Cây mộc già đã nở hoa

  Sư cô Chân Tạng Nghiêm

 

                                                                                            PakChong, cuối thu năm 2025

 

Tự khắc thấy Thầy

Thầy kính thương ơi!

Sáng nay, từng giọt sương vén màn đưa mặt trời dịu dàng lên cao; từng nụ hoa, chiếc lá, con đường và màu áo nâu dài đang thiền hành nhẹ bước tươi vui bên lũy tre xanh. Những chú chim non rủ nhau cất tiếng hót chào ngày mới… Con đang ngồi ngắm cảnh Tịnh độ trong hiện tại thì có một nhóm các bạn trẻ đến chơi. Các bạn tu tập theo pháp môn của Làng đã lâu.

Uống trà một lúc, các bạn hỏi: ‘’Thưa sư cô, chúng con muốn tiếp tục học hỏi và có thêm nhiều chuyển hóa thân tâm. Được hành trì pháp môn, chúng con thấy hạnh phúc khi mình khám phá được rất nhiều hạt giống thiện lành nơi tâm thức. Thật tâm chúng con muốn phụng sự và trưởng thành hơn nữa để giúp cho nhiều bạn trẻ có bình an như thế”. Con mỉm cười và nói: “Vậy các bạn học và thực tập để hiểu thêm về dòng tu Tiếp Hiện nhé”.

Đôi mắt các bạn bừng sáng ngạc nhiên:“Thật hả thưa sư cô? Chúng con cứ nghĩ các cô chú lớn tuổi tài giỏi mới là Tiếp Hiện. Làm sao chúng con có thể làm được?”. Con kể lại lời Thầy từng hướng dẫn trong một buổi ngồi chơi với các cô chú Tiếp Hiện người Việt ở Úc. Thầy nói rằng một vị Tiếp Hiện khi khoác lên mình chiếc áo nâu là để nhắc chúng ta khiêm cung hơn, sống đẹp hơn như màu của đất. Tiếp là tiếp nhận, tiếp nối. Hiện là biểu hiện, thực hiện. Chúng ta thực hiện những hoài bão mà Bụt đã giao phó: đem đạo Bụt đi vào cuộc đời để giúp cho ta và những người chung quanh ta bớt khổ. Vì vậy trách nhiệm của một vị Tiếp Hiện không phải là để làm le cho thiên hạ, mà làm sao sống cho đẹp và có hạnh phúc thật sự.

Các bạn lắng nghe chăm chú. Hạt giống bồ đề trong tim người trẻ yêu quê hương, yêu con người, được đánh thức và thắp sáng. Ngoài kia những chiếc lá tre rơi nhè nhẹ lấp lánh trong ánh nắng mai; tiếng cười của gió và của mấy đứa trẻ rộn vang cả vườn Làng. 

‘’Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Con đi đâu? Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay

Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt

Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.”

 ( Trích: Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai, Thơ Sư Ông Làng Mai)

 

Thầy ơi! Trong Đại giới đàn Nước Tĩnh năm 2025 tại Thái Lan, có rất nhiều bạn trẻ từ Việt Nam, và cả các nước Indonesia, Malaysia, Singapore tham dự và thọ giới Tiếp Hiện. Một gia đình tâm linh chan chứa niềm vui, sự thao thức và cùng nhau góp nhặt thiền cơ mà tự thân chứng đạt nên công.

 

Bền sắt tươi son

Thầy ơi, có những giây phút con ngồi với các bạn trẻ với đôi mắt trong và trái tim bồ đề dũng mãnh, con thấy Thầy ngồi ở đó. Con nhớ một bài pháp thoại Thầy nói rằng:“Khi tu tập có hạnh phúc thì mắt con sẽ sáng tươi và tràn đầy năng lượng của Bồ đề tâm’’.

Con cảm nhận điều này khi con ngồi với các sư anh, sư chị, sư em của con. Nhưng ngạc nhiên thay khi điều này cũng có cả trong những vị cư sĩ – những người âm thầm theo bước chân Thầy. Không mang hình tướng xuất phàm nhưng vẫn trọn vẹn tình thương tinh khôi.

Sau khi nhận giới Tiếp Hiện, các bạn trẻ ở miền Trung hẹn nhau ngồi lại tụng giới và chia sẻ sự hành trì. Không ngừng học thi kệ, nghe pháp thoại và làm bài tập đều đặn vun bồi tầm hiểu biết. Các bạn làm gì cũng đồng lòng và thắp sáng tinh thần tương tức như một con rồng lớn dang đôi cánh rộng bay cao khắp bầu trời, không ngại ngần bất cứ điều gì. Vì có sự đồng lòng hướng dẫn của quý thầy quý sư cô, đặc biệt là các người chị Tiếp Hiện từ tâm nên các bạn đã đi vào phụng sự và hiến tặng một cách tự nhiên và tràn đầy hào khí.

“Như chưa bao giờ từng vắng mặt

Như chưa bao giờ trên thế gian

Đã từng có cơn bão lửa

…..

Con ngồi đó

Im lặng trời xanh cao

Núi tuyết in nền trời

Và nắng reo phơi phới

Thế Tôn là tình yêu đầu

Thế tôn là tình yêu tinh khôi

Nghĩa là không bao giờ

Sẽ cần tình yêu cuối

Người là dòng sông tâm linh…”  

(Trích Tìm nhau, thơ Sư Ông Làng Mai)

 

Mùa lũ

Lần đầu các Tiếp Hiện trẻ ra trận tổ chức khóa tu cho quê hương Đà Nẵng thân yêu, tức thì gặp chướng duyên. Bão lốc xoáy là bài toán lớn thứ nhất. Mưa to kéo dài gây lụt là bài toán khó, lớn thứ hai; thách thức tinh thần cho mỗi pháp lữ. 

Nhưng các bạn cùng nhau cầu nguyện, ngồi thiền và thiền hành để làm dịu lắng những lo âu. Đưa ra các đề xuất cần thiết với nhiều phương án cụ thể nhất cho ban tổ chức và người tham dự khoá tu làm sao để thuận tiện, an toàn nhất.

Ngoài kia mưa nhẹ nhẹ, trời tối dần. Bên trong phòng thiền, huynh đệ vừa ngồi bàn bạc với nhau, vừa nâng ly trà trong hai tay, trân quý sự có mặt. Ngọn nến lung linh mỉm chi cười, hương trầm thoang thoảng, thư giãn, bay nhẹ nhàng vào không gian hoà lẫn mưa phùn cuối thu, chớm đông về.

Có bạn cười, nói nhỏ bên tai con: “Sư cô ơi, có Bụt lo!”   

Và quả nhiên nhờ sự che chở của chư Tổ, Thầy và thầy Trụ trì nên khoá tu đã diễn ra một cách nhẹ nhàng, huy hoàng, chan chứa tình thương yêu. Bão chuyển hướng, bầu trời xanh trong veo – cứ ngỡ như là giấc mơ vậy đó, thưa Thầy.

Những ngày khoá tu rất thơ mộng trong cảnh núi sông thanh bình. Núi Ngũ Hành Sơn cheo leo ôm lấy không gian tịch tĩnh, chảy dài là dòng sông với hàng liễu cúi mình chào những chú cá vẫy đuôi tung tăng nô đùa. 

Các bạn chọn tên cho khóa tu là Bền sắt tươi son – nhớ mãi rằng chúng ta còn đây là nhờ Thầy dẫn lối. Pháp môn tu tập trưởng dưỡng mỗi chúng con như hôm nay: khỏe  mạnh, kiện khương, thông thương gia đình, giúp đỡ được cho cộng đồng làm việc và được xã hội tin tưởng, nhờ cậy.

“Quê hương tôi là đây

Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối

Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm

….

Giữ cho bền sắt tươi son

Giữ cho tâm lặng giữa cơn ba đào”

(Trích Tươi son bền sắt, thơ Sư Ông Làng Mai)

 

Muôn kiếp nguyện tương phùng 

Sau khóa tu, về đến Phố Hội nước lụt đã trước nhà. Có nhiều bạn về đến nhà là nước đã lên đến đầu gối. Nước lên mau, mưa lớn kéo về, bão lũ cứ tràn vào nhiều lần không ngưng. Dần dần lụt ngập cả Phố cổ Hội An, Quảng Nam, thành phố Huế, các tỉnh miền Bắc rồi đến miền Nam và cả Tây Nguyên. Không sót nơi nào. 

Tinh thần phụng sự trỗi dậy quyết liệt nơi quý thầy, quý sư cô ở khắp các trung tâm Làng Mai tại Việt Nam, các bạn trẻ cùng lòng cứu trợ và khích lệ tinh thần đồng bào. Tăng thân khắp chốn quê mình cùng thầy cô đến các vùng sâu vùng xa, gởi tấm lòng thương yêu san sẻ – có nhau. 

Lũ lụt năm nay lớn như năm 1964. Lúc đó còn chiến tranh, người dân nghèo rất đông. Thầy đi trên sông Thu Bồn và chắp tay nguyện cầu vì chung quanh, hai phần ba người dân chết vì đói. Chung quanh toàn mùi máu. Thầy nhỏ xuống dòng sông ba giọt máu và phát nguyện lớn tu tập, độ người dân bớt khổ, giúp cho quê hương đất nước yên bình. 

Và chính câu chuyện ấy cũng làm con hiểu sâu về Đạo Bụt dấn thân: Khi nào mình giúp người cũng là đang giúp chính mình. Thật vậy. Là đệ tử của Thầy, chúng con – các vị xuất sĩ cũng như cư sĩ, luôn hướng về đất nước, dân tộc, con người trong nhiều lĩnh vực như khoa học, giáo dục, tuổi trẻ, sức khoẻ…

Bởi vì chúng con đâu chỉ là tu sĩ mà còn là bác sĩ, họa sĩ, thi sĩ, ….và là dũng sĩ.  Chúng con là những người con của Bụt, của Thầy đang không ngừng học hỏi, dang tay phụng sự đi vào cuộc đời.

 

Ngàn xưa ta đã hẹn

Ba giọt máu thủy chung

Sông Thu Bồn năm ấy

Muôn kiếp nguyện tương phùng.

(Kệ kiến giải)

 

Những trái me non đang chín dần.

Hai hàng hoa mộc thơm thoang thoảng dẫn lối đi vào con đường Vườn Ươm vừa mới trồng rợp bóng, tựa cảnh tiên bồng lại có khí thiêng hào hùng đưa người về chốn bình an, thảnh thơi chi lạ. Ở vườn me, nơi có những chiếc xích đu dễ thương, chúng con ngồi lại với các bạn trong ban tổ chức từ các nước Indonesia,  Malaysia, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Trung Hoa… Các bạn học với nhau về phương pháp thực tập, phụng sự. Các bạn đóng vai trò khác nhau và có nhiều điểm nổi bật làm cho chúng con hiểu hơn về mỗi dân tộc cũng như văn hoá của mỗi nước để từ đó tìm cách đưa Đạo Bụt vào đời sống sao cho thiết thực và lợi ích nhất.

Mỗi tháng các bạn đều có chủ đề thực tập và chia sẻ trực tuyến cùng quý thầy, quý sư cô. Như những trái me non đang chín dần, cho quả ngọt thơm, các bạn đang là những thành viên chủ chốt trong tăng thân của mỗi nước, mang trong mình hoài bão đưa đời sống tỉnh thức vào gia đình, công việc, xã hội và cả công tác bảo vệ môi sinh. 

 

Cây mộc già đã nở hoa

Thầy ơi, Thầy đi hái thuốc thật xa, thấm thoát mới ba năm mà Vườn Ươm đã có gần 50 đệ tử xuất gia của Thầy biểu hiện. Hầu như các bạn còn nhỏ, trẻ, mang trong mình Bồ đề tâm dũng mãnh và kiên cường. Có sư chú chỉ 15 tuổi thôi nhưng không bỏ ngồi thiền mà lại biết chăm sóc các sư anh nữa. Có sư bé 20 tuổi thôi nhưng đã gánh vác các công việc bảo trì, tri khách cùng các sư chị.

Quý sư em đã mang đến Vườn Ươm một mùa xuân rực rỡ từ sự tiếp nối của Thầy. Chúng con nhớ lời Thầy dạy: “ Tài năng lớn nhất của con là sống hạnh phúc và hòa hợp trong Tăng thân”. Lúc đó, nghe Thầy nói, ai ai cũng ngỡ ngàng vì cứ tưởng làm vi tính giỏi, tổ chức giỏi hay giỏi ngoại ngữ mới là “number one”. Nhưng chính lời hướng dẫn của Thầy đã giúp chúng con: làm người tu cho xứng đáng và hết lòng.

Mắt sư em con sáng như ngọc – chịu tu, chịu học, chịu chơi và chịu khó. Có sư em bảo con là: “Nơi nào khó là có sư em”. Nghe như thế chúng con mát lòng cùng đi tới. Tất cả các sư em như những nụ hoa, là món quà Thầy để lại cho chúng con. Chúng con không ngừng vun bón, tưới nước,….để những búp măng non trở thành cây đại thụ cho mai sau. 

An cư năm nay cũng đặc biệt lắm, thưa Thầy. Có 30 cận sự nữ và 20 cận sự nam về tu tập cùng quý thầy, quý sư cô và đến từ rất nhiều nước: Nhật, Singapore, Trung Quốc, Mỹ, Việt, Mexico, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Hong Kong,…. Phần lớn các bạn là người trẻ, với rất nhiều ước muốn học hỏi, hiểu chính mình và áp dụng đạo Bụt để chuyển hóa não phiền. 

Sau an cư đã có 10 bạn nữ và 4 bạn nam xin tập sự xuất gia. Thế là chúng con chuẩn bị tư thế sẵn sàng chăm em tiếp. Nhìn quý sư em còn nhỏ mà ham tu, con nhớ về Thầy. Mỗi lần có đợt xuất gia, Thầy luôn chuẩn bị rất nhiều hành trang để hướng dẫn chúng con, khích lệ và làm cho chúng con cảm thấy không bị thiếu thốn tình thương khi xa nhà, không hề thiếu pháp khi tầm sư học đạo. 

Còn đó…

Từng bước chân thảnh thơi, Thầy dạo chơi bên dòng suối Phương Khê. Thầy nhặt vài chiếc lá vàng khô bỏ vào túi áo ấm rồi lấy ra tặng chúng con với tình thương trân trọng, bình an… Con đường cỏ xanh ngát vẫn lặng lẽ theo Thầy. Nắng phủ lấy dáng Người ung dung, nhịp thở vẫn an yên chưa bao giờ dừng lại, tiếng thênh thang còn mãi tận nơi đây… Có Thầy rồi!

Là tri k biết răng chừ

Nói chi vài dòng đôi ba chữ

Ngồi cười ha hả

Mắt nhìn trời, ngửa mặt rong chơi

Nhìn đã hiểu tứ diệu tâm thường trực lui tới

Thì thỏa mặt cùng đất cùng trời,

Cùng gió mát trăng thanh.






      

 

 




  



 










                                             

 










Bắc một nhịp cầu

Lê Minh Châu (Chân Biểu Thiện)

 

Là một nhà văn và nhà sử học sống tại San Francisco, California (Hoa Kỳ), Minh Châu đã dành nhiều năm nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX và các phong trào xã hội trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là những nỗ lực dẫn đến sự hình thành của dòng tu Tiếp Hiện và cộng đồng Làng Mai. Chị chính thức trở thành một thành viên Tiếp Hiện vào năm 2017. Dưới đây là chia sẻ của chị về hành trình tâm linh của mình. 

 

Hồi nhỏ, tôi học đọc tiếng Việt bằng cách ngồi cạnh mẹ mỗi tối và lần theo từng chữ khi mẹ tụng kinh. Hai mẹ con ngồi trên sàn phòng thờ, với quyển kinh mở ra trước mặt, giữa làn khói hương nghi ngút và bóng đèn chập chờn. Phía trên cao là những pho tượng Phật với ánh mắt hiền từ và những bức chân dung nghiêm nghị của ông bà – những người tôi chưa từng được gặp. Hồi ấy, tôi không biết rằng chính những buổi tối ấy lại là những bước đầu tiên dẫn tôi đến với con đường chánh niệm và tăng thân Tiếp Hiện.

