09. Thành Bồ Đề

.ІX.

 

Thành Bồ Đề
Thành tựu quả bồ đề

_________________

Thành Bồ Đề
Bồ đề, thử vân đạo dã, giác dã. Vị kiến sư tử chi thời, tức kiến nhất thiết hữu vi chi pháp, cánh bất đãi hoại, bổn lai tịch diệt. Ly chư thủ xả tức ư thử lộ, lưu nhập tát bà nhã hải, cố danh vi đạo. Tức liễu, vô thỉ dĩ lai sở hữu điên đảo, nguyên vô hữu thật, danh chi vi giác. Cứu cánh nhất thiết chủng trí, danh thành bồ đề.

Thành tựu quả bồ đề
Bồ đề, tiếng Hán là đạo hay là giác. Khi thấy sư tử là thấy các pháp hữu vi, dù cho chưa đến lúc tàn hoại các pháp ấy vẫn nguyên là tịch diệt. Do không vướng vào nắm bắt hay ruồng bỏ, do nương vào lối ấy chảy vào được biển tát bà nhã, đó gọi là đạo (tát bà nhã: sarvajñāna, nhất thiết trí). Ta thấy được rằng từ vô thỉ đến nay, tất cả các nhận thức điên đảo đều nguyên không có thật thể, gọi là giác. Cái cứu cánh đầy đủ mọi thứ trí tuệ ấy được gọi là bồ đề.

 

 

Bồ đề (Bodhi), tiếng Hán là đạo, là giác, thật ra là giác thì đúng hơn. Nhưng chữ đạo trong văn học trung quốc có ý vị của bản thể học, của giác ngộ. Có khi người ta nói là thành đạo. Đạo trước hết là con đường, nếu dịch chữ thì đạo (mārga) là con đường. Nhưng trong văn học trung quốc đạo không có nghĩa là con đường nữa mà là cái đích, là chỗ tới. Thành đạo là giác ngộ. Chữ bodhi dịch là giác thì đúng rồi mà dịch là đạo cũng đúng. Đạo ở đây là chỗ tới, là giác ngộ.

Vị kiến sư tử thời tức kiến nhất thiết hữu vi chi pháp, cánh bất đãi hoại, bổn lai tịch diệt. Chữ tịch diệt có nghĩa là Niết Bàn, là vô vi, là bản thể. Tịch diệt là sự vắng lặng của ngôn thuyết, của ý niệm (the burning away, the extinction). Đây là sự dập tắt của tất cả ngôn ngữ, của tất cả ý niệm. Nhìn vào con sư tử chúng ta phải thấy tính cách tịch diệt của nó tức là phải thấy con sư tử như là một thực tại không sinh không diệt, không tới không đi, không có không không, không một không nhiều. Tịch diệt là Niết Bàn. Con sư tử không cần nhập Niết Bàn. Trong giờ này đây, nó đang là Niết Bàn, nó đang ở trong Niết Bàn rồi.

Đám mây cũng vậy, đám mây giống như thuộc về thế giới hiện tượng, có sinh có diệt, có tới có đi. Nhưng nhìn cho kỹ thì đám mây đó đang an trú trong Niết Bàn tại vì bản chất của nó là không sinh không diệt, không tới không đi. Chúng sanh cũng vậy, mình thấy chúng sanh có sinh có diệt, có tới có đi, có còn có mất nhưng nhìn cho kỹ thì thấy bản chất của tất cả chúng sanh là không sinh không diệt, không tới không đi, không còn không mất. Không phải đợi cho chúng sanh chết đi, đợi cho đám mây mất đi rồi mới có không sinh không diệt mà nó đã không sinh không diệt ngay trong giờ phút này.

Cánh bất đãi hoại có nghĩa là không cần phải đợi cho cái đó mất đi, tiêu diệt hay hủy hoại. Không phải là khi đám mây không còn nữa thì nó mới tịch diệt. Khi đám mây còn sờ sờ trước mặt mình thì nó đã tịch diệt rồi.

Chữ nhập Niết Bàn có thể đưa tới sự hiểu lầm là Niết Bàn ở ngoài ta, ta chưa ở trong Niết Bàn. Nhưng sự thật thì tất cả các pháp đều an trú trong Niết Bàn. Niết Bàn tức là tịch diệt, là bản chất không sinh không diệt, không tới không đi, không còn không mất. Cái đó ta đang có chứ không phải ta đang đi tìm. Ta đi tìm Niết Bàn, đi tìm tịch diệt thì giống như đợt sóng kia đi tìm nước. Ngay trong giây phút hiện tại sóng đã là nước rồi, nó không cần phải tìm nước nữa. Niết Bàn, tịch diệt, đạo, giác ngộ cũng vậy, nó có sẵn rồi. Ta ở trong Niết Bàn, ở trong tịch diệt rồi. Chúng ta tưởng tượng có bồ đề, có đạo, có sự tịch diệt ở đâu đó và ta đi tìm nó, đó là một sự sai lầm rất lớn. Chúng ta đang an trú trong Niết Bàn.

Cánh bất đãi hoại là không đợi tới sự tan rã rồi mới tịch diệt, mình tịch diệt ngay trong giờ phút này. Tịch diệt đây không có nghĩa là chết đi. Tịch diệt ở đây là vượt thoát có-không, còn-mất gọi là đương thế tiện thị. Đương thế tiện thị là ngay trong lúc bây giờ mình đã là cái đó rồi (you are already what you want to become). Cái đó đưa tới giáo lý vô đắc.

Khi thấy sư tử là thấy các pháp hữu vi, dù cho chưa đến lúc tàn hoại các pháp ấy vẫn nguyên là tịch diệt. Do không vướng vào nắm bắt hay ruồng bỏ, do nương vào lối ấy chảy vào được biển tát bà nhã. Đây là phương tiện quyền xảo để đưa ta vào sự chứng ngộ. Tát bà nhã, tiếng Phạn là sarvajñāna, dịch là nhất thiết trí, là đi tìm cái vô vi, cái tịch diệt, cái bất sinh bất diệt trong cái có sinh có diệt. Bề ngoài nó trông như có sinh có diệt nhưng tiếp xúc cho kỹ thì thấy tự tánh của nó là bất sinh bất diệt. Chúng ta hay dùng đám mây, dùng tờ giấy hay dùng ngọn lửa và chứng minh rằng bản chất của đám mây, của tờ giấy hay của ngọn lửa là không tới không đi, không sinh không diệt, không có cũng không không. Nó không sinh không diệt, không đi không tới, không có không không ngay bây giờ chứ không phải đợi sau này mới có. Cho nên nói, tôi sẽ nhập Niết Bàn sau khi thân tôi tàn hoại, thì tức cười lắm!

Do không vướng vào nắm bắt hay ruồng bỏ. Chữ nắm bắt hay ruồng bỏ rất quan trọng. Ta ruồng bỏ thế giới sinh diệt để chạy theo nắm bắt thế giới không sinh không diệt. Ngay chuyện đó ta đã kẹt rồi.. Ta ruồng bỏ sư tử để đi tìm vàng là như vậy. Khi thấy được đương thế tiện thị (đương thế là ngay trong tình trạng này), bây giờ ta đang an lạc rồi, ta đã là cái đó rồi, đừng tìm đâu xa nữa thì ta không có thái độ hoặc ruồng bỏ, chạy trốn hoặc đi tìm bắt. Khi buông bỏ được hai thái độ ruồng bỏ và tìm bắt rồi thì mình có cơ duyên đi vào nhất thiết trí (tát bà nhã).

Ta thấy được rằng từ vô thỉ đến nay, tất cả các nhận thức điên đảo đều nguyên không có thật thể, gọi là giác. Nhận thức điên đảo là những cái thấy lộn ngược (upside down), trút đầu xuống đất. Tất cả nhận thức điên đảo như có-không hay còn-mất, những cái đưa tới thái độ ruồng bỏ hay nắm bắt, những cái làm cho mình buồn, mình lo, mình đam mê…, những cái đó không có thực thể. Thấy được điều đó gọi là giác. Giác tức là bồ đề, là cứu cánh của mọi thứ trí tuệ.

08. Quát lục tướng

.VІІІ.

 

Quát lục tướng
Ôm lấy sáu tướng

________________

 

Quát lục tướng
Sư tử thị tổng tướng. Ngũ căn sai biệt thị biệt tướng. Cộng tùng nhất duyên khởi thị đồng tướng. Nhãn nhĩ đẳng bất tương lạm, thị dị tướng. Chư căn hợp hội, hữu sư tử thị thành tướng. Chư căn các trú tự vị, thị hoại tướng.

Ôm lấy sáu tướng
Sư tử là tổng tướng (tướng tổng quát). Năm giác quan khác nhau là biệt tướng. Đều do duyên sinh khởi là đồng tướng. Các giác quan như mắt, mũi v.v.. không xâm lẫn (lạm) nhau là dị tướng. Các giác quan tới với nhau, làm nên tướng sư tử, gọi là thành tướng. Mỗi giác quan vẫn ở vị trí của mình gọi là hoại tướng.

 

 

Sáu tướng là một giáo lý rất đặc biệt trong tông Hoa Nghiêm. Ví dụ, sư tử là tổng tướng. Tổng tướng là tướng chung (universal). Năm căn của sư tử (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tượng trưng cho biệt tướng. Biệt tướng là tướng riêng (particular). Tổng tướng do biệt tướng làm ra. Biệt tướng hợp lại thành tổng tướng. Như tăng thân Làng Mai là một tổng tướng. Mỗi thầy, mỗi sư cô, mỗi sư chú, mỗi vị cư sĩ là một biệt tướng. Nhìn cách hành xử của các thầy, các sư cô trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, người ta thấy tổng tướng và nhìn trong tổng tướng thì thấy các biệt tướng.

Cũng như cái nhà là một tổng tướng. Từng viên gạch, từng tấm ván là những biệt tướng. Sự tới với nhau của những biệt tướng làm ra tổng tướng. Ta đi tìm tổng tướng ngoài các biệt tướng thì chắc không tìm ra được.

Tuy là từng viên gạch khác nhau, từng tấm ván khác nhau nhưng có một cái gì đó làm cho những cái khác nhau đến với nhau để làm thành một cái tổng quát. Trong cái đồng có cái dị và trong cái dị có cái đồng. Từng viên gạch, từng tấm ván là những cái khác nhau. Nhưng khi những cái khác nhau tới với nhau hòa hợp lại với nhau và làm thành một cái gọi là đồng tướng (sameness). Tất cả đều là nhà, nhìn vào viên gạch nào cũng thấy nhà mà nhìn vào tấm ván nào cũng thấy nhà. Tất cả những cái trong nhà, những chi tiết, những yếu tố, những mảnh nhỏ đều là nhà, không có cái nào không là nhà. Cái nào cũng có đồng tướng tại vì nó là một phần của nhà, nó là nhà.

Cũng như trong tăng thân, chúng ta là tăng thân. Ta tên là Pháp này hay Nghiêm kia, nhưng ta đều là tăng thân. Ta có tướng riêng của ta mà cũng có tướng đồng của tăng thân. Dị tướng có thể dịch là differentness, chữ này mới đặt ra (otherness cũng được). Có sameness thì cũng có thể có differentness được.

Tuy cùng chung tướng nhà nhưng các vật liệu trong nhà vẫn còn là nó, nó vẫn có quyền được là nó. Viên gạch vẫn còn là viên gạch. Pháp này vẫn còn được là Pháp này, Nghiêm kia vẫn còn được là Nghiêm kia, chứ ta không mất đi tướng riêng của mình. Trong khi đó ta cũng có tướng chung của tăng thân. Đó là đồng tướng và dị tướng. Tuy ta đi với nhau để làm thành tướng chung nhưng ta không mất dị tướng của mình. Ta vẫn giữ cái dị tướng của mình.

Cũng như các tế bào trong cơ thể của ta, có tế bào ruột, tế bào gan, tế bào máu, phổi, óc. Nó làm thành toàn thể một con người, một cơ thể (organism). Nhưng mỗi tế bào vẫn còn là nó, tế bào gan vẫn là tế bào gan, tế bào óc vẫn là tế bào óc, nó không đánh mất cái bản sắc riêng biệt của nó, tức là biệt tướng hay dị tướng của nó.

Năm giác quan tới với nhau để làm thành tướng sư tử. Cũng như mặt trời, đám mây, cơn mưa, hạt giống tới với nhau để làm ra một bông hoa rất đẹp. Khả năng tới với nhau được để làm ra hiện tượng sư tử hay bông hoa mầu nhiệm đó, gọi là thành tướng (integration). Thành tướng là khả năng tới với nhau để làm thành một. Bây giờ chúng ta có chữ hộ nhập (integrate). Có người muốn tới với tăng thân, muốn làm một với tăng thân nhưng có khó khăn, họ hộ nhập vô tăng thân hơi khó. Họ phải tu tập để có khả năng hộ nhập vào tăng thân, để có hòa bình, an lạc với tăng thân. Hộ nhập là một sự thực tập. Đó là tướng thành.

Mai kia nó sẽ đi tới tướng hoại, nghĩa là tan rã. Khi tan rã thì nó trở về với bản chất của nó, gọi là hoại tướng (disintegration). Chúng ta đừng nghĩ hoại tướng là tiêu cực. Không đâu! Nhiều khi rã ra để làm lại cái mới cho đẹp hơn. Nếu cần thì tháo ra, tháo ra rồi lắp lại thì đẹp hơn. Cái gì cũng có vị trí của nó !

Tổng tướng, đồng tướng, thành tướng không phải chỉ là tích cực; biệt tướng, dị tướng, hoại tướng, không chỉ là tiêu cực, nó cũng là tích cực. Cái hoại rất là cần thiết để đưa tới cái thành. Hoại để mà thành. Nếu không có hoại làm sao có thành?

Khi nhìn vào bất cứ một hiện tượng nào trên thế gian như một con người, một bông hoa, một tờ lá, một đám mây, chúng ta phải thấy được sáu tướng. Nếu thấy được thì tuệ giác đó sẽ phá tan những cái kẹt, những cái khổ, cái vô minh của chúng ta. Nhìn trong một tướng thì thấy được năm tướng kia. Sáu tướng có tính cách viên dung.

07. Lặc thập huyền

.VІІ.

 

Lặc thập huyền
Nắm vững được mười huyền

_________________________

 

Học xong Mười huyền rồi ta trở về Năm giáo rất dễ. Trong Lâm Tế Lục, tổ có nói mình đi quá làm mòn hết giày dép, sau này phải trả tiền giày dép. Mình đi tìm lao đao, lận đận hết chỗ này đến chỗ khác.

Huyền là cái mầu nhiệm. Mười cánh cửa mầu nhiệm gọi là Thập huyền môn (the ten mysterious gates). Chữ huyền và chữ môn có gốc gác trong Lão giáo (Taoism). Trong Lão giáo có câu: Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn. Có nghĩa là: Đã huyền lại còn huyền thêm nữa, đó là cánh cửa mở ra tất cả sự mầu nhiệm. Thầy Pháp Tạng đã dùng chữ huyền trong Đạo Đức Kinh (Daode Jing).

Đồng thời cụ túc tương ứng môn
Nhất, kim dữ sư tử đồng thời thành lập, viên mãn cụ túc, danh đồng thời cụ túc tương ứng môn.

Cánh cửa thứ nhất: Đồng thời cụ túc tương ứng môn
Vàng và sư tử đồng thời thành lập. Cả hai đều tròn đầy và không thiếu thốn. Cái này gọi là đồng thời cụ túc tương ứng môn.

 

Đồng thời có nghĩa là cùng một lúc (simultaneous). Cụ túc là đầy đủ, không thiếu một cái nào hết. Tương ứng là đáp ứng với nhau, một gọi ngàn thưa. Trong một chúng giỏi thì có “một gọi ngàn thưa”, có sự hưởng ứng nhau.

Khi nói đến sư tử vàng thì chúng ta phân biệt hai cái, sư tử và vàng. Nếu không có sư tử thì làm sao gọi là sư tử vàng? Nếu không có vàng thì cũng không thể gọi là sư tử vàng. Vì vậy khi nói sư tử vàng là vừa có vàng vừa có sư tử. Nhưng cái nào có trước, cái nào có sau? Thường thường thì chúng ta bị kẹt vào ví dụ là có vàng trước rồi mới làm ra sư tử sau. Cái dở của ví dụ này là ở chỗ đó. Nhưng chúng ta phải vượt thời gian, chúng ta nói trong giây phút hiện tại là có con sư tử vàng. Sư tử dựa vào vàng mà có và vàng dựa vào sư tử mà có. Không có sư tử thì không có vàng, không có vàng thì không có sư tử.

Cây viết này, nếu để đứng thì chúng ta thấy có trên, có dưới và trên dưới đồng thời thành lập, không phải trên có trước rồi dưới có sau. Nếu để cây viết ngang lại, chúng ta thấy có trái, có phải. Trái với phải đồng thời thành lập với nhau, không phải trái có trước rồi phải có sau. Đồng thời là như vậy. Trong kinh có một hình ảnh hồi xưa Đức Thế Tôn hay dùng, đó là hình ảnh giao lô. Giao lô là những cây sậy dựa vào nhau. Lô là cây sậy.

Đức Thế Tôn thấy ba cây sậy chụm lại thì đứng vững không ngã xuống được. Nếu lấy đi một cây thì hai cây kia rớt xuống. Lấy đi bất cứ cây nào trong ba cây thì hai cây còn lại sẽ rớt xuống. Sự đứng vững của cây này tạo thành sự đứng vững của hai cây kia. Chúng ta không thể nói cây này đứng vững được rồi thì mới tới cây kia. Không có sự vững chãi của cọng lau này trước rồi mới có sự vững chãi của cọng lau kia sau. Sự vững chãi của mấy cây lau xảy ra đồng thời.

Cũng giống như một tam giác ABC. Khi vạch một đường thẳng từ A xuống H chúng ta có hai tam giác nhỏ T và S. Không thể nói tam giác S có trước rồi tam giác T có sau hay T có trước rồi S có sau. Hai tam giác T và S đồng thời câu khởi và có mặt cùng một lúc gọi là đồng thời cụ túc tương ứng. Tương ứng là hưởng ứng với nhau cùng có một lúc.

(hinh)

Nhân quả trong đạo Bụt dùng để quán chiếu tâm chứ không phải để quán chiếu vật. Vật có là do tâm. Hiện bây giờ khoa học lượng tử đã bắt đầu thấy được, nhìn trong điện tử thì thấy tâm rất nhiều. Lượng tử, điện tử trước hết là đối tượng của tâm ý. Đi đâu cũng tìm thấy tâm.

Trong khóa tu neuro-science năm ngoái, tôi có đọc một đoạn trong Winnie-the-Pooh. Sáng hôm đó Pooh mời Piglet đi chơi trên tuyết mới rơi. Đi một vòng thì Pooh thấy dấu chân của ai trên tuyết. “Nguy hiểm quá! Có con thú nào rất nguy hiểm, mình phải cẩn thận lắm!” và nó theo dấu chân đi tìm. Đi một hồi thì nó thấy dấu chân hai con, hai con vật nguy hiểm. Nó hốt hoảng lên! Rốt cuộc thì Christopher Robin nói:“Chà! Mày tức cười lắm! Đó là dấu chân của chính mày. Mày đi một vòng tới thấy dấu chân của mày, mày tưởng có một con vật nào. Đó là dấu chân của mày đó!”

Khi nghiên cứu một đối tượng, chúng ta tưởng đối tượng đó là một cái gì ở ngoài ta nhưng kỳ thật nó là tạo tác của tâm ý ta. Nó chính là dấu chân của chúng ta. Thực tại mà ta đang nghiên cứu như bộ óc của ta, như điện tử, quang tử hay lượng tử đều không phải là thực tại khách quan độc lập khỏi tâm ý. Trước hết nó là một tạo tác của tâm ý. Vết chân Pooh thấy không phải là vết chân của con thú nào khác mà chính là vết chân của nó, của Pooh bear, con gấu con.

Chúng ta biết đạo Bụt là một loại khoa học, nhưng thay vì tìm xét thiên nhiên mà ta cho là có ở ngoài thì ta xét cái tâm của ta trước. Tâm là gốc của tất cả mọi hiện tượng. Phương pháp của Phật học là sử dụng tâm để quán chiếu. Tâm là công cụ để quán chiếu. Các nhà khoa học có dụng cụ để quán sát và họ nương vào dụng cụ rất nhiều. Họ cũng nương vào tâm nhưng họ tin vào dụng cụ nhiều hơn.

Trong đạo Bụt, người thiền quán sử dụng tâm của mình. Khi tâm không có chướng ngại do phiền não và sở tri thì nó sáng chói và thấy rõ hơn. Các nhà khoa học tuy có máy móc tinh xảo nhưng nếu tâm của họ vẫn còn phiền não chướng và sở tri chướng thì họ cũng vẫn kẹt. Cái kẹt nhất trong khoa học, đạo Bụt gọi là nhị kiến. Nhị kiến hay nhị thủ (double grasping) là cái kẹt cho là có một nhận thức chủ quan và một thực tại khách quan và hai cái đó không có dính líu gì với nhau hết. Câu hỏi mà các nhà khoa học đưa ra là: Cái mà ta nhận thức có phải là một thực tại ở ngoài không? Vì vậy họ vẫn còn có ý niệm lưỡng nguyên giữa chủ thể và đối tượng. Chủ thể quan sát và đối tượng được quan sát là hai cái riêng biệt. Đạo Bụt nói cái thấy đó là nhị thủ (double grasping). Sự quán chiếu của đạo Bụt cho thấy rằng, đối tượng mà ta nghĩ có ngoài nhận thức chẳng qua chỉ là nhận thức thôi. Đó là cái mà khoa học bắt đầu hé thấy được.

