Bài 22 Hộ trì sáu căn bằng chánh niệm

Hôm nay là ngày 06 tháng 02, năm 1994, chúng ta ở tại xóm Hạ và học tiếp về Bát chánh đạo.

Kỳ trước chúng ta đã nói về Mười hai nhân duyên thuộc phạm vi của chủ đề duyên sinh. Có hai loại duyên sinh, gọi là Vọng tâm duyên sinh và Chân tâm duyên sinh. Vọng tâm (deluded mind) là tâm còn chứa sai lầm. Thế giới, xã hội, cũng như con người, vì được duyên sinh tạo thành căn cứ trên vọng tâm đó nên có nhiều đau khổ, nhiều phiền não. Nhưng đứng về mặt tích cực thì chúng ta có Chân tâm duyên sinh. Chân tâm (true mind) là tâm sáng, chân thật, phản chiếu thực tại mầu nhiệm, tâm của Tứ trí. Thế giới, cũng như xã hội loài người, được tạo dựng ra trên Chân tâm duyên sinh sẽ là thế giới hạnh phúc, an lạc.

HỘ TRÌ SÁU CĂN BẰNG CHÁNH NIỆM

Chúng ta hãy tưởng tượng 1.000 người mà tâm trí đầy dẫy những ganh tị, giận hờn và vô minh tụ họp lại để sống chung với nhau. Họ sẽ tạo nên một địa ngục nhỏ. Khung cảnh nơi họ sống có tính cách địa ngục. Cuộc sống hằng ngày của họ, và liên hệ giữa họ với nhau cũng có tính cách địa ngục. Điều đó đã sinh khởi do vọng tâm của 1.000 người. Các vọng tâm tạo thành một cộng nghiệp khổ đau. Hai người hiểu lầm nhau đã có thể tạo ra một địa ngục nhỏ rồi, huống hồ là 1.000 người. Muốn chuyển hóa địa ngục ấy thành ra một thiên đường, chúng ta biết chỉ có một cách là chuyển hóa nội tâm. Nhưng ai có thể chuyển hóa được tâm của 1.000 người đó? Phải có một yếu tố khác như một vị đạo sư, hay một tăng thân lớn. Sự chuyển hóa bắt đầu từ một người, rồi hai người, để cho chất vọng bớt đi, và để cho chất chân bắt đầu có mặt. Bây giờ ta hãy tưởng tượng 1.000 người không có tri giác sai lầm, có hiểu biết, có thương yêu, không giận hờn, không ganh tị đến với nhau. Họ có thể tạo ra một cộng đồng hạnh phúc. Đó gọi là chân tâm duyên sinh. Cho nên vốn liếng của chúng ta là tâm. Nếu tâm còn nhiều vọng, nhiều sự hiểu lầm (wrong perceptions, deluded mind) thì tâm ấy còn gây đau khổ. Khi một người có tâm sáng, tâm không hiểu lầm, thì người ấy đã có một thiên đường nhỏ cho chính mình. Và nếu hai người như vậy đến với nhau thì họ có thể tạo ra một thiên đường nhỏ cho nhau. Và khi người thứ ba đến, với hai chân tâm có sẵn đó hy vọng sẽ chuyển hóa được cái vọng tâm kia một cách từ từ. Có 1.000 người đến với nhau với tâm nhẹ nhàng thanh thoát, không hiểu lầm, không ganh tị, không sầu đau là có Niết bàn hạnh phúc, là có thế giới Hoa nghiêm.

Chúng ta thường học, thường giảng về Mười hai nhân duyên đã chú trọng nhiều về vọng tâm duyên sinh, và đã nói rất ít về chân tâm duyên sinh. Chúng ta than thở, buồn khổ vì tính chất tiêu cực của vọng tâm duyên sinh nhưng chúng ta chưa học, và chưa thực tập đủ về phần tích cực của chân tâm duyên sinh. Cho nên thế hệ của quý vị là phải mở ra một kỷ nguyên mới của sự tu học Phật pháp. Thay vì nói nhiều về Mười hai nhân duyên đưa tới khổ đau thì quý vị phải học nhiều, và phải đưa ra những phương pháp thực tập cụ thể về chân tâm duyên sinh. Chúng ta phải biết căn cứ vào giáo nghĩa Mười hai nhân duyên để tạo dựng một thế giới của hạnh phúc, một thế giới của an lạc.

Chúng ta hãy vẽ lại một đồ hình, phía trong có mười hai chi phần của Thập nhị nhân duyên, gồm có vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Phía ngoài chúng ta vẽ Chân tâm duyên sinh. Vòng duyên sinh ngoài có minh duyên Bồ đề tâm tức là đại nguyện. Bồ đề tâm là một thứ năng lượng rất lớn thường thúc đẩy ta làm việc độ sinh. Bồ đề tâm đưa tới trí.

Trí biểu hiện ra bốn mặt. Mặt thứ nhất gọi là trí hiển hiện để soi sáng, Đại viên cảnh trí. Trí đó phát xuất từ A lại gia thức, hay gọi là Dị thục thức. A lại gia thức thuộc về vọng tâm cho nên biểu hiện ra thế giới thiên nhiên (khí thế gian) và chúng sinh (tình thế gian). Khí thế gian tức là hoàn cảnh trong đó ta sống, còn gọi là y báo. Chính con người ta thì được gọi là chánh báo, tức là danh sắc. Ngoài ra có Diệu quan sát trí (từ thức thứ sáu chuyển thành), Bình đẳng tánh trí (từ thức thứ bảy chuyển thành) và công năng soi chiếu và tạo tác gọi là Thành sở tác trí (từ năm thức đầu chuyển hiện).

Chúng ta đừng hiểu trí là trí năng, sự thông minh. Trí ở đây tức là bản chất tạo tác ra một thế giới an lạc. Thức tạo ra hữu, tức là cuộc sống nhiều khổ đau, nhiều đày đọa, ưu sầu. Còn trí tạo ra Tịnh độ, tạo ra Phật độ, ra thế giới của Hoa nghiêm. Thức là vọng tâm, trí là chân tâm. Chân tâm tạo ra thế giới danh sắc của người giác ngộ, của Bụt, của thân thị hiện, gọi là báo thân (là kết quả tốt đẹp của những thiện nghiệp trong quá khứ). Báo thân này vẫn có lục nhập (sáu căn và sáu trần). Nhưng căn và trần này mang lại hạnh phúc, được gọi là thọ dụng thân (Saṃbhogakāya). Thọ dụng là tiếp nhận và sử dụng. Trong khi đó, lục nhập (ở vòng tròn phía trong) thì đầy dẫy những mê mờ vọng tưởng; trái lại, thọ dụng thân lại tràn đầy hạnh phúc và nhẹ nhàng của người giải thoát. Có thọ dụng thân này thì xúc có chánh niệm, xúc thanh tịnh. Xúc này luôn luôn được sáu căn hộ trì.

Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần

Đem ý thức tinh chuyên phòng hộ.

Đó là cách sử dụng sáu căn và sáu trần của người giác ngộ. Xúc thanh tịnh, xúc chánh niệm sẽ tạo tác ra thọ thanh tịnh, thọ chánh niệm. Chìa khóa của sự tu học là ở xúc và thọ. Nếu xúc và thọ không được chánh niệm hộ trì thì sẽ không có sự chuyển hóa. Cho nên bí quyết thành công của sự tu học là trong đời sống hằng ngày ta biết dùng chánh niệm để rọi vào xúc và thọ để sáu căn và sáu trần được tiếp xúc trong chánh niệm, và cảm thọ trong chánh niệm. Đó là cửa ngõ đi vào sự hành trì giải thoát. Nếu ta có tụng kinh mười hay là mười hai giờ đồng hồ một ngày, ngồi thiền mười hay là mười hai giờ đồng hồ một ngày mà không thực tập chánh niệm, không hộ trì sáu căn thì có thể không có kết quả gì cả. Khi ta đã biết hộ trì sáu căn thì khổ thọ được đặt trong chánh niệm, lạc thọ và xả thọ cũng được đặt ở trong chánh niệm. Ái dục lôi kéo hay không là do xúc và thọ có được đặt trong chánh niệm hay không. Ái tức là sự đắm đuối, thèm khát (craving, thirst). Nếu xúc và thọ được hộ trì trong chánh niệm thì không đi tới ái, mà đi tới xả, tức là tự do. Chúng ta phải định nghĩa chữ xả một cách thấu triệt. Xả có nghĩa là tự do, không phe phái, có khả năng buông bỏ không vướng mắc. Xúc và thọ bây giờ không đưa tới ái, mà đưa tới từ, bi, hỷ, và xả.

Ái thuộc về tình cảm, nhưng đó là một thứ tình cảm đam mê, vướng mắc. Từ, bi, hỷ, và xả cũng là tình cảm, nhưng đây là thứ tình cảm giải thoát, nhẹ nhàng. Tình cảm là loại năng lượng có thể thực hiện được nhiều phép lạ. Khi người ta thương, người ta có thể làm được những việc mà người không thương không sao làm được. Tình thương vướng mắc và nặng nề hay tình thương của chân tâm cao quý cũng đầy năng lượng như vậy. Có tình thương, có từ, bi, hỷ, và xả, anh có thể làm được những chuyện mà người không thương không thể nào làm được. Anh có thể chịu đựng được khổ đau, anh có thể hy sinh thân mạng, có thể làm mọi cách để cứu độ chúng sinh, là vì anh có tình thương lớn. Đạo lý từ bi hỷ xả là đạo lý về tình thương trong đạo Bụt để thay thế tình thương vướng mắc và hệ lụy, gọi là khát ái (tṛ́ṣṇā). Biết bao nhiêu người hụp lặn trong biển khổ vì ái, vì tình thương vô minh. Biển ái dìm chết biết bao nhiêu người là do thứ tình này. Từ bi hỷ xả cũng là tình nhưng là tình có thể cứu vớt và giải phóng.

Trong truyền thống tu học có nhiều người sợ không dám nói tới tình. Làm như đi tu là phải bỏ hết tất cả tình. Điều đó không đúng. Tu phải có rất nhiều tình, những thứ tình cao đẹp: tình từ, tình bi, tình hỷ và tình xả. Trong thiền đường chùa Trúc Lâm, Huế ta thấy có hai câu đối. Câu bên phải là: Bất tục tức tiên cốt nghĩa là bản chất của người tiên là không vướng ở cõi tục. Vế kia là Đa tình thị Phật tâm, tâm đa tình, tâm nhiều tình cảm (từ, bi, hỷ, xả) là tâm của Bụt.

Cho nên khi học đạo Bụt mà nặng về tri thức, chúng ta có thể có cảm tưởng là đạo Bụt khô khan. Ta mải nói về giới, về định, về tuệ, về trạch pháp. Cái gì cũng là trí tuệ. Chúng ta đã đi hơi nghiêng về phương diện trí mà lơ là về phương diện bi. Trong khi đó Bụt là trí và bi viên mãn. Phần trí tuệ và phần tình cảm phát triển song song với nhau và có quân bình. Vì vậy đạo lý từ bi hỷ xả cần phải được đề cao, cần phải được phát triển, và áp dụng rất nhiều. Thực tập từ bi hỷ xả thì sự sống có thêm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Vì vậy bài pháp thoại hôm nay có chủ đề là Tình thương. Thương như thế nào mà ta có hạnh phúc, những người được ta thương cũng có hạnh phúc, và không ai bị chìm đắm trong biển khổ đau của khát ái (tṛṣṇā).

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Tu học đích thực luôn luôn mang tới hạnh phúc, niềm tin và niềm vui. Bụt nói đi nói lại nhiều lần là giáo pháp của Người là để thực tập và có hạnh phúc ngay trong khi thực tập, chứ không phải là thực tập xong rồi năm bảy năm sau mới hạnh phúc. Đó là phương pháp Hiện pháp lạc trú (dṛṣṭa-dharma-sukha-vihāra): lạc trú ngay trong giờ phút hiện tại. Trong đạo lý Thất giác chi, tức là bảy yếu tố giác ngộ, chúng ta có hai yếu tố, khinh an (praśrabdhi) là nhẹ nhàng, và hỷ (prīti) là vui mừng. Thất giác chi, hay Thất bồ đề phần gồm có trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, và xả. Trong bảy yếu tố đưa tới giác ngộ đã có hai giác chi về hạnh phúc, đó là hỷ và khinh an. Điều đó chứng tỏ trong sự tu học hằng ngày, chúng ta phải có hạnh phúc, và niềm vui. Nếu không thì không phải đích thực là pháp môn của Bụt. Chúng ta sẽ phải nhấn mạnh tới điểm này nhiều hơn.

Đạo lý về tình thương trong đạo Bụt là một đề tài rất lớn cần được khai thị cho thế giới bây giờ. Loài người ngụp lặn trong khổ đau vì trong đời sống hằng ngày tình thương của họ còn rất nhiều tính chất hệ lụy và vướng mắc. Cho nên chúng ta phải khơi mở một dòng tình thương từ sự thực tập đạo Bụt.

Giáo lý về tình thương được gọi là Tứ phạm trú, Brahmavihārāḥ (The Four abodes of Brahma). Brahma có nghĩa là Phạm thiên hay là cao quý. Vihārāḥ là chỗ ở, là cư xá, có khi được dịch là tu viện. Đó là nơi cư trú của Bụt và Bồ tát. Nếu ta muốn có hạnh phúc thì ta hãy xin vào ở cư xá đó để sống chung với Bụt, với Bồ tát. Tứ phạm trú tức là từ, bi, hỷ, và xả mà chúng ta gọi là bốn tâm vô lượng. Nếu có ai hỏi: “Địa chỉ của ông ở đâu?” Ta trả lời: “Địa chỉ của tôi là ở cư xá Brahmavihārāḥ, Tứ vô lượng tâm.” Ta có bổn phận phải xây thêm những cư xá như vậy. Vô lượng là không thể đo được, có thể phát triển đến vô cùng. Bốn tâm không có biên giới là tâm từ, tâm bi, tâm hỷ và tâm xả.

Trước hết là tâm từ, chữ Phạn là Maitrī, chữ Pāḷi là Mettā. Maitrī là khả năng hiến tặng niềm vui, hiến tặng hạnh phúc. Đức Bụt sắp ra đời để nối tiếp sự nghiệp của Bụt Thích Ca tên là Maitreya, đức Bụt của tình thương.

Thứ hai là bi, Karuṇā, là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Trước hết là ý chí muốn làm vơi đi nỗi khổ, muốn chuyển hóa nỗi khổ của người và sau nữa là phương pháp và khả năng chuyển hóa nỗi khổ.

Hỷ tức là Muditā, là niềm vui. Tình thương đích thực, có từ, có bi, đem tới sự nhẹ nhõm, và niềm tươi vui. Tình thương mà chứa chất liệu sầu đau, vướng mắc thì không phải là tình thương trong đạo Bụt. Cho nên Muditā là một yếu tố của tình thương đích thực. Tình thương có thể đem lại cho người thương và người được thương hạnh phúc thì mới đúng là tình thương trong đạo Bụt.

Hỷ là yếu tố thứ ba của tình thương ấy.

Và sau cùng, xả (Upekṣā) là sự nhẹ nhàng, thư thái, tự do và không kỳ thị. Thương như thế nào mà ta còn giữ được tự do cho ta và cho người ta thương thì mới đích thực là tình thương đạo Bụt. Thương như thế nào mà hai người không dìu nhau vào trong ngục tù. Tình cha con, tình thầy trò, tình anh em, tình yêu nam nữ cũng vậy. Nếu trong tình thương mà người thương và người được thương đều mất tự do thì đó là tình thương hệ luỵ, không phải là tình thương trong đạo Bụt.

Từ                   Maitrī

Bi                    Karuā

Hỷ                   Muditā

Xả                   Upekā

Trong đạo Bụt có một giáo lý rất đầy đủ và thâm sâu về tình thương. Tình thương này có năng lượng trị liệu. Từ, bi, hỷ, xả không phải là những ước muốn, những mục tiêu xa xôi, mà là sự thực tập. Từ không phải chỉ là ước muốn đem lại hạnh phúc cho người. Từ chính là khả năng, là sự thực tập có thể đem lại hạnh phúc cho người. Có người càng thương thì càng làm cho người kia khổ. Thương như vậy chưa phải là từ. Có ý chí thương nhưng không có khả năng thương. Bi cũng vậy. Bi là ước muốn và cũng là khả năng làm vơi nỗi khổ. Hỷ là ước muốn và khả năng tạo hạnh phúc cho mình và cho người. Xả tức là ước muốn, khả năng hiến tặng tự do và sự không kỳ thị cho người và cho chính mình.

Ta không thể hiểu được bản chất của tình thương trong đạo Bụt nếu không đặt giáo lý tình thương đó trong Bát chánh đạo. Nếu không thực tập Bát chánh đạo thì ta không thể thực tập được tình thương. Trong đạo Bụt, chánh niệm rất quan trọng. Chánh niệm là khả năng thấy được những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta. Chánh niệm cho chúng ta thấy được nhu yếu chuyển hóa khổ đau và nhu yếu hiến tặng niềm vui cho người đang khổ. Khi một người làm cho ta khổ thì chính người đó cũng đang bất an; phản ứng của ta có thể làm cho người đó thêm khổ, vì thế lại

làm khổ chính ta hơn. Khả năng giúp ta nhận chân ra sự thật đó là chánh niệm. Lắm khi người đó chính là mình. Từ, bi, hỷ, xả phải thực hiện cho chính mình trước. Nếu ta không có bốn tâm đó trong ta thì ta không thể nào hiến tặng chúng cho người khác. Phải đầu tư, phải gây vốn cho bốn tâm vô lượng. Vốn liếng của ta là công phu thực tập Tứ diệu đế. Đi thiền cho đúng phép, có an lạc trong từng bước chân, nuôi dưỡng từng tế bào của thân thể bằng hơi thở chánh niệm, đó là ta đang tự thương mình. Thương mình đích thực, ta làm cho rã bớt những nỗi sầu khổ, tưới vào bản thân những niềm vui. Truyện Kiều có hai câu nói về lòng tự thương, nhưng hoàn toàn tiêu cực. Đó là hồi Kiều ở lầu Ngưng Bích, đau đớn và thương xót cho thân phận của mình:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Thương mình ở đây là xót xa tội nghiệp cho thân phận của mình. Niềm xót xa này không có khả năng chữa trị được đau khổ, không đem lại hạnh phúc. Trong khi đó, thương theo phương pháp Bụt dạy phải được thực hiện trong mỗi hành động, mỗi cái nhìn, mỗi nụ cười, mỗi hơi thở, mỗi bước chân. Mỗi động tác hằng ngày đều phải nhắm tới mục đích thương mình và thương những người xung quanh. Buổi sáng nhìn mặt trời lên, nghe chim hót, có chánh niệm, ta mỉm cười, ta thấy những thứ đó đều mầu nhiệm. Xúc và thọ cần nuôi dưỡng và mang tới thân tâm chúng ta chất liệu của từ, bi, hỷ, xả. Nếu thức dậy mà không thấy được giá trị của một tia nắng sớm, không thấy hai mươi bốn giờ tinh khôi hiến tặng cho mình, thì xúc và thọ như vậy là không có chánh niệm và không nuôi dưỡng được tình thương trong con người mình. Nếu ta không tự thương ta được thì ta không có khả năng thương người khác. Tình thương người ta thường nói tới có thể chỉ là sự đắm đuối, vướng mắc, là năng lượng kéo nhau xuống vực thẳm của biển khát ái, chứ không phải là tình thương đích thực.

Nuôi dưỡng mình và nuôi dưỡng người xung quanh bằng tình thương, đó là sự thực tập của chúng ta. Tình thương đó căn cứ trên nhu yếu của thân và của tâm. Nhờ chánh niệm chúng ta mới biết được nhu yếu được thương, được có hạnh phúc, được chuyển hóa, được có thêm tự do, cho nên công phu hằng ngày chúng ta phải hướng đến sự thực tập đó. Và tình thương được nói tới ở đây là tình thương phát xuất từ tuệ. Nếu không hiểu biết thì không thể thương yêu. Bản chất của từ bi là trí tuệ. Thương mà không hiểu thì làm khổ và có thể gây thương tích cho người mình thương. Ví dụ tôi rất sợ mùi sầu riêng. Nếu có sư chú nói: Thầy đang mệt, nếu ta mời thầy ăn sầu riêng thì thầy sẽ khỏe. Bắt tôi ăn sầu riêng sẽ chỉ làm khổ tôi. Đó là thương mà không hiểu. Muốn hiến tặng niềm vui cho người, ta phải hiểu người. Con mắt chánh niệm phải quán sát. Cư xử với con cái cũng vậy, với mẹ cha cũng vậy, cũng cần phải quán chiếu, phải có tuệ để biết được cái đó có thực sự đem lại hạnh phúc hay không. Quán chiếu để thấy được nhu yếu đích thực của người đó để chúng ta hiến tặng những gì mà người đó đang thật sự cần. Chúng ta có thể nói rằng trong đạo Bụt, thương yêu được làm bằng chất liệu hiểu biết. Mà hiểu biết là hoa trái của chánh niệm, của thiền quán.

Nguyên tắc thực tập Tứ diệu đế phải được áp dụng ở đây. Trước hết ta nhìn vào để thấy những nỗi khổ. Sau khi nhận diện được sự thật thứ nhất về khổ, ta mới tìm ra được những nguồn gốc xa gần của khổ, tức là ta quán chiếu tập. Và chỉ khi nắm được hai sự thật đầu ta mới biết con đường nào giúp người vượt qua những khổ đau, biết được diệt và đạo. Thực tập Tứ diệu đế là thực tập tình thương. Bụt là một bậc trí và bi viên mãn. Nếu bi viên mãn thì trí cũng viên mãn, và nếu trí viên mãn thì bi cũng viên mãn. Hai là một, một là hai. Nếu hiểu được thân phận của người hải tặc thì ta cũng sẽ thương được người hải tặc. Trong kinh Bát đại nhân giác, Bụt nói rằng một vị Bồ tát không đem tâm ghét những người đã làm điều ác. Những điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị, những vô minh, căm thù đã được chứa chất từ lâu, đã đưa tới hành vi ác độc của người hải tặc kia. Thấy được nguyên do đó, ta có thể khởi được lòng từ bi, thương được người đã làm ác. “Bất tắng ác nhân” là bốn chữ trong kinh Bát đại nhân giác. Làm sao ta hiểu được bốn chữ “không ghét người ác” nếu ta quên tình thương, nếu ta chỉ dùng trí năng khô khan để học Bụt? Trí năng khô khan gọi là càn tuệ, dried knowledge. Tình thương chỉ có thể làm bằng hiểu biết, bằng tuệ giác chân thật, chữ Phạn là Prajñā, phiên âm là Bát nhã. Bát nhã là hoa trái của sự quán chiếu. Nhìn vào mình, vào người kia, thấy được những niềm đau, và nguồn gốc của những niềm đau, ta chấp nhận chính mình, chấp nhận người kia, ta không giận mình, không ghét người. Vì thấy được những nguyên do sâu xa của mọi hành động nên ta thấy thương mình và thương người. Ta chấp nhận những yếu kém, những khổ đau của mình và ta chấp nhận những yếu kém, khổ đau của người kia. Chất liệu của từ phát xuất từ trái tim, và tưới trở lại cho trái tim. Thực tập từ và bi trên căn bản hiểu biết thì không bao giờ vướng mắc vào tình thương chiếm hữu (possessive love). Thương mà không hiểu thì chỉ giam nhau vào ngục tù, tự giam mình vào ngục tù và làm khổ lẫn nhau. Người này lập ra nhà tù nhốt người kia vào cũng chỉ vì có thiện chí, họ nói rằng mình chỉ có hạnh phúc khi ở trong nhà tù đó. Họ muốn mình phải làm cái này cái này, và không được làm cái này cái này. Chồng với vợ, cha mẹ với con, bạn bè với nhau, khi thương nhau chúng ta thường vẫn giam nhau vào ngục tù, mới nhìn thì rất êm ái. Sở dĩ ta giam nhau vào ngục tù vì ta không biết được nhu yếu sâu xa đích thực của chính bản thân ta và của những người ta thương.

Bụt dạy rằng: tình thương được làm bằng hiểu biết. Nhưng vì hiểu rõ tâm của chúng sinh nên Bụt còn đi xa hơn nữa. Ngài nói rằng trong tình thương chân thật phải có niềm vui. Nếu không có niềm vui thì ta biết đó chưa phải là từ, chưa phải là bi. Đây là một phương pháp khác nữa để nhận diện tình thương chân thật: sự có mặt của niềm vui vô cầu, không vị lợi. Tu không phải là từ bỏ niềm vui. Niềm vui của người tu không phải chỉ phát sinh khi thấy người khác thành đạt và có hạnh phúc, mà cả khi thấy mình nhẹ nhàng, thảnh thơi và có hạnh phúc. Tại sao ta lại tự kỳ thị mình? Khi tôi bước những bước thiền hành thảnh thơi, tôi tiếp xúc với nắng, với tiếng chim, với tăng thân, tôi được nuôi dưỡng, thư thái, đó là niềm vui. Bụt dạy chúng ta phải nuôi dưỡng thân tâm bằng niềm vui và sự nhẹ nhàng. Làm như vậy cũng là thực tập thương yêu.

Để tôi ngưng một vài phút và đọc cho quý vị nghe một bài thơ tình của Vũ Hoàng Chương. Đọc để thấy tình yêu vướng mắc, và tình yêu chiếm hữu có thể tạo nên khổ nghiệp thế nào. Những năm trước khi tịch, Vũ Hoàng Chương có nhiều bài thơ về đạo rất hay, rất đạt. Nhưng thời còn trẻ ông đau khổ lắm, ông viết những tập Thơ Say, Thơ Điên, Mây. Đây là một bài viết năm 1940, trong tập Thơ Say, trong đó thi sĩ nhớ tiếc người yêu mà ông gọi là “Tố của Hoàng”:

Trăng của nhà ai, trăng một phương

Nơi đây rượu đắng, mưa đêm trường.

Nghe hai câu đầu, ta đã thấy khổ. Ở đây chỉ có trời mưa suốt đêm, và một mình uống rượu say mèm, trong lòng đầy khổ đau tâm sự. Ở đây không có trăng. Rượu thì có chất cay đắng. Rượu cay đắng hay tình cay đắng?

Ừ đêm tháng sáu, mười hai nhỉ?

Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương!

Mười hai tháng sáu là ngày tan nát, ngày cô nàng bỏ đi lấy chồng.

Là thế, là thôi, là thế đó

Mười năm, thôi thế mộng tan tành!

Mười năm trăng cũ ai nguyền ước?

Tố của Hoàng ơi! Tố của anh!

Chúng ta thấy ngã và ngã sở. Yêu thương một người, người đó phải thuộc về mình, đó là ngã sở. Tố của Hoàng ơi! Tố của anh. You are mine! Mười năm chỉ sống trong mộng cho nên khi mộng tan tành mới khổ.

Tháng sáu, mười hai từ đấy nhé

Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi.

Em xa lạ quá, đâu còn phải

Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.

Bây giờ anh đi thất thểu bên bờ hồ Hoàn Kiếm; có gặp anh, cô ta cũng không thèm nhìn. Ngày xưa, Tố là của Hoàng. Nhưng bây giờ, đời là vô thường mà, Tố đâu còn phải là ngã sở của Hoàng nữa?

Hoàng xưa và Tố xưa là một Hoàng khác và một Tố khác. Hoàng bây giờ là Hoàng khác, mà Tố cũng là Tố khác rồi. Vô thường và vô ngã. Mình của phút này đã không còn là mình của phút trước, huống hồ là từ ngày mười hai tháng sáu cho tới bây giờ.

Men khói đêm nay sầu vũng mộ

Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

Tình ta tha thiết, cuồng, ta khóc

Tố của Hoàng, nay, Tố của ai?

Giờ đây anh chàng khóc như điên. Tình thương mà đưa tới cuồng điên là tình thương mù quáng, không thấy được bản chất vô thường và vô ngã. Xưa Tố của Hoàng, nay Tố của ai?

Bốn câu tiếp nhắc sự tích Trang Tử khi vợ chết không khóc, ông gõ trên thành chậu mà hát một bài gọi là Cổ Bồn Ca:

Tay gõ vào bia, mười ngón dập

Mười năm theo máu hận trào rơi

Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp

Khúc Cổ Bồn Ca, gõ hát chơi.

Kiều Thu hề Tố em ơi!

Ta đang lửa đốt tơi bời Mái Tây.

Mái Tây tức là Tây Sương, tên một vở tuồng kể lại một chuyện tình nổi tiếng. Khi tình thương gây đau khổ, gây lửa cháy trong lòng như vậy, thì tình thương đó là tình thương gây tàn phá, tạo khổ đau.

Hàm ca nhịp gõ khói bay

Hồ, xừ, xang, xế, bàn tay điên cuồng

Kiều Thu hề trọn kiếp thương!

Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô

Xừ, xang, xế, xự, xang, hồ

Bàn tay nhịp gõ, điên rồ khói lên

Kiều Thu, hề! Tố hỡi em!

Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng

Xế, hồ, xang,… khói mờ rung

Nhịp vươn sầu tỏa năm cung ngút ngàn.

Đây là một bài thơ tình rất hay, vì đọc xong người ta sẽ thấy nát gan nẫu ruột, và bị cuốn vào trong cơn đau khổ cuồng si của thi sĩ. Dùng chánh niệm để quán chiếu ta sẽ thấy tình yêu ở đời thường dẫn đến tình trạng đó. Vì tình yêu vô minh có rất nhiều ái thủ trói buộc, đưa đến giận hờn, tan vỡ, tạo ra khổ đau cho cả hai người – thơ tình cũng có thể làm hại cả độc giả nữa nếu độc giả cũng chìm đắm trong “thú đau thương”, quên thực tập chánh niệm.

Chúng ta cần phân biệt tình thương trong sáng khỏe mạnh và tình thương mê đắm vướng mắc. Phải quán chiếu để nhận diện xem trong tình thương có chất liệu của từ, của bi, và của hỷ hay không. Nếu hoàn toàn trong ấy không có chất liệu nào của từ, bi và hỷ thì tình thương đó chắc chắn đang và sẽ tạo đau khổ. Nếu chất liệu của từ, bi và hỷ còn quá ít thì người ta vẫn còn đang đi theo con đường của vướng mắc, của sầu hận, của khổ đau và đày đọa. Cho nên ta phải thực tập mỗi ngày để chuyển hóa các yếu tố tiêu cực của tình thương, và nuôi dưỡng chất liệu từ, bi, hỷ, xả càng ngày càng lớn.

Bây giờ chúng ta nói tới yếu tố thứ tư là xả. Thường thường chúng ta dịch xả là buông bỏ, là không vướng mắc. Có khi chúng ta dịch là không phân biệt, không kỳ thị. Bản chất của xả là bất nhị. Định nghĩa hay nhất của xả là tự do. Một tình thương chân thật là một tình thương có chất liệu tự do. Người thương có tự do, và người được thương vẫn không mất tự do. Người đó không cần phải hội đủ những điều kiện nào đó mới được thương. Tôi thương anh không phải vì anh là người đồng bào máu mủ của tôi hay vì anh đã theo cùng một tôn giáo với tôi mà tôi thương. Tình thương không phân biệt như vậy là tình thương có xả. Trong tình thương đích thực này, người gọi là kẻ thù cũng được thương. Người ấy cũng đau khổ, cũng cần chuyển hóa khổ đau, cũng cần có hạnh phúc. Khi nhìn thấy được nhu yếu đó, ta thương được kẻ thù của ta. Khi đã thương được rồi thì ta đâu còn gọi người đó là kẻ thù nữa. Cho nên trong tình thương đích thực không có kẻ thù. Có những chủ thuyết nói rằng ta phải phân biệt bạn với thù, ta không được thương kẻ thù, chỉ được thương bạn thôi. Trong giáo lý đạo Bụt thì người nào khổ là mình thương, vì người đó cần tới tình thương.

Cách đây ba tuần, một sư cô ở Huế viết thư kể chuyện hiện giờ các nhà thờ chiêu dụ được con nít rất nhiều, chỉ tại vì các em đói. Trẻ em không có thức ăn, không có trường học thì tới nhà thờ để học đọc, học viết buổi sáng, rồi được ăn cơm trưa, và ở lại học đọc và học viết nữa. Đó đích thực là một công tác từ bi. Nhưng một số phụ huynh hơi lo, sư cô cũng hơi lo. Họ kể rằng các cháu về nhà, trong bữa cơm chiều, làm dấu thánh giá trước khi ăn, và đọc kinh “Con lạy chúa trên trời.” Và họ hoảng sợ. Sư cô đó đề nghị Phật tử phải làm thế nào để cho con cháu mình đừng đi đến nhà thờ, phải làm thế nào để đưa hết những trẻ em đói đó về chùa. Để thay vì làm dấu thánh giá, và đọc kinh “Con lạy chúa trên trời” thì chắp tay đọc “Con về nương tựa Bụt.

Đó là tâm trạng chung của rất nhiều người. Phật tử và không Phật tử. Chúng ta làm việc thiện do tình thương, nhưng trong tình thương vẫn có phân biệt. Nếu chúng ta chỉ làm việc thiện vì sợ các con em Phật tử đi theo đạo Cơ đốc, thì chất liệu của từ bi sẽ không trọn vẹn. Nếu ta làm việc thiện vì thấy có rất nhiều trẻ em cần phải được nuôi ăn trưa, cần phải học đọc, học viết, thì đó là chân tinh thần của từ, bi, hỷ, và xả. Làm việc thiện vì sợ tôn giáo khác đang dụ con em mình, là đã để cho một áng mây mờ bay vào trong tình thương của mình. Điều này là do quán chiếu mà thấy. Cho trẻ con ăn cơm trưa, và cho các em học đọc, học viết là tại vì chúng cần những thứ đó. Còn sử dụng hành động đó để làm cho con nít theo đạo (hoặc là đạo Chúa, hoặc là đạo Phật) thì tình thương đó đã bị che ám bởi đám mây của kỳ thị. Như thế là trái với tinh thần xả. Nếu học Tứ vô lượng tâm mà nghĩ rằng chỉ có từ và bi mới là tình thương thôi, còn hỷ và xả là chuyện khác, đó là chúng ta lầm.

Trong lịch sử của giáo đoàn có rất nhiều sự hiểu lầm về giáo lý Tứ Phạm trú, Tứ vô lượng tâm. Ngay trong Đại trí độ luận (Mahāprajñāpāramitāśāstra) của thầy Long Thọ (Nāgārjuna), chúng ta cũng thấy có một vài hiểu lầm. Đại trí độ luận được soạn sớm hơn những tác phẩm khác được coi là của thầy Long Thọ như Trung quán luận. Sự hiểu lầm trong này phản ảnh sự hiểu lầm của những tông phái đang diễn giảng và thực tập Tứ vô lượng tâm trong thời kỳ ấy.

Hiểu lầm thứ nhất là cho rằng tâm từ, hay tâm bi đều còn bị vướng mắc. Thương yêu là bị ràng buộc vào những người được thương và mất đi một phần tự do. Đến tâm hỷ thì sự vui mừng cũng còn làm xáo động tâm. Vì vậy phải tu xả, nghĩa là phải buông bỏ. Ban đầu thì tu từ, tu bi và tu hỷ. Về sau ta phải tu xả để buông bỏ từ, bi, và hỷ đó để cho tâm thanh tịnh.

Hiểu như vậy là rất sai với tinh thần đạo Bụt, chưa thấy được rằng xả là một chất liệu trong tình thương. Sự sai lầm đó ta thấy nhan nhản trong các bộ luận từ ngày xưa cho tới bây giờ. Đại trí độ luận cũng phản ảnh tình trạng đó. Về sau, khi nói đến nhân cách của Bụt, các bộ phái mới nêu thêm ý niệm đại từ và đại bi, vượt lên trên từ và bi. Đại từ và đại bi chỉ được dùng cho Bụt và Bồ tát, còn trong trường hợp chúng ta thì chỉ dùng từ và bi. Hiểu như vậy cũng sai. Nếu đại từ, đại bi là lòng từ bi không giới hạn, thì Tứ vô lượng tâm cũng có nghĩa là bốn tâm không giới hạn. Tại sao cần phân biệt từ bi với đại từ, đại bi? Chỉ vì người ta hiểu rằng thực tập Tứ vô lượng tâm chỉ đem lại phước báo, giúp ta sinh lên cõi trời Phạm thiên và sống hạnh phúc một thời gian. Hết phước rồi chúng ta sẽ đọa lại trong kiếp người. Và không khéo có thể xuống cả địa ngục, trừ khi chúng ta có tu Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Đó là cách hiểu của nhiều luận giả trong các bộ phái Phật giáo. Ý niệm đó chứng tỏ rằng người ta có thể tu từ, bi, hỷ, xả riêng mà không cần Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Đó là sai lầm căn bản. Chúng ta biết rằng nếu không có Tứ diệu đế và Bát chánh đạo thì từ, bi, hỷ, xả không thực sự là từ, bi, hỷ và xả. Phân biệt tu từ, bi, hỷ, xả riêng, khác với cách tu từ, bi, hỷ, xả chung với Tứ đế và Bát chánh đạo, đó là một quan niệm sai lầm chúng ta phải chỉnh lại.

Sai lầm lớn thứ hai là nói rằng tu từ, bi, hỷ, xả chỉ chuyển hóa được tâm của người tu thôi, chứ không ảnh hưởng trực tiếp tới mọi loài chúng sinh. Những người diễn giảng và thực tập bốn tâm đó đã hiểu lầm lời của Bụt dạy. Họ nghĩ rằng tu từ, bi, hỷ, xả là những ức tưởng, những tưởng tượng ở trong đầu người tu. Có một đoạn kinh nói về phương pháp tu từ, bi, hỷ, xả (đoạn kinh này được lặp lại rất nhiều trong tạng Hán cũng như là tạng Pāḷi). Đoạn kinh đó như sau:

Tâm dữ Từ câu, biến mãn nhất phương thành tựu du. Như thị nhị tam tứ phương tứ duy thượng hạ phổ châu nhất thiết. Tâm dữ Từ câu, vô kết, vô oán, vô nhuế, vô tranh, cực quảng thậm đại, vô lượng thiện tu, biến mãn nhất thiết thế gian thành tựu du. Như thị bi, hỷ tâm dữ xả câu, vô kết, vô oán, vô nhuế, vô tranh, cực quảng thậm đại, vô lượng thiện tu, biến mãn nhất thiết thế gian thành tựu du”. Dịch nghĩa: Tâm ta với chất liệu từ, đi về một phương, tiếp xúc với tất cả phương đó một cách rất sâu sắc, trở thành một với phương đó. Cũng như vậy, tâm ta với chất liệu từ đi vào phương thứ hai, đi vào phương thứ ba, đi vào phương thứ tư, đi lên phương Thượng, đi xuống phương Hạ, đồng nhất mình với từng phương, làm cho chất từ thấm nhuận vào phương đó. Không có nội kết, không có oán hờn, không có giận dữ, không có tranh chấp, rất lớn, rất rộng cho tới vô cùng. Và điều này cũng được thực hiện với bi, với hỷ, và với xả.

Bản dịch tiếng Anh như sau: He dwells suffusing, first, one direction with the heart linked to friendliness, then the second, then the third, then the fourth, then above, below, around and everywhere. And so he dwells recognizing himself in all, suffusing the entire world with the heart linked to friendliness, far reaching, gone great, unlimited, free from enmity and malice.

Tiếng Pháp, dịch từ Pāḷi: Ayant englobé la première région par une pensée associée à la bienveillance, il demeure. Ayant englobé de la même manière la deuxième, la troisième et la quatrième région, le zénith, le nadir, les quatres régions intermédiaires. Ayant englobé partout et de toute manière le monde entier par une pensée associée à la bienveillance, pensée étendue, agrandie, immense, exempte d’ennimité, exempte de méchanceté, il demeure. Il en fait de même avec la pensée associée à la compassion, avec la pensée associée à la joie, avec la pensée associée à l’equanimité.

Một số các vị dạy như thế này: Trong khi ngồi thiền mình rải tâm từ của mình về phương Đông, bao trùm tất cả các loài đang ở bên phương Đông; rồi sau đó rải tâm từ của mình qua phương Tây, bao phủ tất cả các loài ở phương Tây; rồi phương Bắc, rồi phương Nam, rồi phương Thượng, rồi phương Hạ, rồi Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam; và cứ như vậy chúng ta tiếp tục với bi, với hỷ, và với xả.

Có thầy giải thích rằng ta tưởng tượng lòng từ của mình như là một đám mây trắng, từ trái tim của ta đi ra, bao trùm một phương, bao trùm hai phương, ba phương, bốn phương, tám phương, mười phương; và đó là thực tập Tứ vô lượng tâm. Vì vậy trong Đại trí độ luận có dùng một chữ là “ức tưởng”. Đại trí độ luận nói rằng Thanh văn tu từ, bi, hỷ, xả chẳng qua là những ức tưởng bên trong, để chuyển hóa tâm sân hận của mình bên trong, chứ không có ảnh hưởng trực tiếp và thực tế tới mọi loài chúng sinh. Vì vậy muốn tu từ, bi, hỷ, xả thật đàng hoàng là phải phát nguyện thành Phật, phải thực tập Sáu phép Ba la mật, tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí tuệ.

Cách hiểu về Tứ vô lượng tâm đó vẫn còn nông cạn. Từ là năng lượng làm cho người vui, bi là năng lượng làm cho tiêu tan nỗi khổ. Ta chỉ có thể thực hiện được từ và bi khi quán chiếu. Từ hiểu biết mà đi tới thương yêu, rồi biến thành hành động. Tình thương biến thành hành động, chứ không phải là chỉ là ức tưởng. Vì vậy cách hiểu về Tứ vô lượng tâm nói trên không đủ sâu sắc.

Tôi hy vọng quý vị đã nắm được những ý chính. Tránh sự hiểu lầm và phân biệt giữa từ, bi, hỷ, xả với sự thực tập Tứ đế và Bát chánh đạo. Tránh sự hiểu lầm rằng tu từ, bi, và hỷ có thể bị vướng mắc cho nên ta phải tu xả để bỏ từ, bỏ bi và hỷ. Đó là những cách hiểu rất nông cạn. Và nhất là hiểu lầm rằng tu từ, tu bi, tu hỷ, tu xả chỉ là chuyện ức tưởng bên trong đầu người tu, không ảnh hưởng gì tới thế giới bên ngoài. Đó là những sai lầm căn bản mà chúng ta phải sửa ngay trong Đại trí độ luận. Thầy Long Thọ nói rằng vì cách tu từ, bi, hỷ, xả của những bậc Thanh văn chỉ là ức tưởng thôi, cho nên bây giờ người tu Đại thừa phải tiến lên thực tập Sáu Ba la mật. Câu đó cũng chứng tỏ rằng người đương thời chưa hiểu đúng phương pháp tu tập từ, bi, hỷ, xả. Tại vì tu từ, bi, hỷ, xả rất cần Bát nhã Ba la mật. Có Bát nhã Ba la mật thì sẽ có Bố thí Ba la mật, có Trì giới Ba la mật. Khi trì giới tức là ta thương yêu.

Các vị Tổ đã dạy dỗ chúng ta rất nhiều. Tôi rất biết ơn các vị. Ngày xưa có lúc tôi từng nghĩ là điều gì các Tổ nói đều đúng hết. Bây giờ lớn rồi, thành ra tôi thấy được những điều thất truyền, và những ý trên đây là những đóng góp của tôi. Cũng là một cách để đền đáp công ơn các Tổ. Bồi đắp những chỗ còn bị trống, bị thiếu, và tiếp tục khai triển sự nghiệp của Tổ. Tôi không nói rằng các vị đã làm sai, hay làm thiếu. Cố nhiên là học trò của tôi, và học trò những thế hệ sau cũng phải tiếp tục làm như vậy. Bồi đắp cho cây Phật pháp mỗi ngày mỗi lớn, mỗi ngày mỗi mạnh. Và ta phải có con mắt tuệ của chính ta mới được. Chứ còn học với tinh thần nô lệ, chấp nhận bất cứ một chữ nào, một câu nào ở trong các sách để lại, thì ta sẽ không đi xa được, và chỉ làm cho Phật pháp mỗi ngày mỗi héo mòn đi mà thôi.

Bài 21 Bốn duyên và sáu nhân

Hôm nay là ngày 03 tháng 02 năm 1994, chúng ta ở xóm Thượng và học tiếp về Bát chánh đạo. Bài hôm nay đề cập đến giáo lý duyên khởi.

Duyên khởi là đối tượng của chánh kiến. Có chánh kiến tức là có cái thấy sâu sắc và đứng đắn về duyên khởi. Chúng ta đã biết vô thường và vô ngã cũng chỉ có nghĩa duyên khởi. Chữ duyên tiếng Phạn là pratītya, tiếng là paccaya. Trong kinh Bụt thường nói rất đơn giản về duyên khởi. Ngài nói: “Cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt.” Có khi Ngài dùng hình ảnh của một bó lau: một cọng lau, hai cọng lau, ba cọng lau nương vào nhau mà đứng vững. Khi một trong những cọng lau đổ xuống thì các cọng lau kia cũng đổ theo.

Đạo Bụt Nam truyền nói tới Hai mươi bốn duyên. Tư tưởng về 24 duyên này được ghi lại trong tác phẩm Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo luận) của thầy Phật Âm (Buddhaghosa). Thầy Phật Âm phối hợp giải thích Hai mươi bốn duyên đó với Mười hai nhân duyên. Cách diễn bày rất chi li, phức tạp, đối với những người mới học có thể khó hiểu. Đạo Bụt Nam truyền trong hệ phái Xích Đồng Diệp Bộ (nay là theravāda) đã tiếp nhận sự truyền thừa từ Phân Biệt Thuyết Bộ trong Thượng Tọa Bộ. Trong khi ở miền Nam nói về 24 duyên thì Hữu Bộ tại miền Bắc lại có ý niệm về Bốn duyên. Mà Hữu Bộ cũng xuất phát từ Thượng Tọa Bộ. Chắc hẳn ngày xưa đã từng có những lý thuyết chi li hơn về duyên khởi. Nhưng sau đó vì sự học hỏi và hành trì nên người ta đã thâu tóm và giản lược lại. Vào đầu khóa tu chúng ta đã đọc tên 24 duyên của đạo Bụt Nam truyền. Bây giờ chúng ta nhìn lại Bốn duyên khởi theo đạo Bụt Bắc truyền.

BỐN DUYÊN VÀ SÁU NHÂN

Duyên nói chung là những điều kiện để cấu thành các hiện tượng về tâm cũng như thân. Trong Bốn duyên, duyên thứ nhất là nhân duyên. Duyên là điều kiện. Nhân là hạt giống từ đó sinh ra quả. Khi ta nói nhân duyên thì nhân là một thứ duyên, một điều kiện để tác thành. Điều kiện đầu tiên là có sẵn hạt giống. Nhân, chữ Hán là 因 , có một bức tường giới hạn bao quanh và trong đó có chữ đại 大, nghĩa là lớn. Nhưng cái lớn này vẫn đang còn nhỏ, vẫn còn nằm trong giới hạn. Một ngày kia khi cái giới hạn này được lấy đi thì đại này sẽ là rất lớn.

Ví dụ chúng ta có một hạt giống của giác ngộ, của chánh niệm trong ta. Đó là điều kiện đầu tiên, là một duyên đầu, gọi là nhân duyên. Bụt dạy rằng tất cả mọi chúng sinh đều có hạt giống của giác ngộ, của tỉnh thức, của hạnh phúc. Hạt giống đó có thể nhỏ, nhưng nó có mặt. Có một bức tường ngăn cản không cho nó trưởng thành nên ta cứ trầm luân trong biển khổ. Chúng ta cũng có hạt giống của niềm tuyệt vọng. Nếu chúng ta cứ tự tưới tẩm hoặc để cho người khác tưới tẩm hạt giống đó, thì một ngày kia niềm tuyệt vọng cũng sẽ lớn lên, tràn lấp tâm ta và sẽ làm ta đau khổ. Chúng ta có hạt giống của giác ngộ, của niềm tin, của tình thương nhưng chúng ta cũng có hạt giống của niềm tuyệt vọng và của sự căm thù. Hạt giống đó là một điều kiện, gọi là nhân.

Thứ hai là duyên tăng thượng 增上. Tăng, tức là thêm, thượng tức là trồi lên. Loại điều kiện thứ hai là những điều kiện giúp vun trồng và tưới tẩm thêm cho hạt giống đầu phát triển. Nếu hạt giống của niềm tin trong ta mỗi ngày được Tăng thân, được thầy, được bạn tưới tẩm cho, thì niềm tin đó ngày càng lớn. Duyên tăng thượng có hai trường hợp: thuận và nghịch. Những điều kiện thích hợp, nâng đỡ, bổ túc thì gọi là thuận. Ví dụ niềm tin của chúng ta mỗi ngày đều được các bài pháp thoại của thầy hay lời khuyên nhủ của các sư anh, sư chị hỗ trợ, thì đó gọi là duyên tăng thượng thuận. Nếu có người ngày nào cũng nói những điều làm cho chúng ta nghi ngờ, thì niềm tin của chúng ta ngày càng yếu, đó là duyên tăng thượng nghịch. Nhiều khi duyên nghịch cũng có thể giúp chúng ta được chứ không phải chỉ có duyên thuận. Nếu chỉ gặp những thuận duyên thôi thì có thể chúng ta không biết quý. Gặp sóng gió ba đào, khó khăn trắc trở, niềm tin và sức mạnh có thể nhờ thế lớn lên. Nếu ta chỉ gặp toàn những duyên thuận thì có khi ta cũng dễ bị tự hào, tự thị, khinh thường. Gặp những duyên nghịch mình mới biết sức mình. Được đào luyện trong những điều kiện khó khăn như thép được tôi luyện trong lửa. Thành ra những duyên nghịch cũng có thể có ích lợi. Những người có ý chí khi gặp những duyên nghịch họ không bị sờn lòng, buông xuôi. Nếu Bụt không trải qua những năm tháng tu khổ hạnh thất bại thì Bụt đã không dạy con đường Trung đạo, con đường không hành hạ xác thân mà cũng không đắm chìm trong năm thứ dục lạc.

Thứ ba là duyên thứ đệ, có khi gọi là đẳng vô gián duyên. Thứ đệ tức là có trước, có sau. Đẳng tức là bằng bằng, bình thường, đều đều. Vô gián nghĩa là không gián đoạn. Sự hình thành nào cũng cần được liên tục, không gián đoạn. Ví dụ như sự tu học cần được tiếp tục ngày này sang ngày khác không gián đoạn thì mới thành công được. Tục ngữ có câu: “Cóc bỏ vào dĩa” là nói những người không đủ kiên trì, không tạo được duyên thứ đệ. Luộc khoai mà đốt lửa thật lớn trong ba phút rồi tắt lửa, rồi hai phút sau đốt lửa trở lại rồi lại tắt, cứ như vậy thì không bao giờ khoai chín cả. Đó là thiếu đẳng vô gián duyên.

Thứ tư là duyên sở duyên. Sở duyên là đối tượng. Nếu không có đối tượng thì không có chủ thể; như niềm tin thì có đối tượng của niềm tin, niềm tuyệt vọng cũng có đối tượng của niềm tuyệt vọng. Đối tượng đó gọi là sở duyên (object), còn chủ thể gọi là năng duyên (subject).

Muốn hiểu vai trò và tác động của bốn loại duyên, chúng ta nên nhìn dưới ánh sáng của Duy biểu học – thường gọi là Duy thức học. Trước hết, các tâm hành đều có chủ thể và đối tượng, không thể tách rời nhau. Thử hình dung tâm của chúng ta, phía trên là ý thức và phía dưới là tàng thức. Chúng ta hãy nói đến một tâm hành, ví dụ một niềm đau khổ. Niềm đau khổ ấy có hạt giống sẵn ở trong tàng thức. Hạt giống đó có thể nằm im trong bao nhiêu năm ta không cảm thấy gì hết. Niềm đau không phát hiện lên trên ý thức, vì hạt giống ấy chưa được tưới tẩm. Hạt giống là duyên nhân.

Bây giờ nếu có những điều kiện tưới tẩm từ cha mẹ, anh em, xã hội, học đường thì hạt giống đó có cơ hội nảy mầm. Mọi người có thể tưới tẩm nó bằng lời nói, cử chỉ, cái nhìn và hành động. Một hạt giống có thể được tưới tẩm bằng sự có mặt của những hạt giống khác. Những hạt giống phiền não khác tưới tẩm hạt giống phiền não này. Những yếu tố nội tại và những tác động bên ngoài đó đều được gọi là những duyên tăng thượng.

Việc tưới tẩm xảy ra liên tục. Ngày nào ta cũng nghe, cũng thấy, ngày nào cũng xúc tiếp, hạt giống đau buồn ấy tiếp tục lớn lên, biểu hiện trên mặt ý thức. Và đây là loại duyên thứ ba, gọi là duyên thứ đệ. Giả sử niềm đau đó không có duyên thứ đệ, như ta được đưa về một môi trường khác, một Tăng thân có hạnh phúc để tu học, để thực tập chánh niệm, chánh ngữ, chánh kiến, thì sự tưới tẩm hạt giống khổ đau tự nhiên ngưng lại, bị gián đoạn, và duyên thứ đệ không còn nữa. Sự phát hiện hạt giống bất thiện có thể ngừng lại để ta thực tập tưới tẩm những hạt giống thiện.