 

Di sản của tổ tiên đã đi vào đời sống của tôi qua con đường Phật pháp. Suốt thời thơ ấu, cộng đồng Phật tử người Việt tuy nhỏ nhưng đầy sức sống ở Raleigh, Bắc Carolina (Hoa Kỳ) giống như một đại gia đình thứ hai của tôi. Chúng tôi gắn bó với nhau trong các ngày Chủ nhật và cùng nhau đón mừng tất cả những ngày lễ truyền thống của người Việt. Khi đến tuổi thiếu niên, mỗi mùa hè tôi đều đến tu viện Lộc Uyển ở miền Nam California để làm việc, vui chơi, học tập và thiền tập cùng các thầy, các sư cô – những người cùng chung một cội nguồn. Chính những cộng đồng ấy đã dạy tôi biết cách ôm ấp những điều làm mình khác biệt; cho tôi thấy hạnh phúc đích thực là gì, và giúp tôi hiểu được vị trí cũng như ý nghĩa của mình trong cuộc đời này.

 

Tôi thuộc thế hệ đầu tiên trong gia đình được sinh ra tại Hoa Kỳ sau khi cha mẹ tôi phải rời bỏ quê hương Việt Nam. Là con của những người tị nạn chiến tranh, sự hiện diện của tôi đã được tạo nên từ lịch sử đầy đau thương và bạo lực — đồng thời cũng từ phép màu của sự sống sót, tái định cư và khởi đầu mới. Càng suy ngẫm về dòng lịch sử đầy sóng gió đã đưa gia đình tôi — và cả pháp môn này — đến đất Mỹ, tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn sự nhiệm mầu của việc mình có mặt ở đây, tiếp nối truyền thống tâm linh này ở nửa bên kia của địa cầu. Với tôi, pháp môn này luôn là sợi dây giúp tôi nối kết với tổ tiên, nương tựa vào trí tuệ và kinh nghiệm trải dài hàng bao thế kỷ để tìm hướng đi cho cuộc đời mình.

 

Tôi cảm nhận trọn vẹn sức nặng và sự linh thiêng của mối liên hệ với tổ tiên vào ngày tôi được truyền giới Tiếp Hiện, mùa thu năm 2017. Sau buổi lễ truyền giới vào sáng sớm tại tu viện Bích Nham, tôi được trao tặng một chiếc áo nâu – do chính tay của một cô Tiếp Hiện trong tăng thân may tặng – cùng những món quà nhỏ từ những vị giáo thọ gửi gắm tình thương và sự nâng đỡ: một vỏ sò trắng hình trái tim, một chiếc vòng đeo tay bằng đá hồng, và một cuốn sổ nhỏ in hình Bụt. Chúng tôi cùng đi thiền hành trong rừng, tận hưởng không khí trong lành của mùa thu. Đi trên con đường ấy, tay nắm tay cha mẹ hai bên, tôi cảm thấy mình kết nối với vũ trụ hơn bao giờ hết. Nhìn những bụi dương xỉ phủ đầy mặt đất, tôi nghĩ: “Những bụi dương xỉ này chính là tổ tiên của mình” và những giọt nước mắt hạnh phúc trào dâng nơi mắt. Từ đó, mỗi khi nhìn thấy một cây dương xỉ, tôi lại nhớ đến khoảnh khắc quý báu ấy và mỉm cười với tổ tiên mình.

 

Nguyện ước của tôi trong đời này là trở thành một nhịp cầu chữa lành giữa quá khứ và tương lai. Tôi thấy mình như một cây cầu nối giữa vô số thế hệ Phật tử trong quá khứ, có gốc rễ từ Việt Nam, và vô số thế hệ những người đi tìm con đường tâm linh trong tương lai, đang bén rễ ở nhiều nơi khác trên thế giới. Là một nhà sử học chuyên nghiên cứu về Phật giáo hiện đại và Chiến tranh Việt Nam, công việc của tôi là tìm hiểu, gìn giữ những gì đã xảy ra trong quá khứ và viết lại chúng theo cách giúp mang lại sự chữa lành. Tôi mong rằng qua cách kể lại lịch sử, tôi có thể làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta về chính mình và mối liên hệ giữa mình với thế giới rộng lớn hơn.

 

Ước nguyện được phụng sự như một cây cầu nối giữa quá khứ và tương lai ấy được truyền cảm hứng từ những thế hệ hành giả Phật giáo đi trước — những người đã giữ gìn và truyền trao chánh pháp qua những thăng trầm của thời cuộc. Các bậc tổ sư tâm linh của chúng ta đã nắm giữ Đạo pháp khi đi qua thời kỳ thực dân, chiến tranh và công cuộc xây dựng lại đất nước. Chư vị đã chống chọi lại sự chia rẽ và bạo lực bao trùm xã hội lúc bấy giờ, đi đến những nơi có nhiều đau khổ nhất để hiến tặng tình thương và sự giúp đỡ, mà không phân biệt lập trường hay khuynh hướng chính trị. Như tác viên xã hội từng viết vào năm 1972, sứ mệnh của họ đơn giản là “hiện diện cùng con người trước cỗ máy chiến tranh khổng lồ này”. Chính sự hiện diện đó đã là một hành động phản kháng sâu sắc; đó là Pháp sống. Cũng với tinh thần ấy, Thầy đã sáng lập dòng tu Tiếp Hiện năm 1966, tạo nên một cấu trúc chính thức cho các hành giả thực tập và biểu hiện những giá trị đó trong tăng thân.

 

Khi quán chiếu nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập dòng tu Tiếp Hiện, tôi thấy vừa có sự tiếp nối, vừa có sự chuyển hóa. Thầy đã sáng lập dòng tu trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, với 14 Giới Tiếp Hiện nhằm kêu gọi hành giả dấn thân vào khổ đau của thời đại, đồng thời giữ vững gốc rễ tâm linh sâu dày. Sáu mươi năm sau, chúng ta đối mặt với những thử thách khác, nhưng tiếng gọi căn bản ấy vẫn không thay đổi: có mặt trọn vẹn với khổ đau và đáp lại bằng trí tuệ cùng lòng từ bi.

 

Từ một nhóm nhỏ những thanh niên phụng sự xã hội trẻ người Việt, tăng thân Tiếp Hiện đã trở thành một cộng đồng toàn cầu, trải rộng khắp các châu lục và các nền văn hóa khác nhau. Dù đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, chúng ta được kết nối bởi cam kết cùng thực tập 14 Giới Tiếp Hiện và nguyện ước xây dựng một thế giới đầy tình thương. Có người, giống như tôi, tiếp nối pháp môn qua di sản tổ tiên; người khác lại tìm thấy pháp môn này trên con đường đi tìm ý nghĩa và sự bình an trong đời. Vậy dòng tu Tiếp Hiện trong năm 2026 sẽ mang ý nghĩa gì? Với tôi, điều đó có nghĩa là: 

  • Sẵn sàng chuyển mình nhưng vẫn bám rễ vào những nguyên tắc vượt thời gian. 
  • Xây dựng những tăng thân có khả năng đón nhận tất cả mọi người từ mọi truyền thống khác nhau, đồng thời tôn trọng chiều sâu của truyền thống Phật giáo. 
  • Sử dụng cả những pháp môn cổ xưa lẫn phương tiện hiện đại để đối diện với những thách thức của thời đại mới. 
  • Quan trọng nhất, đó là sống trọn vẹn với cái thấy rằng chúng ta tu tập không chỉ vì sự giải thoát của riêng mình, mà vì sự giải thoát của muôn loài.

 

Nhìn về tương lai, tôi mong rằng tăng thân Tiếp Hiện sẽ vẫn tiếp tục là chính mình — như xưa nay vẫn vậy: một cộng đồng biểu hiện một lối sống đẹp giữa cuộc đời này. Giữa thời đại đầy thử thách và biến động chưa từng có, chúng ta vừa có cơ hội, vừa có trách nhiệm chứng minh rằng việc nuôi dưỡng trí tuệ, từ bi, niềm vui và sự tương tức không chỉ là một lý tưởng đẹp, mà còn là câu trả lời thiết thực trước những khủng hoảng của thời đại. Nguyện cho chúng ta trở thành những người đi trước mà các thế hệ tương lai sẽ trân quý và biết ơn — những người tiếp nối và gìn giữ Đạo pháp với tinh thần can đảm và tận tâm như các bậc tiền nhân.

 

Hoa tuyết đầu mùa

Sư cô Chân Tuyết Nghiêm

 

Món quà đầu đông

Hôm qua tôi mới biết tin là hôm nay sẽ có tuyết. Thức dậy trong một buổi sáng làm biếng thảnh thơi, an lành, lòng tôi nghe như có tiếng gọi đất trời rất rõ. Tôi mở cửa bước ra thì đúng như ước hẹn: một khung trời tuyết trắng. Tôi thấy sướng vui trong bình an bởi vì chỉ mình tôi trong khung cảnh ấy. Trời vẫn còn tối nên cảnh vật chưa hiện rõ, tiết trời cũng khá lạnh. Tôi chỉ biết trở vào lại trong phòng, đốt nến, uống trà và nghe vài chương pháp thoại của Thầy, chờ trời sáng. 

Nghe pháp của Thầy mỗi sáng là một thói quen thật nuôi dưỡng. Dù chỉ 15 hoặc 30 phút thôi nhưng vườn tâm tôi được thắp sáng bởi những ngọn đèn. Cũng khá lâu rồi tôi bỏ đi thói quen này vì chỉ thích ngồi yên, uống trà vào buổi sáng. Nhưng mùa đông này tôi muốn nuôi lại tập khí đã nuôi dưỡng tôi rất nhiều năm từ sau khi tôi xuất gia. Những điều Thầy dạy chưa bao giờ là cũ cả nên tôi cứ luôn lắng nghe bằng trái tim hiện tại, và nhờ vậy mà bao giờ những lời Thầy chia sẻ cũng chạm sâu đến cuộc sống của tôi trong bất kỳ thời điểm nào. 

Sáng nay, khi đang thưởng thức cái bình yên quen cũ ấy, sư em mời tôi đi uống trà ngắm tuyết. Tôi có chút tiếc nuối bài pháp thoại đang nghe dang dở, nhưng rồi tôi dừng lại, sắp xếp, tìm xuống khung cửa sổ phòng em để chị em cùng uống trà ngắm tuyết. Với tôi giây phút ngồi với sư em cũng như giây phút ngồi bên Thầy. Vì đó là thiên đường của hiện tại. Mà nơi nào có thiên đường hiện tại thì sẽ có Thầy ở đó. Ly trà nóng, sự có mặt trân quý nhau thật ấm áp, thật thân thương. Những phút giây đầy đủ tình chị em, tôi trân quý – cảm ơn em với món quà ngày đầu đông ý nghĩa. 

Những bông hoa tuyết rơi trước mặt chị em tôi càng lúc càng nhiều. Khi thời gian chị em có mặt cho nhau đã đủ, tôi từ biệt em và mang đồ thật ấm để ra ngoài trời thưởng thức những cơn mưa tuyết. Vẫn không gian bình yên buổi sáng, tôi một mình thưởng thức những bước chân dưới cơn mưa tuyết đầu mùa. Hạnh phúc thật tự nhiên, bình an cũng thế và Thầy cũng có mặt thật gần, vì Thầy yêu thiên nhiên lắm. Thầy sẽ không bỏ lỡ bất cứ một mầu nhiệm nào mà thiên nhiên ban tặng, dù là một cơn mưa, một nụ hoa, một chồi cúc,… Tôi thấy mình đang tiếp nối tình yêu cao sang ấy của Thầy. 

 

 

Đóa vô ưu ngập cả trời

Tôi đưa hai tay ra hứng lấy những bông tuyết nhỏ. Tuyết sáng nay còn nặng nước mưa. Bất giác câu nói của Thầy trở lại rất gần trong tâm thức tôi: “Giọng hô canh của con vừa có mưa, vừa có tuyết”. 

Tôi nhớ đó là lần đầu Thầy nghe tôi hô canh trước đại chúng. Khi thời ngồi thiền vừa dứt, Thầy hỏi một vị trong đại chúng: “Sáng nay ai hô canh vậy con?”. Một sư chị gần bên trả lời Thầy: “Dạ bạch Thầy, sư em Tuyết Nghiêm của con ạ”. Và Thầy nói: “Giọng hô canh vừa có mưa, vừa có tuyết”. Lúc ấy tôi không hiểu được ý Thầy. Câu nói ấy lui tới trong tâm thức tôi rất nhiều năm. Tôi không dám hỏi Thầy trực tiếp nên bao năm cứ trăn trở, rồi phải tự hiểu theo kiểu của riêng mình. Tuyết nếu có mưa sẽ rất ướt át. Có lẽ Thầy thấy tôi tuy bên ngoài là bông tuyết rất đẹp trong mắt mọi người nhưng hoa tuyết ấy đang âm thầm mang nặng nhiều tổn thương, đau khổ thâm sâu như cất trong nó những hạt mưa trĩu nặng. 

Và đúng hôm nay tôi đang đứng trong trời có tuyết và có mưa. Rõ ràng mưa cũng là tuyết, tuyết cũng là mưa, nhưng mưa có nhiều nên hoa tuyết nặng chứ không nhẹ nhàng như bản chất của tuyết. Tôi thấu hiểu tôi của ngày xưa rõ ràng là những bông tuyết còn nặng hạt mưa. Trong tâm thức tôi có lẽ chứa thật nhiều nỗi niềm sầu muộn, mà chính tôi cũng không thể gọi được tên.  Có lẽ vì vậy mà qua giọng hô canh của tôi, Thầy thấy được hạt giống buồn khổ ướt át còn lưu giữ trong ấy. Tuyết trong sáng và tôi cũng thế, nhưng có lẽ nỗi buồn tủi nằm sâu trong giọng hát là những bí mật tôi đã giữ cho riêng mình. Hồi trước nhiều người nói rằng tôi có giọng hát giàu cảm xúc, đi vào được trái tim người, nhưng giọng hát ấy còn buồn lắm, nên mỗi lần nghe thấm thía nỗi buồn. Và Thầy, đúng là người thầy tinh tường, nên có thể nhìn sâu thấy rõ vấn đề tồn đọng của tôi, dù rằng tôi chưa có cơ hội mở lòng với Thầy. 

 

Cũng từ đó tôi bắt đầu làm việc thật nhiều với nội tâm mình. Hai mươi mốt tuổi, tôi thao thức muốn hiểu được chính mình. Đây là điều mà tôi cho là quan trọng nhất trong đời tu của mình. Mỗi lần tôi phải đối diện với những tâm tư, cảm xúc trong mình là những lần thật khó khăn, như phải đào xới đống rác đã lấp vùi bao năm để thấy rõ đằng dưới đó tôi đã chôn giấu những gì. Công phu ấy là một quãng đường rất dài, để tôi từng bước làm quen lại với khổ đau của mình, để thấu hiểu, chấp nhận và chăm sóc nó. Tôi đã tái lập lại truyền thông với đứa bé bên trong mình. Nhờ vậy mà tôi cũng giải phóng sự mong manh ẩn núp trong tôi bấy lâu. Đối diện với sự mong manh của chính mình, tôi mới thật hiểu về sức mạnh của sự mạnh mẽ. Và nhờ đó, tôi bắt đầu xây dựng lại thiên đường của chính tôi: trị liệu được quá khứ, trân quý được hiện tại và xây dựng được tương lai bình an. Tự đáy lòng, tôi thấy được bông tuyết hôm nay đã khô ráo, nhẹ nhàng và tự do bay giữa đất trời thật tuyệt vời sáng nay.

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Những đóa vô ưu ngập cả trời 

Trong sáng, tinh sạch và thanh tịnh 

Có ai ngắm tuyết lòng thảnh thơi

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Cơn mưa thanh thoát thấm vườn đời 

Lặng lẽ, bình an và hoan hỷ

Trọn vẹn ân tình một cuộc chơi

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Bài ca rộng lượng viết thành lời 

Yêu thương, hiểu biết và dâng hiến 

Niềm tin trong đôi mắt sáng ngời 

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Từng bước chân vui đóng dấu rồi

Vững chãi, yên lành trong hiện tại

Ai cười một kiếp biết rong chơi.

Sáng nay trong những bước chân dẫm lên tuyết trắng, tôi gọi tên Thầy và mỉm cười: 

“Thầy ơi, con đã thấy rõ tuyết và mưa rồi, nó ở trong nhau và làm nên con mầu nhiệm. Con không chối bỏ mưa nữa vì nó là một phần của cuộc sống con. Nhưng con biết hoa tuyết của con bây giờ khô ráo và nhẹ nhàng lắm, Thầy ơi”. 

Khung trời tuyết trắng đầu mùa cho tôi được gặp lại tôi. Cho tôi hội ngộ với Thầy, vui vẻ kể Thầy nghe hành trình chuyển hóa của mình. Tôi biết, nếu tôi không kể, chắc Thầy cũng là người hiểu sâu nhất về điều ấy. 

