Chuyển hóa trong mỗi phút giây

(Phiên tả Pháp thoại ngày 08 tháng 02 năm 1998, tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp) 

Tại Làng Mai, chúng ta thường nói về danh từ chuyển hóa (transformation). Tu là để chuyển hóa những tập khí tiêu cực và những khổ đau trong ta. Nhưng có nhiều khi chúng ta đợi hoài, cố gắng nhiều lắm mà vẫn không chuyển hóa và có thể ta đâm ra nghi ngờ phương pháp thực tập không có hiệu quả. Nhưng chuyển hóa cũng giống như độ chín của trái cây. Thử tưởng tượng, một trái cam mới nhú ra nhỏ bằng đầu ngón chân, chúng ta không thể ép trái cam chín ngay được. Trái cam phải lớn từ từ, có nắng mưa đi ngang qua, đợi tới tháng Bảy, tháng Tám thì mới có thể chín được. Chúng ta cũng vậy, không thể nóng nảy, không thể ép buộc. Chúng ta thực tập trong đời sống hằng ngày cho đàng hoàng thì sự chuyển hóa đó sẽ xảy ra một cách tự nhiên mà không bị gò ép. Nếu chúng ta thúc đẩy, ép buộc quá thì nó có thể hư hoại. 

Có một thiền sinh ở xóm Thượng rất ghét sự chuyển hóa, anh ta nói rằng: “Tôi không cần chuyển hóa, tôi chỉ cần tiếp xúc với tánh Bụt, với bản tánh trong tâm là tôi có hạnh phúc”. Anh ta không cho rằng sự thực tập hàng ngày là quan trọng, ví dụ ái ngữ, hơi thở có chánh niệm hay thiền hành,… Anh ta không hạ thủ công phu, và nghĩ rằng chỉ cần tiếp xúc với bản tâm thanh tịnh thì mọi sự mọi vật sẽ tự hoàn thành. Nhưng vì anh đang ở trong tăng thân xóm Thượng, mọi người đi thiền, thở chánh niệm, ăn cơm im lặng,… nên cố nhiên anh bắt buộc phải làm theo. Tuy không muốn chuyển hóa, nhưng sau một vài tháng anh đã chuyển hóa rất nhiều. Trong một buổi thiền trà, người ta nói rằng anh rất lạ, ai cũng thấy được sự chuyển hóa của anh rất lớn. Anh ta tỏ ra không thích và nói: “Tôi đâu có dính líu đến công việc (business) chuyển hóa của quý vị, tôi có muốn chuyển hóa bao giờ đâu.” Ấy vậy mà sự thật là anh đã chuyển hóa rất nhiều. Có thể là do anh không cố tâm chuyển hóa, không thúc đẩy chuyển hóa nên sự chuyển hóa đó đến một cách tự nhiên.

Chúng ta rút ra bài học từ câu chuyện trên là đừng đè nén, đừng áp bức, đừng gò ép, đừng thúc đẩy sự chuyển hóa quá. (Don’t work too hard for your transformation, allow it to take place naturally). Cũng đừng sử dụng phương pháp khổ sai (hard labor) để đi tới chuyển hóa. Hãy đặt mình vào một khung cảnh thuận lợi để quá trình chuyển hóa từ từ xảy ra một cách tự nhiên. Đừng dùng sức mạnh của vai u thịt bắp mà phải dùng sự thông minh của ta để thực tập. 

