Sơn Hạ hữu tuyền

 

(Thầy Chân Trời Đạo Bi là người Indonesia, thọ giới lớn với Sư Ông Làng Mai trong Đại giới đàn “Bây giờ – Ở đây” tháng 2 năm 2019 và hiện đang tu tập tại Sơn Hạ, Làng Mai. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

 

Sơn hạ hữu tuyền

Trạc chi tắc dũ

Có nghĩa là:

Dưới chân núi có dòng suối
Lấy nước suối ấy rửa
Mọi thương tích sẽ được chữa lành.

Nơi con sống nằm ở chân núi. Nơi ấy là Sơn Hạ, một trong hai tăng xá của xóm Thượng. Từ tăng xá kia, theo con dốc đi xuống là tới Sơn Hạ. Gần tăng xá Sơn Hạ có một con suối đổ vào một cái hồ nhỏ. Quý thầy có thể ngồi uống trà và thưởng thức vẻ đẹp của hồ nước trên một cái sàn gỗ nằm không xa con suối. Quanh đó cũng có nhiều cây cho bóng mát, nơi ta có thể đến nghỉ để tránh cái oi nồng của mùa hè và hít thở không khí trong lành. Vài chiếc võng được giăng rải rác cho những ai muốn thưởng thức “thiền nằm võng”. Trên con đường dốc ngược lên xóm Thượng, ta sẽ thấy một trụ đá với dòng thư pháp Đất Bụt Phương Nam (Nam Phương Phật Độ) bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hán. Con nghĩ Thầy muốn nhắc nhở chúng ta là Tịnh độ không những chỉ có ở phương Tây mà Tịnh độ cũng có thể được tìm thấy ở phương Nam nữa.

 

 

Vào đầu mùa an cư năm 2018, con cùng với một số quý thầy ở Sơn Hạ đã thực tập súc ruột. Con thấy thực tập này là một hình thức làm mới lại chính mình, cụ thể là làm mới lại thân. Con đã giải phóng được rất nhiều độc tố và sự căng thẳng trong thân. Vào ngày cuối cùng của đợt thanh lọc cơ thể, con cùng với một thầy nữa thực tập sám hối. Con rất muốn làm lễ Sám hối vì được gây cảm hứng khi đọc truyện “Tùng” của Thầy. Đây là câu chuyện Thầy kể lại khởi nguyên của pháp môn Sám hối mà sau đó đã trở thành nghi lễ Sám hối truyền thống được sử dụng trong các chùa ở Việt Nam. Mấy câu kệ ở đầu bài viết này được lấy ý từ nghi thức Sám hối ấy.

Con đã thực tập súc ruột bằng nước và con thấy nước đã giúp trị liệu cho thân con. Cứ mỗi khi thấy không khỏe, con đi uống thật nhiều nước, và con thấy khỏe lại ngay. Thầy đã giải thích về thực tập Sám hối (hay còn gọi là Làm mới) và mấy câu nói về Sơn hạ hữu tuyền trong quyển Sám pháp địa xúc. Thầy nói rằng sám hối có nghĩa là bày tỏ sự ăn năn của mình về những lỗi lầm mà mình đã phạm trong quá khứ, đồng thời thể hiện quyết tâm sâu sắc là mình sẽ chuyển hóa, là từ nay mình sẽ hành xử khác hơn. Cũng vì biết mình có thể hành xử khác hơn, mình không cần phải cảm thấy tội lỗi. Trước đây con đã từng đưa rất nhiều độc tố vào thân và tâm qua sự tiêu thụ. Chính điều đó đã làm con bệnh. Khi con nhận Năm giới từ Thầy vào năm 2010, con đã nguyện trở thành một người ăn chay trường. Con không còn chơi các trò chơi điện tử không lành mạnh, không xem các phim ảnh không lành mạnh, và không nghe các bài hát không lành mạnh nữa. Tăng thân Wake Up ở Indonesia đã yểm trợ con trong sự thực tập ấy. Chúng con đã cẩn thận chọn các loại phim ảnh, âm nhạc và thức ăn lành mạnh để cùng nhau thưởng thức. Đây là sự quyết tâm chuyển hóa sâu sắc của con trong việc thay đổi tập khí không dễ thương và hành xử khác hơn so với quá khứ.

Ở Sơn Hạ, trước khi dẫn đại chúng đi thiền, lần nào con cũng đều mời đại chúng hát bài “Sơn Hạ hữu tuyền” (“At the foot of the mountain”) bằng tiếng Anh. Đây chính là “xóm ca” của Sơn Hạ. Có lần, trước buổi thiền hành, con mời mọi người lấy nước từ suối lên để rửa. Đại chúng đi dọc theo bờ suối thưởng thức vẻ đẹp của cảnh quan quanh chân núi. Thiền hành xong, một thầy đến bên con nói: “Ồ, lúc nãy đại chúng không có vốc nước suối để rửa. Vì vậy nên không ai được chữa lành”. Con chỉ mỉm cười với thầy mà không nói năng gì. Chúng con không thật sự vốc nước để rửa nhưng con biết thiền hành đã giúp con chữa lành cho chính mình.

Dưới bàn chân bạn
Là đất Mẹ
Bước một bước, tiếp xúc với đất, bạn có cảm được dòng suối không?
Rồi bạn sẽ thảnh thơi,
Bạn là thảnh thơi.

(Lời bài hát “At the foot of the mountain” – Sư cô Trung Nghiêm)

Câu hát giúp con thấy được rằng dòng suối không chỉ nằm cạnh bên hồ mà còn nằm ngay dưới bàn chân con. Bất cứ khi nào con có khả năng tiếp xúc được với dòng suối, con đều cảm thấy được trị liệu, được chữa lành. Con thích nhất là đi bộ quanh hồ và quanh cái ao nhỏ kề bên. Khi trời không quá lạnh, con cũng rất thích được ăn picnic ngoài trời và thưởng thức cảnh đẹp của Sơn Hạ.

 

 

Quý thầy, quý sư cô cùng các bạn thiền sinh đều cảm được sự ấm cúng và vui tươi nơi đây. Ai cũng thích vẻ đẹp của Sơn Hạ. Đến đây, mọi người cảm thấy thoải mái như ở nhà mình. Con rất thích từ “gezellig” trong tiếng Hà Lan và từ “hygge” trong tiếng Đan Mạch mà một vài bạn nói tiếng Anh cũng sử dụng. Những từ này có thể diễn tả được sự dễ chịu và ấm cúng của một ngôi nhà đích thực. Sơn Hạ quả thật là một ngôi nhà đích thực của con, và của rất nhiều người khác.

Con nhớ có lần sư cô Chân Không chia sẻ rằng khi Thầy đến đại học Princeton ở Mỹ lần đầu tiên, Thầy đã được trị liệu rất nhiều nhờ sự yên tĩnh và vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đó. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã gây ra cho Thầy nhiều thương tích trong lòng. Thầy đã được trải nghiệm lần đầu tiên vẻ đẹp của bốn mùa trong thời gian ở đại học Princeton. Sư cô Chân Không nói đó là lý do tại sao Thầy luôn luôn dạy rằng thiên nhiên có khả năng trị liệu cho chúng ta. Con cũng được trải nghiệm lần đầu tiên vẻ đẹp của bốn mùa chính ở tại Làng Mai. Sự ấm áp và có mặt hết lòng cho nhau của huynh đệ ở Sơn Hạ có công năng trị liệu rất lớn. Con cũng có rất nhiều vết thương trong tâm cần được chữa lành. Trong khi chia sẻ với nhau sự thực tập dưới nhiều hình thức, chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau cách chuyển hóa và chữa lành thương tích trong lòng.

Có lần Thầy chia sẻ rằng những vết thương từ thời chiến tranh của Thầy vẫn chưa lành. Nhiều đêm nằm thao thức, Thầy đã thực tập ôm ấp niềm đau của đồng bào, của đất nước và cả hành tinh này bằng hơi thở chánh niệm. Con đã rất xúc động khi nghe Thầy nói như vậy, bởi vì con cứ nghĩ rằng là một thiền sư, Thầy đã chữa lành tất cả các vết thương rồi. Nhưng con rất kính phục sự khiêm cung và cởi mở của Thầy khi Thầy để cho mọi người biết là mình vẫn chưa chữa trị được hoàn toàn các vết thương trong lòng. Thầy cũng là một con người. Chúng ta có thể học được rất nhiều từ Thầy cách chữa trị những tổn thương nội tâm. Thầy đã đưa đường dẫn lối cho chúng ta trong cuộc đời này, chỉ cách cho chúng ta có thể hiểu được những thương tích và khổ đau của mình, để từ đó ta biết chế tác tình thương và lòng từ bi. Nghi thức Làm mới được dựa trên văn bản nghi thức Sám hối. “Nước từ bi có thể rửa sạch tất cả các lỗi lầm.” Khi ta có khả năng khiến dòng suối mát nơi trái tim ta ứa ra giọt từ bi, sự trị liệu sẽ xảy ra.

Trong trái tim của các bậc đại nhân
Có một dòng suối
Hãy để cho dòng suối ấy tuôn trào
Hãy để cho nó trở thành nền tảng làm nên con người của bạn.

Và bạn sẽ được thương yêu,
Bạn chính là tình thương.
(Lời bài hát “At the foot of the mountain” – Sư cô Trung Nghiêm)

 

 

 

 

 

Con đường của tôi

Chân Trăng Hồ Sen

 

 

Khi còn nhỏ tôi hay giật mình tỉnh dậy sau giấc ngủ, đầu căng lên và tim đập mạnh. Mấy giờ rồi? A, sắp trễ xe buýt rồi… Tôi gọi: “Mẹ ơi, mẹ!” và sau đó hoàn thành thật nhanh tất cả mọi thủ tục vệ sinh buổi sáng. Mẹ hoặc ba sẽ chở tôi đến trạm xe buýt, trên con đường tuổi thơ tôi.

Suốt những năm tháng là học sinh cấp một, cấp hai và cấp ba, con đường đất đỏ từ nhà đến trạm xe buýt và từ trạm xe buýt về nhà đã trở nên quá quen thuộc với tôi. Sáng thức dậy thật sớm, tôi đi bộ ra điểm dừng xe buýt. Mười hai giờ trưa, nắng và nóng, đói và khát, tôi xuống xe buýt và đi bộ về nhà. Con đường như dài vô tận trong cái nắng chói chang mệt mỏi đó. Có những buổi chiều đi học về, nhất là mùa đông, trời sập tối thật nhanh, đi trên con đường ấy thật là khủng khiếp, vừa sợ ma, vừa đói bụng… Tôi đã thuộc làu chỗ nào có ổ gà, chỗ nào có một cục đá, chỗ nào là một bụi cỏ, chỗ nào có vũng nước đọng lại trong mưa… Những hôm trời mưa lớn thì ôi, sình lầy, cỏ ướt, dễ trơn trượt, bùn đỏ bám đầy giày. Tôi phải đi cẩn thận lắm mới được.

Trên con đường ấy, mỗi khi trễ giờ, ba hay mẹ tôi sẽ chở tôi bằng xe máy cho kịp chuyến xe buýt đến trường. Ngồi sau xe mẹ thì sốt ruột lắm. Mẹ chạy thật cẩn thận. Mẹ lái xe chầm chậm, chầm chậm. Đến ngã tư thì mẹ còn chạy chậm hơn nữa, bíp còi, giảm thêm tốc độ, rồi chạy tiếp. Tôi ngồi sau lưng cứ nơm nớp sợ trễ giờ. Ngồi sau lưng ba thì sướng hơn. Ba chỉ phóng xe vèo cái là ra đến nơi. Hôm nào xe buýt qua trạm rồi thì ba chở tôi rượt theo để có thể bắt kịp ở trạm kế tiếp. Trên xe ba chở, lúc nào tôi cũng cảm thấy thật an toàn. Ba đúng là người hùng đặc biệt của tôi trong những lần như thế.

Sau này, trở thành sư cô, khi đã biết thực tập thiền hành rồi, tôi nghĩ, ước gì những năm xưa ấy mình cũng đã biết đi những bước thiền hành. Có một em nhỏ đến Diệu Trạm thực tập trong mùa hè, đã kể cho tôi nghe rằng em phải đi bộ mỗi ngày đến trường, con đường thật dài và thật chán. Tôi nghe và hiểu liền cảm giác đó của em. Tôi mỉm cười, chia sẻ cho em cách đi thiền hành và dặn em hãy biến con đường đến trường của em thành con đường thiền hành. Tôi đã kể cho em nghe con đường quen thuộc của tôi ngày xưa. Tôi cũng nói với em rằng em đã may mắn hơn tôi vì hồi đó chẳng ai bày cho tôi đi thiền hành cả, rằng tôi đã chán thế nào khi mỗi ngày ít nhất phải đi lại hai lần trên con đường đó, chưa kể những ngày tôi đi lại đến bốn hay sáu lần. Tôi hy vọng em có thể thực tập bước những bước chân vững chãi và thảnh thơi trên con đường đến trường của em sau một thời gian thực tập tại Diệu Trạm.

Vậy mà rồi tôi cũng có dịp được đặt những bước chân thiền hành trên con đường quen thuộc ngày nào của tôi. Đó là lần tôi được về thăm nhà sau bốn năm ở chùa, vào một buổi chiều mưa. Hôm đó ba mẹ và em tôi đều không có ở nhà. Tôi ở nhà một mình và muốn đến thăm bà ngoại. Một ý tưởng nảy ra trong đầu tôi: sao lại không đi bộ nhỉ? Con đường quen thuộc ấy cũng là con đường đi đến nhà ngoại. Sau bốn năm, nó vẫn còn là một con đường đất đỏ. Trời mưa, đất ướt, và sẽ có một vài vũng nước nho nhỏ. Nhưng có hề chi. Tôi thật háo hức với ý tưởng của mình. Mang áo nhật bình, áo khoác, choàng khăn, mang giày, với cây dù trên tay, tôi đi.

Trên con đường quen thuộc ấy bỗng nhiên xuất hiện bóng dáng một sư cô với một bộ trang phục màu nâu, đang đi những bước chân thật thích thú và cẩn trọng. Từng bước chân, từng hơi thở có mặt với từng vũng nước, từng viên sỏi, từng bụi cỏ thân thương. Mỗi bước chân đều mang tôi đến với con đường của tôi, mang tôi về tiếp xúc lại với đứa bé ngày xưa bao lần bước đi trên con đường này, đưa tôi về với một cuộc hẹn hò thú vị và ngẫu nhiên mà trong tiềm thức, tôi đã chờ đợi suốt những năm qua.

