Phát biểu của đại diện phái đoàn Hoa Kỳ tại Việt Nam

Trong Lễ tưởng niệm Thiền sư Thích Nhất Hạnh

(Thành phố Huế, ngày 29 tháng 1 năm 2022)

 

 

Xin cảm ơn quý vị đã mời tôi đến đây và cho tôi niềm vinh dự cũng như đặc ân được chia sẻ đôi điều trong lễ tâm tang của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Thay mặt cho Phái đoàn Hoa Kỳ tại Việt Nam và người dân Hoa Kỳ, tôi xin được gửi lời chia buồn chân thành tới tăng thân Làng Mai và chùa Từ Hiếu, cũng như tất cả các đệ tử và tín đồ của Thiền sư trước sự ra đi của Người. Quả thực đây là một sự kiện đau buồn, nhưng đây cũng là một cơ hội cho tôi được vinh hạnh thay mặt chính phủ và người dân Hoa Kỳ bày tỏ lòng thành kính đối với Thiền sư.

Sự ra đi của Thiền sư sẽ khiến cho nhiều người trên khắp thế giới đau buồn thương tiếc, đặc biệt là ở Hoa Kỳ nơi suốt cuộc đời mình, Thiền sư đã ảnh hưởng sâu sắc và tác động đến cuộc sống của nhiều người thông qua những lời dạy của mình, cũng như nuôi dưỡng các mối liên hệ gắn kết với các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo trong hơn sáu mươi năm qua. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gặp gỡ rất nhiều quan chức của chính phủ Hoa Kỳ trong cuộc đời mình, bao gồm cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, nay là Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương Daniel Kritenbrink, Thượng nghị sĩ Patrick Leahy, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, và nhiều quan chức khác. Trong tất cả những cuộc gặp gỡ này, Thiền sư luôn là người ủng hộ can trường cho hòa bình và hoạt động bác ái. Thầy đã để lại một di sản mạnh mẽ và đáng kính về đấu tranh bất bao động và tôn giáo dấn thân ở Hoa Kỳ, bao gồm ba tu viện theo pháp môn Làng Mai ở New York, California, và Mississippi Hoa Kỳ. Thông điệp hòa bình của Thiền sư cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc chữa lành cho hàng nghìn cựu chiến binh đã từng tham gia cuộc chiến tranh khốc liệt giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, những người phải chịu đựng chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) và căng thẳng tinh thần. Thông điệp đó còn góp phần mang lại sự hòa giải giữa hai dân tộc, mà năm vừa qua đã đánh dấu 25 năm kỷ niệm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Cuối cùng, Thầy là một trong những người đầu tiên đem pháp môn chánh niệm tặng cho người dân Hoa Kỳ. Giờ đây, sự thực tập chánh niệm đã trở nên phổ cập trong các lĩnh vực y tế, tâm lý học, giáo dục, và trong cuộc sống hàng ngày của hàng nghìn người dân trên đất nước chúng tôi.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ được nhớ đến nhiều nhất với sự đấu tranh không mệt mỏi cho tự do tôn giáo, nhân quyền, bất bạo động và thông điệp về chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày. Mặc dù tầm ảnh hưởng của Người không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tôn giáo, Thiền sư đã để lại một di sản với tư cách một trong những nhà lãnh đạo tôn giáo có ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại. Thiền sư có lẽ sẽ được nhớ đến nhiều nhất như là ánh sáng soi đường trong các cuộc đối thoại liên tín ngưỡng, liên tôn giáo. Trong cuốn sách “Bụt trong ta, Chúa trong ta”, Thiền sư đã viết rằng “Khi sống sâu sắc và thực tập nhìn sâu, những người theo đạo Ki-tô giáo và những người theo Phật giáo sẽ không cho rằng những người theo các tôn giáo khác đang đi lầm đường. Trải nghiệm tôn giáo là một trải nghiệm nhân bản. Trải nghiệm này liên quan đến ý thức của con người, cả trên phương diện cá nhân hay tập thể”.  Thông qua những cuộc đối thoại và các mối quan hệ rộng mở của Thiền sư, mọi người từ tất cả các tôn giáo đã học hỏi rất nhiều từ nhau.