Thế Tôn đã dạy ta phải thực tập một cách thông minh trong nhiều kinh điển. Công phu không phải là hành trì một cách mỏi mệt, không phải là làm cho nhiều, cho mạnh, cho hết hơi sức mà làm cho thông minh. Nếu thông minh, chúng ta tốn rất ít hơi sức mà vẫn đạt được kết quả lớn. Nếu không thông minh, chúng ta tốn rất nhiều năng lượng nhưng đem lại kết quả rất ít. Ví dụ chúng ta không biết đường hướng vận hành của tâm mình, để rồi cố gắng quá sức, tự ép mình quá; sau một thời gian khiến ta ngã quỵ hoặc bứt ra và bỏ cuộc. Trong khi đó, nếu ta biết đường hướng vận hành của tâm thức, khéo léo đi theo, nâng đỡ nó thì ta không cần dùng sức nhiều mà vẫn đạt tới những thành quả rất tốt đẹp. Tất cả chúng ta đều có những điểm tiêu cực trong thân cũng như trong tâm và muốn chuyển hóa. Thân ta có thể có những thói quen xấu, những tật bệnh, những nội kết về phương diện thân. Ví dụ chúng ta bị bệnh đường ruột, bệnh tim, nhức đầu, dị ứng, thấp khớp, chóng mặt, huyết áp cao, hay bệnh ung thư,… Những căn bệnh này làm ta khổ sở và chúng ta muốn chuyển hóa, nhưng chuyển hóa bằng cách nào? 

Đứng về phương diện thân, mỗi người có ít nhất một, hai vấn đề muốn chuyển hóa. Chúng ta muốn sức khỏe toàn hảo thì không bao giờ có. Chúng ta phải thông minh, biết rõ bản thân mình bằng những kinh nghiệm đã đi qua trong quá khứ, đừng nghe ai nói nên uống thuốc nào là lập tức uống thuốc đó, điều này có thể làm cho tình trạng sức khỏe xấu đi. Ví dụ khi mùa xuân tới, ta biết ta đau khổ mỗi khi cơn dị ứng nổi dậy. Ta cũng biết rằng có những điều nếu ta chịu khó không làm thì cơn dị ứng sẽ nhẹ hơn và có những điều ta nên làm thì sự đau khổ do dị ứng sẽ vơi bớt. 

Người nào cũng có kinh nghiệm về nỗi đau khổ của mình. Những kinh nghiệm đó ta phải học, phải nhớ, ít ra ta có một ít vốn liếng kinh nghiệm đối với bệnh tật. Nếu quyết tâm dùng sự thông minh để thực tập thì những đau khổ sẽ nhẹ đi một phần rất lớn và ta có thể sống hòa bình, an lạc, thân hữu với chứng bệnh của ta. Có người nói rằng chừng nào chứng bệnh này còn thì tôi không có hạnh phúc. Một là tôi có mặt, hai là bệnh có mặt, chứ không thể nào sống chung được. Đó là những người đau khổ nhất. Vấn đề là ta phải chấp nhận sự yếu kém của thân, chấp nhận và tập sống hòa bình với bệnh. 

Kinh nghiệm trong quá khứ có thể dạy ta nên làm gì, không nên làm gì để có thể sống hòa bình, an lạc với chứng bệnh của ta. Ví dụ vì có bệnh thấp khớp, ta đau nhức vô cùng. Nếu ngây thơ tin tưởng rằng có một thứ thuốc chữa dứt hoàn toàn chứng thấp khớp, điều này có thể làm ta đau khổ, bởi vì ta đang không thể nào có được thứ thuốc đó. Ta phải có những phương pháp sống, biết nên sống ở đâu, không khí ẩm thấp hay khô ráo, nên ăn uống gì, nên tắm giặt như thế nào,… Tất cả những điều đó ta đều đã có kinh nghiệm, ta nên rút ra những kinh nghiệm cho mình và kiên quyết sống theo thì tự nhiên ta ít đau khổ hơn nhiều và có thể sống hòa bình an lạc với căn bệnh. Bệnh đường ruột cũng vậy, ta đã từng đau khổ với căn bệnh này, vậy ta biết nên ăn gì, uống gì, nên kiêng cữ như thế nào. Nếu ta đã thực tập nhịn đói mười ngày hay mười lăm ngày và tình trạng đường ruột của ta chuyển hóa tốt đẹp thì tại sao thỉnh thoảng ta không thực tập như vậy. Do đó, ta luôn cần học từ những kinh nghiệm đã có và áp dụng lại một cách thông minh. 

Chúng ta sử dụng những kinh nghiệm, sử dụng ý chí và biết sử dụng cả tăng thân vì tăng thân có thể giúp ta làm được những điều cần làm. Tăng thân đóng một vai trò rất lớn, có thể tạo ra được một khung cảnh để những người như ta sống và trị liệu, giúp ta thành công dễ dàng hơn. Một bên là tự lợi, một bên là lợi tha. 

