Người đã về đã tới

(Thầy Chân Trời Hải Thượng)

Thứ … ngày … tháng … năm …

Tôi nằm trên cái võng xanh bên hành lang, ngay bên khoảng vườn giữa lòng tăng xá. Làng bao nhiêu người mà làm biếng là vắng hoe, im lìm. Người đi hết nên tôi chẳng cần đi tìm không gian tĩnh lặng ở đâu khác nữa. Một lúc mới có một thầy đi qua, thấy tôi chăm chú đọc sách liền chọc một câu: “Thầy có đang làm biếng thật không đó?” (“Are you truly lazy?”). Biết thầy đang nhắc vui nên tôi chỉ cười. Làm biếng tức là ngược lại với làm siêng. Thật thú vị khi nghĩ rằng ngày đầu tuần ngoài kia cả thiên hạ mải miết đổ về những “business” (công việc làm ăn) của họ thì chúng tôi không có thời khóa ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm im lặng gì cả. Thầy Kai Li kể lúc mới đến Làng, thầy đã rất lấy làm sửng sốt khi biết một tu viện mà làm biếng! Người ta còn chẳng dành bao nhiêu nước bọt để sách tấn nhau làm siêng. Một thầy tu làm biếng thì không phải không có, nhưng “lazy day” (ngày làm biếng) mà là thời khóa cho cả tu viện thì mới là điều đáng nói. Lúc đó, Sư Ông nói với thầy Kai Li rất nghiêm túc: “Đúng đó, thầy nên càng làm biếng càng tốt (Yes, you should be as lazy as possible)”. Sau này thầy nhận ra đó là một thực tập rất sâu sắc.

Thỉnh thoảng ta nghe người ta nói: “Đừng có ngồi không đó, làm gì đi chứ”. Điều này rất phổ biến vì xã hội của ta là một xã hội phải luôn có mục tiêu để hướng tới. Chúng ta có khuynh hướng luôn đi theo một chiều hướng nào đó và luôn có một mục tiêu đặc biệt trong tâm thức. Trái lại, đạo Bụt tôn trọng giáo lý vô nguyện (vô tác). Những người thực tập chánh niệm thì thường hay nói: “Đừng làm gì hết, hãy ngồi yên đó”. Không làm thực ra cũng là làm. Giáo lý này dạy ta không cần phải đặt ra một mục tiêu phía trước để chạy theo, bởi vì mọi thứ đã có sẵn trong ta rồi.

 

 

Tôi thấy mình thực tập thành công hơn với những ngày “im lặng hùng tráng” toàn chúng, khi không ai động đến sách vở, giấy bút, mạng máy gì cả. Còn thật tình tôi cũng hay biến thứ Hai thành ngày “xả hơi”, nghỉ ngơi, đi chơi sau những ngày “chạy việc”, chứ không theo đúng tinh thần “không đi đâu nữa, có chi để làm”. Đã từng đi học, đi làm, tham gia vào guồng quay bên ngoài nên vẫn còn cảm giác ngồi không là tội lỗi. Có mười lăm ba chục phút trống liền gắng tìm việc làm thêm cho đỡ tiếc. Còn các thiền sư thì dành mấy giờ đồng hồ chỉ để thiền trà, làm từng động tác và thưởng thức từng động tác. Tu rồi tôi mới biết người tu trông giống ngồi không, vô công nhưng thực ra không phải. Cái “business” (công việc) của người tu khác với người đời.

Giờ chiều cư dân của Làng từ những chỗ “ẩn cư” xuất hiện đông đúc trở lại. Có vài thầy và sư chú mặc áo tràng cúng cháo. Nhịp mõ khi tụng chú đi nhanh hòa với giọng tụng nghe rất đã tai. Vì tối nay có thời khóa nên Tâm Nguyên rủ tôi đi bộ sớm hơn hôm trước. Đi mời gọi thêm, cuối cùng chúng tôi có cả thảy bốn người. Dư âm của tiếng chuông tiếng mõ còn chưa dứt, tôi kể với các em là mỗi lần làm lễ mà tụng đến hai câu:

“Nguyện sinh về tịnh độ, Sen nở thấy vô sinh”

là tôi thấy tức cười. Tâm Nguyên vì từng là chú tiểu nên rành các nghi lễ truyền thống đã giải thích cho chúng tôi biết rằng những câu ấy không phải Sư Ông tự đặt ra. Để khai thị cho người nghe, các vị thiền sư xưa đã đưa vào các nghi lễ những giáo lý như:

“Tịnh Độ vốn sẵn nơi chân tâm, Di Đà hiện ra từ tự tánh, Chiếu sáng ba đời khắp mười phương, Mà vẫn không rời nơi hiện cảnh…”

để sau này ta còn thấy được thấp thoáng trong đạo Bụt tín mộ, đạo Bụt bình dân những viên ngọc tuệ giác như vậy. Tôi lấy làm vui trong lòng vì thấy Tâm Nguyên đã chững chạc, trưởng thành lên nhiều. Em trầm tính hơn, thích dành thời giờ ngồi yên một mình và ham đọc sách. Lớn lên từ nhỏ trong một ngôi chùa quê tu pháp môn niệm Phật, ban đầu khi giới thiệu em qua Làng tôi cũng lo em sẽ khó thích nghi với môi trường ở đây. Nhưng hôm nay tôi cảm được là Tâm Nguyên đã làm hòa được hai dòng chảy này trong mình rồi.

