Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 18 tháng 01 năm 1998 tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp)

Kệ vô thường là bài kệ được xướng lên vào cuối buổi công phu chiều để ta tự nhắc về tính cách vô thường và biến hoại của sự vật. Thường thường bài kệ được một người xướng thay vì tất cả đại chúng cùng tụng.

Ngày nay đã qua
Đời sống ngắn lại
Hãy nhìn cho kỹ
Ta đã làm gì
Đại chúng hãy cùng tinh tiến
Thực tập hết lòng
Sống cho sâu sắc và thảnh thơi
Hãy nhớ vô thường
Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.

Ngày nay đã qua. Đời sống ngắn lại. Ngày hôm nay đã qua hoặc là đã gần qua và đời sống của tôi đang ngắn lại.

Hãy nhìn cho kỹ. Ta đã làm gì? Ta đã sử dụng 24 giờ của ngày hôm nay như thế nào? Hai mươi bốn giờ mỗi ngày là tặng phẩm rất quý báu của sự sống dành cho ta. Có thể vì vụng về, khờ dại, giận hờn, ta đã làm hư mất ngày hôm đó của ta. Ngày hôm nay, ta đã trân quý, đã sống sâu sắc chưa, ta có làm khá hơn ngày hôm qua hay không? Đây là cơ hội để quán chiếu: “Ta đã làm gì cho ta? Ta đã làm gì cho những người xung quanh ta?” Ta đã đi thêm được bước nào trên con đường thực tập không? Chúng ta phải đọc bài kệ này thật chậm rãi, phải để dành thời gian cho đại chúng quán chiếu, đừng đọc quá nhanh, mọi người sẽ không có cơ hội quán chiếu.

Trong nguyên bản có hình ảnh con cá ở nơi cạnt nước, thấy nước trong hồ càng ngày càng cạn thì đâu có cảm thấy vui thú, hạnh phúc gì nữa, chỉ có lo âu. Thầy nhớ ngày xưa khi đọc đến đoạn: Thị nhật dĩ quá. Mạng diệc tùy giảm. Như thiểu thủy ngư. Tư hữu hà lạc. Như cá ít nước, nào có vui gì thì thầy cảm thấy không vui thật, và thấy buồn rầu! Như vậy, ta buồn suốt ngày rồi cuối ngày cũng buồn hay sao. Hình ảnh đó không được đưa vào trong bài này bởi vì phép thực tập của chúng ta là hiện pháp lạc trú và tuệ giác của chúng ta là tuệ giác tương tức. Vì vậy, chúng ta không đưa hình ảnh con cá ít nước trong câu đó vào bài kệ. 

Ngày nay đã qua. Đời sống ngắn lại. Đó là một sự thật. Hãy nhìn cho kỹ (Look deeply). Ta đã làm gì (What have I done). Khi nhìn thấy sự thật là một ngày đã đi qua mà ta không có hạnh phúc, không đủ hạnh phúc và không tu tập đàng hoàng thì sẽ có tâm niệm hối hận, tiếc rẻ. Tâm niệm hối hận, tiếc rẻ đó là động lực nhắc nhở để ta phát nguyện ngày mai sẽ làm ăn khá hơn.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có một tác phẩm tên là Ta đã làm chi đời ta (What have I done with my life?). Mỗi ngày ta phải hỏi câu hỏi đó: What have I done with my day?, tại vì 24 giờ đồng hồ rất quý báu. Chúng ta là kiến trúc sư, là kỹ sư của đời ta. Ta phải chịu trách nhiệm với giá trị từng ngày của ta. Chúng ta đừng than phiền, đừng trốn tránh, đừng đổ trách nhiệm cho một người nào khác hay cho xã hội. Ta là kiến trúc sư của đời ta, ta phải tự liệu lấy, tự định đoạt lấy số phận của ta.

Khi đọc Hãy nhìn cho kỹ, ta đã làm gì, ta phải dừng lại để đại chúng quán chiếu. Ngày nay đã qua. Đời sống ngắn lại. Hãy nhìn cho kỹ. Ta đã làm gì. Xướng đến đây thì nhấp một tiếng chuông để đại chúng thở một hơi, hai hơi, thực tập quán chiếu, rồi sau đó mới xướng tiếp. 

Đại chúng hãy cùng tinh tiến
Thực tập hết lòng
Sống cho sâu sắc và thảnh thơi.

Đó là kết luận. Trong trường hợp ta đã làm hư ngày hôm qua của ta rồi thì bây giờ ta làm mới lại, nguyện ngày hôm nay sẽ khá hơn. Nếu không có chánh niệm thì ta sống rất hời hợt, không sâu sắc. Thảnh thơi là không bị vướng bận, không bị vướng bận là có hạnh phúc.

Hãy nhớ vô thường
Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.
Nhớ dịch từ chữ niệm, 念. Nhớ vô thường tức là duy trì chánh niệm về vô thường. Đừng để chánh niệm về vô thường tan rã vì chánh niệm vô thường giúp ta thấy được rằng cái gì rồi cũng đi qua mau chóng, nếu không biết trân quý thì tất cả sẽ lọt ra khỏi tầm tay ta hồi nào không biết. Mỗi ngày của ta, những người thương và những nhiệm mầu của cuộc sống xung quanh ta cũng vậy. Tất cả đi qua những ngón tay ta như một dòng nước. Nếu không có định về vô thường, không có chánh niệm về vô thường thì ta không biết trân quý những điều đó. Một cảnh mặt trời lặn chỉ kéo dài khoảng năm phút và sau năm phút, cảnh mặt trời lặn huy hoàng không còn nữa. Do đó trong khoảng thời gian mặt trời lặn huy hoàng, ta phải thật sự có mặt, phải sống thật sâu sắc để thấy được vẻ đẹp của mặt trời lặn. Tất cả những nhiệm mầu khác của vũ trụ cũng như vậy. Chúng đi qua rất mau chóng và nếu ta không có mặt thật sự, không tiếp xúc được với những vẻ đẹp đó, những mầu nhiệm đó thì cuộc đời ta không có giá trị. Ta đã không sống hạnh phúc, sâu sắc và thảnh thơi. Sống sâu sắc là tiếp xúc một cách chân thành. Sống thảnh thơi nghĩa là không bị vướng bận. Tuy có những mầu nhiệm của cuộc đời và ta sống sâu sắc để tiếp nhận những mầu nhiệm đó nhưng ta vẫn thảnh thơi, không bị vướng mắc vào những mầu nhiệm đó bởi vì mầu nhiệm này nhường chỗ cho mầu nhiệm kia. Vì vậy đời sống của ta là một chuỗi những điều mầu nhiệm và ta đi qua những mầu nhiệm đó bằng ý thức vô thường.

Có biết bao nhiêu người khờ dại đã không tiếp xúc, không sống sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống và sau đó lấy làm hối hận. Do đó, sống ý thức là câu trả lời duy nhất. Hãy nhớ vô thường, vô thường quán giúp chúng ta sống sâu sắc và thảnh thơi.

Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng. Trong chúng ta, có người đã để từng ngày trôi đi một cách oan uổng; có người đang để tháng ngày trôi đi oan uổng. Có người không an trú được, không hạnh phúc được trong giây phút hiện tại, ngồi như ngồi trên đống lửa. Ngồi ở đây không có hạnh phúc và chỉ nghĩ đến chuyện phải đi tới một nơi nào khác mới có hạnh phúc. Những người đó khi đến một chỗ khác thì cũng sẽ hành xử như vậy. Vì vậy, vấn đề là an trú, tiếng Anh là happy living in the present moment

Xin đại chúng cùng thực tập xướng bài kệ này.

Ngày nay đã qua

Đời sống ngắn lại 

Hãy nhìn cho kỹ 

Ta đã làm gì? (nhấp chuông)

Đại chúng hãy cùng tinh tấn 

Thực tập hết lòng

Sống cho sâu sắc và thảnh thơi

Hãy nhớ vô thường

Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng. (Chuông)

Kệ vô thường

Kinh văn

Ngày nay đã qua

Ðời sống ngắn lại

Hãy nhìn cho kỹ

Ta đã làm gì?

Ðại chúng hãy cùng tinh tiến

Thực tập hết lòng

Sống cho sâu sắc và thảnh thơi

Hãy nhớ vô thường

Ðừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.

Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 15 tháng 01 năm 1998 tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp)

Bốn lời quán nguyện này hướng về bốn vị Bồ tát lớn: Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Phổ Hiền và Bồ tát Địa Tạng. 

Sách Nhật tụng Thiền môn có đề nghị một người đọc hoặc bốn người thay phiên nhau đọc, mỗi người đọc một đoạn và tất cả đại chúng cùng nghe. Người đọc phải có niệm và định để có đủ năng lượng thấm vào trái tim của đại chúng. Vì vậy trước khi đọc, phải chọn những người có giọng đọc truyền cảm và cái hiểu sâu sắc về bốn lời quán nguyện này. Người đọc phải thiết lập niệm và định. Chẳng những đọc cho thông suốt mà cũng phải đọc thong thả để truyền niệm và định của mình theo lời nói, như vậy đại chúng mới được hưởng lợi lạc. Cố nhiên, chúng ta phải tạo cơ hội để cho tất cả mọi người được thực tập đọc trước đại chúng. Nhưng nếu những ai chưa vững thì chưa được đọc trước đại chúng mà phải thực tập riêng ở ngoài. Ngay cả những bài hô canh hay dâng hương cũng vậy, mỗi người phải thực tập cho vững rồi mới được hô canh hay dâng hương trước đại chúng. Trong lúc xướng bài dâng hương lên mà đại chúng cười khúc khích thì mất hết sự trang nghiêm của buổi lễ. 

Mục đích của bốn lời quán nguyện này là để đánh động những hạt giống vững chãi, thảnh thơi, thương yêu và hiểu biết ở trong con người chúng ta. Ban đầu, các vị Bồ tát lớn như Quan Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền và Địa Tạng được nhìn nhận như những vị Bồ tát ở ngoài ta. Nhưng khi đã thực tập vững chãi rồi, chúng ta sẽ thấy các vị Bồ tát đó đang ở trong ta, chúng ta cũng có những hạt giống hiểu biết, thương yêu và hạnh nguyện của các vị. Có thể có những nhà khảo cứu, những học giả sẽ hỏi chúng ta rằng: “Các vị Bồ tát Quan Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền và Địa Tạng có phải là những nhân vật lịch sử hay không? Họ sinh ở đâu, xuất gia năm nào và thành đạo năm nào?” Chúng ta có thể bối rối khi được hỏi như vậy, bởi vì chúng ta không có những tư liệu đó. Nhưng thực tập theo con mắt của truyền thống Đại thừa, chúng ta sẽ thấy những chi tiết ấy không quan trọng. Điều quan trọng là những tên gọi đó, những con người đó đại diện được cho một cái gì có thật, chẳng hạn như tình thương và khả năng lắng nghe. Hai đức tính này là có thật, và ta chỉ tiếp xúc được với tình thương và khả năng lắng nghe khi ta tiếp xúc được với một con người.

Bồ tát Quan Thế Âm đại diện cho tình thương và khả năng lắng nghe. Nhưng chúng ta không nghĩ rằng chỉ có Bồ tát Quan Thế Âm mới có tình thương và khả năng lắng nghe. Ở quanh ta, ngay trong đoàn thể chúng ta sống cũng có những người có tình thương và khả năng lắng nghe. Có những người có nhiều tình thương và nhiều khả năng lắng nghe; những người khác có ít hơn. Nhưng ai cũng có tình thương, ai cũng có khả năng lắng nghe. Vì vậy, chúng ta biết rằng Bồ tát Quan Thế Âm là một nhân vật có thật, không những trong quá khứ mà cả trong hiện tại. Chính trong ta cũng có Bồ tát Quan Thế Âm. Quan trọng là chất liệu thương yêu và khả năng lắng nghe là có thật, còn hình tướng để biểu hiện thì có muôn hình vạn trạng. Cho nên vấn đề: “Bồ tát Quan Thế Âm có phải là một nhân vật có thật trong lịch sử hay không?” trở nên không còn quan trọng nữa. Bồ tát Quan Thế Âm có thể đang ngồi cạnh ta mà ta không biết. Trước hết chúng ta có thể nghĩ rằng Bồ tát Quan Thế Âm là một khía cạnh của Bụt Thích Ca, mà Bụt Thích Ca là một nhân vật lịch sử. Trong Bụt Thích Ca có khả năng thương yêu và khả năng lắng nghe. Chúng ta là học trò của đức Bổn sư thì chúng ta phải học cách nuôi lớn chất liệu thương yêu và khả năng lắng nghe trong chúng ta. Vì vậy Bồ tát Quan Thế Âm là một thực thể có thật, ít nhất là trong đức Bổn sư, trong các vị Tổ sư qua các thời đại và trong chính chúng ta. 

Đức Bồ tát Văn Thù Sư Lợi cũng là một khía cạnh khác của đức Bổn sư: Khía cạnh tuệ giác lớn. Vì vậy khi đọc câu Lạy đức Văn Thù Sư Lợi, ta cũng đang bày tỏ sự cung kính đối với đức Bụt Thích Ca. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi cũng ở trong ta, bởi vì trong ta cũng có hạt giống của tuệ giác. Nếu ta tu tập đàng hoàng thì hạt giống đó sẽ lớn mạnh dần và ta có thể trở thành đức Văn Thù Sư Lợi. Vấn đề “Văn Thù Sư Lợi có phải là một nhân vật lịch sử không?” không còn quan trọng nữa. Cũng như Bụt Thích Ca, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi không những có mặt trong quá khứ mà cũng có mặt trong hiện tại và sẽ có mặt trong tương lai. Vì ta có mặt đây nên ta biết đức Bổn sư cũng đang có mặt, và Ngài sẽ có mặt trong tương lai. Ta biết điều đó vì ta cũng có con cháu, và con cháu ta sẽ tiếp nối ta, nghĩa là tiếp nối đức Bổn sư. Cho nên, vấn đề “Bụt Thích Ca có phải là một nhân vật lịch sử không?” cũng không còn quan trọng lắm. Nhờ ta tiếp xúc được với đức Thích Ca một cách rất thực tế nên ta không cần phải hỏi những câu hỏi mang tính học giả nữa. 

Đức Bồ tát Phổ Hiền là biểu trưng cho hành động lớn của đức Thích Ca. Nếu đức Thích Ca không có hành động lớn thì đã không có Tăng đoàn, đã không đi giáo hóa từ nước này sang nước khác và đã không dựng lên được một nề nếp văn minh tinh thần mà nhân loại đã được thừa hưởng gần 2.600 năm qua. Vì vậy đức Thích Ca chính là Bồ tát Phổ Hiền và Bồ tát Phổ Hiền cũng là một phần của đức Thích Ca. Khi thực tập lạy, ta lạy một điều gì rất cụ thể bởi vì ta biết rằng chính ước muốn hành động lớn và khả năng hành động lớn cũng có trong ta, tuy rằng nó đang còn nhỏ bé và yếu kém, nhưng nếu ta thực tập, chúng sẽ được lớn lên. 

Bồ tát Địa Tạng là tượng trưng cho hạnh nguyện lớn. Chữ nguyện có thể dịch ra tiếng Anh là vow, aspiration. Có nhiều người sợ chữ vow, bởi vì nó có nghĩa như lời thề. Nhưng một lời thề cũng rất đẹp. Lời thề của đức Địa Tạng là không bỏ nhau. Dù bất cứ trường hợp nào tôi cũng không bỏ anh, nhất là khi anh đang kẹt trong tình trạng đau khổ. Đó gọi là tinh thần bất xả. Chữ xả trong đạo Bụt có nghĩa là buông bỏ. Có những cái mà ta phải thực tập để buông bỏ và có những điều mà ta không nên buông bỏ, đó là những người thương của ta. Nếu ta buông bỏ những người thương thì ta không có giá trị gì cả. Những người thương của đức Địa Tạng là những người đang đau khổ ở dưới địa ngục, không buông bỏ những người dưới địa ngục là tinh thần bất xả của đức Địa Tạng. Một mặt chúng ta thực tập xả (release), mặt khác chúng ta cũng phải thực tập bất xả (not abandon)

Tóm lại, bốn vị Bồ tát lớn tượng trưng cho bi, trí, hạnh và nguyện. Trái tim sự thực tập của chúng ta là chánh niệm. Chánh niệm trong khi ăn, uống, đi, đứng, nằm ngồi,… và chánh niệm đó tạo thành năng lượng. Năng lượng đó được thể hiện qua bốn đức hạnh của bốn vị Bồ tát và mỗi vị là một khía cạnh của đức Thích Ca.