Và cuối cùng, duyên thứ tư là duyên sở duyên, tức là đối tượng. Nếu không có đối tượng thì không có chủ thể. Niềm đau phải có một đối tượng để phát hiện, như đau về một chuyện gì: về tương lai, về thân phận, ý niệm về hạnh phúc hoặc tình thương. Mỗi hạt giống ở trong tàng thức phải có một đối tượng. Giận nghĩa là giận ai? Giận đời, giận xã hội hay giận truyền thống hay tự giận mình? Đối tượng đó gọi là duyên sở duyên.

Trong truyền thống đạo Bụt Bắc tông, từ bộ phái Hữu Bộ đã phát xuất quan niệm về Bốn duyên và Sáu nhân mà sau này tông Duy thức trong Đại thừa đã khai triển. Tất cả mọi hiện tượng đều có thể giải thích do bốn loại duyên mà thành hình.

Ví dụ một hạt lúa có thể mọc mầm để trở thành cây lúa. Hạt lúa chính là điều kiện đầu gọi là duyên nhân. Rồi có những điều kiện phụ thuộc như: đất, nước, mặt trời, người làm ruộng chăm sóc, vun bón, tưới tẩm để cho hạt lúa nảy mầm trở thành cây lúa, đó gọi là duyên tăng thượng. Và nếu nắng, mưa, người làm ruộng tiếp tục không ngừng nghỉ thì cây lúa sẽ chín và có hạt lúa. Còn nếu nửa chừng mà ngưng lại, nhổ cây lúa lên là hỏng.

Trong đạo Bụt bất kỳ hiện tượng vật lý, sinh lý hay tâm lý nào đều là đối tượng của tâm cả. Hạt lúa hay cây lúa trước hết là một tri giác (tưởng) có hạt giống nằm ở tàng thức. Chữ tưởng trên là chữ tướng (đối tượng), phía dưới là chữ tâm (chủ thể), hai phần gộp lại thành chữ tưởng.

Chúng ta nghĩ rằng tướng của cây lúa có thể tồn tại độc lập ngoài chủ thể nhận thức của nó. Nhưng trong Duy biểu chúng ta đã được học đối tượng luôn đi đôi với chủ thể và vì vậy cho nên hạt lúa hay cây lúa trước hết là đối tượng của tưởng (tri giác). Nói đến hạt lúa tức là nói đến tri giác. Hạt lúa là một pháp, cây lúa là một pháp, niềm đau là một pháp. Pháp là đối tượng của thức (ý thức). Chúng ta được nhắc rằng vạn pháp đều là đối tượng của tâm cho nên đừng nói vạn pháp như là những hiện tượng tồn tại độc lập ngoài tâm. Vì vậy đối tượng cần thiết như là điều kiện thứ tư (duyên sở duyên). Tất cả mọi hiện tượng đều cần bốn duyên đó mà thành lập.

Khi chúng ta quán chiếu về một hiện tượng của tâm hay của thân, chúng ta phải quán chiếu đến cội nguồn và phải thấy được bốn loại điều kiện của hiện tượng đó. Riêng về điều kiện đầu, nhân duyên (hetu), chúng ta có thêm lý giải về sáu nhân, tức là sáu loại hạt giống của sự hình thành.

Trước hết là nhân năng tác (nāmahetu, Hán Việt là năng tác nhân), tức là nhân đầu tiên điều động và tạo tác. Nhân năng tác có hai tác dụng: tác dụng dữ lực, nghĩa là cho sức mạnh (empowering); và tác dụng bất chướng, nghĩa là không gây chướng ngại (non-resistant).

Thứ hai là nhân câu hữu. Câu hữu (co-existing) tức là có mặt cùng một lúc, tiếng Phạn là sahabhūta, là những nhân có đồng thời với nhau, không có cái nào trước, không có cái nào sau. Ví dụ như khi ta vẽ một đoạn thẳng AB thì ta thấy đầu A với đầu B đều hiện diện, nếu đầu B không có thì A cũng không có; dù đường ngắn hay dài cũng vậy. Có A là có B, có B là có A; B làm ra A, A làm ra B; B và A cùng có một lần. Hay chúng ta vẽ hình một tam giác ABC và gạch đường AH, chúng ta sẽ có hai tam giác, tam giác thứ nhất là ABH và tam giác thứ hai là ACH. Tam giác đầu làm ra tam giác thứ hai và tam giác thứ hai làm ra tam giác đầu. Nó cùng có một lần, không có cái nào trước, không có cái nào sau. Câu hữu có nghĩa như vậy. Điều này cũng là đặc tính của những ý niệm có và không, trên và dưới, trong và ngoài, trước và sau, sinh và tử.

Thứ ba là nhân đồng loại. Đồng loại tức là cùng chủng loại (sabhāga, of the same kind, same category). Những nhân đó cùng là nhân tốt hay cùng là nhân xấu. Ví dụ như ta có hạt giống của niềm tin và có thêm hạt giống của niềm vui; tin tưởng đưa đến sự vững chãi, vui tươi và vui tươi lại đưa tới sự tin tưởng và vững chãi. Hai nhân đó cùng nâng đỡ nhau, gọi là nhân đồng loại.

Thứ tư là nhân tương ứng. Tương ứng (saṃprayuktaka) là hai cái đáp ứng với nhau, cộng tác với nhau (associating). Hai cái có thể là không giống nhau nhưng tương ứng với nhau. Nhân này tiếp ứng, hỗ trợ cho nhân kia để lớn mạnh thì gọi là tương ứng.

Thứ năm gọi là nhân biến hành (sarvatraga). Biến hành tức là hoạt động khắp nơi, có mặt khắp nơi (all pervading, universal). Ví dụ như nước có tính cách biến hành, chỗ nào nước cũng có mặt: trong cơ thể chúng ta, trong cây cối, trong đất, trong không khí đều có nước. Những tâm hành xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư là những tâm sở biến hành ở đâu cũng có.

Nhân thứ sáu gọi là nhân dị thục (vipāka). Dị thục ở đây tức là nói về tàng thức. Dị tức là khác nhau, thục tức là chín. Chữ dị có ba hình thức: khác thời, khác loại và thay đổi. Dị thời nhi thục tức là có những nhân chín sớm, có những nhân chín trễ. Ví dụ như một nải chuối: nải chuối chưa chín lắm chúng ta mang về để trên bàn, nải chuối ở trong nhà ấm áp sẽ từ từ chín. Nghĩa thứ hai của dị là khác loại, dị loại nhi thục tức là không cùng một loại. Ví dụ như xoài và chuối khác nhau; khi chuối chín thì thành ra chuối chín, khi xoài chín thì không thành ra chuối chín. Khác nhau là dị loại. Nghĩa thứ ba của dị là biến dị nhi thục. Khi còn xanh, còn non thì quả khác, khi chín thì khác. Hạt giống thế này, đến khi thành trái cây chín muồi lại khác. Người ngồi thiền, mới ngồi thì thấy hơi khó chịu, không được thoải mái lắm. Nhưng ngồi được chừng 20, 30 phút thì chuyện thiền tọa đã chín và ta cảm thấy thư thái, an lạc; trong đó cũng có nhân biến dị nhi thục. Ngồi cho đúng phép, có duyên nhân, duyên tăng thượng, duyên thứ đệ và duyên sở duyên thì ngồi thiền thành công. Tại sao có người trông mong đến giờ để được đi thiền, lại có người nghe chuông thiền hành thấy mệt nhọc trong lòng? Đó là tùy thuộc những thứ duyên khác nhau.

MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

Thuyết Duyên sinh mà cả Bắc tông và Nam tông đều nói tới một cách rất kỹ lưỡng gồm Mười hai chi phần (Anga). Đó là Mười hai nhân duyên, từ vô minh cho tới lão tử. Trong kinh Đại duyên (Mahānidāna) và trong nhiều kinh khác Bụt cũng nói tới 12 nhân duyên. Vì thế con số 12 có tính chất linh thiêng.

Trước hết là vô minh, không sáng. Vô minh tức là sự mù mờ, là bóng tối, không hiểu, hiểu lầm, mê mờ, hồ đồ, rối rắm.

Duyên thứ hai được nói tới là hành, tiếng Pali là saṅkhāra, tiếng Anh là formations. Hành là một động lực trong tâm khi bị quấy động lên bởi vô minh. Cái giận, cái thù, cái ghét, cái bực bội của mình, tất cả đều do vô minh quấy động. Ta muốn nói cái này, muốn làm cái kia là vì những hành do vô minh quấy động.

Thứ ba là thức. Thức ở đây phải được hiểu là toàn thể tâm thức của chúng ta: cá nhân và tập thể, ý thức và tàng thức, chủ thể và đối tượng. Nói đến thức chúng ta đã thấy có vô minh và hành trong ấy. Tại vì thức được làm bởi vô minh và hành. Vì chứa tính sai lầm, vì chứa mầm khổ đau cho nên gọi là thức. Nếu không thì nó đã được gọi là trí. Có vô minh ta gọi là thức, có minh ta gọi là trí.

Thức làm phát hiện ra danh sắc. Sắc tức là phần vật chất, sinh lý và danh là phần tâm lý. Danh sắc nằm trong thức. Sắc là đối tượng của thức mà danh cũng là đối tượng của thức. Ví dụ khi chúng ta nhìn và tiếp xúc với bàn tay thì bàn tay là đối tượng của thức. Khi chúng ta tiếp xúc với cái giận, cái buồn, với hạnh phúc của chúng ta thì cái giận, cái buồn, và hạnh phúc ấy cũng là đối tượng của thức.

Lục nhập tức là sự có mặt của sáu căn và sáu trần. Sắc gồm có sáu căn và sáu trần. Căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Lục nhập nằm trong danh sắc. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo thành sáu thức.

Lục nhập tạo ra xúc, một trong năm tâm sở biến hành. Có sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và có sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) làm đối tượng, thì có xúc. Xúc là tác động giữa căn và trần.

Sự xúc chạm đó tạo ra thọ, cảm thọ dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Trong trường hợp đó là lạc thọ thì chúng ta có thể vướng vào ái. Ái tức là sự vướng mắc. Thứ chín là thủ. Thủ tức là bị kẹt vào. Vì vướng mắc cho nên ta bị kẹt vào. Kẹt vào mới sinh chuyện ra, gọi là hữu. Hữu tạo ra sinh. Và có sinh thì thế nào cũng có già-chết, tức là lão-tử. Đó là Mười hai nhân duyên.

Trong những kinh đầu nói về đạo lý Nhân duyên, có khi Bụt chỉ nói tới 9 nhân duyên, có khi 10 nhân duyên. Trong những lần thuyết pháp sau, Bụt thêm vào thành 12.

Nghiên cứu và học hỏi theo tinh thần khoa học ta sẽ tìm thấy điều đó ở trong kinh điển. Luận Đại tỳ bà sa của Hữu Bộ nói đạo lý Nhân duyên có thể được trình bày qua một chi cũng được, hai chi cũng được, ba, bốn, năm, sáu, bảy, chín, mười, hoặc mười hai chi cũng được. Nếu một chi thì nói rằng các pháp hữu vi nương nhau mà có. Nếu hai chi thì nói là nhân và quả; đạo lý nhân duyên cũng gọi là nhân quả. Nếu ba nhân duyên thì là tam thế: quá khứ, hiện tại và vị lai. Nếu bốn nhân duyên là vô minh, hành, sinh và lão tử; tám duyên kia cũng nằm gọn trong bốn duyên này. Năm nhân duyên là ái, thủ, hữu, sinh và lão tử. Nếu chia ra sáu thì ba lần (tam thế) nhân với hai (nhân và quả), tức là nhân và quả của quá khứ là hai, thêm hiện tại vào là bốn, và thêm tương lai vào thì tất cả là sáu nhân duyên.

Chín nhân duyên là do chính Bụt nói. Trong kinh Đại duyên (Mahānidāna), Trường bộ kinh thứ 19 ở tạng Pāḷi, Bụt không nhắc tới vô minh, hành và lục nhập. Sở dĩ Bụt không nói đến vô minh và hành là vì trong thức đã có bản chất của vô minh, có vọng tưởng và vọng động là hành. Nếu không có vọng tưởng và vọng động thì không gọi là thức, phải gọi là trí. Không có lục nhập là vì trong xúc và thọ đã có lục nhập, danh sắc cũng hàm chứa lục nhập. Vì cái này gồm tất cả các cái kia, phân tích ra cho rõ trong một chi phần đã có tất cả các chi phần. So sánh kinh điển Nam truyền với kinh điển Bắc truyền, ta thấy có một kinh chữ Hán là Tạp A hàm và một kinh Pāḷi là Tương Ưng bộ đều có một kinh trong đó Bụt chỉ nói về mười duyên thôi, không kể tới vô minh và hành.

Như vậy, có lúc Bụt nói 9 duyên, có lúc Bụt nói 10 duyên và có lúc Bụt nói 12 duyên. Giáo lý Hiệp ước sống chung an lạc cũng được hình thành như vậy. Ban đầu hình thành một cách đơn sơ, sau khi tăng thân sinh hoạt một thời gian thì nó hình thành đầy đủ hơn. Ngày xưa Bụt giảng dạy cũng vậy. Trong lúc giáo hóa Ngài đã tùy trình độ đại chúng để khai triển dần dần. Bụt đưa ra giáo lý Nhân duyên đơn sơ lúc ban đầu rồi từ từ khai triển. Vì vậy không phải thuyết 9 duyên là đúng, hay 10 duyên, hay 12 nhân duyên là đúng, thuyết nào cũng đúng cả. Hai duyên vô minh và hành đã được nói tới từ thời Bụt, không phải do các thầy thêm vào sau. Khi nghiên cứu kinh điển một cách khoa học chúng ta thấy điều đó. Trong Tạp A hàm Tương Ưng bộ, có một kinh Bụt bắt đầu từ lão tử, những khổ đau của sự già chết, và Bụt đi ngược trở lại. Bụt nói rằng danh sắc duyên thức, thức duyên danh sắc, tạo ra bao nhiêu khổ đau, đưa tới sinh, lão tử và chấm dứt ngay tại đó. Hai kinh này chứng tỏ rằng giáo lý về duyên khởi, về mười hai nhân duyên được bắt đầu bằng những bài thuyết pháp của Bụt trong đó Bụt nói về 10 duyên hoặc 9 duyên. Kinh Đại duyên trong Trường bộ nói tới chín nhân duyên, tuy dài nhưng không hẳn là một kinh nói sau. Chúng ta có khuynh hướng cho kinh dài được nói sau, nhưng có thể kinh này đã được nói trước. Có những kinh ngắn nói tới 12 nhân duyên trong khi kinh này chỉ nói 9 nhân duyên.

Học về nền văn học Abhidhamma, tức là Luận tạng, cũng có nhiều điều lý thú. Những tác phẩm Abhidhamma ban đầu đã được các thầy viết dưới hình thức là kinh tại vì các thầy chưa có uy tín, phải nói Bụt nói thì mới có uy tín. Giai đoạn thứ hai của Abhidhamma có tính cách độc lập, nên gọi đúng là Abhidhamma. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn phát triển, phân tích tỉ mỉ, rất dài, đọc có thể nhức đầu. Và sau đó mới đến giai đoạn thứ tư là giai đoạn tóm tắt. Những tác phẩm mới nhất của nền văn học Abhidhamma là những tác phẩm ngắn, gọn và dễ học. Tóm lại, chúng ta có thể nói về Nhân duyên bằng một chi phần cũng được, bằng hai, ba, bốn, năm, bảy, chín, mười hoặc mười hai chi phần cũng được. Điều đó chỉ chứng tỏ một duyên bao gồm tất cả các duyên khác. Có hai lối diễn giải về mười hai nhân duyên, một là thuận, hai là nghịch. Thuận là đi từ vô minh tới lão tử, và nghịch là đi từ lão tử ngược lại tới vô minh. Bụt có khuynh hướng đi theo đường nghịch, đi từ lão tử, từ những khổ đau hiện thực. Người nhìn thẳng vào bản chất khổ để tìm ra nguyên nhân khổ. Tại sao có già và chết? Tại vì có sinh ra. Và cứ như vậy cho đến khi ta nắm được vô minh là bản chất của sinh tử. Phần nhiều các vị tổ sư thì lại ưa đi theo lối thuận: từ vô minh đi tới lão tử. Các nhà Phật học có khuynh hướng giải thích tại sao có luân hồi, có sự vận hành của sinh mạng, và do đó sử dụng giáo lý mười hai duyên khởi để chứng minh luân hồi. Nhiều vị luận sư của ta cũng có khuynh hướng ấy, nghĩa là khuynh hướng chứng minh luân hồi bằng giáo lý nhân duyên. Chúng ta nên nhớ rằng giáo lý có mục đích hướng dẫn sự tu tập chuyển hóa mà không phải có mục đích triết học, do đó đừng nên đi vào dấu vết của những người chỉ muốn làm công việc biện hộ và chứng minh cho luân hồi.

LIÊN HỆ GIỮA 12 NHÂN DUYÊN

Trong lịch sử phát triển tư tưởng Phật giáo, các luận sư ngày xưa có khuynh hướng dùng thuyết 12 nhân duyên để giải thích sự vận hành của sinh mạng. Tại sao người ta sinh ra? Tại sao luân hồi tiếp tục mãi? Giáo lý 12 nhân duyên trở thành một lý thuyết để chứng minh vòng sinh tử luân hồi.

Một khuynh hướng diễn giải về 12 nhân duyên theo chiều dọc (trục tung độ). Trong khuynh hướng này có hai cách trình bày khác nhau. Theo đường xuôi thì bắt đầu từ vô minh và chấm dứt với lão tử. Theo chiều ngược, bắt đầu từ lão tử đi trở lại vô minh. Trong kinh, Bụt thường theo cách trình bày Tứ diệu đế, mở đầu bằng những khổ đau hiện thực của chúng sinh là lão tử rồi lần tìm các nguyên ủy để dẫn tới thức và danh sắc, cùng toàn bộ những duyên tạo khổ đau. Hầu hết các luận sư sau này, vì chủ ý là cắt nghĩa sự vận hành của luân hồi nên đã đi theo chiều thuận, lấy vô minh làm điểm khởi hành.

Một hậu quả của lối trình bày này là gây ra cảm tưởng vô minh là nguyên nhân đầu tiên của mọi sinh mệnh. Nhưng giáo lý đạo Bụt không phải là những tư tưởng theo lý luận đường thẳng, nên ta không thể nói về một nguyên nhân đầu tiên.

Nhiều vị luận sư đã lập ra lý thuyết Tam thế lưỡng trùng. Tam thế tức là ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Lưỡng trùng là hai tầng nhân quả. Theo thuyết này vô minh và hành được xếp vào quá khứ. Hiện tại gồm có thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu. Sinh và lão tử thuộc về vị lai. Trong 12 chi, hai chi đầu thuộc về quá khứ, hai chi sau thuộc về tương lai, còn tất cả tám chi ở giữa thuộc về hiện tại. Sự phân chia đó nghe cũng hấp dẫn, nhưng có thể gây nhầm lẫn nguy hiểm. Nguy hiểm vì người học có thể nghĩ lầm rằng nếu sinh và lão tử thuộc về tương lai thì trong kiếp hiện tại không có sinh và lão tử. Cũng vậy, vô minh và hành được xếp trong quá khứ, nhưng chúng ta biết trong hiện tại cũng có vô minh và hành. Trong tất cả các chi phần của 12 nhân duyên, ta đều nhận ra sự có mặt của vô minh và hành.

Trên một ngàn năm qua, thuyết Tam thế lưỡng trùng được coi như mẫu mực. Thức, danh sắc, lục nhập, và xúc được xem như là quả, mà nhân là vô minh và hành. Trong kiếp trước đã có nhân vô minh và hành cho nên hiện tại phải có quả là thức, danh sắc (thân, tâm), lục nhập và xúc. Đó là cặp nhân quả đầu. Rồi vì thọ, ái, thủ, và hữu mà chúng ta tạo nhân, cho nên trong tương lai chúng ta phải chịu quả sinh và lão tử. Hai lớp nhân quả phối hợp các duyên, nối kết quá khứ, hiện tại và vị lai, cho nên gọi là Tam thế lưỡng trùng. Ngày xưa tôi cũng học và cũng đi dạy lại người khác như vậy. Nhưng lớn lên, nhờ tu tập cho nên tôi vượt thoát được. Ta phải nương vào các Tổ để lớn lên, nhưng sau đó ta phải học cách để đặt các vị xuống khỏi vai mình, để ta có thể đứng thẳng. Tam thế lưỡng trùng nhân quả là một công thức phương tiện để giải thích cho người mới học dễ nhớ. Đó không phải là cách hiểu sâu nhất, đó chưa phải là thắng nghĩa.

Chúng ta thấy có những lý thuyết sử dụng đạo lý Mười hai nhân duyên để giải thích và thuyết phục người ta về luân hồi. Chúng ta không cần phải làm như vậy. Mục đích của chúng ta là tu tập. Chúng ta phải học về nhân duyên như phương pháp tu tập và chuyển hóa thì mới đúng với lời Bụt dạy. Chúng ta có thể chữa lại những sai lầm đã tiếp diễn từ hàng ngàn năm. Có những vị đã đi hơi xa, có thể là đi quá xa. Họ đặt ra những từ như là duyên khởi pháp duyên dĩ sinh pháp. Duyên khởi pháp tức là những pháp có khả năng tạo tác; và duyên dĩ sinh pháp là những pháp được tạo tác ra. Các vị đó nói rằng vô minh và hành là duyên khởi pháp, tức là những yếu tố có tác dụng tạo tác. Hiếp Tôn giả và Diệu Âm Tôn giả xưa đều nói vô minh và hành là những duyên tạo tác, gọi là duyên khởi pháp, còn sinh và lão tử được gọi là duyên dĩ sinh pháp. Theo các ngài thì vô minh và hành là hai chi phần có tính chủ động, còn sinh và lão tử chỉ có tính thụ động. Quan niệm đó không đúng với giáo lý tương tức của đạo Bụt. Theo tinh thần đạo Bụt, chi phần nào cũng là nhân và cũng là quả, không có cái nào thuần túy là nhân hay quả. Các vị giảng vô minh và hành là duyên khởi pháp, sinh và lão tử là duyên dĩ sinh pháp. Tám chi ở giữa, các vị nói vừa là duyên khởi pháp, vừa là duyên dĩ sinh pháp, vừa có tính cách tạo tác, vừa có tính cách được tạo tác. Hai tính chất đó đúng ra phải được áp dụng cho cả Mười hai nhân duyên.

Dùng thuyết Tam thế lưỡng trùng để cắt nghĩa về cơ năng vận hành của luân hồi thì được, nhưng ta đừng nghĩ rằng giáo lý Mười hai nhân duyên được Bụt nói là để chứng minh cho thuyết luân hồi. Mục đích của đạo Bụt không phải là đưa ra một hệ thống triết học giải thích về vũ trụ và nhân sinh. Mục đích của Bụt là cho ta một đạo lý để thực tập diệt khổ.

Chúng ta tạm bỏ phương pháp Tung theo chiều dọc, để đi trên mặt ngang theo phương pháp Hoành. Phương pháp này đã được Bụt nhấn mạnh trong các kinh. Không bao giờ Bụt có ý định dạy chúng ta học Mười hai nhân duyên theo tinh thần đường thẳng (linear, còn gọi là tuyến tính). Đừng nghĩ rằng vô minh sinh ra hành, rồi đến lượt hành sinh ra thức, đến thức sinh ra danh sắc, v.v. Hiểu như vậy là quá đơn giản và nguy hiểm. Bụt nói rằng vô minh duyên hành, tức là vô minh có liên hệ nhân quả với hành, nhưng Bụt cũng dạy hành có liên hệ nhân quả với vô minh. Nếu vô minh nuôi hành thì hành cũng nuôi vô minh. Vô minh quấy động tâm thức, tạo ra những ham muốn, phiền não, tư niệm, ý chí, v.v. Những ham muốn, ý chí, tư niệm đó quay trở lại làm cho vô minh càng nặng. Vô minh duyên hành nhưng mà hành cũng duyên vô minh, là như vậy. Phải bỏ ý niệm đơn giản và ngây thơ về sự tiếp nối nhân quả theo tuyến tính, chỉ nghĩ đến nhân quả trong thời gian mà không thấy được nhân quả đồng thời trong không-thời gian. Như khi ta nói cây sinh ra lá và cây dẫn nhựa lên nuôi lá, ta không quên sự thật là lá nuôi cây bằng ánh sáng mặt trời qua hiện tượng diệp lục hóa. Lá không phải chỉ là con của cây, lá còn là mẹ của cây nữa. Cây lớn được là do công của lá.

Cũng vậy, ta thấy có liên hệ tương tức và tương nhập giữa các chi phần của 12 nhân duyên. Chúng ta phải thấy được liên hệ mật thiết giữa mỗi chi phần với mười một chi phần kia. Cho nên chúng ta nên vẽ một vòng tròn hay một mạng lưới (network). Trên mạng lưới này ta nói vô minh duyên hành, nhưng vô minh cũng duyên thức. Nếu vô minh không duyên thức, làm sao thức lại có thể là thức? Nếu không có vô minh duyên thức, thì thức đã trở thành trí rồi. Vô minh duyên thức qua hành, nhưng vô minh cũng trực tiếp duyên thức. Vô minh duyên hành, vô minh duyên thức, đồng thời vô minh cũng duyên danh sắc. Trong danh sắc ta thấy có chất liệu vô minh. Nếu không có vô minh thì danh sắc của chúng ta sẽ khác. Cố nhiên trong lục nhập của chúng ta cũng có vô minh. Cái tưởng của tôi về bông hoa được căn cứ trên con mắt của tôi, căn cứ trên cái sắc (đối tượng của mắt) là bông hoa. Và vì tính vô minh nên cái tưởng đó mới bị kẹt vào hiện tướng. Cho nên vô minh có mặt trong lục nhập. Vô minh lại có mặt trong xúc, có mặt trong thọ, có mặt trong ái, trong thủ, trong hữu, trong sinh và trong lão tử. Vô minh tương tức với tất cả 11 chi phần khác. Vô minh tương nhập vào tất cả 11 chi phần khác. Vô minh không phải chỉ nằm ở quá khứ, vô minh có mặt bây giờ và ở đây, trong mỗi tế bào của tôi, trong mỗi tâm hành của tôi. Trong đời sống hằng ngày phải nhận diện vô minh, nhận diện sự có mặt của vô minh thì mới là sự thực tập chân chính. Nếu không có vô minh thì tại sao chúng ta bị vướng mắc? Bị vướng mắc tức là đã có vô minh. Nếu không có vô minh thì tại sao có hiện hữu khổ đau? Mối quan hệ mạng lưới rất quan trọng. Chúng ta phải thấy Tung và phải thấy Hoành, phải thấy đồng thời chiều dọc và chiều ngang. Thời gian và không gian phải được phối hợp để chúng ta có thể chiếu rọi vào mười hai chi phần. Mỗi chi phần duyên với chi phần đặt trước và chi phần kế tiếp, đồng thời cũng duyên với tất cả các chi phần khác. Như vậy mới đúng tinh thần duyên khởi, tinh thần tương tức tương nhập.

MẶT TÍCH CỰC CỦA MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

Trong kiếp nhân sinh, ta có vô minh, nhưng không phải chỉ có vô minh. Nếu đời sống hằng ngày chỉ là thuần túy vô minh thì đạo Bụt đi vào bằng cửa nào? Làm sao có sự cứu độ? Làm sao có sự chuyển hóa? Cho nên ta có vô minh nhưng cũng có minh. Nếu ta không có chút minh nào cả thì tại sao Bụt lại nói tất cả chúng sinh đều có hạt giống của trí tuệ, của giác ngộ và giải thoát? Vì vậy, không những trong thức có hạt giống của minh mà trong danh sắc cũng có hạt giống của minh; trong lục nhập, trong xúc, trong thọ, trong ái, trong thủ, trong hữu, trong sinh và trong lão tử đều có hạt giống ấy, như trong đêm có hạt giống ngày. Quý vị hãy nghĩ tới nguyên lý tương tức. Trong rác có hoa nhưng trong hoa cũng có rác. Nếu chúng ta biết cách sử dụng rác thì rác sẽ biến thành hoa. Mà nếu chúng ta không biết cách thì hoa, thay vì mười lăm ngày sau mới thành rác, có thể hóa thành rác rất sớm. Vì vậy, chúng ta biết trong vô minh có minh, trong thức có hạt giống của trí tuệ. Đó mới đúng là tinh thần đạo Bụt.

Nếu vứt bỏ hết tất cả mười hai duyên này đi thì chúng ta không có đường nào để đạt tới thanh tịnh, an lạc, Niết bàn. Chúng ta phải giữ lại tất cả. Điều này rất quan trọng. Chúng ta có một ly nước đục, nếu đổ hết ly nước đục đi thì chúng ta không còn gì để làm ra một ly nước trong hết. Vì nước đục có thể biến thành nước trong, chúng ta phải sử dụng ly nước đục. Ta đang ở trên biển cả và đang khát. Có một chai nước đục mà liệng xuống biển là dại dột lắm! Phải làm thế nào cho chai nước đó trong lại để uống. Tất cả những vô minh, hành, thức, danh sắc… phải được chấp nhận và chuyển hóa thành (1) minh. Bụt dạy: “Vô minh diệt, minh sinh” chứ không phải vô minh diệt là không còn gì nữa. Khi nào bóng tối không còn thì tự khắc có ánh sáng. Không thể chỉ có bóng tối tiêu tan mà không có ánh sáng. Chuyện đó không thể xảy ra. Cũng vậy, khi vô minh chuyển hóa thì minh sinh. Và có minh rồi thì minh sinh ra gì?

Nếu vô minh duyên hành thì minh duyên cái gì? Các Tổ chưa nói hết. Là con cháu, chúng ta phải tiếp tục. Vô minh quấy động, tạo ra những đam mê, những giận hờn, những cuộc chạy đua, những quẩn quanh dại dột gọi là tư niệm thực, loại thức ăn thứ ba. Có những người trầy da, tróc vẩy, gây tổn hại cho cả thân tâm vì chạy theo danh vọng, bằng cấp, nghĩ rằng có được những cái đó là hạnh phúc. Tư niệm thực này đã do vô minh quấy động. Hết vô minh thì ta thấy được khổ đau và nguồn gốc của khổ đau, thấy con đường dẫn tới sự chuyển hóa khổ đau, dẫn tới an lạc. Tự nhiên cái minh ấy tạo ra một ước muốn, một ý chí hành động do tâm từ bi thúc đẩy, để mang lại hạnh phúc và an lạc cho mình và cho người khác. Cái đó có thể gọi là đại nguyện hay Tâm bồ đề. Khi học hỏi đạo Bụt, chúng ta được nghe về mặt tiêu cực của Mười hai nhân duyên quá nhiều. Còn mặt sáng tươi của Mười hai nhân duyên thì chúng ta chưa được nghe bao nhiêu. Nhờ bó đuốc của minh chiếu rọi, ta không muốn chạy theo những cái hành này nữa. Và nhờ có trí tuệ của Tứ đế và Bát chánh đạo, ta muốn phát tâm tu học để độ mình và độ đời. Đó gọi là Tâm bồ đề, Bodhicitta, là (2) đại nguyện. Minh dẫn tới một ước vọng, một ý chí tu học và cứu độ. Nếu vô minh duyên hành, và duyên thức; thì minh duyên đại nguyện, duyên Bồ đề tâm và duyên (3) trí. Trong giáo lý Tứ y, chúng ta học “y trí bất y thức” (nương vào trí, đừng nương vào thức), chúng ta nên dựa vào phần trí của chúng ta chứ đừng nương vào phần thức.

Duy biểu học nói đến bốn loại trí. Thứ nhất là Trí đại viên cảnh, nói theo văn pháp chữ Hán là Đại viên cảnh trí. Thức thứ tám, tàng thức, khi xóa được vô minh thì được gọi là Đại viên cảnh trí. Nghĩa là khi tất cả các hạt giống của bồ đề, của giác ngộ, của vô ngã, của từ bi phát triển thì tàng thức thành ra Trí đại viên cảnh. Trí đại viên cảnh tìm ở đâu? Tìm ngay trong tàng thức, vì trong tàng thức này sẵn có hạt giống của giác ngộ, hạt giống của Trí đại viên cảnh. Bỏ tàng thức không được. Phải dùng thức để chuyển hóa. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phải giữ lại hết để tạo nên Đại viên cảnh trí. Đại viên cảnh trí là trí tuệ, như một tấm gương sáng, phản chiếu được sự thật của tam thiên đại thiên thế giới.

Trí thứ hai là Trí bình đẳng tánh. Trí này chuyển hóa từ thức thứ bảy, thức Mạt na. Thức Mạt na phân biệt ta và không ta, kỳ thị giữa của tôi và không phải của tôi. Tuy nhiên ta phải giữ thức thứ bảy này lại để chuyển thành Bình đẳng tánh trí. Hình ảnh rác và hoa rất quan trọng, phải giữ rác lại, đừng vứt đi. Phải có một chính sách thông minh để chuyển hóa rác. Cũng vậy, phải có một chính sách thông minh về thức, chuyển hóa thức, chứ không vứt đi. Năm uẩn cũng phải được giữ lại thì ta mới có Niết bàn, an lạc. Thức thứ bảy khi được ánh sáng của Diệu quan sát trí chiếu vào thành Bình đẳng tánh trí, trí mang tính bình đẳng, thấy mình và người khác là một, và mầu nhiệm như nhau. Như khi gặp kẻ thù mà ta lạy xuống một lạy, tiếp xúc được với bản môn thì ta sẽ thấy kẻ thù cũng cùng một bản tính với bạn, người kia với mình là một và ý niệm hận thù không còn nữa. Đôi khi không cần thực tập lâu, có thể chỉ một lạy mà Bình đẳng tánh trí phát hiện ngay trong lòng của thức Mạt na, thức chấp ngã.

Trí thứ ba là Trí diệu quan sát, khả năng quan sát một cách mầu nhiệm, được chuyển hóa từ thức thứ sáu. Thức thứ sáu, tức ý thức, đầy dẫy những tri giác sai lầm. Nó tưởng tượng sợi dây thành con rắn. Nó tạo tác biết bao nhiêu vụng về, khổ đau. Nhờ Đại viên cảnh trí, nhờ sự chuyển hóa, ý thức trở thành Diệu quan sát trí, có thể quán sát muôn vật mà không bị kẹt vào tri giác sai lầm.

Cuối cùng, Trí thành sở tác là một trí tuệ thành tựu được rất nhiều phép lạ mà gốc là các thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Con mắt có vô minh làm cho ta say đắm, nhìn giả thành thật. Con mắt làm cho ta mù tối. Bây giờ con mắt có minh tạo tác được những thành tựu, mở cửa cho ta thấy Pháp thân mầu nhiệm.

Mở cửa nhìn Pháp thân,

Đời mầu nhiệm khôn cùng

Lòng dặn lòng tỉnh thức

Dòng nước tâm trong ngần.

Dòng nước tâm trong ngần là lúc ý thức đã trở thành Diệu quan sát trí, và tàng thức đã trở thành Đại viên cảnh trí.

Vậy nếu vô minh duyên thức thì minh duyên trí. Gọi là bốn loại trí cho dễ hiểu, nhưng tất cả bốn cũng chỉ là một.

THÂN THỊ HIỆN

Nếu thức duyên danh sắc thì trí duyên gì? Phàm phu có danh sắc, tức có thân, có tâm. Bồ tát cũng có thân, có tâm như vậy. Bụt cũng có thân, có tâm sau khi thành đạo. Ta đâu cần hủy diệt thân và tâm đi thì mới có giải thoát? Nói về các vị Bồ tát, chúng ta dùng danh từ thân thị hiện. Chúng ta hãy quán tưởng Quan Thế Âm thị hiện ra hình thể bà mẹ xinh đẹp. Thân hình bà cũng có mắt, tai, mũi, lưỡi và ý. Nhưng thân tâm đó không mang tính chất của vô minh, của hành, của thức. Thân tâm đó là để thực hiện ý nguyện độ sinh, giác ngộ. Bồ tát Quan Thế Âm có thể hóa hiện thành một nhà chính trị, hay thành một em bé… Kinh nói rằng tình thương có thể được thể hiện bằng muôn vạn cách. “Ưng dĩ trưởng giả thân đắc độ giả, tức hiện trưởng giả thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ đồng nam, đồng nữ thân đắc độ giả, tức hiện đồng nam, đồng nữ thân nhi vị thuyết pháp.” Nếu cần hiện ra một vị trưởng giả thì Bồ tát Quan Thế Âm có thể hiện ra hình thức của một trưởng giả mà thuyết pháp. Nếu cần hiện ra một chú bé, hay là một cô bé để độ đời thì Quan Thế Âm sẽ hiện thành một chú bé, hay là một cô bé để độ đời.

Cho nên Bồ tát và Bụt đều có thể hiện thân để độ đời, và các vị cũng cần có danh, có sắc, có thân, và có tâm. Thành ra chúng ta đâu cần bỏ thân và tâm mới giải thoát. Bất cứ một danh sắc nào có tác dụng tạo tác được từ bi, hiểu biết, được hạnh phúc, đều là (4) thân thị hiện của Bụt. Dầu thân thể đó yếu ốm, và nghèo khổ nhưng vẫn có tác dụng tạo tác được tình thương và sự hiểu biết thì đó cũng là thân Bồ tát, gọi là (5) thân thọ dụng (Saṃbhogakāya). Bất cứ một cái thân, một tập hợp nào của ngũ uẩn, có danh sắc nhưng trong đó không còn chất liệu vô minh, mà lại có chất liệu của minh, của Bồ đề tâm, của Tứ trí, thì đều là thân thọ dụng, là phương tiện để hành đạo.

Ngày xưa tôi có đọc một cuốn tiểu thuyết, không nhớ tên tác giả. Ông kể chuyện một người đi vào rừng. Người này sống trong truyền thống Thiên Chúa giáo nhưng không tin tưởng Chúa. Ông đi vào rừng ở châu Phi săn bắn, lạc đường, không tìm được lối ra. Sợ quá, lúc đó ông ta mới muốn cầu cứu Chúa. Vì ông không có đủ đức tin, nên ông cầu cứu bằng một giọng bất kính. Ông nói: “Lạy Chúa! Nếu mà Chúa có thật thì hiện ra để cứu tôi coi nào!” Lúc đó ông nghe tiếng sột soạt. Từ sau bụi cây xuất hiện một người da đen. Người da đen đó đưa ông ra khỏi rừng, và ông được cứu thoát! Nhưng ông này về nhà và ghi trong nhật ký: “Tôi cầu Chúa. Chúa đâu không thấy mà chỉ hiện ra một thằng mọi đen.” Câu đó viết bằng tiếng Pháp, dùng chữ nègre có tính kỳ thị màu da, phải dịch là thằng mọi cho sát nghĩa. “J’ai prié Dieu, mais il m’est arrivé un nègre.” Tâm ông này chứa chất vô minh. Người châu Phi đó là Thọ dụng thân, là Báo thân của lòng từ bi để đưa ông ta ra khỏi tình trạng khó khăn; đó là Chúa chứ ai khác? Từ bi thị hiện ra dưới nhiều hình thức. Trong rừng rậm châu Phi, Chúa đã hiện ra thành một người da đen. Ông kia không thấy Chúa vì không thấy được tình thương. Lại nói bằng giọng mỉa mai như thế thì chắc không bao giờ ông ta có cơ hội để tiếp xúc với Chúa, hay với Bụt.

Ngày hôm qua trong khi thiền hành, tôi tự nhiên nảy ý muốn kể chuyện Bụt Thích Ca đi với thầy Svastika về Việt Nam thăm để xem đạo Bụt ở đó bây giờ ra sao. Hai thầy trò Bụt tới Hà Nội, vào thăm chùa Quán Sứ đầu tiên. Tất nhiên là các thầy ở chùa đâu biết đây là Bụt. Không biết các thầy sẽ đón tiếp Bụt như thế nào? Tại vì trong đầu các thầy đã có sẵn hình ảnh về Bụt. Ông này không có hào quang sau đầu thì đâu phải là Bụt? Ông này đi chân đất, mặc áo cũ, không hoạt bát gì cả. Có thể các thầy ở chùa không nhận ra đó là Bụt. Họ sẽ hỏi: “Giấy di chuyển đâu? Chứng minh thư đâu?” Tôi tưởng tượng lúc đó Bụt mới bảo thầy Svastika ra ngoài tam quan, để hai thầy trò bàn bạc. Tôi sẽ viết một cuốn truyện như vậy, kể chuyện Bụt với một vị thị giả đi từ Bắc vào Nam, tới các chùa, gặp các thầy, các đạo hữu, xem cách các thầy ăn cơm, uống nước, đi, đứng, nằm, ngồi như thế nào. Bụt sẽ biết gia tài của Bụt để lại 2500 năm nay còn được bao nhiêu. Chuyện này là chuyện có thật. Bụt có thể thị hiện dưới hình dáng của một người du khách, tìm tới để xem chúng ta tu tập như thế nào. Có thể Bụt đã từng tới Làng Mai, Bụt đã từng gặp các sư chú, sư cô, các đạo hữu ở Làng. Bụt đã biết là chúng ta tu hành hay hay dở tới mức nào rồi.

Bụt đâu phải ở trên mây. Bụt ở ngay trong tâm của chúng ta. Dù ta có thân của Bụt, và tâm Bụt, ta cũng vẫn còn có xúc. Bụt cũng uống nước và Bụt cũng biết nước nóng hay nước lạnh. Bồ tát cũng cần mặc áo cho ấm. Mùa lạnh, Bồ tát cũng quàng khăn cổ, tại vì Bồ tát biết nếu không choàng khăn cổ thì bị cảm, rồi phải cạo gió. Vì xúc được phát hiện trong chánh niệm và tuệ giác nên xúc này là (6) xúc thanh tịnh. Và khi có sự tiếp xúc giữa sáu căn và sáu trần thì cũng có thọ. Thọ đây là (7) thọ thanh tịnh. Như là tất cả mọi người. Nhưng trong những tình trạng đó, Bồ tát không vướng mắc. Có trí rồi, với thọ dụng thân này, bất cứ một tiếp xúc nào cũng có chánh niệm, cũng có thanh tịnh. Cho nên bất cứ thọ nào cũng có thanh tịnh, có chánh niệm. Sẽ không có ái mà có ba trong bốn vô lượng tâm: (8) từ, bi và hỷ.

Khi có tiếp xúc, chúng ta thấy được những cảm thọ: lạc thọ, khổ thọ và xả thọ. Thấy người khổ đau, ta phát sinh trong tâm năng lượng của từ, muốn giúp họ có niềm vui chân thật, và năng lượng của bi, muốn làm cho họ tiêu tan nỗi khổ. Ta muốn làm cho họ có niềm vui, có hạnh phúc. Đó là tâm hỷ. Và tâm xả nghĩa là tâm không vướng mắc, không kỳ thị. Xả tức là không bị trói buộc bởi những hình ảnh, và những âm thanh do xúc và thọ tạo ra. Xả không phải là sự dửng dưng, mà là khả năng giữ tâm được tự do, không bị cuốn theo bên này hay bên khác. Khi có xả thì người thương và kẻ ghét được coi như nhau. Xả là bất nhị. Chân tinh thần của xả là (9) vô nguyện. Xả tức khả năng thấy được tính tương tức, cái này là cái kia. Thí dụ vô minh và minh. Chúng ta phải thực tập xả, tức là đừng chạy trốn vô minh để đi tìm minh. Vì minh phải tìm trong vô minh.

Nhắc lại chuyện đời Lý, thế kỷ thứ XII, có một thiền sinh nghe vị Thiền sư nói phải làm thế nào để thoát ly sinh tử thì mới xứng đáng với chí nguyện xuất gia. Vị thiền sinh hỏi: “Bạch Thầy, tìm cái không sinh tử ở chỗ nào?” Thầy nói: “Tìm ngay ở trong chỗ sinh tử.” Bỏ sinh tử đi tìm Niết bàn là không có. Đó là tinh thần xả.

Xả là tinh thần bất nhị, là tự do, là thảnh thơi. Cũng là vô nguyện, không chạy theo gì hết. Chính trong tinh thần tự do, không chạy chọt tìm cầu mà cõi khổ đau sẽ trở thành Tịnh độ. Ta thoát được hữu là vì ta đã biến hữu của hữu vô, của thương ghét thành diệu hữu. (10) Diệu hữu và chân không thoát ra khỏi ý niệm hữu và vô. Nếu cần phải thị hiện đản sinh thì thị hiện đản sinh. Thị hiện đản sinh cũng là thị hiện lão tử. Lão tử thì lão tử, nhưng không khổ đau, đó là cái nhìn của Bụt và các vị Bồ tát. Nếu quả thực đã có chất liệu của giác ngộ, thì sinh cũng vậy, mà tử cũng vậy, đều là thị hiện, không có cái gì thay đổi. Đợt sóng có lên hay có xuống, nó vẫn là nước. Đứng về phương diện hiện tượng thì giống như là có sinh, có diệt, có có, có không. Đứng về phương diện bản thể thì không có sinh diệt, không có có không; tất cả đều là thị hiện. Đó là (11) vô sinh. Sinh là thị hiện sinh, diệt là thị hiện diệt. Và đây là Niết bàn trong hiện tại: (12) Hiện pháp Niết bàn.

Mười Hai Nhân Duyên

Tiêu cực Tích cực

Vô minh          Minh

Hành              Bồ đề tâm (Đại nguyện)

Thức               Trí

Danh sắc          Thân thị hiện

Lục nhập          Thân thọ dụng

Xúc                 Xúc thanh tịnh

Thọ                Thọ thanh tịnh

Ái                   Từ, bi, hỷ

Thủ                Tự tại, Vô nguyện (Xả)

Hữu                Diệu hữu Chân không

Sinh                Vô sinh

Lão tử              Hiện pháp Niết bàn

Mười hai nhân duyên như ta biết, thường được giảng dạy trên mặt tiêu cực. Chúng ta phải học, và thực tập Mười hai nhân duyên về phương diện tích cực. Những danh từ chúng ta dùng hôm nay là để diễn bày Mười hai nhân duyên đứng về phương diện tích cực. Chúng ta thấy rằng thuyết nhân duyên là để nói về thế giới hiện tượng. Thấy được Mười hai nhân duyên về mặt tích cực, ta đồng thời thấy được bản môn của chúng. Chúng ta sẽ tiếp xúc được với bản môn.

Nói tóm lại, khi học về Mười hai duyên khởi, ta đừng nên diễn bày như một chủ thuyết để giải thích luân hồi sinh tử. Ta hãy tập quán chiếu để thấy liên hệ giữa mười hai chi phần này, để trong đời sống hằng ngày ta có thể tu tập cho chất liệu của vô minh bớt đi và chất liệu của minh tăng trưởng. Chất liệu của vô minh bớt đi thì tham, sân, si, mạn, nghi, và tà kiến sẽ bớt đi và chất liệu của từ, bi, hỷ, và xả sẽ tăng trưởng. Tăng trưởng không những ở một chi phần mà đồng thời trong cả mười hai chi phần. Hễ một ít vô minh được trừ diệt thì tất cả mười một chi phần kia đều được thừa hưởng. Khi ta mỉm được một nụ cười hiểu biết thì trong cả mười hai chi phần đều có sự thay đổi, tại vì chất liệu của minh đã đi vào để thay thế cho chất liệu của vô minh. Một tâm niệm từ ái biểu hiện thì tất cả mười hai chi phần đều sáng lên lập tức.

Cho nên giữ chánh niệm và hộ trì sáu căn là chìa khóa của sự thực tập. Nếu thực tập hộ trì sáu căn thì trong xúc, ta sẽ có chánh niệm về xúc, ta sẽ có xúc thanh tịnh. Nếu sáu căn không hộ trì thì xúc sẽ không thanh tịnh. Khi có xúc, và có thọ thanh tịnh thì ta có chất liệu của từ, bi, hỷ và xả. Chúng ta sẽ được an trú trong vô nguyện, trong xả. Như vậy thế giới của chúng ta càng lúc càng sáng lên tính cách của diệu hữu và chân không. Tính cách khổ đau của ba cõi (Tam hữu) sẽ từ từ tiêu diệt để nhường chỗ cho thế giới tương tức, tương nhập của Hoa nghiêm. Trong thế giới diệu hữu và chân không đó, nếu cần đản sinh thì chúng ta đản sinh, nếu cần thị hiện lão tử chúng ta thị hiện lão tử.

Chúng ta hãy học hỏi cho thấu đáo các phép hộ trì và chánh niệm. Đây là những chiếc chìa khóa. Đây chính là phương tiện tháo gỡ. Chúng ta cũng có thân, cũng có sáu căn và sáu trần, chứa chấp vô minh, hành, và thức. Nhưng khi đưa chánh niệm vào, và thực tập hộ trì sáu căn trong xúc và trong thọ, chúng ta tránh được ái, thủ, và hữu; chuyển niệm thanh tịnh, thực tập từ, bi, hỷ, xả, vô nguyện. Tinh hoa của giáo lý Mười hai nhân duyên nằm ở đó. Phải học, phải hành và phải trình bày giáo lý đó như thế nào để cho sự học hỏi và hành trì chuyển hóa được đời sống hằng ngày của chúng ta.

Bài 20 Quán vô tác vô nguyện

Hôm nay là ngày 30 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Hạ và chúng ta học tiếp về Bát chánh đạo.

QUÁN KHÔNG, QUÁN VÔ TƯỚNG

Chúng ta đang học về Tam giải thoát môn, tức là ba cánh cửa đưa tới giải thoát. Cánh cửa thứ nhất là không. Chữ không ở đây không có nghĩa là không đối với có mà nó có nghĩa là tương duyên, tương quan, tương tức và tương sinh. Quán về không ta phải thấy được tính chất tương quan, tương duyên, tương tức và tương sinh trong mọi sự mọi vật. Ví dụ nhìn vào thân mình, ta phải thấy được tất cả những gốc rễ, những nhân và những duyên đưa tới sự có mặt của ta. Ta thấy cha mẹ, tổ tiên, đất nước, không khí, biển, trời, thấy các thế hệ tương lai ở trong mình. Khi thấy như vậy, ta vượt được hàng rào bản ngã, thoát được ngục tù ý niệm về ta và về của ta và mở được cánh cửa giải thoát – không giải thoát môn. Nếu ta chỉ đàm luận như một triết lý thì không bao giờ giải thoát được. Ví dụ, khi ta nhìn vào một người anh, một người chị, một người em của mình ở trong gia đình hay trong tăng thân, ta cũng phải nhìn bằng con mắt quán chiếu về không. Ta thấy ta là người đó và người đó là ta, sự an vui của ta liên hệ tới sự an vui của người đó, sự an vui của người đó có liên hệ tới sự an vui của ta. Và từ từ cái thấy của ta sẽ sâu hơn và đạt tới cái thấy về không giúp ta có năng lượng và công dụng đưa ta tới giải thoát. Cho nên không giải thoát môn là cách nhìn, cách quán, cách tiếp xúc mà ta phải thực tập chứ không phải chỉ là đề tài để đàm luận, nghiên cứu.

Vô tướng cũng vậy. Tất cả mọi sự mọi vật trước hết được biểu hiện qua tướng và chúng ta thường bị cái tướng ấy đánh lừa, cho nên ta mới sợ hãi, giận hờn, căm thù. Tất cả những khổ đau chúng ta thấy xảy ra xung quanh ta và trong ta đều do chúng ta bị kẹt vào tướng. Trong kinh Kim cương có nói về bốn tướng: tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh và tướng thọ giả.

Sở dĩ ta bị kẹt vào tướng ngã vì chúng ta nghĩ rằng có những cái phi ngã. Cái này là ngã vì tất cả những cái khác là phi ngã. Nhưng khi chúng ta tiếp xúc cho sâu sắc, chúng ta thấy trong cái ngã chỉ toàn là những yếu tố phi ngã thì tự nhiên ý niệm về ngã tan biến, và chúng ta thoát ra khỏi ý niệm ngã và chúng ta thoát ra được tướng ngã. Và như vậy, bảo vệ ngã là bảo vệ tất cả những gì là phi ngã.

Tướng thứ hai là tướng nhân. Nhân này không phải là đối với ngã, nhân ở đây là một chủng loại, gọi là người. Người là một ý niệm, một tướng. Cho rằng loài người là một thực tại độc lập, không phải là thú, là cây, là đất đá, chúng ta bị kẹt vào tướng nhân. Chúng ta nói rằng Thượng đế sinh ra những con tôm, con cá, con bò, con heo là để cho loài người ăn. Ta tưởng cây cỏ, đất đá, không khí, trời, sông, rừng và biển là để cho ta sử dụng thả cửa, ta không cần thương tiếc, không cần bảo hộ. Thấy chủng loại người biệt lập ra khỏi tất cả những chủng loại khác, đó là một cái tướng mà ta kẹt vào. Chính vì lo phục vụ tướng người mà ta phá hoại những tướng không phải người: các loài động vật, thực vật và khoáng vật. Đạt tới cái thấy vô tướng về người, ta mở được cánh cửa giải thoát thứ hai, thấy rằng trong người hàm chứa các loài động vật, thực vật và khoáng vật. Nhờ vậy ta có được sự hòa điệu, nhịp nhàng giữa các chủng loại.