Thứ …, ngày… tháng… năm…

Tôi rời phòng đi ngồi thiền từ sớm để có được cái cảm giác đặt từng bước chân trên đường khi xung quanh tiếng chuông đại hồng âm vang theo lời kệ xướng. Lên tới thiền đường đã thấy có vị đến trước để thực tập lạy Bụt. Hôm nay mấy sư anh đi ra ngoài gần hết nên khi ngồi xuống tụng kinh thấy hơi lúng túng chuyện mình phải lên ngồi gần bàn thờ. Từng sống ở chúng rất đông cũng như chúng rất ít người mới biết quý cái không khí “hùng kinh mỗi sáng gọi nắng mai bừng lên”. Buổi tụng kinh nào cũng thường gồm một bài tụng và một bài đọc. Cách học kinh của Làng là tưới tẩm, người tu không buộc phải học thuộc lòng kinh hay giới nhưng quanh năm suốt tháng các bài kinh xoay vòng gieo vào lòng. Những câu kinh như “Nguyện thấy được Tịnh Độ, dưới mỗi bước chân mình; Nguyện tiếp xúc bản môn, trong mỗi khi hành xử” có thể chẳng tốn thời gian ôm sách ê a. Dễ hiểu một phần bởi nó là một với thứ ngôn ngữ ta nói hằng ngày. Nếu còn dùng những văn bản như “Tự thị bất quy, quy tiện đắc” thì chẳng khác phải học thêm một ngoại ngữ, bởi âm một đằng nghĩa một nẻo… “Thức đã không như bất cứ hiện tượng nào khác thì còn có gì cần được tạo tác nữa đâu? Phép quán sát này được gọi là Vô Tác, cánh cửa giải thoát thứ ba”. Hôm nay vị đọc câu kinh này đã ngắt đúng ở chữ “không”. Nếu đọc liền một mạch thì nghe xuôi nhưng thực ra nghĩa lý lại lộn ngược.

 

 

Giờ sáng phòng còn có mình tôi vì các sư chú đi học lớp ngoại ngữ. Thấy tờ Lá thơ Làng Mai cũ sẵn trên bàn của Tâm Nguyên, tôi lật vài trang xem hình. Bị cuốn vào bài bình thơ Bàng Bá Lân của Sư Ông, tình cờ tôi thấy một đoạn Sư Ông nói trúng ý mình đang tìm:

“Ai mà không cần một giấc mơ!? Theo phương pháp thực tập của Làng Mai thì mình phải làm cách nào để giấc mơ hiện thực ngay trong ngày hôm nay… Tôi cũng vậy, tôi nghĩ rằng mơ ước của tôi, tôi có thể đưa tay ra đụng tới nó bất cứ một giây phút nào trong đời sống hàng ngày.”

Đoạn này làm tôi nhớ có lần ở Đức, một cô cư sĩ hỏi rằng Sư Ông đã có tuổi rồi, liệu Sư Ông còn ước mơ nào chưa thực hiện nữa không? Sư Ông đã trả lời rằng:

“Này con, ngày nào thầy cũng được sống và làm những gì thầy ưa thích. Thầy không còn dự án nào nữa cả, không còn mong ước gì nữa cả.”

Một điều Sư Ông nhấn mạnh ở đây, đó là giấc mơ của mình, mình có thể chạm tới liền nếu mình muốn. Bằng cách nào? Đâu phải Sư Ông không chỉ bảo tận tình cho mình. Bao lần huynh đệ chúng ta đã hát “Chỉ cần một hơi thở nhẹ, là bao phép lạ hiển bày”. Một buổi ngồi thiền nào đó, ta có thể lại nghe giọng nói ấm áp của Sư Ông bên tai:

“Bạch đức Thế Tôn… khi con thở vào, con thấy là con đã về. Khi con thở ra con thấy là con đã tới. Con đã về trong phút giây hiện tại. Đó là quê hương đích thực của con. Con đã tới, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, với tịnh độ hiện tiền. Điều này có thể thực hiện trong vòng một hơi thở vào hay một hơi thở ra. Nếu con có thể về được, tới được thì con có cần phải làm gì nữa đâu. Con có thể mặc tình thích ý rong chơi trong cõi Bụt.”

Giống như “hạnh phúc”, “liền lập tức” đã trở nên quen tai tới mức nhiều người trong chúng ta đã quên đi giá trị đích thực của nó. Đó phải chăng chỉ để đáp ứng thị hiếu “mì ăn liền” của con người hiện đại? Giáo pháp của Đức Như Lai vốn “vượt thoát thời gian”, nếu không ăn được liền lúc này thì ta cũng không bao giờ nếm được nó. Now or never! (Bây giờ hoặc là không bao giờ)

Tôi định dành buổi chiều thứ Sáu để kiếm những dữ kiện cuối cùng cho bài viết. Tâm trạng nửa như bị hối thúc, nửa như chơi. Lên ngôi chùa điện tử, “Xứ sở của giây phút hiện tại”, lục tìm các hình chụp thư pháp của Sư Ông nhưng không thấy câu nào ưng ý. Hoặc là trong cái kho pháp thoại mênh mông vẫn có những ý hay nhưng ai biết chính xác ở đâu mà tìm?

Lang thang tình cờ tôi đọc được một bài viết của thầy Minh Hy, kể chuyện một lần Sư Ông dạy:

“Quả thứ nhất ‘Đã về – Đã tới’ ở Làng Mai hơi khác với quả Dự Lưu trong truyền thống. ‘Dự Lưu’ thì còn phải đi nữa, còn ‘Đã về – Đã tới’ thì không cần tìm cầu chi nữa. ‘Người chẳng tìm cầu chi nữa’. Câu này hay lắm, mình phải viết lại, nếu mất thì uổng lắm. Ai chứng được quả này rồi thì mình nhìn mình biết liền, không cần người ấy nói.”

Cả câu đối vốn là thế này:

Tịnh độ nơi đây thích ý rong chơi người chẳng tìm cầu chi nữa
Bản môn bây giờ phỉ lòng an trú ta há theo đuổi gì thêm

Chưa rõ nó đang ngự ở thiền đường nào. Tìm không thấy câu thư pháp mình cần, tôi tính bỏ cuộc. Chắc nhiêu đó cũng không thừa thiếu gì. Phòng máy vắng vẻ, chỉ có một sư em ngồi bên đang xem lại một đêm nhạc thiền. Văn nghệ ở Làng có nhiều kiểu loại. Những đêm nhạc thiền thì chất hơn cả, bởi các tiết mục được để tâm đầu tư nhiều về nội dung. Máy tính chỗ tôi ngồi không loa, tai nghe lại hỏng nên tôi chỉ xem ké máy bên một đoạn. Sư em nói rằng cả buổi trình diễn này chỉ đọc một bài thơ duy nhất, một câu chuyện được kể xen kẽ thơ với nhạc. Vậy ra Sư Ông có một bài thơ tên là “Câu chuyện của dòng sông”? Hay một truyện ngắn?