Lòng từ bi của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đối với sự hòa hợp tôn giáo có thể thấy rõ nhất trong mối kết giao của Thiền sư với Mục sư Martin Luther King. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên vào năm 1996, Thiền sư đã nhận thấy tính Bụt nơi con người của vị mục sư Tin Lành này. Người đã nói với Martin Luther King rằng ông là một vị Bồ Tát. Khi đề cử Thiền sư Thích Nhất Hạnh cho giải Nobel Hoà bình, Mục sư Martin Luther King đã đáp lại vinh dự đó, và gọi Thiền sư là “một tông đồ của hòa bình và bất bạo động”. Khi nhìn lại tổng thể cuộc đời và tầm ảnh hưởng của Thiền sư, tôi tin rằng còn có một danh hiệu khác để miêu tả Thiền sư, đó là “nhà tiên tri” (“prophet”). Theo kinh thánh, “nhà tiên tri” không phải là một người có thể dự đoán được tương lai, như người ta thường hiểu sai, mà là một người có thể giao tiếp với Đức Chúa trời, và sau đó có thể rao giảng những thông điệp của Đức Chúa trời cho những người khác. Những đấng tiên tri có tiếng nói quyền năng và rao truyền sự thật. Nhưng đôi khi, sự thật mà họ nói ra, dù cần thiết, lại không hề dễ chịu. Và dù Thiền sư nói lên sự thật, và nói với lòng từ bi tột cùng, lời nói của Người, cũng giống như những lời của người anh em Martin Luther King, không phải lúc nào cũng được đón nhận với tinh thần từ bi.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh suy ngẫm và nhìn sâu vào những câu hỏi muôn đời đặt ra về cuộc sống, về sự hiện hữu và ý nghĩa của hiện hữu. Thiền sư khiến chúng ta cũng phải suy ngẫm về những câu hỏi này. Thiền sư mời gọi chúng ta nhìn sâu vào cách hành xử của người khác. Theo bước chân của Chúa Giê-su và Martin Luther King, Thiền sư nói “Để yêu thương kẻ thù của mình, chúng ta phải thực tập nhìn sâu để hiểu người đó. Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ có khả năng chấp nhận và yêu thương người đó. Ngay khi chúng ta chấp nhận và yêu thương, người đó sẽ không còn là kẻ thù của chúng ta nữa”.

Thế giới ngày nay của chúng ta ngập tràn thù hận. Sự nghi kỵ. Sự giận dữ. Sự cay độc. Sự chua cay tồn tại giữa tín đồ của các tôn giáo khác nhau, giữa những người không theo đạo và những người theo đạo, giữa những người có quan điểm chính trị khác nhau. Giữa những người có quốc tịch khác nhau, hay thậm chí giữa những người có quan điểm khác nhau về các sự kiện gần đây. Nhưng những đấng tiên tri như Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dạy tất cả chúng ta – những cá nhân, tổ chức và các chính phủ – phải yêu thương lẫn nhau. Có lòng từ bi với kẻ thù của mình. Cố gắng hiểu họ. Và cuối cùng, là yêu thương họ. Điều này rất khó nghe đối với một số người. Và để thực hiện thì còn khó khăn hơn. Thay vì hiểu kẻ thù của mình, chúng ta thường sợ họ.

Tiếng nói tiên tri của Thiền sư Thích Nhất Hạnh kêu gọi chúng ta hướng đến lòng từ bi, lòng khoan dung, sự thấu hiểu và chấp nhận những người mà chúng ta có sự bất đồng. Trong một buổi nói chuyện về sự sống sau cái chết, Thiền sư đã từng nói cuộc sống của chúng ta giống như những ngọn nến. Kể cả khi ngọn nến dần ngắn đi, chúng ta đang tỏa ra ánh sáng, hơi ấm và năng lượng. Ánh sáng, hơi ấm và năng lượng đó lan tỏa ra khắp thế giới, tác động đến cuộc sống của những người khác – bằng việc mang lại cho họ sự ấm áp và ánh sáng. Thiền sư đã nói rằng kể cả khi thân thể vật chất của chúng ta không còn, chân tâm của chúng ta đã được hiến tặng cho thế giới, và đó chính là sự tiếp nối của chúng ta. Năng lượng này cũng sẽ quay trở lại với chúng ta, đôi khi ngay lập tức, đôi khi rất lâu sau khi chúng ta đã rời xa. Đây không chỉ là ước muốn của tôi, lời cầu nguyện của tôi, mà còn là lòng tin vững chắc của tôi, rằng thông điệp về lòng từ bi, bất bạo động, tự do tôn giáo, nhân quyền và khả năng cùng chung sống trong hòa bình và tình yêu thương với những người xung quanh sẽ tiếp tục lan tỏa khắp thế giới và sẽ quay lại với chúng ta, và tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ tương lai. Xin cảm ơn.