Tướng thứ ba là tướng chúng sinh. Chúng sinh ở đây là các loài động vật, các loài có sự sống. Chúng ta nghĩ rằng các loài có sinh mạng cần được bảo vệ, cần được nuôi dưỡng nhưng chúng ta không biết rằng các loài có sinh mạng được tạo thành bằng những loài không có sinh mạng tức là loài vô tình. Khi ta tàn hại và làm ô nhiễm những chủng loại vô tình như không khí, sông hồ, biển cả, đại địa thì ta cũng hủy hoại luôn những chủng loại mà ta gọi là chúng sinh. Cho nên nhìn vào chúng sinh ta phải thấy các yếu tố không phải chúng sinh. Nhìn vào các yếu tố vô tình ta phải thấy các chủng loại hữu tình trong đó. Trong đời sống hàng ngày nếu ta biết quán chiếu, tiếp xúc như vậy thì tự nhiên cái tướng chúng sinh rã ra và ta thấy được tính vô tướng của chúng sinh.

Sau cùng là tướng thọ mạng, nghĩa là khoảng thời gian của mạng sống, từ khi sinh ra đến khi chết. Ta giới hạn sự sống của ta trong khoảng thời gian đó và nghĩ rằng ta chỉ sống trong giai đoạn đó thôi. Khi quán chiếu và tiếp xúc sâu sắc, ta thấy rằng ta chưa bao giờ từng sinh và sẽ không bao giờ từng diệt, thấy rằng ta không bắt đầu có từ khi sinh ra, cũng không bắt đầu trở thành không từ khi chết đi. Sự quán chiếu và tiếp xúc đó đưa ta tới cánh cửa giải thoát vô tướng. Nỗi sợ hãi cái chết được dựa trên ý niệm sai lạc về thọ giả sẽ tan biến.

Trong kinh Kim cương, chúng ta chỉ nghe Bụt nói về bốn tướng, ngoài ra còn rất nhiều tướng khác nữa mà ta có thể quán chiếu. Nếu không dùng niệm và định để tiếp xúc và quán chiếu thì ta không thể mở được ba cánh cửa giải thoát là không, vô tướng và vô tác.

QUÁN VÔ TÁC VÔ NGUYỆN

Vô tác có nghĩa là không cần có gì phải làm, không cần có dự án nào để theo đuổi. Người ta thường nghĩ rằng tu tức là theo đuổi dự án “đạt được Niết bàn” hay “chấm dứt được sinh tử.” Đi tu không phải là để lên chức Hòa thượng. Mục đích của sự tu học là thoát khỏi sinh tử và đạt tới giải thoát. Nhưng theo giáo lý Tam Pháp ấn thì chúng ta chưa bao giờ từng bị sinh tử cả. Chúng ta chưa bao giờ bị ràng buộc cả. Chúng ta là vô thường, là vô ngã và cũng là Niết bàn. Cũng như đợt sóng có cao thấp, lớn nhỏ. Đợt sóng này không phải là đợt sóng kia nhưng sóng cũng đồng thời là nước. Nước là bản chất của sóng, bản chất đó không lên xuống, không sinh diệt, không cao thấp, không này kia. Nếu sóng vùng vẫy, tìm kiếm, xua đuổi thì sóng đã làm một công việc rất dại dột, bởi vì sóng vốn là nước rồi. Trở về với bản tánh tự tâm của mình chỉ là một cách nói. Kỳ thực ta luôn luôn an trú trong bản tánh tự tâm của mình, không cần trở về nữa. Mục đích của sự tu học là để bừng tỉnh và thấy rằng ta chưa bao giờ sinh và cũng chưa bao giờ diệt, ta là Niết bàn. Ta đâu cần phải có dự án, đâu cần phải thực hiện gì nữa? Đó gọi là vô tác, hay là vô nguyện.

Mục đích của giáo lý vô nguyện là chỉ cho chúng ta thấy tất cả sẵn có đầy đủ trong bản tính tự tâm của ta, ta không cần đi tìm đâu nữa. Ta đã là cái mà ta muốn trở thành (we are already what we want to become). Và khi đạt tới cái đó, mở được cánh cửa giải thoát thì ta có sự dừng lại đích thực, ta không còn chạy đi tìm nữa, tự nhiên có an lạc, hòa điệu ngay trong giây phút hiện tại, đó gọi là hiện pháp Niết bàn. Buổi sáng nhìn thấy ánh nắng ta mừng, nghe trời mưa ta cũng mừng, thấy trời đầy sương ta cũng mừng. Ánh nắng, cũng như tiếng mưa rơi, cũng như sương mù đều là những hiện tướng của sự sống. Trong một hiện tướng có những hiện tướng khác. Và tất cả các hiện tướng đều mang tính Niết bàn và vô nguyện. Nếu thức dậy mà ta cảm thấy có hòa bình, và an lạc trong thân tâm, thấy ta không còn thiếu thốn gì, không cần đeo đuổi gì nữa, thì lúc đó ta có khả năng tiếp nhận hai mươi bốn giờ đồng hồ mà sự sống hiến tặng.

Thức dậy miệng mỉm cười,

Hăm bốn giờ tinh khôi,

Xin nguyện sống trọn vẹn,

Mắt thương nhìn cuộc đời.

Hai mươi bốn giờ tinh khôi như một tặng phẩm lớn của đất trời, của sự sống. Tặng phẩm đó là của ta. Ta chỉ có thể tiếp nhận tặng phẩm này một cách trọn vẹn với tâm vô nguyện. Nếu nghĩ rằng có hăm bốn giờ là để làm cái này, hoặc để làm cái kia, thì hăm bốn giờ đó sẽ trở thành một phương tiện, mà không còn là sự sống nữa. “Ta làm cái này để làm gì?” là một tiếng chuông chánh niệm nhắc ta trở về để thấy rằng mỗi việc chúng ta đang làm là sự sống, và có thể cho ta hạnh phúc ngay trong khi ta làm. Khi ta đi thiền, ngồi thiền, hay uống trà, ăn cơm, hoặc quét nhà, tất cả những giây phút đó đều có thể là những giây phút hạnh phúc. Ta không coi chúng như những phương tiện để đạt tới mục đích nào cả. Trong lúc ta bửa củi, sự sống đã mầu nhiệm rồi, ta thấy không cần phải bửa củi xong mới có hạnh phúc. Không cần nước sôi rồi mới có hạnh phúc. Không cần nấu cơm chín rồi mới có hạnh phúc. Như vậy là ta sống trong tinh thần vô nguyện. Đạt tới cái thấy ấy thì vô nguyện giải thoát môn được mở ra.

Có hôm tôi gặp một phụ nữ người Anh ở một xưởng làm đồ gốm. Bà ta hỏi: “Thầy có lo về tình trạng thế giới không?” Tôi trả lời: “Tôi có lưu tâm, nhưng mối quan tâm của tôi không làm hại tới sự an vui của tôi.” Bà này đang đau khổ, chồng của bà bị bệnh tâm thần. Trong câu hỏi về tình trạng thế giới, bà muốn nói tới những chuyện xảy ra ở Nam Tư (Yougoslavie), hay ở các nơi khác. Nếu ta để cho những lo lắng đó tràn ngập tâm mình thì chẳng bao lâu ta sẽ bị bệnh như chồng của bà. Tôi im lặng, thở năm bảy lần rồi mới nói: “Cái quan trọng nhất, này bà, là dù rất quan tâm đến tình trạng thế giới, bà cũng đừng để cho những nỗi lo lắng đó tràn ngập tâm mình, làm cho mình quá ưu sầu. Nếu tâm mình bị tràn ngập lo âu thì mình sẽ bệnh, và nếu bà bệnh thì ai chăm sóc, và nâng đỡ cho ông nhà bây giờ? Thành ra bà phải tu tập. Tôi biết rõ những gì đang xảy ra ở Nam Tư, tôi thấy cảnh khổ đau rất tội nghiệp, nhưng tôi không để cho những chuyện đó trở thành những yếu tố đe dọa tôi. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là ta làm được tới mức tối đa những gì ta có thể làm, mà vẫn phải giữ được sự an lạc và bình tâm của mình. Nếu có thời giờ thiền hành, hay thiền tọa thì đừng bỏ qua. Tâm trạng lo lắng không đưa tới đâu. Dầu ta có lo âu gấp mười lần, hoặc gấp trăm lần, thì tình trạng cũng như vậy thôi. Nếu ta bị bệnh thì tình trạng sẽ xấu hơn. Cho nên điểm quan trọng không phải là ta lo, mà ta làm những gì có thể làm được trong giờ phút hiện tại. Nếu bà không giữ được sự an lạc của bà thì bà không thể nào giúp được ông nhà. Bà cũng không thể nào giúp được cho bất cứ ai và bất cứ tình trạng nào trên thế giới. Cho nên hãy làm những gì trong đời sống hàng ngày mình có thể làm được. Đó là chìa khóa. Khi có thái độ đó thì tự nhiên ta sẽ có an lạc.” Tôi đã nói tóm tắt những điều đó cho bà người Anh này trong vòng mấy phút.

Ta có thể có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, dầu trong thân và trong tâm ta có điều chưa được như ý. Giáo lý Tịnh độ nói: dầu còn khổ đau, dầu còn nghiệp chướng, ta vẫn có thể vãng sinh được tới thế giới cực lạc. Đức Phật A Di Đà sẽ không đóng cửa, sẽ không cấm ta vào cõi cực lạc với một ít nghiệp chướng, một ít tham, giận, và si mê. Đó gọi là đới nghiệp vãng sinh. Đới nghiệp là còn mang nghiệp theo. Nghĩa là tịnh độ hiện tiền, đây là tịnh độ, tịnh độ là đây. Dầu còn một ít lo lắng, sầu khổ, một ít bệnh tật, ta vẫn có thể bước vào được thế giới cực lạc như thường. Cho nên, buổi sáng thức dậy mỉm miệng cười, ta thấy ta có thể có hạnh phúc. Quan trọng là thái độ vô nguyện của ta. Vô nguyện là được như nguyện. Không chờ đợi, không đòi hỏi, ta có thể hạnh phúc trong bất cứ giây phút nào.

ÁP DỤNG BA CỬA GIẢI THOÁT

Theo các nhà xã hội học bên Mỹ, vấn đề số một của Hoa Kỳ là bạo động. Người ta bạo động đối với nhau: cha bạo động với con, con bạo động với cha, học trò bạo động với thầy. Người ta bạo động với chính thân thể và tâm hồn của họ. Tự tử, sử dụng ma túy, nghiện rượu, người ta tự tàn phá cơ thể và tâm hồn. Giống như xã hội đang đi về hướng tự hủy một cách tập thể. Và những người có con mắt nhận xét thấy đó là một vấn đề rất lớn. Căn nguyên của hiện tượng trên là vì con người không có an lạc, con người đang đi tìm quên lãng. Nếu con người có hạnh phúc thì đâu phải đi tìm mấy chất ma túy, và những ông vua ma túy đâu có thể làm ăn được. Sống với bản thân không an lạc, tự ghét bản thân; sống với gia đình không an lạc, hờn oán gia đình; sống với xã hội cũng không an lạc, thù ghét xã hội. Với những đau khổ không biết cách chuyển hóa, người ta trút những đau khổ đó lên cho nhau, làm phát sinh ra bao nhiêu căm thù và bạo động.

Có những thiếu niên mười hai và mười ba tuổi ở Pháp đã bắt đầu giết người. Trong mấy tuần lễ vừa qua lại có những vụ giết người trong xe lửa. Bên Anh cũng vậy. Bạo động là một dấu hiệu của tình trạng thiếu hạnh phúc, thiếu thăng bằng. Người ta khổ đau nhưng không biết thực tập, không có ai hướng dẫn. Có cơ duyên tu học, ta phải biết trách nhiệm. Trước hết phải làm sao cho chính mình có an lạc và hạnh phúc, phải học nghệ thuật sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, dầu ta còn có những điều bất như ý. Ta bắt buộc phải có hạnh phúc. Nếu không, ta sẽ không thể làm chỗ nương tựa cho bất cứ ai, dầu đó là cha, mẹ, anh, chị, em mình, đồng bào mình hay người trong xã hội quanh mình. Ta cần phải làm thế nào để cho hạt giống an lạc và giác ngộ sinh sôi nảy nở nhiều, cho nhân loại được nhờ. Mỗi ngày hăm bốn giờ đồng hồ của ta là một cơ hội lớn để sống an lạc và hạnh phúc. Nếu ta cần một dự án, thì dự án đó là làm thế nào để đào tạo thật nhiều những người có khả năng hướng dẫn tu học, giúp mọi người biết tu biết thở, biết nói, biết im lặng theo chánh pháp, biết ăn cơm trong chánh niệm, biết làm hạnh phúc cho mọi người. Chúng ta cần nhiều giáo thọ. Trong Đại Giới Đàn sắp tới, Giới Đàn Hương Tích, sẽ có lễ truyền đăng cho mười hai vị giáo thọ mới.

Trong chuyến đi Hoa Kỳ vừa rồi tôi có những buổi thuyết pháp cho công chúng mà số người tới tham dự là bốn ngàn người, có những khóa tu, trong đó bốn trăm hoặc năm trăm người xin quy y để tiếp nhận Năm giới. Đó là hình ảnh cá mẹ sinh cả đàn cá con. Nhưng như thế cũng không thấm thía vào đâu so với một xã hội mà khổ đau và bạo động đang leo thang. Trong chuyến đi Bắc Mỹ đó, số người tới học trực tiếp trong những khóa tu hay những buổi pháp thoại vào khoảng 28.000 người. So với dân số Mỹ cũng không có nghĩa gì. Dầu có những đài phát thanh đã phát nguyên văn các bài pháp thoại liên tiếp trong mười ngày, những tờ báo lớn như The Washington Post, The New York Times hay Los Angeles Times đã viết một số những bài khá hay về phương pháp thực tập. Có thể nói hàng triệu người đã được tiếp xúc với giáo lý của Bụt. Loài người rất khao khát sống an lạc, rất mong biết được cách chuyển hóa tâm hồn và thay đổi xã hội. Nhưng hiện bây giờ số người có thể hướng dẫn được dân chúng tu tập, chuyển hóa còn ít lắm. Và chúng ta phải thực tập như thế nào để làm cho số người đó nhân lên. Điều này chúng ta có thể làm được.

Nếu cứ để thì giờ mà lo lắng và ưu sầu thì chúng ta chỉ làm cho tình trạng đen tối hơn. Chưa cứu được thế giới ta đã đánh mất chính ta rồi. Thành ra câu trả lời cho từng người là phải làm thế nào để mỗi bước chân của mình được thảnh thơi, mỗi giây phút của đời sống hàng ngày có an lạc, hạnh phúc. Cánh cửa giải thoát thứ ba, vô nguyện, rất quan trọng. Chúng ta không cần thành một cái gì hết, thành Phật, Bồ tát, hòa thượng, giáo thọ v.v. chúng ta chỉ cần có hạnh phúc trong giây phút hiện tại, có thể đem lại hạnh phúc cho những người ta thương. Người Pháp có một bài hát “Chúng ta đợi gì mà không hạnh phúc bây giờ?” (Qu’est-ce qu’on attend pour être heureux?) Mỗi sư cô, mỗi sư chú, mỗi Phật tử và thiền sinh của chúng ta hãy tự hỏi câu hỏi đó: Tại sao chúng ta lại không có hạnh phúc ngay bây giờ? Hạnh phúc trong giây phút hiện tại, hạnh phúc có liền như cà phê hòa tan (instant coffee), chỉ cần chế nước sôi vào là có thể uống ngay.

Tôi còn nhớ một thiếu phụ, tại một khóa tu ở Canada, sau buổi thiền hành đầu tiên đã nói: “Thưa thầy, từ khi sang Bắc Mỹ đến giờ, trong suốt bao nhiêu năm con chưa bao giờ được đi những bước thong thả như hôm nay.” Xã hội đã kéo bà chạy theo như một cái chong chóng. Và bà chỉ cần được hướng dẫn thiền hành trong hai mươi phút, là có thể đi vào được trong thế giới của tĩnh lặng, của an lạc. Không cần phải dự một khóa tu ba tháng. Có khi ta chỉ cần một khóa tu ba ngày, hoặc bốn ngày. Và chỉ ngay sau giờ thiền hành đầu tiên là đã có thể nếm được pháp lạc. Sau đó, thiếu phụ hỏi: “Bạch thầy, con có thể về chia sẻ phương pháp thiền hành này cho các bạn con được không?” Tại sao không? Các sư cô sư chú được tu tại Làng Hồng bốn năm là đã có may mắn hơn những người như vậy nhiều. Sau bốn năm đó ta đã có khả năng thiết lập một trung tâm tu học để hướng dẫn người khác. Quý vị cũng sẽ làm như tôi, suốt đời học hỏi thêm, và phải luôn luôn thực tập. Càng học và càng thực tập thì cái thấy, cái hiểu của mình về chánh pháp càng sáng, và càng sâu thêm. Đức Khổng Tử nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ”, học mà thường được thực tập thì há chẳng phải là niềm vui hay sao? Học với thầy được một ngày thì ta đã tiếp nhận được chất liệu của gia đình tâm linh ta để lại từ mấy ngàn năm. Điều quan trọng là khả năng tiếp nhận và tiêu hóa của mỗi người. Phải biến những chất liệu ta tiếp nhận được thành sự sống liền mà đừng chất chứa chúng thành những kho kiến thức không dùng vào việc gì được.

Học điều gì ta phải đem ra thực tập. Khi ta học về ba cánh cửa giải thoát: không, vô tướng, và vô tác chẳng hạn, thì phải áp dụng liền. Áp dụng thế nào về cánh cửa thứ nhất là cánh cửa không? Có phải là lên thiền đường ngồi thiền để suy tư về không chăng? Không phải như vậy. Mỗi lần nhìn cây cỏ, đất trời, tiếp xúc với người với vật, phải thấy được tính cách tương tức, tương nhập của tất cả. Phải thấy tính cách mầu nhiệm của không ở trong con người của mình.

Tới cánh cửa thứ hai là vô tướng. Tri giác (tưởng) của ta luôn luôn được dựng nên bởi tướng. Phải thấy được tính cách vô tướng trong cái tướng của người, và vật chung quanh mà đừng để cho tướng lừa gạt. Thấy được rồi thì những sợ hãi, lo buồn, hờn giận của mình sẽ tan biến, và vô tướng trở thành sự sống hàng ngày.

Cuối cùng là vô tác, vô tác là không cần tìm kiếm. Vô tác không phải là hết ham muốn mà thôi. Có những người hết ham muốn nhưng lòng rất rầu rĩ: tôi không cần thiết gì nữa! Apraṇihita là không đặt trước mình một đối tượng để chạy theo. Tức là biết dừng lại và hạnh phúc chỉ đạt được khi ta biết dừng lại. Cho nên nếu có người hỏi: “Tu để làm gì?”, có thể ta trả lời: “Tu là để có hạnh phúc.” Người ta hỏi: “Tu tới bao giờ mới có hạnh phúc?” – “Phải có hạnh phúc ngay từ bây giờ. Còn nếu không thì không phải là anh đang tu.”

CÁC CÁCH TRÌNH BÀY KHÁC VỀ PHÁP ẤN

Sau khi đã hiểu cách tu tập Tam pháp ấn chúng ta nên biết thêm về các lối trình bày khác về pháp ấn. Trong văn học Phật giáo cũng có ý niệm Nhị pháp ấn. Khổ là một pháp ấn và Niết bàn là pháp ấn thứ hai. Ngoài ra còn ý niệm về Tứ pháp ấn, là vô thường, khổ, vô ngã và Niết bàn. Và kinh cũng nói tới một pháp ấn, thuộc về truyền thống Đại thừa, gọi là Nhất thật tướng ấn. Sở dĩ có nhiều cách trình bày về pháp ấn là do lối nhìn của những thế hệ thực tập về sau.

Trong lịch sử phân phái, cuộc phân chia hệ phái đầu tiên xảy ra một trăm năm sau khi Bụt nhập diệt, thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Thượng Tọa Bộ là các vị có khuynh hướng bảo thủ, Đại Chúng Bộ là phía các vị có khuynh hướng cải cách. Thượng Tọa Bộ sau này chia ra Hữu Bộ và Phân Biệt Thuyết Bộ, đó là cuộc phân phái thứ hai. Như chúng ta biết, Hữu Bộ truyền lên miền Kashmir, Phân Biệt Thuyết Bộ ở lại, sau đó lại gửi một chi phái là Xích Đồng Diệp Bộ sang Tích Lan, bây giờ ta gọi là Theravāda. Cho nên Hữu Bộ và phái Theravāda có cùng một nguồn gốc và kinh điển rất giống nhau. Trong Tam tạng Pāḷi, những đoạn văn nói về “vô thường cho nên khổ, khổ cho nên vô ngã” được lặp đi lặp lại nhiều lần, cũng giống trong những bộ kinh A hàm bằng chữ Hán thuộc văn hệ Bắc truyền. Điều đó chứng tỏ cách nhìn đó có trước thời phân chia thành hai phái Hữu Bộ và Phân Biệt Thuyết Bộ.

Theo sát các đoạn kinh trên, đạo Bụt Nam truyền giải nghĩa Tam pháp ấn là vô thường, khổ, và vô ngã. Cách nhìn đó có thể đưa tới những hiểu lầm, cũng như lối xếp đặt khổ và Niết bàn vào làm Nhị pháp ấn. Sai lầm căn bản là sự biến đổi vai trò của khổ, từ một cảm thọ cần nhận diện, thành một bản chất của thực tại. Sau khi đã học về ba cánh cửa giải thoát, chúng ta sẽ nhìn lại về vấn đề này trong ánh sáng của tam tam muội.

Khổ đau phát sinh là do chúng ta bị kẹt vào tướng, cho nên Bụt đã dạy phép quán vô tướng. Phương pháp mà Bụt dạy là dùng giáo lý vô thường và vô ngã. Vô thường là một chiếc chìa khóa để mở cửa thực tại, và dùng quán vô thường chúng ta phá vỡ được các tướng trạng. Vô ngã là một chìa khóa khác. Dùng phương pháp vô ngã, chúng ta cũng đi tới vô tướng. Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, cái gì có tướng là có sự nhầm lẫn. Vô thường mà nghĩ là thường thì khổ, vô ngã mà cho là có ngã thì khổ. Lý luận thường thấy trong các kinh điển từ Nam tông đến Bắc tông: sự vật vì vô thường cho nên khổ, và vì khổ nên không thể cho nó là cái ta – vô ngã.

Trước tiên, khổ ở đây là một cảm thọ. Nhưng nhiều thế hệ Phật tử sau này đã nâng ý niệm khổ lên thành một tính chất phổ biến tất yếu của thực tại. Vì trong giáo lý Tứ diệu đế, khổ đứng đầu. Bản ý của Bụt là: khổ có mặt, chúng ta phải nhận diện khổ như nó đang là. Nhận diện khổ là một chuyện, thái độ giáo điều nói rằng “Tất cả đều là khổ, không có cái gì là không khổ hết” là một chuyện khác. Hai cách nhìn đó khác nhau rất nhiều. Nhưng nhiều thế hệ Phật tử đã đi vào con đường thứ hai. Cho nên có lý thuyết về Tam khổ: Ban đầu khổ như là một cảm thọ: khổ khổ (Duḥkha as an unpleasant feeling). Rồi đến hoại khổ, vì vạn vật sẽ tàn hoại cho nên khổ (Duḥkha as change). Thứ ba hành khổ, mọi hiện tượng vì được tập hợp mà thành nên khổ, khổ vì bản chất là hành (Duḥkha as formation). Thuyết Tam khổ có tính cách giải thích, bênh vực cho chủ trương tất cả đều là khổ. Mục đích của Bụt khi giảng Tứ diệu đế không phải là biện luận về một chủ thuyết. Mục đích của Ngài là dặn dò rằng có những cái khổ chúng ta phải nhận diện. Những thế hệ sau nghĩ rằng sự giải thoát chỉ đạt được khi ta nhắc đi nhắc lại sự thật thứ nhất “đời là khổ, đời là khổ, cái gì cũng là khổ, cái gì cũng là khổ” nếu không thì không đạt được quả vị A La Hán, không giải thoát, không an lạc. Đọc lại những tác phẩm A tỳ Đạt ma, như Tranh luận sự (Points of controversy) ta sẽ thấy. Đó là do ta hiểu và áp dụng sai Tứ diệu đế. Những đau khổ ta gọi chúng là đau khổ đã đành, những cái không đau khổ cũng phải làm cho chúng thành đau khổ luôn!

Đi xa thêm một bước nữa là quan niệm tất cả các hành – những hiện tượng được tập thành như là núi, sông, cây, cỏ, mặt trời, mặt trăng, cha mẹ, anh em, nụ cười, tiếng khóc, tất cả đều là khổ hết! Hệ luận của một quan niệm như vậy là Niết bàn hoàn toàn tách biệt khỏi các hành. Nước mà bỏ hết sóng đi thì đâu còn có nước?

Cách nhìn đó dẫn tới ý tưởng cuộc đời là khổ, năm uẩn là khổ, sáu đại là khổ, tất cả là khổ cho nên ta phải dứt bỏ hết. Nhưng ai là kẻ làm công việc dứt bỏ đó? Có một cái ta biệt lập với năm uẩn, với những cái gọi là hành không? Hay ta chẳng qua cũng chỉ là những hành đó? Cái ta có phải là một thực tại độc lập ngoài những hành này không? Nói có tức là chấp vào hữu ngã, có một cái ngã riêng biệt. Có một cái ngã nằm ngoài các hành, có một cái ngã riêng ở ngoài năm uẩn, đó là một sai lầm căn bản.

Thân này là ta. Ta tức là uẩn. Thân này là của ta. Vậy là có cái ta riêng nữa, ta không phải là thân. Đó là hai khái niệm về ngã mà Bụt đã phá vỡ. Khái niệm thứ ba: Ta là thần ngã. Thần ngã (Ātman) là yếu tố thiêng liêng có thể đồng nhất hóa với Phạm thiên (Brahmā). Brahmā là đại ngã, còn ta là Ātman, tiểu ngã, hai cái đó là một, trở về với nhau gọi là giải thoát. Bụt cũng đã bác bỏ ý niệm đó. Thân không phải là ta, không phải là của ta, không phải là thần ngã. Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý không phải là ta, không phải là của ta, không phải là thần ngã. Đó là ba ý niệm về ngã mà Bụt muốn phá tan.

Vậy thì cái ta này là cái gì, có thể thoát ra ngoài năm uẩn và các hành được chăng? Có phải sau khi tôi đã buông bỏ tất cả năm uẩn và các hành rồi thì tôi sẽ bước sang một thế giới khác gọi là Niết bàn chăng? Vậy Niết bàn là một thực thể hoàn toàn biệt lập với các hành chăng? Phải chăng bỏ cái thế giới khổ này, đi tìm tới một thực thể hoàn toàn khác với khổ, đó là nhập Niết bàn? Nghĩ như vậy thì hai pháp ấn, khổ và Niết bàn, trở thành một giáo lý nhị nguyên. Không phải Bụt dạy khổ và Niết bàn là nhị nguyên, mà cách nhìn của người ta bị kẹt vào quan điểm nhị nguyên. Chúng ta thấy rất là mầu nhiệm khi phá vỡ được tư tưởng nhị nguyên. Cũng như khi học về xả, ta cũng phải phá đổ quan điểm nhị nguyên. Tiếng Anh dịch xả là equanimity, tức là không đứng về một phe, đối lập với phe khác. Nếu nói hành là khổ, rồi ta bỏ các hành, đi tìm về Niết bàn hoàn toàn khác biệt với hành, đó là nhị nguyên, không phải là xả. Niết bàn nằm trong các hành, Niết bàn chính là hành.

Bàn luận như trên không phải là để biện giải lý thuyết xem giải thích Tam pháp ấn cách nào là đúng, hay Nhị pháp ấn cách nào là đúng. Câu hỏi thích đáng phải nêu lên là chúng ta có thực tập Tam giải thoát môn không? Các Tổ, các Thầy nói tới Ba cánh cửa giải thoát nhưng đã dạy ta phương pháp thực tập. Làm sao để thực tập Không, làm sao để thực tập Vô tướng, và làm sao thực tập Vô tác? Chúng ta phải tránh việc học một mớ lý thuyết rồi không bao giờ đem chúng áp dụng trong đời sống hằng ngày. Pháp ấn có thể là ba, Vô thường, Khổ, Vô ngã cũng được hoặc Vô thường, Vô ngã, Niết bàn cũng được; có thể là hai, Khổ với Niết bàn cũng được. Hay chỉ là một, Nhất thiết thực tướng ấn cũng được. Điều quan trọng là những giáo lý ấy có thể thực tập được, có thể đem lại giải thoát cho ta được hay không? Điều kỳ diệu là trong Tam pháp ấn có Vô thường, Vô ngã, Niết bàn, thì Niết bàn thuộc về phạm vi thể, và hai phần kia thuộc về phạm vi tướng. Chính nhờ tiếp xúc với tướng một cách sâu sắc mà đi tới thể của các tướng. Đó là nguyên tắc tùng tướng nhập tánh.

Tam giải thoát môn đã được trình bày như là những phương pháp thực tập và chúng ta có thể thực tập được. Sống như thế nào gọi là có cái nhìn Không? Cách nhìn đó chúng ta thực tập khi thức dậy, khi ăn cơm, khi uống nước, khi tiếp xử với bạn bè. Sống như thế nào, thấy như thế nào, tiếp xử như thế nào có thể gọi là Vô tướng? Và sống thế nào có thể gọi là Vô tác? Chúng ta an trú được trong giờ phút hiện tại, có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, dầu còn đeo theo một ít nghiệp chướng bên mình. Nếu quý vị nói về Không, Vô tướng, Vô tác, đọc một cuốn sách ba ngàn trang về Không, Vô tướng, Vô tác mà cuối cùng không áp dụng được trong đời sống thì ba ngàn trang sách đó sẽ không có một ích lợi nào.

Sự hiểu sai và truyền thừa sai xảy ra khắp nơi, trong đạo Bụt Nam truyền cũng như trong đạo Bụt Bắc truyền. Chúng ta phải rất cẩn thận, phải dùng trí thông minh và căn cứ trên kinh nghiệm tu tập, trên những thành công, những thất bại của chúng ta để có thể tiếp xúc với giáo lý đích thực của đạo Bụt.

Bài 19 Quán không trong năm lễ

Hôm nay là ngày 27 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp về Bát chánh đạo.

TAM-MA-ĐỊA VÀ TAM-MA-BẠT-ĐỀ

Hôm nay, chúng ta học về Tam giải thoát môn, tức là Tam tam muội. Tam giải thoát môn gồm có không, vô tướng và vô tác, có nghĩa là ba cánh cửa để đi vào giải thoát. Không tức là śūnyatā, vô tướng tức là ānimitta, và vô tác là apraṇihita. Bài này hơi khó, phải có nhiều định mới hiểu được. Bài này là chánh định, thuộc về định.

Chúng ta đã biết rằng Ba pháp ấn là ba chiếc chìa khóa giúp ta mở cửa đi vào thế giới thực tại, phá tan những ảo giác sai lầm của đời sống hàng ngày. Ba chiếc chìa khóa đó chúng ta phải sử dụng, không thể nào tiếp nhận xong rồi bỏ vào túi không bao giờ sử dụng. Nếu đem ra sử dụng trong đời sống hàng ngày, chúng ta sẽ đạt tới một trình độ nào đó về định. Tức là trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, tiếp xúc với vạn sự, vạn vật xung quanh ta và trong ta, ta an trú trong ba cái định gọi là tam-ma-địa – samādhi, dịch ra tiếng Việt là đẳng trì. Chữ đẳng này có nghĩa là giữ ở mức bình thường. Đẳng như là bình đẳng, không cao quá không thấp quá, không phù không trầm. Khi tâm ta tán loạn, không ngồi yên được, chỉ muốn đứng dậy làm cái này, làm cái kia. Đó là trạng thái phù, tức là nổi lên, lăng xăng, là trạng thái bị kích thích (excited). Trong định không có cái này. Trầm là trạng thái ngược lại của phù, tức là lặng xuống, hôn mê, buồn ngủ, lười biếng. Trầm là dưới, hôn trầm. Phù là trên. Có những người không ngồi yên được, có một lực lượng nào đó trong người đẩy người đó phải đứng dậy, phải nhảy múa, phải làm cái này, làm cái kia. Dù người đó không đứng dậy, không nhảy múa, không làm cái này, làm cái kia thì đầu óc của họ cũng đứng dậy, cũng nhảy múa, cũng làm cái này, làm cái kia. Thành ra đừng tưởng họ đang ngồi thiền với mình như vậy mà họ không có “phù”. Trạng thái đó gọi là trạo cử, tán loạn, lăng xăng. Trạng thái ngược lại là không sáng suốt, nặng nề, buồn ngủ, hôn mê, không có ánh sáng và năng lượng ở trong mình. Đó gọi là trạng thái trầm. Tam-ma-địa – samādhi – concentration tránh được trạng thái trầm và phù. Nó đi vào trạng thái vừa có sự sáng suốt nhưng không trạo cử, lăng xăng. Đẳng là như vậy. Đẳng nằm ở giữa. Trì tức là nắm, nắm lấy và duy trì cho nó kéo dài. Trạng thái đó phải được giữ gìn lại và kéo dài ra thì gọi là trì.

Tam – ma – địa = đẳng trì

định

chánh định

chánh tâm hành xứ

Tam-ma-địa – samādhi có thể dịch là đẳng trì hay là định, hay là chánh định, hay là chánh tâm hành xứ – trạng thái mà trong đó ta thực hiện được sự chánh tâm của mình. Danh từ là samapatti, dịch là tam-ma-bạt-đề. Trước hết, chúng ta phải hiểu nghĩa của chữ samādhi – tam-ma-địa. Samādhi là trạng thái tâm lý, trong đó chúng ta duy trì được sự sáng suốt mà không có trạo cử.

Tam – ma – bạt – đề = chánh định

đẳng chí

Tam-ma-bạt-đề cũng là tam-ma-địa, cũng là samādhi, nhưng nói về nội dung của nó. Tam-ma-bạt-đề cũng dịch là chánh định. Có khi dịch là đẳng chí, là đi tới cái chỗ đẳng, là trạng thái không trầm, không phù. Có khi dịch là hiện tiền, một danh từ rất hay nhưng chúng ta lại rất ít dùng. Hiện tiền là có mặt, là an trú trong giây phút hiện tại. Chúng ta biết rằng chánh niệm là năng lượng giúp chúng ta có mặt, tiếp xúc và đối diện với sự sống ngay trong giờ phút hiện tại. Tam-ma-bạt-đề là trạng thái trong đó ta có sự tập trung tâm ý, thật sự có mặt, sáng suốt không lăng xăng. Tam-ma-địa có khi cũng dùng nhầm với tam-ma-bạt-đề. Samādhi hay samapatti cũng như vậy. Khi thực tập chánh niệm, tiếp xúc với sự vật xung quanh ta và cả những tâm lý của ta thì ta sẽ đi vào được một loại định: Chúng ta ý thức, tiếp xúc được bản chất của sự vật, đó là vô thường, vô ngã và Niết bàn.

KHÔNG GIẢI THOÁT MÔN

Hôm nay, chúng ta không lặp lại về vô thường, vô ngã và Niết bàn mà chúng ta đi sang Tam giải thoát môn, tức là ba cánh cửa mở ra, đưa chúng ta vào giải thoát. Nếu chúng ta không thực tập ba cánh cửa này thì không có cách gì chúng ta được giải thoát ra khỏi những đau khổ, ràng buộc, đam mê, giận hờn, buồn khổ, sợ hãi.

Cánh cửa đầu tiên là Không giải thoát môn – cánh cửa giải thoát với tên gọi là “không”. Nếu chúng ta nhớ lại bài học tuần trước thì thấy rằng vạn vật là vô thường. Vì vạn vật là vô thường cho nên nó cũng là vô ngã. Đứng về phương diện thời gian, ta gọi là vô thường; đứng về phương diện không gian, ta nói là vô ngã. Vô ngã là không có một tính đồng nhất bất biến. Cho nên có khi chúng ta gọi vạn vật là không. Và ở đây chúng ta có cánh cửa giải thoát thứ nhất gọi là không giải thoát môn.

Nếu chúng ta học Tâm Kinh Bát nhã hay chúng ta học kinh Kim cương, chúng ta hiểu được thế nào gọi là không. Không không phải là ngược lại với có, tức là không có. Có người giải thích như thế này: Bông hoa này là không, và vì nó vô thường nên nó sẽ tàn hoại, thì nó là không. Cái không đó bị lạc vào cái không đối ngược với cái có. Cái không ở đây là không đợi đến khi tàn hoại mới là không, mà nó không ngay từ bây giờ. Phải thấy cái không của nó ngay từ bây giờ chứ đừng đợi đến lúc nó tàn rồi mới gọi bông hoa này là không. Đó gọi là đương thể tức không. Đương thể tức là trong cái bản chất, trong thể tánh của nó ngay bây giờ đã là không rồi chứ không phải mai mốt mới là không. Có những người không hiểu thấu được, họ nói: Sự vật vô thường cho nên có đó rồi không đó, thành ra có cũng như không. “Có đó và không đó” thuộc về có – không của thế tục đế, không phải là ngôn ngữ của đạo Bụt.

Làm thế nào để đi vào cái không này? Bằng cánh cửa vô thường và vô ngã. Vì sự vật vô thường cho nên nó chuyển biến trong từng giây phút và sự vật của giờ phút này không còn là sự vật của giờ phút khác. Qua nhận thức đó, chúng ta thấy sự vật không có mặt thường tại, không có tính đồng nhất, đó gọi là vô ngã. Vô thường tức là vô ngã. Và vô thường và vô ngã tức là không. Không ở đây trước hết là không có sự có mặt riêng biệt.

Không có gì quá khó, nếu đi từng bước ta có thể hiểu một cách rõ ràng. Ví dụ bông hoa này là vô thường. Nó thay đổi, biến chuyển từng giây phút một. Điều đó chúng ta biết được. Nếu chúng ta không quán chiếu thì chúng ta có ảo giác về thường. Nhưng nếu chúng ta có một chút niệm, định mà quán chiếu, chúng ta thấy được ngay rằng bông hoa là vô thường, nó đang chuyển biến. Bề ngoài thấy bông hoa vẫn là bông hoa nhưng sự thực nó đang chuyển biến. Nhìn sâu vào, chúng ta thấy bông hoa được làm bằng những yếu tố không phải bông hoa như ánh sáng, không gian, đám mây, đại địa, tâm thức. Thấy được như vậy là thấy được tính vô ngã của bông hoa.

Loài người cũng vậy, được làm bằng những yếu tố không phải loài người. Chúng ta có bốn ý niệm: loài người, thực vật, động vật và khoáng vật. Chúng ta phân biệt rằng người là một loại sinh vật đặc biệt, không phải là thực vật, không phải là khoáng vật, cũng không phải là động vật. Khi tiếp xúc, quán chiếu sâu sắc về người, chúng ta tìm ra được một sự thật: Người được làm bằng những yếu tố không phải người. Những yếu tố đó là thực vật, khoáng vật và động vật. Nếu không có những yếu tố khác thì yếu tố người không thể nào thành tựu được. Vì vậy yếu tố người là vô ngã. Trước khi quán chiếu và thấy được tính cách vô thường và vô ngã, chúng ta có thể có ảo tưởng cho rằng người có thể tồn tại độc lập ngoài các loài khác như thực vật, khoáng vật và động vật. Nhưng sau khi quán chiếu và tiếp xúc sâu sắc, chúng ta thấy rằng nếu không có những yếu tố thực vật, khoáng vật và động vật thì yếu tố người cũng không có. Những nhà bảo vệ sinh môi thường nói rằng muốn bảo vệ con người thì phải bảo vệ các loài thực vật, khoáng vật và động vật. Nếu tàn hại các loài khác, làm cho các loài khác ô nhiễm và tiêu diệt tức là ta đang làm ô nhiễm và tiêu diệt chính ta. Cái thấy đó là vô ngã. Đây là điều trong kinh Kim cương dạy. Kinh Kim cương cũng như giáo lý đạo Bụt là nền tảng cho những người thực tập bảo vệ môi trường sinh sống của con người. Nếu môi trường không được bảo vệ thì chúng ta bị tiêu diệt. Đây là giáo lý căn bản của Bụt. Bông hoa được làm bằng những yếu tố không phải bông hoa. Con người được làm bằng những yếu tố không phải người. Sư chú Pháp Ứng được làm bằng những yếu tố không phải là Pháp Ứng. Nếu không có cha, có mẹ, có cơm, có đất nước, có tổ tiên, có ruộng lúa, có không khí, có dòng sông thì không có sư chú Pháp Ứng. Sư cô Tuệ Nghiêm cũng được làm bằng những yếu tố không phải là Tuệ Nghiêm. Nếu không có thầy, có bạn, có chị, có anh, có Bụt, có Tổ, có Làng Hồng, có chùa thì không có sư cô Tuệ Nghiêm. Cho nên ta phải thấy ta ở trong các yếu tố đó, phải thấy ta ở trong Bụt, ở trong các Tổ, ở trong thầy, trong bạn đồng tu, trong sư anh, sư chị. Và khi có cái thấy đó rồi là ta đã tiếp xúc với tính vô ngã và vô thường của sự vật. Trong đời sống hàng ngày ta phải tập nhìn như vậy để những sai lầm, ảo tưởng, giận hờn, buồn bã của ta từ từ tan biến.

Ví dụ: những nước gọi là đã phát triển – developed countries, hay là overdeveloped countries, nếu nhìn sâu vào trong những nước đó, ta thấy họ tiêu thụ rất nhiều. Họ tiêu thụ xăng nhớt, hàng hóa rất nhiều. Nhưng nhìn cho thật sâu sắc ta thấy rằng nếu không có những thị trường xung quanh để họ bán hàng thì họ không thể nào làm giàu cho nước họ được và họ không thể nào tiêu thụ như vậy được. Nếu không có những nước xung quanh cung cấp những nguyên liệu và những nhiên liệu thì họ không thể nào giàu có như vậy được. Vì vậy nhìn vào bản thân nước họ, ta thấy được thân phận và bản thân của các nước khác, thấy được các nước của thế giới thứ ba – third world. Ta phải biết rằng sự an vui và tồn tại của các nước khác có liên hệ tới sự an vui và tồn tại của nước mình. Nếu ta không làm gì hết để giúp cho các nước khác an vui và tồn tại thì sẽ đến lúc nước ta bị chiến tranh, bị tàn phá. Đó là cái thấy vô thường và vô ngã, là cái thấy có tuệ giác. Trong ánh sáng đó, ta thấy rằng không có gì có thể độc lập hoàn toàn với tất cả cái khác được, nhờ vậy ta cần áp dụng một chính sách ngoại giao, một chính sách nội vụ thông minh. Độc lập nghĩa là ngã. Không có một ai, không có một loài nào, một nước nào có thể tự mình mà sống. Tất cả mọi người, mọi loài, mọi quốc gia đều phải nương vào những loài khác, những người khác, những quốc gia khác để sống. Đó gọi là liên lập.

Từ ảo giác về ngã và về thường, ta đạt tới tuệ giác về vô ngã và vô thường. Định này là cái thấy sáng suốt. An trú trong cái thấy sáng suốt đó giúp ta tiếp xúc với thực tại một cách sâu sắc. Trong đời sống hàng ngày, phải làm thế nào để mỗi cái nhìn, mỗi cái nghe, mỗi động tác, mỗi sự tiếp xúc cho ta được cái thấy vô thường, vô ngã, không. Và có khi chúng ta gọi là cái thấy tương duyên. Những từ ngữ này có nghĩa như nhau tuy rằng rất khác nhau.

Ngạn ngữ Việt Nam có những câu như: “Con sâu làm rầu nồi canh”, hay “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Đó là tuệ giác hàng ngày của chúng ta. Chúng ta thấy rằng an vui, hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào an vui, hạnh phúc của người khác. Khổ đau của chúng ta cũng tùy thuộc vào khổ đau của người khác. Căn cứ trên cái thấy vô thường, vô ngã, tương dung và không đó, ta sẽ có một thái độ, một hành động phù hợp với thực tại nhiều hơn, và do đó có thể chuyển hóa được tình trạng.

Không ở đây là không có tính độc lập, không có tính thường tại, không có tính đồng nhất. Trên thực tế mỗi người đều có một thẻ căn cước. Đứng về phương diện kiểm soát dân số, bầu cử… thì có ích lợi. Nhưng đứng về chân lý vô thường, vô ngã thì cái đó là sai lầm. Lời dạy căn bản của Bụt là: “Cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này như thế này cho nên cái kia như thế kia”, tất cả chúng ta đều kết nối nhau, không người nào độc lập với người nào, không loài nào độc lập với loài nào, không nước nào độc lập với nước nào. Đó là tuệ giác về tương duyên, vô ngã, vô thường và không. Trong đời sống hàng ngày, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, uống nước, làm việc, tiếp xử với bè bạn, với các loài mà ta duy trì được ý thức đó, tuệ giác đó, là ta đang ở trong không định không tam-ma-địa. Chữ “không” này cố nhiên không phải là chữ không ngược với có. Cái “không” này, thỉnh thoảng người ta gọi là chân không, để phân biệt với cái “không” kia, tức là giả không. Cái “không” này không có nghĩa là sự vắng mặt của sự sống, sự vắng mặt của các hiện tượng. Đôi khi, không này cũng được gọi là có, là hữu. Nhưng để phân biệt với “có” của thế tục đế, ta dùng danh từ “diệu hữu”- diệu hữu và chân không. Trong trường hợp này thì chân không tức là diệu hữu, diệu hữu tức là chân không, không bây giờ, không ngay từ lúc này, và nó là một sự mầu nhiệm.

Trong rất nhiều kinh Nguyên thủy cũng như Đại thừa, Bụt dạy rằng thực tại trong ta và xung quanh ta vượt thoát ra khỏi hai ý niệm có và không. Nói rằng bông hoa là có cũng không đúng, nói rằng bông hoa là không có, cũng không đúng. Vì vậy cho nên chữ “không” ở đây có nghĩa là sự vắng mặt của ý niệm có và ý niệm không. “Không” ở trong lòng thực tại – thực tại vượt khỏi ý niệm có và không. Tại một thiền viện người ta treo bốn chữ: “Hữu vô nhị vong”, nghĩa là cả hữu cả vô đều biến mất. Khi cả hữu cả vô đều biến mất rồi thì đó là chân không và cũng là diệu hữu. Có khi ta xúm nhau lại, đàm luận, tranh cãi để tìm ra thực tại có hay không là ta đang bị kẹt vào thế giới ý niệm. Đại thi hào người Anh William Shakespeare nói rằng: “To be or not to be, that is the question” (Có hay là không – đó mới là vấn đề). Nhưng trong giáo lý vô thường, vô ngã, tương duyên và không này thì chúng ta thấy rất rõ rằng có với không không phải là vấn đề – To be or not to be – that is not the question.

QUÁN KHÔNG TRONG NĂM LẠY

Chủ nhật vừa rồi chúng ta học về năm cái lạy. Ở Việt Nam, cúng lễ tổ tiên không phải chỉ mỗi năm một lần. Chúng ta lạy ông bà, cha mẹ trong những đám cưới, đám hỏi, những ngày giỗ, ngày tết. Lễ lạy là để tiếp xúc với gốc rễ của mình. Trong chùa mỗi ngày chúng ta đều lễ. Chúng ta lễ Bụt, lễ các vị tổ sư, lạy thầy, lạy chúng, v.v.

Trong khi thực tập Năm cái lạy, chúng ta cũng phải biết thực tập về Không quán và Không tam muội. Trước khi lạy, ta chắp tay, thực tập hơi thở để quán chiếu về chủ thể của sự lễ lạy là người lễ và đối tượng của lễ tức là người được lạy. Trong các thiền viện Việt Nam, mỗi khi chắp tay chuẩn bị lễ, ta phải quán tưởng như sau:

Năng lễ, sở lễ, tánh không tịch.

Cảm ứng đạo giao nan tư nghì.

dịch:

Trong tự tính chân như

Không chủ thể đối tượng

Đệ tử kính lạy Bụt

Trong giao cảm nhiệm mầu.

Năng lễ, sở lễ, tánh không tịch tức là bản chất của người lễ và bản chất của vị được lễ, cả hai đều không.

Trong khi lễ, chúng ta thực tập quán không. Không ở đây có nghĩa là giữa hai bên, người lạy và người được lạy, có sự tương quan tương duyên. Chủ thể và đối tượng không phải là những gì tồn tại và độc lập ngoài nhau. Khi cúi xuống lễ tổ tiên, ta phải thấy rằng tổ tiên có liên hệ mật thiết với ta. Ta không thấy cái ngã riêng biệt của ta đối lại với cái ngã riêng biệt của tổ tiên. Ta thấy được tính chất vô thường, vô ngã của ta và của tổ tiên, ông bà và cha mẹ. Thấy được tính tương quan, tương duyên và vô ngã giữa ta và ông bà, cha mẹ, thì lễ mới thành công. Quý vị đã từng thực tập và đã thực tập thành công, quý vị đã thấy mình hòa nhập được vào dòng sống tổ tiên, ông bà, cha mẹ và con cháu của mình. Cái ngã của ta mở ra, tan biến. Khi cái ngã của ta và của tổ tiên ta tan biến thì có sự cảm thông mầu nhiệm và năng lượng của tổ tiên mới truyền qua cho mình được. Đó là ý nghĩa của câu thứ hai: Cảm ứng đạo giao nan tư nghì.

Con đường cảm ứng, giao tiếp mầu nhiệm không thể tưởng tượng được, không thể đàm luận và diễn tả được, đó gọi là nan tư nghì. Khi còn bị giam khóa trong bản ngã của mình, ta chỉ thấy mình là mình, cha mẹ là cha mẹ, mỗi người là một hải đảo hay một tháp ngà riêng. Nhưng khi lạy xuống để quán tưởng, ta sẽ thấy được rằng cái ta là do những yếu tố không ta tạo nên. Sự có mặt của ta ở đây cũng là sự có mặt của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và sông núi. Tự nhiên cái ngã tan đi. Trong trạng thái tan biến của cái ngã thì năng lượng của đất nước, của tổ tiên và của ông bà mới truyền sang cho ta được. Đó gọi là cảm ứng đạo giao nan tư nghì.

Có những người thực tập một ngàn tám mươi lễ mỗi ngày. Lễ như vậy được vài ba tuần thì tan hết nỗi khổ, niềm đau, và sự cô đơn của họ. Mỗi khi lạy xuống như thế, cái vỏ bản ngã của họ lại tan rã thêm. Nếu chúng ta lạy như tế sao mà không quán chiếu về tính cách vô thường, vô ngã và tương tức thì sẽ không thành được quả gì hết. Cho nên lạy là một phương pháp thực tập rất hay. Chúng ta hãy quán tưởng chúng ta đang lạy Bụt Thích Ca Mâu Ni là Thầy của chúng ta, là người khai sáng đạo Bụt.

Chúng ta đứng trước Bụt Thích Ca Mâu Ni quán tưởng: Lạy Bụt, Ngài với con, hai bên đều trống rỗng, không bên nào có một thực thể riêng biệt. Chính nhờ như vậy mà Ngài với con mới có sự thông cảm nhiệm mầu. Ít có một tôn giáo nào mà tín đồ hướng về đức giáo chủ để nói một câu nói như vậy. Đối với một số các tôn giáo khác, đó là một thái độ kiêu căng và bất kính rất lớn. Chỉ có trong đạo Bụt, người đệ tử mới có thái độ như vậy, vì “năng lễ và sở lễ tánh không tịch” cho nên “cảm ứng đạo giao nan tư nghì”. Khi lạy xuống, nếu ta chuẩn bị tâm tư kỹ lưỡng chừng nào, thì kết quả càng lớn chừng ấy. Có nhiều bậc cha mẹ thuộc thế hệ mới, thấy mình phải ngồi lên để mấy đứa con lạy xuống thì không chịu được. Sống trong thời đại dân chủ, mỗi người có nhân phẩm, ngồi lên bắt con lạy xuống như vậy thì khó chịu lắm và họ muốn bỏ truyền thống lạy. Trong chùa cũng vậy, có nhiều thầy bây giờ không muốn người ta lạy mình. Một phần các thầy nghĩ mình không có đủ đức độ, để Phật tử lạy thì tổn phước. Như vậy là chưa hiểu được giáo lý của Bụt.