“Đêm hôm đó, dòng sông có cơ hội để nghe được tiếng khóc của mình. Đó là tiếng sóng vỗ vào hai bên bờ sông. Khi nó nghe được tiếng sóng vỗ của chính nó, dòng sông tỉnh ngộ. Nó hiểu ra là bản chất của sông cũng là bản chất của mây. Nó chính là mây. Mây đang nằm trong sông vì cả hai cùng có bản chất là nước. Mây làm bằng nước. Vậy thì tại sao mình phải chạy theo mây? Sông tự nhủ, “ta chỉ chạy theo mây nếu như ta không phải là mây mà thôi!”

Khi chúng ta chạy đuổi theo một thứ gì, muốn nắm bắt nó, ta sẽ đau khổ. Khi không có gì để đuổi theo, ta cũng khổ đau. Nếu bạn đã là dòng sông, nếu bạn đã từng chạy theo mây, đau khổ, than khóc vì cảm thấy cô đơn, xin hãy nắm lấy tay chính mình như nắm tay một người bạn. Hãy quán chiếu thật sâu, bạn sẽ thấy rằng thứ mà bạn tìm kiếm kia vẫn thường hiện diện ngay đây, đó chính là bạn! Bạn là thứ mà bạn muốn trở thành.

Vẫn là chuyện của kẻ đi kiếm và thứ để tìm. “Ai tìm, mà ai được?”. Tôi ôm võng đi tìm chỗ yên tĩnh, cắp thêm mấy cuốn sách Phép lạ của sự tỉnh thức, Trái tim mặt trời, Nẻo về của ý… để xem lại những tư tưởng thiền cô đọng nhất của Sư Ông thuở ban đầu mà tôi đã đánh dấu cho bài viết.

“Chúng ta quen sống với sinh diệt mà không quen sống với bất sinh và bất diệt. Sóng sống đời sống của nước hoặc ta sống đời sống của bất sinh bất diệt, điều ấy nào có lạ lùng gì, nào có khó khăn gì. Thì bao giờ mà sóng chẳng sống đời sống của nước, ta chẳng sống đời sống của bất sinh bất diệt? Chỉ cần biết là ta đang sống tròn đời sống của bất sinh bất diệt mà thôi. Tất cả nằm trong một tiếng biết, mà biết tức là nhận ra, là chánh niệm. Bao nhiêu công phu của thiền quán chỉ là để tỉnh dậy mà biết một điều đó: sinh diệt đâu có động gì được đến ta.” Trích tác phẩm Trái tim mặt trời của Sư Ông

Gập cuốn sách nhìn lên, tôi thấy trong tấm cửa kính lớn bóng mình nằm trên võng dưới hiên, quay lưng với nắng đang phối màu cho đồi xanh và mây trắng cuồn cuộn nổi. Lá rơi tơi bời, tôi nằm lơ lửng giữa trời. Mây trắng cao đẹp như vậy, ắt hẳn đâu đó vẫn có những dòng sông đang ôm mây trong lòng mà vẫn cồn cào. Bóng mây trôi qua, bức thư pháp nhỏ của ai sau cửa kính trong phòng lọt vào tầm nhìn tôi: “Ta còn tìm cầu chi nữa? This is it!”. Ngay ở đó, chính là nó!

 

(Trích từ Tập san Giếng Nước Thơm Trong, số 2)

 

Hiến tặng an lạc cho cuộc đời

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 09.07.2006 tại xóm Thượng, Làng Mai)

Chúng ta có Tam Bảo như một dòng sông nước ngọt, gồm có Bụt, Pháp và Tăng. Chúng ta được dạy rằng mỗi người trong chúng ta đều có Phật tánh. Tuy chúng ta là chúng sanh, nhưng đồng thời cũng là Bụt. Nếu vứt bỏ chúng sanh, ta không thể nào tìm ra Bụt được. Do đó, ta phải tìm Bụt ngay trong chính chúng sanh của mình. Khi ta đang là chúng sanh, điều đó có nghĩa là ta đang mang trong mình bản chất của một vị Phật.

Vậy thì chúng ta đi tìm Bụt ở đâu? Chúng ta đi tìm sự giải thoát, giác ngộ, hạnh phúc ở đâu? Không cần tìm kiếm đâu xa, bởi tất cả đều có ngay trong thân và tâm của chính mình. Nếu ta muốn tìm Bụt, ta phải tìm ngay trong thân và tâm. Nếu ta muốn tìm Tịnh độ, ta cũng phải tìm trong chính thân tâm này. Sự giải thoát và tự do cũng nằm ngay trong đó.

Chúng ta hãy tập nhìn thân và tâm của mình như một vũ trụ nhiệm mầu, nơi ta có thể tìm thấy tất cả những gì mình mong cầu. Giải thoát, giác ngộ, an lạc hay Tịnh độ – tất cả đều nằm trong đó. Khi ta hiểu và nhận ra điều này, ta sẽ nuôi dưỡng một lòng kính ngưỡng sâu sắc đối với thân và tâm của chính mình, không còn xem thường hay hủy hoại chúng nữa.

