Kinh Đại không

Chữ đại không này cũng có nghĩa là duyên sinh. Chữ không ở đây không mang nghĩa là không có mặt mà có nghĩa là bao la, ôm trùm tất cả, là hoàn toàn tự do, không bị kẹt vào bất cứ một ý niệm nào. 

Như thị ngã văn, nhất thời Phật trú Câu Lưu Sấu, điều ngưu tụ lạc. Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư tỳ kheo: “Ngã đương vị nhữ đẳng thuyết pháp, sơ, trung, hậu thiện, thiện nghĩa thiện vị, thuần nhất thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, sở vị Đại không pháp kinh. Đế thính, thiện tư, đương vị nhữ thuyết. Vân hà vi Đại không pháp kinh? Sở vị thử hữu cố bỉ hữu, thử khởi cố bỉ khởi, vị duyên vô minh hành, duyên hành thức, nãi chí thuần đại khổ tụ tập. 

“Duyên sinh lão tử giả, nhược hữu vấn ngôn: ‘Bỉ thùy lão tử? Lão tử thuộc thùy?’ Bỉ tắc đáp ngôn: ‘Ngã tức lão tử, kim lão tử thuộc ngã, lão tử thị ngã.’ Sở ngôn: ‘Mạng tức thị thân.’ Hoặc ngôn: ‘Mạng dị thân dị”.

Tôi nghe như sau,

Một thời đó, Bụt ở tại trong một ngôi làng, gọi là làng chăn trâu, tên là Câu Lưu Sấu. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn gọi các vị khất sĩ: Tôi sẽ vì các thầy mà nói pháp. Pháp này đẹp cả từ lúc ban đầu đến lúc giữa và cả lúc sau, giáo pháp này chỗ nào cũng đẹp (The Dharma is lovely in the beginning, at the middle and at the end). Nghĩa lý và hương vị của giáo pháp tuyệt đẹp, tuyệt vời, không tạp, trong sáng. Cuộc sống của người xuất gia rất trong sáng. Hãy lắng nghe và hãy suy nghĩ cho khéo léo. Tôi sẽ vì các thầy mà nói. Kinh Đại không là gì? Nghĩa là: cái này có vì cái kia có, cái này phát khởi cho nên cái kia phát khởi. Vì duyên vô minh mà có hành, vì duyên hành mà có thức,… cho đến lúc cả khối khổ đau chứa chất hình thành. Vì có sinh ra nên phải có già chết. Nếu có người hỏi rằng: Cái gì, ai là người phải già, phải chết? Cái già, cái chết đó ta gán cho ai, thuộc về ai? Có người sẽ trả lời rằng: “Tôi – cái ngã là phải già phải chết, và cái già cái chết đó thuộc về tôi.” Hoặc nói rằng: “Mạng không phải là thân, thân không phải là mạng”. 

Pháp này gọi là Đại không pháp kinh, Mahā-suññata Sutta, tức là kinh nói về pháp Đại không. Đại không, tiếng Anh là Great Emptiness.

Đây là đề tài chính của kinh. Khi ta đặt ra câu hỏi ai già ai chết và cái già cái chết thuộc về ai? Đó là câu hỏi thông minh. Vì chúng sinh bị kẹt vào ý niệm ngã và nói rằng ta sinh ra, ta già, ta chết đi cho nên mới có sự sợ hãi. Nhưng nếu vượt thoát được khái niệm về ngã thì ta không trả lời rằng: già là tôi già, chết là tôi chết và cái già, cái chết đó thuộc về tôi. Nếu như vậy thì ta gánh hết tất cả những khổ đau vào trong ta một cách vô ích. Theo lý duyên sinh, khi những điều kiện như thế này thì ta thấy có cái sinh, những điều kiện như thế nọ thì ta thấy có cái già, và những điều kiện như thế kia thì ta thấy có cái chết, không cần có một cái ngã nằm ở bên trong gánh chịu cái sinh, cái già, cái chết đó. 

 Ta thường nói rằng ai sinh, ai già, ai chết, cũng như khi nhìn bông hoa, ta nói rằng: ai búp, ai nở, ai tàn? Nhưng thực sự thì không cần có ai, nó vẫn búp, vẫn nở, vẫn tàn được như thường. Thông thường khi nói sinh, thì phải có ai sinh; già thì phải có ai già mới được; chết cũng phải có người chết. Nhưng sự thật khi ta nắm được chân lý duyên khởi thì sinh là sinh, già là già, chết là chết thôi, không có cái ai nằm trong đó. Chỉ khi nào bị kẹt vào ý niệm về ngã thì ta mới đòi hỏi sinh là phải có ai mới sinh, già là phải có ai mới già và chết cũng phải có ai mới chết. Bây giờ ta nhìn bông hoa, ta thấy nó cần một linh hồn, một cái ngã trong đó không? Có cần phải có một cái ta để bông hoa có thể đơm, nở và tàn không, để bông hoa có và không được không? Vì vậy, ý niệm cần một cái ta làm chủ thể để tất cả những cái kia có thể nảy sinh là một ý niệm sai lầm.

Mười hai nhân duyên cũng vậy, không cần có một cái ngã, một chủ thể đi ngấm ngầm trong mười hai nhân duyên mà mười hai nhân duyên đó vẫn có thể phát khởi, phát triển được như thường. Cũng như khi trời mưa, chúng ta nói là ai mưa; thực chất đâu cần có “ai” mới mưa được. Nhưng trong tiếng Tây, nếu mưa mà không có ai mưa thì khó nghe quá nên người ta mới đặt ra là: Il pleut hay It rains. Quý vị thử nhìn xem, trong “it, il” này có cái ngã không? Chỉ vì người ta đã quen với kiểu đó rồi, phải có một chủ thể, có ngã rồi mới có hành động được. Người ta nghĩ làm sao có mưa được nếu không có chủ thể mưa cho nên trong ngôn ngữ mới nói là “It rains”. Tiếng Việt thì có kiểu nói “Trời mưa”. Với chữ “mưa”, người ta nói mưa không thì không được nên phải đi tìm một chủ từ cho mưa. Kỳ thực, nói cho đúng thì ta chỉ nói: “Rain”. Rồi cảm thấy nói rain cũng không đủ, người ta biến nó thành chủ từ: The rain is going on; Rain là chủ từ, going on là động từ.

Bây giờ ta hãy cùng nhau thực tập để thấy được điều đó và phải khéo léo mới được, như trong kinh nói là: thiện kiến, thiện giác. Ví dụ ta nói rằng: “Tôi biết gió đang thổi”. Câu này có hai mệnh đề về hai sự việc đang xảy ra cùng một lúc là: “tôi biết” và “gió thổi”. Trước hết, ba chữ “gió đang thổi” rất buồn cười, ở chỗ là: Gió có thể không thổi được không? Vì hễ có gió là có thổi, nếu không có thổi là không có gió. Cái thổi này đã nằm sẵn trong gió. Vì vậy, ta nói “gió” là được rồi. Nhưng thông thường, nói “gió” không thì không đủ, nên người ta biến nó thành chủ từ, một cái tôi để thêm vào một động từ là “đang thổi”, kỳ thực điều này rất vô ích vì “gió” là “thổi” rồi. Còn mệnh đề “tôi biết”, phải có cái tôi rồi mới biết, nhưng thực sự trong cái biết đã đủ rồi. 

Tương tự, ta nói rằng: “Mây bay”, thì mây bay tức là mây nổi trên trời, nếu mây mà không nổi trên trời thì đâu phải là mây nữa mà là nước dưới sông. Hoặc ta nói: “Hoa nở”, nếu hoa mà không nở thì đâu phải là hoa. Hoa nở, hoa búp thì “nở” và “búp” nằm trong hoa rồi. Như vậy, “mây” là “bay” rồi, “hoa” là “nở” rồi. Cũng vậy, với câu “tôi biết”, “biết” là một động từ, và thường thường khi có động từ thì người ta đi tìm chủ từ, vì vậy, phải thêm vào chữ “tôi”. Như vậy, để tiết kiệm, ta nói “biết”. Mà biết là biết cái gì? Biết là chủ thể của biết, biết là biết một cái gì, biết là gió đang thổi. Gió đang thổi là đối tượng của cái biết. Vì vậy đối tượng vốn luôn có chủ thể bên trong rồi. Nhìn vào trong gió ta biết rằng có cái biết vì gió là đối tượng của cái biết và gió thì cố nhiên là thổi. Do đó, để tiết kiệm chữ nghĩa, tiết kiệm thời gian và để đến gần với sự thật hơn, ta chỉ cần một chữ thôi, là: “gió”. Trong chữ gió có chữ thổi, có chữ tôi biết là có gió đang thổi. Không cần có một chủ thể. 

Tóm lại, hoa nở không cần có cái ta trong đó, sinh không cần có cái ta mới sinh được, già không cần có cái ta mới già được. Chỉ vì chúng ta đã quen lề thói suy tư, nói năng là phải luôn luôn có một chủ thể, có cái ngã từ lâu đời lâu kiếp. Từ đó ý niệm về ngã che lấp không cho chúng ta thấy được bản chất của sự thật. Chỉ nói một chữ “gió” là tất cả vũ trụ và cái thấy, cái biết của ta cũng có trong chữ gió đó. 

Có mười hai duyên và mười hai duyên này có thể đem tới toàn khối khổ đau. Nếu chúng ta chuyển hóa được thì mười hai duyên đó đem tới rất nhiều giải thoát và an lạc. Một trong mười hai duyên đó là vô minh, tức là sự u mê của ta. Nhưng chúng ta phải gạt ngay ý niệm vô minh là cái xảy ra trước, không thể nói rằng vô minh đứng đầu trong mười hai duyên (au commencement c’était l’ignorance). Không phải như vậy. Thời gian không có điểm zéro bởi vì theo cái thấy của ta, không có thỉ cũng không có chung, cho nên có câu Đệ tử chúng con từ vô thỉ. Nếu nói vô minh có trước tiên tức là không hiểu gì hết, ta chỉ nói vô minh có mặt mà thôi. Trong đời sống hằng ngày, khi ta đi đứng, nằm ngồi, tiếp xử, nói chuyện, ăn cơm, giặt áo,… thì đều có vô minh trong đó. Ta chỉ cần có một chút chánh niệm là có thể thấy được vô minh của ta trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Vô minh tức là thiếu sự sáng suốt, thiếu cái thấy sâu sắc. Khi có vô minh thì sẽ đưa tới hành. Do đó, hành là một năng lượng mù quáng, vì hành được làm từ chất liệu vô minh. Ví dụ ta hiểu lầm một sư chị thì đó là vô minh. Và vô minh đưa ta đến sự bực bội, chán ghét, ta muốn đá sư chị một cái… Năng lượng đó là hành, nó thúc đẩy ta làm bậy, là vì nghiệp còn nằm trong phạm vi tiềm thức. 

Mỗi chúng ta người nào cũng có vô minh và hành trong tiềm thức. Hành sẽ đưa tới những cái khác nữa. Giống như khi ta nhỏ một giọt mực đen vào trong ly nước, thế là ly nước có màu mực. Ly nước này là tâm thức của ta, tâm thức bị giọt mực đen của vô minh nhỏ vào, cho nên những hành động thân, khẩu, ý sau này của ta mang tính chất của giọt nước đen đó. Giọt nước đen vô minh chi phối tất cả những sự buồn giận, đam mê, vướng mắc, ganh tị, thất vọng. Tất cả những sự buồn giận này là những năng lượng trong ta, là nguồn gốc thúc đẩy đưa đến những hành động thân, khẩu, ý gây đau khổ cho ta và cho người khác. Vì vậy, vô minh đi theo hành và trong hành có vô minh. Nếu ta giữ hành thì ta giữ luôn vô minh. Do vô minh mà có hành, do hành mà vô minh còn mãi. Vô minh duyên hành và hành duyên vô minh. Đây đâu phải là chuyện xa vời, bây giờ thử ngồi nhìn lại ta sẽ thấy vô minh và hành đang níu tay nhau. Biết làm gì hơn, thấy được như vậy là đỡ lắm rồi, ta chỉ có thể mỉm cười với nó và nói: “Ta biết rồi, ta thấy các em đang nắm tay nhau, ta đâu có để các em muốn làm gì thì làm, ta phải can thiệp chứ”, như vậy mới gọi là tu. 

Vì có giọt mực làm cho đen tối nên trí của ta không thể biểu hiện một cách toàn vẹn. Khi bị che lấp thì không còn gọi là trí nữa mà gọi là thức. Thức tức là trí bị một giọt vô minh khuấy vào. Bát nhã là ly nước trong chưa bị một giọt mực nào của vô minh rơi vào. Hành duyên thức và thức lại củng cố hành. Bây giờ, hành và thức nắm tay nhau, ta phải thấy rất rõ là tàng thức của ta đang nắm tay hành của ta, cả hai đang cấu kết điều gì đó không biết nhưng ta phải đề cao cảnh giác. Và chỉ có chánh niệm mới giúp cho ta thấy được là cả hai đang nắm tay nhau. 

Thức được biểu hiện trên hai mặt là danh và sắc. Hợp thể ngũ uẩn của ta gọi là hợp thể danh sắc. Tất cả năm uẩn đều là sự biểu hiện của thức, mà thức này có hành và có vô minh trong đó. Ngũ uẩn tức là năm yếu tố – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Bởi vì năm yếu tố này mang vọng thức, vọng hành và vô minh bên trong cho nên chúng là đối tượng của sự vướng mắc. Chúng làm cho ta bị mắc kẹt nên năm uẩn đó còn gọi là năm thủ uẩn. Trong mỗi người chúng ta – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – đều có chất liệu của sự vướng mắc, vì nó là biểu hiện của thức mà thức thì bị giọt mực của vô minh nhỏ vào rồi. 

Và năm uẩn chỉ là danh sắc mà thôi. Danh là thọ, tưởng, hành, thức; sắc là hình hài. Nhìn vào năm uẩn, ta thấy được màu sắc của vô minh, hành, thức. Thân thể ta có vô minh bên trong. Nếu không có vô minh thì thân thể ta đã khác hơn. Nếu không có vô minh thì ta không ăn uống như vậy, không sống đời sống hằng ngày như vậy. Thành ra nhìn vào sắc ta thấy thức, thấy hành, thấy vô minh. Thức ở đây là vọng thức. Hợp thể ngũ uẩn (hay danh sắc) đang giao lưu với thức và thức cũng đang giao lưu với danh sắc. Từ danh sắc mà có lục nhập, biểu hiện ra sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Khi có sáu căn và sáu trần thì sẽ có sự xúc chạm. Khi có sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần thì sẽ có thọ – lạc thọ, khổ thọ. Vì lục nhập đã có tính vô minh và hành cho nên xúc cũng chứa đựng vô minh, hành và vướng mắc ở trong. Do đó, xúc đưa đến thọ, thọ này là một thứ thọ đã bị điều kiện hóa bởi vô minh. Đôi khi đó không phải là lạc thọ mà ta nghĩ là lạc thọ, không phải là khổ thọ mà ta nói là khổ thọ. Đó là vì trong bản chất của thọ đã có vô minh, vướng mắc và bực bội. Ta không nhìn mọi thứ một cách khách quan, nên cái không đẹp ta cho là đẹp, cái không tinh sạch ta cho là tinh sạch, cái không ngã ta cho là ngã, cái không hận thù ta cho là hận thù. Tóm lại, vô minh được thấy trong ngũ uẩn, trong lục nhập, trong xúc; vì vậy, nó cũng được thấy trong thọ. Và vì thọ có vô minh nên khi có thọ sẽ có ái, tức là sự vướng mắc. Nhưng không phải tới đây mới có sự vướng mắc. Mà vướng mắc đã có từ vô minh và đến đây thì chúng ta gọi đích thực tên của nó. Trong vô minh đã có ái, đã có vướng mắc, hận thù, ganh tị. Sự vướng mắc này đưa đến sự kìm kẹp gọi là thủ. Ái đưa đến thủ và thủ làm cho ái cắm rễ càng lúc càng sâu. Một khi đã kẹt vào rồi thì sinh ra chuyện, gọi là hữu. Lời của bài thiền ca Sinh sự: Bởi tôi sinh sự nên sự tình mới sinh là vậy. Hữu là sinh chuyện, dẫn đến cuộc sống khổ đau và nhiều hệ lụy. Và dòng khổ đau hệ lụy đó biểu hiện bằng sinh lão tử. Thực ra, sinh – lão – tử chỉ là một, gọi là sinh tử thôi cũng được, vì thông thường từ sinh đến tử thì phải có lão. Tương tự, lục nhập – xúc – thọ cho là một cũng được. Thành ra, có khi trong kinh Bụt dạy chỉ có bảy duyên, có khi là tám duyên, mười duyên hay mười hai duyên. Có nhiều cách và cách nào cũng đúng, chỉ cho thêm chi tiết, chứ không phải mười hai duyên thì đúng hơn mười duyên, mười duyên thì đúng hơn chín duyên, như nói danh–sắc cũng được mà ngũ uẩn cũng được. Ngũ uẩn là phân tích rõ ra, nhiều thêm chứ danh sắc là đủ rồi.

Chúng ta có mười hai duyên là: vô minh – hành – thức – danh sắc – lục nhập – xúc – thọ – ái – thủ – hữu – sinh – lão tử. 

Mười hai duyên này duyên nhau, nhưng không phải đi thành từng cặp hay theo đường dài, đường thẳng mà sự thật là vô minh trong khi duyên hành thì nó cũng duyên thức, cũng duyên danh sắc, duyên lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Trong mười một duyên, cái nào cũng có vô minh bên trong, cái nào cũng có hành, có thức, có ái, thủ, hữu,… các yếu tố này đan xen chằng chịt với nhau, nên ta đừng tưởng tượng mười hai nhân duyên đi theo đường thẳng. Khi lấy một mẩu đời sống hằng ngày của ta ra, hoặc danh hoặc sắc, như lấy một mẩu da thịt hay lấy một chút cái giận, cái buồn, cái đam mê, cái vui của ta ra phân tích, ta sẽ thấy có đủ tất cả mười hai nhân duyên trong đó. Mười hai nhân duyên này níu kéo, cấu kết, duyên nhau hình thành nên một khối lớn khổ đau chồng chất, gọi là “thuần đại khổ tụ” và cứ xoay tròn như vậy. Mỗi một yếu tố trong đó liên hệ với tất cả những yếu tố còn lại chứ không chỉ liên hệ với hai yếu tố hai bên. Vì vậy nếu ta không tu tập, không quán chiếu thì nó sẽ tiếp tục giằng níu. Nếu có tu tập thì ta thắp lên ngọn đèn chánh niệm, soi vào và thấy nó đang vận hành như vậy. Ta nói: “Thôi, đừng vận hành như vậy nữa, dừng lại đi ông ơi, khổ nhiều lắm rồi!” Một khi ngọn đèn chánh niệm đã được thắp lên thì vô minh bớt đen tối và sinh ra minh. Nhờ quán chiếu về mười hai nhân duyên, bóng tối của vô minh giảm bớt và ánh sáng của minh tăng lên. Minh từ đâu mà đi ra? Minh cũng từ trong thức mà đi ra, bởi vì trong thức có vô minh nhưng cũng có hạt giống của tuệ giác và hạt giống chánh niệm. Do đó, ta mời hạt giống của chánh niệm ở sâu trong thức biểu hiện và thắp lên thành ngọn đèn. Khi hạt giống chánh niệm bừng dậy, soi chiếu thì ánh sáng làm tan biến bớt bóng tối và từ trong vô minh sinh ra minh. 