 

Thứ nhất là bi, tình thương, compassion, loving kindness. Tình thương là một trong những bản chất của đức Bổn sư Thích Ca. Đức Quan Âm, Avalokiteśvara, được nhận diện như là một người có khả năng lắng nghe.

Thứ hai là trí, understanding, wisdom. Nếu không có đại trí thì đức Bổn sư không còn là đức Bổn sư nữa. Chúng ta thường ca ngợi Ngài là trí và bi viên mãn. Đức Văn Thù, Mañjuśrī biểu trưng cho đại trí. 

Thứ ba là hạnh, action. Khi đã thấy, đã hiểu thì thế nào cũng thương, mà đã thương rồi thì không từ bỏ, đó gọi là bất xả. Năng lượng của tình thương đi tới hành động. Thương tức là hành động. Chỉ nói thương thôi mà không hành động gì hết, đó gọi là thương miệng. Đức Phổ Hiền, Samantabhadra, tượng trưng cho hành động. Phổ là cùng khắp, hiền là lòng tốt. 

Thứ tư là nguyện, tức là lời thề, vow, aspiration. Có thương và có hiểu thì thế nào cũng đi tới hành động và phát ra lời nguyện cứu giúp những người khổ đau. Biểu trưng cho hạnh nguyện lớn là đức Bồ tát Địa Tạng, Kṣitigarbha. Lời thề của Ngài là Địa ngục vị không thệ bất thành Phật (Khi nào địa ngục chưa trống trơn thì con chưa thành Phật). Đó là lời nguyện của những người muốn hành động, muốn đem ánh sáng và niềm an ủi đến những vùng tối tăm nhất, khổ đau nhất. 

Chúng ta đi tới kết luận là bốn vị Bồ tát đó có mặt trong quá khứ, có mặt trong hiện tại và có mặt trong tương lai. Bốn vị Bồ tát không cần phải là những nhân vật lịch sử, đó là những thực thể bởi vì chúng ta ai cũng biết rằng khả năng thương yêu, khả năng hiểu biết, khả năng hành động và những lời phát nguyện là những điều có thật trong đức Thích Ca, trong các vị Tổ sư, trong ta và những người quanh ta. Khi tụng đọc bốn lời quán nguyện này, chúng ta đang nuôi lớn những năng lượng này trong ta. 

Vấn đề đức tin là một vấn đề lớn. Có những người hoài nghi, bảo rằng ngày nào cũng thờ phụng và cầu nguyện Thượng đế, nếu lỡ Thượng đế không có thật thì uổng công và mất thì giờ quá. Chúng ta quen làm nhà buôn rồi nên cũng quen tính toán. Thờ phụng cũng phải tính toán xem có lỗ không. Tu hành cũng là một cách đầu tư. Có người trả lời: cứ thờ phụng Thượng đế đi, nếu có thật thì lúc chết mình được về Thiên đường, nếu Ngài không có thì mình có mất gì đâu. Nếu mình không thờ Ngài, nếu Thượng đế có thật thì uổng biết mấy. Và họ đi đến kết luận là nên thờ phụng Thượng đế. Là Phật tử, chúng ta đặt vấn đề: Không biết đức Quan Âm hay đức Phổ Hiền có thật hay không mà mình lại lạy và quán nguyện để làm gì? Câu hỏi đó có thể được trả lời bằng buổi pháp thoại hôm nay. 

Tôi biết bằng kinh nghiệm trực tiếp của tôi là đức Quan Âm có thật bởi vì tình thương có thật. Tôi biết bằng kinh nghiệm trực tiếp của tôi, là đức Địa Tạng có thật bởi vì lời thề có thật, vì ý chí đi tới những vùng khổ đau để nâng đỡ và cứu giúp là một năng lượng có thật. Hiện nay trên thế giới có những người đang tình nguyện đi về những vùng đau khổ như vậy. Có những Địa Tạng tuổi còn rất nhỏ đang đi tới địa ngục để làm vơi nhẹ những khổ đau. Đức Địa Tạng đang có mặt trong giây phút hiện tại ở khắp nơi trên thế giới. Và chính trong lòng của mỗi chúng ta cũng có một đức Địa Tạng. Có thể là đức Địa Tạng trong ta chưa đủ lớn để khiến chúng ta dũng mãnh đi vào địa ngục  cứu giúp kẻ khác. Khi nào đức Địa Tạng trong lòng chúng ta đủ lớn, chúng ta sẽ có mặt trong địa ngục. Lúc ấy dù là đang ở trong địa ngục, chúng ta không đau khổ như những người ở địa ngục bởi vì trong ta có tình thương, đi tới đâu là Tịnh độ có mặt tới đó. Càng ở lâu dưới địa ngục, ta càng hạnh phúc vì nơi đó có thể làm thỏa mãn nhu yếu yêu thương trong lòng ta. Địa ngục là đạo tràng tốt nhất, bởi vì trong môi trường đó ta có thể nuôi lớn tình thương và hạnh phúc trong lòng ta. Khi một vị Bồ tát có mặt ở địa ngục thì địa ngục sẽ sáng lên, vị Bồ tát đó không bị ảnh hưởng bởi đau khổ nơi địa ngục, trái lại sự có mặt của vị đó sẽ làm nhẹ đi nỗi khổ niềm đau. 

Trong ta ai cũng có một vị Bồ tát. Nếu chúng ta thờ ơ trước những khổ đau của con người và của muôn loài là vì ta chưa tiếp xúc được với đức Địa Tạng trong ta. Đức Địa Tạng có thật trong lịch sử hay không, điều đó không phải là vấn đề đối với tôi vì tôi biết đức Địa Tạng có thật bằng kinh nghiệm sống của tôi. Chính mắt tôi trông thấy Bồ tát Địa Tạng có mặt khắp nơi, trong các tổ chức như Médecine Sans Frontière (Bác sĩ không biên giới), trong những tổ chức thiện nguyện đi vào các vùng đói kém khổ đau trên thế giới. Đó không phải là những Bồ tát Địa Tạng thì là gì? Họ là những vị Địa Tạng lớn tuổi, nhỏ tuổi và họ không muốn trở về đời sống tiêu thụ của xã hội vật chất nữa, họ nguyện ở lại càng lâu càng tốt ở những vùng khổ đau. Đối với tôi, Địa Tạng là một nhân vật có thật, không còn nghi ngờ gì cả. Chúng ta phải trả lời chắc chắn như vậy. Chính đức Địa Tạng cũng đang có mặt trong tôi và tôi đang nuôi lớn đức Địa Tạng đó. Mang tuệ giác đó để đọc những lời quán nguyện này, chúng ta thấy những lời quán nguyện hoàn toàn không có tính cách mê tín, cầu khẩn. Đó là sự thực tập vun tưới những hạt giống tốt trong ta và trong lòng những người xung quanh.

Lạy đức Bồ tát Quan Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ.

Khả năng lắng nghe của con còn yếu kém. Mỗi khi giận hay buồn thì con không ngồi lắng nghe người kia một cách sâu sắc. Vì vậy con cần tới Ngài, con cần thực tập để có khả năng lắng nghe như Ngài. Chúng ta biết rằng chỉ cần lắng nghe người khác trong vòng một giờ đồng hồ với tất cả trái tim của mình thì người kia đã vơi bớt nhiều khổ đau rồi. Chúng ta thực tập lời quán nguyện này là để nuôi dưỡng khả năng lắng nghe của ta.

Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu.

Nghe ở đây không phải chỉ bằng hai lỗ tai mà cả bằng trái tim nữa (đó gọi là deep listening). Nghe như vậy mới hiểu và hiểu rồi thì tự nhiên người kia sẽ bớt khổ. Một con người đau khổ nhất đời và có cảm tưởng rằng trên cuộc đời này không ai hiểu được họ hết, giờ phút mà có một người chứng tỏ là đã có thể hiểu được mình, lắng nghe được mình thì sự khổ đau đó không còn nhiều như trước nữa. Trong chúng ta ai tìm được một người có thể hiểu được mình, có thể lắng nghe được mình là người đó đã có hạnh phúc rồi. Chúng ta cần đào luyện mình để trở thành một hành giả biết nghe và biết hiểu. Khả năng biết nghe và biết hiểu là khả năng của đức Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Chỉ cần đọc câu này chúng ta sẽ thấy được rằng đức Văn Thù Sư Lợi nằm ở trong đức Quan Thế Âm. Biết nghe thì cố nhiên là biết hiểu. Biết hiểu rồi thì tất nhiên là biết nghe. Vậy Quan Âm và Văn Thù không phải là hai thực thể riêng biệt. Trong Văn Thù có Quan Âm và trong Quan Âm có Văn Thù. Đó là sự tương tức của hai vị Bồ tát lớn.

Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con.

Chú tâm ở đây là định. Khi ngồi nghe, thân và tâm phải nhất như, mình phải có mặt thực sự, buông bỏ quá khứ và tương lai, hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại. Thành khẩn ở đây cũng có nghĩa là có mặt hoàn toàn. Người nào trong chúng ta cũng có thể nghe với sự chú tâm và thành khẩn. Chúng ta ai cũng biết thở. Khi thở chúng ta đưa thân tâm về một mối và có mặt trong giây phút hiện tại, không đánh mất mình trong quá khứ và tương lai, ta có mặt để lắng tai nghe. Điều này ai cũng có thể làm được, chỉ có điều là chúng ta không chịu thực tập, chúng ta thường chỉ nghe bằng nửa lỗ tai mà thôi. Chúng ta phải thực tập nghe bằng cả lỗ tai và để trái tim đằng sau lỗ tai thì mới hiểu được người kia.

Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến.

Thành kiến là những ý kiến có sẵn. Ta đã có sẵn những ý kiến trước rồi nên những lời người kia nói không lọt được vào trong tâm hồn mình. Những lời người kia nói có thể do những thành kiến của ta mà bị bóp méo. Đức Bồ tát Quan Thế Âm là người có khả năng nghe với tâm không thành kiến. Chúng ta thường nghe mà không hiểu được người kia vì bị những thành kiến bít lấp. Thành kiến ở đây cũng là những vọng tưởng, wrong perception. Tu tập thiền quán là để phá thành trì của những thành kiến và cố chấp. Nếu không phá được thành trì đó thì ta sẽ khổ và sẽ làm cho người khác khổ. Tập nghe với tâm không thành kiến là một phép thực tập rất sâu sắc.

Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng.

Tập khí của chúng ta là muốn làm quan tòa: nghe một điều gì liền lập tức phản ứng và phán xét. Tập khí đó làm cho lời nói của người kia không lọt được vào tâm hồn ta. Tập khí cũng giống như một bức tường cản trở và làm dội ngược lại tất cả những trái banh liệng vào đó. Chúng ta đừng nên làm một bức tường mà phải làm không gian để đón nhận tất cả những trái banh đó. Phạm Duy có một bài hát tên là Nghìn thu, trong đó có một câu như thế này: “Em là cõi trống cho tình đong vào”. Cõi trống rất quan trọng. Mình có thể nói: Em là cõi trống để cho tuệ giác, tình thương đi vào. Có một câu chuyện thiền kể rằng: Có một ông giáo sư triết học nọ đến tham vấn một thiền sư. Trong lúc vị thiền sư rót trà để mời khách thì ông giáo sư cứ tiếp tục nói huyên thuyên. Thiền sư thấy vậy mới nghĩ cách dạy cho ông ta một bài học. Thiền sư bèn rót trà đầy vào tách và cứ tiếp tục rót, làm nước trà tràn ra khay, rồi tràn ra bàn. Ông giáo sư thấy vậy mới ngừng nói và hỏi: “Thầy không thấy nước tràn ra ngoài hay sao mà cứ rót hoài như vậy?” Vị thiền sư mới ngừng lại, mỉm cười nói với khách: “Cái đầu của ông cũng giống như chén trà này, nó đầy cả rồi làm sao tôi có thể dạy gì về thiền cho ông được nữa!”. Vì vậy nghệ thuật của chúng ta là tạo khoảng trống để cho tình thương và tuệ giác đi vào. Chúng ta nguyện lắng nghe mà không phán xét, không phản ứng, không làm quan tòa. Chúng ta cũng từng bị những dư luận của người khác phán xét, đã từng quá mệt mỏi, nên chúng ta nhất định không làm quan tòa để phán xét người khác, ta hãy chọn ngồi nghe với tâm không thành kiến. 

Chúng con xin tập ngồi nghe để hiểu.

Mục đích ngồi nghe là để hiểu, bởi vì chúng ta có những ngu si trong người cho nên phải tập lắng nghe. Nghe những điều đúng, mình hiểu, nghe những điều chưa đúng, mình cũng hiểu, bởi vì mình nghe với sự quán chiếu. Ai nói đúng mình cũng học được, ai nói sai mình cũng học được, vì mình biết trong chiều sâu tại sao người đó nói như vậy.

Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói.

Con người ta có những nỗi khổ không thể nói ra được. Nhiều thiền sinh đến với chúng ta, lúc đầu họ dường như không có niềm đau nỗi khổ nào cả. Nhưng sau năm bảy ngày, khi tình thân bắt đầu phát triển, họ dần dần nói ra được những nỗi khổ của họ. Nhưng họ vẫn giấu những điểm chính và chỉ nói những điều quanh quanh. Đó là khuynh hướng chung, ai cũng sợ người khác chê cười. Chúng ta phải tập ngồi nghe rất chăm chú mới có thể hiểu được những điều họ không dám nói. Và nếu chúng ta khôn khéo, hỏi được một câu, họ có thể khóc òa lên và nói hết tất cả sự thật. Có một cậu bé trai 16 tuổi, từ Thụy Sĩ qua Làng Mai, Pháp. Một bữa nọ, hai ông cháu đang nhổ cỏ rất vui trên con đường mòn thiền hành. Tự nhiên nó dừng lại hỏi thầy: “Sư Ông ơi! Con muốn hỏi Sư Ông một điều. Có những cái con thấy đẹp mà mẹ con bảo không đẹp và dặn con phải cẩn thận mới được”. Lúc đầu thầy không hiểu nó nói gì. Nhổ cỏ thêm một chút, thầy ngừng lại và hỏi: 

– Có phải có nhiều cô Thụy Sĩ xinh đẹp chạy theo con, con thấy những cô gái ấy quả thật rất xinh đẹp nhưng mẹ con dặn con phải coi chừng, có phải như vậy không?

Nó rất đỗi ngạc nhiên và hỏi lại:

– Tại sao Sư Ông biết vậy?

Cậu bé đó không muốn nói thật. Còn mẹ em thì chưa đủ khả năng để giải thích cho em hiểu được thế nào là cái đẹp chân thật. Cho dù cậu bé ấy đã không dám hỏi thật thầy, chỉ hỏi mé mé thôi nhưng thầy đã thấy được tâm của em. Đối với em, Sư Ông như đang có tha tâm thông. Thầy đã nghe rất chăm chú và hiểu được những điều mà em không dám nói ra. Lắng nghe là như vậy, có thể nghe được những điều người kia đang nói, và cả những điều họ không nói. Sau đó cậu bé đã nói hết tất cả sự thật cho thầy nghe. Và thầy có cơ hội giải thích cho em hiểu rằng mẹ em không đủ khả năng ngôn ngữ để cắt nghĩa cho em hiểu là trong lúc đang học ở trung học, con nên thế này, con không nên thế nọ, và đừng để bị kẹt vào trong bóng sắc tầm thường. Cái đẹp chân thật rất sâu sắc chứ không phải là cái đẹp nằm phơn phớt bên ngoài.

Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.

Bồ tát Quan Âm là người có khả năng lắng nghe và có thể làm vơi bớt nỗi khổ của muôn loài. Chúng con cũng muốn thực tập để được như Bồ tát. Lắng nghe là một phương pháp thực tập rất mầu nhiệm, nó có hai tác dụng:

– Thứ nhất, làm cho người kia bớt khổ.

– Thứ hai, thiết lập lại sự truyền thông.

Trong thời đại bây giờ, phương tiện truyền thông rất tinh xảo, chỉ cần nửa phút người ta có thể gởi đi những tin tức tới những địa điểm rất xa. Trong lúc đó sự truyền thông giữa những người sống bên nhau trở nên bế tắc. Rất nhiều sự truyền thông giữa cha và con, vợ và chồng, anh và em hầu như bị cắt đứt. Nền văn minh của chúng ta đang bị phá sản về phương diện đó, cho nên đời sống trong gia đình không có hạnh phúc; đời sống giữa nước này và nước khác không có hạnh phúc; đời sống giữa những sắc tộc khác nhau cùng chung sống trong một thành phố cũng không có hạnh phúc là do có sự chống đối, có sự hiểu lầm. Cá nhân cũng như đoàn thể không truyền thông với nhau được, vì vậy hạnh tu của đức Bồ tát Quan Thế Âm rất quan trọng – hạnh lắng nghe, nghe để hiểu và để thiết lập lại sự truyền thông.

Khi đọc lời quán nguyện chúng ta phải đọc thong thả, đưa vào đó rất nhiều năng lượng để đánh động được hạt giống tốt nằm trong trái tim của mỗi người trong đại chúng. Đọc lời quán nguyện cũng là một cách nhắc nhở để ngày hôm nay ta có thể thực tập được hạnh lắng nghe của đức Quan Thế Âm. 

Lạy đức Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người.

Trong đời sống mới, chúng ta thường chạy về phía trước như những mũi tên. Chúng ta chỉ biết chạy thôi, chạy như bị ma đuổi, ngay cả trong lúc ngồi chúng ta cũng chạy. Tuy chúng ta đang ngồi, đang ăn cơm, đang uống trà, nhưng chúng ta vẫn đang tiếp tục chạy ở trong lòng. Chúng ta không thấy được sự thật đang xảy ra. Muốn nhìn thấy cho rõ, cho sâu, chúng ta phải biết dừng lại, đó gọi là chỉ (止, samatha). Có dừng lại mới có thể nhìn sâu, gọi là quán (觀, vipaśyanā)

Đức Bồ tát Văn Thù là người thực tập thiền quán, Ngài biết dừng lại và biết nhìn sâu. Nhìn sâu vào lòng người tức là nhìn sâu vào những tâm hành (giận, buồn, ghét, sợ hãi, chán nản, hy vọng…). Tất cả những tâm hành đó là đối tượng của cái nhìn, nhìn làm sao để thấy được chiều sâu của nó. Muốn nhìn cần phải dừng lại. Dừng lại tức là không còn chạy nữa. Ở Làng Mai, chúng ta thực tập dừng lại trong mỗi giây phút. Dừng lại trong lúc ngồi, trong lúc đi, trong lúc đứng, trong lúc ăn cơm… Trong lúc ngồi ăn cơm với đại chúng 100 người hay 150 người, rõ ràng là mọi người đang dừng lại để ăn, nhưng chúng ta vẫn chạy. Chúng ta không có khả năng dừng lại và do đó không có hạnh phúc trong lúc ăn cơm. Ăn cơm là chỉ ăn cơm thôi, sao phải chạy? Anh có thể làm được chuyện đó không? Chị có thể làm được chuyện đó không? Trong lúc ăn, chúng ta cứ để đầu óc chạy qua bên này, chạy qua bên kia. Chúng ta đã chạy bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi, bây giờ chỉ có cơ hội này để dừng lại, mà chúng ta cũng không dừng được. Anh có thể ăn cơm cho đàng hoàng, uống trà cho đàng hoàng, đi thiền cho đàng hoàng. Đi thiền, tuy là hai chân đang bước nhưng cũng là dừng lại. Thiền chỉ và thiền quán là bản chất của sự thực tập. 

Chúng con xin tập nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con.

Chú tâm và thành khẩn tức là có mặt thực sự; thân, khẩu, ý hợp nhất như chúng ta đã học ở đoạn trước.

Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến.

Ở đoạn trước, chúng ta tập nghe với lỗ tai không thành kiến. Bây giờ chúng ta tập nhìn với con mắt không thành kiến. Chúng ta phải phá bỏ hàng rào của thành kiến, của cố chấp thì chúng ta mới thấy được sự thật. Một người Do Thái nhìn một người Palestine bằng con mắt không thành kiến mới thấy được những khổ đau, những sợ hãi, những ước mơ của người Palestine. Một người Palestine nhìn vào người Do Thái cũng phải nhìn bằng cách đó mới thấy được những khổ đau, những sợ hãi, những ước mơ của người Do Thái. Nếu hai bên biết nhìn nhau như vậy một cách sâu sắc thì cả hai đều thấy rằng bên nào cũng tội nghiệp, bên nào cũng đang lo sợ, bên nào cũng không có an ninh. Khi đã thấy được như vậy rồi thì cả hai đều phát kiến ra rằng nếu cứ trừng phạt nhau thì sẽ không đi đến đâu cả; chi bằng nắm tay nhau cùng ngồi xuống để tìm ra một giải pháp, để thiết lập lại sự truyền thông giữa hai phía. Nếu người Do Thái và người Palestine chưa làm được thì chúng ta phải làm được với nhau. Trong tăng thân, có hai người không tới với nhau được, không hiểu nhau được thì chúng ta phải tới với cả hai để giúp họ dừng lại, nghe nhau và nhìn nhau bằng con mắt không thành kiến. Nghe bằng lỗ tai không thành kiến và nhìn nhau bằng con mắt không thành kiến là một phương pháp thực tập rất quan trọng.

Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng.

Chúng ta không nhìn bằng con mắt của quan tòa mà nhìn bằng con mắt của người biết thương.

Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật.

Đây là phép thực tập theo giáo lý Tứ diệu đế. Khổ đau đang có mặt, ta phải nhìn sâu vào khổ đau để thấy và để hiểu được gốc rễ của nó. Nhìn vào sự thật thứ nhất (khổ đế) thì thấy được sự thật thứ hai (tập đế). Nhìn kỹ vào sự vật, ta sẽ thấy được tự tánh vô thường và vô ngã của chúng. Thấy được điều đó rồi, tự nhiên ta sẽ thay đổi cách nhìn và chấp nhận được người khác một cách dễ dàng. Bởi vì tôi với anh không phải là hai thực thể riêng biệt. Nếu anh còn khổ thì tôi còn khổ. Nếu tôi còn khổ thì anh cũng còn khổ. Chúng ta hãy nương nhau thay vì trừng phạt nhau. 

Chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới.

Phiền não (affliction) gồm có tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến… Những thứ phiền não đó chỉ có thể chặt đứt bằng thanh gươm trí tuệ của đức Bồ tát Văn Thù. Ngày xưa dưới cội cây bồ đề, đức Thế Tôn đã dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não. Bây giờ chúng ta được trao truyền thanh gươm đó, là chỉquán. Nếu không dùng phương pháp chỉquán thì ta không trừ được những sợi dây phiền não đang trói buộc làm ta đau khổ. Đó là những sợi dây của thèm khát, của giận hờn, của thù oán, của ngã mạn… Là đệ tử của đức Thế tôn, đệ tử chư Bụt, chúng ta phải sử dụng được thanh gươm đó để diệt trừ phiền não.

Trong bài kệ truyền đăng cho sư anh Pháp Đăng, thầy có sử dụng hình ảnh của thanh gươm:

Pháp môn tìm thấy trên non cũ

Đăng hỏa mười năm rạng cự môn

Cung kiếm trao truyền trong nhật dụng

Hoa đào nở sáng khắp cô thôn.

Hai chữ non cũ trong câu đầu là muốn nói tới núi Linh Thứu mà ngày xưa Bụt thường cư trú và thuyết pháp. Ngày nay núi Linh Thứu cũng là núi Thệ Nhật ở chùa Pháp Vân. Pháp môn là phương pháp được Bụt trao truyền để tháo gỡ những khổ đau của mình. Trong câu thứ hai, hai chữ đăng hỏa (đèn lửa) có nghĩa là công phu đêm ngày của mình. Công phu tu tập hằng ngày phải tinh chuyên trong vòng mười năm mới bắt đầu có ánh sáng tỏa ra trong gia đình tâm linh của mình. Cự môn có nghĩa là gia đình lớn. 

Cung kiếm trao truyền trong nhật dụng. Câu này có nghĩa là cây cung và thanh kiếm mà thầy trao cho con là để con sử dụng trong đời sống hằng ngày chứ không phải để con có cảm tưởng mình là một giáo thọ. Nếu con làm được điều đó thì hoa đào nở sáng khắp cô thôn. Đó là cảnh tượng của hạnh phúc, của mùa xuân đạo pháp đang diễn ra trên quê hương mình. Lưỡi gươm trí tuệ mà đức Bồ tát Văn Thù sử dụng cũng đã được trao truyền cho chúng ta. Dừng lại để nhìn sâu vào bản chất của khổ đau và phải thực tập ngày đêm để chuyển hóa. Giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới. Chúng ta không biết cách tự cởi trói cho mình thì làm sao có thể cởi trói cho người khác? Mình không làm giáo thọ cho chính mình được thì làm sao mình có thể làm giáo thọ cho mọi người?

Lạy đức Bồ tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của Bồ tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống.

Chúng ta đi vào cuộc sống với hành trang nào, nếu không phải là con mắt và trái tim? Con mắt và trái tim nào mà chúng ta có thể đem vào cuộc đời nếu không phải là con mắt của Văn Thù Sư Lợi và trái tim của Quan Thế Âm? Nếu không có con mắt đó để đi vào cuộc đời thì ta sẽ bị cuộc đời kéo đi như một dòng nước lũ. Anh đã có con mắt đó chưa? Em đã có con mắt đó chưa? Nếu chưa có con mắt của Văn Thù Sư Lợi thì không nên vội vã vào đời để trở thành chàng dũng sĩ trong Cửa tùng đôi cánh gài. Phải có con mắt của Văn Thù Sư Lợi và trái tim của Quan Thế Âm thì bàn tay của chúng ta mới trở thành bàn tay của Bồ tát Phổ Hiền. Ba vị Bồ tát này luôn có trong nhau.

Chúng con xin nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ.

Đạo pháp không phải là vấn đề miệng lưỡi mà là vấn đề thực tập. Anh làm sao mà ít nhất mỗi buổi sáng cũng mang được niềm vui cho một người và mỗi buổi chiều làm cho một người bớt khổ. Nếu anh chỉ nói đem lại niềm vui cho nhiều người mà trong thực tế không có một sự chuyển đổi nào thì không ai có thể tin được lời anh nói. Bài tụng tiếng Anh rõ hơn: I vow to offer joy to one person in the morning and to help relieve the grief of one person in the afternoon.

Nếu là một vị Bồ tát nhỏ thì ít nhất mỗi buổi sáng làm vui cho một người và mỗi buổi chiều làm cho một người bớt khổ. Nếu làm được như vậy thì vị Bồ tát đó sẽ trở thành một vị Bồ tát lớn và mỗi ngày có thể đem lại niềm vui cho nhiều người và giúp nhiều người bớt khổ. Sự thật là đâu cần phải làm nhiều, chỉ cần đi đứng, ăn cơm, uống nước trong chánh niệm là đủ tạo niềm vui cho rất nhiều người rồi. Trả lời với sư anh, với sư em bằng nụ cười là đã đem lại niềm vui rồi. Đem lại niềm vui cho người cũng là đem lại niềm vui cho chính mình. Vì vậy đoạn kế tiếp là:

Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của chính mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự.

Con đường tu phải là con đường vui. Điều này cần phải được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tu mà không vui thì tu để làm gì? Ở ngoài đời người ta đã khổ nhiều rồi. Chúng ta tu để chuyển hóa những khổ đau đó và phải có niềm vui trong lúc tu. Trong bài sám Quy nguyện có câu:

Tăng là đoàn thể đẹp

Cùng đi trên đường vui.

Mỗi ngày đều phải có niềm vui. Nếu thầy hỏi: “Hôm nay con có gì vui không?” thì ta phải có câu trả lời: “Dạ có!” Và phải kể các niềm vui đó ra. Nếu mình không biết biến những giây phút hằng ngày trở thành những giây phút vui vẻ thì chúng ta chưa phải là những người tu đàng hoàng. Vì vậy tu với nhau là phải hợp tác với nhau để tạo ra niềm vui trong đời sống hằng ngày. Ta sẽ được nuôi lớn bằng chính những niềm vui đó. Tu là nghệ thuật chế tác niềm vui và chuyển hóa khổ đau. Ta phải đem những tài năng, sáng kiến của mình áp dụng vào sự tu tập để mỗi ngày đều vui như hội. 

Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho người. Chúng con biết rằng, nếu chúng con siêng năng tu tập, thì tự thân chúng con có thể là một nguồn an lạc bất tuyệt cho những người thân yêu của chúng con và cho cả muôn loài.

Chúng ta cứ tưởng chúng ta nghèo nàn và đói khát. Thực ra, chúng ta rất giàu có. Chúng ta có thể bố thí, có thể ban tặng hạnh phúc cho mọi người và mọi loài. Chỉ cần chúng ta sống trong tỉnh thức để cho Bụt có mặt trong trái tim, để cho Bồ tát Văn Thù Sư Lợi có mặt trong đôi mắt, lúc đó mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ của ta đều có thể tạo ra niềm vui cho những người xung quanh. 

Lạy đức Bồ tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm vui, hy vọng và giải thoát. 

Trong chúng ta có những người xuất thân từ các nước từng bị áp bức nên ta biết rất rõ những khổ đau của dân chúng tại các nước đó. Đọc đoạn quán nguyện trên, chúng ta có thể hiểu rất rõ ràng. Có khi chúng ta đang ở dưới đáy vực thẳm mà không có cách nào để truyền thông với bên ngoài được. Chúng ta phải đổ xăng dầu lên đầu, lên áo rồi châm lửa tự đốt để cho thế giới bên ngoài biết rằng có những người đang ở trong tình huống tuyệt vọng. Hiện nay trên thế giới vẫn còn có những người đang ở trong hoàn cảnh đó. Nếu không có Địa Tạng thì làm thế nào để thiết lập liên lạc với những nơi đó, làm thế nào đem ánh sáng vào những nơi đó? Trong chúng ta có nhiều người, trong đó nhiều người còn rất trẻ, muốn làm các vị Bồ tát để đem ánh sáng đến các vùng xa xôi và sâu thẳm như vậy. Chúng ta đang sống trong hoàn cảnh đầy đủ về vật chất mà lại giận hờn, ganh tị, xâu xé lẫn nhau và cứ than khổ. Chúng ta đâu biết rằng những khổ đau của chúng ta có thấm gì so với khổ đau của những người trong cảnh địa ngục kia. Chúng ta phải làm thế nào để trở thành một Địa Tạng trong vô số các vị Địa Tạng ấy. Cánh tay của chúng ta phải với tới được những nơi khổ đau đó. 

Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người.