Nếu ta khinh thường thân thể, nếu ta ghét bỏ hoặc coi nhẹ thân mình, nghĩa là ta đang đánh mất tất cả. Vì thân và tâm không phải hai thực thể tách biệt. Ngoài thân không có tâm, mà ngoài tâm cũng không có thân. Do đó, có được thân tâm này, ta có cơ hội tìm ra sự giải thoát, giác ngộ và hạnh phúc. Khi ta biết nhìn thân tâm bằng một thái độ cung kính, ta cũng sẽ biết kính trọng thân tâm của người khác. Không có sự khinh thường, không có sự phân biệt, vì ta không thể tìm thấy Tịnh độ, giác ngộ hay Bụt ngoài thân và tâm của chính mình.

Dù đến từ truyền thống Ki-tô giáo, ta cũng có thể nhận thấy điều tương tự: Thiên quốc, Thượng Đế hay Chúa Kitô đều nằm trong thân và tâm, chứ không phải ở một nơi xa xôi nào đó. Khi ta nhận ra thân và tâm mình chứa đựng sự màu nhiệm của pháp giới, của vũ trụ, của Bụt, ta sẽ có một cái nhìn khác về chính bản thân. Ta không còn xem thân này là thứ tầm thường hay ghét bỏ nó.

Ngày xưa, Thầy có viết một bài thơ với câu:

“Đừng ghét bỏ thân thể em,
Vì đó là đền thờ của linh hồn nhân loại.”

 

Nếu ta học được giáo pháp từ Đức Thế Tôn, ta sẽ có cơ hội trở về với chính thân tâm của mình, tìm thấy hạnh phúc, thảnh thơi, tự do và giác ngộ mà ta hằng tìm kiếm. Tại Làng Mai, Thầy dạy chúng ta rằng ta phải có mặt cho chính thân tâm mình.

 

 

Thân và tâm ta là một vương quốc, và ta chính là vị quốc vương chịu trách nhiệm cho vương quốc đó. Vương quốc này rộng lớn, bao gồm năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Làm sao ta có thể có an lạc và hạnh phúc nếu ta không thực sự có mặt cho thân và tâm mình? Một vị quốc vương không thể bỏ bê vương quốc của mình. Vì vậy, sự thực tập của ta chính là luôn có mặt cho thân và tâm.

Thân và tâm cần sự hiện diện của ta. Và để có mặt cho mình, ta cần thực hành các phương pháp cụ thể. Mỗi khi ta thở có ý thức, ta đưa tâm trở về với thân, và ta đang thực sự có mặt. Khi bước chân đi trong chánh niệm, mỗi bước chân đưa tâm trở về với thân, giúp ta hoàn toàn hiện diện trong khoảnh khắc ấy. Đây chính là sự thực tập căn bản của chúng ta.

Khi ta thật sự có mặt cho chính mình, thân và tâm ta sẽ được chăm sóc. Khi thân và tâm được chăm sóc, ta sẽ cảm nhận được sự lắng dịu, sự an lạc.

Nhiều khi ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ đến khi được ở bên người ta thương. Ta ao ước có người đó bên cạnh để cảm thấy hạnh phúc. Ta tin rằng nếu không có người ấy, ta không thể có hạnh phúc. Nhưng sự thực tập của ta là phải có hạnh phúc ngay cả khi ở một mình.

Kinh Người Biết Sống Một Mình dạy rằng dù ta đi bộ hay uống trà với người khác, nếu ta không thực sự có mặt cho chính mình, thì phẩm chất của sự có mặt ấy sẽ rất nghèo nàn. Vì vậy, muốn có mặt cho người khác, cho cuộc đời, ta cần phải tập có mặt cho chính mình trước.

Nếu ta có thể có hạnh phúc khi ở một mình – khi ngồi, khi đi, khi uống trà – thì khi ở bên người khác, ta sẽ có khả năng lan tỏa hạnh phúc ấy. Chúng ta chỉ có thể làm người khác hạnh phúc khi chính chúng ta đã thực sự có hạnh phúc. Khi có mặt cho bản thân một cách vững chãi, khi có an lạc và thảnh thơi, ta mới có thể chia sẻ những điều ấy với người khác.

Vì vậy, ta cần tự hỏi: “Mình có gì để hiến tặng?” Sự thực tập của ta hướng đến việc hiến tặng. Nhưng ta sẽ hiến tặng điều gì? Ta hiến tặng sự vững chãi, sự thảnh thơi (tức là tự do), và sự an lạc. Nếu không có những phẩm chất ấy, ta không có gì thực sự để hiến tặng.

Ở Làng Mai, có một câu linh chú:

“Darling, I’m here for you.”
(Người thương ơi, tôi đang có mặt cho anh đây.)

Món quà quý giá nhất mà ta có thể hiến tặng cho người khác chính là sự có mặt đích thực của mình – sự có mặt trong đó thân và tâm hợp nhất, hòa điệu, thảnh thơi.

 

 

Là một tăng thân, một cộng đồng, ta cần có mặt cho chính mình trước khi có thể chăm sóc và hỗ trợ người khác. Làng Mai không phải là một khách sạn hay một nhà ăn, chỉ cung cấp chỗ ngủ và thức ăn. Điều ta muốn cung cấp là sự an lạc và vững chãi – nhưng những thứ đó không thể mua ở bên ngoài. Ta có thể mua thêm nệm trải giường, mua thêm thức ăn, nhưng không thể mua được “an” và “lạc”.

An và lạc phải được tự chế tác qua sự thực tập của ta.

Khi là một sư anh, ta mong rằng sư em của mình biết chăm sóc bản thân, biết thở, biết bước đi trong chánh niệm, biết nở nụ cười để có mặt cho chính mình. Khi thấy sư em làm được điều đó, ta có một niềm vui rất lớn. Nếu sư em chưa biết chăm sóc bản thân, ta phải giúp em ấy học cách làm điều đó.

Ta có thể hỏi: “Này em, em có gì để hiến tặng cho người khác không?”

Nếu sư em chưa có gì để hiến tặng, ta phải là tấm gương, để em thấy rằng một sư anh có an, có lạc, có sự vững chãi, có khả năng hiến tặng.