Những người bị huyết áp cao cũng vậy, họ biết một số phương pháp, biết chuẩn bị những gì để khi thấy có dấu hiệu của cơn huyết áp cao thì đem hết những thứ đó ra áp dụng. Đời sống và sinh hoạt hằng ngày như thế nào, ăn uống như thế nào, giữ gìn như thế nào,… họ đã có kinh nghiệm và bác sĩ của họ đã cho biết những phương pháp chăm sóc tự thân phù hợp với tình trạng của họ. Phải đặt mình vào tình trạng báo động và có sự yểm trợ của những người trong nhà. Người nhà khi biết ta lâm vào tình trạng báo động sẽ đem hết khả năng để giúp cho ta, không để ta rơi vào biến cố hiểm nguy. 

Về phương diện thể chất, ta có những đau khổ nào, những bất như ý nào, ta phải biết tìm cách sống hòa bình với nó. Ta phải biết cách nắm vững những phương pháp hành trì mỗi khi triệu chứng đó bắt đầu báo động. Cùng với sự yểm trợ của những người xung quanh, ta biết những điều cần làm và không nên làm để dễ dàng vượt qua giai đoạn khó khăn. Khi đã vượt qua được một lần thì ta có niềm tin và không sợ hãi, ta sẽ sống hòa bình, an lạc được với những yếu kém, bệnh tật, nội kết của ta, và lần sau, nếu có dấu hiệu báo động, cứ làm theo đúng phương pháp đã làm, ta sẽ vượt qua thêm lần nữa.  

Không hẳn không có bệnh tật thì ta mới hạnh phúc. Những người bệnh ung thư, hay AIDS cũng có thể sống an lạc, hạnh phúc trong giây phút hiện tại nếu họ biết thực tập những gì cần thực tập và những người xung quanh yểm trợ để họ có thể sống theo đường lối đó. Vì vậy, ta phải nắm cho được pháp môn, đó là sống hài hòa, sống hòa bình, an lạc với bệnh tật của ta. Có nhiều người bệnh ung thư nhưng không chết vì ung thư, mà chết vì nỗi lo sợ, hoặc chết vì những bệnh lặt vặt như bệnh cảm. Khi bị ung thư thì cơ thể trở nên yếu đi, bệnh cảm trở thành nguy hiểm. Do đó, phải giữ gìn sức khỏe đến mức tối đa. Khi cơn cảm đến thì nó không trở thành nặng và không vật ngã ta được. Ta phải biết ăn, uống, nghỉ ngơi cho có điều độ, biết săn sóc thân thể để đừng bị xâm chiếm bởi những tật bệnh nhỏ, nhờ vậy ta có thể sống rất lâu dù có bệnh ung thư. 

Khi có một nội kết trong thân, ta phải tìm hiểu cho thật sâu sắc bản chất của nội kết đó, phải nắm cho được một pháp môn để chăm sóc căn bệnh. Phải có một “cẩm nang chữa trị”, surviving kit, để đem ra thực tập 100% khi cơ thể báo động. Lúc có báo động thì tình trạng có thể trở thành nguy hiểm. Khi cây kim chỉ gần đến lằn đỏ báo động, ta phải chăm lo ngay, đừng để vượt qua mức báo động. Nếu chúng ta không đem cẩm nang chữa trị ra để thực tập, để áp dụng thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng ta, đến hạnh phúc của những người thân trong gia đình và đoàn thể của ta. Sau khi đã viết xuống những điều ta và những người sống chung với ta phải làm để có thể giúp ta vượt qua giai đoạn khó khăn đó thì chúng ta mới yên tâm. Ta phải có một chiến thuật để sống an lạc, hòa bình với căn bệnh của ta. Ta có thể sống rất lâu mà căn bệnh đó không làm gì ta được.