 

 

Lời khấn nguyện đầu năm Nhâm Dần 2022

 

 

Trong phút giây thiêng liêng đầu năm mới Nhâm Dần, 2022, trở về hơi thở chánh niệm, chúng con ý thức là chư vị Tổ tiên và Thầy đang có mặt đó cho chúng con.

Kính lạy chư vị Tổ tiên!

Tổ tiên đã chấp nhận và đưa chúng con biểu hiện trên địa cầu xinh đẹp này. Dù trong số chúng con có người còn vụng dại, còn gây ra những hệ luỵ và làm đau đất Mẹ, nhưng chúng con đã bắt đầu thấy con đường để thực tập, để chuyển hoá. Chúng con đã thấy được tình thương, sự hiểu biết và chí nguyện đi với nhau như một dòng sông sẽ giúp chúng con có khả năng làm đẹp cho cuộc đời và bảo hộ được hành tinh xinh đẹp này.

Kính lạy Thầy, Thầy là một sự tiếp nối rất đẹp từ Tổ tiên tâm linh và huyết thống qua bao thời đại, như một đoá sen tỏa ngát hương giữa mặt hồ nhân loại. Trong suốt cuộc đời hành đạo của Thầy, Thầy đã không ngừng con đường xây dựng hòa bình trong tự thân và cho cả thế giới.  Thầy đã gọi tất cả chúng con cùng nhau trở về, cùng nhìn rõ mặt nhau, để sống chung với nhau như một cơ thể, thở với nhau như một cơ thể, đi với nhau như một dòng sông. Thầy san lấp những dị biệt, luôn tìm thấy cái hay nhất, đẹp nhất trong các nền văn hóa và tâm linh khác để bồi đắp và hướng dẫn cho chúng con một hướng đi, một hướng nhìn, một hướng tác ý, để cống hiến cho nhân loại nguồn tuệ giác tập thể, để đức Bụt Tình Thương (đức Bụt Di Lặc) có thể biểu hiện mỗi ngày dưới hình thức một Tăng thân.

Sắc thân Thầy ẩn tàng trong những ngày cuối năm để lại trong lòng chúng con những khoảng trống rất lớn. Chúng con cho phép mình được buồn, được khóc, được nhớ Thầy. Đồng thời chúng con cũng trở về với hiện pháp để có thể nhìn sâu và thấy Thầy trong từng huynh đệ, trong từng nụ hoa chiếc lá, trong mỗi đám mây, trên con đường thiền hành rất đẹp của mỗi xóm, và nơi bao nhiêu hiện hữu nhiệm mầu khác. Trong số chúng con, có người là học trò của Thầy suốt mấy mươi năm qua, có người chưa từng gặp Thầy, có người từng dự nhiều khóa tu hoặc chưa tham dự lần nào, có người đọc sách của Thầy, có người ngồi yên để thưởng thức một ly trà ấm, hay ngắm nhìn vẻ đẹp của đất trời bằng đôi mắt trong, có người đã gọi tên Thầy trong từng hơi thở, trong từng bước chân chánh niệm và đã thực sự gặp Thầy, đã có khả năng tìm ra Thầy. “Nhìn lại đi, Thầy đang ở trong con, và trong từng nụ hoa, chiếc lá. Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay.”

