Hạnh môn mở rộng cửa tương lai
Thầy Chân Pháp Ứng
Thầy Pháp Ứng xuất gia năm 1993 tại Làng Mai Pháp trong gia đình Con Cá. Vững chãi và thảnh thơi, thầy luôn là nguồn cảm hứng tu học cho cả tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ, tâm tình của thầy với các sư em trong ban biên tập Lá thư Làng Mai.
Gia tài tâm linh
Con kính bạch Sư Ông,
Kính thưa gia đình tâm linh qua nhiều thế hệ,
Con rất biết ơn và có niềm tin sâu sắc nơi giáo pháp của Đức Thế Tôn — giáo pháp hiện pháp lạc trú mà chư Bụt, chư Tổ đã trao truyền và Sư Ông đã tiếp nối. Đó là cái thấy: Quê hương của mình ở đây; tất cả những gì mình cần đều có sẵn trong tâm. Và tâm thì không bị giới hạn trong thân thể con người này, mà có mặt bàng bạc trong sự sống.
Sư Ông đã khai triển mối liên hệ giữa tích môn, bản môn và hạnh môn rất sâu sắc. Con thấy rõ bản môn là nền tảng cho tích môn và hạnh môn; ba bình diện ấy không thể tách rời, chúng liên đới với nhau, tương tức và nâng đỡ nhau.
Con cũng rất biết ơn vì từ tuệ giác và kinh nghiệm mà Sư Ông đã chế tác ra những pháp môn rất cụ thể, giúp mình duy trì đời sống tâm linh: sống được với bản môn, chăm sóc được tích môn và dấn thân mà không đánh mất chính mình, không rời quê hương đích thực. Những pháp môn ấy là châu báu, tâm huyết và cốt tủy mà Đức Thế Tôn, chư Tổ và Sư Ông đã trao truyền lại. Nhờ có Bụt, có Tăng và biết bao thế hệ tu tập để mình có được hơi thở – bước chân này hay khả năng ăn cơm, uống trà như vậy. Đó không đơn giản chỉ là những pháp môn phương tiện mà chứa đựng biết bao tình thương và tuệ giác.
Con thấy mình rất may mắn khi tiếp nhận được gia tài ấy. Con ý thức rằng mình cần thấy được chiều sâu của những pháp môn tu học để duy trì sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày. Hiện nay, nhu cầu giúp đời rất lớn và cấp bách, nếu mình không biết nuôi dưỡng thì nội lực tu tập sẽ dễ bị hao mòn. Khi đó, mình đánh mất tất cả: bước chân cũng mất, bữa ăn cũng vội, chỉ làm cho xong, rất đáng tiếc. Đó là điểm mà con nghĩ tất cả anh chị em trong tăng thân cần cùng nhau nỗ lực để chúng ta còn được là mình.
Trong đời sống, con tìm cách cân bằng ba yếu tố: bản môn, tích môn và hạnh môn. Con cũng ý thức rằng có những lúc mình chạm tới ngưỡng (giới hạn) của mình. Khi đó, con biết là mình cần phải trở về với gốc rễ. Con lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Sư Ông để có thêm sức mạnh vượt qua ngưỡng của chính mình và tiếp tục đi tới. Mỗi người trong chúng ta, một mặt cần ý thức được ngưỡng của mình; mặt khác, cũng cần có sự dũng cảm để vượt lên ngưỡng ấy. Hai điều này cần đi đôi với nhau. Giống như một cái cây: có lúc phải đi qua những cơn bão, nhưng chính nhờ vậy mà nó càng cắm rễ sâu hơn, càng nỗ lực bám trụ và tiếp tục đi tới.
Đối với con, đời tu là một quá trình đòi hỏi mình phải nỗ lực từng ngày. Con nhớ Sư Ông từng dùng những hình ảnh về đời sống của Bụt để căn dặn chúng con: Thành đạo rồi, Bụt vẫn tiếp tục tu, chứ không dừng lại. Và Bụt bây giờ cũng đang tiếp tục tu với mình.