Đứng về phương diện tâm lý cũng vậy, ta có những nội kết, là cơn giận, sự tuyệt vọng, nỗi cô đơn, cơn trầm cảm, uất ức, những giây phút ganh ghét, thù hận,… Những lúc đó ta thấy khó sống quá, muốn nổ tung, muốn bỏ đi, muốn trừng phạt những người thương của ta, hay thậm chí có những ý định điên rồ, muốn tự tử. Những lúc đó nguy hiểm không khác gì khi ta bị tăng huyết áp hay bị trụy tim. Vì vậy, chúng ta phải biết những điểm yếu, những nội kết trong tâm mình. Nó cũng có lằn mức báo động của nó. Những lúc cảm thấy tâm tư bất an, đau khổ và ý thức được cây kim đang chỉ tới lằn đỏ, biết tình trạng có thể trở thành nguy hiểm, ta phải lập tức đem “cẩm nang chữa trị” ra để thực tập. Phép cứu mạng đó do chính chúng ta chuẩn bị sẵn bằng sự thông minh của mình và bằng cách thâu thập những kinh nghiệm đã có trong quá khứ. Trong quá khứ có thể ta và những người sống chung với ta đã lầm lỡ, dại dột để cho tình trạng trở nên tệ hại. Tất cả những kinh nghiệm đó ta phải học và hiểu tường tận để khi cây kim lên tới gần lằn đỏ thì chính ta và những người xung quanh ta sẽ không dại dột lặp lại những lỗi lầm. Nếu cần, ta thay đổi môi trường, xin nhập thất, xin chuyển chỗ ở hoặc thay đổi hoàn toàn nếp sống hằng ngày để có thể chăm sóc tâm mình với sự yểm trợ của những người thương.

Học trong niềm vui

(Phiên tả Pháp thoại ngày 01 tháng 02 năm 1998, tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp) 

Học chữ Hán rất vui. Cách ta học tiếng Hán hay tiếng Pháp tại tu viện không giống như ta học ở trường hay học khoa cử, càng học càng vui, đâu cần phải tiêu hóa gì. Học ở trường là học gạo, học để thi. Ta đâu có học gạo, ta chỉ học chơi thôi, nhưng chính nhờ học chơi cho nên dễ tiếp thu hơn. Ngoài đời có nhiều người học không vào vì học theo cách nhồi nhét. Cách thầy dạy học chữ Hán, học tiếng Pháp là học được chút nào thì hay chút đó và học trong niềm vui. Càng vui chừng nào thì càng thấm chừng đó. Ta học đâu phải để thi. Thầy đọc chính tả chữ Hán để chơi vậy thôi. Học chữ Hán hay tiếng Pháp cũng giống như ta ngồi chơi vậy. Trong khi học có thể có rất nhiều niềm vui, có thể cười, có thể chơi, có thể nuôi dưỡng tình anh em, chị em. Giống như ta đánh cờ hay chơi bóng chuyền vậy, học một giờ chữ Hán hay tiếng Pháp cũng là một giờ vui, cái học này không cần có sự tiêu hóa. Học tiếng Việt cũng thế. 

Thầy dạy Phật pháp cũng vậy, thầy đâu có bắt các con phải học như ở ngoài trường lớp. Học Phật pháp, quý vị ngồi nghe đâu cần ghi chép, thấm được chừng nào thì thấm, thầy không bắt buộc mọi người phải thâm nhập vài “ký lô” những điều được nghe. Ta ngồi đó, mở tấm lòng ra, như đất mở lòng ra đón mưa rơi xuống, thấm được bao nhiêu thì thấm. Vì vậy, cái học của ta, kể cả học Phật pháp, cũng không cần tiêu hóa, cứ mở lòng ra để nó vào được bao nhiêu thì vào. Vấn đề học ở đây không phải là học để tiêu hóa. Học ở đây là chơi thôi. Nếu học được theo tinh thần đó thì ta không cảm thấy bị miệt mài, bị gò bó, ép uổng. Học phải có niềm vui. 