Quán chiếu đây không phải là quán chiếu đối tượng bên ngoài mà là quán chiếu tâm. Đối tượng nhận thức và chủ thể nhận thức đồng thời nương vào nhau mà làm thành nhận thức. Không phải là đối tượng có trước hay chủ thể có trước, hoặc chủ thể đi tìm đối tượng, hoặc đối tượng đi tìm chủ thể. Không có hai cái riêng biệt nhau rồi xáp lại với nhau mà cả hai đồng thời câu khởi và có đầy đủ tất cả. Đó gọi là đồng thời cụ túc tương ứng.

Kim dữ sư tử đồng thời thành lập viên mãn cụ túc. Đồng thời thành lập viên mãn cụ túc nghĩa là đồng thời không thiếu gì hết, tất cả đều có mặt. Tiếng Anh có nghĩa là: The simultaneous arising of all things together. All things together là cụ túc, simultaneous là đồng thời, arising là tương ứng sinh khởi. Chúng ta có thể dịch là: Allthing simultaneously arise and respond to each other. Tương ứng là responding to each other.

Ở Indonésie có rất nhiều đom đóm. Khi trời bắt đầu chạng vạng thì có vài con đom đóm bay đến đậu trên cây và chớp chớp. Tới một lúc nào đó tự nhiên chúng cùng chớp một lần. Rồi toàn thể hàng triệu con cùng chớp một lần, đồng thời tương ứng. Người ta rất lấy làm ngạc nhiên. Nó đi theo một nhịp điệu rất tuyệt hảo. Trong khoa sinh vật học cũng có những khám phá như vậy.

Có những tế bào gọi là pace-making, có trách vụ tạo ra nhịp đập chung. Trong trái tim hay trong óc có những tế bào như thế, gọi là pace-making cells. Khi có sự cần thiết, có nhu yếu, thì tự nhiên có một tế bào bắt đầu lãnh đạo rồi các tế bào khác đáp ứng lại và tạo ra nhịp đập của tim rất là đều. Chính các tế bào đó quyết định nhịp đập của tim, nhịp đập đáp ứng được yêu cầu của cơ thể. Trong não bộ hay trong tim cũng vậy, nó đồng thời tương ứng. Tiếng Việt gọi là đồng bộ, có nghĩa là tất cả cùng làm với nhau một lần. Tiếng Anh là synchronisation.

Nếu trong chúng của mình có chánh niệm, ý thức được những gì đang xảy ra thì chúng ta cũng làm được như những con đom đóm, rất là nhịp nhàng, không ai bỏ ai, tất cả đi vào đồng bộ và trở nên một cái gì rất đẹp, rất hùng tráng.

Ánh sáng laser cũng vậy, rất đồng bộ. Khi những nguyên tử bị kích thích thì nhả ra quang tử (photons). Những quang tử đồng thời câu khởi, đồng thời cụ túc tương ứng. Nó đi vào phase và hàng triệu quang tử hành xử như một quang tử. Trong kinh gọi là dị khẩu đồng âm.

Khi bồ tát Kim Cang Tạng giảng xong kinh Hoa Nghiêm thì tất cả hằng hà sa số các vị Bụt trên thế giới đều đưa cánh tay ra xoa đầu khen ngợi bồ tát mà không có cánh tay nào chạm vào cánh tay nào hết.

Khi bước đi một bước vững chãi thì chúng ta thấy có hàng triệu tổ tiên trong quá khứ cùng bước đi với mình mà không bước chân nào vướng vào bước chân nào hết. Đồng bộ tức là khi ta bước thì tất cả tổ tiên cùng bước. Giáo lý Hoa Nghiêm không phải là lý thuyết. Tất cả tổ tiên đang có mặt ở trong ta. Khi ta bước một bước thì tất cả tổ tiên cùng bước, ta có vững chãi thì tổ tiên ta vững chãi, ta có thảnh thơi thì tổ tiên ta thảnh thơi.

Hồi sáng ta ngồi thiền, ta đã về thì ba trong ta cũng đã về. Cho nên chúng ta thực tập cho tất cả. Tất cả đều đồng bộ, đều đồng thời cụ túc tương ứng. Đó là cái thấy rất sâu sắc của duyên khởi. All things simultaneously arise and respond to each other (đi vào pha). Khi một chúng tăng mà hành xử được như vậy thì sự hòa hợp rất là lớn.

Cũng giống như những quang tử trong tia laser. Tia laser mạnh lắm, nó có khả năng khoét thủng sắt và chì tại vì nó đồng bộ, nó cùng vào một pha. Muôn ngàn quang tử mà hành xử như một quang tử, muôn người hành xử như một người. Khi mà trong chúng mọi người nhất tâm cùng làm giống như nhau thì năng lượng rất lớn. Năng lượng đó chuyển hoá được mọi người trong chúng. Mọi người đều thở chung, đi thiền hành chung, đồng thời cụ túc tương ứng tạo ra một sức mạnh rất lớn. Còn đứng trên phương diện cá nhân mà làm thì dù chúng ta có tài ba cách mấy cũng không làm được.

Các nhà khoa học quan sát thấy những hiện tượng đó có thật trong sự sống như là hàng triệu con đôm đốm cùng chớp một lần, hàng triệu tế bào cùng đập chung một nhịp, nó đi vào pha. Tia laser cũng vậy, sở dĩ tia laser mạnh như vậy là vì nó có tính cách đồng bộ (synchronisation). Tất cả hành xử như một, rất là hay!

 

Chư tạng thuần tạp cụ đức môn
Nhị, nhược sư tử nhãn thâu sư tử tận, tắc nhất thiết thuần thị nhãn. Nhược nhĩ thâu sư tử tận, tắc nhất thiết thuần thị nhĩ. Chư căn đồng thời tương thâu, tất giai cụ túc. Tắc nhất nhất giai tạp, nhất nhất giai thuần, vi viên mãn tạng, danh Chư Tạng Thuần Tạp Cụ Đức Môn.

Cánh cửa thứ hai: Chư tạng thuần tạp cụ đức môn
Nếu mắt của sư tử thu nhiếp toàn thân của sư tử thì toàn thân sư tử trở thành mắt của sư tử. Nếu tai sư tử thu nhiếp toàn thân sư tử thì toàn thân sư tử trở thành tai sư tử. Nếu các căn sư tử đồng thời thu nhiếp được nhau (toàn thân của sư tử) thì căn nào cũng có đầy đủ trong tự thân, và vì vậy cái nào cũng là chung (tạp) và là riêng (thuần) cùng một lượt, và cái nào cũng trở thành một kho tàng viên mãn. Cái này gọi là chư tạng thuần tạp cụ đức môn
.

Thuần là cái tự thân, cái riêng, tạp là cái hòa đồng, cái chung. Tạng là những nhóm (store), những mô (tissue).

Tất cả các nhóm hiện hữu có đầy đủ tất cả các tính thuần và tạp của nó cùng một lúc. Như thiền đường này chẳng hạn, chúng ta nhìn thiền đường như một tổng thể. Nhưng nhìn kỹ thì thấy tổng thể này được làm bằng những yếu tố riêng biệt như tấm ván, viên ngói, v.v.. Có cái tổng và có cái biệt. Khi nhìn viên gạch như là viên gạch thì ta thấy tính chất thuần, tự thân riêng tư của nó. Nhìn kỹ, ta thấy viên gạch đi vào trong cái nhà một cách vô ngại và nó thành cái nhà. Viên gạch kia vừa là cái nhà vừa là viên gạch. Viên gạch không thể có ngoài cái nhà, cái nhà không thể có ngoài viên gạch. Trong thuần có tạp và trong tạp có thuần, có riêng và có chung.

Chúng ta thấy được cái nhà trong viên gạch và viên gạch trong cái nhà. Trong cái nhà này, viên gạch không chỉ là viên gạch nữa, nó tuy là viên gạch nhưng cũng đã thành cái nhà rồi. Giữa cái nhà và viên gạch có sự liên hệ rất mật thiết, lấy nhà ra thì không có viên gạch, lấy viên gạch ra thì không có cái nhà.

Con sư tử có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sư tử có tai và tai sư tử thu nhiếp tất cả toàn thân sư tử, tại vì tai này là tai sư tử chứ không phải tai của ai khác. Tai sư tử thu nhiếp toàn thân sư tử. Nó không phải là tai bò hay tai người, nó là tai sư tử. Đã là tai sư tử rồi thì nó thu nhiếp toàn thân sư tử. Cái một chứa cái tất cả. Nếu tai sư tử thu nhiếp toàn thân sư tử thì toàn thân sư tử trở thành tai sư tử. Cái tất cả nằm trong cái một. The all is in the one and the one is in the all. Nhất thiết tức nhất, nhất tức nhất thiết. Cái một là cái tất cả, cái tất cả là cái một. Cánh cửa bí mật này rất quan trọng, nó cho ta thấy được sự thật là cái một có thể thấy trong cái tất cả và cái tất cả có thể thấy trong cái một.

Hiện nay người ta có thể làm thành những hình toàn vẹn ba chiều (three dimensional image) gọi là hologram. Hologram là những hình thấy ở ba chiều chứ không phải ở hai chiều như những ảnh thường. Chúng ta có thể chụp được hình ba chiều với điều kiện phải dùng ánh sáng laser. Trước hết, ta tắm hình ảnh đó trong ánh sáng laser. Sau khi được tắm trong ánh sáng laser thì hình đó phản chiếu ra ngoài, và ta thấy vật đó dưới ánh sáng của laser. Người ta dùng một nguồn ánh sáng laser thứ hai phản chiếu lại. Khi họ chụp ra thành phim thì chúng ta nhìn không thấy rõ ràng gì hết. Nhưng khi chiếu ánh sáng laser vô thì thấy được vật kia ba chiều chứ không phải hai chiều. Điều lạ hơn hết là sau khi cắt phim ra làm hai, rồi chiếu laser vô thì cũng thấy nguyên tất cả vật chứ không phải chỉ thấy có phân nửa. Nếu cắt phim ra thành một phần tư, khi chiếu laser vô thì mình cũng thấy toàn thân vật đó. Hình hologram (toàn ảnh) là một ví dụ để chứng minh cái một có thể chứa đựng được cái tất cả. Nếu cắt phim ra làm ngàn phần rồi lấy một mảnh ra mà chiếu lên thì cũng thấy toàn thể vật được chụp chứ không phải chỉ thấy có một phần ngàn.

Lấy ví dụ con xúc xắc để giúp cho ta hiểu thêm được ý của “cái một nằm trong cái tất cả”. Con xúc xắc có sáu mặt: nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục. Nếu để như thế này thì ta chỉ thấy mặt lục thôi nhưng thật ra đàng sau nó có cả một nền tảng, mà nếu không có thì làm gì có mặt lục này. Nhìn thì thấy một mặt hiển, những mặt ẩn phía sau thì ta không thấy được. Hãy tưởng tượng nếu năm mặt kia không có thì mặt này có hay không? Lấy năm mặt kia đi thì mặt này cũng tiêu luôn. Chúng ta biết rằng cái một chứa đựng cái tất cả. Chúng ta tưởng đó là một nhưng nhìn cho sâu thì cái một đó chứa cái tất cả.

Các căn của con sư tử cũng vậy. Chúng ta tưởng đó chỉ là con mắt của sư tử thôi. Nhưng nếu con mắt mà không có toàn thân sư tử đứng sau để làm lưng tựa thì con mắt đó làm sao có được? Mặt lục của con xúc xắc mà không có năm mặt kia đứng sau lưng yểm trợ thì làm sao mà có được? Mặt lục chứa năm mặt kia và mỗi mặt kia cũng như vậy, mỗi mặt này chứa năm mặt khác. Vì vậy nhìn vào cái một ta thấy cái tất cả. Cái một chứa được cái tất cả. The whole is found in the one.

Ban đầu mình thấy mặt trên không phải là mặt dưới, mặt trái không phải là mặt phải. Nhưng mặt trên làm gì có nếu không có mặt dưới? Mặt dưới làm gì có nếu không có mặt trên? Một cái chứa đựng tất cả các cái. Mỗi cái có đầy đủ thuần và tạp, đó gọi là chư tạng thuần tạp cụ đức.

Đây là lối diễn tả của huyền môn cũ (cựu huyền môn) của tổ thứ nhất tông Hoa Nghiêm là thầy Đỗ Thuận. Sau này thầy Pháp Tạng, tổ thứ ba, có sửa lại cho hay hơn. Huyền môn mới (tân huyền môn) của thầy Pháp Tạng là:

Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại

Quảng là rộng, hiệp là hẹp. Cái rộng chứa cái hẹp mà cái hẹp cũng chứa cái rộng một cách rất tự do, không hề có sự ngăn ngại nào. Chúng ta cứ tưởng cái lớn chứa cái nhỏ, ai ngờ cái nhỏ cũng chứa được cái lớn. Con mắt sư tử chúng ta tưởng nó nhỏ, ai ngờ con mắt sư tử thâu chứa cả toàn thân sư tử. Nếu không có toàn thân sư tử đứng sau lưng thì không có con mắt đó. Con mắt sư tử nhỏ nhưng chứa được toàn thân sư tử. Một hạt bụi cũng vậy, một thiền sư đời Lý đã nói:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung

Có nghĩa là trời đất có thể đặt gọn lên đầu một sợi tóc. Càn khôn là trời đất. Mao là sợi lông, mao đầu là đầu sợi lông. Đem hết tất cả trời đất đặt lên đầu một sợi lông. Đó chứng tỏ rằng cái một chứa đựng cái tất cả (the whole is in the one).

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung có nghĩa là mặt trời và mặt trăng có thể được nhét gọn vào trong một hột cải. Hột cải rất nhỏ nhưng nó bao trùm được cả thế giới. Cái một bao trùm cái tất cả.

Chúng ta nhận ra cánh cửa thứ nhất (Đồng thời cụ túc tương ứng môn) và cánh cửa thứ hai (Chư tạng thuần tạp cụ đức môn) có khác nhau.

Trong cánh cửa thứ nhất, thầy Pháp Tạng nói vàng và sư tử đồng thời mà phát khởi, đáp ứng lại với nhau. Vàng là sư tử, sư tử là vàng. Liên hệ này là liên hệ giữa tánh và tướng, liên hệ giữa bản thể và hiện tượng (relationship between numena and phenumena). Đó là liên hệ giữa H2O và đám mây, giữa nước và sóng, giữa lý và sự. Sự là thế giới của hiện tượng (con sư tử, sóng, đám mây). là thế giới của bản chất, của bản thể (vàng, nước, H2O).

Đi tới cánh cửa thứ hai, chúng ta nói đến sự liên hệ giữa những hiện tượng với nhau, gọi là liên hệ hiện tượng. Bên ngoài ta thấy có thân, tai, mắt, mũi, lưỡi riêng, nhưng khi nhìn kỹ ta thấy trong tai có mắt, mũi, lưỡi, thân; trong mũi có tai, mắt, lưỡi, thân v.v… Một căn chứa đựng tất cả các căn. Đó là đứng trên phương diện hiện tượng mà nói. Hiện tượng này chứa đựng tất cả các hiện tượng khác.

Cánh cửa thứ nhất nói về hiện tượng chứa đựng bản thể, gọi là Lý pháp giới. Cánh cửa thứ hai nói về hiện tượng chứa đựng hiện tượng, gọi là Sự pháp giới. Trong Hoa Nghiêm có nói tới bốn pháp giới. Pháp giới (the realm of dharma) là thế giới của sự hiện hữu (the realm of being):

1- Lý pháp giới (reality as numena). Pháp giới có thể được dịch là thực tại (reality) hay bản thể.

2- Sự pháp giới (reality as phenumena). Đây không còn là vàng, là nước nữa; đây là sư tử, là sóng. Sóng và sóng có liên hệ với nhau.

3- Lý sự vô ngại pháp giới (reality in the relationship between numena and phenumena). Đó là thực tại trong sự liên hệ giữa lý và sự, giữa tánh và tướng.

4- Sự sự vô ngại pháp giới (reality in the relationship between phenumena and phenumena). Đó là thực tại nhìn qua sự liên hệ giữa tướng và tướng (sóng và sóng, đám mây và sương mù).

Đó là bốn pháp giới. Đến đây ta thấy có bốn thực tại: thực tại được nhìn qua phía tánh, thực tại được nhìn qua phía tướng, thực tại được nhìn qua sự liên hệ giữa tánh và tướng, và thực tại được nhìn qua sự liên hệ giữa tướng với nhau.

Đồng thời cụ túc tương ứng môn nói về liên hệ tánh-tướng, liên hệ bản thể-hiện tượng. Vàng thu nhiếp sư tử, sư tử thu nhiếp vàng. Đó là lý sự vô ngại.

Chư tạng thuần tạp cụ đức môn nói về liên hệ tướngtướng hay liên hệ giữa những hiện tượng với nhau. Mắt, tai, mũi, lưỡi của sư tử tuy riêng nhưng thu nhiếp nhau. Đó là sự sự vô ngại.

Danh từ pháp giới có nghĩa là lãnh vực hiện hữu (domaine de l´existence). Pháp giới được dịch là dharma realm. Nhưng chữ dharma realm cũng khó hiểu, nó mang tính chất chuyên môn hơi nhiều. Tiếng Phạn là dharmadhātu, dharma tức là các pháp. Chúng ta có thể dùng chữ lãnh vực, hay thế giới (le monde) cũng được.

Lý pháp giới (thế giới bản thể), tiếng Anh là the world of numena, tiếng Pháp là le monde de la nomène. Thế giới của hiện tượng hay Sự pháp giới là the world of phenumena (the phenumenal world), le monde des phénomènes.

Lý sự vô ngại pháp giới có nghĩa là thế giới của sự liên hệ giữa bản thể và hiện tượng (the world on the relationship between numena and phenumena), (le monde dans la corrélation entre la nomène et les phénomènes).

Sự sự vô ngại pháp giới là thế giới của sự liên hệ giữa các hiện tượng với nhau (the world of interphenumena), (le monde interphénumenal).

Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn
Tam, kim dữ sư tử tương dung, thành lập nhất đa vô ngại. Ư trung lý sự các các bất đồng.
Hoặc nhất hoặc đa, các trụ tự vị, danh Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn.

 

 

Cánh cửa thứ ba: Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn
Vàng và sư tử dung nhiếp nhau làm thành một thế một nhiều vô ngại (nhất đa vô ngại: cái một và cái nhiều không làm trở ngại nhau).
Ở đây lý và sự (bản thể và hiện tượng) được phân biệt rõ ràng, dù là một hay là hai (nhiều)…
thì mỗi cái cũng an trú trong vị trí của chính mình! Đây gọi là Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn.

Một bên là cái một và một bên là cái nhiều, một bên có sameness và một bên có otherness, một bên là nhất còn một bên là nhất thiết, nhưng hai cái đó không hẳn là chống nhau. Đó là vô ngại (no obstacle). Chúng ta thấy cái một có thể dung chứa cái tất cả và cái tất cả có thể được tìm thấy trong cái một (The whole is integrated into every part and all the part is integrated into the whole).

Ví dụ trong cơ thể của chúng ta có hàng tỷ tế bào nhưng một tế bào có thể đại diện cho tất cả các tế bào khác tại vì cái một là cái tất cả. Hiện nay chúng ta có một kỹ thuật gọi là sinh sản vô tính (cloning). Người ta chỉ cần lấy ra một tế bào thôi và tìm cách làm thành một cơ thể mới gọi là cloning. Từ một tế bào thôi, tế bào nào cũng được (tế bào ruột, gan) người ta lấy ra rồi nuôi thành một con người toàn vẹn. Kỹ thuật cloning chứng tỏ: Trong cái một có cái tất cả. Trong một tế bào có đầy đủ những gen, tức gia sản di truyền.

Nhìn vào tế bào, ta thấy trong đó có những nhiễm thể (gen) do tổ tiên, ông bà, cha mẹ để lại. Những khổ đau, những kinh nghiệm, những hờn giận, hạnh phúc, những ước mơ của tổ tiên ông bà, đang có mặt trong từng tế bào cơ thể ta. Chỉ cần biết cách nhìn vào trong một tế bào thì ta thấy có đủ tư liệu (informations) về tổ tiên, ông bà, cha mẹ nhiều thế hệ. Mình hay nói tổ tiên có mặt trong mỗi tế bào cơ thể là như vậy. Ta nghĩ rằng: ”Đây là ta!”. Nhưng kỳ thật đây không phải là ta vì nó chứa đựng hết tất cả thế hệ tổ tiên. Cái một chứa đựng cái tất cả mà không hề lúng túng, chật chội. Nó rất thoải mái. Nếu muốn thấy cái một thì cái một hiện ra. Nếu muốn thấy cái tất cả thì cái tất cả hiện ra cho ta thấy. Cái một và cái tất cả đi chung với nhau mà không chống đối nhau gọi là nhất đa tương dung.

Nhất đa tương dung: Cái một là cái tất cả, cái tất cả là cái một. Nhưng cái một vẫn còn là cái một, cái tất cả vẫn còn là cái tất cả, không cái nào hủy diệt cái nào hết.

Lý và sự được phân biệt rõ ràng dù là một hay là hai thì mỗi cái cũng an trú trong vị trí của mình. Chúng ta có thể gọi vàng và sư tử là hai cái, nó có thể đứng riêng ra thành hai cái riêng biệt. Nhưng chúng ta gọi vàng và sư tử là một cũng được vì hai cái tới với nhau làm thành một cái mà không hề có trở ngại. Đó gọi là nhất đa tương dung (the one and the many are implicated in each other).

