Văn bản 5 Giới tân tu

Từ ngày 15.11.2008 đến nay (tháng Bảy, 2009), nghĩa là trong gần tám tháng, bốn chúng Đạo Tràng Mai Thôn đã thực tập thiền tọa, thiền hành và pháp đàm liên tục, nhất là trong các khóa An Cư Kiết Đông 2008 – 2009, khóa tu nói tiếng Pháp (ngày 10 đến 17 tháng Tư năm 2009) và Khóa tu 21 ngày (ngày 01 đến 21 tháng 06 năm 2009) về chủ đề Con Đường Của Bụt, những đóng góp của Đạo Bụt cho một nền Đạo Đức Toàn Cầu, và kết quả là hôm nay, chúng ta có được văn bản Năm Giới Tân Tu để làm phẩm vật cúng dường lên đức Bổn Sư. Năm Giới Tân Tu là cái thấy của đạo Bụt về một nền Tâm Linh và Đạo Đức Toàn Cầu, mà Phật tử chúng ta trong khi thực tập có thể chia sẻ với những truyền thống khác trên thế giới, và với tất cả mọi người, dù những người này có đức tin nơi một tôn giáo hay không có đức tin nơi bất cứ một tôn giáo nào.

Bốn chúng của đạo tràng Mai Thôn đã thực tập quán chiếu và làm việc hết lòng và văn bản của Giới Bản Tân Tu này sẽ được dâng lên cúng dường đức Bổn Sư vào ngày Khai mạc Khóa tu Mùa Hè 2009 tại Đạo Tràng Mai Thôn trước khi được sử dụng trao truyền cho những giới tử cầu xin Năm Giới. Hiện văn bản đã có bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp.

Năm Giới Tân Tu

Lời mở đầu:
Kính thưa Đại chúng! Bây giờ là lúc chúng ta có cơ hội tụng chung Năm giới với nhau. Năm giới tức là năm phép thực tập chánh niệm, biểu hiện được một cách cụ thể giáo lý Tứ đế và Bát chánh đạo, con đường của Bụt, con đường của hiểu biết và thương yêu đích thực có khả năng đưa tới trị liệu, chuyển hóa và hạnh phúc cho bản thân và cho thế giới. Năm giới mang theo tuệ giác Tương tức, tức là Chánh kiến, có khả năng tháo bỏ mọi cuồng tín, cố chấp, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng. Sống và thực tập theo Năm giới là chúng ta đã đi vào con đường mà các vị Bồ tát đang đi. Năm giới này đại diện cho cái thấy của đạo Bụt về một nền tâm linh và đạo đức toàn cầu. Biết rằng đang được đi trên con đường của Bụt, chúng ta không còn lý do gì để lo lắng cho hiện tại và sợ hãi cho tương lai.

Giới Thứ Nhất: Bảo Vệ Sự Sống

Ý thức được những khổ đau do sự giết hại gây ra, con nguyện thực tập nuôi dưỡng tuệ giác Tương tức và lòng Từ bi, để có thể bảo vệ sự sống của mọi người, mọi loài và môi trường sống. Con nguyện không giết hại, không để kẻ khác giết hại và không tán thành bất cứ một hành động giết hại nào trên thế giới, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con. Thấy được rằng tất cả những bạo động do sợ hãi, hận thù, tham vọng và cuồng tín gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị; con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị, không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trên thế giới.

Giới Thứ Hai: Hạnh Phúc Chân Thật

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập chia sẻ thời giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trên cả ba phương diện: tư duy, nói năng, và hành động trong đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy được hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con biết hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, trong khi đó đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con ý thức được hạnh phúc chân thực phát sinh từ cách nhìn của con mà không phải từ bên ngoài đem tới. Thực tập tri túc giúp con sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Con nguyện thực tập Chánh mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi người, mọi loài, bảo hộ được trái đất và chấm dứt những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu bất thường.

Giới Thứ Ba: Tình Thương Đích Thực

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con nguyện thực tập theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình và xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau. Những liên hệ tình dục do sự thèm khát gây nên luôn mang tới những hệ lụy và đổ vỡ cho con và cho người khác. Con nguyện không có liên hệ tình dục với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức và lâu dài. Con sẽ làm mọi cách để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và nguyện nuôi lớn các đức Từ, Bi, Hỉ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực, làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ vô lượng tâm, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong tương lai.

Giới Thứ Tư: Ái Ngữ và Lắng Nghe

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con nguyện học hạnh Ái ngữ và Lắng nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt nỗi khổ đau của người. Con nguyện tìm cách đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc và tôn giáo. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói gì khi cơn giận đang có mặt trong con. Con nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của cơn giận ấy, để nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang giận. Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe sâu để có thể giúp người kia thay đổi và vượt thoát những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh tinh tấn để nuôi dưỡng khả năng hiểu biết, thương yêu, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con, để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

Giới Thứ Năm: Nuôi Dưỡng và Trị Liệu

Ý thức được những khổ đau do sự tiêu thụ thiếu chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, nuôi dưỡng sức khỏe cơ thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực để tránh tiêu thụ những thực phẩm độc hại. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phầm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và chuyện trò. Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con mà không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ; không để lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong xã hội, và trong môi trường sống.

The Five Mindfulness Trainings

Sisters and brothers in the community, this is the moment when we enjoy reciting the Five Mindfulness Trainings together.  The Five Mindfulness Trainings represent the Buddhist vision for a global spirituality and ethic.  They are a concrete expression of the Buddha’s teachings on the Four Noble Truths and the Noble Eightfold Path, the path of right understanding and true love, leading to healing, transformation, and happiness for ourselves and for the world.  To practice the Five Mindfulness Trainings is to cultivate the insight of interbeing, or Right View, which can remove all discrimination, intolerance, anger, fear, and despair.  If we live according to the Five Mindfulness Trainings, we are already on the path of a bodhisattva.  Knowing we are on that path, we are not lost in confusion about our life in the present or in fears about the future.

Reverence For Life

Aware of the suffering caused by the destruction of life, I am committed to cultivating the insight of interbeing and compassion and learning ways to protect the lives of people, animals, plants, and minerals. I am determined not to kill, not to let others kill, and not to support any act of killing in the world, in my thinking, or in my way of life.  Seeing that harmful actions arise from anger, fear, greed, and intolerance, which in turn come from dualistic and discriminative thinking, I will cultivate openness, non-discrimination, and non-attachment to views in order to transform violence, fanaticism, and dogmatism in myself and in the world.