Nghe nói có một hôm sư chị Viên Quang xuống bếp lấy muỗng, chén, vá,… tất cả dụng cụ làm bếp lên, rồi đưa cho cô Ashia và yêu cầu cô dạy “Hãy gọi đúng tên tôi”, cái muỗng thì phải gọi là cái muỗng. Học tiếng Pháp như vậy rất vui và bổ dưỡng. Chữ Hán cũng vậy. Chúng ta đừng coi cái học này là phải học kiểu “đèn sách” ở trường. Phải học chơi mới được. Chính Phật pháp cũng học như vậy chứ đừng nói là những môn khác. Chuyện tu của ta cũng vậy, chúng ta tu chơi thôi, chớ không tu thiệt, và càng tu thì càng vui. Tu như vậy mới thấm. Khi dạy thầy cũng dạy chơi thôi, thầy không dạy thiệt.

Chant du Bonheur

Assis ici dans le moment présent,

Protégés par la Sangha,

Nous réalisons la chance qui est la nôtre

D’être nés humains,

D’avoir rencontré tôt l’enseignement juste

Qui arrose la graine de notre esprit d’amour

Nous réalisons la chance de vivre en harmonie

Au sein d’une communauté de pratique.

L’énergie de la Sangha,

La pratique des entraînements à la pleine conscience

Et des manières raffinées

Nous protègent,

Nous empêchent de commettre des erreurs,

De nous laisser entraîner par le mauvais karma

Vers le chemin des ténèbres

Et nous permettent de suivre,

En compagnie d’amis sains,

La voie de la vérité et de la bonté

Éclairée par la lumière

Irradiant du Bouddha et des bodhisattvas.

En nous, il y a des semences de souffrance,

D’afflictions et d’énergies d’habitude,

Mais aussi notre pleine conscience 

Qui se manifeste souvent, ici et maintenant

Pour nous aider à entrer en contact avec les merveilles

En nous et autour de nous.

Encore intacts, nos six sens sont en éveil.

Nos yeux peuvent encore contempler le bleu du ciel,

Nos oreilles se réjouir du chant des oiseaux,

Notre nez s’emplir des senteurs d’encens,

Et notre langue savourer le goût du Dharma.

Corps et esprit à l’unisson,

Nous sommes vraiment là, assis en paix 

Et avec stabilité avec la Sangha.

Sans Vous, Seigneur Bouddha,

Sans le merveilleux Dharma ou la noble Sangha,

Aurions-nous cette chance

De nous réjouir du bonheur d’aujourd’hui ?

Nous pratiquons tous les jours,

Aussi pour notre famille, nos ancêtres,

Les générations futures et toute la société.

Notre paix et notre joie

Sont le fondement de notre pratique.

Nous faisons le vœu de cultiver

Et de faire grandir ce bonheur chaque jour

Avec la pleine conscience.

En voyant dans la société

Tant de personnes souffrir

Et se noyer dans les cinq plaisirs sensuels,

Dans la jalousie et la haine,

Nous sommes déterminés à pratiquer

Pour transformer nos formations mentales

Telles que l’avidité, la colère et la haine.

Nous nous entraînons à écouter profondément

Et à utiliser des paroles compatissantes

Pour établir la communication avec autrui,

Engendrer la compréhension,

Accepter et aimer.

Tel un bodhisattva,

Nous faisons le vœu de regarder

Tout le monde autour de nous

Avec les yeux de la bonté aimante

Et le cœur de la compréhension.

Nous sommes déterminés à pratiquer l’écoute profonde

Dans un esprit de compassion

Et avec un cœur bienveillant.

Regarder et écouter de cette manière

Est la pratique d’un bodhisattva,

Capable de soulager

La souffrance dans le cœur des autres, 

Et d’apporter la paix et la joie

En lui et autour de lui.

Conscients que ce sont les afflictions et l’ignorance

Qui font de ce monde

Un enfer de feu,

Nous serons déterminés à pratiquer diligemment

Afin de nous transformer,

De rétablir la communication

Et de faire naître la compréhension et l’amour.

Ainsi, nous pourrons bâtir la Terre Pure, ici même.

Même si la vie est impermanente

Et que la naissance, la vieillesse, les maladies et la mort sont là,

Comme nous avons déjà trouvé notre chemin,

Nous n’avons plus peur.

Quel bonheur de vivre

Au sein de la communauté de pratique du Bouddha,

De pouvoir nous engager

Dans les entraînements à la pleine conscience 

Et à la concentration !

