Tung cánh đại bàng
Hòa thượng Thích Phước Tịnh
(Trích pháp thoại ngày 28.3.2025 của HT. Phước Tịnh trong Đại Giới Đàn Nước Tĩnh tại Làng Mai, Pháp)

Về Làng
Tôi nhớ lần đầu tiên đến Làng Mai vào năm 2001. Khi ấy, tôi chỉ là đến Làng, chứ chưa phải là về Làng. Trong tiếng Việt, hai từ này mang những nội hàm rất khác nhau. “Đến” là ghé qua rồi đi, còn “về” là trở lại một nơi đã gắn bó, trở thành một phần của xương thịt và tâm hồn.
Làng Mai không chỉ là một địa điểm. Làng là ngôi nhà tâm linh, là bến đỗ của đời sống tinh thần, là nơi có thể chắp cho ta một đôi cánh để bay cao, bay xa. Điều này đúng với người cư sĩ về tu học, và lại càng đúng hơn đối với người xuất gia.
Sư cô Chân Không từng chia sẻ một câu có thể ứng dụng cho tất cả các thầy, các sư cô, cũng như các vị giáo thọ và Tiếp Hiện cư sĩ: “Sư Ông và đại chúng đã chắp cho các vị mỗi người một đôi cánh. Các vị có quyền bay vào một không gian rất mênh mông. Nếu năng lực tu tập và khả năng học hiểu Phật pháp dâng đầy nơi thân tâm, thì chắc chắn chúng ta sẽ là những con đại bàng bay rất cao”.
Khi một người phát nguyện xuất gia và thọ pháp với Sư Ông, người ấy được Sư Ông và tăng thân tặng cho một đôi cánh. Tuy nhiên, bay cao hay thấp, bay vào vùng trời nào, lại tùy thuộc vào nội lực và bản hoài tu tập của mỗi người. Nếu chỉ biết chắp cho mình đôi cánh của loài quạ thì dù bay tới đâu cũng chỉ thấy những gì thấp kém. Nếu chắp cho mình đôi cánh của phượng hoàng, nơi đậu sẽ là cành ngô đồng. Và nếu có được đôi cánh của đại bàng, vùng trời bay vào sẽ là không gian bát ngát. Khi ấy, không cần chứng minh mình là đại bàng; phẩm chất nhân cách, cách nói năng và lối hành xử tự nhiên sẽ ngày càng cao rộng.
Tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Gần một phần tư thế kỷ nhìn lại, mới thấy chúng ta là những người vô cùng may mắn. Chúng ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trong vòng tay thương yêu của Sư Ông và tăng thân. Đó là một món quà hết sức lớn lao. Trân quý ân đức ấy không nhất thiết là phải làm thêm điều gì lớn lao. Chỉ cần sống cho xứng đáng: sống gắn bó, sống thương yêu, sống biết nuôi dưỡng tự thân, để thành tựu được phần nào bản hoài của người đã dốc trọn tâm từ và trí tuệ vào đời sống của chúng ta.
Công trình hoằng pháp tại Tây phương
Về Làng lần này, tôi có cái nhìn rất nể phục và ngưỡng mộ đối với những sinh hoạt do các thầy, các sư cô tổ chức. Sự viên mãn của Đại giới đàn Nước Tĩnh khiến người ta dễ nghĩ rằng sự kiện này được tổ chức bởi những vị thầy có tuổi đạo cao hoặc đã tu học nhiều năm. Nhưng thực tế không phải vậy; phần lớn công việc lại được đảm trách bởi những thầy, những sư cô còn rất trẻ.
Nếu đại chúng có dịp quan sát sinh hoạt tôn giáo lễ nghi ở nhiều nơi — nhất là trong Phật giáo truyền thống, đại chúng sẽ dễ nhận ra những điểm nổi bật: sinh hoạt của Làng Mai giản dị nhưng trang nghiêm, có năng lượng tâm linh và có sự yểm trợ hùng hậu của tập thể Tăng già. Chưa kể đến sự có mặt của các Phật tử, các thiền sinh tới hộ niệm cho chúng ta.
Trong các buổi truyền đăng, khi một thiền sinh được nhận đèn, những lời giáo giới và chia sẻ của các thầy, các sư cô giáo thọ rất tuyệt vời. Tôi cũng lắng nghe những bài thơ, kệ kiến giải của các thiền sinh đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Ireland, Indonesia, Hoa Kỳ, Pháp, Ý… Những bài kiến giải ấy đều cho thấy chất liệu tu tập tâm linh và khả năng biểu đạt rõ ràng tâm nguyện mà Sư Ông đã trao truyền.