True Happiness

Aware of the suffering caused by exploitation, social injustice, stealing, and oppression, I am committed to practicing generosity in my thinking, speaking, and acting. I am determined not to steal and not to possess anything that should belong to others; and I will share my time, energy, and material resources with those who are in need.  I will practice looking deeply to see that the happiness and suffering of others are not separate from my own happiness and suffering; that true happiness is not possible without understanding and compassion; and that running after wealth, fame, power and sensual pleasures can bring much suffering and despair.  I am aware that happiness depends on my mental attitude and not on external conditions, and that I can live happily in the present moment simply by remembering that I already have more than enough conditions to be happy.  I am committed to practicing Right Livelihood so that I can help reduce the suffering of living beings, preserve our planet, and stop contributing to climate change

True Love

Aware of the suffering caused by sexual misconduct, I am committed to cultivating responsibility and learning ways to protect the safety and integrity of individuals, couples, families, and society. Knowing that sexual desire is not love, and that sexual activity motivated by craving always harms myself as well as others, I am determined not to engage in sexual relations without mutual consent, true love, and a deep, long-term commitment. I resolve to find spiritual support for the integrity of my relationship from family members, friends, and sangha with whom there is support and trust. I will do everything in my power to protect children from sexual abuse and to prevent couples and families from being broken by sexual misconduct. Seeing that body and mind are interrelated, I am committed to learn appropriate ways to take care of my sexual energy and to cultivate the four basic elements of true love – loving kindness, compassion, joy, and inclusiveness – for the greater happiness of myself and others. Recognizing the diversity of human experience, I am committed not to discriminate against any form of gender identity or sexual orientation. Practicing true love, we know that we will continue beautifully into the future.

Loving Speech and Deep Listening

Aware of the suffering caused by unmindful speech and the inability to listen to others, I am committed to cultivating loving speech and compassionate listening in order to relieve suffering and to promote reconciliation and peace in myself and among other people, ethnic and religious groups, and nations.  Knowing that words can create happiness or suffering, I am committed to speaking truthfully using words that inspire confidence, joy, and hope.  When anger is manifesting in me, I am determined not to speak.  I will practice mindful breathing and walking in order to recognize and to look deeply into my anger.  I know that the roots of anger can be found in my wrong perceptions and lack of understanding of the suffering in myself and in the other person.  I will speak and listen in a way that can help myself and the other person to transform suffering and see the way out of difficult situations.  I am determined not to spread news that I do not know to be certain and not to utter words that can cause division or discord.  I will practice Right Diligence to nourish my capacity for understanding, love, joy, and inclusiveness, and gradually transform anger, violence, and fear that lie deep in my consciousness.

Nourishment and Healing

Aware of the suffering caused by unmindful consumption, I am committed to cultivating good health, both physical and mental, for myself, my family, and my society by practicing mindful eating, drinking, and consuming. I will practice looking deeply into how I consume the Four Kinds of Nutriments, namely edible foods, sense impressions, volition, and consciousness.  I am determined not to gamble, or to use alcohol, drugs, or any other products which contain toxins, such as certain websites, electronic games, TV programs, films, magazines, books, and conversations.  I will practice coming back to the present moment to be in touch with the refreshing, healing and nourishing elements in me and around me, not letting regrets and sorrow drag me back into the past nor letting anxieties, fear, or craving pull me out of the present moment.  I am determined not to try to cover up loneliness, anxiety, or other suffering by losing myself in consumption.  I will contemplate interbeing and consume in a way that preserves peace, joy, and well-being in my body and consciousness, and in the collective body and consciousness of my family, my society and the Earth.

Les Cinq Entraînements à la Pleine Conscience

Introduction

Chers frères et sœurs de la communauté, nous avons maintenant l’opportunité de réciter ensemble les Cinq Entraînements à la Pleine Conscience. Les Cinq Entraînements à la Pleine Conscience expriment la vision bouddhique d’une spiritualité et éthique mondiale. Ils sont la pratique concrète des Quatre Nobles Vérités et du Chemin Octuple enseignés par le Bouddha. Ils nous montrent le chemin de la compréhension et de l’amour véritables, menant à la transformation, à la guérison et au bonheur de l’individu et du monde. Ils nous permettent d’approfondir notre vision de l’Inter-Être, c’est-à-dire la Vue Juste, pouvant dissoudre tout fanatisme, toute discrimination, toute peur et tout désespoir. Lorsque nous pratiquons les cinq entraînements dans notre vie quotidienne, nous sommes déjà sur le chemin des bodhisattvas. Conscients de la chance que nous avons d’être sur ce chemin, nous n’avons plus à nous faire de soucis pour le présent ni d’avoir peur du futur.

Premier entraînement : Protection de la vie

Conscient(e) de la souffrance provoquée par la destruction de la vie, je suis déterminé(e) à cultiver ma compréhension de l’Inter-Être et ma compassion, afin d’apprendre comment protéger la vie des personnes, des animaux, des plantes et des minéraux. Je m’engage à ne pas tuer, à ne pas laisser tuer et à ne soutenir aucun acte meurtrier dans le monde, dans mes pensées ou dans ma façon de vivre. Je comprends que toute violence causée notamment par le fanatisme, la haine, l’avidité, la peur, a son origine dans une vue dualiste et discriminante. Je m’entraînerai à tout regarder avec ouverture, sans discrimination ni attachement à aucune vue, ni à aucune idéologie, pour oeuvrer à transformer la violence et le dogmatisme qui demeurent en moi et dans le monde.

Second entraînement : Bonheur véritable

Conscient(e) de la souffrance provoquée par le vol, l’oppression, l’exploitation et l’injustice sociale, je suis déterminé(e) à pratiquer la générosité dans mes pensées, dans mes paroles et dans mes actions de la vie quotidienne. Je partagerai mon temps, mon énergie et mes ressources matérielles avec ceux qui en ont besoin. Je m’engage à ne rien m’approprier qui ne m’appartienne. Je m’entraînerai à regarder profondément afin de voir que le bonheur et la souffrance d’autrui sont étroitement liés à mon propre bonheur et à ma propre souffrance. Je comprends que le bonheur véritable est impossible sans compréhension et amour, et que la recherche du bonheur dans l’argent, la renommée, le pouvoir ou le plaisir sensuel génère beaucoup de souffrance et de désespoir.
J’approfondirai ma compréhension du bonheur véritable qui dépend plus de ma façon de penser que de conditions extérieures. Je peux vivre heureux(se) ici et maintenant lorsque je suis capable de m’établir dans le moment présent, en me contentant de peu, et en reconnaissant les nombreuses conditions de bonheur déjà disponibles en moi et autour de moi. Conscient de cela, je suis déterminé(e) à choisir des moyens d’existence justes afin de réduire la souffrance, de cesser de contribuer au changement climatique, et de guérir et protéger notre précieuse planète.

Troisième entraînement : Amour véritable

Conscient·e de la souffrance provoquée par une conduite sexuelle irresponsable, je suis déterminé·e à développer mon sens de la responsabilité et à apprendre à protéger l’intégrité et la sécurité de chaque individu, des couples, des familles et de la société. Je sais que le désir sexuel et l’amour sont deux choses distinctes, et que des relations sexuelles irresponsables, motivées par l’avidité, causent toujours de la souffrance de part et d’autre. Je m’engage à ne pas avoir de relation sexuelle sans amour véritable ni engagement profond et durable. Je suis déterminé.e à me tourner vers les membres de ma famille, mes ami·e·s et la sangha auprès desquels je trouve soutien et confiance pour nourrir l’intégrité de ma relation. Je ferai tout mon possible pour protéger les enfants des abus sexuels et pour empêcher les couples et les familles de se désunir par suite de comportements sexuels irresponsables. Sachant que le corps et l’esprit ne font qu’un, je m’engage à apprendre les moyens appropriés pour gérer mon énergie sexuelle et à cultiver les quatre fondements de l’amour véritable – la bonté aimante, la compassion, la joie et la non-discrimination – pour mon propre bonheur et le bonheur d’autrui. Conscient.e de la diversité de l’expérience humaine, je m’engage à ne faire preuve d’aucune discrimination envers les identités de genre et les orientations sexuelles. En pratiquant l’amour véritable, je m’assure une continuation heureuse dans l’avenir.

