Làm sao để lắng nghe sâu?

Những câu hỏi này được ghi lại vào ngày 7.4.2013 tại buổi pháp thoại thứ ba của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Thái Lan trong khóa tu dành cho Các Nhà Giáo. Trong bài pháp thoại này, Thiền sư đã trả lời các câu hỏi không chỉ liên quan đến những vấn đề cá nhân mà cả những vấn đề trong phạm vi giáo dục. Những đề tài trao đổi bao gồm cả việc thực tập chánh niệm đối với người trẻ.

Hỏi: Thưa Thầy, khi chúng con cố gắng thực tập lắng nghe sâu thì đối tượng tiếp xúc lại dùng những lời lẽ không dễ thương, thô tháo làm tổn thương người khác và chính bản thân họ, chúng con phải làm thế nào để có thể duy trì sự thực tập lắng nghe sâu?

Thầy: Mục đích của việc lắng nghe với lòng từ bi là để giúp người kia bớt khổ đau. Khi người ta tràn đầy đau khổ thì họ khó sử dụng ái ngữ. Có lẽ trái tim họ có quá nhiều đớn đau, chua chát, bạo lực, thất vọng và sân hận, vì thế chúng biểu hiện qua lời nói và thái độ của họ. Do đó trong khi lắng nghe, quý vị hãy nhớ một điều: người này đang đầy đau khổ. Tôi lắng nghe là để giúp họ vơi bớt khổ đau. Hành động chánh niệm này có hai khía cạnh: trước hết là thấy được người đối diện đang đau khổ, kế tiếp là nhớ lại mục đích của hạnh lắng nghe của ta. Trong lúc lắng nghe, hãy tự nhắc nhở mình như thế và năng lượng từ bi sẽ bảo hộ cho quý vị nếu người kia nói những lời có thể gây thương tổn. Nếu làm được như thế thì những lời nói đó không thể làm tổn thương quý vị lâu dài. Nếu quý vị không giữ được tâm từ bi, thì đừng cố gắng buộc mình phải tiếp tục lắng nghe vì tâm quý vị sẽ không được bảo vệ nữa. Hãy đợi đến một lúc khác để thực tập hạnh lắng nghe, khi trong lòng quý vị có từ bi và thông cảm.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, chúng con có nhận một nhân viên vào phụ trách việc huấn nghệ. Nhưng anh ta thường dùng những lời lẽ xem thường phụ nữ, hay những người khác sắc tộc. Những lời lẽ này rất khó nghe. Làm thế nào để con có thể bày tỏ với anh ta sự khó chịu của mình về cách ứng xử của anh ta một cách thân thiện nhất?

Thầy: Thầy không nghĩ là quý vị cần phải chuyển đổi cách ăn nói của người đó. Nhưng quý vị cần chuyển đổi cách lắng nghe của mình. Nếu quý vị nhận ra được nỗi khổ đau của anh ta, và anh ta đã thể hiện điều đó ra ngoài như thế nào, thì quý vị có thể lắng nghe bất cứ điều gì anh ta nói mà không bị bực tức. Nếu quý vị có thể lắng nghe với tâm từ bi, người nói dần dần sẽ tự họ thay đổi cách nói năng, quý vị không cần phải bảo họ làm thế.

 

_____________________

H: Thưa Thiền sư, chúng con làm việc với những người dân thuộc một bộ tộc trên núi. Họ phải giết thú, phá rừng, góp phần vào việc làm nóng trái đất – cách kiếm sống của các bậc phụ huynh này dựa trên việc sát hại mạng sống. Làm sao chúng con có thể dạy con cái họ cách bảo vệ sự sống một cách cụ thể?

Thầy: Nếu quý vị có thể nấu những bữa ăn chay cho họ thì rất tốt.  Hy vọng họ có thể dần dần thay đổi thói quen ăn uống. Quý vị cần tìm những phương cách thiết thực để chỉ cho họ thấy sự khổ đau của các sinh vật, có thể một bộ phim tài liệu về cảnh thú vật bị làm thịt để ăn, họ sẽ cảm nhận được nỗi đau của những con thú mẹ. Điều đó còn giáo dục họ hơn là một bài pháp thoại hay những lời giáo huấn trừu tượng. Quý vị có thể gầy dựng một vườn rau, trồng rau xanh sạch, rồi mời họ cùng tiếp tay với quý vị. Vườn rau không những có thể được duy trì và cung cấp thực phẩm, mà còn có thể được dùng để dạy cho con cái của họ những phương cách sống khác. Hãy chỉ cho bọn trẻ thấy là chúng có thể thể hiện tình thương yêu bằng cách ăn những thực phẩm hữu cơ, rằng chúng ta không cần phải ăn thịt. Người có lòng từ bi là người hạnh phúc. Vậy quý vị hãy làm như thế đi, rồi quý vị sẽ thành công.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, chúng con muốn áp dụng những phương pháp của Thầy vào trường học, nhưng thầy hiệu trưởng, hay giám hiệu không chấp nhận việc này. Chúng con phải làm thế nào để có thể áp dụng chúng mà không bị đuổi việc?

Thầy: Có nhiều cách để đem các phương cách này vào trường học. Cách tốt nhất là đem các bài học về chánh niệm vào lớp học một cách khéo léo, tinh tế. Nếu quý vị bảo các em học sinh bắt đầu buổi học bằng cách thở có chánh niệm, thì ai có thể ngăn cấm quý vị? Quý vị cần để cho người ta cảm nhận được những đổi thay trong lớp học. Nếu lớp học trở nên tốt hơn, các em học sinh tử tế hơn thì mọi người sẽ bắt đầu chú ý. Giả thử quý vị hướng dẫn cho học sinh buông thư (thư giãn); dù là trong một khoảng thời gian dài hay ngắn, chắc chắn là nó sẽ gây ảnh hưởng trên lớp học. Quý vị cũng cần dành thời gian để tiếp xúc với thầy hiệu trưởng và các bạn đồng nghiệp để bàn về phương cách làm cho học sinh cảm thấy hạnh phúc hơn, và những việc cụ thể cần làm. Khi một thầy hay cô giáo thực hành chánh niệm thì mọi thứ về người đó đều thay đổi, người ngoài sẽ nhận thấy điều đó và sẽ hỏi vị thầy hay cô giáo đó về sự bình an của họ. Khi người ta thấy được điều đó, họ sẽ không ngăn trở quý vị được an lạc. Nếu quý vị không biết được cảm giác an lạc của chánh niệm thì quý vị không thể đem nó vào dạy trong lớp học được. Một cách nữa là quý vị có thể viết một bài về những lợi ích của việc thực hành chánh niệm và chia sẻ nó với các bạn đồng nghiệp hay cấp trên. Có rất nhiều bằng chứng để chỉ ra rằng chánh niệm có thể mang đến ích lợi cho môi trường giáo dục như thế nào.

Ngồi thiền trong một lớp học Brighton, Anh Quốc

_____________________

H: Thưa Thầy, con đang đau khổ nhưng khi con đang cố gắng để thoát ra khỏi nguồn gốc của khổ đau của mình, thì học trò con tìm đến, muốn con giúp giải quyết những vấn đề của họ, rồi mẹ con lại gọi điện thoại báo là cha con muốn làm hại bà. Làm sao con có thể cùng lúc giải quyết khổ đau từ ba nguồn lực như thế?