Kim dữ sư tử tương dung: Vàng và sư tử dung chứa nhau (gold and lion content each other).

Thành lập nhất đa vô ngại: They produce the situation of non-obstacle between the one and the many.

Ư trung lý sự các các bất đồng: Trong đó, bản thể và hiện tượng, mỗi cái vẫn là nó, nó có thể khác nhau.

Hoặc nhất hoặc đa: Có thể gọi nó là một, có thể gọi nó là nhiều. Hai cái có thể là một, có thể là hai.

Các trú tự vị: Mỗi cái đứng vào trong vị trí của chính mình.

Cái một và cái nhiều vừa là nhau, vừa là khác nhau. Có một thi sĩ người Anh rất nổi tiếng tên là William Blake, không biết ông có đọc kinh Hoa Nghiêm không mà thơ ông viết ra có hương vị của Hoa Nghiêm. Thi sĩ sinh năm 1757 và tịch năm 1827, ông viết:

To see the world in a grain of sand

And the heaven in a wild flower

To hold infinity in the palm of your hand

And internity in just an hour

Có thể thấy pháp giới trong một hạt cát và cả khung trời trong một bông hoa dại. Ôm lấy cái vô biên trong lòng bàn tay của anh và đặt cả thời gian vô cùng vào trong chỉ một giờ đồng hồ. Đó là một thi sĩ người Anh. Các thi sĩ, các nhà tư tưởng lớn có một trực giác. Tuy không đọc kinh Hoa Nghiêm nhưng với trực giác họ thấy cái tất cả nằm trong cái một. Có thể thi sĩ William Blake chưa bao giờ đọc kinh Hoa Nghiêm nhưng trong đời sống hằng ngày ông có mẫn cảm và thấy được cái đó bằng trực giác. Cái quan trọng là chúng ta có kinh nghiệm, có trực giác để thấy được như vậy hay không?

Thiền quán giúp cho ta thấy được điều đó. Nhìn vào cơ thể của mình, ta thấy cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong đó, ta thấy thế giới, đất nước mình trong đó. Chúng ta không nhỏ đâu, chúng ta rất rộng lớn. Có một thi sĩ người Mỹ , tên là Walt Whitman nói trong tác phẩm “Lá cỏ” của ông là: I am large, I content multitudes. (Tôi rất rộng lớn, tôi chứa hằng hà sa số thế giới. Je suis grand, je contiens des multitudes). Walt Whitman (1819-1892) thuộc thế hệ sau sau thi sĩ  William Blake.

Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn
Tứ, sư tử căn, nhất nhất triệt biến sư tử nhãn. Nhãn tức nhĩ, nhĩ tức tỉ, tỉ tức thiệt, thiệt tức thân tự tại thành lập, vô chướng vô ngại danh Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn.

Cánh cửa thứ tư: Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn
Các giác quan và mỗi đầu sợi lông sư tử đều do vàng mà thu nhiếp được toàn thân sư tử.
Cho nên cái gì trong sư tử cũng triệt để thu nhiếp mắt của sư tử. Mắt là tai, tai là mũi, mũi là lưỡi, lưỡi là thân, mỗi căn đều được thành lập, không có gì làm chướng ngại. Cái này gọi là Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn.

Cái này là cái kia, cái kia là cái này. Nước là sóng, sóng là nước. Vàng là sư tử, sư tử là vàng. Các nhà học giả hay dịch chữ tương tức là mutual identification. Tôi dịch là interbeing. Cái này là cái kia, chúng ta là nhau. We interare, water and wave interare.

Các giác quan và mỗi đầu lông sư tử đều do vàng mà thu nhiếp toàn thân sư tử, cho nên cái gì trong sư tử cũng triệt để thu nhiếp mắt của sư tử. Ví dụ như sư tử có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nhìn con mắt thì chúng ta thấy đây là mắt của sư tử. Nhưng nhìn từ phía khác thì ta thấy tai của sư tử. Nếu chỉ nhìn một căn thì ta không thấy các căn khác. Nhưng nếu các căn khác không có đó thì làm gì có căn này. Nếu năm mặt kia không có thì mặt này cũng không thể nào có được. Sự có mặt của mắt sư tử chứng tỏ là đồng thời mũi, lưỡi, tai, thân, ý sư tử cũng có đó. Một cái thu nhiếp tất cả các cái. Sự có mặt của một cái chứng tỏ sự có mặt của tất cả các cái. Phải nhìn làm sao để khi thấy một mặt, chúng ta đừng tưởng rằng chỉ có mặt này có mà chúng ta phải thấy được các mặt khác đang cùng có một lần và làm nền tảng cho mặt này. Nếu không thấy như vậy thì chưa thấy được mặt này.

Chẳng những trong sáu căn mà trong mỗi sợi lông sư tử cũng vậy, mỗi sợi lông sư tử chứng tỏ là toàn thân sư tử có đó. Nếu toàn thân sư tử không có thì làm sao có sợi lông đó được. Cho nên cái tất cả nằm trong cái một. Cái một chứng tỏ là cái tất cả có đó.

Ta đi bơ vơ trong cuộc đời, ta tưởng ta cô đơn lắm. Kỳ thực, tất cả tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đất nước, dân tộc của ta đều có mặt ở trong ta. Ta cảm thấy cô đơn tại vì ta chưa biết ta là ai. Nếu ta nhìn vào ta thì ta thấy cả dân tộc, đất nước, tổ tiên, quê hương ở trong ta hết. Khi ta đi một bước thảnh thơi thì tất cả dân tộc, đất nước, dòng họ, tổ tiên ta được thảnh thơi. Ta phải thấy được điều đó! Cái một chứa đựng cái tất cả, cái tất cả phải được thấy trong cái một.

Các giác quan sư tử cũng vậy mà mỗi đầu lông sư tử cũng vậy, tại vì nó là vàng nên thu nhiếp được toàn thân sư tử. Nhìn mắt của sư tử thì thấy trong đó có đầy đủ năm căn khác của sư tử, tất cả sợi lông và toàn thể con sư tử. Đó là cái thấy tương tức, cái này tức là cái kia (interbeing). Chúng ta có thể đặt tên:

– Cánh cửa thứ nhất là Tương Ứng (simultaneously). Đồng thời cụ túc tương ứng môn là cùng một lúc tới với nhau. Ta có thể tạm dịch là inter-responding (corresponding, responding to each other), cùng một lượt tới với nhau và làm thành nhau (synchronisation).

– Cánh cửa thứ hai là Tương Thâu hayTương Nhiếp (interimplication). Có một nhà vật lý người Anh là David Bohm quán sát thấy rằng một điện tử không có sự có mặt lẽ loi. Một điện tử được làm thành bởi tất cả các

điện tử. One electron is made of all electrons. Cái một chứa đựng cái tất cả. Trong sách, ông nói: Nhìn bề ngoài thì thấy các vật nằm ngoài nhau nhưng nhìn cho sâu thì thấy sự vật nằm trong nhau. Nhìn khơi khơi thì thấy cha ở ngoài con và con ở ngoài cha. Nhưng nhìn cho sâu thì thấy cha ở trong con và con ở trong cha. Nhìn bề ngoài là nhìn theo một trật tự gọi là the explicated order, tức là ta thấy ánh sáng nằm ngoài mặt trời, bông hoa nằm ngoài mặt trời, và hai cái đó không dính líu gì tới nhau hết. Đó là trật tự ngoại nhiếp. Nhìn cho kỹ thì ta thấy các cái nằm trong một cái, trong con có cha, trong cha có con. Đó là trật tự nội nhiếp (the implicated order).

– Cánh cửa thứ ba là Tương Nhập hay Tương Dung. Đây là danh từ của các nhà vật lý học có hương vị của Hoa Nghiêm. Cái một chứa đựng cái tất cả. Nhất đa tương dung bất đồng môn (intercontentment). Cái một chứa đựng cái tất cả, cái tất cả chứa đựng cái một.

– Cánh cửa thứ tư là Tương Tức. Chư pháp tự tại tương tức môn (interbeing), (interêtre).

Bí Mật Ẩn Hiển Câu Thành Môn
Ngũ, nhược khán sư tử duy sư tử vô kim, tức sư tử hiển, kim ẩn. Nhược khán kim duy kim vô sư tử, tức kim hiển sư tử ẩn.
Nhược lưỡng xứ khán, câu ẩn câu hiển. Ẩn tắc bí mật, hiển tắc hiển trước, danh Bí Mật Ẩn Hiển Câu Thành Môn.

Cánh cửa thứ năm: Bí Mật Ẩn Hiển Câu Thành Môn
Khi nhìn sư tử thì chỉ thấy sư tử mà không thấy vàng, sư tử hiển còn vàng ẩn. Khi nhìn vàng chỉ thấy vàng mà không thấy sư tử nghĩa là vàng hiển còn sư tử ẩn.
Nếu nhìn cả hai một lượt thì cả hai đều ẩn và hiển đồng thời. Ẩn là bí mật, hiển là tỏ rõ (hiển trước). Cái này gọi là Bí Mật Ẩn Hiển Câu Thành Môn
.

Khi nhìn sư tử chỉ thấy sư tử mà không thấy vàng, trong trường hợp này sư tử hiện ra, vàng thì ẩn dấu đi. Khi nhìn vàng chỉ thấy vàng mà không thấy sư tử, trong trường hợp này vàng biểu hiện còn sư tử ẩn đi. Nếu biết nhìn hai cái một lượt thì có thể thấy được tất cả đều ẩn hay tất cả đều biểu hiện. Ẩn nghĩa là bí mật, là dấu đi; hiển nghĩa là biểu hiện ra, là hiển trước. Đó gọi là bí mật ẩn hiển câu thành môn.

Ví dụ khi ta nhìn chính ta với tư cách của một đứa con thì ta chỉ thấy ta là con mà không thấy cha ta trong ta. Nhưng cha ta có ở trong ta. Nếu nhìn kỹ thì ta thấy ta là sự tiếp nối của cha. Cha ta có ở trong ta và ta thấy được cha. Tùy theo cách nhìn, theo cách này thì ta nhìn thấy con, theo cách kia thì ta nhìn thấy cha. Nhưng có cách nhìn để thấy được hai cha con cùng một lúc, chúng ta có thể gọi đó là tương biểu. Biểu là biểu hiện ra, khi biểu hiện ra thì mình thấy, khi không biểu hiện ra thì mình không thấy. Có khi biểu, có khi vô biểu nhưng vô biểu không có nghĩa là không có đó.

Ví dụ bàn tay này đây có thể thỉnh chuông được nhưng chúng ta không thấy nó thỉnh chuông. Khả năng thỉnh chuông nằm trong bàn tay này mà ta không thấy. Nhưng khi bàn tay cầm dùi chuông lên thỉnh thì chúng ta thấy bàn tay có thể thỉnh chuông được. Cái hiển thì ta thấy được còn cái ẩn thì ta không thấy được. Một là biểu (thấy được), hai là vô biểu (không thấy được), chúng ta có thể dịch là intermanifestation.

Nhìn vào ta, ta có thể thấy ta với tư cách là một chúng sinh có tham, sân, si. Ta không thấy được mặt kia của ta. Mặt kia là Bụt vì ta cũng có hạt giống vô tham, vô sân, vô si và hạt giống từ bi. Hạt giống Bụt bị ẩn, hạt giống chúng sanh hiển. Nhưng nhìn cho kỹ thì thấy có Bụt ở trong ta. Ta có thể làm như thế nào để Bụt hiển ra và chúng sanh ẩn đi. Ví dụ khi ta tập thở, tập thiền hành thì ta làm cho Bụt hiển ra và chúng sanh ẩn đi. Bụt càng hiển lâu chừng nào thì ta càng được hưởng chừng đó. Bụt không ở ngoài ta, Bụt ở trong ta.

Khi vào chùa, ta chắp tay lạy Bụt. Ta thấy có người lạy (tức là ta) và người được lạy (tức là Bụt) đang ngồi trên bàn thờ. Có hai cái rõ ràng đứng ngoài nhau: ta ở đây và Bụt ở trên bàn thờ, hai người hoàn toàn khác nhau. Đó là trật tự ngoại nhiếp. Ta ở ngoài Bụt và Bụt ở ngoài ta. Nhưng nếu quán chiếu thì ta thấy Bụt trong ta và ta ở trong Bụt. Trong kinh Mười nguyện Phổ Hiền ta có thể quán chiếu được có ta trong Bụt, ở đâu có Bụt là có ta.

Trước khi lạy xuống, ta phải quán chiếu theo giáo lý Hoa Nghiêm, có nghĩa là phải thấy Bụt ở trong ta chứ không phải Bụt ngồi trên bàn thờ: “Bạch Đức Thế Tôn, con quán chiếu rằng, Ngài không phải ở ngoài con, Ngài ở trong con và con có thể tiếp xúc được với Ngài ngay ở trong con. Ở đâu có con là ở đó có Ngài, ở đâu có Ngài là ở đó có con.” Thấy được thì mới nên lạy xuống. Người lạy và người được lạy không phải là hai thực thể riêng biệt. Như vậy, ta mới tiếp xúc được với Bụt thật. Nếu không, ta chỉ tiếp xúc được với cái tượng Bụt mà thôi.

Lạy Bụt không phải là một sự cầu nguyện, một sự cầu xin hay một hành động tín mộ (act of devotion) mà là một sự quán chiếu.

Năng lễ sở lễ tánh không tịch

Cảm ứng đạo giao nan tư nghì

Thực tập cho sâu sắc, cái lạy sẽ trở thành phương pháp thiền quán để quán chiếu sự tiếp xúc với Bụt trong tự thân chứ không phải là sự cầu xin, tín mộ nữa. Ta thấy được sự tương tức giữa ta và Bụt (interbeing between the Buddha and yourself). Ta không có mặc cảm ta là con số không, ta chỉ là khổ đau, còn Bụt là tất cả. Có như vậy thì sự thực tập mới thành công, ta không còn mặc cảm thua sút, đau khổ nữa.

Học giáo lý Hoa Nghiêm, ta phải biết quán chiếu khi nhìn vào hình hài của mình. Chúng ta thấy sự liên hệ của bốn yếu tố (đất, nước, gió và lửa) trong nội thân và ở ngoại thân. Đi sâu hơn nữa ta thấy không khí ta thở không phải là ở trong nội thân chế tạo ra. Chính rừng cây ở ngoài làm ra dưỡng khí cho ta thở. Ta thở và sống được là nhờ không khí ở ngoài thân. Vì vậy thân của ta không phải chỉ là hình hài này, nó là ở ngoài kia nữa. Thái Hư Đại Sư có viết một bài thơ trong đó có câu: Thân ngoại phi thân khước thị thân. Cái không phải thân, ở ngoài thân đó mới chính là thân của mình. The non-body elements out there is your true body.

Đó là quán thân trong thân. Chúng ta thấy thân của mình lớn như vậy. Ngay trong đạo Bụt nguyên thỉ, quán thân là tiếp xúc được với hình hài của mình. Tiếp xúc cho sâu sắc thì ta thấy hình hài ta cũng là hình hài của tổ tiên, của đất nước, của dòng họ. Vì vậy cái tất cả có trong cái một.

Trong ánh sáng của Hoa Nghiêm thì khi nhìn vào thân, ta phải thấy được những yếu tố “không thân” làm ra thân của ta. Ta tiếp xúc được với cái hiển mà cũng tiếp xúc được với cái ẩn. Ta tiếp xúc được với tổ tiên, quê hương, dòng họ trong thân thể này.

Nhìn vào một mặt ta chỉ thấy mặt đó thôi. Thành ra thực tập là để nhìn vào một mặt để thấy được tất cả các mặt còn lại. Tất cả đều hiển hoặc tất cả đều ẩn, và ta thấy được sự tương tức giữa ẩn và hiển: cái này ẩn thì cái kia hiển, cái này hiển thì cái kia ẩn. Có như vậy thì sự thực tập đi tới một mức rất cao. Khi chúng ta thở vào thì tất cả tổ tiên, ông bà, con cháu đều thở theo. Thấy được như vậy thì chúng ta không bị giam vào ý niệm ta chỉ là hình hài này, cảm thọ này, tri giác này, từ đó chúng ta buông bỏ được tất cả các mặc cảm, thấy được ta là một vị Bụt và báo thân của ta có thể bao trùm cả thế giới. Cho nên sự an vui của ta có liên hệ đến sự an vui của cả thế giới.

Nhược khán sư tử duy sư tử vô kim (khi nhìn vào sư tử, chỉ thấy sư tử mà không thấy vàng) tức sư tử hiển kim ẩn (lúc đó sư tử hiển mà vàng ẩn). Nhược khán kim, duy kim vô sư tử (nếu nhìn vàng chỉ thấy vàng mà không thấy sư tử), kim hiển sư tử ẩn (vàng hiển mà sư tử ẩn). Nhược lưỡng xứ khán câu ẩn câu hiển (nếu biết nhìn cả hai mặt thì ta thấy cả hai đều hiển hay cả hai đều ẩn một lượt). Ẩn tắc bí mật, hiển tắc hiển trước, danh bí mật ẩn hiển câu thành môn: Khi nó ẩn thì gọi là bí mật, khi nó hiển thì gọi là rõ ràng. Cái đó gọi là Bí Mật Ẩn Hiển Câu Thành Môn. The mutual arising of both the hidding and the manifesting.

 

Vi Tế Tương Dung An Lập Môn
Lục, kim dữ sư tử hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc nhất hoặc đa, định thuần định tạp, hữu lực vô lực, tức thử tức bỉ, chủ bạn giao huy, lý sự tề hiện, giai tất tương dung bất ngại an lập vi tế thành biện, danh Vi Tế Tương Dung An Lập Môn.

Cánh cửa thứ sáu: Vi Tế Tương Dung An Lập Môn
Vàng và sư tử hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc một hoặc nhiều, hoặc thuần hoặc tạp, hoặc hữu lực hoặc vô lực, hoặc này hoặc kia, thì chủ và bạn chiếu sáng cho nhau, lý (bản thể) và sự (hiện tượng) đều (đồng thời) biểu hiện, tất cả đều dung nhiếp nhau. Chúng được an lập mà không làm chướng ngại nhau cho tới lằn mức vi tế nhất. Cái này gọi là Vi Tế Tương Dung An Lập Môn.

Thầy Pháp Tạng nêu ra tám cặp: vàng và sư tử, ẩn và hiển, một và nhiều, thuần và tạp, hữu lực và vô lực, cái này (thử) và cái kia (bỉ), chủ và bạn, lý và sự. Những cặp chống đối nhau đều ở trong một sự thực là nó dung nhiếp nhau, chứa đựng nhau.

Vàng và sư tử: Vàng ôm lấy sư tử và sư tử ôm lấy vàng. Cái ẩn ôm lấy cái hiển và cái hiển ôm lấy cái ẩn mà không hề có chướng ngại từ mức vĩ mô (macroscopic) cho tới mức vi mô (microscopic), từ cái lớn nhất như tinh hà (galaxy) cho tới cái nhỏ nhất như hạt sơ đẳng (elementary particle).

Nhìn sư tử, chúng ta không thấy vàng; nhìn vàng, chúng ta không thấy sư tử. Nhưng khi nhìn với con mắt quán chiếu thì ta thấy sư tử là vàng, vàng là sư tử, ta nhìn thấy cả hai.

Ẩn và hiển: nhìn con, ta không thấy cha, nhưng kỳ thực thì cha núp trong con. Nhìn kỹ, ta thấy cha trong con, và khi nhìn cha, ta thấy con trong cha. Con có trong cha mẹ và cha mẹ có trong con. Có một bài tụng rất hay: Con có Bụt có Tổ, Bụt Tổ có trong con. Nhìn cho kỹ con thấy có con trong Bụt, trong Tổ. Nhìn một bông hoa, ta thấy bông hoa mà không thấy mặt trời, đám mây. Mặt trời, đám mây núp trong bông hoa, chúng nó ẩn còn bông hoa hiển. Nhưng cái ẩn và cái hiển ôm lấy nhau, không chống đối nhau. Sư em và sư chị cũng vậy, hai người ôm lấy nhau. Trong sư em có sư chị, trong sư chị có sư em, không có sự chống đối.

Một và nhiều: Chúng ta có nhiều người nhưng khi ta lên tụng kinh thì người ta chỉ thấy một chúng thôi, một chúng hòa hợp, một chúng nhưng kỳ thực có nhiều người trong đó. Cái một và cái nhiều không có chống đối nhau. Cái một ôm lấy cái nhiều và cái nhiều ôm lấy cái một.

Thuần và tạp: Nhìn vào bông hoa, chúng ta thấy có đám mây, có mặt trời, đại địa. Nhưng những thứ đó tới, hòa hợp, ôm lấy nhau làm thành bông hoa. Tất cả đều trở thành bông hoa nhưng mỗi cái vẫn là nó, mặt trời vẫn là mặt trời, đám mây vẫn là đám mây. Nó vừa là thuần, vừa là tạp. Đám mây vừa là bông hoa vừa còn là đám mây. Đó là hoặc thuần hoặc tạp.

