Có mặt đích thực cho sự sống

(Phỏng vấn thầy Pháp Ấn)

Thầy Pháp Ấn là một sư anh lớn trong tăng thân Làng Mai, và hiện là Viện trưởng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Ban Biên Tập (BBT) đã có dịp ngồi chơi và lắng nghe thầy chia sẻ về đạo Bụt ứng dụng, hạnh nguyện của Sư Ông trong việc xây dựng EIAB, cũng như kinh nghiệm tu học của chính thầy. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ ấy.

 

Nền tảng của hành động

BBT: Thưa thầy, giữa bối cảnh bất ổn về chính trị, xã hội, kinh tế và môi trường trên toàn cầu, nhiều thành viên Tiếp Hiện mong muốn dấn thân để góp phần tạo nên sự thay đổi trong xã hội, nhưng đồng thời cũng dễ cảm thấy tuyệt vọng trước thực tại đầy bạo động và chia rẽ. Theo thầy, làm thế nào để một vị Tiếp Hiện có thể dấn thân mà vẫn giữ được sự vững chãi và một trái tim rộng mở?

Thầy Pháp Ấn (PA):  

Một tháng trước, PA cũng có một buổi trò chuyện cùng với tăng thân Tiếp Hiện bên Ý. Họ cũng đặt câu hỏi tương tự. 

Trong đạo Bụt dấn thân, mọi hành động cần dựa trên nền tảng của bình an và thương yêu. Mỗi hành động của ta đều tác động đến mạng lưới sự sống rộng lớn. Vì vậy, khi muốn hành động vì hòa bình, ta cần tự hỏi: mình đang đứng trên nền tảng nào? Nền tảng của bình an và lòng từ bi trong chính ta? Điều này không có nghĩa là ta phải hoàn toàn bình an mới được hành động, nhưng ta cần quán chiếu động cơ của mình.

PA nhớ ngày xưa khi được tham dự một khóa tu do Sư Ông hướng dẫn ở bên Mỹ cho những người làm trong lĩnh vực thi hành luật (law enforcement) – như luật sư, thẩm phán, quản giáo, và nhiều người làm việc liên quan đến tội phạm trong xã hội. Cuối khóa tu có một anh cảnh sát hỏi: Nếu có một người đang cầm súng bắn vào người dân vô tội, mình phải làm sao với vai trò một người bảo vệ an ninh xã hội? Nếu không bắn anh ta thì người dân sẽ chết, vậy phải làm sao?

Trong câu trả lời, Sư Ông nói rằng chắc chắn là mình phải hành động. Mình không thể ngồi yên khi chuyện đó xảy ra. Nhưng mình phải hành động dựa trên căn bản của tình thương, nghĩa là mình thương cả hai: người đang bắn súng và những nạn nhân. Vì người đang bắn súng cũng là người đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng có quá nhiều khổ đau, tràn ngập đến mức mờ mắt, người ta mới có thể nhẫn tâm bắn người khác. Không có khổ đau thì không ai có thể làm như vậy.

Cho nên trước tiên, mình phải tập nhìn để thấy được nỗi khổ của cả hai bên. Khi mình có tình thương, và hành động dựa trên tình thương, thì tự nhiên mình cũng giảm thiểu được khổ đau. Mình có thể phải nổ súng, nhưng nổ súng như thế nào đó để không phải là giết người, mà là giảm thiểu khổ đau tối đa. Ví dụ bắn vào tay, vào chân, hoặc bộ phận nào để người đó ngã xuống và không tiếp tục gây hại nữa. Căn bản của hành động phải là tình thương, chứ không phải phản ứng từ một nền tảng bạo động. Điều đó rất quan trọng.

