Làm mới đạo Bụt qua Đại giới đàn
Sư cô Định Nghiêm
Trong buổi lễ truyền giới khất sĩ nữ trong Đại giới đàn Nước Tĩnh vừa qua, tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe giọng đọc rõ ràng, thong thả của hai vị Hòa thượng Truyền giới là Ni trưởng Chân Không và Ni trưởng Trung Chính. Hai Ni trưởng – mới ngày nào còn là những sư cô trẻ – nay đã trở thành Hòa thượng Truyền giới cho các sư em và các sư cháu. Giọng đọc ấy không chỉ đọc giới và truyền giới, mà dường như đọc lên cả chiều dài của lịch sử truyền thừa.
Sau khi xuất gia, tôi được tham dự Đại giới đàn Hương Tích trong khóa tu mùa Hè năm 1994 – Đại giới đàn thứ hai được tổ chức tại Làng Hồng. Khi ấy tôi còn là một sa di nữ, được làm thị giả quý Sư bà như Sư bà chùa Đức Viên, Sư bà chùa Phổ Đà,…. Ni trưởng Chân Không và Ni trưởng Trung Chính lúc đó còn rất trẻ. Sư chú Pháp Hòa được Sư phụ dẫn đến để thọ giới tỳ kheo và cũng cùng nhóm thị giả với tôi và sư cô Tuệ Nghiêm. Còn nhỏ quá, tôi chỉ biết ghi nhận một cách ngây ngô những hình ảnh và âm thanh ấy vào tâm thức của mình. Năm tháng trôi qua, mỗi lần nhớ lại là mỗi lần tôi hiểu thêm một chút những gì đã xảy ra mà nay đã đi vào lịch sử.
Từ một Đại giới đàn đến sự làm mới
Sư Ông là người sắp xếp mọi việc từ A đến Z, từ trong ra ngoài. Trước hết là định ngày và đặt tên cho Đại giới đàn, rồi đích thân viết thư cung thỉnh chư Tôn túc trong Hội đồng Truyền giới. Sư Ông tự tay viết nghi thức khai đàn thật ngắn gọn, soạn các nghi thức truyền giới hoàn toàn bằng tiếng Việt, thiết kế Điệp hộ giới, sắp xếp chương trình, địa điểm tập họp, thiết kế đồ hình trong các buổi lễ. Mỗi chi tiết đều có ý nghĩa và chủ ý của Sư Ông trong đó. Năm ấy, Làng chưa có chuông trống Bát Nhã. Sư Ông trao cho một sư chú (đa số các đệ tử nam của Sư Ông lúc ấy còn là sư chú) một cuốn cassette thu tiếng chuông trống Bát Nhã, dặn dò sư chú đi thiền hành từ đâu đến đâu và tính toán sao cho ba hồi chuông trống khớp với khoảng cách và thời gian rước Giới bổn. Sư Ông điều động và sắp xếp từng chi tiết nhỏ, đến mức không sót việc gì. Và Sư Ông giao trách nhiệm cụ thể cho từng đệ tử.
Bắt đầu là năm 1992, khi thấy đã đến lúc các đệ tử đầu tiên được thọ giới lớn, Sư Ông cung thỉnh chư Tôn túc từ khắp nơi trên thế giới – Hoa Kỳ, Canada, Úc, Đan Mạch… – về Làng làm Hội đồng Truyền giới trong Đại giới đàn Cam Lộ. Nhờ vậy, phép truyền giới được thực hiện đúng theo Tác pháp Yết ma Bạch tứ, có Tam sư và Thất chứng đầy đủ, y cứ trên giới luật, dù Làng có thể được liệt vào trường hợp đặc biệt, vì đây là “biên địa”, nằm giữa miền quê mà người ta thường nói vui là “khỉ ho cò gáy”, và ở phương Tây – nơi rất hiếm thầy tu theo đạo Bụt.