Các vị mới xuất gia thường được thầy bổn sư dạy về việc này. Khi mang hình tướng của người xuất gia, mình có thể trở thành đối tượng cho nhiều người cung kính. Và đó là điểm đáng lo trong đời sống xuất gia. Người ta khởi lòng cung kính Tam bảo, thấy tướng mạo đoan trang của người xuất gia, họ muốn đảnh lễ. Nếu ta không có chánh niệm chỉ trong vòng vài năm, ta có thể bị hư liền. Ta tưởng mình là quan trọng lắm. Người mới tu mà bị Phật tử tới lạy thì cảm thấy rất xốn xang. Biết mình đức độ chưa có bao nhiêu, học hỏi chưa được bao nhiêu, giới luật chưa tinh nghiêm, mà phải ngồi đó để cho người ta lạy thì trong lòng rất khó chịu. Ta có thể hiểu được tâm trạng các bậc làm cha mẹ chưa thương con đúng mức, chưa làm mẫu mực được cho các con, thế mà bị bắt buộc ngồi như hai pho tượng để các con sì sụp lễ. Nhưng chúng ta nên hiểu đây là một sự thực tập rất quan trọng. Cha mẹ là đại diện cho tất cả các thế hệ tổ tiên, ông bà. Những người trẻ họ có nhu yếu hướng về cội nguồn, họ cũng cần một biểu tượng để lạy. Nếu không ngồi cho họ lạy thì có thể họ sẽ quên mất gốc rễ, và không tiếp xúc được với ông bà và tổ tiên của họ. Cho nên dù quý vị là những bậc cha mẹ chưa đến tuổi già, quý vị cũng nên ngồi cho đàng hoàng để cho con cháu lạy. Trong khi ngồi đàng hoàng, quý vị có thể thực tập hơi thở chánh niệm và tưởng nhớ tới tổ tiên, thấy rằng các con mình đang hướng về các thế hệ tổ tiên để nương tựa chứ không phải đang thần tượng hóa mình. Các cháu phải hiểu, lạy đây không phải là lạy cái ngã của cha mẹ. Các cháu đang lạy với lòng biết ơn, bao nhiêu thế hệ tổ tiên trong quá khứ đã mở nước, dựng nước, xây dựng nên nếp sống văn hóa của dân tộc. Người mới xuất gia cũng vậy. Chúng ta mặc áo nhật bình hay đắp chiếc y vàng, tuy tuổi tu còn ít, đức độ còn kém, nhưng khi người ta tới lạy cũng phải ngồi cho thật trang nghiêm. Người ta không lạy cái ngã của mình đâu mà sợ. Người ta đang lạy Tam bảo. Họ lạy dòng sinh mệnh tâm linh, họ lạy Bụt và chư tổ qua con người mình. Cho nên ta phải ngồi cho thật đàng hoàng, phải tập thở cho chánh niệm. Phải quán chiếu rằng họ lạy đây không phải là lạy mình, lạy cái ta của mình, mà họ đang lạy truyền thống tâm linh của họ. Thấy được như thế thì ta có thể ngồi rất an nhiên và tự tại. Cái lạy đó sẽ không bao giờ làm cho ta trở thành kiêu căng. Còn nếu ta không quán chiếu “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch” thì người ta chỉ cần lạy chừng ba lạy là mình mất hết công đức từ lúc mới tu cho đến lúc này. Không những mất hết công đức mới mà còn mất hết cả vốn cũ nữa!

Đó là bí quyết tôi thường truyền trao lại cho những người mới tu. Dù mới tu có hai, ba ngày nhưng nếu có hai, ba trăm người tới đảnh lễ, ta cũng phải ngồi rất yên, rất trang nghiêm cho họ lạy. Trong khi người lễ lạy, ta phải quán chiếu vô ngã, duyên sinh và vô thường. Được trao truyền bí quyết đó rồi thì ta có thể cứu được đời tu của ta. Những điều đơn giản và căn bản như vậy mà ta không được tiếp nhận, thì ta rất dễ đánh mất giới thân huệ mạng. Mỗi khi bị người ta lạy, tôi không sợ hãi chút nào cả. Tôi ngồi đó. Tôi thấy những cái lạy của người ta không động gì tới tôi, không làm cho tôi có thêm một chút tự hào nào hết. Có khi ngồi trên pháp tọa để truyền giới, năm trăm, bảy trăm người, cả ngàn người lễ xuống để nhận giới, tôi thấy được tâm trạng thiết tha thành khẩn của những người thọ giới. Họ đang hướng về Tam bảo, hướng về mấy ngàn năm lịch sử để tiếp nhận chất liệu tâm linh. Tôi ngồi đó để làm gạch nối giữa tổ tiên tâm linh và những người thọ giới. Cái lạy của họ không làm tôi khởi lên một tâm niệm ngã mạn, tự hào, tự phụ, nhờ vậy tôi không bị sập vào bẫy cống cao. Tôi thoát được cái bẫy sập là nhờ thực tập không quán, và vô ngã quán.

QUÁN KHÔNG TRONG KHI ĂN

Vậy trong khi lạy ta thực tập không quán, “không” như một cánh cửa giải thoát. Khi ăn cơm ta cũng thực tập không giải thoát môn. Tiếp xúc với tăng thân, ta thấy tăng thân là mình, mình là tăng thân. Với thức ăn ta cũng quán như vậy, ta là thức ăn, thức ăn là ta. Ôm bình bát, lấy thức ăn, nào đậu que, nào cơm chiên, bỏ vào bình bát, trong lúc đó ta làm gì? Nếu sư chú không quán nhân duyên, không quán không, thì sư chú làm gì trong những lúc đó? Chính lúc đó là lúc ta thực tập. Xúc mấy thìa cơm bỏ vào bình bát, ta phải thấy cơm, phải thấy tính cách duyên sinh của cơm, phải thấy tính cách vô thường, vô ngã của cơm. Phải thấy cơm là chất liệu nuôi dưỡng mình, và chính mình được làm bằng cơm. Bài pháp thoại tôi đang nói cho quý vị nghe đây cũng được làm bằng cơm, khoai tây… Nếu biết cách, ta có thể biến khoai tây thành pháp thoại. Nhưng khoai tây cũng có thể làm ra chất độc. Khi miệng ta phun ra những sân si và buồn giận, thì khoai tây biến thành sân si và buồn giận.

Ta chỉ cần thực tập một phép quán thôi, vì thực tập một là thực tập tất cả. Phải thực tập tính cách “không” của mình với thức ăn. “Năng ăn, sở ăn, tánh không tịch”, nghĩa là người ăn và thức ăn cả hai tính chất đều không tịch. Vì vậy sự giao cảm giữa ta và thức ăn không thể nghĩ bàn được.

Ôm bình bát đi vào thiền đường ta nghĩ gì? Ta thực tập thiền hành, đi từng bước chân thảnh thơi. Mỗi bước chân có liên hệ đến sự an lạc của cả thế giới. Nếu trong khi ôm bình bát bước đi mà tâm ta không có chánh niệm, bước chân ta không thảnh thơi, thì đi như vậy uổng quá. Vì đó là cơ hội ta dâng hiến chất liệu an lạc, hạnh phúc và hòa bình cho bản thân và cho thế giới. Nếu trong ta có hòa bình và an lạc thì ta mới có thể đóng góp vào hòa bình và an lạc của thế giới. Peace always begins with me (Bình an luôn luôn bắt đầu từ chính mình) là như vậy. I walk for you, mỗi bước chân ta đi, ta bước cho tất cả mọi người. Bước chân vững chãi, an lạc thì cả thế giới được hưởng.

Vào tới thiền đường, đặt bình bát, ngồi xuống, lúc đó các bạn tu cũng đang thực tập lấy cơm, bước từng bước vào thiền đường. Đã ngồi xuống rồi, chúng ta làm gì? Không lẽ chỉ ngồi chờ hay sao? Có thể mười lăm phút sau, có khi nửa giờ sau người cuối cùng trong đại chúng mới lấy cơm xong. Trong mười lăm phút hay nửa giờ đó, nếu ta nghĩ ngợi quẩn quanh, nhớ tiếc quá khứ, lo lắng tương lai thì ta không xứng đáng ngồi trong thiền đường. Thời giờ ngồi chờ đợi đó là thời giờ thực tập. Trong thời gian này, ta thực tập tiếp xúc với tăng thân, tiếp xúc với giây phút hiện tại. Ta không nhất thiết phải nhắm mắt lại, ta có thể mở mắt và tiếp xúc với một sư anh hay một sư chị đang đi vào, theo dõi từng bước chân của người đó, ta có thể mỉm cười với bông hoa, với người bạn tu của mình, miễn là ta an trú được trong hiện tại. Đó là những lúc ta có thể thực tập vô thường quán, vô ngã quán, không quán và nhân duyên quán. Thực tập những điều đó, ta có được không tam muội. Ta biết an vui hay khổ đau của mình có liên hệ tới tất cả, vì vậy ta biết nhìn tất cả bằng con mắt thương. Những lúc đó là những lúc ta đang nuôi dưỡng hiểu biết và từ bi. Mười lăm phút hay nửa giờ đó ta không bỏ phí. Ngoài đời người ta phải nối đuôi sắp hàng để đợi vào rạp hát hay đợi mua thức ăn. Trong những lúc đó họ có thể bồn chồn, nóng nảy. Nhưng trong các thiền viện, những lúc như vậy là những lúc ta thực tập. Chúng ta thực tập cho không tam muội có mặt trong ta. Không ở đây là vô thường, vô ngã, vượt ra khỏi ý niệm có và không. Khi đã tiếp xúc được với cái không rồi thì những hiện tượng như đến, đi, sống, chết, có, không, v.v. không còn động tới mình nữa. Giải thoát của ta tuỳ thuộc theo sự hành trì mỗi ngày của ta.

Một ngày nào đó, một người thân của chúng ta sẽ qua đời, một người thương của chúng ta sẽ bỏ chúng ta đi, hay chính bản thân ta sẽ bệnh, sẽ chết. Những chuyện đó sẽ xảy ra, thế nào cũng phải xảy ra. Nếu chúng ta không thực tập bây giờ thì làm sao ngày ấy ta có thể sẵn sàng tiếp nhận những gì xảy ra với tâm trạng bình thản được? Tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng nếu chúng ta đạt tới tuệ giác về không thì chúng ta sẽ thảnh thơi, không bị cái có-không, cái sinh-tử bức ép chúng ta, chúng ta đã đi vào được thế giới của giải thoát nhờ cánh cửa Không quán, Không tam muội. Vậy trong mười lăm phút hay nửa giờ ngồi trước bình bát, chúng ta nên thực tập không khác gì khi ta ngồi thiền. Ngồi thiền ta cũng chỉ làm như vậy. Ngồi an trú trong hiện tại, tạo ra an lạc và hạnh phúc ngay trong giờ phút này.

QUÁN VÔ TƯỚNG

Tam muội thứ hai là Vô tướng. Cũng như Không tam muội, Vô tướng tam muội cũng được tạo tác bằng tuệ giác về vô thường và vô ngã. Tướng là tướng trạng, tướng mạo (appearance) của sự vật. Tướng là đối tượng của tri giác. Đối tượng là tướng, mà chủ thể là tưởng. Tướng và tưởng không thể rời nhau mà có. Không có đối tượng tồn tại biệt lập ngoài tưởng, tức là ngoài tri giác của chúng ta. Trong kinh Kim cương có câu: Ở đâu có tướng thì nơi đó có sự lừa gạt. Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Chúng ta bị cái hư vọng đánh lừa. Câu tiếp theo: Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai. Nếu thấy được cái phi tướng ở nơi cái tướng tức là thấy được thực tại mầu nhiệm, thấy được Như Lai.

Thực hiện điều này cũng không khó lắm nếu ta biết sử dụng những chiếc chìa khóa vô thường và vô ngã. Hãy quán chiếu về vô thường, vô ngã, ta sẽ thấy được tính chất vô tướng của các tướng. Chúng ta thử quán chiếu về một bông hoa. Chúng ta có tri giác (tưởng) về bông hoa, nên chúng ta thấy được tướng của bông hoa. Tôi từng nói rằng hoa được làm bằng những yếu tố không phải là hoa. Sở dĩ ta bị kẹt vào tướng hoa vì nghĩ rằng tướng hoa tách rời khỏi những tướng khác. Ta tưởng rằng hoa chỉ là hoa thôi, hoa đâu có thể là những cái không phải là hoa được. Mặt trời là khác, đám mây là khác, phân rác là khác, đại địa là khác. Nhưng nhìn cho kỹ thì ta thấy rằng hoa là mặt trời, hoa là đám mây, hoa là đại địa. Nhìn vào mặt trời, nhìn vào phân rác, nhìn vào đại địa, ta cũng có thể thấy hoa. Đó là thấy cái phi tướng của tướng. Người làm vườn nhìn vào đống rác mà thấy được hoa, đó là thấy được cái phi tướng của tướng. Người làm vườn theo phương pháp hữu cơ là người có thể thấy được tính vô ngã của phân rác và hoa trái. Nhìn vào trong phân rác họ thấy hoa trái, nhìn vào hoa trái họ thấy phân rác. Nếu áp dụng được cách nhìn đó trong mọi lĩnh vực khác của tri giác thì ta sẽ chứng ngộ.

Người làm chính trị cũng có thể thực tập như vậy. Người làm kinh tế cũng có thể thực tập như vậy. Nếu những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà giáo dục thực tập lối nhìn vô tướng, thì thế giới của chúng ta sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn. Ví dụ một số người trẻ vào tù vì tội ăn cướp hoặc giết người. Khi bắt những người ấy giam lại, ta nên quán chiếu về vô tướng và vô ngã. Chúng ta đã tổ chức cuộc sống trong xã hội như thế nào cho nên hoàn cảnh mới sinh ra những lớp trẻ như vậy? Bây giờ chỉ biết giam giữ họ trong tù hay đem giết họ đi, ta đâu có giải quyết được vấn đề! Nếu cách thức tổ chức sinh hoạt xã hội của ta cứ tiếp tục theo cách này thì chúng ta sẽ tiếp tục tạo ra hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn người trẻ như vậy, để bỏ vào tù.

Khi vị quan tòa, nhà chính trị hay nhà giáo dục nhìn vào một người trẻ phạm tội, họ phải có được cái thấy tương tức, cái thấy vô ngã, cái thấy không, để hiểu rằng sở dĩ cái này như thế này là tại vì cái kia như thế kia. Nếu đời sống thành phố quá nhiều bạo động, quá nhiều tội ác, quá nhiều những cô gái ăn sương, thì các nhà giáo dục, và chính trị phải quán chiếu vô thường, vô ngã, vô tướng, và tương tức, để thấy rõ tại sao tình trạng đã đi tới như vậy. Chúng ta có nên chỉ đổ tội cho những người trẻ đó hay không, hay phải thấy trách nhiệm của chúng ta trong học đường, trong gia đình và trong xã hội? Những điều ta nói, những việc ta làm, cách ta tiếp xử trong đời sống gia đình, trong phạm vi học đường và xã hội đã đóng góp những gì để tạo ra những người trẻ như vậy? Có những bạn trẻ mới mười tám tuổi đã tự tử vì thấy sống không có ý nghĩa, không có niềm vui, không có lý tưởng nữa. Xã hội chúng ta có rất nhiều những người trẻ như vậy. Đi vào con đường ma túy, ăn cướp, băng đảng cũng là một loại tự tử.

Khi một thương gia để hết thời giờ ra làm giàu, ông ta phải quán chiếu các hậu quả của thái độ ấy trên đời sống gia đình, trên vợ con mình và trên xã hội. Việc kinh doanh của mình có thể làm đổ vỡ gia đình, tàn phá xã hội và thiên nhiên. Một nhà chuyên môn làm quảng cáo phải quán chiếu những phim ảnh và bài quảng cáo của mình. Họ thường khai thác những thị dục và các mối sợ hãi tiềm ẩn trong tâm lý của công chúng. Có người làm trong ngành quảng cáo đã thú thật rằng công việc của họ không đúng với những chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ của họ. Nếu họ muốn trung thực với chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ thì họ sẽ mất việc làm. Ông ta nói: “Bạch thầy, nếu mà con nói đủ những cái tốt và cả những khía cạnh tiêu cực của sản phẩm này thì không ai mua hết. Con sẽ mất sở và hãng của con cũng sẽ vỡ nợ.” Cho nên trong sinh hoạt xã hội, ngôn từ và hành động của chúng ta nếu không căn cứ trên nguyên tắc tương tức, tương nhập, vô thường, vô ngã, không và vô tướng thì chúng ta sẽ tạo rất nhiều tội ác.

ÁP DỤNG QUÁN VÔ TƯỚNG TRONG CUỘC SỐNG

Trẻ em trong xã hội ta phải đi học mười mấy năm mới ra trường. Chúng học đủ thứ ở trong trường. Nhưng có thể sau mươi, mười lăm năm, ra trường rồi các em vẫn chưa biết cách sống. Nhờ đâu mà mọi người biết đọc và biết viết? Vì mọi người đều đã đến trường để học đọc và học viết. Tại sao chúng ta không biết đối trị với cơn giận và hòa giải với những người chúng ta thương yêu? Vì chúng ta chưa bao giờ được học những nghệ thuật đó trong một trường nào cả. Tại trường, vì chúng ta không được học những nghệ thuật đó, nên chúng ta không biết thở, không biết cười, không biết hóa giải nội kết, không biết chuyển hóa cơn giận. Vì vậy ta phải tìm cách đưa những thực tập này vào dạy trong các trường mẫu giáo, các trường tiểu học và trung học. Mục đích của học đường bây giờ chỉ là để cung cấp cho ta một số kiến thức và kỹ thuật để có thể sinh nhai. Trường học không dạy cho chúng ta nghệ thuật tạo hạnh phúc cho mình, cho những người mình thương, và cho xã hội. Cho nên chúng ta cần vận động và khuyến khích cách mạng nền giáo dục quốc gia. Làm thế nào từ những năm mẫu giáo, các cháu đã có thể học đi, học cười, học nói, học làm cho mình và mọi người hạnh phúc. Học chữ, học toán cũng khó lắm chứ, vậy mà các em cũng học được. Học thở, học cười, học chuyển hóa cơn giận cũng khó. Nhưng chúng ta cũng làm được. Các em đang còn nhỏ như măng non, thế nào cũng uốn nắn và tập dượt được. Khi một em bé nổi giận, sắp gây gổ, chửi bới và đánh lộn, em bé đó không tự biết phải làm gì để có thể thoát ra khỏi cơn giận dữ. Điều đó cô giáo phải dạy, thầy giáo phải dạy để mỗi khi sắp có xích mích giữa hai em thì các em biết phải làm thế nào. Phải dạy cho tới nơi tới chốn. Đến khi em ấy lớn lên, mười lăm, hai mươi tuổi, em biết được nghệ thuật sống với gia đình, sống với người khác, và sống trong xã hội.

Trước đây vài năm tôi có đề nghị lập ra một học viện cho những người đến tuổi thành lập gia đình, để cho những người này có cơ hội học những nghệ thuật sống chung. Hai người trẻ lấy nhau, thành vợ chồng rồi, nhưng có thể vẫn còn vụng về, gây ra nội kết cho nhau, tưới tẩm những hạt giống giận hờn, và mặc cảm trong nhau. Nếu không có vốn liếng gì về nghệ thuật tu tập và sống chung thì họ sẽ mang lại khổ đau cho nhau. Đến khi sinh con, họ cũng sẽ gieo vào các con rất nhiều hạt giống của khổ đau. Khi sinh ra đời, ta mang đủ những hạt giống khổ đau và hạnh phúc. Nếu may mắn thì những hạt giống tốt được tưới tẩm, còn nếu không may thì chính gia đình, xã hội, học đường sẽ chỉ tưới tẩm những hạt giống khổ đau, thất vọng, buồn khổ và giận hờn trong ta mà thôi. Đến khi lập gia đình, vì không biết phương pháp nên ta lại tưới tẩm những hạt giống xấu của nhau. Sinh con ra, ta cũng sẽ gieo hạt giống xấu cho con, và góp phần làm lớn thêm nỗi khổ đau chung của xã hội. Có khi con thù ghét chính cha mẹ, rồi thù ghét mọi người. Và khi đến lượt được dựng vợ gả chồng thì họ cũng làm khổ lẫn nhau. Cái vòng luân hồi tiếp tục lẩn quẩn như vậy. Cho nên lập ra một học viện như thế là rất cần thiết. Các bạn trẻ nên vào học một hoặc hai năm và thực tập trong một tăng thân, để có một ít bản lãnh, vốn liếng thành lập gia đình, sinh con và nuôi dạy con cái.

Nếu không có tuệ giác về vô ngã, về vô tướng, và về không, thì trong lúc đau khổ ta sẽ chỉ biết trách cứ người này, người khác. Hay ta có thể phạm tội giết người. Sở dĩ người ta giết người vì họ nghĩ rằng người ấy là nguồn gốc nỗi khổ đau của họ. Có khi ta tự giết mình vì ta không có khả năng đối diện với quá nhiều khổ đau. Ta không biết rằng trong ta có người, trong người có ta, không thể chỉ có một nguyên cớ duy nhất tạo nên đau khổ của mình. Danh từ vô tướng, lúc mới nghe ta thấy giống như là một triết lý: Nếu thấy được tính cách không tướng trong các tướng là thấy được thực tại mầu nhiệm. Như là đang nói chuyện trên mây, nhưng quả thật rất thực tế và thiết yếu cho đời sống. Nhìn sâu vào đứa con, ta thấy các yếu tố xã hội, văn hóa, giáo dục, tổ tiên, và đất nước đã làm nên đứa con ấy. Cái thấy đó là cái thấy vô ngã, cái thấy vô tướng, khiến ta phát khởi lòng thương. Ta biết rằng nếu thấy được gốc rễ của khổ đau, thấy được những điều kiện nào đưa con mình tới tình trạng bất như ý như thế, thì ta mới biết hiểu, biết thương, biết cách chuyển hóa, và đứa con sẽ có hy vọng chuyển hóa.

Vậy vô tướng ở đây có nghĩa là phá tướng, là vượt ra khỏi cái tướng. Nhìn vào đứa con ta thấy cả xã hội, cả văn hóa, cả nền giáo dục, đó là cái nhìn vô tướng. Vô tướng có nghĩa là vô ngã và cũng hàm nghĩa vô thường. Có cái nhìn vô tướng rồi ta không còn trách móc, lo lắng và sợ hãi nữa. Ví dụ ta nói về ông bà, và tổ tiên. Nếu bị kẹt vào ngã và tướng, ta sẽ nghĩ là ông bà, và tổ tiên không còn nữa. Nhưng quán chiếu vào tự thân qua cánh cửa vô thường, vô ngã và vô tướng, ta thấy tất cả các thế hệ ông bà, và tổ tiên đang có mặt trong con người ta. Ta vẫn tưởng là Bụt và các vị Bồ tát không còn nữa. Nhưng đã được trao truyền giáo lý vô tướng mầu nhiệm, ta thấy trong ta có Bụt, có Pháp, có Tăng. Nhờ đó ta thấy được tính không sinh không diệt của Bụt, của Pháp và của Tăng. Mỗi giây phút ta có thể tiếp xúc với Bụt, Pháp và Tăng. Đó là vô tướng. Nói rằng mình vô phước, sinh ra đời thì Bụt đã nhập diệt trên 2500 năm rồi, nghĩ như vậy là suy nghĩ theo lối hữu tướng. Bụt không bị giam khóa trong hình hài của một con người sinh ra ở Ca Tỳ La Vệ cách đây 2600 năm. Bông hoa cũng vậy. Bông hoa không thể bị giam khóa vào trong cái tướng trạng ta đang nhìn thấy đây. Vì vậy, ta phải thấy được bông hoa ngoài cái tướng của bông hoa.

Mười mấy năm trước, ba của bé Phòng đã tới Làng Mai làm lễ cầu siêu cho bé. Trong bài thuyết pháp hôm ấy tôi đã nói tới vô tướng. Sau đó, tôi cùng ba của bé Phòng thiền hành một vòng trên xóm Thượng. Tôi đã dặn: “Bây giờ thầy trò mình thiền hành như thế nào để có thể thấy được bé Phòng ngoài cái tướng của bé Phòng mà trước giờ mình vẫn thấy. Đi như thế nào để có thể thấy được bé Phòng trong mỗi lá cây, mỗi ngọn cỏ, mỗi bông hoa nhỏ, và mỗi hơi thở của mình.”

Đời Lý có một vị thượng thư tên là Đoàn Văn Khâm. Sư phụ ông viên tịch, các đệ tử than khóc rất nhiều. Ông đã làm một bài thơ phúng điếu thầy, trong đó có hai câu:

Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt,

Viện tiền sơn thủy thị chân hình.

dịch:

Các bạn đừng nên thương cảm quá

Núi sông trước viện chính là thầy.

Đạo lữ tức là các bạn tu của tôi ơi. Bất tu thương vĩnh biệt: không nên đau thương quá về sự vĩnh biệt. Thầy tịch rồi nhưng đừng có đau thương, đừng khóc lóc quá, đừng bị kẹt trong tướng trạng của thầy. Phải thấy thầy trong tính vô tướng của thầy. Viện tiền sơn thủy thị chân hình: những hình dáng núi sông mà chúng ta thấy ở trước thiền viện, đó mới là chân hình của thầy. Các bạn hãy lau nước mắt đi, hãy nhìn núi, nhìn sông ở trước thiền viện. Hãy mỉm cười. Thầy chúng ta đang còn đó. Chân lý về vô tướng, và tuệ giác về vô tướng giúp ta thoát khỏi những ý niệm có, không, sinh, diệt, còn, mất, giúp ta giải thoát được những sầu đau, thất vọng. Vì vậy vô tướng là một trong ba cánh cửa giải thoát.

Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Cái gì có tướng, đều là sự đánh lừa. Còn kẹt vào tướng, ta còn khổ dài dài. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai. Nếu thấy được cái phi tướng ở nơi tướng tức là thấy được Như Lai. Đó là tinh túy của kinh Kim cương.

Hôm nay, chúng ta chưa có đủ thì giờ để nói về vô tác. Chúng ta biết rằng nói về Tam giải thoát môn, các vị tổ sư của chúng ta có lòng từ bi rất lớn. Sau khi nói tới Không tam muội sợ người mới học bị kẹt vướng vào ý niệm không. Các vị dạy thêm rằng sau khi đã học Không tam muội rồi, phải học Không không tam muội. Sau khi học Vô tướng tam muội, ta cũng hay nghĩ rằng cái tướng này không có, cái đó cũng sai. Chân tướng của tướng không phải có mà cũng không phải không. Sau khi đã nghe về Vô tướng tam muội thì phải biết thêm về Vô tướng vô tướng tam muội. Cửa giải thoát thứ ba là Vô tác tam muội cũng vậy, phải được bổ túc bằng Vô tác vô tác tam muội. Tất cả gọi chung là Tam trùng tam muội.

Như ta đã biết, Tam giải thoát môn được khai triển và chú trọng rất nhiều trong đạo Bụt Bắc tông. Giáo lý không, vô tướng và vô tác có mặt trong kinh điển Pāḷi, nhưng trong truyền thống Nam tông, giáo lý này không được khai triển đầy đủ.

Nếu chúng ta không tu tập theo ba cánh cửa giải thoát, ba thứ định không, vô tướng và vô tác, thì chúng ta không thể dễ dàng phá tung những chướng ngại và cố chấp để đi vào thế giới của giải thoát, của tự do.

Bài 18 Chuyển hóa tập khí

Hôm nay là ngày 23 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Hạ và học tiếp về Bát chánh đạo.

TA ĐANG LÀM GÌ ĐÂY?

Hôm trước tôi có trao cho quý vị một bài tập để quán chiếu và trình bày. Hôm nay chúng ta có một bài khác cần được thực tập với nhau trong tăng thân, trong một tuần lễ. Trong suốt tuần lễ chúng ta phải dùng một thiền ngữ đơn giản để thực tập niệm và định. Thiền ngữ đó là “Ta đang làm gì đây?” (What am I doing here? What am I doing now?)

Đây là thiền ngữ ta phải dùng để tự hỏi mình trong mỗi giây phút. Khi đang đi từ phòng ăn ra vườn mận, hoặc đi từ phòng riêng lên thiền đường, ta tự hỏi: “Ta đang làm gì?” hoặc là “Ta đang đi đâu?”. Chúng ta tổ chức thực tập cách nào để tăng thân cùng được thực tập chung thì hiệu quả mới cao. Nếu tăng thân quanh ta biết ta đang thực tập, và tăng thân cũng biết ta đang trông đợi họ thực tập, thì sức mạnh của sự thực tập mới lớn. Đang rửa chén, đang cưa gỗ, đang quét nhà, đang cắm hoa, v.v. đó là những lúc ta tự hỏi: “Ta đang làm gì?”. Câu hỏi này là một phép lạ, giúp nâng cao phẩm chất của sự thực tập. Ai cũng biết rằng rửa bát là để có bát sạch ăn cơm. Ngoài đời, rửa bát chỉ là để có bát sạch. Nhưng trong thiền viện, ta có phương pháp rửa bát của thiền viện.

Kinh có một đoạn kể lại câu chuyện của một triết gia tới thăm Bụt, và triết gia đó nêu những câu hỏi có tính cách trí thức. Cuối cùng, ông hỏi: “Tại đây quý vị tu hành theo phương pháp nào?” Rồi lại muốn cho cụ thể hơn, ông hỏi: “Nói một cách khác, mỗi ngày quý vị làm những gì?” Bụt cười và bảo: “Chúng tôi đi, đứng, nằm, ngồi, giặt áo, rửa bát, quét sân. Chúng tôi làm những việc như vậy.” Triết gia đó nói: “Như vậy thì đâu có khác gì chúng tôi ở ngoài đời. Ngoài đời chúng tôi cũng đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, quét sân, giặt áo, rửa bát…” Bụt nói: “Khác lắm chứ! Vì khi chúng tôi đi, chúng tôi biết là chúng tôi đi. Khi chúng tôi đứng, chúng tôi biết là chúng tôi đứng. Khi chúng tôi ngồi xuống, chúng tôi biết là chúng tôi ngồi xuống. Khi chúng tôi nằm xuống, chúng tôi biết là chúng tôi nằm xuống. Khi chúng tôi rửa bát, chúng tôi biết rằng chúng tôi rửa bát. Khi chúng tôi giặt áo, chúng tôi biết là chúng tôi đang giặt áo.” Lời Bụt nói có nghĩa là: chúng tôi thực tập chánh niệm trong mỗi giây phút của đời sống chúng tôi. Đó là một đoạn kinh rất đơn giản, nhưng trong đó ta thấy rất rõ ràng sự khác biệt giữa cuộc sống thiền viện và cuộc sống ở ngoài.

Trong cuộc sống ngoài đời, người ta làm việc gì cũng nhằm một mục đích. Rửa bát là để có bát sạch, đi chợ là để mua thức ăn, giặt áo là để có áo sạch. Trong thiền viện, giặt áo, đi chợ, nấu ăn còn có mục đích để chuyển hóa thân tâm, đạt tới an lạc. Các mục đích này có thể được thực hiện ngay trong giờ phút thực tập, làm cho người hành giả có hạnh phúc ngay trong khi thực tập. Và năng lượng có khả năng chuyển hóa và đưa tới an lạc ấy là chánh niệm.

Vậy thì trong khi rửa bát hoặc quét nhà, ta có thể tự hỏi: “Ta đang làm gì đây?” Nếu trong khi quét nhà, lòng chỉ muốn quét cho mau xong, đã không có an lạc mà còn có bực bội, thì ta sẽ bực bội suốt đời. Phải quét nhà như thế nào để trong khi quét nhà ta có an lạc. Tự hỏi: “Mình đang làm gì vậy?” thì tự nhiên những hấp tấp, vội vàng và ý muốn làm cho mau xong sẽ biến mất. Ta mỉm cười và tự nhủ: “Quét nhà là công việc quan trọng nhất trong giờ phút này.” Điều này ta đã được học ngay từ đầu. Vấn đề là chúng ta có thực tập hay không, và có giúp được tăng thân của ta thực tập được hay không? Cách giúp hay nhất là chính ta thực tập và mọi người khi nhìn vào sẽ thấy ta đang thực tập.

Câu hỏi đó có thể đặt dưới một hình thức khác: “Ta làm cái này để làm gì vậy?” (What am I doing this for?) Phải có sáng kiến đặt các câu hỏi tương tự để hàng ngày ta có thể thực tập được. Trước cửa ra vào chúng ta có thể treo một tấm bảng. Ai bước ra thì đọc câu: “Anh đi đâu vậy?” và tự mỉm cười. Lúc chưa thấy tấm bảng, có thể ta đi như bị ma đuổi; khi đọc tấm bảng đó thì ma biến mất, ta khôi phục được chủ quyền, ta tự nhiên thảnh thơi trở lại. Tấm bảng đó là một tiếng chuông cảnh tỉnh giúp ta dừng lại. Phải đặt những bài hát, những câu thiền ngữ để giúp mình và mọi người trở về an trú trong giây phút hiện tại, để thắp sáng chánh niệm. Tu tập là trở về, trở về với nguyên quán của mình. Ta dùng bài Quay về nương tựa:

Quay về nương tựa,

hải đảo tự thân.

Chánh niệm là Bụt

soi sáng xa gần.

Hơi thở là Pháp

bảo hộ thân tâm.

Năm uẩn là Tăng

phối hợp tinh cần.

Thở vào, thở ra

là hoa tươi mát

là núi vững vàng

nước tĩnh lặng chiếu

không gian thênh thang.

Hoặc thực tập bài Đã về đã tới:

Đã về đã tới

bây giờ ở đây,

vững chãi thảnh thơi

quay về nương tựa.

Quay về nương tựa là thực tập quy y. Quay về nương tựa, hải đảo tự thân, chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần, đó là quy y Bụt. Rồi đến quy y Pháp, và quy y Tăng. Đó là những bài thực tập có thể làm giàu chánh niệm; ta phải nắm cho vững. Đừng đợi về tới thành phố rồi mới thực tập. Tập ở Làng Mai cho thành thói quen rồi thì về thành phố ta mới tiếp tục được. Nếu quý vị nghĩ bây giờ mình chỉ cần học lý thuyết thôi, để về nhà mình sẽ làm, như vậy bảo đảm ta thất bại một trăm phần trăm. Phải bắt đầu thực tập ngay, cho đến khi sự thực tập trở thành một thói quen.

CHUYỂN HÓA TẬP KHÍ

Dân ta vốn con nhà nghèo “hay lam hay làm”, hở tay ra là phải làm, không bao giờ cho tay được nghỉ. Đó là một tập khí mà những hạt giống được truyền từ nhiều thế hệ cho đến chúng ta. Nhưng chúng ta đã biết rằng muốn an trú được trong hiện tại thì mỗi bước chân đều phải thảnh thơi, tập khí “làm không hở tay” trở thành một chướng ngại. Vì vậy ta phải thực tập thế nào để khi ta làm cũng như khi ta không làm gì thì sự sống vẫn có mặt. Muốn chuyển hóa một tập khí, ta cần trải qua công phu tu luyện. Tăng thân là một dung dịch trong đó ta ngâm mình vào để cho tập khí tan rã. Trong tăng thân có những người đi đứng thảnh thơi, có khả năng an trú trong hiện tại. Họ nhìn, họ nghe, họ nói, họ cười, họ thực tập an trú trong hiện tại. Khi đặt mình trong một tăng thân như vậy thì dần dần ta thấy thấm và tập khí của ta sẽ rã ra. Cho nên những người mới tu luôn luôn phải sống trong Tăng thân, phải nương vào Tăng thân. Ăn cơm ta nên ăn cùng với tăng thân, không nên ăn riêng một mình. Đi thiền cũng nên đi chung với đại chúng, đại chúng đi bên phải mình cũng nên đi bên phải, không nên rẽ tách sang trái đi một mình.

Có những khóa tu kéo dài chỉ có bốn ngày, nhưng trong bốn ngày đó có thể xảy ra những phép lạ. Ngày thứ nhất vào dự khóa tu có người cảm thấy rất miễn cưỡng và có cảm giác chật chội. Đi, đứng, nằm, ngồi bị bắt ép phải theo một khuôn khổ, người ta cảm thấy bứt rứt. Nhưng nghĩ nếu bỏ về thì uổng công đi, uổng cả tiền bạc; vì tiếc rẻ cho nên họ ráng ở tới ngày thứ hai. Ngày thứ hai họ cảm thấy bớt khó chịu, tuy chưa thoải mái lắm nhưng mà tạm sống được. Người khác làm được tại sao mình làm không được? Ngày thứ ba thì thấy hay hay. Đi chậm lại cũng thấy thoải mái. Ăn cơm im lặng, ban đầu tưởng như là ngộp thở nhưng bây giờ mình bắt đầu thích. Những tập khí cũ bắt đầu rã ra. Tới ngày thứ tư họ bắt đầu ưa thích, nhưng khóa tu lại gần chấm dứt rồi. Cuối ngày thứ tư họ hỏi: “Bao giờ có khóa tu mới?” Đó là trường hợp của những người thành công. Trong bốn ngày họ đã nếm được mùi vị của sự chuyển hóa, nếm được niềm tịnh lạc của sự thực tập an trú. Những người này sau khi trở về thành phố có thể kéo dài tình trạng thảnh thơi đó ba bốn tuần, hay năm bảy tuần. Nếu có một số bạn đồng tu mỗi tuần họp nhau lại để nuôi dưỡng tiếp thì việc tu tập có thể kéo dài vài ba tháng. Nếu không thì sau vài ba tuần họ sẽ bị hoàn cảnh lôi kéo và đánh mất nếp sống tu tập. Tu tập vững ở trong Tăng thân rồi mà trở về nhà vẫn còn rất dễ bị đánh mất sự thực tập. Không thể nói rằng ở Làng ta chỉ cần học lý thuyết, về nhà sẽ thực tập cũng không muộn.

Chúng ta biết là mình bị tập khí tham công tiếc việc sai sử đến nỗi lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tương lai và sẵn sàng hy sinh giờ phút hiện tại. Ta biết rằng như vậy là ta đang đánh mất sự sống của mình. Bụt dạy phải sống sâu sắc giây phút hiện tại. Chăm sóc giờ phút hiện tại với hết tâm tư mình, tức là đã làm hết sức mình để lo lắng cho tương lai.

Mỗi người đi vào thiền viện với nguyên vẹn khối tập khí của mình. Làm sao tôi bỏ lại tập khí ở nhà, tôi phải đem theo. Có những tập khí trong hai mươi, ba mươi năm, nhưng cũng có những tập khí cả ngàn năm, do ông bà tổ tiên trao truyền lại. Khi vào thiền viện, ta áp dụng ngay những phương pháp mà thiền viện chế tác: khi đi thì biết là mình đang đi, khi đứng thì biết mình đang đứng, khi ngồi thì biết mình đang ngồi, khi rửa chén thì biết mình đang rửa chén. Ta tập mỉm cười với ta và tự hỏi ta: “Ta đang làm gì? Ta đang làm cái này với mục đích gì?”

Rửa bát trong chánh niệm là đang tiếp xúc với sự sống nhiệm mầu. Tôi đang là người thức tỉnh. Tôi đang an trú trong hào quang của Bụt. Và tôi đang giải phóng tôi khỏi những sợi dây ràng buộc lôi kéo. Con ma quá khứ, con ma tương lai, con ma giận hờn, con ma lo lắng không nắm đầu tôi được. Tôi là một con người tự do. Như vậy phẩm chất của sự sống trong giờ phút rửa bát trở thành rất cao. Phẩm chất cao hay thấp, có hay không, là do ta có thực tập hay không.

Hai ngày qua tôi đã chép tên, họ và pháp danh vào điệp hộ giới của một số Phật tử đã quy y tại Bắc Mỹ. Có hàng trăm pháp danh phải ghi chép, rồi lại phải đóng dấu hàng trăm lần. Sau đó tôi biên địa chỉ trên bì thư để gửi cho từng người, rồi dán tem. Có hàng trăm điệp hộ giới để làm, nhưng ta phải làm như thế nào để công việc trở thành một sự thực tập, chứ không phải là một việc cần làm cho mau xong. Khi cầm bút viết xuống một tên hay một địa chỉ, ta có thể thực tập mỉm cười, có thể thực tập tiếp xúc với một người. Người đó, ta biết rằng trong vòng ba ngày hay năm ngày sẽ nhận được điệp hộ giới. Người đó sẽ mở ra, sẽ mỉm cười, sẽ thấy tên mình, sẽ nhớ lại ngày thọ giới của mình, sẽ thấy lại địa điểm nơi thọ giới của mình, và sẽ đọc pháp danh của mình. Người đó biết, hay có thể không biết, rằng pháp danh này do chính thầy mình viết lên trên điệp hộ giới của mình. Nhưng trong lúc viết, tôi biết là chính tôi đang viết pháp danh người đó vào điệp hộ giới, với tất cả lòng thương yêu, với tất cả sự tin cậy, tin rằng người này sẽ thực tập năm giới vững chãi để bảo vệ hạnh phúc, an lạc của họ và của gia đình họ. Trong khi viết ba trăm điệp hộ giới như vậy, thì tôi thực tập. Nếu không thực tập thì có viết một trăm ngàn điệp hộ giới đi nữa thì kết quả tu tập vẫn là số không. Điều này phải được áp dụng trong tất cả mọi công việc khác.

Nếu ta làm công việc của ta trong chánh niệm thì đó cũng là làm cho cả Tăng thân, vì sự có mặt của ta giúp nâng cao phẩm chất thực tập của Tăng thân. Khi gặp một người bạn tu, ta hỏi: “Anh đang làm gì đó? Chị đang làm gì đó?” thì câu hỏi này là một sự nâng đỡ, một sự yểm trợ. Ta biết người đó đang làm gì rồi, nhưng vẫn hỏi. Hỏi để thắp sáng chánh niệm trong ta và chánh niệm ở trong người kia. Đôi khi ta không cần hỏi, chỉ cần nhìn nhau mỉm cười thôi là đã có thể tạo ra phép lạ, phép lạ của sự tỉnh thức. Vậy đại chúng hãy chuẩn bị cho tuần lễ thực tập này. Thực tập để tất cả mọi người có cơ hội, trong một tuần lễ tinh tấn, làm rã bớt các tập khí cũ của mình, để học một tập khí mới, là biết an trú và sống sâu sắc trong giờ phút hiện tại. Thắp sáng chánh niệm và soi thấu những ngõ ngách sâu kín của đời sống, của tâm lý mình thì ta sẽ có sự chuyển hóa. Ta nên trân quý mỗi phút mỗi giây của đời sống hàng ngày. Khi đi thiền hành một mình dưới những cây mận, chúng ta có thể mỉm cười với những cành mận, với những lá cỏ, với những hạt sỏi, với những tiếng chim. Vì tất cả những sự có mặt đó đều là những người bạn cũ của mình từ bao nhiêu kiếp trước.

Sáng hôm nay,

tới đây

Chén trà nóng,

Bãi cỏ xanh

Bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước

Tất cả đều là những người bạn cũ thân yêu. Một cành cây. Một con chim. Một đám mây. Một nhánh hồng. Một hòn sỏi. Một gốc cây.

Bàn tay gió

dáng vẫy gọi

một chồi non xanh mướt

Nụ hoa nào

Hạt sỏi nào

Ngọn lá nào

cũng thuyết Pháp hoa kinh

Trong chánh niệm ta có thể nhận diện được tất cả những người bạn cũ đó. Trong chánh niệm ta có thể nghe được tiếng thuyết pháp của viên sỏi, của tàu lá, của đám mây. Rất mầu nhiệm. Ta hãy tập cười với hạt sỏi, tập cười với đám mây, tập cười với mặt trăng. Cười như vậy ta chứng tỏ ta đang có mặt và vầng trăng kia cũng có mặt, đám mây kia cũng có mặt. Khi cái giận, cái buồn, cái tập khí xấu hiện ra, ta cũng mỉm cười với chúng, vì đó cũng là những người bạn cũ của ta. Mỗi khi cười được như vậy là chúng ta có chuyển hóa, chúng ta có từ bi, có sự chấp nhận.

THỰC TẬP NĂM CÁI LẠY

Chúng ta đã đi khỏi Việt Nam mười năm, hai mươi năm hay ba bốn mươi năm, có thể nhớ nhà hoặc muốn trở về, và nghĩ rằng trong mấy tháng nữa, trong vài ngày nữa là ta về tới đất nước. Trong phương pháp tu tập này, chúng ta không cần đợi đến khi bước từ máy bay xuống mới là trở về, chúng ta hãy trở về ngay từ bây giờ. Mỗi bước chân là một sự trở về. Quê hương nằm trong lòng chúng ta. Tổ tiên, sông núi đều nằm ở trong lòng chúng ta. Chúng ta đang làm gì? Chúng ta đang làm cái này để làm gì? Đặt câu hỏi, tự nhiên chúng ta về quê hương ngay lập tức. Quê hương là nơi ta gặp được an lạc, tỉnh thức, gặp được Bụt, Pháp, Tăng và gặp được tất cả tổ tiên. Các thế hệ tổ tiên vẫn còn sống sinh động ở trong cơ thể và tâm hồn chúng ta. Đó là sự thực tập quay về và nương tựa vào cội nguồn gốc rễ. Quý vị đã học và thực tập năm lạy. Những lạy này có mục đích đưa ta trở về quê hương, đưa ta về tiếp xúc với những gì đẹp nhất, sáng nhất, thân yêu, gần gũi nhất của ta. Tổ quốc, quê hương, văn hóa, gia đình, dòng dõi huyết thống, v.v. khi lạy xuống chúng ta có thể tiếp xúc với tất cả.

Chúng ta lạy xuống, trán chạm vào đất, theo lối ngũ thể đầu địa, tức là năm vóc gieo xuống đất. Năm vóc tức là hai tay, hai chân và trán của mình. Quý vị hãy tưởng tượng một đợt sóng đang cúi xuống tiếp xúc với nước, tức là bản chất của sóng. Chúng ta cũng vậy. Bụt, Pháp, Tăng, đất nước, quê hương, tổ tiên, dòng họ, khi lạy xuống chúng ta phải tiếp xúc được với tất cả quê hương đó. Sau đây là những lời hướng dẫn cho lạy thứ nhất.

Lạy thứ nhất

Trở về kính lạy, liệt vị tiền nhân, dòng họ tổ tiên, gia đình huyết thống, hai bên nội ngoại.

Trong tư thế ngũ thể đầu địa, nghe tiếng thầy hay bạn hướng dẫn, ta có thể bắt đầu thực tập quán chiếu và tiếp xúc:

Con thấy cha của con, con thấy mẹ của con mà xương thịt và sự sống đang có mặt và lưu nhuận trong từng tế bào và mạch máu của con. Qua cha con, qua mẹ con, con tiếp xúc được ông bà của con, bên nội cũng như bên ngoại, đã và đang đi vào con với tất cả mọi năng lượng, mọi trông chờ, mọi ước mơ, cũng như tất cả trí tuệ và kinh nghiệm của tổ tiên trải qua bao nhiêu thế hệ. Con mang trong con sự sống, dòng máu, kinh nghiệm, tuệ giác, hạnh phúc và khổ đau của các thế hệ tổ tiên trong con. Những yếu kém, những tồn tại và những khổ đau đã truyền đạt lại, con đang tu tập để chuyển hóa. Chuyển hóa cho con và cho tất cả quý vị. Những năng lượng của trí tuệ, của kinh nghiệm và của thương yêu mà các vị truyền đạt lại, con đang mở rộng trái tim con và xương thịt của con để tiếp nhận. Con có gốc rễ nơi cha, nơi mẹ, nơi ông, nơi bà, nơi tổ tiên. Con chỉ là sự nối tiếp của tổ tiên và dòng họ con. Xin cha mẹ, ông bà và tổ tiên hỗ trợ cho con, che chở cho con, truyền thêm năng lượng cho con. Con biết rằng con cháu ở đâu thì tổ tiên ở đó. Con biết cha mẹ nào, ông bà nào cũng thương yêu và đùm bọc độ trì cho con cháu dù khi sinh tiền có lúc gặp phải khó khăn hay rủi ro mà không bộc lộ được niềm thương yêu và sự đùm bọc đó. Con thấy cha, ông của con, từ Lạc Long Quân qua các vua Hùng và biết bao nhiêu thế hệ những người khai sáng đất nước, mở rộng cõi bờ, gìn giữ núi sông và hun đúc nên nếp sống Việt Nam có thủy, có chung, có nhân, có hậu. Con là sự nối tiếp của liệt vị, con cúi rạp mình xuống để đón nhận năng lượng của dòng họ và tổ tiên của gia đình huyết thống của con. Xin tổ tiên phù hộ độ trì cho con. (C)

Chúng ta lạy xuống để tiếp xúc với tổ tiên, với đất nước, với cội nguồn của chúng ta. Tất cả đang có mặt ở trong chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm đâu xa. Chúng ta không cần lên máy bay, đi mấy chục giờ mới về tới quê hương. Chúng ta chỉ cần bước một bước, chúng ta chỉ cần lạy xuống một lạy là chúng ta tiếp xúc được tất cả. Tiếp xúc được rồi thì những nguồn năng lượng của tổ tiên, của ông bà, của đất nước, của quê hương, của Bụt, Pháp, Tăng sẽ lưu nhuận trong ta và ta sẽ có thêm sức mạnh. Nếu không, ta có thể sẽ trở thành một đứa con đi hoang, một lãng tử, một cô hồn không nơi nương tựa. Khi ta cảm thấy gốc rễ của tổ tiên, dòng họ và đất nước vẫn còn bám sâu trong ta, ta sẽ mạnh mẽ và sẽ vững chãi hơn.

Sau đây là lạy thứ hai:

Lạy thứ hai

Trở về kính lạy, Bụt và Tổ sư, truyền đăng tục diệm, gia đình tâm linh, qua nhiều thế hệ.

Lạy thứ nhất hướng về gia đình huyết thống (blood family). Lạy thứ hai là tiếp xúc với gia đình tâm linh. Mỗi chúng ta đều có hai gia đình. Khi lạy xuống năm vóc sát đất rồi thì ta bắt đầu quán niệm như sau:

Con thấy Thầy của con trong con. Con thấy Sư ông của con trong con, Người đã dạy con biết hiểu, biết thương, biết thở, biết cười, biết tha thứ, biết sống trong giây phút hiện tại. Con thấy, qua Thầy của con, qua Sư ông của con, con tiếp xúc được với các thế hệ Thánh tăng qua các thời đại. Con tiếp xúc được với các vị Bồ tát và với Bụt Thích Ca Mâu Ni, Người đã khai sáng gia đình tâm linh của con, đã có từ hai ngàn sáu trăm năm nay. Con biết Bụt là thầy con mà cũng là tổ tiên tâm linh của con. Con thấy trong con có chất liệu nuôi dưỡng của Bụt, của Tổ, của các thế hệ cao tăng và năng lượng của liệt vị đã và đang đi vào trong con, đã và đang làm ra sự bình yên, an lạc, hiểu biết, và thương yêu trong con. Con biết Bụt đã giáo hóa cho gia đình huyết thống của con trong bao nhiêu ngàn năm, đã làm đẹp, làm lành nếp sống đất nước của con và của dân tộc con. Bụt đã làm cho dân tộc con trở nên một dân tộc thuần từ và văn minh, điều này con thấy rõ trong nền văn minh Lý và Trần. Con biết nếu không có Bụt, có Tổ, có Thầy thì con không biết tu tỉnh và thực tập an lạc cho con và cho gia đình con. Con mở rộng trái tim và xương thịt con để tiếp nhận kinh nghiệm, tuệ giác, tình thương, sự che chở và năng lượng từ bi của Bụt và của các thế hệ Thánh tăng, gia đình tâm linh của con. Con là sự tiếp nối của Bụt và của các thế hệ tổ tiên tâm linh của con. Xin Bụt và chư tổ, xin Sư ông và Thầy truyền cho con nguồn năng lượng thương yêu, an lạc và sự vững chãi của liệt vị. Con nguyện tu tập để chuyển hóa và để truyền cho thế hệ tương lai năng lượng của Bụt, của Tổ và của Thầy.

Sau khi lạy hai lạy như vậy rồi, ta thấy năng lượng của gia đình huyết thống và năng lượng của gia đình tâm linh chuyển động trong huyết quản và trong tâm tư ta. Ta cảm thấy vững chãi hơn, có đức tin mạnh mẽ hơn và ta lạy lạy thứ ba để tiếp xúc với đất nước, với khí thiêng sông núi và liệt vị tiền nhân đã khai sáng đất nước. Tiền nhân đã qua đời nhưng vẫn luôn luôn có mặt để che chở, để tiếp nối và truyền năng lượng cho ta.

Lạy thứ ba

Trở về kính lạy, liệt vị tiền nhân, khai sáng đất nước, sông núi khí thiêng, hàng ngày che chở.

Con thấy con đang đứng trên đất nước này, và tiếp nhận công ơn khai sáng của tiền nhân đất nước này. Con thấy các vua Hùng, con thấy Trần Hưng Đạo, con thấy Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, con thấy bao nhiêu người có tên tuổi và không có tên tuổi, đã đem tài trí, kiên nhẫn và chịu đựng làm cho đất nước này trở nên nơi nương náu của bao nhiêu giống dân; đã lập nên trường học, nhà thương, xây dựng cầu cống, đường sá, chợ búa; đã thiết lập nhân quyền, luật pháp và phát minh khoa học làm cho mức sống được nâng cao. Con cũng tiếp xúc được với những thế hệ tổ tiên ngày xưa đã sinh sống trên đất nước này và đã biết sống an lành với mọi loài và với thiên nhiên. Con sống ở đây, học hòa hợp với thiên nhiên, với con người, và cảm thấy năng lượng của đất nước này đi vào trong con, yểm trợ con, chấp nhận con. Con xin nguyện tiếp tục giữ gìn và làm tiếp nối những dòng năng lượng ấy. Xin nguyện góp phần chuyển hóa những bạo động, căm thù và vô minh còn tồn tại trong đất nước và trong xã hội này. Xin quý vị tiền nhân phù hộ độ trì cho chúng con.

Nếu quý vị là người Việt đang sống ở quê hương Việt Nam, thì trong khi lạy xuống lạy thứ ba ta phải tiếp xúc được với các vị tiền nhân khai sáng đất nước (nói tên họ ra). Có những vị tuy không để lại tên tuổi nhưng đã âm thầm xây dựng đất nước. Nếu đang sống ở hải ngoại, ta cũng phải biết đất nước mà mình đang sống đây là do những ai khai phá và xây dựng. Phải tiếp xúc được với tiền nhân của đất nước này.

Sau ba lạy, ta đã cảm thấy như một thân cây có gốc rễ rất sâu sắc, có thêm nhiều năng lượng. Lạy thứ tư dành cho người mà ta thương yêu để chia sẻ những nguồn năng lượng đã nhận được:

Lạy thứ tư

Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì, cho người con thương.

