đừng có lầm! Trong giây phút hiện tại này mà quý vị không gặp gỡ được Tổ Bụt thì trong ngàn vạn kiếp sau quý vị sẽ phải luân hồi trong ba cõi, cứ tiếp tục chạy theo để nắm bắt những cảnh huống dễ chịu để rồi sẽ liên tiếp sinh vào trong bụng trâu lừa.

Này các bạn tu, theo cái thấy của ông thầy tu núi là tôi đây thì quý vị có khác gì đức Thích Ca đâu? Ngày hôm nay, trong mọi sinh hoạt thường nhật của chúng ta, quý vị còn cảm thấy thiếu thốn điều gì? Có lúc nào mà sáu đạo thần quang của quý vị ngừng chiếu tỏa? Ai mà thấy được như thế thì sẽ suốt đời là một kẻ vô sự.

Này các vị đại đức, ba cõi không an, giống như nhà lửa, nơi đó không phải là chỗ cư trú lâu dài của quý vị. Quỷ vô thường mỗi phút giây đều ra tay sát hại, không phân biệt già trẻ, quý tiện. Nếu quý vị muốn không khác với Tổ Phật thì đừng hướng ngoại tìm cầu. Mỗi tâm niệm mà phát ra được ánh sáng thanh tịnh, đó là pháp thân Bụt đang ở ngay trong nhà của quý vị; ánh sáng vô phân biệt phát ra từ tâm niệm của quý vị chính là báo thân Bụt đang ở ngay trong nhà của quý vị; ánh sáng vô phân biệt phát ra từ mỗi tâm niệm của quý vị chính là hóa thân Bụt đang ở ngay trong nhà của quý vị. Ba Thân ấy không là gì khác ngoài quý vị đang đứng trước mặt tôi nghe pháp. Cái công dụng (mầu nhiệm) này chỉ có thể có được khi quý vị không hướng ngoại truy cầu. Nương tựa vào các nhà nghiên cứu và chú giải kinh luận người ta đi tìm Ba Thân như những tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì không phải như thế. Ba Thân ấy chỉ là danh ngôn, và cũng chỉ là ba cái nương tựa vào nhau mà có. Các vị cổ đức đã nói: ‘Thân là dựa vào ý nghĩa mà thành lập, độ là dựa vào bản thể mà luận.’ Vậy thì thân của pháp tánh và độ của pháp tánh thật ra (rõ ràng) chỉ là quang ảnh.

Này các vị đại đức, các vị nên biết rằng cái con người đang cầm nắm và đùa giỡn được với quang ảnh đó là nguồn gốc của chư Bụt. Đối với kẻ ấy, chỗ nào cũng là nhà để trở về (nơi nào cũng là quê hương trở về của người tu tập). Sắc thân tứ đại của quý vị không biết nói pháp nghe pháp, tỳ vị gan mật không biết nói pháp nghe pháp, hư không không biết nói pháp nghe pháp… vậy thì cái gì biết nói pháp nghe pháp? Đó là cái sáng rỡ rõ ràng không chút mảy may hình tướng trước mặt quý vị đấy. Chính cái đó biết nói pháp nghe pháp. Nếu thấy được như thế thì quý vị sẽ không khác gì với Tổ với Bụt. Chỉ có một điều là giữ nó cho miên mật, đừng để cho nó bị gián đoạn, mắt chạm đến đâu là thấy được đến đấy.

Chỉ vì tình thức phát sinh nên trí tuệ ngăn cách, cũng vì tri giác biến đổi cho nên chân thể bị biến hình, vì thế mới có luân hồi trong ba cõi, chịu đựng mọi thứ khổ đau. Theo cái thấy của tôi, thì không có gì là không thâm diệu, không có gì là không giải thoát.

Này các bạn tu, tâm pháp không hình tướng, thông suốt mười phương, nơi mắt gọi là cái thấy, nơi tai gọi là cái nghe, nơi mũi gọi là cái ngửi, nơi miệng gọi là đàm luận, nơi tay gọi là cầm nắm, nơi chân gọi là cái chạy nhảy, tất cả chỉ từ một cái tinh minh (shining) chia ra thành sáu hòa hợp. Chỗ nào tâm ý không còn phát sinh thì chỗ ấy cũng là giải thoát. Tôi nói như thế nghĩa là sao? Chỉ vì mọi thứ tìm cầu của quý vị chưa chấm dứt cho nên quý vị mới bị lọt vào những cái bẫy của cổ nhân bày ra.

Này các bạn tu, hãy thử sử dụng cái thấy của tôi xem. Hãy chặt đứt hết những cái đầu của mọi báo thân và hóa thân của Bụt. Hãy thấy rằng các bậc Bồ-tát trong mười địa chỉ là những người làm công, các vị Đẳng Giác và Diệu Giác đều là những tên tù đang mang gông cùm, các vị La-hán, Bích-chi đều như những cái hố xí, Bồ Đề và Niết Bàn đều như những cái cọc buộc lừa. Tại sao? Chỉ vì các vị không thông đạt được cái Không của ba a tăng kỳ kiếp cho nên quý vị mới gặp phải những chướng ngại (mà quý vị đang có). Nếu là một người tu chân chính thì quý vị sẽ không như thế. Chỉ nên tùy duyên giúp làm tiêu nghiệp cũ, cứ thanh thản mặc áo, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, đừng có một khoảnh khắc nào mong cầu quả vị Bụt.

Tại sao? Người xưa nói: ‘Nếu muốn tìm Bụt bằng cách lao tác, thì Bụt sẽ trở thành điềm báo trước của sinh tử.’

Này các vị đại đức! Thì giờ quý báu, quý vị hãy ngừng lại cái tâm bôn ba chạy sang nhà láng giềng để học thiền học đạo, tìm câu tìm chữ, cầu Tổ cầu Bụt, cầu thiện tri thức. Đừng lầm lạc như thế. Này các bạn tu, các vị chỉ có một cha một mẹ, vậy thì còn đi tìm gì nữa? Các vị hãy tự nhìn lại đi! Cổ nhân nói: ‘Diễn Nhã Đạt Đa (Yajnadatta) tưởng đã mất đầu, nhưng khi cái tâm đi tìm cầu ngưng lại là chàng đạt tới vô sự (sans affaires) ngay.’

Các vị đại đức, các vị hãy sống cuộc đời của chính mình một cách rất bình thường, đừng làm dáng làm điệu. Có một bọn đầu hói không phân biệt được thế nào là tốt xấu, nói rằng mình thấy thần thấy quỷ, chỉ Đông vẽ Tây, cầu mưa cầu tạnh, bọn này quyết chắc sẽ phải trả nợ đã vay, và sẽ có ngày trước mặt Diêm Vương nuốt hòn sắt nóng. Con cái nhà lành có thể bị bọn dã hồ tinh mị này mê hoặc, một ngày nào đó bọn ấy cũng sẽ phải trả nợ tiền cơm tiền gạo, không tránh thoát được đâu.’

2- Thiền Sư khai thị chúng như sau:

– Này các bạn tu, các vị rất cần tìm cầu cho được chánh kiến, phải biết đi hiên ngang trong thiên hạ để khỏi bị bọn yêu tinh nói trên mê hoặc. Con người cao quý nhất là con người vô sự! Chỉ cần đừng nghĩ đến chuyện tạo tác (đến chuyện sự nghiệp). Chỉ nên làm một con người bình thường. Nếu quý vị cứ nghĩ tới chuyện hướng ngoại tìm cầu và tính toán tức là quý vị đã sai lầm rồi vậy.

Hãy đừng cầu Bụt, Bụt chỉ là danh từ suông. Các vị có biết kẻ đi tìm cầu là ai không? Các Bụt và Tổ trong ba đời từ xưa nay cũng chỉ đi tìm Pháp. Ngày hôm nay các vị tham thiền học đạo cũng chỉ là để cầu Pháp. Được Pháp thì mới giải quyết xong, còn chưa thì vẫn còn luân hồi trong năm đường. Mà Pháp là gì? Pháp là pháp của tâm. Tâm không hình, thông suốt mười phương, có diệu dụng ngay trước mắt. Vì người ta không có đủ tín tâm nên mới nhận lầm danh từ và câu nói, hướng về phía văn tự để tìm cầu pháp của Bụt; cũng vì vậy cho nên mới bị xa cách với Pháp như trời xa đất.

Này các bạn tu, nếu tôi nói Pháp thì Pháp ấy là gì? Tôi nói Pháp của tâm địa, có thể giúp ta vào phàm vào thánh, vào tịnh vào uế, vào chân vào tục. Nhưng không phải cái chân tục phàm thánh nơi quý vị có thể được diễn bày bằng các danh từ và các ý niệm về chân tục phàm thánh. Với lại cái chân tục phàm thánh ấy không bao giờ tự gọi mình bằng các danh từ chân tục phàm thánh.

Này các bạn tu, nếu nắm được cái then chốt này thì nên áp dụng ngay vào đời sống hàng ngày. Đừng nên vướng vào danh tự. Tôi gọi đó là huyền chỉ (nguyên tắc mầu nhiệm).

Pháp của ông thầy tu núi này nói ra với pháp của người trong thiên hạ nói ra rất khác. Dù cho Văn Thù, Phổ Hiền có xuất hiện ra trước mặt, mỗi vị hiện một thân khác nhau đến hỏi pháp, thì vừa mở miệng nói ra ‘Bạch Hòa Thượng’ là tôi đã có thể nhận ra được chân tướng của họ rồi. Tôi cứ ngồi yên đây, hễ có ai tới gặp tôi là tôi liền nhận ra được chân tướng và tung tích của người ấy. Tại sao thế? Tại vì cái thấy của tôi khác: ngoài thì không kẹt vào ý niệm phàm thánh, trong thì không dựa vào những cái gọi là nguyên tắc căn bản, vì vậy cái thấy ấy được thông suốt, chẳng còn chỗ nghi ngờ.’