Nhiều khi những đau khổ, những hệ lụy, những thất vọng làm chúng ta tỉnh ngộ, cho nên minh có thể phát sinh từ vô minh. Khi ánh sáng chiếu rọi thì chất liệu của đam mê, của vướng mắc, ganh tị sẽ yếu đi. Năng lượng của hành sẽ yếu đi. Thay vì muốn nói một câu gì đó làm sư chị đau thì bây giờ nhờ có minh rồi, ta không muốn làm như vậy nữa. Ta muốn làm một cái gì đó hay hơn để giúp sư chị, vì ta biết rằng sư chị mỉm cười được thì ta cũng có hạnh phúc. Do đó, thay vì vô minh sinh hành thì minh sinh ra đại nguyện, sinh ra thiện chí (good aspiration), sinh ra tâm bồ đề. Sở dĩ quý vị có năng lượng của tâm bồ đề là vì quý vị đã thấy đau khổ, đã giác ngộ về sự có mặt của đau khổ và quý vị đã muốn chấm dứt khổ đau cho nên mới phát tâm bồ đề. Như vậy, tâm bồ đề là đại nguyện, do minh sinh ra. 

Nếu vô minh tạo ra hành là năng lượng có tính chất mù quáng, có sự sợ hãi, căm thù, vướng mắc, ganh tị thì minh cũng tạo ra năng lượng. Năng lượng đó đưa ta đi đến những hành động rất tốt mà ta tạm gọi là năng lượng của đại nguyện, của bồ đề tâm. Vô minh sinh ra hành, minh sinh ra đại nguyện. Thay vì tâm bị che lấp bởi màn đen tối mà thành thức (vijñāna) thì đại nguyện sẽ làm biểu hiện trí tuệ (prajñā). Trong thức có sự mê mờ nhưng trí thì không có sự mê mờ. Như vậy, minh duyên đại nguyện và đại nguyện làm cho minh được củng cố. Đại nguyện duyên trí và trí làm cho đại nguyện càng được củng cố. Khi tâm ta không phải là thức mà là trí thì ta muốn có mặt để độ đời, vì ta có đại nguyện và đại nguyện này đưa ta đến quyết định là phải có mặt để độ đời. Hóa hiện ngàn vạn ứng thân, có mặt một lần trong ba cõi (bài sám Hướng về kính lạy). Vì vậy, ta có mặt, cũng có cái tương đương với danh sắc nhưng không gọi là danh sắc, tuy bề ngoài giống danh sắc nhưng gọi là ứng thân hay ứng hiện thân. 

Ta có mặt như những chúng sinh (danh sắc), nhưng sự có mặt của những chúng sinh này mang theo bên trong họ những điều đen tối, hận thù, khổ đau, trong khi sự có mặt của ta (ứng thân) mang theo niềm tươi mát và hạnh phúc. Sự có mặt của ta lúc đó như một bông hoa, như một làn gió mát. Các vị Bồ tát cũng có mặt như vậy. Khi các vị Bồ tát có mặt thì cũng có thành sở tác trí, có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, vì trí này nằm ở nền tảng. Trong khi con người rơi vào vòng hệ lụy, luân hồi, lục nhập thì ở vị Bồ tát có hóa thân của vị Bồ tát: cũng có lục nhập, cũng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; cũng có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhưng lục nhập đây không mang tính chất vô minh, hành, thức, danh sắc mà mang tính chất của minh, đại nguyện, trí, ứng thân.

Hóa thân Bồ tát cũng có sự tiếp xúc giữa đối tượng và chủ thể, căn và trần. Bởi vì một vị Bồ tát có mặt là để tiếp xúc. Khi sáu căn của vị Bồ tát tiếp xúc với sáu trần thì có xúc nhưng xúc này xảy ra trong chánh niệm, không có chất vô minh, tức là có minh, có đại nguyện, có trí, có ứng thân và có chánh niệm. Cho nên sự tiếp xúc này đưa đến thọ và thọ này cũng chứa niệm trong đó. (Quý vị có thể tham khảo quyển Trái tim của Bụt3 để nắm những danh từ chính xác hơn). Thọ thì có khổ thọ, lạc thọ và xả thọ nhưng trong thọ của Bồ tát không có chất vô minh như thọ của chúng sinh mà trong thọ này có minh, có đại nguyện, có trí. Cho nên khi có khổ thọ thì Bồ tát biết đó là khổ thọ và là khổ thọ chân thật, khi có lạc thọ thì Bồ tát biết đó là lạc thọ và là lạc thọ chân thật, không lẫn lộn, không có tri giác sai lầm trong thọ. Bồ tát có thể chia sẻ những nỗi khổ niềm đau của chúng sinh. Khi thấy có một người đau nhức thì Bồ tát biết xót xa, Bồ tát cũng có khổ thọ nhưng khổ thọ đó chỉ đang nuôi dưỡng Bồ tát, làm cho minh, đại nguyện và trí lớn lên. Do đó, thọ ở đây là thọ trong chánh niệm. Những cảm thọ mà Bồ tát có không đưa đến sự vướng mắc mà đưa tới từ và bi. Thấy chúng sinh khổ mà ta không nổi giận, trái lại ta phát khởi tình thương và lòng bi mẫn. Chúng sinh khổ thì thường vung vãi cái khổ ra xung quanh và bị ràng buộc, bị níu kéo, bị vướng mắc; trong khi vị Bồ tát có những cảm thọ đó thì vẫn có từ bi, tự do, tự tại. Từ bi có chất liệu của minh, của đại nguyện, của trí, của ứng thân, vì vậy từ bi không bao giờ đưa tới vướng mắc mà đưa đến tự tại. Trong khi chúng sinh vì vướng mắc mà bị kẹt thì Bồ tát nhờ từ bi, hành xử theo từ bi mà luôn giữ được tự do. Tự do đi đôi với minh, với đại nguyện. Khi nào mất đi minh, mất đi đại nguyện thì tự do của ta cũng mất đi. Do đó, trong sự tự tại của vị Bồ tát luôn có từ, có bi, có chánh niệm, ngay trong khi Bồ tát thọ, xúc, hóa hiện ứng thân. Và vì trong thọ có trí, có nguyện, có minh nên tự do của vị Bồ tát còn được giữ lại một cách toàn vẹn. 

Bản chất của một vị Bồ tát là tự do nên khi Bồ tát đi vào cuộc đời thì không phải vì hệ lụy, vì vướng mắc mà đi vào bằng đại nguyện. Vì từ bi nên Bồ tát đi vào cõi sinh tử, đi vào thế giới của bất xả, tức là không bỏ rơi các loài chúng sinh đang chìm đắm trong tam giới. Trong khi chúng sinh đang đắm chìm trong thế giới thì Bồ tát đi rất tự do trong pháp giới. Hữu là thế giới của hệ lụy, của sầu đau, còn bất xả là pháp giới. Nhưng thế giới khổ đau của chúng sinh đối với Bồ tát lại là pháp giới. Thành ra, Tịnh độ và Ta bà là một. Ta bà thành Tịnh độ. Nếu ta là một vị Bồ tát thì cũng ở cõi đó, với ta là Tịnh độ, trong khi với chúng sinh lại là Ta bà. Và khi Bồ tát đã dấn thân, tự tại rồi thì Bồ tát cũng đang đi vào cõi sinh tử, lướt qua các đợt sóng sinh tử một cách an nhiên, đó gọi là vô sinh. Và cố nhiên là cõi vô sinh vô tử đó duyên với minh, nghĩa là sự sáng suốt. Còn nếu nó là sinh tử thì duyên với vô minh. 

Ở đây ta thấy mười hai nhân duyên về hai mặt, một mặt là sinh tử, một mặt là niết bàn, giải thoát. Vòng trong sinh tử là vòng của chúng sinh chìm đắm, vòng ngoài là vòng giải thoát, giác ngộ của các vị Bồ tát. 

Qua mười hai duyên khởi đó, chúng ta không cần có một chủ thể gọi là ngã, tại vì nghiên cứu, thể nhập, tùy thuận vào duyên khởi, chúng ta bắt đầu thấy rằng không cần có một chủ thể, một cái ngã trong đó. Do đó, câu hỏi được nêu ra trong kinh Đại không là: 

“Bỉ thùy lão tử? Lão tử thuộc thùy?” Bỉ tắc đáp ngôn: “Ngã tức lão tử, kim lão tử thuộc ngã, lão tử thị ngã.” Sở ngôn: “Mạng tức thị thân.” Hoặc ngôn: “Mạng dị thân dị.” Thử tắc nhất nghĩa, nhi thuyết hữu chủng chủng. Nhược kiến ngôn: “Mạng tức thị thân.” Bỉ phạm hạnh giả sở vô hữu. Nhược phục kiến ngôn: “Mạng dị thân dị.” Phạm hạnh giả sở vô hữu.

Ai lão tử? Lão tử thuộc về ai? Cái mạng với cái thân là một hay là khác? Thì câu trả lời rằng, nếu người ta nghĩ phải có một chủ thể đi ngang qua sinh và lão tử; mạng tức là thân, thân tức là mạng, hoặc mạng không phải là thân, thân không phải là mạng – nếu có những ý niệm như vậy thì người đó chưa phải là một người xuất gia, một người tu phạm hạnh.

Ai sinh? Ai lão? Ai tử? Mạng là thân này hay mạng không phải là thân này? Từ ba câu hỏi căn bản trên có thể làm phát sinh ra không biết bao nhiêu câu hỏi khác. Có thể đó là những câu hỏi về triết học.

Thử tắc nhất nghĩa, nhi thuyết hữu chủng chủng: Những câu hỏi đó có cùng ý nghĩa mà được nói ra dưới nhiều hình thức. Và những người bị kẹt vào câu hỏi đó, quanh quẩn, lúng túng về những câu hỏi đó là những người không xứng đáng là người tu phạm hạnh.

Nhược kiến ngôn: “Mạng tức thị thân.” Bỉ phạm hạnh giả sở vô hữu. Nhược phục kiến ngôn: “Mạng dị thân dị.” Phạm hạnh giả sở vô hữu: Nếu có người thấy và nói rằng: Cái mạng này (giai đoạn sinh mạng 70, 80 năm) là một với cái thân này, có nhận thức như vậy thì người đó không xứng đáng được gọi là một phạm hạnh (người tu). Nói thọ mạng của ta là thân thể của ta cũng không được mà nói thọ mạng của ta không phải là thân thể của ta cũng không được, vì tất cả đều còn vướng vào khái niệm. Và khi vị Bồ tát tùy thuận vào giáo lý Mười hai nhân duyên và thấy được rồi thì:

Ư thử nhị biên, tâm sở bất tùy, chánh hướng trung đạo: Khi một vị Bồ tát tùy thuận và thấy được lý duyên khởi thì tâm không còn bị rơi vào một trong hai thái cực này nữa, mà đi thẳng vào con đường trung đạo. Con đường trung đạo là con đường vượt thoát những cặp đối nghịch, đó là: sinh–tử, có–không, thường–đoạn, một–khác.

Do đó, chúng ta cần nhớ rằng, khi ta còn băn khoăn vì những câu hỏi như: Trong quá khứ ta đã có mặt hay không có mặt? Ta là con gì hay cái gì? Ta như thế nào? Trong tương lai ta sẽ có hay không? Ta sẽ là con gì hay cái gì? Trong hiện tại, tuy nghĩ rằng ta đang ở đây nhưng thực sự ta có hay là không, ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu?… Khi còn hỏi như vậy tức là chưa thể nhập được vào tự tính duyên khởi, vì ta còn bị kẹt vào bốn tướng là tướng ngã, tướng chúng sinh, tướng nhân và tướng thọ giả (thọ mạng).

Thọ mạng ta là thân này hay không phải thân này? Ta là thân này là một ý niệm, ta không phải thân này cũng là một ý niệm. Khi nào ta còn rơi vào những thái cực như vậy, như có hay không, một hay khác, nghĩa là ta chưa thể nhập được vào lý duyên khởi. Thể nhập vào duyên khởi tức là đạt được con đường trung đạo. Mà đạt vào trung đạo rồi thì không còn bị kẹt vào các cặp đối lập như: sinh–diệt, có–không, thường–đoạn, một–khác nữa. 

Hiền thánh xuất thế, như thật bất điên đảo chánh kiến: Các bậc hiền thánh ra đời thì các vị có thể trình bày được chánh kiến (right view), không lộn ngược (not upside down) và phù hợp với sự thật như thật (reality in itself). Chúng ta thấy danh từ chánh kiến xuất hiện ở đây như đã xuất hiện trong kinh Trung đạo nhân duyên. Kinh Đại không cũng nói tới pháp vô sinh. Khi vô minh được chuyển hóa, khi sự vướng mắc không còn nữa và khi ánh sáng của trí tuệ phát sinh thì không còn thấy người–chủ thể của lão tử nữa, không còn thấy lão và tử đó thuộc về một ai nữa mà chỉ thấy sự chấm dứt của lão tử. Ta biết rằng gốc rễ của khổ đau đã được chấm dứt, như một cây kè bị chặt ngọn không thể mọc ra nữa. Khi hành giả thấy được sự thật đó thì đạt được pháp vô sinh.

Nhược vô minh ly dục nhi sinh minh: Nếu vô minh hoại diệt và ta xa lìa khỏi vướng mắc thì nó làm phát sinh ra minh. 

Bỉ thùy lão tử? Lão tử thuộc thùy giả?: Những câu hỏi như “Ai là người phải già và phải chết? Cái già, cái chết đó thuộc về ai?”… không còn là vấn đề nữa. 

Lão tử tắc đoạn, tắc tri đoạn kỳ căn bản, như tiệt đa la thọ đầu: Là vì khi lão tử đã chấm dứt rồi thì ta biết rằng ta đã cắt đứt được gốc rễ của vô minh và dục, như khi ta chặt ngọn của cây kè. 

Ư vị lai thế thành bất sinh pháp: Trong tương lai ta sẽ đạt được quả vị vô sinh, niết bàn. 

Nhược tỳ kheo vô minh ly dục nhi sinh minh, bỉ thùy sinh? Sinh thuộc thùy?: Này các vị khất sĩ, nếu lìa dục, chấm dứt vô minh thì cái minh sinh ra. Như vậy thì câu hỏi “Ai sinh? Cái sinh đó thuộc về ai?”,  và những câu hỏi tương tự có liên hệ đến hành: “Ai hành? Hành thuộc về ai?”… không còn là vấn đề nữa. Bởi vì ta đã vượt thoát, giống như ta đã chặt ngọn cây kè và cây kè đó không phát triển được nữa. Trong tương lai ta sẽ được giải thoát và đạt tới pháp gọi là vô sinh bất diệt. Duyên sinh ở đây được gọi bằng một tên rất hay là Đại không. Có thể nói không ở đây tức là không cần sự có mặt của một chủ thể là ngã mà duyên sinh vẫn có thể được biểu hiện.

Chúng ta có thể kết luận như thế này: Có thể chúng ta đã học, đã thuộc lòng, và cắt nghĩa được thế nào là duyên sinh, vô minh là gì, hành là gì, thức là gì, danh sắc là gì,… Chúng ta có thể giảng dạy về mười hai nhân duyên một cách rất thông suốt nhưng nếu chúng ta chưa vượt thoát được ý niệm về ngã, về chúng sinh, về thọ mạng; nếu chúng ta vẫn tiếp tục băn khoăn tự hỏi: Ta là ai, ta từ đâu tới, ta sẽ đi về đâu, quá khứ ta như thế nào, tương lai ta sẽ ra sao… thì có nghĩa là ta chưa hiểu được lý duyên sinh. Vì vậy, lý duyên sinh đưa ra là để chúng ta quán chiếu. 

Chúng ta phải quán chiếu trong đời sống hằng ngày, phải sống đời sống hằng ngày một cách sâu sắc, như trong khi nấu cơm, rửa bát, giặt áo, kinh hành,… Chúng ta phải sống như thế nào để có thể nhìn sâu vào tự tính duyên khởi của vạn pháp. Chúng ta phải làm công việc mà trong kinh gọi là tùy thuận, tức là ta đi vào, hợp nhất với sự vận hành của duyên sinh. Ta đi vào bông hoa, thấy được sự vận hành của bông hoa theo duyên sinh. Ta đi vào đám mây, thấy được sự vận hành của đám mây theo duyên sinh. Lúc đó ta mới chứng nhập được duyên khởi (có khi gọi là đại không). Và khi chứng nhập rồi thì ta vượt thoát được ý niệm về ta (ngã tướng), về chúng sinh (chúng sinh tướng), về thọ mạng (thọ giả tướng). Ta đạt được mục đích của kinh Kim cương, ta không còn thắc mắc về những câu hỏi kia nữa, lúc đó mới có thể gọi là hiểu được duyên sinh vì ta đã tùy thuận, thể nhập, trở thành một với chân lý duyên sinh. Bấy giờ ta mới đạt đến vô sinh, nghĩa là ta có thể an trú trong pháp giới mà không còn quanh quẩn trong thế giới nữa. 

Những kinh nguyên thủy ta mới học như kinh Trung đạo nhân duyên, kinh Duyên sinh, kinh Đại không hàm chứa tất cả những tinh hoa tư tưởng Đại thừa. Chúng ta thấy rõ ràng rằng Phật giáo Đại thừa là công trình của chư Tổ, giúp ta thấy rõ chiều sâu của giáo lý đạo Bụt hàm chứa trong các kinh điển nguyên thủy, mà vì sự học hỏi và thực tập không sâu sắc, chúng ta đã không thể khai thác được. Cho nên, học hỏi các kinh điển nguyên thủy bằng con mắt của Phật giáo Đại thừa là một phương pháp rất mầu nhiệm.

Kinh Duyên sinh

Nhân đây, chúng ta phải dùng cơ hội này để học qua hai kinh đã được giới thiệu ở trên là kinh Duyên sinh (kinh 296) và kinh Đại không (kinh 297), thuộc bộ Tạp A hàm.

Trước hết chúng ta đọc kinh Duyên sinh. Thật ra, kinh này gọi là kinh Nhân duyên Duyên sinh. Bụt nói về giáo lý Mười hai nhân duyên. 

Hồi đó Bụt ở tại thành Vương Xá, trong vườn trúc Ca Lan Đà. Bấy giờ đức Thế Tôn nói với các vị tỳ kheo: Hôm nay, tôi sẽ nói về pháp nhân duyên và pháp duyên sinh. 

Thế nào là pháp nhân duyên? Nghĩa là: “Vì cái này có nên cái kia có. Vì duyên vô minh nên có hành. Duyên hành cho nên có thức… Và cứ thế mà cả khối khổ đau kết tập lại. Thế nào là pháp duyên sinh? Đó là duyên vô minh có hành, duyên hành có thức. Dù Bụt có xuất hiện hay không xuất hiện trên thế gian này thì pháp này vẫn thường trụ, ở trong pháp giới. Pháp nhân duyên này đã được Như Lai tự mình giác tri, vì vậy Như Lai đã trở thành bậc chánh đẳng chánh giác và đem diễn nói cho những người khác, chỉ dạy cho những người khác. Giảng rằng: vì duyên vô minh mà có hành, vì duyên hành mà có thức… và rốt cuộc có già, có bệnh, có chết; có ưu, bi, khổ não và cả khối khổ đau tụ tập. Dù Thế Tôn có xuất hiện hay không xuất hiện trên thế gian này thì pháp nhân duyên này vẫn thường trụ trong pháp giới. Các pháp này – pháp trụ, pháp không, pháp như, pháp nhĩ – pháp chẳng lìa như, pháp chẳng khác như, xét kỹ chân thật, chẳng điên đảo.

