Nuôi lớn chánh niệm trong tự thân

ĐỂ CÓ THỂ CHIA SẺ sự thực tập chánh niệm với trẻ em, các thầy cô giáo cũng như các bậc phụ huynh cần phải thực tập trước tiên. Sự có mặt đích thực, sự bình an và lắng dịu của bạn là món quà lớn nhất mà bạn có thể hiến tặng cho học trò hay con em của mình. Khi bạn vững chãi, hạnh phúc và có nhiều tình thương thì tự nhiên bạn sẽ biết cách làm thế nào để xây dựng một gia đình hạnh phúc hay một môi trường học đường lành mạnh và nuôi dưỡng. Bạn cũng sẽ biết cách làm thế nào để tưới tẩm và nuôi lớn những phẩm chất tích cực nơi học trò hay con em của mình, nơi những thành viên khác trong gia đình hay nơi những đồng nghiệp của mình.

Tất cả chúng ta đều mang trong mình những vết thương, những niềm đau mà ta đã tiếp nhận từ hồi còn ấu thơ. Vì vậy, con đường trị liệu những vết thương này sẽ giúp chúng ta dễ dàng tiếp xúc, hiểu và thương được những đứa trẻ xung quanh ta. Nếu chúng ta không chuyển hóa được những vết thương đó thì chúng ta sẽ tiếp tục trao truyền cho con em của mình hoặc học trò của mình. Khi đó, khổ đau của chúng ta sẽ trở thành khổ đau của các em. Đó là lý do vì sao sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày lại quan trọng đến vậy. Sự thực tập chánh niệm không những giúp cho chúng ta có được sự bền bỉ, không bị kiệt sức, mà còn đồng thời giúp chúng ta chuyển hóa trong chiều sâu tâm thức.

Vì vậy, chương này có thể là chương quan trọng nhất trong cuốn sách. Nếu chúng ta không có đủ bình an thì làm sao chúng ta có thể trao truyền sự bình an cho học trò hay con em của mình?

Bước đầu tiên: Chăm sóc chính mình

Chúng ta phải học cách chăm sóc chính mình trong đời sống hàng ngày, trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, trong lúc ăn hoặc đánh răng. Con người chúng ta được tạo thành bởi năm yếu tố: hình hài, cảm xúc, tri giác, tâm hành và nhận thức. Năm yếu tố này là lãnh thổ vô cùng rộng lớn của chúng ta. Ta chính là vị quốc vương trên lãnh thổ ấy. Ta phải biết trở về và chăm sóc cho lãnh thổ của mình. Chánh niệm giúp chúng ta làm được việc ấy. Ví dụ như khi có một vùng nào đó trên cơ thể bị căng thẳng hay đau nhức, việc trước tiên ta nên làm là trở về và chăm sóc cho vùng đang bị thương tổn ấy. Ta hãy dành cho mình những giây phút lắng yên, trở về với hơi thở và thầm đọc:

Thở vào, tôi ý thức về toàn thân tôi

Thở ra, tôi buông thư toàn thân (buông bỏ hết những căng thẳng trong thân)

Khi đã biết cách chăm sóc cho thân, ta sẽ biết cách chăm sóc những cảm xúc trong ta. Với năng lượng chánh niệm, ta có thể làm phát khởi niềm vui và hạnh phúc trong ta; và khi một cảm xúc mạnh biểu hiện, ta có thể chăm sóc cho cảm xúc ấy. Ta có thể theo dõi hơi thở trong khi đọc thầm:

Thở vào, tôi ý thức về cảm xúc buồn đau trong tôi

Thở ra, tôi ôm lấy cảm xúc đó với tất cả sự dịu dàng.

Chúng ta không khỏa lấp khổ đau bằng cách tiêu thụ. Nhiều người trong chúng ta tìm cách trốn chạy khổ đau bằng cách đắm chìm trong phim ảnh, mạng lưới toàn cầu, rượu bia, sách báo, ăn uống, mua sắm, chuyện trò… Nhưng càng trốn chạy thì ta càng làm cho tình trạng khó khăn hơn mà thôi.

Bụt dạy rằng không có cái gì có thể sống sót nếu không có thức ăn. Sở dĩ niềm đau, nỗi sợ trong ta còn đó là vì ta cứ cho nó thức ăn. Một khi ta biết nhận diện và ôm ấp niềm đau, nỗi sợ thì nó lắng xuống. Nếu tiếp tục nhìn sâu, chúng ta sẽ nhận ra gốc rễ đồng thời thấy được những thức ăn nào ta đã cung cấp cho những niềm đau, nỗi sợ ấy mỗi ngày.

Nếu chúng ta khổ sở vì bị trầm cảm, chứng tỏ là ta đã sống, đã tiêu thụ như thế nào để đưa tới tình trạng trầm cảm. Bụt dạy rằng nếu chúng ta có thể nhìn sâu vào khổ đau của mình và nhận diện được nguồn thực phẩm nuôi dưỡng khổ đau, thì chúng ta đang đi trên con đường giải thoát.

Con em của chúng ta có thể đang tiếp nhận rất nhiều bạo động, sợ hãi và thèm khát. Khi xem chương trình truyền hình, các em phải chứng kiến vô số hình ảnh bạo lực, khiến cho hạt giống bạo động, thèm khát và sợ hãi lớn mạnh. Ngày nay, tình trạng bạo động trong giới trẻ ngày càng tăng, các em không biết cách chăm sóc khổ đau và những cảm xúc mạnh trong mình. Dân số nước Pháp không cao nhưng hàng năm có đến mười hai ngàn người trẻ tự tử. Các em là nạn nhân của cảm xúc mạnh, của sợ hãi, giận hờn, tuyệt vọng. Trong trường học, các em không được dạy phương pháp chăm sóc cảm xúc mạnh. Vì vậy, việc các phụ huynh và giáo viên học cách chăm sóc cảm xúc của bản thân để rồi trao truyền cho các em là điều rất quan trọng. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta đã nuôi dưỡng hạt giống sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng thông qua cách chúng ta tiêu thụ. Vì vậy, tiêu thụ có chánh niệm là câu trả lời và sự thực tập của mỗi chúng ta. Chúng ta cần tiêu thụ như thế nào để không nuôi dưỡng những hạt giống tiêu cực trong ta.

Ngay cả tình thương cũng không thể lớn mạnh nếu thiếu thức ăn. Tình thương trong ta sẽ khô héo nếu không được nuôi dưỡng mỗi ngày. Do vậy, chúng ta cần nhận diện nguồn thực phẩm nào cần thiết để nuôi dưỡng những hạt giống thương yêu và hiểu biết trong ta.

Dưới đây là những phương pháp thực tập mà bạn có thể áp dụng để nuôi lớn năng lượng chánh niệm, giảm bớt căng thẳng và nuôi dưỡng niềm vui trong tự thân. Ban đầu, bạn hãy chọn một phương pháp thực tập và áp dụng vào đời sống hàng ngày của mình, rồi dần dần áp dụng thêm nhiều phương pháp khác. Bạn không cần phải thực tập chánh niệm một cách hoàn hảo thì mới có thể bắt đầu dạy cho học sinh hay con em của mình. Ngay khi bắt đầu thực tập, bạn sẽ nhận thấy sự thay đổi nơi mình. Và sự thay đổi đó, dù chỉ là nhỏ thôi, sẽ rất có ích cho học sinh, cho con em và những đồng nghiệp của bạn.

THIẾT LẬP THÓI QUEN THỰC TẬP CHÁNH NIỆM HÀNG NGÀY

Bạn nên dành 5 đến 10 phút mỗi ngày để thực tập hơi thở chánh niệm, buổi sáng hay buổi tối đều tốt. Hãy cố gắng thực hiện bài tập này vào cùng một thời điểm mỗi ngày và chọn một nơi yên tĩnh để dễ dàng tập trung. Bạn có thể ngồi trên ghế hoặc trên sàn nhà với gối ngồi. Ngồi cho thoải mái, lưng thẳng mà buông thư. Mắt nhắm hoặc khép hờ. Bạn hãy đặt toàn bộ sự chú tâm của bạn vào hơi thở vào và hơi thở ra. Bạn có thể thực tập theo hướng dẫn dưới đây.

THIỀN TẬP CÓ HƯỚNG DẪN [1]

Bài thiền tập dưới đây có thể được thực tập trong tư thế ngồi, trong khi đi hoặc trong tư thế nằm trước khi ngủ. Bạn hãy thực hành ít nhất là mười hơi thở vào, mười hơi thở ra cho mỗi bài tập; nương vào những từ khóa (lời hướng dẫn được thu gọn) để giúp bạn tập trung hơn vào bài tập. Khi tâm bạn bắt đầu rong ruổi, bạn chỉ cần nhẹ nhàng đưa tâm trở về với hơi thở và từ khóa của bài thực tập.

1

Thở vào, biết là mình đang thở vào.

Thở ra, biết là mình đang thở ra.

VÀO

RA

2

Hơi thở vào càng sâu.

Hơi thở ra càng chậm.

SÂU

CHẬM

3

Thở vào, ý thức toàn thân.

Thở ra, buông thư toàn thân.

TOÀN THÂN

BUÔNG THƯ

4

Thở vào, an tịnh toàn thân.

Thở ra, lân mẫn toàn thân.

AN TỊNH

LÂN MẪN

5

Thở vào, cười với toàn thân.

Thở ra, thanh thản toàn thân.

CƯỜI

THANH THẢN

6

Thở vào, cười với toàn thân.

Thở ra, buông thả những căng thẳng trong thân.

CƯỜI

BUÔNG THẢ

7

Thở vào, cảm thấy mừng vui (vì mình đang còn sống).

Thở ra, nếm nguồn an lạc.

MỪNG VUI

AN LẠC

8

Thở vào, an trú trong hiện tại.

Thở ra, hiện tại tuyệt vời.

HIỆN TẠI

TUYỆT VỜI

9

Thở vào, ý thức về thế ngồi vững chãi.

Thở ra, cảm thấy an ổn, vững vàng.

VỮNG CHÃI

AN ỔN

CHÁNH NIỆM TRONG MỖI HÀNH ĐỘNG

Bên cạnh sự thực tập hơi thở chánh niệm, mỗi ngày bạn cũng có thể chọn thực tập ý thức trọn vẹn về một hành động nào đó của mình trong ngày. Mỗi khi lên xuống cầu thang, tôi đều thưởng thức từng bước chân. Thở vào, tôi mỉm cười và bước một bước. Thở ra, tôi tận hưởng bước chân ấy. Tôi đã ký một “thỏa thuận” với cầu thang trong thất của mình, cho nên lần nào bước lên cầu thang mà không có chánh niệm thì tôi bước xuống và thực tập lại. Nếu thích thì bạn cũng có thể ký “thỏa thuận” với cái cầu thang trong nhà hoặc đoạn đường ngắn từ nhà ra trạm xe buýt hay đoạn đường từ văn phòng ra bãi đậu xe.

Bạn cũng có thể chọn những hoạt động khác để thực tập như: đánh răng, đóng và mở cửa, bật đèn hay lái xe. Mỗi khi làm hành động này, bạn không để cho tâm rong ruổi ở một nơi nào khác hay đắm chìm trong những suy tư miên man, hãy chú tâm 100% vào hành động đó và biến nó thành một bài thiền tập.

THI KỆ THỰC TẬP CHÁNH NIỆM [2]

Thi kệ là những bài thơ ngắn mà chúng ta có thể sử dụng để đem năng lượng chánh niệm vào trong những sinh hoạt thường ngày. Ta đọc thầm bài kệ trong khi thở vào, thở ra. Thở vào, ta đọc một câu; thở ra, ta đọc câu kế tiếp. Chúng ta có thể sáng tạo và tự làm ra những bài kệ để thực tập chánh niệm với những công việc mà ta muốn.

Thức dậy

Thức dậy miệng mỉm cười

Hăm bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời.

Sửa bài cho học sinh

Sửa bài cho các em

Tiếp xúc tâm học hỏi

Nguyện khéo léo chỉ bày

Với tất cả thương yêu.

THỰC TẬP NỤ CƯỜI HÀM TIẾU

Nụ cười rất quan trọng, chúng ta chớ quên mỉm cười nhé. Nụ cười của ta có khả năng mang lại rất nhiều niềm vui và thư giãn cho chính bản thân cũng như cho những người xung quanh. Cười là một phương pháp yoga miệng. Khi cười, hàng trăm bắp thịt trên gương mặt được buông thư, làm tiêu tan mọi căng thẳng. Ai nhìn thấy ta cười, kể cả một người lạ, cũng muốn mỉm cười đáp lại. Bằng nụ cười, ta khiến cho những ai tiếp xúc với ta cũng cảm nhận được niềm vui, đó là một thứ phản ứng dây chuyền cực kỳ mầu nhiệm. Nụ cười thực sự là đại sứ của thiện chí. Khi mỉm cười, chúng ta có thể thở vào, thở ra vài lần.

Thở vào, tôi mỉm cười

Thở ra, tôi thư giãn và cảm nhận niềm vui trong tôi.

NGÀY LÀM BIẾNG

Tại các trung tâm thực tập của Làng Mai trên khắp thế giới đều có ngày Làm biếng mỗi tuần. Trong ngày Làm biếng, ngoài các bữa ăn ra thì không có sinh hoạt gì. Nếu chúng ta biết sống sâu sắc, thì ngày làm biếng là một ngày rất tuyệt vời. Làm biếng không có nghĩa là không thực tập gì, mà làm biếng có nghĩa là tự mình thực tập. Trong ngày Làm biếng, không có chuông gọi mình đi sinh hoạt, ai cũng được tự do làm những gì mình thích, muốn ngủ thì ngủ, muốn đọc sách thì đọc sách. Ngày làm biếng là một ngày thiêng liêng, cũng tương tự như ngày Sabbath (ngày nghỉ ngơi) trong các truyền thống khác. Trong ngày này, chúng ta phải làm biếng càng nhiều càng tốt. Làm biếng tưởng vậy mà không dễ đâu nhé, vì chúng ta có thói quen phải động chân, động tay làm một việc gì đó mới chịu nổi.

Nếu thích, chúng ta có thể ngồi chơi trên võng, thiền hành hay ngồi thiền một mình hoặc đi dã ngoại. Tắt hết điện thoại và máy vi tính, hãy dành cho mình một ngày trọn vẹn để làm những điều mà ngày thường mình không thể, ví dụ như đi bộ một vòng dài, làm thơ, thưởng thức một ấm trà và ngắm trời xanh mây trắng hay ngồi chơi, có mặt trọn vẹn cho một người bạn. Làm gì cũng được, miễn là chúng ta làm trong chánh niệm, bởi chánh niệm giúp ta thưởng thức những gì mình làm một cách sâu sắc nhất.

Thực ra, làm biếng – không làm gì hết, chỉ thưởng thức sự có mặt của chính mình và những gì đang có mặt xung quanh, là một thực tập rất sâu sắc. Bởi vì luôn có một nguồn năng lượng bên trong thúc đẩy chúng ta phải làm cái này, phải làm cái kia. Ta không thể ngồi yên hoặc nằm yên để thưởng thức sự có mặt của chính mình hay để ngắm trời mây. Nếu không làm một cái gì đó thì ta chịu không nổi. Chúng ta cần thực tập để chuyển hóa thói quen này. Nếu chúng ta thực tập thành công thì ngày làm biếng trở nên giá trị vô cùng. Trong trường hợp ta không thể có được trọn vẹn một ngày làm biếng thì có thể dành ra nửa ngày, thậm chí một vài giờ đồng hồ trong tuần cũng là quý rồi.

Bước thứ hai: Chăm sóc các mối quan hệ giữa mình và mọi người

Sau vài tuần thực tập chăm sóc cho bản thân, chúng ta bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn. Khi đó, ta có thể thực hiện bước tiếp theo là thực tập chăm sóc cho vợ/chồng, con cái, bạn bè và đồng nghiệp của mình. Chúng ta chỉ có thể giúp cho người thương của ta bớt khổ khi ta đã biết chăm sóc cho bản thân mình.

Khi đã biết chăm sóc cho chính mình rồi, chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng hơn nỗi khổ, niềm đau của những người mình thương. Người thương của ta đang có những khó khăn riêng. Giúp đỡ vợ/chồng, con cái, bạn bè và đồng nghiệp đi qua khó khăn, khổ đau cũng là cơ hội để rèn luyện thêm cho chúng ta.

Nhiều người trong chúng ta đã đánh mất khả năng lắng nghe và sử dụng ái ngữ. Chúng ta cảm thấy cô đơn, lạc lõng ngay trong chính gia đình mình. Khi truyền thông bị cắt đứt hay bị bế tắc, chúng ta khổ đau. Khi không có ai lắng nghe và hiểu ta, ta sẽ trở thành trái bom sắp nổ. Lắng nghe với tâm từ bi mang đến cho ta nhiều trị liệu. Đôi khi, chỉ cần mười phút lắng nghe sâu là chúng ta có thể được chuyển hóa và có lại nụ cười trên môi.

Chúng ta cũng cần tập nói những lời từ ái (ái ngữ) để đem lại hòa điệu, thương yêu và hạnh phúc cho mọi người. Chúng ta đã đánh mất khả năng nói chuyện nhã nhặn, ôn hòa. Chúng ta dễ cáu kỉnh, bực bội. Có thể cả ta và vợ/ chồng hay người bạn thân của ta đều đã chịu nhiều khổ đau trong những năm qua. Cả hai bên dường như không còn khả năng lắng nghe nhau một cách sâu sắc. Vì có quá nhiều khổ đau, tổn thương và bạo động trong lòng, ta khó lắng nghe người kia với sự cảm thông và kiên nhẫn. Cái khối khổ đau quá lớn, cho nên dù rất muốn nói những lời yêu thương với người kia, ta cũng không làm được. Ta muốn nói chuyện với người kia một cách bình tĩnh, nhưng khi bắt đầu nói những điều trong lòng mình thì lời nói của ta lại chứa đầy cay đắng và phán xét, khiến cho người kia không thể tiếp tục lắng nghe. Vì vậy, chúng ta rất cần học cách lắng nghe như thế nào để giữ được sự bình tĩnh và lòng cảm thông, cũng như học cách nói những lời nhẹ nhàng, thương yêu. Đây là hai công cụ thiết yếu giúp chúng ta tái lập truyền thông.

Chúng ta cần thực tập hơi thở chánh niệm và nhìn sâu vào tình trạng để thấy rằng ta cũng góp phần tạo nên tình trạng khó khăn đó. Sau khi đã làm được như vậy, ta có thể đến với người kia. Bằng sự có mặt trọn vẹn và chân thành của mình, hãy dùng lời từ ái để nói với người ấy. Ví dụ người đó là người bạn đời của mình, ta có thể nói: “Anh biết là em đã đau khổ nhiều trong thời gian qua và anh thấy mình có một phần trách nhiệm. Anh đã không hiểu hết những khổ đau của em mà lại còn nói năng và hành xử không đúng cách. Chỉ vì anh không khéo léo, chứ thật tình anh không muốn làm em khổ. Anh chỉ muốn mang lại niềm vui cho em, nhưng vì chưa hiểu được hết những khó khăn của em nên anh đã làm cho em khổ thêm. Anh thật sự muốn lắng nghe nỗi lòng của em. Em hãy nói cho anh biết những đau khổ, khó khăn cũng như những ước mong sâu kín nhất của em. Xin hãy cho anh cơ hội để hiểu em, để chúng ta có thể trở lại cuộc sống hạnh phúc như xưa.” Nếu bạn có thể nói những lời như vậy thì trái tim của người kia sẽ từ từ mở ra.