 

3- Thiền Sư khai thị:

– Này các bạn tu, trong Phật pháp không cần có sự dụng công (mệt nhọc). Nguyên tắc là bình thường vô sự (tenir dans l’ordinaire, sans affaires), mặc áo ăn cơm, đi tiêu đi tiểu, mệt thì đi nghỉ. Kẻ ngu có thể cười ta nhưng người trí sẽ hiểu ta. Cổ nhân nói: ‘Hướng ngoại để công phu, toàn là bọn ngu xuẩn.’ Các vị nên tùy nơi làm chủ, nơi nào cũng chân, không để cảnh duyên bên ngoài lôi kéo. Như vậy thì dù có tập khí ngàn xưa, có gây năm nghiệp vô gián thì tất cả cũng thành ra biển cả giải thoát. Người học đạo ngày nay, phần lớn đều không hiểu pháp, giống như con dê gặp gì cũng ăn, không phân biệt thầy tớ chủ khách. Những kẻ ấy lấy tâm tà vào đạo, sẵn sàng đi vào những nơi huyên náo, không thể gọi họ là người xuất gia chân chính. Họ chỉ là những người thế tục. Người xuất gia chân chính thì phải có được những chánh kiến bình thường: phân biệt được Bụt với Ma, Chơn và Ngụy, Phàm và Thánh. Được như thế mới gọi là chân xuất gia. Nếu không phân biệt được Ma với Bụt, thì chỉ xuất một gia này để vào một gia khác, gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là xuất gia. Bây giờ đây lại có một loại hiện tượng nữa gọi là hiện tượng Bụt Ma, đồng thể không phân biệt, như nước với sữa hòa lại. Nghe nói Ngỗng Chúa chỉ uống sữa. Các bạn tu mắt sáng thì theo tôi nên đánh ngã cả Ma lẫn Bụt, nếu quý vị còn có khuynh hướng yêu thánh ghét phàm thì quý vị sẽ còn phải chìm đắm trong biển sinh tử dài dài.’

Hỏi: ‘Thế nào là Bụt, thế nào là Ma?’

Thiền Sư đáp:

– Trong tâm của quý vị mà có một tư tưởng nghi ngờ (vô minh) thì đó là Ma. Nếu quý vị đạt tới tính vô sinh của vạn pháp, biết rằng tâm là huyễn hóa, thật ra không có một đối tượng nào, một hiện tượng nào có thật, đâu đâu cũng là thanh tịnh, thì đó là Bụt. Tuy vậy, người ta thường nghĩ là Bụt và Ma là hai cảnh giới nhiễm tịnh khác nhau. Theo cái thấy của tôi thì không có Bụt cũng không có chúng sinh, không có xưa không có nay, đạt được thì đạt ngay, không cần phải đi qua thời gian, không cần tu không cần chứng, không được không mất, trong bất cứ thời gian nào đều cũng không hề có một pháp nào khác biệt. Nếu có một pháp nào khác hơn, thì tôi nói pháp đó cũng chỉ là mộng, là huyễn, đó là tất cả cái gì tôi muốn nói.

Này các bạn tu, mỗi vị đang ngồi trước mặt tôi nghe pháp đây, ngay trong giờ phút hiện tại, đều là bản chất sáng tỏ rõ ràng, người nào cũng không bị ủng trệ, người nào cũng thông suốt mười phương, tự tại trong ba cõi, người nào cũng có thể tự do đi vào mọi cảnh giới không bị trở ngại, mỗi người trong thời gian một nháy mắt có thể thấu nhập pháp giới, gặp Bụt thì nói chuyện Bụt, gặp Tổ nói chuyện Tổ, gặp La-hán nói chuyện La-hán, gặp ngạ quỷ nói chuyện ngạ quỷ, rong chơi khắp mọi quốc độ để giáo hóa chúng sinh mà không cảm thấy một giây phút nào xa cách, ở đâu cũng thanh tịnh, ánh sáng soi thấu mười phương, thấy được vạn pháp là nhất như.

Này các bạn tu, ngày nay muốn làm một kẻ đại trượng phu thì phải tỏ ngộ được sự thật bản lai vô sự. Chỉ vì đức tin của quý vị chưa chín cho nên quý vị còn tiếp tục tìm cầu trong mỗi giây phút, bỏ đầu tìm đầu, không tự mình dừng lại được.

Các vị cứ hình dung những vị gọi là Bồ-tát viên đốn hiện thân, đi vào pháp giới, hướng về tịnh độ, ghét phàm yêu thánh mà xem. Nếu có những vị Bồ-tát như thế thì họ vẫn còn vướng vào sự nắm bắt và buông bỏ, trong tâm họ ý niệm về nhiễm tịnh vẫn còn. Theo kiến giải của Thiền, thì không thể như vậy. Cái mà tôi chủ trương là tất cả đều phải đang xảy ra ngay trong giờ phút này, không cần đợi tương lai. Trong giây phút hiện tại, thuốc và bịnh phải chữa trị lẫn nhau cùng một lúc, bởi vì thuốc và bịnh là hai cái tương đãi; ngoài ra không có cái gì khác gọi là có thật. Nếu thấy được như thế thì đó là người xuất gia chân thật, xứng đáng có thể được tiếp nhận phẩm vật cúng dường tương đương mười ngàn lạng vàng mỗi ngày.

Này các bạn tu, đừng để cho các bậc lão sư (giả mạo) đây đó ấn chứng bừa bãi để rồi đi rêu rao: ‘Tôi đã hiểu thế nào là thiền, tôi đã hiểu thế nào là đạo’, để rồi cứ biện luận thao thao như một dòng thác chảy. Tất cả những hành động đó chỉ là để tạo thêm nghiệp địa ngục. Nếu là người học đạo chân chính, thì ta không cần đi bươi móc những lỗi lầm của thế gian mà chỉ cần lập tức tìm cầu chánh kiến. Đạt được kiến giải chân chính tròn đầy mới gọi là thành công.

Hỏi: ‘Thế nào là chánh kiến?’

Thiền Sư đáp:

– Chánh kiến là thấy được tính cách thành, trú, hoại, không của các pháp khi quý vị đi vào phàm thánh, nhiễm tịnh, đi vào các quốc độ của chư Bụt bất kỳ ở đâu, đi vào lầu các của Di Lặc, đi vào pháp giới của Tỳ Lô Giá Na. Chánh kiến là thấy được các tướng không tới không đi, không sinh không diệt của các hiện tượng xuất thế, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết Bàn của Bụt. Chánh kiến là thấy được tường tận tướng Không của các pháp, rằng không pháp nào có thật khi quý vị đi vào pháp giới vô sinh, rong chơi trong các quốc độ, và đi vào thế giới hoa tạng. Chánh kiến là thấy rằng chính cái con người không cần chỗ tựa đang nghe pháp kia chính là mẹ của chư Bụt. Tại sao? Tại vì các đức Thế Tôn đều do chỗ không nương tựa mà phát sinh. Nếu ngộ được vô y thì thấy rằng bản chất của Bụt cũng là vô đắc. Thấy được như thế là chánh kiến. Người tu không hiểu, cứ chấp vào danh và cú, bị những danh từ như thánh, phàm, v.v.. làm trở ngại khiến cho mắt tuệ của họ không mở ra được, do đó họ không thấy được thực tại một cách rõ ràng. Mười hai thể tài của giáo lý cũng chỉ là để làm rõ sự thật này. Người tu chẳng hiểu mới hướng tới văn cú để vọng tìm kiến giải. Đó là thái độ đi tìm chỗ bám víu nương tựa, làm cho mình rơi vào vòng nhân quả, chưa có thể thoát khỏi vòng sinh tử trong ba cõi.

Nếu các vị muốn được tự do đi lại trong sinh tử thì hãy nhận diện cho được con người đang nghe pháp đây, tuy là vô hình, vô tướng, vô căn, vô bản, không có trú xứ, nhưng linh động hoạt bát vô cùng, có thể thi thiết ra muôn ngàn diệu dụng, mà công dụng nào cũng đều có tính cách vô trụ.

Trái lại, nếu càng có ý niệm tìm cầu thì càng cách xa, càng sai trái. Tôi gọi điều này là bí quyết (mầu nhiệm).

Các bạn tu, đừng tự đồng nhất mình với cái anh bạn mộng huyễn này, tại vì sớm muộn gì chàng ta cũng phải được trả lại trong tay quỷ vô thường. Trong thế giới này, các vị cần những gì để tìm giải thoát? Các vị chỉ cần một bát cơm, một manh áo, ngoài ra phải để hết tâm lực và thì giờ để tìm thiện tri thức, đừng phí uổng ngày giờ, đuổi theo sự vui chơi. Thì giờ quý báu, cuộc sống vô thường, nói chung là bốn đại (địa, thủy, hỏa, phong) và nói riêng là bốn tướng (sanh, trụ, dị, diệt) đều đang bức bách ta. Các vị bây giờ đây phải nhận diện bốn cảnh vô tướng để cho đừng bị hoàn cảnh lôi kéo.

Hỏi: ‘Bốn cảnh vô tướng là bốn cảnh nào?’

Thiền Sư đáp:

– Một niệm vô minh (nghi ngờ) nổi lên là quý vị bị đất làm chướng ngại.

Một niệm tham ái nổi lên là quý vị bị nước làm chướng ngại.

Một niệm sân hận nổi lên là quý vị bị lửa làm chướng ngại.

Một niệm hí hửng nổi lên là quý vị bị gió làm chướng ngại.

Nếu thấy được như thế thì quý vị không còn bị hoàn cảnh lôi kéo, ở đâu quý vị cũng sử dụng được hoàn cảnh, nổi lên ở phương Đông thì lặn xuống ở phương Tây, nổi lên ở phương Nam thì lặn xuống ở phương Bắc, nổi lên ở phía giữa thì lặn xuống ở phía bên, nổi lên ở phía bên thì lặn xuống ở phía giữa, đi trên nước như đi trên đất, đi trên đất như đi trên nước. Tại sao làm được như thế? Đó là tại vì quý vị đã thấy được bốn đại là như mộng như huyễn.