Nếu nhìn cho kỹ vào các pháp thì thấy được tính duyên khởi của các pháp, ví dụ như nhìn vào bông hoa, nhìn vào cái bàn hoặc nhìn vào nỗi khổ niềm đau thì ta sẽ thấy được tính nhân duyên. Tính nhân duyên nói cho rõ là dưới hình thức mười hai yếu tố. Và pháp nhân duyên này, dù Bụt có ra đời hay không ra đời thì vẫn tồn tại ở trong các pháp. Vì đã chứng ngộ nên Bụt thấy rất rõ pháp nhân duyên và đem chỉ bày cho người khác để họ quán chiếu và cũng thấy như Bụt, mà không phải Bụt đặt ra giáo lý nhân duyên. Do đó, nhiều danh từ trong bản kinh này được Phật giáo Đại thừa sử dụng và phát triển vì trong Phật giáo Nam tông, người ta không phát triển đủ về giáo lý thâm sâu mầu nhiệm này.

Thử đẳng chư pháp, pháp trú, pháp không, pháp như, pháp nhĩ, pháp bất ly như, pháp bất dị như.

Thử đẳng chư pháp: những pháp vừa nói 

pháp trú: chữ trú này có nghĩa là ở – ở trong lòng thực tại, trong lòng bông hoa, trong lòng cái bàn, trong lòng nỗi khổ niềm đau. Reality as it is. Pháp trú là pháp ở trong chân như của nó, ở trong lĩnh vực không sinh không diệt, không thể nắm bắt bằng khái niệm của ta. Tại vì ta hay dùng trí óc để nắm bắt các pháp mà các pháp thì không thể nắm bắt được, vì các pháp nằm trong bản tính chân như của nó. Trong kinh Pháp hoa có câu “thị pháp trú pháp vị” – các pháp ở trong địa vị của nó, ta không thể lấy ra khỏi địa vị đó được. Địa vị của nó là không sinh, không diệt, không ngã, không ngã sở, nhưng ta cứ nắm bắt nó bằng vợt, như cái vợt ta dùng để bắt chuồn chuồn, bươm bướm. Đầu óc của ta cũng vậy, có nhiều lưới, đó là lưới ta, lưới người, lưới ngã… Nếu đem những cái lưới đó mà bắt các pháp thì không bắt được vì các pháp nằm trong tự thân của nó. 

Pháp không, chữ không này là vượt thoát tất cả mọi ý niệm. Nói có cũng không được, nói không cũng không được, nói sinh cũng không được, nói diệt cũng không được, nói một cũng không được, nói khác cũng không được; bất cứ ý niệm nào của ta đều không thể nắm bắt được. Pháp không là pháp nằm trong tự tánh chân không của nó. Những danh từ này được đạo Bụt Đại thừa khai triển rất rõ ràng về sau. Phật giáo Bộ phái không chú ý lắm về pháp không. Những hạt giống quý giá trong đạo Bụt không được đem ra gieo trồng để biểu hiện thành những cây giáo lý mầu nhiệm, vì vậy rất thiệt thòi và đáng tiếc.

Pháp như: Như là chân như, as it is. Ta không thể nói gì được, nó là nó thôi, ta không thể gọi tên, không thể diễn tả được.

Pháp nhĩ: Nhĩ là tự nhiên – tự nhiên như nhiên, pháp nhĩ tự nhiên. 

Pháp bất ly như: Pháp không bao giờ lìa ra khỏi bản tính chân như của nó. 

Pháp bất dị như: Pháp không khác bản tánh chân như của nó. Đây là những danh từ rất mầu nhiệm và nằm ngay trong kinh điển nguyên thủy. Ta nên nhớ đây không phải là kinh Đại thừa.

Thẩm đế chân thật bất điên đảo.

Thẩm là quán chiếu cho chín chắn, sâu sắc – reflecting, meditating, experimenting. 

Đế là sự thật, chân thật (truly), như Tứ đế.

Bất điên đảo là không nói ngược lại. Điên đảo tiếng Anh là upside down. Ví dụ nó là vô ngã mà ta nói ngã, nó là vô thường mà ta nói thường, người đó là cha ta mà ta nói ta không dính líu gì đến người đó hết. 

Như thị tùy thuận duyên khởi, thị danh duyên sinh pháp: Cứ như vậy mà tùy thuận theo lý duyên khởi, cứ như vậy mà biểu hiện và ẩn tàng tùy theo luật duyên khởi thì đó gọi là duyên sinh pháp. Những điều trên cắt nghĩa thế nào là pháp duyên sinh. Ta nhận thức, nhìn sâu trong mười hai nhân duyên thì thấy được bản tính các pháp là pháp trú, pháp không, pháp như, pháp nhĩ, pháp bất ly như, pháp bất dị như. Đức Thế Tôn có nói rằng: “Người nào thấy được duyên khởi tức người đó đã thấy Bụt. Người nào thấy Bụt rồi tức là đã thấy được lý duyên khởi.” Và nhìn vào đó ta không thấy cái gọi là “tôi” (ngã) và “của tôi” (ngã sở). 

Cho nên, đa văn thánh đệ tử ư thử nhân duyên pháp, duyên sinh pháp chánh tri thiện kiến. Những người nào có được cái thấy chân chính về duyên sinh thì những người đó không theo đuổi, băn khoăn về quá khứ và đặt ra những câu hỏi: Trong quá khứ có tôi hay không có tôi? Trong quá khứ tôi là cái gì, tôi là ai? Trong quá khứ hình tướng của tôi như thế nào? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức của tôi như thế nào? Chỉ khi nào ta không thấu triệt được tính nhân duyên, chỉ khi nào ta còn kẹt vào ý niệm ngã và ngã sở thì ta mới đi tìm và đặt những câu hỏi như vậy về quá khứ. 

Người đó cũng không băn khoăn về tương lai mà hỏi: Trong tương lai tôi có hay không có? Nếu có thì tôi sẽ là cái gì, con gì? Hình thể và tâm tư tôi sẽ như thế nào? 

Khi trở về với tự thân trong giây phút hiện tại, người đó cũng không có những băn khoăn mà hỏi rằng: Tôi là ai? Tại sao tôi lại có mặt trong cuộc đời này? Trước kia tôi là ai và sau này tôi sẽ thành cái gì? Hình tướng và nội dung của tôi sẽ như thế nào? Tôi từ đâu tới và tôi sẽ đi về đâu? 

Đó là những câu hỏi của triết học. Đức Thế Tôn nói sở dĩ đặt những câu hỏi như vậy là bởi vì ta kẹt vào ý niệm về ngã và ngã sở. Nếu thấy được nhân duyên và vượt thoát ý niệm tôi và của tôi thì ta sẽ không còn hỏi những câu dại khờ như vậy. Đức Thế Tôn không bao giờ để thì giờ nghiên cứu triết học, dù là triết học phương Đông hay phương Tây. Bụt dành thì giờ quán chiếu, nhìn vào thực tại để thấy được pháp trú, pháp không, pháp như, pháp nhĩ, pháp bất ly như, pháp bất dị như. Khi thấy được bản chất của duyên khởi rồi thì không còn kẹt vào ý niệm về ngã, ý niệm về có, về không và lúc đó sẽ không băn khoăn về những câu hỏi mang tính triết học nữa. 

Khi thấy được bản chất của duyên khởi thì ta không còn bị những cái thấy phàm tục ràng buộc. 

Khi đã tùy thuận, tùy nhập được lý duyên khởi rồi, ta sẽ vượt thoát những sợi dây ràng buộc gọi là phàm tục kiến, 凡俗見, tức là những cái thấy, những kiến chấp phàm tục. Những phàm tục kiến này trước hết là ngã kiến, 我見, tức là kiến chấp về ngã (the view on self, what belongs to self). Ta không còn bị trói buộc bởi kiến chấp về ngã. Thứ hai là chúng sinh kiến, 衆生見. Ta không bị kẹt vào ý niệm về chúng sinh. Kế đó là ta không bị kẹt vào ý niệm về thọ giả kiến, 夀者見 (thọ mạng). Thứ tư là ta không bị kẹt vào những cái kỵ húy cát khánh, 忌諱吉慶. Kỵ húy cát khánh nghĩa là ta chấp ngày này, giờ kia thì cấm kỵ cái gì, rồi là ngày này tốt, ngày kia xấu… Những thứ này cũng là một biểu hiện cái chấp của ta, tức là ta tin vào bói toán tương lai, như là muốn bói một quẻ để biết tương lai của ta như thế nào. Những điều này ta chỉ làm khi còn mịt mờ về duyên sinh. Một khi đã biết được duyên sinh, biết được sự sống của ta thênh thang không bị ràng buộc vào ý niệm ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả thì lúc đó ta không còn bị ràng buộc bởi sợi dây kỵ húy cát khánh nữa.

Chúng ta đang đọc kinh A hàm mà giống như đang đọc kinh Kim cương vì trong kinh Kim cương Bụt cũng nói rằng ta đừng để kẹt vào ngã tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Có phải kinh Kim cương bắt nguồn từ kinh này và chúng ta có thấy những hạt giống của kinh Kim cương nằm sẵn trong kinh A hàm hay không? Trong bản kinh chúng ta không thấy tướng nhân (ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả). Vì vậy, vượt thoát ngã kiến, thọ giả kiến, chúng sinh kiến đúng là giáo lý của kinh Kim cương. Kinh Kim cương nằm trong kinh A hàm cho nên chỉ cần đọc kinh A hàm cho kỹ là thấy kinh Kim cương. Khi ta bị kẹt vào ý niệm ngã, ý niệm chúng sinh, ý niệm thọ giả tức là ta chưa thấy được duyên sinh và ta đặt ra những câu hỏi triết học.

Đức Thế Tôn nói rằng khi đã vượt thoát được những kiến đó rồi thì vọng tưởng điên đảo không thể phát sinh ra được, cũng như một cây kè bị chặt đứt ngọn, không lớn lên được và chết. Sự u mê, vô minh cũng vậy, khi thấy được duyên khởi, vượt thoát các ý niệm về ngã, thọ giả, chúng sinh thì ta không còn bị vướng vào vòng vô minh, khổ đau và luân hồi nữa. 

Sư em Uy Nghiêm mới tu chưa được nửa năm, đã viết cho thầy một đoạn rất hay. Đây là lá thơ sư em viết hôm 11 tháng Chạp năm 1997: “Bạch Thầy, cách đây một tuần con có thấy được điều này trong buổi thiền tọa sáng. Sáng hôm ấy con ngồi thật vững và thoải mái bên cạnh sư cô Chân Đức. Tiếp theo con quán chiếu và con thấy con cũng như những gì đang được biểu hiện trên cuộc đời là do các pháp hợp lại mà thành, và vì pháp là vô thường cho nên con nghĩ nếu như sau này con không còn mang thân tướng này nữa thì không biết các pháp sẽ hợp lại và đan thành cho con một chiếc áo khác ra sao?” Đúng là một câu hỏi triết học. “Nếu như là người thì con có thể là bất cứ một người nào, còn nếu như là chim, là cá, hay là hoa thì con cũng có thể là bất cứ một con chim, một con cá hay một bông hoa nào.” Sư em bắt đầu phóng tưởng về tương lai và thấy rằng nếu các pháp do duyên sinh thì ta có thể là bất cứ cái gì, là bất cứ người nào, là bất cứ con gì. “Bỗng dưng con thấy được rằng con không sẽ là, mà con đang là.” Tự nhiên sư em không quan tâm đến chuyện ta sẽ là cái gì nữa mà trở về để nhìn lại xem ta đang là cái gì. “Vì giờ đây con không biết được mình sẽ là gì thì trước khi con là con, con cũng đâu có biết được mình sẽ trở thành may mắn như vậy.” – Tức là được làm sư cô. Bây giờ trở về quá khứ, trong quá khứ ta cũng đâu biết được rằng ta sẽ làm sư cô. “Con đang có thể là bất cứ ai hay bất cứ cái gì. Con thấy được con đang là một người nghèo khổ nhất trong đời, có những hành động, suy nghĩ và nỗi lo của con người nghèo khổ và không may mắn đó. Rồi con thấy được con đang là một người cao quý nhất, may mắn nhất. Rồi con thấy con là người này, là người kia. Con thấy con cũng đang là Thầy nữa. Không những vậy, con thấy mình đang là con này rồi con kia, đang là cái này rồi cái kia. Cái thấy này cho con thông cảm hết tất cả, thương yêu hết tất cả và quý trọng hết tất cả. Ngay khi có cảm giác đó con thấy người mình sao thật là nhẹ.” Tức là sư em có được một tia sáng của tuệ giác, thấy ta đang là bất cứ ai, bất cứ con nào, bất cứ cái gì. “Nhưng lạ quá, ngay khi đó con lại có cảm giác như mình muốn buông xuôi cả người để đi mãi vào cái cảm giác nhẹ nhàng và sung sướng đó. Con thấy được rằng lúc ấy con lại vừa cười vừa khóc nữa. Con hạnh phúc quá đi. Tình thương con bây giờ không chừa ra bất cứ một ai. Tiếng chuông xả thiền đã được sư chị Thắng Nghiêm thỉnh lên. Lòng con nhủ thầm thật là tiếc. Tiếp theo đó, con thấy con là một với người sư chị mà con đang nhìn. Con thấy con là một với những gì con đang được tiếp xúc, cả những cành cây, những hạt sỏi trên con đường đi thiền hành mà con được đi cùng sư cô Chân Đức.” Sư em rất thương sư cô Chân Đức, được sư cô Chân Đức cho ở cùng phòng và được đi thiền với sư cô. “Khi về phòng sau buổi thiền hành, con giúp sư cô máng áo, sư cô nhìn con mỉm cười cảm ơn. Lúc đó, con muốn thốt lên một câu hỏi. Con muốn hỏi sư cô rằng: Sư cô ơi, sư cô có biết nụ cười trên môi sư cô là của con đang cười đó không? Đây là những điều làm lòng con nao nao muốn viết thư chia sẻ với Thầy.”

Khi đọc những dòng trên, ta có cảm tưởng rất rõ đây không phải là nói lý, đây không phải là chép lại những điều đã được học trong kinh, mà sư em nói thật cái thấy của sư em. Khi có một chí nguyện tu học, khi tuổi còn trẻ, khi năng lượng còn nhiều, khi có sự khao khát học hỏi thì không hẳn là ta phải học bốn năm, sáu năm, tám năm mới tiếp thu được tinh túy của đạo Bụt. Chỉ cần nghe một vài buổi pháp thoại với trái tim rộng mở thì ta đã có thể thấy được cái tinh túy của giáo pháp và sống với sự thật. Trong thư này sư em cũng nói vài điều tương tự, ví dụ: “Sáng đó con mặc áo đi ra ngoài trước để chờ sư cô cùng ra đi thiền hành với con, con nhìn lên trời thì thấy đám mây hôm qua không còn nữa. Con nghĩ rằng có lẽ đám mây đó ăn chất lạnh hơi nhiều nên nó nặng và nó đã rơi xuống. Bây giờ có thể nó đã nằm trong tuyết hoặc nó chun vào trong những thân cây để đợi mai mốt biểu hiện ra thành những chiếc lá.” Khi sư em có những cái thấy đó chứng tỏ sư em có hạnh phúc trong khi tu tập, quán chiếu. Chỉ khi nào biết sống đời sống hằng ngày với con mắt quán chiếu như vậy thì ta mới mau có tuệ giác và tuệ giác đó đưa ta tới hạnh phúc, vượt thoát các ý niệm về ngã, ta không còn băn khoăn vì các câu hỏi của các nhà triết học.

Ngày xưa, sau một thời gian quán chiếu, thầy có làm bài thơ Người hành khất năm xưa còn ngồi đó. Bài thơ này thai nghén từ năm 1966. Hôm đó, thầy thấy một con sâu đo đang du hành trên một cành hoa hồng.

Từ khoáng, từ khí, từ sương

Từ tâm linh

Từ những giới tử du hành giữa các tinh vân đi mau 

bằng ánh sáng

Em đã tới đây, đôi mắt xanh tỏa rạng

Vô thỉ và vô chung đã cùng vạch đường đưa lối em sang.

Trên đường đi em bảo em đã trải qua muôn triệu kiếp 

luân hồi sinh diệt

Đã từng làm bão lửa trên không

Đã từng đem thân đo tuổi núi tuổi sông

Làm cỏ, làm cây, làm sinh vật đơn tế bào, 

Làm đóa hoa diễm tuyệt

Nhưng đôi mắt em nhìn tôi sáng nay 

Lại chứng minh rằng em chưa bao giờ từng chết

Nụ cười kia vẫn mời tôi 

Tham dự nữa vào trò chơi đã bày ra từ tiền kiếp:

Trò chơi đi trốn đi tìm.

Hỡi con sâu xanh sáng nay đang uốn mình đo chồi cây 

Chồi cây non đã mọc suốt mùa hè năm ngoái 

Ai cũng bảo em chỉ mới sinh ra trong mùa xuân năm nay

Thực ra, ngươi đã có mặt từ hồi nào?

Sao mãi đến giây phút này mới chịu hiện nguyên hình, 

đem theo nụ cười trầm lặng?

Sâu ơi, mỗi hơi thở của tôi làm tuôn ra hàng vạn tinh cầu

Cái rất lớn kia, ai hay, lại không ngoài cái thân em rất nhỏ

Ở mỗi chấm trên thân em đã thiết lập muôn ngàn cõi Bụt

Và mỗi cái đo của em cần đến thời gian từ vô thỉ 

cho tới vô chung.

Người hành khất năm xưa vẫn còn trên Linh Thứu Sơn

Thản nhiên ngồi nhìn mặt trời huy hoàng đang lặn

Gotama! Ô hay! Ai bảo rằng Ưu Bát Đa La 

triệu năm mới có một lần nở?

Tiếng hải triều kia, có chiếc tai nào chịu lắng mà lại 

không nghe?

Giới tử có nghĩa là meson, là danh từ Triết học, chứ không phải là người sắp thọ giới. Tất cả chúng ta đều là những chất khoáng, chất khí, chất sương, đều là những điện tử, những giới tử, những hạt bụi và chúng ta đã du hành từ lâu. Ta với con sâu, đã từ lâu, tham gia vào trò chơi trốn tìm, khi thì ta biến hiện thành thế này, khi thì thành thế kia. Ta nói rằng đức Thế Tôn ngồi trên đỉnh núi Thứu 2.600 năm về trước và bây giờ ta leo lên đó thì không thấy Ngài nữa. Nhưng kỳ thực, Người hành khất năm xưa vẫn còn trên Linh Thứu Sơn. Thản nhiên ngồi nhìn mặt trời huy hoàng đang lặn. Nếu ta không bị kẹt vào tướng ngã, tướng chúng sinh, tướng thọ giả thì tại sao ta không thấy được đức Thế Tôn trong giờ phút hiện tại? Hễ có mắt là ta có thể nhìn thấy, hễ có tai là ta có thể nghe và đóa hoa Ưu Bát kia vẫn đang nở. Tiếng hải triều kia, có chiếc tai nào chịu lắng mà lại không nghe?