Khi người kia mở lòng chia sẻ, hãy tự nhủ lòng rằng mục đích duy nhất của ta là lắng nghe để người kia bớt khổ, để người kia có cơ hội nói ra hết những khổ đau, uất ức trong lòng. Dù người ấy có nói gì đi nữa thì bạn vẫn cứ lắng nghe. Trong một mối quan hệ, chúng ta có thể có những tri giác sai lầm về nhau. Khi lắng nghe người kia chia sẻ, ta có thể nhận ra người kia có những tri giác sai lầm như thế nào về ta và chính ta cũng có những tri giác sai lầm về họ. Hãy đừng vội phản ứng. Vài ngày hoặc vài tuần sau, bạn có thể cung cấp thông tin để người kia thay đổi tri giác của họ, nhưng không phải là bây giờ. Nên nhớ là đừng chia sẻ quá nhiều một lúc, vì người kia có thể không tiếp thu hết được. Hãy chia sẻ từng chút một để họ có thể tiếp nhận và chỉnh sửa quan niệm sai lầm của mình.

Ngay cả khi trong lời nói của người kia chứa đầy cay đắng, phán xét và những tri giác sai lầm, bạn vẫn chăm chú lắng nghe. Giữ cho lòng từ bi có mặt trong suốt thời gian lắng nghe là một nghệ thuật. Để làm được điều đó, ta cần nhớ thực tập hơi thở chánh niệm. Một giờ thực tập lắng nghe có thể giúp cho người kia bớt khổ rất nhiều. Lòng từ bi bảo vệ cho ta, không để cho hạt giống bực bội, nóng giận trong ta bị tưới tẩm trong khi nghe người kia chia sẻ. Ta lắng nghe như một vị Bồ tát Đại bi. Bồ tát Đại bi không phải ở trên trời, Bồ tát Đại bi có mặt trong từng tế bào của cơ thể ta. Nếu ta biết cách tiếp xúc với năng lượng của Bồ tát thì Bồ tát sẽ hiển lộ và có mặt trong trái tim ta suốt thời gian thực tập lắng nghe sâu.

Khi chúng ta đặt trọn tâm ý để lắng nghe, chúng ta có thể lắng nghe tốt hơn cả một nhà tâm lý trị liệu. Nếu người thương của ta đang đau khổ thì ta không thể nào vui được, do đó, ta phải đầu tư hết một trăm phần trăm bản thân vào sự thực tập lắng nghe sâu. Hãy giữ cho lòng từ bi có mặt trong suốt thời gian lắng nghe. Nếu chúng ta cảm thấy những điều đang nghe quá sức chịu đựng thì cũng không nên ép bản thân. Chúng ta có thể nói cho người kia, “Em ơi! Hôm nay anh không được khỏe, ngày khác mình sẽ tiếp tục ngồi với nhau để anh có thể lắng nghe em trọn vẹn hơn nhé”. Sau đó, ta có thể đi ra ngoài và thực tập thiền hành để có thêm năng lượng.

Trong các mối quan hệ của mình, nếu không có chánh niệm, chúng ta có thể nói hoặc làm những điều gây khổ đau cho nhau. Có thể đó chỉ là một tổn thương nhỏ mà ta nghĩ chẳng đáng nói đến, nhưng suy nghĩ này vô cùng nguy hiểm. Ngày qua ngày, nỗi đau lớn dần lên, rồi đến một ngày kia bạn không thể vui vẻ nhìn người thương của mình nữa. Khi mới thương nhau, người ấy dễ thương quá chừng, bạn muốn được nhìn thấy người thương mỗi ngày. Chỉ cần nhìn thấy người ấy thôi bạn đã sung sướng biết nhường nào. Nhưng bây giờ bạn không còn muốn nhìn thấy người ấy nữa, không còn cảm thấy hạnh phúc với người ấy nữa. Thay vì nhìn nhau thì hai người nhìn về hướng cái ti-vi. Đó là một thất bại. Nhưng chúng ta luôn có thể làm gì đó để giúp nhau tìm lại tình yêu ban đầu.

Cách hay nhất để khuyến khích người khác thực tập ái ngữ là bạn hãy tự thực hành trước tiên. Khi nói lời yêu thương thì chính bạn là người cảm nhận được lợi lạc và niềm hạnh phúc, rồi từ từ người kia sẽ nhận ra sức mạnh và hiệu quả của sự thực tập này.

Khi đối mặt với tình trạng áp bức và bất công, chúng ta vẫn có thể sử dụng ái ngữ, bởi vì đó là thứ ngôn ngữ duy nhất có thể đi vào trái tim người khác. Nếu bạn lăng mạ, chỉ trích, lên án người khác thì họ sẽ không lắng nghe bạn nữa. Bạn hao tâm tổn sức mà lại chẳng đi đến đâu.

Chỉ khi nào chúng ta chuyển hóa thành công những năng lượng đau buồn, giận hờn, sợ hãi trong tự thân, ta mới có thể giúp được cho người mình thương. Trong quá khứ có thể bạn đã từng thử và thất bại, vì bạn chưa thật sự chuyển hóa trong tự thân. Giờ đây, khi đã thay đổi bản thân, bạn có thể gây cảm hứng cho người kia và giúp người kia cũng làm được như vậy. Mỗi khi về nhà hoặc gặp bạn bè, bạn có thể chia sẻ với họ niềm vui cũng như những khó khăn trong việc giáo dục. Người kia sẽ là người hỗ trợ, khuyến khích và nâng đỡ tinh thần trong công việc làm giáo dục của bạn.

THỰC TẬP LÀM MỚI

Làm mới là thành thật nhìn sâu vào bản thân mình, vào lời nói, hành động và suy nghĩ của mình trong quá khứ để tạo ra một khởi đầu mới cho bản thân cũng như cho mối quan hệ giữa mình và người khác. Chúng ta thực tập Làm mới để dọn sạch tâm trí mình và giữ cho mối quan hệ giữa mình và mọi người luôn tươi mới. Khi khó khăn bắt đầu nảy sinh trong mối quan hệ, khi một trong hai bên cảm thấy bị tổn thương hay buồn giận về nhau, ta biết đó là lúc ta cần thực tập Làm mới.

Sự thực tập Làm mới giúp ta biết lắng nghe với tâm thương yêu và nói năng bằng lời hòa ái. Trong sự thực tập này, chúng ta học cách công nhận và trân quý những yếu tố tích cực của mỗi cá nhân trong đoàn thể hay cộng đồng mà mình đang sống. Công nhận những điểm tốt đẹp nơi người khác sẽ giúp ta biết công nhận những điểm tốt đẹp của bản thân. Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp, ai trong chúng ta cũng còn có những phần yếu kém, ví dụ như khi giận, ta vẫn nói năng lớn tiếng hoặc ta vẫn còn mắc kẹt bởi những tri giác sai lầm của mình… Cũng giống như trong một khu vườn, khi ta tưới tẩm và chăm sóc cho những bông hoa thương yêu, tha thứ thì đồng thời những loài cỏ dại của hờn giận, ghen tị và hiểu lầm sẽ tự động giảm đi.

Chúng ta có thể thực tập Làm mới mỗi tuần. Nếu muốn, ta có thể chuẩn bị một bình hoa tươi và đặt ở trước mặt để nhắc nhở cho chúng ta về sự tươi mát có trong mỗi người. Sự thực tập gồm có ba phần: tưới hoa, thể hiện sự hối tiếc và nói lên nỗi thương tổn cùng những khó khăn của mình. Sự thực tập này giúp ta không để cho những tổn thương chất chồng hết ngày này qua tháng nọ và giúp cho sự truyền thông giữa mọi người trong đoàn thể hay cộng đồng trở nên dễ dàng hơn.

  1. Ta bắt đầu bằng sự thực tập Tưới hoa

Khi nói, ta nói làm sao để lời nói của ta thể hiện được sự tươi mát như những bông hoa đang ở trước mặt ta. Trong khi “tưới hoa”, ta cần công nhận những phẩm chất tốt đẹp của người kia, đó không phải là sự tâng bốc hay nịnh bợ, chúng ta chỉ nói sự thật mà thôi. Mỗi người trong chúng ta đều có những điểm tốt đẹp mà nếu để ý ta có thể nhận ra ngay. Một điều quan trọng nữa là trong khi một người chia sẻ, ta không ngắt lời. Ta cho người đó đủ thời gian để chia sẻ hết những gì họ muốn nói. Trong thời gian người đó chia sẻ, ta cũng như những người khác có mặt đều thực tập lắng nghe sâu.

Chúng ta không nên đánh giá thấp bước thực tập đầu tiên này. Một khi chúng ta có thể chân thành công nhận những phẩm chất tốt đẹp nơi người khác, ta sẽ dễ dàng ôm ấp nỗi buồn giận trong lòng. Tự nhiên ta thấy lòng mình dịu lại và cách nhìn của ta về người kia sẽ thông thoáng hơn, bao dung hơn. Chúng ta không còn bị kẹt cứng trong những tri giác sai lầm, bực bội và phán xét của chính mình, từ đó chúng ta dễ dàng tìm ra phương cách để hòa giải.

Bản chất của sự thực tập này chính là khôi phục lại tình thương và sự thấu hiểu giữa ta và các thành viên khác trong gia đình, trong đoàn thể. Về hình thức thực tập, chúng ta nên áp dụng sự thực tập này sao cho thích hợp với hoàn cảnh và những người liên quan. Sẽ rất hữu ích nếu ta tham khảo thêm ý kiến của những người có kinh nghiệm trong sự thực tập này và đã từng trải qua những khó khăn tương tự để học hỏi từ trải nghiệm của họ.

  1. Bước thứ hai: Ta tỏ lòng hối lỗi về những tổn thương đã gây ra cho người khác

Chỉ một lời nói thiếu suy nghĩ thôi cũng đủ làm tổn thương người khác rồi. Sự thực tập Làm mới là cơ hội để cho ta hối lỗi về những vụng dại đã gây ra và tìm cách sửa chữa những lỗi lầm đó.

  1. Bước thứ ba: Chúng ta nói lên niềm đau, nỗi thương tổn trong lòng ta

Điều quan trọng là chúng ta nên chia sẻ bằng lời hòa ái. Ta muốn hàn gắn mối quan hệ của mình chứ không muốn làm tổn thương người kia. Do đó, chúng ta chia sẻ một cách chân thành, thẳng thắn, nhưng mang tính xây dựng mà không phải là để gây đổ vỡ. Lắng nghe sâu là một phần rất quan trọng của sự thực tập Làm mới. Khi ngồi giữa những người bạn đang lắng nghe sâu sắc, lời nói của ta sẽ dễ thương và có tính xây dựng hơn. Chúng ta nên tránh đổ lỗi hay tranh cãi trong khi Làm mới.

Trong phần này, lắng nghe với tâm thương yêu là điều vô cùng quan trọng. Chúng ta lắng nghe với mục đích duy nhất là giúp cho người kia nói ra được những nỗi khổ, niềm đau trong lòng họ, chứ không phải là để phán xét hay phản ứng. Dù có thể những điều người kia nói không phù hợp với sự thật, chúng ta vẫn tiếp tục lắng nghe để người kia có thể trút hết khổ đau và giải tỏa những căng thẳng trong lòng. Nếu chúng ta phản ứng hay tìm cách chỉnh lời của người ấy thì buổi Làm mới sẽ không thành công. Chúng ta chỉ cần lắng nghe thôi. Nếu cần nói cho người kia biết về những tri giác sai lầm của người ấy, chúng ta có thể làm điều đó sau vài ngày, một cách khéo léo và nhẹ nhàng. Trong buổi Làm mới tiếp theo, có thể người kia sẽ tự thừa nhận lỗi ấy và ta không cần phải nói gì nữa. Ta có thể mời mọi người cùng thở với nhau một vài phút hoặc hát chung với nhau một bài hát để kết thúc buổi thực tập Làm mới.

HIỆP ƯỚC SỐNG CHUNG AN LẠC

Giả sử một người mà ta yêu mến nói những lời không hay với ta và ta cảm thấy bị tổn thương. Nếu ta phản ứng ngay lúc đó thì có nguy cơ làm cho tình trạng trở nên tồi tệ hơn. Có một cách hành xử khác, đó là ta dừng lại và theo dõi hơi thở vào, ra để làm lắng dịu thân tâm. Khi đã có đủ bình an trong tâm, ta mới nói với người kia: “Này em, điều mà em vừa nói thực sự làm cho anh tổn thương. Anh muốn nhìn sâu vào gốc rễ của vấn đề này và anh muốn em cùng thực tập với anh. Chúng ta có thể ngồi lại với nhau sau vài ngày nữa để nhìn về chuyện này.” Một trong hai người biết nhìn sâu vào gốc rễ của khó khăn là rất hay, nếu cả hai người cùng nhìn sâu lại càng hay hơn.

Có thể chúng ta đang “gây chiến” với chính mình, tự hủy hoại thân thể mình bằng rượu chè hoặc ma túy. Giờ đây, ta có cơ hội ký kết một bản hiệp ước sống chung an lạc với chính cơ thể và cảm xúc của mình. Một khi chúng ta có khả năng sống chung an lạc với chính bản thân, chúng ta sẽ có bình an và từ đó chúng ta có thể bắt đầu hòa giải với những người mà ta thương yêu. Nếu trong tâm còn chiến tranh thì chúng ta sẽ dễ dàng gây chiến với người mà mình thương yêu, chưa kể đến kẻ thù. Nếu vậy thì làm sao chúng ta có thể hy vọng về hòa bình trong các mối quan hệ, hòa bình cho đất nước và cho thế giới này?

Ai trong chúng ta cũng có hạt giống của tuệ giác. Chúng ta biết rằng trừng phạt sẽ không đưa tới đâu, vậy mà chúng ta vẫn muốn trừng phạt người kia. Khi người ta yêu mến nói hoặc làm điều gì đó khiến ta đau khổ, ta muốn trừng phạt họ. Ta tưởng rằng trừng phạt người kia thì ta sẽ bớt khổ nhưng kỳ thực khi đủ sáng suốt, ta thấy rõ rằng đó chỉ là một nhận thức ngây thơ, khờ dại. Khi ta làm cho người mình yêu thương đau khổ, có thể họ cũng sẽ quay lại trừng phạt ta, cứ như vậy sự trừng phạt ngày càng leo thang.

Theo Hiệp ước sống chung an lạc, bạn có thể chọn bất kỳ ngày nào trong tuần để ngồi lại với người kia, cùng nhìn sâu vào khó khăn của hai bên, nhưng nếu có thể thì hãy chọn tối thứ Sáu. Chúng ta chọn tối thứ Sáu để có thêm thời gian nhìn sâu và chăm sóc cho những tổn thương của mình. Nếu chúng ta còn tổn thương mà lại vội vàng thực tập Làm mới thì chúng ta có thể nói hoặc làm những điều gây đổ vỡ, khiến tình trạng nặng nề hơn. Cho đến tối thứ Sáu, bạn có thể thực tập nhìn sâu vào gốc rễ của khổ đau trong mình và người kia cũng vậy. Rất có thể, trước ngày thứ Sáu, một trong hai người hoặc cả hai đều đã nhìn thấy được gốc rễ của vấn đề và có khả năng tìm đến người kia để nói lời xin lỗi. Trong trường hợp đó, đến tối thứ Sáu, các bạn chỉ cần đơn giản uống với nhau ly trà và tận hưởng sự có mặt của nhau là đủ. Đó là thiền tập. Thiền là sự thực tập làm lắng dịu thân tâm và nhìn sâu vào bản chất của khổ đau.

Nếu đến tối thứ Sáu rồi mà nỗi khổ đau của bạn và người kia vẫn chưa chuyển hóa thì hãy thực tập hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Thế Âm: một người chia sẻ, bộc bạch hết nỗi lòng mình và người kia thực tập lắng nghe sâu. Khi chia sẻ, ta có thể nói hết những gì trong lòng mình nhưng hãy sử dụng lời nói hòa ái, lời nói mà người kia có thể thấu hiểu và chấp nhận. Trong khi lắng nghe, ta ý thức rằng sự lắng nghe của ta phải có phẩm chất mới có thể giúp người kia bớt khổ. Khi mọi mâu thuẫn đã được giải tỏa trong tối thứ Sáu rồi, các bạn sẽ có được ngày thứ Bảy và Chủ nhật để vui vẻ bên nhau.

Hiệp ước sống chung an lạc là phương tiện giúp chúng ta chăm sóc cơn giận và trị liệu những thương tổn trong mối quan hệ giữa mình và những người mà mình yêu thương. Khi ký hiệp ước này, ta không chỉ cam kết sống chung an lạc với người khác mà còn cam kết sống chung an lạc với chính bản thân mình. Ta không nhất thiết phải yêu cầu người kia ký vào thì bản hiệp ước mới có hiệu lực. Chỉ cần một trong hai người bắt đầu thực tập theo những điều đó thì tình trạng đã thay đổi rất nhiều rồi. Trong một số khóa tu, chúng tôi có tổ chức một buổi lễ đặc biệt để các cặp vợ chồng cùng nhau ký vào bản hiệp ước trước sự chứng minh và yểm trợ của cả tăng thân.

Chỉ đọc bản Hiệp ước thôi là chưa đủ. Bạn hãy cố gắng ký vào bản Hiệp ước đó trước sự chứng kiến của người khác, hoặc trước sự hiện diện của gia đình và cộng đồng. Điều này củng cố cam kết của bạn và giúp bạn có thêm sự yểm trợ của nhiều người. Bản Hiệp ước sống chung an lạc được đăng trên trang nhà Làng Mai: https://langmai.org/tang-kinh- cac/tai-lieu/hiep-uoc-song-chung-an-lac/

VIẾT THƯ TÌNH

Nếu bạn gặp khó khăn với một ai đó, hãy dành một chút thời gian ngồi yên và viết cho người ấy một lá thư. Ta có thể viết thư cho một người mà ta gặp hàng ngày hoặc một người đã nhiều năm không gặp. Nhiều người thấy sự thực tập này cũng rất hữu ích khi viết thư cho một người thân đã khuất. Sự hòa giải là món quà tuyệt vời mà ta hiến tặng cho chính bản thân, cho người mình yêu thương cũng như cho ông bà, tổ tiên. Chúng ta hòa giải với mẹ trong ta, với cha trong ta, tha thứ và chấp nhận cha mẹ như chính con người thật của cha mẹ. Nếu ta cảm thấy khó khăn thì bài thực tập viết thư này sẽ giúp ta khám phá ra những phương cách khéo léo để hòa giải với cha mẹ. Mang lại niềm bình an và trị liệu cho gia đình huyết thống là việc rất quan trọng, chuyện ấy không bao giờ là quá trễ.

Bạn hãy dành ít nhất là vài giờ để viết một lá thư cho người mà mình thương yêu. Trong khi viết, bạn hãy thực tập nhìn sâu vào bản chất của mối liên hệ giữa mình và người ấy. Tại sao sự truyền thông giữa bạn và người ấy lại trở nên khó khăn? Tại sao bạn không hạnh phúc khi sống với người ấy?

Trong lá thư, bạn có thể:

  1. Nhận diện nỗi khổ của người kia
  2. Nhận diện phần lỗi của mình trong khổ đau của người kia
  3. Xin người kia giúp mình
  4. Nhận thấy rằng mình không thể hạnh phúc nếu người kia không hạnh phúc
  5. Cam kết sẽ không gây khổ đau cho người kia nữa

Viết một lá thư tình, không có nghĩa là chúng ta không thể nói lên sự thật. Chúng ta có thể nói lên sự thật nhưng chúng ta nói bằng lời yêu thương. Trước khi viết thư, chúng ta phải thực tập nhìn sâu vào tâm thức của mình, nhìn sâu vào tâm thức người kia để thấy được khổ đau và khó khăn của họ. Nếu người kia thấy rằng bạn có thể hiểu những khổ đau và khó khăn của họ thì họ mới chịu đọc lá thư của bạn. Là con người, ai cũng thích đọc thư tình, không ai ghét thư tình cả. Bằng những lời yêu thương, chúng ta sẽ có thể truyền đạt được cho người kia tuệ giác cùng những ý kiến của mình.

Tôi có một vị đệ tử xuất gia. Ba của sư chú muốn con trai mình trở thành một bác sĩ, có thể kiếm ra tiền và nuôi sống gia đình. Việc sư chú đi xuất gia làm cho ba rất giận. Nhưng sư chú lại thấy rằng, làm một người xuất gia, sư chú có thể giúp được nhiều người hơn là làm một bác sĩ. Người ba giận đến nỗi không thèm nghe điện thoại hay trả lời bất cứ một lá thư nào mà sư chú gửi về.