Mình có trong nhau, mình là nhau
Với năm tháng tu học, dần dần trong con xuất hiện một nhận thức mới: chuyện giải thoát, chuyện thành công, chuyện phụng sự đều được đặt trên nền tảng là mình vốn đã ổn rồi. Nó lạ như vậy đó! Nó đặt trên nền tảng của đã về, đã tới, của hiện pháp lạc trú, của không tranh cầu, không tranh chấp, không phải cố gắng để trở thành, kể cả trong phụng sự.
Khi đó, chuyện giải thoát không còn là chuyện giải thoát cá nhân nữa. Trong tâm thức cộng đồng hiện nay, ý niệm về thành công và giải thoát cá nhân rất mạnh: mình phải đạt cái này, mình phải chuyển hóa cái kia, mình phải. Trong cái “mình” đó đã có sẵn ý niệm về một cái ngã riêng biệt, và đó là một trong những bức tường ngăn cản sự cộng tác, phối hợp, làm thành một thân thể chung. Khi mình chuyển được nhận thức ấy — rằng mình vốn là nhau, mình vốn là sự sống mầu nhiệm, mình có mặt ở đây để hiến tặng tình thương — thì khởi điểm đã khác hẳn. Mình có mặt để nuôi dưỡng và trị liệu, chứ không đặt thêm một mục đích nào khác ngoài những điều đó.
Nhìn Sư Ông, chúng ta thấy Sư Ông làm không biết bao nhiêu việc trong đời mà vẫn thảnh thơi và tự do. Nếu mỗi cá nhân trong chúng ta có được điều đó, thì khi đến với nhau, mọi thứ sẽ rất khác: năng lượng rất nuôi dưỡng, rất hòa thuận. Cái gì cũng có thể làm được, cứ làm là thành công. Con đường Sư Ông đã mở rất rõ rồi. Bây giờ là lúc chúng ta bước tới, thực hiện và tạo cảm hứng cho nhau. Tất cả bắt đầu từ nhận thức. Rồi khi đi vào thực tế, mình bắt tay làm với tất cả sự thực tâm, có va chạm mình mới học được, như viên ngọc được mài dũa mà sáng; hay như bó đũa nhờ chà xát vào nhau mà sạch.

Ý thức mình là một gia đình với nhau rất quan trọng, nhất là trong những lúc khó khăn, va chạm — những va chạm có thể tạo ra vết thương dù mình không hề muốn. Chung cuộc, nếu mình lấy tình huynh đệ, tình thương và ước muốn đưa nhau đi tới làm nền tảng thì mọi chuyện sẽ ổn. Còn không, mình mất nhau rất dễ.
Có những niềm đau mang tính bổ ích: Như cái cây muốn lớn lên, thân nó có lúc phải nứt ra. Nó đau chứ. Về phương diện tâm linh cũng vậy: có lúc rất đau để mà lớn. Vì vậy, mình cần phải ý thức khả năng tiếp nhận niềm đau của huynh đệ mình tới đâu. Sự thật lòng của mình cần được kết nối với huynh đệ. Giúp được huynh đệ thì cũng là giúp được mình; còn không giúp được huynh đệ thì mình cũng buồn thôi, vì mình là một với nhau.
Có những lúc mình phải dũng cảm “ra chiêu”, nhưng không phải để đối đầu mà xuất phát từ tình thương; muốn huynh đệ hiểu và thoát ra khỏi vòng lặp khổ đau. Bởi vì mình hiểu rằng chuyện của một huynh đệ không phải là chuyện riêng của người đó, mà liên hệ tới cả tăng thân. Khi phải dùng tới những cách mạnh thì cần nội lực, tình thương, tuệ giác và cả phước đức nữa. Việc này đòi hỏi rất nhiều sự cân nhắc, sự hiểu biết tâm lý của huynh đệ, và cả sự cầu nguyện — cầu nguyện Bụt Tổ, cầu nguyện Sư Ông gia hộ, độ trì giúp cho mỗi người đi qua được giai đoạn khó khăn đó.