Đó là cách Thầy trò mình cùng đi vào vương quốc của xứ sở hiện tại phải không Thầy! Chúng con sẽ thở cùng nhau, sẽ đi cùng nhau trong chánh niệm để Thầy luôn được biểu hiện mỗi phút mỗi giây trong đời sống hằng ngày với chúng con. Chúng con có cùng nỗi đau mất Thầy, nhưng chúng con cũng có cùng niềm tin sẽ luôn gặp được Thầy trong mỗi biểu hiện nhiệm mầu của sự sống, trong trái tim thương yêu và hai cánh tay hành động của chúng con và của mọi người trên thế giới. Ngay cả bây giờ, chúng con đang cùng Thầy đi gặp mùa xuân.

Kính thưa Thầy, kính thưa Đất mẹ, kính thưa chư vị Tổ tiên, trước thềm năm mới, chúng con kính cẩn phát nguyện là bắt đầu từ năm Nhâm Dần, 2022, chúng con sẽ tập sống thật hài hòa và an vui trong phạm vi gia đình và tăng thân của chúng con, như những con ong cùng sống chung trong một tổ ong hay những tế bào của cùng một cơ thể. Chúng con hứa sẽ học hỏi thái độ cởi mở, tập hạnh lắng nghe và ái ngữ để có thể truyền thông được dễ dàng với những thành phần khác trong gia đình và trong tăng thân. Nguyện sẽ nhìn sâu vào tuệ giác tương tức để có thể chung sống với nhau trong tinh thần “kính trên nhường dưới”, “trên hoà dưới thuận”, “trong ấm ngoài êm”, nguyện sẽ tập nhìn hạnh phúc của tăng thân là hạnh phúc của chính mình. Chúng con biết đây là cách thức duy nhất để bảo đảm cho con cháu của chúng con có một tương lai tươi sáng trên trái đất.

Chúng con nguyện thực tập cho chư vị và cho cả con cháu của chúng con để hòa bình, an lạc và thương yêu có thể có mặt trên thế gian này. Xin chư vị chứng giám và luôn hộ trì cho chúng con trong những lời phát nguyện này.

Chúng con kính dâng hương hoa, quả phẩm, lòng hiếu thảo của tất cả chúng con, và xin lạy xuống trước chư vị bốn lạy.

 

 

 

 

 

 

 

Tâm tang ngày cuối: Lễ Thỉnh Xá Lợi (30.01.2022)

Sáng ngày 30 tháng 01 năm 2022, sau lễ Cung thỉnh Xá lợi và Linh vị Giác linh Sư Ông trở về an vị tại Tổ đình Từ Hiếu, trời nổi gió, một cơn mưa lạnh đã ghé ngang qua chùa Tổ. Suốt thời gian tổ chức Tâm Tang, thời tiết rất đẹp. Xứ Huế trong những ngày cuối năm mà trời không mưa và lạnh suốt một tuần cũng là một điều lạ.

Suốt đêm 29.01.2022, chư Tôn Thiền đức Tăng Ni đã có mặt cùng chúng con tại đài Trà Tỳ. Nhìn thấy chư Tôn đức bên cạnh thiền hành, ngồi thiền, tụng kinh, nâng nến cầu nguyện, và chỉ dạy chúng con từng chi tiết nhỏ nhất, chúng con thấy lòng rất ấm áp và biết ơn. Tình thầy trò, tình huynh đệ và nghĩa đồng môn là những gì suốt cuộc đời Thầy chúng con đã xây dựng, chia sẻ và trao truyền mỗi khi có dịp. Quý Phật tử cư sĩ cũng đã ở lại rất đông để cùng chúng con thực tập, có mặt với Sư Ông trong giờ phút huyền thoại. Sư Ông đang được tiếp nối trong mỗi thành phần của tăng thân. Chúng con biết, ai trong đại chúng cũng đang xây cho mình một cái tháp đẹp nhất bằng bước chân và hơi thở chánh niệm để dâng lên cúng dường Sư Ông.