Tôi cảm nhận từng giọt mưa rơi trên chiếc dù, những giọt mưa mà ngày xưa tôi đã từng rất ngán ngẩm khi nghĩ đến cảnh tôi sẽ ngồi trong lớp học với đôi giày ướt ướt và ống quần ẩm ẩm. Tôi cảm nhận từng ngọn gió thổi ngang qua mắt, qua da mặt tôi, như chào đón người bạn năm xưa trở về. Con đường vẫn còn đó chào đón tôi, thủy chung, nguyên vẹn. Mặc cho những ngôi nhà hai bên đường có hơi khác, những dãy hàng rào mới, những cổng nhà mới, con đường vẫn chào đón từng bước chân tôi như từ muôn thuở. Một vài em nhỏ đi qua, nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên trong bóng dáng một sư cô. Có một em chắp tay: “Con chào cô”. Tôi chắp tay, mỉm cười: “Chào em”. Quần xanh áo trắng ngày xưa nay đã trở thành màu nhật bình nâu và những câu chào hỏi “Bé đi học về trễ rứa à” cũng đã thay đổi. Tôi cảm nhận được từng thay đổi nơi mỗi bước chân đi.

Tôi đến nhà ngoại chỉ sau mười lăm phút đi bộ. Chỉ mười lăm phút thôi sao? Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhận ra điều đó. Trong ký ức tôi, con đường thật dài, và càng dài như vô tận trong những buổi trưa nắng nóng, trong những buổi chiều lầy lội hay trong những buổi tối đen kịt. Bây giờ con đường bỗng nhiên ngắn lại, hay do chân tôi dài ra? Hay tại ở chùa, mỗi ngày có nhiều thời gian để thực tập thiền hành, bây giờ chỉ đi mất mười lăm phút, nhằm nhò gì! Tôi thật thích thú với những phát hiện mới của mình. Có lẽ bây giờ tôi đã thương con đường, hiểu hơn về con đường và về những bước chân thiền hành của tôi. Trong mọi cuộc hẹn hò, thời gian thường trôi nhanh lắm. Có trân quý bao nhiêu thì thời gian cũng trôi thật nhanh…

Mỉm cười chào mọi thứ, tôi sắp đi đến một nơi thật xa, hẳn sẽ lâu lắm mới gặp lại. Tôi sẽ bước đi trên những con đường mới, những con đường có thể dài và rộng hơn, đưa tôi đi xa hơn nữa với những bước thiền hành. Tôi yêu con đường của tôi…

 

Hương Mộc

 Bầu trời sáng nay thật yên bình. Trên cao, ông trăng vẫn còn treo lơ lửng bên những vì sao. An nhiên với bước chân thiền hành từ tăng xá xóm Trúc đến thiền đường Hải Triều Lên, tôi cảm nhận được một mùi hương thoáng dịu, phảng phất gần xa theo làn gió. Tôi nhận ngay ra đó là mùi hương của hoa mộc. Trong không khí tĩnh mịch của buổi sáng tinh khôi hòa lẫn với ánh đèn lờ mờ bên góc thiền đường, tôi chợt thấy các chùm hoa mộc đang mỉm cười khoe hương sắc. Lúc đó, trong tôi đi lên bài thơ Hoa thược dược của Quách Thoại:

Đứng im ngoài hàng dậu

Em mỉm nụ nhiệm mầu

Lặng nhìn em kinh ngạc

Vừa thoáng nghe em hát

Lời ca em thiên thâu

Ta sụp lạy cúi đầu.

Tôi nán lại vài phút ngoài thiền đường để lặng nhìn và thưởng thức sứ giả sắc hương của đất Mẹ trước khi bước vào thiền đường tham dự buổi công phu sáng. Tiếng hô canh của thầy Trời Đạo Hành sáng nay vừa trong lại vừa hùng. Tôi tĩnh tọa, mỉm cười trong tâm trạng hân hoan, thư thái và nhẹ nhàng. Hình như hương hoa vẫn còn đọng lại đâu đó trong lòng tôi. Vì lẽ đó, hoa mộc đã trở thành đề tài thiền quán của tôi sáng nay và những ngày kế tiếp.

Hương Hoa

Tu viện Mộc Lan có rất nhiều cây hoa mộc được quý thầy, quý sư cô trồng xung quanh thiền đường Hải Triều Lên. Hoa mộc nở rải rác quanh năm, nhưng thường nở rộ vào mùa thu. Ngoài hương sắc của hoa, điều làm tôi trân quý và biết ơn là dù thu sang hay đông tàn, loài hoa này vẫn luôn xanh tươi. Trong khi đó, ở vùng miền Nam nước Mỹ này, đa phần các loài cây khác đều trụi lá vào cuối thu. Sự xanh tươi và hương sắc của cây hoa mộc đã làm tăng thêm vẻ đẹp và sự cân bằng của thiên nhiên trong mùa thu đông ở tu viện Mộc Lan. Đây là lần đầu tiên tôi thấy hoa mộc nở rộ đến thế. Tất cả các cây hoa mộc xung quanh thiền đường đều nở cùng một lúc.

 

 

Mỗi lần tiếp xúc với hoa mộc, trong tôi đều đi lên một khoảnh khắc hoài niệm về tình thầy trò. Tôi nhớ ngày xưa trong thời gian làm thị giả cho Thầy. Mỗi lần đi đâu thấy có hoa mộc tươi tôi đều xin một nhúm để đem về cúng dường cho Thầy. Tôi thường đặt nhúm hoa mộc vào một cái tách nhỏ, nhưng cũng có lúc tôi chỉ đặt chúng trên một chiếc lá đơn sơ rồi để lên bàn làm việc của Thầy. Như thế, Thầy có thể thưởng thức hoa một cách trọn vẹn. Mỗi lần tiếp xúc với hoa mộc là mỗi lần trong tôi dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc với Thầy, và hơn hết là với đời tu của mình.

Lần này, trở về Mộc Lan tôi đã học được nhiều điều rất quý báu từ cây hoa mộc. Trước tiên là cách nhận thức của chính tôi. Trong khu vườn vào cuối thu không phải cây nào cũng trụi lá. Nếu nhìn cho kỹ thì sẽ thấy vẫn còn một vài cây khác xanh tươi. Điều này đã cho tôi cái nhìn sâu sắc về cuộc đời, làm thế nào để cuộc đời mình cũng luôn xanh tươi như cây hoa mộc. Tôi thấy những cây hoa mộc đâu cần phải làm gì nhiều, chúng chỉ cần duy trì được sự xanh tươi và dâng cho đời hương hoa. Bấy nhiêu đó là đủ rồi!

Hương Hạnh

Kỳ này hoa mộc chỉ nở được ba ngày. Tôi nhớ đến đêm thứ ba thì trời đổ mưa to. Bên khung cửa sổ trong căn phòng vắng với tách trà nóng, tôi tác ý đến số phận của hoa mộc. Tôi nghĩ: “Mưa kiểu này chắc hoa mộc tiêu hết”. Đúng thế! Sáng hôm sau, khi ra lại thiền đường, tôi thấy đa số đều bị trận mưa giông trút sạch. Cuộc đời vô thường, cái gì càng đẹp, càng quý thì lại càng mong manh. Tôi nhìn những cánh hoa rơi rụng trên mặt đất mà lòng biết ơn tràn đầy. Cảm ơn em đã biểu hiện một cách nhiệm mầu để dâng đời hương sắc! Tôi tự hỏi: “Nếu những cây hoa mộc có thể dâng hiến cho đời hương sắc thì làm con người chúng ta có thể cống hiến được gì hữu ích cho đời?”.

Có lần tôi về thăm một vùng quê ở Quảng Trị với một nhóm từ thiện của chương trình Hiểu và Thương. Trưa hôm ấy, tôi đi tản bộ trong làng. Tôi thấy một nhóm trẻ nhỏ đang ngồi câu cá và nói chuyện vui đùa bên cây cầu làng. Tôi đến ngồi chơi với các em và nhìn vào cái thùng nhỏ đựng cá của các em. Trong đó có vài con cá rô đồng, có lẽ các em mới câu được. Sau khi trò chuyện chơi với các em một hồi, tôi chỉ vào cái thùng cá và hỏi: “Các em nghĩ mấy con cá này có cha mẹ không?”. Các em lí nhí trả lời: “Dạ thưa có!”. Tôi nói: “Các em nghĩ chúng có anh chị em không?”. Các em ùa cười và đồng trả lời: “Chắc có!”. Tôi tiếp tục hỏi: “Các em nghĩ sao, nếu cha mẹ và các anh chị em của mấy con cá này chút nữa không tìm thấy chúng thì họ có buồn không?”. Các em nhìn tôi một cách sững sờ, nhưng không có đứa nào trả lời. Tôi nhìn các em rồi nói: “Nếu ví dụ chiều nay vì một lý do nào đó mà các em không trở về nhà được thì chắc cha mẹ và các anh chị em của các em ở nhà sẽ trông đợi, buồn khổ và nhớ các em lắm”. Đám trẻ nghe tôi nói như thế im lặng như tờ, không đứa nào nói một lời. Một lát sau, chúng tự động đứng dậy, vác cần câu và rủ nhau đi về.

Một lần khác, trong một khóa tu cho người trẻ, có một chị trung niên dẫn một đứa con trai khoảng tám tuổi đến tham dự khóa tu. Hôm ấy, chị dẫn cháu đến chơi với tôi và hỏi rằng: “Bạch thầy, con trai của con nó dễ nóng giận và hay thường la hét. Thầy có cách nào xin thầy dạy cho cháu dùm con”. Tôi thấy cậu bé tròn vo, mặt mày trông rất sáng sủa. Tôi vò đầu cháu và nói với cháu rằng: “Con có thấy cây tùng xanh ở ngoài kia không?”. Cháu gật đầu. Tôi hỏi: “Con có biết vì sao cây tùng đó được xanh tươi không?”. Cháu lắc đầu. Tôi dạy cháu: “Cây tùng được xanh tươi là bởi vì cây tùng biết bám rễ sâu vào lòng đất để khi cơn bão đến thì cây tùng không bị thổi đi. Cũng như thế, khi nào có ai làm cho con giận thì con nhớ đừng hét hay nói gì. Con chỉ cần nhắm mắt lại và thở vào, thở ra vài phút thì một hồi sau con sẽ cảm thấy êm dịu và dễ chịu hơn”. Kết quả vài ngày sau khóa tu, tôi được mẹ của cháu báo cáo cho biết rằng: “Thầy ơi, sau khi đi khóa tu về, con không ngờ cháu lại nhớ lời thầy dạy. Có một hôm cháu giận em của cháu quá, thông thường thì cháu hét lên hay tát em, nhưng hôm ấy cháu nhắm mắt lại rồi tập thở vào, thở ra. Thầy có biết không? Chỉ sau hai ba hơi thở hít hà, cháu mở mắt ra và nói: ‘Mommy, it doesn’t work’. (Mẹ ơi, không có hiệu nghiệm). Con bảo cháu: ‘Keep breathing for a few more minutes and it will work’ (Con cứ tiếp tục thở thêm vài phút nữa đi thì sẽ có hiệu nghiệm). Nhìn khuôn mặt cháu thở vào, thở ra rất nghiêm trang con xúc động lắm”.

Sau trận mưa giông, tôi thấy tuy hình sắc của hoa mộc không còn nữa, nhưng hương thơm của chúng vẫn còn đó, đặc biệt là vẫn còn đọng lại trong lòng tôi. Cũng vậy, những hành động của ta làm hàng ngày sẽ không bao giờ mất đi. Chúng sẽ lên đường tiếp nối ta bằng cách này hay cách khác. Tôi biết những gì tôi chia sẻ với các em nhỏ đã được gieo vào tâm thức của các em, như hạt lúa đã được rải xuống ruộng đồng phì nhiêu. Khi nào đủ duyên thì hạt lúa sẽ đâm chồi nảy nở.

Qua những kinh nghiệm trên, tôi thấy rằng những việc làm hữu ích cho mình và cho đời không cần thiết phải to tát lắm đâu. Có những điều rất nhỏ và đơn giản mà ta làm có thể đem đến rất nhiều lợi lạc cho ta và cho người khác.

 

 

Hương Đức

Mấy hôm trước, quý thầy, quý sư cô mới dọn rừng xong và đem đống cây khô ra ngoài bãi đất trống để đốt. Trong khi lửa bốc cháy, tôi đứng bên mé rừng và tập quán tưởng rằng thân thể tôi đang được thiêu đốt trong đống lửa. Lửa cháy càng lúc càng to, càng mạnh và càng cao. Những làn khói và hơi nóng bốc lên từ đống lửa rồi dần dần hòa vào hư không. Trong khi đó thì tro bụi từ từ rơi rụng trở về với đất Mẹ. Tôi quán sát rất kỹ. Tôi thấy những cành cây, những làn khói, những hơi nóng và những mảnh tro bụi kia cũng là tôi. Hơn thế nữa, tôi thấy cả một kiếp người, bôn ba cho lắm rồi cuối cùng cũng thế thôi, cũng trở về với cát bụi. Bỗng nhiên tôi thấy mình không là gì cả – một cái vỏ trống không. Nước mắt tôi tuôn chảy. Bạn ơi! Đây không phải là những giọt nước mắt của nuối tiếc hay buồn tủi tiếc thương cho thân phận của một kiếp người mà là những giọt nước mắt của sự tỉnh thức và hạnh phúc.

Trong bài hát “Cát bụi cuộc đời” của nhạc sĩ Hà Sơn, có câu “Người ơi! Hãy nhớ, ta là cát bụi sẽ về cát bụi thì xin đừng toan tính thiệt hơn”. Tôi nghĩ bài hát này có thể chúng ta đã được nghe nhiều lần, nhưng ít ai trong chúng ta có thể duy trì được ý thức ta là cát bụi. Chúng ta sống và hành động như chúng ta còn sống hoài và trẻ mãi. Chúng ta tính toán, lo toan đủ điều. Chúng ta sống thiếu chánh niệm, sống cẩu thả, rồi chúng ta để cho những lo lắng, bất an, giận hờn, căng thẳng tàn phá thân tâm của chúng ta.

Tôi nhớ cách đây không lâu, có một anh chàng trẻ, đẹp trai, nổi tiếng, con nhà giàu qua Làng tu tập một thời gian để trị liệu. Anh bị bệnh trầm cảm. Sự cạnh tranh trong nghề nghiệp với bạn bè cùng lứa đã tạo cho anh rất nhiều bất an và căng thẳng. Anh luôn so sánh anh với những người nổi tiếng, trẻ đẹp khác. Anh không bằng lòng với sự thành công của anh và những gì mà anh đang có. Trong khi đó thì có biết bao nhiêu người đang hâm mộ anh. Có lần mẹ của anh chia sẻ là bà đã cho anh tất cả những gì tốt nhất mà bà có thể làm được, từ nhỏ cho đến lớn, để anh được hạnh phúc. Khi còn nhỏ, bà thương yêu và cho anh mọi thứ vật chất anh muốn. Khi lớn lên, bà đã gửi anh đi du học ở nước ngoài. Tất cả những tình thương của một người mẹ bà dành trọn cho anh, nhưng bà thật sự không ngờ là con trai của bà lại không có hạnh phúc, đặc biệt là bị rơi vào tình trạng trầm cảm như thế này. Điều này đã giúp bà nhìn lại lề lối tư duy và cách sống của bà. Và bà đã nhận ra được một điều: “Tôi đã nghĩ rằng thương con thì phải cố gắng tạo dựng sự nghiệp để cho con có được đời sống vật chất thoải mái và hạnh phúc, nhưng cái tôi không nghĩ tới là làm thế nào để cho con có được cuộc sống bình an”. Khi nghe câu chia sẻ này, tôi ấn tượng lắm. Bởi vì, đó là một tiếng chuông chánh niệm, một điều giác ngộ. Biết được như thế nghĩa là biết dừng.