Có những người không được quyền làm người, chỉ được làm thú vật mà thôi, mà cũng không bằng thú vật được nuôi trong nhà, được ăn uống đầy đủ, được có không gian. Con người ở trong địa ngục không được như vậy, họ đói khát và đang chết dần chết mòn. Những địa ngục như vậy đang có mặt khắp nơi trên thế giới. Có những địa ngục đã bắt đầu có Địa Tạng. Những địa ngục khác chưa có Địa Tạng. Chúng ta phải nhận diện cho ra những địa ngục đó và tìm tới với họ. Chúng ta không cần tới những cõi xa xôi mới thấy được địa ngục. Địa ngục có thể đang ở ngay bên cạnh chúng ta, ngay trong các thành phố lớn như Chicago, New York, Paris, thành phố Hồ Chí Minh. Chúng ta phải khám phá cho ra những địa ngục này để đưa bàn tay Quan Thế Âm tới đó, để nhờ Bồ tát Địa Tạng dẫn dắt tới đó. Đôi khi ta nhởn nhơ, ta tưởng rằng ta không tạo ra những địa ngục đó, nhưng kỳ thực có thể ta đã tiếp tay xây dựng, hoặc ta đã đồng lõa với việc xây dựng địa ngục. Chúng ta bận tiêu thụ, bận lo toan cuộc sống hằng ngày, hay bị kẹt vào những vấn đề nhỏ mọn, ganh tị, buồn chán lẫn nhau mà không biết rằng địa ngục vẫn đang được dựng lên ở nơi này, nơi kia. Thái độ thờ ơ, bất cần của chúng ta đã là một yếu tố giúp vào việc xây thêm những địa ngục trần gian. Chúng ta phải nói một cách rõ ràng rằng tôi không muốn tiếp sức vào việc xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế. 

Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. 

Đức Địa Tạng có hai đức lớn: vững chãi và kiên trì. Có vững chãi mới có kiên trì. Kiên trì là không bỏ cuộc một cách dễ dàng, khó khăn cách mấy cũng bám lấy. Đất thì kiên và hậu. Trong bài kệ ca ngợi đức Địa Tạng có câu: Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng (). Địa trong chữ Địa Tạng có nghĩa là kiên, tức là vững chãi. Hậu là dày. Quảng hàm tàng là chứa đựng rất nhiều, trong đó có tình thương, có sự hiểu biết, có sự nâng đỡ, có thể làm chỗ nương tựa. Đó là sự khen ngợi đức Địa Tạng. 

Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của Đất, để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như Đất, và cũng được như Đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.

Đất không có tính kỳ thị hay phân biệt. Khi chúng ta đổ những chất thơm, đất tiếp nhận. Khi chúng ta đổ rác bẩn, đất cũng tiếp nhận. Đất tiếp nhận tất cả mọi thứ và có khả năng chuyển hóa tất cả. Địa Tạng là như vậy, có thể chấp nhận tất cả để chuyển hóa. Mình có thể làm nơi nương tựa cho người khác được hay không nếu mình không có đức vững chãi, không có được chiều dày? Mình đang còn mong manh, đang còn yếu, thì mình phải tu tập như thế nào để càng ngày càng vững chãi, để có thể làm chỗ nương tựa cho những người khác. 

Thầy có nhận được một lá thư của tù nhân tên là Nicolas từ địa ngục gởi ra. Sở dĩ thầy có lá thư này là nhờ một đức Địa Tạng đã gởi được một thông điệp vào trong tù, đó là cuốn Peace is every step (An lạc từng bước chân), Living Buddha Living Christ (Bụt ngàn đời Chúa ngàn đời). Chúng ta biết có nhiều thiền sinh Hoa Kỳ phát tâm bồ đề, đã mua những cuốn sách của thầy bằng tiếng Anh (họ thường mua những quyển sách cũ, bìa sờn với giá rẻ), rồi đem vào tù phân phát cho những tù nhân. Có nhiều tù nhân đọc được, bắt đầu tu tập và chuyển hóa. Lá thư của Nicholas là một lá thư tiêu biểu cho hàng ngàn lá thư gởi cho thầy. Anh Nicholas đã bị kết án tử hình, nằm trong nhà tù ở tiểu bang Pennsylvania và chờ ngày chết. Lá thư của anh ta gởi cho thầy đề ngày 28 tháng 12 năm 1997, tức là ngày chúng ta nghe pháp thoại về Làm mới. Sau đây là đại ý lá thư:

“Thầy thương kính,

Con không biết lá thư này có tới được với Thầy không, nhưng con hy vọng ít nhất cũng có một người sống cùng địa chỉ với Thầy mở ra đọc. Được như vậy con cũng bớt khổ lắm rồi. Con gởi lá thư theo địa chỉ ghi trong cuốn Living Buddha, Living Christ mà người ta cho con. Con đã ở trong tù 17 năm rồi và đã bị kết án tử hình. Trong thời gian đó, con đã trải qua biết bao nhiêu là khổ đau, thất vọng và chất chứa biết bao nhiêu hận thù. Con đã vùng vẫy rất khó khăn và có khi con nghĩ là không bao giờ vượt thắng được. Nhưng lạ thay con đã học được cách sống đơn giản và đã không bị điên loạn bởi những hận thù với những người đã đối xử tàn tệ với con. Con không hiểu tại sao con làm được như vậy, không hiểu tại sao con còn giữ được sự bình yên trong tâm hồn. Con đã chấp nhận được con. Ước mơ duy nhất hiện nay của con là một ngày nào đó được thả ra và có những người tới gặp con, nhìn con một lát, rồi họ nói rằng: “Anh này ở trong tù đã gần 20 năm với tư cách một tử tội mà bây giờ trông cũng bình thường”. Con chỉ ước mơ như vậy thôi! Con chỉ là một người tầm thường và rất biết ơn những ai đã giúp con không trở nên điên loạn trong suốt 17 năm qua. Con đã biết trân quý những điều xảy ra trong đời sống hằng ngày. Ngồi sau khung cửa sổ nhìn mặt trời lặn, con thấy con có khả năng hưởng thụ được cái đẹp của mặt trời lặn và con cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Trong nhà tù cũ mà con đã ở 12 năm, ngày nào con cũng chỉ được nhìn bốn bức tường gạch. Nhà tù hiện nay con ở thì khá hơn. Qua cửa sổ, con thấy được một phần của thành phố, thấy được cây cối. Lần đầu tiên sau 12 năm bị bưng bít, cảnh trí của thành phố và cây cối làm con cảm động quá đỗi và con đã khóc nức nở. Khi đọc cuốn Peace is every step và học được giáo lý An trú trong hiện tại, thì con hiểu được ngay. Lâu nay con thù ghét tôn giáo, bởi vì tôn giáo nào cũng có khuynh hướng loại trừ những người không theo con đường của họ. Con mới bắt đầu học Phật thôi, nhưng con có thể thấy được cái đẹp đơn giản trong sự chứng nhập giây phút hiện tại và con thấy được nhu yếu của nếp sống chánh niệm. Đời sống vật chất trong quá khứ đã dồn chứa trong con và đã gây cho con nhiều khổ đau. Nay con đã học được cách biết trân quý những giây phút ngắn ngủi. Nhờ vậy, con không còn lo sợ về cái chết trong tương lai nữa và con đã không trở nên điên loạn. Hiện nay con đang hành xử như một Phật tử và con tin rằng nếu cứ tiếp tục, con sẽ tìm ra một sự cải hóa từ từ trong đời sống tâm linh của con. Điều mong ước sâu sắc nhất của con là nếu có bị hành xử tàn tệ con vẫn giữ được sự bình thản, vẫn có thể biến rác thành hoa. Một ước mơ nữa, như con đã nói, sau này con được thả ra, có người tới thăm và nói một câu như thế này: “Anh này đã ở trong tù lâu năm mà coi vẫn còn được lắm chứ”. Con viết lá thư này với hy vọng Thầy sẽ đọc những lời chân thành và đơn giản của con, để Thầy thấy cái chất người trong con đã được tìm lại trong hoàn cảnh tuyệt vọng, để Thầy thấy rằng đây không phải là những lời của một tên tử tội mà là lời của một con người được gởi vào đây để học hỏi và lớn lên. Xin Thầy và xin những ai đọc lá thư này hãy bảo trọng.

Nicholas.”

Thầy đã nhờ sư cô Thục Nghiêm gởi cho anh ta một cuốn Thiền hành yếu chỉ, kèm theo lá thư của thầy gởi trả lời. Đại ý lá thư đó là:

“Nicholas thân mến,

Lá thư của anh đã khích lệ cho chúng tôi rất nhiều. Anh có biết tại sao ở trong tù mà anh không bị điên loạn hay không? Châu báu đó là do tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của anh đã trao truyền lại cho anh đó. Anh ở trong tù nhưng vẫn giữ được tự do hơn chúng tôi. Ở ngoài này, chúng tôi đang bị những hận thù và thèm khát giam giữ. Chúng tôi gởi biếu anh một cuốn sách nhỏ để anh thực tập thiền hành ngay trong phòng giam hoặc ở ngoài trời. Nếu có thể được, anh nên mời những người bạn tù khác cùng thực tập với anh để họ có thể nếm được an lạc và hạnh phúc. Anh là người có tự do dù đang ở trong tù. Chúng tôi ở Làng Mai sẽ rất sung sướng khi thấy anh thành công. Nếu cần, anh cứ viết thư cho nhà xuất bản Parallax và Community of Mindful Living để xin thêm sách. Nếu có viết thư cho chúng tôi, anh có thể gởi qua sư cô Thục Nghiêm. Cô ấy là người Mỹ, có cùng ngôn ngữ với anh.”

Đây là một lá thư khác, cũng từ trong địa ngục gởi ra. Người gởi lá thư này gốc Việt Nam, bị giam tại một nhà tù ở tiểu bang Washington. Đây là nguyên văn lá thư:

“Đầu thư con xin chúc Thầy được dồi dào sức khỏe và mọi sự sẽ được thuận lợi ở Làng Mai. Đệ tử tên là Hùng, một người rất ngưỡng mộ Thầy và hiện đang cư ngụ tại Correction Centre của tiểu bang Washington. Trong thời gian qua, nhờ ơn những cuốn sách của Thầy chỉ dạy mà con đã hấp thụ được rất nhiều về đời sống tươi đẹp và thương yêu nhân loại. Thời gian xa cha mẹ hiền và bỏ nước ra đi thì con đây đi vào con đường tội lỗi. Mà vì quá ham vui, nên con đã quên hết, đã lạc đường, đã quên mất đường về nhà mà tổ tiên đã chỉ bảo cho. Nhờ ơn lời Thầy chỉ dạy qua hai cuốn sách mà con may mắn đọc qua: cuốn Being peace và cuốn Joyful path. Hai cuốn đó đã giúp con hiểu được rất nhiều, chẳng hạn như những câu nói về thực tập là trở về nguồn gốc và lối đi của tổ tiên. Dòng họ của con, ai nấy đều hướng về Phật giáo, và có vài người đã từng xuất gia. Con đội ơn Thầy đã mở rộng tầm mắt của con và mở đường cho con về với con đường của tổ tiên. Nhờ cuốn Joyful path (trang 14) mà con có thể viết cho cha của con một lá thư để nối lại tình cha con. Cha con là một người mê rượu chè và thường đánh đập mẹ con lúc con còn nhỏ nên lớn lên con không hết lòng thương yêu cha con. Qua cuốn sách của Thầy thì con mới thấy được những cái đau khổ mà cha con đã chịu đựng, và con đã có thể viết thư để hòa giải với cha con. Con biết phải làm thế nào để độ cho gia đình con có nhiều tình thương cho nhau. Đó là đệ tử xin hết lòng cảm tạ công lao của Thầy bỏ ra để soạn những cuốn sách quý báu cho con và cho tất cả mọi người. Những cuốn sách của Thầy đã giúp cho rất nhiều người và cũng đã giúp cho những người Phật tử đang ở trong nhà tù này. Con cũng đồng thời xin thay mặt cho những anh em đến sau mà cảm tạ công ơn của Thầy đã biếu cho những cuốn sách quý đó và chúng con có thể tu luyện trong tù. Lần nữa con xin chúc cho toàn thể chúng sanh, cho Thầy và cho gia đình con nhiều điều an lành”.

Anh chàng Hùng này đã nhân danh những người bị bắt vào tù để nói lên lời cám ơn. Chúng ta không cần đi đâu xa, chỉ cần ở ngay tại chỗ vẫn có thể tiếp xúc được với địa ngục. Cánh tay của chúng ta có thể vươn ra rất dài. Tăng thân của chúng ta ở bên Anh đã gởi nhiều bản in, nhiều tờ tạp chí, những cuốn sách viết bằng tiếng Anh, hoặc tiếng Việt vào trong các nhà tù bên Anh. Các bạn bên Đức cũng làm như vậy. Bên Mỹ cũng có nhiều người đang thực tập thiền quán trong tù và họ bớt khổ đau rất nhiều. Có một người thực tập thiền hành trong nhà tù ở California đã viết thư cho thầy kể rằng: “Con đang đứng trên cầu thang và đang thở. Con định đi xuống cầu thang có chút việc thì thấy nhiều người tù khác đang đi lên và đi xuống. Họ chạy như bị ma đuổi. Con thấy được sự khổ đau của họ và thấy họ là những trái bom sắp nổ. Con mong ước người nào cũng có thể bước lên cầu thang một cách nhẹ nhàng và có chánh niệm như con để cho họ bớt khổ”.

Một anh chàng khác tên là Jarvis Mathews viết được một cuốn sách về sự thực tập ở trong tù. Anh ta có cơ hội quy y với một thầy người Tây Tạng. Vị thầy này đã vào trong tù để truyền Tam quy Ngũ giới cho anh ta. Trong sách đó, anh ta kể nhiều câu chuyện rất vui, trong đó có một câu chuyện như sau:

“Có một hôm, người tù ở phòng bên cạnh chửi bới om sòm trong lúc anh ta đang thực tập “Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười”. Nó nói: 

– Thằng chó chết nào ở bên đó đang hút thuốc, mày phải cho tao nửa điếu. 

Bị quấy rầy, Jarvis không thực tập được. Người tù bên kia cho rằng Jarvis đang hút thuốc. Sự thật thì anh ta đã thực tập thiền và đã bỏ hút thuốc. Jarvis mới đến bên cạnh tường dùng chân và tay đánh mạnh vào tường để bên kia chú ý và nói: 

– Mày là thằng nào? Tao đã bỏ thuốc từ lâu, mà dù tao có một điếu thuốc tao cũng không cho mày, bởi vì tao ghét cái lối chửi bới như vậy. Muốn xin mày phải xin đàng hoàng. Có thể thằng bên kia hút. Nếu mày im lặng và tỏ ra dễ thương tao sẽ tìm cách giúp mày. Còn nếu mày cứ chửi bới như vậy thì dù có thuốc trong túi tao cũng không cho. 

Anh chàng bên kia im lặng, Jarvis mới nói:

– Bây giờ mày ngồi yên tao sẽ tìm cách giúp mày.

Anh kia bằng lòng. Jarvis đã bỏ thuốc từ lâu, nhưng vẫn còn giữ một gói thuốc rê. Lúc đầu anh ta tính cho hết, nhưng lại nghĩ: “Mình phải cho từ từ, một ngày một ít”. Anh ta trích ra 1/20 số thuốc còn lại, gói lại và chuyền qua bên kia. Tờ giấy mà anh ta dùng để gói thuốc là một tờ photocopy của trang đầu trong cuốn Being peace. Cuốn sách photocopy đó anh ta đã đọc hết và lâu nay theo đó mà thực tập thiền. Những ngày sau Jarvis dùng những trang kế tiếp để gói số thuốc mà anh ta cho từ từ. Anh ta dùng hết cuốn sách mà không tiếc, bởi vì anh ta đã có một cuốn sách Being peace khác in đàng hoàng mà người ta đã gởi vào để tặng anh. Ý của Jarvis là hy vọng người tù bên kia đọc những trang sách photocopy và có thể tiếp thu được pháp nhũ. Rốt cuộc mong ước của anh ta đã thành tựu. Sau khi chuyền hết sách Being peace thì người tù bên kia rất yên lặng, bởi vì anh chàng đó vừa được thuốc, cảm thấy có tình thương, lại vừa học được phương pháp thiền tập. Vài tháng sau anh kia được phóng thích, vì tội của anh ta không nặng. Trong lúc đó, Jarvis mang tội tử hình. Trước khi rời nhà giam, anh kia dừng lại nơi phòng của Jarvis để nói lời cảm ơn, rồi hai người cùng đọc lên một câu trong cuốn sách: 

“If we are peaceful, if we are happy, we can smile and blossom like a flower, and everyone in our family, our entire society will benefit from our peace.” (Nếu bạn bình yên, nếu bạn có hạnh phúc thì bạn có thể mỉm cười và nở ra như một bông hoa, và mọi người trong gia đình và cả trong xã hội sẽ thừa hưởng sự tĩnh lặng của bạn).