Thầy: Quý vị cần lắng nghe những vấn đề của học trò và mẹ của mình, nhưng chỉ cần giải quyết trước một vấn đề! Nên rõ ràng là trước tiên quý vị cần nói với bà mẹ là mình sẽ trao đổi với bà, rồi quán xét vấn đề và gọi lại sau. Làm như thế là hợp lý. Để không bị choáng ngợp bởi quá nhiều vấn đề cùng một lúc, chúng ta cần biết nuôi dưỡng bản thân để có đủ sức mạnh mà giải quyết nhiều vấn đề.

Có hai việc: trước tiên, phải biết đối phó với khổ đau, và thứ đến là phải biết vun trồng hạnh phúc. Quý vị phải biết cách chữa lành vết thương và cũng cố bản thân. Ở đây Thầy xin nhắc lại thí dụ việc đi đến trường: đi như thế nào để có thể nuôi dưỡng bản thân. Làm những công việc thường ngày cũng vậy, làm như thế nào để chúng trở thành nguồn nuôi dưỡng ta. Khi cuộc sống hằng ngày nuôi dưỡng ta, ta sẽ có đủ sức mạnh và không bị choáng ngợp bởi nhiều vấn đề cùng lúc. Nếu một bác sĩ nhận thấy bệnh nhân của mình quá yếu, không thể chịu đựng phẫu thuật, ông sẽ dời việc phẫu thuật lại chờ cho bệnh nhân mạnh lên trước. Học hỏi cách sống an lạc trong từng giây phút rất quan trọng trong việc giảm thiểu khổ đau. Khi quý vị mở vòi nước, quý vị cảm thấy an lạc. Khi đánh răng, quý vị thấy hạnh phúc. Biết tri ân và biết thưởng thức khi làm tất cả những công việc đơn giản hằng ngày rất quan trọng, chính chánh niệm sẽ giúp quý vị tỉnh thức trước những khổ đau và các giải pháp.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, khi con thực tập, con cũng cảm nhận được một vài chuyển hóa, nhưng chúng không bền lâu. Thí dụ, con có thể nhận thấy tâm sân của con khởi lên và để cho nó qua đi, nhưng con chỉ làm được đôi ba lần như thế, nên con cảm thấy rất nản lòng. Làm sao con có thể duy trì được kết quả của công trình tu tập của con?

Thầy: Nếu quý vị buộc mình phải thở, với ý nghĩ rằng điều đó là tốt, thì đó không phải là cách tu tập thông minh. Nhưng nếu quý vị bắt đầu thở theo một phương cách mà quý vị cảm thấy bình an, tự tại trong ba, bốn giây phút đầu tiên, thì đó là cách thực hành đúng. Đừng cố thực tập trong đau khổ. Bụt đã dạy rằng pháp Bụt hoàn hảo ở khúc đầu, khúc giữa và khúc cuối. Quý vị cần phải cảm thấy an bình, hạnh phúc suốt quá trình thở vào, thở ra của mình, không chỉ ở khúc cuối. Đừng nghĩ rằng sự thực tập chính là phương tiện và an lạc chính là kết quả của việc thực tập. An lạc không phải là đích đến mà chỉ là con đường. Không có con đường nào đưa đến việc buông thư. Buông thư chính là con đường. Quý vị không thể buộc mình phải buông thư! Thực tập tốt là chúng ta không bị đau khổ trong khi tu tập! Nếu chúng ta khổ khi thiền hành, thì đó không phải là cách tu tập tốt! Nếu chúng ta tập thở theo tiếng chuông mà cảm thấy khổ, thì đó không phải là cách tu tập tốt. Hãy vui vẻ khi thực hành, thì quý vị không cần hỏi câu hỏi này!

 

_____________________

H: Thưa Thầy, phần đông chúng con sống trong những thành phố lớn, nên khi có dịp đến tu tập tại các chùa, thì chúng con lại thấy rất khó thực hành theo. Rồi khi trở về thành phố, thật khó giữ, khó nhớ những điều đã học được.

Thầy: Làm người xuất gia dễ tu tập hơn người cư sĩ. Khi quý vị sống trong tăng đoàn, quý vị được bảo hộ trong một môi trường lý tưởng. Vì thế việc duy trì, giữ gìn giới pháp dễ hơn khi ta sống trong tăng đoàn với các bạn đồng tu. Bụt luôn đi cùng với rất nhiều vị tỳ kheo vì Ngài hiều rất rõ thực tại đó. Chúng tôi chỉ theo gương Bụt bằng cách mời theo nhiều vị xuất gia và cư sĩ có nhiều kinh nghiệm tu tập. Nếu quý vị muốn tu dễ, hãy trở thành một tu sĩ!

Nếu không, quý vị phải thành lập một tăng thân cư sĩ dầu quý vị ở bất cứ nơi đâu. Ở thành phố, một tăng thân cư sĩ sẽ thay thế tăng đoàn xuất sĩ. Đó là lý do tại sao những khóa tu như thế này có thể khơi nguồn cảm hứng để người cư sĩ có thể duy trì việc tu tập bằng cách thành lập hay tìm ra một tăng thân. Thông thường vào ngày cuối khóa tu người ta mới tìm ra được, nhất là những người sống cùng một thành phố. Rất nhiều tăng thân cư sĩ đã được thành lập khắp nơi trên thế giới. Ở Đức có hơn 80 tăng thân cư sĩ tu theo pháp môn của Làng Mai. Ở Anh, có khoảng 100. Trong các thành phố như London và New York, nhiều khi có đến 10. Vì thế khi quý vị trở về, hãy tìm hiểu, hãy họp thành nhóm để mỗi tuần tụ họp lại một lần đi thiền hành trong chánh niệm, ăn cơm chánh niệm và cùng nhau nghe pháp thoại. Tôi luôn thực tập thiền hành ở các trạm xe lửa hay phi trường. Khi đến các siêu thị, tôi cũng làm như thế! Khi quý vị thực tập như thế thì quý vị sẽ biết cái gì nên hay không nên mua. Đôi khi tôi bước ra khỏi siêu thị mà không mua thứ gì! Đó là Phật giáo ứng dụng mà quý vị có thể đem vào thực tế.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, làm thế nào để con cháu có thể hàn gắn lại với những bậc cha mẹ hay ông bà, những người đã làm tổn thương, đã xâm phạm họ? Chúng con cũng muốn thương yêu các bậc trưởng bối, nhưng vết thương của chúng con quá sâm đậm.

Thầy: Khi cha mẹ của chúng ta đau khổ và họ không biết làm thế nào để giải tỏa nỗi đau đó, họ sẽ chuyền nó qua cho chúng ta. Vì thế hãy quan sát nỗi đau của quý vị, quý vị sẽ thấy nỗi đau của cha mẹ trong đó. Nếu chúng ta không thể chuyển hóa nỗi đau đó, chúng ta cũng sẽ trao truyền nó lại cho con cái chúng ta. Đó là luân hồi khổ đau.

thở đi ba mẹThông thường chúng ta nghĩ là cha mẹ ở bên ngoài chúng ta, rằng họ là người khác. Điều đó không đúng; họ ở trong chúng ta, hoàn toàn có mặt trong từng tế bào trong cơ thể chúng ta. Những nỗi khổ và niềm vui của mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta cũng là của cha mẹ chúng ta. Nếu quý vị không chuyển hóa được nỗi đau của cha mẹ bên trong chúng ta, thì chúng ta cũng sẽ khiến cho những người chúng ta thương yêu nhất khổ đau.

