Chỉ thương thôi

(Trò chuyện với chị Anh Hương – Chân Ý)

Được thọ giới Tiếp Hiện vào năm 1981 và nhận đèn truyền đăng từ Sư Ông Làng Mai vào năm 1992, chị Chân Ý (Anh Hương) luôn mang trong mình ngọn lửa phụng sự và nhiệt huyết xây dựng tăng thân. Chị cùng người bạn đời, anh Chân Trí, đã thành lập Trung tâm Thực tập Chánh niệm Fairfax tại Virginia vào năm 1998 và hướng dẫn rất nhiều khóa tu cho cả người Việt lẫn người nước ngoài trong hơn ba mươi năm qua. Nhân dịp chị về Làng tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng 5 năm 2025, Ban Biên tập (BBT) đã có dịp trò chuyện với chị. Dưới đây là phần trích dẫn từ buổi trò chuyện đó.

 

——-

 

BBT: Kể từ khi Sư Ông rời Việt Nam năm 1966, chị là người đầu tiên được Sư Ông truyền giới Tiếp Hiện tại Tây phương. Chị có thể kể lại hoàn cảnh mà Sư Ông truyền giới cho chị và cảm nhận của chị trong buổi lễ ấy?  

Chị Anh-Hương: Năm 1981, Anh-Hương cùng em trai là Đức được sang Pháp thăm Sư Ông (Ba của Anh-Hương là anh ruột của Sư Ông). Hai chị em ở Phương Vân Am chơi mấy ngày, rồi sau đó cô Phượng (sau là Sư cô Chân Không) lái xe đưa Sư Ông và hai chị em về Sơn Cốc. Mình ngồi trên xe mà trong đầu tò mò không biết nơi Sư Ông ở ra sao, đi bao lâu nữa mới về tới Sơn Cốc. Bây giờ nhớ lại thấy thương cô Phượng ghê, đi đường xa mà cả ba thầy trò còn lại không ai biết lái xe để lái phụ cho cô. Mỗi khi cô buồn ngủ, cô hát ngân nga cho đỡ buồn ngủ. Trong xe có một chai coca-cola, và một thanh bánh mật. Anh-Hương ngồi băng ghế phía sau, thỉnh thoảng lại nghe tiếng cô Phượng: “Xin Thầy cho con chút cò lá (coca-cola)”. Cô nói khi nào hát mà vẫn còn buồn ngủ thì uống chút “cò lá” là hết buồn ngủ! 

Về tới Sơn Cốc, hai chị em đang theo Sư Ông vào nhà thì Sư Ông quay lui nhìn hai đứa và nói : “Quê nội các con!”. Mình thầm “Dạ” và cảm thấy nóng nơi mắt. Chiều hôm đó Sư Ông tự tay đong gạo và vo gạo nấu cơm. Cái nồi cơm điện có chút xíu mà cũng nấu đủ cho bốn người ăn! Cô Phượng làm món nấm kho tiêu rất đậm đà. Một tháng trời ở Sơn Cốc, bữa cơm nào cũng ngon, cũng tràn đầy hạnh phúc. 

Tối hôm đó Sư Ông bảo hai chị em đi đánh răng rồi đi ngủ cho sớm. Sư Ông dẫn hai đứa vô phòng, che cửa sổ lại, đợi hai đứa nằm xuống rồi Sư Ông mới tắt đèn và đóng cửa phòng lại. Sư Ông ra khỏi phòng không lâu thì Anh-Hương ngồi dậy.  Có một nguồn năng lượng gì rất mạnh đang trồi lên, buộc mình phải ngồi dậy. Không gian Sơn Cốc bình yên, mát mẻ, thân thương và dễ chịu quá. Một lúc sau mình nằm xuống lại và thiếp đi lúc nào không biết. Khi thức dậy trời còn tối hù mà mình cảm thấy rất là tỉnh táo. Ngay lúc đó trong mình dấy lên một niềm vui mênh mông khó tả, và mình nằm đó cho tới khi trời lờ mờ sáng thì lò mò xuống bếp. Sư Ông đang nấu nước pha trà. Sư Ông hỏi “Ngủ được không con?”. “Dạ được, thưa Sư Ông”. Bây giờ nhớ lại mình hơi tiếc đã không kể hết cho Sư Ông nghe những gì xảy ra trong lòng mình đêm hôm đó. Hồi đó mình đã 19 tuổi, vậy mà khi ở cạnh Sư Ông, mình cảm thấy đầy đủ và vui sướng như một đứa trẻ Chẳng suy nghĩ gì và cũng không có gì để nói. Sư Ông nói gì mình cũng thích và lắng nghe chăm chú. Sư Ông hỏi thì mình trả lời chứ mình ít khi kể chuyện cho Sư Ông nghe. 