Điều này cho thấy công trình hoằng pháp của Sư Ông đã mang lại những lợi ích sâu rộng, vượt ra ngoài biên giới văn hóa và địa lý, lan tỏa tới nhiều vùng đất và cộng đồng khác nhau trên thế giới.
Để hoằng pháp thành công và gieo được hạt mầm Phật pháp vào lòng người Tây phương không phải là điều dễ dàng. Trước hết, người đó phải am tường văn hóa Tây phương. Kế đến, phải có chiều sâu vững chắc trong đạo Bụt Đông phương. Và quan trọng không kém, phải hình thành được một mô hình sinh hoạt tổ chức giúp tăng đoàn có đời sống thực tập vững chãi, nhưng vẫn đủ cởi mở để người trẻ có thể đến tu học. Từ những điểm đó, chúng ta có thể nhận ra rằng không dễ có một vị thầy hội đủ khả năng đem đạo Bụt đến vùng đất Tây phương như Sư Ông đã làm.
Nhìn lại công trình hành đạo của Sư Ông, chúng ta có thể thấy rằng nếu không có sự hộ niệm của thập phương Tam bảo, sự gia trì của lịch đại Tổ sư, cùng với bản hoài vô cùng lớn lao là đem đạo Bụt hiến tặng cho nhiều người đến tu học, thì chắc chắn Sư Ông không thể tạo nên bước đột phá quan trọng như đã làm: đặt nền tảng cho đạo Bụt có mặt nơi Tây phương, để người Tây phương có thể đến thọ nhận và thực tập giáo pháp.
Điều tuyệt vời là, dường như Sư Ông không đặt nặng tính ràng buộc về tổ chức, không bắt những thiền sinh đến tu tập phải hoàn toàn tuân phục hình thức như những truyền thống tâm linh khác. Họ có quyền ứng dụng nội dung giáo lý vào đời sống, làm cho đời sống bản thân thay đổi, thăng hoa, làm cho hạnh phúc có mặt nơi chính mình, có mặt nơi thế hệ con em và hiến tặng điều tuyệt vời này cho xã hội là đủ, không nhất thiết phải trở thành Phật tử. Với cái nhìn độ lượng, một tâm thái của bậc đạo sư như vậy nên Sư Ông đã làm mới lại chánh pháp của Bụt để tặng cho người Tây phương. Và thành quả như chúng ta thấy hiện nay là rất nhiều người từ nhiều quốc gia khác nhau có thể đến với các trung tâm thực tập của Làng Mai, xem Làng Mai là nơi để trở về.
Gần một phần tư thế kỷ trôi qua, nhìn lại, tôi thấy các sư anh, sư chị lớn ở đây đều rất trưởng thành. Không chỉ có khả năng dắt dẫn một Đại giới đàn rất toàn mỹ, các thầy các sư cô lớn còn có cách cư xử, nói năng, truyền đạt rất đẹp và nhân cách rất tuyệt vời. Chỉ cần làm ngần ấy việc để làm chỗ nương tựa, không phải chỉ cho đại chúng xuất gia mà còn cho rất nhiều người cư sĩ Tây phương đến với Làng để tu tập, như vậy là các vị đã xứng đáng với công trình Sư Ông đã gầy dựng mà mình đang được thừa hưởng.

Bồ đề tâm – Nền tảng tâm linh
Điều tiếp theo tôi muốn trình bày với đại chúng, đó là không phải tự nhiên hay đơn giản mà chúng ta có được một đoàn thể lớn mạnh, đẹp, hào hùng và rất bền chặt như vậy.
Nền tảng đầu tiên là công trình pháp hành trì và pháp học mà Sư Ông đã gầy dựng. Nếu không có nền tảng này, chắc chắn chúng ta không thể có được sự phát triển như các xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới hôm nay.