Quý vị đừng tìm cách thay đổi người cha hay mẹ ở bên ngoài quý vị mà không chuyển hóa người cha hay mẹ bên trong quý vị. Hãy nhớ rằng chúng ta là sự tiếp nối của cha mẹ chúng ta. Chúng ta sẽ mang họ vào tương lai. Vì thế mỗi khi quý vị bước đi, hãy mời gọi người cha, người mẹ bên trong quý vị cùng bước, để họ có thể tận hưởng những điều kỳ diệu của cuộc sống và có thể được chuyển hóa ở bên trong quý vị. Hãy uống trà cùng họ, để họ có thể được chuyển hóa ở bên trong quý vị. Hãy thay đổi người cha, người mẹ ở bên trong quý vị trước, điều đó dễ làm hơn, trước khi hướng tâm đến người cha, người mẹ ở bên ngoài. Chúng ta có thể chuyển các bậc cha mẹ ở bên trong thành những người dễ thương, vui vẻ, đồng cảm, và chấm dứt sự luân hồi của họ trong ta. Sau đó quý vị mới có thể đủ sức giúp người cha, người mẹ bên ngoài thay đổi. Nhưng phải đợi đến lúc đó, vì người cha sân hận trong ta khi phải đối mặt với người cha giận dữ bên ngoài sẽ chẳng đem lại lợi ích gì! Tôi cũng đã chứng kiến nhiều người con đã quay trở lại giúp đỡ cha mẹ mình. Nương tựa Tam Bảo, giữ năm giới là con đường tốt nhất để chữa lành các vết thương và chuyển hóa.

 


 

Nguồn:
Phù Sa net dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Questions from the heart:  Advice about practice from Thich Nhat Hanh

Tại sao đạo Bụt có sự phân biệt đối xử với phụ nữ?

Câu hỏi: Tại sao trong truyền thống đạo Bụt vẫn có sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thậm chí điều này vẫn tồn tại cho đến ngày nay?

 

Thầy: Bạn có nghĩ là ở Làng Mai, chúng tôi đối xử phân biệt với phụ nữ không? Các sư cô cũng như một số nữ cư sĩ thực tập theo pháp môn Làng Mai đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức đời sống cũng như sự tu học của Tăng thân ở đây nói riêng và các tăng thân tu tập theo pháp môn Làng Mai ở khắp nơi trên thế giới.

Hiện nay, ở nhiều nước vẫn còn Tăng đoàn Tỳ kheo ni. Tuy nhiên, cũng có những nước đã không còn sự hiện diện của Tăng đoàn Tỳ kheo ni nữa. Lý do không phải là do sự kỳ thị trong đạo Bụt, mà là do những người thực tập theo đạo Bụt. Họ đã để cho những phân biệt đối xử từ xã hội thâm nhập vào trong tăng đoàn. Ở Thái Lan và Sri Lanka hiện nay không còn Tỳ kheo ni nữa, và nhiều người dân ở các nước này đang cố gắng khôi phục lại Tăng đoàn Tỳ kheo ni. Có thể nói những người theo đạo Bụt chưa thực tập giỏi lắm, vì vậy các bạn cần phải thực tập giỏi hơn, làm hay hơn các thế hệ trước đây.

Thầy là một trong những người luôn cố gắng khôi phục lại tinh thần nguyên thủy của đạo Bụt, bởi vì Bụt vốn là người luôn cởi bỏ mọi sự phân biệt và kỳ thị. Người đã đón nhận những người đến từ các thành phần, giai cấp, chủng tộc khác nhau trong xã hội vào Tăng đoàn. Bụt cũng cho phép phụ nữ được xuất gia và trở thành tỳ kheo ni. Bụt đã làm một cuộc cách mạng thật sự vào thời đó. Hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ rất khó khăn, vậy mà Bụt vẫn có thể làm được. Vì vậy, là sự tiếp nối của Bụt, chúng ta cần phải thực tập hết lòng để có thể gìn giữ và bảo vệ gia tài mà Bụt để lại, gia tài đó là tinh thần không phân biệt và kỳ thị.

Liệu có sự sống sau khi chết?

Câu hỏi : Thưa Thầy, liệu có sự sống sau khi chết hay không ?

Thầy : Sự sống luôn có mặt đồng thời với cái chết, không có trước mà cũng không có sau. Sự sống không thể tách rời khỏi cái chết. Nơi nào có sự sống thì nơi đó có cái chết và nơi nào có cái chết thì nơi đó có sự sống. Điều này cần phải quán chiếu kỹ mới có thể hiểu được. Trong đạo Bụt, chúng ta nói về tính tương tức của vạn vật, nghĩa là không ai trong chúng ta có thể tồn tại một cách biệt lập, riêng rẽ. Chúng ta phải tương tức với những thành phần khác. Nó cũng giống như bên trái và bên phải. Nếu bên phải không có đó thì bên trái cũng không thể có mặt. Nếu không có bên trái thì cũng không có bên phải. Không thể nào có thể lấy bên trái ra khỏi bên phải hoặc lấy bên phải ra khỏi bên trái.

Giả sử tôi nhờ một bạn mang nửa bên trái đi về xóm Hạ và một bạn khác mang nửa bên phải đi về xóm Mới. Chắc chắn là không thể làm được. Bên phải và bên trái luôn có mặt cùng nhau, bởi vì không có bên này thì bên kia cũng không thể tồn tại. Điều này rất rõ ràng, cũng giống như bên trên và bên dưới. Vì vậy, trong đạo Bụt gọi đó là tương tức (Inter-being). Những mặt đối lập luôn đi liền với nhau.

Cũng vì vậy mà khi Thượng Đế truyền lệnh: "Ánh sáng, hãy xuất hiện đi !" thì ánh sáng thưa rằng: "Con phải đợi, thưa Thượng Đế ! Con phải đợi !". Thượng Đế nghe vậy liền hỏi: "Ngươi còn đợi cái gì nữa?". Ánh sáng đáp: "Dạ, con đang đợi bóng tối đến để biểu hiện cùng một lúc".  Bởi vì ánh sáng và bóng tối tương tức với nhau. Khi đó, Thượng Đế mới bảo rằng: "Bóng tối đã xuất hiện rồi! ". Ánh sáng đáp: "Vậy thì con cũng đã có mặt ở đó rồi !".

Điều này cũng đúng với các cặp đối lập như: tốt – xấu, trước – sau, ở đây – ở đó, anh – tôi. Tôi không thể nào có mặt ở đó nếu không có anh. Cũng giống như hoa sen kia không thể nào có mặt nếu không có bùn. Không có bùn thì cũng không có sen. Cũng tương tự như vậy, hạnh phúc sẽ không thể nào có được nếu không có khổ đau, cũng như không thể nào có sự sống nếu không có cái chết.

Các nhà sinh vật học khi quan sát cơ thể con người đã nhận thấy rằng cái sinh và cái diệt diễn ra đồng thời. Trong giây phút này đây, hàng ngàn tế bào trong cơ thể chúng ta đang chết đi. Khi ta gãi trên da như thế này thì nhiều tế bào khô rơi xuống, đó là những tế bào đã chết. Và rất nhiều tế bào chết đi trong từng giây phút của đời sống hàng ngày. Bởi vì chúng ta quá bận rộn nên chúng ta không nhận thấy điều đó thôi. Và nếu những tế bào đó chết cũng có nghĩa là chúng ta đang chết. Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta còn lâu mới chết. Ta nghĩ rằng ta còn năm mươi hay bảy mươi năm nữa mới chết, nhưng điều đó không đúng. Cái chết không phải là một cái gì đang chờ đợi ta ở cuối con đường, mà nó đang diễn ra ngay trong giây phút này, ngay bây giờ và ở đây.