Hôm nay cũng là kỷ niệm tròn mười năm Gia đình Cúc Đại Đoá xuất gia với 26 thành viên. Cúc là loại hoa Sư Ông rất thích. Cứ mỗi dịp mùa thu thì tại Làng sẽ có rất nhiều chậu cúc được chưng khắp nơi. Sư Ông trồng, chăm và thưởng thức cúc. Chúng con nhớ trong thời gian Sư Ông bệnh và an dưỡng ở Sơn Cốc, có một mùa thu, Sư Ông đã cùng đại chúng đến thăm một vườn trồng cúc với rất nhiều loại khác nhau. Sư Ông ở chơi trong vườn cúc rất lâu. Sau đó, đại chúng đã thỉnh những chậu cúc đẹp về chưng tại Sơn Cốc và các xóm. Trong lễ Tâm Tang, đại chúng có thể dễ dàng nhận ra những bông cúc đại đoá màu hoả hoàng được trang trí khắp nơi.

Bảy ngày Khoá tu Im lặng hùng tráng “Quay về nương tựa Hải đảo tự thân” trong Tâm Tang tại Tổ đình Từ Hiếu đã diễn ra ấm cúng và viên mãn. Chư Tôn Thiền đức khắp nơi đã về trực tiếp chứng minh, hộ niệm hoặc tổ chức lễ tưởng niệm từ xa. Nhiều tổ chức, đoàn thể và cá nhân đã đến dâng hương và đảnh lễ thọ Tâm Tang hoặc gởi điện thư và tâm niệm thọ Tâm Tang từ xa. Chúng con thành kính tri ân tình thương quý Tôn đức cùng đại chúng khắp nơi đã dành cho Sư Ông và tăng thân. Chúng con nguyện thực tập tinh chuyên để tiếp nối được sự nghiệp tuệ giác của Sư Ông, mong phần nào báo đáp được ân đức của Bụt, Tổ và chư Tôn Thiền đức Tăng Ni cũng như sự trợ duyên kiên định từ quý vị Phật tử cư sĩ. Chúng con kính mời toàn thể đại chúng cùng nhau nhìn sâu và thực tập câu đối cho năm 2022: “Ngày xuân trên hoà dưới thuận / Bốn mùa trong ấm ngoài êm”

“Ở Làng Mai, chúng ta biết rằng tình huynh đệ là quan trọng nhất. Nếu không có tình huynh đệ thì không có gì nuôi dưỡng để mình có thể thực hiện được ước mơ của mình. Ở Làng Mai, tất cả những gì mình làm, mình nói đều phải có mục đích xây dựng tình huynh đệ. Có tình huynh đệ thì có tất cả, không có tình huynh đệ thì không có gì hết.

Năm 2005 tôi được về Việt Nam lần đầu sau 40 năm lưu đày. Các nhà báo hỏi tôi ngay ở phi trường Charles de Gaulle, Paris, và khi tới Việt Nam họ vẫn tiếp tục hỏi:

– Thầy có muốn nói gì không? Xin thầy cho biết ý kiến về tình trạng ở Việt Nam.

Tôi nói:

– Tôi mới chân ướt chân ráo về tới đây. Tôi đã thấy gì đâu mà nói. Tôi phải ở lâu ngày, phải trải nghiệm rồi mới nói được. Nhưng hình như có một cái tôi nói được, đó là “tình huynh đệ là cái cao quý nhất”. Bác Hồ nói “không có gì quý hơn độc lập tự do”, còn tôi thì nói “không có gì quý hơn tình huynh đệ”.

Đó là kinh nghiệm của đời mình, nếu không có tình huynh đệ thì không làm được gì hết. Nếu ở Làng Mai mà không có tình huynh đệ giữa các thầy, các sư cô và các Phật tử cư sĩ thì thử hỏi chúng ta có làm được gì không? Chúng ta không thể tổ chức được cả khóa tu. Không có tình huynh đệ thì làm sao có độc lập tự do? Có tình huynh đệ mới có đoàn kết, có tình thương yêu để nuôi dưỡng mình. Khóa tu đầu tiên cho người xuất sĩ tại chùa Từ Hiếu ở Huế vào tháng 03 năm 2005 có đề tài là “Xây dựng tình huynh đệ”.