Quatrième entraînement : Parole aimante et écoute profonde

Conscient(e) de la souffrance provoquée par des paroles irréfléchies et par l’incapacité à écouter autrui, je suis déterminé(e) à apprendre à parler à tous avec amour et à développer une écoute profonde afin de soulager la souffrance et d’apporter réconciliation et paix entre moi-même et autrui, entre les groupes ethniques et religieux, et entre les nations. Sachant que la parole peut être source de bonheur comme de souffrance, je m’engage à apprendre à parler avec sincérité, en employant des mots qui inspirent à chacun la confiance en soi, qui nourrissent la joie et l’espoir, et qui oeuvrent à l’harmonie et à la compréhension mutuelle. Je suis déterminé(e) à ne rien dire lorsque je suis en colère. Je m’entraînerai à respirer et à marcher alors en pleine conscience, afin de reconnaître cette colère et de regarder profondément ses racines, tout particulièrement dans mes perceptions erronées et dans le manque de compréhension de ma propre souffrance et de celle de la personne contre laquelle je suis en colère. Je m’entraînerai à dire la vérité et à écouter profondément, de manière à réduire la souffrance, chez les autres et en moi-même, et à trouver des solutions aux situations difficiles. Je suis déterminé(e) à ne répandre aucune information dont je ne suis pas certain(e) et à ne rien dire qui puisse entraîner division, discorde, ou rupture au sein d’une famille ou d’une communauté. Je m’engage à pratiquer la diligence juste afin de cultiver ma compréhension, mon amour, mon bonheur et ma tolérance, et de transformer jour après jour les semences de violence, de haine et de peur qui demeurent en moi.

Cinquième entraînement : Transformation et guérison

Conscient(e) de la souffrance provoquée par une consommation irréfléchie, je suis déterminé(e) à apprendre à nourrir sainement et à transformer mon corps et mon esprit, en entretenant une bonne santé physique et mentale par ma pratique de la pleine conscience lorsque je mange, bois ou consomme. Afin de ne pas m’intoxiquer, je m’entraînerai à observer profondément ma consommation des quatre sortes de nourritures : les aliments comestibles, les impressions sensorielles, la volition et la conscience. Je m’engage à ne pas faire usage d’alcool, ni d’aucune forme de drogue et à ne consommer aucun produit contenant des toxines comme certains sites Internet, jeux, films, émissions de télévision, livres, magazines, ou encore certaines conversations. Je m’entraînerai régulièrement à revenir au moment présent pour rester en contact avec les éléments nourrissants et porteurs de guérison qui sont en moi et autour de moi, et à ne pas me laisser emporter par des regrets et des peines quant au passé, ou par des soucis et des peurs concernant le futur. Je suis déterminé(e) à ne pas utiliser la consommation comme un moyen de fuir la souffrance, la solitude et l’anxiété. Je m’entraînerai à regarder profondément dans la nature de l’interdépendance de toute chose, afin de consommer de manière à nourrir la joie et la paix, tant dans mon corps et ma conscience, que dans le corps et la conscience collective de la société et de la planète.

Thầy đã về

 

Huế năm nay ít mưa. Dù vậy, vẫn có những ngày bầu trời giăng đầy mây, không một chút nắng và những cơn mưa kéo dài từ sáng đến tối.

Từ hôm Thầy trở về Từ Hiếu vào ngày 28.10.2018, có ba hay bốn ngày trời mưa và gió se lạnh. Đó là những ngày Thầy không thể đi dạo quanh khuôn viên Tổ đình. Những ngày còn lại, hầu như ngày nào Thầy cũng dạo thăm nhiều không gian khác nhau trong chùa.

 

 

Hôm qua, ngày 12.11, là ngày giỗ Sư Tổ Tánh Thiên Nhất Định, khai sơn Tổ đình Từ Hiếu. Khi âm thanh tán tụng trầm hùng theo nghi lễ truyền thống Phật giáo Huế trên ngôi bảo điện còn đang vang vọng thì Thầy ra tham dự buổi giỗ Tổ. Thị giả chúng con đưa Thầy đi từ thất Lắng Nghe, dọc theo thiền đường Trăng Rằm và xuống tịnh thất nhỏ bên hông chánh điện, nơi Sư cố Thanh Quý Chân Thật ngày xưa từng ở. Thầy chăm chú nhìn từng góc nhỏ trong liêu với ánh mắt tinh tường và cảm động. Thầy đến bên cạnh chiếc giường cũ kỹ và đơn sơn mà Sư Cố thường nghỉ ngơi. Mỗi ánh mắt và mỗi cử chỉ nơi bàn tay Thầy khiến cho chúng con có cảm giác Thầy đang có mặt và tiếp xúc được với nguồn năng lượng tâm linh mà Sư Cố đã trao truyền. Mỗi cái gật đầu của Thầy giúp chúng con an trú trong dấu ấn Đã về đã tới.

Thầy chỉ cho chúng con tấm hình của Sư Cố được thờ giữa thiền thất. Bức chân dung này, mấy mươi năm trước, lúc Thầy còn là một xuất sĩ trẻ, Thầy đã cúng dường Sư Cố trong một lần từ Sài Gòn về lại chùa Tổ. Sư Cố rất thích. Ngày Sư Cố viên tịch, Thầy đang ở nước ngoài không về được. Sư thúc Chí Viên, đệ tử Sư Cố và là sư em của Thầy, trong những lúc chúng con ngồi hầu chuyện, vẫn thường kể cho chúng con nghe về tình thương Sư Cố dành cho Thầy:

“Trước đây, lúc Thầy rời chùa Từ Hiếu, Thầy thưa với Sư Cố rằng: “Con đi rồi con sẽ trở về“. Nhưng kể từ khi thầy Nhất Hạnh đi cho đến lúc được về lại Từ Hiếu, Sư Cố đã đi trước rồi. Năm 2005, khi thầy Nhất Hạnh về Việt Nam, tôi hy vọng Thầy sẽ về Tổ đình. Đến bây giờ, Thầy thật sự đã về rồi, đã thật sự trở về. Lúc thầy Nhất Hạnh đi xa, Sư Cố thường hỏi thị giả: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?” Có khi Sư Cố chống gậy đứng nhìn về khung cảnh trước mắt, và hỏi thị giả đang đứng hầu sau lưng mình: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?”  Sư Cố luôn luôn nhớ đến người học trò mà Sư Cố rất thương. Bây giờ Thầy trở về, đó là một hạnh phúc cho Tổ đình, cho con cháu trong Tổ đình. Đó là một hạnh phúc cho đất nước Việt Nam. Thầy đã thưa với Sư Cố khi ra đi: “Con đi rồi con sẽ trở về“. Đi vì trách nhiệm phụng sự Tam Bảo thì không hẹn ngày về được. Thầy về Việt Nam, Thầy về cội nguồn Tổ đình Từ Hiếu, nhưng hình bóng của Thầy vẫn còn khắp năm châu.