Hữu lực và vô lực: Hữu lực (active) là hiến tặng năng lượng. Đôi khi nó không hiến tặng năng lượng, nó vô lực (not active) nhưng nó có mặt để cho ta thành công. Chữ hữu lực và vô lực phát xuất từ quan niệm về sáu nhân (the six causes), trong đó nhân đầu tiên là năng tác nhân. Năng tác nhân có nghĩa là điều kiện để đưa tới kết quả (active cause, empowering cause). Ví dụ như con mắt là một năng tác nhân vì mắt đưa tới nhãn thức, đưa tới cái thấy. Nếu không có con mắt thì không có cái thấy. Con mắt có thần kinh thị giác, có đủ phương tiện để làm nẩy sinh ra cái thấy. Con mắt là một năng tác nhân. Khi mình gieo hạt lúa vào đất thì hạt lúa là một năng tác nhân.

Năng tác nhân có hai loại: loại hữu lực và loại vô lực. Năng tác nhân hữu lực là loại có sức, có năng lượng đưa tới kết quả như hạt lúa, như con mắt. Hạt lúa đưa tới cây lúa, con mắt đưa tới cái thấy. Năng tác nhân vô lực không thật sự đóng góp sức nhưng không làm chướng ngại, không ngăn cản. Đó cũng là nhân nhưng là nhân vô lực.

Trong Trai Đàn Chẩn Tế ở Việt Nam có rất nhiều người muốn giúp chúng ta. Các thầy, các đạo hữu, các vị cư sĩ yểm trợ ta để cho Trai Đàn được thành tựu. Các vị đó là năng tác nhân hữu lực. Có những người tuy không yểm trợ ta nhưng cũng không gây khó khăn, không làm chướng ngại gì. Họ là năng tác nhân vô lực.

Trong chúng cũng vậy. Mỗi người trong chúng là một cái cây đang muốn lớn lên, muốn trở thành pháp khí. Ta là sư chị, sư em, sư anh, ta có thể làm năng tác nhân hữu lực tức là giúp cho người đó đi lên hay ít nhất ta cũng làm năng tác nhân vô lực là đừng ngăn cản người đó. Tất cả vạn pháp đều có thể là năng tác nhân, có khi là hữu lực, có khi là vô lực.

Thử bỉ có nghĩa là cái này cái kia. Cái này có thể tới với cái kia có thể làm năng tác nhân cho cái kia. Cái này có thể ôm lấy cái kia. Hai cái có thể ôm lấy nhau để làm biểu hiện ra một cái khác như mặt trời và đám mây ôm lấy nhau để làm biểu hiện ra bông hoa. Mặt trời vẫn là mặt trời, đám mây vẫn là đám mây, nhưng mặt trời và đám mây có thể ôm lấy nhau, tương dung nhau.

Chủ và bạn: Hôm nay sư anh nói pháp thoại. Đến phiên sư anh nói pháp thoại thì ta đóng vai trò nghe pháp thoại, sư anh là chủ, ta là bạn. Ngày mai đến phiên ta nói pháp thoại thì sư anh ngồi nghe trong chúng, ta là chủ, sư anh là bạn. Nó đắp đổi luân phiên nhau. Khi thì ta là chủ, khi thì ta là bạn, chủ và bạn không chống đối nhau. Ta không hỏi tại sao không để tôi giảng mà anh lại lên giảng? Khi anh là chủ thì tôi là bạn một cách hạnh phúc, khi tôi là chủ thì anh là bạn một cách hạnh phúc. Chủ bạn tương nhiếp nhau, nó không chống đối nhau.

Cũng như Đức Quan Âm đã thành Bụt lâu rồi. Nhưng khi Ngài ngồi trong thính chúng thì Ngài đóng vai trò đệ tử, cũng lên lạy và bạch Đức Thế Tôn, cũng xưng mình là con. Trong chúng, chúng ta nên học cái đó, là chủ, là bạn, nhưng chủ bạn ôm nhau rất đẹp, rất hay. Người nào muốn xây dựng tăng thân cho giỏi thì nên học cách này, chủ bạn ôm nhau.

Lý và sự: Lý là bản thể (nomène), sự là hiện tượng (phénomène). Đó là hai cái nhưng cũng có thể là một. Sự tương dung đó (interimplication) được thành hình từ mức độ lớn nhất (vĩ mô) cho đến mức độ nhỏ nhất (vi mô). Trong cái một có cái tất cả.

Vi tế có nghĩa là cái nhỏ nhất. Khoa học vật lý đi tìm cái nhỏ nhất gọi là lạp thể (elementary particle) để coi thế giới này được làm bằng chất liệu căn bản nào. Họ chẻ vật chất ra tới mức nhỏ nhất, nguyên tử rồi tới hạ nguyên tử (subatomic). Họ tìm ra điện tử (electron), trung hòa tử (neutron), dương tử (proton). Và họ vẫn cố gắng tiếp tục chẻ nữa.

Trong kinh Hoa Nghiêm có nói tới hạt. Thầy Pháp Tạng, ngoài Kim Sư Tử Chương có sáng tác một số tác phẩm khác trong đó có Bách Môn Nghĩa Hải Hoa Nghiêm Kinh (biển nghĩa lý qua một trăm cánh cửa của kinh Hoa Nghiêm). Thầy Pháp Tạng chia tác phẩm ra mười chương, mỗi chương có mười đoạn. Trong đoạn thứ hai có nói: Mỗi hạt mà mình cho là nhỏ nhất có thể ôm lấy tất cả vũ trụ. Nó có trong nó tất cả. Nó không cần phải tìm hiểu những hạt khác làm gì tại vì trong nó có đầy đủ hết rồi. Cũng như bông hoa không cần phải đi tìm hiểu mặt trời vì trong bông hoa đã có mặt trời rồi. Trong kinh nói rõ ràng là hạt bụi này không cần phải đi tìm hiểu hạt bụi khác, trong nó có đủ hết rồi.

Sư em, sư anh đã có trong ta rồi, ta không cần phải tới với người đó để tìm hiểu. Ta đi vào trong ta thì ta thấy được, nói chuyện được, hiểu được, thông cảm được với sư anh, sư em. Ta không cần phải đi ra ngoài, không cần phải tìm tới người đó tại vì trong ta chứa đựng hết tất cả, trong ta có thầy, có sư em, có sư anh của mình. Hạt bụi này không cần phải nói chuyện với hạt bụi khác, không cần đả thông, không cần truyền thông với hạt bụi khác tại vì trong tự thân nó có đầy đủ tất cả rồi. Bên ngoài giống như có hạt bụi này, hạt bụi khác, hạt bụi này phải đi tìm hiểu hạt bụi khác. Nhưng thật ra thì không cần vì trong một hạt bụi có đầy đủ tất cả pháp giới.

Năm 1986 tại Đại học Paris có một nhà khoa học tên là Alain Aspect. Ông làm một cuộc thí nghiệm chung với các nhà khoa học khác thì tìm ra một sự việc rất lạ lùng có thể làm đảo lộn nhận thức của khoa học tương lai. Ông lấy một cặp điện tử và làm cho hai điện tử đó phóng đi về hai phương trời khác nhau. Trong khi điện tử bên trái đi về phương này thì ông can thiệp làm cho nó đổi hướng. Người ta nhận thấy rằng điện tử đi hướng ngược lại cũng tự động thay đổi theo, làm như là hai điện tử có truyền thông với nhau vậy. Nó biết cái gì đang xảy ra cho điện tử kia và nó cũng làm giống hệt như vậy. Rất lạ kỳ! Rõ ràng trong điện tử có cái biết, nó không phải vô tri vô giác. Các nhà khoa học thấy cái gì xảy ra cho điện tử phía này cũng đồng thời xảy ra cho điện tử phía kia. Hai điện tử cách nhau hàng cây số biết những gì xảy ra cho nhau và làm giống hệt nhau như vậy.

Điều này cũng trùng hợp với điều thầy Pháp Tạng nói: Một hạt bụi nhỏ nhất đã hàm chứa tất cả vũ trụ rồi. Nó không cần phải đi ra tìm hiểu về hạt bụi kia. Tất cả cái mà ta tưởng là ở ngoài đã nằm trong tự thân của ta rồi. Vi tế tương dung là như vậy.

Khoa học lượng tử bây giờ dùng những danh từ tất ngộ nghĩnh. Họ nghiên cứu để xem sự nối kết giữa các lượng tử thì họ tìm ra rằng, quả thật cái này nằm trong cái kia. Bề ngoài nhìn giống như cái này nằm ngoài cái kia nhưng kỳ thực cái này nằm trong cái kia. Ban đầu họ dùng chữ nối kết (inter-connectedness), rồi tới chữ vướng mắc (entanglement), điện tử này vướng mắc với điện tử kia. Trong khi đó trong kinh có chữ như tương dung, tương tức, tương nhập, tương nhiếp, những chữ rất hay. Các nhà khoa học còn dùng một chữ nữa là superposition, có nghĩa là chồng chập lên nhau, cái này chồng lên cái kia. Chữ nối kết, vướng mắc, chồng chập của các pháp không hay bằng chữ tương tức, tương nhập, tương liên của các pháp như trong kinh.

Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn
Thất, sư tử nhãn nhĩ chi tiết, nhất nhất mao xứ, các hữu kim sư tử. Nhất nhất mao xứ sư tử, đồng thời đốn nhập nhất mao trung. Nhất nhất mao trung giai hữu vô biên sư tử, hựu phục nhất nhất mao, đới thử vô biên sư tử, hoàn nhập nhất mao trung. Như thị trùng trùng vô tận, do Thiên đế võng châu danh Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn.

Cánh cửa thứ bảy: Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn
Trong mỗi bộ phận chi tiết như mắt, tai… của sư tử, cho đến mỗi sợi lông của sư tử đều có sư tử vàng. Sư tử có mặt (đi vào) trong từng sợi lông, đồng thời mỗi sợi lông chứa đựng tất cả sư tử. Mỗi sợi lông đều có vô biên sư tử, và vô biên sư tử đều có mặt trong mỗi sợi lông sư tử. Cứ như thế mà trùng trùng vô tận (lớp này lớp khác đi về vô tận) như là lưới châu của vua trời Phạm thiên. Cái này gọi là Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn.

Nhân đà la được phiên âm từ chữ Indra (vua trời Đế Thích). Trên cung vua trời Đế Thích có một màn lưới làm bằng những hạt châu. Khi nhìn vào một hạt châu thì thấy tất cả các hạt châu phản chiếu trong đó và đồng thời hạt châu này cũng được phản chiếu trong các hạt châu khác. Nhưng sự thực không phải đơn giản như vậy.

Đây là một hạt châu và đây là muôn ngàn hạt châu khác. Tất cả các hạt châu phản chiếu trong một hạt châu, cái đó dễ hiểu rồi. Nhìn vào một hạt châu, ta thấy tất cả hạt châu khác. Cũng như khi nhìn vào bọt nước, ta thấy mặt mình phản chiếu trong tất cả bong bóng nước. Mỗi bong bóng nước đều có mặt mình trong đó. Nếu có ba, bốn người nhìn vào thì trong bong bóng nước có đủ hết ba, bốn người. Nhưng sự thật rắc rối hơn. Khi hạt châu này phản chiếu hạt châu kia, rồi hạt châu kia trả lại hình ảnh của hạt châu này (có nghĩa là trong hạt châu này cũng có hình ảnh của hạt châu này phản chiếu hạt châu kia), rồi hình ảnh này lại phản chiếu lại, rồi phản chiếu lại nữa…đi tới trùng trùng lớp lớp vô tận. Đó là Nhân đà là võng cảnh giới. Mạng lưới internet bây giờ cũng hơi giống như vậy.

Để Võ Tắc Thiên hoàng hậu hiểu được điều này, thầy Pháp Tạng đề nghị làm một nhà kiếng hình tám mặt (bát giác). Thầy đưa hoàng hậu vào trong nhà kiếng, trên tay bà cầm một ngọn nến. Khi nhìn vào một tấm kiếng bà thấy rõ ràng trong đó không chỉ có một ngọn nến (đèn cầy). Khi đèn cầy phản chiếu thì nó gởi hình ảnh đó sang mặt kiếng kế bên và tất cả các mặt kiếng khác. Mặt kiếng bên lại phản chiếu lại, rồi đi vô lại và phản chiếu sang các mặt khác. Điều này cũng xảy ra cho các mặt khác… Như thế không biết bao nhiêu ngọn nến mà kể, không thể dùng toán học (mathematics) mà đếm được. Đó là trùng trùng vô tận.

Hình ảnh này là một biểu tượng (métaphore, simulation) để giúp người ta hiểu được. Cũng như khi nói tới não bộ thì người ta thường dùng hình ảnh của máy tính để giúp cho ta hiểu được não bộ hoạt động như thế nào. Nhưng thật ra máy tính rất khác não bộ, máy tính là một cái máy còn não bộ là con người. Người ta dùng hình ảnh máy tính để giúp cho ta hiểu được phần nào sự vận hành của não bộ, kỳ thực não bộ không phải là máy tính. Ở đây cũng vậy, thầy Pháp Tạng dùng cái lưới nhân đà la để cho người ta thấy được tính trùng trùng vô tận của các pháp.

Tính lý nhân duyên rất mầu nhiệm. Có một lần thầy A Nan nghe Bụt giảng về nhân duyên, thầy hiểu rất rõ ràng, thầy nói: “Con có thể nói là con hiểu về lý nhân duyên của Ngài rất rõ ràng”. Bụt nói: “Thầy đừng nói vậy! Lý nhân duyên mầu nhiệm lắm, thầy chưa hiểu hết đâu!”. Nói vắn tắt là không thể đem trí năng (intellect) của con người mà hiểu được hết lý nhân duyên. Nó trùng trùng vô tận, nhân trở thành duyên, duyên trở thành nhân…Đây là những hình ảnh métaphore, simulation để giúp cho chúng ta thôi. Đừng nghĩ là ta hiểu hết được. Khi bắt đầu thấy chưa hiểu được thì lúc đó ta bắt đầu hiểu rồi, còn khi nói tôi hiểu rồi tức là ta chưa hiểu gì hết. Khi một người thầy nghe đệ tử mình nói con hiểu rồi thì ông biết là nó chưa hiểu gì hết. Khi đệ tử nói con chưa hiểu, con chỉ bắt đầu hé thấy cái gì đó thì ông biết đệ tử này đã bắt đầu hiểu.

Sư tử nhãn, nhĩ chi tiết, nhất nhất mao xứ, các hữu kim sư tử: Những chi tiết như con mắt, lỗ tai, hay mỗi sợi lông sư tử, tất cả đều hàm chứa sư tử trong đó. Nhất nhất mao xứ có nghĩa là mỗi sợi lông sư tử đều hàm chứa sư tử.

Đồng thời đốn nhập nhất mao trung: Mỗi sợi lông sư tử đều có sư tử và tất cả sợi lông đi vào mỗi sợi lông.

Nhất nhất mao trung giai hữu vô biên sư tử: Trong mỗi sợi lông có không biết bao nhiêu là sư tử. Ý niệm một sư tử cũng tan biến mất. Ban đầu chúng ta nói có một ngọn đèn chiếu vào tấm gương này rồi hình ảnh đó chiếu lại vào tấm gương kia. Nhưng thật ra có vô số vô biên ngọn đèn chiếu nhau. Ngọn đèn này là ngọn đèn kia. Vì vậy ý niệm đây chỉ có một con sư tử cũng biến mất. Trong mỗi sợi lông sư tử có vô số vô biên sư tử.

Hựu phục nhất nhất mao, đới thử vô biên sư tử, hoàn nhập nhất mao trung: Lại nữa, mỗi sợi lông mang vô biên sư tử. Nhưng tất cả vô biên sư tử đó đều nằm gọn trong một sợi lông.

Như thị trùng trùng vô tận, do Thiên đế võng châu là cứ như vậy mà lớp này lớp kia, lớp lớp lặp lại với nhau cho đến vô tận, giống như võng châu của vua Thiên đế.

Danh nhân đà la võng cảnh giới môn: cho nên gọi là nhân đà la võng cảnh giới môn (Indra ‘s net).

Trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, mỗi khi lạy Bụt chúng ta phải quán tưởng:

Ngã thử đạo tràng như đế châu

Thập phương chư Phật ảnh hiện trung

Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền

Đầu diện tiếp túc qui mạng lễ

Trong khi chắp tay quán tưởng, chúng ta thấy là: Trong thế giới có không biết bao nhiêu là Đức Thế Tôn, quá khứ, hiện tại và vị lai, đầy dẫy cả vũ trụ. Ta quán tưởng ở đâu có Bụt là có ta. Nếu Đức Thế Tôn là vô lượng vô biên thì ta cũng vô lượng vô biên:

Trong hạt bụi có vô số Bụt

Mỗi vị an trú chúng hội mình

Bụt không phải là một, Bụt là vô lượng, Bụt có mặt khắp nơi, không biết có bao nhiêu là Bụt, hằng hà sa số. Con cũng vậy, con cũng vô lượng, con không thua gì Bụt hết. Ở đâu có Bụt là có con, con là Bụt. Bụt ở trong con, con ở trong Bụt. Thấy được như vậy, ta lạy xuống thì mới hay. Còn mình thấy mình chỉ toàn là khổ đau, Bụt toàn là hạnh phúc. Khổ đau chạy đi kiếm chác một chút hạnh phúc, đó không phải là sự thực tập của chúng ta. Cái lạy không phải là sự tín mộ, cầu xin mà là một sự quán chiếu (meditation).

Cánh cửa này là cánh cửa biểu tượng (métaphore, simulation).

Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn
Bát, thuyết thử sư tử dĩ biểu vô minh, ngữ kỳ kim thể cụ chương chân tính. Lý sự hợp luận, huống A lại gia linh sinh chính giải, danh Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn.

Cánh cửa thứ tám: Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn
Đề cập tới sư tử là đề cập tới vô minh, còn đề cập tới thể tính của vàng là để đề cập tới chân tính một cách rõ ràng. Lý và sự đem hợp chung với nhau để bàn luận cũng như nói về thức A lại gia để giúp phát sinh kiến giải chân chính. Cái này gọi là Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn.

Thác là vay mượn, sự là cái gì đó, thác sự là vay mượn một cái gì đó. Hiển pháp là làm sáng tỏ bản chất các pháp, sinh giải là giúp cho người ta hiểu được. Thác sự hiển pháp sinh giải có nghĩa là mượn một sự việc hay một hiện tượng nào đó để làm sáng tỏ bản chất của các pháp, để giúp người ta hiểu rõ hơn tự tánh của các pháp.

Khi đi dạy, có lúc tôi dùng hộp quẹt và que diêm. Ngọn lửa phát hiện từ hộp quẹt và que diêm là một thác sự. Tôi mượn hộp quẹt, que diêm và ngọn lửa để làm sáng tỏ bản chất vô sinh bất diệt, phi khứ phi lai của vạn sự; có lúc tôi dùng tờ giấy, nhìn vào tờ giấy thì thấy được đám mây, mưa, rừng cây. Tờ giấy đó là thác sự. Thác sự tức là mượn một sự vật. Giúp cho người phát sinh ra sự hiểu biết của họ về các pháp do sự khéo léo sử dụng các hình ảnh gọi là thác sự hiển pháp sinh giải.

Lý và sự đem hợp chung để bàn luận hay nói về thức A lại gia là để giúp làm phát sinh kiến giải chân chính. Ta biết là Hoa Nghiêm Tông được thừa hưởng giáo lý của Duy Thức Tông, giáo lý của Thiên Thai Tông và giáo lý của Tam Luận Tông.

Tam Luận Tông là một tông phái được thành lập trên ba bộ luận: Trung Luận, Bách Luận và Thập Nhị Môn Luận. Ba bộ luận này là để làm sáng tỏ giáo lý không. Nền tảng của Tam Luận Tông là các Kinh Bát Nhã.

Có một nền văn học đạo Bụt được gọi là nền Văn Học Bát Nhã, chuyên giải về không (Emptiness). Không đây là bản thể của vạn pháp chứ không phải là “cái không “ đối chọi với “cái có”. Chúng ta có Pháp Tướng Duy Thức Tông nói về tướng trạng của các pháp.

Nếu so sánh, ta có thể nói Tam Luận Tông nói về lý, tức là cái thể của thực tại, và Pháp Tướng Tông nói về phương diện hiện tượng. Nếu Duy Thức được gọi là Pháp Tướng thì Tam Luận được gọi là Pháp Tánh. Một bên nghiên cứu về bản thể còn một bên nghiên cứu về hiện tượng. Nghiên cứu thực tại về phương diện bản thể thì gọi là pháp tánh hay là . Nghiên cứu thực tại về phương diện hiện tượng thì gọi là pháp tướng hay là sự.

Thầy Huyền Trang đi Ấn Độ và tại học viện Na Lan Đà thầy đã học về Pháp Tướng Duy Thức rất nhiều. Thầy được trực tiếp học với một trong mười vị đại luận sư của Duy Thức là thầy Giới Hiền. Thầy Giới Hiền lúc đó đã gần 100 tuổi và làm viện trưởng trường đại học Na Lan Đà. Khi về nước, thầy Huyền Trang tom góp lại những tư liệu đã học làm thành một tác phẩm gọi là Thành Duy Thức Luận. Thầy có một đệ tử rất giỏi là thầy Khuy Cơ. Chính thầy Khuy Cơ đứng ra chủ trương thành lập một tông phái gọi là Pháp Tướng Duy Thức Tông. Thầy Khuy Cơ (632-682) cùng đồng thời với thầy Pháp Tạng.

Cố nhiên thầy Pháp Tạng chịu ảnh hưởng của giáo lý Pháp Tướng Tông trong đoạn nói về A lại gia thức, đồng thời thầy cũng thừa hưởng được nhiều của Tông Thiên Thai.