Cả hai đã thuộc câu đó và cùng đọc lên một lượt, trước con mắt ngơ ngác và thán phục của những người cai tù. 

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rằng Jarvis chẳng những cứu được mình mà còn cứu được những người bạn tù khác. Jarvis là một Địa Tạng vậy. Chúng ta cũng có thể nhận ra các Địa Tạng khác trong các nhà tù ở khắp nơi.

Quán nguyện

Kinh văn

(Một người đọc hoặc bốn người thay phiên nhau đọc, mỗi người một đoạn)

Lạy đức Bồ tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.

*

Lạy đức Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Chúng con xin tập nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến. Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật. Chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới.

*

Lạy đức Bồ tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của Bồ tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống. Chúng con xin nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự. Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho người. Chúng con biết rằng, nếu chúng con siêng năng tu tập thì tự thân chúng con có thể là một nguồn an lạc bất tuyệt cho những người thân yêu của chúng con và cho cả muôn loài.

*

Lạy đức Bồ tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh Bồ tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người.Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới, và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt.Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của đất, để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như đất, và cũng được như đất để có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.

*Lạy đức Bồ tát Thường Bất Khinh, chúng con xin học theo hạnh của Bồ tát, luôn nhìn sâu với con mắt không kỳ thị để thấy được những đức tánh tốt đẹp nơi người khác. Mỗi khi gặp ai Ngài cũng luôn xá chào cung kính và khen ngợi rằng: “Tôi rất kính quý Ngài, Ngài là một vị Bụt tương lai.” Chúng con xin nguyện nhìn sâu vào tự thân để nhận diện những điểm tích cực nơi chúng con, để tự chấp nhận và thương yêu được chính mình. Chúng con nguyện chỉ tưới tẩm những hạt giống tốt nơi chúng con và nơi những người xung quanh, để những tư tưởng, lời nói và hành động của chúng con sẽ có khả năng gây thêm niềm tự tin và chấp nhận nơi chính chúng con, nơi con cháu chúng con và nơi tất cả mọi người. Chúng con xin tập nhìn sâu với con mắt không kỳ thị để thấy niềm vui và sự thành công của người là niềm vui và sự thành công của chính mình. Chúng con nguyện tập hành xử và nói năng với đức khiêm cung và niềm cung kính, nguyện học hạnh ái ngữ để giúp những ai có tự ti mặc cảm thấy được rằng họ cũng là những mầu nhiệm của vũ trụ. Chúng con biết chỉ khi nào chúng con vượt thoát được biên giới ngã chấp thì chúng con mới phá bỏ được mặc cảm hơn người, thua người và bằng người và đạt đến tự do và hạnh phúc chân thật.

Ý nghĩa thực tập lễ lạy

(Phiên tả Pháp thoại ngày 04 tháng 01 năm 1998 tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp)

Nhất tâm kính lễ đức Bụt Thích Ca Mâu Ni.

Cái lạy đầu là lạy đức Bụt Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng ta.

Nhất tâm kính lễ đức Bụt A Di Đà.

Bụt A Di Đà, Amitābha là một vị Bụt được biết tới qua 48 lời nguyện lớn và Bụt A Di Đà là giáo chủ của trung tâm tu học lớn tên là cõi Tịnh độ. Những người nào muốn tham dự vào trung tâm tu học đó chỉ cần gọi tên Ngài với tất cả thân, ngữ và ý. Trong giáo lý sâu sắc của Tịnh độ, Bụt A Di Đà không phải là ai khác ngoài tự tánh sáng chói của mỗi người. Cũng như Tuệ Trung Thượng sĩ đã nói Di Đà vốn thật pháp thân ta. Đức A Di Đà có thể được nhận thức như tự tánh chói sáng, pháp thân của chính mỗi người. Quay về nương tựa đức A Di Đà tức là quay về nương tựa nơi tự tánh chói sáng của tâm ta, quay về nương tựa nơi pháp thân của ta. Trong Công phu chiều thứ Sáu chúng ta sẽ học về kinh A Di Đà và giáo lý Tịnh độ. 

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Đại Bi Quan Thế Âm.

Bồ tát Quan Thế Âm, Avalokiteśvara là chất liệu của sự thương yêu trong mỗi vị Bụt. Lạy Bồ tát Quan Thế Âm là lạy khía cạnh thương yêu trong Bụt Thích Ca, đồng thời cũng lạy khía cạnh thương yêu trong bản thân của chúng ta. Vì trong ta cũng có Bụt, trong ta cũng có Bồ tát Đại Bi Quan Thế Âm. 

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Đại Thế Chí.

Bồ tát Đại Thế Chí, Mahāsthāmaprāpta có khi dịch là Đắc Đại Thế, tức là đạt được thế đứng rất hùng dũng. Chúng ta biết rằng đức Bồ tát Đại Thế Chí là vị Bồ tát có thế đi rất hùng dũng, một bước của Bồ tát làm chấn động mười phương và làm cho ánh sáng chiếu rọi khắp mười phương. Ngài là một cộng sự rất gần gũi với Bụt A Di Đà nên chúng ta thường thấy tượng đức A Di Đà đứng giữa hai vị Bồ tát lớn là đức Bồ tát Quan Thế Âm và đức Bồ tát Đại Thế Chí. Ba Ngài được gọi là Tây phương Tam Thánh (The Three holy people of the West), tức ba vị thánh nhân của phương Tây. 

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương.

Lạy đức Bồ tát Địa Tạng, Kṣitigarbha là tiếp xúc với hạnh nguyện lớn trong Bụt Thích Ca. Trong ta cũng có hạnh nguyện đó, nhưng chưa đủ sức mạnh để biểu hiện. Ta lạy đức Bồ tát Địa Tạng để làm cho hạt giống của đại nguyện trong ta lớn mạnh và đưa ta đi tới.

Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ sư qua các thời đại từ Tây Trúc cho đến Việt Nam.

Cái lạy này giúp chúng ta tiếp xúc với tất cả các vị Tổ sư trong suốt 2.600 năm, từ Tổ sư Ca Diếp bên Ấn Độ, đến các Tổ sư ở Việt Nam, qua các Tổ sư ở Trung Quốc. Cố nhiên trong cái lạy này, chúng ta cũng đang lạy thầy Bổn sư của ta, là vị Tổ sư trẻ nhất của ta.

Đảnh lễ chiều thứ Hai

Nhất tâm kính lễ đức Bụt Thích Ca Mâu Ni.

Nhất tâm kính lễ đức Bụt A Di Đà.

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Đại Bi Quan Thế Âm.

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Đại Thế Chí.

Nhất tâm kính lễ đức Bồ tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương.

Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ sư qua các thời đại từ Tây Trúc cho đến Việt Nam.

Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 08 tháng 01 năm 1998 tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp)

Nguyện ngày an lành, đêm an lành

Ngày đêm sáu thời đều an lành

Chữ an lành ở đây dịch từ chữ cát tường (吉祥). An lành tức là không có tai nạn, tất cả đều tốt đẹp, có những dấu hiệu của sự may mắn, hạnh phúc. Vì vậy cát tường cũng có nghĩa là may mắn, phúc đức, hạnh phúc. 

Ngày đêm sáu thời đều an lành. Một ngày một đêm được chia làm sáu thời, và mỗi thời là bốn giờ đồng hồ. Ngày xưa, vua Trần Thái Tông đã sáng tác nghi thức sám hối gọi là Lục thời sám hối khoa nghi, tức là cứ bốn giờ đồng hồ thì vua làm lễ sám hối một lần. Vua đã thực tập sám hối, làm mới mỗi ngày sáu lần, mỗi lần khoảng 15 phút.

An lành trong mỗi giây mỗi phút

Cầu ơn Tam bảo luôn che chở

Bốn loài sinh lên đất tịnh

Ba cõi thác hóa tòa sen

Bốn loài tức là loài sinh ra bằng thai, bằng trứng, sinh ra từ sự ẩm ướt và loài sinh ra bởi sự biến hóa – noãn, thai, thấp, hóa. Về các loài sinh ra từ sự ẩm ướt – thấp sinh, người xưa tưởng rằng chỉ cần có sự ẩm ướt là tự nhiên các loài ấy sinh ra, kỳ thực phải có sẵn hạt giống thì các loài ấy mới sinh ra được, nếu chỉ có sự ẩm ướt thôi thì không thể sinh ra. Hóa, tức là hóa sinh, sinh ra từ sự biến hóa, tiếng Anh là metamorphose. Bươm bướm là loài hóa sinh vì ban đầu là con sâu nhưng sau thành con bướm. Đất tịnh nghĩa là Tịnh độ. Ba cõi tức là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

Hằng sa ngạ quỷ chứng tam hiền

Vạn loại hữu tình lên thập địa.

Hằng sa tức là nhiều như cát ở sông Hằng. 

Ngạ quỷ tức là loài quỷ đói. 

Tam hiền là thập trú (十住), thập hạnh (十行) và thập hồi hướng (十回向) . 

Thập địa là mười địa mà một vị Bồ tát trải qua trước khi thành Bụt.

Thế Tôn dung mạo như vầng nguyệt

Lại như mặt nhật phóng quang minh

Hào quang trí tuệ chiếu muôn phương

Hỷ xả từ bi đều thấm nhuận

Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni.

Đây là bài ca ngợi đức Thế Tôn. Hình ảnh mặt trăng được sử dụng để nói về dung mạo của Bụt, rất dịu dàng, rất tròn đầy. Hình ảnh mặt trời chiếu sáng rực rỡ khắp thế gian được ví như sự có mặt của đức Thế Tôn. Nơi nào cũng tràn đầy ánh sáng mặt trời,  nơi nào cũng thấm nhuần chất liệu của hỷ, xả, từ và bi. Bài này được dịch từ bài: 

Phật diện do như tịnh mãn nguyệt

Diệc như thiên nhật phóng quang minh

Viên quang phổ chiếu ư thập phương

Hỷ xả từ bi giai cụ túc.

Ngày đêm an lành

Kinh văn

Nguyện ngày an lành đêm an lành

Ngày đêm sáu thời đều an lành

An lành trong mỗi giây mỗi phút

Cầu ơn Tam bảo luôn che chở

Bốn loài sinh lên đất tịnh

Ba cõi thác hóa tòa sen

Hằng sa ngạ quỷ chứng tam hiền

Vạn loại hữu tình lên thập địa.

Thế Tôn dung mạo như vầng nguyệt

Lại như mặt nhật phóng quang minh

Hào quang trí tuệ chiếu muôn phương

Hỷ xả từ bi đều thấm nhuận.

Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni (3 lần).

Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 08 & 11 tháng 01 năm 1998, Làng Mai, Pháp)

Kinh Diệt trừ phiền giận được dịch từ kinh Thủy dụ (水喻經), Taishō 26, kinh số 25 trong bộ Trung A hàm (Madhyama Āgama). Kinh này cũng có trong Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya), chương Năm, phẩm XVII, kinh Āghātapaṭivinaya

Kinh Diệt trừ phiền giận do thầy Xá Lợi Phất nói. Chúng ta sẽ thấy các kinh do thầy Xá Lợi Phất nói cũng hay như kinh do Bụt nói và chúng ta sẽ có niềm tin về sự tiếp nối này. Trong Tam tạng kinh điển, ngoài những kinh do Bụt trực tiếp nói, còn có những kinh khác do các thầy và các sư cô nói ngay trong thời đức Bụt còn tại thế. Điều này chứng tỏ có sự tiếp nối ngay trong thời của Bụt.

Thủy dụ có nghĩa là ví dụ về nước. Có nhiều kinh lấy những hình ảnh gần gũi đời thường làm ví dụ như kinh Xà dụ (ví dụ về con rắn), kinh Nguyệt dụ (ví dụ về mặt trăng). Ở đây thầy Xá Lợi Phất đã lấy nước làm hình ảnh để dạy các sư em của thầy làm thế nào diệt trừ phiền giận. Điều này chứng tỏ rằng vào thời của Bụt, các thầy trong tăng đoàn thỉnh thoảng cũng có giận nhau và không nhìn mặt nhau. Thầy Xá Lợi Phất thấy được điều đó nên đã giảng kinh này để giúp cho các thầy đừng giận nhau nữa. Đây là một kinh rất thực tế, chúng ta phải đọc nhiều lần để có thể học được phương pháp của sư anh Xá Lợi Phất. Thầy vẫn là sư anh của chúng ta.

Ðây là những điều tôi đã được nghe, hồi Bụt còn cư trú trong tu viện Cấp Cô Ðộc, rừng Thắng Lâm, tại thành Xá Vệ.

Hôm ấy, tôn giả Xá Lợi Phất nói với các vị khất sĩ:

“Này các bạn đồng tu, hôm nay tôi muốn chia sẻ với các vị về năm phương pháp diệt trừ phiền giận. Xin các bạn lắng nghe và chiêm nghiệm.”

Các vị khất sĩ vâng lời và lắng nghe. Tôn giả Xá Lợi Phất nói:

“Năm phương pháp diệt trừ phiền giận ấy là những phương pháp nào?

“Ðây là phương pháp thứ nhất, này các bạn:

“Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương nhưng lời nói lại dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên biết cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.”

Đây là trường hợp thứ nhất: đối xử với những người mà hành động không dễ thương nhưng lời nói lại dễ thương. 

Chúng ta hãy nhìn trong tăng thân xem thử có người nào như vậy không? Hành động có vẻ không mấy thiện cảm nhưng khi nói thì có những lời dịu dàng, dễ thương. Ít nhất là ta phải thấy được điểm tích cực nơi người kia, khi đó ta có thể dễ dàng tha thứ được những điểm tiêu cực của họ. Thông thường khi chúng ta đã thấy điểm tiêu cực của ai đó, thì tất cả những điểm tích cực của người đó lập tức bị che lấp hết. Đó là nhược điểm chung của tất cả chúng ta. Khi người kia nói hay làm điều gì đó khiến cho ta bực bội thì ta liền bị cái khuyết điểm của người đó tràn lấp tâm tư và ta không còn thấy được những mặt tích cực của người đó, vậy là ta giận, ta buồn rầu, ta đau khổ. Nếu không để cho điều tiêu cực đó lấn áp thì ta vẫn giữ được hạnh phúc và tình thương của ta.

Trong sự thực tập của Làng Mai, chúng ta thường lấy hình ảnh khu vườn làm ví dụ. Khi ra vườn, thấy có một cái cây đang héo, đang chết, ta đừng vì vậy mà buồn khổ. Bởi vì ngoài cây đang héo đó còn có biết bao nhiêu cây khác đang xanh tốt, đang khỏe mạnh, cho ta rất nhiều niềm vui và bóng mát. Vì một cây đang héo mà ta sầu khổ thì rất uổng.

Mỗi người đều là một khu vườn của mình. Anh là khu vườn của tôi. Trong khu vườn ấy có vài cây đang héo, nhưng không phải vì thế mà tôi ghét bỏ anh, tôi không quý trọng anh. Bí quyết của sự diệt trừ phiền giận ở đây là làm thế nào để những điểm tiêu cực không che lấp hết tất cả những điểm tích cực của người kia. Có che lấp hay không là do ta vì những điểm tích cực của người kia vẫn còn y nguyên. Do ta tiếp xúc với những điểm tiêu cực của người kia nên tâm tư bị bít lấp và ta không thấy được điểm tích cực của người đó nữa. Sau này, khi người đó qua đời hoặc rời tăng thân này rồi thì từ từ ta mới thấy được rằng sự có mặt của người đó rất dễ chịu đối với ta. Vậy mà trong thời gian người đó ở với ta thì ta đã không dễ thương với người đó, ta đã không biết tận hưởng những cái tích cực của người đó. 