Trước đây, tôi không biết trả lời thế nào mỗi lần Sư Cố hỏi: “Thầy về chưa?” Bây giờ thì Thầy đã trở về. Hôm nay chúng ta lạy Tổ, chúng ta có thể thưa với liệt vị Tổ sư tiền bối rằng: “Thầy Nhất Hạnh đã về.”

Sư thúc Chí Thắng, đệ tử Sư Cố và là sư em của Thầy, trong lúc đứng chiêm ngưỡng bức chân dung đã thưa với Thầy rằng: “Đây là bức ảnh ngày xưa Thầy mang từ Sài Gòn ra cúng dường Sư Cố. Mấy năm trước bức chân dung có vài chỗ hư nên đã thỉnh xuống để chỉnh sửa lại những chỗ hư đó.” Nghe vậy, Thầy mỉm cười, gật đầu nhiều lần rất hoan hỷ.

 

Thầy niệm hương trước bàn thờ trong thất Sư Cố. Chúng con nhớ Thầy thường dạy bài kệ “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch” (Người lạy và  đối tượng được lễ lạy vốn vắng lặng, vốn không ngoài nhau.) Bên cạnh Thầy có sư thúc Chí Viên và sư thúc Chí Thắng, sư bà Lưu Phong, và nhiều vị Tôn túc khác. Nhìn Thầy, trong lòng chúng con như nghe lời dạy mà Thầy đã dạy không biết bao nhiêu lần: “Không có gì quý hơn tình huynh đệ”.

 

Sau đó, Thầy đã đến trước ba án thờ Tổ, niệm hương nơi mỗi án thờ. Thầy đến trước chánh điện, niệm hương trước bàn thờ Bụt. Thầy niệm hương nơi đây lâu nhất. Thầy nhìn đức Bụt, nhìn không gian ngôi chánh điện, nhìn bức chữ Hán “Từ Hiếu tự”. Đây là nơi Thầy đã có mặt với rất nhiều những thời khoá tụng kinh của chùa lúc còn là một chú điệu nhỏ. Chư tôn đức Tăng Ni và các vị cư sĩ có mặt rất đông và rất cảm động trước hình ảnh Thầy đã thật sự trở về. Nhiều vị đã bật khóc. Những kỷ niệm sâu sắc trong khoảng thời gian Thầy tu học tại Từ Hiếu hồi đó đã được Thầy ghi lại trong tác phẩm “Tình người”. Đó là khoảng thời gian Sư cố Thanh Quý còn đó với những lời dạy qua thân giáo của Sư Cố mà Thầy đã tiếp nhận được và mang theo trong suốt sự nghiệp xuất sĩ của mình.

Thầy ra khoảng sân trước chánh điện, để vài phút thưởng thức không gian trước mắt với nhiều cây xanh, có nắng ấm, có hồ bán nguyệt và cổng tam quan thấp thoáng sau rừng cây. Thầy còn ra dấu cho thị giả quay xe lăn lại để Thầy nhìn ngắm toàn bộ ngôi chánh điện từ bên ngoài trước khi Thầy trở về thất Lắng Nghe nghỉ ngơi. Chư  vị Tôn túc Tăng Ni và cư sĩ rất hạnh phúc được gặp, đảnh lễ và thăm Thầy trực tiếp như vậy. Chúng con rất biết ơn sự có mặt của đại chúng. Có những ngày mưa Thầy không ra ngoài được, đại chúng vẫn chờ đợi trong tình thương và niềm trân quý. Từng nhóm nhỏ ngồi bên nhau nơi khu vực cạnh tháp chuông, bên ngoài khu vực nội viện, trên những con đường trải sỏi nhỏ, bên tháp Tổ, hoặc bên hồ bán nguyệt, hoặc bên bờ hồ Sao Hôm…, mong rằng Thầy có thể đi dạo để đại chúng có dịp đảnh lễ hầu thăm và thực tập thiền hành cùng Thầy. Chúng con rất cảm động trước tấm lòng của đại chúng.

 

Trước và sau ngày giỗ Tổ, thời tiết rất đẹp, Thầy đã dạo quanh chùa Từ Hiếu nhiều lần trong những khoảng thời gian khác nhau. Thầy vào thăm liêu Sư Cố nhiều lần, lần nào cũng chăm chú cảm động. Nơi này, Thầy từng kể: “Vào giờ trưa, Sư Ông ưa có một bình trà như thế trên án thư. Người thường rót và ban cho sư chú một chén nhỏ, sau khi đã nhắp một lần vào chén của người. Chú kính cẩn đứng bên để hầu trà, và cũng được uống trà với Sư Ông. Đây là những giờ phút hạnh phúc lớn của cuộc đời một người đệ tử.” (Trích từ tác phẩm “Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời” – Sư Ông Làng Mai).

Thầy thăm căn phòng nơi ngày xưa Thầy đã ở, thăm cây khế già trăm tuổi, thăm hồ bán nguyệt, thăm tháp chuông, thăm cổng tam quan, hoặc ghé thăm ni xá Diệu Trạm, thăm Lạc nghĩa đường, thăm Lăng viện, thăm từng gốc cây, từng bảo tháp, chiếc giếng cổ hay gốc bùi già… bằng tất cả sự chú tâm và tinh tường. Nơi đâu cũng ghi dấu thâm sâu cho lần trở về này.

 

GHI CHÉP CỦA BAN THỊ GIẢ

 

Tình thương và giải thoát – Phần 2

(Ông Melvin McLeod, chủ bút báo Shambala Sun – nay đổi tên thành Lion’s Roar, phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh; bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Trong cuộc phỏng vấn vào năm 2010 này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về tình thương đích thực, những lợi ích của khổ đau và tuệ giác giúp cho chúng ta được giải thoát, tự do. Thiền sư nói rằng Người giảng dạy về Phật giáo nguyên thủy theo tinh thần đại thừa. Tôi thì cho rằng: cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được một ai có thể truyền đạt những giáo lý cốt tủy của Bụt một cách rõ ràng và sâu sắc như cách Thiền sư vẫn giảng dạy. (Melvin McLeod)

 

 

Melvin McLeod: Thiền sư là một bậc thầy trong truyền thống Thiền, với sự hiểu biết uyên thâm về các truyền thống Phật giáo khác, vậy mà suốt quá trình dạy cho thiền sinh trong năm ngày liên tiếp, Thầy chỉ nói phớt qua về khái niệm Thiền. Thay vào đó, Thầy chỉ dạy về những giáo lý căn bản của đạo Bụt như pháp môn chánh niệm, bốn sự thật mầu nhiệm (tứ diệu đế). Vì sao thầy lại chọn hướng đi này?   