Sự hiến tặng này không phải là lao tác nặng nhọc. Ngoài đời, người ta lao tác để có lương, còn ở đây, ta không có đồng lương nào. Lao tác của ta không phải là sự hiến tặng lớn nhất, mà chính tình thương và hạnh phúc của ta mới là món quà đích thực.

Muốn hiến tặng mãi mãi, ta phải nuôi dưỡng sự thực tập của mình trong từng bước chân, từng hơi thở, từng nụ cười. Và khi ta hiến tặng, chính ta là người thừa hưởng nhiều nhất.

 

Ngõ bình yên

(Sư cô Chân Trăng Thiên Hà)

Người nữ tu
Thức sớm
Trăng chờ ngoài hiên gió
Chiếc áo len khoác qua mảnh vai yên.

 
 

Người nữ tu
Chân trần in đá sỏi
Tiếng bước chân giữa trời mai huyền diệu
Từng bước thảnh thơi
Hơi thở đầy ánh trăng
Nắng trong
Hạt sương thơm
Bích đào hồng lên khoảng trời mới hé.

Người nữ tu hạnh phúc
Mỉm cười
Chạm vào ngõ bình yên
Chiếc lá rơi nghiêng qua trời thực tại
Im lìm nghe đá sỏi hân hoan.

 

 

Mỗi phút giây – tôi học làm người yêu chân thật

(Trích từ sách Bây giờ mới thấy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Bạn đừng đi tìm hạnh phúc trong tương lai. Bạn đừng chờ đợi cái ngày ấy, cái bao giờ ấy. Bạn đừng nói chỉ khi nào, chỉ bao giờ tôi có được cái ấy thì tôi mới có hạnh phúc. Cái ấy là cái gì? Cái ấy là cái danh, cái ấy là cái lợi, cái ấy là cái quyền hành, cái ấy là cái sắc dục. Đừng dại dột nói rằng chỉ khi nào, chỉ bao giờ anh có được những cái ấy thì anh mới thật sự có hạnh phúc. Hãy nhìn quanh. Có bao nhiêu người đang có những cái ấy, thế mà họ vẫn không hạnh phúc. Họ không bao giờ thấy họ có đủ những cái ấy. Bởi vì túi tham không có đáy. Khát nước mà cứ ăn muối thì lại càng khát. Họ không biết được rằng chỉ có cái tri túc mới làm cho ta hết khát và đem lại cho ta hạnh phúc. Ngày xuân, người thiếu phụ trang điểm và leo lên lầu nhìn xuống. Sắc màu của những cây dương liễu mùa xuân mầu nhiệm quá, nhưng nàng không có hạnh phúc. Tại vì chàng không có mặt đó. Mùa đông năm rồi nghe lời nàng, chàng đã ra đi để kiếm chút công hầu, nghĩ rằng có nhau thì chưa đủ, phải có một chút danh vọng và quyền hành nào đó thì họ mới thật sự có hạnh phúc. Và người thiếu phụ bắt đầu hối tiếc đã để cho chồng ra đi tìm kiếm một chút danh lợi trong cuộc đời.

Có người nói yêu nhau không phải là ngồi đấy để nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng. Có thật sự như thế không? Nếu cả hai cùng phải nhìn về một hướng, thì hướng ấy là hướng nào? Hướng của công hầu ư? Như vậy có nghĩa là tình của ta chưa đủ làm cho ta có hạnh phúc. Hoặc nếu đó là hướng của chiếc máy truyền hình. Nếu đó chỉ là hướng của cái Tivi thì sự thật quả là sầu thảm. Ngày xưa chỉ cần nhìn nhau là hạnh phúc. Bây giờ nhìn nhau thì không còn hạnh phúc nữa, bởi vì cả hai đứa đã từng làm khổ nhau. Cho nên nhìn về phía máy truyền hình chỉ là để khỏa lấp sự trống vắng và khổ đau trong bản thân của mỗi người.

 

 

Còn nếu cái hướng cả hai người đang nhìn về đó là hướng của lý tưởng, thì cái lý tưởng ấy là gì? Cố nhiên không phải là cái hướng của quyền hành và danh lợi. Bởi vì quyền hành và danh lợi không phải là lý tưởng. Lắm khi cái vỏ ngoài lý tưởng mà mình ca ngợi chỉ chứa đựng được cái nội dung quyền hành và danh lợi bên trong. Chúng ta tự đánh lừa chúng ta và chúng ta đồng thời đánh lừa những kẻ khác. Đạo pháp, dân tộc, nhân loại, chủ nghĩa xã hội, chân, thiện, mỹ.

Tại sao ta không có quyền ngồi đó để nhìn nhau? Nhìn nhau để thấy được cái mầu nhiệm của nhau, và cũng để thấy được cái mầu nhiệm ấy nơi chính mình, để cho mình biết trân quý nó. Nhìn nhau là để nhận diện được những mầu nhiệm trong cái bây giờ và ở đây. Nhìn nhau cũng là để thấy được những thao thức, những khổ đau của người kia và cũng là của chính mình. Thấy và hiểu được những nỗi khổ niềm đau ấy làm cho cái hiểu biết và cái thương yêu lớn lên: đó là bí quyết của phép nuôi lớn tình yêu.

“Không có gì có thể sống mãi nếu không có thực phẩm.

Tình yêu cũng vậy. Dù đẹp cách mấy thì tình yêu cũng là vô thường. Ta phải học nuôi tình yêu.”

 

Nuôi tình yêu bằng thực phẩm nào? Bằng cái hiểu và cái thương.