Ví dụ mà thầy Xá Lợi Phất đưa ra cũng thuộc về nước. Thầy nói:

“Này các bạn tu, ví dụ có một vị khất sĩ tu theo hạnh a lan nhã, ưa mặc y phấn tảo, một hôm đi qua một đống rác bẩn có phân, nước tiểu, nước mủ và các thức dơ dáy khác, trông thấy một tấm vải còn lành lặn. Vị ấy dùng tay trái cầm miếng vải lên và lấy tay phải căng nó ra. Thấy miếng vải chưa bị rách thủng mà cũng không bị phân, nước tiểu, nước mủ và các chất dơ bẩn khác dính vào, vị ấy liền xếp miếng vải lại, cất lấy, đem về nhà để giặt sạch và may chung với các tấm vải khác làm y phấn tảo.”

A lan nhã là nơi rừng vắng. Y phấn tảo tức y bá nạp, nghĩa là lượm những miếng vải đem về giặt sạch và may lại thành y để mặc. Khi đi ngang qua thấy một miếng vải khá tốt, thầy đó dùng tay trái cầm miếng vải lên và lấy tay phải căng nó ra và nhận thấy rằng miếng vải này còn tốt, thầy liền nghĩ đến nước. Miếng vải này chưa bị dính phân, nước tiểu, và dầu có dính sơ sơ cũng không sao. Chỉ cần đem về giặt sạch là mình có thể để dành, góp với miếng vải khác để may thành y phấn tảo. Cho nên vị thầy này trân trọng xếp miếng vải đó cất đi, đem về giặt sạch để dành may y phấn tảo. Chúng ta cũng vậy. Khi tiếp xử với một người nào mà thấy người đó có phần tốt thì ta phải giữ phần tốt lại. Vì ta có thể sử dụng phần tốt của người đó. Nếu ta biết cách sử dụng thì sự có mặt của người đó sẽ mang lại yếu tố tích cực cho ta. Không phải vì người đó có vài khuyết điểm mà ta đẩy họ ra khỏi đoàn thể ta. Ta nói người này không được ở đây, phải cho người này đi ra khỏi đoàn thể mình càng sớm càng tốt. Làm như vậy là ta đang không áp dụng theo phương pháp của thầy Xá Lợi Phất. Ở Á Đông, người ta thường nói: Dụng nhân như dụng mộc (dùng người cũng như dùng gỗ). Bất cứ miếng gỗ nào dù lớn, nhỏ, vuông, tròn, nếu ta biết cách sử dụng thì miếng gỗ đó cũng có ích lợi. Trong tăng thân có một người nào đó có những khuyết điểm, và ngoài những khuyết điểm đó vẫn có ưu điểm, nếu ta biết cách thì ta vẫn thừa hưởng được ưu điểm của người đó. Đó là phương pháp đầu tiên.

“Cũng như thế, này các bạn tu, khi có một người mà hành động không dễ thương nhưng lời nói còn dễ thương thì ta hãy đừng để tâm nghĩ tới hành động của người ấy mà chỉ nên chú ý tới lời nói dễ thương của người ấy, để có thể dứt trừ sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy.” 

Chúng ta cũng nên thực tập như vậy khi sống trong tăng thân. Ta có thể sử dụng cuốn tập, ngòi bút và ngồi xuống quán chiếu một người nào đó trong tăng thân. Ta quán chiếu để thấy được những điểm yếu, những cái không dễ thương của người kia. Ta không nhắm mắt trước những cái tiêu cực và không dễ thương. Ta có quyền nhìn thẳng những cái không dễ thương và tiêu cực. Chúng ta phải chép xuống rõ ràng nhưng sau đó phải có can đảm, thiện chí nhìn vào những điểm tích cực của người đó. Chúng ta phải viết xuống, viết cho hết, viết cho đủ. Người đó tuy có những khuyết điểm nhưng vẫn còn những điểm dễ thương này. Những điểm dễ thương này có thể nuôi dưỡng mình và làm đẹp cho tăng thân. Ta phải học như thế nào để thấy và trân quý được những cái dễ thương của người đó. Ta phải viết ít nhất một trang hoặc hai trang về người đó. Nếu quả thật ta có tâm chí muốn xây dựng tăng thân thì ta phải quán chiếu những người chung sống trong tăng thân. Ta phải thấy được tất cả những điểm tích cực cũng như tiêu cực của người đó. Đó là ta quán chiếu bằng con mắt và trí tuệ của ta. Và bên cạnh ta còn có sư em, sư anh của ta. Người sư anh, sư em cũng làm công việc đó. Có thể họ sẽ thấy những cái mà ta chưa thấy được. Ta mời sư em tới và nói: “Anh quán chiếu và thấy như vậy: A có những đặc tính này, khuyết điểm này, ưu điểm này,… Riêng em thì em thấy như thế nào?” Khi đó người sư em sẽ nói em thấy những điểm như thế này, như thế này,… Hai anh em cùng chia sẻ tuệ giác cho nhau, nhờ vậy ta có những cái thấy sâu sắc hơn về người kia. Nếu ta tiếp tục như vậy với những sư em, sư chị khác thì tự nhiên cái thấy của ta đầy đủ hơn. Và mỗi khi ta có vấn đề hay gặp đau khổ với người đó, ta về đọc lại những trang giấy đã viết trước kia, ta thấy: “À, người đó có những khuyết điểm này, nhưng vì những lý do này, vì lý do kia mà người đó nói năng hay hành xử như vậy. Ngoài những khuyết điểm này người đó cũng có những ưu điểm rất quý cho mình và cho tăng thân. Ta không được quên những điều ấy.” Ta thực tập nhìn người đó như nhìn một khu vườn. Có một vài cây héo úa, chết khô nhưng cũng có rất nhiều cây đang mạnh khỏe, tươi xanh. Nửa giờ đồng hồ ngồi chiêm nghiệm và đọc lại những ghi chép cũ đã giúp ta bớt khổ rất nhiều. Tại sao ta không làm?

Chúng ta nên biết rằng các bác sĩ hành nghề ở ngoài họ có hồ sơ của từng bệnh nhân, tình hình tim, gan, máu,… như thế nào. Đó là nghề nghiệp để lấy tiền kiếm sống. Còn chúng ta đang xây dựng tăng thân và chúng ta biết rằng nếu tăng thân có hạnh phúc thì sẽ làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người. Ta cũng phải có hồ sơ của từng sư anh, sư chị, sư em của mình. Ta phải nương tựa vào tuệ giác của những người trong chúng để cho hồ sơ đó được đầy đủ. Và mỗi khi ta có khó khăn, buồn phiền về một sư anh, sư chị, sư em , ta có thể đọc lại hồ sơ người đó để thấy rõ hơn. 

Trường hợp thứ hai cũng tương tự như trường hợp thứ nhất. 

“Ðây là phương pháp thứ hai, này các bạn:

“Nếu có một ai đó mà lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên biết cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

“Này các bạn tu, ví dụ như cách thôn xóm không xa có một hồ nước sâu nhưng mặt nước lại bị rêu cỏ che lấp. Lúc bấy giờ có một người đi tới gần hồ, tự thân đang bị sự đói khát và nóng bức hành hạ. Người ấy cởi áo để trên bờ hồ, nhảy xuống, dùng hai cánh tay khoát rêu cỏ ra và khoan khoái mặc tình tắm rửa và uống nước mát dưới hồ. Cũng như thế, này các bạn tu, khi có một người mà lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương thì ta hãy đừng để tâm nghĩ tới lời nói của người ấy mà chỉ nên chú ý tới hành động dễ thương của người ấy thôi để có thể dứt trừ sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy.”

Đây là trường hợp thứ hai: đối xử với những người mà lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương. 

Khi đọc kinh thỉnh thoảng chúng ta thấy Bụt là một thi sĩ, và ta thấy trong kinh này thầy Xá Lợi Phất cũng là một thi sĩ, thầy dùng hình ảnh rất đẹp. Hãy tưởng tượng người sư anh, sư chị, sư em của mình là một hồ nước trong và có khi mình cần đến hồ nước đó. Tuy là trên hồ nước có rác, rêu, bèo nhưng dưới lớp bèo đó là cả một hồ nước trong mát. Đừng vì những thứ rác, rêu, bèo đó mà ta không thấy được giá trị của người kia. Người kia đôi khi có tính bộp chộp, nóng nảy, hay tuyên bố những câu không có trách nhiệm, thỉnh thoảng nổi cơn nhưng đó chỉ là những rơm rác phủ lên mặt hồ. Nếu biết khám phá thì ta thấy người kia cũng là một hồ nước trong, mát và nếu tăng thân biết cách chăm sóc người đó thì tăng thân có thể thừa hưởng rất nhiều từ người đó. 

Chúng ta hãy nhìn lại xung quanh để xem ta có sư anh, sư em, sư chị nào như vậy không. Có một ít rác, rơm phủ trên mặt nước, nhưng phía bên dưới là cả một hồ nước rất sâu, rất mát. Ta chỉ cần khoát những cái rơm rác đó ra thì tha hồ rửa rau, tắm giặt. Ta hãy theo phương pháp của thầy Xá Lợi Phất, ghi vào sổ những người nào được xem là hồ nước trong với một ít rơm rác ở trên mặt. Mỗi khi người đó lộ ra những khuyết điểm, ta không giận dữ, ta không còn có ý tưởng đẩy người ấy ra khỏi tăng thân. Hễ có một chút khó khăn là tìm cách đẩy người ta ra khỏi tăng thân thì rốt cuộc chỉ có một mình ta ở lại tăng thân thôi. Có những đạo tràng rất đông người tu học, luôn luôn có tới 500 thầy hoặc 500 sư cô. Đi khoảng mười năm về ta cũng thấy 500 thầy, 500 sư cô. Nhưng nhìn cho thật kỹ sẽ thấy không phải cùng 500 vị ban đầu đó. Trong thời gian mình đi 10 năm có thể chỉ còn một số thầy cũ thôi và phần lớn là những người mới. Như vậy cũng không hay lắm. Hễ ai có những lỗi lầm hay khó chịu gì thì bị đẩy đi hết, rồi nhận người mới vào, thì tuy rằng luôn luôn có 500 người, nhưng 500 người đó không phải là một tăng thân như mình ước muốn. Tăng thân như mình ước muốn là không cần phải đẩy ai ra khỏi hết và mình có thể giúp được cho mọi người, từ người dễ cho tới người khó. 

Ở Đạo tràng Mai Thôn, chúng ta không sử dụng luật pháp để trừng trị, tẫn xuất mà chúng ta chỉ sử dụng những phương pháp giúp người kia chuyển hóa được những yếu kém của mình để có thể ở lại và đóng góp phần tích cực của mình cho tăng thân. Nếu chúng ta sử dụng theo phương cách đẩy người ta ra khỏi tăng thân mỗi khi họ có lầm lỗi thì cho dù Đạo tràng Mai Thôn vẫn luôn có đông người nhưng họ không phải đều là những người cũ. Cái hay là làm sao cho những người cũ ở lại được với chúng ta, hoặc đại đa số là còn ở lại. Cho nên khi thấy một đạo tràng sau 10 năm hay 20 năm vẫn có 500 người ta cũng đừng bị lóa mắt, nhìn kỹ sẽ thấy có những người bị đẩy đi rồi người mới được thay vào. Tuy là có số đông như vậy nhưng phẩm chất của sự thực tập chưa được cao. Và nếu chúng ta muốn tăng thân có phẩm chất cao thì ta phải thực tập theo phương pháp của thầy Xá Lợi Phất. Ta phải thấy rằng che lấp dưới những khuyết điểm đó còn rất nhiều ưu điểm. Nếu tăng thân biết cách thì vẫn có thể thừa hưởng được.

“Ðây là phương pháp thứ ba, này các bạn:

“Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ phiền giận ấy đi.

Đây là trường hợp thứ ba: đối xử với những người mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút dễ thương. 

Đây là trường hợp của rất nhiều người. Vì những người này từ khi sinh ra cho đến khi lớn lên đi học, họ chưa bao giờ gặp được điều kiện thuận tiện nên những hạt giống tốt trong tâm chưa được tưới tẩm, chưa được phát triển, dẫn đến lời nói và hành động đều không dễ thương. Nhưng dù vậy trong lòng người đó vẫn còn những hạt giống tốt. Và nếu ta biết cách thì ta sẽ làm cho những hạt giống tốt trong con người đó được phát triển, từ từ những sự dễ thương từ lời nói và hành động được phát hiện ra, làm được như vậy thì mới hay. Còn nếu thấy người đó nói không dễ thương, hành động không dễ thương mà đuổi người đó đi thì tội nghiệp cho người đó và ta cũng không có cơ hội để thực tập. Ta thực tập như thế nào để tưới tẩm những hạt giống tốt của người đó – những hạt giống chưa bao giờ được tưới tẩm trong thời thơ ấu, và tưới tẩm như thế nào để một buổi sáng nọ người đó nói được một câu và phát ra một hành động rất dễ thương thì hoa trái đó là phần thưởng cho mình và cho tăng thân. Hoa trái đó là công trình của ai nếu không phải là công trình của mình, của tăng thân! Và ai sẽ thừa hưởng hoa trái đó? Mình và tăng thân sẽ thừa hưởng.

Đây là trường hợp thứ ba, dù cho hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương nhưng trong tâm có hạt giống dễ thương. Người đó sở dĩ như vậy là vì không có may mắn được cha mẹ, anh em hay xã hội tưới tẩm những hạt giống tốt trong đời. Bây giờ người đó có được một cơ hội, có thể là cơ hội cuối cùng, đó là nhờ tăng thân. Nếu tăng thân có hiểu biết, thương yêu và tăng thân tưới tẩm được những hạt giống tốt thì người đó có cơ hội đầu tiên hay cơ hội cuối cùng để có thể nói được một câu dễ thương, làm được một hành động dễ thương và như vậy ta cứu được người đó. Và sự thực tập của ta cũng được Bụt và thầy Xá Lợi Phất khen ngợi. Một người chưa bao giờ nói được một lời hay làm được một hành động dễ thương, ấy vậy mà khi tới thực tập với chúng ta một thời gian, họ đã nói ra được một câu dễ thương, đã làm được một hành động dễ thương, chuyện này đã xảy ra. Thử hỏi đó không phải là một phần thưởng quý giá cho chúng ta hay sao? Hơn nữa, thân nghiệp và khẩu nghiệp chỉ là cành lá phía trên, chính ý nghiệp mới là gốc rễ. Nhìn vào tâm của người đó và thấy được trong tâm của người đó còn có những hạt giống tốt, nhận diện và tưới tẩm những hạt giống đó thì có thể một tuần, hai tuần, hay một tháng, hai tháng, người đó bắt đầu làm và nói ra được một câu dễ thương. Tăng thân sẽ hào hứng, phấn khởi, hân hoan, thấy rằng phương pháp của Bụt để lại rất mầu nhiệm và chúng ta có thể tiếp nối được công trình của Bụt. 

“Ðây là phương pháp thứ ba, này các bạn:

“Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

“Này các bạn tu, ví dụ có một người đi tới một ngã tư kia, kiệt sức, khát nước, thiếu thốn, nóng bức và phiền muộn. Tại ngã tư ấy có một lỗ chân trâu, trong ấy còn đọng lại một ít nước mưa. Vị này nghĩ: ‘Mặc dù nước trong lỗ chân trâu ở ngã tư đường này rất ít, nhưng nếu ta dùng tay hoặc lá cây để lấy thì ta sẽ có thể quấy cho nó đục ngầu lên và sẽ không uống được, do đó sẽ không thể trừ bỏ được sự khát nước, thiếu thốn, nóng bức và phiền muộn trong ta. Vậy ta hãy quỳ xuống, tay và đầu gối áp sát đất, dùng miệng mà uống nước trực tiếp.’ Người ấy liền quỳ dài xuống, tay và đầu gối áp sát đất, đưa miệng vào lỗ chân trâu mà uống. Cũng vậy, này các bạn tu, khi thấy một ai đó mà hành động không dễ thương và lời nói cũng không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút ít sự dễ thương, thì ta hãy đừng nên để tâm nghĩ tới hành động và lời nói không dễ thương của người ấy, mà hãy nên chú ý tới chút ít dễ thương còn có trong tâm người ấy thôi để có thể dứt trừ được phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy.”