Thiền sư: Khi nói về đạo Bụt, chúng ta biết rằng có đạo Bụt nguyên thỉ từ hồi Bụt còn tại thế và nhiều trường phái của đạo Bụt được phát sinh bởi những thế hệ sau. Nhưng cho dù là đạo Bụt nguyên thỉ, Thiền, Thiên Thai tông hay Kim Cương Thừa thì đó cũng là những điều Bụt dạy. Sự nghiệp của Bụt đã được tiếp nối bởi các vị đệ tử của Ngài – tuệ giác và giáo pháp của Ngài vẫn được trao truyền qua nhiều thế hệ dù Ngài đã nhập niết bàn từ lâu. Ta thấy được Bụt qua nhiều thế hệ các đại sư và đệ tử của họ.

Điều mà tôi đang làm là trình bày những phương pháp thực tập thuần tuý của Phật giáo nguyên thỉ trong tinh thần Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại Thừa có cái nhìn rất cởi mở, không gò bó và thật là tuyệt vời khi học hỏi Phật giáo nguyên thỉ bằng tinh thần khoáng đạt này. Khi ta sử dụng con mắt của Phật giáo Đại thừa để tìm hiểu, nhìn sâu vào Phật giáo nguyên thỉ, ta có thể khám phá ra biết bao nhiêu điều kỳ diệu và sâu sắc. Ta nhận ra rằng những lời dạy sâu sắc nhất của Phật giáo đại thừa có thể tìm thấy trong các kinh điển nguyên thỉ. Những tư tưởng phóng khoáng của đại thừa đã có rành mạch trong các kinh nguyên thỉ.

Những hạt giống của Phật giáo đại thừa đã có đầy đủ từ trong Phật giáo nguyên thỉ. Thành ra khi ta dùng từ Phật giáo nguyên thỉ điều đó không có nghĩa là ta loại ra ngoài những bộ phái khác, những truyền thống mới khai triển sau này. Tôi chỉ muốn đem tất cả các truyền thống về với gốc rễ nguyên thỉ của mình. Như vậy, Phật giáo nguyên thỉ được xem như mẫu số chung của tất cả các truyền thống Phật giáo. Do đó điều mà tôi muốn cống hiến là truyền đạt những điều Bụt dạy khi Ngài còn tại thế trong tinh thần Đại thừa.

Những giáo lý Bụt dạy khi Ngài còn tại thế rất đơn giản, nhưng cũng rất thâm sâu. Nhiều học giả đã làm cho đạo Bụt trở nên rắc rối, biến đạo Bụt thành một loại siêu hình học hay một loại triết học. Một số sinh viên Phật học đã bỏ quá nhiều thì giờ cho những hệ thống tư duy này và không có thì giờ tu tập. Cũng như thiền sư Lâm Tế (Trung quốc gọi là Linji, Nhật gọi là Rinzai), Ngài học rất nhiều về Phật pháp nhưng sau đó cảm thấy không đủ. Vì thế Ngài bỏ hết những học thuyết và bắt đầu thực  hành.

Melvin McLeod: Phật giáo ở phương Tây còn đang trong giai đoạn sơ khai, Thiền sư có cho rằng Phật giáo nguyên thỉ có thể sẽ hợp với người Tây Phương hơn là những giáo lý được khai triển sau này không?

Thiền sư: Không phải một giáo lý riêng biệt nào mới thích hợp với thời đại chúng ta mà quan trọng là cách ta hiểu giáo lý như thế nào – điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận giáo lý của chúng ta. Nếu ta là một học giả và chỉ sử dụng trí năng mà thôi thì ta có thể giải thích giáo lý theo cách này, trong khi nếu ta là một hành giả thực tập thật sự thì có thể ta sẽ khám phá được chiều sâu của giáo lý và tiếp xúc được với tuệ giác phát sinh từ sự thực tập của ta. Và nhờ thế, ta có thể trình bày giáo lý kia một cách hoàn toàn khác hẳn với người chỉ dùng trí năng. Thành ra vấn đề không phải giáo lý này hay hơn, hay giáo lý kia thích hợp hơn, vấn đề là cách ta thực tập, trải nghiệm và áp dụng giáo lý vào sự tu tập của mình có phù hợp hay không.

Tuy vậy, phải nói rằng thật kỳ diệu là bài pháp thoại đầu tiên do Bụt thuyết vẫn còn thích hợp với thời đại chúng ta. Sau 2500 năm, bài thuyết pháp đầu tiên vẫn có giá trị vững chãi. Trong bài thuyết pháp đầu tiên ấy, ta có thể tìm được đầy đủ những điều Bụt dạy mà ta có thể thực tập suốt đời. Điều đó thật đáng kinh ngạc.

Melvin McLeod: Trong những lời dạy của mình, Thiền sư nhấn mạnh đến yếu tố tăng thân – một nhóm người cùng tu tập chung. Thiền sư dạy về điều này nhiều hơn các vị thầy khác. Tại sao yếu tố tăng thân lại quan trọng như thế đối với Thiền sư ?

Thiền sư: Xây dựng tình huynh đệ là nền tảng thiết yếu của một tăng thân. Nếu tăng thân hạnh phúc thì đó sẽ là nơi nương tựa cho nhiều người. Chúng tôi bắt đầu xây dựng tăng thân từ nhiều thập niên trước và giờ đây tăng thân chúng tôi đang trở nên lớn mạnh và vững chãi. Trong những khóa tu, chúng ta có thể cảm nhận được rất rõ năng lượng vững chãi của tăng thân, đặc biệt là với sự tham dự của nhiều người đã từng tu tập lâu năm. Trong kinh có nhắc đến câu chuyện về vua Ba Tư Nặc (Presenajit) của nước Kosala. Ngài gặp Đức Thế Tôn lần cuối, khi ấy cả hai đều đã 80 tuổi, nhà vua nói:  “Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi đức Thế Tôn”. Tôi thấy thật ý nghĩa khi mọi người có thể thấy được Bụt qua tăng thân của Người. Tăng thân là công trình, là tác phẩm lớn nhất của Bụt. Bụt là một nghệ sĩ và tăng thân là công trình nghệ thuật của người nghệ sĩ kia.Thành ra, Bụt vẫn đang sống cho đến ngày hôm nay trong tăng thân. Khi mà bạn thấy các thầy, các sư cô cùng các bạn cư sĩ tu tập nghiêm túc, thảnh thơi và an lạc là các bạn có thể thấy được sự hiện diện của Bụt.

Melvin McLeod: Thầy đã cho một bài pháp thoại tại New York với đề tài: Xây dựng một xã hội lành mạnh và từ bi. Thế nào là con đường đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi? Năm phép tu tập chánh niệm mà Thầy đã làm mới lại trên nền tảng Năm giới của đạo Bụt truyền thống để thích hợp với tình trạng của xã hội hiện đại, đó có phải là cẩm nang để đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi không?