Về đến Sơn Cốc hôm trước thì hôm sau Sư Ông mở tuyển tập thơ Hồng bay mấy lá của nhà xuất bản Lá Bối và chọn cho mỗi đứa một bài để đọc, đọc giọng Bắc trước rồi sang giọng Huế. Anh-Hương và Đức sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, nói giọng Nha Trang chứ chưa bao giờ đọc thơ giọng Bắc hay giọng Huế nên hai chị em chần chừ. Sư Ông nói: “đọc đi con! Thử đọc đi con!” Hai chị em thay phiên nhau đọc. Thầy trò đều không thể nhịn cười!

Một hôm Sư Ông đưa cho Anh-Hương tập nhạc mười bài Tâm ca do chính Sư Ông in lại để mấy cô cháu hát chung cho vui. Thế là ngày nào hai cô cháu cũng nghêu ngao mấy bài Tâm ca. Có những buổi chiều hay buổi tối, mấy thầy trò ngồi trong bếp văn nghệ rất vui.  Sư Ông cũng hát chung với mình và nhịp tay nữa.

Cô Phượng làm việc suốt ngày và thức khuya lắm. Sau khi mọi người đi ngủ rồi mà cô còn làm việc, tiếng máy đánh chữ lóc cóc vang ra từ phòng làm việc của cô. Ngày nào mấy cô cháu cũng được Sư Ông rủ ra ngoài đi dạo nhiều lần. Hai chị em đã được hái đào, mận, lê, sung với Sư Ông và thưởng thức ngay tại chỗ. Sư Ông pha trà nhiều lần trong ngày, và mỗi lần có bình trà mới là Sư Ông mời hết mấy cô cháu ngồi uống trà, chơi với Sư Ông. 

Sáng nào mấy thầy trò cũng ra sau nhà làm vườn, hạnh phúc lắm! Những ngày ở Sơn Cốc mình thấy Sư Ông làm đủ thứ hết: trồng rau, tưới hoa, cắt cỏ, bửa củi, phơi củi, mang củi khô chất cạnh lò sưởi trong bếp để đốt củi vào những buổi sáng sớm hay buổi tối trời lạnh. Ở Sơn Cốc có một cái máy in. Sư Ông viết lách, tự tay in sách và đóng sách lấy. 

Khoảng một tuần trước ngày Anh Hương và Đức trở về Mỹ, sau khi Sư Ông nghỉ trưa,  Sư Ông gọi Anh-Hương ngồi xuống bên cạnh, đưa cho Anh-Hương mấy trang giấy in khổ lớn và bảo: “Con đọc cái này đi!. Anh-Hương “dạ” rồi cầm lấy đọc từ đầu đến cuối. Đó là văn bản của 14 giới Tiếp Hiện. Sư Ông ngồi yên như quả núi. Vài phút sau, Sư Ông hỏi: 

– Được không con?

– Dạ hay, thưa Sư Ông

Bây giờ nhớ lại, Anh-Hương tự hỏi sao mình không thưa “Dạ được” mà lại nói “Dạ hay”?  Sư Ông đã đánh động tâm bồ đề nơi mình, mở lối cho mình bước tới trên con đường phụng sự của dòng tu Tiếp Hiện. Sau vài phút yên lặng, Sư Ông kể sơ về lịch sử dòng tu Tiếp Hiện rồi hai thầy trò ra ngoài đi thiền hành. Có gì rất mới lạ đang xảy ra trong mình.