Cùng nhau đi tới
Sống trong tăng thân, mỗi người đều có cái thấy riêng; vì vậy mình cần lắng nghe nhau, phối hợp ý và phối hợp cái nhìn để có được sự hòa thuận, đi tới những quyết định chín chắn, và giúp tăng thân đi như một dòng sông. Đó là một bài học mà con nghĩ ai trong tăng thân cũng đang học và tiếp tục học. Riêng bản thân con, con thấy mình học hỏi được rất nhiều.
Trước đây, con rất ngại va chạm. Con hay có khuynh hướng: “Thôi, hòa cho yên, mệt lắm!”. Nhưng con học được rằng, nếu thấy và biết rõ điều gì cần nói mà chỉ vì ngại, không nói ra, thì vô tình lại tạo thêm vết thương và dễ gây chia rẽ. Lời nói của mình có thể đụng chạm người này vì không như ý họ, đụng chạm người khác vì không như ý người kia, nhưng con chấp nhận điều đó. Vì vậy, dù cho sẽ đụng chạm và khó đến mấy, con cũng ráng nói, với ước nguyện duy nhất là để mang lại hòa thuận, chứ không phải hơn thua, không phải vì quyền lực hay muốn tranh chấp. Nhiệm vụ của mình là ôm mọi người vào lòng và đặt ưu tiên cho sự hòa thuận. Và một khi chia sẻ xong, về phương diện cá nhân, có thể con và người nào đó sẽ không thoải mái; nhưng về phương diện đại chúng, con ý thức rằng mình đã làm hết phần của mình đối với tăng thân và đối với Sư Ông. Những gì xảy ra tiếp theo tùy rất nhiều nhân duyên và con tôn trọng cái thấy của mọi người.
Con hiểu rằng mỗi người đều đã làm hết sức mình vì lợi ích chung, chứ không phải vì lợi ích riêng. Những va chạm, sứt mẻ có thể đến từ những góc nhìn khác nhau. Tuy vậy, sau tất cả, chúng ta vẫn có thể ôm nhau khóc bởi tình anh em đâu phải có được trong ngày một, ngày hai mà được xây dựng qua năm tháng, qua cách sống, cách chơi và cái hiểu về nhau. Vì vậy, trong những giây phút đó, con chọn đặt Sư Ông và đại chúng lên trên, nhưng cũng đồng thời không chọn đối đầu. Con học được bài học rằng khi đối đầu, cho dù nghĩ là mình đúng thì bản thân cũng mệt, người khác cũng mệt và Sư Ông cũng mệt. Rốt cuộc, kết quả có thể thế này hay thế kia, nhưng lại dễ tạo nên sự đổ vỡ trong lòng mỗi người.
Là một người sống trong chúng khá lâu, con ý thức rằng mình cần phải rất cẩn trọng với tiếng nói của mình. Tiếng nói ấy có thể được tiếp nhận như tiếng nói của một thành viên trong chúng đang góp ý, nhưng cũng có thể được tiếp nhận như là từ trên dạy xuống, và khi đó sẽ có phản ứng. Hoặc tiếng nói của mình được tiếp nhận theo kiểu ‘thầy đã nói như vậy rồi’, thì không còn không gian cho mọi người chia sẻ nữa. Vì vậy, con không lấy quyền của một thầy lớn để buộc chúng đi theo một hướng. Con chỉ chia sẻ: “Đây là trách nhiệm và cái thấy của con. Con trình bày như vậy thôi nhưng xin tùy thuộc vào đại chúng”. Sư Ông cũng từng nói: “Đây là ý của thầy, nhưng thầy cũng nương tựa vào cái thấy chung của đại chúng”.