Thiền sư: Tuệ giác tương tức có khả năng giúp đẩy lùi sự kỳ thị, sợ hãi và cách tư duy lưỡng nguyên. Chúng ta tương tức với nhau, ngay cả hạnh phúc và khổ đau cũng tương tức với nhau, vì vậy tuệ giác tương tức phải được xem là nền tảng cho bất cứ hành động nào. Tuệ giác ấy có thể đem tới hòa bình, tình huynh đệ cũng như giúp chuyển hóa bạo động và tuyệt vọng. Tuệ giác này có mặt trong tất cả các truyền thống tâm linh. Ta chỉ cần trở về với chính truyền thống tâm linh của ta và gắng làm sống lại những hạt giống tuệ giác ấy.

Năm phép tu tập chánh niệm (hay còn gọi là Năm Giới) là biểu hiện cụ thể của sự thực tập từ bi. Trong truyền thống Phật giáo, chúng tôi luôn học hỏi cách thức để áp dụng Năm Giới một cách hữu hiệu trong đời sống hằng ngày. Năm Giới quý báu ấy là để thực tập, chứ không phải để suy luận và nghiên cứu. Ghi tên để xin thọ nhận Năm phép tu tập chánh niệm ấy không phải là ký tên ủng hộ một kiến nghị mà là làm cho nó trở thành sự sống của chính mình, nó là con đuờng tu tập của mình. Bạn sẽ rất hạnh phúc vì biết rằng mình đã có đường đi – con đường của hiểu biết và thương yêu. Và khi đã có đường đi rồi thì bạn không còn lý do gì để lo sợ về tương lai của mình nữa cả.

Bạn có thể chia sẻ con đường lý tưởng của mình, chia sẻ cách mình tu tập để nuôi dưỡng, phát triển hiểu biết và tình thương với các bạn thuộc truyền thống khác. Họ không cần trở thành Phật tử để có thể thực tập theo Năm giới, họ chỉ cần trở về truyền thống tâm linh của họ, sống cho sâu sắc và tìm cho ra những phương thức tương đương với năm phép tu chánh niệm của Phật tử nơi chính truyền thống tâm linh của mình.

Mục đích của chúng tôi không phải là để thay đổi niềm tin của các bạn từ truyền thống khác và biến họ thành Phật tử, mà chỉ là chia sẻ con đường của hiểu biết và thương yêu. Các bạn vẫn tiếp tục là tín hữu Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo, mà vẫn có thể thực tập như chúng tôi đang làm. Chúng tôi dùng ngôn từ Phật giáo, còn các bạn thì có thể dùng ngôn từ Thiên chúa giáo, Hồi giáo, v.v. mà tu tập và chúng ta sẽ cùng đi đến một kết quả như nhau. Thế nên ta mới có thể gọi là một đường hướng tâm linh toàn cầu hay là một nền đạo đức toàn cầu.

Melvin McLeod: Sẽ rất tuyệt vời nếu tất cả các vị lãnh đạo tâm linh từ nhiều truyền thống khác nhau có thể đến cùng nhau và bàn bạc làm thế nào để có một nền đạo đức toàn cầu để mọi người đều có thể cùng nhau tu tập.

Thiền Sư Làng Mai: Có thể họ không cần đến với nhau tại một chỗ. Họ chỉ cần ngồi yên nơi chốn của họ và tu tập, làm khơi dậy cái hiểu cho thâm sâu và mở rộng tình thương đến với mọi người, mọi loài. Đó là cách gặp nhau sâu sắc nhất.

Melvin McLeod: Cám ơn Thiền sư vô cùng. Thiền sư thật là từ bi, đã dành cho chúng tôi từng ấy thì giờ. Đây là một vinh dự lớn cho tôi và tôi cũng biết đọc giả chúng tôi sẽ vô cùng lợi lạc.

 

Bài liên quan: Tình thương và giải thoát – Phần 1

Tình thương và giải thoát – Phần 1

(Ông Melvin McLeod, chủ bút báo Shambala Sun – nay đổi tên thành Lion’s Roar, phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh; bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Trong cuộc phỏng vấn vào năm 2010 này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về tình thương đích thực, những lợi ích của khổ đau và tuệ giác giúp cho chúng ta được giải thoát, tự do. Thiền sư nói rằng Người giảng dạy về Phật giáo nguyên thủy theo tinh thần đại thừa. Tôi thì cho rằng: cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được một ai có thể truyền đạt những giáo lý cốt tủy của Bụt một cách rõ ràng và sâu sắc như cách Thiền sư vẫn giảng dạy. (Melvin McLeod)

 

 

Melvin McLeod: Kính thưa Thiền sư, vì sao chánh niệm là chìa khóa của hạnh phúc? 

Thiền sư: Chánh niệm đưa đến định. Định đưa đến cái thấy thâm sâu là tuệ giác. Tuệ giác giúp ta thoát khỏi cái thấy mê mờ của mình, thoát khỏi cái giận và tham đắm. Khi mà ta thoát khỏi được phiền não thì hạnh phúc có thể có mặt. Làm sao ta có thể hạnh phúc được khi ta đã đầy ắp nào là giận hờn, nào là si mê và tham lam? Thế nên cái thấy sâu sắc – tuệ giác – có công năng cởi trói cho ta khỏi những ràng buộc khổ lụy ấy chính là chìa khóa của hạnh phúc. Thường thì có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt, nhưng ta thường ít để ý nhận diện nó, bởi vì chúng ta không đủ chánh niệm.

Khi thân và tâm nhất như thì ta thật sự có mặt, ta thật sự đang sống. Ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Thành ra, ta không chỉ thực tập với tâm, mà còn thực tập với thân của mình nữa. Thân và tâm phải hợp nhất, không phải là hai thực thể tách rời. Trên căn bản ấy, ta sẽ thấy những gì ta đang tìm cầu đã có mặt từ lâu rồi, cho dù đó là giác ngộ, niết bàn, giải thoát, Phật, Pháp, Tăng hay là hạnh phúc, tất thảy đều đang có mặt. Thực ra, địa điểm duy nhất và thời điểm duy nhất mà ta có thể tìm được những cái trên là bây giờ và ở đây.

Có thể trên bề mặt trí năng, ai cũng đều biết rằng ta phải sống trong phút giây hiện tại, nhưng thói quen để cho tâm bị trôi lăn, phân tán đã hiện diện trong ta lâu lắm rồi. Nó cứ đẩy ta đi vòng vòng cho nên ta đánh mất khả năng có mặt để sống sâu sắc trong phút giây hiện tại. Vì thế sự thực tập rất quan trọng. Nếu chỉ hiểu và nói về nó thôi thì chưa đủ. Ta phải thực tập đủ lâu để có thể thực sự dừng lại thói quen rong ruổi và thiết lập thân tâm trong phút giây hiện tại. Đó là sự thực tập rất cơ bản: dừng lại. Dừng lại, nhìn sâu và tìm ra hạnh phúc, tự do. Đó là con đường của Bụt.