Sáng hôm sau, trời còn mờ sương, Sư Ông khoác thêm áo len ra ngoài áo vạt hò, tay cầm theo cái kéo và đẩy cửa bước ra ngoài. Anh-Hương đi theo coi Sư Ông làm gì. Sư Ông cắt một bông hồng làm bình hoa đặt lên bàn thờ. Sau đó, Sư Ông gọi cô Phượng vào và nói: “Hôm nay Anh Hương thọ giới Tiếp Hiện”. Trong buổi lễ, Sư Ông lần lượt tuyên từng giới với câu hỏi: “Con có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không?” Anh Hương trả lời: “Dạ có”. Hôm đó là ngày 20 tháng 8 năm 1981. Sư Ông nhanh lắm, có ý gì là Sư Ông làm liền. Buổi lễ vừa xong, Sư Ông bảo: 

– Cô Phượng, nấu gì ăn cho vui.

– Dạ, xôi bắp hả Thầy?

Cô Phượng nấu rất nhanh, một loáng là xong. Mấy thầy trò ăn sáng xôi bắp mới nấu, thêm chút hành phi rất thơm. Sư Ông dùng hết chén xôi bắp thì múc thêm vào bát cho từng người, để lại chút xíu cho Sư Ông. Ăn xong Sư Ông cười và nói: “Vui quá!” rồi Sư Ông đứng dậy pha trà. Không khí Sơn cốc vui như Tết! Ngồi chơi được một lúc, Đức đẩy xe cút kít đi theo Sư Ông mang củi vào chất đầy bên lò sưởi trong bếp. Sau mấy chục năm sống xa quê hương, Sư Ông hạnh phúc được sống lại không khí gia đình.

BBT: Chuyện chị thọ giới Tiếp Hiện đã “ly kỳ” như vậy rồi, chắc sau đó còn nhiều chuyện “hấp dẫn” hơn phải không chị? Chị đã tiếp nhận những bài học gì từ Sư Ông? 

AH: Anh Hương qua Làng lần đầu vào tháng 7 năm 1984, và gặp nhiều người trẻ ở Làng, trong số đó có anh Thư (Chân Trí). Lúc ấy cô Phượng chưa xuất gia. 

Trong khóa tu mùa hè năm ấy, có một buổi lễ tụng giới Tiếp Hiện ở thiền đường Yên Tử, xóm Thượng. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng và thiền sinh cũng đã vào thiền đường đông đủ mà sao Sư Ông chưa tới? Anh Hương buộc phải đứng dậy đi lên phòng Sư Ông. Lúc đó Sư Ông đang nằm nhắm mắt trên tấm nệm đặt trên sàn gỗ. Sư Ông mở mắt khi thấy Anh-Hương bước vào. Anh Hương thưa với Sư Ông sáng nay có buổi tụng giới Tiếp Hiện, và mọi người đang đợi Sư Ông. Sư Ông nói: “Con làm đi”. Anh Hương nghĩ bụng: “Sư Ông ơi! Sư Ông có dạy con gì đâu mà Sư Ông biểu con làm!” Mình đứng đó như pho tượng không nói được gì, kể cả câu “Dạ con không biết làm”. 

Sau đó Sư Ông quay mặt vô tường rồi nói thêm: “Làm đi con. Đi đi con”. Anh Hương đoán Sư Ông bị đau bụng và tối qua Sư Ông không ngủ được. Một mặt thương Sư Ông đau bụng và biết Sư Ông cần nghỉ ngơi. Mặt khác thì không biết phải làm gì trong tình huống này! 