Người con thương có thể là cha con, mẹ con, anh con, chị con, em con, cháu con, thầy con, Sư ông của con. Khi lạy xuống, ta sẽ quán nguyện như sau:

Những nguồn năng lượng vô biên mà con vừa tiếp nhận được, con xin truyền cho cha con, chia sẻ cho cha con, tiếp sức cho cha con, cho mẹ con, cho những người con thương yêu, cho những người đã từng khổ đau, đã từng lo lắng, đã từng buồn khổ vì con, vì những vụng về và dại dột của con trong quá khứ, và cũng đã từng lo lắng, buồn khổ vì hoàn cảnh khó khăn và không may của các vị. Con xin truyền nguồn năng lượng ấy, nguyện cầu và tiếp sức cho cha con, cho mẹ con, cho anh chị em của con, cho những người thân của con, cho chồng con, cho vợ con, cho các con của con để cho tâm hồn họ lắng dịu lại, cho khổ đau trong lòng những người ấy được chuyển hóa, cho những người ấy nở được nụ cười, cho những người ấy cảm nhận được niềm vui sống, cho những người ấy mạnh khỏe trong thân thể và an lạc trong tâm hồn. Con hết lòng cầu mong cho những người ấy có hạnh phúc và an lạc. Con biết nếu những người ấy có an lạc thì con có an lạc. Con cảm thấy trong lòng con không oán hận trách móc những người ấy một mảy may nào. Con lạy tổ tiên và ông bà trong gia đình huyết thống, tổ tiên trong gia đình tâm linh của con phù hộ độ trì cho những người con thương, những người mà con đã nguyện thương yêu và chăm sóc. Con thấy con không còn là một cái ta riêng biệt mà đã trở thành một với những người con thương.

Thỉnh một tiếng chuông, ta đứng dậy. Lúc đó sự phân biệt giữa cái ngã và cái phi ngã không còn nữa. Ta và người ta thương trở thành một dòng liên tục. An lạc của ta trở thành an lạc của người ta thương. Trong khi ta lạy và quán chiếu như vậy thì ranh giới giữa ta và những người ta yêu thương được phá bỏ. Ta biết rằng nếu ta và người đó đã khổ trong quá khứ, là vì cả mình và người đó đều đã quá lo lắng, cả hai cũng đã thiếu chánh niệm. Ta thấy được ta với người đó cùng chung một dòng sinh mạng. Nếu ta vững chãi và có năng lượng thì ta có thể truyền được năng lượng đó cho người ta thương. Trong khi truyền đi năng lượng thương yêu đó thì sự phân biệt giữa mình và người không còn nữa. Và trước hết trong tâm mình cảm thấy nhẹ nhàng và khơi thông. Tình thương, lòng từ bi trong mình nuôi dưỡng chính mình trước.

Đến lạy thứ năm thì ta cúi xuống và truyền năng lượng của ta cho những ai đã từng làm khổ ta. Nhiều người lúc đầu không chịu được lạy này. Người kia đã làm cho ta đau khổ, tại sao bây giờ ta phải thương yêu và truyền năng lượng cho họ? Nhưng sau khi thực tập được vài tuần thì ai cũng thấy có ích lợi. Thực tập với tất cả tâm hồn của ta, sau đó mấy tháng trong lòng ta, ta cảm thấy hận thù tiêu tan, rất là mầu nhiệm. Nhiều người cho biết họ chỉ thực tập lạy thứ năm trong vòng sáu tháng rồi thôi không thực tập nữa, vì sau thời gian đó họ đã hoàn toàn không còn thù ghét những người đã làm khổ họ nữa.

Lạy thứ năm

Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì, người làm khổ con.

Trong tư thế ngũ thể đầu địa, ta thiết lập cảm thông với người kia:

Con mở rộng lòng ra để truyền đi năng lượng hiểu biết và lòng xót thương của con tới những người đã làm con khổ đau và điêu đứng. Con biết người ấy cũng đã đi qua nhiều khổ đau, đã chứa chấp quá nhiều cay đắng và bực bội trong trái tim nên đã làm vung vãi những khổ đau và bực bội của người ấy lên con. Con biết những người ấy không được may mắn, có thể là từ hồi còn bé thơ đã thiếu sự chăm sóc và thương yêu, đã bị cuộc đời dằn vặt và ngược đãi bao nhiêu lần. Con biết những người như người ấy chưa có may mắn được học, được tu, trái lại đã chứa chấp những tri giác sai lầm về cuộc đời và về con, nên đã làm khổ con và làm khổ những người con thương. Con xin gia đình huyết thống và gia đình tâm linh của con truyền năng lượng cho (những) người đó, để trái tim của họ được tiếp nhận giọt nước cam lộ mà nở ra được như một bông hoa, có thể lần đầu tiên trong đời họ. Con chỉ cầu mong cho người đó được chuyển hóa để người đó tìm được nguồn vui sống, để không còn giữ tâm thù hận mà tự làm khổ mình và làm khổ người khác. Con biết vì những người ấy khổ mà không tự chủ được nên đã làm khổ con và làm khổ những người con thương. Con cũng cầu mong cho tất cả những ai đã làm cho gia đình con khổ, dân tộc con điêu đứng, kể cả những kẻ xâm lăng, cướp nước, hải tặc, những kẻ ích kỷ, dối trá và tàn bạo được nhờ ơn Bụt, ơn Tổ, ơn tiền nhân mà cải hóa. Con thấy họ khổ và nỗi khổ ấy đang kéo dài qua nhiều thế hệ, và con không muốn giữ tâm niệm sân hận oán thù. Con không muốn cho họ khổ. Con có gốc rễ nơi tổ tiên và dòng họ huyết thống và dòng họ tâm linh; trái tim con đã nở ra như một đóa hoa, con xin buông bỏ tất cả mọi hiềm hận, một lòng cầu nguyện cho kẻ đã làm khổ con, làm khổ gia đình và dân tộc con được thoát khỏi vòng tai nạn và đớn đau, để họ có thể thấy được ánh sáng của niềm vui sống và an lạc như con. Tâm con không còn mang một mảy may trách móc và oán thù. Con xin truyền năng lượng của con cho tất cả những người ấy. Lạy Bụt, lạy Tổ, lạy ông bà chứng minh cho con.

Đây là sự thực tập lòng từ bi trong đạo Bụt. Bụt dạy rằng hận thù không thể nào đáp lại được với hận thù, chỉ có tình thương và sự tha thứ mới đáp lại được với hận thù mà thôi. Khi ta thực tập như vậy thì chất liệu từ bi trào lên trong trái tim ta. Sự tha thứ, sự thương yêu sẽ chữa trị cho ta, và con người ta sẽ an hòa và mạnh mẽ hơn. Hạnh phúc trở thành có thật. Lòng ta còn mang theo chất liệu của hận thù thì ta còn khổ đau mãi mãi.

Tùy trường hợp từng người, ai đã từng đau khổ quá nhiều, vết thương hận thù quá nặng, thì phải thực tập lạy thứ năm này nhiều lần. Muốn lạy thứ năm được thành công, thì trước hết ta phải thành công trong sự thực tập lạy thứ nhất và thứ hai. Ta phải trở về tiếp xúc được với tổ tiên trong gia đình huyết thống, tổ tiên trong gia đình tâm linh, thì mới có đủ năng lượng thương yêu để thực tập lạy thứ năm này. Tối nào tôi cũng lạy cả. Có khi tôi lạy phủ phục rất lâu. Trong những giây phút đó, hiệu quả chữa trị và nuôi dưỡng đã xảy ra thật sự. Phương pháp năm cái lạy này đã được các vị thường trú ở Làng Mai thực tập mỗi ngày. Quý vị có thể lên chánh điện hoặc thiền đường một mình để thực tập riêng. Quán nguyện như thế nào cho thích hợp với trường hợp của mình thì làm, nhưng trước hết phải học phương pháp theo sự hướng dẫn như trên.

Đối với những vị đã có gốc rễ tôn giáo khác và mới quay về nương tựa Bụt, Pháp, và Tăng, thì nên lạy thêm một lạy khác nữa. Lạy thứ sáu này để tiếp xúc với gia đình tâm linh gốc rễ của họ, gia đình tâm linh họ đã lìa bỏ, nhưng ngày xưa tổ tiên và ông bà của họ đã theo. Ví dụ như ngày xưa tổ tiên ông bà đã theo Do Thái giáo hay Cơ Đốc giáo, thì bây giờ ta phải lạy cái lạy thứ sáu này để trở về và tiếp xúc. Gốc rễ của gia đình tâm linh đó rất cần thiết cho sự chữa trị và sự vững mạnh của ta. Những người có hai gia đình tâm linh thường thường là những người châu Âu và châu Mỹ cho nên tôi sẽ đọc lời quán nguyện này bằng tiếng Anh.

Có hai gia đình tâm linh thì chúng ta giàu có thêm. Tiếp xúc được với nhiều gia đình tâm linh chỉ làm đời sống tâm linh của ta giàu có thêm thôi. Trong thời gian ở phương Tây, tôi đã gặp những người bạn thuộc những truyền thống Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo. Những người còn gốc rễ tâm linh vững chãi, thì nơi họ có lòng từ bi, có hoan hỷ, có nhân ái. Họ đã giúp ta bằng sức mạnh tâm linh của họ. Họ giúp ta vận động chấm dứt chiến tranh, đã giúp ta nuôi trẻ mồ côi, cứu trợ những nạn nhân chiến tranh, bão lụt, v.v. Chúng ta thấy chất liệu thương yêu và hiểu biết có thật. Tiếp xúc được với họ, ta tiếp xúc được với gia đình tâm linh của họ, tiếp xúc được với những vị đạo sư của họ. Chúa Kitô là một vị đạo sư đã dạy về bác ái, về thương yêu. Chúa Kitô là một vị Bồ tát lớn vì ngài đã tạo nên niềm tin và đức từ bi nơi hàng triệu, triệu người. Khi nhận ra Chúa Kitô là một vị Bồ tát thì ta thấy niềm tin của mình nơi Bụt, nơi Pháp, nơi Tăng, nơi truyền thống tâm linh của chính ta lớn thêm và giàu có lên thêm. Đối với những người thuộc về các truyền thống tâm linh Do Thái hay là Cơ Đốc chẳng hạn, khi nhận Bụt Thích Ca làm thầy, nhận các vị như Long Thọ, Mã Minh, Vô Trước làm thầy, thì họ cũng làm giàu cho truyền thống tâm linh của họ. Lạy thứ sáu này có mục đích đưa họ về tiếp xúc được với gốc rễ tâm linh mà lâu nay họ đã lơ là hoặc đã ruồng bỏ.

Đạo Bụt dạy chúng ta rằng ngã được làm bằng những yếu tố phi ngã, đạo Bụt được làm bằng các chất liệu không phải đạo Bụt. Phật pháp tức thế gian pháp. Đạo Bụt không nghĩ rằng chỉ trong truyền thống của ta là có chân lý và chân lý không thể có trong những truyền thống khác. Người theo đạo Bụt không có chủ đích làm cho người khác bỏ truyền thống tâm linh của họ để đi theo mình. Theo giáo lý này, ta phải giúp cho người khác trở về bám rễ vào trong truyền thống tâm linh của họ. Sự thực tập đạo Bụt có mục đích giúp người ta trở về nguyên quán: quê hương tâm linh, quê hương huyết thống. Phương pháp của chúng ta khác với phương pháp của những giáo sĩ ngoại quốc tới nước ta cách đây ba bốn trăm năm. Chúng ta hiện giờ đang làm ngược lại phương pháp của họ. Chúng ta sang phương Tây chia sẻ sự thực tập của chúng ta, nhưng lại mong ước và khuyến khích những người phương Tây trở về với truyền thống tâm linh của họ. Vì chúng ta biết rõ khi một người mất gốc, người ấy trở thành một cô hồn lãng tử, khó mà có được an lạc, hạnh phúc, vững chãi và thảnh thơi. Cho nên lạy thứ sáu này rất cần thiết cho những người đã bỏ truyền thống tâm linh cũ của họ.

Việc tu tập của chúng ta là một sự trở về. Trở về tiếp xúc với quê hương. Quê hương đó có thể được tiếp xúc ngay bây giờ và ở đây, ngay chính trong con người của ta. Chúng ta không cần đi máy bay mới trở về được quê hương tâm linh. Chúng ta không cần hồi tưởng. Chúng ta trở về trong giây phút hiện tại và biết rằng trong ta có gốc rễ của gia đình huyết thống, có gốc rễ của gia đình tâm linh, có Bụt, có Pháp, có Tăng, có ông bà, tổ tiên. Khi trở về, chúng ta được che chở, chúng ta được tiếp nhận thêm năng lượng. Chúng ta bắt đầu được nuôi dưỡng, được chuyển hóa và trị liệu cả vật chất lẫn tinh thần.

Trong khi thực tập, mỗi bước chân ta là một sự trở về. Bước đi mỗi bước, điểm ta đạt tới là bây giờ và ở đây. Bài Đã về, đã tới là để giúp ta thực tập sự trở về đó. Bài Quay về nương tựa hải đảo tự thân cũng là để ta thực tập điều đó. Mùa thu vừa qua, trong buổi thuyết giảng ở Berkeley, tôi đã nói phương pháp thực tập của chúng ta có thể được gọi là phương pháp trở về (the practice of going home). Trong cuộc sống thất niệm và quên lãng, chúng ta để cho tư tưởng, để cho nhớ thương, giận hờn, quá khứ và tương lai lôi kéo. Chúng ta đã sống như một bóng ma, đã bước đi trong cuộc đời như một người mộng du. Chúng ta chưa trở về. Ngoài chánh niệm, không ai có thể giúp chúng ta trở về được quê hương của chính ta, quê hương tâm linh cũng như quê hương huyết thống. Với những câu hỏi: “Anh đang làm gì? Anh làm cái đó với mục đích gì? Anh đang đi đâu?” chúng ta trở về ngay với chánh niệm, với bây giờ và ở đây. Bỗng nhiên ta biết rằng ta đang đứng trên quê hương, chưa bao giờ rời khỏi quê hương ta.

Trở về như vậy, chúng ta cảm thấy tràn đầy và được nuôi dưỡng. Phương pháp này phải thực tập trong từng giây, từng phút. Nếu quý vị thất bại trong thời gian thực tập ở Làng Mai thì tôi lo rằng quý vị sẽ khó thành công khi về nhà. Tại Làng Mai có một tăng thân đang cùng giúp nhau tu tập. Nếu ở Làng Mai mà chúng ta không tạo ra được một thói quen, một tập khí mới, thì khi trở về chúng ta sẽ bị cuốn theo nhịp sống cũ, khó thực tập thành công được. Cho nên, trước khi lên máy bay, chúng ta phải thành công trong sự “trở về”.

Bài 17 Pháp ấn

Hôm nay là ngày 20 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp về Bát chánh đạo.

TAM PHÁP ẤN

Trong bài trước chúng ta đang học về chánh định và do đó đã bàn tới chánh kiến. Học về chánh định ta phải nói tới Tam tam muội, tức là ba cái định quan trọng, có khi được gọi là Tam giải thoát môn. Nhưng muốn hiểu về ba cánh cửa giải thoát, ta cần học về Tam pháp ấn. Tam pháp ấn thuộc về lĩnh vực của chánh kiến.

Pháp ấn là khuôn dấu của chánh pháp. Khuôn dấu có nghĩa là chứng thực tính cách chính thống và đích thực của chánh pháp. Giáo lý đích thực của Bụt thì phải mang ba dấu ấn chứng nhận đó. Tiếng Anh có thể dịch là The three dharma seals. Trong Đại Tạng có kinh Pháp ấn. Ba pháp ấn vô thường, vô ngã Niết bàn liên hệ tới không, vô tướng và vô tác, tức là ba giải thoát môn. Vô thường (impermanence) tiếng Phạn là anitya. Vô ngã (non-self ) tiếng Phạn là anātman. Niết bàn tiếng Phạn là Nirvāṇa. Giáo lý nào có ba khuôn dấu này là đích thực giáo pháp của Bụt, không thể nhầm lẫn với giáo pháp ngoại đạo.

Danh từ Tam pháp ấn có khi cũng dùng để nói tới Tam giải thoát môn. Ba cánh cửa giải thoát (the three gates of liberation) là không, vô tướng vô tác. Vô thường, vô ngã thuộc về thế giới hiện tượng, nghĩa là về tướng (lakṣaṇa) và Niết bàn thuộc về thế giới bản thể, về tánh (svabhāva). Tướng là hữu vi (saṃskṛta), tánh là vô vi (asaṃskṛta).

Đạo Bụt Nam truyền không chú trọng nhiều đến Tam pháp ấn, nhất là không nhấn mạnh tới Tam giải thoát môn, hay Tam tam muội. Ba trạng thái định (samādhi) là không tam muội, vô tướng tam muội và vô tác tam muội. Đạo Bụt Bắc truyền như ta đã biết nhấn mạnh nhiều tới Tam pháp ấn và Tam tam muội.

Trong đạo Bụt Nam truyền, Tam pháp ấn được trình bày là vô thường, khổ và vô ngã. Theo tôi đây là do sự thất truyền. Sự thất truyền này bắt đầu từ sự chắp nối nhầm lẫn trong một đoạn kinh, sau đó qua sự truyền thừa, tất cả những đoạn kinh khác về cùng một đề tài đều lặp lại điều sai lầm đó. Đoạn kinh thuật lời Bụt như sau:

– Này các vị khất sĩ, sự vật là thường hay là vô thường?

– Bạch đức Thế Tôn, sự vật là vô thường.

– Này các vị khất sĩ, sự vật vô thường thì khổ hay vui?

– Bạch đức Thế Tôn, sự vật vô thường cho nên là khổ.

– Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là khổ thì có nên nói cái này là ta, cái này là của ta hay không?

– Bạch đức Thế Tôn, vì sự vật là khổ cho nên ta không thể nói được cái này là ta hay là của ta.

Đoạn kinh đó được nhắc lại hàng trăm, hàng ngàn lần trong kinh điển. Chỗ nào có nói tới vô thường và vô ngã là có nói đến khổ, và về sau cứ tiếp tục như vậy. Cho nên khi nói với các vị Phật tử Nam tông rằng Tam pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn thì họ không chấp nhận. Họ bảo trong kinh nói rằng Tam pháp ấn là vô thường, khổ và vô ngã, chứ không phải vô thường, vô ngã và Niết bàn.

Điều này không có nghĩa là kinh điển Bắc tông khi nói về vô thường, vô ngã không nói tới khổ. Các đoạn đối thoại giữa Bụt và các thầy khất sĩ cũng giống hệt như trong kinh ở Nam tông:

– Này các vị khất sĩ, sự vật thường hay là vô thường?

– Bạch đức Thế Tôn, sự vật vô thường.

– Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là vô thường thì là khổ hay là vui?

– Bạch đức Thế Tôn, khổ.

– Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là khổ thì ta có nên nói nó là ta hay là của ta không?

– Bạch đức Thế Tôn, không.

Tuy nhiên, chúng ta có thể chứng minh giáo lý Tam pháp ấn chắc chắn là vô thường, vô ngã và Niết bàn. Trong kinh tạng Bắc tông, còn kinh Tạp A hàm, kinh số 262, quyển thứ mười lặp đi lặp lại năm lần công thức vô thường, vô ngã và Niết bàn.

Nhất thiết hạnh vô thường

Nhất thiết pháp vô ngã

Niết bàn tịch diệt.

Ba câu đó nghĩa là đứng về phương diện thế giới hiện tượng thì ta thấy có khổ đau vì vô thường và vô ngã, nhưng đứng về phương diện bản tánh thì vẫn có vắng lặng, vẫn có bình yên. Mặt khác, tác phẩm Đại trí độ luận (Mahāprajñāpāramitāśāstra) của thầy Long Thọ sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ hai, sau Thiên Chúa giáng sinh, cũng nói rất rõ rằng Tam pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn.

Thật ra lý luận vì vô thường cho nên khổ, vì khổ cho nên vô ngã không đủ vững chắc, và có thể gây hiểu lầm về vô thường và vô ngã. Vô thường và vô ngã nằm ở một bình diện khác với khổ. Ví dụ như cái bàn này. Cái bàn này là thực tại. Cái bàn này là vô thường, nói vậy chúng ta hiểu được. Cái bàn này là vô ngã, đúng. Nhưng nói cái bàn này là khổ thì ta khó quan niệm được. Nói rằng vì vô thường cho nên khổ, vì khổ cho nên vô ngã, lý luận đó nghe không thuận. Có thể nói rằng vì sự vật vô thường và vô ngã mà chúng ta không biết, cứ cho là thường, là có ngã cho nên ta khổ, nói như vậy xuôi hơn.

Khi nghiên cứu kinh điển, ta phải dùng trí phán đoán suy xét để có thể loại bỏ những sai lầm lưu truyền trong lịch sử. Hai truyền thống còn để lại nhiều kinh điển để chúng ta có thể so sánh là truyền thống Hữu Bộ (Sarvāstivāda) ở miền Bắc và truyền thống Đồng Diệp Bộ (Tāmraśāṭīya) ở miền Nam. Ngay khi Bụt còn tại thế, những lời Bụt dạy đã được truyền thừa sai lạc. Chỉ một năm sau khi Bụt nhập diệt thì sự truyền thừa đã có nhiều sai lạc, huống nữa là 2500 năm. Hai trăm năm sau khi Bụt nhập diệt, giáo đoàn phân liệt ra thành nhiều bộ phái, tối thiểu là mười tám bộ phái, nên gọi là đạo Bụt Bộ phái. Ban đầu chúng ta có đạo Bụt Nguyên thỉ (Original Buddhism), sau thời gian 100 năm thì đạo Bụt ấy biến thành đạo Bụt Bộ phái (Multiple Schools Buddhism). Sau này, đạo Bụt Đại thừa, phát sinh vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, gọi các Bộ phái là Tiểu thừa, và tự gọi mình là Đại thừa. Những trường phái phân liệt ra vào khoảng từ 100 tới 300 năm sau khi Bụt nhập diệt đều là đạo Bụt Bộ phái cả. Và đạo Bụt Bộ phái không phải là chỉ có trong đạo Bụt Nam truyền, đạo Bụt Bắc truyền cũng có bộ phái, phân hệ từ thời đại vua Aśoka (A Dục). Trong hai hệ phái, Hữu Bộ và Phân Biệt Thuyết Bộ, Hữu Bộ (Sarvāstivāda) truyền lên miền Bắc, vùng Kashmir, phát triển tại đó 1000 năm. Văn tự sử dụng trong Hữu Bộ là chữ Sanskrit. Trong khi đó, Phân Biệt Thuyết Bộ được chính thức ủng hộ, phát triển tại nơi gốc, và một phần được truyền qua Tích Lan. Đạo Bụt truyền qua Tích Lan thuộc về Đồng Diệp Bộ, bộ phái các thầy mặc áo vàng màu đồng đỏ, gọi là Xích Đồng Diệp Bộ. Sau họ bỏ tên đó, dùng tên Theravāda, nghĩa là Thượng Tọa Bộ, cho có tính cách chính thống hơn.

Xích Đồng Diệp Bộ thừa hưởng văn hệ Abhidharma, tức là Luận Bộ (A Tỳ Đàm) của Phân Biệt Thuyết Bộ. Trong khi đó Hữu Bộ tại miền Bắc cũng rất hưng thịnh, trước tác nhiều bộ luận. Những bộ luận lớn là Đại Tỳ Bà Sa Luận, đã được phiên dịch ra chữ Hán, tồn tại cho tới hôm nay.

Đạo Bụt Bộ phái không phải chỉ có mặt trong đạo Bụt Nam truyền ở Tích Lan, mà ở phương Bắc cũng có. Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản cũng được thừa tiếp đạo Bụt Bộ phái. Giới luật của khất sĩ, nữ khất sĩ cũng là giới luật được trao truyền từ đạo Bụt Bộ phái. Từ Kashmir (chữ Hán là Ca Thấp Di La), Hữu Bộ đã đưa đạo Bụt với những kinh A hàm vào Trung Hoa và các xứ Á Đông. Tại Việt Nam chúng ta có thể đọc kinh Nikāya từ chữ Pāḷi do Xích Đồng Diệp Bộ truyền lại, và chúng ta có thể so sánh với các kinh A hàm bằng chữ Hán.

Khi so sánh về sự hành trì cũng như về kinh điển, chúng ta mới thấy đạo Bụt Bắc truyền, dầu là gốc đạo Bụt Bộ phái, cũng còn giữ được giáo lý chân truyền về Tam pháp ấn: vô thường, vô ngã và Niết bàn. Chứng cứ thứ nhất đã nêu ra là trong kinh Tạp A hàm, kinh 262, vô thường, vô ngã và Niết bàn là ba pháp ấn. Chứng cứ thứ hai là thầy Long Thọ, vào thế kỷ thứ hai, đã nói rõ ràng Tam pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn. Vậy nghiên cứu đạo Bụt Bộ phái và đạo Bụt Đại thừa chúng ta có thể tìm lại được đạo Bụt Nguyên thỉ. Đó là công việc chúng ta đang làm và phải làm.

Vậy pháp ấn đầu tiên, con dấu đầu tiên, là nhất thiết hạnh vô thường, tất cả mọi hiện tượng được tập hợp nên đều vô thường. Bông hoa, cây bút, cái bàn đều vô thường. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hữu vi là những pháp thuộc thế giới hiện tượng. Nếu một giáo lý, một học thuyết nào không mang dấu ấn này thì không phải là Phật pháp.

Nhưng giáo lý vô thường (impermanence) có khác với triết lý về vô thường ở ngoài đời. Theo nguyên tắc tương tức và tương nhập, giáo lý vô thường phải phản ảnh những giáo lý khác của đạo Bụt, nó không được đi ngược với những giáo lý khác trong đạo Bụt. Trên thế giới có rất nhiều nguồn tư tưởng nói đến tính vô thường. Ví dụ khi đức Khổng Tử đứng trên bờ sông và nhìn xuống nước, ngài cũng thấy dòng sông là vô thường: “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ?” nghĩa là “trôi chảy hoài, ngày đêm không thôi, như thế này ư?” Như vậy đạo Khổng cũng dạy về vô thường. Triết học phương Tây cũng có cái thấy về vô thường. Triết gia Heraclitus có nói: “Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông”. Chúng ta xuống sông bơi một lần rồi đi lên, khi xuống lại lần thứ hai thì dòng sông đã khác rồi. Tóm lại, các bậc hiền giả nhiều đời đã nhìn thấy thế giới hiện tượng là vô thường.

Nhưng vô thường không tất yếu đưa tới khổ, như lý luận cho rằng hễ vô thường là khổ. Nếu xét kỹ thì vô thường có thể đem lại niềm vui. Vô thường nghĩa là sự vật không duy trì được tính chất đồng nhất bất biến, chúng luôn luôn thay đổi. Như vậy vô thường là đặc tính đích thực của sự sống. Nếu không có vô thường thì không có sự sống. Ví dụ như một hạt ngô. Nếu hạt ngô thường tại thì nó không bao giờ có thể trở thành cây ngô được cả. Nếu sự vật thường tồn thì không có sự sống. Một Phật tử người Anh học Phật và thực tập Phật pháp, về nhà nói chuyện giáo lý cho gia đình nghe. Anh đã nói theo lý luận rằng vì sự vật vô thường (impermanent) cho nên mình khổ. Đứa con gái hỏi: “Ba nói cái gì lạ vậy? Nếu mà mọi sự vật cứ mãi mãi không thay đổi, con làm sao lớn lên thành thiếu nữ được?”

Sự thật đơn giản như vậy. Nếu sự vật không vô thường thì em bé không bao giờ trở thành cô thiếu nữ. Cô bé tuy không học kinh sách nhưng cô hiểu Bụt nhiều hơn là ông bố. Người cha thấy trong vô thường mùi vị của bi quan, nhưng chính cô bé thấy được rằng nhờ sự vật vô thường cho nên có sự sống. Nếu sự vật không vô thường thì chúng ta làm gì có hy vọng một ngày mai bệnh ta sẽ lành hoặc ta có thể thay đổi một chế độ độc tài? Cho nên vô thường đem lại niềm tin rằng ta có thể chuyển đổi được tình trạng, rằng ngày mai trời lại sáng. Do đó, vô thường không nhất thiết phải là nguyên nhân của khổ.

Nguyên nhân của khổ là sự vật vô thường mà chúng ta tưởng là thường. Trong kinh Bảo tích có câu chuyện con chó bị ném cục đá, nó chạy theo cục đá mà sủa, vì tưởng cục đá là nguyên do làm nó đau. Cũng vậy, vô thường không gây ra khổ, mà chính vì nhận thức sai lạc cho những gì vô thường là thường tại cho nên ta khổ. Khi có sức khỏe mà không ý thức được tính cách vô thường của thân thể thì ta có thể đánh mất sức khỏe. Ý thức về vô thường giúp ta biết bảo vệ sức khỏe, biết ăn, uống, làm việc một cách điều độ và giữ gìn thân thể của mình. Vậy ý thức về vô thường có thể đưa tới hạnh phúc. Nhiều người đã sống qua tuổi trẻ nhưng chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc trong tuổi trẻ của mình, vì họ không có ý thức về vô thường về tuổi trẻ. Ta tưởng như ta sẽ trẻ hoài, ai ngờ ngoảnh qua ngoảnh lại vài cái, tuổi trẻ đã đi đâu mất.

Cho nên thực tập vô thường quán giúp cho ta biết quý trọng từng giờ phút của sự sống. Và khi ta đã biết quý trọng từng giờ phút của sự sống, thì ta cũng biết chăm sóc và vun tưới, để nuôi dưỡng những gì hiện ta đang là và đang có. Tuổi trẻ như thế mà người thương cũng thế. Ý thức được rằng ta có một người thương hay ta đang thương một người, ta đang có hạnh phúc. Nhưng ta phải biết rằng tình thương đó cũng vô thường. Nếu người đang thương yêu không nuôi dưỡng hiểu biết và tình thương của chính mình thì tình thương cũng mòn mỏi rồi tiêu diệt. Nếu người được thương yêu không biết duy trì tính dễ thương và tươi mát của mình thì cũng sẽ đánh mất lòng thương yêu.

Cho nên có ý thức về tính vô thường ta biết sống từng giờ, từng phút trong chánh niệm, biết duy trì lòng thương của ta, và tính chất đáng yêu của ta. Khi hai người kết hôn và về ở với nhau, họ có thể có tình thương nồng nhiệt trong những năm đầu. Nhưng nếu họ không sống trong ý thức vô thường, cứ nghĩ rằng mình luôn luôn là mình, người kia luôn luôn là người kia, thì hạnh phúc sẽ không bền vững được. Sống không có ý thức về vô thường, sống không chánh niệm, không biết bồi đắp tình thương, thì có thể một ngày kia, người ta sẽ “anh đi đường anh, tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi.”

Thành ra vô thường quán rất quan trọng. Thứ nhất, nó cho ta biết cái gì đang có trong giây phút hiện tại là quý giá và đẹp đẽ, ta phải trân trọng, bảo tồn cho ta và cho những người xung quanh ta. Thứ hai, khi thấy tình trạng hiện tại không được như ý thì ta cũng không chán nản. Sự vật vô thường, nếu ta biết cách chuyển hóa thì ngày mai tình trạng sẽ thay đổi. Trước ngày bức tường Berlin đổ, rất nhiều người nghĩ rằng bức tường Berlin sẽ ở đó cả ngàn năm. Đến khi bức tường Berlin đổ họ mới thấy rằng bức tường Berlin cũng vô thường. Và sau bức tường Berlin còn nhiều thứ cũng sẽ đổ theo, vì niềm tin vào một chủ thuyết cũng đã sụp đổ. Trong đời sống hàng ngày của mỗi người tình trạng cũng vậy. Ta có niềm tin vào một người, hay ta được một người tin, nhưng nếu ta không thực tập quán chiếu vô thường, không thực tập sống chánh niệm, thì niềm tin đó có thể tan rã. Phải nhìn vào sự sống trong từng giây từng phút và dùng ánh sáng chánh niệm chiếu rọi để thấy được tính vô thường, để thấy mình đang tiến hay lùi trong sự xây dựng hạnh phúc và an lạc. Nếu vững chãi và an lạc đang giảm sút thì ta phải biết những nguyên do để kịp thời cứu chữa và thay đổi.

VÔ THƯỜNG LÀ VÔ NGÃ

Hiểu vô thường trong tinh thần tương tức và tương nhập thì ta mới hiểu đúng giáo lý đạo Bụt. Vô thường cũng là vô ngã đứng về phương diện thời gian mà nói, nhưng hai tính đó đích thực là một. Ngã tức là tính đồng nhất. Vô thường là tính thay đổi. Khi một cái gì thay đổi, nó không còn tính cách đồng nhất của nó, do đó nó vô ngã. Phải hiểu vô thường là vô ngã thì ta mới thực sự hiểu vô thường được. Nếu nói vô thường là bước thứ nhất, sau khi học bước đó rồi thì mới đi bước thứ hai, mới hiểu vô ngã, nói vậy là chưa hiểu đạo Bụt. Theo đạo Bụt, một giáo pháp trùm chứa tất cả các giáo pháp khác. Nhất pháp nhập nhất thiết pháp, nhất thiết pháp nhập nhất pháp, đó là lời kinh Hoa nghiêm. Nhiều dòng tư tưởng khác cũng nói tới vô thường. Nhưng giáo lý vô thường trong đạo Bụt thật đặc biệt vì ở các truyền thống khác ít ai nói tới tính vô ngã.

Vô thường là một chiếc chìa khóa Bụt trao cho chúng ta để mở cửa thực tại. Bụt dạy chúng ta phải sử dụng chìa khóa đó để đi vào thực tại. Nếu chỉ đàm luận, khảo cứu về vô thường mà không thực tập vô thường quán trong đời sống hàng ngày thì chúng ta không sử dụng chiếc chìa khóa như Bụt ước muốn. Thay vì dùng chìa khóa để mở cửa thực tại thì chúng ta đem chìa khóa đó đặt trên bàn thờ và sì sụp lạy. Dù ta có lạy mỗi ngày một trăm lẻ tám lạy, thì chìa khóa đó cũng không có ích lợi gì cả. Cho nên vô thường ở đây không phải là một lý thuyết, một triết học, mà là một phép sống, một phép quán gọi là vô thường quán (contemplation on impermanence). Ta quán vô thường vào những lúc nào? Chúng ta quán trong khi ăn cơm, trong khi rửa chén, trong khi giặt áo, trong khi tiếp xử với bạn bè, với anh chị em, với bản thân và vạn vật quanh ta.

Bàn tay cầm chiếc chìa khóa vô thường là bàn tay chánh niệm. Dùng hơi thở chánh niệm ta tiếp xúc với mọi sự vật, quán chiếu và thấy được tính vô thường của mọi sự vật. Quán chiếu như vậy không phải là để than thở rằng vạn vật là vô thường, không có gì đáng lưu tâm, thôi đừng làm gì nữa cho khỏe. Đó là một thái độ sai lầm rất lớn về vô thường. Vô thường là một cơ hội rất lớn cho sự sống và cho sự chuyển hóa. Nhờ vô thường mà chúng ta có thể làm được mọi chuyện. Chúng ta có thể làm cho khổ trở thành vui, chúng ta có thể thay đổi tình trạng xã hội. Đạo đế được thiết lập trên căn bản vô thường. Đạo đế là để chuyển hóa sự vật, nếu sự vật không vô thường thì đạo đế dùng để làm gì? Cho nên vô thường không phải là những nốt nhạc sầu thảm, tiêu cực. Nếu anh, nếu chị nghĩ tới vô thường như những điệu nhạc sầu thảm, thì anh và chị hoàn toàn chưa hiểu giáo lý vô thường. Rất ít người học Phật thấy điều đó. Trong khi đó giáo lý không phải mù mờ, rất đơn giản, rất minh bạch. Chúng ta mới học và quán chiếu sơ sơ mà đã thấy được rằng vô thường đích thực là vô ngã. Không vật gì có tính đồng nhất, cái này liên hệ tới cái kia. Từ lúc ta bước vào thiền đường này gần một tiếng đồng hồ đã đi qua, và ta đã thay đổi! Đứng về phương diện cơ thể và đứng về phương diện tâm thức, ta đã thay đổi. Không khí và máu huyết trong ta, các tế bào trong ta đã thay đổi. Ta không giữ được tính đồng nhất của ta trong hai mươi phút liên tiếp. Cho nên ta vô ngã, và ta biết rằng ta được tạo thành bởi những yếu tố không phải là ta. Hãy nhìn cây Đoàn ngoài kia, ta cũng được cấu tạo thành bởi chất liệu của cây đó. Nếu không có cây Đoàn cổ thụ ở xóm Thượng thì ta đã khác. Cây ấy đã tặng cho ta rất nhiều niềm vui. Cây đó đã nuôi dưỡng ta trong mười mấy năm nay. Nếu không có sư anh, sư chị, sư cô và sư chú thì ta sẽ khác, và như vậy sư anh, sư chị, các sư cô và sư chú đã nuôi dưỡng ta, đã làm cho ta khác. Vì vậy, ta biết ta được làm bằng bao nhiêu yếu tố không phải là ta. Đó là vô ngã. Và ta phải thấy và biết rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc nơi những yếu tố không phải ta. Sư em hạnh phúc được là nhờ sư chị. Sư chị hạnh phúc được là nhờ sư em. Nếu một trong hai người không có hạnh phúc thì người kia cũng khó có hạnh phúc. Vì vậy hạnh phúc không phải là vấn đề của mỗi cá nhân. Điều này là tuệ giác phát xuất từ vô thường quán hay vô ngã quán. Cho nên ta phải tu tập như thế nào để cho cha mình, mẹ mình và những người quanh mình đừng đau khổ, thì lúc đó ta mới có hạnh phúc.

Đi tìm hạnh phúc riêng tư là điều sai lầm phải tránh. “Tôi phải bỏ nhà đi, tôi phải bỏ cha, bỏ mẹ, để đi tìm tự do, để đi tìm bản ngã và hạnh phúc cá nhân của tôi, tôi chỉ còn cách đó.” Nói vậy không đúng. Vì tuy muốn bỏ đi nhưng không ai thật sự ra đi được một mình! Trong tàng thức ta sẽ mang theo hết mọi thứ, không bỏ sót lại một cái gì. Dầu có trốn đi biệt tích thì tất cả vẫn đeo theo bên ta. Cho nên vô thường quán hay vô ngã quán giúp ta thấy được cách ta sống, cách ta hành xử như thế nào trong đời sống hàng ngày, để ta có thể thực sự xây dựng an lạc và hạnh phúc.

Vô thường và vô ngã là một. Thực tập quán vô thường thâm sâu thì tự nhiên ta thấy được lẽ vô ngã. Thực tập vô ngã cho sâu sắc thì tự nhiên ta thấy được lẽ vô thường. Đó là tính cách mầu nhiệm của nguyên lý tương tức tương nhập trong đạo Bụt. Giáo lý duyên sinh (interdependence, co-production) trong đạo Bụt trình bày sự hình thành của các hiện tượng nương vào nhau mà có mặt. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Cái này như thế này vì cái kia như thế kia. Duyên sinh cũng là vô ngã và vô thường, nhìn từ một góc cạnh khác. Hiểu vô thường là duyên sinh thì mới hiểu vô thường đúng mức.

Quán sát một hiện tượng A nào đó di chuyển trong thời gian và không gian, chúng ta có thể tưởng rằng nó bắt đầu ở A và chấm dứt ở A’. Nghĩ như vậy là sai. Vì trong trong khi nó di chuyển trong không gian và thời gian nó luôn luôn xúc tiếp và tiếp nhận những nguồn năng lượng từ bên ngoài, ví dụ tôi luôn luôn thở và bài tiết. Mình luôn luôn có những input và output, tức là những điều kiện giúp mình tiếp nối để du hành trong thời gian và không gian. Và vì vậy những điều kiện đó luôn xảy ra trong từng giây từng phút. Bây giờ và trước đó. Đó gọi là duyên sinh. Vì vậy vô thường cũng chỉ là duyên sinh mà thôi. Mỗi ngày tu học là mỗi ngày mình mở tấm lòng của mình ra cho những điều kiện tốt đi vào để nuôi dưỡng và chuyển hóa mình thành ra tốt hơn, đẹp hơn, đó gọi là duyên sinh. Còn nếu mình tưởng có thể đóng cái vỏ sò của riêng mình lại cho ấm áp, tức là mình đã không thấy tính duyên sinh của chính mình. Làm sao mà có thể sống được nếu không có sự nuôi dưỡng của những nhân và những duyên?

Cho nên trong quá trình từ A tới A’, hiện tượng này đã đi qua rất nhiều loại A, trở thành, trở thành, trở thành trong từng giây phút. Sở dĩ trở thành là vì nhân và duyên. Cho nên vô thường chỉ là duyên sinh thôi. Nếu ta hiểu vô thường mà không có duyên sinh trong đó thì đó chưa phải là vô thường do Bụt dạy.

Có khi chúng ta không nói vô thường, không nói vô ngã, không nói duyên sinh mà chúng ta nói không. Không trước hết là không có đồng nhất tính, nghĩa là vô ngã. Nếu không có nghĩa là vô ngã, thì không cũng có nghĩa là duyên sinh.

KHÔNG, GIẢ VÀ TRUNG

Trong kinh Bụt day:

Chư hạnh vô thường

Thị sinh diệt pháp

Trong Đại trí độ luận có một bài kệ rất hay mà thầy Trí Giả thuộc phái Thiên Thai đã sử dụng để lập nên pháp môn Tam quán là Không, Giả, và Trung. Bài kệ như sau:

Nhân duyên sở sinh pháp

Ngã thuyết tức thị không

Diệc danh vi giả danh

Diệc danh trung đạo nghĩa.

dịch:

Các pháp do duyên sinh

Tôi gọi chúng là không

Cũng gọi là giả danh

Cũng gọi là trung đạo.

Chúng ta hãy tìm hiểu từng câu. “Nhân duyên sở sinh pháp”, tức là những hiện tượng, do nhân và duyên sinh ra. “Ngã thuyết tức thị không” nghĩa là tôi tuyên bố rằng chúng đều là không. Duyên sinh nghĩa là không, đó là lời thầy Long Thọ. Nhưng cái không này không phải là ngược lại với cái có. Chữ không này chỉ có nghĩa là duyên sinh, là vô ngã và vô thường. Câu thứ ba: “Diệc danh vi giả danh.” Giả danh là một danh từ rất hay. Giả danh là có một cái tên, nhưng chỉ là cái tên giả. Một cái tên để gọi của một sự vật mà ta tưởng là không thay đổi là thường là ngã. Trong khi đó sự thật thay đổi từng giờ, từng phút. Cho nên ta nói cái tên ấy là giả danh, vì cái danh bất biến không gọi đúng được cái thực tại luôn thay đổi. Hơn nữa gọi tên một sự vật là giới hạn sự vật đó trong thời gian và không gian, cắt nó ra khỏi ngoại cảnh, che lấp mất những liên hệ giữa nó với những hiện tượng khác trong vũ trụ.

Khi chúng ta gọi tên một đóa hoa, tên gọi đó phân cách rõ ràng bông hoa và tất cả các thứ không phải là bông hoa. Bông hoa không thể nào là gốc cây được. Bông hoa không thể nào là cơn gió hay là đám mây được. Nhưng sự thật thì đóa hoa cũng đồng thời là gốc cây, là đám mây, là mặt trời, là đại địa. Vì đóa hoa là vô ngã, vì đóa hoa là vô thường, vì nó là duyên sinh, vì hoa là không, cho nên khi ta dùng danh từ hoa để gọi nó là ta đã bắt đầu sự sai lầm. Vì vậy mỗi tên gọi là một giả danh. Mọi sự vật là một giả danh.

Những điều trên có thể được diễn tả bằng ý niệm trung đạo. Trung đạo tức là không phải có mà cũng không phải không. Ý niệm về không cốt để giúp ta thoát khỏi vọng tưởng là có những thực thể riêng biệt, nhưng chúng ta cũng dễ bị vướng ngay vào ý niệm không này. Đưa ra ý niệm về trung đạo là để cho ta thoát ra khỏi cả ý niệm về không lẫn về có. Trung đạo nghĩa là không có cũng không không. Ở một thiền viện kia có treo bốn chữ “hữu vô nhị vong”, tức là cả hữu cả vô đều biến mất. Siêu việt có và không thì mới đạt tới trung đạo.

Đạo Bụt có khi nói thế giới hiện tượng là vô thường, có khi nói là vô ngã, có khi gọi là duyên sinh, có khi gọi là không. Và trung đạo xét cho cùng cũng chỉ là không, là duyên sinh, là vô ngã, là vô thường. Hiểu vô thường là trung đạo tức là hiểu vô thường khá sâu sắc. Và chúng ta lại còn nhận thức về tương tức. Tương tức nghĩa là cái này và cái kia là một. Bông hoa là mặt trời, bông hoa hiện hữu cùng với mặt trời. Tương tức như vậy cũng là duyên sinh. Vậy tương tức cũng là trung đạo, là vô ngã, là không và vô thường.

Vô thường, hay vô ngã, hay duyên sinh, hay là không, hay là tương tức, tất cả đều là những chìa khóa để mở cửa thực tại. Mở cửa thực tại trong mỗi giây mỗi phút bằng sự quán chiếu. Nếu không có niệm và không có định thì cả chùm chìa khóa sẽ cũng không được sử dụng. Vô thường là để đối trị với thường, vô ngã là để đối trị với ngã. Trong vô minh, ta sống trong ảo tưởng thường và ngã, nên chúng ta khổ đau. Bụt đưa chìa khóa vô thường và vô ngã cho chúng ta quán chiếu để chúng ta phá tan địa ngục đau khổ.

NIẾT BÀN VÀ VÔ TÁC

Khi dùng chìa khóa vô thường và vô ngã để mở cửa thực tại, chúng ta có cơ hội tiếp xúc được với bản thân thực tại, gọi là Niết bàn. Niết bàn có mặt ngay bây giờ trong mọi hiện tượng mà không phải là một đối tượng có thể tìm kiếm ở tương lai. Cây đèn này, chiếc bình này, hay bông hoa này đều có tính Niết bàn. Nó có tính vô thường, tính vô ngã và tính Niết bàn cùng một lúc. Ta tiếp xúc được tính vô thường là ta tiếp xúc được tính vô ngã và tính Niết bàn. Giống như một đợt sóng trên đại dương. Đợt sóng trên đại dương thuộc về thế giới hiện tượng. Trong thế giới của sóng có cao, có thấp, có lên, có xuống, có bắt đầu, có chung cuộc, có đợt sóng này và đợt sóng kia, có ngã và phi ngã. Ta có sự phân biệt. Nhưng khi tiếp xúc với nước một cách sâu sắc thì ta có thể nhận ra những tính cách khác của sóng: không cao, không thấp, không sinh, không diệt, không có đợt này đợt kia. Vì sóng được làm bằng nước. Sóng cũng không cần chết đi rồi mới thành nước. Sóng là nước ngay tự bây giờ và ở đây. Bông hoa này là Niết bàn trong hiện tại. Nhưng vì chúng ta đang bị đốt cháy bởi vô minh, sợ hãi, ganh tị, giận hờn nên chúng ta không tiếp xúc được với thực tại của bông hoa. Kinh Pháp hoa nói: “Các pháp từ xưa nay vẫn an trú trong Niết bàn” (Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng).

Bụt đã giao cho chúng ta chiếc chìa khóa quán chiếu vô thường và vô ngã. Càng tiếp xúc với thực tại vô thường và vô ngã thì ta càng tiếp xúc sâu sắc với Niết bàn, đạt tới niềm an lạc không sợ hãi, gọi là vô úy. Nếu chúng ta đang lo sợ về cái chết, đó là vì ta đang còn vọng tưởng dựa trên ý niệm về thường và ngã. Chúng ta khổ vì vô minh, cho rằng thực tại là thường, là ngã. Bụt dạy tất cả những sợ hãi, lo lắng, tai họa của chúng ta đều do vô minh của ta về xứ, về giới và về địa mà có. Dùng chánh niệm và chánh định sống trong ý thức về vô thường và vô ngã, ta đạt tới Niết bàn, đi tới tình trạng vô úy và an lạc. Giác ngộ sóng là nước rồi khi sóng lên ta cũng vui, sóng xuống ta cũng vui, sóng lớn cũng vui mà sóng nhỏ cũng vui. Trên nền tảng của giáo lý Niết bàn, ta đã là cái ta muốn trở thành. Chúng ta không cần phải chạy đi tìm hạnh phúc và an lạc ở đâu nữa.

Trong đạo Bụt có giáo lý vô tác (nothing to be done), có khi gọi là vô nguyện. Vô nguyện tức là không còn muốn gì nữa hết, không có dự án nào cần được thực hiện nữa hết, vì tất cả đã được hoàn thành. Trong bài thơ “Bướm bay vườn cải hoa vàng”, tôi có viết một câu mà chính lúc viết, tôi cũng không có ý thức rõ rệt:

Công trình xây dựng ngàn đời

Nhưng công trình em xem, đã được ngàn đời hoàn tất.

Sự tu học thấm vào con người ta, cho đến khi ta viết ra một câu thơ thì ta viết tự nhiên như vậy thôi, không có ý định thuyết pháp, cũng không có chủ đích nói về thế giới hiện tượng hay thế giới bản thể.

Vườn cải hoa vàng

Chính mắt tôi vừa thấy sáng qua

Tôi không ngủ mơ đâu

Ngày hôm nay đẹp lắm, thật mà

Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ

Chúng mình còn đây

Hôm nay và ngày mai nữa

Đến đây, khi khát chúng ta cùng uống ở một giếng nước thơm, trong

Ai nói cho em nghe rằng Thượng đế đã bằng lòng cho con người khổ đau đứng dậy hợp tác cùng người

Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp

Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa

Em hát ca đi, bông cúc cười theo em bên hàng giậu

Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát

Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình!

Những điều bài thơ nói ra, nếu đọc lại với nhận thức về Tam pháp ấn ta sẽ thấy hàm chứa ý “vạn pháp an trú trong Niết bàn”. Ta không cần đi tìm, không cần phải thực hiện gì cả. Khi trở về tiếp xúc được với bản thể và với tự tính của chính ta thì tự nhiên ta đạt tới an lạc.

Trong lĩnh vực tôn giáo và triết học, có môn học gọi là Eschatology, có thể dịch là Mạt thế luận, nghiên cứu về chung cuộc của vũ trụ, của con người (the final destination of man and of the cosmos). Trong những truyền thống tôn giáo khác như Cơ đốc giáo, môn này rất được quan tâm. Người ta giả định thời gian là vô cùng. Thời gian và không gian làm khung cho tất cả mọi thứ, như vậy thì mỗi vật và mỗi người đều có chung cuộc. Nhưng đứng trên phương diện Tam pháp ấn, chúng ta thấy rằng ý niệm về thời gian và không gian chỉ là những sản phẩm của trí óc, của vọng tưởng. Niết bàn mà chúng ta theo đuổi có ngay trong hiện tại, bây giờ và ở đây. Thành ra danh từ “nhập Niết bàn” cũng dễ gây hiểu lầm. Chúng ta ai cũng đang ở trong Niết bàn mà không biết, đi tìm ở đâu, nhập vào đâu nữa? Vô tác, hay vô nguyện nghĩa là không có đối tượng để chạy đuổi theo. Vô tác là apraṇihita, nghĩa là không đặt phía trước mình một đối tượng để chạy theo. Tiếng Pháp là non- poursuite, tiếng Anh là wishlessness.

Trong đạo Bụt lại có ý niệm vô đắc (non-obtaintion: nothing to be obtained). Có thể nói một cách đơn giản: Ta đã là cái mà ta muốn trở thành. Đó là tinh thần vô tác, vô nguyện, vô đắc, là giáo lý về Niết bàn. Là một cậu bé ba tuổi đã là tuyệt mỹ rồi, anh không cần phải trở thành một cậu sinh viên 22 tuổi mới có niềm vui. Là một chú sa di, đã là mầu nhiệm lắm rồi, sư chú không cần trở thành một vị thượng tọa thì mới an vui. Có một thầy hỏi các sư cô ở chùa ĐV: “Sau khi làm đại đức, thì sẽ lên gì nữa?” Các sư cô nói: “Lên thượng tọa.” Thầy lại hỏi: “Sau thượng tọa, thì lên gì?” Các sư cô nói: “Lên hòa thượng.” Rồi thầy hỏi: “Sau hòa thượng thì lên gì nữa?” Các sư cô trả lời không được. Thầy đã trả lời: “Lên ngồi trên bàn thờ!”

Làm sa di đã mầu nhiệm lắm rồi, đâu cần phải chờ đợi khi lên làm tỳ kheo? Làm tỳ kheo mầu nhiệm lắm rồi, không cần chờ lên giáo thọ. Mà giáo thọ cũng mầu nhiệm lắm rồi, không cần phải chờ làm đại giáo thọ hay hòa thượng. Khi trở về được và an trú trong bản tính Niết bàn của mình thì hạnh phúc tràn đầy, ta không cần phải tìm kiếm gì nữa, đó là giáo lý vô tác. Vô tác là đứng về phương diện tánh. Trong đạo Bụt, có khi chúng ta học hỏi và thực tập đứng về phương diện tướng – thế giới hiện tượng. Nhưng nếu chúng ta thực tập đàng hoàng thì trong lúc đó chúng ta tiếp xúc được với tánh và chúng ta có được sự an lạc hạnh phúc.