Hôm đó tôi đã gợi ý vài lời cho sư chú viết trong lá thư. Sư chú đã viết: “Thưa ba, sống trong tăng thân, các anh em của con vẫn thường hay khen con có tính kiên trì, cẩn trọng và nói năng hòa ái. Lúc đầu, con không tin đó là sự thật, nhưng các anh em cứ nhắc đi nhắc lại hoài, rồi dần dà con cũng tin đó là sự thật. Nhìn cho sâu, thì con nhận ra rằng những đức tính tốt đẹp đó là do ba đã trao truyền cho con. Nếu không có ba, làm sao con có được những đức tính tốt đẹp đó? Con biết ơn ba mẹ và tổ tiên rất nhiều. Nhờ có ông bà, tổ tiên và ba mẹ trao truyền cho con những đức tính tốt đẹp đó mà các anh chị em trong gia đình tâm linh đã thương yêu và trân trọng con. Con viết lá thư này là để bày tỏ lòng biết ơn đến ba và ông bà, tổ tiên. Bây giờ, con rất muốn hiểu nhiều hơn về tổ tiên của mình. Ba kể cho con nghe về ông bà nội của con đi ba. Ba kể cho con nghe để con hiểu thêm về gốc rễ của mình, ba nhé!”

Sau khi đọc lá thư đó, ba của sư chú đã hồi đáp mười trang thư và tình cảm cha con đã được hàn gắn. Một lá thư có thể tạo ra phép lạ. Sự thực tập ái ngữ rất mầu nhiệm, nó đánh động vào trái tim của người kia, mang lại sự hòa hợp và xóa tan hiểu lầm. Chỉ cần thực tập ái ngữ trong vòng vài phút, bạn đã gặt hái được kết quả rồi.

Bước thứ ba: Chia sẻ sự thực tập chánh niệm cho cộng đồng

Khi chúng ta đã biết cách chăm sóc cho bản thân và giúp cho người thân cũng như đồng nghiệp của mình làm được như vậy thì chúng ta có thể tìm cách đưa sự thực tập chánh niệm vào trường học. Điều này cần được thực hiện với sự yểm trợ của bạn bè hoặc đồng nghiệp, ta không thể làm một mình. Với chánh niệm, chúng ta có thể nhận diện và học cách chăm sóc những khổ đau của học trò và đồng nghiệp. Chúng ta cần lắng nghe học trò hay đồng nghiệp của mình, rồi giúp họ học cách lắng nghe người khác sâu sắc hơn. Thực tập ái ngữ và lắng nghe sâu sẽ giúp chúng ta tái lập được truyền thông trong trường học và mối truyền thông tốt này sẽ nâng cao chất lượng dạy và học của cả trường. Khi trường học của chúng ta có hạnh phúc thì chúng ta mới chia sẻ được hoa trái này với những tập thể khác trong ngành giáo dục. Chỉ khi nào chúng ta thành công trong trường học của mình thì mới có thể giúp được cho hệ thống giáo dục trên cả nước.

Trong trường học, chúng ta cũng cần xây dựng một cộng đồng (hay tăng thân) các nhà giáo. Vị hiệu trưởng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức trường học như thế nào mà mọi người có thể đến với nhau thường xuyên để học hỏi và nâng đỡ nhau. Lập một tăng thân các nhà giáo là điều rất cần thiết vì theo kinh nghiệm của tôi thì khi thực tập chung với nhau, chúng ta sẽ có nhiều vững chãi, nhiều tự do và hạnh phúc hơn. Đây là nền tảng của công việc mà chúng ta muốn thực hiện. Ai cũng cần có tăng thân để được nuôi dưỡng và duy trì sự thực tập của mình. Mỗi ngày, chúng ta được nuôi dưỡng và trị liệu nhờ vào sự thực tập của cá nhân và của tăng thân.

Chúng ta thực tập không chỉ cho riêng bản thân ta mà còn để giúp cho những người khác trong tăng thân tìm lại được sự tươi mát và vững chãi của họ. Chúng ta phải biết giới hạn của mình, đừng nhận lãnh trách nhiệm quá khả năng cho phép. Dù nhu cầu từ bên ngoài rất lớn, chúng ta phải biết giữ gìn năng lượng cho bản thân. Chúng ta cần thời gian để tự nuôi dưỡng và phục hồi.

Nếu muốn đi đường dài, chúng ta cần phải biết chăm sóc bản thân. Đôi khi vì hoàn cảnh đòi hỏi, chúng ta dễ dàng đánh mất mình trong công việc. Nhưng khi chúng ta đánh mất mình, chúng ta bị kiệt sức, thì ta chẳng giúp được cho ai và những người đang cần đến sự giúp đỡ của ta sẽ khốn đốn. Vấn đề không phải là chúng ta làm được bao nhiêu, mà là chúng ta có thể tiếp tục làm những việc ấy đều đặn mỗi ngày hay không?

Nếu không có hạnh phúc và vững chãi nhờ sự thực tập thì ta chẳng có gì để hiến tặng cho người khác. Điều này không đơn thuần là chuyện làm việc (doing) hay hành động (acting), mà chính là phẩm chất của sự có mặt (being). Nếu muốn đem lại bình an cho một ai đó thì trước tiên ta phải có bình an trong ta. Nếu trong ta không có đủ bình an thì những gì ta làm cũng sẽ không có năng lượng bình an trong đó. Vì vậy, chế tác bình an trong tự thân là nền tảng để ta có thể làm những công việc cho hòa bình.

PHẦN VẤN ĐÁP VỚI GIÁO VIÊN

HỎI: Tôi có cảm tưởng trường học của chúng tôi đang chạy theo đường hướng làm càng nhiều càng tốt. Mặc dù đã thực hiện nhiều chương trình rất có giá trị nhưng trường vẫn tiếp tục đòi hỏi giáo viên và học sinh phải cố gắng làm nhiều hơn thế nữa. Dù biết rằng những chương trình trên đáng giá nhưng mọi người phải làm việc quá nhiều để thực hiện cho được nhiều chương trình như thế. Vì vậy, tôi đã đặt câu hỏi cho ban lãnh đạo về giá trị thực chất của những công việc mà chúng tôi đang theo đuổi. Tôi thấy chúng tôi cần thư giãn hơn, bình an hơn trong công việc giảng dạy thường nhật, nhưng dường như chỉ có mình tôi nhận thức như vậy. Tôi cũng sợ ban lãnh đạo trường cho rằng tôi là người ưa phàn nàn, ưa gây chuyện. Làm sao tôi có thể hòa giải được điều này trong lòng mình? Tôi nên im lặng và tiếp tục dấn thân vào vòng quay điên cuồng này? Nếu không bỏ công việc này, tôi phải thực tập thế nào để duy trì chánh niệm trong môi trường làm việc này?

THẦY: Cô có thể viết một lá thư cho hiệu trưởng và ban lãnh đạo của trường. Họ cũng có những khó khăn và khổ đau, vì vậy, ở đầu thư, cô nên nhận diện những khó khăn và khổ đau mà các vị ấy phải đối diện. Có thể chúng ta chưa nhìn thấy những khó khăn của các vị ấy. Có thể họ cũng bị cấp trên đòi hỏi. Có thể chúng ta có những tri giác sai lầm về ban lãnh đạo, do vậy, chúng ta không nên chắc mẩm rằng họ không có khó khăn, không có áp lực. Có thể họ đang có quá nhiều áp lực. Khi cô đã hiểu được hoàn cảnh của họ, những khó khăn, áp lực và khổ đau mà họ đang gặp phải, thì cô có thể viết một lá thư dễ thương mà không trách móc hay phán xét. Trong thư, cô có thể trình bày đầy đủ những cái thấy, những ý tưởng và nhu cầu của mình. Cô nên đưa lá thư đó cho vài đồng nghiệp khác để họ đóng góp thêm trước khi đệ trình lên ban lãnh đạo.

Chia sẻ của các giáo viên

CHÁNH NIỆM HÀNG NGÀY CHO GIÁO VIÊN

Tineke Spruytenburg, Hà Lan

Tôi là giáo viên dạy trẻ tự kỷ, học sinh của tôi từ 6 đến 7 tuổi. Đây là công việc thử thách nhất mà tôi từng đảm nhận. Nếu không duy trì việc thực tập chánh niệm mỗi ngày, tôi sẽ không thể nào làm nổi công việc này. Trước khi rời khỏi nhà, tôi ngồi thiền ít nhất 20 phút. Trên đường đến trường, tôi quán sát cái tâm rong ruổi, bận rộn của mình và đem tâm trở về với thân.

Chăm sóc cảm xúc của mình khi đang dạy trẻ là điều khó khăn nhất. Nhiều em phản ứng rất mạnh khi sợ hãi hoặc hoang mang mà không hề ý thức được hậu quả của nó. Tôi chẳng thể nào quên được lần đó, một bé trai 7 tuổi đá vào chân tôi một cú đau điếng và tôi phải đi gặp bác sĩ sau đó.

Nhìn lại sự việc hôm ấy, tôi thấy rằng cái chân tôi đau không phải vì sức mạnh của cú đá mà đau vì bị tổn thương tâm lí. Bây giờ, mỗi khi có sự việc tương tự xảy ra, tôi cho mình thời gian để thực tập. Nếu được, tôi sẽ rời khỏi phòng sinh hoạt và thực tập thiền hành ở hành lang hoặc vào nhà vệ sinh gần nhất để ngồi yên và theo dõi hơi thở trong vài phút.

Tâm lí sợ hãi, khó tập trung và không hiểu chuyện gì đang xảy ra là những khó khăn hàng ngày đối với trẻ tự kỉ. Tôi cho các em thực tập hơi thở chánh niệm vài lần trong tuần, thường là trước khi bắt đầu các bài tập vận động như yoga hoặc sau khi kết thúc. Tôi cũng hướng dẫn các em cách ăn cơm chánh niệm, dù không dùng chính xác tên gọi này, để giúp các em tập trung vào thức ăn. Chúng tôi ăn trong im lặng để các em có thể nghỉ ngơi sau khi đã tiếp nhận nhiều thông tin và sự kích thích qua các giác quan. Hầu hết các em thích những giây phút lắng dịu và yên ả này. Các em dễ dàng giữ yên lặng khi thấy tôi yên lặng. Chỉ cần tôi xao lãng và nhìn quanh hoặc làm việc gì khác thì ngay lập tức sự yên lặng bị phá vỡ.

Tôi còn hướng dẫn các em cách đi trong chánh niệm (thiền hành). Chúng tôi thực tập một vài phút trước khi bắt đầu một buổi học mới. Dù đã được hướng dẫn rõ ràng, cụ thể nhưng các em vẫn dễ bị chi phối bởi những gì diễn ra bên trong mình và xung quanh mình. Một hôm, tôi cho các em bài tập: “Từ đây ra tới cổng trường, các em hãy hoàn toàn chú ý đến sự chuyển động của bàn chân khi nhấc lên, đặt xuống đất rồi lại nhấc lên khi chuẩn bị bước tiếp theo. Không suy nghĩ về bất cứ điều gì, chỉ tập trung quan sát bước chân mình đi như thế nào thôi. Khi đến nơi, chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ về kinh nghiệm thực tập của mình.” Cả lớp hưởng ứng lời đề nghị của tôi. Khi đến nơi, một em trai chia sẻ rằng, em cảm thấy rất nhẹ nhàng, như thể em đang ăn một món gì đó bằng tất cả sự chú tâm. Một em khác chia sẻ rằng em sẽ tập thiền hành khi tâm em huyên náo. Những giây phút yên lặng như thế giúp cho trẻ em cũng như người lớn khôi phục lại được năng lượng, mang mọi người đến với nhau và tạo ra năng lượng tập trung cho cả nhóm.

Chia sẻ

XÂY DỰNG TĂNG THÂN Ở TRƯỜNG HỌC

Một giáo viên tại Đức

Khi vừa được học phương pháp thực tập chánh niệm tại Làng Mai năm 2005, tôi thấy sự thực tập này sẽ hỗ trợ rất lớn cho việc dạy học của mình (khi ấy tôi đang dạy ở một trường cấp ba). Nhưng tôi phải bắt đầu như thế nào đây? Thời gian đầu, tôi không đưa sự thực tập vào lớp học một cách rõ ràng, chính thức.

Dần dần, trong tôi bắt đầu có sự chuyển biến. Tôi tiếp nhận những đòi hỏi của công việc giảng dạy một cách nhẹ nhàng, tích cực mà không xem đó là một áp lực nặng nề như trước. Nếu có chuyện gì xảy ra không như kế hoạch đã định, tôi đã có một nơi để trở về nương tựa và tôi thường tự hỏi chính mình: Có cách hành xử nào đưa đến hiểu biết và thương yêu trong trường hợp này? Chẳng cần phải tranh đấu, chẳng cần phải điều khiển ai theo ý của mình, chẳng cần phải than trách về yếu kém của người khác – một cách hành xử khác với thói quen thông thường của tôi cũng như của những đồng nghiệp trong hệ thống giáo dục. Giờ đây, tôi đã có thể trở về với tự thân, thở và tự nhủ: “không sao hết, mình đã làm hết khả năng của mình. Mình cũng cần kiên nhẫn, cần hiểu và thương chính bản thân mình”.

Tôi đã đọc quyển Keeping the Peace: Mindfulness and Public Service (tạm dịch là Giữ gìn bình an: Chánh niệm và phụng sự xã hội), tôi không bao giờ quên một câu mà Thầy viết trong sách: “Nếu bạn muốn đem hoa trái của sự thực tập đến với nhiều người, bạn cần xây dựng tăng thân – đoàn thể gồm những đồng nghiệp có cùng ước muốn thực tập – để yểm trợ và nuôi dưỡng chí nguyện của bạn”.

Lúc đầu, tôi hơi e ngại khi chia sẻ với đồng nghiệp trong trường về con đường tâm linh của mình. Nhưng nhờ lời khích lệ của Thầy, tôi đã có thể nói ra. Mới đầu, tôi chia sẻ với mọi người rằng tôi đã đến với tăng thân và tham dự một khóa tu học. Mọi người có vẻ thích thú cho nên tôi chia sẻ thêm một chút về sự thực tập cũng như những lợi lạc mà tôi có được từ sự thực tập đó. Điều thú vị là không ai phản ứng tiêu cực với những gì tôi chia sẻ. Khi thấy các đồng nghiệp đều mở lòng tiếp nhận, tôi mời mọi người đến tham dự một buổi thực tập với tăng thân địa phương. Tôi đâu đã làm gì nhiều mà mọi chuyện vẫn diễn ra tốt đẹp. Tôi thấy đề nghị của Thầy có thể trở thành hiện thực.

Năm nay, tôi cùng ba đồng nghiệp tham dự khóa tu học dành cho giáo viên tại Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (gọi tắt là EIAB) tại thành phố Waldbröl, nước Đức. Sau khi trở về từ khóa tu, chúng tôi đã lập ra một tăng thân tại trường học. Đây là những gì chúng tôi đã và đang thực tập:

  • Cứ hai tuần một lần, chúng tôi gặp nhau khoảng 1 tiếng 15 phút. Chúng tôi ngồi thiền 10 đến 15 phút sau đó chia sẻ với nhau về những gì đang xảy ra trong cuộc sống của mình, về những khó khăn và những niềm vui trong việc giảng dạy ở trường. Cuối buổi chia sẻ, chúng tôi đưa ra một vài đề nghị thực tập cụ thể cho hai tuần kế tiếp, cũng như trao đổi những điều liên quan đến sinh hoạt của tăng thân. Chúng tôi hát chung với nhau vài bài thiền ca, thực tập tưới hoa và bày tỏ lòng cảm mến cho
  • Mỗi ngày ở trường, chúng tôi tập trung vào một bài thực tập khác nhau như: thở, thiền hành, ăn trong im lặng, mỉm cười hoặc thực tập chấp nhận. Trong ngày, chúng tôi chỉ cần nhìn nhau và biết rằng người bạn của mình đang thực tập, đó cũng đã là một lời nhắc nhở cho chúng tôi quay về với tự thân để duy trì chánh niệm.
  • Chúng tôi đặt một bình gốm trên bệ cửa sổ trong phòng giáo viên, mỗi người đóng góp vào đó một tấm thiệp nhỏ có ghi một bài thi kệ hoặc những câu trích dẫn đầy cảm hứng từ Thầy. Mỗi khi cần đến năng lượng yểm trợ của tăng thân, chúng tôi có thể lấy trong bình ra một tấm thiệp rồi đọc và chuyền cho nhau. Điều đó rất là đẹp!

Chúng tôi còn có một nguồn vui lớn khác nữa, đó là hệ thống đệ nhị thân (xem trang 165). Chúng tôi cố gắng nâng đỡ đệ nhị thân của mình bằng nụ cười, bằng sự thăm hỏi, có khi chúng tôi dán một thông điệp lên hộp thư của vị ấy hay đặt lên bàn của vị ấy một đóa hoa tươi. Chúng tôi thường chuyền cho nhau những gì chúng tôi nhận được, ai nấy đều phấn khởi, do đó năng lượng của tăng thân rất thông thoáng và trôi chảy. Khi giáo viên này áp dụng những phương pháp thực tập mới cho học sinh, các giáo viên khác được vui lây và nguồn cảm hứng lan tỏa khắp tăng thân. Chúng tôi thấy rằng, khi được tăng thân nâng đỡ thì mình sẽ trao truyền sự thực tập cho học sinh dễ dàng hơn.

[1] Để biết thêm nhiều bài thiền tập có hướng dẫn, vui lòng tham khảo tác phẩm Sen búp từng cánh hé của Thiền sư Thích Nhất Hạnh hoặc truy cập: https://langmai.org/thien-duong/sen-bup-tung-canh-he/thien-tap-co-huong-dan/

[2] Bạn có thể đọc thêm những bài thi kệ thực tập chánh niệm trong tác phẩm Từng bước nở hoa sen của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, hoặc xem tại đường link này: https://langmai.org/thien-duong/thi-ke/

Thực tập chánh niệm cùng trẻ em tại Làng Mai

“Tôi rất tin tưởng vào việc người trẻ có thể học được những điều không được dạy ở trường, như phương pháp thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm cũng như học cách nhìn sâu và chăm sóc cơn giận của mình.” – Thiền sư Thích Nhất Hạnh

HÀNG NĂM VÀO MÙA HÈ, có hàng trăm trẻ em đến Làng Mai – trung tâm thực tập chánh niệm của chúng tôi tại miền Tây Nam nước Pháp – để tham dự khóa tu dành cho gia đình. Các em đến từ hơn năm mươi quốc gia trên thế giới và nói nhiều ngôn ngữ khác nhau như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Do Thái… Các em chơi với nhau rất vui.

Tôi thích đi dạo với trẻ em (ở Làng Mai, chúng tôi có sự thực tập gọi là thiền đi hay thiền hành, nghĩa là đi trong chánh niệm). Giờ thiền hành nào các em cũng có mặt. Chúng tôi cùng nhau leo đồi, đi vào rừng và tận hưởng sự có mặt của nhau. Thiền hành được nửa đường, chúng tôi thường ngồi xuống và yên lặng tận hưởng vẻ đẹp của mùa hè. Các em luôn ngồi quanh tôi. Nhìn các em vui tươi, lắng dịu như vậy, tôi hạnh phúc lắm. Thiền hành là pháp môn tôi thích nhất, đặc biệt là khi có trẻ em đi cùng.

Điều đáng ngạc nhiên là trẻ em, ngay cả những em rất nhỏ, cũng thích tận hưởng sự yên lặng. Bởi đó không phải là một thứ im lặng nặng nề đáng sợ mà là một sự im lặng còn mạnh mẽ hơn cả lời nói. Ở Làng Mai, chúng tôi gọi đó là Im Lặng Hùng Tráng. Sự thực tập này có công năng nuôi dưỡng, trị liệu và mang lại sự bình an. Trẻ em cũng biết thiền hành trong im lặng, biết thưởng thức từng hơi thở chánh niệm. Chúng tôi cùng nhau chế tác năng lượng bình an và hạnh phúc. Không ai muốn xem ti-vi hay chơi điện tử cả và chúng tôi vẫn sống rất vui!

