Đi tìm lá tía tô và bông cải vàng trong thơ Thầy

                                                                               

Lá thơm còn đó, hoa vẫn còn đây

Thầy đã hóa thành mây trắng thong dong, nhưng di sản của Thầy vẫn là một nguồn sống vô tận nuôi dưỡng con người, để con người được thật sự sống. Có những học trò  nghe một bài pháp thoại của Thầy mà “chạm” được những điều sâu sắc trong lòng;  có người thì chỉ nhờ một câu thư pháp Thầy viết mà biết bao khổ đau dần lắng dịu tựa như sóng gió thôi xôn xao trên mặt nước hồ thu; cũng có người đọc sách của Thầy mà tìm thấy một lối đi cho cuộc đời mình. Với con, con “gặp” được Thầy, nhận được tình thương và lòng từ của Thầy qua những vần thơ Thầy viết. Có lẽ, con được Thầy “nuôi lớn” trước hết chính bởi những vần thơ dung dị, nơi mùi lá tía tô thơm hương vị quê nhà và sắc hoa cải vàng đẹp như màu nắng mai lên.

 

 

Lá tía tô – Hương quê nhà và bàn tay mẹ

Lá tía tô trong thơ Thầy chính là lá tía tô quê mùa bình dị, chính là chiếc lá rau màu tím, là chiếc lá cỏ thơm mọc nơi góc vườn, bên bậu cửa, trong rổ rau mẹ hái để chuẩn bị cơm chiều. Mỗi khi làm bếp, ngắt chiếc lá tía tô còn vương mùi đất, con lại thầm đọc:

“Một bữa cơm trời mưa
hương tía tô
thu tóm quê nhà sắc, hương, hơi thở.”
(Tôi về lật lại trang xưa, 1971)

Thành ra hương tía tô còn ướp hương của một buổi chiều mưa và dậy mùi canh nóng giữa mùa đông; hương tía tô còn mang theo  hơi thở của mẹ, tiếng ru ầu ơ thuở bé, và bỗng chốc quê nhà xa xôi hóa thành quê nhà trong lòng bàn tay. “Breathe, you are alive” -“Thở vào, bạn đang còn sống”, vậy là chỉ một hơi thở vào Thầy giúp con thấy ngay sự sống, thấy ngay được “quê hương nơi này”.

“Lá tía tô thơm
hương mùa thu mới chín.”

(Tôi về lật lại trang xưa, 1971)

Những câu thơ của Thầy luôn nhắc nhớ một miền ký ức êm đềm, nơi quê nhà yên ấm, nơi tình thương có mặt, nơi mỗi bữa cơm là sự đoàn tụ, sum vầy. Thầy viết những câu thơ có màu Việt Nam nhất khi Thầy xa quê trùng trùng cách trở. 

Có phải Thầy đang dạy con tinh thần “hiện pháp lạc trú”, biết an trú trong từng phút giây hiện tại không, thưa Thầy?

Ở một bài thơ khác, một lần nữa lá tía tô biết gọi mùa thu về. Chỉ mấy chữ đơn sơ,  Thầy nhắc con “trở về”. Lá tía tô trong thơ Thầy gợi lên trọn vẹn một mùa thu chín, không vì lời, mà vì con có thể chạm vào được hương vị của sự sống thật chân thật trong đó. Một khung cảnh an vui, mấy lời thơ tưởng như như tả cảnh ngày mùa, nhưng thực ra đó là lá tía tô trong bài thơ có tựa là “Bướm lạc quê hương” (1973). Lúc này, Thầy đã xa quê 10 năm có lẻ. 

“Lá tía tô

Hương mùa thu mới chín

Chim hót lá xanh

Trời mây bình lặng.”

Lá tía tô còn xuất hiện trong bài “Ý thức em mặt trời tỏ rạng” (1972); lúc này lá tía tô không chỉ là một điều bình dị mà như một phép mầu của đất Mẹ:

“Đất mẹ cho em hương quế tần ô
Tía tô rau húng rau ngò mầu nhiệm.”

Từ “mầu nhiệm” của Thầy thật là mầu nhiệm, gây cho người đọc một nỗi tò mò bởi mấy cây rau thơm sao mà mầu nhiệm cho được.  Mà rồi con cũng gắng thực tập miên mật làm sao để thấy “tía tô rau húng rau ngò mầu nhiệm” cho đặng. Thầy có dặn sự sống mỗi ngày đều mầu nhiệm nếu ta có mặt thật sự để chạm vào nó. Thế là tía tô không chỉ là một cây rau thơm, mà còn là bài học về “phép lạ của sự tỉnh thức”. Tới bài “Cúc cu đúng hẹn” (1973), lá tía tô hiện ra như một tín hiệu thân thương, báo hiệu sự có mặt cho nhau:

“Người đã tới thăm, trăng một túi
Lá tía tô gọi hạt mồng tơi…”

Câu thơ như một cánh cửa mở vào thực tại. “Trăng một túi”  là một hình ảnh rất giàu thiền vị; “lá tía tô gọi hạt mồng tơi” như một chỉ dấu của sự sống đang thầm thì từ đất. Chỉ bằng một chiếc lá nhỏ, một hạt mồng tơi, Thầy nhắc nhở con rằng con đang sống, và Thầy đang “mời” con về với xứ sở hiện tại nhiệm mầu. 