Cái chết đang diễn ra trong mỗi giây, mỗi phút, ngay trong giờ phút hiện tại. Chính vì có những tế bào chết đi mà có những tế bào mới được sinh ra. Và vì có quá nhiều tế bào được sinh ra trong từng giây từng phút nên chúng ta không thể có thì giờ để tổ chức lễ mừng sinh nhật cho chúng được. Nói một cách khoa học thì chúng ta có thể nhìn thấy cái sinh và cái diệt đang diễn ra trong giờ phút hiện tại, đó là sự thật. Bởi vì có những tế bào chết đi nên những tế bào mới được sinh ra và vì có những tế bào được sinh ra nên mới có những tế bào chết đi. Chúng nương vào nhau để biểu hiện. Do vậy, chúng ta đang kinh nghiệm sự sống và cái chết trong từng giây, từng phút. Đừng nghĩ rằng chúng ta chỉ được sinh ra từ ngày tháng ghi trong giấy khai sinh, đó không phải là ngày sinh thật sự. Trước ngày giờ đó thì chúng ta đã có mặt rồi. Trước khi được thụ thai trong bào thai của mẹ thì chúng ta đã có mặt trong cha và mẹ của chúng ta dưới một hình tướng khác. Vì vậy mà có thể nói không có sinh, không có một điểm bắt đầu thực sự, và cũng không có kết thúc.

Khi chúng ta biết sinh và diệt luôn có mặt đồng thời với nhau thì chúng ta không còn sợ hãi cái chết. Bởi vì chính giây phút mà cái chết xảy ra thì sự sống cũng đồng thời sinh khởi. La vie est avec la mort (Sự sống luôn đi liền với cái chết). Chúng không thể tách rời. Để chứng nghiệm được điều này đòi hỏi phải có một sự thiền quán rất sâu. Ta không nên chỉ dùng trí năng để thiền quán. Ta phải quan sát sự sống trong từng giây từng phút của đời sống hàng ngày. Ta sẽ thấy rằng sinh và diệt tương tức với nhau, điều này xảy ra đối với vạn vật, từ cây cỏ, cầm thú, thời tiết, vật chất và năng lượng. Các nhà khoa học cũng đã tuyên bố rằng không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự chuyển biến từ hình thái này sang hình thái khác mà thôi. Vì vậy chỉ có sự chuyển biến là có thật, còn sinh và diệt là những cái không có thật. Những gì mà ta gọi là sinh và diệt thì đó chỉ là sự chuyển biến mà thôi.

Khi thực hiện một phản ứng hóa học, ta lấy một số chất hóa học cho vào với nhau. Khi các chất hóa học gặp nhau thì sẽ xảy ra phản ứng, một sự biến đổi của các chất. Đôi khi ta nghĩ rằng một chất hóa học nào đó không còn nữa, nó đã biến mất, nhưng sự thật là khi quan sát kỹ, ta sẽ thấy rằng chất hóa học đó vẫn còn tồn tại nhưng chỉ ở dưới một dạng khác mà thôi.

Khi ta nhìn lên bầu trời và không thấy đám mây mà ta yêu quý đâu nữa, ta nghĩ rằng đám mây đó đã chết, nhưng sự thực là đám mây đó vẫn đang tiếp tục tồn tại nhưng dưới hình tướng là mưa hay những hình tướng khác mà thôi. Sinh và diệt chỉ là những hiện tượng mà ta nhìn thấy trên bề mặt. Nếu ta nhìn thật sâu thì không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự tiếp nối không ngừng. Khi ta tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt thì ta không còn lo sợ cái chết. Không chỉ đạo Bụt nói về không sinh không diệt, mà khoa học cũng nói về điều này. Giữa hai bên có thể chia sẻ với nhau những khám phá của mình, điều này sẽ rất thú vị. Chúng ta cần sống đời sống của mình cho sâu sắc hơn để có thể tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt.

Câu trả lời này của Thầy chỉ là một lời mời, một lời đề nghị thực tập. Chúng ta cần sống đời sống của mình một cách chánh niệm hơn, với sự định tĩnh để có thể tiếp xúc một cách sâu sắc với những gì đang diễn ra trong ta và xung quanh ta. Và khi đó, chúng ta sẽ có cơ hội tiếp xúc với bản chất chân thực của thực tại, đó là bản chất không sinh không diệt. Đạo Bụt gọi đó là Niết bàn (Nirvana). Niết bàn chính là bản chất không sinh không diệt. Trong đạo Thiên chúa, ta có thể gọi đó là Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản chất không sinh, không diệt của chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản tánh chân thật của chúng ta.

Điều này cũng giống như một ngọn sóng tin rằng mình có sinh, có diệt. Mỗi lần con sóng dâng lên cao và khi chuẩn bị xuống thấp, nó cảm thấy lo sợ, nó sợ cái chết. Nhưng nếu con sóng nhận ra rằng nó là nước thì nó sẽ không còn sợ hãi. Trước khi dâng lên cao thì nó đã là nước, trước khi hạ xuống thì nó vẫn là nước và sau khi hạ xuống thấp thì nó vẫn là nước thôi. Không có cái gì chết đi. Vì vậy điều quan trọng là con sóng cần thiền quán để thấy rằng nó là con sóng, nhưng nó cũng đồng thời là nước. Và khi đã biết mình là nước thì con sóng sẽ không còn sợ cái chết nữa. Nó sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi vươn lên cao và cũng hạnh phúc không kém khi hạ xuống thấp. Nó đã vượt thoát mọi sự sợ hãi.

Những đám mây của chúng ta cũng vậy. Chúng không sợ chết, bởi vì chúng biết rằng nếu chúng không phải là một đám mây thì chúng có thể trở thành một cái gì khác cũng đẹp không kém, chẳng hạn như mưa hay tuyết.

Vì vậy trong trường hợp con sóng, nó không đi tìm kiếm nước. Nó không phải đi tìm kiếm làm gì, bởi vì nó chính là nước ngay trong giờ phút hiện tại. Điều này cũng đúng với Thượng Đế. Chúng ta không phải đi tìm Thượng Đế ở đâu hết, chúng ta chính là Thượng Đế. Thượng Đế chính là tự tánh của chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm kiếm Niết bàn. Niết bàn chính là nền tảng hiện hữu của chúng ta. Đó là giáo lý của Bụt. Nhiều người trong chúng ta đã có thể chứng nghiệm được điều đó. Chúng ta biết tận hưởng giây phút hiện tại. Chúng ta biết rằng chúng ta không thể nào chết được.