Tuyết rơi mỗi lúc một nhiều. Những bông tuyết nhẹ nhàng hơn, không còn nặng mưa như ban đầu. Những giây phút một mình khiến tôi tận hưởng sâu sắc và thiêng liêng khung cảnh ngày tuyết rơi, sáng trắng thanh tịnh. Cũng buổi sáng nay, tôi cùng em tung tăng đi hứng những cơn mưa tuyết trên những con đường ngỡ là cổ tích, và rồi ngồi trên tầng hai của ni xá, kể cho nhau nghe những câu chuyện chuyển hóa: nuôi nhau, thấu hiểu, chân tình. Tôi gởi em một niềm tin, mong rằng em cũng thành công trên con đường chuyển hóa của em – con đường mà tôi đã đi qua thật đẹp và muốn trao em sức sống của niềm tin ấy. 

Giây phút nhiệm mầu

Chị em chúng tôi bỏ giờ nghỉ trưa để vào rừng chơi tuyết. Thật bất ngờ vì dòng suối đã chảy trở lại sau nhiều ngày khô hạn. Tiếng suối reo trong trẻo, khu rừng sáng trắng với những bông tuyết trĩu nặng trên những cành cây, ngọn lá, phủ trắng thảm rêu xanh. Những bông tuyết cũng rơi vào dòng suối tan nhanh. Rõ ràng tuyết là mưa, là suối, biến chuyển không ngừng. Vậy có gì nắm bắt được đâu; chỉ có thể mỉm cười với hiện tại mới tiếp xúc được với hoa tuyết chân thật. Như những đứa bé lạc trong khu rừng huyền thoại tuyết trắng, đón chào những cơn mưa tuyết không ngừng rơi. Không có gì diễn tả được khung cảnh ấy. Từng bước chân in lên nền tuyết trắng, từng hơi thở và nụ cười mãn ý đi qua từng phút giây. Tôi là nàng công chúa đang có quyền lực tối thượng trong thiên đường tuyết trắng. Mộc dấu bình an, thanh thản, hạnh phúc truyền đi những tin vui từ một công chúa hạnh phúc. Xứ sở của phút giây hiện tại ngập tuyết trắng như ngày hội vui mầu nhiệm – công phu nhất của đất Mẹ thiết kế cho cuộc đời. Cô công chúa của Mẹ đang tận hưởng tất cả kỳ quan mầu nhiệm ấy. Cảm ơn đất Mẹ, cám ơn Thầy đã trao cho đôi mắt biết nhìn và biết cảm để hạnh phúc là sự sống tự nhiên, hiện thực và đầy trân trọng. 

Thiên đường tuyết trắng có tình thầy trò, có tình huynh đệ, có mối tình tri kỷ của tôi dành cho chính mình và với Mẹ thiên nhiên. Những bước chân giẫm lên tuyết trắng đã tan đi lặng lẽ trong nụ cười mặc nhiên. 

(Bích Nham – một ngày tuyết đầu mùa)

Tâm đăng – Nhất hạnh tam muội

 

Năm 1966 là năm mà Thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, Thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để Thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho Thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để Thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho Thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:

Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành

Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, Thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì Thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, Thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.

Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bức rức ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.

Đi Về Hướng Mùa Xuân

Thiền của chúng ta là thiền của tình thương. Chúng ta thực tập thương yêu hai mươi bốn giờ trong một ngày. Chúng ta đi, cốt yếu vì thương mà đi, chúng ta ngồi cũng vì thương mà ngồi, chúng ta ăn cơm cũng vì thương mà ăn cơm, chứ không phải là để làm khô kiệt dòng suối thương yêu trong lòng của chúng ta. Bụt là một con người của tình thương. Chúng ta phải tiếp nối tình thương của Bụt mới được.

Trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, có câu chuyện của một bà cụ. Bà cúng dường cho một vị tu sĩ ở trong một am cốc suốt 20 năm. Ngày nào Bà cũng đem cơm đến để cúng dường cho vị tu sĩ đó. Khi không đi được thì bà nhờ cô con gái đem cơm đến cho Thầy. Suốt 20 năm như vậy. Một hôm, bà cụ nói với con gái: Này con, con lên ngồi chơi với Thầy, con xin Thầy ôm con, thử xem Thầy phản ứng như thế nào? Cô thiếu nữ lên am cốc và làm y như vậy. Thầy kia xích ra một bên và đọc hai câu kệ:

Khô mộc ỷ hàn nham

Tam đông vô noãn khí

Nghĩa là:

Cây khô dựa vào hòn núi lạnh. Suốt trong ba mùa đông nó không hề có một chút hơi ấm nào cả! Khi cô gái về báo cáo với mẹ, bà cụ ngửa mặt than rằng: Hai mươi năm cúng dường rất là uổng. Ông Thầy tu này không được tích sự gì hết! Chiều hôm đó, bà đến châm lửa đốt cháy túp lều của vị tu sĩ.

Chúng ta tu như thế nào để tình thương trong ta luôn đầy tràn, để niềm tin trong ta không cạn mất. Nếu tu chỉ để làm dịu bớt một vài khổ đau ở trong lòng, hay để chạy trốn khổ đau ở cuộc đời thì chưa phải là tu đúng phương pháp. Tu mà không thấy được những khổ đau ở xung quanh, không đem lại sự chuyển hóa, sự tươi mát và hạnh phúc cho người xung quanh ta thì cách tu đó không phải là bản hoài của Đức Thế Tôn. Vì vậy phải vượt qua giai đoạn “Khô mộc”, phải đi để gặp mùa xuân!! Đó là pháp tự mà Sư Ông đã đặt cho Thầy: Phùng Xuân. Nó có một ý nghĩa rất sâu sắc mà hồi đó vì chưa hiểu, vì dại dột, Thầy đã cho rằng cái tên này giống tên con gái.

Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành

Hành đương vô niệm diệc vô tranh

Câu đầu có chữ Nhất. Câu hai có chữ Hành. Nhất hướng là đi chuyên về một hướng. Hướng đó là hướng Phùng Xuân. Do đó, các học trò của Thầy hãy cứ an tâm nhắm vào hướng mùa Xuân mà đi tới. Đắc là được. Kiện hành là một thế đi rất hùng dũng và vững chãi. Đó là Lăng Nghiêm. Tiếng Pháp gọi là “La marche héroique”. Danh từ “la marche héroique” là để dịch chữ surangama. Dịch tiếng hán việt là kiện hành, tức là thế đi hùng dũng. Thế đi của người xuất gia phải là một thế đi dũng cảm. Cho nên, các sư cô và sư chú nên biết mình phải đi như thế nào. Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành: Đi về một hướng thôi: gặp được mùa xuân và đạt tới một thế đi vững chãi. Hành tức là hành động. Nếu là động từ thì ta đọc là hành. Nếu là danh từ thì ta đọc là hạnh. Hành tức là active, còn hạnh là action. Hành đương vô niệm diệc vô tranh: Trong hành động, ta phải theo các nguyên tắc vô niệm và vô tranh.

Vô Niệm và Vô Tranh

Vô niệm tức là không để bị kẹt vào ý niệm. Vô tranh nghĩa là không có óc hơn thua, ganh tỵ với người. Trong bao nhiêu năm hành đạo, Thầy thấy vô tranh dễ làm hơn vô niệm. Trong công cuộc hành đạo, khi có người đến tranh chấp và hơn thua với mình thì Thầy buông bỏ rất dễ, còn vô niệm thì phải thực tập nhiều mới có thể buông bỏ được. Vô niệm là không bị kẹt vào bất cứ một khái niệm hay một ý niệm nào cả.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn, tổ Huệ Năng định nghĩa vô niệm như sau: nhược kiến nhất thiết pháp bất nhiễm trước thị vi vô niệm. Nghĩa là khi mình đối diện với các pháp mà tâm không bị dính kẹt vào đó thì gọi là vô niệm. Như khi thấy một cái hoa thì ta liền khởi lên ý niệm về nó, cho nó là đẹp và muốn nó thuộc về mình. Đó không phải là vô niệm mà là đang kẹt vào một cái niệm. Có một ý niệm về Thầy, về bạn, về người hàng xóm của mình, chúng ta có thể bị kẹt vào ý niệm đó và chúng ta vướng mắc, giận hờn hoặc tham đắm là do ý niệm đó. Một khi chúng ta đã bị kẹt vào bởi ý niệm đó rồi thì hành động của ta không còn tự do nữa.

Chẳng hạn như chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta cho rằng phải như thế này, phải như thế kia mình mới có hạnh phúc, và vì chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc ấy nên chúng ta không có hạnh phúc. Trong khi đó, hạnh phúc có thể đến với ta một cách rất dễ dàng nếu ta có tự do, nếu ta không bị kẹt vào một ý niệm nào. Ví dụ có một sinh viên nghĩ rằng: “mình phải có bằng Tiến sĩ thì mới có hạnh phúc.” Vậy là chết anh ta rồi. Anh ta bị kẹt vào một ý niệm: phải có bằng Tiến sĩ mới có hạnh phúc.

Trong khi đó, rất nhiều người hạnh phúc quá chừng mà không cần có bằng Tiến sĩ gì cả! Tại sao anh lại giam anh vào trong một ý niệm để rồi anh khổ? Cho nên những ý niệm của mình rất nguy hiểm, dù là ý niệm về hạnh phúc, ý niệm về lý tưởng, về Bụt. Mình phải có tự do hoàn toàn. Cho nên trong hành động, chúng ta phải có tự do, phải vô niệm, phải vô tranh thì hành động đó mới là hành động đích thực.

Trong ba mươi năm ở quốc ngoại, Thầy đã cố gắng đi theo lời chỉ dẫn của Sư Ông. Trong những năm hành đạo ở quê nhà, Thầy đã sáng lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, trường Cao Đẳng Phật Học, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tuần san Hải Triều Âm, tuần san Thiện Mỹ, v.v… Trong lĩnh vực văn hóa và xã hội, Thầy đích thực thấy câu thứ hai này là kim chỉ nam hướng dẫn cho đời mình. Thầy luôn sống và hành động với tất cả con tim mình để phụng sự mà cố gắng không bị dính kẹt vào một ý niệm, một phe phái hay một sự tranh chấp nào cả.

 

 

Tâm Đăng Nhược Chiếu Kỳ Nguyên Thể

Tâm đăng

Tâm đăng là cây đèn trong tâm. Mỗi chúng ta đều có một cây đèn bên trong. Chính cây đèn này chúng ta phải thắp lên. Đó là ánh sáng chánh niệm. Ánh sáng duy nhất để chiếu soi vào những ngõ ngách của tâm hồn. Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể: lấy ngọn đèn tâm mà soi rọi trở lại cái bản chất, cái thể tính của mình. Làm được như vậy thì: Diệu pháp Đông Tây khả tự thành. Cái chánh pháp mầu nhiệm tự động được thành tựu thôi, dù ở phương Đông hay phương Tây. Những năm gần đây, có khi Thầy bất giác giật mình. Dường như Sư Ông đã biết trước rằng Thầy có thể đóng góp được ít nhiều cho công trình hoằng pháp ở cả Tây phương và ở Đông phương. Ngày xưa, khi leo lên máy bay để qua Tây phương, Thầy không hề có ý niệm ở lại Tây phương để hoằng pháp. Nhưng sau khi Thầy đã lên tiếng kêu gọi hòa bình rồi, thì các chánh phủ ở Việt Nam không cho phép Thầy trở về nước nữa.

Nhất hành (nhất hạnh)

Bây giờ chúng ta đi sang danh từ nhất hành. Nhất là một và hành là hành động. Có một tam muội gọi là nhất hạnh tam muội, có khi gọi là chân như tam muội, có khi gọi là nhất tướng trang nghiêm tam muội. Kinh luận giải thích: trong tam muội này ta quán chiếu được cái tướng nhất như bình đẳng của tất cả các pháp. Đưa mắt nhìn ra, ta thấy vạn sự vạn vật muôn hình vạn trạng, khác biệt nhau và tách rời nhau ra. Nhưng nếu quán chiếu thì ta sẽ thấy tất cả những cái khác nhau đó đều cùng chung một bản thể. Tuy là đa dạng, nhưng nằm dưới cái đa dạng đó có cái một, cái nhất như và cái bình đẳng, vì vậy không cái nào hơn cái nào. Đứng về phương diện hình tướng thì một trái núi lớn hơn một hạt sỏi và chúng ta thấy có sự chênh lệch giữa một trái núi và một hạt sỏi. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì trái núi và hạt sỏi là một, chứ không có sự khác biệt. Trái núi mầu nhiệm bao nhiêu thì hạt sỏi cũng mầu nhiệm bấy nhiêu. Nếu không có trái núi thì không có hạt sỏi. Nếu không có hạt sỏi thì không có trái núi.

Đứng về phương diện Bụt và chúng sanh cũng vậy. Nếu nhìn về phía hình thức, chúng ta sẽ thấy Bụt khác, chúng sanh khác. Bụt có đại từ, đại bi và đại trí, có thọ mạng vô lượng, còn chúng sanh có tham, sân, si, có sanh tử luân hồi. Nhưng sự phân biệt đó sẽ tan biến đi khi ta an trú vào trong “nhất hạnh tam muội”. Khi quán chiếu ta sẽ thấy được tính cách bình đẳng và nhất tướng của mọi sự và mọi vật trong pháp giới. Tướng đó gọi là tướng “vô sai biệt”.

Tâm đăng trong ánh sáng của nhất hạnh tam muội

Theo phương pháp quán chiếu của nhất hạnh tam muội, trong những tư thế hằng ngày của ta như đi, đứng, nằm, ngồi, tâm ta luôn hướng về cái “định” đó để ta có thể thấy được không có cái gì lớn hơn cái gì, không có cái gì nhỏ hơn cái gì, không có cái gì cao hơn, không có cái gì thấp hơn và chúng ta thấy được tính cách nhất như bình đẳng của vạn sự vạn vật. Ta không cần bước ra khỏi đạo tràng mà vẫn có thể đi vào cõi Hoa nghiêm, cõi Tịnh độ. Đó là định nghĩa của Thầy Long Thọ trong tác phẩm Đại Trí Độ Luận.

Thực tập theo khuynh hướng tịnh độ, ban đầu tâm của chúng ta duyên tưởng tới một vị Bụt như Bụt Thích Ca, Bụt Từ Thị hay Bụt Di Đà. Chúng ta để tâm của ta quán chiếu thường trực từ giây phút này tới giây phút khác. Qua vị Bụt đó, chúng ta liên hệ được với tất cả các vị Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta thấy rằng dù cho tất cả các vị Bụt đông đảo bằng số cát sông Hằng, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được qua một vị Bụt và chính bản thân ta cũng là một vị Bụt. Qua bản thân ta, ta có thể tiếp xúc được với tất cả các vị Bụt ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là định nghĩa trong kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Tại đạo tràng Làng Mai, chúng ta thường thực tập theo tinh thần này. Ban đầu, chúng ta dùng chánh niệm, để thắp lên ngọn đèn tâm. Trong bài kệ này Sư Ông gọi ngọn đèn ấy là “tâm đăng”. Khi ăn cơm, ta biết là ta ăn cơm. Ngồi với tăng thân, ta biết ta đang ngồi với tăng thân. Ngọn đèn của ta đang cháy. Nếu ngồi với tăng thân mà mơ tưởng đến chuyện khác, đến quá khứ, đến tương lai, hoặc lo âu buồn rầu là ngọn đèn của ta đang tắt. Dù Thầy đã có truyền cho ta cây đèn rồi thì cây đèn ấy cũng đang bị tắt như thường. Tâm đăng là cây đèn của lòng mình, phải thắp sáng không những mỗi ngày một lần mà phải thắp sáng suốt ngày trong mỗi giây mỗi phút, tại vì ngọn đèn đó là để chiếu sáng hiện hữu của chúng ta.

Trong bài kệ của Sư Ông, ta thấy: “Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể”, nếu cây đèn tâm chiếu được vào nguồn gốc của nó thì ngọn đèn đó là một năng lượng ánh sáng rất thật, chứ không phải là một cái gì trừu tượng. Tất cả chúng ta đều biết ngọn đèn đó là ngọn đèn gì. Trong chúng ta đây ai cũng đều đã học được cách thắp nó lên và giữ cho nó cháy sáng từ niệm này sang niệm khác, từ giờ phút này sang giờ phút khác. Nhờ ánh sáng đó mà chúng ta thấy biết chuyện gì xảy ra trong giây phút hiện tại.