De vivre avec stabilité et liberté

Chaque instant de la vie quotidienne !

Quel bonheur de participer directement

A la mission du Bouddha et des bodhisattvas

Et de servir tous les êtres !

En cet instant si précieux,

Débordants de gratitude,

Nous nous inclinons devant vous, Seigneur Bouddha.

Soyez témoin de notre sincérité

Et prenez-nous dans vos bras.

Nourishing Happiness

Sitting here in this moment, protected by the Sangha,

we see how fortunate we are.

We have been born human,

and encountered the Dharma.

The seed of bodhicitta has been watered, 

and we have the conditions to live in harmony in the Sangha.

The energy of the Sangha, the mindfulness trainings, and fine manners

are protecting and helping us not make mistakes,

so that unwholesome action does not take us on dark paths.

With kind spiritual friends, we are on the path of goodness,

illumined by the light of buddhas and bodhisattvas.

Although seeds of suffering are still in us 

in the form of afflictions and habit energies,

mindfulness can always manifest, helping us touch

what is wonderful within and around us.

We are grateful for our six senses:

our eyes that can see the blue sky, 

our ears that can hear the birds singing,

our nose that smells the scent of sandalwood, 

our tongue that tastes the nectar of the Dharma.

Our posture is stable, 

and our mind is one with our body. 

If there were not a World-Honored One,

if there were not the wonderful Dharma,

if there were not the Sangha,

we would not be so fortunate

to enjoy this Dharma happiness today.

We vow to cultivate and maintain our practice,

for our ancestors, family, future generations, and society. 

Our resources for practice are our own peace and joy. 

We vow to cultivate and nourish them by our daily mindfulness. 

In our society countless people are suffering,

drowning in sensual pleasure, jealousy, and hatred.

Aware of this situation, we are determined to practice 

to master the mental formations of craving and anger,

to train to be able to listen deeply and use loving speech 

in order to restore communication and create understanding, acceptance,

and love.

Just like the bodhisattvas, 

we vow to practice looking at everyone around us 

with the eyes of compassion and a heart of understanding.

We vow to listen with a clear mind and ears of compassion,

bringing peace and joy into the lives of others,

to lighten and alleviate the suffering of living beings.

I am aware that ignorance and wrong perceptions

can turn this world into a fiery hell.

I vow to walk always upon the path of transformation,

producing understanding and loving kindness,

and cultivating a garden of awakening.

Although there are birth, sickness, old age, and death,

now that I have a path of practice, I have nothing more to fear.

It is a great happiness to be alive in the Sangha 

and with the practice of mindfulness trainings and concentration,

to live every moment in stability and freedom;

to take part in the work of relieving others’ suffering,

the career of buddhas and bodhisattvas.

In each precious moment, I am filled with deep gratitude.

I bow before the World-Honored One.

Please bear witness to my wholehearted gratitude,

and embrace all beings with arms of great compassion.

Soutra des Huit Réalisations des Grands Êtres

Étant disciples du Bouddha, nous devrions réciter et méditer de tout cœur, jour et nuit, les huit réalisations des grands êtres. 

La première réalisation est la prise de conscience de l’impermanence de la vie. Tout régime politique est sujet au déclin. Tout ce qui est composé des quatre éléments (terre, eau, air et feu) est vide et cause la souffrance. Nous sommes constitués des cinq agrégats et n’avons pas de soi séparé. Dans un processus continuel de changement entre la naissance et la mort, tout est illusoire et nous n’avons pas de souveraineté sur nous-mêmes. En même temps, notre esprit est la source qui engendre nos mauvais actes et notre corps, le lieu où s’accumulent toutes les fautes et les erreurs. En méditant sur ces faits, nous nous libérerons progressivement du cycle des naissances et des morts.

La seconde réalisation est la prise de conscience que plus de désirs génère plus de souffrance. Toutes les misères de la vie quotidienne sont causées par l’avidité. Ceux qui ont peu de désirs sont maîtres de la situation. Corps et esprit détendus, ils sont libres de toutes entraves.