Tông này được thành lập trên một ngọn núi tên Thiên Thai. Tông Thiên Thai cũng dựa trên giáo lý của Tam Luận Tông, phát triển và đưa ra những giáo lý rất đặc thù, trong đó có ba phép quán (Tam quán): Không, Giả và Trung. Tông Thiên Thai có đề cập tới bản thể học nhưng khi nói tới hai phép quán Giả và Trung thì cũng có đề cập tới hiện tượng.

Đứng về phương diện triết học có thể nói Tam Luận Tông đi về bản thể (ontologie), Pháp Tướng Tông đi về hiện tượng (phénoménologie).

Hiện giờ có một trường phái triết học gọi là Hiện Tượng Luận (Phénoménologie) do triết gia Husserl chủ trương. Ông chủ trương đừng nên chìm đắm hay tự đánh mất mình trong bản thể học. Hiện tượng phát sinh ra trong tâm của ta như thế nào thì ta nghiên cứu cái đó, đừng nên đi xa quá, đừng tự đánh mất mình trong những suy tưởng siêu hình. Duy Thức Tông thuộc về Hiện Tượng Luận.

Thiên Thai Tông nói về tánh nhưng cũng có nói về tướng. Có thể nói Thiên Thai Tông ôm lấy cả tánh lẫn tướng. Vạn vật có đó nhưng có một cách hư giả. Bản chất của nó là không. Khi nhìn vào hiện tượng mà thấy được bản chất không của nó thì mình vượt thoát tất cả các cặp đối nghịch như sinh-diệt, một-nhiều, tới-đi, còn-mất. Có ba phép quán: Không, Giả và Trung. Không không phải là bước thứ nhất, Giả không phải là bước thứ hai, Trung không phải là bước thứ ba. Quán Không thì thấy Giả, Trung. Quán Giả thì thấy Không, Trung. Quán Trung thì thấy Không, Giả. Một cái bao hàm ba cái, không có cái nào thấp hơn cái nào cả. Ba cái đều tương tức gọi là Tam quán viên dung.

Khi học Hoa Nghiêm Tông mình thấy phản chiếu trong đó giáo lý của Thiên Thai, của PhápTướng và của Tam Luận. Có thể nói Hoa Nghiêm Tông thừa hưởng những giáo lý này và đã đưa những giáo lý này đến mức toàn mỹ.

Vào thời đó có phong trào nghiên cứu thực thể trên căn bản duyên khởi. Có một tác phẩm nổi danh tên là Đại Thừa Khởi Tín Luận, có nghĩa là giáo lý đại thừa có khả năng làm phát khởi lòng tin cho con người. Đại Thừa Khởi Tín Luận chủ trương rằng, vạn sự vật là do tâm của chúng sanh. Tâm của chúng sanh có thể được nhìn qua hai mặt, mặt chân như (suchness) và mặt sinh diệt của nó. Quán chiếu về thực tại như một biểu hiện của tâm thì ta thấy hai mặt: một là chân như của tâm và hai là sinh diệt của tâm. Chân như của tâm là đứng về phương diện tánh, còn sinh diệt của tâm là đứng về phương diện tướng.

Khi Pháp Tướng Tông đưa ra A lại gia thức thì A lại gia là sự nối kết giữa chân như và sinh diệt. Khi nói tới chân như (tánh), người ta nói chân như chỉ là chân như mà thôi, và khi nói tới sinh diệt (tướng) thì sinh diệt chỉ là sinh diệt. Nhưng khi nói tới A lại gia thì nó ôm cả tánh lẫn tướng, cả chân như lẫn sinh diệt. Chân như và sinh diệt hòa hợp với nhau trong A lại gia thức. Nếu tiếp xúc với A lại gia thức thì chúng ta tiếp xúc được với sinh diệt, và nếu tiếp xúc cho sâu sắc thì đồng thời chúng ta cũng tiếp xúc được với chân như. Trong A lại gia thức có đầy đủ tất cả. Đó là giáo lý của Đại Thừa Khởi Tín. Giáo lý đó cũng được phản chiếu trong Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương: Đề cập tới sư tử là đề cập tới sinh diệt, còn đề cập tới thể tính của vàng là đề cập tới chân như; lý và sự được đem ra để bàn chung.

Trước đó, người ta bàn về lý và sự riêng ra. Đó gọi là nguyên tắc tánh tướng biệt quán, tức là tánh (bản thể) và tướng (hiện tượng) phải được nghiên cứu riêng (the separated investigation of the numena and the phenumena).

Trong ví dụ sóng và nước, chúng ta thấy liên hệ giữa sóng và sóng, và liên hệ giữa sóng và nước khác nhau. Cũng như khi nói tới Thượng đế và con người. Con người là do cha mẹ, thức ăn sinh ra, đó là đứng trên phương diện tướng hay hiện tượng mà nói. Còn nói con người là do Thượng đế sinh ra là chuyện khác. Đem Thượng đế xuống ngang hàng với con người, coi Thượng đế như là một trong những hiện tượng thì sai. Các sóng xô nhau, làm ra nhau. Bây giờ đem nước tới ngang hàng với sóng thì không được, sóng là sóng, nước là nước. Nghiên cứu về sóng thì chỉ nghiên cứu sóng thôi còn nghiên cứu về nước thì chỉ nghiên cứu nước thôi. Lôi nước xuống ngang hàng với sóng, lôi Thượng đế xuống thành một ông cha sinh ra một đứa con như mình sinh ra con của mình thì không được. Nước sinh ra sóng khác với sóng sinh ra sóng.

Trong kinh thánh Cơ đốc giáo có nói: Kitô là con của Thượng đế (the son of God) nhưng Kitô cũng là con của con người (the son of man). Khi nói về Thượng đế và về con người thì phải đứng ra hai mặt khác nhau, không thể đem Thượng đế đặt ngang hàng với con người. Thượng đế sinh ra con người không giống như con người sinh ra con người.

Thật ra các sóng xô đẩy, sinh ra nhau, nước chỉ đóng vai trò gọi là vô lực. Thượng đế chỉ cho phép con người sinh ra thôi, Thượng đế không làm gì hết. Đó là tánh tướng biệt quán.

Thiên Thai Tông nói, tại sao không nghiên cứu chung vì vậy đã đưa ra A lại gia thức. A lại gia thức ôm cả tánh lẫn tướng, vừa ôm chân như, vừa ôm sinh diệt. Chân như là sinh diệt, sinh diệt là chân như, tại sao lại tách rời hai cái ra? Đó gọi là tánh tướng đồng quán.

Chân như và sinh diệt hòa hợp với nhau, bản thể và hiện tượng hòa hợp với nhau, A lại gia thức làm phát sinh kiến giải chân chính. Cái đó gọi là Thác Sự hiển Pháp Sinh Giải Môn.

 

Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn
Cửu, sư tử hữu vi chi pháp, niệm niệm sinh diệt. Sát na chi gian, phân vi tam tế vị quá khứ, hiện tại, vị lai. Thử tam tế các hữu quá hiện vị lai. Tổng hữu tam tam chi vị, dĩ lập cửu thế, tức thúc vi nhất đoàn pháp môn. Tuy tắc cửu thế các các hữu cách tướng, do thành lập dung thông vô ngại, đồng vi nhất niệm danh Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn.

Cánh cửa thứ chín: Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn
Sư tử là pháp hữu vi, sinh diệt trong từng phút giây. Trong mỗi sát na có chia thành ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai và mỗi thời đều chứa đựng quá khứ, hiện tại và vị lai. Tất cả đều có ba lần ba làm vị trí, do đó lập thành chín thời. Chín thời này gom lại thành một pháp môn (cửa ngõ của pháp) duy nhất. Tuy là chín thời nhưng mỗi thời đều có tướng cách biệt. Vì tất cả đều được thành lập một cách dung thông vô ngại nên tất cả đều có mặt chung trong một niệm (khoảnh khắc thời gian). Cái này gọi là Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn.

Trong đoạn này sư tử được ví dụ là một pháp hữu vi. Sư tử là hữu vi thì cái gì là vô vi? Vô vi tức là vàng. Nếu sư tử đại diện cho hữu vi thì vàng đại diện cho vô vi. Trong khi hữu vi có sinh, có diệt, có biến đổi trong từng sát na thì vô vi lại không sinh không diệt, không biến đổi trong từng sát na.

Trong tương lai, chúng ta sẽ học về pháp vô vi trong các bộ phái của Phật giáo. Có những tông phái chủ trương các pháp đều là hữu vi, chỉ có một pháp vô vi thôi, đó là Niết Bàn. Có những tông phái thì chủ trương có ba thứ vô vi, sáu thứ vô vi hay chín thứ vô vi.

Hữu vi là do các điều kiện nhân duyên tập hợp mà thành, mà hoại. Vô vi là không do những điều kiện tập họp mà thành, nó không bị biến hoại, thay đổi hay biến chuyển trong từng sát na.

Trong ví dụ sư tử vàng, sư tử tượng trưng cho hữu vi và vàng tượng trưng cho vô vi. Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng một ví dụ chỉ là ví dụ thôi. Nếu chúng ta bị kẹt vào ví dụ thì chúng ta sẽ đi lạc. Vàng làm ra tướng sư tử, và khi tướng sư tử mất thì vàng có thể làm ra những hình tướng khác như bông tai vàng, vòng vàng hay kiềng vàng. Những đồ trang sức đó tuy có thay đổi hình thái có diệt, có có, có không, có còn, có mất nhưng vàng thì vẫn y là vàng, không thay đổi, không có không, không còn mất. Vì vậy vàng tượng trưng cho vô vi, không sinh không diệt. Còn sư tử và những đồ vật làm bằng vàng thì tượng trưng cho hữu vi, có sinh, có diệt, có có, có không.

Nhưng có nguy hiểm là chúng ta có thể bỏ sư tử để đi tìm vàng. Chúng ta bỏ thế giới hiện tượng để đi tìm thế giới bản thể. Chúng ta bỏ thế giới của tướng để đi tìm thế giới của tánh như là một cái gì chắc thật. Nguy hiểm nằm ở chỗ đó! Vì vậy phải nhắc đi nhắc lại là ngoài con sư tử thì đi tìm vàng không bao giờ có. Vàng không thể nào có ngoài sư tử vàng. Ngoài các pháp hữu vi, không thể tìm được vô vi pháp!

Khi một đệ tử tới hỏi một vị thiền sư : “Bạch thầy! Mình đi tìm cái bất sinh bất diệt ở đâu?” thì thiền sư nói: “Tìm ở trong cái sinh diệt đó!“ Rất là hay! Tìm cái bất sinh bất diệt ở đâu? Tìm ngay trong cái sinh diệt. Ngoài cái sinh diệt đừng mong tìm ra cái bất sinh bất diệt.

Một người Phật tử cũng có thể nói như vậy khi nói tới Thượng đế là tạo hóa, và loài người, núi sông, cây cỏ là tạo vật. Đi tìm Thượng đế ở đâu? Phải tìm ngay ở tạo vật. Ngoài tạo vật không thể tìm ra được Thượng đế. Cũng như đi tìm nước ở đâu? Phải tìm ngay nơi sóng. Vứt hết sóng đi thì làm gì có nước nữa? Nếu muốn tìm Thượng đế thì phải tìm ở ngay con người (thế giới tạo sinh). Chúng ta có danh từ creature (créature). Créature là vật tạo sinh, là thế giới tạo sinh, còn créateur là tạo hóa. Theo nguyên tắc tánh-tướng hay sư tử-vàng, chúng ta đi tìm vàng ngoài sư tử vàng không được. Đi tìm tạo hóa (créateur) ngoài tạo vật (créature) là không được. Theo nguyên tắc của đạo Bụt là như vậy. Tìm Bụt ở đâu? Tìm ngay trong chúng sinh. Tìm Thượng đế ở đâu? Tìm ngay nơi con người. Tìm cha ở đâu? Tìm ngay nơi con. Tìm chúa cha ở đâu? Tìm ngay nơi chúa con. Chúa con tuy là con của chúa cha nhưng cũng là con của con người (the son of god and the son of man).

Chỗ nguy hiểm là chúng ta nói rằng: Thế giới hiện tượng này, nó phù hoa, nó ảo mộng, nó sinh diệt, chúng ta nên chán, nên tìm thế giới của bản thể thường hằng, bất biến, nên tìm Niết Bàn. Nghĩ như vậy rất nguy hiểm, vì ngoài thế giới sinh diệt, biến ảo thì đừng hòng tìm được thế giới của vô vi, của bất diệt.

Cũng như Làng Mai chúng ta hay nói tới đám mây. Nhìn vào đám mây, ta thấy hầu như là có sinh có diệt. Nhưng ta cũng đã bao nhiêu lần quán chiếu thấy đám mây là không sinh không diệt. Vì vậy ta phải tìm cái không sinh không diệt ngay chỗ sinh diệt. Chúng ta bỏ những cái gọi là vô thường, sinh diệt để tìm những cái thường, không sinh không diệt, việc làm đó là nguy hiểm nhất.

Nói đến tánh là một cái gì chân thật, còn mãi, còn hoài, thì không có đâu! Nó là vô tánh. Nói tánh là chỉ để nói mà thôi. Nếu mình chấp vào tánh là một cái gì thường hằng, bất biến ngoài những cái sinh diệt, biến hóa thì còn tệ hơn là tin vào những hiện tượng là thường hằng, bất biến.

Khi chúng ta học ba tự tánh là biến kế chấp, y tha khởi và viên thành thật thì lập tức phải học ba vô tự tánh để ngăn ngừa, để khỏi kẹt vào một tự tánh chắc thật có ngoài sinh diệt.

Sư tử là pháp hữu vi, sinh diệt trong từng phút giây. Trong mỗi sát na có chia làm ba thời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Cánh cửa thứ chín này nói về sự tương tức giữa ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Tương tức giữa ba thời là cái nhìn sâu sắc hơn.

Khi các bạn mới tới Làng Mai thì nghe nói: “Quá khứ đã đi qua, tương lai thì chưa tới, hai cái đó chỉ là ảo mộng thôi, chỉ có hiện tại là có thật”. Đó là cách nói để tiếp độ cho những người mới tới. Nếu ta bị kẹt vào đó như một giáo điều thì ta cũng hỏng. Nói Làng Mai chủ trương, chỉ có hiện tại là có thật còn quá khứ và vị lai thì không có, là oan cho Làng Mai. Làng Mai cũng biết rằng, hiện tại ôm lấy quá khứ và tương lai.

Hôm nay chúng ta thực tập địa xúc ở xóm Thượng. Chúng ta nói rằng: “Con lạy xuống, con tiếp xúc được với tổ tiên đang có mặt trong con và con tiếp xúc được với con cháu tuy là chưa biểu hiện nhưng đã có mặt trong con rồi”. Trong hiện tại ta tiếp xúc được với quá khứ và vị lai.

Trong mấy mươi tông phái của thời kỳ đạo Bụt Bộ phái, có tông phái chủ trương: Chỉ có hiện tại, không có quá khứ và tương lai, và hiện tại thì sinh diệt từng sát na. Nhưng có tông phái nói: Có hiện tại, nhưng quá khứ cũng có và tương lai cũng có. Phái Hữu Bộ nói: Tam thế hằng hữu. Nghĩa là ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai luôn luôn có đó, không mất đi đâu hết.

Vấn đề thời gian là một vấn đề lớn, cho nên các tông phái, các bộ phái đạo Bụt đều đề cập tới.

Cánh cửa thứ chín này cho chúng ta thấy giáo lý tương tức giữa ba đời rất rõ. Nhìn vào các pháp thì thấy thời gian trong đó. Nhìn vào không gian thì thấy thời gian trong đó. Thời gian ôm không gian và không gian ôm thời gian. Có sự tương tức giữa khôngthời. Nói thời gian mà không nói các pháp thì làm sao nắm được thời gian? Chính khi nhìn các pháp mới thấy được thời gian. Nói về thời gian là nói về không gian và các pháp. Nói về thời gian là nói về ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Mỗi thời trong ba thời đều có cả ba thời. Đây là hiện tại, trong hiện tại có quá khứ, hiện tại và vị lai; đây là quá khứ, trong đó có quá khứ, hiện tại và vị lai; đây là vị lai, trong đó có vị lai, quá khứ và hiện tại. Nhìn vào ba thời, theo lý tương tức, chúng ta thấy có chín thời. Chín thời đó, tuy chia ra như vậy nhưng nhìn kỹ thì nó tương tức nên có thời tổng hợp thứ mười, gọi là thập thế (mười thời). Nhìn một pháp qua mười thời thì mới thấy được pháp đó.

Thập thế cách pháp dị thành môn có nghĩa là các pháp khác nhau (dị) được thành lập (thành) riêng biệt khác nhau (cách) nhưng nó chia sẻ chung cả mười thời (All things variously arise through the oneness of the ten times). Đó là ý niệm tương tức giữa thời gian và các pháp. Thời gian làm gì có nếu không có các pháp? Chính là nhờ có các pháp và nhìn vào các pháp mà ta thấy được thời gian và tính tương tức của nó.

Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn
Thập, kim dữ sư tử hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc nhất hoặc đa, các vô tự tính, do tâm hồi chuyển. Thuyết sự thuyết lý, hữu thành hữu lập, danh Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn.

Cánh cửa thứ mười: Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn
Vàng và sư tử hoặc ẩn hoặc hiển tùy trường hợp, hoặc một hoặc nhiều, thật ra cả hai đều không có tự tánh, tất cả đều xoay quanh và biến chuyển theo tâm. Dù nói về sự hay về lý (bản thể hay hiện tượng) thì cả hai đều do tâm mà có sự thành lập và có cái vị trí của mình. Cái này gọi là Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn
.

Sư tử không có tự tánh mà vàng cũng không có tự tánh. Tướng, tánh là từ tâm chúng ta mà ra. Giống như khi ta chơi nhạc vậy, chơi ra một bản nhạc rồi thôi, bị vướng vào một bản nhạc thì không được.

Đó là một cách nói, chia ra làm tướng, làm tánh, làm vàng, làm sư tử, nhưng tất cả đều do tâm mà hiện ra. Sự thành lập của các pháp trên cơ bản nhân duyên, sự liên hệ giữa tánh và tướng, tất cả thứ đó đều do thi thiết của tâm mà thôi. Rốt cuộc tất cả chỉ là tâm, cái đó gọi là duy tâm hồi chuyển thiện thành môn (The universal accomplishment through the projection of mind only). Sự thành lập khéo léo của các môn đều quay về nhất tâm. Duy tâm tức là tất cả đều từ tâm. Hồi chuyển thiện thành có nghĩa là khéo léo qui về nơi tâm. Tướng-tánh, hiện tượng-bản thể, duyên sinh, tất cả những cái chúng ta đưa ra đều là phương tiện. Tất cả đều từ một tâm mà ra. Cánh cửa thứ mười, sau này thầy Pháp Tạng đổi ra thành:

Chủ Bạn Viên Minh Cụ Đức Môn

Chủ là cái chính, bạn là cái phụ. Tùy theo trường hợp, có lúc cái này làm chủ, cái kia làm bạn, nó thay đổi nhau mà đóng vai trò, không có cái nào quan trọng hơn cái nào. Đức Quan Âm bồ tát đã thành Bụt lâu rồi mà vẫn đóng vai đệ tử. Đức Thích Ca cũng vậy, ngài đã thành Bụt lâu rồi mà cũng có thể đóng vai thính chúng, thanh văn. Chính Đức Quan Âm cũng hóa hiện ra nhiều tướng, khi thì con nít, khi thì người lớn.

Tùy theo trường hợp mà đóng vai trò, lúc nào cần làm con nít thì chúng ta làm con nít, lúc nào cần làm người lớn thì chúng ta làm người lớn. Nếu cần làm sư chị thì ta sợ gì không làm sư chị? Nếu cần làm sư em thì tại sao ta không làm sư em? Miễn là mình làm cho đẹp, cho thành mà thôi. Không có cái nào quan trọng hơn cái nào.

Ở trong một cây lúa, trong một bông hoa cũng vậy. Nó có chủ, có bạn. Cái nào nổi bật hơn, trở thành quan trọng nhất thì nó là chủ. Cái nào núp sau lưng để yểm trợ thì là bạn. Núp sau lưng không có nghĩa là không quan trọng bằng. Khi một cái núp sau lưng biểu hiện ra thì cái hồi nãy hiển hiện làm chủ bây giờ trở thành bạn. Làm vua, làm tôi, làm anh, làm em, làm thầy, làm trò đều là như vậy. Kiếp này ta làm thầy, kiếp sau ta làm trò. Kiếp này ta làm cha, kiếp sau ta làm con. Vấn đề là ta làm được trách vụ của mình cho đẹp thôi. Một cái hiển thì tất cả cái khác ẩn. Ẩn-hiển, chủ-bạn có liên hệ với nhau, chúng ta phải làm cho khéo, phải làm như những nhà nghệ thuật.

Đoàn kịch tại Brusselles đang tập vở “Đường xưa mây trắng”. Họ có đến thăm tôi trong khóa tu vừa rồi. Có một cô rất xinh đóng vai Da du đà la. Cô đó cũng sẽ đóng vai người phụ nữ tới vu oan cho Bụt đã ngủ với cô, làm cho cô mang bầu rồi bỏ cô ta. Cũng cô đó, khi thì đóng vai này, khi thì đóng vai kia, nhưng vai nào cũng là để phụng sự cho vở kịch.

Trong nghệ thuật hát bội, có những qui luật của hát bội: khuôn mặt người đóng vai trung thần thì bôi màu khác, nịnh thần thì bôi màu khác, không được lẫn lộn. Sau khi diễn xong vai người nịnh, rồi làm người trung thì phải bôi màu khác. Ẩn-hiển, chủ-bạn là như vậy.