Các em thiếu nhi thích tới Làng không phải vì chúng tôi tổ chức giỏi. Không, chúng tôi không giỏi tổ chức đâu! Các em thích Làng là tại vì khi đến đây, các em được học về thiền hành, thiền tọa, tập thở trong chánh niệm. Cùng với nhau, chúng tôi chế tác năng lượng bình an, chánh niệm và vui tươi. Điều mà các em nhỏ được hưởng nhiều nhất khi đến Làng không phải là những bài pháp thoại hay những chương trình sinh hoạt mà chính là năng lượng tĩnh lặng, bình an của cả cộng đồng tu học nơi đây.

Phần chia sẻ

CẢ GIA ĐÌNH CÙNG THỰC TẬP CHÁNH NIỆM

Chia sẻ của sư cô Cúc Nghiêm, sư cô Anh Nghiêm, Làng Mai, nước Pháp

Tại Làng Mai, người lớn và trẻ em được học cách thực tập chung với nhau như một gia đình. Mọi sinh hoạt đều mở ra cho trẻ em, nhưng nếu thích thì các em có thể vui chơi ở bên ngoài. Ở Làng, chúng tôi không chỉ thực tập chánh niệm trong các sinh hoạt chính thức. Chúng tôi tạo ra nhiều phương tiện để giúp cho cả người lớn lẫn trẻ em thực tập dừng lại và trở về với giây phút hiện tại. Tại các trung tâm tu học của chúng tôi, chuông được thỉnh lên nhiều lần trong ngày và mỗi lần nghe chuông, mọi người có cơ hội dừng lại – dừng nói năng, dừng làm việc, dừng mọi sự di chuyển. Ngay cả các em nhỏ cũng học cách dừng lại khi nghe chuông, dù đang chạy nhảy và vui đùa với các bạn. Ai cũng quay về với hơi thở và đưa tâm về với thân trong giây phút hiện tại.

Khi người lớn dừng lại thì các em cũng theo đó mà dừng lại. Tất cả mọi người trong Làng đều dừng lại. Bạn hãy hình dung cảnh 500, 600 người cùng dừng lại để thở và buông thư cả thân tâm. Mọi người đều thực tập nên các em nhỏ dễ dàng hòa vào năng lượng thực tập ấy. Những giây phút như vậy diễn ra nhiều lần trong ngày và cứ như thế, sự thực tập chánh niệm trở nên rất đỗi tự nhiên, như không khí mà chúng ta thở và làm nên nếp sống của cộng đồng nơi đây.

Chúng tôi không hề có sự phân biệt giữa sự thực tập dành cho người lớn và sự thực tập dành cho trẻ em; bản chất của sự thực tập chánh niệm là như nhau đối với tất cả mọi người. Thông qua việc cùng nhau học hỏi và nuôi dưỡng năng lượng chánh niệm trong khóa tu, các gia đình có thể biết cách áp dụng sự thực tập vào đời sống hàng ngày ở tại nhà.

Tưới tẩm những hạt giống đẹp và lành

Trẻ em cũng có nhu yếu tâm linh. Các em hoàn toàn có khả năng học hỏi và lớn lên trong đời sống tâm linh ấy. Khi sự thực tập tâm linh được truyền đạt một cách đơn giản và dễ hiểu, các em sẽ nếm được niềm vui và cảm nhận được lợi ích của nó. Chương trình sinh hoạt dành cho thiếu nhi mà chúng tôi tổ chức tại các trung tâm thực tập chánh niệm của Làng Mai mang các em đến gần nhau hơn, tạo một cảm giác gắn kết và thân thiết hơn. Đó là nơi mà các em có thể cảm nhận được bầu không khí vui tươi và đầy tình thương, điều mà không phải lúc nào các em cũng có thể tìm thấy nơi trường lớp.

Đôi khi, có những bậc phụ huynh giao con cho chúng tôi như muốn nói, “Con tôi đây, thầy/sư cô chỉnh đốn nó giúp tôi với”. Nhưng chúng tôi không hề có ý định chỉnh đốn các em. Chúng tôi cho trẻ không gian để được là chính mình. Chúng tôi chia sẻ sự thực tập với các em, nhưng trên hết, chúng tôi cho phép các em được là chính mình. Khi cảm thấy chán, các em được học phương pháp thực tập như: “Thở vào, mình cảm thấy chán; Thở ra, cảm thấy chán cũng không sao hết”. Chúng tôi cho các em không gian để nhận biết những cảm xúc của mình và chấp nhận những cảm xúc đó như nó đang là.

Mục đích của chương trình sinh hoạt dành cho thiếu nhi là chăm sóc, chia sẻ và giúp các em gắn kết với nhau dựa trên chánh niệm, trí tuệ và tình thương.

Căn phòng bình yên: Thiết lập không gian sinh hoạt dành riêng cho các em

Khi đến một nơi, ta cảm thấy yêu thích nơi đó hay không tùy thuộc rất nhiều vào năng lượng mà nơi đó tạo ra. Có những căn phòng được trang trí rất đẹp nhưng không cho ta cảm giác gần gũi, ấm cúng. Nhưng lại có những căn phòng thiếu màu sắc, ít đồ đạc nhưng lại thông thoáng và giản dị, tạo cho ta cảm giác dễ chịu. Chúng ta có thể cùng các em thiết lập và trang trí một không gian sinh hoạt mà các em yêu thích. Làm sao để cho căn phòng đó thực sự là một nơi nương náu cho các em cũng như những người chăm sóc các em. Bất cứ lúc nào, các em đều có thể đến đó, ngay cả ngoài giờ sinh hoạt chính thức. Trong căn phòng đó, chúng ta có đầy đủ những dụng cụ, vật liệu để hướng dẫn cho các em vẽ, làm thủ công, chơi trò chơi hay kể chuyện cho các em nghe. Và thêm một yếu tố vô cùng quan trọng mà chúng ta cần tạo ra cho căn phòng này, đó là: sự bình an.

Muốn cho căn phòng trở thành một không gian thiêng liêng, ta có thể chọn một góc phòng để đặt một cái bàn và trên đó ta có thể bày một tượng Bụt, tượng Bồ tát hoặc một tấm thư pháp, một bát nhang, một hai cây nến, một bình hoa tươi hay một chậu cây nhỏ… Ngày đầu tiên của khóa tu, khi ba mẹ và các em bước vào căn phòng này, chúng ta mời mọi người để giày dép bên ngoài. Khi đã ổn định chỗ ngồi, chúng ta mời mọi người nhắm mắt lại và thử tưởng tượng chúng ta vừa bước vào một không gian mới, hoàn toàn không giống với không gian bên ngoài kia. Một nơi mà thời gian dường như chậm lại và con người cũng trở nên chậm lại. Họ bớt hối hả, bớt lao xao. Bước chân ai cũng trở nên thong thả hơn; họ lắng nghe sâu sắc hơn, lời nói cũng nhẹ nhàng hơn và không ai cần lớn tiếng với ai. Chúng ta có thể mời mọi người đến trước bàn thờ để xá Bụt hoặc đơn giản chỉ là để ngắm nhìn những đồ vật trên bàn thờ. Đôi khi, ta có thể hát chung với nhau vài bài trước khi bắt đầu buổi sinh hoạt để tạo không khí gần gũi, gắn bó.

Thắp lên một nén hương có thể làm cho không gian thêm phần đặc biệt và yên lắng. Ta có thể thắp một nén hương trước giờ sinh hoạt đầu tiên hoặc trước giờ sinh hoạt cuối cùng trong ngày để giúp các em tiếp xúc với năng lượng bình an của căn phòng. Sau đó, các em tha hồ chạy nhảy, chơi đùa trong căn phòng này. Ít nhất hai lần trong ngày, chúng ta hướng dẫn các em quay về và tiếp xúc với nguồn năng lượng bình an đó.

Các bạn có thể áp dụng những điều chia sẻ ở trên và điều chỉnh cho phù hợp để tạo một không gian bình an trong lớp học hay ở gia đình. Mỗi khi bước vào lớp, các em có thể thực hiện một nghi thức nhỏ để ý thức về cơ thể, về hơi thở cũng như tiếp xúc với sự bình yên trong tâm hồn. Thay vì cởi giày ra hay chắp tay xá chào Bụt, các em có thể vươn vai và thở ba hơi thật sâu trước khi ngồi xuống ghế. Hoặc các em có thể đặt trên bàn học của mình một viên sỏi, trước khi ngồi xuống ghế, các em có thể cầm viên sỏi lên và thở ba hơi. Các em cũng có thể hát chung với nhau một bài hát nhẹ nhàng nào đó.

Những ý tưởng để chuẩn bị một phòng sinh hoạt cho trẻ

Làm một tấm bảng hoặc tấm biểu ngữ chào mừng trên đó có đề tên tất cả các em và treo ngay cửa ra vào.

  • Treo một tấm bảng (hay poster) trong đó có Hai lời hứa lên tường ngay từ buổi sinh hoạt đầu tiên để các em thường xuyên nhìn và ghi nhớ sâu hơn.
    • Vẽ những bức tranh về thiền sỏi và treo lên tường để các em có thể ghi nhớ về bốn yếu tố: Hoa – tươi mát, Núi – vững vàng, Nước tĩnh – lặng chiếu, Không gian – thênh thang.
    • Dán lên tường Lời quán nguyện trước khi ăn dành cho thiếu nhi để các em đọc thường xuyên.
  • Dùng giấy phủ kín nửa dưới của một hoặc nhiều bức tường để trẻ có thể trang trí lên đó trong suốt khóa tu. Đây là bức tranh tường chung do các em tạo ra.

Phần chia sẻ

CHƠI CÙNG TRẺ VỚI TÂM KHÔNG MONG CẦU

Thầy Pháp Dung, tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ

Không có một lằn ranh rõ ràng giữa cái gọi là “thực tập (chánh niệm)” và “không thực tập”. Thực ra, cách hay nhất và hiệu quả nhất là chúng ta có mặt hết lòng với các em mà đừng mang theo tư tưởng là mình đang dạy các em về “thực tập”. Sự có mặt nhẹ nhàng, bình dị của chúng ta là yếu tố căn bản khiến cho buổi sinh hoạt trở nên vui vẻ, hứng thú. Cách ta giao tiếp và ứng xử với trẻ, phẩm chất của sự có mặt, lòng yêu thương và sự ấm áp của ta chính là những điều mang lại lợi ích cho trẻ nhất. Với sự thoải mái, không gắng gượng, chúng ta có thể chia sẻ với các em những điều kỳ diệu và niềm vui trong các sinh hoạt.

Chỉ cần có mặt

Sự thực tập căn bản của chúng ta là có mặt cho tự thân và cho những người xung quanh. Chánh niệm giúp chúng ta nhận diện những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta. Khi chúng ta thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, ta sẽ dễ dàng cảm nhận được trẻ và bầu không khí đang diễn ra. Có mặt như vậy là một điều kỳ diệu và cốt lõi của nó là sự thực tập không mong cầu (hay vô nguyện), đón nhận những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại với sự nhẹ nhàng, thoải mái.

Chúng ta bước vào không gian của trẻ và hòa mình vào vòng tròn của các em mà không đòi hỏi hay trông đợi bất cứ điều gì. Chúng ta dành cho các em thật nhiều không gian và thời gian, không có gì phải vội. Và rồi, từ một nụ cười, một lời chia sẻ cởi mở, mọi thứ tự nhiên diễn ra trôi chảy, nhịp nhàng.

Không có một quy tắc cứng nhắc nào có thể áp dụng khi vui chơi cùng trẻ em. Cũng không có một phương pháp cụ thể nào, ngoại trừ sự tò mò, hiếu kỳ như thể chúng ta đang tham dự vào một hành trình khám phá miền đất lạ, bằng tất cả sự chú tâm và năng lượng của mình, trong một trạng thái tỉnh thức, sẵn sàng khám phá.

Vì vậy, chơi cùng trẻ em chỉ đơn giản là có mặt trọn vẹn với các em. Hãy để cho các em được thể hiện bản thân như các em đang là, qua cách các em nói cười, đi đứng, chơi đùa, ước mơ… Chơi với trẻ cũng có nghĩa là mở lòng chấp nhận những gì xảy đến và khéo léo thích ứng để cho ta có thể giữ được năng lượng vui vẻ, đồng thời thể hiện được sự quan tâm, chăm sóc của mình đối với trẻ. Hãy để những tương tác giữa ta với các em linh động như là thiền tập.

Hợp nhất và đa dạng

Đôi khi chúng ta chia các em thành nhiều nhóm nhỏ theo độ tuổi hoặc theo ngôn ngữ, vì có thể các em cảm thấy thoải mái hơn trong những nhóm nhỏ. Tuy nhiên, một số em lại cảm thấy được chấp nhận và được ôm ấp khi sinh hoạt trong một vòng tròn lớn gồm nhiều bạn nhỏ thuộc nhiều độ tuổi và đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là cơ hội để các em trải nghiệm sự khác biệt về văn hóa và tuổi tác. Điều quan trọng là các em được chứng kiến sự hòa nhập của các bạn được coi là “hơi khó gần” hoặc “hơi khác biệt” và học được cách ôm lấy những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và tuổi tác.

Học và chơi một cách tự nhiên

Lên kế hoạch cho một hoạt động cũng rất hay nhưng đôi khi để cho hoạt động đó diễn ra một cách tự nhiên, linh hoạt cũng rất thú vị. Khi lên kế hoạch cho một buổi sinh hoạt, chúng ta cần đảm bảo là trong kế hoạch đó có sự linh hoạt. Tùy theo mức năng lượng của các em mà ta có thể điều chỉnh các sinh hoạt cho phù hợp. Ví dụ như, khi các em có nhiều năng lượng thì cho các em sinh hoạt ngoài trời. Đôi khi cho các em thực tập thiền buông thư lại là một phương án hay, vì tình trạng dư thừa năng lượng của các em có thể là dấu hiệu cho biết các em đang mệt. Khi các em có sự yên lắng và chú tâm, ta có thể tổ chức những hoạt động trong nhà như vẽ tranh, làm thủ công hoặc kể chuyện. Không có một công thức nào cho những sinh hoạt tự phát như vậy. Sự chú ý và sự linh hoạt, uyển chuyển của chúng ta là điều tối cần thiết để cho những khoảnh khắc tương tác và sáng tạo có thể xảy ra.

Phút giây thử thách: những mẩu chuyện cá nhân

Khi chơi với trẻ, mỗi người trong chúng ta đều có những giây phút mà ta cảm thấy gắn kết và học hỏi được rất nhiều từ trẻ. Những giây phút như thế đọng mãi trong ký ức của chúng ta, khiến cho việc chăm sóc các em trở nên thật ý nghĩa. Chính các em dạy cho chúng ta thấy rõ hơn về bản thân, về những tri giác và cả sự mong manh dễ thương tổn của chúng ta.

Đôi khi, chúng ta nghĩ rằng là người lớn thì phải luôn kiểm soát mọi chuyện và biết rõ việc mình đang làm. Chúng ta nghĩ mình không bao giờ nên để cho các em thấy được sự dễ tổn thương hay mất kiểm soát của mình. Thế nhưng, đôi khi phép mầu lại xảy ra khi người lớn bộc lộ những cảm xúc thật nhất và những điểm yếu của mình trước mặt các em trong giây phút ấy. Chúng ta có thể thành thật với chính mình, thành thật với những gì đang xảy ra và buông bỏ ý niệm là mọi việc lẽ ra phải như thế này, như thế kia. Ta chỉ cần ôm lấy giây phút hiện tại và hoàn toàn chấp nhận những gì đang diễn ra trong giây phút ấy như nó đang là. Khi bạn thực sự chấp nhận và ôm lấy giây phút hiện tại thì một sự chuyển biến sẽ xảy ra trong các em cũng như trong năng lượng chung của cả tập thể.

BỊ PHẢN BỘI

Chia sẻ của thầy Pháp Dung, tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ

Lần đó, tôi đang hướng dẫn thiền sỏi cho một nhóm khoảng 40 đến 50 em và mọi chuyện đã diễn ra không như tôi dự tính. Các em thuộc đủ mọi lứa tuổi, từ chập chững tập đi cho đến các em tuổi thiếu niên (tuổi teen). Trong nhóm có 4 – 5 em trai tỏ vẻ không thích nghe hướng dẫn mà chỉ thích làm cho tôi mất tập trung. Tôi đã từng gần gũi, chăm sóc và chơi với các em trai này khi các em đến tu viện cùng gia đình. Nhưng giờ đây thật là khó xử khi các em cứ liên tục gây gián đoạn mỗi khi tôi chia sẻ. Việc này cũng làm ảnh hưởng đến các em khác. Trán tôi vã mồ hôi. Mọi người trong phòng cũng đã nhận thấy tình trạng khó khăn đó. Tất cả đều đang chờ xem liệu có ai đó có thể tái lập lại bầu không khí lắng dịu trong căn phòng hay không. Cũng bởi thân thiết với đám trẻ này, tôi không muốn người huynh đệ của tôi mời các em đó ra ngoài. Nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy mình bị các em trai này phản bội. Các em làm tôi bẽ mặt trước mọi người. Tôi cảm thấy tổn thương và tức giận.

Khi tôi giơ viên sỏi lên lần thứ ba và nói: “Đây là viên sỏi đầu tiên tượng trưng cho bông hoa, là khả năng sống tươi mát trong ta”, thì sự quấy quá của các em lên đến mức không thể chịu đựng được nữa. Mồ hôi chảy trên mặt, tôi thả tay xuống, nhắm mắt lại và bắt đầu theo dõi hơi thở. Tôi buông hết mọi chuyện. Tình huống này vượt ngoài khả năng kiểm soát của tôi. Mọi người trong phòng ngồi im phăng phắc và chờ đợi tôi mở lời trở lại. Tôi cảm nhận hơi nóng trong mình từ từ dịu xuống khi tôi thừa nhận cơn giận và sự tổn thương của mình. Tôi nói: “Thở vào, tôi đang bị tổn thương. Thở ra, tôi chấp nhận mình đang bị tổn thương.” Một sư cô thỉnh lên một tiếng chuông. “Thở vào, tôi cảm thấy bị những người bạn của mình phản bội. Thở ra, tôi mỉm cười với những người bạn ấy với lòng thương yêu và hiểu biết.” Tôi cứ tiếp tục làm thiền hướng dẫn như vậy trong một lúc, thực tập nhận diện cảm xúc của tôi và đặc biệt là nhận diện những gì đang diễn ra trong căn phòng. Ai cũng biết chuyện gì đang diễn ra nhưng không ai biết nên làm gì.

Một khi ta tôn trọng và chấp nhận tình huống xảy ra thì mọi chuyện sẽ thay đổi. Theo lời dạy của Thầy[1] chúng tôi, ta cần gọi tên tình huống đó bằng “tên thật của nó”. Các em trai nhận ra ngay, rằng mọi người đang chú ý đến mình và các em cũng nhận ra mình đang làm gián đoạn giờ sinh hoạt của cả nhóm. Tôi cảm thấy các em hiểu ra điều này vì tư thế của các em bắt đầu thay đổi. Các em ngồi thẳng lưng lại, giữ im lặng và bắt đầu chú ý lắng nghe những gì đang diễn ra trong nhóm.

Vậy là buổi thực tập thiền sỏi sáng hôm đó đã chuyển thành buổi thực tập chăm sóc cảm xúc và đối diện với những thách thức. Chúng tôi đã hỏi cảm giác của các em như thế nào khi có ai đó làm cho mình mất tập trung và các em sẽ xử lí như thế nào khi cảm thấy buồn hay bực bội, khó chịu. Buổi chia sẻ đó hóa ra là một trải nghiệm quý báu cho tất cả mọi người trong nhóm.