La troisième réalisation est la prise de conscience que, jamais satisfait, notre cœur est toujours en quête de possessions et de popularité, ce qui entraîne un accroissement d’erreurs. En revanche, les bodhisattvas gardent constamment à l’esprit le principe du bonheur dans la sobriété. Ils vivent paisiblement dans la simplicité afin de pratiquer la voie, et considèrent la réalisation de la compréhension parfaite comme leur unique vocation.

La quatrième réalisation est la prise de conscience que l’habitude de la paresse nous jette dans le précipice des échecs. C’est pourquoi nous devrions pratiquer de manière diligente pour vaincre les afflictions, conquérir les quatre Māra et nous libérer de la prison des cinq agrégats et des trois mondes.

La cinquième réalisation est la prise de conscience que l’ignorance nous emprisonne dans le cycle des naissances et des morts ; par conséquent, les bodhisattvas n’oublient jamais qu’il leur faut apprendre sans cesse, acquérir des savoirs, développer la vision profonde et l’éloquence, afin d’aider et d’amener tout le monde au grand bonheur ultime.

La sixième réalisation est la prise de conscience que la pauvreté et la souffrance entraînent la haine et la rancune, ce qui crée encore des semences néfastes. Les bodhisattvas en sont conscients et pratiquent particulièrement la générosité. Ils mettent sur le même plan tous ceux qui les aiment et les haïssent, oublient tout le mal qui leur a été fait et ne rejettent pas ceux qui ont causé du mal aux autres.

La septième réalisation est la prise de conscience que les cinq catégories de désirs : argent, sexe, renommée, bonne chère et abus de sommeil, sont source d’erreurs et de catastrophes. Bien que le moine ou la moniale vive dans le monde, il ou elle ne se laisse pas imprégner par les plaisirs du monde. Il ou elle contemple souvent qu’il ou elle n’a en sa possession que trois robes et un bol, qui ne sont que des instruments du Dharma. Son vœu monastique est  de mener une vie pure, juste, noble et exempte de désirs pour pratiquer la Voie et de se comporter à l’égard de tous avec compassion et bonté aimante.

La huitième réalisation est la prise de conscience que le feu de la naissance et de la mort fait rage et qu’il cause partout des souffrances infinies. Pour cela, nous devrions engendrer l’esprit du Mahāyāna, faire le vœu d’aider tous les êtres, de souffrir infiniment à leur place afin qu’ils atteignent le grand bonheur ultime.

Ces huit réalisations sont le fruit de la pratique des grands êtres, les Éveillés et les bodhisattvas qui ont pratiqué avec diligence la Voie de la Compassion et de la Compréhension. Ils ont navigué à bord du vaisseau du corps du Dharma jusqu’à la rive du Nirvāṇa. Lorsqu’ils reviennent dans le monde des naissances et des morts pour guider tous les êtres vers la libération, tous utilisent ces huit réalisations pour ouvrir une porte, montrer le chemin à tous les êtres, les aider à comprendre la souffrance causée par la naissance et la mort, à abandonner les cinq désirs et enfin à se diriger vers la Noble Voie.

Si les disciples du Bouddha récitent régulièrement ces huit réalisations, ils mettront fin à chaque fois aux innombrables erreurs, progresseront vers l’Éveil, atteindront rapidement la compréhension parfaite, laisseront derrière eux pour toujours la naissance et la mort, et enfin, demeureront à jamais dans la paix et le bonheur.

Discourse on the Eight Realizations of the Great Beings

Wholeheartedly, day and night, disciples of the Awakened One should recite and meditate on the Eight Realizations discovered by the Great Beings.

The First Realization is the awareness that the world is impermanent. Political regimes are subject to fall. Things composed of the four elements are empty, containing within them the seeds of suffering. Human beings are composed of five aggregates and are without a separate self. They are always in the process of change—constantly being born and constantly dying. They are empty of self and without a separate existence. The mind is the source of all confusion, and the body the forest of all unwholesome actions. Meditating on this, you can be released from the round of birth and death.

The Second Realization is the awareness that more desire brings more suffering. All hardships in daily life arise from greed and desire. Those with little desire and ambition are able to relax, their body and mind free from entanglement.