Trái đất của chúng ta là hành tinh đẹp nhất trong hệ mặt trời. Chúng ta nên biết cách tận hưởng những bước chân của mình khi đi trên hành tinh xinh đẹp này, đó là đất Mẹ – mẹ của tất cả chư Bụt, chư Bồ tát và các Thánh nhân, mẹ của Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Chúa Jesus, các vị Bụt và cũng là mẹ của tất cả chúng ta. Và chúng ta đang hạnh phúc tận hưởng sự có mặt của Mẹ. Mẹ của chúng ta đang có mặt ở bên ngoài và cả bên trong mỗi chúng ta. Khi đi dạo trên đồi, chúng ta có thể tận hưởng từng bước chân của mình, tận hưởng sự có mặt của chính mình và của đất Mẹ, người mẹ vô cùng xinh đẹp. Chúng ta cần đi như thế nào để trong mỗi bước chân, chúng ta có thể tiếp xúc với đất Mẹ một cách sâu sắc. Mỗi bước chân như vậy có thể trị liệu cho chính chúng ta và cho cả đất Mẹ.

Làm sao để giúp đỡ gia đình?

Câu hỏi: Con là đứa trẻ cuối cùng của dòng họ, và vì vậy con mang trong mình rất nhiều khổ đau của dòng họ, tổ tiên. Nhưng con cũng may mắn vì có đủ nhân duyên gặp được chánh pháp và không phải vật lộn để mưu sinh, cho nên con có cơ hội để tu tập. Giờ đây con có thể thấy rất rõ những khối khổ đau chồng chất trong gia đình con được hình thành như thế nào từ thế hệ này sang thế hệ khác, trải qua bao biến động của lịch sử. Vì vậy con đang cố gắng chia sẻ với các anh chị trong gia đình để mọi người có thể vơi nhẹ nỗi khổ đau giống như con. Nhưng đối với một vài anh chị của con thì trái tim họ dường như đã bị đông cứng. Họ có nhiều giận hờn và tuyệt vọng. Mặc dù con có hiểu biết chút ít về pháp môn tu học nhưng con biết là con vẫn chưa đủ vững chãi trong một số hoàn cảnh nhất định. Con không biết phải làm gì để giúp gia đình của mình. Con rất lo lắng, bởi vì con đã thấy một vài người thuộc thế hệ ba mẹ của con sau khi thoát khỏi chiến tranh đã trở nên hoàn toàn mất trí và thực sự hủy hoại chính mình. Con cần phải làm gì để giúp họ?

Thầy: Khổ đau đang lan tràn khắp nơi. Có những người trong chúng tôi đã ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam với đầy thương tích. Chúng tôi đã chứng kiến cha, mẹ, anh chị em của mình bị sát hại, bị tiêu diệt hoặc bị tàn phế trong cuộc chiến tranh. Chúng tôi cũng đã chứng kiến biết bao người bị giam cầm và tra tấn dã man trong cuộc chiến đó. Những ý thức hệ và vũ khí nước ngoài từ khắp nơi trên thế giới đã được đưa vào đất nước để tiêu diệt, để giết hại người dân chúng tôi. Chúng tôi đã bị đẩy vào tình cảnh đó trong một thời gian rất dài. Vì vậy mà mỗi người trong chúng tôi, mỗi người Việt Nam lớn lên sau chiến tranh đều mang trong mình nỗi đau và vết thương chiến tranh của thế hệ đi trước.

Sau bốn mươi năm bị lưu vong, tôi đã có thể về lại quê hương một vài lần để tổ chức những khóa tu giúp hàn gắn, chữa trị những vết thương chiến tranh trong lòng người và trong những thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Tôi đã cố gắng làm hết sức mình, nhưng tôi làm với tư cách một Tăng thân chứ không phải là với tư cách cá nhân. Tôi đã trở về Việt Nam không phải một mình mà là cùng với một Tăng thân. 300 thiền sinh đã về Việt Nam cùng tôi lần đầu tiên sau 40 năm xa quê hương. Đó là vào năm 2005. Sự thực tập của chúng tôi khi đó rất vững chãi.

Cứ thử tưởng tượng khách sạn tại Hà Nội nơi đoàn chúng tôi ở luôn có công an mật theo dõi bởi vì họ sợ chúng tôi. Chúng tôi đi đâu họ cũng đi theo, họ muốn biết chúng tôi làm gì, nói gì với người dân. Họ bị buộc phải cho phép tôi trở về nước, nhưng họ cũng sợ là tôi có thể nói hoặc kêu gọi người dân Việt Nam lên tiếng chống lại họ. Khi đó, hàng trăm người trong đoàn đã thực tập rất vững chãi. Cách chúng tôi đi, cách chúng tôi thở, cách chúng tôi ăn sáng, cách chúng tôi tiếp xử với nhân viên phục vụ ở khách sạn cũng như những người đến với chúng tôi, trong đó có cả công an mật, cũng đều thể hiện sự vững chãi đó.

Khách sạn nơi đoàn chúng tôi ở đã trở thành một trung tâm tu học với năng lượng chánh niệm, bình an và tình huynh đệ. Mọi người ở đó đều rất ấn tượng với sự thực tập của tăng đoàn. Có một lần, chúng tôi đi thiền hành quanh hồ Hoàn Kiếm và đó là lần đầu tiên người dân thủ đô được nhìn thấy một đoàn người rất đông đang bước những bước chân thật bình an, khuôn mặt ai cũng ánh lên niềm vui và hạnh phúc. Mọi người có mặt hôm đó đã rất ngạc nhiên và xúc động. Hình ảnh của tăng đoàn đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người dân thủ đô. Họ đã được nhìn thấy những người xuất gia cũng như các thiền sinh tu tập rất vững chãi, và trong chuyến về Việt Nam năm đó, chúng tôi đã có cơ hội chia sẻ các pháp môn tu học với rất nhiều người dân trong nước thông qua các buổi pháp thoại công cộng và qua các khóa tu.

Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức các lễ trai đàn chẩn tế để cầu nguyện cho hàng triệu người đã chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Hàng ngàn người đã đến tham dự và cầu nguyện cùng chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều tự hứa với chính mình rằng chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận một cuộc chiến tranh ý thức hệ như trong quá khứ, không sử dụng những ý thức hệ và vũ khí nước ngoài để giết hại lẫn nhau. Đó là điều chúng tôi đã làm được. Chúng tôi đã dùng sự tu tập của mình để giúp đất nước chữa lành những thương tích nặng nề của chiến tranh.

Vì vậy câu trả lời của tôi là: để có thể thành công trong việc giúp người khác bớt khổ, chúng ta phải làm với một tăng thân. Chúng ta phải thực tập cùng với một tăng thân thì chúng ta mới đủ mạnh để có thể xử lý được khổ đau. Rác thì có rất nhiều, và bởi vì nhiều người trong chúng ta chưa biết cách chuyển hóa rác thành hoa, chưa biết cách tận dụng khổ đau để chế tác bình an và trị liệu, cho nên chúng ta cần có một tăng thân để yểm trợ.

Khi chúng ta thực tập một mình thì chỉ cần chuyển hóa được tự thân thôi cũng đã đủ khó rồi, huống hồ là giúp người khác chuyển hóa. Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải xây dựng tăng thân và gắn bó cùng với tăng thân. Nếu không có tăng thân, chúng ta không thể làm được gì nhiều trong việc chuyển hóa và trị liệu. Nếu không có tăng thân thì ngay cả Bụt cũng không thể làm được gì nhiều. Chính vì vậy mà ngay sau khi thành đạo, điều đầu tiên mà Bụt nghĩ đến là đi tìm điều kiện để xây dựng tăng thân.