Mình chưa bao giờ hướng dẫn một buổi lễ tụng giới, huống gì tụng giới bằng tiếng Anh. Sư Ông bảo đi thì mình đi. Vô tới thiền đường rồi sao nữa? Tuy đã 22 tuổi, Anh Hương thấy mình vẫn còn bé trong không khí trang nghiêm của một buổi tụng giới mà trước đó Sư Ông luôn là vị chủ lễ.  Mình cũng chưa bao giờ dâng hương trước tăng thân! Nhìn quanh không có ai để cầu cứu nên mình phải ngồi vào chỗ Sư Ông thôi! Rồi buổi tụng giới hôm ấy cũng đã hoàn tất. Lòng mình cảm thấy nhẹ và vui. Có lẽ hồi đó mình còn trẻ nên học gì cũng nhanh. Sư Ông thấy mình rõ hơn là mình thấy mình, và Sư Ông đã “đẩy” mình đi. Chưa bao giờ Sư Ông “đẩy” mà mình “té”. Vấn đề là mình có chịu đi hay không. Sau những lần “bị” Sư Ông “đẩy” như vậy, Anh Hương thấy mình có “lớn” ra – không phải lớn tuổi đời hay tuổi đạo, mà lớn hơn bản thân mình, lớn hơn cái mình tưởng là mình, vì trong mình còn có đất Mẹ, có Bụt, Sư Ông, có tổ tiên tâm linh và huyết thống.

Một buổi chiều trong khóa tu mùa Hè ở Làng Hồng năm 1991, Anh Hương và anh Thư vào chơi với Sư Ông ở cốc Hoa Cau, Xóm Hạ. Lúc đó Sư Ông đang nằm võng. Mình đang nói chuyện vui, tự dưng Sư Ông nói: “Năm sau các con về nhận truyền đăng”. Cả hai đều giật mình khựng lại: “chưa được đâu, thưa Sư Ông”. Trong đầu mình nghĩ truyền đăng là phải giảng dạy, mà mình biết gì mà dạy. Sư Ông cười qua ánh mắt sáng trong, hiền hòa và tràn ngập tình thương, rồi Sư Ông hỏi: 

– Con có hạnh phúc không?

– Dạ có chứ Sư Ông

– Về đây con có vui không?

– Dạ, vui lắm.

– Vậy con nhận đèn thôi. 

– Dạ nhưng mà con không biết dạy.

– Đâu cần dạy, con vui thì con chia sẻ hạnh phúc của con thôi.

Mình  có ý muốn phân bua gì đó nhưng biết Sư Ông “đẩy” thì mình “đi” thôi, không thưa thêm gì nữa. Mùa Hè năm sau, 1992, Anh Hương và anh Thư trở về Làng để được Sư Ông truyền đăng. Để Anh Hương chia sẻ bài kệ truyền đăng Sư Ông trao cho mình:

 

 

 

Chân tâm ươm hạt quý

Ý vun bón vườn nhà

Thanh thản cùng năm tháng

Lòng đất tự đơm hoa.

 

 

 

Sau phần truyền đăng sáng hôm đó, Sư Ông dẫn đại chúng đi thiền hành xuống đồi mận. Mình được ăn trưa với Sư Ông và Sư cô Chân Không ở cốc Hoa Cau. Sư Ông vui và đói bụng nên dùng bữa trưa khá lắm. 

Vài hôm sau, mình đang ngồi chơi, uống trà với Sư Ông trong cốc Ngồi Yên ở Xóm Thượng, có cả anh Arnie Kotler (Chân Đắc) từ nhà xuất bản Parallax Press, Sư Ông đứng dậy lấy giấy và viết để thầy trò cùng thảo một tờ giới thiệu cho khóa tu (flyer) do mình hướng dẫn. Sư Ông mới truyền đăng xong là “bắt” mình làm khóa tu liền! Lúc đó, Anh Hương đang làm khảo cứu ở trường Đại học Georgetown, anh Thư thì làm việc ở một hãng công nghệ thông tin. Sư Ông gấp tờ giấy làm ba rồi giao cho anh Arnie làm phần còn lại. Cuối cùng mình có tờ flyer mẫu mang về Mỹ để in. Khóa tu diễn ra vào tháng 12 năm 1992 ở West Virginia với chủ đề Touching Peace.  Chân Ý và Chân Trí nhìn vào mấy tờ rơi giới thiệu khóa tu vừa được in ra trên giấy màu mà lòng đã thấy vui rồi. Vui vì biết mình đang được tiếp nối Sư Ông trên con đường tu tập giúp đời. 