Đây là một câu chuyện rất thực tế, đang xảy ra với rất nhiều người trong xã hội của chúng ta ngày nay. Xã hội càng tân tiến, kinh tế càng đi lên thì sự căng thẳng và bất an của chúng ta theo đó cũng gia tăng. Thương yêu và nâng đỡ một người đòi hỏi sự có mặt đích thực của ta. Ta có thể cho người thương của ta cả thế giới vật chất, nhưng nếu ta bận rộn quá và không có mặt cho người ta thương thì cái thế giới ấy chẳng có nghĩa lý gì. Sư Ông Làng Mai dạy rằng: “Hạnh phúc của cha mẹ là gia tài quý giá nhất để lại cho các con”. Chính cách sống hạnh phúc, cách sống bình an và cách sống đức hạnh của ta mới là gia tài vô giá mà ta có thể hiến tặng cho người thương của ta. Ta không thể nào có hạnh phúc thật sự nếu ta không có bình an và ta không thể nào hiến tặng sự bình an nếu chính ta không có bình an. Bình an là nền tảng của hạnh phúc. Bình an là cách sống, là sự thực tập cần phải được chế tác trong cuộc sống hàng ngày.

Chia sẻ đến đây, tôi nhớ trong bài hát “Để gió cuốn đi” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có câu: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…”. Theo tôi hiểu thì “tấm lòng” ở đây nghĩa là cái hương hạnh, hương đức của chúng ta. Nếu những cây hoa mộc có thể cống hiến cho đời bằng hương sắc của chúng thì làm con người chúng ta cũng có thể cống hiến bằng hương hạnh, hương đức của chúng ta. Tại sao có một tấm lòng mà phải để gió cuốn đi? Như chúng ta đã biết, nhờ có gió mà mùi hương của hoa mộc được cuốn đi và lan tỏa rất xa để nhiều người được thừa hưởng. Một hành động, một lời nói hay một tâm niệm phát xuất từ tấm lòng thương yêu và vị tha sẽ là nguồn cảm hứng, nuôi dưỡng và trị liệu cho rất nhiều người. Và nó sẽ là sự tiếp nối đẹp đẽ của ta.

Chân Pháp Nguyện

 

Hoa Mộc Lan

(Chân Hỷ Nghiêm)

Mừng tu viện Mộc Lan tròn 10 tuổi

Các bạn thân mến
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. Khi nhận được sự chỉ dạy của Thầy, trong tôi có một sự phản ứng. Biết bao câu hỏi và lo lắng đi lên. Trên tôi còn có nhiều sư anh, sư chị lớn nữa, tại sao Thầy dạy tôi về Mộc Lan? Một nơi mới, còn hoang sơ như thế này, làm sao tôi đủ sức? Tất cả đều “Vạn sự khởi đầu nan”. Cùng tứ chúng xây dựng cơ sở vật chất để tạm đủ tiện nghi cho chúng xuất sĩ tu học đã là khó nhiều rồi, mà cùng lúc xây dựng nền tảng tu học cho tứ chúng lại càng khó hơn. Ôi! Bao nhiêu câu hỏi lo sợ trong đầu cứ tuôn ra, làm cho tôi càng lo lắng và muốn tránh né sự chỉ dạy này của Thầy.

 

 

Nhưng may thay, tôi đã kịp dừng lại, lắng lòng và thì thầm với chính mình: “Chư Bụt ơi! Chư Tổ ơi! Xin hãy soi sáng và chỉ dạy cho con, con phải làm gì bây giờ? Con không muốn phản bội lại chí nguyện năm xưa của con. Con không muốn con là người đệ tử không vâng theo tuệ giác và chỉ dạy của Thầy”. Tôi nhớ lại rất rõ từng cử chỉ, lời nói của Thầy trước đó vài tuần, khi tôi về nội viện Phương Khê xin phép và chào Thầy để về Mỹ thăm gia đình. Chào Thầy xong, Thầy bảo tôi và một sư chị cùng ngồi uống trà. Trong lúc Thầy pha trà, Thầy nói: “Này con, Mộc Lan chưa có quý thầy, quý sư cô”. Nghe Thầy nói tôi giật bắn cả người và cảm rằng Thầy đang nói với tôi. Như một phản xạ tự nhiên, tôi thưa vội: “Bạch Thầy, sau biến cố Bát Nhã, con chỉ muốn ở Làng thôi, để được ngủ trong lòng đạo cả, cho hồn thơ ấu được nâng niu”. Thưa vội cho Thầy biết ý của tôi xong, tôi thấy mình thật vụng về và có lỗi với Thầy quá. Tôi liền để tâm tới hơi thở và lắng nghe cảm xúc của mình, tôi nghe rõ nhịp đập của tim với cảm giác lo sợ. Thầy vẫn tự tay tiếp tục chế trà cho hai chị em tôi. Thầy đem ly trà đến trao cho tôi và nói: “Con uống trà đi”. Tôi chắp tay xá và cẩn trọng tiếp nhận ly trà từ đôi bàn tay ấm áp của Thầy.

Trao trà cho tôi xong, Thầy bước sang phía sau đặt bàn tay lên đầu tôi xoa ba vòng. Tôi cảm nhận tình thương trìu mến Thầy ban cho thật tròn đầy, nhưng cảm giác lo lắng, sợ hãi vẫn hiện diện trong tôi, nó đang quyện vào với sự thương yêu trìu mến của Thầy. Ý tưởng trong tôi bắt đầu thì thầm “chết rồi”, tôi có cảm giác cử chỉ này của Thầy như một dấu ấn đóng xuống, ký sắc lệnh tôi sẽ về Mộc Lan. Sự thật đã đến, giây phút nhận tin về Mộc Lan, thú thật với các bạn tôi không đủ chánh niệm để thực sự có bình an. Thế là tôi thắp hương cầu xin chư Bụt, chư Tổ soi sáng cho tôi phải làm gì bây giờ. Lạy Bụt xong, tôi ngồi yên theo dõi hơi thở để lắng nghe tiếng nói của bồ đề tâm trong lòng. Cuối cùng tôi đón nhận lời soi sáng của chư Bụt, chư Tổ trong tôi: “Về Mộc Lan đi con, đừng tránh né những khó khăn phía trước, nhân duyên đã được sắp đặt trước rồi”.

Tôi về Mộc Lan ngày 16 tháng 3 năm 2010. Một Phật tử thân tín đón tôi ở phi trường. Về đến Mộc Lan, không khí lạnh cuối đông trùm lấy cả châu thân tôi. Cảm giác trống vắng, đơn độc, lạnh lẽo, ảm đạm bao phủ cả không gian trong lòng tôi. Gia đình Phật tử thân tín đã nấu sẵn thức ăn trưa để trong bếp cho tôi rồi đi làm. Lúc đó, tôi mới thấm thía cái cảm giác “tôi sợ lắm hồn em trong đơn độc”. Nhưng may thay, “người tu sĩ cũng là người chiến sĩ”, nghĩa là phải chiến thắng nội tâm như trong kinh đức Thế Tôn đã dạy: “Thắng vạn quân không bằng tự thắng chính mình”. Thế là tôi quay về an trú trong từng hơi thở vào ra, làm bạn và hài hoà với những cảm giác mà tôi chưa từng nhận diện khi sống trong vòng tay của Thầy, xung quanh đông đúc sư chị, sư em.

Rồi tôi cũng quen dần với những cảm giác, cảm xúc lúc ẩn tàng, lúc biểu hiện trong tôi. Sau vài ngày nghỉ ngơi, tôi bắt đầu lên kế hoạch và bàn bạc với các vị cư sĩ chủ trì tu viện Mộc Lan về việc tiến hành xây dựng ni xá để có chỗ ở cho quý sư cô. Lên kế hoạch đâu vào đó, tôi trở về Làng Mai, hoàn tất vài thủ tục để có giấy thường trú ở Pháp lâu dài. Biết thời gian được ở Làng rất ít, tôi tranh thủ về nội viện Phương Khê để được ngồi chơi và đi thiền hành với Thầy.

Mùa xuân ở Làng thật đẹp! Chim hót véo von đủ âm điệu. Hoa lá đâm chồi, nảy lộc đủ màu sắc, khoe mình trong nắng xuân. Một không gian yên bình và thanh nhã. Hạnh phúc hơn nữa là tôi được đi thiền cùng Thầy, đưa võng cho Thầy mỗi khi Thầy dừng lại nghỉ chân. Thầy trò không cần phải nói gì, chỉ cần có mặt trọn vẹn để cho không gian bao la thanh bình ôm trọn thân tâm và thấm sâu vào lòng. Bỗng nhiên, Thầy nhẹ nhàng ngồi dậy nói: “Này con, con về lại Mộc Lan kiếm một cái chuông nào tạm treo lên để thỉnh chuông đại hồng sáng tối đều đặn liền cho Thầy, nhớ nghe con. Khi nào đủ duyên mình sẽ xin Phật tử Đài Loan phát tâm cúng dường chuông đại hồng và mình sẽ xây tháp chuông giống ba xóm ở Làng”. Tiếp nhận lời dạy của Thầy, trở về Mộc Lan tôi thực hiện liền không chần chừ trễ nải.

Từng bước, từng bước một, sau sáu tháng ròng rã làm ngày làm đêm, chúng tôi cũng hoàn tất được ni xá trong niềm sung sướng của tứ chúng. Tiếp đến chúng tôi xây dựng cốc “Chịu Chơi” cho Thầy, rồi nhà vệ sinh công cộng để có chỗ cho cư sĩ gần 1000 người đến Mộc Lan tu học khóa tu năm ngày, do Thầy và chúng xuất sĩ Làng Mai trực tiếp hướng dẫn vào cuối tháng 9 năm 2011. Khóa tu kết thúc, Thầy dắt tôi đi chỉ chỗ xây thiền đường và tháp chuông, và nói: “Này con, mình có mặt nơi này không phải mình muốn là được, mà do Bụt Tổ sắp đặt đó. Vì thế, con không thể nào cưỡng lại sự sắp đặt của Bụt Tổ”. Nghe Thầy dạy, tôi chỉ biết chắp tay cúi đầu: “Dạ, thưa Thầy”. Sau hơn một năm kể từ khi nhận tin Thầy dạy tôi về Mộc Lan, tôi cũng tự chuyển hoá dần những vùng vẫy có mặt trong lòng.

Ý thức vô thường, Thầy cũng đã lớn tuổi, không biết sức khỏe còn cho phép Thầy đi hoằng pháp ở Mỹ bao nhiêu chuyến nữa. Vì thế, chúng tôi thiết kế một bản vẽ để xây thiền đường với ước mong cho kịp chuyến hoằng hóa vào năm 2013 tại Bắc Mỹ của Thầy. Mộc Lan sẽ có thiền đường cho 1000 thiền sinh ngồi thiền, nghe pháp thoại.

 

 

Các bạn có biết không, nhân duyên thật kỳ lạ. Nếu đến Mộc Lan, ấn tượng đập ngay vào mắt các bạn sẽ là mái của thiền đường Hải Triều Lên với một vùng màu đỏ sáng tươi, ngược lại với màu đằm thắm, tĩnh mặc. Bạn sẽ ngỡ ngàng, ngạc nhiên hoặc thắc mắc tại sao lại là màu đỏ, ai chọn màu này, ai đã quyết định chọn màu đỏ… cả loạt câu thắc mắc được hỏi nhau. Như tôi đã nói, nhân duyên thật kỳ lạ. Red Hill (Đồi Đỏ) là địa danh của vùng này. Thiền đường là điểm chính của tu viện Mộc Lan, lại là “Red Roof” (mái đỏ). Dù bạn thấy thích hay không thích, thiền vị hay không thiền vị thì nó cũng đã biểu hiện trước tầm mắt của bạn rồi. Tuy vậy, khi bạn thong thả bước vào bên trong thiền đường, bạn sẽ có một cảm xúc mới trong lòng bởi không gian yên lắng, hài hòa. Nơi đây, bạn sẽ không thấy tượng Bụt như các chùa hay các thiền viện khác. Nhìn lên cao phía trung điểm, bạn chỉ thấy một cửa sổ tròn bằng kính màu (stained glass window) với hình đức Bụt. Là Phật tử Á đông, bạn sẽ thấy lạ mắt. Nhưng nếu bạn là thiền sinh Tây phương, bạn lại thấy gần gũi và thân thiện. Chỉ là sự khác biệt về quan niệm và văn hóa mà thôi.

Bản chất đạo Bụt là vượt thoát ý niệm, có khả năng dung thông, như trong kinh Hoa Nghiêm có câu: “Hai đế dung thông ấn tam muội”. Các bạn ơi!, nếu các bạn hỏi tôi tại sao thiền đường lại là mái đỏ thì tôi không biết gì cụ thể để trả lời. Tôi sẽ chỉ mỉm cười và mượn bốn chữ “nhân duyên là thế” để nói cho bạn nghe thay câu trả lời. Nhưng nếu bạn hỏi tôi về ý nghĩa của ô cửa sổ tròn bằng kính màu với hình đức Bụt, nội dung của tác phẩm nghệ thuật này là gì, ai là nghệ nhân chế tác, tôi sẽ rất sung sướng chia sẻ cho bạn nghe hết những chi tiết và phác họa của tác phẩm.

Mùa xuân năm 2011, tôi được tháp tùng Thầy và tăng thân trong chuyến hoằng pháp Đông Nam Á gồm các nước Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản và Hồng Kông. Một đài truyền hình lớn của Phật giáo Đài Loan, do Ni sư Chứng Nghiêm làm cố vấn, mời Thầy thuyết giảng về đề tài môi trường. Sau buổi thuyết giảng và đối thoại, ban tổ chức tặng quà lưu niệm cho Thầy. Đó một tác phẩm nghệ thuật được làm bằng thủy tinh, tượng đức Thế Tôn với bàn tay trái đặt lên trái đất, tay phải nâng cái chuông, và ánh mắt nhìn xuống quả địa cầu. Tôi rất ấn tượng khi nhìn thấy tác phẩm này. Thế là tôi hỏi thăm để thỉnh cho được về Mộc Lan một tượng như thế. Đến khi khởi sự xây thiền đường, tôi thỉnh ý Thầy về cấu trúc để nhờ kiến trúc sư lên thiết kế. Thầy dạy tôi đi xem các nhà thờ quanh vùng rồi làm thiền đường cho hài hòa với văn hóa bản địa. Tôi thưa với Thầy ý tưởng làm hình Bụt bằng chất liệu kính màu theo tác phẩm nghệ thuật bằng thủy tinh mà Ban tổ chức ở Đài Loan đã tặng cho Thầy, Thầy hoan hỷ.