Mà chỉ khi ta biết cách nhìn nhau, và biết cách nhìn lại bản thân mình, ta mới chế tác được hai loại năng lượng quý báu ấy để nuôi lớn tình yêu. Nuôi lớn tình yêu, không những ta trị liệu được cho bản thân mà ta còn trị liệu được cho người bên cạnh. Tình yêu càng được nuôi lớn càng có đối tượng lớn. Người yêu ơi, tình yêu của anh nếu là tình yêu chân thật thì nó sẽ lớn lên không ngừng và sẽ ôm từ từ hết cả mọi người và mọi loài. Tình yêu của anh không những nuôi dưỡng được anh mà còn nuôi dưỡng được tất cả chúng tôi. Đó là tình yêu không biên giới, không kỳ thị. Đó là trái tim chứa đựng được thái hư. Đó là vô lượng từ, vô lượng bi. Nó đem niềm vui cho tất cả cho nên nó là vô lượng hỷ. Nó không loại trừ bất cứ ai cho nên nó là vô lượng xả. Tình yêu không lớn lên là tình yêu đang bắt đầu chết. Cho nên nhìn nhau là để nuôi lớn tình yêu. Nhìn vào nỗi khổ niềm đau của người yêu, ta thấy được nỗi khổ niềm đau của mọi loài, và tâm bi của ta sẽ lớn lên, hùng tráng như sấm động, lòng từ của ta sẽ là mưa cam lộ thấm vào trái tim của mọi loài. Một đám mây trông hiền lành như thế nhưng có khả năng tạo thành sấm sét. Tình thương chân thật không bao giờ là sự yếu đuối. Đại bi là đại dũng. Đại từ cũng là đại dũng.

Khoá tu “Bình an trong từng hơi thở – Bình an trong mỗi con người” tại chùa Pháp Hoa, Vancouver – Canada 2025

 

Kính thưa quý vị!

Hành trình hoằng pháp tại Canada năm 2025 của quý thầy, quý sư cô Làng Mai sẽ tiếp tục được diễn ra tại chùa Pháp Hoa, Vancouver từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 05.

Kính mời các bạn cùng trở về chùa để tham dự khoá tu cuối tuần. Trở về để chúng ta cùng nhau học cách thở chánh niệm để an trú trong giây phút hiện tại, học cách nuôi dưỡng bình an, chế tác những niềm vui và hạnh phúc trong đời sống hàng ngày. Đây cũng là cơ hội để mỗi người trong chúng ta khám phá được những giá trị đích thực của nội tâm và kết nối để lan toả tình thương, sự chữa lành những thương tích, cùng nhau nâng đỡ trên hành trình tỉnh thức.

Để đăng ký ghi danh khoá tu, xin quý vị truy cập vào đường link:

Khoá tu “Bình an trong từng hơi thở – Bình an trong mỗi con người” tại chùa Pháp Hoa, Vancouver – Canada 2025

Mọi thắc mắc xin liên hệ về email:

dangky.phaphoa@gmail.com

 

Khoá tu “Trở về để trị liệu” tại tu viện Tây Thiên – Canada 2025

Kính thưa quý vị!

Giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện nay, đôi khi chúng ta đánh mất chính mình, thường bị cuốn theo những lo toan, áp lực, giận hờn và phiền muộn. Những giây phút bình yên, thư giãn tưởng chừng rất xa xôi, nhưng trên thực tế, bình an luôn hiện hữu bên trong mỗi chúng ta – chỉ cần chúng ta biết dừng lại, thở thật nhẹ, thật sâu và lắng nghe chính mình. 

Sự trị liệu và chữa lành là điều mà mỗi người trong chúng ta đều thể làm được với sự thực tập chánh niệm, với việc cảm nhận thật sâu sắc những gì đang xảy ra trong thân, tâm và chung quanh ta.

Kính mời quý vị thân hữu gần xa trở về tu viện Trúc Lâm – Tây Thiên, Canada để tham gia khoá tu “Trở về để trị liệu” do quý thầy và quý sư cô Làng Mai hướng dẫn từ ngày 01 đến 04 tháng 05 năm 2025.

Chúng ta sẽ cùng nhau : 
– Thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm để làm lắng dịu thân tâm, tiếp xúc sâu sắc với giây phút hiện tại, với những mầu nhiệm của sự sống trong ta và chung quanh ta.
– Nuôi dưỡng bình an, hạnh phúc, và tìm lại niềm vui trong đời sống hàng ngày với những điều giản dị nhất.
– Khám phá những giá trị đích thực của nội tâm, chữa lành những thương tích. 
– Kết nối yêu thương và lan tỏa năng lượng tích cực, cùng nhau nâng đỡ trên hành trình tỉnh thức.

Để đăng ký ghi danh, xin quý vị truy cập vào đường link:

Khoá tu “Trở về để trị liệu” chùa Trúc Lâm – Tây Thiên, Canada 2025

Mọi thắc mắc xin liên hệ về email:     Khoatutaythien@gmail.com

 

Khoá tu Việt Wake Up Tour Bắc Mỹ 2025

Kính thưa các bạn trẻ,

Chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn về chuyến đi Việt Wake Up của quý thầy và quý sư cô trẻ Làng Mai.  Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được diễn ra vào tháng 5, 2025 tại Bắc Mỹ và sẽ hướng tới người trẻ có gốc Việt Nam hay Á Châu từ 18 đến 38 tuổi.  Phong trào Wake Up do Sư Ông Làng Mai (Thiền Sư Thích Nhất Hạnh) thành lập vào năm 2008 và đã được quý thầy và quý cô Làng Mai hướng dẫn khắp nơi trên thế giới trong mười mấy năm qua.

Chuyến đi Việt Wake Up có mục đích :

  1. Giới thiệu cho các bạn trẻ Việt Nam đến với phong trào Wake Up nhằm tạo nên một xã hội hạnh phúc, lành mạnh và từ bi.
  2. Tạo cơ hội để các bạn trẻ học hỏi về các pháp môn tu học chánh niệm có công năng giúp các bạn trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong những năm trong đại học, sau đại học, trong việc lập nghiệp và tạo dựng gia đình.
  3. Chia sẻ với các bạn các pháp môn có công năng nuôi dưỡng hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, xử lý khó khăn, chuyển hóa khổ đau, và bắc nhịp cầu truyền thông giữa các thế hệ trong gia đình.
  4. Cung cấp cho các bạn một lăng kính mới để khám phá lại gia tài văn hóa và tâm linh của tổ tiên để lại.