Này các bạn tu, cái kẻ đang ngồi nghe pháp đây không phải chỉ là bốn đại của quý vị, kẻ đó đang sử dụng được bốn đại mà bốn đại không sử dụng được kẻ đó. Thấy được như thế thì đi ở tự do. Theo cái thấy của tôi, là ta không nên chán ghét cái gì hết (hoặc yêu thích cái gì hết). Quý vị yêu cái thánh, ghét cái phàm phải không? Thánh chỉ là danh từ thánh. Có những hành giả leo lên núi Ngũ Đài Sơn để tìm đức Văn Thù. Làm thế là sai rồi. Trên núi Ngũ Đài Sơn làm gì có đức Văn Thù? Quý vị có muốn biết đức Văn Thù không? Văn Thù chính là cái diệu dụng trước mặt quý vị, xưa nay vẫn thế, ở đâu cũng không hề có sự nghi ngại. Đó là đức Văn Thù sống động. Cái ánh sáng vô phân biệt của mỗi niệm trong tâm của quý vị chiếu tới đâu thì đức Phổ Hiền chân thật hiện ra tới đó. Mỗi niệm trong tâm của quý vị mà không bị trói buộc, chỗ nào cũng tự do thì đó là tam muội của Bồ-tát Quan Thế Âm.

Ba cái ấy thay phiên nhau làm chủ và làm bạn. Khi xuất hiện thì cả ba đều xuất hiện, một là ba, ba là một. Thấy được như thế mới có khả năng học kinh học giáo.

 

4- Thiền Sư dạy chúng:

– Người học đạo thời nay cần có đức tự tin, đừng hướng ra ngoài mà tìm cầu. Tìm cầu như thế rốt cuộc chỉ vướng vào trần cảnh, không phân biệt được tà chính. Nói rằng có Bụt có Tổ thì đó cũng chỉ là những dấu tích trong kinh giáo. Thói thường thì khi có ai nêu lên một câu, một lời trong kinh ra, dù nghĩa lý là ẩn hay hiển, thì mình có khuynh hướng lập tức đặt ra nghi vấn, rồi nhìn trời nhìn đất, tìm tới kẻ khác mà tham vấn và càng tham càng thấy mờ mịt. Kẻ đại trượng phu là người không cần bàn vua bàn giặc, bàn thị bàn phi, bàn sắc bàn tài, không bỏ hết thì giờ vào sự đàm luận. Tôi đây, mỗi khi có người tới, dù người ấy xuất gia hay tại gia, tôi cũng nhìn thấy được tường tận gốc gác của kẻ ấy, nhận diện được rằng tất cả những âm thanh, danh từ và văn cú mà kẻ ấy đưa ra đều là mộng huyễn, và cũng thấy được con người thật của kẻ ấy, con người thật không bị trần cảnh làm chướng ngại. Cái cách nhìn này chính là tông chỉ huyền diệu của Bụt. Cảnh giới của Bụt không bao giờ tự xưng mình là ‘cảnh giới của Bụt.’ Chính cái con người học đạo vô y (không nương tựa bám víu) ấy mới chứng nghiệm được cảnh giới kia. Nếu có ai tới hỏi tôi về Bụt, tôi sẽ ứng hiện cảnh giới thanh tịnh; muốn hỏi tôi về Bồ-tát, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới từ bi; muốn hỏi tôi về Bồ Đề, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới tịnh diệu; muốn hỏi tôi về Niết Bàn, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới tịch tĩnh. Cảnh thì muôn ngàn sai khác, nhưng người thì không. Vì vậy cho nên ta có thể ứng vật hiện hình, như mặt trăng trong nước.

Này các bạn tu, nếu quý vị muốn đạt được pháp chân như thì phải trở nên một bậc đại trượng phu (con người lớn) mới được, còn nếu cứ yếu đuối và cứ tiếp tục thỏa hợp thì không bao giờ thành. Cũng như một cái bình rạn nứt không thể chứa được đề hồ. Nếu muốn làm pháp khí lớn thì phải cương quyết không để cho kẻ khác lường gạt, tới đâu cũng tự mình làm chủ (active sovereignty, not as a victim), đứng đâu mình cũng chân thật là mình (vrai, true). Có ai đến mình cũng không bị ảnh hưởng. Có một niệm nghi ngờ là ma vương đã thâm nhập. Đối với một vị Bồ-tát, nghi hoặc tức là cơ hội của Ma sinh tử. Khi cảnh vật hiện tới, thì phải quán chiếu. Phải tin ở diệu dụng đang có của tâm, thì sẽ thấy được vô sự. Mỗi niệm của quý vị có công năng sinh ra ba cõi rồi theo cảnh giới đó mà có sáu trần. Trong cái ứng dụng hằng ngày của quý vị, quý vị đang thiếu thốn cái gì? Trong một sát na, quý vị có thể đi vào nhiễm tịnh, đi vào lầu các Di Lặc, đi vào các cõi nước ba Mắt, rong chơi mọi nơi và chỉ thấy tất cả đều là giả danh (không danh).

Hỏi: ‘Các cõi nước của ba Mắt là gì?’

Thiền Sư đáp:

– Các vị và tôi đi vào cõi nước của Tịnh Diệu, mặc áo Thanh Tịnh, nói về Bụt Pháp Thân, rồi đi vào cõi nước Vô Sai Biệt, mặc áo Vô Sai Biệt, nói về Bụt Báo Thân, rồi đi vào cõi nước Giải Thoát, mặc áo Quang Minh, nói về Bụt Hóa Thân. Tất cả các cõi nước của ba Mắt ấy đều do nương tựa (y) vào thể và vào nghĩa mà biến hiện. Theo kinh luận, thì Pháp Thân là căn bản, Báo Thân và Hóa Thân là công dụng. Theo cái thấy của tôi thì Pháp thân không biết thuyết pháp. Vì thế cho nên cổ nhân nói: thân thì nương vào nghĩa mà thành lập, độ thì căn cứ vào thể mà luận bàn (cái thân được thành lập do ý nghĩa người ta gán cho chúng. Các độ chỉ có mặt đứng về phương diện thể tánh của chúng mà thôi) (thân y nghĩa lập, độ cứ thể luận); thân của pháp tánh và độ của pháp tánh như thế rõ ràng đều là những pháp được kiến lập. Các cõi nước cũng như thế, đều nương vào nghĩa và vào thể mà thiết lập, tất cả đều chỉ là lá vàng và nắm tay không mà người ta sử dụng để gạt trẻ thơ!

Tất cả chỉ là như trái tật lê và gai ấu, toàn là chuyện đi tìm những giọt nước mát trong một mảnh xương khô. Ngoài tâm không có pháp, trong tâm cũng không có pháp, vậy quý vị đi tìm gì?

Các vị, đâu đâu người ta cũng nói tới đạo, rằng có tu thì có chứng. Đừng lầm. Dù có tu chứng đi nữa thì cái đó cũng chỉ là nghiệp sinh tử. Nói mình tu lục độ vạn hạnh, tôi thấy đó cũng là tạo nghiệp. Cầu Bụt cầu Pháp là tạo nghiệp địa ngục, cầu Bồ-tát cũng vậy, học kinh học giáo cũng là tạo nghiệp. Bụt và Tổ sư là những người vô sự. Đối với các bậc ấy, hữu lậu hay hữu vi, hoặc vô lậu hay vô vi, đều là nghiệp ‘thanh tịnh.’

Có một bọn đầu sói mắt mù, ăn no liền ngồi xuống thực tập thiền quán, nắm giữ tâm niệm không cho phát khởi, chán ồn ưa tĩnh: phép thực tập của họ chẳng qua chỉ là pháp ngoại đạo. Có vị Tổ sư đã nói: ‘Những kẻ tập trung tâm ý để quán chiếu cái tịnh rồi lấy tâm quán chiếu bên ngoài, hoặc nhiếp tâm lắng lại bên trong, ngưng tâm vào định, những kẻ ấy đều đang tạo tác. Còn quý vị, những người đang ngồi đó để nghe pháp, quý vị làm thế nào để con người của quý vị có thể tu, có thể chứng, có thể trang nghiêm tốt đẹp? Con người của quý vị không thể tu, không thể chứng, không thể trang nghiêm! Nếu dạy người ta trang nghiêm được thì cái gì mà không trang nghiêm được? Đừng lầm!

Này các bạn tu, nếu các bạn nắm bắt lấy những lời của các hạng thiền sư ấy rồi cho đó là chân đạo, cho rằng đó là những bậc thiện tri thức bất khả tư nghì, còn mình là tâm phàm phu không dám đo lường các bậc tôn túc ấy, thì quả thật các vị là những kẻ đui mù. Đó là thứ thành kiến mặc cảm mà quý vị sẽ mang theo suốt đời, và như thế là quý vị cô phụ đôi mắt của chính mình quá! Quý vị như một con lừa con đứng trên băng giá và đang run lên cầm cập: ‘Tôi không dám hủy báng các bậc thiện tri thức đâu, tôi sợ tạo thành khẩu nghiệp.’ Này các bạn tu, chỉ khi nào mình là một vị thiện tri thức lớn mình mới dám hủy Bụt báng Tổ, chỉ trích cuộc đời, mới dám bài xích giáo điển trong tam tạng, mới dám la mắng người khác như la mắng con nít, mới có thể trong các hoàn cảnh thuận nghịch tìm ra được con người. Cho nên trong mười hai năm qua, ngó lại đời mình, cố tìm cho ra một cái gì có tính chất của nghiệp báo, dù nhỏ như hạt cải mà tôi cũng không tìm ra được. Chúng ta thường chỉ gặp những vị thiền sư giống như các cô dâu mới về nhà chồng, cứ nơm nớp sợ sẽ bị người ta đuổi ra khỏi chùa, không cho ăn cơm. Cũng vì thế mà họ chẳng có an cũng chẳng có lạc. Các bậc tiền bối có tinh thần tiên phong từ xưa đến nay đi đâu cũng bị người ta không tin mà lại còn bị xua đuổi. Cái đó mới là cái quý. Chứ nếu đến đâu ai cũng tin cũng công nhận ngay thì làm được cái gì? Vì vậy cho nên một khi con sư tử rống lên là lập tức con dã can vỡ óc.

Này các bạn tu, ở đâu người ta cũng nói có đạo để tu, có pháp để chứng. Các vị nói chứng pháp gì, tu đạo gì? Trong đời sống của quý vị hiện nay, quý vị đang thiếu thốn cái gì, quý vị muốn tu bổ chỗ nào nữa? Những sư bé sanh sau đẻ muộn vì không hiểu thấu chỗ ấy cho nên cứ mãi chạy theo bọn chồn hoang tinh mỵ, cứ để cho bọn này huyên thuyên nói ra những điều có công năng ràng buộc kẻ khác, cho rằng ‘lý hành phải tương ứng, ba nghiệp phải hộ trì’ mới có thể thành Bụt. Họ cứ tiếp tục nhai đi nhai lại những điều như thế, giống hệt như mưa dầm dai dẳng mùa Đông.