Khóa tu bắt đầu vào chiều thứ sáu. Từ trong phòng ngủ trên lầu nhìn xuống, Anh Hương có thể thấy thiền sinh đang kéo va-li từ bãi đậu xe tiến về phía bàn ghi danh nhận phòng. Có những người dáng dấp như cầu thủ đá banh, có những người độ tuổi cô chú hoặc ông bà của mình. Anh Hương cảm thấy bé bỏng và bắt đầu thấy hơi run: “Thôi chết rồi, mình đang ngồi trên lưng cọp!” Thiền sinh đến ngày càng đông. Càng nhìn mình càng run, nhưng vì tò mò nên vẫn cứ nhìn. Mình đã đi kinh hành trong phòng cho tới giờ vô thiền đường để cho hướng dẫn tổng quát. Tối đó mình bỏ ăn luôn.

Từ trong phòng bước xuống cầu thang đi vào thiền đường, một bên mình nắm tay Sư Ông, bên kia nắm tay Bụt. Từng bước một, mình xin Bụt và Sư Ông dẫn dắt mình bước đi như một em bé. Chỉ đi thôi, không suy nghĩ gì cả, không phải làm gì hết. Bụt và Sư Ông làm hết cho mình. Trong mình bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu và hạnh phúc! Trong thiền đường, mọi người đang ngồi yên lặng và trang nghiêm. Mình bước đến chỗ ngồi đã sắp sẵn rồi cùng ngồi xuống với Bụt và Sư Ông. 

Năm 1980, lần đầu Sư Ông qua thăm nhà ở New Jersey, sáu tháng sau khi cả nhà vượt biên sang Mỹ. Một hôm Sư Ông gọi: “Anh Hương, con vô nằm đây. Để tay lên bụng. Con thở đi. Con thấy bụng phồng lên, bụng xẹp xuống không?” Rồi Sư Ông bước ra khỏi phòng. Chỉ có mấy câu nhưng bài học đó đã giúp Anh Hương qua được khóa tu lịch sử này. Từ đó tới giờ, lúc nào mình cũng có Bụt và Sư Ông ngồi hai bên khi mình cho pháp thoại. 

BBT: Sau đó chị Anh Hương có kể cho Sư Ông nghe không?

AH: Dạ Anh Hương có kể. Sư Ông cười và nói: “Thầy bậy quá!” (và cười). Có điều này rất vui mà không mấy ai biết: lúc đó Bảo Tích đang nằm trong bụng Mẹ và đã cùng Mẹ trải qua khóa tu đầu đời!

BBT: Hơn 40 năm tu học, chị cảm nhận như thế nào về dòng tu Tiếp Hiện và đạo Bụt dấn thân? Theo chị, Sư Ông muốn mình tiếp nối điều gì?

AH: Theo mình thì đạo Bụt dấn thân, thể hiện qua dòng tu Tiếp Hiện, là con đường hiểu thương vô tận. Năng lượng để đi tới trên con đường bồ tát này được làm bởi Giới, Niệm, Định và Tuệ. Tu tập như đào giếng, đào trúng mạch nước thì ta có luôn cả một giếng nước để sử dụng. Mạch nước tình thương khơi mở rồi thì ta trở thành bàn tay, con mắt và trái tim của bồ tát Quan Thế Âm. 

Sư Ông rất vui khi thấy các học trò của Thầy đang tu tập hết lòng để chữa lành thương tích, xây đắp tình huynh đệ và xây dựng tăng thân khắp nơi. Có lần Sư Ông nói: “các con đều là tiếp nối của Thầy. Các con đang đưa Thầy đi về tương lai, làm gì cũng có Thầy bên cạnh và làm chung với các con.” Nơi nào có tăng thân là nơi đó có Bụt, có Pháp và có Thầy.