Trong kinh Tứ thập nhị chương, một trong những kinh sớm nhất đã lưu nhập ở Việt Nam, có câu: Ngã pháp hành vô hành hạnh, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Nghĩa là: Pháp của tôi là thực hành cái vô hành, tu tập cái vô tu, chứng ngộ cái vô chứng. Câu này không có nghĩa là ta không cần phải hành, không cần phải tu, phải chứng. Đây là tu tập theo tinh thần vô tác.

TÁM CHỮ THÁO TUNG

Có thể nói rằng chánh kiến là cái thấy sâu sắc về vô thường, vô ngã và Niết bàn. Ban đầu có thể chỉ là những ý niệm do Bụt trao cho, nhưng càng tu tập càng thấy đó là những chìa khóa để sử dụng trong đời sống hàng ngày. Sau khi đã nghe về ba pháp ấn rồi ta phải đi, đứng, nói năng, ăn cơm, làm việc như thế nào để niệm và định trở thành năng lượng đưa mình tới tiếp xúc và quán chiếu ba đặc tính đó của vạn pháp trong ta và xung quanh ta. Sống và tu học hàng ngày như vậy mới đúng chánh pháp, còn nếu không ta sẽ phụ ơn Tam bảo.

Chúng ta phải nhớ rằng vô thường, vô ngã và Niết bàn là ba phép quán. Sống có niệm và có định trên ba pháp ấn này chúng ta sẽ chắc chắn có tuệ. Về chánh định, chúng ta nói đến tam tam muội, tức là không, vô tướng và vô tác. Không, vô tướng và vô tác, có khi được gọi là tam pháp ấn, có khi được gọi là tam giải thoát môn (ba cánh cửa giải thoát). Chúng ta dùng hình ảnh chìa khóa vì hình ảnh này gợi ý mở cửa giải thoát. Sống tu học theo pháp môn này, ta an trú trong niệm về không, niệm về vô tướng, niệm về vô tác và cũng an trú trong định về không, định về vô tướng, và định về vô tác, ba định này là kết quả của sự quán chiếu về vô thường, vô ngã và Niết bàn. Quán chiếu vô thường, vô ngã và Niết bàn thì chúng ta cũng bắt đầu thấy và hiểu được không, vô tướng và vô tác. Vô tác và Niết bàn là một. Thấy sâu vào bình diện hiện tượng là thấy được bình diện bản thể. Trong tướng chúng ta thấy tánh, trong tánh chúng ta thấy tướng.

Niết bàn (nirvāṇa) nghĩa là sự tắt ngấm (extinction), sự vắng mặt (absence). Trước hết là sự tắt ngấm của các ý niệm, những ý niệm về thường, về ngã, về sinh và diệt, về có và không, về ta và người, về một và nhiều. Những ý niệm này đều căn cứ trên ý niệm về thường và về ngã mà được tạo tác và chúng cũng tạo tác ra bao nhiêu khổ đau. Vượt thoát vô minh về thường và về ngã thì ta sẽ không còn sợ sinh và sợ diệt nữa. Cho nên Niết bàn giúp chúng ta phá hết những ý niệm, bắt đầu từ ý niệm về thường và về ngã, nhờ tu tập quán chiếu hàng ngày.

Đạo Bụt nói tới tám ý niệm là sinh/diệt, thường/đoạn, tới/đi, nhiều/một. Tám phép quán chiếu để phá tan tám ý niệm đó gọi là bát bất. Đó là giáo lý trung đạo bát bất, tám cái chẳng phải của giáo lý trung đạo. Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, không tới cũng không đi, không một cũng không khác, đó là giáo lý bát bất. Có một người tới học với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sau khi đã được Tuệ Trung Thượng Sĩ giảng giải cho đủ rồi mà người ấy còn muốn hỏi thêm. Tuệ Trung mới đọc hai câu thơ:

Tám chữ tháo tung trao bạn hết còn chi đâu nữa để trình bày?

Tám chữ tháo tung là bát tự đả khai. Khi những khái niệm về thường, ngã, sinh, diệt đã bị phá tan thì Niết bàn hiển lộ.

Niết bàn là sự tháo tung của tất cả những khái niệm đó, nhưng cũng là sự tháo gỡ của những khái niệm ngược lại. Chúng ta phải thấy rằng Niết bàn không những là sự dập tắt của tất cả các ý niệm về thường, về ngã, mà còn là sự dập tắt của cả những ý niệm về vô thường và vô ngã nữa. Bụt cho chúng ta những giáo lý về Tam pháp ấn nhưng nếu chúng ta tiếp nhận rồi ôm giữ chúng như những khái niệm cố định thì chúng ta đã làm sai lời Bụt dạy. Sử dụng vô thường như là một chiếc chìa khóa thì được, nhưng kẹt vào ý niệm vô thường thì cũng là sai lạc.

Vô thường cũng có hai mặt là thế gian và xuất thế gian. Ban đầu ta học hỏi về vô thường, nói về vô thường, thực tập về vô thường. Nhưng quán được vô thường rồi thì ta không nói về vô thường nữa, vì định vô thường của ta đã trở thành định vô thường của xuất thế gian (lokuttara). Khái niệm về thường ta cần vượt thoát, mà khái niệm về vô thường ta cũng cần phải vượt thoát. Khái niệm về ngã ta cần vượt thoát, mà khái niệm về vô ngã ta cũng cần phải vượt thoát. Khái niệm về duyên sinh cũng vậy, về không cũng vậy, về trung đạo cũng vậy, ta đều cần phải vượt thoát.

Kinh Bảo tích có nói: “Thà rằng bị kẹt vào ý niệm có còn hơn bị kẹt vào ý niệm không”. Những phương thuốc đưa ra nếu không được sử dụng một cách thông minh có thể trúng độc. Kẹt vào không có khi còn tệ hơn kẹt vào có. Kẹt vào vô thường có khi còn khổ hơn kẹt vào thường. Bụt dạy trong kinh Người bắt rắn là phải học hỏi và hành trì giáo lý một cách thông minh. Chấp về thường và về ngã sẽ gây khổ đau; nhưng chấp vô thường, vô ngã cũng có thể gây khổ đau. Nếu ta không biết sử dụng vô thường và vô ngã như những chiếc chìa khóa để quán chiếu thì các ý niệm vô thường và vô ngã có thể sẽ là trở ngại cho bước đường tu học. Cho nên Niết bàn là thực tại vượt thoát mọi khái niệm, ý niệm cũng là vượt thoát những khổ đau và phiền não do các ý niệm ấy gây ra. Vì vậy ta gọi là Niết bàn tịch diệt. Tịch diệt tức là sự vắng lặng tất cả các cặp ý niệm: sinh – diệt, có – không, thường – vô thường, ngã – vô ngã.

Giả sử chúng ta đang ở trong một buổi họp. Chúng ta tranh luận với nhau bằng ngôn từ, bằng ý niệm, chúng ta mệt quá. Mở cửa bước ra ngoài, chúng ta thấy không khí mát mẻ, chim hót, thông reo, hoa nở. Có âm thanh, có hình ảnh, có đủ tất cả, nhưng rất an lạc, rất dễ chịu. Trong phòng họp có quá nhiều ý niệm, lý luận, tranh chấp và sân si, nơi ấy ta không tìm thấy an lạc. Ngoài trời, chúng ta cũng nghe các âm thanh, cũng thấy những hình ảnh, cũng thấy những cảnh sinh hoạt, nhưng rất khác trong phòng họp. Ở ngoài có sự yên vắng, thảnh thơi. Niết bàn là như vậy. Niết bàn không có nghĩa là vắng mặt sự sống, vắng mặt thực tại. Niết bàn là có sự sống, có thực tại, nhưng sự sống và thực tại vượt thoát những khái niệm, vượt thoát những khổ đau do các khái niệm gây ra. Niết bàn là ở đây, Niết bàn là bây giờ, đó gọi là hiện pháp Niết bàn (dṛṣṭa-dharma nirvāṇa).

Bài 16 Chánh định

Hôm nay là ngày 16 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Hạ, học tiếp về Bát chánh đạo.

Hôm trước chúng ta đã bắt đầu học về chánh tinh tấn và biết rằng năng lượng tinh tấn được phát sinh là do chất liệu của niềm vui và niềm tin. Nếu thiếu niềm vui và niềm tin, nếu ta không có hăng hái và niềm an lạc thì dù ta có cố sức, đó cũng không phải là tinh tấn. Tinh tấn không có nghĩa là cố gắng một cách mệt nhọc. Khi việc ta làm đem lại kết quả tốt, đem lại niềm vui và niềm tin thì chánh tinh tấn sẽ đến một cách rất tự nhiên. Nếu trong khi thiền hành và thiền tọa mà ta cảm thấy an lạc, chuyển hóa thì tự nhiên ta sẽ thích thiền hành và thiền tọa. Nghe chuông báo giờ thiền hành hoặc thiền tọa thì tự nhiên trong lòng thấy phấn chấn và hân hoan. Lúc đó là ta có chánh tinh tấn. Tôi còn nhớ hồi xuất gia ở chùa Từ Hiếu, tôi đã đi tu với cả một bầu nhiệt huyết. Tôi đã phải tranh đấu lắm mới được gia đình cho đi tu. Gia đình cứ nghĩ đi tu là khổ, một quan niệm sai lầm của người lớn đã trở thành thói quen. Trong khi đó thì mình cứ nghĩ rằng chỉ có đi tu mình mới có hạnh phúc thật sự. Thành ra khi được đi tu mình cũng giống như một con chim được tung cánh bay lên giữa bầu trời. Và đến giờ đi tụng kinh là tôi mừng lắm, đi tụng kinh mà thấy giống như đi nhạc hội vậy. Tôi rất thích tụng kinh, rất thích nghe tụng kinh và rất muốn được tụng kinh với đại chúng.

Những đêm trăng, từ dưới hồ bán nguyệt, nghe tiếng các thầy tụng kinh ở trên chùa, ta có cảm tưởng là nghe thiên nhạc. Những buổi sáng có trách vụ phải làm, không được đi tụng kinh, từ xa nghe tiếng tụng kinh Lăng Nghiêm vọng xuống, trong lòng thích thú vô cùng. Những giờ được vào lớp nghe giảng cũng vậy, giờ ngồi thiền hay khóa tịnh độ cũng vậy. Tôi đã đi tu trong không khí đó, có được tình bạn và tất cả đều hăng hái trong các thời khóa của chùa. Khi trong tăng thân mình đã có tình bạn rồi thì tất cả đều hăng hái trong chuyện tu học.

Nếu trong lúc tham dự mỗi sinh hoạt ta đều hăng hái, tin tưởng và có niềm vui thì đó là ta đang có chánh tinh tấn. Còn khi ta vẫn thấy mệt nhọc, thấy cần phải cố gắng tham dự, thì ta phải xét lại sự thực tập của mình xem có đúng cách hay không. Chúng ta ngồi thiền theo cách thức nào đó, đi thiền hành theo cách thức nào đó cho nên chúng ta mới chán. Điều này cũng tự nhiên. Nếu thực tập mà không có thầy chỉ dạy, không có bạn hướng dẫn, lại không tìm thấy những chất liệu nuôi dưỡng thân tâm trong lúc thực tập, thì sự thực tập trở thành một sự ép buộc.

Nhiều thiếu nhi về Làng Hồng, thấy các bạn ngồi thiền, đi thiền và ăn cơm im lặng thì cũng làm theo. Vì người ta làm nên mình cũng phải làm theo thôi, chứ mình không thấy thích thú gì. Đi theo, tuy không thích, nhưng có bạn còn dễ chịu hơn là ra ngoài chơi một mình. Tình trạng đó có thể kéo dài nhiều mùa hè liên tục. Cho đến ngày nào đó các em lớn lên, thấy thiền hành, thiền tọa và ăn cơm im lặng đều mang lại cho các em niềm an lạc và hạnh phúc. Lúc đó các em mới bắt đầu tu thật. Nhiều thiếu nhi đã nói thật cho thầy biết là trong những năm đầu các em chỉ làm cho có hình thức thôi, thấy các bạn làm thì làm theo, chứ không thấy có thích thú chút nào. Cháu Thục Hiền đến Làng Mai năm tám tuổi, rất ngoan ngoãn tham dự các sinh hoạt, nhưng chỉ làm theo hình thức. Bây giờ Thục Hiền đã lớn, cô ta mới cảm thấy sự thực tập là thiết yếu. Khi lo âu, buồn khổ hoặc bực bội cô ta mới biết rằng những phương pháp thực tập đó tháo gỡ được những nỗi lo buồn và đem lại thảnh thơi cho mình. Lúc đó, cô ta mới biết quý sự thực tập. Kinh nghiệm đau khổ của chúng ta nhiều khi giúp chúng ta tới gần sự thực tập hơn. Những lúc gian nan nguy hiểm tới tính mạng ta mới thấy sự quan trọng của những bài tập nhỏ như Quay về nương tựa hải đảo tự thân. Nếu ta thấy chán nản, không có năng lượng tinh tấn, đó là vì hoặc chưa nắm được phương pháp thực tập đúng, hoặc chưa có nhu yếu tu tập. Lý do khác là chúng ta không thực sự thích thú trong việc tu tập, hay mới chỉ thực tập hời hợt, chưa có cơ hội tự chuyển hóa thực sự.

Đây là bài thi kệ đầu tiên trong cuốn Từng bước nở hoa sen:

Thức dậy miệng mỉm cười,

Hăm bốn giờ tinh khôi,

Xin nguyện sống trọn vẹn,

Mắt thương nhìn cuộc đời.

Bài này để đọc khi mới thức dậy, đang còn nằm trên giường. Ngày xưa trong các tự viện có một bài khác bằng chữ Hán:

Thùy miên thỉ ngộ,

Đương nguyện chúng sanh,

Nhất thiết trí giác,

Châu cố thập phương.

Nghĩa là:

Ngủ nghỉ mới dậy

Nên nguyện chúng sanh

Tất cả trí giác

Đoái khắp mười phương.

Bài mới bằng tiếng Việt giàu chất liệu Phật pháp, tươi mát và thực tế hơn. Thức dậy miệng mỉm cười, vì ta thấy hăm bốn giờ mới tinh khôi là một món quà rất lớn trong đời sống. Thường thường, ta không thấy một ngày của đời mình là châu báu, và cứ để cho hăm bốn giờ đi qua uổng phí. Thức dậy miệng mỉm cười, hăm bốn giờ tinh khôi. Nụ cười đó đã là nụ cười của giác ngộ. Thấy hăm bốn giờ đồng hồ là một tăng thân lớn ta trân quý từng giây phút một. Hăm bốn giờ đó hư uổng hay hăm bốn giờ mầu nhiệm, điều này tùy thuộc vào chính ta. Nếu để những lo âu, phiền giận và ganh ghét làm hư hỏng hăm bốn giờ đồng hồ, đó là mình tự tàn phá cuộc đời mình, chứ không phải là ai khác. Xin nguyện sống trọn vẹn, là lời nguyện không làm hư uổng hăm bốn giờ đồng hồ này. Mắt thương nhìn cuộc đời là năm chữ trong kinh Pháp hoa: từ nhãn thị chúng sinh. Nếu lấy con mắt của tình thương nhìn cuộc đời thì tự nhiên lòng thư thái, có hạnh phúc và trong cái nhìn sẽ không còn có sự khắt khe và giận hờn nữa.

Buổi sáng thực tập bài kệ đó ta làm cho thế giới tươi sáng lên. Trong mỗi giây phút, khi rửa chén, quét nhà, thiền hành, thiền tọa, ta đều hớn hở như mới bắt được vàng ròng của sự sống. Những người xuất gia được cơ hội gần gũi thầy, gần gũi bạn, thì luôn luôn có điều kiện hạnh phúc hơn những người không xuất gia. Người không xuất gia bị các gánh nặng của gia đình và xã hội đè nặng trên vai, không có nhiều cơ hội bằng. Cho nên người xuất gia phải có hạnh phúc để tạo hứng khởi cho người tại gia. Nếu người xuất gia không thấy hạnh phúc thì không gây được cảm hứng và niềm tin cho người tại gia. Trong bài văn Cảnh sách của thiền sư Quy Sơn Đại Viên, có câu: “Thời quang yếm một, tuế nguyệt ta đà”, nghĩa là thời gian đi qua rất mau, ngày tháng như tên bắn, và nếu sống hời hợt thì ta sẽ đánh mất cuộc đời của chính mình, rất uổng.

Tóm lại, tu tập là tạo an vui, mà tu tập càng an vui thì càng thấy phấn khởi, đó là chánh tinh tấn.

TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Hôm nay, chúng ta hãy vẽ về Tứ diệu đế và Bát chánh đạo theo một cách mới (Sơ đồ 16.1). Trước hết, ta vẽ một vòng tròn, tượng trưng cho KHỔ, sự thật thứ nhất. Ta cũng biết rằng cái khổ trong Tứ diệu đế không giống với cái khổ người đời nói đến. Khi trình bày và quán chiếu về cái khổ trong Tứ diệu đế ta thấy được hạnh phúc, thấy được con đường đưa tới hạnh phúc, thấy được gốc rễ của chính cái khổ. Vòng thứ hai, bao lấy vòng thứ nhất, tượng trưng cho TẬP, cội nguồn của khổ, sự thật thứ hai. Khi nhìn sâu vào khổ, ta thấy được nguồn gốc của khổ. Không có một cái khổ nào là không có gốc. Vòng thứ ba, tượng trưng cho DIỆT, chấm dứt gốc khổ, sự thật thứ ba. Bằng cách nhìn sâu vào sự thật thứ nhất, ta có thể khám phá ra sự thật thứ ba. Cũng như nhìn vào rác ta tiếp xúc được với hoa, nhìn vào bùn ta thấy được sen. Vòng cuối cùng ta gọi là ĐẠO, tức là con đường. Làm sao tìm ra con đường? Nhìn vào sự thật thứ nhất, thấy được sự thật thứ hai, thứ ba và thứ tư. Nhìn vào sự thật thứ hai thấy được bản chất của sự thật thứ nhất, thấy được viễn tượng của sự giải thoát (sự thật thứ ba) và con đường đưa tới viễn tượng diệt khổ đó. Trong khi đó, nhìn vào đạo, ta thấy rất rõ sự thật về khổ, tập và diệt. Đạo chúng ta nói đây có liên hệ tới cái khổ. Nếu đạo anh nói không dính líu gì tới khổ đau đích thực của tôi và của anh và của mọi loài thì tôi không muốn nghe. Đạo ta nói tới trong đạo Bụt là phát xuất từ khổ. Con đường giúp chúng ta trốn tránh những khổ đau, đó không phải là đạo. Con đường giúp ta trực tiếp đối diện với khổ đau mới chính là con đường trong Bốn thánh đế. Trong vòng tròn thứ tư này ta có Bát chánh đạo. Mỗi chi phần của Bát chánh đạo đều bao gồm bảy chi phần khác và bao gồm cả khổ đế, tập đế và diệt đế. Phải nhìn như vậy mới thật sự hiểu được Bát chánh đạo và Tứ diệu đế.

CHÁNH ĐỊNH

Sau chánh tinh tấn, chúng ta nói tới chánh định. Năng lượng chánh định đã có mặt sẵn trong chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh nghiệp và chánh ngữ. Chúng ta biết rằng chánh kiến là hoa trái của chánh định, vì nếu không có định thì sẽ không có tuệ. Tuệ giác ở đây không phải một chuyện xa vời. Trong khi ăn cơm chẳng hạn, chúng ta cũng có thể có định và có tuệ. Một trăm người ngồi trong thiền đường cùng ăn cơm với nhau, có người ăn cơm với định và có người không. Về mặt hình thức, tất cả đều ngồi đó, nhưng có thể có người đang ngồi như một cái xác không hồn, họ không thật sự có mặt trong bữa cơm. Họ vắng mặt, vì những tâm hành trong họ đang kéo họ về nẻo khác. Chúng kéo ta về quá khứ, kéo tới tương lai, kéo sang châu Mỹ, kéo sang châu Úc… Nếu ta tiếp tục ăn cơm trong thất niệm như vậy thì dù ta có ngồi ăn hai ngàn năm trăm năm với đại chúng cũng không có được chánh kiến.

Lúc mở đầu bữa ăn, nghe tiếng chuông ta trở về với hơi thở. Ngồi trên tọa cụ nếu ta biết rằng ta đang ngồi với đại chúng, thì lập tức ta có chánh niệm và chánh định liền. Nghe người bạn tu đọc lời quán nguyện đầu của năm quán: “Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời và công phu lao tác”, nếu chánh niệm và chánh định của ta vững thì ta có thể có liền chánh kiến, nghĩa là có tuệ giác. Ta thấy rõ tính tương quan, tương duyên giữa mình với tăng thân, mình và thế giới. Ta thấy ta sống bằng thức ăn, mà thức ăn ấy là do mặt đất, bầu trời, do công phu lao tác của nhiều người. Tự nhiên những tình cảm thân thiết, biết ơn, hân hoan khởi lên. Đó là tuệ giác phát sinh từ niệm và định. “Xin nguyện sống xứng đáng để thọ nhận thức ăn này.” Muốn xứng đáng ta chỉ cần ăn thức ăn này trong chánh niệm. Ăn trong thất niệm, nghĩa là trong quên lãng, là vô ơn với đất trời, với công phu lao tác. “Xin nhớ ngăn ngừa những tật xấu, trước hết là tật tham ăn.” Bụt dạy nhiều lần về tính chừng mực khi ăn uống. Tham là một trong những tâm sở bất thiện, cùng với sân, si, mạn, nghi và kiến. Trong khi ta ăn cơm, ta dặn lòng đừng để những tâm niệm lầm lỗi đó trấn ngự, thì ta đã xứng đáng để được ăn bát cơm này. “Chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng thân tâm và ngăn ngừa tật bệnh.” Trong khi quán niệm về điều thứ tư này, ta biết Bụt dạy ta cẩn thận về ăn uống và tiêu thụ. Ngài dạy về bốn loại thức ăn. Có những thức ăn đem lại độc tố, đem lại sinh, tử, luân hồi. Và có những thức ăn mang lại khỏe mạnh, niềm vui và giải thoát.

Năm điều quán nguyện (ngũ quán) đọc trước khi ăn có mục đích giúp ta an trú trong chánh niệm, chánh định và chánh kiến. “Vì muốn thành tựu đạo nghiệp nên thọ nhận thức ăn này.” Đó là hạnh của người tu. Khi ăn một miếng cơm của đàn việt, của tín thí, của đất trời, ta biết rằng với thức ăn đó ta có thể làm nên tuệ giác, an lạc và hạnh phúc. Như thế mới xứng đáng. Có người hỏi: “Xin nguyện sống xứng đáng để thọ nhận thức ăn này, vậy phải làm thế nào để thực sự xứng đáng?” Tôi nói: “Chỉ cần ăn trong chánh niệm thôi là đã xứng đáng rồi.” Vì chánh niệm đưa tới chánh định và tuệ giác là hoa trái của sự tu học. Chỉ một điều đó thôi, nếu ta không làm được thì còn làm được điều gì? Có chánh niệm tức là có định. Chúng ta đã biết rằng chánh niệm trước hết là làm cho mình có mặt thực sự trong giờ phút hiện tại. Trong tác phẩm Lục súc tranh công có câu: “Ngẩn ngơ như ốc mượn hồn”, tả tình trạng đang ở đây và trong giờ phút này mà không thực sự có mặt. Và khi có niệm rồi thì ta có định, ta biết mình đang ở đâu, đang làm gì và ta sống được sâu sắc giờ phút đó.

Có hai trường hợp về định. Thứ nhất là khi ta có mặt bây giờ và ở đây, tiếp xử với giờ phút hiện tại một cách sáng suốt, duy trì được chánh niệm thì gọi là định. Ta không cần phải ngồi trong tư thế kiết già mới có định. Đi, đứng, nằm, ngồi, lau chùi, dọn dẹp, tiếp xử với người khác trong chánh niệm thì đã là định. Cái gì xảy ra trong giây phút hiện tại, ta hãy sống sâu sắc với cái đó.

Trường hợp thứ hai là định mà ta cố tâm duy trì trên một đối tượng duy nhất và đối tượng đó phải kéo dài. Đề tài đối tượng của định được chọn lọc. Ví dụ khi ta thiền hành một mình hay với tăng thân, ta muốn trong buổi thiền hành hôm đó ta hoàn toàn chỉ tập trung vào một đối tượng, ta không muốn tiếp xúc với quá nhiều thứ một lúc. Có khi gặp chim tiếp xúc chim, gặp gió tiếp xúc gió, gặp mây tiếp xúc mây, như vậy cũng là định nhưng các đối tượng của định đó chúng thay nhau tới và chúng nối tiếp nhau. Nhưng trong buổi thiền hành hôm nay cái mình muốn tiếp xúc chỉ duy nhất là đại địa. Thở vào tiếp xúc với đại địa, thở ra tiếp xúc với đại địa. Trong trường hợp này, ta không tiếp xúc với những thứ khác xung quanh như trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo,… chỉ đại địa mà thôi. Định có thể được thực tập trong tư thế kiết già, tâm chỉ chuyên chú về một đối tượng trong một thời gian dài. Có niệm có định và có tuệ, càng ngày ta càng sống thảnh thơi, an lạc, không vướng mắc.

THẢNH THƠI

Phong lai sơ trúc,

Phong khứ nhi trúc bất lưu thanh.

Nhạn quá hàn đàm,

Nhạn khứ nhi đàm vô lưu ảnh.

Thị cố quân tử sự lai nhi tâm thỉ hiện

Sự khứ nhi tâm tùy không.

dịch:

Gió qua lay trúc

Gió đi rồi nhưng không lưu luyến âm thanh

Nhạn lướt mặt hồ

Nhạn đi mà hồ không nắm bắt hình ảnh

Người quân tử cũng vậy

Việc xảy ra tâm mới tiếp xử

Việc qua rồi, tâm lại thảnh thơi.

Cơn gió tới thổi qua lay chuyển khóm trúc, gió đi mà trúc không giữ lại âm thanh. Khi gió xào xạc âm thanh thì trúc có mặt tiếp xử với âm thanh, có chánh niệm. Nhưng khi gió đi rồi thì trúc trở lại im lặng, trúc không vướng vào, không tiếc nuối âm thanh kia nữa. Trúc thật sự có tự do. Con chim nhạn bay ngang qua hồ lạnh mùa thu, nhạn qua rồi thì mặt hồ không lưu luyến hình ảnh của chim nữa. Trong khi chim nhạn đang bay thì hình ảnh con chim nhạn được hiển hiện trong mặt hồ rất rõ. Tiếp theo hai hình ảnh trên, thi sĩ kết luận: cho nên người quân tử, tức là hành giả, khi sự việc tới thì tâm đón nhận, không chờ đợi, không thao thức trước; sự việc đi thì tâm lại rảnh rang, trống không. Sự lai nhi tâm thỉ hiện, tức là chỉ khi sự việc đến thì mới để tâm nhìn nhận, với tất cả tâm ý. Sự khứ nhi tâm tùy không, tức là sự việc đi qua rồi thì cái tâm ta theo đó mà trở thành vắng lặng. Bài thơ thật hay. Hồi còn làm chú tiểu, tôi đã được đọc bài thơ này treo trên vách thiền viện, nét chữ của thầy Hoằng Thơ. Sống đời sống hàng ngày, ta tiếp xử sâu sắc những gì đang xảy ra với chánh niệm. Nhưng khi những chuyện đó qua đi thì ta không lưu luyến, không bị ràng buộc nữa, dầu đó là một cái gì ngọt ngào, dầu đó là nỗi ngậm ngùi, cay đắng.

Người tu hay người không tu đều cần có định. Sống ở ngoài đời cần có định, sống ở trong tự viện phải thực tập định nhiều hơn. Người lái xe phải có định. Mạng sống của bao nhiêu người tùy thuộc vào niệm và định của anh ta. Cho nên muốn tu hay không tu, anh cũng phải có niệm và có định.

Niệm và định làm cho đời sống sâu sắc hơn và đẹp đẽ hơn. Các bà mẹ thường khuyên con gái: “Con là con gái thì làm việc gì cũng phải có ý có tứ.” (Làm như con trai không cần phải có ý có tứ!) Khi người con gái đi, đứng, nói và cười có ý có tứ thì tự nhiên người con gái đó đẹp lên bội phần. Cái đẹp đó không phải là do phấn son, áo quần lượt là bên ngoài; cái đẹp đó ở trong tư cách, là do chánh niệm. Đi, đứng, nói, cười trong chánh niệm là một món trang sức từ bên trong đi ra. Con trai cũng vậy. Con trai mà đi, đứng, nói, cười trong chánh niệm thì cũng chắc chắn đẹp hơn. Bà mẹ Việt Nam tuy không nói ngôn từ Phật học nhưng bà cũng biết chánh niệm là một mỹ phẩm đích thực của con mình. Nếu đứa con gái của mình không có chánh niệm, không có ý tứ thì nó sẽ đi đứng hấp tấp, ăn nói bộp chộp, vô duyên. Không ý tứ thì không phải là một thiếu nữ đằm thắm, đoan trang, có thể mang hạnh phúc cho người xung quanh.

Niệm và định càng cao thì nếp sống của ta càng có phẩm chất. Khi làm một bài toán khó, anh cần phải có định và có niệm. Anh phải chú tâm vào đề bài toán thì mới làm toán được. Vừa làm toán vừa nghe phát thanh, vừa xem truyền hình thì anh không thể có định, anh không thể giải đề toán khó được. Cho nên ngay một cậu học sinh cũng cần phải có niệm và có định. Nhưng định cũng có lúc chỉ nhắm tới việc làm quên lãng khổ đau, để ta trốn tránh những vấn đề thật của mình. Những định như vậy cũng có thể làm ta an ổn trong một thời gian ngắn, nhưng khi ta trở lại với thực tại thì thực tế lại trở nên cam go, khó khăn hơn cho mình nhiều. Đó là tà định. Trong khi ngồi thiền, niệm và định của ta làm nên phẩm chất của thiền, nếu không thì chỉ ngồi đó thôi, cứng ngắc.

BỤT ĐANG CÓ MẶT

Sự có mặt đích thực của ta do niệm và định tạo nên. Khi ta thực sự có mặt thì sự sống có mặt, tự nhiên tuệ giác bừng nở. Ngồi thiền mà không có niệm và định thì không phải là ngồi thiền. Đi thiền mà không có niệm và định thì không phải là đi thiền. Ăn cơm im lặng với đại chúng mà không có niệm và định thì ăn cơm trong hai ngàn năm cũng uổng thôi, không đi tới đâu hết. Khi ta leo núi Linh Thứu, niệm và định của ta làm cho núi Thứu thành ra núi Thứu đích thực. Có những người đi hành hương mà hơi tham, muốn đi cho thật nhiều thật đủ. Cho nên tới đâu họ cũng chạy và họ mệt nhoài. Họ chỉ chụp vài cái hình để chứng tỏ mình đã từng có mặt tại chỗ đó. Sự thực thì họ có thể chưa bao giờ từng có mặt tại chỗ đó. Tuy đứng trên núi Thứu mà họ không có mặt trên núi Thứu, tuy là đã tới Khổ hạnh lâm, đã lạy sì sụp mười mấy lạy, mà kỳ thực họ chưa bao giờ có mặt ở Khổ hạnh lâm.

Khi có định và tuệ rồi thì ở đâu cũng là núi Thứu, ở đâu cũng là Khổ hạnh lâm. Thiền hành một giờ đồng hồ tại Làng Mai cũng có giá trị tuyệt vời của một huyền sử, mà bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể thực hiện được. Núi Linh Thứu là đây, mặt trời mà Bụt Thích Ca nhìn thấy năm xưa, ngày hôm nay chúng ta cũng vẫn có thể nhìn thấy được.

Thiền sư Vô Ngôn Thông, người đã thành lập một phái thiền ở Việt Nam vào thế kỷ thứ chín, trước khi tịch đã để lại một bài kệ trong đó có mấy câu:

Tây thiên thử độ,

Thử độ Tây thiên,

Cổ kim nhật nguyệt,

Cổ kim sơn xuyên.

dịch:

Đây là Tây trúc

Tây trúc là đây

Trời trăng năm xưa

Trời trăng năm nay.

Tây thiên thử độ, thử độ Tây thiên” nghĩa là Thiên Trúc là chính nơi đây, nơi đây chính là Thiên Trúc, đừng nghĩ rằng anh phải đi tận đâu đâu mới qua được tới Thiên Trúc. Ngôn ngữ của thầy giống như ngôn ngữ Tâm Kinh Bát Nhã. Nói Tây thiên thử độ đủ rồi, lại còn láy lại thử độ Tây thiên, giống như “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. “Cổ kim nhật nguyệt, cổ kim sơn xuyên” (mặt trời, mặt trăng của ngày xưa chính là mặt trời, mặt trăng của ngày hôm nay). Và sông núi cũng vậy, không có gì mất đi cả. Bụt Thích Ca còn đó và mặt trời Bụt Thích Ca nhìn cũng còn đó. Nếu có niệm và có định, chúng ta cũng có thể khám phá và tiếp xúc được với núi Thứu, với mặt trời trên núi Thứu, ngay khi chúng ta đang ở đây.

Cuộc đời một trăm năm, hay sáu bảy chục năm, là một cuộc leo núi. Ngọn núi đó là một thế kỷ, người leo trước, người theo sau. Mỗi bước leo núi của chúng ta phải tạo thành một truyền kỳ, một huyền sử trong lòng chúng ta và cho con cháu chúng ta. Nếu sống sâu sắc được một ngày như vậy thì chúng ta cũng có thể sống được một năm như vậy. Và sau khi leo ngọn núi thế kỷ này rồi, ta vẫn có thể tiếp tục leo ngọn núi thế kỷ của các thế hệ con cháu chúng ta, tiếp tục hoài hoài không dứt.

Mỗi khi quý vị bước được một bước chân an lạc là Bụt Thích Ca đang đi trên núi Thứu. Đi mà miệng nở được nụ cười là ta đang đi cho Bụt. Bụt sống mãi trong sự thực tập của chúng ta. Có nhiều vị cứ than phiền là chúng ta sinh ra quá trễ, ra đời vào lúc Bụt đã tịch hai ngàn sáu trăm năm trước mất rồi… “Khứ Thánh thời diêu” là cách thời đại của Bụt xa lắc xa lơ. Than thân trách phận như vậy là vì chúng ta không có niệm và định.

Vào thời Bụt còn tại thế, nhiều người có khả năng ngồi với Bụt rất sâu sắc và chỉ cần ngồi cạnh Bụt thôi là hạnh phúc đã tràn đầy. Nhiều người tới ngồi cạnh Bụt nhưng vẫn không thực sự có mặt. Cũng có nhiều người tới để cãi nhau với Bụt. Họ chuẩn bị trước những câu hỏi hóc búa để hỏi. Nhiều khi Bụt cười, nhiều khi Bụt không trả lời. Và có những người đã từng học với Bụt, tu với Bụt nhưng cuối cùng lại bỏ Bụt mà đi. Thành ra dầu ta có sinh ra cách đây hai ngàn sáu trăm năm, không xa thành Vương Xá, không xa thành Ca Tỳ La Vệ bao nhiêu, được ngồi bên Bụt mà chưa chắc ta đã thật sự gặp Bụt. Có nhiều người từng ngồi với Bụt nhưng đã không thật sự có mặt, và không tiếp nhận được sự có mặt của Bụt. Ngồi như vậy có hơn gì sinh ra cách Bụt hai ngàn sáu trăm năm đâu? Học được phương pháp ngồi, ngồi một mình hay với các bạn, trên núi Thứu hay ngay ở Làng Mai, ta có thể ngồi với Bụt trong giờ phút hiện tại.

Ngay bây giờ, chúng ta đang có thầy, có bạn và có tăng thân. Đối với nhiều người, Làng Mai là một truyền kỳ, mà không bao giờ họ có thể tới được. Mà cũng có người đang ngồi ngay giữa Làng Mai nhưng không tham dự được vào cuộc leo núi. Hành trang của giận hờn, của ganh tỵ, của bực bội, của lười biếng lớn quá, khiến cho họ không tham dự vào cuộc hành trình mầu nhiệm.

CHÁNH ĐỊNH

Định luôn luôn là định vào một đối tượng nào. Khi ta thiền hành lấy đối tượng là đại địa thì đại địa là đối tượng của định. Khi thiền hành lấy hơi thở làm đối tượng thì hơi thở là đối tượng của định. Đối tượng của niệm cũng là đối tượng của định. Và chúng ta đừng tưởng tượng có định mà không có đối tượng của định. Nhìn vào đối tượng của thiền quán, chúng ta khám phá ra bản chất chân thật, cội nguồn và gốc rễ của nó. Khám phá ấy gọi là tuệ, là chánh kiến.

Đạo Bụt nói tới cửu thứ đệ định, tức là chín loại định nối tiếp nhau. Theo thứ tự trước hết là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Tiếp theo là không vô biên xứ định, thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định và thứ chín là diệt tận định.

Thiền thứ nhất là sơ thiền, có tầm và từ, còn có tư duy, sau đó dần dần tư duy không còn nữa. Những giáo phái khác ngoài đạo Bụt cũng thực tập tứ thiền và tứ vô sắc định. Nhưng mục đích và lề lối thực tập của họ khác. Họ có thể đi tìm những cái khác hơn là mục đích giải thoát. Có thể họ chỉ tìm cách xoa dịu khổ đau. Nhiều người đau khổ quá muốn tìm một ít phương thức để làm dịu khổ đau thôi. Họ có thể tìm kiếm sự quên lãng, trốn tránh chính mình, trốn tránh hoàn cảnh, trốn tránh những vấn đề có thật của mình. Đôi khi, chúng ta cũng cần lẩn trốn như vậy trong một thời gian ngắn, sau đó ta cũng phải trở lại để đối diện với những vấn đề có thật của chúng ta, nếu không thì sự thực tập đó trở thành tà định. Sự khác nhau giữa định thế gian và định xuất thế gian là phép thiền định của chúng ta nhắm tới mục đích tháo gỡ và giải thoát mà không phải là để trốn tránh.

Tới định thứ năm thì đối tượng của định là không vô biên xứ (limitless space). Đối tượng này là hư không không có biên giới. Chúng ta đã học hư không là một trong sáu đại: địa, thủy, hỏa, phong, không và thức. Chúng ta lấy hư không làm đối tượng, nhưng quán chiếu để thấy tính cách tương tức tương nhập của hư không với tất cả những yếu tố kia, tức là địa, thủy, hỏa, phong và thức. Trong thức vô biên xứ định (limitless consciousness) thì đối tượng của định là thức, chỉ có thức thôi. Nhưng thức cũng tương tức tương nhập với năm yếu tố kia, là địa, thủy, hỏa, phong và không. Rồi đến Vô sở hữu xứ. Vô sở hữu là không có gì cả, nhưng cái không này không phải là hư không. Tri giác của chúng ta nhận thấy có các sự vật ở ngoài nhau, độc lập với nhau. Cái hoa là cái hoa, lá là lá, cái bàn là cái bàn. Đối tượng của tưởng (tri giác) là tướng. Nhưng đi sâu vào tính tương duyên tương tức của sự vật, chúng ta thấy rằng mỗi vật chứa đựng tất cả vạn hữu và vũ trụ. Cái này có vì cái kia có. Trong cái hoa có cái lá, trong cái lá có cái hoa, có mặt trời, có đám mây. Trong cái lá chứa đựng được tất cả vạn hữu của vũ trụ. Cho nên chúng ta vượt khỏi tướng, thấy được không sự vật nào hiện hữu riêng biệt, gọi là Vô sở hữu. Định này có công năng hiển lộ sự hiểu biết đó.

Định thứ tám là phi tưởng phi phi tưởng. Tưởng đây là tri giác. Mọi hiện tượng phát hiện ra qua tưởng, qua tri giác của chúng ta. Nhưng ta biết tri giác không phản chiếu sự thật. Muốn vượt thoát vọng tưởng, để có thể tiếp xúc với thực tại, ta không thể nương vào tưởng nữa. Nhưng nếu bỏ tưởng đi thì ta trở thành vô tri vô giác, như gỗ đá, ở trạng thái phi tưởng. Cho nên không dựa vào tưởng mà cũng không ở trong phi tưởng, gọi là phi tưởng phi phi tưởng. Trong Trung A hàm Trung bộ, có nhiều kinh trong đó Bụt nói với thầy A Nan và thầy Xá Lợi Phất về tưởng. Một lần thầy A Nan hỏi: “Bạch đức Thế Tôn, khi chúng ta quán chiếu về đất, quán chiếu một cách sâu sắc thì chúng ta có thể thấy rằng đất không phải là đất nữa, có đúng không?” Bụt nói: “Đúng như vậy. Khi quý vị quán chiếu về không, về thức, về địa, thủy, về hỏa, về phong cũng như vậy. Nếu quán chiếu cho thật sâu sắc thì đất không còn là đất nữa. Đất cũng là hỏa, là thủy, là phong, là không, là thức. Đất không phải là một thực thể độc lập đối với những cái khác.” “Bạch đức Thế Tôn, khi chúng ta quán chiếu về đất, chúng ta có thể nhận thấy là không có đất nữa chăng?” Bụt nói: “Có thể được.” Thầy A Nan hỏi tiếp: “Nhưng mà vẫn có tưởng?” Bụt nói: “Vẫn có tưởng.” Vì tưởng 想 tức là cái tâm của ta 心 trong đó có tướng 相 , tướng ở đây là đất. Ban đầu, ta bị lừa dối bởi cái tướng như là một cái gì tồn tại độc lập ngoài gió, lửa, nước, không và thức. Nhưng quán chiếu sâu, ta không bị lừa dối nữa. Ta biết rằng cái mà ta gọi là đất không phải chỉ là đất, nó là tất cả những cái không phải là đất. Cho nên, cái tướng đất biến mất, tuy nhiên vẫn có tưởng, nghĩa là nhận thức vẫn còn. Trước đó, tưởng là một vọng tưởng, nhưng sau đó trở thành một thứ tưởng khác, tạm gọi là chân tưởng (correct perception), và có thể gọi là trí (prajñā). Cho nên ở mức thiền thứ tám này người ta thao thức, gạt bỏ tất cả những tri giác có tác dụng chia cắt thực tại ra từng phần nhỏ. Nhờ thế ta không còn bị lừa gạt bởi tướng sinh, tướng diệt, tướng nhiều, tướng ít, tướng có, tướng không, v.v. và thoát ly khỏi tưởng (perception), gọi là phi tưởng (non-perception). Nhưng ta biết rằng đó cũng không phải là trạng thái vô tri vô giác, cho nên tuy ta gọi nó là phi tưởng mà cũng gọi nó là phi phi tưởng – không phải tưởng, cũng không phải phi tưởng.

Cuối cùng, người tu học đạt tới một trạng thái gọi là diệt tận định, có khi gọi là diệt thọ tưởng định. Có hai định đều gọi là vô tâm định: vô tưởng định và diệt tận định.

Vô tưởng định là định của thế gian, nhắm tới mục đích thoát khổ bằng cách triệt tiêu tri giác, tức là tưởng, để không còn đau khổ nữa, nhưng chưa phải là giải thoát. Vô tưởng thiên là cõi trời trong đó có sự sống nhưng không có tri giác. Cõi trời đó ở ngay xung quanh chúng ta, có hình thái của sự sống mà không có tri giác. Đi từ sự sống phức tạp như của các loài thú vật, đến sự sống của những sinh vật đơn bào (chỉ có một tế bào) như con amibe, thì chúng ta thấy rằng tưởng cũng thay đổi từ tình trạng rất phức tạp tới vô cùng đơn sơ. Ở ranh giới giữa động vật và thực vật, như rong rêu. Và đến loài đất đá. Những loài này có tưởng hay không có tưởng. Chúng ta có thể khám phá được sự sống của cõi vô tưởng ở ngay trong cơ thể chúng ta, ở cả xung quanh chúng ta.

Cụ Nguyễn Du nói:

Trăm năm trong cõi người ta

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Trong cõi người ta nhiều khổ đau quá, chỉ cần mở mắt ra đã thấy khổ rồi. Mở mắt tức là có tri giác, có tưởng. Cho nên thà rằng không thấy, không nghe, không có tri giác, cuộc sống chắc khỏe khoắn hơn, như Nguyễn Công Trứ ước ao:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Đây là một khuynh hướng tự nhiên, người ta đi tìm một cõi trong đó mình không cần tri giác, đi tìm sự sống vô tưởng. Một trong những cách để vào cõi vô tưởng là phương pháp thiền định gọi là vô tưởng định. Không thấy, không nghe gì nữa. Vì thấy và nghe chỉ thêm khổ thôi.

Trong sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý, thức thứ sáu phối hợp với năm thức đầu có công năng làm phát khởi tưởng (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư). Vào cõi trời vô tưởng, hay trong vô tưởng định, thức thứ sáu ngưng hoạt động. Vì vậy không còn tri giác, không còn tưởng. Nhưng trong ánh sáng của tâm lý học Phật giáo, và qua kinh nghiệm tu tập, thì giai đoạn vô tưởng chỉ là thời gian đình chiến với đau khổ mà thôi. Khi chấm dứt trạng thái vô tưởng định, lại trở về sự sống có tưởng, đau khổ lại hiện hành. Cho nên, vô tưởng định không phải là nẻo thoát, là tà định.

Thứ chín là diệt tận định. Để hiểu trạng thái diệt tận định (còn gọi là diệt thọ tưởng định), cần hiểu chữ diệt theo nội dung diệt đế của Tứ diệu đế, như đã giải thích trong những bài đầu. Để thấy diệt tận định khác vô tưởng định như thế nào, ta cần đi sâu hơn vào phía tàng thức, theo phân tích của Duy biểu học.

Trong Duy biểu học, trước gọi là Duy thức học, sau các thức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, còn có thức mạt na (manas) thường được gọi là thức thứ bảy và thức thứ tám, là tàng thức (ālaya). Khi một người đi vào định vô tưởng tuy rằng thức thứ sáu đã ngưng làm việc, nhưng các thức thứ bảy và thứ tám vẫn hoạt động. Những vô minh và nội kết vẫn còn nguyên trong tàng thức và biểu hiện trong mạt na bằng sự phân biệt mình và người. Thức mạt na là một năng lượng phân biệt dai dẳng và âm thầm: “Đây là ta, đây không phải là ta.” Vào định vô tưởng hay vào cõi trời vô tưởng thì cũng chỉ đình chiến được một thời gian thôi. Khi ra khỏi vô tưởng định và vô tưởng thiên thì tất cả nguồn gốc của khổ đau, từ trong thức thứ tám cũng sẽ hiện hành trở lại. Chỉ có các vị A la hán đã vượt ra khỏi định thứ tám và đi vào định thứ chín mới chuyển hóa được mạt na thức và gột sạch được những nội kết ở trong tàng thức.

Những nội kết trong tàng thức rất nhiều, nhưng nội kết lớn nhất là vô minh. Vô minh tức là sự si mê, không biết được tự tánh chân thật về sự vật. Sự vật là vô thường mà nghĩ là thường, sự vật vô ngã mà nghĩ là hữu ngã. Trên cái vô minh căn bản đó sinh ra những nội kết tham, sân, si, mạn, nghi, kiến v.v. Người tu học phải tinh chuyên, quán chiếu để chuyển hóa khối vô minh. Những hạt giống chấp ngã, chấp pháp, những hạt giống tham, giận và si mê phải được chuyển hóa. Sau khi chúng được chuyển hóa rồi thì tàng thức được tự do, những khối vô minh tan biến. Lúc đó thức mạt na không còn tác dụng nữa, trở thành một loại trí tuệ gọi là Bình đẳng tánh trí. Bình đẳng tánh trí là thấy được tính cách tương tức tương nhập của mọi sự mọi vật, thấy cái ta với cái không ta là một, không có sự kỳ thị giữa ta-không ta. Thấy sự sống của người quý như sự sống của mình.

Trong khi đó tàng thức (ālaya) trở thành Đại viên cảnh trí, trí tuệ như một tấm gương tròn sáng lớn, phản chiếu được sự thật trong mười phương. Thức thứ sáu trở thành một tác dụng gọi là Diệu quan sát trí, tức là trí tuệ có thể quan sát được một cách mầu nhiệm tất cả những hiện tượng sinh diệt, tới lui mà không còn bị kẹt vào vô minh nữa. Năm thức đầu (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân) trở nên Thành sở tác trí, trí tuệ có thể thành tựu rất nhiều phép lạ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của mình trước kia là nguồn gốc của những đau khổ, nhưng giờ đây chúng lại tạo ra được những phép lạ. Thành sở tác trí đưa ta tới vườn chân như, thế giới của Hoa nghiêm, của ánh sáng

Có bốn loại trí tuệ. Đại viên cảnh trí làm bối cảnh soi sáng. Bình đẳng tánh trí chiếu rọi tính tương tức của các pháp. Diệu quan sát trí phân biệt và quyết trạch các pháp mà không kẹt vào kỳ thị và cố chấp. Thành sở tác trí vận dụng sắc, thanh, hương, vị, xúc mà không bị nô lệ cho năm trần. Vọng tưởng và vọng thức nhờ tu tập được chuyển hóa thành tứ trí. Trong trạng thái Diệt tận định, tuy gọi là Diệt thọ tưởng định nhưng với Tứ trí làm căn bản, tất cả các thức vẫn còn, vẫn có tưởng, vẫn có thọ, nhưng không là thọ và tưởng do vô minh tác thành nữa. Diệt hiểu theo nghĩa diệt của Tứ diệu đế.

Đến đây, thọ và tưởng vẫn còn nhưng hoàn toàn được soi sáng trong tứ trí. Cảm thọ vốn do sự tiếp xúc giữa sáu căn với sáu trần, thường vẫn đưa tới Ái, đưa tới Thủ rồi tới Hữu. Ái thường đưa tới Thủ, là sự vướng mắc trôi lăn trong sinh tử. Nhưng trong ánh sáng của tứ trí, thọ bây giờ đưa tới từ bi, không vướng mắc. Từ bi và đại nguyện, không đưa tới Thủ, mà đưa tới hành động cứu độ. Diệt thọ tưởng định không phải là tới một trường hợp không có thọ và tưởng nữa, mà tới một trường hợp trong đó thọ không còn là thọ ngày xưa, tưởng không còn là vọng tưởng của ngày xưa. Vì những khối vô minh trong Ālaya thức và Mạt na thức đã được quét sạch, đó đích thực là Diệt tận định. Diệt tận là diệt tất cả những chất liệu vô minh trong thọ và tưởng, nhưng không có nghĩa là không còn thọ và tưởng.

Có ba phép quán, ba trạng thái định rất quan trọng, gọi là Tam tam muội (tam muội là samādhi). Tam tam muội có khi gọi là Tam giải thoát môn, ba cánh cửa đi vào giải thoát (the three gates of liberation). Tam tam muội là không tam muội, vô tướng tam muội và vô tác tam muội. Chúng ta sẽ có dịp học thêm khi trở lại nói về chánh kiến.

Nói tóm lại, định không phải chỉ có mặt trong khi ta ngồi thiền, định có thể đạt được trong mỗi giờ phút của đời sống hàng ngày. Cho nên phương pháp thực tập của chúng ta là khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cười và làm việc ta đều phải có định. Ta phải có mặt trong giây phút hiện tại, phải xử lý những gì xảy ra trong giây phút hiện tại với chánh niệm. Làm việc có giỏi cách nào đi nữa mà nếu trong đời sống hàng ngày không có chánh niệm và chánh định thì ta không phải là một thành phần tốt của tăng thân. Đóng góp cho tăng thân bằng cách ngồi cho ra ngồi, đi cho ra đi, giặt áo cho ra giặt áo, ăn cơm cho ra ăn cơm. Ngồi yên, tiếng Hán Việt gọi là tĩnh tọa. Thân ngồi yên ổn và vững chãi được thì tâm sẽ yên vững được. Nếu thân không yên thì làm sao tâm yên? Không cần phải có thiên nhãn, chỉ cần nhìn một người đi, đứng, nói, cười là ta biết người đó có an trú trong niệm và định hay không. Không có niệm và định là sống hời hợt, rất uổng phí sự sống.

Không có niệm và định, tâm ta vẫn còn nguyên những khối giận hờn, buồn bực và ganh tức. Ta sẽ không thực hiện được hoài bão chuyển hóa thân tâm, đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho những người mình thương yêu. Khi ta sống có chánh niệm và chánh định, tự nhiên trí tuệ phát sinh, và ta thấy được chân tướng của các pháp là vô thường, vô ngã và niết bàn. Thấy được tính duyên sinh của sự vật, tự nhiên trí hiểu biết, lòng tha thứ và tình thương yêu sẽ tới. Năng lượng của niệm và của định đưa tới chánh kiến, cái thấy về chân tướng các pháp: vô thường, vô ngã và niết bàn. Cho nên trong đời sống hàng ngày nếu ta sống trong chánh niệm, và chánh định thì ba tự tánh gọi là tam pháp ấn sẽ hiện rõ. Kỳ sau chúng ta sẽ trở lại bàn về chánh kiến, và chúng ta sẽ hiểu rằng vô thường, vô ngã và niết bàn là những giáo lý Bụt đưa ra để hướng dẫn chúng ta thiền quán, tiếp xúc, quán chiếu các sự vật ở xung quanh ta và trong chính bản thân ta. Chúng ta sẽ thấy rằng vô thường, vô ngã và niết bàn là những phương pháp quán chiếu rất thực tế, rất cụ thể, không phải là những ý niệm và lý thuyết trừu tượng.