Bây giờ chúng ta đi tới lục tướng.

06. Luận vô tác

.VІ.

Luận vô tác
Luận bàn về vô tác

________________

 

Luận về vô tác
Toàn thân sư tử đã là vàng thì sư tử không cần phải lao đao đi tìm vàng ngoài bản thân của mình nữa, cho nên gọi là vô tác.

 

Chúng ta hãy tưởng tượng đợt sóng đi tìm nước thì thật là buồn cười, tại vì bản chất của sóng đã là nước rồi. Chúng ta đi tìm Bụt cũng vậy, cũng rất là buồn cười, tại vì bản chất của ta là vô sinh bất diệt. Bụt luôn luôn có đó, chúng ta muốn nắm tay Bụt đi thiền hành lúc nào cũng được. Vậy mà ta cứ đi tìm hoài, đi hết chùa này đến chùa khác. Bụt có ở trong ta mà ta cứ đi tìm lao đao, lận đận. Tưởng tượng một đợt sóng đi tìm nước, thật là buồn cười. Chúng ta đã là cái mà ta muốn đi tìm rồi. We are all what we want to become. Đó là vô tác.

Tông Hoa Nghiêm chủ trương Năm giáo, chia giáo lý của Bụt làm năm thời kỳ, năm trường phái. Thời kỳ thứ nhất đơn sơ, thời kỳ thứ hai đi sâu hơn, thời kỳ thứ ba sâu hơn nữa, thời kỳ thứ tư sâu hơn nữa, thời kỳ thứ năm là cao nhất và cao nhất là Hoa Nghiêm.

Tại Làng Mai, chúng ta học Dị Bộ Tông Luân Luận, đi qua giáo lý của 20 tông phái. Cuối cùng chúng ta cũng đưa ra những định đề giáo lý Làng Mai. Cái thấy của chúng ta căn cứ trên cái thấy đó và ta đưa ra các pháp môn tương đương. Ta không nói rằng những định đề giáo lý Làng Mai là đúng nhất, là hay nhất.

Tông Hoa Nghiêm, ngoài Năm giáo, còn có chủ trương Mười tông. Khi học về năm giáo thì chúng ta cũng phải học mười tông. Chủ trương của Tông Hoa Nghiêm có mục đích phân tích để đưa tới kết luận: giáo lý Hoa Nghiêm là cao nhất, sâu nhất, tròn nhất, đầy đủ nhất!

Bây giờ ta đi sang chương khác và sẽ trở về Năm giáo và Mười tông sau, ta sẽ hiểu rõ hơn khi trở về lại.

05. Thuyết vô sinh

.V.

 

Thuyết vô sinh
Nói về lẽ vô sinh

______________

 

Thuyết vô sinh
Vị chánh kiến sư tử sinh thời, đản thị kim sinh, kim ngoại cánh vô nhất vật. Sư tử tuy sinh hữu diệt, kim thể vốn vô tăng giảm, cố viết vô sinh.

Nói về lẽ vô sinh
Khi thấy tướng sư tử sinh khởi, đó thật ra chỉ là vàng sinh khởi. Ngoài vàng không còn vật gì khác. Sư tử tuy có sinh diệt nhưng bản chất của vàng vốn không thêm bớt, cho nên gọi là vô sinh.

 

 

Phần vô sinh có liên hệ với phần vô tướng. Vô tướng tức là vô sinh. Vô sinh là mục đích của người tu. Tu là phải đạt tới vô sinh. Cửa vô sinh mở rồi. Vô sinh cũng có nghĩa là bất diệt. Khi thấy vô tướng rồi thì ta chứng được vô sinh vì vô sinh là không sinh, không diệt.

Vị chánh kiến sư tử sinh thời có nghĩa là khi ta chứng kiến sự sinh khởi của sư tử thì nhìn cho kỹ ta chỉ thấy vàng sinh khởi (đản thị kim sinh). Không có sư tử sinh khởi tại vì ngoài vàng ra không có vật gì khác nữa (kim ngoại cánh vô nhất vật). Nói ngoài vàng còn có vật gì khác nữa là vô lý tại vì sư tử cũng chỉ là vàng thôi. Sư tử tuy có sinh diệt nhưng bản chất của nó là vàng, là không thêm không bớt (kim thể vốn vô tăng giảm) nên gọi là vô sinh.

Ở đây chúng ta thấy kinh Bát Nhã rõ ràng. Bề ngoài ta thấy như là có sinh nhưng bên trong là vô sinh. Chúng ta đã học mấy chục năm nay là đám mây không có sinh. Sinh là từ không mà trở thành có. Đám mây có bao giờ sinh ra đâu? Trước khi là đám mây thì nó đã là hơi nước rồi. Hơi nước đổi ra thành đám mây, tướng này đổi sang tướng khác. Thấy được tướng vô sinh của đám mây không khó. Chúng ta biết là hơi nước thành ra đám mây, đám mây không phải từ không mà trở thành có. Đứng về lý luận thôi thì cũng đủ chứng minh được vô sinh rồi. Đã là vô sinh cũng là bất diệt. Khi không là đám mây nữa thì đám mây trở thành hơi nước, trở thành mưa. Đám mây là như vậy! Con sư tử cũng vậy, chúng ta hay người yêu của ta cũng vậy! Ta là vô sinh bất diệt, nhưng tại vì ta không thấy nên ta mới khổ.

Chúng ta thêm vào một chương nữa là chương vô tác.

04. Hiển vô tướng

.ІV. Hiển vô tướng
Hiển bày lý vô tướng

__________________

 

Hiển vô tướng
Vị dĩ kim thâu sư tử tận, kim ngoại cánh vô sư tử tướng khả đắc, cố danh vô tướng.

Hiển bày lý vô tướng
Toàn thân của sư tử là vàng. Ngoài vàng ấy không tìm ra được hình tướng sư tử, nên gọi đó là vô tướng.

 

Toàn thân sư tử chỉ là vàng, ngoài vàng làm gì có sư tử, cho nên gọi là vô tướng. Ngoài vàng không có sư tử, sư tử không có một sự có mặt riêng biệt.

Ngoài sư tử cũng không có vàng. Vàng và sư tử bình đẳng với nhau. Đi tìm một sự có mặt riêng biệt không được, đi tìm sự có mặt của tướng ngoài tánh không được. Đợt sóng không thể có mặt riêng ngoài nước, đám mây không thể có mặt ngoài H2O.

Các tướng tới-đi, sinh-diệt của sư tử chỉ là tạo tác của tâm ý. Chỉ có vàng là thật, còn các tướng là ảo, nên gọi là vô tướng.

Nếu nói đến tướng thì phải nói tướng gì? Tướng không và tướng có, tướng đẹp và tướng xấu, tướng tới và tướng đi, đó là tướng của sư tử. Những tướng đó là ảo. Tướng mây trở thành tướng mưa, tướng mưa trở thành tướng tuyết, tướng tuyết trở thành tướng nước đá. Nhìn bề ngoài, những tướng ấy như là có, không, còn, mất. Nhưng bên trong, H2O không có có, không, còn, mất. Bản chất của mây là vô tướng, bản chất của mưa, của sương là vô tướng. Những tướng có, không, sinh, diệt, còn, mất của sư tử là những tạo tác của tâm ý. Sư tử thật ra là vô tướng.

Khi người thương mất đi rồi thì chúng ta bị kẹt vào tướng mất, tại vì ngày xưa ta kẹt vào tướng còn. Bây giờ chúng ta kẹt vào tướng mất và chúng ta khổ. Người thương của chúng ta cũng vậy, bản chất của họ là vô tướng. Thấy được tính chất vô tướng của người thương thì ta không khổ nữa. Người thương không còn-mất, có-không, người thương là vô tướng. Nếu thương được người thương một cách vô tướng thì rất khoẻ.

Đoạn trên có thể cắt nghĩa như thế này: Những tướng như có-không, sinh-diệt của sư tử là những tạo tác của tâm ý, thực chất chỉ có vàng cho nên ta nói sư tử là vô tướng (signless). Từ vô tướng ta đi tới vô sinh. Đã không có tướng sinh, tướng diệt thì đi tới vô sinh rất dễ.

03. Ước tam tính

.ІІІ. Ước tam tính
Lược thuật về ba tính

_________________

Ước tam tính
Sư tử tình hữu, danh vi biến kế. Sư tử tợ hữu, danh viết y tha. Kim tính bất biến, cố hiệu viên thành.

Lược thuật về ba tính
Sư tử có đó vì nhận thức vọng tình của ta, đó gọi là biến kế. Sư tử dường như có, đó gọi là y tha. Bản chất của vàng là bất biến, đó gọi là viên thành.

 

 

Tình hữu có nghĩa là nương vào vọng tình, nương vào những yêu ghét, buồn khổ, tham đắm, si mê của chúng ta mà có. Sư tử tình hữu danh vi biến kế là con sư tử có mặt đó vì nhận thức đầy dẫy sai lầm (vọng tình), yêu ghét của ta, bởi vậy cho nên bản chất của sư tử là biến kế. Biến là cùng khắp, kế là so đo, phân biệt. Biến kế, tiếng Anh dịch là mental construction. Chúng ta tưởng tượng ra như vậy, và nó là hậu quả của những tưởng tượng của ta. Nhận thức của ta có nhiều sai lầm, phiền não, vô minh nên thấy như vậy, ta tin có thật như vậy. Kỳ thật những cái đó đều là biến kế (mental construction).

Khi nhìn một bông hoa, chúng ta phải cẩn thận, bông hoa đó có thể là một biến kế. Khi nhìn những hình trên màn ảnh, ta biết những hình trên màn ảnh là ảo mà ta vẫn khóc, vẫn buồn, vẫn giận như thường. Đó gọi là vọng tình. Khi yêu hay ghét ai cũng vậy. Ta tạo ra một hình ảnh, rồi ta yêu, ghét hay giận hình ảnh đó. Về sống với người đó vài năm thì biết là lâu nay ta đã tạo dựng một hình ảnh rất là xa lạ với người đó. Đó là biến kế (mental construction).

Sư tử tình hữu, danh vi biến kế. Sự có mặt của con sư tử là kết quả của sự đo lường của tâm ý sai lầm của ta. Đó là tính chất đầu tiên của thực hữu, tính chất biến kế. Khi thấy được như vậy thì ta không còn bị những cái giả lừa gạt nữa.

Sư tử tợ hữu, sự có mặt của sư tử là một sự có mặt tạm bợ (une existence virtuelle) và ta nắm bắt không được. Khi yêu ai thì ta tìm cách nắm bắt người đó, và càng nắm bắt thì nó càng tuột ra khỏi tầm tay của ta tại vì hình ảnh của người ta yêu là do ta sáng tạo ra. Sư tử tợ hữu, danh viết y tha. Sư tử không tự mình có được, nó nương vào những điều kiện mà có cho nên gọi là y tha. Thấy được tính y tha của sư tử là ta bắt đầu xa được tính biến kế chấp.

Y là nương vào, tha là những cái khác. Bông hoa nương vào những yếu tố không phải là hoa mà phát khởi   (The flower arises from non-flower elements). Ngoài những yếu tố không phải bông hoa mà đi tìm bông hoa thì không nắm bắt được. Ta bắt đầu thấy được sự thật là y tha. Đừng mong tìm bông hoa ngoài những yếu tố làm ra bông hoa. Tìm một bông hoa ngoài những yếu tố làm ra bông hoa là chạy theo một hình bóng không có thật, một giả hữu.

Nói như vậy không có nghĩa là bông hoa không có đó. Bông hoa có đó nhưng có trên cơ bản của những duyên khởi ra bông hoa cho nên nó là y tha, là huyễn hữu, là tợ hữu.

Khi đi tới bản thể giới, tới chân như, tới không, tới nền tảng thì ta thấy ta đã vượt thoát được cái ảo. Khi vượt thoát những hình tướng như hơi nước, mây mưa rồi thì ta mới tiếp xúc được với H2O. Cái đó là bất biến, là viên thành.

Trong tiếng Phạn, biến kế là parikalpita, y tha là paratantra, viên thành là parinispanna. Đó là tam tự tính (the three self-nature).

1-Tự tính biến kế

Ta cho hoa là có thật, có đó hoài như là một thực tại riêng biệt không dính gì tới mặt trời, đám mây, mưa, đại địa, người làm vườn… Cái thấy đó gọi là cái thấy biến kế. Ta tưởng bông hoa là một cái gì có thật, độc lập ngoài những điều kiện làm thành bông hoa, đó là tự tính biến kế chấp của bông hoa. Tự tính đó vốn không có, ta chụp vào cho nó. Nếu quán sát thì ta thấy bông hoa được làm bằng những yếu tố không bông hoa như đám mây, mặt trời, hạt giống. Lúc đó ta bắt đầu thấy tự tính thứ hai.

2-Tự tính y tha khởi

Y tha khởi là duyên khởi. Khi thấy được tự tính y tha khởi thì từ từ ta lìa được tự tính thứ nhất là biến kế sở chấp. Khi đi sâu vào tự tính y tha khởi rồi thì ta thấy nó là không. Ta lìa tính ảo, thấy được tính không của bông hoa. Trong biến kế của ta thì bông hoa có thật, độc lập, có tự tính. Bây giờ ta thấy bông hoa có đó như một cái gì ảo, do duyên sinh. Tới mức sâu nhất thì ta thấy bông hoa đó là không và tự tính của nó là viên thành.

 

3-Tự tính viên thành

Nó không sinh không diệt, không có, không không, lúc đó ta thấy được bông hoa thật. Viên thành là Niết Bàn, là cái vượt thoát có, không, còn, mất.

Chúng ta ôn lại chương ba:

Sư tử tình hữu, danh vi biến kế có nghĩa là sự có mặt của sư tử qua nhận thức vụng về, sai lầm của ta chẳng qua chỉ là biến kế, là tạo tác của tâm ý mà thôi. Hoa kia, núi kia, người mà ta tiếp xúc hằng ngày và những buồn, vui, lo lắng, sợ hãi hay ganh tị của ta đều là những tạo tác của tâm ý. Ta không thấy được sự thật. Đó là tính biến kế sở chấp do nhận thức sai lạc của ta tạo ra.

Sư tử tợ hữu, danh viết y tha có nghĩa là sự có mặt của sư tử cũng như sự có mặt của bông hoa chỉ là một sự có mặt ảo mà thôi. Ngoài những nhân duyên làm cho nó biểu hiện thì không có sự có mặt riêng biệt của nó. Ta bắt đầu thấy được tính duyên khởi, tính y tha của sự vật và ta xa lìa từ từ cái ảo tưởng, cái tạo tác của tâm ý. Khi thấu suốt, đi tới cùng mức của y tha rồi thì ta đi tới cái không sinh không diệt. Ta thấy bản chất không sinh không diệt của bông hoa, của bản thân ta. Ta thấy đám mây không sinh không diệt, không có cũng không không, ta tiếp xúc được với tự tính thứ ba, đó là tự tính viên thành. Đó là Niết Bàn, là thực tại.

Tam vô tính

Vì dùng chữ tam tự tính cho biến kế, y tha và viên thành, sợ người ta hiểu lầm là tự tính đó có thật nên chư tổ đặt ra tam vô tự tính hay vắn tắt là tam vô tính. Vô tính được đặt ra để lật đổ chữ tính, để mình đừng kẹt vào chữ tính. Tam vô tính là:

1- Tướng vô tính: Khi thấy bông hoa hay sư tử, thì ta vướng vào, đó gọi là tính biến kế. Tuy gọi là tính biến kế, nhưng tính biến kế cũng là hư vọng, thật ra nó không phải là tính, nó là vô tính, gọi là tướng vô tính.

2- Sinh vô tính: Bông hoa hay sư tử nương nhờ những hiện tượng khác mà biểu lộ, tức là do duyên sinh. Tướng đó là giả thì tướng sinh hay tướng diệt cũng là giả. Vì vậy nó cũng là vô tính nên gọi là sinh vô tính.

3- Thắng nghĩa vô tính: Thắng nghĩa tức là chân lý tuyệt đối. Khi tiếp xúc được với tính y tha và duyên khởi thì từ từ biến kế tan rã, nghĩa là ta thấy hoa hay sư tử kia không có cũng không không, không sinh cũng không diệt. Lúc đó ta đạt được tính viên thành tức là thực tại tối hậu (ultimate reality). Nhưng nếu nghĩ rằng thực tại tối hậu đó là một cái gì chắc thật, có tự tính riêng biệt thì ta vẫn còn kẹt. Tiếp xúc được với thực tại tối hậu thì vượt thoát ý niệm có và không. Kẹt vào nó như là một cái tính thì cũng sai. Ở đây thêm vào một vô tính thứ ba là thắng nghĩa vô tính.

Các tổ cẩn trọng như vậy. Các Ngài biết khi nói ra cái gì thì ta có thể níu vô cái đó, cho nên sau khi dạy tam tính thì các ngài dạy tam vô tính để ta đừng bị kẹt.

Có những nhà thần học nói: “Thượng đế là nền tảng của hiện hữu (hữu thể)”, tôi đặt câu hỏi là: “Nếu Thượng đế là nền tảng của hữu thể (God is the ground of being) thì cái gì là nền tảng của vô thể?” Thượng đế là thực tại tối hậu, là viên thành thật, là parinisvanna. Nếu diễn tả tính viên thành thật là hữu thể thì đó chưa phải là viên thành thật, tại vì viên thành thật thoát ra khỏi hữu và vô, có và không. Nói Thượng đế là có, là nền tảng của hữu thể, thì đó chưa phải là Thượng đế, tại vì nó vẫn còn kẹt vào cái có. Nếu Thượng đế là nền tảng của hữu thể thì ai là nền tảng của vô thể? Khi các nhà thần học cãi nhau về có hay không có Thượng đế thì họ đánh mất rất nhiều thì giờ. Thực tại tối hậu vượt thoát cả cái có và cái không. Nói Thượng đế có là sai mà nói Thượng đế là không cũng sai. Vì vậy nói Thượng đế là nền tảng của cái có là không đúng, vì tự tính viên thành là Niết Bàn, là thực tại tối hậu vượt thoát ý niệm có và không.

Khi nghe giảng về tam tính thì ta cho tính viên thành là cái chắc thật còn tất cả thứ khác đều là giả. Nếu ta có khuynh hướng cho tính viên thành thuộc về “cái có” thì ta chưa nắm được tính viên thành. Tự tính viên thành làm sao nắm được? Nó vượt ra khỏi có và không.

Cái hay của tác phẩm này là càng đi sâu vào thì chúng ta càng thấy dễ hiểu. Đọc đoạn đầu chúng ta chưa hiểu được; đọc đoạn thứ hai, chúng ta hiểu được đoạn đầu một chút; đọc đoạn thứ ba chúng ta hiểu đoạn đầu thêm một chút nữa. Chúng ta đừng mong đọc câu nào thì hiểu câu đó liền lập tức. Nếu có cảm tưởng mình chưa hiểu thì không sao, từ từ sẽ hiểu, càng đi sâu càng hiểu.

02. Biện sắc không

.ІІ. Biện sắc không
Biện minh về sắc không

____________________

Biện sắc không
Vị sư tử tướng hư, duy thị chân kim. Sư tử bất hữu, kim thể bất vô, cố danh sắc không. Hựu phục không vô tự tướng, ước sắc dĩ minh, bất ngại huyễn hữu, danh vi sắc không.

Biện minh về sắc không
Tướng sư tử là hư vọng, chỉ có vàng là thật. Sư tử là bất hữu, còn vàng là bất vô cho nên gọi đó là sắc không. Không là không có tự tính, nhờ sắc mà được thấy rõ, không bị ngăn ngại bởi huyễn hữu của sắc nên gọi là sắc không.

 

Ở đây chúng ta bắt đầu thấy giáo lý vô tướng. Chữ sắc không ở đây nên dịch là Form is Emptiness. Có hai ý niệm dung thường: có và không. Nếu không quán chiếu thì ta sẽ bị kẹt vào hai ý niệm “có và không” ấy, rất ngây thơ, rất buồn cười. Nếu quán chiếu thì ta sẽ có cái nhìn “về có và không” rất khác. Có là có giả và không cũng là không giả. Khi ta thấy được cái có giả và cái không giả thì ta cũng thấy được cái có thật và cái không thật. Cái có giả gọi là huyễn hữu và cái không giả gọi là đoạn không, tức là cái không ngược lại với cái có. Cái có thật gọi là diệu hữu và cái không thật gọi là chân không. Ta không bị cái không (ngược với cái có) ngây thơ giam hãm nữa.

Ví dụ như khi coi TV, chúng ta thấy rõ là có người, có động tác, có khóc, có cười, và chúng ta có thể cười và khóc theo người trên màn hình TV. Những người, những động tác trên màn hình là có nhưng có một cách ảo. Chúng ta tới bắt tay những người đó không được, mời những người đó uống nước không được. Nó có nhưng là có ảo (une existence virtuelle). Nói Làng Hồng ở địa chỉ: “Meyrac, Loubès-Bernac, France”, thì đó là một địa chỉ có thật. Chúng ta lái xe theo chỉ dẫn trên bản đồ thì có thể tới địa chỉ đó được. Nhưng muốn lái xe tới www.plumvillage.org thì không bao giờ tới được, vì đây là một địa chỉ ảo.