Bây giờ, nhìn lại chuyện đã qua, tôi thấy lẽ ra tôi nên chia các em thành hai nhóm và xử lí các em trai làm ồn sớm hơn. Tôi cũng thấy rằng tôi đã bám chặt vào ý niệm sẵn có trong đầu là buổi sinh hoạt sáng hôm đó phải như thế này, như thế kia. Vì vậy, khi sự việc xảy ra, tôi kháng cự lại, cố gắng ép mọi thứ phải diễn ra theo ý mình. Tôi đã không tôn trọng cảm xúc của mình. Lúc đó, tôi có thể mời các em trai kia ra khỏi phòng và mọi thứ sẽ diễn ra theo đúng kế hoạch. Tuy vậy, trải nghiệm này là một món quà cho bản thân tôi, bởi lẽ tôi nhận ra rằng khi tôi thành thật nhận diện và tôn trọng những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại, dù giây phút đó chứa đầy buồn giận hay cảm xúc gì đi nữa, thì có một sự chuyển biến xảy ra trong tâm thức tôi. Và sự chuyển biến đó cũng xảy ra trong tâm thức chung của cả nhóm.

BỒ TÁT BƯỚM TRẮNG

Chia sẻ của thầy Pháp Dung, tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ

Buổi tối hôm đó, các em đang ngồi thành vòng tròn, vừa hát vừa múa thì có một chú bướm to màu trắng bay vào vòng tròn múa lượn cùng chúng tôi. Chú bướm đậu trên tấm thảm ngay cạnh tôi, tôi quỳ xuống chào người bạn mới. Tôi chỉ vừa nói: “Ồ hay chưa nè các em, một bạn bướm trắng xinh đẹp đang cùng hát múa với chúng ta đó”, thì một em trai tiến nhanh về phía trước và đạp mạnh lên chú bướm. Rồi vài em trai nữa xông tới xúm nhau giẫm đạp thêm. Một em gái hét lên hoảng hốt trước cảnh tượng đó, các em khác cũng bị sốc. Các thầy, các sư cô trong nhóm dỗ dành và trấn an các em. Tôi nhặt xác chú bướm tội nghiệp đem ra ngoài để trả chú về cho đất mẹ. Khi tôi trở lại, căn phòng im phăng phắc. Tôi bước vào giữa vòng tròn, ngồi xuống nhắm mắt lại và theo dõi hơi thở. Sư em tôi thỉnh lên một tiếng chuông.

Tôi bắt đầu cầu nguyện cho chú bướm đáng thương và bày tỏ sự hối tiếc về những vụng về, lầm lỡ của chúng tôi: “Bạn bướm trắng thân mến ơi, xin thứ lỗi cho chúng tôi vì đã không biết nhận diện vẻ đẹp của bạn, món quà mà bạn mang đến cho chúng tôi. Vì khờ dại, bạo động và vụng về mà chúng tôi đã đánh mất bạn. Nguyện cầu cho bạn được bình an và không quá đau đớn khi lìa xa nơi này. Chúng tôi cũng rất đau lòng vì những gì đã xảy ra. Bạn đến để chia sẻ với chúng tôi sự mầu nhiệm của bạn, hiến tặng điệu múa và tình thương của bạn. Vậy mà chúng tôi không nhận ra, mắt chúng tôi bị che mờ bởi sự phấn khích, bởi thói quen giết hại các loài sinh vật nhỏ bé và thiếu khả năng bảo vệ sinh mạng cho mọi loài. Đây không phải là lỗi của riêng một cá nhân nào, bởi lẽ mọi người đều có trách nhiệm trong chuyện này. Chúng tôi xin hứa lần sau sẽ làm tốt hơn. Chúng tôi hứa sẽ tôn trọng sự sống của mọi loài: cỏ cây, muông thú và cả những con sâu, con kiến bé nhỏ. Chúng tôi hứa sẽ không giết hại, không để năng lượng bạo động lấn át khiến chúng tôi tàn hại những gì đẹp lành trên thế giới này”. Sau đó, chúng tôi mời từng em chia sẻ cảm xúc của mình, để các em nói lên sự tổn thương, nói lời xin lỗi và xin chú bướm tha thứ cho lỗi lầm vụng dại của mình. Có em chia sẻ: “Cảm ơn bạn bướm trắng tới chơi với chúng em”, bạn nhỏ khác nói: “Xin lỗi bạn bướm nhé, chúng em làm bạn đau, làm bạn phải chết”, “Chúng em hy vọng bạn sẽ không sao cả”. Sau khi các bạn trai hối lỗi và từng em chia sẻ cảm xúc của mình, năng lượng của căn phòng bắt đầu thay đổi, các em gái cũng dịu lại và nín khóc.

Trải nghiệm này lại mở ra một cuộc thảo luận trong cả nhóm. Chúng tôi nói về loài muỗi, sâu, bướm, cũng như các sinh vật nhỏ bé đang có mặt quanh ta và cách chúng ta nên đối xử với các loài sinh vật đó. Các em cũng thấy rằng các loài sinh vật đều ham sống sợ chết như chính chúng ta. Buổi chia sẻ hôm ấy hóa ra lại là một trong những buổi chia sẻ sâu sắc nhất về Hai lời hứa mà tôi từng chứng kiến. Xin cảm ơn Bồ Tát bướm trắng, vì món quà mà bạn hiến tặng cũng như sự hy sinh của bạn.

MỘT CÁI ÔM

Chia sẻ của sư cô Anh Nghiêm, tu viện Bích Nham, Hoa Kỳ

James là một cậu bé 7 tuổi. Cậu ấy có hai người bạn thân là Paul (7 tuổi) và Yves (8 tuổi). Ba cậu bé này chơi với nhau rất thân. Trong nhóm còn có bốn em gái khác nữa. Khi nhóm sinh hoạt chung với nhau, chỉ có các em gái chịu nghe lời tôi, còn James và các cậu bạn lại ngầm “nổi loạn” và không chịu nghe theo những ý kiến hay đề nghị của tôi.

Khi cả nhóm đi dạo thì các em chạy đi, tự bày trò chơi một mình. Chúng tôi làm thủ công hay tô màu trong phòng thì các em lại chạy đùa bên ngoài. Chúng tôi chơi trò đóng kịch thì các em bày một trò khác. Cứ như vậy suốt một tuần. Tôi bối rối không biết phải làm gì. Tôi không muốn lớn tiếng và ép buộc các em phải làm điều này, điều kia, nhưng tôi thể hiện cho các em biết rằng khi nào các em thích sinh hoạt với nhóm thì các em vẫn có thể tham gia.

Vào buổi tối cuối cùng trong tuần, chúng tôi tổ chức lễ Bông hồng cài áo để tưởng nhớ công ơn cha mẹ. Cuối buổi lễ, hai mẹ con James đến bên tôi, cậu bé rụt rè nép sau lưng mẹ. Mẹ của James hỏi liệu James có thể ôm tôi một cái được không. Tôi quá sức ngạc nhiên. James bẽn lẽn bước đến gần tôi, trông không ra dáng thủ lĩnh của nhóm quậy phá chút nào. Ôm em vào lòng, tôi cảm thấy hạnh phúc ngập tràn và tôi cũng để ý không ôm em quá chặt. Sau ba hơi thở, James vẫn chưa rời tôi. Em càng ôm tôi chặt hơn nữa.

Lúc đó tôi mới nhận ra rằng James đã cảm nhận và tiếp thu hết mọi thứ trong suốt tuần vừa rồi. Điều James nhận được không phải các sinh hoạt chúng tôi tổ chức, mà chính là thái độ chấp nhận của tôi dành cho em và cho các bạn của em. Cách chúng ta sống, cách chúng ta tiếp xử với các em là điều các em ghi nhớ sâu đậm nhất.

HÁT LÊN MỘT CÂU CHUYỆN

Chia sẻ của một tình nguyện viên trong chương trình thiếu nhi

Hôm ấy, tôi ngồi chơi và bắt đầu kể chuyện cho một nhóm các em nhỏ 6 tuổi. Trong khi tôi đang kể chuyện, có một em trai cứ ngồi đó hát nghêu ngao một mình. Tôi ngừng kể chuyện và em vẫn tiếp tục hát. Tôi nhẹ nhàng hỏi em: “Cô kể chuyện tiếp được không?” Em không trả lời nhưng tỏ thái độ hơi lạ lùng. Rồi tôi tiếp tục kể chuyện, trong khi em ấy vẫn tiếp tục với giọng hát như đọc của mình. Đột nhiên tôi cảm thấy mình thích nghi với giọng của em và để giọng hát ấy dẫn dắt giọng kể chuyện của mình. Câu chuyện tôi kể bỗng mang nhiều màu sắc và xúc cảm mà tôi chưa từng trải qua. Tất cả chúng tôi đều như bị cuốn vào câu chuyện. Em trai này vẫn tiếp tục ngân nga trong hơn một tiếng tôi kể chuyện. Các giáo viên cảm thấy rất thú vị. Sau đó, tôi mới biết cậu bé ấy bị bệnh tự kỉ, em chẳng bao giờ lắng nghe câu chuyện nào quá mười phút. Dù sao tôi cũng thầm cảm ơn em vì bài học em đã dạy tôi hôm ấy.

GIEO TRỒNG HẠT GIỐNG BÌNH AN

Chia sẻ của sư cô Định Nghiêm

Trong những khóa tu mùa hè đầu tiên tại xóm Mới (Làng Mai), tôi thường chăm sóc các em nhỏ nói tiếng Pháp. Mỗi ngày, tôi được học hỏi và được nuôi dưỡng rất nhiều từ các em. Quả thật là chăm sóc các em cũng khá vất vả, vì các em có nhiều năng lượng lắm, nhưng đó cũng là phần thưởng cho tôi vì các em đón nhận tình thương của tôi rất dễ dàng và tôi cũng nhận được rất nhiều tình thương từ các em. Những gì tôi làm cho các em đều có thể cho hoa trái ngay lập tức. Các em chia sẻ với tôi niềm hạnh phúc khi ở Làng Mai dù chúng tôi chỉ có vài món đồ chơi đơn giản cho các em. Các em nói rằng các em vui vì khi ở Làng, cha mẹ của các em nói chuyện nhỏ nhẹ và cư xử nhẹ nhàng hơn khi ở nhà. Các em thích ở Làng vì thấy được sự thay đổi của cha mẹ mình.

Các em làm tôi bất ngờ mỗi ngày. Các em luôn luôn cựa quậy và lao nhao trong suốt giờ pháp thoại nhưng sau đó tôi hỏi câu gì liên quan đến bài pháp thoại thì các em đều biết. Khi trở về lại nhà, chính các em là người ghi nhớ và duy trì sự thực tập lâu hơn cả cha mẹ mình. Các em như một tờ giấy trắng vậy. Nhìn lại thời gian tôi được tới chùa lúc còn nhỏ xíu, hồi đó tôi cũng ghi nhớ mọi thứ. Khi chăm sóc cho các em tại Làng Mai, tôi thấy các em đích thực là tiếng chuông chánh niệm cho tôi, các em đã giúp tôi rất nhiều trong sự thực tập. Tôi làm gì, nói gì, các em đều ghi nhớ suốt mấy năm trời. Tôi chỉ muốn vẽ lên những trang giấy trắng ấy những gì đẹp và lành nhất mà thôi.

Tôi nhớ có một lần, các em cứ nhốn nháo gây ồn làm tôi mệt mỏi quá chừng. Chỉ sau một tuần, tôi bị mất tiếng luôn. Các em xúm nhau la hét, chạy nhảy, làm đủ thứ mà các em muốn. Quá mỏi mệt nên tôi nằm xuống đất, lúc đó, các em gái bảo các em trai: “Im lặng nào, nhìn sư cô Định Nghiêm nè, sư cô mệt vì chúng ta ồn ào quá.” Rồi các em tự lắng xuống mà chẳng cần tôi phải nói gì. Chúng tôi thương yêu nhau nên khi thấy tôi mệt là các em tự động tìm cách giúp tôi hết mệt.

Tôi nhận ra rằng điều quan trọng nhất mà ta có thể trao truyền cho các em chính là cách sống của chúng ta. Trẻ em rất nhạy cảm. Các em không sống bằng lý trí mà sống bằng cảm xúc. Vậy nên, sự có mặt trọn vẹn, lắng dịu, nhẹ nhàng và bình an là món quà quý nhất mà chúng ta có thể hiến tặng cho các em. Và chúng ta cần thực tập để có thể chế tác được những phẩm chất này.

Cách tốt nhất để trao truyền sự thực tập cho các em là kể chuyện và cho các em biểu diễn những câu chuyện ấy qua hình thức kịch. Các em cũng thích thực tập Làm mới và Thiền trà với ba mẹ. Vì vậy, sẽ rất hay nếu ta mời ba mẹ các em tới tham dự những buổi sinh hoạt này. Lần nào chúng tôi tổ chức các buổi sinh hoạt như vậy, cả ba mẹ và các em đều rất xúc động và hạnh phúc.

Có nhiều em mỗi năm đều về Làng, vì vậy, tôi được chứng kiến các em lớn lên. Mùa hè năm ngoái, tôi nghe nói các em nhỏ thành lập một tăng thân và thường xuyên liên lạc với nhau. Khi về Làng, các em cùng nhau tạo thành một nhóm, rồi chào đón các bạn mới, làm các bạn cảm thấy dễ chịu. Các em chơi với nhau rất vui vì vậy dù bước qua tuổi thiếu niên, nhiều em vẫn muốn ở lại trong chương trình trẻ em.

Nhìn các em, tôi có thể thấy được tương lai đạo Bụt ở phương Tây. Sự thực tập chánh niệm giờ đây đã trở nên thân thuộc, tự nhiên đối với các em. Vì đã được học từ khi còn nhỏ nên khi lớn lên, sự thực tập trở thành điều rất đỗi bình thường và là sự sống của các em. Các em nắm được tinh yếu của sự thực tập mà không còn bị mắc kẹt vào những lập luận của trí năng. Vì vậy, tôi tin là các em sẽ biết cách sáng tạo và làm cho sự thực tập chánh niệm phù hợp hơn với xã hội phương Tây trong tương lai.

LÀNG MAI: NGÔI NHÀ CHUNG CỦA CÁC EM NHỎ

Chia sẻ của Michele Hill, Hawaii, Hoa Kỳ

Hè năm nay, tôi đã bay nửa vòng Trái đất từ Hawaii đến đất Pháp để tham dự một khóa tu tại Làng Mai. Có lẽ điều ấn tượng nhất đối với tôi là vai trò của các em nhỏ tại trung tâm tu học này. Ở những trung tâm tu thiền mà chúng tôi theo học, hiếm khi nào thiền sinh dẫn con đến tham dự một khóa tu thiền. Những người chỉ ghé thăm trong thời gian ngắn thì phải tự lo chăm sóc con cái của mình trong thời gian ở tu viện. Ở Làng Mai, tôi nhận thấy các em nhỏ không đơn thuần là có mặt mà còn là trung tâm của cộng đồng. Các em cũng có công việc cụ thể trong thiền đường như thỉnh chuông, hướng dẫn thiền trà và tham gia vào các nghi lễ. Sinh hoạt nào các em cũng được tham dự và mọi người quan tâm đến các em một cách khá tự nhiên.

Trong nhiều buổi chia sẻ theo nhóm, Thầy – Thiền sư Thích Nhất Hạnh – đã mời mọi người cùng thảo luận về chủ đề: làm thế nào để trẻ em có thể cùng thực tập với người lớn. Trẻ em có vẻ thích các buổi lễ, các nghi thức, nhạc và trò chơi. Ba mẹ các em nói rằng chính các em là người luôn nhớ chắp tay thể hiện lòng biết ơn trước khi ăn, luôn biết nhận diện những cái đẹp trong những nghi thức nho nhỏ như xá chào khi bước vào thiền đường.

Thầy từng nói rằng nếu anh không giải thích được cho các cháu nhỏ hiểu anh đang làm gì thì có thể điều anh đang thực hành chưa phải là sự thực tập chân chính. Trẻ em cần hiểu và được tham gia vào những gì chúng ta đang thực tập, nếu đó là một đạo Bụt chân chính. Thầy cảm thấy trẻ em có thể hiểu được hết những ý niệm thâm sâu nhất của đạo Bụt, những ý niệm mà cốt lõi của nó thật ra vô cùng đơn giản và rõ ràng, chẳng hạn như “Bạn là tôi và tôi cũng là bạn”, “có hiểu mới có thương”, “khi một ngón tay bị đau thì cả bàn tay cũng đau theo”.

“Chúng ta phải tìm ra những phương pháp thực tập làm cho các em cảm thấy vui thích. Điều này rất quan trọng. Sẽ rất thiếu sót nếu các em không được tham gia thực tập cùng người lớn. Khi các em được tham gia thì cả gia đình có cơ hội thực tập chung với nhau, rất vui.” Những lời của Thầy thực sự để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi. Tôi thường nghe bạn bè mình than vãn rằng họ bị giằng xé giữa việc có mặt cho con cái và thiền tập. Có những phụ huynh mà công việc đòi hỏi phải vắng nhà nhiều, họ cảm thấy miễn cưỡng xa con vào buổi tối hoặc ngày cuối tuần để có thể thiền tập. Một số gia đình trong nhóm thiền tập của chúng tôi đã từng cố gắng nhưng họ không thành công. Tôi nghĩ rằng cho các em tham gia thực tập chung với người lớn là một giải pháp hay, có thể giải quyết được nhiều vấn đề và làm phong phú thêm trải nghiệm của tất cả chúng ta. Thầy từng nói: “Sự thực tập của chúng ta sẽ không thể thành tựu nếu không có sự yểm trợ của trẻ em. Nếu không có trẻ em cùng tham gia thì thiền tập của chúng ta chẳng khác nào một sự trốn chạy khỏi gia đình và xã hội.”


[1] Những từ Thầy viết hoa trong sách có ý chỉ Thiền sư Thích Nhất Hạnh. (BT)

Lợi ích của chánh niệm

“Trí tuệ là cái mà bạn không thể trao truyền cho người khác. Hạt giống trí tuệ đã có sẵn nơi mỗi chúng ta. Một người thầy giỏi là người biết cách chạm tới, làm cho hạt giống ấy thức dậy, nẩy mầm và lớn lên.” – Thiền sư Thích Nhất Hạnh

CHÁNH NIỆM LÀ MỘT LOẠI NĂNG LƯỢNG cho phép chúng ta nhận diện những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại. Khi bạn thở vào một cách có ý thức, bạn nhận biết được hơi thở vào, đó gọi là chánh niệm về hơi thở. Khi bạn nâng một tách trà và thưởng thức trà với ý thức trọn vẹn về giây phút hiện tại, đó gọi là chánh niệm khi uống trà. Khi bạn bước đi và ý thức được từng bước chân, đó là chánh niệm khi đi.

Thực tập chánh niệm không đòi hỏi chúng ta phải đi tới một nơi nào đặc biệt. Chúng ta có thể thực tập chánh niệm trong phòng hoặc trên đường đi từ nơi này tới nơi khác. Chúng ta có thể làm những việc mà mình vẫn thường làm – đi bộ, ngồi chơi, làm việc, ăn uống, nói chuyện, chỉ khác ở chỗ là chúng ta làm những việc đó với ý thức trọn vẹn về những gì mình đang làm.

Chánh niệm là một loại năng lượng mà chúng ta có thể tự chế tác cho bản thân. Ai trong chúng ta cũng đều có khả năng thở vào, thở ra trong chánh niệm. Ai cũng có khả năng bước đi trong chánh niệm. Sống chánh niệm là điều mà ai cũng có thể làm được, cho nên điều này không có gì quá xa lạ với chúng ta. Trong chúng ta đã có sẵn hạt giống chánh niệm. Nếu chúng ta biết thực tập, hạt giống chánh niệm ấy sẽ lớn lên và mỗi khi cần đến, năng lượng chánh niệm sẽ có mặt ở đó cho chúng ta.

Thực tập chánh niệm sẽ làm cho chất lượng học tập được gia tăng và đồng thời nâng cao phẩm chất cuộc sống của chúng ta. Chánh niệm giúp chúng ta chăm sóc những nỗi khổ, niềm đau trong ta, mang lại bình an, hiểu biết và thương yêu. Chánh niệm còn giúp chúng ta tái lập truyền thông và đưa tới khả năng hòa giải, nhờ đó chúng ta có thể tìm lại được niềm vui sống. Tuy nhiên, chỉ đọc và nói về chánh niệm thôi thì không đủ, chúng ta cần thực tập chánh niệm.