Khi dấn thân trong bối cảnh xã hội hiện nay, mình cần làm tất cả trong khả năng của mình. Ngày xưa, Sư Ông đi kêu gọi hòa bình vì hoàn cảnh lúc đó khác: thế giới gần như không biết gì về chiến tranh Việt Nam, không biết tình trạng tại Việt Nam, xã hội lại rối loạn. Còn bây giờ là thời đại thông tin, thông tin tràn ngập và nhiễu loạn khiến mình không biết đâu là sự thật.

Trong mỗi hoàn cảnh, mình vẫn hành động, nhưng theo các cách khác nhau. Ví dụ như khi chiến tranh giữa Nga và Ukraine bùng nổ, PA đã viết thư cho Tổng thống Zelensky và cho Tổng thống Putin, xin hai vị cùng nhìn lại. Ngoài ra, PA còn gửi kèm DVD về cuộc đời Sư Ông và một lá thư ngỏ kêu gọi hai bên dừng lại, chấm dứt cuộc chiến, đừng tạo thêm khổ đau. Đó là những gì trong khả năng mà PA có thể làm.

Dĩ nhiên mình có quyền lên tiếng. Đi diễu hành, đi biểu tình cũng để tạo áp lực chính trị lên các nhà lãnh đạo. Nhưng hiện nay chính trị thế giới vô cùng phức tạp, liên hệ chặt chẽ toàn cầu. Tất cả gắn với nhau trong một mạng lưới rất phức tạp.

Trong hoàn cảnh như vậy, với tư cách một tăng thân, mình cần đóng góp bằng năng lượng tu học, chia sẻ cho mọi người cách chế tác bình an. Khi tâm lắng xuống, mình mới có thể tìm được giải pháp hay nhất để góp phần chấm dứt chiến tranh.

Hay ví dụ như ngay sau khi nhận được tin về xung đột Israel và Palestine, khi đó PA đang có khóa tu tại Tyrol, nước Áo. PA đã cho nhiều bài pháp thoại trong khóa tu đó xoay quanh việc làm sao thực tập bình an trong một xã hội đầy khủng hoảng.

Sau đó, khi đến Sicily, Ý, PA viết một lá thư gửi Tổng thống Biden, kèm theo bản chép lại toàn bộ pháp thoại của khóa tu về thực tập bình an, và kêu gọi chính quyền Mỹ tìm mọi cách chấm dứt chiến tranh giữa Israel và Palestine càng sớm càng tốt, cũng như đem thực phẩm cứu trợ vào khu vực Gaza. Mình tìm cách gửi thư và hồ sơ đó qua Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam còn gọi điện mời PA tới chia sẻ một bài pháp thoại ngay tại tòa đại sứ và muốn tổ chức một ngày quán niệm cho nhân viên, vì tình hình lúc đó rất khủng hoảng. Nhưng lúc ấy PA đang ở Ý nên không về được. PA nhờ họ chuyển lá thư và toàn bộ hồ sơ — hơn mười trang — đến Tổng thống Biden.

Khi hành động như một người Tiếp Hiện, điều quan trọng nhất là nuôi dưỡng lòng từ bi thật lớn, đủ lớn để ôm trọn cả hai phía: bên nạn nhân và bên gây khổ đau. Mình giúp họ đi đến hòa giải. Đó là con đường của đạo Bụt: bất bạo động và hòa giải, không đứng về phe nào.

 

Là một với sự sống

BBT: Thưa thầy, trên hành trình dấn thân, có khi nào thầy thấy nản lòng không? Khi rơi vào những thời điểm như vậy, điều gì đã giúp thầy khơi lại ngọn lửa và tiếp tục đi tới cho đến hôm nay?

Thầy Pháp Ấn:
Thật ra nói nản lòng hay không, thì PA không có chuyện đó. Với PA, tất cả các pháp đều do duyên sinh. Sự thực tập của mình là có mặt trọn vẹn trong giờ phút hiện tại. Khi thật sự có mặt, mình tự biết cái gì nên làm và cái gì không. Đó là thực tập căn bản. Công việc đến thì làm thôi, không phân biệt lớn hay nhỏ, không so đo tính toán. 