Cổ đức có dạy: ‘Giữa đường gặp người đạt đạo, tốt nhất là đừng nói chuyện tu với họ.’

Cũng vì vậy cho nên lại có người nói:

‘Nếu ta có ý tu đạo, thì đạo sẽ chẳng để cho ta tu. Rồi đủ các thứ cảnh giới tà vạy sẽ dành nhau sinh khởi. Một khi lưỡi gươm trí tuệ rút ra thì sẽ không còn một vật gì nữa. Vì khi bên sáng còn chưa xuất hiện thì bên tối đã thành sáng rồi.’

Và cũng vì vậy cho nên cổ nhân nói: ‘Tâm bình thường là đạo.’

Này các vị đại đức! Các vị đang đi tìm gì? Trong giây phút hiện tại, các vị đang ngồi trước mặt tôi nghe pháp, sáng rỡ và rõ ràng, không cần nương tựa vào đâu cả, các vị không thiếu thốn gì hết mà phải đi tìm cầu.

Nếu quý vị muốn giữa quý vị và chư Bụt chư Tổ không có gì khác thì quý vị phải thấy điều này, đừng có nghi ngờ gì nữa, đừng có sai lầm gì nữa. Nếu cái thấy này cứ được tiếp tục duy trì như thế mãi (tâm tâm bất dị) thì quý vị là những vị Tổ sống. Nếu cái thấy ấy không còn được như thế (tâm nhược hữu dị) thì giữa tánh và tướng sẽ có sự phân biệt. Sở dĩ tâm không khác cho nên tánh và tướng mới không bị phân biệt ra làm hai.

Hỏi: ‘Thế nào gọi là cái thấy được tiếp tục (tâm tâm bất dị)?’

Thiền Sư đáp:

– Đặt câu hỏi là đã có sự phân biệt (sự sai khác) rồi, và làm cho tánh tách rời khỏi tướng.

Này các bạn tu, xin đừng lầm. Tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều không có tự tánh, đều là vô sinh, cho nên chúng chỉ là giả danh (tên gọi suông), chính cái tên cũng là trống rỗng. Tại sao quý vị lại nhận cái danh làm cái thật? Như vậy là lầm lớn.

Giả sử có gì đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là những biểu hiện nương dựa vào nhau, gọi là y (y tha). Bồ Ủề cũng thế mà Niết Bàn cũng thế, giải thoát cũng thế, mà Ba Thân cũng thế. Cảnh trí (connaissance des objects) cũng thế mà Bồ-tát hay Bụt cũng thế, đều là những cảnh do y biến. Quý vị tìm cái gì nơi những cảnh giới Bụt được biểu hiện trên sự nương tựa (vào nhau) đó? Tam thừa và mười hai thể tài giáo pháp cũng chỉ là giấy vệ sinh. Bụt là thân huyễn hóa, Tổ là những vị tỳ kheo già. Quý vị có phải do mẹ mình sinh ra hay không? Đi tìm Bụt quý vị sẽ bị ma Bụt hớp hồn, đi tìm Tổ sẽ bị ma Tổ trói buộc. Các vị càng cầu càng khổ, tốt hơn hết là chỉ nên vô sự. Có một bọn thầy tu đầu sói hay nói với người học đạo: ‘Bụt là mục tiêu tối hậu (cứu cánh). Phải tu trong ba a-tăng-kỳ-kiếp lớn (ba đại vô lượng kiếp) cho công thành quả mãn thì mới thành Bụt được.’ Này các bạn tu, nếu nói Bụt là cứu cánh, là mục tiêu tối hậu, thì tại sao chỉ mới có tám mươi năm đã phải nằm nghiêng giữa hai cây sala trong rừng Song Lâm tại thành Câu-thi-na mà chết? Bụt bây giờ ở đâu? Cho nên ta phải biết rõ ràng Bụt cũng sinh tử như ta, không khác. Nếu nói có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp là Bụt, thì hóa ra Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Bụt sao? Cho nên phải biết rằng tất cả đều là huyễn hóa. Cổ nhân bảo: ‘Như Lai hiện thân tướng, vì chiều theo thế gian, sợ người sinh đoạn kiến, tạm thiết lập giả danh. Tạm gọi băm hai tướng, tám mươi cũng hư thanh, có thân không giác thể, vô tướng mới chân hình.’

Các vị nói Bụt có sáu thần thông không thể nghĩ bàn. Vậy thì chư thiên, chư thần tiên, các loài A-tu-la và các loài quỷ có sức mạnh lớn, vì có thần thông cho nên họ là Bụt cả hay sao? Các bạn tu, các bạn chớ lầm! Khi đoàn A-tu-la giao chiến với quân trời Đế Thích bị thua, cùng với 8.400 quyến thuộc núp vào trong một lỗ củ sen, họ có thần thông như vậy, liệu họ có là Bụt là Thánh chăng? Theo chỗ tôi nói thì tất cả những cái đó chỉ là thần thông của nghiệp và thần thông của sự nương tựa (nghiệp thông, y thông).

Sáu phép thần thông của Bụt rất khác. Bụt đi vào cảnh giới của Sắc mà không bị sắc mê hoặc, đi vào cảnh giới của Thanh mà không bị thanh mê hoặc, đi vào cảnh giới của Hương mà không bị hương mê hoặc, đi vào cảnh giới của Vị mà không bị vị mê hoặc, đi vào cảnh giới của Xúc mà không bị xúc mê hoặc, đi vào cảnh giới của Pháp mà không bị pháp mê hoặc, tại vì Bụt đã đạt tới cái thấy là sáu cái (sắc, thanh, hương vị, xúc và pháp) đều biểu hiện tính Không (không tướng) và những cái ấy đều không thể ràng buộc người tu không bám víu (vô y đạo nhân). Những người tu này tuy vẫn còn mang chất liệu hữu lậu của năm uẩn mà đã có thể thực hiện được phép lạ là đi trên mặt đất (địa hành thần thông).

Này các bạn tu, Bụt chân thật thì vô hình, Pháp chân thật thì vô tướng.

Tại sao quý vị lại nương vào trên cái huyễn hóa mà tạo tác ra những mô hình để nắm bắt? Dù có nắm bắt được cái gì đi nữa, thì cái ấy cũng chỉ là chồn hoang tinh mỵ, không phải là Bụt chân thật, mà chỉ là kiến giải của ngoại đạo. Người tu chân chính thì không nắm bắt Bụt, nắm bắt Bồ-tát, A la hán, không nắm bắt những cái gì gọi là hay đẹp nhất trong ba cõi. Người ấy một mình thong dong, không bị sự vật nào câu thúc. Dù trời đất có đảo ngược tôi cũng không bị một chút nghi hoặc nào làm cho ngần ngại. Dù cho chư Bụt mười phương có xuất hiện trước mặt thì tôi cũng không khởi một tâm vui mừng. Dù cho địa ngục và ba đường dữ xuất hiện trước mặt tôi thì tôi cũng không khởi một niệm sợ hãi. Tại sao thế? Tại vì tôi đã thấy được tướng không của các pháp, khi biểu hiện gọi là có, khi không biểu hiện gọi là không, ba cõi đều do tâm, vạn pháp đều do thức. Cũng vì vậy cho nên tất cả đều là mộng huyễn, đều là hoa đốm giữa hư không, tại sao ta phải đi tìm bắt cho mệt nhọc?

Duy chỉ có con người thật của các bạn đang có mặt nghe pháp trong giờ phút này và ngay ở đây mới có thể đi vào lửa mà không bị cháy, đi vào nước mà không bị trôi, đi vào địa ngục và ba đường mà như đi du ngoạn trong công viên, đi vào giới ma đói và súc sinh mà không nhận chịu quả báo. Tại sao như thế? Tại vì các vị không kỳ thị bất cứ một cái gì. Nếu quý vị còn yêu thánh ghét phàm thì quý vị sẽ còn bị nổi chìm trong biển sinh tử. Phiền não do tâm mà có, nếu vô tâm thì phiền não làm sao trói buộc được ta? Không mất công phân biệt, không kẹt vào tướng thì tự nhiên chứng đắc được đạo quả ngay trong khoảnh khắc.

Nếu các vị cứ bôn ba chạy đi tìm người mà học đạo thì dù có học hỏi trong vô lượng kiếp cuối cùng cũng vẫn còn qua lại trong cõi sinh tử. Chẳng bằng làm một con người vô sự, đi vào chùa, xếp bằng lại mà ngồi.

Này các bạn tu, giả dụ có kẻ học nhân từ nơi khác đến tham học. Sau khi chủ khách đã trông thấy nhau, khách bèn nói ra một câu để thăm dò vị thiện tri thức đang ngồi trước mặt. Kẻ ấy ném ra một câu hiểm hóc vào khóe miệng của vị thiện tri thức, có ý muốn hỏi: ‘Thầy có hiểu cái này chăng?’ Nếu vị thiện tri thức biết đó là một cái đối tượng (cảnh) thì ông ta sẽ nắm ngay lấy cái đó và liệng nó vào trong hố. Vị học nhân sẽ tìm lại được thái độ bình thường của mình, và sẽ xin vị thiện tri thức nói lên cho một lời. Vị thiện tri thức cũng sẽ làm như đã làm, và sẽ chặt đứt được luôn cái ý muốn tìm cầu mới này. Lúc đó vị học nhân sẽ nói: ‘Thầy thật là một vị thượng căn thượng trí, là một vị đại thiện tri thức.’ Và vị thiện tri thức sẽ nói: ‘Đạo hữu hoàn toàn chẳng phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu.’