Mình cũng phải làm như Bụt. Tôi ý thức rất rõ về điều này. Tôi biết rằng nếu tôi về nước một mình thì tôi sẽ không thể làm được gì. Vì vậy tôi đã đặt điều kiện rằng :  tôi chỉ về lại Việt Nam nếu Chính phủ Việt Nam cho phép tôi trở về cùng với Tăng thân. Nếu có Tăng thân, chúng ta sẽ có năng lượng tập thể hùng hậu đủ để chăm sóc và chuyển hóa khổ đau trong chúng ta.

Làm sao để có thể trở thành một người tu

Câu hỏi : Làm sao để có thể trở thành một người tu?

Thầy : Ở Làng Mai, chúng tôi có chương trình đào tạo 5 năm dành cho những ai muốn được rèn luyện và học hỏi trong môi trường xuất gia để có thể phụng sự xã hội. Chương trình này dành cho các bạn trẻ từ 16 tuổi đến 36 tuổi. Các bạn có thể đến và thử sống đời sống xuất gia như các thầy, các sư cô ở đây trong vòng 5 năm – thực tập làm sadi trong ba  năm đầu và thọ giới lớn trong hai năm còn lại.

Trong 5 năm này, các bạn có cơ hội được học hỏi nhiều hơn về các pháp môn tu học và học cách ứng dụng các pháp môn này vào đời sống hàng ngày. Các bạn được sống trong tăng thân, được hành trì giới luật của người xuất gia và giúp các huynh đệ trong tăng thân tổ chức những khóa hướng dẫn tu học cho mọi người ở khắp nơi. Các bạn vừa được học hỏi và rèn luyện, vừa có cơ hội phụng sự và giúp ích cho mọi người ngay trong thời gian này.

Chỉ cần cách đi, cách ngồi, cách tổ chức khóa tu của bạn cũng đã tạo cảm hứng và giúp ích cho rất nhiều người rồi. Mỗi khi có khóa tu, bạn có cơ hội tu tập và chứng kiến tận mắt sự chuyển hóa và trị liệu của các bạn thiền sinh trong mỗi khóa tu. Điều này sẽ làm cho bạn rất hạnh phúc vì điều đó chứng tỏ rằng pháp môn tu tập mà bạn đang hành trì có khả năng cứu giúp cho mọi người. Chỉ cần sau năm hay sáu ngày tu tập thôi mà mọi người đã thay đổi và chuyển hóa nhiều rồi. Bạn thấy họ tìm lại được sự bình an và niềm vui sống, cũng như hàn gắn lại được với người mình thương. Điều này giúp cho bạn tin rằng cuộc đời mình có thể trở nên hữu ích và có ý nghĩa vì bạn có thể giúp mang lại hạnh phúc cho mọi người.

Ở Làng Mai, trong khóa tu mùa hè năm nay có khoảng 4000 – 5000 người đến tu học, trong số đó có rất nhiều trẻ em. Bạn có thể nhìn thấy sự chuyển hóa, trị liệu và niềm vui của các thiền sinh đến tu học. Đó là điều có thể nuôi dưỡng bạn rất nhiều.

Sau 5 năm tu học, bạn có thể lựa chọn trở về với cuộc sống cư sĩ hay tiếp tục đời sống xuất gia. 90% các thầy, các sư cô ở Làng Mai đều xuất gia trọn đời. Chỉ khoảng 5% các thầy, các sư cô ở đây là theo chương trình 5 năm. Sau 5 năm, bạn có thể tiếp tục đời sống xuất gia hoặc trở về với đời sống trước đây với tư cách một giáo thọ cư sĩ – người có khả năng giảng dạy, hướng dẫn tu học cho người cư sĩ, bởi vì sau năm thứ năm là bạn được làm giáo thọ tập sự và sau một năm tập sự, bạn sẽ được nhận đèn truyền đăng làm giáo thọ.

Vì vậy, nhân đây, Thầy cũng muốn các bạn trẻ suy nghĩ về chương trình 5 năm này. Thử xem liệu mình có thể sống đời sống xuất gia trong 5 năm không ? Liệu mình có muốn trực tiếp nếm được niềm vui của tình huynh đệ do sự tu tập mang lại, và đồng thời có cơ hội được phụng sự, giúp ích cho mọi người ?

Nhìn sâu vào chính ta

Câu hỏi: Kính bạch Thầy, con đang rất khổ vì ba của con. Con không muốn nhìn mặt ba con nữa, dường như chuyện gặp ba đã trở thành một việc nguy hiểm đối với con. Con đã cho ba nhiều cơ hội để thay đổi. Nhiều lần con đã cố gắng thuyết phục mình đến gặp ba, nhưng bây giờ thì con không thể tiếp tục được nữa. Điều con muốn hỏi là liệu con có nên tiếp tục cố gắng làm cho ba thay đổi và cố gắng đến gặp ba nữa hay không, cho dù việc đó đang làm cho con mệt mỏi?

 

Thầy: Đây là một câu hỏi quan trọng và Thầy nghĩ là nhiều người trong chúng ta cũng đang có câu hỏi này trong lòng. Ta phải làm thế nào khi mà người đó dường như không chịu thay đổi mặc dù ta đã hết lòng giúp đỡ? Liệu ta có nên tiếp tục giúp người đó nữa hay không ? Để có được một câu trả lời đúng đắn, chúng ta phải nhìn sâu hơn vào mối quan hệ giữa ta và người đó. Dù đó là quan hệ giữa con trai và cha hay con gái và mẹ cũng như quan hệ vợ chồng, nếu chúng ta có khó khăn với người đó và muốn người đó thay đổi thì điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nhìn sâu vào chính ta và vào người đó để thấy rõ mối liên hệ giữa ta và người đó.

Ta thường hay nghĩ rằng người đó ở ngoài ta. Đó không phải là một cái thấy đúng đắn, không phải là chánh kiến. Trong trường hợp câu hỏi này, ta nghĩ rằng cha của ta là một đối tượng nằm ngoài ta. Và ta chỉ cần thay đổi đối tượng bên ngoài đó chứ không phải là bên trong ta. Nhưng sự thực thì chúng ta cần phải nhìn thấy rằng cha của chúng ta đang nằm bên trong chúng ta, người cha đó đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể ta. Chúng ta là sự tiếp nối của cha. Vì vậy sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta thay đổi người cha bên trong chúng ta trước tiên, và chúng ta có thể làm điều này 24 giờ mỗi ngày. Ta không cần phải đi đến gặp người đó, nói chuyện với người đó để cho người đó thay đổi. Cách ta thở, cách ta đi cũng đã có thể thay đổi người đó trong chính ta rồi. Chúng ta chỉ cần mời cha đi thiền hành cùng ta, ngồi cùng ta, mỉm cười cùng ta, rồi thì người cha đó trong ta sẽ thay đổi. Nếu không làm được như vậy thì khi chúng ta lớn lên, chúng ta cũng sẽ hành xử y hệt cha của mình.