Mười bốn giới Tiếp Hiện được làm bởi chất liệu của hiểu và thương. Khi năng lượng chánh niệm còn yếu ớt, một bức xúc có thể dẫn mình vô vòng phân tích, lý luận, có khi còn dùng cả giới luật để chứng minh ai phải ai trái. Khổ đau không phải vấn đề cần giải quyết, mà là vết thương cần được chăm sóc bằng linh dược của hiểu và thương. Khi bị kẹt vào giới thì giới trở thành chướng ngại, bít lấp con đường lý tưởng từ bi và giải thoát. Khi cái hiểu về tương tức còn nằm trên bình diện trí năng thì tuệ giác tương tức vẫn còn như một trái đào xanh. Năng lượng niệm và định dồi dào thì trái đào tuệ giác sẽ chín. Lúc đó tình thương cam lộ ứa ra như dòng suối thấm mát thế gian. 

Dạo này tăng thân mình thực tập câu thần chú “Chỉ thương thôi!” Ta không cần phải gồng mình hay phải làm gì nữa để thương. Hiểu đã là thương rồi! 

BBT: Có bao giờ chị cảm thấy ba chữ “Chỉ thương thôi” khó không?  Có lúc nào chị cảm thấy rất khó thương mà vượt qua được không?

AH: Dạ, có chứ. Là học trò Sư Ông, mình nguyện học hiểu, học thương vì biết tình thương là phương thuốc mầu nhiệm trị liệu khổ đau cho mọi người. Tuy nhiên có lúc mình cảm thấy sao người kia khó thương quá. Mà người kia ở đây cũng có khi là chính mình! Mình kiên nhẫn và cố gắng nhiều nhưng tình trạng dường như không chuyển đổi, và mình cảm thấy không còn sức để thương. Có khi mình nghĩ: “Thôi, chịu thua. Ai cũng có chỗ đứng của họ trong trời đất, có gì mà lo.”

Đó là khi mình chưa hiểu đủ để thấm thía cái khổ trong lòng người. Cái mình gọi là quán chiếu khổ đau có thể chỉ là suy tư quanh quẩn từ trí năng, thiếu sự cảm nhận. Cái mình gọi là tuệ giác cũng chỉ là một khám phá, tuy có mới, nhưng mới chỉ là một góc của thực tại! Tình thương phát xuất từ cái thấy nhỏ bé đó không đủ để ôm trọn những tình huống thật sự khó khăn. Nếu không có những vị Bồ Tát, những vị thầy giỏi khai thị thêm cho mình thì làm sao ta có thể hiểu hết gốc rễ của khổ đau trong mình và người? Mình tự hỏi quán chiếu khổ đau đến bao giờ mới đủ hiểu sâu để mà thương lớn, phải đợi đến bao giờ mới khơi được suối yêu thương ở trong lòng? “Chỉ thương thôi” là pháp môn tối hậu khi ta không biết phải làm gì nữa. Mình buông thanh gươm trí năng, vất đi cái áo giáp bản ngã. Ba chữ “Chỉ thương thôi” là câu thần chú giúp ta đi thẳng vào bản môn trong khi hai chân đang dẫm trên bùn đất của tích môn. Tình thương sẽ mang nhiều chất liệu tự do và giải thoát hơn. Con đường Bồ Tát sẽ rộng mở – ta giúp đời mà cảm thấy như ta không phải làm gì hết. Ta sẽ có rất nhiều năng lượng. Mình buông hết cho tuệ giác vô ngã dẫn đường mình đi. 

BBT: Chị có ước mong gì muốn gửi gắm đến gia đình Tiếp Hiện nhân dịp kỷ niệm 60 năm? 

AH: Các tăng thân Tiếp Hiện giống như những ốc đảo giữa sa mạc nóng bức. Tăng thân là nơi chốn quay về của tất cả chúng ta. Hôm nay Anh Hương có dịp chia sẻ với các em Tiếp Hiện trẻ trong khóa tu này: “Xây dựng tăng thân, bước đi trên con đường Bồ tát, là dấn thân rồi. Cánh cửa bước vào tăng thân chưa bao giờ khép lại. Tăng thân không loại trừ ai, không phân biệt mầu da, tôn giáo hay khuynh hướng chính trị nào.” 