Hoặc vị thiện tri thức có thể đưa ra một đối tượng (cảnh) và đùa bỡn với vị học nhân. Vị học nhân có khả năng nhận diện được rằng đó chỉ là một đối tượng (cảnh), không để mình rơi vào trong cái bẫy của đối tượng đó và từ tư thế khách ông chuyển ra đứng vào tư thế chủ. Vị thiện tri thức bây giờ thị hiện nửa thân, và vị học nhân hét. Vị thiện tri thức cũng có thể lại sử dụng những thứ ngữ ngôn trăm lối của mình mà dằn mặt vị học nhân. Nhưng vị học nhân có thể nói: ‘Cái ông thầy sói đầu này chẳng biết phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu.’ Vị thiện tri thức liền ca ngợi: ‘Ngươi thật là một người tu học chân chính.’

Đó đây có những vị thầy (thiện tri thức) không có khả năng biện biệt được tà chính. Khi có học nhân tới hỏi về cảnh trí của Bồ Đề, Niết Bàn và Ba Thân, các vị lão sư mù này liền tìm mọi cách giải thích. Bị các vị học nhân kia chê trách, họ liền lấy gậy đánh, nói rằng đã đi học đạo mà còn vô lễ. Thật ra, quý vị cũng đừng giận họ, bởi vì họ tuy được gọi là thầy mà chưa có con mắt tuệ, thế thôi.

Có một bọn sói đầu không biết được tốt xấu ra sao, cứ chỉ Đông trỏ Tây, ưa mưa thích tạnh, khen chiếc đèn lồng này đẹp hay cây trụ kia xinh. Nhìn họ xem, để coi lông mày của họ còn có bao nhiêu sợi! Những cơ sự như thế xảy ra không phải là không có nguyên do. Kẻ học nhân không hiểu, cho nên tâm trí bị mê cuồng. Những kẻ đó hoàn toàn là một bọn chồn hoang tinh mị. Những bậc học nhân chân chính thấy họ thì khúc khích cười chê, nói rằng bọn sói đầu mù mắt này chỉ gây rối loạn và mê hoặc trong nhân gian.

Này các bạn tu! Những người xuất gia còn trẻ thì cần phải học đạo; tôi đây (hồi còn trẻ) ngày nào cũng lưu tâm học hỏi giới luật và uy nghi, và đã từng nghiên cứu tìm hiểu và tham vấn không biết bao nhiêu kinh luận. Sau một thời gian tôi mới biết đó chỉ là những phương dược cứu đời, được diễn bày qua hình thức lý thuyết. Vì vậy cho nên tôi đã nhất thời buông bỏ tất cả để đi tham vấn và thực tập thiền. May mắn vì gặp được các bậc thiện tri thức lớn cho nên tôi mới có được con mắt đạo để có khả năng nhìn thấy rõ ràng, nhận ra được ai thật sự là những vị cao túc đang có mặt trên đời, ai là giả dối. Cái thấy này không phải tự mình có được từ khi mẹ mình sinh ra, mà là một cái thấy do sự mài dũa, luyện tập, thể nghiệm và nghiên tầm rồi một mai tự mình chứng ngộ.

Này các bạn tu, nếu các bạn muốn có được kiến giải đúng theo sự thật thì đừng để cho người khác mê hoặc. Bất cứ nội hướng hay ngoại hướng, hễ gặp cái gì thì đừng sợ hãi mà phải tìm cách diệt ngay cái đó. Gặp Bụt thì giết Bụt, gặp Tổ thì giếp Tổ, gặp A-la-hán thì giết A-la-hán, gặp cha mẹ thì giết cha mẹ, gặp thân quyến thì giết thân quyến, như vậy mới giải thoát được. Đừng để cho sự vật trói buộc thì ta mới có thể ung dung tự tại.

Trong số các bạn tu bốn phương, chưa từng có một người nào tới đây mà không mang theo một cái gì mà họ đang vướng mắc phải. Ông thầy núi là tôi đây hễ nhận ra được cái đó thì đánh liền. Nếu họ diễn tả cái ấy bằng tay thì tôi đánh vào tay, nếu họ diễn tả cái ấy bằng miệng thì tôi đánh vào miệng, nếu họ diễn tả cái ấy bằng mắt thì tôi đánh vào mắt. Chưa có một ai tới mà chứng tỏ được rằng mình có độc lập tự do, tất cả đều vướng vào những cái bẫy sập của cổ nhân giăng ra. Tôi đây, tôi không có pháp nào để hiến tặng cho quý vị cả. Tôi chỉ giúp trị bệnh và cởi trói cho quý vị.

Các vị học giả từ các nơi tới, quý vị hãy thử đừng nương tựa vào bất cứ một vật nào xem! Tôi muốn bàn bạc với các vị. Từ mười lăm năm nay, tôi thực sự chưa gặp được một (con) người, chỉ gặp toàn những hồn ma nương tựa vào tre vào gỗ, vào cỏ vào lá, những con chồn hoang tinh mị đang gặm nhấm loạn xạ trên những đống phân. Thật là những bọn mù. Họ chỉ làm uổng phí những phẩm vật cúng dường của tín thí mười phương. Kiến giải của họ chỉ nghèo nàn như thế đó, vậy mà họ cứ tuyên bố: ‘Chúng tôi là những người xuất gia.’

Tôi muốn nói với quý vị rằng không có Bụt, không có Pháp, không có Tu cũng không có Chứng. Quý vị đi tìm cầu cái gì từ nơi người khác? Quý vị thiếu thốn cái gì? Đừng làm như những kẻ đui mù, trên cái đầu của mình lại muốn đặt thêm một cái đầu khác. Này các bạn tu, trong giờ phút này, cái diệu dụng của quý vị không có khác gì cái diệu dụng của Tổ của Bụt cả. Chỉ vì quý vị không có niềm tin cho nên quý vị mới đi tìm cầu bên ngoài. Đừng có lầm lẫn. Không có pháp nào ở ngoài để tìm, không có pháp nào ở trong để đạt. Chi bằng nên nghe lời tôi, hãy nghỉ ngơi đi và thực tập làm một người vô sự. Cái gì đã phát khởi, đừng để cho nó tiếp tục; cái gì chưa phát khởi, đừng để cho nó phát khởi. Làm được như thế còn có giá trị hơn mười năm đi hành cước.

Theo cái thấy của tôi thì quý vị có cần phải làm gì đâu, chỉ nên sống cho bình thường thôi. Hãy mặc áo, ăn cơm, ngày này qua ngày khác làm một người vô sự. Các vị từ bốn phương tới đây đều nghĩ rằng mình là những người có tâm cầu Bụt, cầu Pháp, cầu giải thoát, cầu ra khỏi ba cõi. Đồ ngu. Ra khỏi ba cõi thì quý vị đi đâu? Bụt và Tổ đều là những danh từ mà người ta ưa thích, để người ta sử dụng mà trói buộc chính mình. Quý vị có biết ba cõi là gì không? Ba cõi chính là đất tâm của chính quý vị, những người trong giây phút này đang ngồi đây nghe pháp. Một niệm tham dục của quý vị phát khởi, đó là dục giới. Một niệm sân hận của quý vị phát khởi, đó là sắc giới. Một niệm nghi ngờ của quý vị phát khởi, đó là vô sắc giới. Những cái ấy đều là bàn, ghế, chiếu, giường đang có mặt trong căn nhà của quý vị. Ba cõi không bao giờ tự nói rằng ‘chúng tôi là ba cõi.’ Chính quý vị đang có mặt tại đây với cái tinh minh sáng chói chiếu rõ muôn vật, chính quý vị là người ước lượng thế giới và cho ba cõi mỗi cõi một cái tên.

Này các vị đại đức! Sắc thân bốn đại này là vô thường, kể cả tỳ, vị, gan, mật, tóc, lông, răng, móng. Nếu nhìn vào, ta chỉ thấy tướng Không của các pháp. Khi quý vị ngưng lại được mọi ý niệm thì đó đã là cội Bồ Đề. Nếu ý niệm mà chưa ngưng được thì đó là cây vô minh. Vô minh không có chỗ ở, không có thỉ chung, nếu quý vị không ngưng được tâm ý thì quý vị sẽ leo lên cây vô minh, đi vào sáu nẻo, chui qua bốn cách thọ sinh để mang lông và đội sừng. Nhưng nếu quý vị ngưng được thì quý vị đạt ngay tới thế giới của pháp thân thanh tịnh. Đạt được trạng thái một niệm không sinh (nhất niệm bất sinh) thì quý vị leo lên được trên cây Bồ Đề, biến hóa thần thông trong ba cõi, sử dụng hóa thân sinh ra từ ý (ý sinh thân), đạt được pháp hỷ và thiền duyệt, hào quang nơi thân sẽ bắt đầu tự chiếu, nghĩ tới cái mặc thì sẽ có ngàn muôn lớp áo gấm sa, nghĩ tới cái ăn thì sẽ có đầy đủ hàng trăm hảo vị và quý vị sẽ không bao giờ lâm vào các chứng bệnh ngặt nghèo. ‘Bồ Ủề không có chỗ ở (trú xứ) vì vậy cho nên gọi nó là vô đắc.’

Này các bạn tu, là bậc đại trượng phu (con người lớn), các vị còn nghi ngờ gì nữa? Cái diệu dụng đang xảy ra trong giờ phút hiện tại, đó là ai vậy? Nắm được nó để sử dụng, và đừng bị kẹt vào danh tự, cái đó gọi là huyền chỉ (tông chỉ huyền diệu). Ai thấy được như thế, kẻ ấy không còn bị một cái gì làm trở ngại. Người xưa nói: ‘Tâm tùy vạn cảnh mà đổi thay, và cái đổi thay này đâu có gì là lạ? Hãy tùy theo sự thay đổi ấy mà nhận ra tự tánh của mình, nhận ra được rồi thì vượt thoát cả mừng lẫn lo.’

 

5- Này các bạn tu, theo kiến giải của thiền tông, thì sống chết là lẽ tuần hoàn (trong vũ trụ). Ta cần phải để hết tâm ý trong khi tham vấn. Khi chủ và khách gặp nhau, thế nào cũng có lời qua tiếng lại. Hoặc ứng hiện ra những hình tướng khác nhau, hoặc sử dụng toàn thân mà đối phó với đương sự. Có khi lại sử dụng những phương tiện cơ quyền như mừng giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc ngồi trên lưng sư tử hay trên lưng voi chúa…

Trong trường hợp một học nhân đích thực thì người này có thể hét lên hoặc đưa ra một cái bẫy (bình keo) trước mặt vị thiện tri thức. Nếu vị này không nhận ra được cái ‘cảnh’ ấy mà lại rơi vào trong cái bẫy, cứ nương vào cái ‘cảnh’ ấy đặt ra đủ thứ mô hình, thì vị học nhân lại có thể hét lên nữa. Nếu vị thiện tri thức còn chưa chịu buông bỏ, thì đó thật là trường hợp của một bệnh nan y. Trường hợp này gọi là trường hợp khách khán chủ.