Trong thế giới của cảm thọ, khổ thì ta biết là khổ, vui thì ta biết là vui, không khổ không vui thì ta biết là không khổ không vui. Trong thế giới của tri giác, có một ý niệm thì biết là mình có một ý niệm, có một tri giác thì biết là mình có một tri giác. Đó là cái nguyên thể, tức là tâm của mình. Đèn tâm thắp lên từ tâm, trở lại chiếu rọi vào tâm. Phải thắp lên mới thấy được tâm của mình.

Nhiều khi tâm của mình đi những nước cờ rất lạ lùng, mình không thể biết. Mình tưởng là mình không như vậy, kỳ thực là mình đang như vậy. Mình có những ganh tỵ, giận hờn, đam mê, v.v… mà mình không biết là mình có. Rồi mình dùng những lý luận rất hay, tự biện hộ rằng: “cái đó không phải đam mê, cái đó không phải là giận hờn, v.v…” Trong tất cả chúng ta luôn luôn có mặt một ông trạng sư. Ông này tìm cách bào chữa cho ta để cho ta có những cảm giác dễ chịu. Nếu không cẩn thận, không có chánh niệm ta sẽ bị đánh lừa, dễ gây đổ vỡ và khổ đau cho chính ta và những người xung quanh, những người mà ta đã nguyện thương yêu và che chở.

Thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn tâm lên và giữ cho nó sáng cả ngày đêm. Khi nó tỏa ra ánh sáng thì ta phải theo ánh sáng đó mà nhìn, mà quan sát. Chính nhờ sự quan sát này mà chúng ta thấy được sâu sắc trong lòng của sự vật, trong lòng của những tri giác và những cảm thọ của chính mình và nhờ đó mà mình hiểu được mình. Chính từ cái thấy của mình mà mình được chuyển hóa, được giải thoát. Sự cứu độ, sự cứu chuộc (tiếng Pháp gọi là le salut) và sự giải thoát (la liberation) hoàn toàn căn cứ vào cái yếu tố gọi là “cái hiểu”.

Trong đạo Bụt, sự cứu độ chính là bằng sự hiểu biết, bằng tuệ giác (la compréhension). Tuệ giác của ta giải phóng cho ta. Nhưng Tuệ giác làm sao có được nếu đèn tâm không được thắp lên? Chúng ta, những thiền giả đang thực tập, mỗi người đều có một ngọn đèn trong tâm. Sự thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn đó lên để quán chiếu ngày đêm, từ giây phút này sang giây phút khác, không ngừng nghỉ. Cái đó gọi là “nhất hạnh tam muội”. Khi đã quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy ta và Thầy là một, ta với muôn loài chúng sanh là một. Có được cái thấy bình đẳng và nhất như đó, ta đạt đến cái trí gọi là “vô phân biệt trí”. Nhất hạnh tam muội là như thế đó! Vậy là quý vị có thể hiểu được ý nghĩa của hai chữ “nhất hạnh” rồi.

 

Tình thâm vẫn tròn

Phỏng vấn sư cô Chân Túc Nghiêm

Năm 2025 là năm kỷ niệm tu viện Lộc Uyển tròn 25 tuổi (2000-2025), cũng là 25 năm sư cô Túc Nghiêm xuất gia, gắn bó với tăng thân. Sư cô là một trong những vị có mặt ở Lộc Uyển từ rất sớm, cùng đại chúng  chung tay xây dựng và giữ gìn nơi này cho đến hôm nay. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ của sư cô Túc Nghiêm tại tu viện Lộc Uyển vào ngày 7.6.2025. 

 

Chỉ cần một hơi thở nhẹ

Sư cô Huệ Tri: 

Ai trong đại chúng cũng thấy sư cô làm mọi việc bằng tất cả tấm lòng.  Góc nào trong ni xá cũng thấy bàn tay của sư cô: từ nhà bếp ra nhà vệ sinh, từ bãi cỏ cho đến con đường sạch lá. Xin sư cô chia sẻ với đại chúng: điều gì trong trái tim làm cho tình yêu của sư cô đối với Lộc Uyển luôn trọn vẹn và tinh khôi như vậy? 

Sư cô Túc Nghiêm:

Con cũng giống như mọi người và các thế hệ tổ tiên của mình, đều có hạt giống tâm linh trong lòng, muốn được giác ngộ, giải thoát và sống hạnh phúc. 

Ngày xưa, Bụt đã nhận ra hạt giống ấy nơi chính mình và đã đi tầm đạo, thiền định để khám phá con đường thực tập vượt thoát khổ đau. Điều may mắn là, dù sinh sau Bụt hơn 2.600 năm, con vẫn còn cơ hội được học hỏi và thực tập. Có môi trường, có pháp môn tu học, tức là con đã có rất nhiều nhân duyên để thực hiện được chí nguyện và nuôi dưỡng hạt giống tâm linh của mình.

Con thấy thật may mắn khi chư Tổ đã thực tập và thành công trong việc duy trì, gìn giữ truyền thống tốt đẹp từ thời Bụt cho đến nay, để thế hệ chúng ta không cần phải tự mình trải qua hành trình tầm đạo như thuở ban đầu.

Vị tổ sư gần nhất của chúng ta là Sư Ông. Sư Ông đã làm mới lại đạo Bụt để chúng ta có đạo Bụt dấn thân. Đạo Bụt dấn thân nghĩa là đạo Bụt không chỉ dành cho những ai bỏ hết gia đình, sự nghiệp, hết thảy những gì liên quan đến thế gian để vào rừng tu tập, mà dành cho tất cả mọi người. Dù là xuất gia hay tại gia, chúng ta cùng được nghe pháp thoại, cùng thực tập pháp môn và cùng có khả năng đạt tới giải thoát. 

 

 

Đối với bản thân con, pháp môn nuôi dưỡng con sâu sắc nhất trên con đường tâm linh này là ngồi thiền. Sau 30 phút hoặc 45 phút ngồi thiền, cảm nhận hơi thở vào ra, con nếm được nguồn an lạc bất tuyệt. Chỉ cần thở và buông thư thôi, ta tiếp xúc được với đất trời và với tổ tiên. Khi ấy, ta thấy mình không chỉ là thân thể này mà còn là đất trời, là tổ tiên, là Bụt, là Thầy, và cả thế hệ tương lai nữa. Con đã tiếp xúc, cảm nhận được mình như một dòng chảy tâm linh và huyết thống đang diễn biến không ngừng.

Nhờ những hơi thở trong thiền định mà con nếm được sự an lạc của giải thoát tâm linh. Con tự nhủ rằng: “Chỉ với hơi thở này thôi, mình có thể dành hết cuộc đời để phụng sự cho tăng thân rồi”. Chỉ cần thở thôi là con thấy mình trọn vẹn. Qua kinh nghiệm của tự thân, con khám phá ra được giá trị của sự thực tập: giá trị của một hơi thở, của những bước chân thiền hành, của những buổi ngồi thiền chung với đại chúng. Con thấy đời sống tâm linh của mình được nuôi dưỡng và dù cho có xả thân này cũng xứng đáng. 

Con đã ở ngoài đời 27 năm, sống thật thà nhưng chưa từng cảm nhận được hạnh phúc lớn lao như vậy. Có lúc rảnh một buổi để đi chùa tụng kinh nhưng rồi cũng phải về. Không có chất liệu của sự vững vàng nên đời sống cứ lên xuống, đầy vơi. Vì vậy khi nếm được sự an lạc của thiền tập, con rất trân quý và tự nhủ mình phải giữ được sự thực tập cũng như giữ gìn môi trường tu học này. Nhờ đó mà tình yêu của con đối với Lộc Uyển luôn trọn vẹn và tinh khôi. 

 

Bền sắt tươi son

Sư cô Huệ Tri:

Giữ cho bền sắt tươi son là một câu thơ rất hay được trích trong bài thơ Tươi son bền sắt mà Sư Ông viết vào khoảng năm 1975. Như câu thơ ấy, bí quyết gì đã giúp sư cô luôn giữ được sự sắt son đối với pháp môn và đối với tăng thân?

Sư cô Túc Nghiêm:

Con xuất gia ở Làng vào năm 2001. Khoảng một năm sau, sư cô trụ trì ở đây – sư cô Trung Chính – về Làng thăm đại chúng và chia sẻ về đời sống ở Lộc Uyển với những khó khăn đang có. Con ngồi nghe và tiếp nhận những lời chia sẻ đó bằng cả tấm lòng.

Điều may mắn là dường như trong con có sẵn những hạt giống liên hệ với mảnh đất này, nên con rất tha thiết muốn đến đây. Rồi nhân duyên tự nhiên đưa đẩy để mong muốn ấy trở thành hiện thực. Khi đặt chân tới, con thấy ngay rằng đây đúng là môi trường của mình. Từ thời tiết khí hậu, đất trời, không gian cho đến con người, tất cả đều khiến con rất dễ chịu. 

Con thấy mình thật may mắn. Dù đi đâu, con vẫn luôn nhớ về nơi này như quê hương đích thực của mình. Nói như vậy không có nghĩa rằng chúng ta không sống được nếu không tìm được một nơi như vậy. Tùy người, tùy duyên. Nếu chưa may mắn tìm được một chỗ thích hợp để sống thì ta phải tự tạo lập bằng những bước chân, bằng việc quét dọn, xây cất. Khi ta làm thành một ngôi nhà, mảnh đất ấy tự nhiên trở thành một phần trong sự sống của mình. Dù chỉ là một hạt cát hay một chiếc lá bé nhỏ, tất cả đều trở thành một phần con người mình, gắn bó với đời sống tâm linh của mình. Sự sắt son đối với Lộc Uyển bắt nguồn từ cảm nhận: nơi này là nhà.

Nguyên do thứ hai là nơi này giúp con thực hiện được chí nguyện và lý tưởng phụng sự của mình. Năng lực của bản thân con có giới hạn, nhưng khi được nương vào và đi cùng đại chúng, con làm được điều mình mong ước. Con thấy rất vui khi cùng đại chúng tổ chức các khóa tu cho các cô bác, anh chị đến đây tu tập. Mọi người đến tu tập là nguồn thức ăn nuôi dưỡng hạnh phúc của con. Và dù chỉ làm được những việc rất nhỏ như nấu cơm, rửa bát, con vẫn cảm thấy thỏa mãn, bởi con biết mình đã cống hiến bằng cả tấm lòng, với tất cả khả năng mình có thể. 

Tăng thân của chúng ta giống như một con ó lớn. Mỗi người đều có thể tìm được cho mình một vị trí thích hợp trên đó. Tùy vào khả năng mà có người làm đầu, có người làm thân, có người làm đuôi. Điều quan trọng là dù ở vị trí nào, ta cũng có thể hạnh phúc. Nếu ai cũng cho rằng phần đầu con ó là quan trọng và đều muốn ở vị trí này thì con ó không thể nào có được sự cân bằng mà bay lên cao được. Tiềm lực của tăng thân rất dồi dào, chỉ cần mọi người đều nhận thức được vai trò của mình, tìm ra được vị trí thích hợp để phát huy khả năng của mình thì tăng thân sẽ ngày càng lớn mạnh. 

 

 

Một trong những thành tựu nữa làm cho con hạnh phúc khi sống ở đây là con có cơ hội thực hiện lời dạy của Sư Ông: “Một vị Bụt là không đủ”. Chúng ta cần nhiều vị Bụt. Điều ấy có nghĩa là mọi việc mình làm, mọi thành tựu mình đạt được đều được xây dựng trên tinh thần tăng thân, chứ không đi theo đường hướng của chủ nghĩa cá nhân, dù cho cá nhân đó là một người rất tài giỏi. 

Điều thứ ba khiến con trân quý nơi này là tình thương giữa người với người. Từ quý thầy, quý sư cô cho đến các vị thiền sinh, dù có những vị chỉ ở với nhau trong vòng năm ngày hay một tuần, đều thực tập hết lòng, rất thương nhau, lắng nghe và cảm thông cho nhau. Nhờ vậy, con thấy được giá trị tâm linh cũng như giá trị đạo đức nơi tăng thân và nơi pháp môn đã giúp mọi người được chuyển hóa.

Nhìn lại những chặng đường đã đi qua, lúc chưa biết đến đạo, con thấy mình quá tham cầu, muốn đạt được hết cái này đến cái khác: muốn giỏi hơn, thành công hơn, muốn người ta thương mình hơn… nhưng nhiều khi càng muốn lại càng không đạt được. Khi nhìn lại, con thấy biết ơn tất cả, vì chính nhờ những khó khăn ấy mà con có mặt ở đây. Nếu đời sống con quá thuận lợi, muốn gì được đó thì chưa chắc con có được một kết quả tốt đẹp. Những chặng đường đã đi qua giúp con thấy rằng đôi khi chính những thiếu sót, những mặt hạn chế của bản thân lại giữ mình ở lại trong đạo và tạo điều kiện cho hạt giống tâm linh trong con  được đơm hoa kết trái.

 

Có nhau ta còn tương lai

Sư cô Huệ Tri:

Thưa sư cô, với cái nhìn của một trong những người có mặt nơi đây từ rất sớm, chứng kiến và đi qua những chặng đường lịch sử của Lộc Uyển, sư cô có thể chia sẻ cảm nhận của mình về sự trưởng thành của đại chúng Lộc Uyển?

Sư cô Túc Nghiêm:

Theo cái nhìn của con, sự trưởng thành của Lộc Uyển là nhờ tấm lòng yêu mến đạo và thương quý Sư Ông của quý thầy, quý sư cô trẻ. Các vị đã tiếp nối Sư Ông trong công trình thực tập, gìn giữ và phát triển Lộc Uyển ngày một lớn mạnh. 

Từ những mầm non ngày nào được quý sư cô chăm sóc ở Bát Nhã, trải qua nhiều đổi thay, các sư em dần lớn lên, ngày càng giỏi hơn như các sư em trong gia đình cây Hướng Dương, Hồng Giòn,… Đến Lộc Uyển, các sư em rất có tinh thần xây dựng chúng, nhờ vậy mà hai xóm làm việc với nhau rất hòa hợp. Những lúc chưa hòa hợp, chúng ta tìm cách hàn gắn để có thể tiếp tục cùng đi với nhau. Tuy nhiên, cũng có những đoạn đường, vì chưa đủ khéo léo nên các anh chị em thiếu sự nhất trí, đồng lòng. 

Dù ở ngoài đời hay trong đạo, đều có lúc hưng thịnh, có lúc đi xuống. Có thời điểm tâm nguyện phụng sự của các anh chị em rất mạnh, ai cũng mong muốn cống hiến hết lòng, từ sự có mặt, thực tập cho đến công việc nhỏ nhất. Mười người là mười tâm nguyện và mỗi người làm một việc: người này rửa chén thì người kia cho pháp thoại… Nhưng có những lúc mọi thứ đi xuống: không ai muốn rửa chén mà cũng chẳng ai muốn cho pháp thoại. 

Trong mỗi con người, ai cũng có những hạt giống rất tốt, nổi trội như hạt giống phụng sự, từ bi, nhưng đồng thời cũng có hạt giống của vướng mắc, đòi hỏi. Khi những hạt giống tốt đang lớn mạnh, ta biết sử dụng những điều kiện thuận lợi để bồi đắp và nuôi dưỡng cho chúng tăng trưởng. Khi những hạt giống xấu biểu hiện, ta tưới tẩm thêm sự hiểu biết, cảm thông và thương yêu để ôm ấp, giúp cho những hạt giống xấu ấy dần dần chuyển hóa. 

Không chỉ đối với tự thân mà đối với những người xung quanh cũng vậy. Khi một người bạn đồng tu đang có tâm bồ đề mạnh mẽ, ta tìm cách có mặt để tiếp nhận năng lượng tích cực và nhiệt huyết nơi người ấy, để sự lan tỏa đó nuôi dưỡng và làm cho hạt giống tâm linh, hạt giống phụng sự trong mình được lớn mạnh. Khi năng lượng của người ấy xuống thấp, ta cần là người đứng lên để giữ vững con thuyền chung.

Khi thấy được quy luật đầy vơi, ta không tuyệt vọng mà cũng không phải chỉ hưởng thụ thôi. Sự để tâm và có mặt của mỗi người sẽ góp phần thiết lập lại sự cân bằng của dòng chảy tăng thân. 