Tình huynh đệ là bản chất của một đoàn thể tu học. Nhìn lại đoàn thể tu học mà Bụt đã xây dựng thì chúng ta thấy có tình huynh đệ trong đó. Các thầy lớn luôn luôn chăm sóc cho các thầy trẻ. Điều này làm cho Bụt rất hạnh phúc.”

 

 

“Tình huynh đệ xây dựng được là do chúng ta nhận ra nhau như người anh em chứ không phải là kẻ thù, hay là những trở ngại cho nhau. Nhận ra nhau là người anh em rồi thì mình sẽ nhìn người kia được bằng con mắt yêu mến, bằng con mắt thương kính. Chúng ta nhất định không lý thuyết suông. Chúng ta nói là chúng ta làm. Khi mãn khóa tu, ra đường gặp bất cứ một người xuất gia nào chúng ta cũng chắp tay vái chào. Chúng ta nhìn người đó bằng con mắt của người huynh đệ. Chúng ta mỉm nụ cười của người huynh đệ. Đó là điều chúng ta làm được chứ tại sao không? Mỗi khi tôi gặp một em bé chắp tay thì tôi cũng chắp tay lại, huống hồ là khi gặp một sư cô hay một sư chú, huống hồ là khi gặp một vị trưởng thượng. Đối với một em bé tôi đã không có thái độ khinh khỉnh nó là con nít, biết gì! Tôi không có thái độ đó, bởi vì em bé đó có Phật tính. Em bé chắp tay với lòng cung kính đối với mình, nếu mình chắp tay lại với lòng cung kính đối với em bé, thì em bé sẽ lớn lên rất mau trên đời sống tâm linh của em. Ước mơ của tôi là sau khóa tu này, khi chúng ta gặp nhau giữa đường, ánh mắt, nụ cười và hai bàn tay chắp thành búp sen của chúng ta sẽ chứng tỏ được rằng chúng ta có khả năng công nhận nhau là người huynh đệ, dù người đó thuộc về môn phái nào, tổ chức nào, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Đoàn, thì cũng đều như vậy. Tất cả những danh xưng đó không có khả năng chia rẽ và làm mờ mắt chúng ta.”

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 08.11.2012 tại thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ, Làng Mai trong khóa An cư kiết đông 2012-2013 và pháp thoại đầu tiên của Sư Ông trong khóa tu xuất sĩ “Thông điệp tình huynh đệ” diễn ra từ 07-11.03.2005 tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế)

Tâm tang ngày thứ 7: Lễ Trà Tỳ (29.01.2022)

Sáng nay, 29.01.2022 (nhằm ngày 27 tháng Chạp năm Tân Sửu), tại thiền đường Trăng Rằm, Tổ đình Từ Hiếu, chư Tôn Thiền đức Tăng Ni đã quang lâm chứng minh, hộ niệm cho Lễ Thiên Quan Giác linh Sư Ông Làng Mai. Hàng ngàn Phật tử cư sĩ và quan khách các giới cũng đã có mặt từ rất sớm trong khuôn viên chùa để lễ lạy, ngồi thiền, kinh hành, cùng thở những hơi thở chánh niệm với Sư Ông trước lúc di quan. Các trung tâm Làng Mai khắp nơi cùng hàng chục ngàn xuất sĩ và cư sĩ cũng đã có mặt suốt buổi lễ Thiên Quan và Trà Tỳ qua truyền thông trực tuyến.

Con đường từ Tổ đình Từ Hiếu lên Đài Trà Tỳ sáng nay thật yên bình. Sư Ông có mặt cùng chúng con, đi qua những cung đường có dãy tùng vươn cao, có những gốc sứ già trăm tuổi và tán bàng xương xẩu sau lần trút lá, có bậc cấp nơi sư chú Phùng Xuân ngồi gọt mít non cho dì Tư nấu canh với lá lốt lá sân, và những cây dừa vươn cao; ẩn hiện mái Tam quan mà hơn ba năm trước, Sư Ông về lại chùa Tổ đã đặt bàn tay đầy tình thương chạm vào bức tường cổ; thấp thoáng dòng sông Hương, hàng chuối xanh, rặng tre nghiêng nghiêng, hay những tán thông xanh mướt. Không gian thật yên tĩnh. Đoàn người đặt từng bước chân chánh niệm đi bên cạnh Thầy. Nếu không có Linh Quan, có lẽ không ai nghĩ đó là một Tang lễ. Ngang qua con đường nhỏ dẫn vào Ni xá Diệu Trạm, bông nhiên Kim quan dừng lại một lúc. Quý sư cô đang trực xóm rất xúc động, cảm như Sư Ông đang có mặt và vào thăm các sư con ở Diệu Trạm. Các sư em chắp tay khóc, nhưng trong lòng nở một nụ cười chào Sư Ông. Khắp các nẻo đường, lực lượng an ninh đã làm việc hết lòng để giúp cho đoàn Tâm Tang được hanh thông.