Hoặc giả vị thiện tri thức chẳng đưa ra cái gì hết, mà cứ đợi kẻ học nhân đưa ra cái gì thì đoạt lấy cái đó. Kẻ học nhân có thể tuy bị tước đoạt tất cả những gì mình muốn đưa ra mà vẫn còn chống cự lại, chết vẫn không chịu buông ra. Trường hợp này là trường hợp chủ khán khách.

Hoặc giả kẻ học nhân đứng trước vị thiện tri thức đưa ra một đối tượng (cảnh) thanh tịnh. Vị thiện tri thức nhận ra được đối tượng ấy, nắm lấy và liệng xuống hầm sâu. Vị học nhân liền nói: ‘Thầy quả là một vị thầy lớn.’ Vị thiện tri thức trả lời: ‘–i chà, anh chẳng biết cái gì là tốt cái gì là xấu.’ Vị học nhân bèn lạy xuống. Trường hợp này gọi là chủ khán chủ.

Hoặc kẻ học nhân trình diện trước vị thiện tri thức như một người có mang gông cùm. Vị thiện tri thức thấy thế liền đem tới và đeo thêm cho vài cái gông và vài cái cùm khác. Vị học nhân vui mừng quá đổi đến nỗi không phân biệt được (ai là chủ ai là khách). Trường hợp này gọi là khách khán khách.

Này các vị đại đức! Những gì tôi vừa nói chỉ là để giúp quý vị nhận diện được ma quái và tà đạo, và phân biệt được tà chính.

Này các bạn tu, chân lý khó đạt tới, Phật pháp rất u huyền, tuy nhiên ta vẫn có thể đi vào các lãnh vực ấy để đạt được kiến giải. Ngày này qua ngày khác, tôi chỉ ngồi đây mà thuyết giảng và đánh phá, nhưng hầu hết bọn họ có chịu để ý đâu. Ngàn lần vạn lần họ vẫn tiếp tục dẫm chân lên những vùng đất đen tối, không nhận ra được một cái gì rõ ràng, độc lập, chiếu sáng. Chỉ vì các vị còn thiếu đức tự tin, cứ đi tìm kiến giải trên chữ nghĩa văn cú. Nửa đời người đã đi qua (nửa cõi trăm năm đã đi qua) mà cứ vẫn còn ỷ lại vào kẻ khác, tiếp tục khiêng tử thi của chính mình như một gánh nặng mà đi trong cõi nhân gian. Có ngày thế nào họ cũng sẽ phải trả tiền giày dép!

Này các vị đại đức! Khi nghe tôi nói rằng ngoài kia không có pháp gì để tìm cầu cả, thì lại có những kẻ học nhân hiểu lầm, nghĩ rằng phải đi tìm ở bên trong. Họ ngồi xuống bất động, quay mặt vào tường, lưỡi dán vào đóc họng, cho rằng đó là pháp môn của Bụt, của Tổ. Họ lầm to! Nếu quý vị cho cái tĩnh (cảnh thanh tịnh bất động) là đạo thì quý vị đã nhận cái vô minh là ông chủ. Người xưa đã nói: ‘Lẵng lặng là cái hầm sâu đen ngòm, thật là dễ sợ.’ Nếu ngược lại, quý vị nhận cái động là đạo thì hóa ra các loài cây cối đang động đậy ngoài kia đều là đạo hay sao? Động là phong đại, bất động là địa đại, động và bất động cả hai đều không có tự tính. Nếu quý vị muốn tìm nó trong cái động, nó sẽ đứng trong cái tĩnh; nếu quý vị muốn tìm nó trong cái tĩnh, nó sẽ đứng trong cái động, giống như con cá trong dòng suối đang vỗ sóng nhảy lên.

Này các vị đại đức, động và bất động chỉ là hai cảnh giới: con người tu không vướng mắc (vô y đạo nhân) có thể sử dụng cả động và bất động.

 

6- Như tôi đây, khi có học giả tới, thì tôi sử dụng ba phép quyết đoán để đối phó với ba loại căn cơ. Nếu người có căn cơ dưới trung bình tới, tôi sẽ đoạt cảnh của họ, nhưng không đoạt pháp của họ. Nếu người có căn cơ trên trung bình tới, tôi sẽ đoạt cả cảnh cả pháp của họ. Nếu là người có căn cơ bén nhạy tới, tôi sẽ không đoạt cảnh cũng không đoạt pháp cũng không đoạt người. Nếu là người có kiến giải vượt bực tới, tôi sẽ sử dụng toàn thân để đối phó, mà không liệt họ vào một loại căn cơ nào cả.

Này các vị đại đức! Trong trường hợp này, pháp lực của kẻ học nhân sẽ không để cho một ngọn gió nào đi qua và tốc độ của pháp lực ấy lửa đá và điện quang cũng không vượt qua được. Vị học nhân ấy chỉ cần chớp mắt là đã đánh mất sự tương giao, chỉ cần khởi ra một niệm là đã đi vào sự sai trái. Có hiểu được hay không là chỉ ngay trong giây phút đó mà thôi.

Này các vị đại đức, các vị mang bát, mang túi và mang một khúc ruột già đầy phân đi tới người ta để tìm cầu Phật và Pháp, quý vị có biết ai là kẻ đang đi tìm cầu ấy không? Đó là một kẻ sống động, linh hoạt, không vương vào dây mơ rễ má nào cả, lùa thì không vào, xua cũng không đi, chạy tìm thì nó càng lúc càng xa, không tìm thì nó đứng ngay trước mặt, tiếng nói của kẻ ấy đang vọng ngay vào tai quý vị. Không có đủ niềm tin nơi đây thì thật phí cả một cuộc trăm năm.

Các bạn tu, chỉ trong một khoảnh khắc là ta có thể đi vào cảnh giới của Hoa Tạng, đi vào cảnh giới của Bụt Tỳ Lô Giá Na, đi vào các quốc độ của giải thoát, của thần thông, của thanh tịnh, đi vào pháp giới, đi vào uế, đi vào tịnh, đi vào phàm, đi vào thánh, đi vào ngạ quỷ súc sinh và nơi nào ta cũng không tìm kiếm ra được cái gọi là sinh tử. Tất cả đều chỉ là danh từ suông (không danh), là hoa đốm huyễn hóa trong hư không, không đáng để ta nhọc công đi tìm bắt. Lúc đó thì ta sẽ buông bỏ được hết tất cả mọi cái đắc, thất, thị và phi.

Này các bạn tu, cái thấy về Phật pháp của tôi, tôi đã tiếp nhận từ các hòa thượng Ma Cốc, Đan Hà, Đạo Nhất, Lô Sơn và Thạch Đầu. Sự trao truyền của truyền thống này đã phổ biến trên thiên hạ, nhưng vì chưa tin nhận được nên nhiều người còn nhạo báng. Như ý chỉ của Tổ Đạo Nhất, thuần nhất và không tạp loạn như thế, mà cả ba trăm năm mươi người tới học cũng không nắm bắt được. Tổ Lô Sơn thảnh thơi và chính chân như thế, nắm vững được cả hai chiều thuận nghịch như thế, mà đệ tử cũng còn hoang mang không thăm dò được bờ mé của trí tuệ ngài. Tổ Đan Hà cũng vậy, đùa giỡn với hạt châu, khi ẩn khi hiện, kẻ học nhân tới không ai là không bị Tổ la mắng. Hành tung của Tổ Ma Cốc thì đắng như vỏ cây Hoàng bá, ai đến gần cũng không được. Tổ Thạch Củng thì bí quyết là tìm người trên đầu một mũi tên làm cho ai nấy cũng đều sợ hãi. Còn cái cách hành xử của ông thầy tu núi là tôi đây thì đó là sự thành hoại chân thực (chân chính thành hoại). Tôi đùa bỡn với sự thần biến tâm linh, tôi đi vào được trong tất cả mọi cơ cảnh, và ở đâu tôi cũng duy trì được (bản lĩnh của mình là) vô sự, cảnh không bao giờ đoạt được tôi. Nếu có ai tới tìm, tôi sẽ đi ra nhìn người ấy. Kẻ ấy không biết tôi. Tôi liền mặc áo vào. áo có nhiều thứ. Kẻ học nhân nhìn thấy áo, trong tâm liền phát sinh kiến giải, kẹt ngay vào ngôn cú của tôi. Tội nghiệp cái ông thầy đui mù không mắt này quá đi; ông ta nhận lầm cái áo là tôi, cho tôi là hoặc vàng hoặc xanh hoặc trắng hoặc đỏ. Thấy thế tôi mới cởi hết áo đi và để lộ cái ‘thanh tịnh’ ra. Vị học nhân thấy thế, liền sinh tâm vui mừng và ham muốn. Tôi liền cởi bỏ luôn cái áo ‘thanh tịnh’ ấy ra nữa. Bấy giờ kẻ học nhân thất kinh, hoang mang, cuống cuồng bỏ chạy, nói rằng tôi ‘trần truồng như nhộng.’ Tôi mới nói với kẻ ấy: ‘Chú có biết cái con người mặc áo trong tôi là ai chưa?’ Hốt nhiên kẻ kia quay đầu lại và nhận ra tôi.

Này các vị đại đức! Các vị đừng có kẹt vào cái áo. Áo là bất động, chỉ có người mới có thể mặc áo. Có cái áo thanh tịnh, có cái áo vô sinh, có cái áo Bồ Đề, có cái áo Niết Bàn, có áo Tổ, có áo Bụt.

Các vị đại đức, nếu những cái đó chỉ là âm thanh, danh từ và văn cú thì tất cả đều chỉ là những chiếc áo được biến hiện ra, vận dụng từ huyệt khí hải dưới rốn đi lên làm hàm răng lách cách phát ra thành câu, thành ý, nên biết rõ những thứ ấy chỉ là trò huyễn hóa.