Chúng tôi được giới thiệu đến gặp một nghệ nhân ở Jackson Mississippi, ông Andrew Young, chuyên làm các bức tranh kính màu cho các nhà thờ. Chúng tôi được tới xem nơi ông làm việc. Ông phát họa và làm nhiều hình Chúa, thiên thần. Nhìn bức tranh nào, tôi cũng thấy sống động, tôi muốn ông làm hình của Bụt cũng sống động như vậy. Tôi hỏi ông có biết về đức Thế Tôn không? Ông Andrew trả lời chưa bao giờ biết. Tôi mời ông đọc quyển Living Buddha Living Christ và Đường xưa mây trắng của Thầy, để ông có thể tiếp cận gần gũi với hình ảnh Bụt thì ông mới phác họa được. Trong tâm thức của ông lâu nay chỉ quen thuộc với hình ảnh Chúa và môn đồ của Ngài mà thôi.

Không biết Andrew có đọc xong hai quyển sách mà tôi giới thiệu hay không, nhưng ông đã hoàn thành bức tranh Bụt bằng kính màu với những cấu trúc và đường nét nghệ thuật sắc sảo và linh hoạt. Hoa Mộc Lan là loại hoa đặc thù của vùng Mississippi. Tám cánh hoa Mộc Lan tượng trưng cho Bát chánh đạo được nở dưới gốc cây Bồ đề lúc Bụt chứng ngộ, bắt đầu sự nghiệp giúp chúng sanh thoát khổ. Bàn tay trái đức Thế Tôn nâng cái chuông là hình ảnh tiếng chuông chánh niệm mà Làng Mai thực tập. Bàn tay phải Ngài đặt lên trái đất, mang thông điệp: trái đất chúng ta đang bị hâm nóng mỗi ngày, nhân loại phải ý thức về cách chúng ta đang tiêu thụ và tàn phá đất Mẹ. Bức hình Bụt bằng kính màu này có một nét độc đáo mà ít người tiếp xúc được. Đó là tùy theo cách bạn đứng ở hướng nào trong thiền đường Hải Triều Lên, nếu bạn nhìn sâu, bạn sẽ thấy ánh mắt của Bụt quay về hướng bạn, nét miệng mỉm cười.

 

 

Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn.  Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.

Các bạn ơi, thời gian thấm thoát trôi, Mộc Lan đã biểu hiện mười năm rồi. Chúng con tri ân sâu sắc đến với mọi nhân duyên xa gần, đến bậc Thầy đầy từ bi và đức độ, người đã không ngừng trao truyền và giáo dưỡng chúng con. Chúng con xin tri ân quý Tôn túc đã đến Mộc Lan từ những ngày tháng đầu tiên, chỉ dạy và khích lệ chúng con. Chúng con xin tri ân quý sư anh, sư chị, sư em đã từng san sẻ với mảnh đất Mộc Lan những giọt mồ hôi, những tiếng cười trong sáng, những năng lượng bình an trong công phu tu tập hằng ngày. Kính tri ân các vị cư sĩ một lòng hộ trì Tam bảo bằng sự tu học của mình.

Mộc Lan giờ đã có hai xóm. Xóm quý thầy là xóm Trúc, xóm quý sư cô là xóm Mai. Ứng với câu đối mà Thầy tôi đã viết cho thiền đường Hải Triều Lên:

Nhìn trúc mộc lên xanh nghe hải triều lên mấy độ

Thấy mai lan nở rộ nguyện phát túc về siêu phương.

 

Sơn Cốc

(Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Sơn Cốc giống như một nơi để cho mình nương tựa, cũng giống như được về nhà ông nội khi Chân Đức (CĐ) còn nhỏ. CĐ thấy rất bình an và hạnh phúc khi ở đó.

Ở Sơn Cốc có khá nhiều cây tùng Deodara. Những cây tùng này có gốc gác ở vùng Himalaya, Ấn Độ. Gỗ của chúng thường được dùng để tạc tượng các thần linh.

Ba cây tùng lâu năm nhất đứng thành hình tam giác phía sau nhà. Thầy thương ba cây tùng này lắm. Khi nào không ngủ được, Thầy thường quán tưởng đến hình ảnh ba cây tùng. Khi đi thiền hành ở Sơn Cốc, Thầy hay dừng lại làm thiền ôm với ba cây tùng, và Thầy dạy CĐ cách thiền ôm với cây. Nguyên tắc thực tập giống như thiền ôm với một người, chỉ khác là cây thì không ấm áp, trừ những ngày hè nóng bức có ánh nắng mặt trời chiếu lên thân cây. Bạn vòng tay ôm thân cây (bây giờ thì phải cần hai thầy, hoặc hai sư cô có cánh tay dài dang ra mới ôm trọn được thân một cây tùng). Bạn áp má mình vào thân cây và thở để có mặt 100% cho cây, và mầu nhiệm thay, cây cũng có mặt đó cho bạn. Vững chãi, không lay chuyển và thảnh thơi. Thậm chí khi có gió mạnh, bạn cũng sẽ thấy thân cây không hề lay động. Năm nay khi ôm những cây tùng, CĐ cũng đồng thời cảm thấy mình đang thiền ôm với Thầy.

Những cây tùng này có một năng lượng trị liệu rất lớn. Có lần Thầy nói: “Con có thể nói chuyện với cây, hỏi cây làm cách nào để chịu được cái lạnh lẽo của mùa đông”. CĐ nhận ra rằng khả năng chịu đựng thời tiết vô cùng khắc nghiệt làm cho thân tâm con người trở nên mạnh mẽ. Chúng ta cũng có thể tiếp xúc với bản môn khi thiền ôm với cây, bởi vì một cái cây, cũng như tất cả những cái khác, không có một cái ngã riêng biệt, không có bắt đầu cũng không có kết thúc.

Một món quà khác mà các cây tùng hiến tặng cho ta là tiếng gió reo qua cành lá. Nếu bạn ngủ trong một căn phòng ở phía bắc của ngôi nhà, nằm trên giường, bạn có thể nghe được tiếng reo của gió. Và trong đêm trăng, ngước mắt nhìn qua khung cửa nhỏ trên nóc nhà, bạn có thể thấy mặt trăng chiếu sáng qua cành lá. CĐ rất thích tiếng gió reo, tiếng chim hót và tiếng nước róc rách chảy tràn qua đá. Bạn có thể ngồi cạnh dòng suối trong vườn tre, tiếng suối sẽ giúp bạn thư giãn và quên đi tất cả những bận rộn của đời thường.

 

 

Mùa thu này, CĐ và các sư em rất thích ngắm các chú sóc đỏ ở Sơn Cốc. Trong khi ăn sáng, chúng tôi nhìn bọn sóc tìm nhặt hạt. Sau khi nhìn quanh để chắc chắn là không có ai dòm ngó, các chú chôn hạt xuống. Các chú sóc chỉ có thể nhặt hạt trong vườn ở Sơn Cốc, bởi chúng không thể đi xa được trên những đôi chân nhỏ xíu đó.

Trong các cánh đồng hàng xóm, có các cây hồ đào và hạt dẻ mà đôi chân con người có thể đi đến một cách dễ dàng. Sư cô Trai Nghiêm quyết định giúp các chú sóc bằng cách đem một số hạt từ cánh đồng hàng xóm về để trong sân nhà. Nhiều ngày sau, chúng không động đến một hạt nào. Rồi một sáng nọ, khi một chú sóc nghĩ rằng không có ai đang dòm ngó, chú đã đến và lần lượt lấy đi chín hạt hồ đào để bổ sung vào kho thức ăn dự trữ cho mùa đông của mình.

Ở cuối vườn của Sơn Cốc có một cái nhà cũ, có lẽ từng là nơi cư ngụ của các gia đình nông dân và gia súc. Phía trên một trong các vòm cửa có khắc con số 1744. Trong những năm gần đây, Thầy rất ước ao ngôi nhà được trùng tu. Thầy Trời Đại Nghĩa hiện đang coi sóc việc trùng tu này. Phần rộng nhất của ngôi nhà sẽ trở thành thiền đường, nhìn ra những ngọn đồi, cánh đồng và các cánh rừng lân cận. Công việc tiến hành khá chậm, nhưng cách làm nề và mộc đều theo truyền thống của địa phương để biểu lộ sự gần gũi, thân thiện với môi trường.

Một ngày nọ, CĐ cùng hai sư cô nữa vui thích trát bùn trộn rơm lên bức tường cũ kỹ của ngôi nhà. Các sư cô người Việt nói rằng, ngày xưa ở Việt Nam, người dân cũng có truyền thống xây tường bằng rơm và bùn. Có thể vào năm tới, thiền đường sẽ được hoàn tất để một lần nữa chúng ta có thể tổ chức ngày xuất sĩ ở Sơn Cốc, bởi vì gần đây ở Sơn Cốc không đủ chỗ để tổ chức ngày xuất sĩ. Chúng ta ai cũng mơ ước một ngày nào đó Thầy sẽ quay lại Sơn Cốc để thấy thiền đường đã được làm xong, điều mà Thầy rất muốn thực hiện. Lần cuối cùng lúc Thầy còn ở Sơn Cốc, khi thời tiết cho phép, ngày nào Thầy cũng bảo thị giả đẩy xe ra con đường phía sau khu vực đang được trùng tu để Thầy có thể xem tiến độ của công trình.

Trong mùa An cư kiết thu năm nay, các sư cô từ cả xóm Mới lẫn xóm Hạ đều đến Sơn Cốc để ăn trưa và có mặt cho nhau. Có lần các sadi từ ba xóm đã tổ chức ngày sadi ở Sơn Cốc. Sơn Cốc tiếp tục là suối nguồn của niềm vui và sự nuôi dưỡng cho các thầy, các sư cô. Dù có nhiều vị chưa bao giờ được trực tiếp gặp Thầy, họ vẫn có thể cảm được năng lượng của Thầy. Năng lượng ấy đã thấm vào từng gốc cây, ngọn cỏ, không khí, đất đai của chốn bình yên này.

 

Nụ cười hộ trì, nụ cười tương tức

(Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai)

Kính thưa đại chúng,

Hôm nay là ngày 17.02.2002, chúng ta đang ở tại Nội viện Phương Khê trong ngày chót của khóa tu mùa Đông.

Chúng ta được làm bằng yếu tố danh (tâm) và sắc (thân), vì vậy chúng ta không những tu tâm mà còn phải tu thân nữa. Trong chúng ta ai cũng có Phật tánh và đều có thể đi tới trên con đường thành tựu đạo nghiệp, chuyển hóa phiền não, trở thành một bậc đạo sư độ đời và giúp người. Nếu không có niềm tin vào Phật tánh nơi ta thì ta không thể tu học được. Phật tánh trong ta là tính chất thánh thiện, là một cái gì có thật mà ta có thể tiếp xúc được trong đời sống hàng ngày.

Thầy đã từng nhiều lần giảng dạy rằng mỗi khi mình thở vào, thở ra có chánh niệm, bước đi những bước vững chãi, thảnh thơi và có tự tại, có an lạc thì mình chế tác chất thánh trong con người mình. Mỗi khi mình biết nhìn bằng con mắt từ bi, biết mỉm một nụ cười xót thương hay hiểu biết thì mình cũng chế tác được chất thánh. Chất thánh không phải là một cái gì xa vời. Chất thánh là Phật tánh. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không có chúng sanh tánh. Chúng sanh tánh có đầy đủ trong ta. Tuy nhiên, Phật tánh và chúng sanh tánh không cần phải đánh nhau suốt ngày trong khi thức cũng như trong khi ngủ. Phương pháp của chúng ta là làm thế nào để Phật tánh và chúng sanh tánh đi đôi được với nhau, cộng tác được với nhau, và sống chung một cách hòa bình. Nếu chúng ta biến mình thành bãi chiến trường, trong đó hai phe đánh nhau suốt ngày thì chúng ta sẽ đau khổ lắm.

 

 

Theo Thánh Kinh, Thượng Đế sử dụng những chất liệu như cát bụi để tạo ra con người. Đó là tôn giáo, là huyền thoại. Theo thuyết tiến hóa, chúng ta từ những con thú đi lên thành con người. Trên trái đất xuất hiện những loài đơn tế bào trước, rồi từ từ mới có những loài đa tế bào. Con người là một sinh vật xuất hiện rất trễ trên trái đất, và con người tới từ những loài vật khác. Chúng ta cũng có nguồn gốc từ khoáng, từ khí, từ sương, từ cây cỏ, vì vậy chúng ta có khoáng tánh, có thảo mộc tánh và chúng ta cũng có thú tánh. Đồng thời, trong mỗi tế bào của chúng ta cũng có Phật tánh, có thánh tánh.

Giáo lý Hoa Nghiêm cho chúng ta biết rằng cái này chứa đựng cái kia, nếu không có cái này thì không có cái kia. Nếu không có thú tánh thì cũng không có Phật tánh. Điều này rất lạ lùng nhưng trong đạo Bụt chúng ta thấy rất rõ, cũng như nếu không có bùn thì không thể nào có sen. Muốn có bùn thì phải có hoa sen, muốn có hoa sen thì phải có bùn. Nếu nói rằng tôi chỉ muốn hoa sen thôi, tôi không muốn bùn thì không được. Chúng ta thấy sự thật là bùn và hoa sen chung sống hòa bình với nhau, không đánh lộn suốt ngày, có phải như vậy không? Vậy thì tại sao chúng ta phải đánh lộn suốt ngày, phải tranh đấu với cái mà chúng ta gọi là cái ác? Tâm Kinh nói rằng không có cái gì sạch, không có cái gì dơ. Cái dơ nằm trong cái sạch và cái sạch nằm trong cái dơ. Nhìn vào hoa sen chúng ta thấy được bùn và nhìn vào bùn, chúng ta thấy được hoa sen. Đó là tuệ giác cao vời của đạo Bụt.

Thi sĩ Huy Cận đã từng làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa trong chính quyền Việt Nam. Hồi hai mươi mấy tuổi, Huy Cận có làm một bài thơ nói về sự xung đột giữa cái thiện và cái ác, cái dơ và cái sạch. Trong bài thơ đó, Huy Cận nói chuyện với Thượng Đế. Thi sĩ nói: Ngài đã tạo ra hình hài của con người rất đẹp, nhưng mà nhìn sâu vào trong hình hài ấy thì thấy có “sâu mọt”, có dơ bẩn, có tội lỗi. Nếu Ngài nhìn cho kỹ chắc là Ngài cũng mắc cỡ. Cố nhiên, cái thấy của một chàng trai mới hai mươi mấy tuổi về tâm linh vẫn còn cạn cợt. Nhưng đây là điều mà thi sĩ thấy với tư cách một người trẻ và thi sĩ đã nói ra một cách rất thẳng thắn. Bài thơ có tên là Thân thể.