Khi ngắm nhìn hoàng hôn, nếu bạn tỉnh thức, bạn có thể tiếp xúc một cách sâu sắc với hoàng hôn. Nhưng nếu tâm bạn đang mải nghĩ ngợi vẩn vơ tới những điều khác – bạn bị kéo về quá khứ hay rong ruổi về tương lai, hoặc lo nghĩ về những dự án của mình – thì khi ấy, bạn không thật sự có mặt và không thể tận hưởng được vẻ đẹp của hoàng hôn. Chánh niệm cho phép chúng ta có mặt trọn vẹn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, để tận hưởng được những mầu nhiệm của sự sống – những điều có khả năng nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu cho ta.

Dừng lại

Bụt dạy rằng chánh niệm là suối nguồn của niềm vui và hạnh phúc. Hạt giống của chánh niệm đã sẵn có trong mỗi chúng ta, nhưng chúng ta thường quên tưới tẩm nó. Nếu biết cách quay về nương vào hơi thở, vào bước chân, chúng ta có thể chạm tới và làm biểu hiện những hạt giống của bình an, của niềm vui trong ta. Thay vì nương tựa vào những ý niệm trừu tượng về Bụt, về Chúa, hoặc Allah, chúng ta có thể tiếp xúc với Bụt, với Chúa, hoặc Allah ngay trong mỗi hơi thở, mỗi bước chân của mình.

Điều này nghe có vẻ dễ dàng và ai cũng có thể làm được, nhưng nó đòi hỏi một sự rèn luyện. Thực tập dừng lại là một sự thực tập vô cùng quan trọng. Nhưng làm thế nào để có thể dừng lại? Chúng ta dừng lại bằng cách ý thức về hơi thở vào, hơi thở ra và ý thức mỗi bước chân mình. Vì thế, sự thực tập căn bản của chúng ta là chánh niệm về hơi thở và bước chân.

Nếu chúng ta muốn tận hưởng trọn vẹn những món quà mà cuộc sống ban tặng, ta cần thực tập chánh niệm trong mọi sinh hoạt của đời sống hàng ngày, ngay khi đi vệ sinh, nấu bữa sáng cho các con, lái xe đi làm, hoặc khi dạy dỗ các học sinh trong lớp học. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều là một cơ hội để ta chế tác niềm vui và hạnh phúc. Cuộc sống luôn đầy rẫy những khó khăn, thử thách. Nếu không có đủ niềm vui, niềm hạnh phúc trong “kho dự trữ” của mình, ta khó có thể chăm sóc cho nỗi khổ, niềm đau khi chúng ập đến. Với chánh niệm, chúng ta có thể duy trì niềm vui bên trong, để sẵn sàng đương đầu với những thử thách trong cuộc sống. Chúng ta có thể chế tác không gian, tự do và tình thương bên trong để làm nền tảng vững chắc cho chính mình.

Lắng trong

Trước khi thành lập Làng Mai, tôi đã sống ở Phương Vân Am, cách Paris một tiếng rưỡi lái xe. Phương Vân Am nằm trên một ngọn đồi, xung quanh là rừng cây. Một hôm, có hai cha con người Việt đến Phương Vân Am. Người cha muốn nhờ tôi chăm sóc đứa con gái của ông, bé Thanh Thủy, để ông có thể lên Paris lo giấy tờ và kiếm việc làm. Bé Thanh Thủy khi ấy gần 5 tuổi.

Tối nào Thanh Thủy cũng thấy tôi ngồi. Tôi bảo bé là tôi “ngồi thiền” và tôi không hề nói cho bé biết ngồi thiền là gì và ngồi như thế để làm gì. Mỗi tối, khi thấy tôi rửa mặt, mặc áo tràng và đi thắp một cây nhang cho thơm thiền phòng là bé biết tôi sắp đi “ngồi thiền”. Bé cũng biết là đã đến giờ phải đi đánh răng, thay áo và leo lên chỗ nằm mà không nói chuyện.

Một ngày nọ, Thanh Thủy và mấy em bé khác chơi với nhau trên khu đồi phía sau nhà. Chơi được một lúc, chúng đến xin tôi nước uống. Tôi đi tìm chai nước táo cuối cùng còn lại và đem rót vào cho mỗi đứa một ly đầy. Ly cuối cùng là của Thanh Thủy. Ly này lợn cợn xác táo, không trong như ba ly trước. Thanh Thủy phụng phịu chê, không uống, rồi lại chạy lên đồi chơi.

Chừng một giờ sau, bé quay lại tìm nước uống. Tôi chỉ lên bàn, bảo: “Cháu uống ly nước táo này đi”. Thủy ngoảnh lại nhìn. Ly nước táo bấy giờ trong vắt không còn một tí lợn cợn nào nữa, trông thật ngon lành. Bé tới gần và đưa hai tay nâng ly nước táo lên uống. Uống được chừng một phần ba ly, Thủy đặt ly xuống và ngước mắt nhìn tôi: “Có phải đây là một ly nước táo mới không thưa ông?” Tôi trả lời: “Không, ly nước táo hồi nãy đó. Nó ngồi yên một lúc lâu cho nên trở thành trong vắt và ngon lành như vậy đó cháu.” Thủy nhìn lại ly nước táo: “Ngon quá ông ơi. Có phải ly nước táo bắt chước ông ngồi thiền hả ông?” Tôi bật cười vỗ nhẹ lên đầu bé. Có lẽ nói tôi đã bắt chước ly nước táo mà ngồi thiền thì đúng hơn.

Chắc rằng trong đầu óc non nớt của mình, bé Thủy nghĩ rằng ly nước táo ngồi yên một hồi lâu là để cho nó lắng trở lại và ông của nó ngồi yên một hồi lâu chắc cũng là để cho lắng trong, cho khỏe khoắn như ly nước táo. “Có phải ly nước táo bắt chước ông ngồi thiền hả ông?” Tôi nghĩ bé Thủy chưa đầy 5 tuổi mà đã hiểu thế nào là ngồi thiền mà không cần ai giải thích gì cho bé.

Ly nước táo ngồi lâu thì lắng trong. Theo cùng một định luật, ngồi lâu thì ta cũng lắng trong. Nếu ta biết cách ngồi, biết cách điều chỉnh tư thế ngồi của mình cho thật vững chãi, có mặt với hơi thở vào và hơi thở ra, thì sau một lúc, tâm ta sẽ trở nên an tĩnh và lắng trong.

CHIẾC LỌ TÂM TRÍ [1]

NHỮNG DỤNG CỤ CẦN CHUẨN BỊ: Chuông nhỏ và dùi thỉnh, bình nước trong, thìa khuấy, cát nhiều màu (có thể thay bằng các loại đậu hoặc hạt ngũ cốc như gạo, kê, yến mạch – những loại hạt mà khi ta thả vào nước sẽ lắng xuống một cách từ từ). Tốt hơn hết là bạn nên thử làm trước, bởi vì một số hạt có thể không lắng xuống mà bị nổi trên mặt nước. Hạt mè khô thì nổi, nhưng nếu ta ngâm nước một đêm thì chúng sẽ lắng xuống.

Những câu được in nghiêng trong bài tập này là những lời hướng dẫn mà bạn có thể sử dụng để chia sẻ với các em. Phần trong ngoặc […] là câu trả lời mà các em nhỏ đã chia sẻ với chúng tôi.

Bạn hãy cho các em ngồi thành vòng tròn, rồi mang một cái bình lớn, trong suốt, bên trong chứa đầy nước đặt vào giữa vòng tròn. Sau đó, bạn mang những khay đựng cát nhiều màu ra.

Bình nước này chính là tâm trí của chúng ta và những hạt cát nhiều màu sắc này tượng trưng cho những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta. Khi vừa thức dậy, trong đầu các em thường có những suy nghĩ nào?

[Mong được đến trường để gặp bạn bè, muốn ngủ “nướng” thêm chút nữa, cảm thấy đói bụng…]

Mỗi em hãy chọn một màu cát phù hợp với cảm xúc hoặc suy nghĩ của mình, rồi thả nắm cát đó vào bình nước.

Yêu cầu một em khác khuấy nước trong bình để các hạt cát xoáy đều lên.

Vậy khi đi học, vào buổi chiều và vào buổi tối trước khi đi ngủ thì các em thường có suy nghĩ gì? Các em có thể chia sẻ về những cảm xúc vui, buồn, khó chịu, giận dữ, bình an hay buồn ngủ… xuất hiện trong ngày. Với mỗi cảm xúc, các em tiếp tục rắc các hạt cát màu vào bình.

Em bé đang khuấy nước có thể khuấy nhanh tay hơn. Đây là tâm trí của chúng ta mỗi khi ta vội vã, căng thẳng, tức giận hoặc buồn bã. Các em có thấy rõ mọi thứ trong trạng thái này không? Đây có phải một trạng thái dễ chịu không? Các em thử nêu vài ví dụ về những lúc mình cảm thấy như vậy.

[Khi em bị mẹ mắng, khi em sợ hãi, khi em đánh nhau với anh trai…]

Giờ thì bạn hãy thỉnh một tiếng chuông và cho em bé

đang khuấy nước dừng lại. Bây giờ, chúng ta cùng thở với tiếng chuông và quan sát những hạt cát từ từ lắng xuống đáy bình nhé! Các em nhỏ thường cảm thấy khá thư giãn với việc này.

Đây là điều xảy ra với tâm trí khi ta tập thiền, khi ta có ý thức về hơi thở và về thân thể mình. Các em thấy nước trong bình bây giờ thế nào?

[Nước trong trẻo, lắng yên]

Các suy nghĩ và cảm xúc có thể vẫn còn ở trong tâm trí chúng ta, nhưng giờ đây chúng đã lắng xuống nằm yên dưới đáy, bởi vì chúng ta đã biết trở về với hơi thở, để giúp chúng được yên lắng.

Chúng ta cũng có thể chọn loại cảm xúc và suy nghĩ mà mình muốn “khuấy động” trong tâm trí mình. Có những lúc ta cần nhìn sâu vào những suy nghĩ và cảm xúc không vui để có thể hiểu nó rõ hơn. Hoặc ta có thể làm sống dậy những suy nghĩ khiến ta hạnh phúc như lòng tốt, tình thương, sự tha thứ… Việc ý thức về các suy nghĩ rất quan trọng, nhờ đó, ta có thể dẫn dắt suy nghĩ theo hướng ta muốn, thay vì để nó dẫn dắt ta.


Lợi ích của việc thực hành chánh niệm cùng trẻ em[2]

Giáo viên thường yêu cầu học sinh phải chú ý, nhưng lại không dạy các em phải làm cách nào để chú ý. Thực tập chánh niệm giúp các em biết chú tâm, qua đó nâng cao kỹ năng học tập lẫn kỹ năng cảm xúc – xã hội của các em.

Chánh niệm giúp giảm căng thẳng một cách hiệu quả và thúc đẩy “chức năng điều hành” của não bộ, tức khả năng tổ chức công việc, quản lý thời gian, đặt ra ưu tiên và đưa ra quyết định. Trẻ em – kể cả các em bị chẩn đoán là mắc các chứng rối loạn liên quan đến căng thẳng – có thể hưởng lợi từ việc học cách tập trung chú ý, trở nên bớt tăng động và phát triển tình thương với chính mình cũng như với người khác.

CHÁNH NIỆM GIÚP CHO TRẺ EM [3]CHÁNH NIỆM GIÚP CHO GIÁO VIÊN [4]

Tập trung chú ý tốt hơn

Ý thức rõ hơn về bản thân và hòa hợp với học sinh

Yên hơn

Dễ dàng nhận biết những nhu yếu của học sinh

Giảm căng thẳng và lo âu

Duy trì được sự cân bằng
cảm xúc

Bớt tăng động

Giúp nuôi dưỡng một cộng đồng học sinh phát triển toàn diện: từ học tập, cảm xúc đến xã hội

Ý thức hơn về bản thân

Phát triển cả về chuyên môn lẫn đời sống cá nhân

Biết cách chăm sóc những cảm xúc không dễ chịu

Biết cách quản lý và giải tỏa căng thẳng

Cảm thông và thấu hiểu người khác

Giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp ở nơi làm việc cũng như trong gia đình

Biết cách khéo léo giải quyết những xung đột

 


[1] Phỏng theo tác phẩm Mindfulness – A Guide for Teachers (Chánh niệm – Cẩm nang cho các giáo viên) của Tiến sĩ Amy Saltzman. www.pbs.org/thebud- dha/teachers-guide

[2] Phỏng theo bài tập gốc trong cuốn sách Peaceful Piggy Meditation của tác giả Kerry Lee MacLean (Park Ridge, IL: Albert Whitman & Co., 2004).

[3] Chia sẻ của các thầy cô giáo và học sinh – những người đã được hướng dẫn về thực hành chánh niệm. Nguồn: Mindful Schools: Using Mindfulness to Teach Children to Be Emotionally Aware, Empathetic, and Mindful of Their Thoughts and Actions. 09 Aug. 2010. www.mindfulschools.org

[4] Trích từ sách Mindful Teaching and Teaching Mindfulness của tác giả Deborah Schoeberlein (Somerville, MA: Wisdom Publications, 2009).

Những thiên thần mùa hè

(Sư cô Chân Trăng Bồ Đề)

Nhìn ngắm một lần cuối hai chiếc lá vàng, lá đỏ trước khi bỏ vào bì thư để gửi đi, lòng con tràn ngập sự thương mến. Bất chợt, con mỉm cười khi nhớ lại những dòng chữ ngây thơ mà con nhận được vào một buổi sáng đẹp trời: “Hôm nay là ngày đầu tiên con đi học. Trường của con ở Bilthoven. Con đạp xe 2,5 cây số để đến trường vào buổi sáng và về lại vào buổi chiều”. Đó là một trong những ký ức đẹp con có trong chương trình thiếu nhi mùa hè vừa rồi tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) ở Đức.

Đa phần trẻ em Đức và Hà Lan không nói được tiếng Anh nhiều nên bao câu chuyện khóc cười do khác biệt ngôn ngữ cứ nối nhau.

“Em tìm gì vậy?”

Con đang đứng trong hành lang để dọn dẹp, một em chạy ào đến với dáng vẻ bối rối. Con liền hỏi: “Em tìm gì vậy?”. Theo phản xạ tự nhiên, em trả lời bằng tiếng Đức. Nhìn đôi mắt tròn xoe và ngơ ngác của con, em lúng túng không biết phải làm sao. May quá, có một cô tình nguyện viên đi ngang đã kịp thời giải cứu con và em khỏi giây phút bối rối ấy. Nhìn theo hướng em chạy đi, con mới hiểu em tìm nhà vệ sinh. Lúc ấy, con chỉ biết vỗ tay lên trán và lắc đầu, không biết nên khóc hay nên cười nữa.

Những ngày đầu, trong những thời khóa sinh hoạt với các em, con chỉ có thể đóng góp bằng sự có mặt của mình. Nhìn các em cười, nói, chia sẻ, dù không hiểu gì nhưng trong lòng con rất vui. Các em như những đóa hoa với mỗi sắc màu riêng và rất rạng rỡ. Dần dần, con thuộc tên từng em và biết em nào nói được tiếng Anh. Vậy là khi có điểm quan trọng cần truyền thông, con nhờ em đó thông dịch giúp. Đó thật sự là một nỗ lực lớn từ hai phía. Con phải diễn đạt ý của mình sao cho dễ hiểu nhất, còn các em phải lắng nghe thật kỹ càng và tìm cách chuyển tải qua ngôn ngữ của mình cho các bạn khác cùng hiểu. Nhiều khi con và các em đều “vò đầu bứt tai” nhưng sau khi hiểu được rồi, ai cũng thấy thật vui.

Có khi, sau một hồi cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ lẫn khua chân múa tay mà thấy mặt con vẫn ngơ ngác, các em có giải pháp cuối cùng là “Đi theo chúng con!”. Với vẻ hào hứng, các em dẫn con đến nơi mới khám phá ra trong tòa nhà rộng lớn của Học viện. Sau khi leo gần cả trăm bậc thang, qua mấy tầng lầu, bát cơm trưa của con muốn tiêu hết thì chúng con tới được cầu thang dẫn lên gác mái của tòa nhà. Và thế là chương trình thám hiểm những ô cửa bí mật bắt đầu…

Tình thương làm nên sức mạnh

Những khoảnh khắc con thấy mình kết nối được với các em nhiều nhất là ngoài giờ thời khóa. Con chơi bóng bàn, xích đu, đá bóng, thổi bong bóng, dẫn các em đi thăm những con thỏ hay những chú lừa nhà hàng xóm. Con cũng mời ba mẹ các em đi cùng để yên tâm và dễ truyền thông với các em hơn.

Có những buổi trưa, nhìn các em chơi, con không nỡ rời đi dù biết mình cần nghỉ. Thế là con nhắm mắt lại, buông thư ngay tại chỗ và lắng nghe tiếng cười nói của các em như chim hót bên tai. Một em đưa tay lên miệng “Suỵt..suỵt”, cả nhóm bớt nhốn nháo và lắng nghe. “Sư cô Bồ Đề đang ngủ”, một em nói. Với bản tính trẻ con, các em chỉ giữ cho khoảng lặng được chừng vài giây rồi sau đó lại tiếp tục náo nhiệt trở lại.

Con tự hỏi: “Sao trẻ con lại nhiều năng lượng vậy nhỉ? Có thể chạy nhảy, chơi đùa cả ngày mà không biết mệt”. Phải chăng vì các em chưa lo toan, muộn phiền như người lớn? Nhìn nụ cười rạng rỡ trên những khuôn mặt thánh thiện tựa thiên thần, lòng con chợt có chút thương xót khi nghĩ đến một ngày vẻ vô tư, hồn nhiên kia sẽ biến mất. Dù biết đó là quy luật tất yếu của cuộc sống, rằng đi qua những khó khăn sẽ giúp các em trưởng thành, chín chắn hơn nhưng sao vẫn không nỡ. Mấy ai đi qua bão giông mà không héo hon vì những niềm đau. Liệu các em có đủ can đảm lau đi những thương tích hằn lên đôi mắt để vẫn nhìn cuộc đời với tất cả niềm vui? Kí ức về một tuần ở Làng có thể chỉ như một giọt mưa rơi xuống bề mặt của đại dương, lan tỏa một chút, rồi lại bị vô vàn những con sóng cảm xúc trong cuộc đời khỏa lấp đi mất. Nhưng có hề chi, mỗi khi có cơ hội, con lại làm mọi thứ trong khả năng của mình để gieo vào lòng các em hạt giống của niềm vui và tình thương không điều kiện.

Con có niềm tin rằng những gì nhỏ nhặt nhất, nếu đã rơi xuống biển tâm thức thì sẽ không thể nào mất đi. Con mong rằng mai đây trong những khoảnh khắc bơ vơ, lạc lõng, các em sẽ nhớ một nơi mà mình luôn có thể tìm về để nương tựa. Con giữ gìn sức sống cho nơi đây với sự thực tập của mình và tấm lòng rộng mở chào đón các em trở về.

Tôi đứng đây với tấm lòng kiên nhẫn
Bàn tay tôi cũng hóa đá đợi chờ
Một trăm năm, một ngàn năm
vụt qua nơi vòm trời phương ngoại
Dẫu bão táp, dẫu mưa sa
Đuốc thương yêu cứ lặng lẽ cháy
giữa vườn hoa nhân loại.

Thương là vậy, nhưng có lúc con phải nói “không”. Đó là những lúc đang trong giờ thời khoá, các em bỗng mè nheo với con: “Sư cô ơi, con đi chơi bóng bàn được không?”. Nhìn vào đôi mắt sáng như sao và gương mặt hớn hở kia, dù không đành lòng, con vẫn phải tỏ ra cương quyết: “Bây giờ thì không được, đợi xong thời khóa chị sẽ dẫn em đi”. Sau một hồi năn nỉ con vẫn không lay chuyển, với vẻ tiu nghỉu vì thất vọng, các em ngoan ngoãn trở lại tiếp tục chơi với bút màu và giấy.