Hình ảnh nước trong lỗ chân trâu là hình ảnh tuyệt vời nhất của kinh này, còn đẹp hơn hình ảnh của hồ nước trong mà ta sẽ học ở phương pháp thứ năm. Chúng ta hãy tưởng tượng có những người sống trong khung cảnh không có tình thương hoặc họ tin rằng không có ai thương họ cả. Những người đó lẽ tất nhiên rất đau khổ, rất khao khát tình thương. Một nhà văn Pháp, tên Jean-Paul Sartre đã nói: “Con người là chó sói của con người”. Ta sống và được bao bọc bởi những con chó sói đội lốt người. Chúng ta không nghĩ như vậy, nhưng trong xã hội đã có những người nghĩ như vậy. Chúng ta sống sao nổi với ý niệm đó. Có những người được thương, nhưng không biết là mình được thương. Những người đó phải thực tập để thấy rằng mình sai lạc. 

Hồi còn nhỏ, tôi có đọc một truyện tiền thân của đức Thích Ca. Khi đó Ngài đang bị trừng phạt làm một con quỷ đói dưới địa ngục và đang bị những tên giữ ngục đầu trâu mặt ngựa hành hạ, bắt phải nuốt những viên sắt nóng. Con quỷ ấy thấy những tên đầu trâu mặt ngựa hành hạ những con quỷ đói khác nên phát sinh một niềm thương xót và muốn can thiệp. Nó nói: “Ông ơi! Tại sao ông hành hạ chúng nó tàn nhẫn như vậy? Xin ông hãy nương tay một chút.” Nghe quỷ đói nói như vậy, tên lính đầu trâu mặt ngựa giận quá, quay lại dùng chĩa ba thọc vào bụng con quỷ đói. Con quỷ đói này chết ngay và nhờ công đức dám can thiệp kia, đã tái sinh lại làm người. Từ đó trải qua nhiều kiếp tu hành, người này chỉ đi lên và cuối cùng thành Bụt Thích Ca. Chúng ta thấy đức Thích Ca đã từng bị đọa đày ở dưới đáy của địa ngục. Còn chúng ta hiện nay có người tự cho là đang ở trong địa ngục, nhưng địa ngục của chúng ta vẫn còn có nhiều tiện nghi. Câu chuyện này có hai điểm hay: Thứ nhất, dù ở dưới đáy tận cùng của sự đau khổ, chúng ta vẫn có cơ hội để đi lên. Thứ hai, ở dưới tận cùng của địa ngục vẫn còn có tình thương. Chúng ta đừng tưởng rằng xung quanh chúng ta không có tình thương, chẳng qua là chúng ta quá u mê chưa tiếp xúc được mà thôi. Chúng ta cũng đừng tưởng trong con người chúng ta không có tình thương. Chúng ta có tình thương, nhưng vì hạt giống đó không được tưới tẩm nên chưa biểu hiện rõ ràng mà thôi.

Trường hợp thứ ba mà thầy Xá Lợi Phất nói là trường hợp một người mà thân nghiệp không dễ thương, khẩu nghiệp không dễ thương, chỉ còn sót lại trong tâm (ý nghiệp) một ít dễ thương mà thôi. Điều này rất đúng, bởi vì nếu ý nghiệp dễ thương thì thế nào cũng biểu hiện qua lời nói và hành động. Trong tâm chỉ còn sót lại một chút dễ thương, tức là hạt giống dễ thương còn quá bé cho nên không biểu hiện ra lời nói và hành động. Nếu chúng ta không biết quán chiếu thì khó mà thấy được chút dễ thương kia. Trong kinh Bhaddāli, kinh thứ 65 Trung bộ kinh, đức Thế Tôn dạy rằng: Ví dụ có một người bị hư một con mắt, nếu người đó và những người xung quanh không biết chăm sóc con mắt còn lại thì anh ta sẽ bị mù hẳn. Trường hợp thứ ba của thầy Xá Lợi Phất cũng giống như ví dụ này của Bụt. Chúng ta phải quán chiếu và chăm sóc người mà hành động và lời nói đều không dễ thương để người đó đừng mất luôn chút thiện căn còn lại trong tâm. Lẽ tất nhiên với những ai phạm giới hoặc từng gây khó khăn trong chúng thì ta phải giúp người đó chuyển hóa, nhưng giúp như thế nào để họ giữ được một chút thiện căn còn lại. Trường hợp này phải khéo léo giống như người đi đường bị khát nước, phải hết sức khôn khéo mới uống được nước trong lỗ chân trâu. Đoạn kinh này rất hay và chúng ta phải nhớ đời hình ảnh nước trong lỗ chân trâu. Bây giờ, chúng ta không phải là du tăng đi bộ từ nước này sang nước nọ, nhưng ngày xưa các thầy phải đi bộ từ nơi này sang nơi khác, dọc đường bị khát, không có suối, không có khe và phải uống nước trong lỗ chân trâu. Thầy Xá lợi Phất dùng hình ảnh có thật lấy từ kinh nghiệm của các thầy.

Đây là phương pháp thứ tư, này các bạn: Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một chút gì gọi là dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận kẻ đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

Đây là trường hợp thứ tư: đối xử với những người mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một chút gì gọi là dễ thương.

Đây là trường hợp của một người mà cả ba nghiệp thân, khẩu, ý đều xấu hết. Trường hợp này rất ít xảy ra. Khi chúng ta học tâm lý học đạo Bụt thì ta biết rằng người nào cũng có hạt giống thiện và bất thiện. Có thể những hạt giống thiện chưa được tưới tẩm và ta không thấy nhưng không có nghĩa là không có. Chúng đang bị che lấp, bị phủ kín bởi những tầng lớp khổ đau, phiền não nhưng kỳ thực là có tồn tại. Trường hợp này có thể là không có, nhìn thì ta không thấy nhưng chắc chắn trong tâm vẫn còn những hạt giống tốt đang bị che lấp. Nếu nhìn bằng con mắt của người thường, ta sẽ thấy trong ba nghiệp hoàn toàn chỉ có những điểm tiêu cực mà không có điểm tích cực nào cả. Nếu biết nhìn bằng con mắt của Bụt, Bồ tát thì ta sẽ thấy cái nhìn đó chưa phải là cái nhìn sâu sắc lắm. Ta phải nhìn kỹ để thấy được những hạt giống thiện ở trong đó. Tại vì A lại da thức (tàng thức) chứa đựng cả những hạt giống tốt và những hạt giống xấu. Khi những hạt giống tốt quá nhỏ thì những hạt giống xấu sẽ lớn lên, gần như che lấp hết mọi thứ nhưng không có nghĩa là những hạt giống tốt đó hoàn toàn tiêu hẳn. Theo đúng đệ nhất nghĩa đế là phải như vậy. Một con người cực ác vẫn có hạt giống của bồ đề như thường. Giả sử có một người mà cả thân, khẩu, ý đều xấu, không dễ thương thì ta nên học cách đối xử như trong đoạn kinh này của thầy Xá Lợi Phất. Lòng từ bi là điều đẹp nhất trên thế gian. Lòng từ bi làm cho trái tim của chúng ta rộng mở và thấy được những điều mà những người khác vì không có tình thương nên không thấy được.

 “Này các bạn tu, ví dụ như có một kẻ đi xa, trên con đường dài nửa đường bị bệnh. Khốn đốn, héo hắt, cô độc, không bạn đồng hành, thôn xóm phía sau đã lìa bỏ lâu rồi mà thôn xóm phía trước cũng còn cách đó rất xa, người đó đang lâm vào tình trạng tuyệt vọng, biết mình sẽ chết ở dọc đường. Trong lúc ấy, có một người khác đi tới, thấy được tình trạng này, liền ra tay cứu giúp. Người ấy dìu người kia tới được thôn ấp phía trước, chăm sóc, chữa trị và chu toàn cả về các mặt thuốc thang và thực phẩm. Nhờ sự giúp đỡ ấy mà kẻ kia thoát nạn. Sở dĩ kẻ kia thoát nạn là nhờ ở lòng thương xót và lân mẫn của người này. Cũng như thế, này các bạn tu, khi thấy một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một chút gì có thể gọi là dễ thương hết, thì ta phải phát khởi tâm niệm này: ‘Một người mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà tâm ý cũng không dễ thương là một người rất đau khổ, người này chắc chắn đang đi về những nẻo đường xấu ác cực kỳ, nếu không gặp được thiện tri thức thì người ấy sẽ không có cơ hội chuyển hóa và đi về các nẻo đường hạnh phúc.’ Nghĩ như thế, ta mở được lòng thương xót và lân mẫn, diệt trừ được phiền giận của ta và giúp được cho kẻ kia. Người có trí phải nên thực tập như thế.” 

Đoạn văn này nói lên được cái thấy và cái tình của một vị Bồ tát. Người kia không có một chút gì dễ thương, không có cái gì để cống hiến cho mình cả, không có cái gì để cống hiến cho tăng thân cả. Vị Bồ tát thấy rằng một người mà cả ba nghiệp đều xấu thì rất đau khổ, họ làm sao có được niềm vui. Họ đang tuyệt vọng và lâm vào bước đường cùng, đi tới đâu cũng đau khổ. Nếu ta không phát khởi tâm đại bi để giúp cho người kia thì ai sẽ làm điều đó Cho nên trong bản kinh nói rằng: “Nếu không gặp được thiện tri thức thì người ấy không có cơ hội chuyển hóa và đi về các nẻo đường hạnh phúc”. Chúng ta thử hỏi người thiện tri thức đó là ai? Câu trả lời sẽ là: “Người thiện tri thức đó phải là ta”. Nếu ta không làm thì ai làm? Nếu ta không làm người thiện tri thức đó, nếu ta không làm vị Bồ tát đó thì ai làm cho người kia? Một  người mà lời nói, hành động và trong tâm không còn chút gì gọi là dễ thương thì thử hỏi làm sao người đó có được chút hạnh phúc, làm sao có thể liên hệ được với những người khác, có thể truyền thông được với những người khác? Con người đó là địa ngục, ở trong tâm và ở trong thân. Người đó đang đau khổ vô cùng mà ta còn trừng phạt và đuổi người đó đi thì người đó sẽ đi về đâu? Ai sẽ chăm sóc cho người đó? Nghĩ như vậy mà phát tâm bất xả, nghĩa là không buông bỏ, cố gắng tìm mọi cách để giúp được cho người đó. Chỉ có các vị Bồ tát lớn mới làm được chuyện này. 

Bản kinh này cho chúng ta biết rằng không có trường hợp nào là trường hợp tuyệt vọng. Dù trường hợp của người kia khó tới mức nào đi nữa thì ta vẫn có thể thực tập và giúp được người đó. Hiện nay trên thế giới có biết bao nhiêu người đang ở tù vì ba nghiệp của họ không thanh tịnh. Người ta nghĩ rằng nhốt họ lại, trừng phạt họ là phương pháp duy nhất, nhưng Phật pháp không phải là con đường của sự trừng phạt hay giam cầm, càng không phải là con đường của sự loại trừ. Phật pháp là con đường của sự chuyển hóa.

Nếu trong tăng thân có những trái tim lớn thì chúng ta có nhiều khả năng giúp được một người, hai người hay ba người như thế. Trừ khi tăng thân yếu, tăng thân không có đủ hạnh phúc, không có đủ tuệ giác, không có đủ tình thương thì chúng ta mới không thể ôm ấp được một, hai, ba người như thế. Có khi chúng ta chỉ có khả năng ôm được một người, nhưng khi ôm thêm một người thứ hai nữa thì chúng ta đuối sức, tăng thân rã bè hết, đó là vì tình thương, tuệ giác và sự kiên nhẫn của chúng ta chưa đủ. Vì vậy sự thực tập của chúng ta là mở rộng được tuệ giác, mở rộng được tình thương, mở rộng được sự kiên nhẫn để có thể làm được điều mà thầy Xá Lợi Phất nói trong đoạn kinh này. Cố nhiên, người có thể làm được theo lời thầy Xá Lợi Phất thì không nhiều, nhưng trên thế gian vẫn có những người có thể làm được như vậy. Những tăng thân có thể bao dung được, ôm ấp được một người như vậy tuy là không có nhiều nhưng trên thế gian này thế nào cũng có một, hai, ba tăng thân làm được công việc ấy. Thành công được một trường hợp như vậy chứng tỏ rằng giáo lý của đức Thế Tôn là một giáo lý có thể cung cấp được cho ta câu trả lời trước những trường hợp cực kỳ khó khăn và gay cấn.

“Ðây là phương pháp thứ năm, này các bạn:

“Nếu có một ai đó mà hành động dễ thương, lời nói cũng dễ thương mà tâm ý cũng dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận hoặc ganh ghét với kẻ đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

“Này các bạn tu, ví dụ cách ngoài thôn xóm không xa có một cái hồ thật đẹp, nước hồ đã trong lại ngọt, đáy hồ sâu mà bằng phẳng, bờ hồ đầy đặn, cỏ xanh mọc sát quanh hồ, bốn phía cây cối xanh tươi cho nhiều bóng mát. Có một kẻ kia đi tới bên hồ, khát nước, phiền muộn, nóng bức, mồ hôi nhễ nhại. Người ấy cởi áo để trên bờ hồ, nhảy xuống, khoan khoái mặc tình tắm rửa và uống nước; tất cả những nóng bức, khát nước và phiền muộn của mình đồng thời tiêu tán hết. Cũng vậy, này các bạn tu, khi thấy một người mà hành động dễ thương, lời nói dễ thương mà tâm địa cũng dễ thương thì ta hãy nên nhận diện tất cả những  sự dễ thương của người ấy về cả ba mặt thân, khẩu và ý mà đừng để sự phiền giận hoặc ganh ghét xâm chiếm ta. Nếu không biết sống hạnh phúc với một người tươi mát như thế thì mình thực không phải là một người có trí tuệ. 

Đây là trường hợp thứ năm: đối xử với những người mà hành động dễ thương, lời nói cũng dễ thương mà tâm ý cũng dễ thương.

Phương pháp thứ năm hay quá. Đôi khi giận hờn xảy ra là do ganh tị, vì thấy người kia cái gì cũng dễ thương hết. 

Chúng ta quán sát lại tăng thân của mình để coi có năm hạng người mà thầy Xá Lợi Phất nói tới hay không. 

Chúng ta hãy nhìn kỹ lại mình, tăng thân của mình và đặt mình vào một trong năm trường hợp trên. Ta muốn mình thuộc trường hợp nào? Cố nhiên là ta muốn làm trường hợp thứ năm phải không? Nếu ta có chí hướng thì ta phải thực tập theo kinh này. Ai thực tập cũng muốn thành công. Muốn cho Phật pháp có tương lai thì ta không thể nào làm một giọt nước nhỏ mà phải làm một dòng sông, muốn làm dòng sông thì phải tu tập để xây dựng tăng thân. Cách xây dựng tăng thân hay nhất là sống hòa hợp và hạnh phúc với tăng thân. Cụ thể là phải biết điều phục cơn giận của mình, phiền não của mình đối với những người trong tăng thân. Những ai là người có chí lớn thì phải thực tập theo năm phương pháp của thầy Xá Lợi Phất.