Nền tảng thứ hai vô cùng quan trọng chính là nội lực của mỗi người chúng ta. Khi nội lực tu không có, dù cho Sư Ông và tăng thân có chắp cho ta đôi cánh thiên thần, ta cũng không bay lên được. Vì vậy, sự phát triển bền vững con đường tu của mỗi người là rất quan trọng. Sự phát triển này được hình thành bởi nhiều yếu tố:
Yếu tố đầu tiên ta muốn vững chắc trên đường tu đó là tâm bồ đề đủ vững, đủ sâu và chắc. Tu không thể theo thời thượng hay cảm tính: nay siêng tu rồi mai buồn, chán đạo. Một khi đã phát nguyện đi vào đời sống tu tập là dâng hiến trọn vẹn thân tâm này cho Tam bảo. Những bậc đạo sư lớn, những bậc thầy thật sự có được năng lực giác ngộ nhất định đều như vậy. Không có con đường khác, một là tu, hai là chết – không có đường lui.
Yếu tố thứ hai là tâm bồ đề không phải chỉ phát một lần là đủ, mà cần được nuôi dưỡng từng ngày. Sự nuôi dưỡng gần nhất là tình huynh đệ, không gian sống và môi trường sinh hoạt. Tại Làng Mai, các vị có một không gian rất tuyệt vời, được sống trong một cộng đồng pháp lữ gồm những người đồng tu, đồng phạm hạnh, nói theo cách đời thường là những người dễ thương. Các vị còn được thừa hưởng một nếp sinh hoạt rất ổn định, được thiết kế bởi chính đạo sư của mình là Sư Ông. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tự thân tùy vào mức độ siêng năng hay lười biếng của mỗi người. Chúng ta có quyền nuôi mình để chắp cánh bay tới trời cao, chứ không phải để bay vào đời sống phàm thường. Do vậy, nếu nơi tâm thức của chúng ta, chất liệu tâm bồ đề còn rất tốt đẹp thì chúng ta phải tự biết cách nuôi dưỡng mình, chứ không một ai có thể giúp ta tự giỏi, tự thăng hoa và tu hành tiến bộ được.
Yếu tố thứ ba của sự phát triển tâm linh bền vững, đó chính là pháp học và pháp hành. Khi pháp học được tăng trưởng, thì pháp hành của các vị tự nhiên thành đạt. Khi hiểu được chánh pháp, quan sát, ý thức được đời sống này có những bất trắc, không toại ý và vô vàn điều chực chờ đánh phá ta – trong khi quỹ tuổi thọ không cho phép ta sống nhàn nhã qua ngày. Khi ý thức được điều này, ta nhận ra rằng năng lực học hiểu chánh pháp làm đời sống mình thăng hoa, nó đến với ta từng ngày chứ không phải là tính từng tháng hay từng năm. Và khi năng lực học hiểu chánh pháp đủ giàu, đủ vững, tự nhiên các vị đi vào pháp hành một cách rất nhẹ và làm thay đổi được thân tâm. Pháp hành – pháp học không phải là món quà tự nhiên của trời ban, mà là kết quả của nội lực tu tập và nỗ lực kiên cường của mỗi người trên con đường hành trì.
Khi pháp học tăng trưởng, pháp hành tự nhiên đầy. Pháp hành đầy, không phải là tu căng thẳng, khô cứng mà lúc đi đứng, nói cười, nâng bát, rót nước, đặt dép… trong mọi sinh hoạt đều trú được trong trạng thái tâm an định, luôn có chánh niệm để phòng hộ. Đây là người thành đạt được pháp hành sâu sắc nhất. Đời sống, nhân cách của người đó sẽ tự tỏa sáng và tự biểu hiện thành đạo đức vô hành. Người đó nghiễm nhiên hoàn thiện về nhân cách tu, cách ứng xử, nói năng khi giao tiếp với người. Khi tiếp xúc với thiền sinh mà có phẩm chất của sự tu học, người đó tự nhiên đã trở thành một vị giáo thọ đích thực mà không nhất thiết nhận đèn giáo thọ. Không nhất thiết các vị phải là một giáo thọ uy tín, giảng dạy cho hàng ngàn người hay phải làm cho muôn người kính phục. Hãy là một người bình thường, sống lặng lẽ giữa đại chúng. Có những người cảm ân đức của chư tăng không phải vì chư tăng nói hay, mà vì về đến chùa được nhìn thấy các thầy, các sư cô đi, đứng, nói, cười bình an và tĩnh tại. Đôi khi những lời nói của mình theo gió mây bay nhưng những việc làm, những cử chỉ nhỏ của mình tạo thành ấn tượng khiến một đời người ta không quên.