Thường khi các em chia sẻ với con điều các em muốn, con sẽ hỏi lại các sư anh, sư chị làm việc chung với mình. Nếu mọi người đều không đồng ý, con sẽ buông ý đó xuống. Con có mặt ở đây là để yểm trợ các sư anh, sư chị mà không phải làm mọi người khó xử. Tuy có làm các em buồn một chút, nhưng nhiều nhất là một, hai tiếng đồng hồ, rồi các em lại tươi cười, chơi đùa như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Đó là điều con ngưỡng mộ ở các em. Dường như càng lớn, khả năng buông bỏ của mình càng nhỏ lại, mình chấp chặt, nắm bắt ý kiến và cảm xúc của mình nhiều hơn thì phải.

Cũng có lúc các em nói “không” với chương trình sinh hoạt. Một vài em trong nhóm không hứng thú đi tham quan rừng nên từ chối không tham gia. Giây phút đó thật sự khó cho con. Con đắn đo: “Mình không thể ép nếu các em không muốn. Còn chương trình sinh hoạt, mình cần tôn trọng”. Và rồi, con quyết định đi vào rừng với cả nhóm. Đi ngang qua các em, con không khỏi áy náy vì cảm giác mình bỏ các em lại. Con bước thật chậm, thỉnh thoảng ngoảnh nhìn xem các em có đổi ý mà chạy theo không.

Khi nhận ra lòng mình đang lao xao, con trở về với hơi thở và bước chân để dừng lại những suy nghĩ mông lung, có mặt cho khung cảnh im mát và những người đang đi cùng con. Thật lạ, trong giây phút đó, con chợt thấy sở dĩ các em không muốn đi vì có những cái sợ. Sợ đường dài, trời nắng nóng, sợ mệt hay có những ấn tượng không tốt với việc đi bộ.

Dù đã đi được nửa đoạn đường, con vẫn quay trở lại với những bước chân mạnh mẽ, với hy vọng những thiên thần của con chưa vỗ cánh bay mất. Càng tới gần, nghe tiếng các em trò chuyện, lòng con thoáng mừng thầm. Thấy con, các em ngạc nhiên: “Sư cô không đi vào rừng à?”. Con mỉm cười: “Chị đi rồi và thấy đó là một nơi rất đẹp. Nơi đó có hồ nước và có cả một dòng suối rất trong và mát, có thể uống được nữa cơ. Chị nghĩ là có thể các em muốn đến nên quay về hỏi thử”. Các em nhìn nhau phân vân. Hay quá, thấy các em có vẻ xiêu lòng, con tung chiêu cuối cùng. Với giọng dỗ dành: “Nếu các em muốn thử thì đi với chị. Bất cứ lúc nào các em thấy mệt, chị sẽ dẫn các em về ngay”. Các em đồng ý. Thế là chương trình đi rừng của con và các em bắt đầu.

Con vừa đi vừa trò chuyện với các em, thỉnh thoảng hỏi xem các em có mệt chưa. Con khám phá ra rằng các em rất khỏe nhưng không muốn đi chỉ vì những tưởng tượng và hình dung trong đầu. Gần đến nơi, sự yên tĩnh của cánh rừng làm dấy lên trong con chút lo lắng. Mọi người đâu cả rồi? Làm sao tìm được người giữa khu rừng rộng lớn này đây? May quá, gặp một thầy đang đi lấy nước, con liền hỏi thăm. Thầy nói: “À, mọi người đang chơi nơi mé rừng phía trước đó”. Quả thật, con nghe có âm thanh từ đằng xa vọng lại. Giây phút đó, câu trả lời của thầy cùng sự im mát của cánh rừng hòa với chất liệu tinh khiết, ngọt lành của nước suối tạo nên khoảng lặng bình an, khỏe nhẹ trong tâm hồn người lữ hành.

 

“Sư cô ơi, nước suối này ngon quá!”. Giọng non nớt của một thiên thần vang lên khiến con cười thật tươi. Con dẫn các em leo đồi với những bước chân thật thảnh thơi. Tới nơi, các em nhanh chóng hòa vào cuộc vui với những thiên thần khác. Sư chị liền hỏi: “Làm sao em rủ được các em đi cùng hay vậy?”. Nhìn về phía chiếc võng đang đung đưa khó nhọc do sức nặng của bầy thiên thần ngồi trên, con trả lời: “Dạ, tại các em thương em mà đi thôi. Với lại, em có hứa khi nào các em mệt, em sẽ dẫn về ngay”. Nếu không có sự truyền thông với các em trước đó, con thấy mình rất khó thành công dù có khéo léo cỡ nào đi nữa. “Các thiên thần rất thích ngồi võng thì phải. Lần sau đi rừng, mình sẽ đem theo nhiều võng hơn”, con thầm nghĩ.

Thì ra siêu quậy cũng biết buồn

Điều con thấy mình làm được là thương các em đều như nhau, dù các em ngoan hay không ngoan. Trong khóa tu hai tuần ở Đức, có hai bé gái vô cùng nhiều năng lượng, thông minh và siêu quậy. Các em bày đủ thứ trò để chơi, để phá và để chọc mọi người. Thú thật, con chỉ dám nhìn hai em từ xa chứ không có can đảm để tới chơi.

Một buổi chiều, khi đang chơi đá cầu với các anh chị em, “siêu quậy một” đến gần thỏ thẻ: “Sư cô ơi, sư cô đi chơi với con được không?”. Nhìn nét mặt, con biết em đang buồn vì phải chia tay bạn của mình – siêu quậy hai đã về nhà rồi. Con quay sang, hỏi với giọng trìu mến: “Ừ, em muốn chơi trò gì nào?”. Chơi cùng em, con phát hiện ra em là một cô bé rất tình cảm. Khi cảm nhận được tình thương từ quý thầy, quý sư cô, em trở nên dễ chịu và yên hơn trước. Qua đó, con thấy rằng một đứa trẻ dù nghịch ngợm, khó bảo đến đâu nhưng nếu mình đủ sự bao dung, ôm ấp và chấp nhận, đó sẽ là cơ hội để em thay đổi.

Tương lai của thế giới nằm trong tay các thiên thần

Một buổi sáng yên bình. Màu vàng óng ả của những vạt nắng dàn trải trên những tán lá dâu và mái ngói thiền đường. Nắng chạy chơi khắp nơi trong bản nhạc véo von của những chú chim nhỏ. Con lặng im thưởng thức khung cảnh trước mắt. Bất chợt, một tia suy nghĩ đi lên: Nếu trong tương lai, nếp sống tâm linh không còn được chú trọng, xã hội đi về hướng tiêu thụ thì khung cảnh thiên nhiên an lành này có thể sẽ biến mất, thiền đường kia có thể trở thành siêu thị. Giây phút đó con nhớ về những thiên thần.

Phải chăng bên cạnh sự tươi mát, hồn nhiên, trong tất cả các em đều tồn tại những hạt giống của sợ hãi, bạo động, buồn giận và tuyệt vọng. Tùy thuộc vào sự tưới tẩm những hạt giống trong tâm thức mà các em có là thiên thần hay không. Nếu con tưới cho các em hạt giống của tình thương với thiên nhiên, với sự sống, các em sẽ biết đau lòng khi nhìn một cái cây bị đốn ngã, sẽ biết cách để chú ong nhỏ bay ra khi vô tình lạc vào nhà, sẽ bước những bước chân cẩn trọng để không giẫm lên bạn ốc sên đang bò ngang trên đường.

Con trao truyền hạt giống thương yêu đó cho các em qua nụ cười, ánh mắt, lời nói và cả trong cách con hành xử. Con làm tất cả những gì cần làm để mai kia khi hóa thành gió, thành mây, con có thể mỉm cười thanh thản. Vì con biết rằng, các thiên thần sẽ tiếp tục sứ mạng mang thương yêu thấm nhuần trái đất.

Tương lai của thế giới có tươi sáng hay không phụ thuộc vào cách bạn đối xử với một em bé trong giây phút hiện tại. Có nhiều cách để bảo vệ đất Mẹ, và một trong những cách thiết thực nhất là chăm sóc con cháu của bạn với tất cả tình thương và sự tỉnh thức.

Con đường là tâm hồn tôi

(Thầy Chân Minh Hy)

Rừng thu, bóng nắng ngả về chiều mời gọi từng bước chân.

Trên con đường vắng, những cây tùng xanh mạnh khỏe, đứng bên nhau, vững chãi.

Thầy nói:

“Những hàng cây đứng thẳng như những cây cột trong giáo đường, khiến ta có cảm tưởng như đang lạc vào trong một thánh đường uy nghiêm”.

 

 

Tôi cứ đi và cho phép mình đi chơi. Những con đường đẹp quá làm tôi cứ muốn đi thêm chút nữa, thân quen đến nỗi như chính đó là tâm hồn tôi. Những con đường ấy cho hạnh phúc, niềm vui mà chưa bao giờ là khổ đau. Không có gì thích thú hơn là được đi chơi. Dù trời mưa, bùn đất lầy lội, được đi từng bước trên những con đường ấy tôi đều cảm thấy thật dễ chịu, có khi nỗi buồn một lúc là tan biến mất.

Tôi ước rằng bạn cũng có ít nhất một con đường như thế để đi trong thôn xóm của mình. Có người thích đi trên những con đường mới, tôi cũng thích. Nhưng được đi trên những con đường trong xóm, tôi chưa bao giờ thấy chán. Con đường cũ là người bạn cố tri mà bao giờ mình cũng trông mong được gặp. Nếu bạn ghé thăm, chúng ta có thể đãi nhau bằng một chuyến dạo chơi. Chúng tôi ở đây không có gì ngoài những con đường đẹp. Cả gia tài hạnh phúc đều được Thầy cất giữ trên những con đường ấy.

Nếu chẳng thấy mãn nguyện cùng đi chơi trên những con đường như thế, có lẽ kẻ lãng tử vẫn còn lang thang đi tìm cái hạnh phúc không phải là con đường. Thời gian, sức khỏe và tình yêu dần phai mòn vì mãi còn tìm kiếm.

Về đi! Bạn và tôi thuộc về nơi đây, thuộc về những con đường. Con đường là hạnh phúc, là chính ta.

Con đường vắng, những hàng tùng xanh, dáng đứng thẳng tắp bên nhau.

Linh dược trị khổ đau

(Trích từ sách “Con Đã Có Đường Đi” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của tài năng, của tình thương và của hạnh phúc. Nếu các hạt giống ấy được nuôi dưỡng, được tưới tẩm hằng ngày thì không những ta có được hạnh phúc mà còn mang lại hạnh phúc cho người khác. Tuy vậy, ta nên biết bên cạnh những hạnh phúc ta vẫn còn có những khó khăn, những khổ đau trong thân tâm. Ta cần có thời gian để nhìn lại chúng, để gọi tên chúng và để công nhận sự có mặt của chúng. Ta không được đè nén hay trốn chạy chúng. Nỗi khổ niềm đau ấy có thể là do cha mẹ, tổ tiên của ta trao truyền lại. Nếu gọi được tên của những nỗi khổ niềm đau, chúng ta sẽ cảm thấy rất khỏe. Sở dĩ chúng ta còn khổ bởi chúng ta chưa chịu công nhận những nỗi khổ niềm đau của mình. Có công nhận chúng thì mới có cơ hội tính đến chuyện chuyển hóa chúng. Đối với những người thương của ta, những người sống xung quanh ta, ta cũng cần quán chiếu để thấy được những khó khăn, những yếu kém và những khổ đau của họ. Bởi vì khó khăn của họ có ảnh hưởng đến hạnh phúc của chính chúng ta. Thật vậy, nhiều người đã không biết cách xử lý những khổ đau của chính họ nên không những họ tự gây khổ đau cho mình mà còn làm khổ người khác. Chúng ta phải thấy được những người ấy rất đáng thương vì họ cũng chỉ là nạn nhân của những tập khí xấu được trao truyền từ ông bà tổ tiên qua nhiều thế hệ. Nếu thấy được nguyên nhân và gốc rễ của những khó khăn nơi người kia thì ta sẽ chấp nhận được họ mà không gây áp lực, không đòi hỏi sự thay đổi nơi họ. Ngược lại ta còn có thể giúp họ chuyển hóa những yếu kém ấy. Sự chấp nhận này được thể hiện bằng chất liệu từ bi qua cách nói, cách nhìn của ta đối với người ấy. Chính sự chấp nhận đó mới có khả năng mang lại sự thay đổi nơi chính ta và nơi người khác.

Tuy nhiên, muốn giúp được người thì trước tiên ta cần làm hòa, cần chấp nhận những khổ đau và yếu kém của chính bản thân mình. Ta có thể viết một lá thư chia sẻ những nỗi khổ niềm đau của ta với người kia. Trong thư cần nêu được nguyên nhân nào đã đưa đến những khổ đau nơi ta. Rồi ta giúp người kia quán chiếu những khổ đau của chính họ. Những bác sĩ tâm lý trị liệu có nhiệm vụ giúp đỡ các bệnh nhân thấy được nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Tuy nhiên, bác sĩ tâm lý trị liệu cũng phải hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính họ, phải biết được gốc rễ đã đưa đến những nỗi khổ niềm đau ấy. Tóm lại, cả hai, bệnh nhân và bác sĩ, đều phải làm việc. Họ phải thực tập như một Phật tử là công nhận những khổ đau họ đang có. Có chấp nhận sự có mặt của những khổ đau ấy thì họ mới có cơ hội tìm đến được gốc rễ của những khổ đau ấy, đó là tập đế. Khi biết được nguyên nhân của những khổ đau, ta sẽ có con đường để chuyển hóa, để trị liệu chúng, đó là đạo đế. Bác sĩ y khoa cũng nên thực tập theo phương pháp Tứ diệu đế vì Tứ diệu đế là linh dược trị khổ đau. Khi nhìn sâu vào những khổ đau, chúng ta sẽ thấy được gốc rễ của nó. Đó chính là chánh kiến. Với chánh kiến, ta sẽ không còn oán trời trách đất nữa mỗi khi gặp khổ đau. Chánh kiến ấy trước hết là cái thấy về Bốn sự thật. Nếu quán chiếu sâu sắc ta sẽ thấy được tính tương tức giữa các sự vật, các hiện tượng, đó cũng là chánh kiến. Cụ thể, ta thấy được hạnh phúc và khổ đau có tính tương tức, khổ đau và hạnh phúc nương vào nhau mà có, không có hạnh phúc thì không thể có khổ đau và ngược lại. Rõ ràng, khổ đau đóng một vai trò  quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc như bùn nuôi sen tươi vậy.                                                                                                                                                   

 

Thấy được điều này, cách hành xử của ta cũng sẽ thay đổi theo. Một người không biết khổ đau thì sẽ không biết hạnh phúc là gì. Có trải qua khổ đau, ta mới có được sự hiểu biết và thương yêu. Hiểu biết và thương yêu làm ra chất liệu của hạnh phúc chân thật. Người nào không biết hiểu, không biết thương thì không thể có được hạnh phúc. Nếu không sợ hãi mỗi khổ đau mà can đảm ôm lấy nó, nhìn sâu vào nó, ta sẽ tìm ra được hạnh phúc. Đây gọi là cái nhìn bất nhị, cái nhìn tương tức. Tính bất nhị có mặt trong các hiện tượng như: trái và phải, thiện và ác, tốt và xấu. Nhìn vào cái này ta sẽ thấy được cái kia, và nhìn vào cái kia ta sẽ thấy được cái này. Để có những cái thấy đúng là cả một quá trình tu tập. Nếu có được cái thấy này, ta sẽ vượt thắng được cái nhìn nhị nguyên giữa khổ đau và hạnh phúc, tức là cho rằng khổ đau và hạnh phúc là hai cái khác nhau. Ta không còn ý niệm trốn chạy khổ đau để đi tìm hạnh phúc nữa. Mình có thể tìm hạnh phúc ngay trong khổ đau.

 

 

 

 

 

Nhìn đời trong chiếc gương soi

(Trích từ sách Áo vách núi của sư cô Chân Đẳng Nghiêm)

Có lần con đi theo tăng thân Bích Nham đến chùa Hoa Nghiêm để hướng dẫn khoá tu. Ngày đầu tiên, quý thầy và quý sư cô đã đi thăm Washington D.C nhưng con không đi được. Hôm đó, con bị đau nhức trong người nên phải nằm dài trên cái túi ngủ.

Hết giờ này qua giờ khác, con chỉ nhìn vào đôi mắt của mình trong một chiếc gương soi nhỏ. Tất cả những kỉ niệm khi con còn ba, bốn tuổi đã lần lượt trở về và con đã thấy rõ được từng kỉ niệm một. “Ồ, đây là biến cố mình đã đi qua với sự tuyệt vọng, sợ hãi và lo âu”. Con nhận thấy con người chúng ta, dù khi còn là một đứa trẻ đã có những cảm xúc mạnh rất sớm. Dù không gọi tên được những cảm xúc ấy nhưng đứa trẻ vẫn cảm nhận được với tất cả con người của nó.

Con nằm với chiếc gương như vậy sáu tiếng đồng hồ và nhìn vào cả chuỗi dài cuộc đời với những kỉ niệm lần lượt trôi vào kí ức. Con chỉ buông thư, mỉm cười và nhận diện chúng một cách đơn thuần. Con thú thật, trước khi đi tu, nếu con gợi lên một kỉ niệm của thời thơ ấu thì nó có thể làm con tê liệt cả một tuần. Nhưng khi con nhìn vào cuộc đời mình với hơi thở chánh niệm và toàn thân buông thư như vậy, con đã hiểu trọn vẹn hơn về đời mình, hiểu hơn về những ngọn sóng lên xuống, những thành bại, vui buồn hay hạnh phúc, khổ đau.

Sau sáu giờ nhìn lại cuộc đời mình như vậy, con đi tập thể dục hơn một tiếng rưỡi nữa. Khi các sư cô trở về, con cảm thấy mình khoẻ hơn và vui vẻ ngồi chơi với các sư chị, sư em. Sự tu học cho con một thứ quyền lực để nhìn lại đời mình một cách trọn vẹn mà tài sắc và danh vọng không thể nào mang đến được. Năng lượng của niệm, định và tuệ cho con khả năng nhìn lại cuộc đời mình, có được sự chấp nhận, sự bình an đối với những gì đã, đang và sẽ xảy ra.

Mỗi người chúng ta dù còn trẻ hay đã lớn tuổi, ai cũng có những kỉ niệm, những kí ức về chính chúng ta, về cha me, ông bà tổ tiên và về biết bao người mình đã gặp, đã thương, đã từng ân oán. Khi có những căn bệnh mãn tính, cấp tính hoặc khi chúng ta sắp lìa đời, các kí ức sẽ cuồn cuộn đi lên và liệu chúng ta có cái khả năng để nhìn chúng hay không? Hồi còn làm trong các bệnh viện, con đã chứng kiến rất nhiều bệnh nhân khi gần chết đã tỏ ra rất sợ hãi và tuyệt vọng. Đó là vì những chuyện cần làm nhưng chưa được làm xong (unfinished buisiness) đã cùng kí ức cuồn cuộn trào lên trong tâm thức họ. Trong lúc cơ thể đã yếu đuối mong manh hoặc sắp chết, người ta có thể bị cuốn đi bởi những cơn bão của hối tiếc, sợ hãi và tuyệt vọng. Có những người có quá nhiều đau đớn và sợ hãi nên phải chích morphine cho hôn mê. Họ ra đi trong tình trạng lãng quên và mê man như vậy.

Trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta có khả năng nhìn vào gương soi để thấy được con người thật của mình để thương yêu, chấp nhận, trân quý; cũng như từ từ chăm sóc được những liên hệ tình cảm với cha mẹ, con cháu, bạn bè, với chính mình, học làm tri kỉ của chính mình thì khi những đợt sóng đó đi lên, chúng ta có thể buông thư và mỉm cười được.