Chỗ mình ở, có người hàng xóm phản đối chuyện kỳ thị. Trên sân cỏ nhà họ có cắm tấm bảng “Hate doesn’t have a home here”, nghĩa là “Hận thù không có chỗ trên đất nhà tôi”. Anh Hương nói với các bạn trong tăng thân là tâm thù hận cũng có chỗ ở trong tăng thân. Điều đó không là lý thuyết mà là bầu không gian an toàn, năng lượng chánh niệm và tình thương mà mọi người cảm nhận được khi về với tăng thân. Xây dựng tăng thân vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh cho con đường lý tưởng, con đường dấn thân của dòng tu Tiếp Hiện. 

Tâm bồ đề là niềm ao ước mãnh liệt được đem hết năng lực và thì giờ mình có để tu tập và giúp cho mọi người tu tập. Mười bốn giới Tiếp Hiện là thể hiện của bồ đề tâm. Tăng thân là mảnh đất nuôi dưỡng và bảo vệ bồ đề tâm của mình. Nhưng để thật sự quy tụ được năng lượng đi về chiều hướng dấn thân, trong cuộc sống hỗn độn với nhiều thử thách về mọi mặt, Anh Hương mong ước các anh chị em Tiếp Hiện mình không quá bận rộn để chúng ta có đủ thì giờ và năng lượng để về với nhau, xây dựng tình huynh đệ và chăm sóc cho gia đình Tiếp Hiện. Ngoài chuyện tụng giới chúng ta cần có những sinh hoạt khác để tạo nên một không gian dễ thương, nơi mà mọi người đều có thể thư giãn, nghỉ ngơi và hồi phục. Hiện nay tình trạng thế giới rất bất ổn. Một tăng thân đích thực sẽ giúp chúng ta thực tập ái ngữ và lắng nghe. Ai cũng cảm thấy an toàn đủ để chia sẻ cái thấy của mình, có khi đối nghịch với những thành viên khác về những chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội, khí hậu và nhiều vấn đề khác của thời đại. 

Chúng ta nguyện thường xuyên làm mới tăng thân. Hạt giống bồ đề tâm dù có mạnh cách mấy mà đất không mầu mỡ, cung cấp đủ chất bổ dưỡng thì hạt giống ấy không thể nứt mầm được và sẽ khô héo đi. Nếu tăng thân èo uột và có nhiều khó khăn, phần lớn là từ những tranh luận đúng sai, thì chúng ta cần nhìn kỹ để thấy tranh luận đó không bao giờ giúp mình mở lòng ôm ấp được cái khổ đau chung của huynh đệ. Câu thư pháp của Sư Ông: “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm” (The Way Out Is In) nhắc cho chúng ta gốc rễ khổ đau của mình luôn nằm sẵn trong mình, và thiền tập là quay về bên trong để lắng nghe và chăm sóc lấy mình. Thực tập làm mới được với chính mình là mình cũng bắt đầu làm mới với huynh đệ và với tăng thân cùng một lúc. Sư Ông từng dạy nếu chúng ta muốn tu tập thành công, chúng ta phải tìm cách thực tập để sống hòa ái với nhau, kể cả với những người khó tính. 

Suốt cuộc đời Sư Ông, ngay cả thời gian khi Sư Ông bị đột quỵ cho tới những giây phút cuối ở chùa Tổ, không ngày nào Sư Ông không bồi đắp tình thầy trò và tình huynh đệ. Sư Ông từng nói: “Các con mỗi đứa đều là sự tiếp nối của Thầy. Anh chị em các con đang thương yêu, chăm sóc và nâng đỡ cho nhau là các con đang nuôi Thầy.” 

Mình đang để lại gì cho thế hệ sau? Con cháu đang nhìn cách mình đối xử với nhau. Mình sống như thế nào để mai sau con cháu mình nhớ đến mình như tổ tiên tâm linh  của chúng. Mình tu tập như thế nào để là sự tiếp nối đích thực của Thầy, tiếp tục khơi suối yêu thương. Ngày trước mình đến với Thầy thì tình thương của Thầy đánh động đến trái tim mình như thế nào thì giờ đây mình tu tập làm sao để các thế hệ trẻ có thể gần gũi mình như thế đó.