Chư Tôn Thiền đức cùng đệ tử Sư Ông cùng chú nguyện và rước ngọn lửa tam muội đến đài Trà Tỳ. Khi Kim Quan đưa vào lò thiêu, có vị đã khóc nấc lên vì xúc động khiến cho nhiều vị không cầm được nước mắt. Thầy Chân Pháp Ấn đã hướng dẫn đại chúng theo dõi hơi thở. Năng lượng đại chúng yên xuống. Ai cũng thực tập hết lòng khiến định lực và năng lượng sự bình an tập thể trở nên rất hùng hậu. Đại chúng sẽ ở lại Công viên Vĩnh Hằng trong suốt thời gian trà tỳ để thực tập thiền hành, tụng kinh, niệm Bụt, ngồi thiền, lạy Bụt, ngồi bên nhau nghe Sư Ông đọc thơ, hát thiền ca và nhạc kinh, cùng chia sẻ những kỷ niệm đẹp với Sư Ông, đốt nến cầu nguyện bình an cho thế giới và cúng dường lên Sư Ông. Chúng con như nhìn thấy lại giáo đoàn nguyên thuỷ ngày xưa trong rừng cây Sa La. Nhìn hình ảnh chư Tôn Thiền đức Tăng Ni bi mẫn ở lại với chúng con, chúng con cảm thấy được an ủi rất nhiều trong sự mất mát lớn lao này. Rất nhiều cư sĩ cũng ở lại tại điểm trà Tỳ để cùng nuôi dưỡng tâm bồ đề. Có vị dựng lên chiếc lều nhỏ có ảnh Sư Ông để ở lại qua đêm.

 

 

“Đối với Thầy, những pháp môn tu học có công năng chuyển hóa và trị liệu được cho người đương thời, chính là cái tháp của Thầy. Ở Pháp Vân, ở Tổ đình Từ Hiếu hay ở bất cứ trung tâm tu học nào của Làng Mai trên thế giới đều phải có cái Tháp ấy. Không phải một cái tháp bằng gạch, bằng xi măng mà là một cái tháp của sự thực tập. Tất cả các thầy, các sư cô, các sư chú, các vị Tiếp Hiện, các vị Phật tử cư sĩ và các vị thân hữu của Làng Mai, bất cứ ai tới cũng được mời đi vào cái tháp đó. Nghĩa là phải học đi trong chánh niệm, uống trà trong chánh niệm, biết nói năng cho từ ái và biết lắng nghe nhau.

Thầy vẫn luôn luôn có mặt trong mỗi một biểu hiện của sự sống. Thầy rất mong ước các con những vị xuất sĩ, những vị Tiếp Hiện, những vị Phật tử cư sĩ cùng quý vị thân hữu mỗi người sẽ xây cho Thầy một cái Tháp bằng chính công phu tu học của tự thân trong mỗi giây, mỗi phút của đời sống hằng ngày. Trong khóa tu im lặng hùng tráng này, Thầy trò chúng ta sẽ đi trong chánh niệm, uống trà trong chánh niệm, biết nói năng cho từ ái và biết lắng nghe nhau, v.v… Sau Lễ Trà Tỳ, các con hãy đem tro của Thầy mà rải hết ra ngoài để nuôi cây, nuôi cỏ, cho cỏ, cho cây lớn lên. Đừng có ngăn ngừa sự tiếp nối của nắm tro ấy.” (Thầy trò ta cùng nhau leo đồi Thế Kỷ)