Melvin McLeod: Thiền sư thường nhấn mạnh đến niềm vui trong sự thực tập – niềm vui khi đặt những bước chân trên mặt đất, niềm vui khi thở vào một hơi thở chánh niệm. Có thể vì cái quá khứ học Phật quá cứng ngắc và nghiêm khắc của chúng tôi mà chúng tôi thấy dễ chấp nhận hơn khi nghe rằng mình tu theo Bụt thì tu làm sao cho cứng cỏi, không để bị kéo đi bởi niềm vui. Chúng tôi gần như cảm thấy tôn giáo mà gắn liền với niềm vui và ăn mừng sự sống thì hình như có gì không đúng lắm.

Thiền sư: Tôi nghĩ rằng phần đông khi lắng nghe Bụt dạy về bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ Diệu Đế), nhất là sự thật đầu tiên, họ nghe những chữ như khổ đau, như phiền não và vì thế nên họ nghĩ rằng đạo Bụt là đạo chỉ nói đến khổ đau thôi. Nhưng họ không nhớ rằng sự thật thứ ba là để nói về hạnh phúc, cái ngược lại của sự thật thứ nhất là phiền não, khổ đau. Bốn sự thật mầu nhiệm mà Bụt dạy là: 1. Có khổ đau, có phiền não; 2. Nhận diện con đường đưa ta đến chỗ khổ đau; 3. Có thể làm khổ đau vắng mặt, nghĩa là có hạnh phúc; và 4. Có con đường dẫn tới hạnh phúc. Có lẽ chúng ta nên trình bày đạo Bụt bắt đầu bằng hai sự thật thứ 3 và thứ 4 trước: 1. Sự có mặt của hạnh phúc; 2. Có con đường đưa tới hạnh phúc; 3. Sự có mặt của khổ đau; 4. Có con đường đưa tới khổ đau.

Melvin McLeod: Khi có chánh niệm, ta khám phá ra ta có nhiều niềm vui nhưng đồng thời cũng khám phá ra nhiều niềm đau và thương tích trong ta, đó là những kinh nghiệm khó xử khi thực tập chánh niệm. Vậy khi khổ đau trỗi dậy, chúng ta cần  thực tập như thế nào thưa Thiền sư?

Thiền sư: Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau. Chúng ta có thể nhận diện được hạnh phúc dễ dàng hơn nhờ vào nền tảng khổ đau trong quá khứ. Ví dụ như ta thấy rõ hơn những chữ trắng nếu nó nằm trên nền đen. Nếu ta đã từng đói ta mới thấm thía được niềm hạnh phúc khi có ăn. Nếu ta đã từng khổ đau vì chiến tranh ta mới cảm nhận được giá trị lớn lao của hòa bình. Nếu không, ta sẽ không trân quý hòa bình, ta chỉ muốn đánh giặc thôi. Thành ra, kinh nghiệm của ta về khổ đau trong chiến tranh sẽ giúp ta tìm nhiều cách để gìn giữ hòa bình. Vì thế nếu có một chút khổ đau cũng là điều hữu ích, nhờ vào nền tảng khổ đau ấy mà ta nhận diện được hạnh phúc.

Phần đông chúng ta ai cũng có khuynh hướng thâm sâu là tìm kiếm khoái lạc và trốn tránh khổ đau. Điều này có gốc rễ sâu xa từ một phần trong tàng thức của ta, gọi là mạt-na thức (tiếng Phạn là manas). Mạt-na chỉ muốn tìm kiếm sự hưởng thụ và lẩn tránh khổ đau. Vì bị vô minh che lấp nên mạt-na không thấy được những hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc ấy. Như con cá đã được báo trước là hãy coi chừng những miếng mồi ngon vì bên trong có thể có lưỡi câu móc họng, nhưng nó vẫn không cưỡng được sự cuốn hút của miếng mồi. Mạt-na không nhận thấy được hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc, và cũng không nhận thấy rằng khổ đau cũng có ý nghĩa của nó. Khổ đau một chút cũng tốt, bởi vì khổ đau giúp cho ta chế tác hiểu biết và thương yêu.

Bởi vì mạt-na không thấy được những hiểm nguy của dục lạc, cũng như không biết đến cái lợi lạc của bài học khổ đau nên chúng ta phải chuyển tải vào tàng thức cái thấy (hay tuệ giác) mà ta có được trong khi thiền tập. Bởi vì suy tư trên bề mặt ý thức thôi thì chưa đủ để đem lại một sự chuyển hóa tận gốc. Cái mà ý thức có thể làm là quán chiếu để đạt tới cái thấy sâu sắc và chuyển tải cái thấy đó xuống tàng thức.

Cái thấy đầu tiên cần được nhấn mạnh là thấy rằng sự tìm kiếm dục lạc rất nguy hiểm và trốn tránh khổ đau không phải là điều hay, bởi vì khổ đau cũng có cái lợi lạc của nó. Nếu ta chánh niệm, nếu ta đủ can đảm để trở về với chính ta và ôm ấp nỗi khổ trong lòng thì ta sẽ học được nhiều lắm và ta có thể chuyển hóa khổ đau. Nếu ta luôn tìm cách trốn chạy khổ đau thì ta sẽ không có cơ hội chuyển hóa. Bởi vậy cho nên Bụt dạy ta, trước hết là chấp nhận sự thật thứ nhất, sự thật là mình đang có khổ đau. Sau đó là nhìn sâu vào khổ đau để có thể tìm ra sự thật thứ hai là nguyên nhân đưa ta đến cái khổ đó. Đó là cách duy nhất để cho sự thật thứ tư, con đường hành trì để chuyển hóa khổ đau, đưa tới hạnh phúc có thể hiển lộ được. Vì thế ta nên nhấn mạnh đến vai trò của khổ đau. Nếu ta quá sợ khổ đau thì chúng ta không có cơ hội có được những khám phá ấy.

Melvin McLeod: Tôi nghĩ là ai ai trong chúng ta cũng từng có thương một người trong cuộc đời và ta sẽ sẵn sàng gánh chịu hết những khổ đau của người kia cũng như sẵn sàng trao tặng cho người đó những hạnh phúc ta có. Trải rộng tình thương đó ra cho nhiều người, và cuối cùng là cho tất cả mọi người, là điều hay  nhất mà ta có thể làm để giúp cho thế giới tốt đẹp hơn. Vậy theo Thiền sư, làm sao để tình thương trong ta có thể lớn lên và trải rộng ra cho tất cả mọi người?

Thiền sư: Ngay giây phút lọt lòng mẹ, ta đã trải nghiệm sự sợ hãi – nỗi sợ nguyên thủy. Cái sợ đầu tiên đó thật lớn, thật sâu bởi vì ta có thể chết trong giây phút trọng đại, nguy ngập ấy. Ta vừa rời khỏi cung điện ấm áp (tử cung) của mẹ và sợi dây rốn gắn kết ta với mẹ không còn nữa. Giờ đây ta phải tự thở lấy. Phổi của ta khi ở trong bụng mẹ thì có nước, nhưng trong giây phút trọng đại này, ta phải đẩy chất nước ấy ra khỏi phổi để tự hít vào hơi thở đầu tiên, nếu làm không được thì ta sẽ chết.