Nhưng trong chiều sâu, bản chất của PA là người thích ở yên. Không phải kiểu một vị Bồ Tát xông xáo đâu. Thật ra PA thích nghiên cứu, đào sâu con đường tâm linh, kinh điển. Nhưng việc cần làm thì vẫn làm.

Tánh PA là đụng chuyện thì làm: rửa chén cũng làm, đào đất cuốc cỏ cũng làm. Điều quan trọng là có mặt đích thực cho sự sống. Sự sống đến thì mình đáp ứng. Khi mình thật sự có mặt, mình biết mình cần làm gì, không nên làm gì. Tâm của người Bồ Tát là tâm thương yêu và phụng sự, và khi có mặt thật sự, tình thương tự biểu hiện thành hành động. 

Ví dụ thấy một đứa bé té. Nếu mình có mặt, tình thương phát khởi ngay và khiến mình hành động. Nếu mình không thật sự có mặt, mình sẽ dửng dưng. Sự thực tập của mình là trở thành một với sự sống trong giây phút hiện tại. Khi sống được như vậy, mình tự biết phải hành động thế nào.

Chuyện đi qua Đức để thành lập Viện Phật học cũng vậy. Lúc đó, tu viện Bát Nhã còn chưa yên; tài chánh thì không, nhân sự thì thiếu, giáo thọ cũng không có. Thành lập một Viện Phật học – Viện Phật học Ứng dụng châu Âu – đâu phải chuyện nhỏ. Viện Phật học không chỉ cho Đức hay Pháp, mà là của cả châu Âu. Nếu mình là người có trách nhiệm, nghe cái tên đó cũng phải suy nghĩ chứ. PA có thưa với Sư Ông nhiều lần: “Con nghĩ bây giờ khoan làm đã, mình phải dồn sức cho Bát Nhã, cho Việt Nam trước”.

Nhưng Sư Ông có cái thấy của Sư Ông. Rõ ràng, nếu Sư Ông muốn thực hiện Viện Phật học đó mà không làm ngay thì đâu biết đến khi nào mới thực hiện được, cuộc đời rất vô thường. Thành ra Sư Ông quyết định phải làm. Là đệ tử, bổn phận của mình là trình bày cái thấy và đóng góp ý của mình. Nhưng Thầy Tổ quyết định sao thì mình đi theo vậy. PA chưa từng có ý chống đối hay không yểm trợ Sư Ông. Nhiệm vụ của người học trò là nói lên cái thấy thật của mình. PA nói với Sư Ông: “Đó là những gì con suy nghĩ, và con biết cái thấy của con còn thiển cận. Sư Ông có cái thấy khác. Nhưng Sư Ông quyết sao thì con yểm trợ hoàn toàn”. 

Mùa hè 2008, bữa đó ở cốc Ngồi Yên, Sư Ông gọi thị giả mời PA vào. Đó là tuần cuối khóa tu mùa hè. PA còn nhớ rất rõ: Sư Ông ngồi tựa lưng vào cửa sổ – chỗ bây giờ mình đặt bàn thờ Bụt. Sư cô Chân Không hỏi đi hỏi lại: “Thầy Pháp Ấn, thầy có chắc chắn là thầy chịu qua Đức để làm Viện Phật học không?”. PA thưa: “Con thì cái gì cần nói con nói thôi. Sư Ông dạy thì con làm, con không có vấn đề gì hết”. 

Sư Ông nói: “Thôi, về chuẩn bị đi. Tháng sau qua Đức. Bây giờ thầy đi mở khóa tu ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Khi về sẽ ký giấy tờ mua chỗ đó. Con chuẩn bị sang Đức”. 