Bài 15 Quán pháp trong pháp

Hôm nay là ngày 13 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp về chánh niệm trong Bát chánh đạo. Hôm nay, chúng ta đi sang lĩnh vực thứ tư của Bốn niệm xứ, là quán niệm về pháp.

Trong kinh Quán niệm hơi thở , Bụt dạy chúng ta bốn bài tập dùng hơi thở để quán chiếu về thân, bốn hơi thở khác để quán chiếu về thọ, bốn hơi thở quán chiếu về tâm, và cuối cùng là bốn hơi thở để quán chiếu về các pháp. Nói đến pháp, có người hiểu là giáo pháp của Bụt, tuy không sai nhưng không đúng hẳn. Pháp ở đây là một từ để chỉ tất cả mọi hiện tướng gồm sắc pháp và tâm pháp, cố nhiên có giáo pháp ở trong đó. Pháp ở đây gồm pháp thế gian, pháp xuất thế gian, tất cả các đối tượng của tâm. Chúng ta biết có 51 tâm hành, vậy cũng có 51 loại pháp là đối tượng của các tâm hành.

Thí dụ các tâm hành xúc, tưởng và tác ý. Tác ý tức là chú tâm để ý tới, ví dụ nghe tiếng chim hót, ta nhìn lên, đó là tác ý. Những đối tượng làm cho ta tác ý là pháp. Xúc cũng vậy. Khi con mắt ta tiếp xúc với trời xanh thì con mắt là căn mà trời xanh là trần. Căn và trần tiếp xúc với nhau phát sinh ra thức, vậy xúc cũng có đối tượng của xúc. Xúc luôn luôn là xúc một cái gì. Tưởng cũng vậy. Tưởng là tri giác. Khi ta nhìn vào đèn, hình ảnh của đèn trong mắt ta là một tri giác, đèn là đối tượng của tri giác. Đối tượng của tưởng thường gọi là tướng. Trong từ Hán Việt, chữ tướng 相 (lakṣaṇa) viết thêm chữ tâm bên dưới thành chữ tưởng 想 . Chúng ta có tưởng là do ta tạo ra các tướng ở trong tâm. Núi, sông, trời, biển đều là những tướng, đều là đối tượng của tưởng, và đều thuộc về phạm vi của pháp. Tất cả những gì mà chúng ta nhận thức được trong thế giới đều được gọi là pháp. Chúng ta có những tâm hành như giận hờn, lo sợ, hay là nỗi buồn. Đối tượng của các tâm hành cũng đều gọi là pháp. Tóm lại, pháp là một từ bao hàm tất cả mọi hiện tượng do thân và tâm ta tiếp xúc, kể cả những hiện tượng không phải sinh lý và vật lý, gọi là các pháp Không Tương Ưng, mà ta sẽ nói tới sau.

QUÁN PHÁP TRONG PHÁP

Quán chiếu về pháp tức là lấy hơi thở có chánh niệm rọi ánh sáng vào đối tượng hiện đang ở trong tâm, gọi là quán pháp trong pháp (contemplation of dharmas in dharmas). Đạo Bụt có danh từ trạch pháp, có nghĩa là khảo sát, nhìn sâu, tìm cho ra bản chất của các pháp (investigation of dharma), quyết trạch về các pháp. Trạch pháp là một trong Thất bồ đề phần, còn gọi là Thất giác chi, bảy yếu tố đưa tới giải thoát (the seven factors of enlightenment – bodhyaṅga). Quán niệm pháp trong pháp tương đương với yếu tố trạch pháp của thất bồ đề phần.

Có danh từ nữa là Ngũ đình tâm quán, tức là năm phép quán có tác dụng làm lắng lại tâm rong ruổi của mình. Trong ngũ đình tâm quán trước hết ta có Sổ tức quán là phép đếm hơi thở. Nhân duyên quán là quán về tính cách tương tức tương nhập của sự vật. Từ bi quán, còn gọi là Niệm Phật quán, nhất là trong các truyền thống tu tịnh độ. Niệm Phật cho đúng thì thế nào cũng phát hiện và nuôi dưỡng được chất liệu từ và bi. Bất tịnh quán có nghĩa là quán về tính chất bất tịnh, mặt trái của sự vật. Sự vật có thể là danh, có thể là lợi, có thể là tài, là sắc. Nhìn một bên ta thấy hấp dẫn nhưng phía sau ta thấy bất tịnh. Sau cùng là Giới phân biệt quán. Giới là các hiện tượng, các pháp. Phân biệt là tìm hiểu, quán sát hay quyết trạch.

Vậy thì quán pháp trong pháp tương đương với giới phân biệt quán của Ngũ đình tâm quán và trạch pháp giác chi trong Thất giác chi. Trong bộ Trung A hàm có kinh Đa giới (Bahudhātuka sutta). Bahu là đa, dhātu là giới. Kinh này cũng có mặt ở Trung bộ kinh (Majjhima nikāya). Trong kinh này Bụt dạy rằng tất cả những sợ hãi, những lo âu và những hoạn nạn của chúng ta đều phát xuất từ sự ngu dốt. Ngu dốt tức là vô minh, không thấy được chân tướng của sự vật. Nếu chúng ta khiếp đảm, nếu chúng ta lo âu, nếu chúng ta thấy đời đầy hoạn nạn, không có an ninh, thì đó là do ta không thấy rõ được chân tướng của vạn pháp. Nếu quán chiếu và quyết trạch được các giới, chúng ta có thể chuyển hóa vô minh và sẽ không còn cảm giác sợ hãi và bấp bênh nữa. Một hôm, trong khi ngồi thiền, thầy A Nan phát kiến ra rằng tất cả những sợ hãi, lo âu và hoạn nạn của mình đều đã được phát sinh từ sự không thấu hiểu các tâm pháp và sắc pháp. Thầy A Nan lên thưa Bụt điều đó, Bụt bảo thầy nói rất đúng. Muốn vượt thoát khỏi lo sợ và sầu bi thì ta phải quán chiếu về giới và Bụt dạy thầy A Nan thế nào là giới.

Trước hết, giới tức là mười tám lĩnh vực của hiện hữu. Con mắt là một giới (gọi là nhãn giới), đối tượng của mắt là một giới (gọi là sắc giới). Cái thấy, là giới thứ ba, nhãn thức giới. Trong lĩnh vực của thấy, vùng đất thứ nhất là con mắt, vùng đất thứ hai là đối tượng của con mắt và vùng đất thứ ba là cái biết phát sinh từ sự tiếp xúc giữa nhãn giới và sắc giới. Đó là ba giới. Rồi đến nghe: nhĩ giới, thanh giới và nhĩ thức giới; ta tiếp tục tính như vậy với tỷ, thiệt, thân và ý, tất cả là sáu căn. Rồi đến sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sau đó là sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Cộng lại là mười tám giới. Có thể nói là mọi hiện hữu trong vũ trụ đều bao gồm trong mười tám giới. Bụt dạy nếu chúng ta quán chiếu về mười tám giới và thấy được bản chất của mười tám giới thì chúng ta có thể vượt thoát vô minh và mọi sợ hãi, hoạn nạn và lo buồn.

18 giới = 6 căn + 6 trần + 6 thức

Thầy A Nan hỏi: “Có thể có một định nghĩa khác về giới hay không?” Bụt nói: “Có thể. Chúng ta có thể quán chiếu về sáu giới: địa, thủy, phong, hỏa, không và thức.”

Trước hết là địa, thủy, hỏa, phong: đất, nước, lửa và không khí, gọi là bốn đại (Mahābhūta). Giới thứ năm là không, tức là không gian, giới thứ sáu là thức. Nếu quán chiếu từng giới, chúng ta có thể thấy mỗi giới chứa đựng tất cả năm giới khác. Trong địa có thủy, hỏa, phong, không và thức. Trong thức cũng có địa, thủy, hỏa, phong và không, v.v. Quán chiếu địa, thủy, hỏa, phong, không và thức ở trong tự thân ta, rồi quán chiếu địa, thủy, hỏa, phong, không và thức ở ngoài. Thấy rằng không có biên giới giữa lục xứ bên trong và lục xứ bên ngoài, chúng ta thoát khỏi ý niệm về sống chết.

6 giới = Địa, thủy, phong, hỏa, không, thức

Thầy A Nan lại hỏi: “Bạch đức Thế Tôn, ngoài cách quán chiếu giới qua mười tám loại và qua sáu loại, có thể quán chiếu về giới bằng cách khác nữa không?” Bụt nói: “Có thể được. Lạc, khổ, hỷ, ưu, xả và vô minh, cũng là sáu giới.”

Nhìn cho kỹ lĩnh vực của lạc, của hạnh phúc, chúng ta tiếp xúc, nhận thức cho thấu đáo; nhờ công phu quyết trạch và tìm tòi, ta biết được bản chất của lạc. Ta biết rằng lạc là vị ngọt đem tới cho chúng ta. Vị ngọt đó tượng trưng cho dục lạc, cho nhu yếu hưởng thụ. Nhưng nếu quán chiếu sâu sắc, tìm ra được chân tướng của lạc, chúng ta sẽ giải thoát. Ta biết rằng những thứ trước kia có thể ta cần đến, nhưng lại ràng buộc làm cho ta mất hạnh phúc chân thật. Biết như vậy thì chúng ta sẽ tự giải thoát khỏi những nhu yếu đó. Về khổ cũng vậy. Quán chiếu nỗi khổ, không sợ hãi, không chạy trốn, đi sâu vào quán chiếu, ta thấy được bản chất của khổ. Đó gọi là trạch pháp, là giới phân biệt quán. Ưu là sự lo lắng. Lo lắng là chứng bệnh của thời đại chúng ta. Hỷ là niềm vui. Chúng ta nhìn sâu, để xem đó có phải là niềm vui chân thật, có tính cách nuôi dưỡng và chuyển hóa ta không, hay chỉ là những hiện tướng bên ngoài cốt để che lấp sầu đau có thật bên trong. Có cô thiếu nữ người Pháp trong một khóa tu ở Paris nói: “Bạch Thầy, có khi giữa một buổi dạ hội nhảy múa quay cuồng, đang cười cười, nói nói với các bạn, tự nhiên con khựng lại. Con thấy chuyện nhảy múa cười cợt chẳng qua chỉ là một lớp màn mỏng dùng để che đậy những khối lo lắng và buồn khổ nằm ở trong lòng con mà thôi.” Cái hỷ này không phải là chân hỷ, không phải là niềm vui đích thực. Xả tức là sự buông bỏ. Quán chiếu sâu xa, ta thấy rằng xả là điều kiện tất yếu của hạnh phúc. Trong trại tị nạn ở Thái Lan có một bà than rằng vàng giấu trong người bị hải tặc lấy hết cả. Bà chỉ còn giữ được có một chỉ vàng, lên tới bờ bà khóc: “Còn mỗi một chỉ vàng làm sao tôi sống được đây?” Một ông khác cũng bị cướp hết, chỉ còn cái quần đùi. Ông cười, nói: “Bây giờ chỉ còn cái quần xà lỏn tôi làm sao sống đây?” Ông ta vừa nói vừa cười rất vui vẻ, trong khi bà kia, vẫn còn có một chỉ vàng, rất đau khổ. Chúng ta có hạnh phúc khi không bị vướng mắc vào những thứ mà ta tưởng là điều kiện thiết yếu của hạnh phúc. Điều kiện thiết yếu của hạnh phúc là tự do. Xả là tự do. Khi trong tâm còn ôm ấp, tham đắm, vướng mắc, ta không học cách xả thì ta không có tự do, mà không có tự do thì không có hạnh phúc.

6 giới = Lạc, khổ, hỷ, ưu, xả, vô minh

Bụt lại dạy phương pháp quán chiếu về sáu giới khác là dục, ly dục, sân, vô sân, hại, và bất hại. Trước hết là sự quán chiếu về dục, tức là về sự thèm khát và đối tượng của thèm khát. Rồi quán chiếu ly dục, để đạt tới tự do lớn hơn. Vướng vào năm dục thì ta trở nên nô lệ cho năm sự thèm khát là: tài, sắc, danh, thực và thụy. Tiếp đến, ta quán chiếu về giới thứ ba là sân. Khối lửa sân hận cháy thầm suốt ngày suốt đêm trong người làm ta đau khổ. Ôm ấp một mối giận hờn và oán trách trong lòng thì ta là người đau khổ trước, còn kẻ được xem là đối tượng của cơn giận, ta không biết họ có đang khổ hay không. Đi sang lĩnh vực thứ tư là vô sân, nghe sao nó khỏe, nhẹ, thanh lương mát mẻ quá. Nếu có được những giây phút của vô sân, đó là những khoảnh khắc đáng sống. Vô sân (the absence of anger) là nền tảng cho từ bi. Lĩnh vực thứ năm, hại (harming) tức là làm hư hoại, tan nát, hại mình, hại người, hại thiên nhiên và những hình thái khác của sự sống xung quanh. Làm hại mình bằng cách tiêu thụ những thức ăn không lành mạnh, bằng lối sống thất niệm. Sống như vậy là thiếu lòng thương, là không có hạnh phúc. Ăn chay là thực tập bất hại. Có người ăn chay chỉ vì muốn thêm sức khỏe, vì sợ ăn chất béo. Nhưng trong khi ăn chay ta có thể nuôi dưỡng đức từ bi. Thấy cắt cổ một con thú để máu chảy ra mà làm tiết canh, ta không chịu nổi. Lúc đầu có thể ta đã chịu nổi, vì khi sinh ra và lớn lên ta đã thấy sát sinh nên thành quen mắt. Nhưng khi tập quán chiếu, ta thấy rằng trong trường hợp ta bị cứa cổ như vậy, thì ta đau khổ lắm. Khi thấy một con vật nhỏ bé bị tước đoạt sự sống mà ta vẫn dửng dưng, ta không thấy đau lòng, không thấy chạm vào lòng trắc ẩn, thì đó là một điều bất lợi cho mình. Khi ta nhìn vào con vịt, con gà, con cá đang bị giết, hay thấy người ta đẩy từng con bò, con này rồi tới con kia vào lò sát sinh, hoặc khi thấy hàng trăm, hàng ngàn con gà đang bị đẩy vào máy để bị cắt cổ và nhổ lông, thấy như vậy mà ta vẫn bình thường, không hề thấy lòng đau xót, tức là lòng từ bi của ta bị tổn thương rất nhiều. Nhiều người thấy một lần như vậy thì phát nguyện ăn chay luôn. Họ không còn can đảm để ăn thịt các loài chúng sanh nữa. Nhờ vậy người ấy nuôi dưỡng được lòng từ bi trong đời sống hằng ngày. Đối với những người như vậy, họ sẽ không bao giờ dám làm hại tính mạng của ai. Thế giới đầy dẫy những căm thù, bạo động, chiến tranh là do chúng ta không nuôi dưỡng lòng từ bi. Ăn chay là một trong những phương pháp nuôi dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Ăn chay là thực tập bất hại (non harming). Ngoài ra, chúng ta phải nhìn cây cối, sông nước, bầu không khí để thấy rằng cây cối, sông nước, địa cầu cũng cần phải được bảo vệ, vì tất cả đều có sự sống. Bất hại (ahiṃsā) là một đức rất lớn trong đạo Bụt. Khi chúng ta thiếu tâm bất hại, chứng kiến sự giết chóc và tàn hại đời sống mà không động lòng, thì chúng ta không có hạnh phúc. Không có tình thương thì không có hạnh phúc.

Ngày xưa có một thi sĩ viết về bát canh thịt:

Thiên bách niên lai uyển lý canh

Oán thâm như hải, hận nan bình

Dục tri thế thượng đao binh kiếp

Thí thính đồ môn dạ bán thanh.

dịch:

Ngàn năm qua một bát canh

Oán sâu biển cả hận thành non cao

Muốn hay nguồn gốc binh đao

Lắng nghe quán thịt tiếng gào thâu đêm.

Chỉ cần nhìn vào bát canh và miếng thịt trong đó, ta sẽ thấy niềm oán hận của các loài bị tàn sát; nỗi oán hận này sâu như biển, lớn như núi. Nếu muốn biết được bản chất của chiến tranh ở trên thế giới, chỉ cần nửa đêm thức dậy lắng nghe tiếng gào thét của những con vật đang bị sát hại ở lò sát sanh. Cho nên nếu có nhiều người biết thực tập ăn chay đàng hoàng thì chiến tranh sẽ giảm. Có rất nhiều nhà chính trị, kinh tế và khoa học đang nghiên cứu những cách thức làm giảm bớt chiến tranh. Nhưng chúng ta phải biết rằng chiến tranh chỉ có thể giảm bớt khi tâm từ bi của chúng ta phát triển. Ăn chay để tâm từ bi và tâm bất hại phát triển trong lòng từ trẻ em đến người lớn, đó là một trong những phương pháp hay nhất để mang lại hòa bình. Có người nói rằng: “Trời sinh con cá để cho người ăn, tại sao không ăn?” Người ta sẽ hỏi lại: “Trời sinh con người để làm thức ăn cho vi trùng, hay cọp beo, tại sao không để cho vi trùng hay cọp beo ăn?”

6 giới = Dục, ly dục, sân, vô sân, hại, bất hại

Bụt lại nói với thầy A Nan rằng ta có thể quán chiếu về ba giới, là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, tức là ba lĩnh vực của hiện hữu. Đừng tưởng rằng ta đang sống trong giây phút hiện tại là chỉ sống trong dục giới. Chúng ta cũng đang sống trong sắc giới, đồng thời cũng sống trong vô sắc giới. Ba yếu tố đều có mặt trong giây phút, trong cảnh sống hiện tại. Vì vậy, phải chuyển hóa thân tâm thì mới vượt thoát khỏi khổ đau của tam giới. Kinh dạy rằng “tam giới bất an do như hỏa trạch”, nghĩa là trong ba cõi không có sự yên ổn, giống như một cái nhà đang cháy. Tam giới là ba cõi, tạo tác bằng tâm chúng ta. Khi tâm của chúng ta có dục, có sân, có hại thì chúng ta tạo ra căn nhà lửa cháy. Tâm chúng ta ly dục, vô sân và bất hại là chúng ta tạo ra một hồ sen tươi mát, dập tắt được những khổ đau của ba cõi.

3 giới = Dục giới, sắc giới, vô sắc giới

Sau đó, Bụt dạy thầy A Nan rằng ta cũng có thể quán chiếu về hai giới, tức là hữu vi giới và vô vi giới. Có thể hiểu hữu vi giới là bình diện tích môn, còn vô vi giới là bình diện bản môn. Hữu vi tức là lĩnh vực của những hiện tượng tương đối, có sinh, có diệt, có trước, có sau, có trong, có ngoài, có lớn, có nhỏ. Và vô vi giới tức là lĩnh vực của tự do, thoát khỏi những ý niệm sinh, diệt, tới, lui, trước, sau, lớn, nhỏ. Hữu vi giới như là sóng, vô vi giới là nước, không phải là hai thực thể biệt lập. Nói về sóng, chúng ta thấy có cao, có thấp, có sinh, có diệt, nhưng nhìn về phương diện nước, chúng ta thoát khỏi các ý niệm cao, thấp, sinh, diệt. Quán chiếu về hai mặt của thực tại, hữu vi và vô vi, chúng ta cũng có thể vượt thắng sợ hãi, lo buồn và các hoạn nạn. Vì trong kinh này Bụt dạy về nhiều loại giới để quán chiếu, nên kinh được gọi là kinh Đa giới. Kinh này là kinh thứ 115 của Trung bộ và kinh thứ 181 của Trung A hàm. Trong Hán tạng cũng có một kinh khác tương đương, đó là Phật thuyết tứ phẩm pháp môn kinh (ĐC. 776).

2 giới = Hữu vi giới, vô vi giới

CHÁNH TINH TẤN

Tinh tấn có nghĩa là sự siêng năng, là sự có mặt của một nguồn năng lượng, một sức sống trong ta. Năng lượng để làm gì? Năng lượng để đưa chúng ta đi tới chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm và chánh định. Đó là chánh tinh tấn. Còn năng lượng đẩy chúng ta đi về nẻo khác, đó là tà tinh tấn. Có những người rất siêng năng, có nhiều năng lượng, nhưng đó không phải chánh tinh tấn. Họ bị tác động bởi những ước muốn không chân chính, như tài, sắc, danh, thực, v.v.. Càng tinh tấn đi về các nẻo ấy chừng nào thì càng vướng mắc, càng mất tự do. Có khi tuy không bị danh, lợi, tài và sắc thúc đẩy, vì trong lòng chất chứa quá nhiều khổ đau, người ta không thể ngồi yên được vì ngồi yên thì những đau khổ ngấm ngầm sẽ hiện lên khuấy động. Cho nên họ luôn tay làm bất cứ việc gì để quên lãng khổ đau. Không có khả năng đối diện với bất an, đau khổ, họ tìm lãng quên trong công việc, có thể được khen rằng: “Anh này siêng năng quá!” Siêng năng này không phải là chánh tinh tấn. Có nhiều người vùi đầu vào sách cũng vì họ thiếu bình an và hạnh phúc. Nhìn vào thì thấy anh này siêng năng quá, tinh tấn quá. Nhưng kỳ thực không phải. Có trường hợp trong đó ta cần mẫn và tu tập rất đều đặn, nhưng ta không biết là đang đi sai đường. Đó cũng không phải là chánh tinh tấn. Đôi khi ta đi theo một lối thực tập càng ngày càng làm cho ta xa lìa cuộc sống thực tế chung quanh. Năng lượng thực tập đó cũng không phải là chánh tinh tấn. Trường hợp đó là do ta thiếu minh sư, thiếu trạch pháp, không thực tập theo quá trình của Tam vô lậu học: giới, định, tuệ. Dù có hành trì chuyên cần đến mấy đi nữa, năng lượng ấy cũng không đưa ta tới chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm và chánh định.

Chánh tinh tấn phải được nuôi dưỡng bằng những chi phần khác của Bát chánh đạo. Nếu không có chánh kiến, thì không có chánh tinh tấn. Khi biết con đường tu tập đưa ta tới an lạc đích thật thì tự nhiên trong lòng ta phát sinh niềm hân hoan và phấn khởi. Niềm hân hoan phấn khởi đó tạo ra năng lượng, đưa ta tới chánh tinh tấn. Hơn nữa, trong khi thực tập, ta thấy được kết quả của sự chuyển hóa ở chính mình, thấy được kết quả chuyển hóa nơi những người chung quanh, và niềm tin của ta lớn mạnh. Sau khi đi thiền hành một giờ đồng hồ, ta thấy thân tâm khỏe hơn trước. Ta nghĩ phương pháp thiền hành này ta phải nắm vững, mỗi khi trong lòng có sự bất an thì ta phải mang ra dùng. Tin tưởng phương pháp thiền hành, ta khuyên một người bạn tu: “Anh nên thiền hành đi, một giờ đồng hồ sau về ta sẽ nói chuyện!” Người đó đi một giờ đồng hồ về, con người tươi mát hơn và nói chuyện với ta dễ dàng hơn. Ta càng tin vào phương pháp thiền hành. Cho nên ta thấy chánh tinh tấn được nuôi dưỡng bằng chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm và chánh định.

Chúng ta đã có kinh nghiệm là sau khi nghe một bài pháp thoại ta có thể hân hoan, hăng hái và niềm tin của ta nơi pháp môn vững vàng hơn. Nhưng có những người nghe giảng mà dù cố gắng hết sức cũng vẫn thấy buồn ngủ như thường. Trong thính chúng một trăm người, chỉ có mấy người không buồn ngủ. Mấy người này nghe rất chăm chú, bởi vì họ nghe đúng phương pháp. Bài giảng không hào hứng, không hay. Nhưng những người này trong khi nghe họ biết quán chiếu để nhìn cho thấu suốt. Họ thấy rõ được tâm của người giảng, nên họ khám phá ra được những điều mà người khác không thấy. Cũng như khi xem một phim dở, nếu ta xem với tư cách một nhà phê bình nghệ thuật, hay một nhà tâm lý học, ta có thể nhìn thấu vào tâm địa của người làm phim, nhờ đó ta thấy việc xem phim cũng rất hào hứng. Khi có những điều kiện như thế, thì tuy không có ai nhắc mà ta vẫn tinh tấn, vì có một niềm vui đã xuất phát tự bên trong ta.

Nghe một bài giảng hay thì tự nhiên dễ dàng đạt tới định. Định ấy được tạo thành, được nuôi dưỡng bằng niềm vui, bằng cái hay, cái đẹp. Xung quanh ta có rất nhiều cái hay, cái đẹp, những mầu nhiệm mà có khi sống cả một đời ta cũng không khám phá ra được. Có những người quay phim chuyên ghi hình lại những hình thái sinh hoạt nhỏ bé của sự sống. Họ chụp hình những bông hoa rất nhỏ, họ quay phim đời sống của loài kiến, hoặc loài ong. Con mắt của họ nhận xét rất tinh tường và họ dùng ống kính để chỉ cho chúng ta thấy biết bao nhiêu chi tiết mầu nhiệm của sự sống xung quanh ta. Chúng ta cũng có mắt như họ nhưng không thấy được những cái ấy, vì ta không kiên nhẫn, không thao thức tìm tòi để tiếp xúc với những mầu nhiệm đó.

Tóm lại, khi sự tu học của chúng ta được dẫn dắt bởi cái thấy đúng, khi chúng ta đạt tới được những kết quả tốt đẹp, chứng nghiệm được những niềm vui trong ta và nơi người xung quanh, thì tự nhiên ta có năng lượng của chánh tinh tấn.

Chánh tinh tấn có thể hiểu theo nội dung của tứ chánh cần. Chữ cần có nghĩa là chăm chỉ (samyakprahāṇa). Và chúng ta nên hiểu tứ chánh cần theo một quá trình tâm lý. Trước hết, chúng ta tu tập chánh tinh tấn bằng chánh niệm. Khi có một niệm bất thiện khởi lên thì chúng ta phải thực tập thế nào để nó đừng lớn lên và đừng phát hiện trở lại trong tương lai. Trong tâm, chúng ta biết dưới phần ý thức là phần tàng thức. Trong tàng thức đang có những hạt giống bất thiện, không lợi ích cho sự giải thoát. Khi một hạt giống bất thiện được tưới tẩm, nó phát hiện trên mặt ý thức thành một tâm hành bất thiện. Nếu chúng ta để tâm hành ấy y nguyên như vậy, hay tiếp tục nuôi dưỡng nó, thì nó càng ngày càng lớn, và chiếm chỗ thật lâu trong phòng khách ý thức. Đến khi rời khỏi ý thức, chìm xuống lại tàng thức và trở lại thành hạt giống thì hạt giống ấy đã được nuôi lớn thêm.

Thấy rõ quá trình đó, để đối trị, ta phải dùng chánh niệm chuyển hóa hạt giống trước khi nó phát khởi. Thực tập tứ chánh cần là mỗi khi có một tâm niệm bất thiện như tham, sân, si, mạn, nghi, hoặc kiến khởi lên thì chúng ta phải biết cách xử lý chúng bằng chánh niệm. Nhận diện một tâm niệm không an lành vừa mới phát khởi: “Tôi đang bực bội và tôi biết là có sự bực bội trong tôi”. Đó là cách nhận diện đơn thuần. Chỉ cần nhận mặt thôi, ta cũng có thể làm cho tâm niệm đó tan đi, trở về lại tàng thức, nằm yên nơi gốc của nó. Có trường hợp tâm niệm bất thiện không chịu tan đi. Trong kinh Song tầm (Dvedhāvitakka sutta), thuộc Trung Bộ 19 (Majjhima nikāya), Bụt dạy chúng ta một phương pháp gọi là thay chốt.

Khi người thợ mộc muốn gắn hai đà gỗ với nhau, người ấy đục lỗ và cho một con chốt xuyên qua từ thanh gỗ này sang thanh gỗ kia. Lâu ngày, con chốt bị mục, người thợ muốn rút nó ra, thay nó bằng một con chốt mới. Nếu không thì các cây đà sẽ long ra và nhà sẽ sập đổ. Phương pháp của người thợ mộc ở Ấn Độ thời đó là dùng một cái chốt thứ hai, còn tốt, đóng vào đúng nơi đầu cái chốt thứ nhất. Cái chốt mới sẽ đẩy cái chốt cũ đi ra ngoài để tự mình thay thế. Đó gọi là phương pháp thay chốt. Nếu biết làm phát khởi và nuôi dưỡng một tâm niệm thiện thì ta có thể đẩy tâm niệm bất thiện đi ra, giống như người thợ mộc thay chốt. Chúng ta cũng có thể giúp nhau phát khởi tâm niệm thiện, giúp bạn tu của ta thoát khỏi tâm trạng không lành bằng cách khích lệ, nuôi dưỡng những tâm niệm lành nơi người ấy.

Phương pháp thứ hai là ta quán chiếu để nhận diện những hạt giống bất thiện, khi chúng đã phát hiện lên cũng như khi chúng còn ẩn nấp trong tàng thức. Phép đó gọi là bất tịnh quán, trong ngũ đình tâm quán. Giả dụ một người vừa mới tắm, có ai mang tới xác một con rắn chết mà quàng vào cổ thì người đó biết ngay. Tâm niệm bất thiện cũng giống như vậy. Phải quán chiếu và nhận diện ý niệm bất thiện ngay khi nó mới sinh khởi.

Đối với những hạt giống thiện chưa sinh, làm sao cho chúng được phát sinh càng nhiều càng tốt. Khi những hạt giống của thương yêu, hạnh phúc, tha thứ, tình nghĩa… được tưới tẩm và biểu hiện trên tầng ý thức thì ta có sự hân hoan, và hãy tìm cách cho chúng ở lại trên ý thức càng lâu càng tốt. Ở đây, ta thấy được sự có mặt một người anh người chị người em trong đạo vững chãi và tươi mát, có sự thực tập là rất quan trọng. Bởi vì khi ta tiếp xúc với những người như vậy, ta có cơ hội tiếp xúc những hạt giống hạnh phúc và tươi mát trong mình. Với những hạt giống thiện đã phát sinh, tìm cách giữ chúng lại và làm cho chúng ngày một lớn thêm.

Tứ chánh cần có khi gọi là tứ chánh đoạn. Đoạn ở đây có nghĩa là chuyển hóa. Chánh tinh tấn có thể hiểu theo nghĩa của tứ chánh cần. Chúng ta phải nhớ rằng tinh tấn luôn luôn phải có thức ăn. Đó là niềm vui, sự hân hoan mà ta có được trong đời sống tu học của mình. Nếu pháp môn thực tập của ta không có niềm vui, không nhẹ nhàng và hạnh phúc thì rất khó để tinh tấn. Ta chỉ cố gắng mệt nhọc nhưng không có được năng lượng trong mình. Lúc đó ta hãy xem lại pháp môn tu của ta, có thể có sự sai lầm.

Ngày xưa có một thầy tên là Sona, rất thông minh, con nhà giàu, tu tập rất tinh tấn. Nhưng tình trạng cơ thể của thầy không được vững chãi lắm. Thầy tự nói rằng nếu ở trong đại chúng có những người tinh tấn bậc nhất thì tôi là một trong những người như vậy. Trước đó thầy là một nhạc sĩ. Đêm đó, trong lúc đi ngang qua phòng thầy, Bụt nghe tiếng thầy tụng kinh Di giáo của Bụt Ca Diếp. Tiếng tụng kinh nghe có vẻ chán nản. Bụt mới gõ cửa đi vào và ngồi nói chuyện với thầy. Bụt nói với thầy Sona:

– Có phải ngày xưa thầy là một nhạc sĩ hay không?

– Bạch đức Thế Tôn, trước kia con là một nhạc sĩ.

– Vậy khi dây đàn nó chùng thì sẽ như thế nào?

– Khi dây đàn chùng thì âm thanh nó không có tới.

– Vậy khi dây đàn căng quá thì sao?

– Thì nó sẽ đứt, bạch đức Thế Tôn.

– Thầy cũng phải thực tập như vậy. Phải xây dựng sức khỏe của mình, phải có niềm vui trong sự thực tập, phải đạt tới sự thăng bằng, đừng làm quá những điều mà mình không thể làm được, phải biết giới hạn của thân tâm mình. Đừng tưởng mình là anh hùng và làm quá khả năng của chính mình.

Chánh tinh tấn nằm trong tinh thần của trung đạo, không khổ hạnh ép xác mà cũng không đắm mình trong sự hưởng thụ.

Ngũ căn và ngũ lực là tín, tấn, niệm, định và tuệ, trong đó có tín, là niềm tin. Ta tin vào Bụt, vào Pháp, vào Tăng, tin vào con đường ta đi. Niềm tin đó từ chánh kiến và chánh tư duy mà phát sinh ra. Nhờ niềm tin đó nên chúng ta có năng lượng, có niềm vui, có hân hoan. Tin nơi con đường ta đang đi, đó gọi là bồ đề tâm, là ước muốn sâu xa muốn đem an lạc và hạnh phúc để hiến tặng mọi người và mọi loài. Niềm tin đó đưa tới sự tinh tấn.

Hai yếu tố khác trong bảy giác chi là hỷ và khinh an cũng góp phần tạo nên chánh tinh tấn. Hỷ là niềm vui, niềm vui trong đời sống tu học, khi ta thấy được thành quả tu học của mình và của người khác, khi ta thấy được con đường sáng đang đi. Hỷ là một yếu tố rất quan trọng trong bảy giác chi, trong Bát chánh đạo ta không thấy yếu tố này. Khi học chánh tinh tấn, ta phải thấy được yếu tố hỷ trong đó. Nếu không có niềm vui, không có sự nhẹ nhàng thì chúng ta không thể có tinh tấn. Cho nên chánh tinh tấn chuyên chở trong bản thân các yếu tố khinh an, hỷ và tín. Khinh an là sự thanh thản nhẹ nhàng. Chánh niệm và chánh định cũng vậy. Khi thực tập chánh niệm mà ta có tín, hỷ và khinh an nghĩa là tinh tấn, thì chánh niệm của ta sẽ vững mạnh. Khi biết sống ý thức từng giây phút, tự nhiên ta có định trong đời sống hàng ngày. Định không phải chỉ có nghĩa là trạng thái tâm nhất cảnh khi ngồi thiền, nghĩa là khi đã đi vào định rồi thì trời mưa gió sấm sét ta cũng không nghe. Định còn có những nghĩa khác. Sống đời sống hàng ngày, nấu bếp, quét dọn, giặt giũ mà ta vẫn ở trong định, vì ta đang biết sống trong chánh niệm. Mỗi giây phút có chánh niệm là mỗi giây phút có chánh định. Và đối tượng của định có hai loại. Đối tượng đầu là những gì đang xảy ra trong giờ phút đó. Ví dụ khi quét nhà thì ta có định trong việc quét nhà, khi rửa chén thì ta có định trong việc rửa chén. Khi chim hót mà ta có định thì đối tượng của định là tiếng chim hót. Khi thông reo thì đối tượng của định là thông reo. Thứ hai là khi ngồi thiền, ta có thể chọn đối tượng của định. Ví dụ trong hai mươi phút hay bốn mươi phút đồng hồ ta chỉ chuyên chú vào một đối tượng như hơi thở, hoặc một tâm hành, hoặc phát khởi tâm xót thương đối với những loài đang bị giết chóc. Trong khi thực tập, ta không cho những đối tượng khác lọt vào. Đó là Nhất điểm hành (ekāgratā), tâm ý ta chỉ nhắm vào một đối tượng duy nhất mà thôi.

Bài 14 Quán chiếu cảm thọ

QUÁN CHIẾU CẢM THỌ

Hôm nay là ngày 09 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Hạ và học tiếp về Bát chánh đạo. Chúng ta đang chiêm nghiệm về kinh Quán niệm hơi thở và kinh Bốn lĩnh vực quán niệm, tức là thân, thọ, tâm và pháp.

Lĩnh vực quán chiếu thứ hai là cảm thọ. Chúng ta phải tập quán chiếu cảm thọ trong những lúc bình thường, khi cường độ cảm thọ chưa mạnh quá. Có như vậy, lúc gặp cảm xúc mạnh, ta mới có khả năng quán chiếu thành công. Nếu không, khi những cảm thọ có cường độ mạnh nổi lên, ta sẽ không đủ sức và có thể bị tràn ngập, áp đảo và tê liệt. Khi gặp một cảm thọ có cường độ mạnh, ta phải biết sử dụng tất cả những yếu tố ta đang có để quán chiếu, chăm sóc, chuyển hóa để có thể sống sót. Những yếu tố đó là sử dụng hơi thở, sử dụng tư thế của thân thể, sử dụng phương pháp thiền hành và nhất là phải biết sử dụng tăng thân xung quanh. Lúc đó, ta như người chết đuối, tăng thân như là chiếc bè cứu mạng cho chúng ta.

Quán niệm bằng hơi thở phải trở thành một thói quen. Muốn thuần thục, ta phải thực tập ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác. Cho nên không thể đợi khi có một cảm xúc mạnh ta mới bắt đầu sử dụng phép quán niệm hơi thở. Hơi thở phải là vốn liếng có sẵn do kinh nghiệm thực tập mà có, và hơi thở này chuyên chở chánh niệm.

Biết áp dụng hơi thở chánh niệm chưa đủ. Ngoài ra ta còn phải biết cách quán niệm tư thế của thân thể. Trong đời sống hàng ngày, ta luyện cách đi, cách đứng, cách nằm, cách ngồi. Thân thể là một đối tượng để quán chiếu, nhờ đó ta có thể chăm sóc và điều phục được các cảm thọ. Ta sử dụng những phương pháp như đi thiền, ngồi thiền, nằm thiền buông thư (total relaxation), tất cả đều có tác dụng đối trị các cảm thọ mạnh. Cuối cùng, phải biết sử dụng tăng thân, tức là đoàn thể tu học của ta. Nhưng tăng thân không phải tự nhiên mà có, tăng thân là do chúng ta xây dựng nên. Trong đời sống hàng ngày, ta phải bồi dưỡng tăng thân ta. Mỗi lời nói, mỗi hành động của ta, mỗi cái nhìn và mỗi nụ cười của ta đều có thể được sử dụng để xây dựng tăng thân. Xây dựng tăng thân, tức là xây dựng bản thân. Người nào cũng có những lúc gặp khó khăn. Tăng thân là một chiếc phao cứu ta khỏi chết đuối trong những lúc khó khăn nhất. Cho nên “Con về nương tựa Tăng” là một phép thực tập quan trọng. Không cần đó là một thánh Tăng; tăng thân ta nếu chỉ là phàm Tăng thì cũng đủ quý giá rồi. Nhờ có sự thực tập chánh niệm, nên Bụt và Pháp có mặt trong Tăng, để Tăng có thể được xứng đáng gọi là Tăng bảo. Nếu ta sống trong tăng thân mà không hòa hợp được, nếu ta hành xử như một giọt dầu trong một bát nước, thì tăng thân không có nghĩa gì. Do đó, kinh và luật luôn luôn nói tới hình ảnh tăng thân như nước với sữa hòa hợp. Nước với sữa chứ không phải là nước với dầu. Hòa hợp tăng có nghĩa là một tăng thân đích thực mà bản chất là sự hòa hợp.

NHẬN DIỆN CÁC TÂM HÀNH

Cảm thọ chỉ là một trong số 51 loại tâm hành, tức là những hiện tượng tâm lý (mental formations). Tâm hành (citta saṃskāra) có khi được gọi là tâm sở. Giận là một tâm hành, lo là một tâm hành, buồn là một tâm hành, thương, ghét và chán nản là những tâm hành. Tất cả những tâm hành ấy đều có hạt giống và có gốc rễ trong chiều sâu tâm thức ta. Những tâm hành nhẹ nhàng có tác dụng giải phóng, chuyển hóa và đưa chúng ta lên cao là những tâm sở thiện. Có những tâm hành có tác dụng gây đổ vỡ, gọi là tâm sở bất thiện. Có những tâm hành có tính cách phổ biến, gọi là tâm sở biến hành và những tâm hành phát hiện trong những trường hợp riêng lẻ, gọi là tâm sở biệt cảnh. Lại có những tâm hành bất định, có khi thiện, có khi bất thiện, gọi là tâm sở bất định. Ví dụ như tâm hành miên (buồn ngủ) có khi là tốt, có khi không tốt. Tâm hành hối cũng có khi tốt và có khi không tốt. Nếu chúng ta đã làm một hành động gây đổ vỡ, buồn đau cho người khác mà chúng ta biết hối hận thì tâm hành hối là một tâm hành thiện. Ta tự dặn lòng từ rày về sau sẽ không nói và không làm như vậy nữa. Nhưng nếu niềm hối hận đó biến thành một ám ảnh, gây ra mặc cảm tội lỗi, khiến cho ta tê liệt không tiến thêm được nữa trên đường đạo nghiệp, thì tâm hành đó trở nên bất thiện. Hối trong trường hợp này được coi là một tâm hành bất định.

Một tâm hành bất định khác tên là tầm. Tầm có nghĩa là tư duy. Khi tư duy có thể giúp mình thấy được rõ ràng hơn thì tâm hành tầm là một tâm hành thiện. Nhưng nếu đầu ta cứ miên man nghĩ hết chuyện này sang chuyện khác, ta cứ tự để phiêu lưu trong thế giới tư tưởng suông, không thiền tập, không thiền hành được thì tầm trở thành một tâm hành bất thiện. Từ cũng vậy. Từ là so sánh, quyết trạch, tư lượng. Từ có khi có ích lợi, có khi lại là chướng ngại. Từ nhị thiền trở đi các tâm hành “tầm” và “từ” có thể làm cho ta không đi sâu được vào thiền quán. Vì thiền quán là tiếp xúc sâu sắc để chuyển hóa, để nhìn rõ, mà tư duy có thể kéo những sợi tơ dài làm cho đầu ta trở thành một cuộn chỉ rối. Lúc đó tầm và từ là một tâm sở bất thiện.

Có nhiều tâm sở thiện nằm trong chiều sâu tâm thức ta và có thể đã do các thế hệ cha ông và thầy tổ trao truyền lại. Ví dụ như tâm hành bất hại (ahiṃsā, non-harming). Không muốn gây ra một đổ vỡ và hư hại nào trong sự sống, dù một cành cây nhỏ cũng không muốn làm gãy, đó là bất hại. Bất hại là từ bi. Một tâm hành khác là tàm. Tàm tức là hổ thẹn, mắc cỡ, biết hổ, biết thẹn nhờ có chánh kiến. Thấy mình không đáp ứng được sự trông đợi của thầy, của tổ, của cha mẹ, anh em và bằng hữu thì trong lòng hổ thẹn, đó là tàm. Ví dụ khác là tâm hành vô sân. Vô sân tức là sự vắng mặt của giận hờn. Ai nói gì cũng cười hề hề không giận, đó là tâm hành vô sân, đó là sự hoan hỉ nguyên chất. Người học tâm lý học Phật giáo phải thuộc lòng những tâm hành thiện: tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại.

Có những tâm hành được gọi là bất thiện, chúng làm cho tâm ta rối lên, mê mờ, đen tối đi và trói buộc ta lại. Tâm hành bất thiện cũng gọi là phiền não, có khi gọi là hoặc, chữ Phạn là kleśa. Hoặc là những phiền não, những mê mờ. Mê hoặc là đưa ta đi lầm đường lạc lối. Thơ Vũ Hoàng Chương có câu: Trông ra bến hoặc, bờ mê. Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương.

Hoặc có khi gọi là lậu (āsrava). Lậu là lộn ngược đầu trở lại, là đi vòng trở lại, là quanh quẩn. Lậu có nghĩa là nứt rạn, như nước ở trong bình nứt rỉ ra gọi là lậu. Những tâm hành có tác dụng đi xuống, làm cho mình sa xuống thấp, và quanh quẩn trong buồn giận, sầu đau, v.v. đều gọi là lậu. Khi được chuyển hóa rồi thì gọi là vô lậu. Vô lậu là không còn nứt rạn nữa.

Có những phiền não căn bản, và có những phiền não thứ yếu. Những phiền não căn bản là tham, sân, si, mạn, nghi, kiến. Những phiền não nhẹ hơn như vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, thất niệm, phóng dật, bất chánh tri. Ngoài các tâm hành thiện và bất thiện, chúng ta phải biết tên năm tâm hành phổ quát gồm có tác ý, xúc, thọ, tưởng . Những tâm hành đặc biệt là dục, thắng giải, niệm, định tuệ. Các vị đã học Duy biểu, xưa gọi là Duy thức, thì đã biết được tên gọi cũng như là bản chất của từng tâm hành đó.

Vậy thì trong lĩnh vực tâm hành, có 51 loại hiện tượng tâm lý có thể phát hiện trong ta. Mỗi khi một tâm hành phát hiện, ta phải dùng ánh sáng chánh niệm để nhận diện nó. Trước hết là sự nhận diện đơn thuần. Buồn thì biết mình đang buồn. Chỉ cần tự biết là mình đang buồn, dùng ánh sáng ý thức để soi rõ và nhận diện nỗi buồn.

Hôm nay trời nhẹ lên cao,

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

Ban đầu thì tôi không hiểu vì sao tôi buồn. Nhưng nếu thực tập chánh niệm và phát khởi được niệm, định và tuệ, thì ta sẽ biết tại sao ta buồn. Rồi chỉ cần mỉm một nụ cười thì nỗi buồn đó sẽ tan. Quán chiếu tâm hành bắt đầu bằng việc nhận diện đơn thuần, nhận biết sự có mặt của tâm hành. Nhận diện tâm hành trên ý thức không phải dễ. Nỗi buồn có thể lôi kéo ta từ bên này sang bên kia, từ suy tư này tới hoài niệm khác. Tâm hành buồn lại kéo những tâm hành khác tới, như các diễn viên qua lại trên một sân khấu vắng người. Người tu tập phải có mặt để nhận diện những tâm hành nào đang xuất hiện, đừng bao giờ để sân khấu tâm ý bị bỏ trống vô chủ. Cho nên học đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm để biết cái gì đang xảy ra là một thực tập cần thiết. Phương pháp đơn giản là mỗi khi buồn, ta dùng hơi thở, dùng bước chân, v.v. để phát khởi chánh niệm và nhận diện sự có mặt của tâm trạng buồn. “Tôi đang buồn và tôi biết rằng tôi đang buồn”. Tình trạng có thể đổi khác lập tức. Thay vì để cho tâm hành buồn độc diễn, ta đưa vào thêm một tâm hành khác, gọi là niệm. Tâm hành niệm là một trong năm loại tâm hành biệt cảnh (biệt cảnh là particular, còn biến hành là universal). Đối tượng của chánh niệm bây giờ là nỗi buồn: “Tôi đang thở vào và tôi biết rằng tôi đang buồn, tôi đang thở ra và tôi mỉm cười với nỗi buồn của tôi”. Buồn ơi chào mi!

Tu tập là như vậy. Thay vì tìm cách đàn áp và triệt tiêu cái buồn, ta phát khởi nhận thức về sự có mặt của cái buồn. Chánh niệm là một vùng năng lượng ôm lấy nỗi buồn và rọi ánh sáng vào đó. Nhà có chủ, chùa không phải là chùa Bà Đanh. Biết chăm sóc các tâm hành ta sẽ chuyển hóa được những tâm hành bất thiện và nuôi dưỡng được những tâm hành thiện.

Ta hãy vẽ lại hình tròn, tượng trưng cho tâm của ta. Phần trên ý thức là sân khấu, trên đó những tâm hành được phát khởi. Phần dưới của tâm, phần vô thức, chúng ta gọi là tâm địa (đất tâm), đạo Bụt gọi là tàng thức. Tàng có nghĩa là cất giữ. Mọi tâm hành đều ở sẵn trong tàng thức với tính cách những hạt giống, gọi là chủng tử (bīja). Cái buồn, trước khi phát hiện, đã nằm sẵn trong tàng thức rồi. Nghe đọc một câu thơ: “Trời nổi gió heo may” chẳng hạn, thì tự nhiên cái hạt giống buồn được tưới tẩm, và tâm hành buồn phát hiện.

Tâm địa tức là đất tâm có chức năng gìn giữ tất cả những hạt giống. Có những hạt giống hạnh phúc bị chôn vùi từ lâu trong đất. Một buổi sáng, hạt giống của niềm vui nảy mầm. Sự phát hiện của niềm vui này do công trình thực tập, tưới tẩm của chính ta, của tăng thân, bây giờ mới gặp hoàn cảnh thuận lợi. Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt, hạt đậu năm xưa hé miệng cười. Ai cũng có những hạt giống của hạnh phúc trong đất tâm của mình, nhưng nhờ thầy, nhờ bạn, nhờ sự thực tập mới chạm tới được những hạt giống đó. Sự thực tập như là nước mưa, thấm vào làm cho hạt giống được nảy mầm và lên hoa kết trái.

Quán niệm tâm hành trước hết là ý thức, nhận diện sự có mặt của tâm hành đó. Tâm hành nào cũng cần được nhận diện. Nhận diện rồi sẽ được chăm sóc. Nếu đó là một tâm hành thiện, nó sẽ được phát triển. Nếu đó là một tâm hành bất thiện, gây đau khổ thì chánh niệm sẽ mang tới một sự chuyển hóa. Chánh niệm cho chúng ta thấy được sự có mặt của tâm hành không những trên sân khấu của ý thức, mà cả sau hậu trường của tàng thức nữa. Tàng thức là phần thâm sâu của ý thức, là hai nhưng cũng là một. Khi chánh niệm tiếp xúc được với những tâm hành thì chánh niệm từ từ tiếp xúc được với chiều sâu của tâm hành đó. Ta không chỉ tiếp xúc được với phần ý thức mà còn tiếp xúc được với phần tàng thức. Khi nhìn một em bé nói, cười, đi, đứng hoặc nhảy nhót, ta nhìn vào phần hiện tượng. Quán sát kỹ cách em nói, cười, đi và nhảy, ta đi sâu được vào những cội nguồn và gốc rễ, và thấy được những hạt giống mà ban đầu ta chưa thấy. Ta thấy được xã hội em bé đó sống, thấy được cha mẹ, ông bà, chủng tộc của em bé. Nhìn vào hoa trái ta thấy được gốc rễ.

Nghe một bà mẹ hát câu ru con, ban đầu ta chỉ cảm thấy man mác buồn thôi, nhưng khi tiếp xúc được với chiều sâu của tiếng ru rầu rầu đó, ta có thể thấy, trong âm hưởng của nó, những thế kỷ giặc giã, hàng ngàn năm sống trong áp bức, nô lệ và đói khổ. Ta thử nghe hai câu của Hoàng Cầm:

Tiếng bà ru cháu buổi trưa,

Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu.

Chánh niệm, thiền quán cho chúng ta thấy và tiếp xúc được với chiều sâu của các tâm hành. Một nỗi buồn vô cớ, nhẹ nhàng, có thể là dấu hiệu của một nỗi sầu vạn cổ đã được nhiều thế hệ tổ tiên trao truyền lại.

QUÁN CHIẾU VỀ TƯỞNG ĐỂ VƯỢT THOÁT MÊ LẦM

Tưởng là một tâm hành rất quan trọng, đã được tách riêng ra một yếu tố của năm uẩn. Chúng ta hãy nhớ lại trái quýt gồm năm múi tượng trưng cho năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là hình hài ta. Thọ gồm những cảm thọ dễ chịu, khó chịu và trung tính. Tưởng là tri giác. Thọ là một tâm hành, tưởng là một tâm hành khác. Hành ở đây là tất cả 49 tâm hành còn lại, còn thức là phần tàng thức, là tâm địa, chỗ chôn giữ hạt giống của tất cả 51 loại tâm hành.

Tưởng là một tâm hành, cũng có hạt giống ở sâu trong tàng thức. Nghe tiếng bà ru cháu, mười người nghe có mười cái tưởng khác nhau. Người nghe có thể từ thành phố lại, từ thôn quê tới, hoặc từ ngoại quốc về thăm. Nếu dùng máy thâu âm, ta có thể xác định được tính cách khách quan của âm điệu những câu hát ru. Nhưng những người cùng nghe câu hát ru đó có thể có những nhận thức khác nhau. Có người từng nghiên cứu về nhạc dân tộc ở châu Phi, từng nghe những tiếng ru của các bà mẹ châu Phi, bây giờ trong cái tưởng của họ có sự so sánh những điệu hát ru. Chúng ta chỉ nghe với kinh nghiệm của một người đã từng được mẹ ru. Hoặc ta đã từng nghe tiếng ru em của một bà mẹ miền Nam, và bây giờ đây ta đang nghe tiếng ru miền Bắc hay miền Trung. Vậy cái tưởng, cái tri giác của ta về tiếng ru đó, có tính cách chủ quan. Còn nếu đang nghe lời hát ru mà lòng còn mải lo lắng thì nghe tiếng ru đó, ta không để ý tới, ta không thấy thấm thía, ta chỉ thấy những âm thanh thoảng qua.

Tri giác của ta có thể chứa đựng nhiều sai lầm. Hành động, lời nói và tâm trạng, tất cả đều căn cứ trên tưởng. Tri giác mang nhiều tính chủ quan, trong đó có những chất liệu phiền não như thèm muốn, giận dữ, si mê và tà kiến. Căn cứ trên tri giác ấy, ta buồn, vui, khổ đau hoặc hạnh phúc. Cho nên quán chiếu về tưởng rất quan trọng.