Hỡi Thượng Đế

Người nhìn xem,


Người đã cho thân thể,

Bình thịt xương để đựng chứa linh hồn.

Đó là quan niệm lưỡng nguyên mà người trẻ Việt Nam đã học được ở Tây phương, tức là thân thể và tâm hồn là hai cái khác nhau. Trong khi theo giáo lý tương tức của đạo Bụt thì thân chứa đựng tâm và tâm chứa đựng thân. Năm uẩn chứa đựng nhau.

Người đã cho những bàn tay hoa nở,

Những cây chân, chồi mạnh búp tơ măng;

Người thu góp gió mây trong miệng thở,

Nơi mắt ngời, Người gửi ánh sao trăng;

Bàn tay của con người rất đẹp. Những bắp chân cũng đẹp, giống như là những mụt măng. Nhìn vào mắt của con người thấy ánh sao trăng và thấy trong hơi thở của con người có gió, có mây… thi sĩ ca ngợi công trình tạo ra con người của Thượng Đế.

Mắt nâu sáng thắp đèn soi vũ trụ,


Và tai rền thu cất nhạc không gian,


Và tơ tóc ướp vạn mùa hương ủ,


Và ngực vang âm điệu nhịp hoàn toàn,

Và cổ đứng như mình cây vững chãi,


Và vai ngang như mặt nước xuôi dài


Hỡi Thượng Đế, Người công phu biết mấy!

Nhưng mọt sâu nương núp giữa lâu đài.

Con người chứa đựng sao, trăng, mây, gió… Rất đẹp! Thi sĩ ca tụng công trình mỹ thuật của Thượng Đế. Nhưng nhìn vào tác phẩm tuyệt diệu đó ta thấy có những tội lỗi; trong đó Ngài đã vô ý để những “mọt sâu nương núp”.

Mình bắt đầu thấy cái nhìn lưỡng nguyên (dualistic view) hiện ra.

Nghìn yếu đuối theo sau nghìn yếu đuối,

Bước ngày mai sẽ chồng dấu hôm nay.

 A! Thân thể! Một cái bình tội lỗi!


Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy.

Thấy rõ ràng con người có những yếu đuối, những đam mê, những cái mà nghĩ tới thì thấy xấu hổ, không những trong giấc mơ mà còn trong đời sống hàng ngày. Thân thể là một cái bình chứa đựng tội lỗi. Thân thể đẹp như vậy nhưng đã bị làm cho nhơ nhớp, đen tối.

Xương với máu có bao giờ mỏi mệt,

Miệng bao giờ buông nhả vú chua cay!

Thân không chán đau, ngực sầu thở chết,

Tay bồng thân, và tay nữa ôm mồ.

Xương và máu cứ chạy theo con đường xác thịt, của đam mê, của dục vọng, cho đến nỗi kiệt quệ, cho đến nỗi bệ rạc. Vậy mà vẫn không nguôi bám theo đối tượng của dục. Thấy rõ ràng mình có hai tay, một tay giữ lấy thân thể mình, một tay thì ôm lấy cái chết.

Xin thương lấy những mầm khô, trứng dập;

Những thân teo, xin Thượng Đế dung thương!

Thân quá nặng nên hồn sa xuống thấp,


Chớ giận chi những kẻ mất thiên đường!

Thi sĩ mới có hai mươi mấy tuổi mà đã có mặc cảm tội lỗi rất lớn. Những hạt mầm đang tươi đã trở nên khô héo; những trứng đang non đã bị dập vùi, và những thân thể teo lại. Tội nghiệp, tội nghiệp chúng con! Tại vì chúng con có thân thể đầy dẫy những tội lỗi, những xấu xa cho nên chúng con không thể vươn lên cao được như một đám mây. Chúng con sa xuống như một vũng bùn, không đáng được chấp nhận vào nước Chúa. Và xin đừng giận chúng con vì chúng con đã đánh mất thiên đường.

Nếu Chúa biết bao nhiêu lòng hốt hoảng,

Trong sầu đen đã gẫy cánh như dơi;


Nếu Chúa biết bao nhiêu dòng lệ đắng,

Chảy như sông, không rửa sạch sầu đời;

Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,


Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi:


Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,

Đã sinh ra thân thể của con người.

Bao nhiêu bi kịch đã xảy ra cho người trẻ, mà không có một phương pháp nào để nhận diện, ôm ấp và xử lý những đam mê, những tuyệt vọng đó. Cho nên những thiên thần đều gãy cánh như những con dơi đen. Đau khổ giống như một dòng sông nước mắt mà dòng sông đó không có khả năng rửa sạch những buồn tủi của cuộc đời. Tuy đây là quan niệm của Tây phương, nhưng người trẻ đã có can đảm nói ra những cảm nhận trong con người của mình. Cố nhiên bài thơ này được viết nhiều năm trước bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Trong bài Tống biệt hành, tác giả đã thấy được rằng mình phải đi làm cách mạng, trước đó nhiều người trẻ chỉ sống trong sự hưởng thụ dục lạc.

Chế Lan Viên là một thi sĩ cùng thời với Huy Cận. Trong các tác phẩm của ông, thầy có nhớ một bài thơ rất lạ. Hồi ấy thầy còn trẻ lắm. Khi đọc bài thơ đó, thầy thấy rõ rằng trong bài bắt đầu có những dấu chấm hỏi. Nó tương đương với câu hỏi của Huy Cận nhưng sâu hơn nhiều. Đó cũng là câu hỏi của những người trẻ không có một con đường tâm linh. Và thấy rằng trong con người mình có bao nhiêu là khuynh hướng kéo mình đi như những cơn lốc bão và mình không thấy được cái an tịnh của tâm hồn. Bài đó thầy thuộc lòng, thuộc lòng vì những câu hỏi đặt ra. Bài thơ có tên là Ta.

Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng

Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?

 Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta?


Ý của ai trào lên trong đáy óc

Để bay đi theo tiếng cười, điệu khóc?

Ở dưới đáy giếng tự nhiên mọc lên một ngôi sao, ngôi sao đó lạnh như linh hồn u tối của các loài yêu ma trong người của mình. Hồn đó có phải là hồn của mình không? Ý đó có phải là ý của mình không? Mà nó tới chiếm cứ cái đầu của mình, chiếm cứ cái thân mình và luôn luôn làm cho mình xấc bấc xang bang, không có được an lạc, hòa bình.

Biết làm sao giữ mãi được Ta đây

Thịt  cứ chiều theo thú dục chua cay!

Máu cứ nhảy theo nhịp cuồng kẻ khác!

Mắt theo dõi Tinh hoa bao màu sắc!

Đau đớn thay cho đến cả linh hồn


Cứ bay tìm Chán Nản với U Buồn


Để đỉnh sọ chơ vơ tràn ý thịt!


Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt!


Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?

Có hai danh từ thịt máu. Mình không làm chủ được hai cái đó. Xác thân và dòng máu đang chảy cứ muốn đưa đẩy mình đến những thế giới mà trong đó mình sẽ đau khổ. Cái đầu chỉ nghĩ đến dục, bị ám ảnh bởi sắc dục. Thịt tức là nhục dục mà tuổi trẻ nghĩ tới và bị hoàn cảnh chung quanh – những thứ mình thấy, mình nghe – kích động mà không có biện pháp nào để giữ gìn mình, để tìm được an lạc. Rất tội nghiệp! Trong lòng người trẻ có những ước mơ rất trong sáng, những ý định rất tốt đẹp. Trong khi đó, những yếu tố làm vẩn đục tâm hồn, thân xác như những sức mạnh trào lên đẩy mình đi, làm cho mình mất hết tất cả an bình nội tại mà mình không biết cách xử lý, nhận diện và làm chủ nó.

Một người thanh niên nếu không có một nếp sống tâm linh sẽ đau khổ vô cùng. Biết bao người thanh niên như vậy đang sống trong xã hội của chúng ta, luôn luôn bị kích động bởi màu sắc, bởi âm thanh, không làm chủ được bản thân mình.

Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?

Hãy cho ta biết có một cái Ta, một cái Ngã, tồn tại hay không? Nếu có một cái Ta thì tại sao ta lại bất lực như vậy?

Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt!

Mình mới có hai mươi mấy tuổi nhưng mình thấy rõ ràng cái chết, cái hư hỏng của tâm và của thân. Đúng là hai thi sĩ nói cùng một giọng. Bài này thầy đã được đọc từ khi mười mấy tuổi và tự nhiên thầy nhớ. Nó có những câu hỏi mang tính triết học, những câu hỏi về thân phận con người, nhất là của người trẻ.

Trong tâm trạng đó, nếu có một sư chị Giác Duyên xuất hiện thì có cơ duyên thấy được vấn đề. Tức là phải có một chiều hướng tâm linh đi vào đời sống thì mới cứu được người trẻ đang không có hướng đi đó. Một người trẻ sinh ra có cha, có mẹ, có cơm, có áo, có nhà ở, và có học đường mà còn khổ như vậy.

Cố nhiên khi đọc những bài thơ này, chúng ta thấy thương xót. Học Phật học, chúng ta biết rằng những cái thấy này là những cái thấy có tính cách lưỡng nguyên. Quan niệm thiện-ác, dơ-sạch căn cứ trên lề lối tư duy lưỡng nguyên đó. Trong đạo Bụt, chúng ta không thấy như vậy. Đạo Bụt có những cái thấy rất sâu sắc, có thể giúp chúng ta giải quyết những mâu thuẫn lớn lao này.

Chúng ta thường đọc Tâm Kinh mỗi ngày. Chùa nào cũng đọc Bát Nhã Tâm Kinh mỗi ngày. Trong đó có nói là không có gì thêm, không có gì bớt, không có gì dơ, không có gì sạch. Nhưng mấy người trong chúng ta đã hiểu thế nào là bất cấu, bất tịnh? Tuệ giác tuyệt vời đưa ta tới giải thoát đó cho chúng ta thấy rằng: quan niệm cấu-tịnh thuộc về cặp đối nghịch và chỉ khi nào tiếp xúc được với thực tại Niết bàn thì chúng ta mới vượt thoát được những ý niệm đối nghịch như sinh-diệt, tới-đi, một-khác, dơ-sạch,… Đạo Bụt có một lối thoát mà chúng ta phải nương vào đó để tìm ra con đường cho ta và cho những người xung quanh ta.

Chúng ta hãy tưởng tượng Phật tánh và thú tánh đang đánh nhau, đang xung đột. Trong đạo Bụt, trong những kinh như Duy Ma Cật hay Hoa Nghiêm, chúng ta thấy rất rõ là mình phải vượt thoát cái thấy lưỡng nguyên. Phật là đối với chúng sanh mà có. Không có chúng sanh thì không có Phật. Không có Phật thì cũng không có chúng sanh. Hai quan niệm “Phật” và “chúng sanh” nương nhau mà thành lập. Cũng như thực tại bùn và hoa sen, hai cái nương nhau mà thành lập. Đem Phật đối nghịch với chúng sanh như hai kẻ thù chứng tỏ chúng ta chưa hiểu được chiều sâu của đạo Bụt.

Bài kệ chúng ta xướng trước khi lạy bắt đầu bằng câu: “Năng lễ sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là người lạy và người được lạy nương vào nhau mà có, cả hai đều không có tự tánh riêng biệt. Hòa thượng Thiện Siêu dịch: “Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng”. Chúng sanh là người lạy và Phật là người được lạy. Mình lấy Phật mà chống lại với chúng sanh và lấy chúng sanh chống lại với Phật là một hành động dại dột.

Chúng ta hãy nhớ tới hình ảnh hoa sen và bùn. Nếu không có chúng sanh thì không thể nào có Bụt. Nếu không có Bụt
 thì không thể nào có chúng sanh. Bụt và chúng sanh có thể sống hài hòa với nhau.
 Đó là tất cả nguyên tắc mà chúng ta phải
 biết áp dụng thì chúng ta mới tìm ra được
 an lạc, thảnh thơi. Phải làm sao để Phật tánh và thú tánh trong chúng ta chung sống hòa bình mà không biến mình thành bãi chiến trường như trong trường hợp của Huy Cận hay Chế Lan Viên. Đây là những người trẻ đã nói giùm cho những người trẻ khác vì họ có khả năng diễn tả bằng thi ca.

 

 

Trong mỗi chúng ta đều có thiên chức làm cha, làm mẹ, làm người yêu. Thiên chức đó vẫn còn trong từng tế bào cơ thể dù chúng ta đã đi tu rồi. Phải như vậy không? Tu có phải là để tiêu diệt hết thiên chức làm cha, làm mẹ, làm người yêu hay không? Đó là câu hỏi. Có phải tiêu diệt hết bùn thì mới có hoa sen? Điều đó có đúng hay không? Hay là tiêu diệt hết hoa sen mới có bùn? Hay là hoa sen và bùn phải đồng thời có mặt thì cả hai mới có mặt được? Cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không. Chúng sanh và Phật phải nương nhau mà có. Cái ý niệm, cái quyết tâm thủ tiêu hoàn toàn một cái để chỉ còn lại một cái có đúng với giáo lý sâu thẳm của đạo Bụt không?

Cũng như cái dùi chuông này. Nếu mình để dùi chuông thẳng đứng thì mình có ý niệm về trên và về dưới. Hễ có trên thì phải có dưới. Nếu nói tôi chỉ muốn trên thôi, tôi phải thủ tiêu hoàn toàn cái dưới thì làm sao có thể được. Tại vì trên được làm bằng dưới và dưới được làm bằng trên. Nếu mình để dùi chuông theo chiều ngang thì không có trên dưới nữa, bây giờ nó có trái và phải. Mình nói rằng tôi chỉ muốn phải thôi, tôi không muốn trái và mình lấy cưa mình cắt, mình muốn thủ tiêu bên trái để chỉ giữ bên mặt. Thái độ đó là thái độ của những người vướng vào lưỡng nguyên. Ý niệm muốn tiêu diệt hết hoàn toàn chúng sanh tánh để Phật tánh hoàn toàn hiển lộ, không lệ thuộc gì đến chúng sanh tánh là một ý niệm cần phải được xét lại.

Trong khi đọc Tam tạng kinh điển, thỉnh thoảng thầy thấy được một vài điều ngộ nghĩnh là nhờ thầy đã đọc với tuệ giác đó. Thầy khám phá ra được những điều mà có lẽ ít người thấy được. Chắc quý vị biết trong kinh, thỉnh thoảng Ma vương Ba tuần tới thăm Bụt. Ma vương có quyền phép. Ma vương hay xuất hiện để cám dỗ Bụt, thuyết phục Bụt làm cái này cái kia. Ví dụ khi Bụt mới thành đạo, Ma vương xuất hiện nói: Ngài thành đạo sướng quá, thôi nhập Niết bàn cho rồi.