Vậy thì cái ta hay danh từ hoa cũng vậy. Khi hạt giống, đám mây, mặt trời, đại địa tới với nhau để làm phát hiện ra hoa thì hoa đó là một cái gì ảo, là một tên gọi. Ngoài những duyên tới với nhau để làm biểu hiện ra hoa thì không tìm được một bông hoa riêng biệt. Sự có mặt của hoa nằm ngoài những điều kiện, đó là một cái ảo không thể có được. Vậy thì những cái mà ta gọi là hoa, là mây hay là gió đều là những cái ảo, không thể nắm bắt được. Không nắm bắt được, trong đạo Phật gọi là bất khả đắc. Đôi khi chúng ta tưởng là nắm bắt được nhưng thật ra là không nắm bắt được. Vì vậy bản chất của các pháp là không nên gọi là sắc tức thị không.

Sắc tức thị không có nghĩa là những cái mình tin là có thật, thật ra nó là giả, là huyễn hữu, là không. Không ở đây vượt thoát “cái không” thường nên gọi là chân không. Chân không làm nền tảng cho huyễn hữu cũng như vàng làm nền tảng cho sư tử. Vàng không phải là không có.

Không là không có tự tính, nhờ sắc mà thấy được rõ, không bị ngăn ngại bởi cái huyễn hữu của sắc nên gọi là sắc không. Chính nhờ quan sát sắc mà ta thấy được không, đi tìm không ngoài sắc thì không được. Cũng như nhờ có sóng mà ta nhận diện được sự có mặt của nước. Nếu không có sóng thì đi tìm nước làm sao được? Tuy sóng là huyễn hữu, là giả hữu, nhưng nhờ sóng mà ta nhận diện ra được sự có mặt của nước. Ngoài thế giới hiện tượng ta không thể nào thấy được thế giới bản thể. Vứt bỏ tích môn thì ta không thể nào tìm thấy bản môn. Con sư tử thầy Pháp Tạng đang cầm trên tay là con sư tử vàng, nếu sư tử không có đó thì làm gì ta thấy được vàng? Nhờ hiện tượng giới mà ta thấy bản thể giới. Nhờ những đợt sóng mà ta thấy nước. Nước không có tự tánh, nhờ có sóng mà ta thấy được nước. Vàng không có tự tánh, nhờ con sư tử mà ta thấy được vàng.

Trong đoạn thứ hai chúng ta thấy được nghĩa của đoạn thứ nhất. Nhờ hiện tượng giới hư ảo mà ta biết bản thể giới có đó. Nhờ có tướng sư tử hư vọng mà ta thấy được chất vàng. Nhờ có sắc (form) mà ta biết được không (emptiness). Nếu không có sắc làm sao ta biết được không? Không đây là Niết Bàn, là thực tại tối hậu vượt ra ngoài ý niệm có và không.

Trong truyền thống Cơ đốc giáo người ta dùng chữ Thượng đế. Có những nhà thần học nói: Thượng đế là nền tảng của hiện hữu (God is the ground of everything). Họ nói đến một cái gì rất tương tợ với cái không, nền tảng của tất cả cái hữu. Không không có nghĩa là không có mặt của hiện hữu nhưng tất cả đều có mặt một cách ảo. Không đó là không có cũng không không. Nó không có cũng không không nên mới thật là không, gọi là chân không. Cái ngược lại với “cái có” không phải là chân không. Chân không là nền tảng của vạn pháp, nó vượt thoát ý niệm có và không thông thường.

Đi tới mức cao nhất thì Thượng đế không phải có cũng không phải không. Nói Thượng đế có cũng sai mà nói Thượng đế không cũng sai. Nếu hiểu như vậy thì Thượng đế là Niết Bàn, là nền tảng của mọi hiện tượng. Niết Bàn là không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, không tới cũng không đi. Niết Bàn là nền tảng của tất cả các cái mà ta cho là có sinh có diệt, có tới có đi, có có có không.

Ý niệm chân khôngdiệu hữu giúp cho chúng ta nhiều lắm. Cái này (diệu hữu) không phải là “cái có” mà ta thường nói tới tức là giả hữu. Cái không này (chân không) không phải là “cái không” mà ta thường nói tới tức là đoạn không.

Tướng sư tử là hư vọng, chỉ có vàng là thật. Sư tử là “cái có” hư vọng, vàng là “cái không” chân thật. Sư tử là bất hữu còn kim thể là bất vô. Hiện tượng giới là hư ảo trong khi bản thể giới là có thật.

Khoa học có nói tới một chất gọi là H2O. Trong không khí ta thở có hơi nước mà ta không thấy được. Khi hơi nước trong không khí va chạm với những luồng khí lạnh thì tự nhiên ta thấy được nó dưới hình thức của những đám sương mù hay những đám mây. Đám mây trên trời nhiều khi cũng biến thành hơi nước trở lại. Đám mây được làm bằng những giọt nước rất nhỏ, chỉ lớn độ 0,02 mm. Có khi mây được làm bằng những hạt nước đá rất nhỏ. Khi có sự vận động trong đám mây thì những giọt nước va chạm nhau thành những hạt lớn hơn và rớt xuống. Nếu khi rớt xuống mà gặp phải hơi nóng thì hạt nước trở thành hơi nước trở lại, cứ đi xuống đi lên như vậy. Nếu có điều kiện thuận lợi thì hơi nước trở thành mưa, mưa đá hay tuyết. Hơi nước, sương mù, đám mây, tuyết hay mưa là hiện tượng giới. Những thứ đó là huyễn hữu, cái thật là H2O.

Làm sao ta biết được vàng? Biết được vàng là tại nhờ ta nhìn con sư tử. Làm sao ta biết được H2O? Tại vì quan sát hơi nước, mây mù và tuyết cho nên ta biết có H2O. H2O không phải là có hay không, nhẹ hay nặng, cứng hay mềm. Nước đá thì cứng, nước lỏng thì mềm, mây thì nhẹ, nước đá thì nặng. H2O không có những đặc tính đó. Nhưng từ H2O sinh ra những cái có đặc tính như mềm, cứng, cao, thấp, có, không.

H2O và đám mây, nước và sóng, vàng và con sư tử… là liên hệ giữa hiện tượng giới và bản thể giới là như vậy.

Cái không ở đây tương đương với H2O. H2O không phải là sương mù, hơi nước, mây, mưa hay tuyết. Nhưng nếu không có hơi nước, sương mù, mây, mưa hay tuyết thì làm sao nhận diện được sự có mặt của H2O. Nền tảng không có tự tính, nhờ hiện tượng giới (sắc) mà ta biết được nó có đó. Những cái ảo có mặt dưới nhiều hình thức nhưng nó không ngăn cản ta thấy được nền tảng của tất cả hiện hữu, cho nên gọi là sắc không.

Hơi nước là H2O, H2O là hơi nước. Mây là H2O, H2O là mây. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tuy rằng đám mây không phải là H2O nhưng hai cái đó là nhau. Tướng sư tử là hư vọng, chỉ có vàng là thật. Tất cả những gì mình thấy trong thế giới hiện tượng đều là ảo, không có thật (une existence virtuelle). Nhìn cho sâu, cho kỹ, mình thấy được bản chất, thấy được tự tánh mà từ đó cái ảo được phát hiện ra. Nền tảng đó được gọi là không. Nhưng không ở đây không có nghĩa là sự không có mặt (đoạn không) hay sự ngược lại của cái ảo. Cái không ấy, nền tảng của những cái ảo, ta sẽ không nhận diện được nếu ta không quán sát những cái ảo. Tuy nhìn đây cũng thấy những cái ảo nhưng chúng không làm chướng ngại cho cái không, cho nên quán sát cái ảo sâu sắc thì ta thấy được cái không.

Làng Mai hay nói đến bản môn và tích môn. Nhìn vào tích môn mình nhận diện sự có mặt của bản môn. Nếu liệng tích môn đi thì bản môn không còn nữa. Nếu nói con sư tử là huyễn, liệng nó đi thì sẽ không còn vàng nữa. Chính nhờ con sư tử mà ta thấy vàng. Con sư tử là huyễn hữu. Đi sang đoạn thứ ba thì chúng ta sẽ hiểu thêm nữa.

 

Chúng ta ôn lại chương hai:

Tướng sư tử là hư vọng, cái có thật là vàng. Sư tử không thật có (bất hữu), chất vàng không phải là không (bất vô). Bất hữu đi với bất vô, không phải ngược với bất vô. Đứng về phương diện hiện tượng nó là bất hữu nhưng về phương diện bản thể nó là bất vô.

Thêm nữa, không không có tự tính riêng biệt. Chính nhờ sắc mà mình thấy không. Nhờ thế giới hiện tượng mà mình thấy thế giới bản thể, nhờ có sinh diệt mà mình thấy được Niết Bàn. Nếu không nhìn sinh diệt thì không thấy được Niết Bàn. Ngoài mây mù, sương, tuyết thì làm gì có H2O.

Bất ngại huyễn hữu danh vi sắc không có nghĩa là: Những cái ảo đó (sắc) không che dấu sự có mặt của cái không, không phải là đối lập với không. Sự có mặt của hiện tượng không phải là sự không có mặt của bản thể. Sự có mặt của mây không phải là sự không có mặt của H2O. Mây là H2O, H2O là mây. Thế giới hiện tượng tức là thế giới bản thể. Nhờ thế giới hiện tượng mà ta thấy được thế giới bản thể cho nên sắc tức là không và không tức là sắc. Khi thấy được tính hư ảo của sắc thì ta thấy được bản chất của sắc. Khi thấy được bản chất của sắc rồi thì ta vượt thoát được ý niệm “có không” thông thường.

Theo tục đế (according to the conventional truth) thì tướng sư tử là có, nhưng theo chân đế thì tướng sư tử là không, bởi vì sư tử không thể có mặt độc lập ngoài vàng. Cho nên không ở đây là không có tự tính riêng biệt, không thể có mặt một cách độc lập. Nếu hiểu được chữ không như vậy là hay lắm rồi.

Chúng ta công nhận sư tử là có nhưng cái có đó là giả hữu (fictive, virtuel), là có một cách ảo. Ví dụ như màu hồng trong bông hoa này, ta tưởng tự tánh của nó là màu hồng, ta không nhìn thì màu hồng cũng ở đó. Ta tin rằng màu hồng có mặt thực sự như một thực tại khách quan.

Nhưng theo khoa học thì nó không phải như vậy, tiếng Phạn là neti (na-iti). Khi ánh sáng chiếu vào bông hoa thì có những luồng ánh sáng được hút vào hoa và có những luồng ánh sáng bị phản chiếu lại. Vì vậy ta thấy vàng, xanh, trắng, đỏ trong hoa chứ thật ra hoa không phải vàng, xanh, đỏ như vậy. Ánh sáng có bảy màu, bảy màu đó được thu hút phần nào, phần còn lại bị phản chiếu trở lại cho ta có cảm tưởng là hoa màu vàng, màu xanh, màu trắng hay màu đỏ. Vàng, xanh, trắng, đỏ không phải là sự thật khách quan độc lập.

Chúng ta có cảm tưởng như hoa có mặt ngoài những yếu tố làm ra hoa, nhưng thật sự không phải như vậy. Hoa không có mặt ngoài những điều kiện làm ra bông hoa. Bản chất của hoa chẳng qua chỉ là duyên khởi. Hoa được làm bằng những yếu tố không phải hoa. Hoa có nghĩa là không hoa (flower is made only of non-flower elements). Bản chất của nó là không. Hoa không phải là hoa, cho nên hoa mới là thật là hoa.

Không không phải là sự không có mặt của sư tử mà lại là thể tính của sự có mặt ấy. Con sư tử đầy vàng nhưng trống rỗng sự có mặt riêng biệt của nó. Ngoài vàng làm sao có sư tử được, cho nên không là nền tảng của sự có mặt của sư tử. Vậy thì không là nền tảng, là bản thể (la base ontologique) của hiện tượng. Đây không phải là đoạn không (ngoan không) mà là chân không. Cái không mà người ta thường kẹt vào là đoạn không, tức là “cái không” đối lập với “cái có”. Ở đây, con sư tử là không trong khi nó đang có mặt. Hoa đang không chứ không phải khi héo tàn rồi mới không, và hoa đang có nhưng là có trên nền tảng của duyên khởi, nó không thể có mặt riêng biệt được. Nó có mà đang không, không ngay bây giờ, tiếng Hán-Việt là đương hữu tức không.

Danh từ giả hữu dùng để chữa bịnh cho người kẹt vào cái có, danh từ chân không dùng để chữa bệnh cho người chấp vào cái không (ngoan không). Chân không cũng không thể có mặt ngoài giả hữu. Chính nhờ vào giả hữu mà ta thấy được sự có mặt của chân không. Nhờ vào tướng của sư tử mà ta thấy được sự có mặt của vàng. Tướng sư tử không phải là chướng ngại cho vàng, do đó ta nói sắc tức thị không.

Thầy Long Thọ có một câu rất nổi tiếng trong Trung Luận: Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành. Có nghĩa là nhờ có không làm nền tảng, cho nên các pháp mới có thể có mặt được. Thành ra không không phải là chướng ngại cho sự có mặt của vạn pháp mà nền tảng cho tất cả các pháp. Tuy tướng sư tử hư ảo nhưng nhờ tướng hư ảo đó (giả hữu) mà ta thấy được không, tức là bản chất của vàng. Đó gọi là tùng tướng nhập tánh.

Hựu phục Không vô tự tướng, ước Sắc dĩ minh. Tiếng Việt dịch là Không là không có tự tính, nhờ sắc mà được thấy rõ. Không vô tự tướng có nghĩa là chân không không có tự tính, không có sự có mặt riêng biệt ngoài những hiện tượng. Vàng không thể có mặt ngoài con sư tử. Vàng tượng trưng cho chân không, không thể có mặt ngoài cái giả hữu của con sư tử. Ước sắc dĩ minh có nghĩa là nhìn vào hình dáng, sắc tướng của sư tử mà chúng ta thấy được vàng.

Bất ngại huyễn hữu tức là tướng sư tử không phải là chướng ngại cho vàng. Nhưng cái không tượng trưng bởi vàng không có nghĩa là sự không có mặt của sư tử mà chính là thể tính của sự có mặt ấy. Nó không phải là đoạn không mà là chân không. Vậy sư tử là vàng, vàng là sư tử. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không là nền tảng của sắc, sắc là sự biểu hiện của không. Sự có mặt của sắc không là chướng ngại cho cái không. Trái lại nhìn vào sắc ta thấy được không, hiểu được không rồi thì ta nhìn sắc là huyễn hữu.

Sư tử là vàng, sóng là nước. Vàng là sư tử, nước là sóng. Bây giờ chúng ta nói một chút về đám mây. Hơi nước có trong không khí nhưng ta không nhìn thấy. Không thấy đám mây nhưng ta biết là hơi nước có đó. Hơi nước là một loại khí ta không thấy được. Sương mù, mây, mưa, tuyết, nước đá thì ta nhìn thấy được. Chất hơi có thể biến thành chất đặc, chất đặc có thể biến thành chất lõng, chất lõng có thể biến thành hơi. Hơi nước có thể mang hình thái của mây, sương, tuyết. Tất cả đều nương vào một cái gọi là H2O để có mặt. Nhưng đừng mong đi tìm H2O ngoài những cái đó. H2O không có sự có mặt riêng rẽ ngoài những yếu tố kể trên. Phân tử H2O có hai nguyên tử hydrogène và một nguyên tử oxygène. Muốn đi tìm những nguyên tử đó, ta phải đi tìm trong nước đá, hơi nước, mây, mưa, sương, tuyết cũng như muốn đi tìm vàng thì ta phải tìm trong con sư tử, trong hoa tai hay kiềng vàng. Đi tìm H2O ngoài sương mù, mây, mưa, tuyết, nước đá thì không có.

Trong bài luận nói “vàng không có tự tính” (kim vô tự tính) thì H2O cũng không có tự tính, không có sự có mặt riêng. Muốn tìm bản môn ta phải tìm nơi tích môn, ta phải tìm Niết Bàn trong sinh tử. Bỏ sinh tử chạy đi tìm Niết Bàn thì không bao giờ có được. Cũng vậy bỏ mây, mưa, hơi nước v.v… để đi tìm H2O thì không bao giờ có được.

Khi hơi nước hiện thành sương mù thì ta thấy được. Khi là hơi nước, nó là H2O; khi là sương mù, nó cũng là H2O. Sương mù bị nắng làm trở lại thành hơi nước, tuy là không có sương mù nhưng H2O vẫn còn đó không mất. Chúng ta đi đến chương tới là vô tướng. Vô tướng là không bị kẹt vào tướng, hoặc là tướng hơi nước, hoặc tướng sương mù hay là tướng mây. H2O hay vàng tượng trưng cho không. Tất cả sương mù, mây, mưa, tuyết, nước đá, sư tử, bông tai v.v… là tướng hư vọng. Khi không nhìn thấy tướng đó nữa thì ta đừng nói nó là không có. Khi nhìn kỹ vào, ta sẽ thấy H2O. Những tướng đó không có mặt riêng biệt ngoài H2O nên gọi nó là không.

Chướng ngại của đoạn văn này là những danh từ bất hữu, bất vô. Vì cách xây dựng nên trở thành khó, thật ra thì không có gì khó. Nếu chúng ta nắm được những danh từ đó thì những cái sau này rất dễ.

Khi đi thiền hành chúng ta nói theo bài kệ:

Bụt là thở, Bụt là đi
Mình là thở, mình là đi (1)

Khi Đức Thế Tôn thở thì phẩm chất của hơi thở rất cao. Hơi thở rất nhẹ, có niệm và định. Ngoài Đức Thế Tôn làm gì có một hơi thở như vậy? Nếu không có Đức Thế Tôn thì làm gì có một hơi thở có phẩm chất như vậy? Chính qua hơi thở đó ta thấy được sự có mặt của Đức Thế Tôn. Nếu không có hơi thở đó thì làm sao thấy được Đức Thế tôn. Tìm Đức Thế Tôn ngoài hơi thở đó là tìm một cái ảo.

Khi bước đi thì bước chân của Đức Thế Tôn có phẩm chất rất cao, có nhiều vững chãi, thảnh thơi, hạnh phúc, tự do. Chính trong bước chân đó ta nhận diện được sự có mặt của Đức Thế Tôn. Đi tìm Đức Thế Tôn ngoài bước chân, ngoài hơi thở, ngoài trí tuệ, từ bi thì làm gì có. Đức Thế Tôn đó là ảo. Khi ta nói “Bụt là thở, Bụt là đi” thì ta phải thấy được Đức Thế Tôn trong hơi thở, trong bước chân.

Khi nói “mình là thở, mình là đi” thì ta phải quán chiếu như vậy. Làm gì có cái mình riêng biệt được? Ta có khi thấp, có khi cao. Khi thấp thì bước chân của ta không vững, hấp tấp, vụt chạc, hơi thở của ta hổn hển; khi cao thì bước chân của ta nhẹ nhàng, hơi thở của ta dịu dàng. Vì vậy khi nhìn vào bước chân, nhìn vào hơi thở, ta thấy được mình. Ngoài bước chân, ngoài hơi thở thì làm gì có một cái mình riêng biệt, cho nên nói mình là thở, mình là đi. Đi tìm bản thân ngoài hơi thở, ngoài bước chân thì làm gì có? Giá trị của mình là giá trị của hơi thở, của bước chân. Hơi thở càng nhẹ nhàng, bước chân càng vững chãi thì giá trị của mình càng cao. Ngoài bước chân, ngoài hơi thở, ngoài những điều kiện đó thì không có một cái mình riêng biệt. Chúng ta đi tới bài kệ tiếp:

Chỉ có thở, chỉ có đi
Không người thở, không người đi

Nếu ta tưởng tượng ra một Đức Thế Tôn ngoài năm uẩn đó, ngoài sự giáo hóa, ngoài trí tuệ từ bi đó thì không thể có được, đó là một cái ảo. Bài kệ thiền hành trên là để quán chiếu chứ không phải chỉ để có an lạc trong khi đi mà thôi.

 

(1)

Đây là toàn văn bài kệ:

Để Bụt thở
Để Bụt đi
Mình khỏi thở
Mình khỏi đi
Bụt đang thở
Bụt đang đi
Mình được thở
Mình được đi
Bụt là thở
Bụt là đi
Mình là thở
Mình là đi

Chỉ có thở
Chỉ có đi
Không người thở
Không người đi
An khi thở
Lạc khi đi
An là thở
Lạc là đi.

01. Minh duyên khởi

.I. Minh duyên khởi
Làm sáng tỏ lý duyên khởi

_______________________

 

Minh duyên khởi
Vị kim vô tự tính, tùy công xảo tượng duyên, toại hữu sư tử tướng khởi; khởi đãn thị duyên, cố danh duyên khởi.

Làm sáng tỏ lý duyên khởi
Vàng không có tự tính, nhờ có thợ khéo mà tướng sư tử sinh khởi. Sự sinh khởi ấy sở dĩ
có được là do nhân duyên nên gọi nó là duyên khởi.

 

Chúng ta có bản dịch bằng tiếng anh của ông Wing-Tsit Chan, một học giả người Trung Quốc. Bản tiếng Anh này có tên là A source book in Chinese philosophy do Princeton University Press xuất bản năm 1963. Giáo sư Chan đã từng là giáo sư triết học tại Chatham College ở Pittsburg, tiểu bang Pennsylvania và là giáo sư về văn hoá và triết học Trung quốc ở Darmouth College, Hannover, New Hampshire. Trước đó ông đã tốt nghiệp tại đại học Lĩnh Nam Trung quốc và có bằng tiến sĩ tại Harvard university. Ông bắt đầu giảng dạy ở Mỹ năm 1929. Ông đã tịch rồi.