Này các đại đức, bên ngoài là hành động phát ra âm thanh ngôn ngữ, bên trong là tâm tư làm phát sinh ý niệm, tất cả đều chỉ là những loại áo. Tại sao các vị lại nhận những cái áo ấy làm kiến giải chân thật? Nếu cứ tiếp tục như thế thì dù có tu trải qua muôn vạn kiếp nhiều như vi trần thì cũng chỉ là để hết mặc áo này lại mặc áo khác (chưa phải là thần thông mà chỉ là y thông), chưa thoát ra được luân hồi sinh tử. Tất cả đều không bằng thực tập vô sự. ‘Gặp nhau không biết nhau, trò chuyện tên chẳng biết.’

Đời nay, người tu không đạt được đạo cũng vì cứ nhận lầm danh tự làm kiến giải. Họ ghi chép lại những câu nói, những lời lẽ của các ông già đã chết vào trong một cuốn sách lớn, đem cất dấu trong bốn năm lớp túi vải, không cho ai nhìn thấy, cho những điều ghi chép trong đó là ‘huyền chỉ’, rồi cất dấu bảo trọng. Lầm to! Này bọn mù kia, trong những khúc xương khô ấy, các anh tìm sao cho ra một giọt nước mát? Có một bọn không biết thế nào là xấu tốt, từ trong giáo pháp rút ra những huyền đàm lý luận, chế thành văn cú lý nghĩa, giống như bỏ vào miệng những cục phân rồi nhả ra và mớm lại cho kẻ khác, chẳng khác gì người thế tục chơi trò chuyền miệng. Một đời đi qua oan uổng, vậy mà cứ nói ‘ta là người xuất gia.’ Khi có kẻ đến tham vấn về Phật pháp, chúng ngậm miệng, không nói nên lời, hai mắt mở ra, thất thần và đen ngòm như những chiếc ống khói, còn miệng thì trệ xuống như thể một chiếc đòn gánh trĩu nặng hai đầu. Những kẻ như thế thì dù Bụt Di Lặc có ra đời bây giờ đi nữa, họ cũng bị đày đi các thế giới khác hoặc bị gửi xuống địa ngục để nhận chịu quả báo đau khổ.

Này các vị đại đức, các vị bôn ba khắp nơi để tìm kiếm cái gì cho đến nỗi hai bàn chân của quý vị bành ra như thế? Có Bụt đâu mà tìm, có Đạo đâu mà thành, có Pháp đâu mà đắc? Bụt với các tướng tốt mà bạn đang đi tìm ấy không giống bạn đâu. Muốn tự biết bản tâm bạn, thì phải thấy được Bụt với bạn không hợp cũng không ly.

Này các bạn tu, chân Phật vô hình, chân Đạo vô thể, chân Pháp vô tướng, cả ba pháp ấy dung hợp nhau làm thành một. Ai không thấy được điều này thì còn là chúng sinh với nghiệp thức mang mang.

Hỏi: ‘Xin Thiền Sư khai thị cho chúng con: chân Phật là gì, chân Pháp là gì, chân Đạo là gì?’

Thiền Sư đáp:

– Bụt thật (chân Phật) là sự thanh tịnh của tâm mình. Pháp thật (chân Pháp) là ánh sáng của thân mình. Đạo thật (chân Đạo) là ánh sáng thanh tịnh vô ngại (chiếu soi) khắp chốn. Ba cái là một; cả ba đều là giả danh mà không thật có. Người học đạo chân chính thì phải duy trì chánh niệm về ba đối tượng ấy một cách miên mật. Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn-độ sang đây, chỉ cốt đi tìm kiếm cho được một con người không bị kẻ khác làm mê hoặc. Cuối cùng ngài gặp được Huệ Khả, Tổ thứ hai. Chỉ với một câu nói thôi ngài đã giúp cho Tổ Huệ Khả giác ngộ và thấy rõ rằng tất cả công phu trước đó đều là vô dụng. Theo cái thấy của tôi, thì chúng ta không khác gì Tổ và Bụt, hiểu ngay được câu đầu thì ta trở thành bậc thầy của Tổ và Bụt, và nếu đến câu thứ hai ta mới hiểu thì ta cũng có thể trở thành bậc thầy của loài người và loài trời. Nhưng nếu đến câu thứ ba mới hiểu thì ta tự cứu ta cũng còn chưa được huống hồ là mong làm thầy thiên hạ.

Hỏi: ‘Tổ Bồ Đề Đạt Ma qua đây có ý gì?’

Thiền Sư đáp: ‘Nếu đã có ý, thì tự cứu mình cũng chưa được (huống hồ để độ người).’

Hỏi: ‘Nếu không có ý, thì làm sao Tổ thứ hai đắc pháp được?’

Thiền Sư đáp: ‘Đắc tức là vô đắc.’

Hỏi: ‘Nếu đắc quả là bất đắc, thì làm sao lại có cái ý ‘bất đắc’?’

Thiền Sư đáp:

– Cũng vì đi tìm tâm khắp nơi mà không ngưng được, cho nên Tổ mới nói: ‘Ôi hay! Kẻ trượng phu kia! Sao ngươi có đầu rồi mà còn đi tìm đầu mãi vậy?’ Nghe được câu nói ấy mà biết đem ánh sáng trở về soi chiếu tự tâm, không còn tìm cầu cái gì khác nữa, thì mình biết được thân và tâm mình không khác gì với thân và tâm của Tổ và Bụt, và ngay trong giây phút này đạt được trạng thái vô sự. Cái đó mới gọi là đắc pháp.

Này các đại đức! Trong giờ phút này đây vì vạn bất đắc dĩ cho nên tôi mới nói ra những lời nói không mấy tao nhã. Quý vị đừng có vì vậy mà hiểu lầm tôi. Theo cái thấy của tôi thì thật ra chẳng có đạo lý gì để cho ta thuyết giảng. Nếu cần làm gì thì cứ làm đi, nếu không thì cứ nghỉ ngơi đi cho khỏe.

Khắp nơi người ta nói lục độ vạn hạnh là Phật pháp, còn tôi thì tôi nói đó chỉ là những phương tiện điểm trang, những phương tiện để mình làm Phật sự chứ chưa phải là Phật pháp. Cho đến những việc như trì trai, giữ giới, bưng một bát dầu đừng để nó sóng sánh rơi ra một giọt,… tất cả những cái ấy nếu không có khả năng làm cho con mắt đạo của quý vị sáng ra thì rốt cuộc quý vị cũng phải bị người ta đòi trả tiền cơm nước như thường. Tại sao?

‘Vào đạo không thông lý

Luân hồi đền tín thí

Trưởng giả tám mươi mốt

Cây khô ra mộc nhĩ’

Dù cho quý vị có ở một mình trên đỉnh cô phong, mỗi ngày ăn một bữa, ngồi thiền suốt đêm, không đặt lưng xuống, tu tập sáu thời một ngày tinh chuyên, thì quý vị cũng chỉ là những người đang tạo nghiệp. Dù cho quý vị có bố thí cả quốc thành, thê tử, đầu, mắt, tủy não, voi ngựa, bảy báu, mọi thứ đều đem ra cho hết thì những cái ấy rốt cuộc cũng chỉ làm đau nhức thân tâm, đem về những quả báo khổ đau. Tất cả đều không bằng làm một kẻ vô sự, thuần nhất, không tạp loạn. Cho dù các vị Bồ-tát đã đi qua mười địa có muốn đem hết tâm mình mà đi tìm dấu vết của một người tu vô sự như thế cũng không tìm ra được. Sở dĩ người ấy được chư thiên ca tụng, được Địa thần nâng gót, được chư Bụt mười phương xưng tán, là tại vì sao? Tại vì những người tu ấy, ngay trong giây phút hiện tại, đang ngồi đây nghe pháp mà đang không để lại dấu vết gì.

Hỏi: ‘Bụt Đại Thông Trí Thắng ngồi trong đạo tràng trong mười kiếp liên tục mà Phật pháp không biểu hiện trước mắt, và ngài không thực hiện được Phật đạo.’ Câu ấy có nghĩa gì?

Thiền Sư đáp:

– Đại Thông có nghĩa là ở đâu cũng tự mình đạt tới được sự thật vô tánh và vô tướng của vạn pháp. Trí Thắng có nghĩa là ở đâu cũng không có một niệm nghi hoặc, không thấy mình có đắc bất cứ một pháp nào. Bụt có nghĩa là sự thanh tịnh của tâm, ánh sáng (của sự thanh tịnh) ấy thấu triệt được cùng pháp giới. Mười kiếp liên tục ngồi ở đạo tràng chính là mười ba la mật. Phật pháp không biểu hiện trước mắt có nghĩa là Phật vốn không sinh, Pháp vốn không diệt, thì làm sao biểu hiện trước mắt? Không thực hiện được Phật đạo có nghĩa là Bụt đâu có cần thành Bụt nữa. Cổ nhân nói: ‘Bụt thường ở thế gian mà không nhiễm pháp thế gian.’ Này các bạn tu, nếu quý vị muốn làm Bụt thì đừng tùy thuộc vào vạn vật. Tâm sinh thì mọi pháp sinh, tâm diệt thì mọi pháp diệt, một tâm không sinh, thì các pháp không làm gì mình được nữa.

Trong thế gian cũng như ngoài thế gian (xuất thế gian) chẳng có Bụt mà cũng chẳng có Pháp, không thật sự có trong giây phút hiện tại mà cũng chẳng sẽ là không trong tương lai. Dầu nói có cái gì đi nữa, thì đó cũng chỉ là những danh ngôn và chương cú, chỉ có tác dụng tiếp dẫn được bọn con nít. Phương tiện thiết lập ra như thuốc để trị bệnh, sự biểu hiện danh cú có ra là vì thế. Với lại danh cú không tự gọi mình là danh cú. Chính quý vị đang có mặt đây trong giờ phút này với cái linh giác thấy, nghe sáng rỡ như một ngọn đuốc chiếu sáng kia, chính quý vị mới là người đã an bày ra tất cả các danh cú.

 

7- Các vị đại đức, phải tạo ra năm nghiệp vô gián thì mới được giải thoát.

Hỏi: ‘Năm nghiệp vô gián là gì?’