Chủ đề của chuyến Việt Wake Up năm nay: Chánh Niệm Là Suối Nguồn Trị Liệu

Chánh niệm là năng lượng hùng mạnh để trị liệu, giúp chúng ta trở về với chính mình trong giây phút hiện tại, chữa lành những vết thương trong quá khứ và có xu hướng đưa ra những thử thách. Chánh niệm mời gọi chúng ta có mặt trọn vẹn trong hiện tại, chế tác ý thức mà không phán xét. Bằng cách an trú ngay bây giờ và ở đây, chánh niệm giúp chúng ta kết nối lại với bản chất đích thực của chính ta, vạch ra con đường trị liệu trong nội tâm và trong mối quan hệ với người khác.

Thông qua các phương pháp thực tập chánh nhiệm như thiền thở, thiền ngồi, thiền đi, thiền ăn, im lặng hùng tráng, ái ngữ và lắng nghe sâu, chúng ta có thể tạo ra không gian để lắng nghe chính ta. Quan sát những trải nghiệm trong quá khứ bằng năng lượng chánh niệm, chúng ta có thể xử lý suy nghĩ và cảm xúc của ta theo chiều hướng tích cực và lành mạnh hơn, ngăn ngừa những hành vi hiện tại bị điều khiển bởi thói quen (tập khí) tật xấu hàng ngày. Hành trình trở về với thế giới nội tâm an toàn này nuôi dưỡng cảm giác tự chủ, sự tự tin và khả năng làm chủ bản thân, giúp chúng ta lấy lại quyền kiểm soát và trị liệu sâu sắc.

Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được tổ chức tại các thành phố ở Bắc Mỹ như sau:

  1. Seattle, WA: May 8-11
  2. Bay Area, CA: May 16-17
  3. Dallas, TX: May 22-25
  4. Miami, FL: May 29-June 1

Tại mỗi địa điểm trên sẽ có một khóa tu (Wake Up Spring camp).

Tất cả các sinh hoạt sẽ được hướng dẫn bằng tiếng Anh.

Mọi chi tiết hoặc đăng ký ghi danh xin các bạn trẻ liên lạc qua email hoặc số điện thoại trên poster đính kèm.

Tết Làng – Tết Yêu Thương

    Trong không khí hân hoan cùng đất trời đón chào một mùa Xuân đang âm thầm chuyển sắc, dù xa quê hương Việt Nam nhưng dân Làng – những quý thầy, quý sư cô và các bạn thiền sinh người Việt cũng như Tây phương đang ở tại Làng Mai nước Pháp- vẫn háo hức chuẩn bị, đón chờ ngày Tết nguyên đán Ất Tỵ như muốn giữ gìn một nét đẹp văn hoá dân tộc ở xứ trời Tây.

Sự cố bất ngờ làm cháy ni xá Mây Tím của quý sư cô tại xóm Hạ vào một ngày gần cuối năm, có lẽ như một tiếng sét ngang trời làm lòng dân Làng dường như chững lại bởi sự mất đi một điều gì quý giá. Nhưng nhờ chư Bụt, chư Tổ, Thầy gia hộ, tất cả đều bình an và với cái thấy như Thầy đã từng dạy chúng con trong câu chuyện Tái Ông mất ngựa rằng: “Nếu nhìn cho kỹ trong những rủi ro thì mình cũng thấy được những yếu tố tích cực”. Chính nhờ sự cố bất như ý xảy đến với quý sư cô xóm Hạ mà sự có mặt và sẻ chia của quý sư cô xóm Mới, và quý thầy ở xóm Thượng, Sơn Hạ lại càng nhiều hơn. Nhớ đến Thầy, huynh đệ chúng con lại cảm thấy gần gũi nhau thêm rất nhiều, trân trọng nhau thêm và mạnh mẽ hơn rất nhiều. Đồng thời, chúng con cũng nhận được hàng ngàn tin nhắn của không chỉ đồng bào Việt Nam mà cả những người bạn thân hữu trên khắp thế giới, đã gửi đến với sự quan tâm, chia buồn và cả tấm lòng tương thân tương ái, góp phần tái xây dựng lại toà nhà Mây Tím, yểm trợ môi trường tu học ổn định cho quý sư cô. Đó thật là những món quà vô giá. Năng lượng thương yêu của tình huynh đệ, của tình người bảo bọc lấy chúng con không để một ngọn lửa nào có thể đốt cháy được. Từ đống tro tàn còn lại, chúng con như thấy một con phượng hoàng của niềm tin đang bay lên. Niềm tin vào sức mạnh của tình huynh đệ; niềm tin vào pháp môn thực tập; niềm tin vào Tăng thân, vào con đường mà chúng con đang cùng nhau bước tới – con đường của hiểu và thương.

 

 

     Những ngày qua hoà vào không khí đón Tết nguyên đán trên quê hương Việt Nam, ở nơi đây dân Làng cùng hân hoan tham dự những nghi thức truyền thống như gói bánh chưng, bánh tét để dâng cúng Bụt, cúng ông bà, tổ tiên; Lễ dựng cây nêu; Buổi sinh hoạt Bình thơ cuối năm; Lễ đón giao thừa; Lễ đón năm mới và tiếp sau đó là những ngày được đi thăm và chúc Tết tại tất cả các xóm của Làng như xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới và chùa Sơn Hạ nữa. Ở nơi nào, mọi người cũng được thưởng thức những điệu múa Lân vui nhộn, được nhảy sạp theo điệu nhạc, và không thể thiếu phong tục được nhận bao lì xì đỏ mừng tuổi từ quý thầy, quý sư cô lớn… làm ai ai cũng háo hức. Đón Tết ở Làng đơn giản, thân thương những hình ảnh quê xưa và nơi đâu cũng ngập tràn những nụ cười. Bên cạnh đó, năm nay, sinh hoạt Bói Kiều của cụ Nguyễn Du; hay của Victor Hugo dành cho người nói tiếng Pháp; và của Shakespeare dành cho người nói tiếng Anh gần như được diễn ra tại các xóm, và có cả gian hàng của ông Đồ bày giấy viết thư pháp để mọi người xin chữ đầu năm về thực tập đã mang lại một không khí văn hoá xưa: chơi chữ và đầy chất thơ.