Bụt cười nói: Đâu được, ta mệt thấy trời mới thành đạo được, bây giờ mi bảo ta nhập Niết bàn thì hơi uổng. Ta phải ở thêm mấy chục năm để độ người chứ.

Ma vương nói: Chúng sanh khó chịu lắm. Ngài dạy tụi nó mất công!

Giác ngộ rồi thì ta nhập Niết bàn cho khỏe cho rồi, đó là một điều khá hấp dẫn, tại vì chúng sanh can cường, khó điều phục lắm. Mình đạt đạo, mình thấy được cái khỏe đó thì thôi, tại sao phải vướng vào chúng sanh rắc rối làm chi? Mà Ma vương ở đâu? Ma vương từ đâu tới nếu không phải là trong từng tế bào của cơ thể? Tuy là thành Bụt rồi nhưng hạt giống của Ma vẫn còn. Nếu hạt giống Ma không còn thì làm sao hạt giống Bụt còn được? Nếu không có bùn thì làm sao có sen. Vì vậy cho nên muốn có sen thì người khôn ngoan phải giữ bùn lại.

Ở đây cũng vậy, Ma và Bụt là hai mặt của thực tại, cũng như âm và dương. Nếu không có âm thì không thể nào có dương, và nếu không có dương thì cũng không thể nào có âm được. Khi mà âm thịnh thì dương suy và âm cực thịnh thì dương cực suy. Nhưng suy không có nghĩa là không có mặt. Trong lòng âm có hạt giống của dương và trong lòng dương có hạt giống của âm. Hình ảnh đó mang tính chất bất nhị của đạo Bụt. Nói cái kia hoàn toàn không có để cái này chỉ có mặt một mình là chuyện không thể nào có được. Trong sự gặp gỡ có mầm của sự ly biệt. Trong sanh có mầm của cái chết. Quý vị có thấy điều đó không? Trong cái vui có cái mầm của buồn. Trong cái thành có cái mầm của hoại. Và trong cái hoại có mầm của cái thành.

Nếu nhìn kỹ vào trong mùa đông, mình có thể thấy mùa xuân, với tư cách của những hạt giống. Mùa xuân, tự nhiên mình thấy bao nhiêu là bướm, bao nhiêu là hoa, bao nhiêu là loại côn trùng biểu hiện. Từ đâu mà nó phát hiện? Mùa đông thấy như là sự chết hoàn toàn, vắng lặng hoàn toàn, vậy mà trời mới ấm được năm hay sáu ngày, nó xuất hiện không biết từ đâu ra. Đó là những hạt giống của mùa xuân ẩn chứa trong mùa đông. Và cố nhiên trong mùa xuân cũng ẩn chứa những hạt giống của mùa đông, mùa thu, mùa hạ. Cái đó là giáo lý tương tức, tương nhập của đạo Bụt.

 

 

Sinh ra trong truyền thống đạo Bụt, mình phải có cơ duyên thấy được giáo lý thậm thâm vi diệu, nhiệm mầu đó. Mình phải thấy Phật tánh và chúng sanh tánh tương tức như vậy. Trong Phật tánh có chúng sanh tánh và trong chúng sanh tánh có Phật tánh. Rất hay! Vậy nên đường hướng của chúng ta không phải là đường hướng đối lập để tạo ra một bãi chiến trường trong cơ thể. Phải làm thế nào để hai cái đó sống chung một cách hài hòa, cái này phục vụ cái kia.

Bụt mỉm cười, nói rằng: anh giỡn à, ta tu tới bảy, tám năm mới thành đạo. Bây giờ anh bảo ta nhập Niết bàn cho khỏe thì đâu có được. Ta phải cứu độ năm người bạn, rồi phải đi cứu độ gia đình, ta có chuyện phải làm, thôi anh đi chơi đi.

Và Ma vương tiu nghỉu biến mất. Như vậy có nghĩa là nhận diện. Bụt nhận diện sự có mặt của Ma. Bụt không cần đánh Ma. Bụt chỉ cần nói: Anh đó hả, ta biết anh quá mà. Và vì vậy Ma không làm gì được hết. Bụt với Ma sống với nhau rất hài hòa. Ma cũng muốn hoạt động lắm nhưng khi Bụt nhận diện Ma thì Ma phải chịu thôi. Ma hiện ra rất nhiều lần trong 45 năm hành đạo của Bụt. Mình phải biết Ma đó từ đâu sinh ra. Tại Bụt ôm Ma trong lòng, cũng như dương ôm lấy âm, cũng như hoa sen ôm bùn. Hoa sen ôm bùn trong lòng không có nghĩa hoa sen không phải là hoa sen. Hoa sen đích thực là hoa sen, nhưng hoa sen có bùn ở trong lòng. Nếu không có bùn ở trong lòng thì hoa sen không thể nào là hoa sen được. Nhìn vào hoa sen thì thấy rõ bùn ở trong đó. Và hoa sen biết sử dụng bùn để chế tác ra hương và sắc của hoa sen. Có phải như vậy không? Chúng ta cũng vậy. Phải biết sử dụng khoáng tính, thảo mộc tính, thú tính để chế tác Phật tính. Chúng ta không cần phải đánh lộn.

Sau khi Bụt thành đạo, Bụt không về thăm gia đình liền. Bụt có nhiều đệ tử, nhiều người bạn mới, thành ra Bụt phải thiết lập những tu viện, phải đào tạo các đệ tử xuất gia và tại gia. Mấy năm sau Bụt mới trở về thành Ca-tỳ-la-vệ. Về Ca-tỳ-la-vệ, Bụt thấy được một số bê bối trong vương triều và Ngài cũng hơi ngứa mắt. “Tụi nó làm dở quá, Phụ vương đã già rồi, bọn nó làm không ra gì cả và tham nhũng cũng khá nhiều. Tham nhũng còn hơn trước khi mình đi tu nữa.” Bụt hơi ngứa mắt nhưng giảng dạy xong, độ được gia đình rồi, Bụt vượt biên giới đi qua Kosala.

Trong khi Bụt ngồi thiền ở một cụm rừng thì Ma vương xuất hiện. Ma vương nói: “Chỉ có Ngài mới giải quyết được vấn đề của Ca-tỳ-la-vệ. Tại sao Ngài không làm một nhà chính trị đi? Với tuệ giác vĩ đại của Ngài mà trở thành một nhà chính trị thì Ngài có thể giải quyết vấn đề Ca-tỳ-la-vệ một cách dễ dàng“. Ma luôn là như vậy. Nhưng khi Bụt nói: “Thôi đi anh, tôi biết anh quá mà!Tự nhiên Ma không làm gì được. Vậy nên sự thực tập của Bụt là sự thực tập nhận diện Ma. Khi nhận diện được Ma rồi thì Ma chẳng làm gì mình được.

Cái thú tánh của mình cũng vậy. Mình chỉ cần nhận diện nó thôi. Nhất là khi mình sống với tăng thân, mình sử dụng được chánh niệm của tăng thân, biết sử dụng con mắt của tăng, cái tai của tăng và tuệ giác của tăng thì mình dư sức để mỉm cười với thú tính ở trong con người của mình.

Thú tánh không có nghĩa là một cái gì xấu xa. Thiên chức làm vợ, làm chồng, làm mẹ, làm cha, hay làm người yêu không có gì xấu xa và dơ bẩn cả. Nó là chuyện tự nhiên. Nhưng tại vì mình đã phát nguyện đi tu, đã phát nguyện sống cuộc đời độc thân để hoàn thành sự nghiệp giác ngộ thì những cái đó trở thành chướng ngại nếu mình không biết cách nhận diện. Vì vậy tâm bồ đề của mình phải lớn, chí nguyện phải cao xa và ước muốn của mình phải vững chãi, thì nụ cười của mình mới có đủ sức mạnh để thiết lập sự cân bằng trong cơ thể và tâm hồn. Không cần làm gì nhiều, không cần đánh lộn, chỉ cần mỉm cười thôi, như Bụt đã làm mỗi khi cái khoáng tánh, thảo mộc tánh, thú tánh trỗi dậy. “Thôi đi anh, ta có chuyện để làm mà! Ta đâu có làm chuyện đó được, làm chuyện đó hư bột, hư đường hết! Đó là phương pháp của ta.”

Phương pháp hộ trì sáu căn hay nhất là nhìn cho kỹ chí hướng xuất gia, bồ đề tâm của mình. Mình biết rằng mình đã làm một cam kết lớn – đi trên con đường xuất gia, tham gia vào sự nghiệp vĩ đại của Bụt và Bồ tát – thì dầu trong đời sống hằng ngày thỉnh thoảng có vài giây phút chạnh lòng như vậy cũng không sao. Nếu mình có khả năng mỉm cười và nhận diện.

Chìa khóa trong sự thực tập của chúng ta là nhận diện. Phương pháp mầu nhiệm của đạo Bụt là phương pháp nhận diện, chứ không phải là tranh đấu, loại trừ và tiêu diệt. Phương pháp đó là phương pháp mà đức Thế Tôn đã sử dụng. Mỗi khi Ma vương hay những cám dỗ xuất hiện thì Bụt biết phương pháp, Ngài chỉ chế tác năng lượng chánh niệm và với tuệ giác đó, Ngài mỉm cười. Ngài nói: “Ta biết anh quá mà!” Chỉ có như vậy thôi, chỉ cần nhận diện thôi, không có đấm đá.

 

 

Đức Thế Tôn không bao giờ đấm đá với Ma vương hết. Chúng ta cũng phải học phương pháp đó, phải nuôi dưỡng chánh niệm, nuôi dưỡng định và tuệ. Với những năng lượng đó, chúng ta có thể nhận diện. Nếu trong đời sống hàng ngày có những tâm hành phát hiện, lôi mình đi về chốn cũ – thế giới ngày xưa – thì mình chỉ cần nhận diện. Mình nói: “Ta biết rồi, nhưng ta đang muốn làm cái này mà. Nếu mà ta đi theo anh thì hư bột, hư đường của ta hết.” Chỉ cần như vậy thôi là đủ, và nhất là khi mình được bao bọc bởi tăng thân, được tăng thân nâng đỡ, yểm trợ.

Biết dùng con mắt, lỗ tai của tăng thì mình làm chuyện này rất dễ. Một mình thì khó hơn nhiều. Vì vậy đánh mất tăng thân là một tai nạn rất lớn của người xuất gia. Mà có những người trong chúng ta đã vô tình đánh mất tăng thân, tại vì trong quá trình tu học, chúng ta không thực tập nhận diện và để cho những thú tánh, những tâm hành kia chiếm thượng phong. Mình cho nó có mặt, mình chấp nhận nó, sống chung hòa bình với nó, nhưng đừng bao giờ để cho nó chiếm thượng phong. Trong chúng ta có sự đam mê. Tình yêu theo nghĩa của thế gian là một sự đam mê. Mà sức mạnh của đam mê lớn lắm, nó che mờ mắt, nó làm cho mình không thấy được những cái mà thường ngày mình thấy và công nhận.

Một người rất có hiếu với cha và mẹ, có sự tôn kính và niềm tin đối với thầy, với tăng thân, nhưng một khi đã để cho đam mê chiếm thượng phong rồi thì không thấy được tất cả những cái đó. Tuy rằng những cái đó vẫn còn ở trong mỗi tế bào của cơ thể. Cái hiếu đối với cha mẹ, sự tôn kính đối với thầy, bồ đề tâm, tất cả những cái đó chưa mất, còn y nguyên, nhưng nếu đam mê chiếm thượng phong thì con mắt mình mờ đi và mình hành xử như một người con không có hiếu đối với cha mẹ, như một người đệ tử không tôn kính thầy, như là một người sư em, sư anh hay sư chị không có tình nghĩa với tăng thân. Chuyện đó đã xảy ra trong đời sống của tăng thân mình, rất tội nghiệp. Đó là một tai nạn rất lớn.

Khi đam mê phát hiện và chiếm thế thượng phong thì mình đánh mất tăng thân, đánh mất chí nguyện, đánh mất lý tưởng dễ như chơi. Vì vậy mình phải nghĩ rằng mình không muốn tai nạn đó xảy ra cho đời tu của mình. Và trong đời sống hàng ngày mình phải chuẩn bị để đừng bao giờ tai nạn đó có thể xảy ra, để sự đam mê không thể chiếm thượng phong trong đời sống tu học của mình. Hằng ngày mình phải thực tập chánh niệm, phải nương tựa tăng thân, phải biết sử dụng mắt tăng và tuệ giác của tăng thân thì mình mới có thể làm được công việc mà đức Thế Tôn đã làm. Đó là nhận diện, chỉ cần nhận diện.

Chúng ta không nên khinh suất, không nên chỉ nói mình may mắn quá, mình đã có thầy, có tăng thân, có con đường đẹp, trong khi đời sống hàng ngày thì như “lục bình trôi riu ríu”. Mình phải hạ thủ công phu. Tại vì một ngày mai, nếu mình không cảnh giác, để cho đam mê đó phát hiện và chiếm thượng phong rồi thì chỉ trong một giây phút là mình đánh mất thầy, mất tăng thân, mất bồ đề tâm. Mình sẽ lạc loài, sẽ thất thểu trong cuộc đời, ôm chặt niềm cô đơn năm này sang năm khác. Và cơn mê không biết sẽ kéo dài trong bao nhiêu năm. Điều này có thể xảy ra cho bất cứ ai trong tăng thân, nếu chúng ta không thực tập đàng hoàng, nếu chúng ta coi thường chất đam mê trong từng tế bào cơ thể.

Chúng ta phải nhìn thấy rằng giới luật và uy nghi là những biện pháp phòng vệ, bảo hộ mà không phải là những điều giới hạn tự do của chúng ta. Không ai ép buộc chúng ta thực tập giới luật hay uy nghi. Chính chúng ta quỳ xuống tiếp nhận vì biết rằng giới luật và uy nghi có khả năng bảo hộ cho chúng ta. Chúng ta có ý chí muốn hộ trì sáu căn đã đành rồi, nhưng nếu không chấp hành nghiêm chỉnh giới luật và uy nghi thì có thể chúng ta không hộ trì sáu căn của mình được. Vì vậy, thực tập hộ trì sáu căn cũng có nghĩa là thực tập giới luật và uy nghi. Hộ trì sáu căn cũng có nghĩa là nương vào tăng thân: học thấy, học nhìn với con mắt của tăng thân; học nghe bằng lỗ tai của tăng thân. Lỗ tai của tăng thân thính hơn lỗ tai của mình, con mắt của tăng thân sáng hơn con mắt của mình. Có tăng thân thì mình mạnh lên gấp trăm lần, gấp ngàn lần.Vì vậy lời tuyên bố “Con về nương tựa tăng” rất quan trọng. “Con về nương tựa tăng” không phải là một câu hát, một câu tụng mà là một sự thực tập hàng ngày.