Chúng ta hãy xem lại kinh Duyên sinh. Đó là kinh 296 trong Tạp A hàm. Chữ tạp ở đây người ta thường hiểu là linh tinh (miscellaneous), vụn vặt, do đó gây ra ấn tượng hơi tiêu cực. Nhưng thực sự, Tạp A hàm là bộ kinh chứa đựng những tinh túy của kinh điển. Nhìn vào Tạp A hàm, ta thấy tính nguyên chất của Phật pháp hơn những bộ A hàm khác như Trường A hàm, Trung A hàm hay Tăng nhất A hàm, vì những bộ này có sự sắp xếp, còn Tạp A hàm thì rất tự nhiên và rất nguyên chất. Do đó, nếu muốn đi gần tới giáo lý nguyên thủy của đức Thế Tôn càng nhiều càng tốt thì thầy khuyên quý vị hãy tới với Tạp A hàm. Đây là một tập hợp các kinh nhỏ nhưng chứa đựng rất nhiều những giáo lý thuần khiết của Phật pháp.

Kinh Trung đạo nhân duyên, kinh Duyên sinh và kinh Đại không ở trong Tạp A hàm. Kinh Duyên sinh, thực ra phải gọi là kinh Nhân duyênDuyên sinh, nhưng ý nghĩa của nhân duyên và duyên sinh cũng gần như nhau nên chúng ta gọi tắt là kinh Duyên sinh. Chữ nhân duyên là những điều kiện tất yếu. Chữ nhân (因, the principal cause/condition) có nghĩa là hạt giống, là nguyên do chính. Chữ nhân (因) có chữ đại (大) ở giữa. Đại là một cái gì đó rất lớn, nhưng hiện tại nó đang bị cầm tù trong một khuôn khổ rất nhỏ; nếu cho nó những điều kiện thì những giới hạn đó sẽ tiêu tan và nó sẽ trở thành lớn. Chữ duyên là những điều kiện nhưng không gọi là những điều kiện chính. Vì vậy, khi ta nghĩ về một hạt cải, ta thấy hạt cải là một cái nhân, nó nhỏ như vậy vì chưa có những điều kiện khác. Ta đem gieo hạt cải xuống đất ướt và tưới nước thì nó bung ra, thành một cây cải rất lớn. Những điều kiện như đất, nước, sức nóng, phân bón gọi là duyên. Duyên tức là một nhân và nhân tức là một duyên. Nhân là duyên chính, và duyên là những nhân phụ thuộc vào. Ta có thể dịch nhân duyên là những điều kiện tương quan tương duyên (inter-dependent origins hoặc là dependent co-arising; dependent là nương vào nhau, không thể đứng một cách độc lập được; co- là cùng nhau, cùng một lúc, chung với nhau; arising tức là phát khởi, 發起). Nền độc lập gọi là Independence. Ở Mỹ, có những Phật tử hiểu lý duyên khởi, họ nói rằng nước Mỹ không thể nào đứng vững được nếu không có những nước khác. Cho nên thay vì mừng Ngày độc lập thì họ đổi thành mừng Ngày liên lập (Celebrating the Independence Day – Celebrating the Interdependence Day). Interdependence là cái này nương vào cái kia mà có mặt.

Nhân duyên là một danh từ và duyên sinh là một danh từ khác. Nhân duyên là interdependent origins và duyên sinh là dependent co-arising. Định nghĩa trong kinh Duyên sinh cũng như trong kinh Đại khôngthử hữu cố bỉ hữu, thử khởi cố bỉ khởi; 此有故彼有, 此起故彼起; This is because that is, this arises because that arises; Cái này có mặt cho nên cái kia có mặt. Định nghĩa này trong kinh A hàm được lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Ta có thể nói: “thử sinh cố bỉ sinh”, nhưng chữ khởi hay hơn chữ sinh, khởi tức là dấy lên, biểu hiện ra. Đó là định nghĩa chính thức của Duyên khởi, Duyên sinh trong kinh điển, có thể nói là định nghĩa hay nhất. Hay nhất một phần vì nó đơn giản, không thể đơn giản hơn. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Ở Làng Mai, ta có thêm một câu nữa là: Cái này như thế này vì cái kia như thế kia. Tại vì ta nhăn mặt nên tấm kính cũng nhăn mặt lại, tại ta mỉm cười nên tấm kính cũng mỉm cười lại, tại ta dễ thương nên sư anh dễ thương…

Trong đạo Bụt chúng ta có nhiều thuyết về nhân duyên. Có thuyết nói về bốn duyên, có thuyết nói về mười hai duyên, hai mươi duyên, hai mươi hai duyên. Duyên ở đây có nghĩa là điều kiện, những điều kiện liên hệ nhau để làm biểu hiện ra cái mà ta gọi là có; khi những điều kiện đó không giao tiếp với nhau đầy đủ, cái đó không biểu hiện thì ta thường gọi cái đó là không có. Khi những điều kiện giao nhau, liên hệ với nhau thì ta nhận thức được các pháp, có tri giác về các pháp và đạo lý nhân duyên – sự vận hành của các pháp, dù các đức Thế Tôn ra đời hay không thì nó vẫn là nền tảng của thực tại. Quy luật đó, sự thật đó luôn luôn có mặt và tồn tại  trong lĩnh vực của các pháp, cho nên trong kinh này có câu Thử pháp thường trụ, pháp trụ pháp giới; 此法常住, 法住法界. Sự thật này/các pháp này luôn luôn có mặt trong pháp giới. Chữ pháp giới (dharmadhātu) thường được dùng kèm với danh từ thế giới (lokadhātu). Thế giới là danh từ chỉ cõi mà trong đó người ta thấy rằng sự vật có sinh có diệt, cái này độc lập với cái kia. Ví dụ như cây bưởi nằm ngoài cây chanh, hồ sen nằm ngoài thiền đường. Còn pháp giới là chiều sâu của thực tại, trong đó mọi hiện tượng đan vào nhau, không thể tách rời, hồ sen không thể nằm ngoài thiền đường, thiền đường không thể nằm ngoài hồ sen, sư anh không thể nằm ngoài sư em được. Pháp giới là thế giới trong đó các pháp nương vào nhau mà thành, trong cái một có cái tất cả. Do đó, ta cần phân biệt hai danh từ pháp giới và thế giới. Pháp trú pháp giới tức là các pháp an trú trong pháp giới, nếu ta tiếp xúc được với chúng một cách sâu sắc thì ta có thể thực chứng được tính vô sinh bất diệt của các pháp; còn nếu ta nhận thức cạn cợt thì ta chỉ đi trong thế giới, thấy các pháp có sinh có diệt, đứng riêng một mình, không dính líu gì tới các pháp khác. Vì vậy trong kinh Duyên sinh ta phải để ý tới danh từ pháp trú pháp giới. Thật ra, theo chân lý nhân duyên này thì các pháp đều đang an trú trong pháp giới tính của nó. Ta có pháp giới tính của ta, bông hoa có pháp giới tính của bông hoa. Nếu ta tiếp xúc được pháp giới tính của ta thì ta vượt khỏi ý niệm sinh diệt, có không, còn mất. Nếu ta tiếp xúc được pháp giới tính của bông hoa thì ta không thấy bông hoa vô thường, sinh diệt, có không nữa. Vì vậy, ý niệm “pháp trú pháp giới” rất quan trọng. Ta có thể tìm thấy tinh hoa của Phật giáo Đại thừa trong những kinh nguyên thủy như kinh Duyên sinh này. 

Trong kinh, ta thấy danh từ thử đẳng chư pháp – “các pháp đó”. Các pháp đó tức là các pháp duyên sinh. Đó là pháp trú, pháp như, pháp không, pháp nhĩ, pháp bất ly như, pháp bất dị như. Cái này ta đã học kỳ trước. 

Khi ta quán sát cho thật kỹ lưỡng – thẩm sát chân thật bất điên đảo và không nhìn một cách lộn ngược đầu thì ta có thể đi vào trong duyên khởi. Tùy thuận ở đây là đi theo, thể nhập, hòa làm một vào dòng của duyên khởi. Lúc đó, ta thực chứng được pháp gọi là duyên sinh pháp. Nhờ đó ta có được hiểu biết chính xác và tuyệt đối về nó. Đó là chứng nhập. Tùy thuận ở đây nghĩa là chứng nhập. Đi theo và thể nhập được thì ta biết rõ thế nào là duyên sinh pháp. 

Khi đã thấy được rồi thì ta không còn băn khoăn, hướng về quá khứ để hỏi rằng trong quá khứ ta đã có mặt hay không, ta có hay ta không có, nếu ta có mặt trong quá khứ thì ta là con gì, là người nào, hình thái và nội dung của ta ra sao. Và ta cũng không băn khoăn về tương lai, đặt câu hỏi là trong tương lai ta sẽ có hay là ta sẽ không có. Nếu có thì ta làm loại gì và hình tướng ra sao. Và khi trở về nội thân hiện tại, ta cũng không cần đặt những câu hỏi vô ích như ta là ai, ta có hay ta không có. “Ai bảo dùm: ta có, có ta không.” Đó là một câu thơ của Chế Lan Viên. Ta có hay là ta không có, ta từ đâu tới, ta sẽ đi về đâu. Đó là những câu hỏi ta đặt ra khi ta chưa tùy thuận được vào lý duyên khởi. 

Khi ta đã tùy thuận, tùy nhập vào lý duyên khởi rồi thì ta vượt thoát được những sợi dây ràng buộc. Trước hết là tà kiến, rồi tới chúng sinh kiến, thọ mạng kiến, húy kỵ cát khánh kiến. Húy kỵ cát khánh kiến tức là ta tin vào bói toán, thích hỏi về số phận tương lai của ta ngày mai như thế nào? Biết ra sao ngày sau? Nhưng khi bói Kiều thì khác, bói Kiều không phải để biết ngày mai ra sao, mà để hỏi chư vị Tổ tiên, con phải làm sao cho đúng, học hành xử thế cách nào cho hay? Cụ Nguyễn Du luôn luôn nói con phải làm cái này thì con mới được cái kia… Cụ Nguyễn Du thường dạy về lý nhân quả. 

Khi đã vượt thoát những cái tương đương với Tứ tướng trong kinh Kim cương thì ta sẽ đạt tới trạng thái vô sinh bất diệt, gọi là bất sinh pháp. Có khi ta cũng gọi bất sinh pháp là vô sinh: Cửa vô sinh mở rồi. Vô sinh là bất sinh bất diệt, đó là pháp giới, là bản chất của niết bàn.

Phải tu tập cho khéo léo thì mới tùy thuận được lý duyên khởi. Cho nên chúng ta thấy những danh từ trong câu: ư nhân duyên pháp, duyên sinh pháp, như thật chánh tri, thiện kiến, thiện giác, thiện tu, thiện nhập. Đối với pháp duyên sinh ta có “tri kiến như thật”. “Như thật” tức là không bóp méo. Thiện kiến là khéo thấy, thiện giác là khéo thức tỉnh, thiện tu là khéo thực tập, thiện nhập là khéo đi vào. Tức là đòi hỏi ta phải có sự khéo léo trong khi tu học. Tu học là phải khéo léo chứ không phải lao động cực nhọc. Không phải vì lao động cực nhọc nhiều mà ta thành đạo được. Khéo léo ở đây là thiện, thiện kiến, thiện giác, thiện tu, thiện nhập. Phải đem sự thông minh của ta ra thực tập.

Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 15 & 19 tháng 03 năm 1998, tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp)

Kinh Trung đạo nhân duyên, 中道因緣, được dịch từ Hán tạng, kinh số 301 trong bộ Tạp A hàm, kinh số 99 của tạng Đại chánh. Trong khi dịch kinh này, thầy có tham khảo một kinh tương đương thuộc tạng Pāḷi, kinh Kaccāyanagotta, trong Tương ưng bộ (Sayukta Nikāya II, 16 –17).

Kinh Trung đạo nhân duyên nói về chánh kiến, về tri kiến chân chính, vượt thoát khỏi ý niệm có và không. Hôm trước chúng ta học sơ lược về chánh kiến, thân miệng ý noi về chánh kiến. Chúng ta đã học chánh kiến dưới khía cạnh của Bốn sự thật – khổ, tập, diệt, đạo và dưới ánh sáng của Tứ thực – bốn loại thức ăn (đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực). Ở đây, chúng ta sẽ học chánh kiến dưới khía cạnh của Trung đạo, vượt thoát ý niệm có (being) và ý niệm không (non–being). Có là một ý niệm và không là một ý niệm khác.

Trung đạo, the middle way, là vượt thoát ý niệm có và ý niệm không. Trung đạo không có nghĩa là cộng cái này với cái kia rồi chia đôi, tức là một nửa có một nửa không, hoặc vừa có vừa không, hoặc không có cũng không không. Trung đạo là vượt thoát cả có, không, vừa có vừa không, không có không không.

Triết học vẫn thường đặt vấn đề về có và không. Thế giới có thật không hay chỉ là một ảo tưởng? Câu hỏi của các nhà triết học là: To be or not to be? Có hay không? Tồn tại hay không tồn tại? Thi sĩ Shakespeare có nói rằng: “To be or not to be, that is a question (Tồn tại hay không tồn tại, đó là một câu hỏi).” Tuy nhiên, trong đạo Bụt chúng ta phải vượt thoát hai ý niệm có và không, do đó chúng ta nói ngược lại rằng: “To be or not to be, that is not the question (Tồn tại hay không tồn tại, đó không phải là câu hỏi).” 

Trong khi học kinh Trung đạo nhân duyên, chúng ta nên tham cứu thêm hai kinh khác nữa. Đó là kinh 296 (có thể gọi là kinh Duyên sinh, 緣生) và kinh 297 (kinh Đại không, Đại không pháp kinh, 大空法經). Hai kinh này cũng nằm trong Tạp A hàm, thuộc Hán tạng và đã được dịch sang tiếng Việt. 

Kinh Trung đạo nhân duyên, bản tiếng Pāḷi là Kaccāyanagotta Sutta. Kaccāyana là tên tiếng Pāḷi của thầy Ca Chiên Diên, tiếng Phạn là Kātyāyana.

Đây là những điều mà chính tôi đã được nghe hồi Bụt cư trú tại ngôi nhà khách ở trong một khu rừng thuộc tụ lạc Na Lợi. Lúc ấy có tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên đến thăm Người. Sau khi đảnh lễ dưới chân Bụt, đại đức lui về một bên, ngồi xuống và bạch:

– Thế Tôn, Thế Tôn thường nói tới danh từ chánh kiến. Vậy chánh kiến là gì? Thế Tôn diễn giải về chánh kiến như thế nào? 

Trong bản tiếng Pāḷi người ta ghi chép rằng kinh này Bụt nói ở thành Xá Vệ, khác biệt với bản Hán tạng. Thành Xá Vệ thuộc nước Kosala. Nhà khách trong khu rừng ở tụ lạc Na Lợi thuộc nước Ma Kiệt Đà. 

Lần này Bụt không nói về chánh kiến như cái thấy về Tứ đế, về Bát chánh đạo hay về Tứ thực. Bụt nói chánh kiến dưới cái thấy của Trung đạo. 

Bụt bảo tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên:

– Người đời thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức: một là , hai là không. Đó là do vướng mắc vào tri giác sai lầm của mình. Vì vướng vào tri giác sai lầm cho nên mới kẹt vào hoặc ý niệm có hoặc ý niệm không.

Những câu kinh này tự nó đã rất rõ ràng. Vì có những tri giác sai lầm cho nên chúng ta mới nghĩ rằng thế giới này hoặc có thật hoặc không có thật.

Tán Đà Ca Chiên Diên! Phần lớn người đời đều bị kẹt vào chấpthủ. Người không còn bị kẹt vào chấpthủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã nữa.

Ở đây chúng ta có hai danh từ là chấpthủ. Chấp là nắm lấy, không buông bỏ. Thủ là mắc kẹt. Ví dụ khi bị cua kẹp, ta rút ra không được thì gọi là thủ. Con cua kẹp lấy ta không chịu nhả ra, bởi vì từ ban đầu chính ta nắm lấy nó. Đó là ý niệm, là tri giác sai lầm của ta. Ta kẹt vào ý niệm, vào tri giác sai lầm, vì vậy ta bị vướng mắc. 

Người không còn bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã nữa. Nắm giữ là không buông ra. Kế là đo (measure, calculate); đạt là ước lượng, ước tính (estimate). Kế đạt là đo lường, dự toán, so sánh, tưởng tượng, tức là ta cố gắng để có một ý niệm về cái đó, rằng cái đó là lớn, là nhỏ, là quan trọng, là không quan trọng, là có, là không. Vọng tưởng là tưởng tượng ra, gán cho sự thật những ý niệm này, ý niệm kia. Tự thân cái đó không như vậy mà ta nghĩ là như vậy; tự thân cái đó không phải là thường mà ta nghĩ là thường; tự thân cái đó không có ngã mà ta nghĩ là có ngã; tự thân cái đó là nguy hiểm mà ta nghĩ là an toàn. Vọng tưởng đó do kế đạt mà sinh ra. Đối tượng cũng như nguyên do của tất cả những nắm bắt, những kế đạt, những vọng tưởng đó là ý niệm về ngã. Ý niệm về ngã là cốt lõi, là trung tâm của tất cả những nắm bắt, những kế đạt và những vọng tưởng. Ý niệm về ngã là sự âm thầm tin tưởng rằng có một cái gọi là cái ta (ngã – ta, tiếng Anh là me) và có một cái thuộc về cái ta đó (ngã sở – của ta, tiếng Anh là mine).

Người ấy biết cái khổ khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó hoại diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của người khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được.

Đức Thế Tôn nói đến khổ như một ví dụ. Khổ là một pháp, như một bông hoa, một cái bình thủy hay một cái bàn. Ở đây, Bụt không có chủ đích nói về Tứ diệu đế. Ví dụ ta có một nỗi khổ đau, ta quán chiếu và thấy được khổ đau đó là do điều kiện này, điều kiện kia tập hợp lại và làm cho khổ đau biểu hiện. Cũng như bông hoa, quán chiếu cho sâu sắc thì thấy có những điều kiện tụ họp lại, làm cho bông hoa biểu hiện. Khi những điều kiện không còn thuận lợi nữa thì bông hoa tan rã. 

Người ấy biết cái khổ khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó tiêu diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Ta cũng vậy, quán chiếu cho sâu sắc thì thấy được tất cả đều do các nhân duyên hòa hợp mà biểu hiện. Khi những nhân duyên tan rã thì hiện tượng đó cũng tan rã, không có gì để phải nghi hoặc. 

Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của người khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được. Chúng ta tin không phải vì nghe Bụt nói cái này là vô thường, cái này là vô ngã, cái này do duyên sinh mà có. Mà chính nhờ vào sự quán chiếu nên ta thấy được. Cái thấy của ta không phải được hình thành từ những lời giáo huấn, những ý niệm của người khác. Ở đây, đức Thế Tôn nói về sự thực chứng. Ta tự quán chiếu để thấy chứ không lặp lại như con vẹt những điều người khác nói cho ta nghe. Ví dụ ta có một nỗi khổ, nhìn sâu vào trong lòng nỗi khổ ta thấy được những nguyên do xa gần đã đưa đến cái khổ ấy. Đó là điều ta tự thấy chứ không phải vì có người nói: “Anh đang khổ, anh phải tin rằng anh đang khổ”. Nhờ có sự quán chiếu, có trí tuệ, ta thấy ta đang khổ và đồng thời thấy được các yếu tố gần xa làm cho nỗi khổ ấy biểu hiện. Vì thế ta không còn nghi hoặc gì về cái thấy của ta nữa. Ta tự quán sát ra cái thấy chứ không phải do tiếp nhận một cách lý thuyết từ người khác.