Bài kệ 36

Hành tịnh trí độ thế

行 淨 致 度 世

Thiên nhân mạc bất lễ

天 人 莫 不 禮

Sống thanh tịnh, vượt thoát được thời gian,

Thì cả hai giới thiên nhân đều nghiêng mình kính nể.

Hành tịnh trí độ thế: Hành tịnh là sống nếp sống tịnh hạnh. Trí độ thế là vượt được thế gian. Thời gian và không gian không còn là nhà tù của mình nữa.

Thiên nhân mạc bất lễ: Hai giới trời và người đều kính nể.

Chúng ta phải học, phải nghiên cứu kinh Pháp Cú theo phương pháp sau:

Phải ý thức được Pháp Cú là những bài kệvề giáo pháp mà chư Tổ đã thu góp từ các kinh Bụt dạy và sắp xếp lại thành từng chủ đề. Có những bài kệ nói về Niết bàn, chư Tổ đã gom lại thành một chương gọi là Phẩm Nê Hoàn. Đó là lời Bụt dạy trong kinh dưới hình thức những bài kệ. Trong khi biên tập kinh Pháp Cú, chư Tổ đã thâu tóm những bài kệ đó lại thành những chủ đề. Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại (Nê Hoàn Phẩm) là một trong những chủ đề đó. Kinh Chiếc Lưới Ái Ân mà chúng ta đã học, cũng là một chủ đề. Trong khi thu góp các bài kệ để vào một chủ đề, chư Tổ cũng đã sắp xếp lại; nhưng đó chỉ là sắp xếp tạm thời. Khi học, chúng ta phải học với con mắt của nhà khoa học, có thể Bụt nói câu này ở môi trường này và nói câu kia ở môi trường kia, chứ không phải Bụt nói câu này rồi tiếp tục nói câu kia. Có sự liên hệ giữa câu này và câu kia, nhưng đó là do chư Tổ đã sắp xếp lại. Ta phải thấy trước và đừng cho là kinh này Bụt nói theo thứ tự từ đầu tới cuối. Kinh Pháp Cú có thể đã do tôn giả Pháp Cứu (Dharmatrāta), một vị luận sư nổi tiếng của học phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda), sưu tập.

Phải phân biệt hai loại kinh. Kinh liễu nghĩa và kinh chưa liễu nghĩa. Kinh liễu nghĩa là những kinh nói về chân lý tuyệt đối (paramārtha). Những kinh nói về chân lý tương đối là kinh chưa liễu nghĩa.

Có kinh nói mình phải thoát cõi sinh tử để đi vào cõi Niết bàn. Như vậy, kinh có hàm ý: Có sinh tử và có Niết bàn tách riêng ra khỏi sinh tử. Nhưng có kinh nói: Sinh tử chỉ là ý niệm; thật ra, không có sinh, cũng không có tử, như trong Tâm Kinh. Tâm Kinh là một kinh liễu nghĩa. Có kinh nói có bốn sự thật rõ ràng: Khổ, tập, diệt, đạo. Bốn sự thật là nền tảng của giáo lý đạo Bụt. Nhưng trong Tâm Kinh nói không khổ – tập – diệt – đạo, nhìn kỹ ta thấy khổ không thể tự có một mình. Khổ làm gì có nếu không có vui, vui làm gì có nếu không có khổ. Khổ, tập, diệt, đạo là bốn sự thật; nhưng sự thật này nằm trong ba sự thật kia, ta không thể tìm một sự thật ngoài ba sự thật còn lại. Không có từng sự thật khổ, tập, diệt, đạo nằm riêng rẽ nhau. Chúng ta thấy giống như hai giáo lý chống đối nhau; nhưng thật ra chúng không chống nhau, vì một giáo lý nói về chân lý không liễu nghĩa và giáo lý kia nói về chân lý liễu nghĩa.

Khi chư Tổ đưa các bài kệ chung vào một kinh, thì có bài kệ liễu nghĩa và có bài kệ không liễu nghĩa, nên có vẻ giống như bài kệ này chống đối bài kệ kia. Ta phải thấy được điều đó và đừng hỏi tại sao câu kệ này không phù hợp với câu kệ kia. Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại có 36 bài kệ. Là một học giả ta phải có khả năng thấy được bài kệ nào là liễu nghĩa và bài kệ nào là không liễu nghĩa. Kinh liễu nghĩa hay, mà kinh không liễu nghĩa cũng hay. Mỗi loại kinh có chức năng của nó. Có thể, ta phải bắt đầu bằng các kinh không liễu nghĩa, rồi từ từ ta đi tới kinh liễu nghĩa. Ta phải công nhận có bốn sự thật khổ – tập – diệt – đạo; khi nắm vững rồi, ta mới có thể vượt qua. Ngay từ đầu nếu ta nói không có khổ – tập – diệt – đạo thì rất khó.

Có những bài kệ có vẻ như không đi theo những bài kệ khác trong kinh và ta cho rằng trong kinh có sự bất nhất. Là học giả, ta biết đó là những bài kệ bất liễu nghĩa, nên không thể so sánh với những bài kệ liễu nghĩa; nhưng nhờ bất liễu nghĩa mà ta có thể đi tới liễu nghĩa. Ta phải có khả năng nhận diện những bài kệ không liễu nghĩa, nhưng những bài kệ ấy có vai trò giúp ta đi tới chỗ liễu nghĩa. Phải tìm cho ra. Một hành giả cũng là một học giả, một nhà nghiên cứu thông minh. Phải học hỏi theo tinh thần khoa học, chứ không phải người ta nói gì ta đều nghe theo không điều kiện.

Có những bài kệ nói về không dơ, không sạch. Trong Niết bàn không có ý niệm dơ và sạch, trong và ngoài, đến và đi, khổ và lạc. Trong khi đó, có những bài kệ nói: Thân là bất tịnh, thì tại sao lại tìm hạnh phúc ở chỗ dơ bẩn? Theo nguyên tắc của kinh liễu nghĩa, không có gì là tịnh hay bất tịnh. Chúng ta có hai con đường để đi tới, vì vậy trước tiên chúng ta phải đọc từ đầu tới cuối, thấy được bài kệ nào là liễu nghĩa và bài kệ nào chưa liễu nghĩa nhưng cũng có công năng đưa tới liễu nghĩa.

Bốn bài kệ đầu xưng tán Niết bàn, bài kệ thứ nhất nói Niết bàn là cái cao nhất (Nê Hoàn là tối thượng), bài kệ thứ hai nói Niết bàn là tối khoái, bài kệ thứ ba thì dùng chữ tối lạc và bài thứ tư dùng chữ tối an. Bốn bài kệ này có mục đích cho Niết bàn là cái quan trọng nhất. Bài kệ thứ năm hàm ý: Tuy Niết bàn có đó, nhưng mình phải biết cách mới có thể đi vào. Sự thật là như vậy: Tịnh độ, Niết bàn, tình thương, hạnh phúc có đó, nhưng có người loay hoay mãi cũng không đi vào được. Ta phải biết cách đi vào, vì vậy cho nên ta phải cần thực tập. Bài thứ sáu là một hình ảnh rất thi ca, tôi cho đây là bài kệ đẹp nhất trong kinh:

Hươu nai nương đồng quê

Chim chóc nương trời mây

Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện

Các bậc chân nhân nương vào Niết bàn để sống thảnh thơi

Niết bàn có đó, Niết bàn không phải là chuyện tương lai. Nirvāna, trong ngôn ngữ nhân gian, có nghĩa là mát lạnh, là trạng thái không bốc cháy. Những phiền não như đam mê, giận hờn, thù hận bốc cháy làm ta khổ đau. Khi ngọn lửa phiền não tắt thì ta thấy mát, đó là Niết bàn. Định nghĩa đầu tiên của Niết bàn là sự vắng mặt của ngọn lửa phiền não (extinction of fire). Nhưng ngọn lửa phiền não cháy được là nhờ nhiên liệu (fuel), nhiên liệu là sự u mê của mình, tức những nhận thức sai lầm của mình. Ta thấy có sinh, diệt, trong, ngoài, ta và người. Cái thấy lưỡng nguyên đó cần phải lấy đi, ngọn lửa mới tắt. Định nghĩa thứ hai của Niết bàn là sự tắt ngấm của những tri giác sai lầm (extinction of wrong perceptions), những ý niệm như tôi và anh là hai thực tại riêng biệt, thân và tâm là hai cái hoàn toàn khác nhau, chủ thể và đối tượng là hai cái tách rời nhau, sinh và diệt, có và không là những cái chống đối nhau. Những ý niệm đó nhen cho ngọn lửa cháy lên, nên chúng ta phải dập tắt mọi ý niệm.

Bài kệ thứ sáu cho ta thấy Niết bàn là cái gì đang có mặt cho mình, chứ không phải là cái ta đi tìm cầu trong tương lai ở một không gian khác; cũng như đợt sóng đã là nước và nó không cần đi tìm nước ở một nơi khác. Đợt sóng đau khổ, vì không biết mình là nước, nó sợ hãi những lúc lên xuống, lúc bắt đầu, khi chung cục. Biết mình là nước rồi thì lên cũng vui, mà xuống cũng vui; có cũng vui, không cũng vui; cao cũng vui, thấp cũng vui. Niết bàn là cái đã có sẵn, ta chỉ cần tiếp xúc. Đợt sóng quá bận rộn, nó không tiếp xúc được với bản chất của nó là nước nên nó đau khổ.

Hai định nghĩa về Niết bàn được lặp lại nhiều lần trong nhiều bài kệ. Ý niệm về ngã, mình có cái ta riêng và người kia có cái ta riêng, đưa tới sự so sánh hơn người, thua người hay bằng người và tạo ra sự đau khổ. Trong các bài kệ được coi là liễu nghĩa có bài kệ nói về sự vắng mặt của các phiền não và có bài kệ nói về sự vắng mặt của các ý niệm sai lầm. Chúng ta phải đọc lại kinh và nhận diện bài kệ nào nói về sự vắng mặt của phiền não và bài kệ nào nói về sự vắng mặt của những ý niệm. Cuối cùng, ta thấy có những chỉ dẫn rất cụ thể để đi vào Niết bàn. Nhận diện được và trở về Niết bàn trong đời sống hàng ngày như chim trở về trời, cá trở về sông, hươu nai trở về đồng quê. Ta phải tìm về Niết bàn trong đời sống hàng ngày, nhưng làm sao đi về được Niết bàn? Có những bài kệ khác dạy cách đi về Niết bàn như sống đời phạm hạnh, giữ giới, quán thân bất tịnh.

Ông già Noel rất cần thiết cho mình. Khi lớn lên, ta nhận ra rằng không có ông già Noel; nhưng lúc còn nhỏ, ta rất hạnh phúc tin rằng vào buổi sáng thức dậy thì sẽ thấy có quà của ông già Noel trong chiếc vớ. Trong lúc ngủ, ông già Noel vào nhà bằng cách chui xuống theo ống khói. Ba má cũng giả bộ tin theo, để làm cho con cháu hạnh phúc: “Con ngủ đi! Nếu con không ngủ, ông già Noel sẽ không tới!Ba mẹ không tin, nhưng nuôi dưỡng niềm tin đó để làm hạnh phúc cho con cháu. Trẻ con lớn lên biết ba má nói dối, nhưng đến khi làm ba má, chúng cũng lại nói dối với con cháu. Ông già Noel là một sự nói dối trường kỳ từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ta đi vào chùa lạy Phật, má nói với ta trong chùa có Phật. Chỉ có vào chùa mới gặp được Phật, ta đem nào nhang, nào đèn, nào chuối, nào cam lên chùa cúng Phật. Chỗ ta đi tìm Phật là trong chùa; nhưng khi lớn lên, ta thấy không đúng như vậy. Trong chùa, chỉ có tượng Phật, ta tìm ra sự thật rằng Phật là ở trong lòng. Những người có tu, sớm muộn gì cũng tìm ra sự thật Phật không phải ở trong chùa. Chư Tổ và những người tu đều nói Phật tức tâm, Phật ở trong tâm, còn Phật ở trên bàn thờ trong chùa là một cách nói dối giống như nói có ông già Noel.

Khi chết, ta đi về Tây phương và gặp Bụt ở đó, hay ta lên thiên đường ngồi dưới chân Thượng đế, đó là một thứ ông già Noel. Nếu tu học đàng hoàng, ta biết Bụt có ngay trong tâm mình bây giờ và ở đây. Trong đạo Bụt, có những người tu tập, thực chứng được điều đó và cho chuyện Phật ở Tây phương, hay Bụt trên bàn thờ chỉ là chuyện ông già Noel. Họ thấy rất rõ Bụt và Tịnh độ đang có mặt ngay trong giây phút hiện tại, trong con người của mình. Những nhà tu thần bí tìm ra Chúa không phải ở trên trời, mà có ngay ở đây trong tâm hồn của mình và Thiên quốc cũng có mặt ngay bây giờ.

Chúng ta ở Làng Mai, đã lặp lại nhiều lần: The Pure Land is here and now and Amitabha Buddha is your own nature. Chư Tổ cũng có nói: Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ. Ý niệm nước Cực lạc và Bụt Di Đà ở phía Tây, chết rồi ta mới sang bên đó… cũng có thể xem như là chuyện ông già Noel cho những người mới bắt đầu. Nếu tu đàng hoàng, ta không cần phải chết rồi mới đi qua bên đó. Đức Di Đà và cõi Cực lạc có thực trong phút giây hiện tại. Niết bàn không phải là cõi rất xa mà ta chỉ tới được sau khi chết, Niết bàn là cái đang có bây giờ và ở đây. Niết bàn là tự tánh của ta, ta phải đặt Niết bàn đúng chỗ ở đây bây giờ. Trong kinh Tạp A Hàm có dùng danh từ “Hiện pháp Niết bàn” (Dṛṣṭa-dharma-nirvāna), tức Niết bàn trong giây phút hiện tại. Ta không muốn là trẻ con, bị lừa bởi chuyện ông già Noel, ta phải bước thêm một bước để thấy Niết bàn đó đang có mặt trong giây phút hiện tại, như trời mây đang có mặt cho chim, đồng quê đang có mặt cho hươu, dòng sông đang có mặt cho cá. Niết bàn đang có mặt cho ta, ta phải biết cách trở về Niết bàn trong sự sống hàng ngày.

Khi thở hay bước đi trong chánh niệm thì năng lượng của niệm – định – tuệ mở cửa cho mình bước vào cõi không sinh diệt, không phiền não. Sinh diệt chỉ là những ý niệm của mình. Thượng đế có thể được nhận thức như tự tánh bất sinh bất diệt, mát mẻ, không phiền não, đang có mặt cho mình ngay bây giờ. Thay vì đọc theo kiểu ông già Noel: “My Father’s in heaven” ta có thể đọc “My Father’s right in us”. Chữ Father là một ý niệm; tên Vô lượng thọ, Vô lượng quang của Bụt cũng chỉ là một cái tên; Allah hay God đều là những cái tên. Cái quan trọng là bản chất, là cái vô sinh bất diệt, mát mẻ, không phiền não đang có mặt cho ta.

Kinh này có tên Rong Chơi Trời Phương Ngoại. Nếu đang bị ngọn lửa phiền não đốt cháy, hay đang bị những kỳ thị, những tri giác sai lầm làm cho sợ hãi, lo lắng, buồn phiền, thì ta không có Niết bàn. Con đường đi vào Niết bàn là con đường rũ bỏ những phiền não, kỳ thị đó. Nhân loại cần phải bước thêm bước nữa, không thể bám mãi vào các ông già Noel. Thượng đế không thể được diễn tả bằng ý niệm có và không, trong và ngoài, ta và người. Bất cứ một ý niệm nào cũng không thể diễn tả được Thượng đế; cũng như không có ý niệm nào có thể diễn tả được Niết bàn, vì Niết bàn là sự dập tắt tất cả những ý niệm, trong đó có ý niệm ta và người, sanh và diệt, có và không. Rất buồn cười khi nói có Thượng đế hay không có Thượng đế. Thượng đế không thể được diễn tả bằng ý niệm có hay không. Thượng đế hay Niết bàn vượt khỏi ý niệm có không.

Tây phương hiện nay có hiện tượng gọi là double belonging, tức là vừa theo đạo Chúa vừa theo đạo Bụt, mà không có sự mâu thuẫn, giằng co. Có nhiều vị linh mục đang sống và thực tập như thế, trong đó có thượng tọa Thích Chân Pháp Đệ của mình, và linh mục Paul F.Knitter, tác giả cuốn sách Without Buddha, I could not be a Christian (Nếu không có Bụt thì tôi đã không thể làm một người tín hữu Cơ đốc). Truyền thống này giúp làm sáng thêm truyền thống kia và ngược lại. Nhân ngày lễ Noel, xin quý vị quán chiếu về đề tài này. Đây là vấn đề văn hóa. Theo được con đường này, chúng ta chấm dứt được kỳ thị, chia rẽ, đem lại sự đoàn kết và hòa bình cho thế giới.

Bài kệ 35

Khí cấu hành thanh tịnh

棄 垢 行 清 淨

Khả dĩ hoạch đại an

可 以 獲 大 安

Y tuệ dĩ khước tà

依 慧 以 却 邪

Bất thọ lậu đắc tận

不 受 漏 得 盡

Buông bỏ được cấu uế, đi trên đường thanh tịnh

Thì có thể đạt tới cái an tĩnh lớn

Nương tuệ giác, bỏ tà kiến

Không tiếp nhận gì nữa thì đạt được tới trạng thái lậu tận.

Khí cấu hành thanh tịnh: Buông bỏ, trừ diệt những nhiễm ô, hành động cho trong sạch, sống một nếp sống thanh tịnh, trì giới.

Khả dĩ hoạch đại an: Có khả năng đạt tới an ổn lớn.

Y tuệ dĩ khước tà: Chữ tuệ có thể được hiểu là các bậc có trí tuệ lớn tức chư Bụt và chư Bồ tát. Ta đừng chung đụng với những người thiếu đạo đức, không có trí tuệ mà phải nương vào những bậc thức giả (y tuệ) để từ bỏ những sai quấy (dĩ khước tà).

Bất thọ lậu đắc tận: Bất thọ là không tiếp nhận. Lậu là rỉ ra, hữu lậu là còn đi quanh quẩn trong vòng luân hồi, lậu đắc tận là không còn phiền não. Lậu tận thông là phép thần thông diệt được tất cả những phiền não trong quá khứ. Không tiếp nhận những cái tiêu cực thì những phiền não không còn.

Bài kệ 34

Hình hủ tiêu vi mạt

形 腐 銷 為 沫

Tuệ kiến xả bất tham

慧 見 捨 不 貪

Quán thân vi khổ khí

觀 身 為 苦 器

Sinh lão bệnh vô thống

生 老 病 無 痛

Hình hài này một khi đã hủy hoại sẽ trở thành tro bụi

Kẻ có tuệ biết buông bỏ không bám víu

Quán chiếu thấy được thân này là một công cụ mang toàn hệ lụy

Thì sinh, lão, bệnh, tử sẽ không còn là chuyện đau buồn.

Hình hủ tiêu vi mạt: Chữ tiêu có bộ kim 金 , tức chất kim loại, tiêu là nấu cho chảy ra.

Thân hình của mình thế nào cũng phải hư nát, tiêu hoại, trở thành bụi. Thánh Kinh nói: Hình hài này do cát bụi làm ra và nó sẽ trở về cát bụi.

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi

(Trịnh Công Sơn)

Tuệ kiến xả bất tham: Người có trí tuệ thấy như vậy nên không bám víu, không tham tiếc thân xác này.

Quán thân như khổ khí: Quán chiếu thấy thân thể mình là một công cụ mang theo nhiều hệ lụy. Thấy được thật tướng của hình hài, ta không còn bị kẹt vào nó.

Sinh lão bệnh vô thống: Sinh, lão, bệnh, tử không còn là sự lo sợ nữa. Ta sợ sinh, lão, bệnh, tử tại vì ta còn bị kẹt quá nhiều vào hình hài này. Nếu thấy được ta không chỉ là hình hài này thì lo sợ sẽ không còn nữa.