Sự trưởng thành và lớn mạnh của Lộc Uyển là nhờ có những điều kiện tốt đẹp, tích cực nuôi dưỡng. Một trong những điều kiện ấy là sự có mặt vững chãi và từ bi của quý thầy, quý sư cô. Nhưng đến một lúc nào đó các vị cũng phải rời đi, về những trú xứ khác, và những người khác sẽ đến. Chúng ta cần học hỏi, làm quen và lớn lên cùng tăng thân. Nếu muốn duy trì sự trưởng thành và lớn mạnh của Lộc Uyển thì tự thân mỗi người chúng ta phải tiếp tục thực tập. Chúng ta không được buông. Tình thương yêu của quý bác là nguồn động lực để chúng ta giữ vững niềm tin với đạo.

Hôm nay, sự có mặt của chúng ta ở đây – mỗi cái nhìn, mỗi bước đi, một hơi thở hay một buổi ngồi thiền tĩnh tâm – không chỉ là tu cho riêng mình. Nhìn xa hơn, chúng ta thấy mình đang tu cho tương lai nữa. Chúng ta giữ gìn gia sản của Bụt, của Sư Ông, để khi các thế hệ mai sau cần, họ có nơi để quay về nương tựa. Lộc Uyển đã được xây dựng và gìn giữ trong tinh thần đó. Chừng nào chúng ta còn để tâm giữ gìn, chừng đó Lộc Uyển vẫn còn tồn tại. 

Không chỉ gìn giữ, nếu chúng ta làm cho nơi này phát triển mạnh mẽ, cành nhánh lan tỏa đi xa, thì một mai, nếu gốc rễ có bị hư hoại, chính những cành nhánh ấy sẽ quay trở lại nuôi dưỡng gốc rễ.  

Nếu gìn giữ được như vậy, thì dù một ngàn năm sau có sinh trở lại và phát tâm: “Mình phải đi tìm con đường tâm linh”, ta vẫn có thể gặp lại nhau. Ta sẽ tìm lại được nơi này để tiếp tục nương tựa, bởi hạt giống đã được gieo xuống bằng tất cả tấm lòng sẽ còn mãi đến mai sau.

 

Chung một tấm lòng

Sư cô Huệ Tri:

Tuy đến Lộc Uyển chưa lâu nhưng con thấy ở đây, mối liên hệ giữa tăng thân cư sĩ và xuất sĩ rất bền, đẹp và sâu sắc. Những sự kiện lớn nhỏ, các công việc ở tu viện hoặc là những khóa tu, đều có sự góp sức của tăng thân cư sĩ. Các vị đều chung tay, cùng làm với quý thầy, quý sư cô. Con muốn được nghe cảm nhận của sư cô về sự tương giao và yểm trợ của các tăng thân địa phương ở đây dành cho tu viện. 

Sư cô Túc Nghiêm:

Quý cô bác luôn yểm trợ hết lòng cho tu viện Lộc Uyển, đặc biệt là trong thời gian Covid. Khi đó chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn: không mở được khóa tu, không đi ra ngoài, thậm chí trong tu viện cũng không được ngồi thiền chung với nhau, rồi thêm tác động khó chịu của gió Santa Ana… Trong khung cảnh đó, chúng con rất ấm lòng với những món quà và sự yểm trợ tài chính mà quý cô bác gửi về cho tu viện đúng theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”, có gì giúp nấy. 

Sau này, quý cô bác và các tăng thân địa phương tiếp tục yểm trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng của tu viện như thiền đường, ni xá,…để giúp quý thầy, quý sư cô có nơi cư trú yên ổn, cũng như tạo thêm cơ hội cho nhiều thiền sinh đến tu tập hơn. Thiền đường mới hiện đang trong quá trình thiết kế và xây dựng; còn con đường mới đã được hoàn thành trước, vì nhu cầu đi lại của đại chúng rất cấp thiết. Quý cô bác có thể an tâm đi mà không sợ bị té. Con đường đã có rồi, tình thương đã xây dựng xong, giờ chỉ còn việc bước đi thôi. Cả bãi đậu xe bây giờ cũng đã thông thoáng, sạch sẽ. Mọi thứ đã hoàn tất như vậy là nhờ đâu? Đó là nhờ sự có mặt và cúng dường với lòng hoan hỷ của quý cô bác. 

Chúng ta biết mình cúng dường không phải cho ai khác mà là cho giá trị tâm linh, cho sự giác ngộ và chuyển hóa của chính mình, và cho cả tương lai của đạo Bụt. Chúng ta cần có nhau: Tăng thân cần quý cô bác và quý cô bác cũng cần có tăng thân để nuôi dưỡng hạt giống bồ đề tâm. Chúng ta cùng phối hợp để đi về một tương lai chung. Thật ra những gì của tu viện không phải của riêng quý thầy, quý sư cô hay một ai hết. Đó là ngôi nhà chung cho tất cả những ai cần đến: từ xuất sĩ, thiền sinh và các loài khác sống quanh đây như sói đồng cỏ (coyote), sóc, thỏ,… Những bạn sói cũng thực tập. Mỗi khi ta thỉnh chuông, chúng cũng đáp lời. Năng lượng của sự thực tập không chỉ đem lại lợi lạc cho con người mà còn mang lại thêm bình an cho núi đồi nơi đây. 

 

 

Khi đi trên con đường mới, sống trong những căn phòng mới, đại chúng nơi đây luôn nhớ và gửi niềm biết ơn đến quý cô bác. Càng nhớ đến tấm lòng ấy càng làm cho đại chúng tinh tấn hơn.

Tuy vậy, chúng con cũng ý thức rằng mình không nên phụ thuộc quá nhiều, phải biết tự lo. Lúc nào thật sự cần thì mới kêu gọi sự yểm trợ của cô bác. Mỗi khi có sự kiện như Đi bộ đường dài gây quỹ (Hike-a-thon) hay Lễ hội âm nhạc (Music festival), dù bận nhiều việc nhưng quý cô bác vẫn giúp đỡ hết khả năng. Tình yêu của quý cô bác hay của những người xuất sĩ như chúng con, đối với đạo đều trọn vẹn và tinh khôi như nhau. Điều quan trọng là làm sao giữ cho tâm nguyện, cho tấm lòng ấy mãi bền sắt tươi son. 

 

Sư cô Huệ Tri:

Con rất biết ơn sự chia sẻ của sư cô. Những lời chia sẻ ấy đã nói lên tâm tư, tình cảm của tất cả quý thầy, quý sư cô đối với tất cả quý bác, quý cô chú, anh chị – người Việt lẫn Tây phương – đã từng đến tu viện thực tập, đã và đang không ngừng yểm trợ cho sự phát triển của Lộc Uyển. Niềm biết ơn luôn nằm sâu trong trái tim, lắng đọng nơi mỗi người chúng con khi nghĩ về những vị đã đồng hành với Lộc Uyển suốt chặng đường 25 năm qua. 

Trong vòng tay tăng thân

Phỏng vấn thầy Chân Pháp Lưu

Thầy Pháp Lưu, người Mỹ, xuất gia năm 2003 tại Làng Mai và được Sư Ông Làng Mai truyền đăng giáo thọ vào năm 2011. Là một người tu hạnh phúc và có đầy nhiệt huyết, thầy luôn dành nhiều tâm sức để đem chánh niệm vào giáo dục và nhiều lĩnh vực khác. Ban biên tập có dịp phỏng vấn trực tuyến với thầy về con đường của đạo Bụt dấn thân. Dưới đây là phần trích từ buổi phỏng vấn này. Bài viết được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

 

BBT: Điều gì đã khơi dậy cảm hứng cho thầy khi lần đầu tiên thầy tiếp xúc với dòng tu Tiếp Hiện? Sau khi xuất gia, sự hiểu biết và trải nghiệm của thầy về dòng tu này đã thay đổi như thế nào?

Thầy Pháp Lưu (PL): Pháp Lưu được mời tham dự một khóa tu Tiếp Hiện tại tu viện Thanh Sơn (Green Mountain Dharma Center) mùa xuân năm 2003. Lúc đó, PL chưa phải là một thành viên Tiếp Hiện hay thậm chí còn chưa là một tập sự Tiếp Hiện, nhưng PL lại rất say mê với sự thực tập. Khóa tu đã diễn ra trong một không khí rất bình yên. Một số thành viên kỳ cựu nhất của cộng đồng vùng Bờ Đông, bao gồm cô Joanne Friday, cô Sue Bridge, cũng như sư cô Chân Đức – lúc đó là trú trì – đều có mặt.  Điều này khiến PL có cảm giác là dòng Tiếp Hiện có một vị trí khá đặc biệt trong truyền thống Làng Mai.

PL đặc biệt ấn tượng với cô Joanne Friday (Chân Lạc), trong vai trò một vị giáo thọ. Cô đã trải qua rất nhiều khổ đau, vậy mà nơi cô luôn toát lên một năng lượng tươi vui và tự nhiên. Cô không bao giờ than phiền. Cô giống như một “y chỉ sư chui” của PL. Ngay cả khi đã xuất gia, PL vẫn xem cô là một trong những vị thầy của mình. Tinh thần thực tập 14 Giới Tiếp Hiện của cô đã tạo cảm hứng rất nhiều cho PL. 

Mười bốn giới Tiếp Hiện là điển hình rõ rệt nhất của tinh thần đạo Bụt dấn thân. Giới thứ nhất (Thái độ cởi mở) và giới thứ hai (Phá bỏ kiến chấp) đặc biệt gây ấn tượng với PL. Chúng ta được nhắc nhở thực tập “để không bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo”. Giới thứ nhất của dòng tu Tiếp Hiện có thể nói là một tiếng sư tử hống. Giới này giúp ta nhớ rằng: khi đã qua sông rồi, ta không cần phải vác chiếc bè theo nữa.

 

BBT: Dòng tu Tiếp Hiện thường được hiểu là sự kết hợp giữa tu tập chánh niệm và dấn thân vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dựa trên kinh nghiệm tu tập của bản thân và đời sống trong tăng thân, thầy thấy sự tu tập và phụng sự xã hội có mối liên hệ với nhau như thế nào? 

PL: Sư Ông đã trao truyền Mười bốn giới Tiếp Hiện để giúp chúng ta rèn luyện tâm ý, nói năng và hành xử không bị kẹt vào giáo điều. Sau đó, Sư Ông viết Phép lạ của sự tỉnh thức như một lá thư hướng dẫn cách thực tập hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm, rửa bát trong chánh niệm… Năm 1997, khi tới Madrid, Tây Ban Nha để dạy tiếng Anh sau khi tốt nghiệp đại học, PL chưa biết gì về những điều ấy. Khi đó, PL dấn thân vào một phong trào xã hội có tên là phong trào Okupa, cùng những người trẻ khác, những người muốn thách thức trật tự xã hội hiện hành bằng chính thân thể và đời sống của mình. PL và những người bạn đã sống trong những tòa nhà bị bỏ hoang, tham gia các hoạt động xã hội trên đường phố để lên tiếng cho người nhập cư không có giấy tờ… 

Trong những cộng đồng đó, PL tiếp xúc rất nhiều với năng lượng giận dữ và khuynh hướng đổ lỗi cho giới cầm quyền. Sau gần hai năm hoạt động trong phong trào, PL không hiểu vì sao mình càng ngày càng giận dữ. Bây giờ nhìn lại, PL nhận ra rằng mình đã ở trong một môi trường không giúp mình chăm sóc và chuyển hóa cơn giận. Năng lượng ấy đã trở nên quá sức chịu đựng, vì vậy khi trở về Mỹ năm 2000, PL rơi vào trầm cảm. Chính trong giai đoạn đó, PL đã khám phá ra pháp môn chánh niệm. PL tự nhủ, “Ít nhất là mình có thể ngồi đây trên bồ đoàn và ôm ấp cơn giận của mình”. Thế là PL tự tập thiền. Nhờ đó, PL thấy nhẹ nhàng hơn và tìm lại được niềm vui sống.

Khi đọc câu chuyện của Sư Ông về tờ báo Phật giáo Việt Nam bị đóng cửa vì mất nguồn tài trợ vào cuối những năm 50, về cảm giác không được các vị lãnh đạo Phật giáo yểm trợ, PL tự hỏi: lúc ấy điều gì đã diễn ra trong thân và tâm của Sư Ông? Cuối năm 1963, khi đang làm công việc nghiên cứu tại Hội Chủng viện thần học (Union Theological Seminary) tại New York, Sư Ông nhận được tin về sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm và các cuộc biểu tình ở quê nhà sau lệnh cấm treo cờ trong mùa Phật Đản. Trong hoàn cảnh ấy, Sư Ông có thể làm gì? Sư Ông đã tuyệt thực để cầu nguyện cho Việt Nam và kêu gọi sự chú ý của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Và khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Sư Ông quyết định trở về Việt Nam dù biết rằng mình có thể bị phản bội một lần nữa. Sư Ông đã viết một bài thơ có tên Xin cúi đầu đưa về để nói lên tâm trạng của mình trong giai đoạn ấy. 

“Đây hai bàn tay tôi

Là trái tim

Là khối óc

Là cuộc đời

Là tất cả những gì còn sót lại

Những bàn tay không mang quyền phép lạ

Nhưng đã hơn một lần nhỏ máu trên cung bậc thương yêu.”

(Trích từ bài thơ Xin cúi đầu đưa về, Sư Ông Làng Mai)

 

Khi gặp khó khăn trong sự thực tập, PL thường quán chiếu và hình dung mình là Sư Ông trong những năm ở New York. Tiếp xúc được với những gì Sư Ông đã trải qua giúp PL dễ ôm ấp cơn giận của mình hơn. PL nghĩ đến hình ảnh Sư Ông “xắn tay áo” bắt đầu xây dựng những ngôi làng tình thương (còn gọi là làng hoa tiêu – nền tảng cho việc thiết lập trường Thanh niên phụng sự xã hội (TNPSXH) sau này), làm việc với các sinh viên y khoa để giúp các làng mạc thiết lập những điều kiện vệ sinh căn bản… Thầy không đứng ngoài quan sát mà trực tiếp bước ra, dấn thân để giúp đỡ mọi người.

Chăm sóc tâm ý trong khi làm công việc xã hội đó đòi hỏi kỷ luật và sự rèn luyện. Sau khi đã học hành, tích lũy kiến thức, tham gia hoạt động xã hội và thấy rõ nguy hiểm của việc không chăm sóc tâm, PL cảm thấy Mười bốn giới Tiếp Hiện có một sức hút rất sâu sắc với mình.

Năm 2006, thầy Pháp Hộ và PL được Sư Ông và đại chúng cử đến Lộc Uyển để tu tập và giúp xây dựng tăng thân. Hai anh em đến Sơn Cốc để chào Sư Ông trước khi đi. Một điều Sư Ông dặn dò mà PL nhớ mãi, đó là: nên tránh bị kẹt vào sự phân biệt giữa đời sống tu tập và đời sống dấn thân. “Đừng thấy hai khía cạnh đó riêng rẽ, tách rời; tuy hai mà là một”. 

Tư duy nhị nguyên khiến ta đi tới đi lui giữa hai thái cực – nghĩ rằng mình quá nghiêng về sự tu tập và cần phải dấn thân hơn, rồi lại thấy mình quá dấn thân nên cần trở lại với sự tu tập. Nó cứ lặp đi lặp lại mãi như vậy.

 

 

BBT: Thầy đã đem lời dạy của Sư Ông vào đời sống tu tập và phụng sự của mình như thế nào? Làm sao để thầy không kiệt sức?

PL: PL không để mình bị kiệt sức, bởi vì lúc nào PL cũng quay về với tăng thân. Ở trong tăng thân, ta có thể làm rất nhiều việc. Còn nếu ta cố làm một mình, ta sẽ bị kiệt sức và căng thẳng. Dù nhìn bên ngoài có vẻ như PL làm rất nhiều, nhưng thật ra là tăng thân làm. Khi các nhân duyên trong tăng thân đầy đủ, thì bum! – mọi việc trở nên rất dễ dàng.

Đó là lý do vì sao Sư Ông có thể viết được nhiều sách như vậy. PL đã quan sát cách Sư Ông làm. Khi PL còn là sa di tham gia chuyến về Việt Nam của Sư Ông năm 2005, lúc ở Hà Nội, rất nhiều người trong phái đoàn bị bệnh vì trời lạnh và ẩm ướt. Mỗi ngày, không ai trong đoàn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. PL nhớ lời của sư anh Pháp Trú nói: “Chỉ cần tập trung vào Sư Ông. Quan sát Sư Ông. Làm những gì Sư Ông làm là sẽ ổn”. Suốt chuyến đi đó, PL đã làm đúng như thế. PL không bị phân tâm bởi những gì các sư anh, sư chị, sư em làm. PL chỉ nhìn Sư Ông: Sư Ông đang làm gì? Sư Ông giữ gìn năng lượng như thế nào? Khi nào Sư Ông nghỉ ngơi? Khi nào Sư Ông giảng dạy?