Mình biết rằng trong tăng thân có thể còn có những yếu kém. Và tuy tăng thân của chúng ta còn là một phàm tăng nhưng chất thánh đã có ở đó. Mỗi ngày chúng ta đều thực tập để chế tác chất thánh. Thánh phàm lẫn lộn không phải chỉ trong tăng thân mà thôi, mà còn trong từng thành phần của tăng thân. Sự thực tập của chúng ta là để cho chất thánh càng ngày càng sáng, để có thể ôm ấp được chất phàm. Chúng ta không có ý muốn tiêu diệt, hoại diệt chất phàm. Chúng ta chỉ muốn chất thánh đủ vững, đủ mạnh và có thể sử dụng chất phàm để nuôi chất thánh lớn lên. Chúng ta có tuệ giác tương tức, cũng như bông sen cần bùn. Cái mà ta nghĩ cần tiêu diệt chính là cái mà ta cần, đó là chất phàm trong chúng ta. Chính nhờ chất phàm mà ta nhận diện được chất thánh. Và nếu bông sen có khả năng sử dụng bùn để lớn lên thì chúng ta cũng có khả năng sử dụng những chất phàm để lớn lên. Đây là điều thậm thâm vi diệu trong đạo Bụt.

 

 

 

Lời khấn nguyện đầu năm Canh Tý 2020

 

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con.

Thở vào, chúng con ý thức là chư vị đang có mặt trong chúng con. Chư vị chưa bao giờ bỏ chúng con, và chúng con luôn luôn mang chư vị mà đi về tương lai. Chúng con biết rằng trong quá khứ, chúng con đã dại dột gây ra bao nhiêu lầm lỗi. Chúng con đã tạo ra chia rẽ, hận thù, khổ đau, cô đơn và tuyệt vọng. Chúng con đã để cho tập khí chủ nghĩa cá nhân lộng hành và tàn phá. Chúng con đã thấy được rằng danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục đã không đem lại hạnh phúc chân thực cho chúng con. Chúng con đã thấy được rằng chỉ có lòng thương yêu và sự hiểu biết mới đem lại một ý nghĩa cho sự sống và chúng con phải tập sống với nhau như một dòng sông trong tăng thân thì con cháu chúng con mới có được một tương lai sáng đẹp trên trái đất này.

Giờ phút mà chúng con tập họp lại đây trước bàn thờ chư vị, chúng con kính cẩn phát nguyện là bắt đầu từ năm Canh Tý 2020, chúng con sẽ tập sống thật hài hòa và an vui trong phạm vi gia đình và tăng thân của chúng con, như những con ong cùng sống chung trong một tổ ong hay những tế bào của cùng một cơ thể. Chúng con hứa là chúng con sẽ học hỏi thái độ cởi mở để có thể truyền thông được dễ dàng với những thành phần khác trong gia đình và trong tăng thân chúng con, luôn luôn tập hạnh lắng nghe và ái ngữ. Chúng con nguyện tập lắng nghe chư vị, cũng như chúng con sẽ tập lắng nghe anh chị em, bằng hữu và con cháu của chúng con, để chúng con có thể sống hài hòa và hạnh phúc với nhau. Chúng con nguyện sẽ tập thấy hạnh phúc của tăng thân là hạnh phúc của chính mình. Chúng con biết đây là cách thức duy nhất để bảo đảm cho con cháu của chúng con một tương lai trên trái đất.

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho năm mới, chúng con trân trọng và thành kính hứa với chư vị là chúng con sẽ tập thở có chánh niệm, tập đi có chánh niệm, tập nói năng có chánh niệm, tập nhìn bằng con mắt của tăng thân và nghe bằng tai của tăng thân, tập sống đơn giản trở lại, tiêu thụ ít trở lại và tập thương theo tinh thần từ bi và không kỳ thị. Chúng con đã tha thứ được cho nhau, đã hòa giải được với nhau trước khi đến đây trình diện với chư vị trên bàn thờ Tổ tiên của chúng con. Xin chư vị chứng giám lòng thành của chúng con và luôn luôn phù hộ cho chúng con và cho các cháu.

Chúng con nguyện thực tập cho chư vị và cho cả con cháu của chúng con để hòa bình, an lạc và thương yêu có mặt trở lại trên thế gian này. Chúng con kính dâng hương hoa, quả phẩm, lòng hiếu thảo của chúng con, và xin lạy xuống trước chư vị bốn lạy.

Lời khấn nguyện đầu năm 2014

Kính lạy Trời Cha – đức Bụt Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, A Di Đà.
Kính lạy Đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa,
Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con,

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập hợp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên Trời Cha, Đất Mẹ, chư vị tổ tiên lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. Chúng con ý thức rằng Trời Cha, Đất Mẹ và chư vị đang có mặt trong chúng con, là nơi nương tựa vững chãi cho tất cả chúng con.

Kính lạy Trời Cha, đức Đại Nhật Như Lai, Đức Bụt của Vô Lượng Quang Minh, Vô Lượng Thọ Mạng. Mỗi buổi sáng, Cha xuất hiện từ phương Đông như một chiếc đĩa hồng chói lọi, hào quang phóng ra muôn phương rạng rỡ uy hùng. Nhờ ánh sáng của Cha mà vạn vật được sinh sôi nảy nở. Ánh sáng của cha chiếu rọi làm cho đất Mẹ ấm áp, xinh đẹp, giúp đất Mẹ tạo ra sự sống cho chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Mỗi khi chiêm ngưỡng Mẹ, con thấy Cha trong Mẹ. Cha không phải chỉ ở trên trời mà còn ở dưới đất, đang có mặt trong Mẹ và trong con.

Chúng con thường quán chiếu rằng, mỗi chúng con đều có một trái tim trong cơ thể, nếu trái tim đó ngừng đập thì chúng con sẽ chết ngay lập tức. Nhưng khi nhìn lên, chúng con biết Cha mặt trời cũng là một trái tim khác của chúng con, không phải nằm trong cơ thể nhỏ bé này mà nằm trong cơ thể thái dương hệ. Nếu Cha mặt trời biến mất thì sự sống của chúng con và sự sống của đất Mẹ cũng chấm dứt. Cho nên chúng con nguyện quán chiếu để thấy được sự tương giao, tương tức giữa Trời Cha, Đất Mẹ, chúng con và muôn loài.

Kính lạy Đất Mẹ, chúng con ý thức rằng chúng con và tổ tiên của chúng con đều là con của Mẹ. Với đức kiên trì chịu đựng, đức trung hậu vững bền, đức vô úy đại hùng cùng sức sáng tạo không hề mệt mỏi, Mẹ đã đưa chúng con ra đời, chuyên chở và nuôi dưỡng chúng con qua ngàn muôn kiếp. Mẹ còn cho ra đời vô lượng các vị Bụt, Bồ Tát và các bậc Thánh nhân. Mẹ là Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa, là Terra, là Gaia, là hành tinh xanh xinh đẹp và mát lành của chúng con. Chúng con biết rằng dù chúng con và tổ tiên của chúng con đã gây ra bao nhiêu lầm lỗi, chúng con cũng được Mẹ tha thứ. Và mỗi lần chúng con trở về với Mẹ là Mẹ lại đưa vòng tay từ mẫu ra ôm lấy chúng con vào lòng.

Từ muôn kiếp chúng con đã không nhận ra Mẹ chính là Tịnh Độ, là Thiên quốc, là quê hương xinh đẹp và mầu nhiệm nhất của chúng con. Chúng con đã chạy theo danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục mà quên rằng những thứ ấy không bao giờ đem lại hạnh phúc chân thực cho chúng con. Chúng con đã tạo ra biết bao chia rẽ, hận thù, khổ đau, cô đơn và tuyệt vọng vì tâm phân biệt và những tri giác sai lầm.

Lạy Mẹ, trong giờ phút linh thiêng này, chúng con xin buông bỏ tất cả những rong ruổi, tìm cầu để trở về dâng lên Mẹ sự có mặt đích thực của chúng con. Chúng con phải tập sống với nhau như một gia đình, như một tăng thân vì tất cả chúng con đều là con của Mẹ. Chúng con biết rằng xây dựng tình huynh đệ trong giây phút hiện tại là cách duy nhất để bảo đảm cho con cháu chúng con một tương lai sáng đẹp trên trái đất này.

Kính lạy Đất Mẹ, kính lạy Trời Cha cùng chư vị tổ tiên tâm linh và huyết thống, trong giờ phút bước sang Năm Mới 2014, chúng con xin sám hối những lỗi lầm mà chúng con đã gây ra. Chúng con hứa sẽ không trốn chạy khổ đau mà nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa chúng. Chúng con nguyện trở về nương tựa nơi Trời Cha, Đất Mẹ và kính cẩn phát nguyện là chúng con sẽ tập thở cho có chánh niệm, tập đi cho có chánh niệm trong từng giây phút của đời sống hàng ngày. Chúng con sẽ tập sống đơn giản trở lại để có thì giờ xây dựng tình huynh đệ, xây dựng tình thương yêu theo tinh thần từ bi và không kỳ thị như Đất Mẹ và Trời Cha đã làm.

Chúng con nguyện thực tập cho Cha, cho Mẹ và cho tất cả tổ tiên cũng như con cháu của chúng con, để hòa bình, thương yêu và an lạc luôn có mặt trên thế gian này. Chúng con kính dâng lên chư vị hương hoa, quả phẩm cùng lòng hiếu thảo của chúng con. Xin Trời Cha, Đất Mẹ và chư vị tổ tiên tin tưởng ở chúng con.

___________________________________________

Bản Tiếng Anh

New Year Prayer to Mother Earth, Father Sun, and all Our Ancestors in the Year 2014

Dear Beloved Father Sun – Bodhisattva Mahavairocana Tathagata,
Dear Beloved Mother Earth – Bodhisattva Mahagaia,
Dear Beloved Ancestors, both Spiritual and Genetic,

We present ourselves before you at this solemn moment of the New Year to express our gratitude and deep aspiration as a spiritual family.

Dear Father Sun, your infinite light is the nourishing source of all species. You are our Sun, a great Buddha, a great Bodhisattva, our Great Tathagata Sun, our source of limitless light and life. You are not only in the sky but you are also ever-present in Mother Earth and in us. Just as our life depends on our heart, so too does our life depend on you. We bow our heads this evening with gratitude for your radiant non-discrimination and gift of life.

Dear Mother Earth, with your patience, stability, endurance and creativity you have nourished and guided us through many lifetimes. You have given birth to us and to countless, Buddhas, Bodhisattvas and Saints. You, our beautiful blue planet, are the Earth Refreshing Bodhisattva–fragrant, cool, and kind. Yet for many lifetimes we have suffered, and made you suffer, because we have been unable to see you as the Pure Land, as the very Kingdom of God: the most beautiful place in the Heavens. Despite our many mistakes, you have always forgiven us, and are always ready to open your arms and embrace us.

Because of our wrong perceptions and discrimination we have lived a life of separation, hatred, loneliness, violence and despair. We have allowed individualism to prevail, causing great damage and hardship to ourselves and to you, dear Mother Earth. We have run after fame, wealth, power, and sensual pleasures, forgetting that these pursuits can never bring us true happiness. We have become restless and distracted, running away from ourselves, our beloved ones and from you, dear Mother Earth. As a society and as a civilization we know we are going in the wrong direction.

Dear Mother Earth, Dear Father Sun and Dear Ancestors, tonight, on the occasion of the New Year 2014, we give rise to the deep aspiration to begin anew, to go in a new direction and request your forgiveness for all our mistakes. With great respect we make the deep aspiration to live mindfully each moment of our daily life. We promise to stop running away from our suffering, losing ourselves in consumption. We promise to come home to ourselves with compassion, to recognize, embrace and look deeply into our suffering. We promise to take refuge in you, dear Mother Earth, and your capacity to nourish, heal and embrace all that is. We promise to offer our true presence to our beloved ones and not to get too busy, striving for success – even in pursuit of our dreams. We know that we can realize our dreams in every moment, and we vow to live every day of 2014 as a realization of our dream. We know that time is not money. Time is life, and time is love. We promise to live simply, to love one another with non-discrimination, to build true brotherhood and sisterhood and respect our deepest aspiration.

We shall practice for you, Mother Earth, Father Sun, for all our ancestors and future generations so that joy, peace, harmony and love will always be present in this world. Please accept our offerings of incense, flowers, fruit, tea, and love. Respected Father Sun, Respected Mother Earth, Dear Ancestors, please have trust in us.

 

___________________________________________

Prière du nouvel an 2014
offerte à notre mère la Terre, à notre père le Soleil
et à tous nos ancêtres

Cher bien aimé père Soleil – Bodhisattva Mahavairocana Tathagata,
Chère bien aimée mère Terre – Bodhisattva Mahagaia,
Chers bien aimés ancêtres, spirituels et génétiques,

Nous nous présentons devant vous en ce moment solennel du Nouvel An pour vous exprimer notre gratitude et notre profonde aspiration en tant que famille spirituelle.

Cher père Soleil, ta lumière infinie est la source qui nourrie toutes les espèces. Tu es notre Soleil, un grand Bouddha, un grand Bodhisattva, notre Grand Tathagata Soleil, notre source de lumière et de vie infinie. Tu ne résides pas seulement dans le ciel mais tu es aussi sans cesse présent dans la Terre Mère et en nous-mêmes. Tout comme notre vie dépend de l’organe qu’est notre coeur, notre vie dépend aussi de toi. Ce soir, nous inclinons la tête en profonde  reconnaissance pour ta non-discrimination irradiante et le don de vie que tu nous offres.

Chère Terre Mère, avec ta patience, ta stabilité ton endurance et ta créativité tu nous as nourri et guidé sans fatigue à travers de nombreuses vies. Tu nous as donné naissance tout comme  à une infinité de Bouddhas, de Saints, de Saintes et de Bodhisattvas. Toi, notre belle planète bleue, tu es le Bodhisattva de la Terre Rafraîchissante, parfumée, fraîche et bienveillante. Cependant, depuis de nombreuses vies nous avons souffert et t’avons fait souffrir, parce que nous avons été incapables de voir que tu étais la Terre Pure, le véritable Royaume de Dieu, le plus bel endroit du ciel. Malgré le fait que nous ayons commis de nombreuses erreurs tu nous as toujours pardonné. A chaque fois que nous retournons à toi tu es prête à ouvrir tes bras pour nous embrasser.

A cause de notre discrimination et de nos perceptions erronées nous avons vécu notre vie dans la séparation, la haine, la solitude, la souffrance et le désespoir. Nous avons laissé l’individualisme prédominer et ce dernier a causé beaucoup de dommages et de difficultés à toi autant qu’à nous-mêmes, chère Terre Mère. Nous avons couru après la popularité, la richesse, le pouvoir et les plaisirs sensuels, et nous avons oublié que ces objets de désirs ne pourraient jamais nous apporter un bonheur véritable. Nous sommes devenus dispersés et incapables de nous reposer, nous fuyant nous-mêmes  et fuyant nos bien-aimés et toi-même, chère Terre mère. En tant que société et en tant que civilisation, nous savons que nous dirigeons dans une mauvaise direction.