Con thấy mình cần thực tập và học hỏi, nhất là trong những trường hợp tự thân đang không ổn, trong lòng có nhiều cảm xúc và rất muốn chia sẻ. Khi đó, lời nói của mình có thể trở nên mạnh, dễ bị cho là áp đặt. Nếu cách nói ấy tạo ra một năng lượng không hài hòa, không bình an thì dễ khiến các anh em phản ứng lại. Điều con học được là mình vẫn tập nói, vẫn cùng một ý đó, nhưng nhẹ lại và kết thúc rằng mình nương tựa vào cái thấy của chúng. Đó là những bài học con mang theo, những kinh nghiệm con đã đi qua và vẫn đang thực tập mỗi ngày.
Nguyện lực
Con thấy mình rất may mắn khi có một vị thầy như Sư Ông. Sư Ông có khả năng tiếp nối dòng chảy chánh tông của Bụt và chư Tổ, đồng thời làm mới, làm giàu và làm phát triển đạo Bụt. Đó là một gia tài vô cùng quý báu. Chính vì vậy, con nghĩ là tăng thân xuất sĩ cần có những cơ hội đào sâu vào sự thực tập. Nếu không, từ từ mình sẽ đánh mất cái gốc và chỉ còn chia sẻ cái ngọn. Bản thân mỗi người cần tự xác định là mình đang ở đâu; cần đào sâu chỗ nào và thực tập thêm điều gì. Bởi vì hiểu thôi thì chưa đủ. Văn – tư – tu là một hành trình phải thật sự dành thời gian áp dụng, chuyển hóa, để có thực chứng rồi mới chia sẻ được. Khi đó, sự chia sẻ mới đi từ bên trong, từ trái tim đi ra, và mới tiếp nối được Sư Ông, chư Tổ và Đức Thế Tôn.
Con thấy mình như một con rùa: cứ đi chậm chậm, chậm tiêu, mãi tới bây giờ mới hiểu được một chút. Thành ra con mong là mỗi người trong chúng ta đều dấn thân vào chánh pháp. Dấn thân vào công việc hiến tặng thì tăng thân mình đã giỏi rồi, nhưng dấn thân vào chánh pháp mới là cái cốt lõi. Nếu không có chánh pháp thì mình không có nơi nương tựa, cũng không có gì thật sự để cống hiến. Nội lực tu sẽ bị phai mòn, và nếu không khéo thì mình dễ lệch hướng sang danh, lợi,… và đủ thứ trên đời.
Nhìn vào tiến trình tiến hóa của con người và Trái Đất, con thấy tới giai đoạn này, khổ đau ngập tràn khắp nơi. Sư Ông có khả năng gánh được tất cả những khổ đau ấy bằng nguyện lực, sự không sợ hãi, và bằng cả tăng thân. Nếu chúng ta muốn tiếp nối Sư Ông thì mỗi người cần phát khởi nguyện lực để gánh khổ đau — gánh bằng nội lực, bằng không sợ hãi, không tuyệt vọng. Tuy khổ đau không hề ít nhưng, nếu chúng ta gánh chung thì sẽ nhẹ hơn.
Tuệ giác đó, Sư Ông đã trao truyền rất rõ: Cái thấy của bản môn chăm sóc được tích môn, rồi từ đó đưa tới hành động. Thành ra, nguyện lực của chúng ta chính là thấy được vai trò và trách nhiệm của mỗi người trong thời đại này và bước tới.
Vượt qua sự tuyệt vọng
Cảm giác tuyệt vọng, chán nản, bất lực thường phát sinh khi số lượng khổ đau và thử thách vượt quá ngưỡng giới hạn, quá sức của ta. Khi đó, chúng ta muốn vượt qua cái ngưỡng đó, muốn có thêm sức để đi tiếp.
Yếu tố đầu tiên trong sự thực tập mà con đã chia sẻ là quay về với cội nguồn của mình: trở về nương tựa, cầu nguyện và mong được tiếp sức.