The Third Realization is the awareness that the human mind is always searching outside itself and never feels fulfilled. This brings about unwholesome activity. Bodhisattvas, on the other hand, know the value of having few desires. They live simply and peacefully, so they can devote themselves to practicing the Way. They regard the realization of perfect understanding to be their only career.

The Fourth Realization is the awareness that indolence is an obstacle to practice. You must practice diligently to transform unwholesome mental states that bind you, and you must conquer the four kinds of Mara in order to free yourself from the prisons of the five aggregates and the three worlds.

The Fifth Realization is the awareness that ignorance is the cause of the endless round of birth and death. Bodhisattvas always listen to and learn from others so their understanding and skillful means can develop, and so they can teach living beings and bring them great joy.

The Sixth Realization is the awareness that poverty creates hatred and anger, which creates a vicious cycle of negative thoughts and actions. When practicing generosity, bodhisattvas consider everyone—friends and enemies alike—to be equal. They do not condemn anyone’s past wrongdoings or hate even those presently causing harm.

The Seventh Realization is the awareness that the five categories of sensual desire—money, sex, fame, overeating, and oversleeping—lead to problems. Although you are in the world, try not to be caught in worldly matters. A monk, for example, has in their possession only three robes and one bowl. They live simply in order to practice the Way. Their precepts keep them free of attachment to worldly things, and they treat everyone equally and with compassion. 

The Eighth Realization is the awareness that the fire of birth and death is raging, causing endless suffering everywhere. Take the Great Vow to help all beings, to suffer with all beings, and to guide all beings to the Realm of Great Joy.

These Eight Realizations are the discoveries of great beings, buddhas, and bodhisattvas who have practiced diligently the way of understanding and love. They have sailed the Dharmakaya boat to the shore of nirvana, and have then returned to the ordinary world, free of the five sensual desires, their minds and hearts directed toward the noble way. Using these Eight Realizations, they help all beings recognize the suffering in the world. If disciples of the Buddha recite and meditate on these Eight Realizations, they will put an end to countless misunderstandings and difficulties and progress toward enlightenment, leaving behind the world of birth and death, dwelling forever in peace.

Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh

Vi Phật đệ tử, thường ư trú dạ, chí tâm tụng niệm, Bát đại nhân giác:

Đệ nhất giác ngộ: thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy; tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã; sinh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ; tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu. Như thị quán sát, tiệm li sinh tử.

Đệ nhị giác tri: đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục khởi; thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.

Đệ tam giác tri: tâm vô yếm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng tội ác; Bồ tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp.

Đệ tứ giác tri: giải đãi trụy lạc, thường hành tinh tấn, phá phiền não ác, tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục.

Đệ ngũ giác ngộ: ngu si sinh tử, Bồ tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc.

Đệ lục giác tri: bần khổ đa oán, hoạnh kết ác duyên. Bồ tát bố thí, đẳng niệm oán thân, bất niệm cựu ác, bất tắng ác nhân.

Đệ thất giác ngộ: ngũ dục quá hoạn, tuy vi tục nhân, bất nhiễm thế lạc; thường niệm tam y, bình bát pháp khí; chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch; phạm hạnh cao viễn, từ bi nhất thiết.

Đệ bát giác tri: sinh tử xí nhiên, khổ não vô lượng, phát đại thừa tâm, phổ tế nhất thiết; nguyện đại chúng sinh, thọ vô lượng khổ; linh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc.

Như thử bát sự, nãi thị chư Phật Bồ tát đại nhân chi sở giác ngộ. Tinh tấn hành đạo, từ bi tu tuệ, thừa pháp thân thuyền, chí Niết bàn ngạn; phục hoàn sinh tử, độ thoát chúng sinh. Dĩ tiền bát sự, khai đạo nhất thiết, linh chư chúng sinh, giác sinh tử khổ, xả ly ngũ dục, tu tâm Thánh đạo.

Nhược Phật đệ tử, tụng thử bát sự, ư niệm niệm trung, diệt vô lượng tội; tấn thú Bồ đề, tốc đăng chánh giác; vĩnh đoạn sinh tử, thường trú khoái lạc.