 

 

Bông cải vàng – Sự sống trong veo

Lá tía tô dẫn con về với “hương thơm quê mẹ” trong từng hơi thở an trú; vạt cải vàng  trong nắng lại gieo những bình an và hy vọng. Hoa cải trong thơ Thầy hiện lên rất đỗi thật thà, có thể là vườn cải ngoài sân, có thể là ký ức tuổi thơ, nhưng cũng có thể là chính sự sống đang thì thầm trong lòng mình. Trong bài “Bướm bay vườn cải hoa vàng” (1974), Thầy viết:

“Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở…”

Mấy câu thơ như một bức tranh thủy mặc. Ở đó, có “bướm bay từng đàn”, tự do và nhẹ nhõm; có khu vườn cải hoa vàng, rực rỡ mà lặng lẽ, yên vui. Có mẹ, có em, có tình thương và sự tiếp nối. Và có cả gió chiều chỉ nhẹ “như hơi thở” mà hiện hữu nhiệm mầu. Khi tâm an trú, thì mọi thứ đều trở nên rất đỗi chân thực phải không Thầy? “Mẹ và em còn đó”, đây không phải là một phát hiện lý trí, mà là một phát hiện bằng trái tim, mẹ chưa bao giờ rời đi và em chưa từng vắng mặt. Và rồi, như một lời khẳng định vững chãi, Thầy viết:

“Vườn cải hoa vàng chính mắt tôi vừa thấy sáng qua
Tôi không ngủ mơ đâu…”

Không phải mơ. Vườn cải đó là thật. Bướm bay đó là thật. Thầy đã thật từ bi chỉ cho con rằng khi con thật sự có mặt, tất cả những điều quý giá vẫn còn đó. Đối với con, những dòng thơ này là những dòng thơ đẹp nhất được viết bằng chất liệu của nắng, của hương cải, của nhịp cánh bướm bay và tình thương của mẹ. 

Trong bài “Bé đã sinh ra rồi” (1973), hoa cải đón nhận một điều kỳ diệu:

“Trên cánh bướm mong manh
Hoa cải rực vàng
Trên lối cũ.”

Chỉ ba dòng thơ như một hơi thở nhẹ đã nhắc nhớ con về nhiệm mầu của sự sống. Một sự sống vừa mới bắt đầu; “bé đã sinh ra rồi”  bên hoa cải, cánh bướm trên con đường cũ. Cái mới sinh không hề riêng biệt với những điều đã cũ. Và rồi, trong bài “Tôi về lật lại trang xưa”, hoa cải lại hiện lên như một phép lạ của thiền quán, một trời vàng trong một hạt cải nhỏ bé. Vậy là chỉ cần nhìn sâu vào cái rất nhỏ, Thầy dạy con  có thể thấy cả một vũ trụ bao la:

“Một trời hoa vàng trong hạt cải
Chắp tay tôi để hoa nở trên búp tuyệt vời.”

Khi con chắp tay búp sen, con tập dừng lại để nhìn sâu thì con thấy được hoa nở. Hoa nở ngay trên “búp tuyệt vời” của hiện tại. Lời thơ sâu sắc, ý thơ đậm màu thiền, một hạt cải Thầy gieo, biết bao nhiêu thương yêu nảy mầm trên khắp thế gian này. 

Và đến “Trời bên ấy sáng chưa” (1975), hoa cải không chỉ còn là biểu tượng của sự sống, mà còn là quê nhà của những người xa xứ. 

“Sau vườn hoa cải rực vàng
Bướm lạc quê hương.”

Thầy chỉ cho dăm chữ, con dường như nghe được sự xao xác trong lòng. Con cũng nhiều lần làm con “bướm lạc”, mịt mù lối về nơi thân và tâm của mình, để bao nhiêu hạt sầu vương. Nhưng mà hoa cải vẫn rực vàng, vẫn lặng yên nở, vẫn lặng yên có mặt, như quê hương, như hơi thở, như Thầy, kiên nhẫn  đợi con trở về.

Nuôi dưỡng và trị liệu

Trong những trang thơ Thầy viết, hình ảnh xứ sở nhiệt đới quê nhà hiện ra thật sinh động: một khu vườn nhỏ với đủ loại lá rau thơm, những bông hoa dân dã, ánh trăng thanh mát và hình bóng những người thương. Lá tía tô và bông cải, những hình ảnh thật gần gũi, đơn sơ đi vào thơ Thầy một cách tự nhiên như hơi thở, nhưng lại mở ra cả một bầu trời thương nhớ. Những nhớ thương ấy có khi là xa xôi, vơi đầy, nhưng cũng có khi chỉ là một rung động thật thà rất khẽ trong lòng. Thơ của Thầy mộc mạc, nhưng mỗi dòng chữ lại có khả năng nuôi dưỡng. Đó là những dòng thơ thấm đượm từ bi, dẫn đường cho con trở về với chính mình. Có những buổi sớm mai, chỉ cần con dừng lại, có mặt với một hơi thở vào, một hơi thở ra, rồi đọc lại vài dòng thơ cũ, con như thấy Thầy đang mỉm cười thật hiền trong nắng sớm, dưới mái hiên nhà, nơi có vườn rau, có bông cải, có một nếp nhà. Dù bao nhiêu năm đã trôi qua, những trang thơ ấy vẫn sống động, vẫn còn nguyên vẹn năng lượng trị liệu. Mỗi khi con đi lạc giữa cuộc đời nhiều biến động, con lại tìm được đường về và được ôm ấp, vỗ về trong chữ nghĩa và trong tình thương sâu nặng của Thầy.

“Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Con đi đâu? 

Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay

Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt

Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.”
(Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai)

                                                                          Huyền Dương