Có nhiều đứa trẻ rất ghét cha của mình và tự hứa rằng khi lớn lên sẽ không hành xử và nói năng như cha của chúng. Nhưng rồi khi lớn lên, chúng vẫn hành xử y hệt và cũng nói năng y hệt cha của chúng vậy. Điều này đã xảy ra nhiều rồi. Mình ghét điều đó, mình không muốn làm điều đó, mình không muốn nói những lời như vậy. Ấy vậy mà mình vẫn sẽ làm, vẫn sẽ nói y hệt như vậy, không khác. Đạo Bụt gọi đó là samsara, nghĩa là luân hồi. Chúng ta tiếp nối cha của mình không chỉ trong hình hài này mà còn trong cách sống của chính  ta. Đó là lý do vì sao khi gặp được pháp môn thực tập của đạo Bụt, chúng ta có cơ hội để thay đổi người cha đó trong ta trước tiên. Khi chúng ta đã thay đổi được người đó trong mình rồi thì cha của chúng ta sẽ không tiếp tục luân hồi nữa. Và ta sẽ không tiếp tục trao truyền tập khí đó cho con cháu của chúng ta. Nhờ vậy mà ta chấm dứt được vòng luân hồi. Khi người cha trong chúng ta đã thay đổi, đã chuyển hóa thì sự thay đổi và chuyển hóa của người cha bên ngoài sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều. Đó là kinh nghiệm của chính Thầy.

Thầy cũng có những người bạn đồng tu rất khó để thay đổi họ. Họ là những vị có chức sắc trong Giáo hội và họ rất bảo thủ. Họ không muốn có những đổi mới diễn ra trong Giáo đoàn. Chúng ta biết rằng để có thể đáp ứng được với sự phát triển của xã hội thì chúng ta phải luôn làm mới đoàn thể của mình, cho dù đó là đoàn thể của đạo Bụt hay Thiên chúa giáo hay Hồi giáo hay Do Thái giáo. Nhiều người trong chúng ta rất có tâm huyết muốn làm mới truyền thống của mình để phụng sự xã hội và giúp ích cho mọi người, có phải vậy không ? Nhưng thực tế thì có quá nhiều những thành phần bảo thủ trong các tổ chức tôn giáo. Vì vậy câu hỏi được nêu ra ở đây cũng đúng trong trường hợp của Thầy. Thầy đã nhận ra điều này từ rất sớm, và Thầy đã nói với chính mình rằng: « Những người đó đang có mặt trong chính chúng ta, vậy thì chúng ta phải thay đổi chính mình trước đã ».

Cũng như vậy, nếu chúng ta là vợ hoặc chồng và chúng ta thấy người chồng/vợ của chúng ta không thay đổi thì đừng nghĩ rằng người đó chỉ là đối tượng ở bên ngoài ta. Người vợ/chồng đó đang có mặt trong chính chúng ta, cho dù chúng ta đã ly dị người đó đi nữa. Ngày hôm qua, Thầy có nhận được một câu hỏi : « Liệu con có thể hàn gắn và làm mới lại quan hệ với người bạn đời mà con đã ly dị hay không ? ». Đây đúng là câu hỏi mà chúng ta phải trả lời. Ban đầu chúng ta tin rằng sau khi ly dị chúng ta có thể tự do hoàn toàn, chúng ta có thể lấy người đó ra cuộc đời mình hoàn toàn. Điều đó hoàn toàn sai! Chúng ta không thể nào lấy người đó ra khỏi ta được. Không bao giờ có thể được! Trước khi có ý định làm một điều gì với người đó ở bên ngoài ta thì ta nên giúp người đó ở bên trong chúng ta chuyển hóa  trước đã.

Với sự thực tập này, chúng ta có thể chuyển hóa tự thân và trở thành một tấm gương cho người đó. Chúng ta trở nên tươi mát và chính cách sống của chúng ta phản chiếu điều mà ta mong muốn nơi người đó. Vì vậy thông qua cách nói năng, hành xử, cách sống hàng ngày, chúng ta bắt đầu làm cho người đó thay đổi. Ta không thể nào làm cho người khác thay đổi chỉ bằng lời nói mà thôi. Có thể lời nói của chúng ta không thể thay đổi người đó, nhưng cách hành xử, cách ta dừng lại mà không phản ứng trước lời nói, hành động của người đó sẽ khiến người đó thay đổi. Và bởi vì người đó cũng có trí tuệ cho nên chắc chắn là họ sẽ nhận ra.

Chúng ta biết rằng để có thể thành công trong việc chuyển hóa tự thân và giúp người khác chuyển hóa, chúng ta cần có một Tăng thân, cần có sự yểm trợ của những người bạn đồng tu. Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải nương tựa Tăng thân. Ta cần học hỏi phương cách làm thế nào có thể tận dụng năng lượng tập thể của Tăng thân để giúp bản thân được chuyển hóa và trị liệu, đồng thời yểm trợ ta trong việc giúp người khác chuyển hóa.

Đừng quá vội đòi hỏi người đó phải thay đổi ngay, chúng ta cần phải chấp nhận người đó như vậy trước đã. Chấp nhận được người đó rồi thì chúng ta sẽ cảm thấy đỡ khổ hơn trước nhiều và khi đó chúng ta mới bắt đầu thay đổi người đó trong chính chúng ta. Đây là một sự thực tập rất sâu sắc.

Bởi vì người bạn đây của chúng ta đã đến Làng tu tập thì khi còn nhỏ và từ đó đến nay, mỗi năm đều về Làng tu tập cho nên Thầy tin là anh có thể làm được điều đó. Và chúng ta sẽ hết lòng yểm trợ để anh có thể làm được điều đó. Chúng ta không bao giờ để mất niềm tin và hy vọng. Và để làm được điều đó, chúng ta cần phải tinh tấn tu tập và mỗi ngày chúng ta đều làm hay hơn trong sự thực tập. Cảm ơn anh đã đặt câu hỏi. Đây là một câu hỏi rất hay!

(trích buổi vấn đáp với Thiền sư Thích Nhất Hạnh ngày 24/7/2012 tại xóm Thượng,  Làng Mai trong khóa tu mùa hè – được chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh)

Không sinh, không diệt chỉ có sự chuyển hóa không ngừng

 

Câu hỏi: Nếu như nói không có sinh cũng không có diệt, vậy thì hành động giết người có gì là sai trái?

Thầy: Một câu hỏi rất hay! Khi ta muốn giết hại một ai đó, ta nghĩ rằng ta có thể giết người đó, điều này chứng tỏ ta đang có những tri giác sai lầm. Giả sử như ta muốn giết một đám mây, đó là vì ta không biết rằng một đám mây không thể nào chết được, nó chỉ có thể biến thành mưa hoặc tuyết mà thôi.

Vì vậy ý muốn giết hại hay tiêu diệt một ai đó là một loại năng lượng xuất phát từ vô minh, từ những tri giác sai lầm, từ sự căm hờn và bạo động trong ta. Đó là lý do vì sao hành động giết hại sinh mạng là một hành động sai trái. Nó sai bởi vì nó không có trí tuệ. Hành động đó chứa đựng nhiều bạo động và khổ đau.

Chỉ riêng ý nghĩ giết hại một ai đó thôi chứ chưa nói đến hành động thì cũng đã sai rồi. Mà những hành động sai trái thường mang lại rất nhiều khổ đau, không chỉ khổ đau cho người khác mà còn cho chính bản thân chúng ta.

Những kẻ sát hại Martin Luther King, Mahatma Gandhi, John F.Kenedy hay Chúa Jesus đều là những người có nhiều khổ đau. Họ đầy thù hận, sợ hãi và bạo động. Sỡ dĩ như vậy là vì trong họ đầy vô minh và những tri giác sai lầm. Họ nghĩ là họ có thể giết chết người khác. Nhưng làm sao có thể giết chết được Martin Luther King. Ông thậm chí còn trở nên mạnh hơn trước khi họ giết ông. Martin Luther King giờ đây đã mạnh hơn trước rất nhiều.