Yếu tố thứ hai là mình mở cánh cửa của ngưỡng đó. Cái ngưỡng này không cố định và có thể được mở rộng bằng cái thấy của mình. Giống như trong Tứ diệu đế: Khi thấy rõ vấn đề, mình không còn cảm thấy tuyệt vọng. Mình cần có tuệ giác. Mà tuệ giác thì không phải của riêng mình. Việc thực tập, giúp người giúp đời là một quá trình trao truyền và tiếp nối qua không biết bao nhiêu thế hệ. Khi thấy được điều đó, mình không còn thấy đơn độc nữa. Nhờ vậy mà mình đi tới.
Một yếu tố rất quan trọng nữa là khả năng buông. Khổ đau, thử thách có khi trở thành một ngục tù giam hãm mình. Nhưng nhờ sự thực tập hằng ngày — hơi thở, bước chân, trở về với sự sống, với giây phút hiện tại — mà cánh cửa đó được mở ra. Mình không chối từ khổ đau, cũng không đánh phá khổ đau, mà mình ý thức là mình lớn hơn khổ đau đó. Nhờ vào khả năng an trú, mình vẫn có thể nuôi dưỡng mình.

Mình nhìn khổ đau theo phương pháp Tứ diệu đế, thấy được gốc rễ của nó để biết mình có thể làm gì. Có khi mình cần phải sống với khổ đau đó, chứ không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa hoàn toàn. Giống như sống với một căn bệnh mãn tính: Nếu thấy rằng vẫn làm được phần cần làm, tức là mình có khả năng thương được khổ đau đó, thoát ra khỏi ngục tù của khổ đau, thì như vậy là được rồi. Khi đó, mình không còn bị trấn ngự bởi tâm hành tuyệt vọng, chán nản hay bất lực.
Con có niềm tin vào sự sống. Sự sống mầu nhiệm và kiên cường lắm! Sự sống không chỉ bắt đầu với con người hay với hình hài này, mà là một mạng lưới nhân duyên chằng chịt, trùng trùng duyên khởi. Cho nên, dù khổ đau tràn lấp, sự sống luôn biểu hiện những điều mầu nhiệm, có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc và giúp vượt thoát khổ đau. Sự sống cũng có những sự hộ niệm vượt ngoài trí năng và tính toán của mình: Đó là những điều thuộc về bản môn, thuộc về tàng thức, thuộc về tổ tiên và thuộc về sự sống.
Riêng như vậy thôi là con đã thấy mình có phước mới tiếp cận được nguồn năng lượng ấy của sự sống. Sư Ông dạy: “Để Bụt thở, để Bụt lo”, mà bây giờ con mới bắt đầu hiểu. Nếu thoát ra được ý niệm về một cái ngã riêng biệt — một cái ngã phải đối đầu với rất nhiều khổ đau — tức là mình mở được cánh cửa tương tức, cánh cửa của Không, thì không còn cái ngã đó nữa. Còn nếu mình cứ bị giam trong ý niệm về ngã, thì mệt lắm. Cái ngã đó là một trong những nguồn gốc chính của khổ đau, thâm căn cố đế cho nên mình phải tu.
Khổ đau có đó nhưng cách tiếp nhận và tiếp cận khổ đau là do mình. Có tuệ giác thì nó nhẹ ra, còn không có tuệ giác thì mình lại bắn thêm nhiều mũi tên vào khổ đau đó, khiến nó nặng thêm.
Điều may mắn lớn của chúng ta là Sư Ông đã gầy dựng tăng thân. Cùng một khổ đau nhưng có tăng thân thì khác; mà “một mình một ngựa” lại khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình biết đầu tư vào tăng thân, nương tựa tăng thân thì chính những vốn liếng đó sẽ cứu mình, giúp mình không bỏ cuộc.
Mây trắng thong dong
Con xin kết thúc chia sẻ của mình bằng một bài thơ đi lên trong con khi Sư Ông gần viên tịch:
Mây trắng thong dong tự thuở nào
Vào ra sinh tử lẽ tất nhiên
Không nắm không buông thường tự tại
Đã về đã tới
Bây giờ ở đây.