Cái thấy ấy gọi là chánh kiến. Đó là cách trình bày chánh kiến của Như Lai.

Vì sao thế? Người có tri kiến chân chính khi quan sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy thế gian là không.

Thế gian đang được sinh khởi, đang được biểu hiện. Bông hoa đang được biểu hiện, tại sao ta nói là không có bông hoa? Ta thấy nỗi khổ đang ùn ùn kéo tới, tất cả đang biểu hiện một cách rõ ràng, ta không thể nói là không có nỗi khổ. Ta kẹt vào ý niệm không là không đúng. 

Người có tri kiến chân chính  khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy thế gian là có. 

Khi bông hoa đang hoại diệt, khi cái bàn đang hoại diệt, khi cái khổ đang hoại diệt thì ta đâu thể nói bông hoa đang có, cái bàn đang có, cái khổ đang có. Đừng thấy sự biểu hiện của các pháp mà nói các pháp là có; đừng thấy sự tàn hoại của các pháp mà nói các pháp là không. Vì căn cứ trên tri giác cạn cợt, sai lầm mà ta nói cái đó là có hay là không, sự thật thực tại vượt khỏi cả hai ý niệm có và không. Đó là ý của đức Thế Tôn. 

Khi ta không thấy biểu hiện thì ta nói là không có. Khi thấy có biểu hiện thì ta nói là có. Đó là sai lầm của rất nhiều người. Ví dụ khi thiền hành quanh xóm Hạ vào tháng Tư, ta không thấy hoa hướng dương và ta nói không có hoa hướng dương. Nhưng kỳ thực, khi lái xe ngang qua con đường ta thường thiền hành thì người nông dân thấy rất khác. Họ thấy có hoa hướng dương, vì họ đã gieo hạt giống rồi. Chỉ cần đợi đến tháng Năm, tháng Sáu là hoa hướng dương nở rộ. Ta không thấy được chiều sâu, nên vội vã kết luận là không có. Nhưng người nông dân biết là có. Đến khi hoa hướng dương đã biểu hiện, nhưng người nông dân thấy rất rõ rằng chỉ trong vòng một, hai tháng nữa là cánh đồng hoa hướng dương này sẽ trở nên trơ trụi và trống không. Trong khi đó, ta chưa thấy được điều này và cho rằng cánh đồng hoa hướng dương là có. Vì vậy cho nên hai ý niệm có và không không phù hợp với thực tại. 

Tán Đà Ca Chiên Diên! Chấp có là một biên kiến, chấp không là một biên kiến khác; Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp ở trung đạo.

Chữ biên là một bên (tiếng Anh dịch là extreme, biên kiến dịch là extreme view). Giáo lý của đức Như Lai phản chiếu trung đạo, tức là con đường vượt thoát hai thái cực có – không, sinh – diệt, một – khác, tới – đi. Không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, không một cũng không khác, không tới cũng không đi. Nếu hiểu được trung đạo không có cũng không không thì ta có thể hiểu được không sinh cũng không diệt, không tới cũng không đi, không một cũng không khác. Anh với tôi không phải là một, cũng không phải là khác.

Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp ở trung đạo. Nghĩa là: Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh.

Đây là những lời rất đơn giản nhưng sâu sắc. Nếu người ta hỏi trong đạo Bụt có giáo lý giảng dạy về nguyên do hình thành thế giới hay không, thế giới này vì sao mà có, ai tạo ra thế giới này, lúc ban đầu như thế nào và kết cuộc như thế nào,… thì chúng ta có thể nói lên bài kệ này: “Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này không vì cái kia không, cái này diệt vì cái kia diệt.” Đó là sự trình bày giáo lý duyên khởi một cách hết sức đơn giản. This is because that is. This is born because that is born. Bông hoa có mặt vì ánh sáng mặt trời có mặt, hạt giống có mặt, đất có mặt, người trồng hoa có mặt. Cái này có vì những cái kia có. Đó là câu trả lời siêu việt nhất mà đơn giản nhất của đạo Bụt về sự hình thành thế giới. 

Chúng ta đã từng học chữ vô thỉ, nghĩa là không có bắt đầu. Vì thời gian là một pháp hữu vi và thời gian dựa vào không gian mà biểu hiện. Địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió), không (không gian), thời (thời gian), phương (phương hướng), thức (tâm thức) – tám đại này nương vào nhau mà thành, như thời gian được biểu hiện từ những cái khác. Thời gian có mặt vì bảy đại kia có mặt. Điều này cũng đúng cho bông hoa, cho nỗi khổ niềm đau và đúng cho tất cả mọi hiện tượng trên thế giới. Những câu hỏi: “Cái gì là nguyên nhân đầu tiên? Lúc đầu tiên nó như thế nào?… là những câu hỏi do sự vô minh, sự không thấu đáo lý duyên khởi mà có. Một khi ta thấu đáo được lý duyên khởi, nắm được giáo lý trung đạo nhân duyên thì những câu hỏi tương tự trở thành những câu hỏi rất vụng về, ngây thơ. Chúng ta thấy rằng, thời gian cũng như không gian, vật thể cũng như tâm thức, đều nương vào nhau mà có, cái này biểu hiện vì cái kia biểu hiện, cái này ẩn tàng vì cái kia ẩn tàng. Tất cả những điều này đều là đối tượng của sự quán chiếu. Ta không cần tiếp thu từ một vị thầy nào, một giáo lý nào mà phải tự quán chiếu để thấy.

Nghĩa là: Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh; từ vô minh mà có hành, từ hành mà có thức, từ thức mà có danh sắc, từ danh sắc mà có lục nhập, từ lục nhập mà có xúc, từ xúc mà có thọ, từ thọ mà có ái, từ ái mà có thủ, từ thủ mà có hữu, từ hữu mà có sinh, từ sinh mà có lão tử và khổ đau chồng chất thành khối. Nếu vô minh không còn thì hành không còn, hành không còn thì thức không còn, thức không còn thì danh sắc không còn, danh sắc không còn thì lục nhập không còn, lục nhập không còn thì xúc không còn, xúc không còn thì thọ không còn, thọ không còn thì ái không còn, ái không còn thì thủ không còn, thủ không còn thì hữu không còn, hữu không còn thì sinh không còn, sinh không còn thì lão tử không còn và nguyên khối khổ đau chồng chất kia bị tiêu diệt.

Bụt nói kinh này xong, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên thấy tâm bừng sáng giải thoát, cắt đứt được các hệ lụy và chứng quả A la hán.

Trong kinh Trung đạo nhân duyên, Bụt cũng nói đến Mười hai nhân duyên, tức là giáo lý duyên khởi phát triển đến mức đầy đủ nhất. Trước đó Bụt nói đến bảy nhân duyên, tám, chín, mười và mười hai nhân duyên. Thuyết nào cũng đúng, nói bảy cũng được, nói tám, chín, mười hay mười hai nhân duyên cũng được, thêm chi tiết vào để người ta hiểu rõ hơn thôi. Giống như chúng ta phân tích thì có khi nói danh sắc, gồm vật chất và tinh thần, là đủ. Hay chúng ta chia ra làm ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng được. Hai yếu tố – danh sắc không trái chống với năm yếu tố – ngũ uẩn. Cũng như cách ta phân chia thành tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong), rồi sau đó lại phân thành lục đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), tiếp đến là tám đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, thức) thì cũng như nhau cả. Nếu chúng ta muốn làm ra mười đại cũng được vì trong một yếu tố có thể thấy được tất cả những yếu tố khác. 

Trước khi tiếp tục ta nên đọc qua bản chữ Hán, đây là một trong những kinh khó dịch và văn rất cổ. Quý vị cũng phải tập cho quen để sau này có thể một mình đi vào được Đại tạng.

Như thị ngã văn: Đây là những điều tôi được nghe.

Nhất thời Phật trú Na Lê tụ lạc: Một thời nọ, Bụt đang cư trú tại một làng xóm tên là Na Lợi. (Na Lợi là ngôi làng nằm không xa quê hương của thầy Xá Lợi Phất). 

thâm lâm trung: ở trong rừng sâu 

đãi tân xá: nhà khách 

Nhĩ thời, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên: Lúc bấy giờ tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên 

nghệ: đi tới

Phật sở: chỗ ở của Bụt 

khể thủ Phật túc: cúi đầu làm lễ dưới chân Bụt, chạm trán mình vào chân Bụt

thối trú nhất diện: đi lui, ngồi xuống một bên. Thường là không ngồi trước mặt thầy mà ngồi sang một bên.

bạch Phật ngôn: bạch với Bụt rằng

Thế Tôn! Như Thế Tôn thuyết chánh kiến: Thế Tôn thường hay nói về chánh kiến 

Vân hà chánh kiến?: Chánh kiến là như thế nào? (What is the right view?) Vân hà Thế Tôn thi thiết chánh kiến? Thi thiết là trình bày, diễn giải  và xây dựng ra. Thế Tôn diễn giải về chánh kiến như thế nào? (How do you explain the right view?) Thế Tôn tức là bậc tôn quý ở trong đời.

Phật cáo Tán Đà Ca Chiên Diên: Phật nói với Tán Đà Ca Chiên Diên rằng

Thế gian hữu nhị chủng y: Người đời có hai chỗ nương vào. Nhị chủng là hai thứ; y là nương tựa, lệ thuộc, dựa vào.

nhược hữu: hoặc có 

nhược vô: hoặc không 

vi thủ sở xúc: vì cái nắm bắt đó mà bị mắc kẹt. Chữ xúc ban đầu có nghĩa là tiếp xúc. Ta nắm nó thì nó nắm ta, nó dính ta (giống như con chuồn chuồn, con ve khi dính vào mủ mít thì bị mủ mít dính lại).

thủ sở xúc cố: vì nắm và bị kẹt cho nên 

hoặc y hữu, hoặc y vô: hoặc dựa trên ý niệm có hoặc dựa trên ý niệm không. 

Nhược vô thử thủ giả: nếu không có sự nắm bắt đó 

tâm cảnh hệ trước: thì khi tâm và cảnh tiếp xúc nhau. Tâm là chủ thể nhận thức, cảnh là đối tượng nhận thức; hệ trước là có liên hệ với nhau và tiếp xúc với nhau. 

sử bất thủ, bất trú, bất kế ngã: khiến cho ta không phải nắm bắt, không bị giữ lại đó (bất trú là không bị ở lại đó), không tính toán, không kế đạt, không nắm bắt ý niệm về ngã, không kẹt vào ý niệm về ngã, không tưởng tượng, không đo lường, không ức đạt về ngã. Bất thủ, bất trú, bất kế ngã nghĩa là bất thủ ngã, bất trú ngã, bất kế ngã. Nhược vô thử thủ giả, tâm cảnh hệ trước, sử bất thủ, bất trú, bất kế ngã: nghĩa là nếu không có sự nắm bắt và ràng buộc đó thì khi tâm cảnh tiếp xúc nhau, ta không nắm vào ngã, không bị kẹt vào ngã, không kế đạt vào ngã.

khổ sinh nhi sinh, khổ diệt nhi diệt: ví dụ như cái khổ, khi nó sinh thì nó sinh, khi nó diệt thì nó diệt.

ư bỉ bất nghi, bất hoặc: nơi sự kiện sinh diệt của cái khổ đó ta không nghi hoặc gì cả, ta thấy rất rõ ràng cái khổ phát sinh vì những nguyên do nào và nó hoại diệt vì những lý do nào. 

bất do ư tha nhi tự tri: không phải từ người khác mà là chính mình tự biết lấy; bất do ư tha là không phải do người khác; nhi tự tri: nhưng một mình tự biết.

thị danh chánh kiến: cái đó gọi là chánh kiến. Chánh kiến ở đây là một kinh nghiệm trực tiếp của ta về thực tại. Kinh nghiệm có được do sự quán chiếu của chính mình chứ không phải nhờ học hỏi từ người khác. 

thị danh Như Lai sở thi thiết chánh kiến: đó là phương thức mà Như Lai trình bày, giảng giải và thực tập về chánh kiến; thi thiết là trình bày, giảng giải, thực tập.

Sở dĩ giả hà?: Tại sao vậy? 

Thế gian tập: trong khi thế gian đang hình thành (như bông hoa, cái bàn hay nỗi khổ); tập là hình thành, sinh ra, being formed, những điều kiện tới với nhau và làm hình thành nên một cái gì đó thì gọi là tập.

như thật chánh tri kiến: nếu ta dùng tri kiến chân chánh, đích thực mà quán chiếu. Như thật ở đây được dịch từ chữ tathātā, reality as it really is, tức là chân như, là tự thân của thực tại. Ta không tưởng tượng về nó, không gán cho nó ý niệm này, ý niệm kia mà chính bản thân của nó là như vậy. Như thật chánh tri kiến là ta thấy được, biết được nó một cách như thật. (If we have the knowledge, the right view as what the reality really is).

nhược thế gian vô giả bất hữu: nếu chúng ta đang quán sát một cách chính xác sự hình thành của thế gian thì lúc đó ý niệm cho rằng thế gian không có là không đúng; bất hữu nghĩa là điều đó không đúng. Cái gì không đúng? Đó là ý niệm vô, trong khi thế giới đang hình thành. 

thế gian diệt: thế gian đang tàn hoại (bông hoa đang tàn hoại, cái bàn đang tàn hoại, nỗi khổ đang tàn hoại).

như thật chánh kiến: nếu chúng ta có tri kiến chân chánh biết rõ bản chất sự thật. 

nhược thế gian hữu giả vô hữu: mà nếu nói rằng thế gian có thì cũng không đúng. Có nghĩa là khi cái gì đang hình thành mà ta nói cái đó không có, điều đó không đúng; khi cái gì đang tàn hoại mà ta nói cái đó có, thì điều đó cũng không đúng. 

Bản dịch tiếng Việt: Người có tri kiến chân chính khi quán sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy thế gian là không. Người có tri kiến chân chính thì khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy thế gian là có. 

thị danh ly ư nhị biên thuyết ư trung đạo: điều đó gọi là xa lìa hai thái cực mà nói Pháp ở lĩnh vực trung đạo. 

sở vị thử hữu cố bỉ hữu: cái này có vì cái kia có 

thử khởi cố bỉ khởi: cái này biểu hiện vì cái kia biểu hiện. Có cha thì có con, có con thì có cha; có anh thì có em, có em thì có anh; có ngày thì có đêm, có đêm thì có ngày; hai cái nương vào nhau mà có. 

vị duyên vô minh hành: do duyên vô minh mà có hành… Ở đây chỉ nói một cái, còn những cái như do duyên hành mà có thức,… không nhắc tới bởi vì ta đã biết những cái đó. Ở đây các thầy dịch lược bớt nên để dấu ba chấm. Trong bản dịch của chúng ta liệt kê đầy đủ nên dài hơn.

nãi chí thuần đại khổ tụ tập: thuần đại khổ là cả một khối đau khổ lớn – nó chứa nhóm, nó hình thành thì gọi là tụ tập.

vô minh diệt cố hành diệt: khi vô minh tan rã thì hành tan rã… Ở đây cũng để dấu ba chấm lược bớt. 

nãi chí thuần đại khổ tụ diệt: cho đến khi cả khối khổ đau tụ tập kia tan rã. 

Trong chương này của Tạp A hàm, có rất nhiều kinh nói về mười hai nhân duyên nên các thầy chỉ liệt kê đầy đủ mười hai nhân duyên trong một số kinh, còn các kinh khác các thầy dùng dấu ba chấm để thể hiện sự lược bớt.

Phật thuyết thử kinh dĩ, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên văn Phật sở thuyết, bất khởi chư lậu, tâm đắc giải thoát, thành A La Hán: Phật nói kinh này xong, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên nghe Phật nói rồi thì không phát khởi những tư tưởng hữu lậu, tâm được giải thoát và thầy trở thành một vị A La Hán.

Kinh Trung đạo nhân duyên

Kinh văn

Ðây là những điều mà chính tôi đã được nghe hồi Bụt cư trú tại ngôi nhà khách trong một khu rừng thuộc tụ lạc Na Lợi. Lúc ấy có tôn giả Tán Ðà Ca Chiên Diên đến thăm Người. Sau khi đảnh lễ dưới chân Bụt, đại đức lui về một bên, ngồi xuống và bạch: 

“Thế Tôn, Thế Tôn thường nói tới danh từ chánh kiến. Vậy chánh kiến là gì? Thế Tôn diễn giải về chánh kiến như thế nào?”

Bụt bảo tôn giả Tán Ðà Ca Chiên Diên:

“Người đời thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức: một là , hai là không. Ðó là do vướng mắc vào tri giác sai lầm của mình. Vì vướng vào tri giác sai lầm cho nên mới kẹt vào hoặc ý niệm có hoặc ý niệm không. Tán Ðà Ca Chiên Diên! Phần lớn người đời đều bị kẹt vào chấp thủ. Người không bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã nữa. Người ấy biết cái khổ khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó hoại diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của kẻ khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến. Ðó là cách trình bày chánh kiến của Như Lai. Vì sao thế? Người có tri kiến chân chánh khi quán sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy thế gian là không. Người có tri kiến chân chánh  khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy thế gian là có.

“Tán Ðà Ca Chiên Diên! Chấp có là một biên kiến, chấp không là một biên kiến khác; Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp ở trung đạo. Nghĩa là: Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh; từ vô minh mà có hành, từ hành mà có thức, từ thức mà có danh sắc, từ danh sắc mà có lục nhập, từ lục nhập mà có xúc, từ xúc mà có thọ, từ thọ mà có ái, từ ái mà có thủ, từ thủ mà có hữu, từ hữu mà có sinh, từ sinh mà có lão, tử và khổ đau chồng chất thành khối. Nếu vô minh không còn thì hành không còn, hành không còn thì thức không còn, thức không còn thì danh sắc không còn, danh sắc không còn thì lục nhập không còn, lục nhập không còn thì xúc không còn, xúc không còn thì thọ không còn, thọ không còn thì ái không còn, ái không còn thì thủ không còn, thủ không còn thì hữu không còn, hữu không còn thì sinh không còn, sinh không còn thì lão, tử không còn và nguyên khối khổ đau chồng chất kia bị tiêu diệt.”

Bụt nói kinh này xong, tôn giả Tán Ðà Ca Chiên Diên thấy tâm bừng sáng giải thoát, cắt đứt được các hệ lụy, và chứng quả A la hán.

Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại năm 2007)

Nghe tiếng chuông, chúng ta trở về với hơi thở, cảm thấy hạnh phúc mỗi khi nghe chuông, không cần phải chắp tay xá. Thở vào, tâm con tĩnh lặng. Thở ra, miệng con mỉm cười

Kính thưa đại chúng, tôi có một ước mơ mà trên 30 năm mới thực hiện được, là viết một bài tụng cho các em thiếu nhi từ năm, sáu tuổi trở lên. Điều này có vẻ như rất dễ nhưng thực ra rất khó. Chúng ta có nhiều bài tụng cho người lớn, có những bài rất hay, như bài Hướng về kính lạy, Quy mạng. Nhưng chưa có bài nào thực sự dành cho các em. Sáu mươi, bảy mươi năm nay, các em thiếu nhi, các em oanh vũ nam và oanh vũ nữ phải tụng một bài mà tôi nghĩ không phải dành cho thiếu nhi. Mới có năm tuổi đầu mà phải tụng những câu như: Đệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề… – tội nghiệp cho các em vô cùng. Bài tụng đó rất hay nhưng không dành cho các em năm, sáu tuổi. Vì vậy, tôi thao thức hơn 30 năm muốn làm một bài tụng cho các em. Và bữa đó tôi đã làm được bài Hướng về Tam bảo này.