Thành ra, đó là lần đầu tiên ta kinh nghiệm về nỗi sợ hãi và ước muốn được sống còn cũng phát sinh từ giây phút ấy. Là một em bé sơ sinh, ta thấy ta thật bất lực. Ta sẽ không sống sót nổi nếu không được ai chăm sóc. Khi nghe bước chân của ai đó đến gần và nhận ra đó là người chăm sóc cho ta thì ta hạnh phúc. Cả ngày ta chỉ chờ đợi tiếng chân đến gần bởi vì ta biết sau khi tiếng chân ấy là có sữa, có sự ấm áp, có mọi thứ… Đó là cái sợ ban đầu và cái thèm khát ban đầu được phát sinh.

Rồi khi ta lớn lên, cái thèm khát có một người yêu cũng là sự tiếp nối từ cái thèm khát ban đầu đó. Ta thấy cần có một người để chăm sóc ta, nếu phải sống một mình thì thiếu thiếu cái gì đó và ta thấy hơi bất lực, mong manh. Ta không tự thấy yên tâm nếu chỉ sống một mình. Vì vậy cứ tìm cách có một người yêu cùng sống bên nhau, đó cũng chứng tỏ là cái thèm khát ban đầu (khi mới sơ sinh) vẫn còn đó, rằng ta không cảm thấy an tâm nếu không có ai bên cạnh.

Thế nên người yêu, người bạn hôn phối cũng là một sự tiếp nối cái thèm khát ban đầu, cái nhu yếu có mẹ, có cha kề bên. Ta thấy có sự an ổn ngay khi có mẹ, có cha kề bên. Thật ra không phải sự có mặt thật sự của cha, của mẹ mới làm cho ta an tâm. Chính cái ý niệm là “mẹ đang ở đây mà” hay là “cha đang ở đây mà” đã khiến cho ta có cảm giác an ổn rồi. Nhưng sau một thời gian thì ta thấy người ở kề bên ta làm phiền ta quá và ta muốn ly dị. Thế nên thật ra không phải vì sự hiện diện của anh chàng hay cô nàng ấy cho ta có cảm tưởng thoải mái mà chính là cái ý niệm trong đầu và cái thèm khát ban đầu khi còn bé thơ đã sai khiến ta.

Trong đạo Bụt, tình thương lúc nào cũng cần bắt đầu với chính mình, trước khi thương yêu một ai khác trong cuộc đời. Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy là ta cần trở về với chính ta và nhận diện được nỗi khổ, niềm đau trong tâm ta. Sự hiểu biết sâu sắc nỗi khổ của tự thân khiến ta nhẹ ra và biết thương mình nhiều hơn, bởi vì ta cảm thấy có sự mãn ý, sự toàn vẹn trong chính con người mình. Và vì thế ta không cần phải có một người nào khác để bắt đầu thương yêu. Ta nên bắt đầu với chính ta.

Tình thương chân thật không phải chỉ dành cho một người. Khi tình thương có mặt, ta tỏa rạng như một ngọn đèn. Ánh sáng mà đèn tỏa chiếu ra không phải chỉ dành cho một người mà là dành cho tất cả mọi người có mặt trong không gian đó. Cũng thế, nếu trong ta thật sự có tình thương thì mọi người quanh ta đều được thừa hưởng  – chẳng những con người mà ngay cả cầm thú, cỏ cây và đất đá cũng được thừa hưởng. Tình thương chân thật là như vậy. Trong tình thương chân thật có yếu tố xả, tức là bao trùm tất cả, không phân biệt một ai.

Melvin McLeod: Như vậy muốn trải tình thương ra thật rộng, thật xa thì trước tiên ta nên tập thương chính mình, làm cho mình trở thành một con người toàn vẹn, viên mãn?

Thiền sư:Đúng vậy!

Melvin McLeod: Trong một buổi thiền tập, Sư cô Chân Không hướng dẫn chúng tôi nhìn sâu để tiếp xúc với những điều kiện và yếu tố khác nhau đã làm nên con người chúng ta và những yếu tố đó vẫn đang ở có mặt trong ta như: cha mẹ, tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và nhiều yếu tố văn hóa, xã hội v.v. Sự thực tập này mang lại những lợi ích gì?

Thiền sư: Cái ngã được làm bởi những yếu tố không phải là ngã, đó là tuệ giác vô ngã, tuệ giác ấy có công năng giải phóng cho ta. Chúng ta được làm bởi những yếu tố không phải là ta. Khi nhìn sâu, ta sẽ thấy trong ta có tổ tiên, cha mẹ, văn hóa, xã hội… nói chung là có tất cả.

Có nhiều giảng sư Phật giáo giảng dạy giáo lý tương tức bằng những danh từ rất trừu tượng. Tôi nghĩ rằng giáo lý Bụt dạy có thể được diễn bày một cách rất đơn giản, dễ hiểu và ngay cả trẻ em cũng có thể hiểu được. Sáng nay chúng ta đã được hướng dẫn một buổi thiền tập quán chiếu về sự có mặt của gia đình huyết thống trong ta: “Thở vào tôi thấy cha tôi là một em bé năm tuổi, rất mong manh và dễ bị thương tích; Thở ra, tôi cười với em bé là cha tôi với nụ cười hiểu biết và xót thương”. Cách quán chiếu như vậy có thể giúp ta tiếp xúc được với tự tánh vô ngã. Khi biết ta được làm bởi các yếu tố không phải là ta, ta có thể thấy cha ta vẫn đang có đó trong ta. Cha ta đang thực sự sống trong từng tế bào của thân thể ta và những đau khổ của cha cũng vẫn còn đó trong ta.

Thực tập như vậy sẽ đưa tới tuệ giác tương tức và vô ngã. Nếu ta đang giận cha thì tuệ giác này có thể giải phóng cho ta khỏi những giận hờn, oán trách đó.

Melvin McLeod: Tại sao ta quán chiếu những yếu tố vô ngã trong ta không những bằng tuệ giác mà còn bằng tình thương?

Thiền sư: Tuệ giác và tình thương là một. Tuệ giác đưa tới tình thương và tình thương không thể nào có được nếu không có hiểu, không có tuệ giác. Nếu ta không hiểu thì không thể nào ta thương được. Tuệ giác là cái hiểu trực tiếp, không phải chỉ là những khái niệm, những tư duy trừu tượng. Trong thiền quán ta phải để cho  ánh sáng của tuệ giác soi sáng cho ta.

Đôi khi việc sử dụng một hình ảnh có thể giúp cho ta có thể hiểu một cách sâu sắc hơn. Ví dụ tôi hay dùng hình ảnh hạt bắp và cây bắp để giải thích cho các em nhỏ về tính tương tức. Tôi nói với các em rằng thật khó để giúp cho một cây bắp hiểu rằng nó từng là một hạt bắp. Thế nhưng đó là sự thật, và nếu ta thực sự nhìn theo cách đó, ta sẽ thấy được sự tương tức giữa hạt bắp và cây bắp. Bởi vì nếu không có hạt bắp thì làm sao có được cây bắp? Cũng tương tự như vậy đối với cha mẹ và con cái. Nếu ta chạm được sự thật đó qua thiền quán thì những giận hờn, trách móc sẽ tan biến và tình thương có thể phát sinh.