Một điều hay khi làm người xuất gia là rất khó bị “sa thải”. Nếu ta mắc lỗi hoặc làm một công việc gì không được giỏi lắm cũng không sao. Khi thành công trong một việc gì, có khi ta học được không nhiều. Nhưng khi thất bại, ta lại học được rất nhiều. PL thất bại rất nhiều trong tăng thân và đã học được cách thưởng thức sự thất bại. Nếu ta nhìn thất bại một cách nhẹ nhàng, như một phần tự nhiên của sự học hỏi, ta sẽ không còn bị căng thẳng nữa.

 

BBT: Dòng tu Tiếp Hiện ra đời trong bối cảnh chiến tranh tại Việt Nam. Sau 60 năm, theo thầy thì thách thức nào mà Dòng tu Tiếp Hiện cần đáp ứng một cách cấp thiết nhất hiện nay?

PL: PL nghĩ chúng ta cần học cách linh hoạt và uyển chuyển hơn, để có thể đáp ứng một cách sinh động trước những hoàn cảnh luôn thay đổi. Khó khăn lớn nhất của dòng tu Tiếp Hiện hiện nay là, như bất kỳ tổ chức nào khác, khi phát triển lớn mạnh thì bắt đầu hình thành những cơ cấu cồng kềnh—những cơ cấu được tạo ra vì những lý do chính đáng, nhưng lại làm giảm đi sự linh động và khả năng phản ứng kịp thời.

Điều này có thể thấy rất rõ qua thảm kịch đang diễn ra ở Gaza. Với tư cách là một tổ chức lớn, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng một cách hiệu quả. Điều đó không phải do bất kỳ cá nhân nào, mà đơn giản là vì khi làm việc ở quy mô lớn, với những cơ cấu mà chúng ta đã thiết lập, việc vận hành linh hoạt và kịp thời trở nên rất khó khăn.

Khi Sư Ông thành lập dòng tu Tiếp Hiện, lúc ấy chỉ có sáu thành viên, và rõ ràng Sư Ông là người dẫn đường. Sáu Cây Tùng – sáu thành viên Tiếp Hiện đầu tiên – rất hoan hỷ đi theo sự chỉ dẫn của Sư Ông. Còn bây giờ, chúng ta không còn một vị lãnh đạo duy nhất mà mọi người đều cùng theo. Vì vậy, chúng ta phải làm việc cùng nhau và điều đó đòi hỏi phải có sự truyền thông tốt với nhau.

Đối với PL, giữ cho cánh cửa truyền thông luôn rộng mở là điều vô cùng thiết yếu. PL thấy chúng ta là anh chị em – cả xuất sĩ lẫn cư sĩ. Chúng ta sẽ thất bại nếu sự truyền thông bị cắt đứt. PL học được điều này từ Sư Ông. Sư Ông luôn giữ cho cánh cửa truyền thông được rộng mở. 

PL nhớ năm 2004, có một sư chú ở Lộc Uyển tuyên bố rằng thầy không cần đi nghe pháp thoại của Sư Ông nữa vì sư chú “đã hiểu hết tất cả những gì Sư Ông dạy rồi”. Sư chú nói sẽ dành thời gian thực tập riêng thay vì đi nghe pháp thoại. Phần lớn những người có mặt đều sửng sốt và bất bình khi nghe sư chú nói như thế. 

Sau đó, trong ngày xuất sĩ, Sư Ông đã mời sư chú đó ngồi ngay bên cạnh mình. Lúc ấy, PL không vui và bức xúc: tại sao lại có một người dám nói như vậy về Sư Ông? Nhưng Sư Ông đã ôm ấp sư chú. Đó là một bài học lớn cho PL. PL sẽ không bao giờ quên hình ảnh Sư Ông mời sư chú ngồi bên cạnh và cùng nói chuyện với tăng thân như thể cả hai là một cơ thể. Tinh thần luôn giữ cánh cửa truyền thông mở rộng ấy, Sư Ông đã trao truyền lại cho chúng ta.

 

BBT: Dòng tu Tiếp Hiện đã lan tỏa và phát triển tại nhiều quốc gia và nhiều nền văn hóa. Khi nghĩ về điều này, thầy thấy đâu là những giá trị cốt lõi của dòng tu?

PL: PL nghĩ rằng phản ứng có đạo đức trước bạo lực là điều căn bản. Nếu chúng ta đánh mất sự liêm chính đạo đức của mình, thì chúng ta đánh mất tất cả, và mọi thứ chỉ còn là “ăn miếng trả miếng” – bên này chống bên kia. Hiện nay, chính trị quốc tế đang rơi rất sâu vào kiểu tư duy “được–mất” như vậy.

Điều mà mười bốn giới Tiếp Hiện hiến tặng cho thế giới là cốt lõi đạo đức ấy. Đây  không phải là một hệ thống đạo đức để trưng bày trên kệ sách, mà phải được đem ra áp dụng. Câu hỏi cần được đặt ra là: Bạn sống đời sống hằng ngày của mình như thế nào? Bạn phản ứng ra sao? Bạn thực tập lắng nghe sâu như thế nào, nói lời ái ngữ ra sao, và hành xử bằng bất bạo động – không chỉ trong hành động thân thể, mà cả trong lời nói và trong tư duy?

Để làm được điều này, ta cần có chánh niệm. Ta cần thực tập ý thức về suy nghĩ, lời nói, hành động của mình thì mới có thể chuyển hóa chúng. Giáo lý của Làng Mai nhấn mạnh rằng phương tiện và cứu cánh không tách rời nhau: không có con đường đưa đến Niết Bàn, Niết Bàn chính là con đường. Đó là điều chúng ta có thể cống hiến trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế cũng như trong đời sống tâm linh.

 

 

BBT: Khi nhìn lại 60 năm của dòng Tu Tiếp Hiện, điều gì mang lại cho thầy niềm biết ơn lớn nhất?

PL: Đó là tình huynh đệ. Đi đến đâu trên trái đất này, chúng ta đều có gia đình tâm linh, được hình thành và nuôi dưỡng từ sự thực tập giới. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã làm PL tràn đầy biết ơn: biết rằng ở đâu cũng có tăng thân.

PL thấy điều đó rất cụ thể qua các dự án đang khởi sự tại tu viện Lộc Uyển như thành lập trường tiểu học mang tên Thích Nhất Hạnh School of Interbeing, Nông trại Hạnh phúc (Happy Farm), và Bảo tàng Thích Nhất Hạnh (Thích Nhất Hạnh Museum) ở Los Angeles. Không dự án nào có thể thành tựu nhờ vào một cá nhân, tất cả đều phải nương vào tăng thân trong mười phương. 

Tại Lộc Uyển, tăng thân đang duy trì sự nhu nhuyến và khả năng đáp ứng với tư cách của một tăng thân. Điều này nhờ vào cấu trúc làm quyết định mà Sư Ông đã trao truyền: tác pháp Yết ma, hội đồng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni làm quyết định tối hậu. PL mong chúng ta đừng bao giờ đánh mất điều đó. Trong mọi tổ chức, luôn có nguy cơ càng ngày càng trở nên thứ bậc, với một nhóm tinh hoa nắm quyền quyết định. Sư Ông đã dạy chúng ta làm quyết định với sự đồng thuận, kết hợp cả hai yếu tố dân chủ và thâm niên. Sư Ông đã rèn luyện chúng ta kỹ càng, và điều đó giúp Lộc Uyển linh hoạt trong sự ứng phó với các tình huống.

Sẽ không thể nào làm quyết định với sự đồng thuận nếu không có tình huynh đệ. Điều làm cho các buổi họp Tỳ kheo hài hòa chính là tình huynh đệ. PL biết ơn tình huynh đệ quốc tế mà Mười bốn giới Tiếp Hiện tạo ra – không chỉ trong tăng thân xuất sĩ mà cả trong tăng thân cư sĩ. Chúng ta cùng đi với nhau như một dòng sông, hòa hợp như sữa với nước.

 

BBT: Ước mong sâu sắc nhất của thầy cho tương lai của dòng tu Tiếp Hiện là gì?

PL: Ước nguyện của PL là mười bốn giới Tiếp Hiện có thể đến với Liên Hợp Quốc và Tòa Hình sự Quốc tế, và thật sự giúp hai cơ quan này trở thành những lực lượng đạo đức hữu hiệu cho thế giới. Cá nhân PL cảm thấy hai cơ quan này thật sự nỗ lực đại diện cho một loại công lý và dân chủ phổ quát trên hành tinh. Tuy nhiên, vì các cường quốc trên thế giới không tôn trọng hoặc không trao quyền cho họ, nên họ chưa thể phát huy hiệu quả đúng theo tiềm năng của mình, ví dụ trong ứng phó với khủng hoảng khí hậu hay sự gia tăng bạo lực và các hoạt động phi pháp trên khắp hành tinh. Mười bốn giới Tiếp Hiện có nhiều thứ để hiến tặng cho những cơ quan ấy và các tổ chức đang làm những công việc to lớn khác như tổ chức Hòa bình xanh (Green peace), tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), Phong trào Nổi dậy Chống Tuyệt chủng (Extinction Rebellion), và những tổ chức đặt nền tảng trên tinh thần nhân bản sâu sắc.

Khoảng sáu hay bảy năm trước, PL có trao đổi qua điện thoại với một thành viên của Phong trào Nổi dậy Chống Tuyệt chủng. Lúc ấy, họ đang vật lộn với cách liên hệ nội bộ với nhau vì họ tổ chức theo mô hình phi tập trung. Họ trăn trở với câu hỏi:  Làm sao để đưa ra quyết định? PL đã chia sẻ với vị đó những điều tương tự như bây giờ: Chúng ta phải bắt đầu bằng việc tu tập, rèn luyện bản thân. Không thể bắt đầu bằng hành động rồi mới quay ngược lại để lo chuyện tu tập. Ta phải rèn luyện trước, thì mới có khả năng hành động một cách thật sự nhân bản và đạo đức.

 

BBT: Nếu thầy có thể truyền trao một tuệ giác từ hành trình của mình cho thế hệ trẻ đang phát nguyện bước vào dòng tu Tiếp Hiện, thì điều đó sẽ là gì?

PL: Hãy sống trọn với ước mơ của mình. Chỉ có ước mơ thôi thì chưa đủ; bạn phải thực sự sống với nó. Chính bằng cách đó bạn mới học được. Và bạn cần rất nhiều nhẫn nại – nhẫn nại suốt cả một đời, thậm chí nhiều đời.

Khi thực tập để sống với ước mơ của mình, có thể bạn sẽ bị phê phán, bị đánh giá, bị trách móc; người ta có thể biến bạn thành “kẻ đối lập”. Khi ấy, bạn hãy thực tập như Sư Ông: đi trong vô niệm với vô tranh. Chỉ như vậy bạn mới có thể làm nhịp cầu nối liền Đông và Tây. Đó chính là con đường Sư Ông đã đi. Sư Ông không phê phán, không chỉ trích ai; Người chỉ lặng lẽ bước đi trên con đường mà mình đã chọn.

Đây là bài kệ truyền đăng do Sư Cố – Hòa thượng Thanh Quý Chân Thật – trao cho Sư Ông mà PL rất thích. Sư Ông đã thực tập  hết lòng theo bài kệ ấy trong suốt cuộc đời mình:

Đi gặp mùa xuân, bước kiện hành

Đi trong vô niệm với vô tranh

Đèn tâm soi chiếu vào nguyên thể

Diệu pháp Đông Tây ắt tự thành.

 

BBT: Thầy nghĩ Sư Ông sẽ muốn chúng ta nhớ điều gì nhất trong dịp mừng 60 năm dòng tu Tiếp Hiện?

PL: Sư Ông chỉ muốn chúng ta có thể đến với nhau như anh chị em một nhà. Sư Ông rất thích khi tăng thân tụ họp, được chơi với nhau và thật sự có mặt cho nhau trọn vẹn! PL thấy khóa tu Tiếp Hiện sắp tới vào tháng Sáu mang tinh thần ấy. Năm 2014, trong khóa tu tháng Sáu năm ấy, với sự có mặt của đông đảo giáo thọ – xuất sĩ và cư sĩ, Sư Ông dạy: “Chánh niệm là một con đường, không phải một công cụ”. Có thể Sư Ông đã có tuệ giác ấy  từ lâu, nhưng PL cảm nhận rằng chỉ khi tăng thân thật sự tụ họp lại, tuệ giác ấy mới được tỏa sáng trọn vẹn.  

Hiện nay, chúng ta cần trực tiếp gặp nhau nhiều hơn; gặp nhau trực tuyến thôi không đủ. Trong giới luật, Bụt dạy rằng khi tụng giới, ta ngồi như thế nào để có thể vươn tay ra và chạm được vị xuất sĩ bên cạnh. Bụt đã có tuệ giác đó rồi. Hiện tại, khoa học nói rằng “oxytocin tiết ra khi bạn ở bên cạnh người khác và bạn hạnh phúc hơn”. Bụt đã không dùng ngôn ngữ đó, nhưng Ngài biết ta phải ở đủ gần, trong tầm với của tăng thân mình. PL nghĩ điều Sư Ông mong muốn nhất cho tăng thân là tăng thân có thể đến với nhau như một gia đình lớn.

Chùm thơ: Gốc Rễ

Sư cô Chân Trăng Bảo Tích

 

Mùi khói

Mùi ấm nồng

Buổi sáng lạnh sương

Hai trời đông tây cách trở

Tết con không về được

Để cùng ba đốt giấy vàng bạc cúng tổ tiên.

Ra đi

Mang theo mùi khói ấm

Để có chút nức nở mỗi lần lòng giá băng

Hành trang mang trên vai

Tuổi thơ êm đềm và hạnh phúc

Mùi khói của những ngày Tết quê nhà.

Ông bà ơi,

Càng đi

Con càng nhận ra

Là, mình giàu có.

 

Có những linh hồn

Chọn đi qua cuộc đời an yên và bình lặng

Để giữ gìn tinh túy.

Trái Đất –

Cuối cùng là điểm tựa

Của những phi hành.



Dòng sông vẫn chảy

 “Vườn xưa vắng mặt người chăm sóc

Lý trắng đào hồng tự nở hoa.”

 

Con thấy trong con

Khu rừng già ngàn năm cổ thụ

Ruộng đất đã lâu ngày không cày xới

Nhưng dòng chảy vẫn tiếp tục chảy dài, lưu nhuận

Trong từng tế bào huyết quản và tâm thức con

Dòng chảy ngàn năm

Dòng chảy trao truyền và tiếp nối

Ngọn hải đăng

Vẫn ngàn đời

Rực cháy.

 

 

 

Tỉnh giấc

 Một sớm con nghe quả tim mình thức giấc

Bước ra giấc ngủ triền miên quên lãng

Con thấy lại bóng hình khu rừng ngàn xưa

Con thấy lại con

Con thấy con lại đang cùng Thầy đi hái thuốc

Tiếng hồng chung vẫn vang vọng trên đỉnh non xưa

Con về, quỳ dưới chân Thầy

Quỳ dưới chân Bụt Tổ

Con là đứa con

Đi lâu ngày

Giờ thấy nhớ nhà

Muốn trở về lại

Với lượng cả bao dung.

 

 

Ngôi đền thờ

Thức dậy với tình yêu

Nghe mạch sống đang âm thầm tuôn chảy trong từng tế bào

Ngôi đền thờ này

Đang gìn giữ khói nhang cho lớp lớp tổ tiên.

Chỉ cần vẫn còn được sống

Được mở mắt, để nhìn thấy đất trời

Còn đôi tai, để nghe sáng nay mưa đang tuôn từng hạt

Còn đôi tay, để xoa vào nhau và giữ ấm

Cuộc sống thật bình dị

Nhưng chính cái bình dị đó dung chứa trong lòng nó một sự thật tuyệt vời

Cuộc sống đẹp

Và quý giá biết bao nhiêu!

 

Dòng chảy

 Con là dòng chảy

Bao la và hùng vĩ

Không đơn độc.

Dòng chảy đưa con đi về phía trước

Như Đất Mẹ đang nâng đỡ hai bàn chân con.

Dòng chảy lưu nhuận

Dòng chảy hào hùng

Dòng chảy là phù sa mỡ mầu trên những vùng đất mới

Mỗi nơi con đặt chân qua.