Tôi đã thảo, đã làm bản nháp nhiều lần nhưng mỗi lần đều không thành công hoàn toàn. Tôi đã làm được nhiều bài tụng cho người lớn, riêng với bài này, tôi phải để trên 30 năm mới có thể thành công được. Đây là một món quà tôi tặng cho các em thiếu nhi Phật tử Việt Nam, trong đó có các em oanh vũ nam và oanh vũ nữ. Những người lớn cũng có thể tụng bài này tại vì em bé năm tuổi trong mỗi chúng ta vẫn còn sống. Khi tụng bài này chúng ta cũng cảm động giống như hồi chúng ta còn năm, sáu tuổi. 

Mỗi khi ngồi trên xe hơi, tôi có thói quen ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài. Đi ngang qua những đồi thông hay những ruộng lúa, tôi ưa nhìn những cảnh tượng đó để thực tập hơi thở. Nhưng mỗi khi đi ngang qua thành phố mà kẹt xe thì cảnh tượng ấy không có gì hấp dẫn. Vì vậy, ngồi trên xe, tôi lấy tờ giấy và làm bài tụng cho thiếu nhi. Có khi làm được một câu, có khi làm được hai câu, có khi làm được ba câu rồi đến bốn câu, và giữ lại đó. Cứ như vậy, bài tụng này đã được thai nghén trên xe hơi. Tôi luôn luôn nghĩ tới các cháu, các em năm, sáu tuổi, và muốn cho các em có được một bài tụng thích hợp với độ tuổi của mình để khi tụng lên thì những hạt giống hạnh phúc, những ước nguyện, ước mơ được tưới tẩm và lớn mạnh.

Hôm nay có các anh, các chị lớn trong Gia đình Phật tử, có các bác, các chú, các cô, chúng ta đọc lại bài này để thấy đây là một công trình, một tặng phẩm rất hết lòng trao lại cho các em. Tôi muốn rằng các nhà thơ, nhà văn, các vị huynh trưởng phải tiếp tục công trình này, nghĩa là phải sáng tác ít nhất hai mươi bài tụng cho các em thiếu nhi. Đây chỉ mới là bài đầu. Đây là một bài tụng nhưng cũng là một bài quán chiếu, một bài thực tập chứ không phải là cầu xin, năn nỉ, ỉ ôi. Sư cô Định Nghiêm vừa hướng dẫn thiếu nhi: Khi chắp tay búp sen và tụng bốn chữ Chắp tay búp sen, ta phải quán tưởng hai bàn tay ta trở thành một búp sen. Còn nói ngoài miệng Chắp tay búp sen mà trong trái tim không thực sự chắp tay búp sen thì đó không phải là thực tập. Khi có một búp sen trong tim để cúng Bụt rồi, mà không cần phải đi hái ngoài hồ, thì ta nhìn lên Bụt, đó là sự thực tập. Khi nhìn lên ta thấy gì?

Chắp tay búp sen

Con nhìn lên Bụt

Bụt đang ngồi yên

Dáng Bụt rất hiền.

Thấy Bụt ngồi rất yên thì ta cũng phải ngồi rất yên, dáng dấp ta cũng phải rất hiền. Như vậy là ta tiếp xúc với Bụt và trở thành một người con đích thực của Bụt, một người em đích thực của Bụt, một người bạn đích thực của Bụt, một người đồng hành đích thực của Bụt. 

Có nhiều điều cho ta thực tập trong bốn câu đầu của bài tụng. Ta quán tưởng, hình dung được búp sen làm bằng hai bàn tay xinh đẹp của ta. Ta đang có phẩm vật để cúng dường, ta nhìn lên và thấy Bụt. Bụt đang ngồi yên và ta cũng phải ngồi yên. Ngồi yên là một sự thực tập rất lớn. Ngồi cho thật yên, tiếng Hán Việt là an tọa, 安坐, tức là ngồi thoải mái, có sự an vui. Có nhiều người trong chúng ta không thể ngồi yên được. Chúng ta ngồi, dầu là ngồi trên bộ bàn ghế rất sang nhưng cũng như ngồi trên đống lửa, thấp thỏm, đứng dậy rồi ngồi xuống, đứng dậy rồi ngồi xuống. Như thế là bất an, không yên. Trong khi đó, đức Thế Tôn, thầy của chúng ta là một người có khả năng ngồi yên. Là con của Ngài, là đệ tử của Ngài, là sự tiếp nối của Ngài, chúng ta phải học cho được nghệ thuật, khả năng ngồi yên.

Con nhìn lên Bụt, nhìn lên Bụt ta thấy điều gì? Thấy Bụt đang ngồi yên. Nếu ngồi yên được thì gia đình sẽ yên, thế giới sẽ yên. 

Dáng Bụt rất hiền. Biết bao nhiêu là từ bi, biết bao nhiêu là tình thương tỏa chiếu ra trong dáng ngồi của Bụt. 

Bụt ngồi rất thẳng. Khi thấy Bụt ngồi rất thẳng thì chúng ta cũng ngồi thẳng lại. Các cháu ngồi thẳng đi. Bụt không phải ở bên ngoài, Bụt ở trong tâm ta, và Bụt ngồi rất thẳng. Là con Bụt, ta cũng ngồi rất thẳng, thẳng mà không cứng ngắc, thẳng mà rất thoải mái. 

Đây là quá trình của sự quán tưởng. Quán tưởng là một phép tu rất quan trọng trong đạo Phật. Quán là nhìn sâu, tưởng là hình dung ra, tiếng Pháp là visualiser, tiếng Anh là visualize. Quán tưởng là dùng tâm quán chiếu, hình dung ra, thấy bằng tâm, bằng con mắt tuệ một đối tượng của sự tu tập mà không cần dựa vào một tướng trạng bên ngoài. Nhiều khi không có tượng Bụt nhưng ta vẫn thấy được Ngài, nhờ khả năng dùng tâm hình dung và quán tưởng. 

Trong ngành Toán, có một môn học gọi là Hình học xạ ảnh (Projective Geometry). Nếu không có khả năng hình dung, quán chiếu (visualization), ta không thể học được môn đó. Ở đây cũng vậy, dù có tượng Bụt hay không, ta cũng có thể thực tập quán tưởng và hình dung được đức Thế Tôn đang ngồi rất thẳng, rất đẹp. Đây là đoạn quán tưởng về Phật, quán tưởng về thân Phật, về tâm Phật. Và khi hình dung ra được rồi thì hình ảnh đó là đối tượng của sự chiêm ngưỡng, của sự quán chiếu của ta. Chắp tay búp sen, con nhìn lên Bụt. Phía trước này đâu có tượng Bụt nhưng bằng tâm của mình, ta thấy Bụt đang ngồi yên, dáng vẻ của Bụt rất hiền.

Bụt ngồi rất thẳng

Hào quang tỏa chiếu

Trên vầng trán cao. 

Bụt là một người rất thông minh và vì vậy chúng ta có thể tưởng tượng được rằng vầng trán của Bụt rất cao. Buổi sớm mai khi nhìn về phía chân trời phương Đông, chúng ta thấy gì? Mặt trời sắp ló dạng và hào quang tỏa ra, chiếu sáng khắp cả phương Đông. Vầng trán của đức Thế Tôn cũng như vậy, là ánh sáng chiếu soi từ phương Đông, trong một buổi bình minh rất đẹp. 

Bụt ngồi rất thẳng, hào quang tỏa chiếu, trên vầng trán cao. Ta phải thấy được điều đó. Ta thấy gì nữa? 

Hai mắt Bụt sáng

Nhìn thấu lòng con. 

Đôi mắt Bụt rất sáng, Ngài nhìn thấu suốt được hết, không thứ gì có thể ngăn cản cái nhìn của Ngài. Với ba mẹ thì có khi ta còn che giấu được. Nhưng không một điều gì ta có thể che giấu được đức Thế Tôn. Bụt nhìn thấu lòng con và Ngài thấy được gì?

Thấy được niềm vui 

Cũng như nỗi khổ. 

Là đứa trẻ năm, sáu tuổi, ta có rất nhiều thì giờ để chơi, để chạy, để nhảy, để ăn kẹo, để nắm tay người khác mà chạy đua, với rất nhiều niềm vui. Là một đứa trẻ ta phải chơi đùa mới được. Nếu không chơi đùa thì ta không phải là trẻ em. Người lớn, người già cũng còn chơi, huống hồ ta là  trẻ em. Cuộc đời của một đứa trẻ là phải có nhiều niềm vui. Ví dụ khi mẹ đi chợ về, thế nào mẹ cũng mua cho ta cái bánh, đó là niềm vui được mẹ mua quà cho. Hay là sáng nay đi học thế nào cũng gặp được thằng bạn ta thương, đó là niềm vui. Ta có rất nhiều niềm vui. Thế nhưng đứa trẻ mới năm, sáu tuổi cũng bắt đầu có những nỗi khổ rồi. Ba mẹ tưởng rằng ta còn nhỏ, ta đâu có gì mà khổ đau, nhưng kỳ thực ta đã có khổ đau rồi. Có nhiều lúc buồn, muốn khóc, ta đi vào và đóng cửa nhà vệ sinh lại để khóc một mình cho đã. Bụt thấy hết. Bụt thấy rằng ta là đứa trẻ năm, sáu tuổi có nhiều niềm vui nhưng Ngài cũng biết rất rõ tuy đang còn nhỏ nhưng ta đã bắt đầu có những niềm đau, nỗi khổ rồi. Đôi khi ba mới trừng mắt, mới hét lên một tiếng thì tự nhiên ta co rúm lại. Bông hoa đang tươi mà ba hét một tiếng, trừng mắt một cái là héo rũ, ta mất hết cảm hứng, đó cũng là một nỗi khổ. Có những cái ta rất thích mà ba không cho. Rồi thầy giáo hiểu lầm ta, ta không có lỗi đó mà thầy giáo la mắng, đổ lỗi cho ta… Đôi khi ta ganh tị thằng em, ta giành ăn với em, ta muốn má để ý tới ta thôi, đừng cưng em ta quá. Ta có những ganh tị, những giận hờn, những sự cứng đầu,… Ta có những nỗi khổ niềm đau như của người lớn vậy, song nỗi khổ niềm đau của ta nhỏ hơn mà thôi. Cho nên Bụt sáng suốt lắm, Bụt biết được hết. Ngài thấy ta có rất nhiều niềm vui, nhưng Ngài cũng biết rằng ta đã bắt đầu có những nỗi khổ. Bụt thấy rất rõ và Bụt muốn giúp ta. Bụt là thầy của ta mà. 

Miệng Bụt mỉm cười

Nụ cười từ bi

Chứa đầy hiểu biết

Tha thứ, bao dung.

Nụ cười của đức Bụt mầu nhiệm vô cùng. Miệng Bụt mỉm cười và nụ cười đó là nụ cười từ bi, nụ cười đầy thương yêu và chứa đựng trong đó ba yếu tố quan trọng là hiểu biết, tha thứ và bao dung. Ngài nói rằng: “Ô, con đang còn nhỏ quá, thật tội nghiệp! Con chưa có kinh nghiệm, chưa được dạy dỗ, đừng la con, phạt con nhiều quá.” Người lớn bận công việc nhiều quá, không có ai hướng dẫn, chỉ bảo cho nên con có những lầm lỗi như vậy. Đó là sự hiểu biết. Và nhờ hiểu biết cho nên Bụt tha thứ một cách rất dễ dàng. Bụt ôm lấy tất cả, đó là bao dung. Bụt không phân biệt: “Đứa này giỏi thì ta thương, còn đứa kia không giỏi thì đi chỗ khác.” Bụt không loại trừ bất cứ đứa trẻ nào. Những đứa trẻ ngoan thì Bụt cưng đã đành rồi, nhưng những đứa chưa ngoan Bụt vẫn cưng như thường. Những đứa thông minh Bụt đã cưng rồi, mà những đứa không thông minh Bụt cũng vẫn cưng. Những đứa mặt mày sáng sủa Bụt đã thương rồi, mà những đứa mặt mày không được sáng sủa lắm Bụt cũng thương luôn. Bao dung là ôm  hết tất cả, không loại trừ bất cứ một người nào ra khỏi tình thương của ta. Tình thương của Bụt là tình thương không có biên giới, gọi là vô lượng tâm. Bụt mở lòng ra và ôm lấy tất cả mọi người, bất kể da trắng, da đen, da đỏ, da vàng; và mọi loài, từ loài người, loài vật, cầm thú, cỏ cây, đất đá… Bụt ôm lấy và thương yêu tất cả. Trái tim của Bụt như vậy cho nên nụ cười của Bụt phản chiếu trái tim Ngài, đó là trái tim của hiểu biết, tha thứ và bao dung. Khi tiếp xúc được với một bậc thầy như vậy thì ta phải hãnh diện là ta có một bậc thầy tuyệt vời, một bậc thầy có trái tim không biên giới và nụ cười mầu nhiệm, nụ cười của hiểu biết, không trách móc, không hờn oán, nụ cười sẵn sàng tha thứ cho những lầm lỗi, nụ cười bao dung tất cả, không loại trừ bất cứ ai. 

Các anh chị huynh trưởng nên thấy rằng ngay trong đoạn đầu của bài tụng đã có nhiều giáo lý rất sâu sắc. Khi các em tụng lên thì ta làm thế nào để giúp các em có thể tiếp xúc được với Pháp bảo mầu nhiệm đó. Em đang tiếp xúc với Phật bảo nhưng kỳ thực em đang tiếp xúc với Pháp bảo. Pháp bảo ở đây tức là từ, bi, hiểu biết, tha thứ, bao dung, là những chất liệu mà thế giới của chúng ta đang rất thiếu và rất cần. Nếu thế giới có thêm được chất liệu từ, bi, hiểu biết, có thêm được tha thứ, bao dung thì chúng ta sẽ bớt khổ hơn rất nhiều. Ta may mắn có được một bậc thầy như vậy và ta đang chiêm ngưỡng bậc thầy của ta. Đây không phải là sự cầu xin, đây là sự thực tập để tiếp xúc với Bụt, với Pháp và với Tăng. 

Chắp tay búp sen

Con nhìn lên Bụt

Bụt đang ngồi yên

Dáng Bụt rất hiền

Bụt ngồi rất thẳng

Hào quang tỏa chiếu 

Trên vầng trán cao

Hai mắt Bụt sáng

Nhìn thấu lòng con

Thấy được niềm vui

Cũng như nỗi khổ 

Miệng Bụt mỉm cười

Nụ cười từ bi

Chứa đầy hiểu biết

Tha thứ, bao dung.

Đạo Bụt có phương pháp Tùy niệm, tiếng Phạn là anusmti, tiếng Pāḷi là anussati, có nghĩa là để tâm ta tiếp xúc với đối tượng. Niệm là nhớ tưởng, hình dung, tiếp xúc. Nhớ tưởng đây là nhớ tưởng Bụt, hình dung đây là hình dung Bụt, tiếp xúc đây là tiếp xúc Bụt. Nhớ tưởng, hình dung, tiếp xúc với Bụt, với Pháp và với Tăng, ba đối tượng của tùy niệm – niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Trong cõi Tịnh độ người ta thực tập như vậy. Mỗi khi nghe tiếng chim hót hay tiếng thông reo thì những người bên Tịnh độ phát khởi tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Ở đây cũng vậy, mỗi khi nghe chuông, hay nghe tiếng đồng hồ reo, chúng ta trở về và thực tập tùy niệm: niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Các em thiếu nhi trong khi tụng bài này là đang thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. 

Đoạn kế cũng tiếp tục thực tập niệm Bụt. 

Bụt là bậc thầy 

Dạy thương, dạy hiểu. 

Bụt không phải là đấng Thượng đế hay một vị thần linh. Nếu ta nghĩ Bụt là Thượng đế tạo ra muôn loài, là một vị thần linh có quyền ban phước, giáng họa thì ta không phải là Phật tử. Bụt trước hết là một bậc thầy chỉ đường cho ta, gọi là đạo sư. Bụt là giáo sư (professor, teacher), nhưng không phải là giáo sư Toán, giáo sư Sử, giáo sư Việt văn, hay giáo sư Khoa học mà là giáo sư về hai môn rất quan trọng là hiểu và thương. Làm sao để có thể hiểu và thương được. Bụt có hai chất liệu trí và bi, vì vậy, Bụt biết cách giúp đỡ, chỉ dạy ta chế tác nguồn năng lượng của hiểu và thương. 

Hiểu là trí, tiếng Phạn là prajñā, tức là bát nhã, tuệ giác. Bụt có tuệ giác rất lớn, đó là đại trí, Mahā-prajñā. Và thương tức là bi, tiếng Phạn là karuā. Tình thương của Bụt cũng rất lớn, là đại bi, Mahā-karuā. Sở dĩ Bụt trở thành một con người vĩ đại là nhờ lòng thương lớn và hiểu biết lớn, là đại bi và đại trí. Bụt đã chế tác năng lượng hiểu và thương, để cho hai nguồn năng lượng đó trở thành vĩ đại. Vì vậy Bụt biết cách chỉ dạy để ta cũng có thể chế tác được năng lượng hiểu và thương trong trái tim. Cho nên Bụt là bậc thầy dạy về hai môn hiểu và thương. 

Bụt là bậc thầy, dạy thương, dạy hiểu. Là anh, là chị, ta cũng phải biết dạy thương và dạy hiểu, dù ta dạy không hay bằng Bụt. Nhờ thương được các em, muốn các em lớn lên có hạnh phúc, ta phải dạy cho các em cách chế tác chất liệu của hiểu và thương. Đó là phận sự của huynh trưởng.

Bụt đã cho con

Nếp sống tâm linh.

Nếp sống tâm linh là gì? Cha mẹ sinh ra ta, nhờ đó ta có sự sống về hình hài, về thân thể. Nhưng Bụt sinh ra ta trong nếp sống tâm linh. Sự sống của ta có hai khía cạnh, hình hài do cha mẹ sinh ra và tâm linh là do Bụt sinh ra. Nếu đời sống chỉ chú trọng về hình hài thì làm sao đầy đủ và hạnh phúc được. Vì vậy, mỗi người phải có một đời sống tâm linh, tiếng Pháp gọi là la vie spirituelle, tiếng Anh là spiritual life. Tất cả chúng ta, dù mới năm, sáu tuổi, người nào cũng có hai đời sống: một đời sống hình hài vật chất và một đời sống tâm linh. Cha mẹ cho ta hình hài và Bụt cho ta tâm linh. Vì vậy, ta cũng gọi Bụt là cha, là đấng Cha lành, đức Từ phụ (the loving father)

Bụt đã cho con 

Nếp sống tâm linh

Suốt đời con nguyện

Noi theo ánh sáng

Của Bụt mà đi.

Ánh sáng này không phải là ánh sáng của đèn điện mà là ánh sáng của tuệ giác – đại trí. Không có người nào ban phát ánh sáng nhiều bằng đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn soi đường, chỉ lối cho ta và ta đi theo ánh sáng của đức Thế Tôn. Đây là một lời phát nguyện: Nếu con đi theo Thầy, nếu con đi theo đức Thế Tôn thì con sẽ không sa vào những hầm hố của khổ đau, hệ lụy và tuyệt vọng. Nếu con biết đi theo dấu chân của Bụt, đi theo ánh sáng của Bụt thì con sẽ đi tới chỗ an lành, chỗ xây dựng hạnh phúc cho con, cho gia đình con, cho đất nước và xã hội con.