Khi PA sang tới nơi, tối hôm đó Sư Ông dạy sư cô gọi điện hỏi: “Pháp Ấn thấy tòa nhà lớn vậy có sợ không?” PA chỉ cười. Thật ra mình làm vì tăng thân. Tất cả tăng thân gom tay gom sức, đâu phải vì một cá nhân. Mình cứ làm theo sức của mình. Làm được tới đâu hay tới đó. PA chưa bao giờ đối diện một hoàn cảnh mà có sợ hãi. PA làm được gì thì cứ làm, hoàn toàn không có sợ hãi, vì biết những gì mình làm không phải vì mình, không vì mục đích riêng tư. Mình làm vì tăng thân, vì Sư Ông và vì cuộc đời. Đời người tu là cống hiến cho nhân loại. Vậy thì có gì để sợ? 

 

Đạo Bụt ứng dụng

BBT: Thưa thầy, thầy có thể chia sẻ với chúng con những điều mà Sư Ông gửi gắm khi Sư Ông cử thầy sang EIAB để xây dựng Viện Phật học? 

Thầy Pháp Ấn:
Theo PA hiểu, ngày xưa khi thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh, Sư Ông đã xây dựng theo mô hình của phương Tây. Tại Viện Đại học Vạn Hạnh,  sinh viên được học nhiều môn theo các chứng chỉ (credit), trong đó có môn Phật học. Một sinh viên ra trường vừa có kiến thức phổ thông, vừa có kiến thức Phật học.

Sau này, khi sang Tây phương, Sư Ông thấy các chương trình Phật học rất sâu và rất hay. Đến khi về Việt Nam, Sư Ông cũng có dịp đến thăm các Phật học viện ở các thành phố lớn. Sư Ông nhận thấy một hạn chế lớn đó là: sinh viên có thể có kiến thức Phật học, rất giỏi về lý thuyết, thậm chí có bằng tiến sĩ, nhưng không biết cách xử lý những tâm hành buồn giận, khổ đau của chính mình.

Sư Ông nói rằng mình có những trung tâm tu học như Làng Mai, và cũng có những trung tâm nghiên cứu Phật học như ở Berkeley, Oxford; khoảng giữa hai nơi đó, mình cần có một mô hình kết hợp được cả nghiên cứu lẫn thực tập trong đời sống hằng ngày. Đó là lý do Sư Ông muốn thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu: một mô hình mới, nơi người học vừa nghiên cứu, vừa hành trì, và đưa đạo Phật vào đời sống thực, chứ không chỉ nằm trên lý thuyết.

PA nghĩ mình đã thực hiện được một phần nào. Ví dụ, những khóa tu cuối tuần được tổ chức tại EIAB: thiền sinh đến vào tối thứ Năm thường với tâm trạng rất mệt mỏi, chán chường, trầm cảm, có vấn đề gia đình, mất hướng đi… Nhưng đến Chủ nhật, khi họ ra về, họ như trở thành một con người khác. Trong suốt 17–18 năm nay, khóa tu nào cũng thành công theo nghĩa: khi họ đi về, họ tươi mát hơn, bình an hơn, hạnh phúc hơn. Đó là ý nghĩa của Viện Phật học Ứng dụng: người bước vào như thế nào không quan trọng; khi bước ra, họ phải là một con người đã chuyển hóa. 

Công trình của Viện Phật học nằm ở hai mặt: 

Thứ nhất là có một tăng thân tu học vững chãi. Tăng thân làm yếu tố nền tảng, để khi thiền sinh đến tu học, họ được tiếp xúc và được thừa hưởng từ nguồn năng lượng vững chãi đó. Vì vậy, PA luôn khuyến khích quý thầy, quý sư cô ra sinh hoạt với thiền sinh: có mặt với họ trong bữa ăn, tham dự thiền hành, làm việc chung, ngồi thiền… để họ thật sự tiếp xúc với tăng thân. Chính cách đi – đứng – nằm – ngồi, cách nói năng, uy nghi của các thầy, các sư cô đóng góp phần rất lớn vào sự chuyển hóa của thiền sinh. Nếu Viện Phật học chỉ là nơi đến học như các trường Phật học khác thì sẽ không thành công, vì thiếu nền tảng tăng thân.