Cứ mỗi hai năm, rồi mỗi năm, Sư Ông đứng ra tổ chức Đại giới đàn liên tục cho đến năm 2008. Khi thầy Pháp Ấn rời Làng để nhận trách nhiệm chăm sóc Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB), ở Làng mới bắt đầu hình thành “ban kiến đàn” để thay Sư Ông tiếp tục công việc tổ chức các Đại giới đàn về sau.

Năng lượng niệm và định – trái tim của Đại giới đàn
Là một trong những thị giả cho chư Tôn túc, tôi thường ngạc nhiên khi thấy đôi lúc quý Ngài cũng hơi lúng túng hoặc bị “khớp” trong khi dâng hương hay truyền giới. Sau này, nghe quý Ngài chia sẻ, tôi mới hiểu rằng năng lượng niệm và định trong các buổi lễ hùng hậu đến mức làm cho thân tâm người tham dự cũng rung động sâu sắc.
Mỗi khi có vị nào tham dự lần đầu, chưa quen nghi thức, lật giấy sột soạt để theo dõi buổi lễ, Sư Ông liền ngưng lại, nhìn qua vị ấy và chờ đến khi tiếng sột soạt dừng hẳn mới tiếp tục. Sự yên lặng hùng tráng ấy chính là một phần tạo nên năng lượng niệm và định trong buổi lễ. Và điều khiến quý Ngài hoan hỷ nhất chính là các buổi lễ rất ngắn gọn, không đặt nặng hình thức, nhưng vô cùng trang nghiêm và hùng hậu.
Những thư ký chính của Sư Ông trong nhiều Đại giới đàn là chị Ấu Hà (sau này là sư cô Hương Nghiêm), sư cô Đoan Nghiêm, thầy Pháp Ấn… Riêng việc thiết kế Điệp hộ giới, Sư Ông ngồi cạnh chị Ấu Hà hoặc thầy Pháp Ấn trước máy vi tính để chọn font, chỉnh sửa từng chữ, từng dấu, từng chi tiết nhỏ. Có thể nói, từ giới pháp đến kiểu chữ, chữ ký, việc nào Sư Ông cũng nhìn sâu và sắp xếp. Từng tờ Điệp hộ giới không chỉ là giấy mực, mà là kết tinh của cả tình thương và trách nhiệm đối với giới pháp.
Sau mỗi Đại giới đàn, đôi khi có chư Tôn túc xin lại các nghi thức truyền giới. Nhưng sư chị Hương Nghiêm tôi thường chắp tay thưa rằng đó chưa phải là bản cuối cùng, vì Sư Ông vẫn còn tiếp tục chỉnh sửa. Quả đúng như vậy: không những Sư Ông tân tu Năm giới, Mười bốn giới Tiếp Hiện, giới lớn (giới Tỳ kheo/ Tỳ kheo ni), mà Sư Ông còn chỉnh sửa cả nghi thức truyền giới lớn. Cho đến năm 2013, Sư Ông vẫn tiếp tục chỉnh sửa Nghi thức Vấn nạn giới tử trước khi thọ giới lớn. Những nghi thức mà chúng ta có được ngày hôm nay thật sự đã đi qua nhiều năm tháng của sự quán chiếu và tân tu.

Trao truyền tình thầy trò, tình huynh đệ
Những giây phút mà các thị giả như chúng tôi trân quý nhất là khi được hầu quý Ngài và nghe lại những câu chuyện năm xưa khi còn trẻ. Một số chư Tôn túc đã từng là học trò của Sư Ông ở Phật học đường Ấn Quang. Dù tuổi cao, sức yếu, có khi không nghe lời bác sĩ, quý Ngài vẫn can đảm, lấy máy bay đường xa để về thăm thầy và cùng nhau truyền trao giới pháp cho thế hệ trẻ.
Chúng tôi xúc động khi được chứng kiến và tắm mình trong tình thầy trò, tình huynh đệ ấy – một thứ tình rất đẹp, sâu sắc và bền bỉ, có thể cảm nhận rõ ràng không chỉ qua lời kể, mà còn qua từng ánh mắt và từng cử chỉ.