Bụt là bậc thầy

Dạy thương, dạy hiểu

Bụt đã cho con 

Nếp sống tâm linh

Suốt đời con nguyện

Noi theo ánh sáng

Của Bụt mà đi.

Đó là lời phát nguyện của em thiếu nhi. Con đã có con đường rồi. Con đường đó là con đường do đức Thế Tôn chỉ dạy và con đã nhận đức Thế Tôn là thầy của con. Ta đi theo thầy của chúng ta.

Đó là một lời thề nguyện, và nhờ lời thề nguyện đó mà suốt đời ta sẽ không sa vào hầm hố của tội lỗi, của tuyệt vọng. Khi em mới năm tuổi mà em đã có con đường rồi, có hướng đi rồi, có bậc thầy hướng dẫn rồi thì em là một người có phước, và cha mẹ em cũng là những người có phước, gia đình em, dòng họ em là những người có phước. Hạnh phúc rất lớn. Có phải như vậy không? Do đó, trong khi tụng bài này, ta có được hạnh phúc rất lớn. 

Chúng ta đã học xong phần niệm Bụt. Bây giờ ta đi sang đoạn thứ hai là niệm Pháp.

Con xin lạy Bụt

Đã ban cho con 

Giáo pháp nhiệm mầu

Giúp con nuôi dưỡng

Tình nghĩa, hạnh phúc,

Nụ cười, niềm tin,

Giáo pháp nhiệm mầu tức là Pháp. Bụt là người chỉ đường cho ta, còn Pháp là con đường của ta. Con đường đó là con đường giúp cho ta nuôi lớn tình, nghĩa và hạnh phúc. Cuộc đời không có tình là cuộc đời rất khô khan và đau khổ. Khi thương nhau, ta trở nên trung kiên, gắn bó sắt son, nâng đỡ và bảo hộ nhau suốt đời thì tình sẽ thành nghĩa. Cái tình ban đầu có thể còn ít nhiều sự bồng bột nhưng nếu ta thương cho đúng cách thì ân nghĩa nhờ đó mà được nuôi dưỡng. Ân nghĩa sinh thành, cha mẹ sinh ra ta và nuôi dưỡng ta. Chúng ta thương cha mẹ trong tình thương đó, ta thấy được ân của cha, nghĩa của mẹ. Khi thương thầy, ta thấy được ân của thầy, nghĩa của thầy. Thầy tháo gỡ cho ta những khó khăn, những khổ đau, vì vậy ân của thầy rất lớn, ta gọi là ân sư. Khi thương bạn, ta thấy ân của bạn và nghĩa của bạn. Bạn đã nâng đỡ, đã cứu vớt, đã bảo hộ ta trong những giờ phút nguy nan giữa cuộc đời. Vì vậy đối với bạn, ta cũng biết ơn, gọi là ân bạn. Cũng nhờ vào tất cả các loài chúng sanh như cây cối, hoa trái, hay sông nước, đất đai nên ta có thực phẩm để ăn, có không khí để thở, có chỗ để làm nhà ở. Ta biết ơn tất cả những điều đó. Ta biết ơn đất nước, sông núi, cây cối, đất đai – đây là ân thứ tư. Như vậy, ta sống như một con người có ân và có nghĩa. Có bốn ân, trước hết là ân cha mẹ, thứ hai là ân thầy tổ, thứ ba là ân bằng hữu – bạn bè, thiện tri thức, và thứ tư là ân mọi loài chúng sanh, trong đó có sông núi, cỏ cây, đất đá. Một người sống có tình, có nghĩa, có ân, người ấy không bao giờ đau khổ, hoặc nếu có đau khổ thì cũng rất ít. Còn những người vô ơn, bạc nghĩa, không có tình, họ thường đau khổ rất da diết, rất sâu sắc. 

Giáo pháp của đức Thế Tôn dạy cho ta biết chế tác và nuôi dưỡng ân nghĩa, hạnh phúc, nụ cười, niềm tin và làm cho cuộc đời ta có rất nhiều hạnh phúc. Sở dĩ ta có nụ cười và niềm tin là nhờ ta có giáo pháp của đức Thế Tôn. Ta tin vào con đường thực tập, con đường từ bi, con đường bát chánh đạo, con đường tín, tấn, niệm, định, tuệ. Người nào không biết đường đi là người đó còn bơ vơ, đau khổ. Người có đường đi rồi là người có hạnh phúc. Đã có đường đi rồi, không có lý do gì mà ta phải lo sợ nữa. Tất cả chúng ta người nào đã có Pháp tức là đã có đường đi. Mà đã có đường đi rồi thì ta có niềm tin vững chãi, không bơ vơ, không lạc lõng, không đi loanh quanh như một con ma đói nữa. Người nào có Bụt trong trái tim, có Pháp trong trái tim là người có hạnh phúc rất lớn. Và một em bé tuy mới năm, sáu tuổi, cũng có thể có hạnh phúc rất lớn. Tại vì em bé đã đưa được Bụt và Pháp vào trong trái tim.

Giáo pháp nhiệm mầu của đức Thế Tôn không những giúp ta nuôi dưỡng tình nghĩa, hạnh phúc, nụ cười, niềm tin mà còn làm nhẹ đi những nỗi khổ, niềm đau trong lòng ta. Giáo pháp của đức Thế Tôn dạy cho chúng ta biết trở về với hơi thở, chế tác chánh niệm để ôm lấy những niềm đau như sự buồn tủi, giận hờn, bơ vơ, ganh tị. 

Dạy con biết thở

Ôm lấy niềm đau

Những lúc tâm con

Tham đắm, giận hờn

Si mê, ganh tị.

Em bé năm tuổi nhưng đã có nỗi khổ niềm đau, đó là những lúc em có những phiền não như tham đắm, giận hờn, si mê, ganh tị. Nhưng em bé đã có Pháp rồi, nhờ vậy em biết trở về với hơi thở, em thực tập thở vào, thở ra, chế tác chánh niệm, ôm lấy niềm đau để đừng nói những câu, đừng làm những điều khiến tình nghĩa tan vỡ. Đây là phép tùy niệm thứ hai, gọi là niệm Pháp. 

Các anh chị phải chiêm nghiệm cho sâu sắc đoạn này và thực tập cho thành công. Mỗi khi có nỗi khổ, niềm đau như tham đắm, giận hờn, si mê, ganh tị, các anh chị phải thực tập như thế nào để ôm ấp, để vượt thoát được thì các anh chị mới có kinh nghiệm để dạy cho các em. Đây là tinh hoa của sự thực tập. 

Trước khi học tiếp đoạn tùy niệm thứ ba là niệm Tăng thì quý thầy, quý sư cô Làng Mai sẽ cúng dường đại chúng bài nhạc kinh Tìm nhau. Đây là một phần của sự thực tập niệm Bụt. Tìm nhau tức là ta đi tìm thầy của ta, đi tìm đức Thế Tôn. Thầy đây là đức Thế Tôn. Thầy sẽ thử đọc nguyên văn bài thơ bằng tiếng Huế. Rồi sau đó các thầy, các sư cô sẽ hợp xướng bài Tìm nhau với sự hướng dẫn của sư cô Định Nghiêm. 

Bài này là thơ của Nhất Hạnh và nhạc của Anh Việt. Ngày xưa, nhạc sĩ Anh Việt đã làm bài Bến cũ có câu như: “Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly”. Bây giờ tu tập rồi nên ông chỉ sáng tác và phổ nhạc những bài về đạo Bụt. Ông là đệ tử của chùa Từ Hiếu. 

Con đã đi tìm Thế Tôn

Từ hồi còn ấu thơ

Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn

Từ khi mới bắt đầu biết thở.

Con đã ruổi rong

Vạn nẻo đời hiểm trở

Đã từng đau khắc khoải

Với trăm thương ngàn nhớ

Trên bước đường hành hương.

Con đã đi tìm Thế Tôn

Trong tận cùng hoang dã

Ngoài mênh mông biển lạ

Trên tuyệt mù cao sơn

Con đã từng nằm chết quạnh hiu

Trên cánh sa mạc già

Con đã từng cố giấu lại vào tim

Những giòng lệ đá

Con đã từng mơ uống những giọt sương

Lấp lánh hành tinh xa.

Con đã từng ghi dấu chân

Trên non Bồng diễm ảo

Con đã từng cất tiếng kêu gào

Dưới ngục A tỳ mòn mỏi hư hao

Bởi vì con đói lạnh

Bởi vì con khát khao

Bởi vì con muốn tìm được cho ra

Bóng hình ai muôn đời tuyệt hảo.

Con biết nằm trong trái tim con

Là niềm tin diệu kỳ

Thâm sâu và uyên áo

Là Thế Tôn có mặt đó

Dù con chưa biết đích xác Thế Tôn đâu

Con linh cảm rằng từ muôn kiếp xa xưa

Thế Tôn với con đã từng là một

Rằng khoảng cách giữa hai ta

Không thể dài hơn quá một nhịp tâm đầu.

Chiều hôm qua bước đi một mình

Con thấy lá thu rơi đầy lối cũ

Và vầng trăng treo trước ngõ

Đã xuất hiện bất thần

Như bóng hình người cũ

Rồi tinh đẩu xôn xao báo tin

Là Thế Tôn đã có mặt nơi này.

Suốt đêm qua trời giáng mưa cam lộ

Chớp lòe qua cửa sổ

Trời lên cơn bão tố

Đất trời như giận dữ

Nhưng cuối cùng trong con

Mưa cũng tạnh mây cũng tan

Nhìn ra cửa sổ

Con thấy vầng trăng khuya đã hiện

Và đất trời đã thực sự bình an

Tự soi mình trong gương nguyệt

Con thấy con

Và con bỗng thấy Thế Tôn.

Thế Tôn đang mỉm cười

Ô hay

Vầng trăng thảnh thơi vừa trả lại cho con

Tất cả những gì con ngỡ rằng đã mất

Từ khoảnh khắc ấy

Từng phút giây miên mật

Con thấy không có gì đã qua

Không có gì cần hồi phục

Bông hoa nào

Hạt sỏi nào

Ngọn lá nào

Cũng nhìn con, nhận mặt

Nhìn đâu con cũng thấy nụ cười Thế Tôn

Nụ cười của không sinh không diệt

Đã nhận được tự gương nga.

Con đã nhìn thấy Thế Tôn

Thế Tôn ngồi đó

Vững như núi Tu Di

Bình an như hơi thở

Thế Tôn ngồi đó

Như chưa bao giờ từng vắng mặt

Như chưa bao giờ trên thế gian

Đã từng có cơn bão lửa

Thế Tôn ngồi đó

Yên lặng và thảnh thơi.

Con đã tìm ra Thế Tôn

Con đã tìm ra con

Nước mắt con không cầm nổi

Con ngồi đó

Im lặng trời xanh cao

Núi tuyết in nền trời

Và nắng reo phơi phới.

Thế Tôn là tình yêu đầu

Thế Tôn là tình yêu tinh khôi

Nghĩa là không bao giờ

Sẽ cần tình yêu cuối

Người là dòng sông tâm linh

Tuy đã từng chảy qua

Hàng triệu kiếp luân hồi

Nhưng luôn luôn còn mới.

Con đã đi tìm Thế Tôn

Từ hồi còn ấu thơ

Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn

Từ khi mới bắt đầu biết thở

Thế Tôn là Bình an

Thế Tôn là Vững chãi

Thế Tôn là Thảnh thơi

Người là Bụt Như Lai.

Con nguyện một lòng nuôi dưỡng

Chất liệu thảnh thơi

Chất liệu vững chãi

Và truyền đạt tới mọi loài

Hôm nay và ngày mai.

Bài nhạc kinh Tìm nhau và bài tụng Hướng về Tam bảo đều có trong cuốn Plum Village chanting and recitation book. Đây là tập sách gồm những bài hát và bài tụng của Làng Mai. Các huynh trưởng Gia đình Phật tử có thể in lại để mọi người cùng thực tập. Trong sách có trình bày nốt nhạc, có thể giúp ta không hát sai. Bây giờ chúng ta ôn lại đoạn niệm Pháp. Bài tụng này rất dễ hiểu nhưng nghĩa lý lại rất sâu xa, vì vậy không những các em oanh vũ nam hay nữ có thể hiểu và thực tập được mà những người lớn ba mươi, bốn mươi hay năm mươi, sáu mươi tuổi cũng có thể học hỏi để hiểu sâu hơn. 

Con xin lạy Bụt

Đã ban cho con 

Giáo pháp nhiệm mầu

Giúp con nuôi dưỡng

Tình nghĩa, hạnh phúc,

Nụ cười, niềm tin,

Dạy con biết thở

Ôm lấy niềm đau

Những lúc tâm con

Tham đắm, giận hờn,

Si mê, ganh tị,

Để con có thể

Làm chủ thân tâm

Vượt thắng cơn buồn

Làm vơi nỗi khổ.

Nếu biết phương pháp thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm để chế tác năng lượng chánh niệm, ta sẽ làm chủ được thân tâm, nhờ đó ta ôm ấp và chuyển hóa được niềm đau, ta không nói những câu, không làm những điều làm tan vỡ tình nghĩa. Làm chủ được thân tâm của mình là điều quan trọng nhất.

Dù mới năm, sáu tuổi nhưng em bé đã biết thở, biết ôm lấy niềm đau, biết làm chủ thân và tâm, không nói và không làm những điều gây đổ vỡ thì em bé đã xứng đáng là Phật tử, học trò của đức Thế Tôn rồi. Điều đó tùy thuộc vào các anh chị trong tổ chức. Các anh chị phải học thế nào để làm chủ thân tâm những lúc có tham đắm, giận hờn, si mê, ganh tị. Nhờ đó, các anh chị mới có bản lĩnh, mới làm gương được cho các em, có thể dạy cho các em làm chủ thân và tâm. Các anh chị không làm được thì làm sao dạy các em. Vì vậy, nội dung tu học của các anh chị trong Gia đình Phật tử phải thật sâu sắc. Nếu chúng ta không học hỏi, không thực tập, thì danh nghĩa Phật tử chỉ có cái vỏ mà không có ruột. Cái danh đó, nếu không có nội dung của sự thực tập, sẽ già cỗi và mai một dần, không gây được niềm tin và Gia đình Phật tử chỉ còn là một tổ chức chơi cho vui, không phải là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần đạo Bụt. 

Trong tinh thần Phật giáo, nơi đó phải có trí (hiểu), có bi (thương), có sự tha thứ, bao dung, có sự thực tập hơi thở, bước chân để có thể nắm vững và làm chủ được thân tâm. Vì vậy mỗi khi sinh hoạt, họp Đoàn, phải biết rằng quan trọng nhất không phải là tụ lại một vòng mà múa hát, chơi đùa. Chúng ta đến với nhau là để học hỏi, trao truyền cho nhau những giáo lý nhiệm mầu, sau đó đem ra áp dụng vào cuộc sống hằng ngày để nuôi dưỡng tình nghĩa, hạnh phúc, nụ cười, niềm tin, và để có thể ôm lấy niềm đau, vượt thắng cơn buồn, làm vơi nỗi khổ. Chúng ta phải đem vào trong tổ chức sinh hoạt của ta một nội dung tu học phong phú. 

Bây giờ chúng ta học đến phép tùy niệm thứ ba là niệm Tăng.

Con xin trở về

Nương tựa Tăng thân

Đoàn thể những người

Thực tập theo Bụt.

Mỗi người chúng ta phải gia nhập vào một đoàn thể tu học. Gia đình Phật tử là một tăng thân. Ta có Phật thân, Pháp thân và Tăng thân. Tăng thân gồm tất cả mọi thành phần trong đoàn thể tu học của ta. Tăng thân đầy đủ cần có bốn thành phần: xuất gia nam, xuất gia nữ, tại gia nam, tại gia nữ. Tăng thân không phải chỉ có người xuất gia, tăng thân phải có người tại gia, như thế mới đầy đủ, gọi là tứ chúng (fourfold community). Là người xuất gia hay tại gia, ta đều thuộc về một tăng thân. Nếu không có tăng thân, ta sẽ mồ côi, bơ vơ và chưa có đời sống tâm linh. 

Bất cứ ai trong chúng ta, dầu trẻ bao nhiêu cũng phải nương tựa vào một tăng thân. Tăng thân này có thể là Gia đình Phật tử, có thể là học chúng của một ngôi chùa. Gia đình Phật tử luôn luôn thuộc về một tổ chức tu học trong đó có các thầy, các sư cô, các bác, các cô chú, anh chị em. Ta phải hãnh diện là ta có một tăng thân. Tất cả mọi người trong tăng thân đều học hỏi và áp dụng giáo pháp nhiệm mầu, biết thở, biết đi trong chánh niệm để có thể nuôi dưỡng tình nghĩa, hạnh phúc, nụ cười và niềm tin; để có khả năng ôm lấy niềm đau những khi trong tâm có tham đắm, giận hờn, si mê, ganh tị. Khi tăng thân có những thầy, những sư cô, những chú bác, anh chị em làm được như vậy thì đoàn thể đó mới thực sự xứng đáng là một viên ngọc quý, là Tăng bảo. 

Ta có Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Ta không chỉ nương tựa vào Phật, vào Pháp mà còn phải nương tựa vào Tăng. Tăng là đoàn thể tu học theo giáo pháp nhiệm mầu. Nhìn kỹ thì chúng ta thấy trong Tăng có Phật và có Pháp. Nếu trong đoàn thể tu học có sự chia rẽ, tranh giành quyền lợi, muốn loại trừ nhau thì đoàn thể đó chưa phải là chân Tăng. Đoàn thể đó là giả Tăng. Một đoàn thể nhìn bên ngoài có vẻ như có tu học, có quy y, nhưng kỳ thực bên trong có rất nhiều sự chia rẽ, cạnh tranh, ganh tị, ước muốn loại trừ người khác để đứng vào địa vị trung ương thì đó không phải là chân Tăng. Trong trường hợp này, phải làm sao cho giả Tăng trở thành chân Tăng thì chúng ta mới nương tựa được. Vì vậy, mỗi người phải đóng góp xây dựng tăng thân bằng chính sự tu học của mình chứ không phải bằng tài tổ chức. Ta phải biết thực tập hơi thở có ý thức, biết đi trong chánh niệm, biết tha thứ, biết bao dung thì mới có thể đóng góp xây dựng tăng thân. Nếu chỉ có khả năng cầm còi điều khiển vòng tròn, tổ chức, lái xe hay sử dụng máy vi tính thì vẫn chưa đủ để có thể xây dựng tăng thân. Mỗi người Phật tử chân chính phải là một yếu tố xây dựng tăng thân. Công trình dựng tăng đem lại hòa hợp, tin yêu cho tổ chức. Sự thực tập xây dựng tăng thân tạo ra công đức rất lớn. Như thế, chúng ta mới thực sự có Tăng bảo, là chân Tăng. Con xin trở về, nương tựa Tăng thân, đoàn thể những người, thực tập theo Bụt. Thực tập theo Bụt một cách chân chính mới gọi là Tăng. 

Để được nâng đỡ 

Để được soi sáng

Trên đường học hỏi

Đạo lý nhiệm mầu.