Giả sử như ta muốn giết chết một đám mây. Làm sao ta có thể giết một đám mây được? Ý muốn giết hại hay hủy diệt một ai đó chỉ mang lại cho ta khổ đau mà thôi. Đó là lý do vì sao ta cần phải tiếp xúc với bản chất không sinh, không diệt của thực tại.

Cũng tương tự như vậy, một người tự sát cũng gây rất nhiều khổ đau. Anh ta nghĩ rằng anh ta có thể giết chính mình nhưng sự thật là anh không thể nào chết được. Hành động tự sát của anh chỉ làm cho chính anh và những người xung quanh khổ đau thêm mà thôi. Anh không thể nào chết và cũng không thể nào giết chết một ai đó được. Mahatma Gandhi vẫn đang sống với chúng ta và sức mạnh của Ngài lớn hơn bao giờ hết. Ngài đang hiện hữu trong mỗi chúng ta. Martin Luther King, Chúa Jesus hay Bụt cũng vậy.

Ý muốn giết hại ai đó chỉ mang lại khổ đau mà thôi, bởi vì nó chứa đầy vô minh, căm hờn và bạo động trong đó. Khoa học hiện đại cũng đồng ý với Bụt rằng anh không thể giết hay hủy diệt bất cứ một cái gì, anh không bao giờ có thể làm cho một cái gì mất đi. Không có gì có thể bị hủy diệt.

Antoine Lavoisier – cha đẻ của ngành hóa học hiện đại – đã tuyên bố rằng : « Rien ne se crée; rien ne se perd, tout se transforme. » (Không có gì sinh ra cũng không có gì mất đi, tất cả đều là sự chuyển hóa mà thôi). Trên bề mặt thực tại thì có vẻ như có sinh, có diệt nhưng nếu nhìn thật sâu thì chúng ta sẽ thấy điều này không đúng. Nếu ta nghiên cứu khoa học, như sinh học hay hóa học một cách sâu sắc thì chúng ta sẽ tiếp xúc được với bản chất không sinh, không diệt của thực tại.

Chuyển đến ngôi trường mới

Câu hỏi (của một bé gái): Con mới chuyển đến một ngôi trường mới và con cảm thấy rất khó làm quen với những người bạn mới. Vậy con phải làm sao để có thể kết bạn được?

Thầy: Con biết không, được chuyển đến một ngôi trường mới là một điều rất thú vị! Có nhiều điều mới lạ  sẽ đến với con. Con cần phải sẵn sàng để làm quen với những điều mới mẻ đó và con sẽ có thêm những người bạn mới. Nhưng con đừng nên lo lắng! Cứ để mọi thứ đến một cách tự nhiên. Những người bạn mới sẽ tìm đến với con khi nào con đã sẵn sàng. Chỉ cần con biết thực tập thiền sỏi để trở về với hơi thở vào và hơi thở ra, điều này sẽ giúp con buông thư và cảm thấy thoải mái. Nó cũng giống như khi con đi nghỉ hè ở trên núi, nơi đó có rất nhiều loài cây, loài hoa mà con chưa từng thấy bao giờ. Chắc chắn là con sẽ vui lắm khi khám phá ra những loài cây này. Con không thể nào biết trước được những gì mà con sẽ thấy khi lên núi, nhưng con biết là con sẽ được nhìn thấy những điều rất mới lạ, hấp dẫn, từ cỏ cây, cầm thú cho đến các loại đất đá. Chuyện chuyển đến một ngôi trường mới cũng giống hệt như vậy. Sẽ có nhiều điều thú vị xảy ra và làm cho con hạnh phúc. Cho nên con đừng lo lắng, chỉ cần con sẵn sàng thôi. Con có thể nói với chính mình rằng: “Mình sắp sửa có những người bạn mới. Và mình cứ để cho chuyện đó đến với mình một cách tự nhiên mà không cần phải chọn lựa gì cả.”

Người bạn mà con quen có trở thành người bạn tốt của con hay không, điều đó phụ thuộc vào chính con. Người bạn đó có thể là một người rất dễ thương và đối với một người như vậy thì cách con nhìn, cách con nói chuyện với bạn ấy có thể sẽ làm cho bạn ấy càng dễ thương hơn nữa. Còn nếu đó là một người bạn không dễ thương lắm thì con cũng có thể giúp bạn ấy trở nên dễ thương hơn bằng ánh mắt và nụ cười thương yêu của con. Vì vậy, có được một người bạn tốt hay không còn phụ thuộc vào chính con chứ không hẳn chỉ phụ thuộc vào người đó.

Thầy và đại chúng chúc con có nhiều may mắn và thành công. Có thể sang năm con sẽ về lại Làng và kể cho Thầy nghe về những gì xảy ra với con ở ngôi trường mới, con nhớ nhé. Cảm ơn con.

 

Tham vấn đường

Lời ngỏ của Thầy – Thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Mỗi khi đi thiền hành về, tôi thường có ý viết để nói chuyện với những người bạn trẻ. Ngày xưa tôi đã từng là người trẻ tuổi. Tôi đã có những thao thức, những khổ đau, những tìm kiếm. Tôi biết hôm nay, anh (hay chị cũng thế) cũng đang có những thao thức, những khổ đau, những tìm kiếm. Có rất nhiều đề tài để mình nói chuyện với nhau. Nhưng tôi muốn anh đề nghị đề tài. Đề tài lấy từ những thao thức, khổ đau và tìm kiếm của chính mình.”

Bạn đang có khó khăn với bố mẹ trong việc truyền thông? Bạn đang bị người yêu giận hờn? Bạn có những giây phút mệt mỏi, chán chường? Bạn chưa được một ai thực sự ngồi lắng nghe bạn? Bạn đi học, nhưng học không vào? Bạn đang đi tìm một phương pháp giúp cho tâm hồn an ổn lại?

Các bạn hãy viết điện thư về thamvan@langmai.org đi. Các thầy và các sư cô phụ trách mục Tham vấn đường của trang nhà Làng Mai sẽ góp lại và chuyện trò cùng bạn. Quý thầy, quý sư cô sẽ tùy theo ý kiến các bạn mà mở ra những cuộc đàm luận đối thoại. Những câu hỏi các bạn gửi đến sẽ được quý thầy và quý sư cô chăm sóc mục Tham vấn đường đọc qua. Sau đó thư sẽ được chuyển tới cho quý thầy, quý sư cô khác trong tăng thân trả lời cho bạn. Quý thầy và quý sư cô sẽ tâm sự với các bạn qua những dòng chia sẻ để bạn vơi bớt chút khổ đau và hiến tặng cho bạn những phương pháp thực tập cụ thể giúp bạn có thêm niềm vui trong đời sống hàng ngày.

Để giúp cho việc trả lời thư bạn được đầy đủ và chính xác, xin các bạn viết đầy đủ dấu tiếng việt khi gửi thư về, và nếu thuận tiện thì trong thư có thể chia sẻ thêm một số thông tin cá nhân như: giới tính, độ tuổi, việc làm, nơi sinh sống…

Trong phần trả lời thư, để giúp các bạn khác cũng tìm được câu trả lời cho mình, BBT sẽ đăng nội dung câu hỏi và trả lời lên mục Tham vấn đường, nếu điều này bất tiện cho các bạn, thì xin cho BBT biết.

Hội họa