Ở Học viện, mình không tách nội viện – ngoại viện, mà sinh hoạt chung bởi vì hiểu rằng tăng thân chính là nền tảng để giúp thiền sinh thay đổi. Thiền sinh nào cũng chia sẻ rằng: bên cạnh việc học, chính nhờ thấy quý thầy, quý sư cô đi đứng, cười nói nhẹ nhàng mà họ tươi lên, vui lên. Và điều đó chứng tỏ tuệ giác của Sư Ông rất đúng. 

Thứ hai là trong các khóa học, mình phải trao truyền pháp môn và giúp họ hành trì. Và hành trì rất nhiều. Ví dụ trong các khóa học do PA hướng dẫn, họ được yêu cầu giữ im lặng hùng tráng từ 9h30 tối đến sau giờ ăn sáng. Tức là gần 11 tiếng rưỡi. Thêm bữa trưa ăn trong im lặng khoảng 45 phút đến một tiếng; buổi tối lại thêm một tiếng nữa. Tổng cộng khoảng 13 tiếng rưỡi. Rồi ngồi thiền hướng dẫn một tiếng, thiền buông thư nữa. Ở đây thiền sinh hành trì 15–16 tiếng mỗi ngày; chưa kể pháp thoại, pháp đàm nữa thì tới 16–17 tiếng. Trong 24 giờ, 17 tiếng hành trì thì tâm làm sao loạn được. Chắc chắn tới Chủ nhật là tâm yên. Đó chính là Phật học ứng dụng: đem đạo Bụt vào thực tập trong đời sống.

 

Tình thầy trò

BBT: Tới bây giờ, mỗi lần nghĩ đến Sư Ông thì điều gì đi lên trong thầy đầu tiên?

Thầy Pháp Ấn: Cách Sư Ông dạy mình đôi khi rất mạnh, nhưng trong mối quan hệ thầy trò, lúc nào Sư Ông cũng nhẹ nhàng. Làm gì cũng từ từ, nói rất dịu dàng. Đó là hình ảnh đọng lại trong PA nhiều nhất. Còn chuyện bị “ăn gậy” của Thiền sư thì tất nhiên có, nhưng cái đó PA lại không nhớ; hoàn toàn không ở lại trong lòng. Điều PA nhớ là sự nhẹ nhàng nơi Sư Ông, chất giải thoát, thiền vị. Và trong cái thiền vị, cái nhẹ nhàng đó, PA thấy có một tình thương rất lớn.

Làm thầy thì phải dạy học trò, có những lúc phải cứng rắn khi học trò không biết đường đi, phải chỉ cho nó thấy đường. Nhưng trong liên hệ thầy trò, PA luôn cảm nhận được tình thương rất lớn nơi Sư Ông. Tình thương đó không chỉ dành cho riêng PA mà cho tất cả mọi người, cho cả cỏ cây hoa lá. Cách Sư Ông chăm cây, tưới cây, hay nâng niu một cành hoa… mình thấy rõ Sư Ông như thuộc về một thế giới khác — thế giới của những bậc đã giác ngộ, đã giải thoát, đã tiếp xúc được với bản môn.

PA thấy rất khó để tìm được một người có cái thấy và cách sống như Sư Ông. Khó lắm. Ngay cả cách đi của Sư Ông thôi, PA nghĩ mình học bao nhiêu đời cũng không đi được như vậy. Đi rất nhẹ nhàng, không vội, không hấp tấp. Khi cần đi nhanh thì đi nhanh, nhưng không hề có cái tâm khẩn trương. Việc cần thì mình làm, nhưng ngay trong đó vẫn có sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Đó là những hình ảnh còn đọng lại trong PA về Sư Ông. Sư Ông là một người thầy rất vĩ đại.