 

 

Một đời phụng sự – Lặng lẽ mà sáng ngời

 

Kỷ niệm 60 năm Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (1965–2025)

  Tăng thân Tiếp Hiện Sài Gòn

 

Sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ra đời (1965–2025). Khoảng thời gian ấy đủ dài để một thế hệ trưởng thành, một thế hệ tiếp nối, và nhiều thế hệ cùng nhìn lại con đường đã được khai mở bằng lý tưởng, tình thương và sự dấn thân không mệt mỏi. Ngày nay, nhìn lại, mỗi bước đi ấy vẫn vang vọng trong tâm thức chúng ta, nhắc nhở về trách nhiệm tiếp nối và ý nghĩa bền bỉ của con đường phụng sự.

Giữa những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi nhiều người trẻ đứng trước những ngã rẽ bế tắc: hoặc học để tìm con đường riêng, hoặc cầm súng để tham gia chiến tranh, đối đầu và hủy diệt. Trong hoàn cảnh đó, sự ra đời của Trường đã mở ra một nẻo đường khác– con đường của phụng sự xã hội, của hành động bất bạo động và của thực tập thiền trong cuộc sống. Đó là nơi người trẻ được mời gọi bước ra khỏi bế tắc của thời đại, rời bỏ hận thù và sợ hãi, để đi vào cuộc đời với đôi tay xây dựng và trái tim hiểu biết. Những thanh niên khoác áo nâu năm ấy không chấp nhận làm những hạt nước nhỏ lẻ loi. Họ đã chọn đi như một dòng sông, cùng nhau chảy về phía biển lớn của tình người, mang theo lời thề nguyện năm xưa: đem đạo vào đời, lấy tình thương làm phương tiện.

 

 

Với tinh thần “Hãy bắt đầu bằng những gì mình biết và xây dựng trên những gì mình có”, cùng tình thương và nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ triển khai các chương trình phát triển nông thôn. Họ hăng hái đi vào các thôn xóm, vận động sức người sức của tại địa phương, dựng nên trường học giữa làng quê nghèo, chăm sóc trẻ mồ côi, cứu trợ nạn nhân chiến tranh, chích ngừa dịch tả và đậu mùa, xin đất mở đường qua bùn lầy, dựng lại mái nhà sau mưa lũ… Một ngôi trường lá đơn sơ ba gian, ghế bàn xiêu vẹo, được dựng lên từ đất hiến tặng, từ tre được đóng góp, từ mồ hôi và lòng tin của đồng bào và sự yểm trợ của chính quyền địa phương – đó là công trình của cả một cộng đồng. Một con đường lầy lội bao năm không ai làm được bỗng trở thành con đường thông suốt nhờ bàn tay chung sức của dân làng và những người thanh niên phụng sự xã hội. Trong số họ, có những người vừa là thầy tu, vừa là giáo viên, y tá hay cán bộ xã hội. Có những người đi vận động dân làng bằng những câu thơ lục bát mộc mạc, rồi chính tay mình cầm kim tiêm để chích ngừa cho dân. Tuy rằng, họ không có tài chính nhưng họ có tình thương, trách nhiệm và tinh thần tự nguyện – ba nguồn năng lượng mà Sư Ông đã trao truyền. Và chính ba năng lượng ấy đã làm nên những điều tưởng chừng không thể.

Khi nhìn lại hành trình sống cuộc đời phụng sự, các bác Tiếp Hiện đã chia sẻ rằng: “Trong cuộc đời đi làm công tác xã hội, với tư cách một thanh niên phụng sự xã hội thì điều hạnh phúc nhất là đi đâu gặp đồng bào, mình làm việc gì cũng được mọi người hoan hỷ và vui vẻ đón nhận. Việc mình làm vì lợi ích chung nên công việc thường được suôn sẻ, lại được các chính quyền địa phương hồi đó hoan hỷ giúp đỡ, yểm trợ thêm để đồng bào vơi bớt những khổ đau”. Từ đó, các bác nhận ra rằng giá trị cao quý nhất của con người nằm ở tấm lòng cao thượng, và vì thế đã đem trọn sức mình cùng anh em tiếp tục dấn thân, tham gia phụng sự. Các bác cũng nhắc lại lời Sư Ông từng dạy: “Vì bạn đang ngồi thiền, nên bạn rời thiền đường để giúp người bên ngoài, đó gọi là thiền trong hành động”. Chính tinh thần ấy đã trở thành mạch sống của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội: thiền không rời cuộc đời, phụng sự không rời chánh niệm.

 

Trên con đường ấy, những người trẻ đã sống với ước nguyện giúp đỡ đồng bào, đồng hành cùng dân tộc. Có những con người âm thầm lặng lẽ cống hiến suốt đời, cũng có những con người chọn chối từ bạo động bằng chính thân mạng mình – như quý thầy Thích Thanh Văn, Thích Châu Toàn, Thích Tâm Thể (Nhất Trí), chị Nhất Chi Mai, chị Vui, anh Lành, anh Hy, anh Thơ… Vào ngày 16 tháng 05 năm 1967, chị Nhất Chi Mai – một trong sáu thành viên đầu tiên của dòng tu Tiếp Hiện – đã khiến cả thế giới xúc động trước khí phách bi hùng của người hiến trọn thân mình vì lý tưởng hòa bình. 

Xin đem thân làm đuốc
Xin soi sáng u minh
Xin tình người tỉnh thức
Xin Việt Nam hòa bình.

Lời nguyện của chị đã trở thành biểu tượng cho tinh thần phụng sự và bất bạo động. Dù thời gian trôi qua, ánh sáng của ngọn đuốc ấy vẫn âm thầm cháy trong lòng bao thế hệ Tiếp Hiện tiếp nối. 

Sáu mươi năm nhìn lại, những người đi qua con đường ấy nay tóc đã bạc, nhưng niềm tin yêu cuộc sống và nhiệt huyết phụng sự vẫn vẹn nguyên trong ánh mắt rạng ngời. Có người bắt đầu tham gia vào trường TNPSXH khi mới 22 tuổi, nay đã hơn 80, vẫn thân thương nhắc lại: “Giá trị cao quý nhất của con người là tấm lòng”. Từ trải nghiệm của chính mình, các bác gửi gắm đến thế hệ trẻ hôm nay lời nhắn nhủ tha thiết:

“Hãy tiếp nối con đường phụng sự xã hội – con đường đẹp nhất, bền bỉ nhất. Lý tưởng ấy phải được nuôi sống mãi trong tâm mỗi người. Phụng sự xã hội bằng tâm không vụ lợi, bằng sự hiểu biết và thương yêu. Đi đến đâu, làm với tất cả trái tim thì mọi trở ngại đều có thể vượt qua” 

 

 

Sư Ông đã từng dặn dò:
“Kẻ thù chúng ta không phải con người
Xứng đáng chỉ có tình xót thương” 

Đó không chỉ là thơ, mà là kim chỉ nam cho cả một đời dấn thân.

Hôm nay, trong dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (1965-2025), chúng con cúi đầu cảm niệm Thầy, người đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm giữa đêm dài. Cảm niệm các cô, các chú, các anh chị đã đi trước – những người khoác áo nâu Tiếp Hiện, bước vào đời bằng đôi chân không sợ hãi, ôm lấy khổ đau và hóa giải bằng tình thương. Nhờ quý vị, hôm nay chúng con có con đường để đi, một tăng thân để trở về. Chúng con biết con đường phía trước không phải lúc nào cũng có hoa vàng rải lối, nhưng chúng con nguyện tiếp bước.

Lặng lẽ ôm khổ đau bằng năng lượng của chánh niệm, của sự hiểu biết và thương yêu đích thực. Thở một hơi thật sâu, nở một nụ cười hiền để tiếp bước, dấn thân. Giữ ngọn lửa không tắt, tiếp nối hạnh nguyện thương yêu, hòa hợp để đứng bên nhau vững chãi giữa cuộc đời. Yêu thương là con đường duy nhất còn lại trong nhau khi tất cả đã đi qua.

Chúng con nguyện là cánh tay nối dài của Tăng thân. Lặng lẽ nhưng bền bỉ, chúng con chưa bao giờ đi một mình. Bên cạnh chúng con luôn là Thầy, là hàng trăm ngàn bước chân thầm lặng của Tăng thân, của bao thế hệ Tiếp Hiện đã và đang thở cùng mình. Những giọt nước mắt rơi không phải vì yếu mềm, mà vì lần đầu chạm vào nỗi khổ của người khác như của chính mình. Và những giọt nước mắt ấy nay đã hóa thành mưa âm thầm tưới mát những hạt giống mà Thầy và các bậc đi trước đã gieo suốt 60 năm qua, để chúng con tiếp tục gìn giữ và bước tới.

Nẻo về ấy vẫn còn đó.
Con đường ấy vẫn đang đi.
Lặng lẽ, mà sáng ngời.

Phương Khê

Sư cô Chân Hội Nghiêm

 

Con về thăm lại Phương Khê

Cỏ cây xanh mướt bốn bề ngát hương

Mùa xuân hoa đẹp lạ thường

Chim ca lảnh lót vấn vương chốn này

Về đây con lại nhớ Thầy

Bẻ từng măng búp, cho đầy nồi kho

Tình huynh đệ, nghĩa thầy trò 

Bữa cơm đạm bạc măng kho nhớ đời

Thầy thường hay mở lời mời

Lên ăn măng, uống trà, chơi với Thầy

Giờ đây hoa lá đủ đầy

Măng thì có đó, Thầy không có nhà

Thầy đi hái thuốc phương xa

Hay là Thầy đã đi qua bến bờ

Nãy giờ con mãi ngồi chờ

Giật mình tỉnh thức nào ngờ Thầy đây

Bóng Thầy thấp thoáng trong cây

Trên con đường nhỏ nơi Thầy đi qua

Góc nào không phải là nhà

Góc nào cũng có tòa nhà Như Lai

Bản môn chốn ấy đâu hai

An nhiên từng niệm khứ lai hiển bày

Con liền nắm lấy tay Thầy

Thong dong từng bước lòng đầy bình an. 

 

Biết nghe, biết lắng, biết thương sâu

Phỏng vấn Sư cô Chân Giác Nghiêm

 

Sư cô Giác Nghiêm xuất gia năm 1999 trong gia đình Cây Anh Đào. Từ khi gặp Sư Ông và sư cô Chân Không lần đầu tiên vào năm 1985, con đường đạo Bụt dấn thân đã trở thành lẽ sống của sư cô. Ban biên tập (BBT) may mắn có dịp ngồi chơi và nghe sư cô chia sẻ về niềm vui cũng như những thử thách mà sư cô đã đi qua trên con đường phụng sự. Dưới đây là phần trích từ buổi ngồi chơi này (được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp). 

 

BBT: Thưa sư cô, sau bao nhiêu năm tu học và phụng sự, đạo Bụt dấn thân có ý nghĩa như thế nào đối với sư cô ạ?

Sư cô Giác Nghiêm (GN):

Đó chính là điều đã đưa GN đến với Sư Ông và tăng thân. GN có thể đã chọn con đường tôn giáo chiêm niệm (thiên về cầu nguyện), nhưng đời sống của Sư Ông và sư cô Chân Không, mà GN được gặp lần đầu năm 1985, đã khiến GN chọn con đường này. Lúc ấy, Sư Ông đang giảng pháp lần đầu tại Lyon. Khi tiếp xúc với những lời dạy của Sư Ông, GN tự nhủ: “Mình phải áp dụng ngay những pháp môn này – không chỉ cho riêng mình”. Với GN, đó là ý nghĩa của hai chữ dấn thân.

Thời gian đó, GN đang là chuyên viên vật lý trị liệu trong một bệnh viện, chăm sóc cho những người cao tuổi và người bệnh giai đoạn cuối. GN đã chứng kiến rất nhiều cảnh đau khổ: Họ không biết phải làm sao để đối diện, xử lý những cảm xúc và đau đớn của mình, và không biết làm sao để tiếp tục sống. GN đã đem pháp môn thực tập vào nơi ấy, một cách rất tự nhiên, không hề nói đó là “thiền”. GN thực tập thiền hành khi đi lại dọc hành lang bệnh viện, để giúp cho tâm ý an tĩnh lại. Từ phòng bệnh này sang phòng bệnh khác, GN thực tập hơi thở ý thức. Trước khi bước vào phòng của một bệnh nhân mới, GN buông xuống tất cả những gì người bệnh trước đã chia sẻ, chỉ giữ lại điều thiết yếu nhất để trao đổi với các đồng nghiệp. Sư Ông đã dạy GN như thế.

Khi bước vào phòng, GN nhìn bằng đôi mắt mới – một cái nhìn thật nhanh – để thấy điều gì thật sự quan trọng. Không cần phải nói gì, GN đem thiền tập đến bên giường bệnh – thiền tập về tương tức. Có những người cảm thấy rất cô độc. GN chỉ cho họ tấm vải trải giường và kể cho họ nghe về tất cả những điều kiện hội tụ để tạo nên tấm vải trải giường này: từ cách cây bông được trồng ở châu Phi, người ta tưới từng hạt giống nhỏ, rồi có người dệt vải, người vận chuyển, kể cả mưa, nắng, những chú bướm nhỏ hay những con côn trùng đất…Tất cả đều có mặt trong đó. Đó chính là sự thực tập nhìn sâu. Một cách gián tiếp, mình giúp cho họ thấy rằng họ không cô độc. GN thấy họ nhẹ nhõm hẳn ra.

Với bệnh nhân bị liệt nửa người hoặc bị Parkinson, GN dạy họ thiền hành trong hành lang – nhưng không hề dùng chữ “thiền”. GN cùng bước đi với bệnh nhân một cách chậm rãi, trong im lặng. Khi người bệnh gặp khó khăn khi bước tiếp, nhất là với người bị Parkinson, cả hai đều dừng lại. Họ cố gắng bước tiếp, nhưng GN sẽ nói với họ: “Chúng ta hãy thực tập dừng lại”. Rồi GN sẽ hỏi: “Anh/chị thích cây nào nhất?”. Nếu họ trả lời “Cây anh đào” thì GN sẽ nói: “Vậy bây giờ mình cùng trở thành cây anh đào nở hoa ngay trong hành lang bệnh viện này nhé!”. Thế là nỗi bất lực trong họ được giải tỏa. Đó là một cách để giúp họ thực tập dừng lại và họ rất thích.

Trong não chúng ta có các khớp thần kinh (synapses) – nơi liên kết và dẫn truyền xung động điện giữa hai tế bào thần kinh khác nhau hoặc giữa một tế bào thần kinh và một tế bào cơ. Ở người mắc bệnh Parkinson, ngay cả khi họ đang còn trẻ, dopamine không truyền dẫn một cách dễ dàng, chúng bị cạn kiệt. Khi ta thực tập dừng lại, ta không làm mệt các dây thần kinh nữa, các khe thần kinh có thể được nạp đầy dopamine trở lại và họ lại có thể tiếp tục bước đi.

GN chẳng làm gì đặc biệt, chỉ trợ giúp họ mà thôi. GN trao truyền “thiền bên giường bệnh”, thực tập đặc biệt hữu ích khi thay băng gạc cho những bệnh nhân có vết loét – thường rất đau đớn – cũng như đối với người đã mất trí nhớ hay không còn nhận thức được thế giới xung quanh. GN sẽ tới thăm, hỏi về những điều đẹp đẽ trong đời họ để làm dịu nỗi đau.

GN giúp họ tập dừng lại – thấy và nhận diện thực tại như nó là – rồi nhẹ nhàng “thay chốt” (hay “thay CD”) như Sư Ông hay nói. Khi nghe tiếng xe đẩy bông băng của y tá, họ thường thở dài “Ah!”. GN sẽ nói: “Vâng, xe thay băng tới rồi. Bây giờ bác hãy kể cho tôi nghe về cây sáo mà con trai của bác hay thổi nhé!”. Và như thế đến lúc họ nằm xuống, chúng tôi có thể bắt đầu thay băng trong sự nhẹ nhàng.

GN không phủ nhận sự thật. Khi tháo băng, họ đau lắm, GN nói: “Đúng rồi, đau lắm! Hãy quay về hơi thở, và nhẹ nhàng nói ‘Đau lắm’ trong khi thở chậm rãi”. Rồi GN hỏi: “Cũng có những chỗ khác trên cơ thể anh/chị nữa. Nếu GN đặt tay ở chỗ này, anh/chị thấy ấm hay mát?”. Điều đó giúp họ chuyển hướng sự chú ý. Và nếu cơn đau vẫn còn quá mạnh, hơi thở ý thức và sự có mặt trọn vẹn sẽ khiến nó dễ chịu đựng hơn. Họ không còn la hét vì đau nữa. GN cũng chia sẻ thực tập này với các y tá: “Chúng ta có thể cùng nhau làm được điều này”. Nếu không thì người bệnh sẽ chịu đau đớn khủng khiếp. 