Chère Terre Mère, cher Père Soleil et chers ancêtres, ce soir, en l’occasion du nouvel an 2014 nous générons la profonde aspiration de faire un nouveau départ, de prendre une nouvelle direction et nous vous demandons de nous pardonner pour toutes les erreurs que nous avons commises. Avec profond respect nous générons la profonde aspiration de vivre chaque instant de notre vie en pleine conscience. Nous vous promettons d’arrêter de fuir notre souffrance et de nous perdre dans la consommation. Nous vous promettons de revenir en nous-mêmes, avec compassion  pour reconnaître, embrasser, et regarder profondément dans notre souffrance. Nous vous promettons de prendre refuge en vous, chère Terre Mère et dans votre capacité à nourrir, guérir et à embrasser tout ce qui est. Nous vous promettons d’offrir notre véritable présence à nos bien-aimés et à ne pas être trop affairés et avides de succès, même en poursuivant nos rêves. Nous savons que nous pouvons réaliser nos rêves à chaque moment et nous faisons le voeux de vivre chaque moment de 2014 en réalisant nos rêves. Nous savons que le temps n’est pas l’argent mais que le temps est la vie, que le temps est l’amour. Nous vous promettons de vivre simplement, de nous aimer les uns les autres sans discrimination, de construire la fraternité véritable et de respecter notre plus profonde aspiration.

Chère Terre mère, tu nous as interpellé depuis de nombreuses vies et certains d’entre nous ont été capables d’entendre ta douleur. Tu nous a demandé si tu pouvais compter sur nous, tes enfants, pour nous transformer et nous guérir nous-mêmes avec bienveillance dès ce moment présent.

En cet instant solennel du nouvel an, les mains jointes et le coeur unifié nous vous promettons que vous pouvez compter sur nous.Vous pouvez avoir foi et confiance en nous.

Nous allons pratiquer pour vous, Terre Mère et Père Soleil, ainsi que pour tous nos ancêtres et pour les générations à venir, afin que joie, paix, harmonie et amour soient présent pour toujours dans ce monde.

S’il vous plaît acceptez nos offrandes d’encens, de fleurs, de fruits, de thé et d’amour.

Respecté Père Soleil, respectée Terre Mère et chers ancêtres s’il vous plaît veuillez avoir confiance en nous.

Chương trình đón xuân Canh Tý 2020 tại Làng Mai

“…Chầm chậm xuân về lòng đất chuyển
Nhạc trời thanh thoát rộn muôn phương…” (Trích Giao cảm – Sư Ông Làng Mai)

Trời đất chan hòa, hương xuân đang lan tỏa đi khắp muôn nơi, dòng người nô nức, hân hoan trên những con đường vui chợ hoa ngày Tết. Trước thềm xuân mới, bốn chúng Làng Mai xin kính chúc quý thân hữu một năm mới thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui và bình an trong từng hơi thở, bước chân.

Trong dịp chào đón năm mới Canh Tý, tăng thân Làng Mai có hai câu đối “Địa cầu vừa tỉnh thức, Lòng đất bỗng đơm hoa” làm món quà gởi đến quý thân hữu để quý vị có thể in lên giấy hồng điều và trang trí trong nhà… cùng vui xuân và thực tập với tăng thân.

Sư Ông Làng Mai đã từng dạy trong một lá thư gửi cho các đệ tử rằng: “Đức Thế Tôn cho chúng ta rất nhiều cơ hội. Mỗi chuyến đi là một cơ hội. Mỗi lần được ở nhà là một cơ hội. Mỗi buổi sáng là một cơ hội. Mỗi bước chân là một cơ hội. Mỗi buổi ngồi thiền là một cơ hội. Chúng ta có biết nắm lấy cơ hội hay không, hay cứ để cơ hội tuột khỏi tầm tay mỗi khi chúng đến? Vấn đề là nắm được cơ hội, biết mình có nhiều may mắn, để sau này không hối tiếc là mình đã không biết nắm lấy cơ hội.”

Chính vì thế mà Sư Ông cũng đã mời tất cả chúng ta “nhớ đi những bước đi thật chánh niệm, dẫm lên tịnh độ mà đi. Khi đi thì đừng vội vã, suy nghĩ và nói chuyện. Mỗi bước chân là một sự hiến tặng tuyệt vời. Mỗi hơi thở và mỗi nụ cười cũng như thế.

 

 

Chương trình đón Xuân Canh Tý 2020 tại Làng Mai

Ngày đầu xuân mồng Một, sau lễ đầu năm là phần Bói Kiều đầu Xuân. Bói Kiều là tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Du, ni sư Giác Duyên và đạo cô Tam Hợp về tình trạng hiện tại của mình và để biết tu tập tiếp xử cách nào cho có hạnh phúc và thành công trong năm tới. “Thác là thể phách, còn là tinh anh“, tuy hình hài cụ Tiên Điền không còn, nhưng tinh anh của thi hào vẫn còn mãi mãi trong ta, chung quanh ta và trong sức sống của dân tộc.

Đặc biệt hơn nữa quý vị sẽ được viếng thăm phòng của quý thầy quý sư cô (chỉ được thăm trong ngày Tết thôi!), được tận hưởng những nụ cười, bánh mứt, hạt dưa và những câu chuyện vui đầu Xuân trong không khí ấm áp tình đạo hữu.

Chương trình bình thơ và đón giao thừa tại xóm Mới (nhằm ngày 24/01/2020 dương lịch)
 
15:00 Bình thơ
 
17:30 Lễ Giao Thừa
 
  • Ngồi thiền 10 phút
  • Lễ đón giao thừa
  • Chuông trống Bát Nhã
  • Đọc Lời khấn nguyện đầu năm
  • Ăn tối picnic
  • Văn nghệ

 

 

Mùng một Tết (nhằm ngày 25/01/2020) – xóm Thượng

10:00 Tập họp tại thiền đường Nước Tĩnh

  • Ngồi thiền
  • Đốt pháo, múa lân
  • Quý thầy và quý sư cô lạy nhau đầu năm mới
  • Bói Kiều với quý thầy, quý sư cô
  • Ăn trưa
  • Thăm phòng
  • Ăn chiều
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng

 

 

Mùng hai Tết (nhằm ngày 26/01/2020) – xóm Hạ

10:00 Tập họp tại thiền đường Hội Ngàn Sao để bói Kiều với quý thầy, quý sư cô

  • Ăn trưa
  • Thăm phòng
  • Ăn chiều
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng

 

 

Mùng Ba Tết (nhằm ngày 27/01/2020): Sinh hoạt tại mỗi xóm

Mùng bốn Tết (nhằm ngày 28/01/2020) – xóm Mới

10:00 Tập họp tại thiền đường Trăng Rằm để bói Kiều với quý thầy, quý sư cô

  • Hội chợ ẩm thực đầu Xuân (với các đặc sản như samosa, Korean food, Indonesian food, bánh bao,…)
  • Thăm phòng.
  • Ăn chiều.

 

 

Quý thầy, quý sư cô Làng Mai thương kính chúc quý cô bác, anh chị cùng đại chúng một năm mới an lành và hạnh phúc.

Trân kính,
Quý thầy, quý sư cô Làng Mai

Sư Ông Làng Mai kể chuyện "Sự tích Bánh Chưng"

Hôm nay chúng ta sẽ học gói bánh chưng. Bánh chưng là một món ăn ngày Tết của người Việt Nam. Bánh chưng có một lịch sử rất hay từ đời vua Hùng Vương thứ hai. Có tất cả 18 vua Hùng nối tiếp nhau. Vua Hùng Vương đầu tiên có tới 22 người con trai, một trong 22 người con đó sẽ được làm vua Hùng thứ hai. Vua Hùng Vương thứ hai xuất thân từ một vị hoàng tử nghèo, tuy là con vua nhưng không được ở trong cung điện, vừa mới lớn lên thì mẹ mất. Các con trai của vua Hùng được gọi là Quan Lang. Lâu lâu vua Hùng triệu tập tất cả các Quan Lang lại để dạy bảo phải sống như thế nào để tiếp nối được nét đẹp văn hóa của tổ tiên. Một ngày sắp Tết vua Hùng triệu tập 22 vị Quan Lang lại và nói:

– Tết này mỗi người con trai của ta phải chuẩn bị một món ăn để dâng lên tổ tiên chúng ta. Đến ngày cúng tổ tiên các con phải mang tới phẩm vật mà chính tay các con chuẩn bị để chứng tỏ lòng thành kính của các con đối với tổ tiên. Sau đó chúng ta ngồi xuống như một gia đình để cảm thấy sự có mặt của nhau.

 

 

Ngày Tết là một ngày mà ta có cơ hội tiếp xúc với tổ tiên để dâng lên tổ tiên niềm biết ơn của mình. Nếu cây có gốc rễ, nếu sông có nguồn thì con người cũng có tổ tiên, vì vậy ngày Tết là cơ hội để ta tiếp xúc với tổ tiên của mình. Cách tiếp xúc hay nhất là chúng ta quy tụ lại rồi dâng lên tổ tiên những thức ăn mà mình chuẩn bị bằng tất cả trái tim của mình. Các con mỗi người phải chuẩn bị một món, hôm đó ta sẽ nhìn vào các món để thấy tâm của các con như thế nào. Ta sẽ chọn một người trong số các con để nối tiếp ta làm vua Hùng thứ hai.

Quan Lang này nghe tin đó rất buồn, nghĩ rằng những người anh của mình giàu sang, họ có thể làm ra những món ăn rất cầu kỳ, quý giá. Còn mình nghèo như vậy thì làm sao bày biện ra một món ăn để được chọn lựa? Nghĩ như vậy nên vị Quan Lang này tính bỏ cuộc, không tham dự vào cuộc thi. Nhà nghèo, không đủ chi dụng trong đời sống hàng ngày thì làm gì có thể tranh đua với những anh khác. Nhưng đêm đó, trong một giấc mơ Quan Lang thấy mẹ hiện về nói:

– Con đừng nên có thái độ bỏ cuộc như vậy. Con hãy nhìn lên trời tròn, con hãy nhìn xuống đất vuông. Từ trời đất con có thể tìm ra được món quà con có thể dâng cúng lên tổ tiên. Nếu nhìn kỹ trời tròn đất vuông con sẽ thấy được những tư liệu có thể sử dụng để làm ra một phẩm vật dâng lên tổ tiên để chứng tỏ lòng hiếu thảo của mình. Còn nếu con không làm thì con không có phương tiện để chứng tỏ lòng hiếu thảo và biết ơn của mình.

Tới đó thì vị Quan Lang này tỉnh dậy, đi ra ngoài nhìn lên trời, nhìn xuống đất. Tự nhiên anh ta có ý là mình sẽ làm ra hai thứ bánh để cúng dường lên tổ tiên, một thứ bánh hình tròn làm bằng gạo nếp và một thứ bánh hình vuông làm bằng gạo nếp và đậu xanh. Điều hay là những vật liệu được sử dụng rất là dễ tìm. Không chỉ người giàu mới tìm ra vật liệu cần thiết mà tất cả người dân, dù nghèo cách mấy cũng có thể tự cung cấp cho mình, tức là gạo nếp và đậu xanh.

Bánh hình tròn tượng trưng cho trời gọi là bánh dày. Bánh hình vuông tượng trưng cho đất gọi là bánh chưng. Anh chàng đã có ý kiến và có khả năng làm ra bánh đó. Một bên thì nấu xôi, giã ra và nắn thành một mảnh hình tròn tượng trưng cho trời. Một bên thì ngâm nếp cho mềm, nấu đậu cho nhuyễn, cuốn đậu vào nếp và gói thành bánh hình vuông tượng trưng cho đất. Dâng cúng tổ tiên hai thứ bánh như vậy là dâng cúng trí tuệ của mình và không phải chỉ có người giàu mới dâng cúng được mà tất cả người dân đều có thể tỏ bày lòng thành kính của mình đối với tổ tiên. Hai phẩm vật đó có ý nghĩa rất hay: một là nó tượng trưng cho trời đất, hai là tượng trưng cho khả năng có thể tỏ lộ lòng hiếu kính đối với tổ tiên của tất cả mọi người.

 

 

Ngày hôm đó anh ta đã thực hiện được hai thứ bánh đó. Ban đêm anh nằm mơ thấy mẹ cười thật tươi nói:

– Con đã làm đúng!

Đến ngày Tết anh ta mang bánh chưng và bánh dày tới mà không có mặc cảm vì anh ta biết rằng mình có tuệ giác, mình có phương tiện của mình. Tuy mình không mặc áo đẹp, tuy mình không giàu sang nhưng mình có tâm và trí tuệ của mình.

Sau khi đi thăm qua tất cả các món sơn hào hải vị của các Quan Lang và tới chỗ bánh chưng bánh dày thì vua Hùng thứ nhất rất ấn tượng khi thấy bánh hình tròn và bánh hình vuông. Vua hỏi vị nào đã làm hai thứ bánh đó. Vị Quan Lang này tới trình bày cho vua biết mình làm bánh hình tròn tượng trưng cho trời, bánh hình vuông tượng trưng cho đất bằng những vật liệu rất đơn giản vì muốn dân chúng trong nước ai cũng có thể tỏ lộ được lòng biết ơn đối với tổ tiên. Vua Hùng nghe rất đắc ý, rất cảm động nhưng vua không nói ra. Một tháng sau lễ Tết vua tuyên bố người thừa kế ngôi vua là vị Quan Lang nghèo – tác giả của hai thứ bánh dày và bánh chưng. Từ đó về sau vua ra lệnh mỗi ngày 23 tháng chạp thì các Quan Lang phải tụ hợp lại như một gia đình và tập làm bánh dày và bánh chưng.

Bánh của mình được làm bằng gạo nếp và đậu xanh. Bánh được gói trong lá chuối hoàn toàn organic. Theo tục lệ thì phải luộc 10 giờ đồng hồ bánh mới chín. Thường thì người ta luộc vào đêm giao thừa, tức là đêm ta thức suốt cho tới khi năm mới đến. Tất cả mọi người đều quây quần chung quanh bếp lửa, ca hát, trao đổi và chuyện trò với nhau để xây dựng tình huynh đệ, để có cảm tưởng mình cùng là một gia đình. Đó là cách thức ăn Tết của người Á đông: gói bánh chung, nấu bánh chung, thức đêm quanh nồi bánh chưng đang sôi và luôn đưa củi vào cho tới khi bánh chín. Khi bánh chín vớt ra thì cái đầu tiên phải được dâng lên bàn thờ tổ tiên, và tất cả mọi người đều lạy xuống để tỏ bày lòng thành kính của mình đối với tổ tiên. Đó là cách ăn Tết của người Việt Nam còn giữ lại mấy ngàn năm. Và hôm nay chúng ta ăn Tết như vậy cho vui.