Nếu nền tảng ta không vững, đôi khi mình tu nhưng không có niềm vui. Khi niềm vui tu học – pháp hành không có, chắc chắn sẽ có những khoảng trống của tâm hồn, khát khao về đời sống hướng ngoại và chúng ta rất dễ đánh mất đời tu. Ngược lại, nếu nền tảng tu ta thiết lập vững chắc, trên nền tảng bồ đề tâm, trên nền tảng pháp học và pháp hành, chúng ta tự nhiên hiến tặng được hoa trái của công phu tu tập tự thân đến với muôn người. Không cần phải chứng minh điều gì cả.
Dòng tu Tiếp Hiện và nền tảng thiền tập Làng Mai
Từ thập niên 1960, Sư Ông đã viết cuốn“Đạo Phật Hiện Đại Hóa”, trong đó có đề xuất hai dòng tu: Thể Nhập và Tiếp Hiện.
Tiếp Hiện là dòng tu đóng vai trò gạch nối giữa cư sĩ và xuất sĩ. Các vị Tiếp Hiện có trách nhiệm làm cho chánh pháp của Như Lai sáng bừng trong nhân gian bằng chính đời sống tu tập của mình mà không phải chỉ là nhận đèn hay khoác lên người chiếc áo Tiếp Hiện. Ta phải nếm cho được hương vị pháp, làm cho thân tâm yên vui rồi đem niềm hỷ lạc đó cống hiến cho gia đình, xã hội và lấy tâm vị tha làm thành nền tảng của đời sống tu tập. “Vị tha” trước hết là vị tha với chính bản thân, rồi mở rộng ra người thân, hàng xóm và xã hội.
Là người cư sĩ Tiếp Hiện, không làm cho đời sống mình hạnh phúc là điều sai căn bản. Điều sai thứ hai là không nuôi dưỡng được hạnh phúc của gia đình và của bạn đồng tu. Sai lầm thứ ba là, nếu sống trong môi trường đa văn hóa, đa chính kiến mà thiếu bao dung, không hòa hợp được để thực tập và giúp người hạnh phúc thì cũng chưa làm tròn vai trò Tiếp Hiện. Trong sách Đạo Phật hiện đại hóa, Sư Ông còn dạy rằng các cư sĩ Tiếp Hiện mỗi năm cần trở về an cư ba tháng với chư tăng để thực tập. Tăng sĩ dành một đời người học pháp vẫn chưa thấy đủ. Người cư sĩ mỗi ngày ngoài đối diện với vấn đề cơm ăn áo mặc, với những xao động bất an của cơ chế chính trị – xã hội, còn trách nhiệm mang đạo vào đời. Nếu không có gốc rễ tâm linh vững vàng, ta dễ bị tiêu hao rồi tự làm khổ mình trước khi giúp được ai.
Điều này đối với cộng đồng Tiếp Hiện Tây phương, tôi nghĩ các vị đã ứng dụng được ít nhiều. Mỗi năm các vị đều tìm cách về Làng để tu tập. Mỗi hai năm lại có khóa tu Tiếp Hiện vào tháng 6 tại Làng Mai Pháp. Dù thừa hưởng vô vàn phước điền từ Sư Ông trao truyền nhưng chúng ta cũng cần làm tốt hơn. Phần lớn những người Tiếp Hiện đều ở tuổi thất thập cổ lai hy, chưa thấy nhiều người trẻ. Có thể chúng ta còn cứng nhắc trong những hình thức Tiếp Hiện mà chưa thể linh hoạt giống Sư Ông. Chúng ta chưa biết làm thế nào ứng dụng được nội dung Phật pháp vào đời sống mà không bị hình thức bên ngoài cản trở.
Tiếp Hiện có vai trò lớn trong sự hưng thịnh của Phật pháp và trong việc đền ơn Sư Ông đã khai mở dòng tu này. Đối với Tăng thân xuất sĩ, con đường tu không thể dừng lại, không có dấu chấm. Mỗi thành công chỉ là dấu phẩy để tiếp tục đi tới. Xã hội luôn vận động và biến chuyển không ngừng: hôm nay là vấn đề này, ngày mai đã là một thách thức khác. Để khế hợp với thời đại, Làng Mai chúng ta cần phải có được tuệ giác ở chiều cao để có thể đưa cánh tay ra giúp cho xã hội ổn định.