GN cũng giúp “hồi sinh trở lại” cơ thể của người bệnh – những vùng bị lãng quên không hề được chạm tới. GN dạy cho điều dưỡng viên cách tắm rửa bệnh nhân trong chánh niệm – luôn báo trước cho người bệnh những gì họ sắp làm: “Bây giờ tôi nhúng khăn vào nước ấm nhé” (để bệnh nhân có thể ngửi mùi xà phòng và nhận diện hương thơm trước), hoặc “Tôi sắp chạm vào cánh tay của bác, vào khuôn mặt của bác. Bác có cảm nhận được bàn tay tôi không?”. Việc tắm rửa cơ thể theo cách này giúp đánh thức lại hình ảnh cơ thể trong não — khơi dậy những vùng đã bị lãng quên vì quá lâu không được tiếp xúc.

Một ngày nọ, trưởng khoa gọi GN đến và nói: “Cô đã làm việc theo cách này suốt vài tháng rồi. Tôi không biết chính xác cô đang làm gì, nhưng tôi rất cảm ơn cô – nó thực sự có hiệu quả. Cô có toàn quyền thực hiện tiếp như thế nhé!”. Dĩ nhiên, kết quả này không đến từ GN mà là từ sự thực tập!

GN giải thích với vị trưởng khoa lý do mình làm việc theo cách đó, rằng GN thuộc về một cộng đồng thiền tập. GN nói với ông rằng đi cũng là thiền – rằng khi bước vào phòng bệnh nhân với tâm rỗng rang, sáng tỏ, GN mới thấy được thật sự họ cần gì, điều gì ổn và không ổn. 

Đối với GN, đạo Bụt là sự dấn thân vào đời sống ngay trong hiện tại. Dù làm nghề gì, ta cũng có thể tìm ra những pháp môn thiền tập giúp mang lại sự bình an và chữa lành.

 

BBT: Sư cô có kể cho Sư Ông nghe những gì mình áp dụng trong bệnh viện không?

GN: Mỗi khi bắt đầu một cách thực tập mới, GN đều viết thư cho Sư Ông: “Thưa Sư Ông, hôm nay con đã làm thế này…” – nhưng  chưa bao giờ nhận được hồi âm (cười).

Một ngày nọ, khi đang ở Làng Mai, GN bỏ giờ thiền hành. Ngồi dưới gốc cây đoàn ở xóm Thượng, GN viết thư kể Sư Ông nghe về những việc mình đã làm với các bệnh nhân. Sư Ông đi ngang qua, nhẹ nhàng nói: “Sư cô Elisabeth…” – Sư Ông luôn gọi GN như vậy. Sư Ông không nói “Sao sư cô không đi thiền hành?”, Sư Ông chỉ đơn giản hỏi: “Sư cô đang làm gì đó?”

GN thưa: “Dạ, con đang áp dụng lời dạy của Sư Ông trong bệnh viện, và chúng mang lại kết quả rất tốt. Con đang ghi chép lại”. Sư Ông chỉ nói nhỏ: “Mỗi khi sư cô tìm ra cách thực tập mới, hãy gửi cho thầy biết”. Và GN đã làm như thế. 

GN đã áp dụng pháp môn thiền hành rất nhiều – GN muốn nhấn mạnh điều này. Kết quả của đạo Bụt dấn thân rõ ràng đến mức các sinh viên vật lý trị liệu bắt đầu mời GN đến dạy ở trường. Y tá và điều dưỡng cũng mời GN đến nói chuyện tại Khoa Y học phục hồi chức năng. 

Họ vô cùng kinh ngạc trước những kết quả ấy. Không phải nhờ GN, dĩ nhiên rồi, mà nhờ sự thực tập.

 

BBT: Thưa sư cô, trên con đường phụng sự, thử thách lớn nhất của sư cô là gì? Và sư cô đã vượt qua những thử thách ấy như thế nào?

GN: Khó khăn lớn nhất đối với GN có lẽ là nỗi lo lắng, không biết người khác đánh giá thế nào về việc mình đang làm. GN sợ người khác không hiểu.

Thời đó, Phật giáo còn xa lạ. Những bài giảng bằng tiếng Pháp đầu tiên của Sư Ông là vào năm 1984 hay 1985. GN sợ cách dấn thân này có thể bị hiểu lầm – người ta có thể nghĩ mình thuộc “giáo phái” nào đó – và GN có thể bị cấm làm việc ở bệnh viện, dù kết quả rất tích cực. Nhưng khi trưởng khoa nói: “Cô được tự do toàn quyền”, thì mọi sợ hãi tan biến. Chướng ngại của GN ở trong chính mình, chứ không đến từ bên ngoài.

 

BBT: Sau kinh nghiệm chia sẻ chánh niệm trong bệnh viện, đạo Bụt dấn thân tiếp tục biểu hiện trong đời sống hằng ngày của Sư cô như thế nào?

GN: Trong gia đình mình, GN không bao giờ ép buộc việc ngồi yên hay dừng lại bằng tiếng chuông. GN chỉ đơn giản sống như trước, nhưng với sự ý thức và có mặt ngày càng nhiều hơn. Điều đó cũng là đạo Bụt dấn thân.

GN viết những mẩu chuyện nhỏ để kể cho các con nghe – những câu chuyện tưới tẩm hạt giống vô úy và hiểu biết. Khi các con đặt câu hỏi, GN luôn trả lời một cách tự nhiên, đơn giản, để giúp chúng chạm được những tuệ giác sâu sắc mà Sư Ông đã trao truyền. 

Đạo Bụt dấn thân cũng có nghĩa là dám cầm bút viết thư cho các nguyên thủ quốc gia để nói “Điều này không đúng,” nhưng luôn bằng lời từ ái. Khi chiến tranh Nga – Ukraine nổ ra, GN viết thư cho Tổng thống Putin, nói rằng ông đang gửi chính các con mình vào chỗ chết – rằng không có sự khác biệt giữa những người lính Ukraine với những người lính Nga của ông. Đó là những chàng trai trẻ tội nghiệp, có thể sẽ phải bỏ mạng, tàn tật, hay phải mang những vết thương hằn sâu trong trái tim.

GN nói với ông rằng GN biết ông yêu thương gia đình mình, ông trân quý con cái mình. GN viết: “Nếu ông muốn tên mình được lưu truyền đẹp đẽ, ông có thể dừng chiến tranh ngay bây giờ. Ông có thể trở nên nổi tiếng vì hành động đẹp đẽ này”. GN gửi thư bằng tiếng Nga, thẳng tới Kremlin, không ghi địa chỉ người gửi – vì sự an toàn của các sư cô.

GN từng tham gia tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International), ban đầu là với vai trò viết thư, sau đó làm thư ký y khoa. Với GN, đó cũng là đạo Bụt Dấn thân: nhận thư từ tổ chức Ân xá Quốc tế, hồi đáp “Kính gửi Ngài Tổng thống …” và ký tên mình với chánh niệm. Luôn luôn lịch sự, tôn trọng, nhã nhặn, nhưng rõ ràng và thẳng thắn, không che giấu. GN đã làm việc đó nhiều năm. Chúng ta có thể dấn thân bằng rất nhiều cách khác nhau.

GN còn tham gia cùng với các thành viên trong tăng thân ở Saint-Étienne giúp đỡ người vô gia cư: tặng quần áo, tạo một chỗ để tắm rửa, cắt tóc nếu họ muốn, chuẩn bị bữa ăn và tạo nên những khoảnh khắc nhỏ đầy niềm vui. Chúng tôi lắng nghe sâu sắc và trò chuyện với họ bằng sự ấm áp và thấu hiểu. Sư Ông và sư cô Chân Không biết về công việc ấy và luôn bảo hộ cho chúng tôi. Hoạt động này được duy trì liên tục trong suốt mười năm GN ở đó, và sau khi GN rời đi, các bạn tiếp tục duy trì thêm gần mười năm nữa.

 

 

BBT: Ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ (Maison de l’Inspir), sư cô và tăng thân tiếp tục chia sẻ sự thực tập với giới trẻ và các gia đình như thế nào ạ?

GN: Tăng thân ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ đã dấn thân mạnh mẽ và đón tiếp nhiều người trẻ, bao gồm cả các bạn trong tăng thân Wake Up, đến tu học. Trong nhiều năm liền, mỗi hai tuần vào chiều thứ Bảy, tăng thân dành nửa ngày để hướng dẫn tu học cho các gia đình. 

Chúng tôi hướng dẫn cha mẹ học cách tin tưởng vào con cái mình – ngay cả những em rất nhỏ. Chúng tôi để cho các em dẫn thiền hành hay làm thiền trà và thỉnh chuông. Trong lúc thiền hành, cha mẹ sẽ nhắm mắt để con mình dẫn đi. Ai cũng thực sự có mặt trọn vẹn.

Mỗi năm, các cha mẹ còn tự tổ chức một khóa tu 3–5 ngày, cha mẹ và con cái cùng thực tập với nhau.

 

BBT: Sư cô tiếp nối rất đẹp hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư cô có thể chia sẻ cho chúng con biết điều gì đã truyền cảm hứng cho sư cô trong sự thực tập lắng nghe sâu không ạ?

GN: Phẩm chất này một phần là do di truyền. Mẹ của GN hay lắng nghe người khác. Thỉnh thoảng mẹ hay mang người vô gia cư về nhà. Họ có thể ngủ, tắm rửa và nghỉ ngơi trước khi lại tiếp tục lên đường. Ông bà GN cũng vậy. Lắng nghe sâu là một phẩm chất đã ở trong máu của gia đình, là một phần của cuộc sống gia đình GN rồi. GN không có công lao gì đặc biệt khi lắng nghe như vậy.

Nhưng GN có thể kể một câu chuyện về sự chuyển hóa nhờ vào sự thực tập lắng nghe sâu của tăng thân. 

Một ngày nọ, tại Maison de l’Inspir ở Noisy-le-Grand, có một người đàn ông đến — đi xe mô-tô, người đầy hình xăm, tóc tai rối bời, áo khoác da đen — một rocker chính hiệu. Lúc đó, đâu phải ai cũng có hình xăm như bây giờ! Anh nói: “Tên tôi là François”. Anh lắng nghe pháp thoại, tham dự thiền hành, chia sẻ trong pháp đàm. 

Trong buổi pháp đàm, anh kể mình từng bị bỏ rơi từ nhỏ, sống lang thang, uống rượu từ khi mới lên 10-12 tuổi, rồi nghiện hút. Dù còn rất trẻ, cơ thể anh đã bị tàn phá trầm trọng. Tất cả tăng thân – xuất sĩ và cư sĩ – chỉ ngồi lắng nghe anh. Không ai ngắt lời, không nhận xét, chỉ lắng nghe sâu. Anh nói: “Hôm nay tôi đến đây vì tôi suýt giết người tình của vợ tôi. Tôi đã cầm dao trong tay, sẵn sàng giết hắn – nhưng rồi tôi đã không làm. Tôi nhớ mình đã thấy một cuốn sách có ghi địa chỉ – Noisy-le-grand, Maison de l’inspir – nên tôi đến đây”

Từ hôm đó trở đi, mỗi thứ Năm hàng tuần anh đều đến tham dự ngày Quán niệm, học cách sống, cách lắng nghe, cách thương yêu. Một hôm, anh dẫn con gái đến và nói: “Đây là con gái tôi. Tôi đã xin con tặng tôi một món quà đẹp cho ngày sinh nhật của mình. Con gái tôi nói: ”Điều gì có thể làm cho ba hạnh phúc nhất?”, và tôi nói: “Hãy tặng cho ba một ngày”. Con tôi hỏi ‘ngày nào?’, và tôi đã nói ‘Thứ năm’. Thế là chúng tôi có mặt ở đây. Tôi đến để dành trọn ngày này với con mình”. 

Cùng nhau, trong vòng tay của tăng thân, anh đã sám hối và xin con gái tha thứ. Mọi người đều rơi nước mắt. Thật vô cùng cảm động—nhất là khi biết cuộc đời mà anh đã trải qua. Sau đó, anh cũng làm như vậy với con trai của mình, đưa cậu đến Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, để cậu thấy nơi mà cha mình đang nương tựa. Một lần nữa, anh sám hối trước con trai—một chàng trai mười bảy tuổi. Anh đã thay đổi hoàn toàn.

Một ngày nọ, chúng tôi có một nhóm rất nhỏ – chỉ năm người thôi – trong đó có một viên cảnh sát đến để học về bất bạo động và sự định tĩnh. Chúng tôi không hề nói về nghề nghiệp của mình, chỉ giới thiệu tên thôi. Khi đến lượt François, anh nhìn GN với đôi mắt long lanh: 

“Sư cô biết gì không?”

“Không”, GN nói, mỉm cười và khuyến khích anh tiếp tục.

“Tôi đã tìm hết mọi vũ khí có trong nhà”

Ngay lập tức, mặt viên cảnh sát trở nên tái xanh. Có thể anh đang nghĩ “Ôi trời, tôi đang ở đâu thế này?”

François tiếp tục: “Tôi gom tất cả vũ khí trong nhà thành một đống ngay giữa phòng khách – một núi to”. Ta có thể hình dung anh đã mang trong lòng biết bao sợ hãi! 

“Thế anh định làm gì với chúng, François?”, GN hỏi.

Tôi có một ý tưởng, thưa Sư cô Elisabeth. Tôi có một người bạn là thợ rèn. Tôi sẽ mang tất cả tới cho anh ấy. Anh ấy sẽ đúc thành bức tượng của tự do. Không phải tự do ở ngoài kia, mà là tự do ta cảm thấy bên trong mình khi ta thật sự tự do”.

Anh đã ngừng uống rượu, ngừng dùng thuốc, chất kích thích. Anh sống bình an. Anh đã nung chảy hết vũ khí để tạo ra bức tượng của tự do nội tâm.

“Một ý tưởng tuyệt vời, Francois ạ! Anh phải làm thế nhé!”, GN nói. Trong khi đó, gương mặt viên cảnh sát càng tái xanh hơn! 

Rồi anh nhìn GN một cách nghiêm nghị và nói: “Tôi giữ lại một thứ”.

GN cười và nói: “Việc anh buông bỏ hết những thứ khác là rất tuyệt vời rồi. Anh giữ lại thứ gì?”

“Một cái búa – có cán dài – để phòng khi tôi lái xe mô tô mà ai đó tới gần”. Bạn có thể thấy nỗi sợ hãi cũ vẫn đang còn đó.

GN nhẹ nhàng nói: “Anh đã thực hiện một sự hy sinh lớn. Nếu bây giờ anh vẫn cần nó, thì hãy giữ lấy”. Anh sửng sốt.

Giáng sinh đó, GN đang chuẩn bị về thăm mẹ thì thấy anh tới. “Sư cô Elisabeth”, anh nói, “tôi có quà tặng Sư cô!”. Anh đưa GN một vật được gói trong tấm khăn. Đó là cái búa. Anh đã buông bỏ vũ khí cuối cùng của mình, nhờ có tăng thân.

GN nói với anh: “Anh hãy gói lại và đặt lên bàn thờ Bụt trong vòng năm ngày, để nó được tẩy tịnh. Anh dâng lên Bụt và thưa rằng: ‘Đây là vũ khí cuối cùng của con, thưa Bụt’”. 

GN đã kể cho anh nghe câu chuyện về Angulimala. Sau này, anh trở thành nhà làm phim. Anh làm một bộ phim về chính đời mình, trong đó con trai anh đóng vai anh khi còn trẻ – bộ phim rất thành công. Anh rất hạnh phúc. Thật là một sự chuyển hóa kì diệu.

Có rất nhiều trường hợp như thế – hòa giải giữa vợ chồng, giữa bố mẹ và con cái, giữa con người và cuộc đời. Đó chính là bàn tay của Sư Ông vươn ra giúp cho những người đau khổ.

 

BBT: Sư cô muốn nhắn gửi điều gì đến các thành viên trẻ trong dòng tu Tiếp Hiện, để truyền cảm hứng cho các bạn ạ?

GN: Điều đầu tiên: Cuộc đời thật đẹp! Với GN, đó là sự thật.

Điều thứ hai: Các bạn đã chọn con đường đẹp nhất. Hãy nhìn vào mắt GN – đôi mắt tràn đầy yêu thương – các bạn đã chọn con đường đẹp nhất!

Và cuối cùng, ta không thể làm gì trừ khi làm cùng nhau. Cùng nhau, ta có thể làm được mọi thứ. Cùng nhau, ta có thể vượt lên trên mọi khó khăn.