Nương tựa Tăng thì ta được che chở và được soi sáng. Ta được soi sáng để xem có đi đúng đường không, có đi tìm chánh pháp, có học hỏi và thực tập theo đúng lời Bụt dạy không hay là đang đi tìm danh, tìm lợi, tìm quyền hành trong tổ chức. Ta phải cầu các bậc xuất gia, các bậc tại gia lớn hơn ta, những người tu học giỏi soi sáng cho ta. Tăng thân giúp soi sáng và bảo hộ để ta không đi lầm đường lạc lối, không bị sa vào hầm hố của tội lỗi, khổ đau.

Con xin lạy Bụt, con xin trở về nương tựa tăng thân, đó là quy y Tăng. Con xin trở về, nương tựa tăng thân, đoàn thể những người, thực tập theo Bụt, để được nâng đỡ, để được soi sáng, trên đường học hỏi, đạo lý nhiệm mầu. Nhờ có Tăng, ta bước đi được trên con đường Pháp một cách vững chãi. 

Bụt là thầy chỉ đạo

Bậc tỉnh thức vẹn toàn,

Tướng tốt đoan trang

Trí và bi viên mãn.

Pháp là con đường sáng

Dẫn người thoát cõi mê

Đưa con trở về

Sống cuộc đời tỉnh thức.

Tăng là đoàn thể đẹp

Cùng đi trên đường vui

Tu tập giải thoát

Làm an lạc cuộc đời.

(Quy nguyện, Nhật tụng Thiền môn)

Đó là định nghĩa mới của Tăng. Hễ đi vào con đường tu học là ta có rất nhiều niềm vui, không có sự giận hờn, ganh tị và khóc than. Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui, vì vậy dầu còn trẻ ta cũng có bổn phận phải xây dựng tăng thân, để mỗi khi nghĩ tới tăng thân là niềm vui dâng lên. Và mỗi khi xa tăng thân là muốn trở về càng sớm càng tốt.

Con xin trở về, nương tựa Tăng thân, đoàn thể những người, thực tập theo Bụt, để được nâng đỡ, để được soi sáng, trên đường học hỏi, đạo lý nhiệm mầu. Đó là đoạn quán chiếu, quán tưởng về Tăng. Và đoạn chót là để kết thúc.

Trầm đã đốt lên

Đèn đã thắp sáng

Con xin một lòng

Hướng về Tam bảo

Cung kính biết ơn

Quay về nương tựa.

Quay về nương tựa tức là quy y. Bài này là bài quy y Tam bảo. Quy y bằng sự thực tập chứ không phải bằng một lời tuyên bố. Sự thực tập quy y này phải được diễn ra trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Và trong mỗi giây phút ấy, lúc nào ta cũng nhận được sự che chở, bảo hộ của Tam bảo. Đi ra chợ cũng được Tam bảo che chở, đi về Nhà dây thép (bưu điện) cũng được Tam bảo che chở, đi vào trường học cũng được Tam bảo che chở, vào nhà bếp để nấu ăn hoặc lái xe cũng được Tam bảo che chở. Vì vậy, sự thực tập quy y phải được diễn ra liên tục 24 giờ mỗi ngày, chứ không phải cứ 15 ngày mới đến chùa và đọc Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng là xong. Quy y Tam bảo là một sự thực tập chứ không phải là một lời tuyên bố suông. 

Các thầy, các sư cô sẽ xướng tụng bằng tiếng Việt bài Bốn phép tùy niệm cho chúng ta nghe. Bốn phép tùy niệm là niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới. Tất cả những người tự nhận là Phật tử đều đã tiếp nhận Ba sự quay về nương tựa (nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng) và Năm giới quý báu (bảo hộ sự sống, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không sử dụng rượu cùng các chất ma túy và những sản phẩm có độc tố). 

Tôi xin đọc cho quý vị nghe Bốn phép tùy niệm bằng tiếng Việt. Nguyên văn bài này bằng tiếng Phạn và đã được dịch ra tiếng Việt. 

Bốn phép tùy niệm

Kính lạy đức Thế Tôn, bậc thầy lãnh đạo của chúng con

Người là bậc xứng đáng nhất để được tôn kính và cúng dường

Người là bậc có trí giác chân thực và toàn vẹn.

Niệm Bụt

Tự thân của đức Như Lai, người từ chân như tới, thầy của chúng con 

Là bậc xứng đáng nhất để được cúng dường

Là bậc có trí giác chân thực và toàn diện 

Là bậc có đầy đủ công hạnh và tuệ giác

Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu

Là bậc hiểu thấu thế gian 

Là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người

Là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân

Là bậc tỉnh thức toàn vẹn

Là bậc được tôn sùng quý trọng nhất trên đời.

Người là bậc có trí giác chân thực và toàn vẹn – câu này dịch từ câu Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammā Sabuddhassa. Toàn đoạn Niệm Bụt, tiếng Hán Việt là Nam mô Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Câu này rất khó hiểu. Dịch ra tiếng Việt thì rất dễ hiểu. Là bậc xứng đáng nhất để được cúng dường tức là Ứng cúng. Là bậc có trí giác chân thực và toàn diện là Chánh biến tri. Là bậc có đầy đủ công hạnh và tuệ giác là Minh hạnh túc. Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu tức là Thiện thệ. Là bậc hiểu thấu thế gian là Thế gian giải. Là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người tức là Vô thượng sĩ Điều ngự trượng phu. Là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân tức là Thiên nhân sư. Là bậc tỉnh thức toàn vẹn là Phật. Là bậc được tôn sùng quý trọng nhất trên đời là Thế Tôn.

Niệm Pháp

Diệu pháp của đức Thế Tôn 

Con đường mà chúng con đang nguyện đi theo 

Là giáo pháp đã được nhiệm mầu tuyên thuyết

Là giáo pháp có thể chứng nghiệm ngay trong giờ phút hiện tại

Là giáo pháp có giá trị vượt thoát thời gian

Là giáo pháp mọi người có thể đến mà tự thấy

Là giáo pháp có công năng dẫn đạo đi lên

Là giáo pháp có công năng dập tắt phiền não

Là giáo pháp người trí nào cũng có thể tự mình thông đạt.

Niệm Tăng

Tăng thân của đức Thế Tôn 

Là đoàn thể mà chúng con đang quay về nương tựa

Là đoàn thể đang đi trên đường sáng ngời

Là đoàn thể đang đi trên đường chính trực

Là đoàn thể đang đi trên đường ứng hợp chân lý

Là đoàn thể đang đi trên đường thánh thiện

Là đoàn thể gồm thâu bốn đôi và tám bậc thánh quả

Là đoàn thể xứng đáng được cúng dường

Là đoàn thể xứng đáng được quy kính

Là đoàn thế xứng đáng được tôn sùng

Là đoàn thể xứng đáng được ngưỡng mộ

Là ruộng phước quý hóa nhất trên đời. 

Niệm Giới

Giới pháp của đức Thế Tôn 

Luật nghi chánh niệm mà chúng con đang hành trì 

Là giới thân nguyên vẹn

Là giới thân không bao giờ bị sứt mẻ

Là giới thân không bao giờ bị nhiễm ô

Là giới thân không bao giờ bị tỳ vết

Là giới thân không bao giờ bị hỗn tạp

Là giới thân được người thức giả ngợi khen và hâm mộ

Là giới thân có công năng bảo vệ tự do

Là giới thân đưa tới sự không sợ hãi

Là giới thân đưa tới chánh định

Là giới thân đưa tới tuệ giác

Là giới thân đưa tới giải thoát và hạnh phúc đời đời. 

Bài Bốn phép tùy niệm này cũng phải học hỏi nhiều tuần lễ mới có thể hiểu được một cách sâu sắc. Rất mong các anh chị trong tổ chức Gia đình Phật tử nghiên cứu, học hỏi, thực tập và trao truyền lại cho các em Bốn phép tùy niệm.  

Các Phật tử đến nghe thầy thuyết pháp, có thể có người nghĩ rằng chỉ thầy Nhất Hạnh mới thuyết pháp về những vấn đề thực tế trong đời sống hằng ngày, đưa ra những pháp môn thực tập hữu hiệu để có thể tháo gỡ và chuyển hóa những khó khăn. Nên biết rằng các thầy, các sư cô, các vị giáo thọ cư sĩ Làng Mai đều thuyết pháp như vậy, có nhiều khi còn giảng hay hơn thầy. Ở phương Tây, chúng tôi có 250 vị xuất gia, đào tạo theo phương pháp tu tập này, tìm cách đối diện và giải quyết những vấn đề khó khăn trong đời sống xã hội hiện đại. Từ nghi lễ cho đến cách hành trì học hỏi đều phải đổi mới, làm mới, hiện đại hóa, như vậy mới thích hợp với thế giới phương Tây. 

Hiện nay chúng tôi đã thiết lập được hơn một ngàn tăng thân trên toàn thế giới. Đã có gần năm trăm tăng thân ở Hoa Kỳ. Thành phố Luân Đôn cũng có mười tăng thân. Tuần nào các tăng thân cũng tới với nhau để thực tập ngồi thiền, đi thiền, tụng giới, nghe pháp thoại, pháp đàm. Ngoài các vị giáo thọ xuất gia, chúng tôi còn đào tạo nhiều vị giáo thọ cư sĩ. Những vị giáo thọ cư sĩ không những giảng dạy cho giới Phật tử mà còn giảng dạy trong các nhà thờ, bệnh viện, trường đại học và họ giảng dạy rất hay. 

Nhưng nhu yếu tu học của thế giới quá lớn, vì vậy chúng tôi cần thêm nhiều giáo thọ, xuất gia và tại gia. Nếu có ai muốn đi trên con đường sáng ngời này, con đường tăng thân đang đi để đào tạo những vị xuất gia có khả năng hướng dẫn tu tập thì nên biết rằng đây là con đường đem tới cho ta rất nhiều hạnh phúc và giúp được cho rất nhiều người. Chúng tôi đi vào trong các nhà tù để giúp các tù nhân và các vị quản giáo tu học. Chúng tôi tổ chức những khóa tu cho công an, cảnh sát, cho dân biểu quốc hội, cho bác sĩ, y tá, cho cựu chiến binh, cho đủ hạng người. Bất cứ người nào, từ gốc Do Thái cho đến Cơ Đốc, Tin Lành hay Hồi giáo đều tiếp nhận và thực tập được một cách rất thành công mà không cần phải bỏ đạo gốc của họ. Nhu cầu được hướng dẫn tu học tại phương Tây ngày càng lớn mà chúng tôi không đủ nhân lực, không đủ giáo thọ xuất gia và tại gia. Chúng tôi cần ít nhất là ba ngàn vị xuất sĩ nữa. Ngay trong năm đầu, năm thứ hai được xuất gia, những sư cô, sư chú ấy đã có thể đi phụ tá cho các thầy, các sư cô, các vị giáo thọ và đến năm thứ năm, thứ sáu thì có thể trở thành giáo thọ tập sự. 

Quý vị hãy suy nghĩ thêm, vì con đường này rất sáng, rất đẹp, có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc cho đất nước, cho dân tộc và cho thế giới. Ở Việt Nam và phương Tây, chúng ta rất cần các vị giáo thọ như vậy. Nếu quý vị muốn biết thêm về cách thức tu học và giúp người, giúp đời thì ngày hôm nay, quý vị hãy tiếp xúc, nói chuyện để hiểu hơn về nếp sống tu học và hành đạo đã được làm mới cho thích hợp với hoàn cảnh hiện tại. Ở đây, có thể có vị kiếp xưa đã từng là đệ tử của tôi, kiếp này không biết tại sao cứ chần chờ mãi mà không tới trình diện, để tiếp thu giáo pháp, thực tập và trở thành pháp khí để giúp đời, giúp người.

Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai là bài thơ nói về một người thầy đang đi tìm đệ tử và một người đệ tử đang đi tìm thầy, nhưng vì chưa có cơ duyên nên hai bên chưa gặp nhau. Tôi sẽ đọc bài thơ để chấm dứt phần chia sẻ của tôi và sẽ đọc bằng giọng Huế. Sau đó, các thầy, các sư cô và Phật tử của phái đoàn Làng Mai sẽ tiếp tục sinh hoạt với đại chúng. 

Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai 

Thầy đi tìm con

Từ lúc non sông còn tăm tối

Thầy đi tìm con

Khi mọi loài còn chờ đợi ánh dương lên.

Thầy đi tìm con

Khi con còn đắm chìm trong một giấc ngủ triền miên

Dù tiếng tù và đã vọng lên từng hồi giục giã

Không rời non xưa

Thầy đưa mắt nhìn về phương trời lạ 

Và nhận ra được trên vạn nẻo đường 

Từng dấu chân của con.

Con đi đâu

Có khi sương mù đã về giăng mắc chốn cô thôn

Mà trên bước phiêu linh con vẫn còn miệt mài nơi viễn xứ

Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở

Tin rằng dù con đang lạc loài đi về bên nớ

Con cũng sẽ cuối cùng tìm ra được lối trở về bên ni

Có khi Thầy xuất hiện ngay giữa đường con đi

Nhưng mắt con vẫn nhìn Thầy như nhìn một người xa lạ

Không thấy được mối túc duyên

Không nhớ được lời nguyền xưa vàng đá

Con đã không nhận ra được Thầy

Vì tâm con còn vướng bận những hình bóng xa xôi.

Trong kiếp xưa con đã từng nhiều lần 

Nắm tay Thầy rong chơi

Thầy trò ta đã ngồi thật lâu 

Cạnh những gốc thông già trăm tuổi

Đã từng đứng yên 

Cùng lắng nghe tiếng gió thì thào mời gọi 

Và ngắm nhìn những cụm mây trắng bay

Con đã từng nhặt đưa Thầy 

Những chiếc lá ngô đồng đầu thu đỏ thắm

Thầy đã từng đưa con vượt qua 

Những khu rừng tuyết phủ giá băng

Nhưng đi đâu Thầy trò ta cũng luôn luôn trở về

Nơi non xưa chốn cũ, để được gần gũi sao trăng

Để được mỗi khuya gióng tiếng chuông đại hồng 

Cho mọi loài tỉnh thức.

Thầy trò ta đã từng ngồi yên trên An Tử Sơn 

Cùng đại sĩ Trúc Lâm 

Bên những cây đại già nở hoa thơm ngát

Đã từng đưa tàu ra khơi vớt người thuyền nhân phiêu dạt

Đã từng giúp thiền sư Vạn Hạnh thiết kế thành Thăng Long

Đã từng cùng nhau đánh tranh dựng chiếc thảo am bên sông

Và giăng lưới vớt Trạc Tuyền 

Khi Tiền Đường đang đùng đùng dậy sóng.

Thầy trò ta đã mở lối bước lên trời ngoại phương lồng lộng

Sau bao tháng ngày công phu chọc thủng lưới thời gian

Đã từng cất giữ được ánh sáng của những vì sao băng

Làm đuốc soi đường cho những ai muốn trở về 

Sau những tháng ngày rong ruổi

Nhưng cũng có khi 

Hạt giống lãng tử trong con bừng sống dậy

Con đã rời bỏ Thầy, rời bỏ huynh đệ 

Một mình thất thểu ra đi…

Thầy nhìn con xót thương

Tuy biết rằng đây không thực sự là một cuộc phân kỳ

Bởi vì con đang có Thầy nơi từng tế bào trong cơ thể

Biết con còn phải thêm một lần đóng vai người cùng tử

Nên Thầy đã nguyện sẽ có mặt đó cho con 

Mỗi lần con gặp bước gian nguy.

Có khi con nằm thiếp đi 

Trên cát nóng sa mạc chốn biên thùy

Thầy đã hóa thân làm đám bạch vân đem cho con bóng mát

Đến giữa khuya đám mây đọng lại thành sương, 

Cam lộ rơi từng hạt để con uống lấy trong cơn mê

Có khi con ngồi dưới vực sâu tăm tối, 

Hoàn toàn cách biệt trời quê

Thầy đã hóa thân thành chiếc thang dài 

Và nhẹ nhàng bắc xuống

Cho con leo lên vùng chan hòa ánh sáng

Để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối tiếng chim.

Có lúc Thầy nhận ra được con ở Birmingham

Ở quận Do Linh hay miền Tân Anh Cát Lợi

Có lúc Thầy gặp con ở Hàng Châu, Hạ Môn hay Thượng Hải

Có khi Thầy tìm được con ở Saint Petersburg, 

Hoặc ở Tây Bá Linh

Có khi mới lên năm mà thấy con, 

Thầy cũng nhận được chân hình

Thấy được hạt giống bồ đề nơi con, 

Mang trong trái tim còn niên thiếu

Thấy con, Thầy đã luôn luôn đưa tay lên làm dấu hiệu

Dù nơi gặp con là ở miền Kinh Bắc, vùng Bến Nghé 

Hay cửa biển Thuận An

Có khi con là trái trăng vàng ửng chín 

Lơ lửng treo trên đỉnh Kim Sơn

Hay là con chim con chiêm chiếp kêu đêm đông 

Bay qua rừng Đại Lão

Rất nhiều khi Thầy thấy được con 

Nhưng con không thấy được Thầy,

Dù trên nẻo con đi sương chiều đã thấm vào ướt áo

Vậy mà cuối cùng con cũng đã trở về.

Con trở về ngồi dưới chân Thầy nơi chốn non xưa

Để rồi tiếng chim kêu tiếng vượn hú 

Lại cùng hòa với tiếng công phu sớm trưa

Con đã về bên Thầy, 

Thực sự muốn chấm dứt cuộc đời lãng tử.

Sáng nay chim chóc ca mừng vầng ô lên rạng rỡ

Con có hay

Trên bầu xanh mây trắng vẫn còn bay?

Con ở đâu? Cảnh núi xưa còn đó nơi hiện pháp chốn này

Dù đợt sóng bạc đầu 

Vẫn còn đang muốn vươn mình đi về phương lạ

Nhìn lại đi, Thầy đang ở trong con, 

Và trong từng nụ hoa, chiếc lá

Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Con đi đâu? Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay

Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt

Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc 

Và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.

Hướng về Tam Bảo

Kinh văn

Chắp tay búp sen

Con nhìn lên Bụt

Bụt đang ngồi yên

Dáng Bụt rất hiền

Bụt ngồi rất thẳng

Hào quang tỏa chiếu

Trên vầng trán cao

Hai mắt Bụt sáng

Nhìn thấu lòng con

Thấy được niềm vui

Cũng như nỗi khổ

Miệng Bụt mỉm cười

Nụ cười từ bi

Chứa đầy hiểu biết,

Tha thứ, bao dung.

Bụt là bậc thầy

Dạy thương, dạy hiểu

Bụt đã cho con

Nếp sống tâm linh

Suốt đời con nguyện

Noi theo ánh sáng

Của Bụt mà đi.

Con xin lạy Bụt

Ðã ban cho con

Giáo Pháp nhiệm mầu

Giúp con nuôi dưỡng

Tình nghĩa, hạnh phúc,

Nụ cười, niềm tin,

Dạy con biết thở

Ôm lấy niềm đau

Những lúc tâm con

Tham đắm, giận hờn,

Si mê, ganh tị,

Ðể con có thể

Làm chủ thân tâm

Vượt thắng cơn buồn

Làm vơi nỗi khổ.

Con xin trở về

Nương tựa Tăng thân

Ðoàn thể những người

Thực tập theo Bụt

Ðể được nâng đỡ

Ðể được soi sáng

Trên đường học hỏi

Ðạo lý nhiệm mầu

Trầm đã đốt lên

Ðèn đã thắp sáng

Con xin một lòng

Hướng về Tam bảo

Cung kính biết ơn

Quay về nương tựa.