Yểm trợ giáo đoàn khất sĩ nữ
Từ Đại giới đàn Hương Tích năm 1994 và những Đại giới đàn tiếp theo, một số các sư cô Tây Tạng được Sư phụ gửi về Làng để học giới với Sư cô Chân Đức và thọ giới lớn với Sư Ông, nhằm phục hồi giáo đoàn khất sĩ nữ trong truyền thống Tây Tạng. Những vị khất sĩ nữ ấy về sau đã trở thành những Ni sư rất vững chãi trong truyền thống của họ.
Tôi tự hỏi: có phải chính từ đây mà mối thâm tình giữa Làng Mai và một số trung tâm đạo Bụt Tây Tạng được hình thành? Có lẽ cũng vì thế mà khi Sư Ông viên tịch, rất nhiều trung tâm Tây Tạng đã lập bàn thờ và làm lễ hộ niệm cho Người?
Từ năm 1996, khi việc xin visa từ Việt Nam sang Pháp dễ dàng hơn, Sư Ông cũng cung thỉnh quý Sư bà từ Việt Nam sang truyền giới lớn – vị đầu tiên là Sư bà chùa Phụng Thánh. Sư bà đã chảy nước mắt khi được Sư Ông gắp thức ăn trong bữa cơm. Sư bà xúc động khi được tham dự các buổi lễ truyền giới – kể cả lễ truyền giới khất sĩ nam – và được sắp ngồi đối diện với Sư Ông.
Mở rộng cánh cửa cho cư sĩ
Trong tất cả các Đại giới đàn, không chỉ các thầy và các sư cô được truyền giới và truyền đăng, mà cả các vị cư sĩ cũng được trao truyền (tổng cộng 199 giáo thọ cư sĩ). Lễ khai đàn rất ngắn để dành thời gian truyền Năm giới. Trong nhiều năm hoằng hoá, Sư Ông đã dồn nhiều tâm sức để diễn giải Năm giới như một giải pháp cho những khủng hoảng của thời đại, và tân tu Năm giới để đóng góp vào một nền đạo đức toàn cầu. Vì vậy, trong tất cả các khóa tu và trong mọi Đại giới đàn, Sư Ông luôn truyền Năm giới.
Ngoài lễ truyền Năm giới còn có lễ truyền giới Tiếp Hiện. Từ khi còn là một thầy tu trẻ, Sư Ông đã dành nhiều thì giờ đào tạo sinh viên Phật tử và thành lập dòng tu Tiếp Hiện cho những người cư sĩ có tâm nguyện tu học và phụng sự. Ngay từ những năm đầu thành lập Làng Mai, Sư Ông đã hướng dẫn cư sĩ thực tập những thi kệ của Tỳ ni nhật dụng thiết yếu, vốn trước kia chỉ dành cho người xuất gia. Từ khóa An cư kiết đông đầu tiên ở Làng, cư sĩ đã được tham dự.
Sư Ông luôn tạo điều kiện để cư sĩ đi sâu vào con đường tu học và phụng sự. Với tình thương và niềm tin, Người giao phó sứ mạng hoằng pháp cho họ, để mang Đạo Bụt vào học đường, bệnh viện, công ty, nghị viện, nhà tù, đồn cảnh sát… Họ là những cánh tay nối dài của Sư Ông và của Làng, mang hạt giống giáo pháp gieo rắc vào từng ngõ ngách của xã hội trên năm châu. Những gì Sư Ông trao truyền cho chúng xuất gia, Người cũng trao truyền cho cư sĩ, với cùng một tình thương và tâm không phân biệt.
Trong hai mươi Đại giới đàn từ năm 1992 đến năm 2014, Sư Ông đã làm Hòa thượng đường đầu, trao trọn Pháp thân và Giới thân cho bốn chúng. Trước lòng từ bi và tầm nhìn ấy, tôi chỉ có thể tự hỏi: chúng ta sẽ phát nguyện gì và làm thế nào để tiếp nối và trao truyền một cách đúng đắn con đường mà Người đã mở ra, để không phụ công sức và tình thương của Sư Ông?