Nếu chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc, thì ý niệm hạnh phúc cũng là một cái tưởng. Trong đầu ta và cả trong tiềm thức của ta, có một ý niệm là hạnh phúc chỉ có thể có khi ta đạt được cái này hay cái kia. Trong hầu hết các trường hợp, quan niệm có sẵn của ta về hạnh phúc lại là chướng ngại đầu tiên cho chính hạnh phúc. Có một anh chàng tin chắc nếu không cưới được cô gái ấy thì đời anh không còn đáng sống nữa. Anh tin chắc đến nỗi không ai có quyền nói khác. Mấy năm sau anh có thể sẽ tìm ra sự thật là người phụ nữ kia chỉ có thể làm cho anh đau khổ không ngừng trong quá trình yêu thương.

Khi vướng vào một quan niệm về hạnh phúc rồi, ta có thể khổ đau vì quan niệm đó. Nếu không chiếm được cái này, không thực hiện được cái kia, thì đời ta không có nghĩa gì nữa! Trong khi có cả hàng ngàn hoặc hàng vạn điều kiện của hạnh phúc ở ngay đây mà ta không tiếp xúc được, ta tiếp tục giẫm đạp lên. Thành ra ý niệm về hạnh phúc, cái tưởng về hạnh phúc của ta, là chướng ngại chặn đường hạnh phúc của ta.

Tri giác trước hết là tri giác sai lầm, là vọng tưởng. Trong Phật học, kiến hoặc tà kiến là tiếng dùng để chỉ cho tri giác sai lầm. Vì vậy tưởng thường được đồng nhất với vọng tưởng, cũng như kiến thường được đồng nhất với tà kiến. Khi nhìn thấu được bản chất của tri giác rồi, ta thoát khỏi tri giác, bấy giờ nhận thức ta được gọi là trí, cái thấy đạt đạo. Trạng thái đó không gọi là tưởng – cũng không phải là phi tưởng. Chánh niệm ôm lấy nỗi buồn hay niềm vui của ta, và giúp ta nhận diện được nỗi buồn, niềm vui ấy. Chánh niệm ôm lấy cái tưởng để ta nhận diện được cái tưởng của ta. Năng lượng chánh niệm tiếp tục ở lại soi sáng các tâm hành, đến một ngày ta sẽ thấy được gốc rễ sâu xa của các tâm hành kia. Và quá trình tu tập để nhận diện và quán chiếu là đi thiền, ngồi thiền, ăn cơm im lặng; là công phu, là mỗi bước chân, mỗi hơi thở, từng giây phút đều được sống trong chánh niệm, trong tỉnh thức. Và điều đó chính ta phải tự mình làm lấy, người khác không ai làm hộ cho ta được.

Chúng ta hãy vẽ hai vòng tròn A và B (sơ đồ 14.7) tượng trưng cho hai người. Hai người hàng ngày sống bên nhau, có những tiếp xúc chung trong môi trường sinh hoạt của mình. Vòng tròn màu xanh ở giữa tượng trưng cho hoàn cảnh chung của hai người. Tuy nhiên mỗi người có tri giác (tưởng), những nỗi vui và buồn riêng của mình. Nằm sâu trong tàng thức mỗi người là những hạt giống nhận thức về hạnh phúc và về khổ đau. Tiếp xúc với hoàn cảnh và với người kia tạo thành những cái tưởng, và căn cứ trên những cái tưởng ấy mỗi người đoán định và hành xử đối với người kia. Người kia cũng có những vui, buồn, và những nhận thức riêng đưa tới những cái tưởng có thể là rất khác và những cái tưởng ấy của hai người có thể chống đối nhau. Những đau khổ của chúng ta trong đời sống chung thường được phát sinh ra từ những cái tưởng của ta, từ những hình ảnh và ý niệm mà mỗi người có về chính mình và về người kia, trong đó có đầy dẫy sai lầm.

Công phu tu học bắt đầu bằng việc quán chiếu cái tưởng của mình. Cũng như phải buông bỏ quan niệm sẵn có của mình về hạnh phúc mới có thể đạt được hạnh phúc chân thật. Sự thật là chúng ta có thể đang có đủ mọi điều kiện để sống hạnh phúc. Nhưng chính vì cái tưởng cho rằng muốn có hạnh phúc thì phải được thế này, được thế kia, cho nên ta bị kẹt và không có hạnh phúc. Tất cả nỗ lực tu học của chúng ta đều nhắm tới phá tan cái tưởng đó. Đối tượng của sự tu học là phá vọng tưởng, vọng tưởng về sinh và diệt, về có và không, về đến và đi, về nhiều và một; đó là những vọng tưởng căn bản. Phải dùng nguồn năng lượng chánh niệm của ta trong đời sống tu tập hàng ngày để phá vỡ những cái tưởng ấy. Đó là giải thoát. Đi thiền, ngồi thiền, ăn cơm im lặng, học kinh, thực tập hơi thở đều để làm chuyện đó. Tri giác về mình đầy dẫy sai lầm và tri giác về người đầy dẫy sai lầm. Nếu một ngày, hai ngày, một tuần, một năm mà những tri giác đó vẫn còn nguyên vẹn không thay đổi gì, có nghĩa là ta chưa thực tập quán chiếu về tưởng. Cái thấy của mình về người kia vẫn còn giống hệt như vậy. Ganh tỵ, giận hờn của mình về người kia vẫn còn y nguyên như vậy. Điều đó có nghĩa là trong một, hai tuần lễ qua ta không thực tập gì cả. Chính nhận thức, ý niệm của ta về chính ta và về người kia là đối tượng cho sự tu học của ta. Ta bám vào nhận thức, vào cái tưởng của ta về chính ta và những người khác nên ta khổ đau triền miên.

NIỀM TIN PHẢI VỮNG MẠNH

Trong quá trình tu học, ta cần hiểu biết về chủ đích và phương pháp, phải vững tin vào mục đích cũng như phương pháp tu học, phải tin vào thầy và bạn, và phải chuyên cần trong việc thực tập. Thái độ của người tu không khác gì thái độ của một người vào bệnh viện: phải tin thầy, tin thuốc. Tôi xin kể cho quý vị nghe chuyện một bệnh nhân theo phương pháp rửa ruột trong một dưỡng đường bên Đức, để so sánh với sự tu tập của mình như thế nào.

Mỗi ngày, vào lúc sáu giờ sáng, bệnh nhân thức dậy uống một ly nước đầy pha một thìa sulphate de magnesium đã ngâm suốt đêm. Uống xong phải vận động để nước muối đi xuống ruột già càng nhanh càng tốt. Cứ một giờ đồng hồ lại uống một cốc nước đầy. Mỗi ngày uống ít ra là ba lít nước. Người ấy nhịn đói hoàn toàn ít nhất là trong năm ngày đầu. Sang tới ngày thứ ba, những độc tố lâu nay bám vào thành ruột bắt đầu tan loãng để bài tiết ra. Người bệnh mệt không thể cựa quậy được, có thể nằm trên giường mà không thò chân xuống đất đứng dậy được, tưởng như mình sắp chết. Mỗi ngày uống ba hoặc bốn lít nước là để thận và gan lọc cho độc tố được tống ra ngoài bằng nước tiểu. Nhịn đói là để cơ thể có dịp nghỉ ngơi, để ruột non và ruột già có cơ hội khôi phục khả năng làm việc của chúng. Bác sĩ cho mình uống thuốc trợ gan và trợ thận. Nếu người bệnh nói: “Tôi đâu có đau gan mà phải uống thuốc gan, đâu có đau thận mà phải uống thuốc thận,” tức là không hiểu phương pháp của thầy thuốc. Chữa bệnh phải tin thầy, tin thuốc. Phải hiểu biết tại sao bác sĩ yêu cầu mình phải uống thuốc trợ thận và trợ gan. Tu học cũng thế. Tại sao ta nên đi thiền hành chung với đại chúng, tại sao đi riêng một mình không đủ? Vì khi đi thiền hành chung với tăng thân, tác động sẽ khác. Tại sao cần phải dự pháp đàm? Nghe thầy dạy ta hiểu rồi, tại sao phải có mặt trong buổi pháp đàm làm chi? Lý do là ngồi trong pháp đàm, dẫu ta không nói, mà những điều người khác nói phù hợp với nhận thức ta cũng có tác dụng làm lớn niềm tin của ta và giúp ta thấy ta rõ hơn lên. Bác sĩ còn bảo bệnh nhân bơm ruột, đi bộ và tập thở ngoài trời mỗi ngày mấy tiếng. Ăn thì ăn rất ít mà nhai thì phải nhai rất kỹ, một miếng bánh mì 30 gram mà nhai suốt cả giờ. Tất cả những việc đó đều khó làm theo, nhưng bệnh nhân phải hiểu tác dụng của từng phương pháp trị liệu, và phải tin chắc rằng thực tập theo lời thầy thuốc dặn là quan trọng. Có niềm tin, ta sẽ có rất nhiều chuyển hóa ở trong cơ thể, còn nếu niềm tin bạc nhược, ta sẽ không làm đúng những lời khuyến cáo và chỉ đạt tới một phần tư hoặc một phần năm kết quả.

Trong thiền viện cũng vậy. Các vị giáo thọ biết ta cần phải làm gì. Thí dụ họ đề nghị hai anh em bạn tu tới gặp riêng nhau ít nhất sáu buổi để trò chuyện, giải tỏa tâm tư theo phương pháp làm mới (beginning anew). Một sư chú nói: “Không cần, tới gặp người ấy làm gì mất công, tôi ở trong phòng một mình quán chiếu còn tốt hơn.” Từ chối không gặp vì ta nghĩ rằng gặp người ấy ta không cảm thấy dễ chịu. Làm sao cảm thấy dễ chịu được khi cái tưởng của ta về người đó đã có chất chứa ác cảm và sai lầm? Ta từ chối vì ta không thấy được rằng vị giáo thọ, hay vị thầy của cả hai người, đã biết rằng hai người thực sự cần gặp nhau. Như thế là người ấy không có đủ niềm tin nơi pháp môn của thầy. Nếu thầy bảo hai anh em nên thực tập làm mới với nhau ít nhất là sáu lần thì ta phải đi gặp nhau sáu lần, chứ không nên ngại mệt.

Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi thực tập trong đời sống hàng ngày của ta đều có mục đích, và ta phải có đức tin vững chãi vào sự thực tập thì mới dẫn tới những chuyển hóa chân thật. Một bước chân thôi, mà bước được đúng theo phương pháp thầy chỉ bảo, cũng đã đem lại kết quả. Niềm tin vững chãi vào sự thực tập dần dần được biểu lộ ra. Khi ta đi, người khác nhìn thấy có chánh tinh tấn trong bước chân của ta đi. Khi ta ngồi, người khác nhìn thấy có chánh tinh tấn trong khi ta ngồi.

Cái tưởng do những điều kiện trong quá trình phát triển tâm lý và những điều kiện lịch sử trong xã hội và trong gia đình mình đưa tới. Cái tưởng của mỗi người là con đẻ của những điều kiện, những nhân duyên, từ tổ tiên, từ giáo dục, từ các thói quen lâu đời. Phải sẵn sàng chiếu rọi ánh sáng chánh niệm vào trong cái tưởng để thấu hiểu được cội nguồn và bản chất của nó. Trong thiền viện, phương pháp Làm mới nếu được thực tập đúng cách sẽ chuyển hóa cái tưởng của mỗi người. Khi hai người ngồi xuống để lắng nghe, mỗi người đã có sẵn cái tưởng đối với người kia và đối với mình. Cái tưởng nào cũng có thể rất sai lầm. Hai người cùng ngồi lắng nghe nhau bằng chánh niệm thì cái thấy mới sẽ phát sinh. Cái thấy đó có thể giải tỏa được cho chính mình và cho người kia, nhất là khi có người bạn thứ ba hay một vị giáo thọ có mặt. Đem lòng từ bi, đem nụ cười, đem thêm sự vững chãi tới để giúp cho hai người bạn có cơ hội nhìn vào cái tưởng của chính họ, đó là cống hiến quý hóa nhất của một tăng thân.

Làm mới (beginning anew) không phải là một buổi họp trong đó ta cố tranh đấu cho ý kiến của ta được mọi người chấp nhận. Nếu trong một buổi họp, ta chỉ lo chuẩn bị vận động cho ý kiến của ta, thì thay vì cái tưởng của ta sẽ tan rã trong môi trường ấy, nó lại sẽ nằm ỳ không chuyển hóa. Làm thế là đi ngược lại với tinh thần “Làm mới – Beginning anew”. Cũng vì sư chú đã chuẩn bị tới họp để bảo vệ một cái tưởng, trong khi mục tiêu chính của sự thực tập là để phá cái tưởng ấy. Phải xem người anh, người chị hoặc người em kia là cơ hội giúp cho chính ta chuyển hóa.

Sự thực tập của ta không phải là sẽ có lợi lạc cho một mình ta, mà cho tất cả mọi người trong đại chúng và cho những thế hệ Phật tử thực tập trong tương lai. Nếu ta thành công thì bao nhiêu thế hệ sau này sẽ được thừa hưởng. Khi ta tới với một thiền viện, tức là ta đã chấp nhận một tăng thân, chấp nhận một gia đình. Khi quý vị tiếp nhận một Pháp danh hay một Pháp tự, quý vị trở thành con cháu một nhà. Quý vị tiếp nhận những châu báu, những truyền thống, những tinh hoa của đạo pháp để tự nuôi dưỡng mình. Quý vị có bổn phận phải trao truyền lại những châu báu ấy cho các thế hệ tương lai. Sự mong ước của các vị tổ sư và các thầy là trao truyền, chứ không phải chỉ là chữa trị cho chính bản thân. Sự tiếp nối của đạo pháp, của tuệ giác và của sự chuyển hóa, đó là nơi nương tựa cho tất cả mọi người. Nếu không thành công, ta sẽ phụ ơn đức của Bụt, của tổ, của thầy và của tăng thân. Cho nên ta đừng bỏ phí một giây phút nào trong đời sống hàng ngày. Chỉ có mình mới có thể đánh mất đời sống của mình mà thôi. Tuần trước tôi có nói rằng sự thực tập của chúng ta rất cụ thể. Chúng ta sống đời sống hàng ngày như thế nào để mỗi giây phút của đời sống trở thành một huyền thoại cho chính chúng ta và cho các con cháu của chúng ta. Chúng ta không cần phải leo lên núi Thứu mới có thể sống được huyền thoại. Chúng ta chỉ cần đi bộ với nhau ở Làng Mai, ngồi ăn cơm với nhau, rửa chén, quét nhà với nhau trong chánh niệm và an lạc là chúng ta đã có thể tạo nên huyền thoại. Tôi mong rằng tất cả quý vị ở đây đều đang tham dự vào trong huyền thoại đó, đừng có đứng bên ngoài. Bằng bước chân, bằng hơi thở, bằng nụ cười, bằng sự hành trì tu tập hàng ngày của mình, ta đóng góp một phần xây dựng tịnh độ cho chính bản thân ta, và cho các thế hệ tương lai.

Bài 13 Như lý tác ý

Hôm nay, ngày 06 tháng Giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp Bát chánh đạo. Chúng ta biết rằng Bát chánh đạo thuộc về sự thật thứ tư trong Tứ diệu đế.

Chúng ta đã học rằng trong tinh thần của Tứ diệu đế, một sự thật gồm chứa cả ba sự thật khác. Khi quán chiếu về một sự thật ta phải thấy được cả ba sự thật kia. Đạo, sự thật về con đường, hàm chứa sự thật về khổ đau. Nếu con đường không phải để chuyển hóa khổ đau có thật thì đó không phải là con đường đích thực trong Tứ diệu đế. Khi quán chiếu và tu tập về đạo đế, nếu chúng ta không thấy được bản chất và cội nguồn của khổ đau thì đó chưa đích thực là đạo đế. Cũng vậy, trong khi học hỏi và thực tập về đạo đế mà chúng ta không cảm thấy an lạc và chuyển hóa, nghĩa là chưa sống được sự thật thứ ba là diệt đế, thì đó cũng không phải là đạo đế đích thực. Cần nhắc lại rằng sự thật thứ tư là đạo đế gồm chứa cả ba sự thật đầu: khổ đế, tập đế và diệt đế.

Đạo đế có thể diễn tả bằng những vòng tròn Bát chánh đạo. Vòng tròn thứ nhất là chánh kiến, rồi đến chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Chúng ta đã thấy tính cách tương tức, tương nhập và tương dung của tất cả những chi phần trong Bát chánh đạo và Bốn sự thật mầu nhiệm. Mỗi chi phần của Bát chánh đạo bao hàm bảy chi phần khác và cũng hàm nhiếp tất cả Bốn sự thật.

Trong khóa tu này, chúng ta sẽ thấy toàn bộ giáo lý đạo Bụt có thể thâu tóm trong Bát chánh đạo và Tứ diệu đế. Chúng ta đã biết rằng Bát chánh đạo là giáo lý Bụt đã tìm ra dưới gốc cây bồ đề và ngay trong bài thuyết pháp đầu tiên cho năm thầy khất sĩ, Bụt đã giảng dạy giáo lý Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Đến giờ nhập diệt ở rừng Sala, khi dạy người đệ tử cuối cùng là Subhadda, Bụt cũng giảng về Bát chánh đạo. Cho nên chúng ta có thể vững tâm tin rằng Bát chánh đạo là tinh yếu của giáo lý đạo Bụt. Toàn bộ giáo lý của đạo Bụt có thể được học hỏi qua cấu trúc của Bát chánh đạo.

Chúng ta đã thấy rằng càng học về chánh niệm chừng nào chúng ta càng hiểu thêm về chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn và chánh định chừng ấy. Đây cũng là một điều chứng minh cho tính tương tức của Bát chánh đạo.

NHƯ LÝ TÁC Ý

Kỳ trước chúng ta đã nghe về kinh Quán niệm hơi thở. Kinh này dạy ta quán chiếu các lĩnh vực của thân, của cảm thọ, của tâm hành và của pháp, tức là những đối tượng của tâm hành. Kinh Quán niệm hơi thở chỉ dạy mười sáu phép thở. Người hành giả có thể căn cứ trên mười sáu phép thở căn bản ấy để sáng chế những phương pháp thực tập có thể bao trùm cho cả bốn lĩnh vực.

Trong mười sáu hơi thở, chỉ có bốn hơi thở để quán chiếu về thân. Trong khi đó thân ta là một lĩnh vực rất lớn, có hàng chục ngàn đối tượng quán chiếu. Vì vậy, bốn hơi thở này cần được thực tập và khai triển để biến thành vô số phương pháp thực tập nhằm quán chiếu tất cả những bộ phận của thân thể. Bụt lại dạy bốn hơi thở khác để quán chiếu cảm thọ. Cảm thọ cũng là một lĩnh vực rộng lớn. Tiếp đến là bốn hơi thở quán chiếu về các tâm hành. Tâm hành có tới 51 thứ, rất phức tạp. Cuối cùng, Bụt đưa ra bốn hơi thở để quán chiếu về các pháp, tức là đối tượng của tâm.

Kỳ trước, chúng ta đã nghe khá đầy đủ về quán niệm thân thể trong thân thể. Trong đời sống hàng ngày, khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, ta phải chiếu rọi ánh sáng chánh niệm vào để biết ta đang làm gì, như ta biết ta đang đứng, đang ngồi, v.v. Ta thực tập và giúp những người khác trong tăng thân cùng thực tập. Những phương pháp thiết yếu và cụ thể như vậy đã được học mà không đem ra thực tập thì uổng phí và dại dột lắm.

Về trường hợp cảm thọ cũng vậy. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có những cảm thọ vui, buồn, giận, ghét, có những khổ thọ, lạc thọ và xả thọ. Ta phải chăm sóc cảm thọ của chính ta, nếu không thì ai chăm sóc những cảm thọ ấy cho ta? Bụt dạy ta tu học là lấy ánh sáng chánh niệm soi chiếu vào những cảm thọ ấy. Những đau buồn, giận hờn, ganh ghét, nhức nhối, thao thức, sợ hãi, âu lo. Ta ôm ấp, săn sóc và chuyển hóa chúng bằng năng lượng chánh niệm. Không ai làm được việc đó thay ta được. Bằng cách chăm sóc, trị liệu và chuyển hóa những cảm thọ của mình, ta có thể giúp người chung quanh chăm sóc, trị liệu và chuyển hóa những cảm thọ của họ. Nếu chúng ta không thực tập điều đó, ta chỉ mong có người nào đó tới vuốt ve, an ủi, vỗ về những cảm thọ của chúng ta thì chúng ta đâu có thực tập những điều Bụt dạy. Những phương pháp Bụt dạy rất cụ thể và rõ ràng. Khi có một nỗi buồn, ta biết ta có một nỗi buồn. Khi có một niềm vui, ta biết ta có một niềm vui. Biết đây không phải là một cái biết suông, biết đây là dùng năng lượng của chánh niệm để nhận diện và ôm lấy cảm thọ.

Trong kinh Trung A hàm, Bụt dặn sau khi đã nghe giảng về Tứ diệu đế và Bát chánh đạo, ta nên thực tập như lý tác ý để đưa chánh kiến vào đời sống hàng ngày. Các chữ “như lý tác ý” được sử dụng trong kinh Phật thuyết tam chuyển Pháp luân. Thực tập như lý tác ý tức là khởi tâm chú ý tới một điều Bụt đã dạy, và bắt đầu áp dụng nó. Mỗi ngày chúng ta có hai mươi bốn giờ đồng hồ để sống. Những việc chúng ta làm như nấu bếp, quét nhà, giặt áo và làm vườn, chúng ta đều phải làm trong tinh thần tu tập.

Nghĩa là trong khi làm những công việc đó, chúng ta phải như lý tác ý và phải áp dụng phương pháp chăm sóc thân thể ta và cảm thọ của ta bằng năng lượng của sự quán niệm.

Sống trong thiền viện, nếu không thực tập chánh niệm và quán chiếu thân và thọ của ta, thì không khác gì sống ở ngoài đời. Ngoài đời người ta nấu cơm, quét nhà, đun nước, giặt áo, mà ở trong chùa chúng ta cũng làm như thế. Khác nhau chăng là ở chùa ta làm những việc đó trong chánh niệm. Chúng ta phải chăm sóc ngôi chùa bản thân của chúng ta, để ngôi chùa quý giá ấy đừng trở thành một chùa Bà Đanh.

Có những cảm thọ rất đau đớn, có những cảm xúc có thể làm ta tê liệt ngày này sang ngày khác, có khi từ tháng này sang tháng khác. Tu học theo đạo Bụt ta phải biết chăm sóc những cảm thọ và những cảm xúc đó. Ta biết sở dĩ ta có những cảm xúc làm ta tê liệt như vậy, là vì trong quá khứ ta đã không biết chăm sóc cảm thọ. Khi cảm thọ đang còn non yếu, ta đã không biết xử lý, chúng ta để cho chúng càng ngày càng mạnh. Bây giờ nó đang làm ta tê liệt, nó đang hoành hành trong ta chỉ vì ta đã không thực tập những điều Bụt dạy. Trong quá khứ, ta đã khinh thường, đã không tu học, ở trên núi châu báu nhưng chưa bao giờ biết nhận diện châu báu. Đi, đứng, nằm, ngồi ta không có chánh niệm. Cảm thọ nổi lên thì ta vùng vẫy, chạy trốn, chứ không biết ôm ấp, chăm sóc, quán chiếu và chuyển hóa. Khi ngọn gió cảm thọ đã thổi mạnh thành bão tố, mà ta mới bắt đầu thực tập thì sẽ thấy khó khăn. Là nạn nhân cảm thọ, ta khổ đau và trở thành gánh nặng cho những người xung quanh. Trong một tăng thân, mỗi khi ta bệnh thì anh chị em ta phải chăm sóc và lo lắng cho ta. Đó là nói về thân bệnh. Khi trong tâm ta có niềm đau quá lớn, làm ta tê liệt, thì bản thân ta khổ và tăng thân ta cũng khổ. Nếu ta biết chuyên cần tu tập trong đời sống hàng ngày, và nếu những người xung quanh ta cũng thực tập, thì sự thực tập của người này tạo thêm năng lượng cho người kia. Muốn giúp đỡ người khác, ta hãy thực tập cho bản thân. Nếu bản thân ta không thực tập thì ta không thể nào giúp cho người khác bớt khổ.

MỘT BÀI THỰC TẬP QUÁN HƠI THỞ

Thở vào biết thở vào

Thở ra biết thở ra

Hơi thở vào đã sâu

Hơi thở ra đã chậm

Thở vào tôi thấy khỏe

Thở ra tôi thấy nhẹ

Đây là một bài thực tập ở Làng Mai rất nổi tiếng; đã có hàng chục ngàn người, có thể hàng triệu người khắp nơi đang thực tập và đã hưởng rất nhiều kết quả của sự thực tập ấy. Nó rất đơn giản. Nó bắt đầu như sau: Thở vào tôi biết tôi đang thở vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra.

Câu này được lấy trực tiếp từ kinh Quán niệm hơi thở. Bất cứ lúc nào, khi quét nhà, nấu cơm, lái xe, giặt áo quần, đi thiền hay ngồi thiền, ta đều có thể thực tập câu này. Từ 2600 năm nay, người nào vào chùa cũng thực tập bài này cả:

“Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra.” Tuy bài tập rất đơn sơ nhưng kết quả to lớn ta không thể lường được. Bước đầu, ta tập trở về nắm lấy hơi thở của ta, biết đây là hơi thở vào, biết đây là hơi thở ra. Nhưng chỉ trong một vài phút thực tập, ta đã có thể thực hiện được thân tâm nhất như (thân và tâm trở thành một). Hơi thở nối liền thân và tâm. Hơi thở giúp ta có mặt thật sự tại chỗ, trong giây phút hiện tại. Ta làm chủ ta, ta không đánh mất ta nữa. Ta đã bắt đầu trở lại là ta, ta đã về, ta đã tới. Hơi thở này là hơi thở căn bản. Chúng ta có thể thực tập hơi thở này mười lần, hai mươi, ba mươi lần hay chúng ta có thể chỉ cần thực tập hơi thở ấy mà thôi.

Tiếp theo chúng ta có thể thực tập tiếp: Hơi thở vào đã sâu, hơi thở ra đã chậm. Hơi thở sâu và chậm không phải vì ta cố ý làm cho nó sâu hơn và chậm hơn. Nếu ta thở một cách có ý thức, thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, thì chỉ sau hai, ba lần thở, hơi thở chúng ta đã tự nhiên sâu hơn và chậm hơn. Đó là một kết quả tất nhiên mà không cần một cố gắng nào cả. Xin đừng hiểu là ta cố làm cho hơi thở vào sâu thêm, cố làm cho hơi thở ra chậm hơn. Hai câu này chỉ có nghĩa rằng: “Tôi đang thở vào và nhận thấy hơi thở vào của tôi đã sâu thêm, tôi đang thở ra và nhận thấy hơi thở ra của tôi đã chậm lại.” Một khi hơi thở đã sâu thêm và chậm lại là nó đã có phẩm chất cao hơn. Nó mang lại sự tĩnh lặng, an lạc, tự do và thảnh thơi. Không cần phải tu mười năm hoặc hai chục năm mới đạt được kết quả này. Chúng ta chỉ cần thực tập hai hoặc ba phút thôi là có thể đạt rồi!

Chúng ta cũng không cố ý làm cho thân và tâm trở về làm một, thân tâm nhất như. Chúng ta không bắt ép an lạc trở về với chúng ta. Chúng ta chỉ cần “thở vào, biết thở vào, thở ra biết thở ra”, thì một lúc sau tự nhiên thân và tâm sẽ nhất như, sẽ trở thành một khối. An lạc, nhẹ nhàng tự nhiên sẽ tới, không ai phải bắt ép. Trong khi ngồi thiền hay đi thiền, ta cứ tiếp tục thở như vậy.

Ngồi thiền hay đi thiền mà thở như vậy là một niềm vui lớn, một ân sủng lớn. Nếu trong khi tu tập mà ta có cảm tưởng là bị ép buộc thì ngồi thiền hay đi thiền là một sự cực nhọc. Trong đời sống tu viện, ngồi thiền và kinh hành (đi chậm) phải là những giây phút sung sướng nhất. Trong những giây phút đó, không ai được quyền quấy rầy ta, không ai được hỏi ta một câu hỏi hay nhờ ta làm một việc gì. Trong những giờ phút đó, ta có tự do hoàn toàn. Ta chỉ cần “thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra.” Đừng bỏ qua những thời khóa như vậy. Đó là những giờ phút quý báu mà chúng ta có thể sống cùng đại chúng. Ta đừng có ham công tiếc việc.

Hai câu tiếp theo trong bài thực tập là: Thở vào tôi thấy khỏe, thở ra tôi thấy nhẹ. Khỏe và nhẹ đây không phải là tự kỷ ám thị (auto-suggestion) – Tự kỷ ám thị là khi không khỏe nhưng mình cứ nói: “Tôi khỏe, tôi đang khỏe đây”, khi không nhẹ mà mình cứ nói: “Tôi đang nhẹ, tôi đang nhẹ đây” để tự ảnh hưởng vào lòng mình. Nếu ta thở vào và thở ra có ý thức vài ba lần thì tự nhiên hơi thở trở thành sâu và chậm. Nếu hơi thở tiếp tục sâu và chậm, thì tự nhiên ta cảm thấy trong người khỏe và nhẹ. Nói “khỏe, nhẹ” vì ta nhận thấy có khỏe và có nhẹ thật. Đây là sự nhận diện. Và khi khỏe mà biết là mình khỏe thì ta sẽ thấy khỏe thêm.

Khi nhẹ mà biết là mình nhẹ, thì mình sẽ thấy nhẹ thêm. Biết ở đây nghĩa là có ý thức, là có chánh niệm. Chánh niệm nâng cao phẩm chất của những gì đang hiện diện. Ví dụ bông hoa. Bông hoa đẹp, nhưng nhờ tôi nhìn có chánh niệm nên bông hoa càng biểu lộ được cái đẹp của nó. Khi quý vị ngắm trăng trong chánh niệm thì trăng càng sáng tỏ. Cho nên khi ý thức rằng hơi thở đang làm cho ta khỏe khoắn và nhẹ nhàng, vì có ý thức, cảm giác khỏe và nhẹ trở thành hiện thực hơn. Nhiều khi ta khỏe và nhẹ, cũng như ta có tự do và an lạc, nhưng vì không ý thức nên ta không thật sự thừa hưởng được cái khỏe và cái nhẹ ấy.

BÀI THỰC TẬP TIẾP TỤC VỚI HƠI THỞ CHÁNH NIỆM

Thở vào tâm tĩnh lặng,

Thở ra miệng mỉm cười.

An trú trong hiện tại,

Giây phút đẹp tuyệt vời.

Thở vào tâm tĩnh lặng là một bài tập Bụt dạy trong kinh Quán niệm hơi thở. Tôi đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong tôi được an tịnh. Hoạt động tâm ý ở đây có thể là cảm thọ, một cảm thọ không dễ chịu, như buồn bực, sợ hãi, giận hờn hoặc thao thức. Ta sử dụng hơi thở vào để làm lắng lại tâm tư của mình, trước hết là lắng dịu cảm thọ. Nếu ta có một cảm thọ làm cho ta mất đi sự tĩnh lặng, và ta muốn đi vào thực tập liền bài tập “thở vào tâm tĩnh lặng” cũng được. Nhưng nếu quý vị theo thứ tự bài thực tập, từ bài đầu “thở vào biết thở vào”, mỗi câu thực tập vài ba phút, khi đến đây thì quý vị rất dễ làm cho cảm thọ mình lắng dịu.

Thở ra miệng mỉm cười. Miệng mỉm cười có thể là một thực tập thuộc lĩnh vực thân. Mỉm cười ở đây là một động tác yoga (yoga of the mouth). Có những thiền sinh Tây phương nói: “Thưa thầy, trong lúc con không có gì vui trong lòng cả mà thầy lại bảo con cười? Như vậy là nụ cười giả tạo sao?” Tôi trả lời: “Tôi đâu có bắt anh cười đâu, tôi chỉ đề nghị anh tập yoga miệng thôi mà. Tại sao anh tập yoga tay được, anh tập yoga chân được, chổng ngược đầu được, mà lại không tập yoga miệng được? Tôi chỉ yêu cầu anh nhếch cái mép anh lên một chút xíu thôi. Khi anh mỉm cười, có ba trăm bắp thịt trên mặt được thư giãn và sự căng thẳng trong hệ thần kinh của anh tự nhiên tan biến. Tôi không cần anh giả bộ làm vui, anh chỉ cần tập yoga cái miệng giùm tôi thôi thì tự nhiên cơ thể anh có thể thư giãn, hệ thần kinh anh buông thư và điều này sẽ có ảnh hưởng tốt tới tâm anh.”

Quỳ xuống hay đảnh lễ cũng là những động tác yoga. Muốn bày tỏ sự cung kính Tam bảo, ta đâu nhất thiết phải lạy xuống. Nhưng khi anh lạy xuống thì tâm cung kính Tam bảo của anh được bày tỏ một cách dễ dàng hơn gấp bội. Khi tu tập, ta phải biết sử dụng thân thể ta nữa, chứ nói rằng chỉ cần tu tâm thôi thì không được. “Tôi tu trong tâm thôi, tôi không cần tu bằng hình thức, tôi không cần ngồi thiền, đi thiền, tôi chỉ cần bỏ ác làm lành thôi à!” Quý vị đã từng nghe câu nói ấy chưa?

Các nhà khoa học đã nghiên cứu về nụ cười và về tác dụng của nụ cười lên tâm lý của ta. Nụ cười mà họ nghiên cứu đây không phải là cái cười vui, mà chỉ là những động tác của bắp thịt khi miệng ta nhoẻn ra cười. Mỉm miệng cười đưa tới những kết quả rất kỳ diệu. Đang tức bực vậy mà ta mỉm miệng cười được một cái thì tự nhiên tâm trạng ta biến đổi hoàn toàn.

An trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời. Khi thở vào, ta đem tất cả thân tâm trở về với giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Khi thở ra, ta thấy được giây phút hiện tại chứa đựng tất cả những mầu nhiệm tuyệt vời của sự sống. Trở về giây phút hiện tại, ta khám phá được nhiều châu báu trong thân và trong tâm của ta. Trước hết ta khám phá ra sự thật là ta đang sống và ta đang thở. Ta đang sống, sự sống đang có mặt với tất cả những mầu nhiệm của nó. Ta tiếp xúc được với Bụt, với Pháp, với Tăng. Tất cả những mầu nhiệm đó đều đang có mặt trong giây phút hiện tại. Ta chỉ cần tiếp xúc sâu sắc với giây phút này là có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy. Ta tiếp xúc được với tất cả những gì mà lâu nay ta từng đi tìm nhưng chưa gặp. Tất cả đều ở ngay đây.

TỊNH ĐỘ LÀ Ở ĐÂY

Có những người tu tịnh độ hai, ba chục năm mà không có dấu hiệu gì đã tiếp xúc được với tịnh độ. Đó cũng vì họ cứ nghĩ tịnh độ là ở trong tương lai. Nghĩ rằng tịnh độ chỉ có ở tương lai là một chướng ngại lớn. Giáo lý căn bản của Bụt là tất cả những gì ta tìm kiếm, từ niết bàn cho đến tịnh độ, đều ở trong tâm ta, ở trong giây phút hiện tại. Làng Mai có một bài hát rất đơn giản:

Đây là tịnh độ,

Tịnh độ là đây,

Mỉm cười chánh niệm,

An trú hôm nay,

Bụt là lá chín,

Pháp là mây bay,

Tăng thân khắp chốn,

Quê hương nơi này.

Thở vào hoa nở,

Thở ra trúc lay,

Tâm không ràng buộc,

Tiêu dao tháng ngày.

An trú được trong hiện tại, ta hoàn toàn thanh thản. Bụt ta cũng tiếp xúc được bây giờ, Pháp ta cũng tiếp xúc được bây giờ. Nhặt một chiếc lá rụng lên, ta đã có thể thấy Bụt. Ngắm một đám mây bay, ta tiếp xúc với Pháp. Còn Tăng thân là cây, là gió, là chim, là các bạn tu. Đâu cần phải đi đâu? Đâu phải tìm về quá khứ hay mơ tới tương lai mới gặp được Bụt, Pháp và Tăng? Thở vào hoa nở. Hoa vẫn nở nhưng ta không thấy. Thở vào có ý thức mới thấy được hoa nở. Thở ra trúc lay, tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày. Niềm an lạc có thể có được ngay bây giờ. Giây phút hiện tại có thể là đẹp tuyệt vời, đây không phải là một lý thuyết. Đó là hoa trái của sự thực tập tiếp xúc bằng chánh niệm. Bài kệ này là một Pháp bảo rất đơn giản. Mới học, ta có thể chưa thấy được gì huyền diệu và uyên áo ở trong. Một em bé mười tuổi cũng có thể hiểu được. Nhưng bao nhiêu điều sâu xa của Phật pháp, làm bằng chất liệu của kinh điển và của tuệ giác đều có thể đang được chứa đựng trong đó.

An trú hiện tại là một phép tu rất mầu nhiệm. An trú trong chánh niệm, và với năng lượng chánh niệm ta tiếp xúc được rất sâu sắc với hiện tại. Tiếp xúc được rồi ta sẽ thấy những mầu nhiệm của sự sống nuôi dưỡng ta, làm cho giờ phút bây giờ và ở đây trở thành quê hương của chính mình, ta không cần đi tìm tòi, ta chấm dứt cuộc lang thang.

Cả hai bài kệ Đây là tịnh độ Thở vào tâm tĩnh lặng trong khi được thực tập đều có thể giúp ta trở về an trú trong hiện tại và khám phá chiều sâu mầu nhiệm của sự sống. Bài Thở vào tâm tĩnh lặng có thể được rút ngắn cho tiện việc thực tập:

Tĩnh lặng,

Mỉm cười,

Hiện tại,

Tuyệt vời.

Từ năm 1980, tôi đã sử dụng bài kệ này để hướng dẫn thiền sinh phương Tây thực tập thiền ngồi và thiền đi. Bài dịch tiếng Anh:

Breathing in, I calm myself

Breathing out, I smile,

Dwelling in the present moment

I know this is a wonderful moment.

Rút ngắn để dễ thực tập như sau:

Calming

Smiling

Present moment

Wonderful moment.

Bài kệ này đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có tiếng Nga và tiếng Hoa. Bài tiếng Hoa đã được dùng cho các khóa tu tổ chức ở Đài Loan và Đại Lục.

HỌC ĐỜI SỐNG CỦA BỤT

Chúng ta thường nghe nói tới những kỳ nhập thất ba năm, hoặc chương trình bốn năm học Phật pháp cơ bản hay sáu năm Phật pháp cao cấp. Chúng ta có thể học rất nhiều, có thể thuộc rất nhiều kinh, viết được những bài giảng rất dài. Nhưng điều quan trọng là chúng ta có được thật sự nuôi dưỡng bằng pháp lạc hay không? Bụt đã để lại cho ta những gì? Và ta đã thừa hưởng được những gì? Bụt đã để lại cho ta ba tạng kinh điển, Bụt đã để lại cho ta lịch sử của một giáo đoàn. Nhưng trước hết Bụt đã để lại cho chúng ta cuộc đời của Bụt.

Cuộc đời của Bụt nghĩa là sự sống của Bụt. Bụt đã sống như thế nào? Bụt có phải là một nhà trí thức không? Bụt có phải một nhà văn viết hết từ bộ sách này sang bộ sách khác hay không? Hay Bụt chỉ là một người đi bộ, đi từ khu vườn này sang mái tranh kia, đi từng bước thảnh thơi, tiếp xử với mọi người bằng lòng từ bi, bằng nụ cười khoan lạc của mình? Bụt là như vậy. Bụt không phải là một nhà trí thức. Bụt không phải là một nhà nghiên cứu. Bụt không phải là một người tổ chức. Bụt không phải là một uy quyền cầm đầu một giáo hội lớn lao. Bụt chẳng qua là một ông thầy tu, một ông thầy tu có lòng từ bi lớn và có tuệ giác lớn. Và quanh Bụt có những người học trò, có những người bạn. Họ cũng muốn làm như Bụt: đi bộ từng bước thảnh thơi, đi xin thức ăn mỗi ngày để tiếp xúc và độ đời, thực tập hơi thở, thực tập chánh niệm.

Chính vì thế, Bụt đã cứu giúp cho không biết bao nhiêu người. Không phải giúp bằng cách tổ chức cứu trợ có hàng trăm triệu, mà giúp bằng cách dạy cho người ta biết đi, đứng, nói, cười, thở và chuyển hóa. Và Bụt là một người vui tươi, không rầu rĩ, Ngài có một nụ cười sống mãi 2500 năm cho tới bây giờ.

Đời sống của Bụt là thông điệp của Ngài. Thông điệp đó, ta phải tiếp nhận cho được. Còn những hệ thống tư tưởng trong đạo Bụt liên hệ gì với đời sống của Ngài, có liên hệ gì với an lạc, hạnh phúc trong sự sống của Ngài, câu hỏi đó chúng ta sẽ phải đặt ra.

Có những giờ phút nghe như là huyền sử về cuộc đời Bụt. Ví dụ những giờ phút Ngài ngọa bệnh ở Vaishali. Bệnh nặng đến nỗi thầy A Nan phải ra bên ngoài đứng khóc. Nhưng sau đó Bụt lành bệnh và cho triệu các thầy trong vùng đến để nói chuyện. Bụt biết rằng Ngài sẽ tịch trong một thời gian ngắn. Khi gặp các đệ tử Bụt dạy: “Này các thầy, các thầy hãy thực tập quay về nương tựa nơi hải đảo của tự thân. Đừng tìm nương tựa vào một nơi nào khác. Vì nơi hải đảo tự thân vốn có Bụt, có Pháp, có Tăng. Đừng tìm kiếm nơi khác, không cần đi đâu xa. Ở trong tâm ta đã có đủ hết những gì ta muốn tìm kiếm.” Đó là những giây phút rất ấm cúng và mầu nhiệm, chỉ có thầy trò ngồi với nhau thôi. Lời dạy ấy cho ta thấy một tình thương rất lớn. Và khi thầy trò lên đường đi về phương Bắc thì có lúc Bụt quay lại và đưa mắt nhìn thành phố Vaishali một lần cuối. Bụt nhìn với tất cả chánh niệm. Kinh ghi chép: “Đức Thế Tôn ngoái lại nhìn thành phố Vaishali bằng đôi mắt của một con voi chúa, rồi Ngài mỉm cười hướng về phía Bắc và bước tới.” Đó là lần cuối cùng Đức Thế Tôn nhìn thành phố Vaishali, và Ngài đã nhìn bằng con mắt của chánh niệm, con mắt của một tượng vương.

Mỗi bước chân đi của Bụt là một huyền thoại, mỗi cái nhìn của Bụt là một huyền thoại. Bốn mươi lăm năm trước, vào một buổi sáng, lúc sao mai mọc, Bụt đã thành đạo. Nhìn sao mai vừa mọc, Ngài giác ngộ và mỉm cười. Đó là một giây phút đẹp như một huyền thoại. Những sự việc xảy ra tuy có thật, nhưng đẹp đến nỗi ta không thể diễn tả được. Ta chỉ biết nói: “Mỗi giây phút trong đời sống của Bụt là một huyền thoại.” Ngồi trên núi Thứu, ăn cơm với các đệ tử, leo lên núi, đi xuống núi, từng bước chân, tất cả những giây phút đó đều tràn đầy an lạc và hạnh phúc. Mục đích của sự tu học là để sống được những giây phút như vậy. Chúng ta hãy sống như thế nào để mỗi giây phút của đời ta trở nên một giây phút huyền thoại. Cho con cháu sau này nghĩ tới sẽ tự hào về cha ông. Những điều kiện của hạnh phúc, của giác ngộ, của thương yêu có sẵn bây giờ và ở đây. Ta làm thế nào để tiếp xúc, để sống an lạc ngay, đừng đợi mười năm sau, đừng đợi phải nghiên cứu hết cả ba tạng giáo lý của đạo Bụt rồi mới bắt đầu.

Năm 1968, tôi được leo núi Linh Thứu với thầy Maha Ghosananda, sư cô Chân Không, thầy Thế Tịnh và một số người khác. Lên đến đỉnh núi Thứu, chúng tôi chỉ ngồi xuống mà thôi, ngồi cho đến khi mặt trời lặn. Và cũng chỉ muốn lặp lại những gì mà ngày xưa Bụt đã từng làm. Lên núi Thứu chúng tôi không học kinh, không pháp đàm, chúng tôi chỉ ngồi xuống thôi. Ngày xưa Bụt đã ngồi ở đó, và bây giờ ta cũng chỉ muốn ngồi ở đó. Đột nhiên nhìn về phương Tây, tôi thấy mặt trời huy hoàng đang lặn. Chưa bao giờ tôi thấy mặt trời lặn đẹp như vậy. Tự nhiên, tôi ý thức được tôi đang nhìn mặt trời bằng con mắt của Bụt ngày xưa. Ngày xưa Bụt đã từng ngồi nhìn mặt trời lặn. Bao nhiêu năm tháng đã trôi qua. Chiều nay mình cũng ngồi như thế, cũng nhìn như thế. Không có gì khác. Đức Thế Tôn đã ngồi nhìn mặt trời lặn. Ta sống lại giây phút huyền thoại ấy bằng cái nhìn của ta. Khi xuống núi, chúng tôi cũng đi từng bước ý thức. Không ai nói với ai một lời nào. Trong tâm không lo lắng, không gợn một chút buồn phiền hoặc chút giận hờn. Đó là những điều mà hôm nay chúng ta có thể làm được. Bắt đầu từ ngày đó trở về sau, đi đâu tôi cũng đi theo kiểu thiền hành. Tôi đã hướng dẫn những đoàn người hai chục người, năm chục người, một trăm người, hai ngàn người ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Úc, đi những bước thảnh thơi như Bụt đã đi.

Đi như thế nào, ngồi như thế nào, ăn như thế nào để mỗi giây phút của đời sống ta có thể trở thành huyền thoại. Ngày các sư cô Chân Đức, Chân Không và Chân Vị thọ giới trên núi Thứu, chúng tôi cũng đã thực tập ngồi yên trên ấy. Chúng tôi đã bắt đầu leo lên núi Thứu từ lúc bốn giờ sáng để kịp chứng kiến giờ phút mặt trời mọc. Chúng tôi nghĩ nếu mặt trời lặn trên núi Thứu đẹp, thì mặt trời mọc trên núi Thứu cũng rất đẹp. Thầy trò leo núi rất sớm, có một ông cảnh sát được mời đi thiền hành với chúng tôi cho có thêm an ninh. Quả nhiên là mặt trời mọc trên ấy cũng đẹp không thua gì mặt trời lặn.

Sự thật là mặt trời ở đâu cũng đẹp như mặt trời trên núi Linh Thứu. Mặt trời ở bên Úc, ở bên Hoa Kỳ, ở châu Âu, ở châu Á đều đẹp. Chúng ta có con mắt để nhìn mặt trời hay không, có hai chân để tiếp xúc với mặt đất hay không? Tại Làng Mai có những buổi sáng và buổi chiều tuyệt đẹp. Những ngày có sương rất đẹp, những ngày không có sương cũng đẹp. Trời mưa hay nắng đều đẹp. Cây “bồ đề” trước thiền đường Chuyển Hóa, mùa xuân, mùa hạ, mùa đông hay mùa thu gì đều đẹp. Chúng ta chỉ cần nhìn cây với một chút chánh niệm là đã có thể tiếp xúc được với cái đẹp ấy.

HẠNH PHÚC Ở TRONG TA

Những mầu nhiệm của sự sống đang được biểu hiện trước mắt ta trong mỗi phút mỗi giây. Chính bản thân ta là một mầu nhiệm. Chính người bạn tu sống bên ta cũng là một mầu nhiệm. Không có gì ngăn cản chúng ta tiếp xúc với sự sống trong những giây phút hiện tại để biến những giây phút của đời sống chúng ta thành những trang huyền sử. Tại sao chúng ta không buông bỏ những tri giác sai lầm về nhau, hay những thành kiến của chúng ta, tại sao ta cứ chôn mình vào trong ngục tù của bản ngã để chúng ta không làm được những điều hết sức đơn giản đó. Những bài thiền tập có hướng dẫn nằm trong cuốn Sen búp từng cánh hé là những bài tập nằm trong tầm tay mọi người, ai cũng có thể thực tập được cả. Bài kệ học hôm nay, ta chỉ cần thực tập trong vài phút là đã thấy mình khỏe hơn, nhẹ hơn và có thể đạt đến hạnh phúc lớn và sâu. Có câu chuyện những người đi lên núi châu báu, chân đạp lên trên châu báu, nhưng đến khi ra về thì không mang được một hạt ngọc nào về. Chúng ta có thể cũng giống những người ấy. Chúng ta đã có cơ hội gặp được Pháp bảo, gặp được Bụt, Pháp và Tăng, đã có rất nhiều điều kiện để có hạnh phúc nhưng chúng ta không có khả năng sống có hạnh phúc. Chúng ta tiếp tục làm nô lệ cho quá khứ, cho tương lai. Chúng ta nghĩ hạnh phúc chỉ có thể đạt tới khi nào xung quanh có sự thay đổi, sau khi mọi người thay đổi. Ta không ngờ rằng hạnh phúc ở ngay trong trái tim. Tu hành cũng như đào giếng, nếu chúng ta đào xuống và gặp được mạch nước thì tự nhiên nước ngọt trào ra. Mạch nước ngọt đó nằm ở ngay trong tâm chúng ta, có khi nó rất là cạn. Nguồn suối chánh niệm đó lưu nhuận ở trong tâm, do Bụt và tổ tiên truyền lại. Chúng ta chỉ cần đào sâu thêm một chút là dòng nước ngọt sẽ phun lên. An lạc là cái có thật, chúng ta có thể tiếp xúc được ngay bây giờ và ở đây. Dù chúng ta vẫn còn đó những niềm đau, những niềm lo sợ. Ta không cần phải đợi đến lúc chuyển hóa tất cả những buồn đau và lo sợ rồi mới có an lạc. Nếu có quyết tâm, ta sẽ thành công trong sự đào giếng của chúng ta.

Thời đại của chúng ta là thời đại trong đó mọi người có nhiều lo lắng và sợ hãi. Chúng ta đã được đào tạo và huấn luyện để sống trong lo lắng. Chúng ta lo lắng nhiều quá, đến nỗi đã mất đi khả năng an trú trong hiện tại. Người nào cũng là Lê Thị Lo, người nào cũng là Nguyễn Văn Sợ. Chứng bệnh của thời đại là lo lắng và sợ hãi. Sở dĩ lo lắng và sợ hãi nhiều quá cũng chỉ vì chúng ta quen sống phiêu lãng trong tương lai nhiều quá. Chúng ta cảm thấy bất an, đi không yên, đứng cũng không yên và khi nằm ngủ lại sợ ngủ không được. Đi học sợ không học giỏi. Ngồi thiền cũng sợ ngồi thiền không thành công. Cái lo và cái sợ trấn ngự tâm ta.

Cho nên chúng ta cần phải học pháp môn Bụt dạy. Nếu anh trở về được với giây phút hiện tại và an trú được trong giây phút hiện tại thì anh không còn cần gì nữa mà phải lo. Sang ngày mai, anh đâu có thể làm gì được thêm để cho hôm nay có nhiều hạnh phúc hơn đâu? Trong khi đó thì trong giây phút này anh thở vào được, anh thở ra được, anh mỉm cười được. Anh có đủ tất cả những điều kiện để tạo ra hạnh phúc. Người ngăn cản không cho anh hạnh phúc chính là anh. Khi anh chùi nồi, hay cưa củi hoặc đốt lò, tại sao anh không có hạnh phúc? Tại vì anh cứ nghĩ rằng chùi nồi như vậy cốt để làm một cái gì đó, cưa củi như vậy cũng là để làm một cái gì đó. Anh không thấy rằng cưa củi trước hết là để cưa củi, được làm việc cưa củi thôi cũng đã là hạnh phúc rồi. Học kinh cũng như cưa củi. Khi ta biết làm trong chánh niệm thì cái nào cũng mang lại an lạc như nhau. Học chữ Nho, tiếng Pāḷi, tiếng Phạn làm gì, trong khi một bước chân hoặc một hớp trà cũng có thể tạo thành những giây phút huyền thoại?

Trở về an lạc trong giây phút hiện tại, anh sẽ thấy giây phút đó nuôi dưỡng và chuyển hóa anh. Có được những giây phút như vậy là có an lạc và thanh tịnh. Bí quyết của sự tu tập là mỗi ngày sống được những giây phút như vậy. Đây là phương thuốc đối trị chứng bệnh thời đại của chúng ta, bệnh lo sợ. Những chứng trầm cảm hay căng thẳng (stress), những bệnh tâm thần của ta đều phát xuất từ áp lực của lo sợ. Và sự lo sợ của những người khác lại thúc đẩy nỗi lo sợ của ta. Thấy người ta lo, mình cũng sinh lo, mình không thể thản nhiên được. Từ đó phát sinh ra một nỗi lo tập thể. Thế giới chúng ta đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của lo sợ, của bất an.

Phương thuốc của Bụt hết sức mầu nhiệm: hãy buông bỏ hết tất cả những lo sợ ấy đi, dầu là lo lắng cho sinh môi, cho tương lai thế giới, cho nạn nhân mãn. Hãy trở về, tự nuôi dưỡng bằng sự sống trong giây phút hiện tại. Rồi anh sẽ thấy anh làm được gì để chuyển hóa tình trạng. Lo lắng suông đâu có ích lợi gì mà chỉ làm tình trạng thêm nặng nề. Vô ưu và quán chiếu là phương thuốc trị liệu cho anh và thời đại của anh.