Duyên khởi là sự sinh khởi của các pháp tùy trên điều kiện. Duyên tiếng Anh dịch là condition, khởi là sinh khởi, cũng có thể dịch là birth hay production. Trong bản tiếng Anh của giáo sư Chan, duyên khởi được dịch là things arise through causation. Nếu dịch ra tiếng Pháp thì có thể dùng chữ la genèse conditionnée, l´apparition conditionnée hay la génération conditionnée.

Ví dụ như một bông hoa, nhờ hạt giống, nhờ mưa, nhờ nắng, nhờ đất… mà bông hoa sinh khởi ra. Nhờ có những điều kiện mà sinh khởi thì gọi là conditioned arising (nhờ duyên mà khởi). Chúng ta có thể dùng một chữ khác hay hơn để thay cho chữ sinh khởi như chữ biểu hiện (manifestation, la manifestation conditionnée).

Vàng không có tự tính, nhờ có điều kiện là thợ khéo mà có tướng sư tử sinh khởi. Chúng ta nên biết rằng con sư tử thầy Pháp Tạng cầm trên tay để thuyết pháp là một ví dụ thôi. Thầy dùng hai hình ảnh để nói chuyện là vàng và sư tử, thêm vào đó là ông thợ. Trong sự liên hệ giữa vàng và sư tử có ông thợ chen vô trong đó. Nếu không có ông thợ thì vàng không bao giờ thành sư tử.

Vàng chính nó không có tự tính, nhờ điều kiện có thợ giỏi mới có tướng sư tử hiện ra. Sự có mặt của sư tử chỉ do duyên mà thôi, không duyên thì không có sư tử. Đó gọi là duyên khởi.

Trong đoạn này, chính nhờ ông thợ nên tướng sư tử mới hiện. Nhờ quán sát nên chúng ta mới thấy vàng trong tướng sư tử. Nếu không có sư tử thì làm sao thấy được vàng. Không thấy sóng thì làm sao thấy nước ? Nói tới duyên sinh ta thấy có hai loại: ông thợ là duyên khởi, vàng là tánh khởi. Tánh cũng là một loại duyên.

Bây giờ chúng ta dùng một ví dụ khác là nước và sóng. Giữa nước và sóng cũng có một liên hệ như là giữa vàng và sư tử. Sự liên hệ đó là anh chàng gió. Nếu gió không can thiệp vào thì làm gì có sóng nổi lên cho chúng ta thấy. Ở đây cũng vậy, nếu không có ông thợ khéo thì làm sao có được con sư tử. Qua đó, chúng ta thấy có ba điều kiện:

1. Vàng tượng trưng cho bản thể, nền tảng của những hiện tượng (base ontologique, ontological ground). Cũng như nước là nền tảng của sóng thì vàng là nền tảng của sư tử. Nếu không biểu hiện ra sư tử thì vàng biểu hiện ra cái gì? Nó có thể biểu hiện ra đôi bông tai, chiếc vòng hoặc dây chuyền.

Vàng cũng như chân như, như bản thể, là nền tảng cho những hiện tượng phát khởi. Nếu không có sự can thiệp của ông thợ thì chúng ta không thấy được sư tử, đôi bông tai…, không thấy được vàng, cũng như nếu không có sự can thiệp của gió thì không thấy được sự liên hệ giữa nước và sóng.

2. Sư tử tượng trưng cho thế giới hiện tượng (phenumenal world), hiện tượng giới. Trong khi học bài này ta phải biết con sư tử vàng thầy Pháp Tạng cầm trên tay chỉ là một ví dụ. Chúng ta đừng nên kẹt vào ví dụ.

Vàng không có tự tính, nhưng con sư tử thì có có, có không, có đẹp, có xấu. Đợt sóng thì có xuống, có lên, có cao, có thấp, nhưng nước thì không có tính đó. Sư tử, bông tai, dây chuyền…, có lớn, có nhỏ, có đẹp, có xấu. Nhưng vàng thì vượt thoát những cái đó, không nhỏ, không to, không đẹp, không xấu. Chúng ta không thể nói gì về vàng vì vàng là vô tính. Nhờ không có tự tính nên mới có ra được những hiện tượng trên thế giới (thế giới hiện tượng). Hiện tượng là phenumena.

3. Ông thợ tượng trưng cho duyên, cho điều kiện. Nhờ có điều kiện thợ khéo mà có tướng sư tử sinh khởi.

Chúng ta có thể nói đến bốn giáo lý về duyên khởi:

1- Nghiệp cảm duyên khởi (conditioned arising from Karma)

Nghiệp là hành động, những hành động thiện, ác, đẹp, xấu của mình. Chính những hành động đó đưa tới sự có mặt của mình và của hoàn cảnh của mình. Nghiệp cảm duyên khởi là conditioned arising from Karma. Nghiệp cảm duyên khởi đưa tới chánh báo và y báo. Chánh báo là con người, là ngũ uẩn của mình. Y báo là hoàn cảnh của mình. Đó là lời giải thích của các tông phái Tiểu thừa.

Sau khi Bụt nhập diệt khoảng 140 năm thì có những tông phái khác nhau ra đời. Thời gian đó gọi là thời gian Đạo Bụt Bộ phái. Trước đó có Đạo Bụt Nguyên thỉ và sau đó là Đạo Bụt Đại thừa. Đạo Bụt Nguyên thỉ đưa tới Đạo Bụt Bộ phái rồi Đạo Bụt Bộ phái đưa tới Đạo Bụt Đại thừa. Có tiến trình, có sự phát triển của sự tìm tòi, sự học hỏi, giống như trong khoa học vậy.

Đối với Đạo Bụt Bộ phái, như phái Hữu bộ, thì duyên khởi quan trọng nhất là nghiệp cảm. Do nghiệp cảm đưa tới quả báo gọi là Nghiệp cảm duyên khởi.

2- A lại gia duyên khởi (conditioned arising from the store of conciousness).

Khi bắt đầu đi sang Đạo Bụt Đại thừa thì Pháp tướng tông dạy về Duy Thức hay Duy Biểu, chủ trương :

Từ A lại gia thức hạt giống chín muồi và biểu hiện ra thành chánh báo và y báo. Chúng ta có thể thấy được sự tiếp tục và không trái chống nhau của Nghiệp cảm duyên khởi đến A lại gia duyên khởi. Ở A lại gia duyên khởi chúng ta có một cái nhìn khác rộng hơn, vậy thôi. Vì A lại gia cũng là nghiệp, A lại gia có những hạt giống (chủng tử), rồi tùy theo những hạt giống phát triển, được tưới tẩm như thế nào mà chúng ta có nghiệp. Duyên khởi căn cứ trên A lại gia, trên nghiệp mà phát khởi ra chánh báo và y báo.

3- Chân như duyên khởi (conditioned arising from suchness)

Chân như là thực tại căn bản, là nền tảng, là bản thể (ontological ground). Cũng như nước là nền tảng của sóng hay vàng là nền tảng của sư tử. Chân như là thực tại tự thân. Chúng ta không thể nói nước cao hay thấp, lớn hay nhỏ, có hay không, còn hay mất được. Cũng như các đợt sóng sinh khởi từ nước, thế giới hiện tượng phát khởi từ chân như. Bắt đầu chúng ta có ý niệm về tánh khởi tức là, từ bản thể (ontological ground) phát khởi ra hiện tượng ( phenumena).

4- Pháp giới duyên khởi (conditioned arising from the realm of the dharma)

Pháp giới duyên khởi hoàn toàn đứng trên phương diện hiện tượng mà nói. Pháp giới, tiếng Anh là the realm of Phenumena, tức là thế giới của các pháp. Các pháp nương vào nhau mà có.

Tóm lại, duyên khởi có ít nhất là bốn loại: Nghiệp cảm duyên khởi, A lại gia duyên khởi, Tánh duyên khởi và Pháp giới duyên khởi.

Tất cả các cái hợp thành một cái và một cái chứa đựng tất cả các cái. Đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm. Trong giáo lý Hoa Nghiêm, người ta phân biệt ra Sự. là thế giới của bản thể (bản thế giới) và Sự là thế giới của hiện tượng (hiện tượng giới).

Chúng ta thấy đầu tiên là quan niệm về nghiệp khởi, thứ hai là thức khởi, thứ ba là tánh khởi và thứ tư là pháp giới duyên khởi. Đó là quá trình phát triển của tư tưởng Phật giáo.

Chúng ta ôn lại chương một:

Trước hết mình phải nhớ sư tử vàng là một ví dụ. Một ví dụ thì luôn luôn có khuyết điểm. Có ví dụ này hay hơn ví dụ kia ở chổ này nhưng dở hơn ví dụ kia ở chổ khác. Thay vì dùng sư tử vàng thì tôi dùng ví dụ đám mây, hơi nước. Trong khi nghe giảng về đám mây sẽ giúp cho quý vị hiểu rõ hơn về con sư tử vàng.

Vàng tượng trưng cho , tiếng Anh là principle. Nhưng chúng ta cũng có thể dịch lý là nền tảng, là bản thể (ontological ground). Vàng tượng trưng cho thể tánh (nature, substance), cho bản môn (ultimate dimension) hay chân như (suchness). Có khi gọi là lý tánh. Lý ở đây là lý nhân duyên hay lý duyên khởi (principle of conditioned arising).

Khi nói đến tánh, chúng ta có cảm tưởng đó là một chất liệu căn bản. Nhưng ở đây tánh có nghĩa là nguyên tắc căn bản. Lý nhân duyên là một nguyên tắc căn bản chứ không phải là một chất liệu.

Khi nói tới vàng chúng ta nghĩ đó là một chất liệu, kỳ thật vàng là một cái lý, là một căn bản trên đó phát hiện ra sư tử. Vàng ở đây đại diện cho không, nhưng không phải là không đối với có. Không này là không trong Tâm Kinh Bát Nhã, là cái vượt ra ngoài “cái có” và “cái không”.

Sư tử đại diện cho ngã và pháp tức là những hiện tượng chúng ta có thể tiếp xúc được như đám mây, bông hoa, con sư tử, con người, ông Nguyễn văn A, bà Trần thị B (les hommes, les choses).

Thợ khéo là một trong những duyên (điều kiện). Vàng cũng là một loại duyên, vì từ thể vàng mà sinh ra sư tử. Từ nước mà dậy sóng là duyên theo chiều đứng (vertical). Nước tượng trưng cho thể. Đó là sự liên hệ Tánh – Tướng. Sóng là tướng, nước là tánh, loại duyên khởi đó gọi là tánh khởi (arising from nature, arising from suchness, arising from the ultimate dimension). Tương đương với vàng là nước. Dựa trên nước mà có sóng như dựa trên vàng mà có sư tử. Nước chỉ cho phép thôi, chính gió thổi làm cho sóng biểu hiện. Gió là một điều kiện chiều ngang. Nếu có vàng mà không có ông thợ khéo thì làm gì có con sư tử? Nếu nước mà không có gió thì làm gì có sóng? Sóng cũng là một loại duyên. Sóng này xô làm thành sóng khác. Chính sự xô đẩy nhau của các sóng làm ra sóng, đó là liên hệ chiều ngang. Đó cũng là duyên khởi, chúng ta tạm gọi là tướng khởi.

Tánh là thể tánh (numena), tướng là hiện tượng (phenumena). Chúng ta có hai cách để đi tới vấn đề: một là tánh khởi (numenal approach), hai là tướng khởi (phenumenal approach). Các sóng xô đẩy nhau, giúp nhau sinh khởi, đó là tướng khởi. Đứng ở phương diện hiện tượng (tích môn) thì cái này giúp làm ra cái kia, đó là liên hệ chiều ngang hay liên hệ mặt phẳng. Nước đâu có ý định làm ra sóng, chỉ có sóng này làm ra sóng kia. Thợ khéo là một duyên làm thành sư tử nhưng vàng cũng là một duyên làm ra sư tử. Duyên vàng thuộc về tánh, duyên thợ thuộc về tướng.

Chúng ta có hai loại duyên: Tánh khởi (une approche ontologique) và tướng khởi (une approche phénoménologique). Con sư tử là sóng, vàng là nước. Thợ khéo và gió là những duyên chiều ngang trên mặt tích môn giúp nhau mà sinh khởi (tướng khởi). Nước và vàng là loại duyên làm chỗ tựa để có sinh khởi (tánh khởi). Một bên là chiều ngang, vạn vật nương nhau mà làm thành nhau. Một bên là chiều dọc tức là vạn vật có một nền tảng, nền tảng đó tìm ngay trong vạn vật, không thể tìm được ngoài vạn vật. Cũng như trong ví dụ nước với sóng, phải nhìn vào sóng mới thấy nước, vứt sóng đi thì không thể thấy được nước. Nền tảng của sóng nằm trong sóng mà không nằm ngoài sóng. Tuy nước là nền tảng của sóng nhưng tìm nước ngoài sóng không được cũng như chúng ta không thể tìm được tìm bản môn ngoài tích môn.

Tôi viết lại câu này, cũng ý đó nhưng cấu trúc khác cho dễ hiểu hơn:

Làm sáng tỏ lý duyên khởi

Nhờ duyên thợ khéo mà tướng sư tử xuất hiện từ vàng. Đó là duyên khởi. Sư tử không có mặt ngoài vàng cũng như vàng không có mặt ngoài sư tử. Sư tử không có tự tính riêng biệt, vàng cũng không có tự tính riêng biệt.

Chúng ta thấy rõ ràng có hai duyên: duyên thợ khéo và duyên vàng. Duyên thợ khéo là điều kiện chiều ngang, còn duyên vàng là điều kiện chiều dọc. Duyên thợ khéo đứng về mặt hiện tượng, duyên vàng đứng về mặt bản thể, một bên là tướng khởi còn một bên là tánh khởi

Vậy thì duyên có hai chiều: tướng khởi và tánh khởi. Không có tướng khởi thì không thành mà thiếu tánh khởi cũng không thành. Không có gió thì không có sóng mà không có nước cũng không có sóng. Sư tử không có mặt ngoài vàng mà vàng cũng không có mặt ngoài sư tử. Đây là chữ nghĩa mới, vì trong nguyên văn thầy Pháp Tạng viết: Vị kim vô tự tính (bởi vì vàng không có tự tánh), thì quá triết học, khó hiểu, vì có danh từ chuyên môn. Chúng ta nói: Vàng không có sự có mặt riêng (gold does not have a separated existence). Như vậy thì dễ hiểu hơn là nói vàng không có tự tính

Trong ví dụ bông hoa, chúng ta thấy có những điều kiện làm thành bông hoa như nắng, mưa, phân bón, mặt trời. Hoa có mặt đó chứ không phải không có mặt, nhưng hoa không phải có mặt riêng biệt ngoài những điều kiện làm ra nó. Nguyên văn chữ Hán viết Kim vô tự tính (vàng không có tự tánh riêng biệt), trong văn mới chúng ta nói: Vàng không có mặt ngoài sư tử. Nếu vàng không có mặt ngoài sư tử thì sư tử cũng không có mặt ngoài vàng. Nếu nước không có mặt ngoài sóng thì sóng cũng không có mặt ngoài nước. Đó gọi là không có tự tánh. Tôi dịch là không có mặt riêng biệt ngoài những điều kiện. Hoa không có mặt riêng biệt ngoài những điều kiện làm ra hoa. Vì hoa không có tự tánh nên nói nó là không. Không không có nghĩa là không có mà là không có tự tánh riêng biệt, không có mặt riêng biệt (no separate existence), (pas d´existence séparée). Không là có nhưng không có riêng ngoài những điều kiện.

Phần dẫn nhập – Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương

 

Phần dẫn nhập

Kim Sư Tử Chương là một tác phẩm rất ngắn của thầy Pháp Tạng nhưng bao hàm được giáo lý của Kinh Hoa Nghiêm. Trung Quốc có khoảng mười tông phái Phật giáo, trong đó có tông Hoa Nghiêm. Tất cả chúng ta đều phải nên tìm hiểu nội dung của mười tông phái đó. Tông phái Hoa Nghiêm được thành lập dựa trên giáo lý của kinh Hoa Nghiêm, một kinh Đại Thừa và tông này đã xiển dương giáo lý duyên khởi tới mức tròn đầy.

Thầy Pháp Tạng là tổ thứ ba của tông Hoa Nghiêm, Pháp Tạng có nghĩa là kho tàng của chánh pháp. Tổ thứ hai là thầy Trí Nghiễm. Trên thầy Trí Nghiễm là thầy Đỗ Thuận, sơ tổ của tông Hoa Nghiêm. Sau tổ Pháp Tạng có tổ Trừng Quán và sau tổ Trừng Quán có tổ Tông Mật. Đó là năm vị tổ của tông Hoa Nghiêm gọi là Hoa Nghiêm Ngũ Tổ. Tông Hoa Nghiêm thừa hưởng nhiều giáo lý của các ngài Mã Minh và Long Thọ nên có khi người ta nhận hai ngài này là hai vị tổ đầu tiên, trước thầy Đỗ Thuận. Nhưng kỳ thật tông Hoa Nghiêm chỉ có năm vị tổ.

Các thầy ngày xưa rất giỏi. Thầy Nghĩa Tịnh đi Ấn Độ về và được vua Đường khuyến khích lập một trung tâm dịch thuật kinh điển từ tiếng Phạn ra chữ Hán. Thầy Huyền Trang cũng vậy. Sau chuyến đi Ấn Độ về hai thầy đều có viết hồi ký và đã thành lập những trung tâm dịch thuật để dịch kinh từ tiếng Phạn sang chữ Hán. Thầy Pháp Tạng có tham gia vào trung tâm dịch thuật của thầy Nghĩa Tịnh. Thầy Pháp Tạng đã dịch rất nhiều kinh ra chữ Hán như kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Già và hàng chục bộ kinh khác.

Thầy Pháp Tạng cũng là người gốc Khương Cư (Sogdian) như thầy Tăng Hội. Cha ông từ nước Khương Cư di cư qua Trung Quốc. Có thể gọi thầy là Khương Pháp Tạng như ta gọi thầy Tăng Hội là Khương Tăng Hội vậy. Thầy biết tiếng Tây Tạng, tiếng Phạn và các thứ tiếng khác. Thầy rất thông minh.

Thầy Pháp Tạng sinh năm 643 và tịch năm 712. Thầy sống đến 70 tuổi. Thầy nhỏ hơn thầy Huyền Trang 41 tuổi. Thầy Huyền Trang sinh năm 602 và tịch năm 664. Năm thầy Huyền Trang tịch thầy Pháp Tạng mới có 21 tuổi, lúc đó thầy chưa đi xuất gia nhưng đã theo học với thầy Trí Nghiễm. Tới năm 28 tuổi, có lẽ không có duyên được trực tiếp làm đệ tử thầy Trí Nghiễm nên khi xuất gia thì thầy Pháp Tạng làm đệ tử thầy Bạt Trần.

Tuy là tổ thứ ba nhưng phải nói là thầy Pháp Tạng có công nhiều nhất trong sự nghiệp thành lập Tông Hoa Nghiêm. Thầy đã hệ thống hóa giáo lý Hoa Nghiêm một cách rất thông minh. Thầy đã giảng kinh Hoa Nghiêm tới ba mươi lần.

Một hôm hoàng hậu Võ Tắc Thiên mời thầy vào cung, bà rất thích nghe thầy thuyết pháp. Hôm đó thầy giảng về kinh Hoa Nghiêm. Thấy trong cung có một con sư tử bằng vàng, thầy cầm lên và lấy nó làm ví dụ để giảng về giáo lý Hoa Nghiêm cho hoàng hậu nghe. Sau buổi giảng thầy về chùa và ghi chép lại những điều mình đã giảng. Và đó là tác phẩm mà mình sẽ học hôm nay: Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương.

 

Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chuơng
Kinh Đại Tiến Phúc tự, sa môn Pháp Tạng thuật

Kinh ở đây là kinh đô Trường An đời Đường. Đại Tiến Phúc tự là nơi cư trú của thầy Pháp Tạng và thầy cũng đã tịch tại đây. Sa môn là tiếng gọi những vị tu sĩ. Ngày xưa người ta gọi Đức Thích Ca là sa môn Gautama. Sa môn, tiếng Phạn là sramana, có nghĩa là bần tăng, một ông thầy tu khiêm nhường.

Thuật có nghĩa là kể lại. Thuật là một chữ rất là khiêm nhường. Thuật khác với tác. Tác có nghĩa là sáng tác. Người xưa rất là khiêm nhường, sự khiêm nhường đó được diễn tả bằng câu: thuật nhi bất tác. Câu đó có nghĩa là thầy đã sáng tác rất nhiều nhưng thầy chỉ nói đây là ý của Bụt, của tổ, của thầy mình, còn thầy chỉ lặp lại chứ không tự làm ra. Đó là tính khiêm nhường của những nhà trí thức ngày xưa. Tác giả là người tạo ra, còn thuật giả là người kể lại. Thầy Pháp Tạng đã dùng câu sa môn Pháp Tạng thuật, chữ sa môn là một danh từ khiêm nhường mà chữ thuật cũng là danh từ khiêm nhường. Khi nghe người nào nói giọng khiêm nhường thì ta biết người đó giỏi. Còn khi nghe người nào nói kiểu ba hoa ta biết người đó chưa giỏi. Ba hoa là khoe khoang.

Trong Đại Tạng Hán có hai nhà chú giải, một trong hai vị đó là Vân Gian (có nghĩa là trong mây). Bản chú giải của thầy Vân Gian mang số 1180 trong Đại Tạng. Ở đây chúng ta không sử dụng bản chú giải của hai thầy đi trước. Chúng ta đi trực tiếp vào nguyên văn.