Kinh này rất hay. Tuy vậy chúng ta cũng có thể bổ túc sự thực tập của chúng ta đối với kinh này. Phương pháp của thầy Xá Lợi Phất là khi ta tiếp xúc với phần tiêu cực của một người nào đó thì đừng quên phần tích cực của họ, đừng bị kẹt vào phần tiêu cực của họ. Nếu người đó chỉ có phần tiêu cực thì ta hãy phát khởi lòng từ bi (trường hợp thứ tư). Còn nếu người đó chỉ có phần tích cực thì ta phải biết thừa hưởng (trường hợp thứ năm), chứ đừng ganh tị. Thầy Xá Lợi Phất dùng ba nghiệp (thân, khẩu, ý) làm tiêu chuẩn và chia ra năm trường hợp:

Thứ nhất, thân hành tiêu cực nhưng khẩu hành tích cực – Miếng vải tốt trong đống rác

Thứ hai, khẩu hành tiêu cực nhưng thân hành tích cực – Hồ nước có rơm rác trên mặt

Thứ ba, thân hành và khẩu hành tiêu cực, nhưng ý hành lại tích cực – Nước mưa trong lỗ chân trâu

Thứ tư, cả ba nghiệp đều tiêu cực – Người sắp chết khát

Thứ năm, cả ba nghiệp đều tích cực – Hồ nước trong

Bây giờ chúng ta tóm tắt lại năm trường hợp trong kinh: 

1. Trường hợp thứ nhất là lời nói dễ thương nhưng hành động không dễ thương. Trong trường hợp này, thầy Xá Lợi Phất dùng hình ảnh của một tấm vải bị vứt trong một đống rác. Thầy nói rằng tấm vải đó vẫn còn lành lặn, chưa thủng lỗ và chưa dơ lắm thì mình có thể mang về, giặt sạch và cùng với những miếng vải khác may thành một chiếc y.

2. Trường hợp thứ hai là hành động dễ thương nhưng lời nói không dễ thương. Đây là trường hợp một hồ nước có rơm, rác phủ lên mặt nhưng nếu mình cần tắm gội thì mình phải đi xuống hồ, khoát rơm rác đó ra là có thể tắm gội, có thể uống nước.

3. Trường hợp thứ ba là hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương và tâm ý còn rất ít sự dễ thương. Hình ảnh có chút ít nước mưa trong lỗ chân trâu là hình ảnh đẹp nhất trong kinh. Một người trong trường hợp này là một người rất đau khổ. Do đó ta phải làm thế nào để giúp được người đó. Trường hợp này cần hành động rất khéo léo và cẩn trọng vì thầy Xá Lợi Phất nói rằng: Mình là một người đi trên đường xa, sắp chết rồi, khát nước và kiệt quệ. Nước ở đây là nước tình thương. Chỉ còn một chút nước còn lại trong lỗ chân trâu thôi, nếu mình không uống nước đó thì mình chết. Mà muốn uống nước đó thì phải cẩn thận lắm mới được vì nếu mình làm nó vấy bùn lên thì không uống được. Mình phải quỳ xuống, phải nằm úp xuống, rồi đưa miệng trực tiếp vào lỗ chân trâu mà uống nước đó. Uống được thì có thể sống sót. Đó là vấn đề tình thương. Sống sót ở đây tức là làm sao để có thể giúp được người đó. Người đó rơi vào tình trạng thiếu thốn hạnh phúc, thiếu thốn tình thương tới mức nếu không hết sức cẩn trọng thì ta không thể giúp được người đó, người đó sẽ hoàn toàn suy sụp và tuyệt vọng. Do đó, sự thực tập tình thương ở đây là cả một nghệ thuật, cần rất nhiều sự thấu hiểu. Trong khi thực tập như thế này, vì ta thấy được sự thiếu thốn tình thương nơi người kia nên sự phiền giận trong mình không còn nữa – đó là điều lợi lạc trước nhất cho mình. Khi người kia thấy ta đối xử được như vậy, tình thương ở trong họ lớn lên và dần lấy lại được sự thăng bằng. Đứng về phía người thực tập thì ta vượt qua được sự phiền giận và làm lớn được tình thương nơi mình. Đối với người kia thì họ có một cơ hội để được chấp nhận, để được thương yêu và để có thể phát triển được chất liệu dễ thương ở trong con người họ. Đoạn kinh này rất hay. Vì vậy kinh này được gọi là kinh Thủy dụ. Thủy dụ tức là ví dụ về nước. Hình ảnh sẽ làm cho ta nhớ đời là hình ảnh một ít nước mưa còn lại trong lỗ chân trâu. 

Chúng ta không phải là những du tăng đi bộ từ nước này sang nước khác như ngày xưa, nên chúng ta tưởng đây là chuyện không xảy ra được. Nhưng các thầy ngày xưa đi bộ bằng chân không từ làng này sang làng khác, quận này sang quận khác, nước này sang nước khác và các thầy rất thường gặp trường hợp này, tức là khi không có nước uống thì phải tìm chỗ có nước mà uống. Nhiều khi không có suối, không có khe, chỉ có nước ở trong lỗ chân trâu. Vì vậy hình ảnh này được các thầy kinh nghiệm trực tiếp và truyền lại trong kinh cho chúng ta. 

4. Trường hợp thứ tư là cả thân, ngữ, ý đều không dễ thương. Cả ba đều là dấu trừ hết. Đây là trường hợp mình gọi là extreme. Phương pháp của thầy Xá Lợi Phất rất hay. Để diệt trừ phiền giận ta phải quán chiếu thấy được rằng một người mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương và tâm ý cũng không dễ thương, một người như vậy là một người đau khổ nhất trên đời. Nếu ta không giúp người đó thì người đó không có cơ hội nào nữa hết. Cho nên ta phải phát khởi lòng thương. Nếu phát khởi được lòng thương thì không những ta không còn phiền giận mà người đó cũng có cơ hội được chuyển hóa. Chúng ta thấy rõ ràng trong trường hợp cực kì khó khăn như vậy, sự thực tập vẫn có thể có được. Cũng như trong trường hợp tiền thân của đức Thích Ca ở dưới đáy địa ngục, vẫn có thể thực tập được. Ở một nơi tưởng chừng không có tình thương, vậy mà tình thương vẫn có thể được phát hiện ra từ tâm của mình, và chỉ cần như vậy, mọi thứ đều có thể thay đổi.

Đây là hình ảnh một người kiệt quệ, đi được nửa đường thì ngã sóng soài xuống, thế nào cũng chết vì thôn xóm phía sau đã cách rất xa rồi mà thôn xóm phía trước cũng còn rất xa. Khi một người đi ngang qua thấy như vậy, nghĩ rằng nếu họ không được cứu giúp thì người kia chắc chắn sẽ chết. Người đó đã cúi xuống, xốc người kia lên và dìu người kia đi cho tới khi đến được một xóm làng và ở lại đó trong vài ngày để lo lắng cho người kia phục hồi được sức khỏe trước khi tiếp tục cuộc du hành. Một hình ảnh rất đẹp. Trong ví dụ thứ tư này hoàn toàn không có một chút nước nào cả dù là một chút nước trong lỗ chân trâu. Tức là sự thiếu vắng những cái dễ thương, những hạnh phúc trong đối tượng của mình. Ấy vậy mà thầy Xá Lợi Phất vẫn có thể làm cho tình thương phát sinh ra được, bởi vì nếu tình thương không phát sinh ra được thì mình khổ và người kia cũng khổ. 

Nếu ta có hờn oán, căm thù hay giận hờn một người nào đó thì ta phải lập tức đọc kinh này, rồi liệt người mà ta hờn oán, hận thù đó thuộc vào trường hợp thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, hay thứ năm. Đây là vấn đề của ta chứ không phải là vấn đề của người đó. Vì ta đang bị lửa sân hận oán thù đốt cháy. Đây là vấn đề sống sót của ta, cho nên ta phải đọc kinh này và thực tập. Nếu người kia thuộc trường hợp khó nhất, trường hợp thứ tư, thì ta biết rằng người mà ta đang thù hận, đang căm ghét là người đang đau khổ nhất đời. Người đó đang cần sự giúp đỡ chứ không phải cần sự trừng phạt. Vì trong khi chúng ta giận thì chúng ta chỉ muốn trừng phạt mà thôi. Chúng ta không biết rằng người kia đang đau khổ, và điều mà người kia không cần tới chính là sự trừng phạt, vậy mà chúng ta cứ muốn trừng phạt như thường. Ta quán chiếu cho tới khi nào trong lòng nảy sinh ra ý muốn giúp người kia thì lúc đó sự phiền giận của ta được tiêu tan hết. Và người kia cũng được thừa hưởng. 

Nếu trong đại chúng có người nào cảm thấy có sự phiền giận, căm thù với một người nào khác thì phải lập tức đọc kinh này, phải lập tức liệt người đó vào một trong năm trường hợp và nếu đó là trường hợp thứ tư thì phải quán chiếu như thầy Xá Lợi Phất nói: người này thân, khẩu, ý đều không dễ thương, là người đang đau khổ nhất trên đời mà ta còn giận người đó nữa thì ta là kẻ không có trí tuệ. Nếu ta là một người có lương tri, có tình thương thì đối với những trường hợp này ta phải làm đủ cách để giúp người đó, còn nếu phiền giận và muốn trừng phạt người đó nữa thì ta là một người mất trí, một người không có trí tuệ. Quán chiếu như vậy,tự nhiên ta không còn ý niệm muốn trừng phạt người đó, ngược lại ta muốn làm cho người đó không còn khổ nữa và trong trái tim ta sẽ phát sinh ra một hồ nước, ta thấy nhẹ nhàng, thoải mái, an lạc – đó gọi là thanh lương – Nam mô Bồ tát Thanh Lương Địa. Từ một hầm lửa tự nhiên xuất hiện một hồ sen, hồ sen có mặt là do chúng ta thấy được rằng người kia đang đau khổ cùng cực, nếu ta không ra tay cứu vớt thì người đó sẽ chết. Phương pháp của thầy Xá Lợi Phất rất hay, rất mầu nhiệm. 

5. Trường hợp thứ năm là cả thân, khẩu, ý đều dễ thương, mà mình lại đem lòng giận người đó. Cái giận của ta hoàn toàn do sự ganh tị mà ra. Người mà thân, khẩu, ý đều dễ thương thì được người khác thương. Và khi người đó được người khác thương thì ta sinh tâm ganh tỵ và hờn giận họ, thầy Xá Lợi Phất nói rằng ta là người ngu ngốc nhất trên đời. Người đó là hồ nước trong mát mà mình không biết thừa hưởng còn đi giận. Ai lại  giận một hồ nước bao giờ? Ở đời có những người dễ thương như vậy về thân, về khẩu, về ý mà ta không biết lợi dụng, không biết hưởng thụ mà lại đi ganh ghét và giận hờn người đó thì quả thật ta là người không có trí tuệ. Thấy được như vậy,ì ta cũng trở thành một hồ nước,ta được tắm gội trong hồ nước thanh lương của chính mình và cũng được tắm gội trong hồ nước thanh lương của người mà thân, khẩu, ý đều dễ thương kia. 

Ở trong một tăng thân lớn, sự thực tập của chúng ta là quán chiếu những sư anh, sư chị, sư em của mình và tự thân mình xem mỗi người được liệt vào trường hợp nào trong năm trường hợp. Mình có được liệt vào trường hợp thứ năm hay không. Nếu chưa được liệt vào trường hợp thứ năm thì ta phải thực tập như thế nào để đạt được điều đó, để có thể trở thành một hồ nước trong mát. Trở thành hồ nước trong xanh, ta có được sự tươi mát và hạnh phúc trong ta, và làm suối nguồn tươi mát và hạnh phúc cho nhiều người.

Chúng ta có thể dùng các kinh khác để bổ túc vào kinh này và đưa sự thực tập của chúng ta đi xa hơn.

1. Nếu thấy một người mà ba nghiệp đều tiêu cực thì theo cái nhìn thông thường, ta cho rằng người đó không có giá trị gì cả. Nhưng theo cái nhìn của Bụt và Bồ tát thì ẩn bên dưới những biểu hiện tiêu cực của ba nghiệp thân, khẩu, ý , nằm sâu dưới đáy của tàng thức vẫn còn những điều tốt đẹp. Hễ có ngày thì có đêm, có hoa thì có rác. Tuy đứng về phương diện hình tướng ta thấy cả ba nghiệp đều không có gì dễ thương nhưng ẩn núp phía trong người đó vẫn có tính Bụt, vẫn còn khả năng chuyển hóa thành người dễ thương. 

2. Song song với việc để ý tới phần tích cực của một người, chúng ta cũng phải quán chiếu về phần tiêu cực để thấy rằng người đó đã là nạn nhân của sự trao truyền. Sở dĩ người đó có thân nghiệp, khẩu nghiệp hay ý nghiệp không dễ thương, có thể do một phần hạt giống của tổ tiên để lại. Nhìn sâu ta thấy có thể trong thời thơ ấu, người đó không được sống trong một môi trường tốt. Người đó đã không được cha mẹ hay học đường dạy thương yêu, dạy cách nói lời dễ thương hay hành động dễ thương. Có thể là người đó đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ thường xuyên cãi cọ và làm khổ nhau. Nếu người đó được nuôi dưỡng trong một gia đình mà cha biết săn sóc cho mẹ, mẹ biết dịu ngọt với cha thì tự nhiên người đó cũng sẽ có hành động và lời nói dễ thương. Một con người thường có hành động hay lời nói không dễ thương, nếu được sống trong một môi trường mà ở đó mọi người cư xử và nói năng dễ thương với nhau thì sau vài năm người đó sẽ thay đổi. Người đó không phải cố gắng gì cả, chỉ cần hằng ngày nghe và thấy là đã thay đổi được rồi. Khi trở lại môi trường cũ, người ta sẽ ngạc nhiên thấy người đó sao bây giờ dễ thương quá như vậy. Vì vậy sở dĩ một người mà thân hành, khẩu hành hay ý hành không dễ thương là tại vì người ấy thiếu may mắn trong quá khứ, người ấy đã được trao truyền những hạt giống xấu. Thấy được điều đó rồi tự nhiên ta sẽ hết phiền giận.

Đó là hai điểm mà ta có thể bổ túc vào cho kinh Diệt trừ phiền giận. Chúng ta xây dựng tăng thân bằng cách điều phục tâm mình, điều phục sự hờn giận của ta đối với mọi thành phần trong tăng thân. Chúng ta cũng xây dựng tăng thân bằng cách thực tập uy nghi và chánh niệm. Nếu mỗi ngày ta không nói xấu người khác, nếu mỗi ngày ta bước những bước chân chánh niệm, nếu mỗi ngày ta có sự vững chãi, nếu mỗi ngày ta không hề ganh tị thì tự nhiên ta đã tạo ra năng lượng tốt cho tăng thân. Những người được sống trong môi trường đó chắc chắn sẽ được chuyển hóa. Có thể người đó từ trước đến giờ chưa được sống trong một môi trường tốt, bây giờ tiếp xúc với môi trường lành thiện đó thì tự nhiên thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp của vị đó cũng dễ thương ra. Cho dù ta còn trẻ, nhưng nếu nắm được sự thực tập này thì ta có thể trở thành một vị Bồ tát trẻ ngay trong hiện tại, không trách móc, không giận hờn, không sân si. Bằng cách sống như vậy ta tạo ra môi trường để mọi người được chuyển hóa. Mỗi người trong chúng ta là một viên ngọc. Nếu chúng ta biết mài dũa thì viên ngọc có thể tỏa ánh sáng ra chung quanh, và làm thay đổi môi trường.

Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài

Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi

Con người tu có khác gì

Sống cho tươi mát; sân si hư đời

Hiểu thương chẳng trách móc người

Hiện thân Bồ tát giữa nơi đạo tràng.

“Này các bạn tu, tôi đã chia sẻ với quý vị về năm phương pháp dứt trừ sự phiền giận.”

Sau khi nghe Tôn giả Xá Lợi Phất nói, các vị khất sĩ vui mừng tiếp nhận và hành trì theo.

Chúng ta thấy phần lớn các hình ảnh mà thầy Xá Lợi Phất đưa ra là hình ảnh nước: Từ một hồ nước trong đến một chút nước nhỏ trong lỗ chân trâu. Vì thế kinh này được gọi là kinh Thủy dụ.