     “Vẫn Xuân đoàn tụ – Vẫn còn bên nhau”

     Chúng con cùng nhau bước tới đón chào một năm mới Ất Tỵ 2025 với tràn đầy niềm vui trong tình huynh đệ!

    Kính mời đại chúng cùng ghé thăm Làng thưởng thức một chút không khí của những ngày Xuân thanh bình, ngập tràn thương yêu và cát tường!

 

 

 

 

Bếp lửa hồng đón năm mới

        

Kính thưa đại chúng,

Hôm nay là ngày 30 Tết, thời khắc cuối năm mang nhiều ý nghĩa linh thiêng. Trong năm, chúng ta thường bận rộn với công việc, học hành hay làm ăn, và có lẽ chưa có nhiều thời gian để nhìn lại chính mình, cũng như cách sống của mình. Giờ phút cuối năm là cơ hội để buông bỏ mọi lo toan, ngồi lại tĩnh lặng, chiêm nghiệm bản thân và chuẩn bị những điều tốt đẹp hơn cho năm mới.

Đề tài của buổi chia sẻ chiều nay là “Bếp lửa hồng”
Bếp lửa hồng là biểu tượng cho sự đoàn tụ, ấm áp, tình thương và hạnh phúc. Nhưng bếp lửa đó nằm ở đâu? Liệu nó có hiện hữu trong ngôi nhà của chúng ta, trong tâm hồn của chúng ta hay không? Có những người khi nghĩ về nhà lại không cảm thấy hạnh phúc, bởi họ chưa thực sự có một “bếp lửa hồng” – nơi chứa đựng tình yêu thương, sự kết nối và hạnh phúc thực sự. Dù gia đình có đông đủ cha mẹ, anh chị em, nhưng liệu mọi người có thể ngồi lại bên nhau, nhìn vào mắt nhau, trò chuyện với nhau trong yêu thương và sự thấu hiểu?

Hình ảnh bếp lửa là biểu tượng gần gũi, thể hiện mong ước của tất cả chúng ta về một tổ ấm chan hòa tình yêu thương. Người xuất gia cũng mong muốn có một không gian ấm áp, nơi tình huynh đệ được gìn giữ và vun đắp. Trong cuộc sống bộn bề và khổ đau, nhiều người khao khát một nơi để trở về, một nơi mang lại cảm giác bình an và hạnh phúc.

Chúng ta đều biết rằng, nếu không hiểu nhau, chúng ta không thể yêu thương và chấp nhận nhau. Trong đạo Bụt, Đức Thế Tôn đã dạy rất rõ rằng nếu chúng ta hiểu và thương chính bản thân mình, chúng ta mới có thể hiểu và thương người khác, dù đó là cha mẹ, anh chị em hay đồng bào của mình. Vì vậy, sự tự hiểu và tự thương là nền tảng vô cùng quan trọng.

Ngọn lửa tình yêu và hạnh phúc phải được khơi dậy từ chính trái tim chúng ta. Đạo Bụt dạy cách “làm ra lửa” – lửa của tình thương, của sự thấu hiểu. Khi học giáo lý, chúng ta học cách chế tác ngọn lửa đó trong tâm mình, để rồi lan tỏa ánh sáng và hơi ấm ấy đến trái tim của người khác.

Gánh nước đêm 30 – một nghi lễ đẹp của người Việt
Ở Việt Nam, hình ảnh bếp lửa hồng thường đi đôi với hình ảnh gánh nước trong đêm 30 Tết. Ở nhiều địa phương, gánh nước đêm 30 là một nghi lễ truyền thống. Dù các chum, lu nước trong nhà đã đầy, người ta vẫn gánh thêm một gánh nước từ giếng làng. Đêm 30, người dân tụ họp bên giếng nước, chia sẻ câu chuyện và gửi gắm hy vọng về năm mới.

Hình ảnh người mẹ, người chị hay cô em gái gánh nước đêm 30 là một nét đẹp trong văn hóa Việt. Những chum nước đầy không chỉ tượng trưng cho sự sung túc về vật chất mà còn thể hiện sự bình đẳng trong cộng đồng – nước từ giếng làng là nguồn sống, là món quà vô điều kiện dành cho tất cả, không phân biệt giàu nghèo hay địa vị.

Ngọn lửa trong tim – ngọn lửa của sự hiểu và thương
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ từng dùng hình ảnh “thắp tim lên” để nói về cách lan tỏa tình yêu thương. Ai là người giúp ta thắp sáng trái tim mình? Đó có thể là những nơi tu tập, như ngôi chùa trong làng – nơi thực hành và tinh luyện sự hiểu và thương. Những khóa tu không chỉ giúp người tham gia vượt qua khổ đau, mà còn thắp lên ngọn lửa hy vọng, niềm tin và tình yêu thương trong họ.

Chúng ta, những người tổ chức và hướng dẫn tu học, chính là người giữ gìn bếp lửa hồng ấy – không chỉ cho bản thân mà còn cho cộng đồng, cho xã hội. Có cơ hội cùng nhau thắp lửa, chia sẻ hơi ấm là niềm hạnh phúc lớn lao.

Kết thúc bằng niềm vui bên bếp lửa hồng
Buổi sinh hoạt hôm nay mang chủ đề “Vui bếp lửa hồng”. Hãy cùng nhau giữ cho bếp lửa ấy mãi ấm, để chúng ta không chỉ làm đầy trái tim mình mà còn lan tỏa hơi ấm đến mọi người xung quanh.