Nếu người tu không có tầm hiểu biết và chín chắn hơn nhân gian thì không thể là người dắt dẫn con đường tâm linh. Do vậy, một tu sĩ không có quyền dừng lại trong công trình phát triển tri thức, trí tuệ, công phu tu, và nhất là nội điển. Chúng ta không thể nghĩ rằng đã học với Sư Ông ngần đó, đã thừa hưởng sự tổ chức và nếp sống, văn hóa của Làng Mai là đủ.
Từ Như Lai Thiền đến Thiền Đốn ngộ
Trên phương diện Phật học, Sư Ông truyền đạt pháp cho người Tây phương dựa trên nền tảng thiền Như Lai, tức là Tứ niệm xứ. Nhưng khi nhìn vào các bài giảng của Sư Ông trong bộ Truyền thống sinh động của thiền tập đạo Bụt, chúng ta nhận ra rằng Sư Ông còn giảng dạy thiền Đại thừa, qua đốn ngộ rồi đến thiền Việt Nam. Sư Ông đi ngang qua cả một chiều dài thiền tập, khéo léo dung hợp tinh hoa của các dòng thiền lại, “nấu” thành một loại thức ăn và giúp cho con người nếm được pháp lạc và có đời sống hạnh phúc.
Nhìn cho sâu, ta thấy các dòng thiền trong đạo Bụt có liên hệ chặt chẽ với nhau. Như Lai thiền hay kinh tạng Nikaya là nền tảng cho thiền Đại thừa phát triển. Nếu chúng ta muốn hiểu được kinh tạng Nam truyền thì chúng ta phải thâm nhập vào kinh văn Đại thừa. Và muốn thâm nhập vào Như Lai thiền – thiền Tứ niệm xứ thì chúng ta phải đi ngược từ truyền thống thiền tập Việt Nam, ngược lại dòng chảy Đại thừa, trở về nguồn của Nguyên thủy để chạm tay vào những chữ “thở vào – thở ra”.
Thở vào, biết mình đang thở vào; thở ra, biết mình đang thở ra. Hơi thở căn bản này tưởng như đơn giản nhưng là nền tảng để đi vào thiền Đốn ngộ một cách dễ dàng. Trong thiền Đốn ngộ, có một công án nổi tiếng khi Tổ Đạt Ma chỉ dạy cho Tổ Huệ Khả: “Ngươi đem cái bất an đó ra đây, ta an cho”. Tổ đã trao cho ngài Huệ Khả phương pháp quay ngược về đối diện với cái tâm bất an, nhìn xem nỗi bất an đang ở đâu nơi tâm thức, cũng tương đương với Tứ niệm xứ: quay về quan sát cái đang xảy ra. Dù là hơi thở hay cảm giác bất an, chỉ cần nhìn thấy chúng như khách đến rồi đi, ta trở về với người quan sát. Tâm quan sát ấy chính là bản tính sáng ngời, vô niệm, là trí tuệ Bát Nhã, là chân thân, là Niết bàn, là “người thật” chưa từng sinh diệt. Khi an trú trong tâm ấy, không buồn vui hay phiền não nào có thể khuấy động; mọi ý nghĩ đều được ánh sáng tâm chiếu rọi và tan biến. Trong kinh văn Nikaya, Đức Thế Tôn gọi tâm ấy là tuệ tri, Sư Ông gọi là hiện pháp lạc trú.
Mỗi người đều có món quà quý: hình hài, tâm thức và khả năng tư duy. Tuy nhiên, ta làm đầy chúng bằng gì là sự lựa chọn của ta: đầy giận hờn, ganh tị thì đau khổ; đầy yêu thương, nhân hậu và trách nhiệm thì trở thành món quà cho đời. Khi đã xuất gia, ta được đồng đẳng từ mảnh y đến thời gian tu học; nếu biết làm đầy tâm thức bằng pháp lạc thì đời sống trở nên phong phú, thi vị. Nếu không khéo, ta tự hủy hoại đời mình và làm khổ bạn đồng tu. Tâm chứa gì thì đời sống hiện đúng điều ấy. Đời tu là một thử thách tuyệt vời nhưng cũng như một trò chơi: sau bao năm tu tập để tìm vô ngã, cuối cùng mới nhận ra vô ngã vốn đã có sẵn từ đầu.
Tu không phải là chuyện nhọc nhằn. Chỉ cần sống được như các thầy, sư cô – đi đứng thong dong, ăn trong chánh niệm, ngồi trong thảnh thơi – là đã có cái đẹp của đời sống tu rồi. Điều ấy đến khi ta thật sự nếm được hương vị của pháp.