Thiền Sư đáp:

– Năm nghiệp vô gián là giết cha, giết mẹ, làm Bụt chảy máu, chia rẽ tăng đoàn và thiêu đốt linh tượng. Cha ở đây có nghĩa là vô minh. Nếu quý vị ngưng được sự tìm cầu, dù cho trong một khoảnh khắc, cái sinh khởi và cái hoại diệt (của các Pháp) như tiếng vang âm hưởng với hư không, nếu quý vị trong trường hợp nào cũng vô sự được, thì đó là đã giết được cha vô minh. Mẹ đây là sự tham ái. Nếu quý vị trong khi đi vào cõi Dục để tìm cầu đối tượng của sự tham ái mà có thể, dù cho trong một khoảnh khắc, thấy được rằng các pháp đều Không và bất cứ nơi đâu cũng được vô trước, đó gọi là giết được mẹ tham dục. Bụt ở đây là sự vướng mắc vào các kiến giải phân biệt. Nếu quý vị đi vào trong pháp giới thanh tịnh mà không làm phát sinh những kiến giải phân biệt, dù chỉ trong một sát na, tới đâu cũng giữ được trí vô phân biệt của mình, đó là quý vị đã làm Bụt (của biến kế sở chấp) chảy máu. Tăng đoàn ở đây là sự vướng mắc vào các ý niệm phiền não và sở y. Nếu quý vị đạt được cái thấy là tất cả các phiền não và kết sử đều Không và chẳng có chỗ nương tựa (sở y), thì dù chỉ trong một khoảnh khắc, quý vị cũng đã phá được tăng đoàn của phiền não, kết sử và sở y. Kinh tượng ở đây là những ý niệm về nhân duyên, về tâm và về pháp. Nếu quý vị, dù chỉ trong một khoảnh khắc, thấy được tính Không của nhân duyên, của tâm và của pháp và đoạn trừ được tất cả những khái niệm mình có về nhân duyên, về tâm và về pháp, đó là quý vị đã thiêu đốt được các kinh tượng của khái niệm, của tâm và của pháp.

Này các vị đại đức! Nếu làm được như thế, các vị sẽ không còn bị kẹt vào các danh từ phàm và thánh.

Quý vị trong mỗi ý niệm đã quen nhìn vào nắm tay không và ngón tay chỉ, cho đó là sự thật, dựa trên căn cảnh mà hình dung ra các pháp hư ngụy không thật có. Các vị có mặc cảm tự ty, cho nên chỉ biết khúm núm co rút mình lại, và tiếp tục nói: ‘Ta chỉ là một kẻ phàm phu, còn vị ấy là một bậc thánh nhân.’ Bọn trọc đầu ngu ngốc kia ơi! Tại sao các ngươi lại chạy đi hối hả tìm cái chết bằng cách đội lốt sư tử lên đầu để kêu thành tiếng của những con dã can như thế? Là kẻ đại trượng phu mà tại sao các ngươi không thở ra được khí phách của kẻ đại trượng phu? Những gì đã có sẵn trong nhà mình mà mình không tin, lại cứ đi tìm kiếm ở những nhà khác? Tại sao lại cứ sa vào cái bẫy danh cú của cổ nhân, hết nương vào âm lại tựa vào dương, rốt cuộc chẳng tự mình đạt được gì cả. Gặp hoàn cảnh nào cũng bám vào, gặp đối tượng nào cũng nắm bắt, tiếp xúc tới đâu thì bị lừa gạt tới đó, quý vị không hề có tiêu chuẩn nhận thức nào cả.

Các bạn tu, các bạn đừng bị kẹt vào lời nói của ông thầy tu núi này. Tại sao? Tại vì những lời tôi nói không thực sự có nền tảng nào cả, đó chỉ là những bức vẽ nhất thời trên không gian, dù chúng là những hình tượng có màu có sắc. Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy đó cũng như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ-tát và La-hán cũng chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca.

Này các bạn tu, Bụt không phải là cái gì mà quý vị có thể nắm bắt được, cho đến giáo lý ba thừa, năm tánh, đốn giáo, viên giáo, tích môn, bản môn… Tất cả chỉ là thuốc và bệnh cùng hiện khởi đối lập nhau nhất thời, không phải là những pháp có thật. Mà dù cho có cái gì đi nữa thì đó cũng chỉ là những cái giả bày như có thật, những biểu hiện tạm thời dưới dạng văn tự để cho công chúng có tạm thời mà sử dụng. Chỉ nói thế thôi!

Này các bạn tu, có một bọn thầy tu thực tập hướng nội công phu, nghĩ rằng mình đang mong cầu pháp xuất thế. Họ lầm. Cầu Bụt thì mất Bụt. Cầu Đạo thì mất Đạo. Cầu Tổ thì mất Tổ. Các đại đức! Đừng lầm. Tôi không cần quý vị giải thích kinh luận cho hay, không cần quý vị làm quốc vương hay đại thần, tôi không cần quý vị biện giải thao thao như một dòng sông, tôi cũng không cần quý vị trở thành những bậc thông minh và trí tuệ. Tôi chỉ cần quý vị có được kiến giải chân chính. Nếu quý vị có giảng giải được một trăm bộ kinh luận đi nữa thì quý vị cũng không bằng được một ông thầy tu tầm thường mà vô sự. Giảng giải được kinh luận một cách thao thao chỉ làm cho các vị thêm tự hào tự đắc và sinh ra khinh miệt kẻ khác. Đó cũng chỉ là tâm sự của bọn A-tu-la, chỉ nghĩ đến thắng bại. Vô minh và sự tranh chấp nhân ngã chỉ làm lớn lên cái nghiệp địa ngục. Tỳ khưu Thiện Tinh (Sunaksatra) đấy, thông giải được mười hai thể tài của kinh điển vậy mà vẫn phải rơi vào địa ngục như thường, không còn được ở lại trên trái đất. Hơn hết là nên vô sự và chấm dứt mọi tìm cầu, đói thì ăn, buồn ngủ thì nhắm mắt lại, kẻ ngu có thể cười ta, nhưng người trí sẽ hiểu được ta.

Này các bạn tu, đừng đi tìm cầu gì trong văn tự để cho tâm mình thêm động, trí mình thêm mệt và phổi mình phải hớp vào những luồng khí lạnh, vô ích. Chi bằng thấy được trong một khoảnh khắc rằng các hiện tượng duyên khởi là vô sinh và siêu việt được cả các vị Bồ-tát quyền học trong ba thừa.

Các vị đại đức, đừng chần chừ cho qua ngày tháng. Ngày xưa, khi chưa thấy đạo, còn đang ở trong vùng mờ mịt đen tối, tôi đã không lúc nào dám làm biếng, bầu máu nóng trong người luôn luôn thúc đẩy tôi bôn ba đi tham cầu học đạo. Sau đó nhờ đạt được trí lực, bây giờ mới có dịp ngồi đây nói chuyện với quý vị. Tôi khuyên quý vị là đừng vì chuyện cơm áo và danh lợi mà để thì giờ đi qua. Gặp được thiện tri thức là một điều hy hữu, cũng giống như gặp hoa ưu đàm đang độ nở, lâu lắm mới có một lần. Có những vị từ khắp nơi về đây nghe nói có lão già Lâm Tế, liền tìm tới định vấn nạn thử giăng bẫy để lừa tôi nói ra những lời ngôn giáo, nhưng các vị ấy đã thất bại. Và khi lão tăng này đã đưa toàn thân ra để phơi bày công dụng, thì quý vị ấy ngồi đó hai mắt tráo trưng, miệng câm như hến, hoang mang đến nỗi không biết trả lời tôi ra sao. Tôi xin nói cho quý vị biết: với sức dẫm đạp của rồng voi thì lừa ngựa không thể nào chịu nổi.

Các vị ấy đã đi khắp nơi, đã trỏ ngực vỗ sườn, nói rằng mình hiểu thiền hiểu đạo. Nhưng các vị ấy đã không thể không tới đây, có khi đi thành hai người, có khi đi ba người một lúc, nhưng rốt cuộc tới đây họ cũng chẳng phô trương được một cái gì cả. Úi chà! Các vị cứ khiêng cái thân và cái tâm ấy của quý vị đi khắp nơi để khua tung hai mảnh da môi, lừa gạt dân trong xóm, coi chừng có ngày sẽ bị ăn thiết bổng. Bọn họ không phải là thật người xuất gia đâu, kỳ thực họ đang bị lùa về cảnh giới A-tu-la. Chỗ chí lý của đạo không phải là dùng lý luận để đề cao giáo lý của mình và để chinh phục người đạo khác. Chư Bụt và chư Tổ nối tiếp nhau cũng (đi theo tinh thần này và) không có chủ đích nào khác. Nếu các ngài có thiết lập ngôn giáo thì những ngôn giáo này cũng chỉ nằm trong những mô thức giáo hóa đưa người vào các phạm trù ba thừa, năm tánh và quả báo trời người. Giáo pháp viên đốn thì không như thế. Đồng tử Thiện Tài thật ra chưa từng đi qua một cuộc tham vấn tìm cầu nào cả.

Các vị đại đức! Đừng sử dụng tâm ý một cách lầm lạc. Biển lớn không bao giờ chấp nhận tử thi. Mang gánh nặng của tâm lý tìm cầu mà rong ruổi khắp nơi trong thiên hạ, điều này chỉ gây thêm chướng ngại cho cái thấy của chính tâm mình. Nếu mặt trời không bị mây che thì khắp nơi bầu trời được chiếu sáng. Mắt không bị dụi thì sẽ không có hoa đốm trong hư không.

Này các bạn tu! Nếu các bạn muốn sống theo tinh thần của Pháp thì chỉ cần chấm dứt nghi ngờ. Triển khai ra thì ôm lấy cả pháp giới, thu vén lại thì tơ tóc cũng không dung, một mình sáng rỡ, chưa từng thiếu thốn. Cái mà tai không nghe, mắt không thấy, ta gọi nó là cái gì? Người xưa nói: Nói nó là một vật thì cũng không đúng. Quý vị hãy tự mình quán chiếu xem có cái gì khác hơn không? Nói mãi cũng không cùng, mỗi người phải tự nỗ lực. Xin chào quý vị!